Cánh Đồng Hoang

nguyễn quang sáng

Mùa nước

Ngọn gió đêm dậy lên từ một nơi xa trên cánh đồng nước thổi qua vạt rừng tràm thưa. Dưới bầu trời đầy sao của Tháp Mười, sóng lấp loáng nối theo nhau tràn qua, có đợt như cố vươn lên liếm cái sàn nhà treo dưới tàn lá cây tràm.

Một tiếng pháo xuất phát từ căn cứ Bình Đức của quân Mỹ, nổ vu vơ. Tiếng nổ vang dài theo mặt nước. Tiếng pháo nổ to nhưng Sáu Xoa lại giật mình thức giấc vì thói quen và một đợt sóng đánh tạt qua cây tràm gần đầu nằm của chị. Sáu Xoa trở mình, nhờ ánh sao từ trên bầu trời cao và dưới mặt nước, chị vừa bới lại tóc vừa nhìn giấc ngủ của chồng và con.

Nhà chị, một cái nhà lạ lùng ít thấy. Ngôi nhà trên mặt nước, cột nhà là những cây tràm sống. Sàn nhà là cái sạp tre dài độ ba thước và bề ngang hơn hai thước, vừa đủ nằm trong khoảng trống của một cụm tràm. Cái sạp tre nhỏ bé vừa là giường ngủ, vừa là chỗ bếp núc, chỗ chơi đùa của đứa con, là tất cả mọi sinh hoạt trong gia đình chị.

Bới tóc xong, chị vén mùng, bật hộp quẹt đốt đèn. Cái đèn trứng vịt, ngọn đèn nhỏ hột đậu, tỏa một ánh sáng nhỏ, đủ cho chị làm việc. Sáu Xoa, một người đàn bà trẻ, khỏe và đẹp.

Ngoài trời gió vẫn thổi. Gió lao xao qua tàn lá trên mái nhà. Sóng vẫn ràn rạt dưới sàn, và đâu đó một con cá quẫy một con đớp mồi. Những vòng sóng trên mặt nước bung rộng ra dưới ánh sao.

Cử chỉ nhẹ nhàng, sợ động đến giấc ngủ của chồng, con, Sáu Xoa chuẩn bị những việc cần thiết cho chuyến đi của chồng. Chị xé nửa bánh thuốc, lấy một cuộn giấy quyến, cái hộp quẹt đá cho vào cái túi ni lông, lấy sợi dây thun buộc cẩn thận. Xong, chị lựa từng con khô sặc để vào chiếc cà ròn.

Vừa lúc đó, có tiếng chim kêu. Tiếng chim đêm nghe khác thường. Sáu Xoa quay vào, gọi khẽ:

- Mình ơi, mình!

Anh Đô chồng chị, đã thức, anh tằng hắng, rồi với một động tác - không ngái ngủ, anh co hai chân, đưa hai tay ôm vòng qua hai gối, như có lò xo, anh bật dậy. Anh vén mùng - cái mùng bằng vải dù trái sáng nhuộm màu xanh lam nham - ngồi gần bên vợ. Anh Đô - chồng chị - nông dân Tháp Mười, một người đàn ông khỏe mạnh, ba mươi tuổi, màu da đậm đà. Có lẽ vì ở giữa cánh đồng nước, không có người cắt tóc nên mái tóc của anh bù xù, hơi dài, tóc đâm đến vành tai, râu lún phún. Mày rậm, mắt to và sáng rực. Mũi cũng to và tròn, người ta gọi là mũi lân và môi dày. Dù mặc áo bà ba, nhưng cũng có thể biết: bắp tay anh cuồn cuộn và lồng ngực anh căng phồng.

Không nói không rằng, anh thò chân xuống sàn, đặt bàn chân lên lái xuồng, đẩy chiếc xuồng ba lá ra khỏi sàn Anh bước xuống. Với sức mạnh của anh, mũi xuồng hất lên. Anh cầm cây sào, rà xuống nước, cho mũi xuồng quay ra, nhún mình, chống sào, chiếc xuồng vút đi như con thoi.

Một lát sau, anh quay lại, cho xuồng cặp lại sàn nhà, cầm cái rọ giơ lên, cái rọ đầy cá sặc, anh mở hom trút cá vào cái khạp da bò để bên bếp. Cái rọ thứ hai cũng đầy cá. Sáu Xoa nhìn từng cử chỉ của chồng.

- Mình để em! Đi đi, anh em người ta chờ.

Nói xong, chị bưng cà ròn khô cá sặc để xuống xuồng, đưa gói thuốc cho chồng, rồi cầm chai nước mắm, rót vào chén, đưa tận tay anh:

- Mình uống chén nước mắm, cho đỡ lạnh.

Anh Đô đưa tay bưng chén, đưa lên miệng uống ừng ực, Sáu Xoa nhìn chồng với đôi mắt âu yếm. Uống xong, anh ngồi xuống lái, cầm chén khoát khoát nước để rửa chén, múc nước súc miệng. Xong, anh đặt chén lên sàn nhà, cầm cây sào, chống sào xuống nước, nói mà không nhìn vợ:

- Mới có đầu tháng chín mà nước đã lên đến một sải rồi!

- Hai đêm nữa thì nước liếm tới lưng rồi. - Sáu Xoa nói.

- Mai phải lên nhà! - Nói vậy rồi anh rùn mình, chống sào. Chiếc xuồng băng đi.

Anh vừa chống xuồng và nhìn bầu trời mông mênh lấm tấm sao. Tiếng pháo từ căn cứ Bình Đức vẫn nổ vu vơ trên cánh đồng. Tiếng pháo nổ trong đêm vắng và trên đồng nước, tiếng pháo rền và vang xa.

Chiếc xuồng của anh ra khỏi vạt tràm. Cái vạt tràm có ngôi nhà của anh là vạt tràm nhỏ, lưa thưa trên cánh đồng. Còn cái vạt tràm dày đặc là một cụm rừng già ở trước mặt anh, những cây tràm cao, lá dày đặc. Ở xa nhìn như một bóng đen khổng lồ nổi trên mặt nước.

Nếu ngôi nhà của anh nằm giữa cụm rừng tràm dày đặc ấy, sẽ kín đáo hơn. Nhưng vốn có nhiều kinh nghiệm với chiến trường, chính cái nơi kín đáo ấy là mục tiêu của trực thăng, của phản lực, của pháo… Vợ chồng anh đã chọn một cái thế bất ngờ để dựng nhà.

Chiếc xuồng anh lao đi trên mặt nước dưới đêm sao, mũi xuồng rẽ sóng nghe ràn rạt đều đều.

Nghe tiếng chim, anh làm tiếng chim đáp lại.

Anh cho xuồng cặp lại mí rừng, đi về hướng tiếng chim. Anh cho xuồng băng lại cây tràm đứng lẻ loi trên mặt nước. Cây tràm lẻ loi ấy được gọi là trạm, là nơi giao khách của đường dây giao liên của khu về chiến trường Mỹ Tho. Dưới bóng cây tràm ấy đã có một anh giao liên với chiếc xuồng đang chờ. Chiếc xuồng anh cặp sát lại chiếc xuồng kia. Anh và người giao liên kia quen biết nhau đến nỗi không cần phải chào hỏi, và cũng không có thói quen bắt tay khi gặp nhau. Anh hỏi:

- Khách bao nhiêu?

- Mười lăm! - Anh giao liên kia đáp.

- Ở đâu về?

- Khu có, Rờ có!

Anh giao liên vừa nói vừa trao quyển sổ học sinh cho anh. Anh lật sổ dưới ánh đèn pin của anh giao liên, và anh cầm lấy cây bút của anh giao liên, đặt vào giấy, ngoáy một chữ ký. Xong, hai người không nói gì thêm, anh giao liên kia quày mũi xuồng, chống xuồng băng qua mặt nước mênh mông.

Còn anh, anh quày vào mí rừng, nói:

- Đi! Các đồng chí!

Từ trong bóng tối của mí rừng, tiếng người lao xao, và tiếng mái dầm động nước. Năm chiếc xuồng, mỗi xuồng ba người nối nhau, đâm mũi ra, hướng theo chiếc xuồng anh.

Trên mặt nước mênh mông của cánh đồng không có những con đường mòn, người đi phải đi theo hướng. Anh giao liên Đô lấy những vạt rừng, những tàn cây xa còn nhô trên mặt nước làm mốc, theo thói quen và thuộc lòng như quán tính, anh hướng dẫn đoàn xuồng cán bộ, đi giữa trời nước lu mù. Hễ gặp một dề lục bình thì anh dùng cây sào vít lên để ngụy trang, đi một đoạn xa, xuồng anh thành một chiếc xuồng chở lục bình. Và những chiếc sau, cũng như anh, xuồng được ngụy trang bằng lục bình từ mũi đến lái.

Đi trên cánh đồng mà như đi đêm trên mặt biển. Đi trong tiếng gió lạnh của đồng nước, và tiếng pháo nổ rền rền.

Chợt”có tiếng trực thăng “lạch cạch” từ xa. Anh Đô rà cây sào, quay lại sau, ra lệnh:

- Tản ra!

Lập tức, những chiếc phía sau, mái dầm rà lại, chiếc hướng về phải, chiếc hướng bên trái, mỗi nơi một chiếc.

Anh Đô cầm cây sào, đưa một chân quèo cây sào, ngồi nghỉ, cầm cây CKC, lấy vạt áo lau súng.

Tiếng trực thăng nghe mỗi lúc một gần, đã thấy cây đèn lái của nó, chớp tắt, chớp tắt. Và không xa lắm, từ trên chiếc trực thăng, đèn phực sáng, một thứ ánh sáng trắng xanh ma quái chiếu rọi xuống một vùng. Anh Đô đứng dậy đưa tay làm loa nói lớn:

- Nó tới, lặn không cho nổi sóng.

- Lục bình đội lên đầu!

- Xuồng phải giữ chặt!

Nói xong, anh sửa soạn lại xuồng. Anh rải lục bình từ mũi đến lái, và cây súng CKC của anh để nằm dọc theo khoang xuồng dưới lục bình.

Chiếc trực thăng đi soi đêm, chẳng biết thấy gì, nó quần đảo và bắn. Đạn từ trong súng trên chiếc trực thăng nối nhau như một đường lửa.

Ở cụm rừng thưa, sau khi anh Đô chống xuồng đi, Sáu Xoa tắt đèn, vào mùng, nằm trên cái chỗ của chồng. Chỗ chị nằm, sát đầu sạp tre, nếu vô ý lăn qua, chị sẽ rơi xuống nước. Nhưng chị đã quen. Chị kéo đứa con sát vào lòng. Thằng con của chị, một tuổi, ngủ ngon lành trong hơi ấm của mẹ.

Chợt nghe tiếng súng của trực thăng, chị choàng dậy, vén mùng, ngồi bên sạp, thòng chân xuống gần mặt nước nhìn về hướng súng nổ. Trong ánh sáng lờ mờ của ánh sao dưới bóng của cây tràm, chỉ có thể thấy rõ đôi mắt của chị, đôi mắt lo âu nhưng không bối rối.

Trạm giao liên của vợ chồng chị là trạm nối giữa đường dây của Khu và tỉnh Mỹ Tho. Ba ngày một chuyến đi. Suốt bao nhiêu năm nay, đêm nào và chuyến đi nào của chồng, chị cũng nghe tiếng súng như vậy, đã thành quen, lo âu mà không bối rối.

Tiếng súng dứt, tiếng trực thăng nghe xa, chị giở mùng, dù không thấy, nhưng nghe qua tiếng súng, chị đoán biết. Chị mừng nhưng chẳng biết chia sẻ với ai, chị nói với đứa con đang ngủ:

- Ba con vượt ra khỏi tầm súng của nó rồi.

Chị nằm xuống nghiêng mình, hôn lên vầng trán nhỏ bé của con.

Chiếc trực thăng, sau khi quần bắn một vùng nước còn cỏ dại mà chúng nghi ngờ, nó lại bay đi.

Anh Ba Đô nhìn cái đèn lái chớp tắt của trực thăng, anh vừa cởi áo, cởi cả quần và ra lệnh:

- Chuẩn bị lặn!

Chiếc trực thăng bay tới, và tất cả các cán bộ trên xuồng đều tuột xuống nước.

Chiếc trực thăng phực đèn. Từ trên nhìn xuống, lính Mỹ nhìn thấy một vùng nước mênh mông với những dề lục bình. Nó đảo qua một vòng, thấy không có điều gì đáng nghi ngờ, nó tắt đèn bay đi.

Từ dưới mặt nước, Ba Đô và anh em cán bộ lần lượt trồi lên, thở khì khì.

Đoàn xuồng lại đi trên mặt nước mênh mông...

Ba Đô đưa đoàn khách đến trạm, một ngôi nhà trong vườn cây ăn trái của tỉnh Mỹ Tho. Trưởng trạm là cô giao liên trẻ, tuổi độ hai mươi, khỏe, ngăm đen. Sau khi giao khách cho trạm, Ba Đô trao cái cà ròn khô cho cô giao liên:

- Mua giùm tôi sữa, thuốc nóng lạnh với một cái khăn cho vợ tôi.

- Thương vợ thương con dữ há.

- Vợ con không thương thì thương ai! - Anh cười hề hề...

Sao lặn. Trời chưa đâm mây ngang, nhưng đã mờ sáng. Sáu Xoa dậy sớm, cơm nước đã nấu xong. Thằng con vẫn còn ngủ. Chị thắp đèn. Trời vào lúc mờ sáng này, máy bay giặc không thể phát hiện được ngọn đèn.

Mặt nước dưới sàn nhà xao động. Sáu Xoa ngẩng nhìn ra xa. Mũi xuồng của anh Ba Đô ló ra, đâm thẳng lại nhà. Chị nhìn chồng, cười và nói với đứa con đang ngủ:

- Ba về!

Ba Đô cho xuồng cặp sát lại sàn nhà, anh ném lên sàn xấp vải. Sáu Xoa cuốn mùng xong, chị cầm xấp vải hoa đỏ ướm thử lên mình thằng con trai bầu bĩnh, mặt chị rạng rỡ niềm vui. Rồi chị cầm xấp vải đem trải dài theo hai chân, chị liếc nhìn chồng, cười sung sướng và bẽn lẽn.

- Ăn cơm đi mình!

Ba Đô leo lên sạp.

- Tụi nó khỏe? - Chị hỏi.

- Khỏe. - Anh đáp lại một tiếng gọn.

Cuối cùng, chị cầm cái túi ni lông xanh to như bao bố, đưa lên và xem xét thận trọng đường ghép trong túi. Đôi mắt của chị thoáng nỗi lo âu!

Trong lúc chị xếp lại mùng mền để gọn vào cái bòng bột thì Ba Đô dọn chén. Anh giở nắp nồi cơm, khói lên nghi ngút ngon lành.

Cơm nước xong, Sáu Xoa xuống xuồng. Cũng chiếc xuồng ba lá, nhưng nhỏ hơn chiếc xuồng đi giao liên của anh Đô, chiếc xuồng câu của gia đình chị. Chị mặc chiếc quần bà ba đen ni lông láng đến nỗi trông như cái quần ướt, chiếc áo hoa xanh và choàng qua cổ bằng tấm vải dù bông. Đứng trên lái, cầm cây sào, chị dặn chồng:

- Sữa em pha rồi!

Chiếc xuồng của chị lao qua khỏi cụm điên điển. Trời đã rõ mặt người. Bấy giờ ta mới thấy rõ mặt của Sáu Xoa. Một cô gái cao cao, dong dải khỏe mạnh. Chiếc mũi dọc dừa với đôi môi nhỏ thật xinh, đẹp nhưng lại toát lên vẻ gan góc bướng bỉnh với cái trán dô. Choàng qua người tấm vải dù bông, cùng với chiếc xuồng lướt đi trên mặt nước đang bốc hơi lờ mờ của buổi sáng sớm, với vạt vải dù lất phất bay, xa trông như một bức tranh.

Cũng như chồng đi trong đêm, chị vớt lục bình lên xuồng để ngụy trang, nhưng không chỉ có ngụy trang che mắt địch, trong cách ngụy trang xuồng của Sáu Xoa lại mang thêm một vẻ đẹp dịu dàng của một cô gái. Khi xuồng lướt qua một vùng bông súng, lá bông súng tròn với cánh hoa trắng xinh xắn, Sáu Xoa dừng xuồng, ngắt những chiếc lá có hoa đẹp, để chen trong dề lục bình. Xuồng chị như một chiếc xuồng chở hoa đi hội.

Sáu Xoa rà cây sào cho xuồng cặp lại bên rìa rừng lác. Lác mọc cao hơn mặt nước, xanh ngắt. Xuồng đi vào một luồng nước giữa rừng lác. Dưới cái luồng nước này, mùa khô, nó là con đường mòn. Sáu Xoa ngồi trước mũi, phăng dây câu. Lưỡi câu đầu tiên dính một con cá lóc bằng cườm tay, giãy đành đạch, Sáu Xoa gỡ cá, rồi lại móc vào lưỡi một con cá sặc nhỏ. Xong, Sáu Xoa lại phăng dây câu...

Mặt trời lên. Mặt trời mọc trên cánh đồng mà đẹp như cảnh mặt trời mọc trên mặt biển. Mặt trời tròn như một quả bóng, đỏ như tiết tươi như từ dưới đáy nước nhô lên, lên nhanh, lên khỏi đường mây trắng ngang chân trời.

Xa xa trên bầu trời đã có tiếng ào ào của phản lực Mỹ, tiếng bom bi nổ rền như tiếng sấm dậy, và nơi đó khói trắng đùn lên như một đám mây.

Và tiếng trực thăng nghe mỗi lúc mỗi gần. Chiếc trực thăng, từ một nơi xa, cất cánh từ căn cứ Bình Đức của quân Mỹ, Sáu Xoa dừng tay, ngẩng nhìn. Một chấm đen nhỏ, đầu chúc xuống như một con cá rô hiện ra giữa nền trời quang đãng của buổi sáng.

Sáu Xoa choàng tấm vải dù từ đầu đến lưng, nhìn nó. Biết cụm tràm thưa của nhà mình nằm ngoài tầm tay của trực thăng, chị lại ngồi xuống, tiếp tục phăng dây câu.

Chiếc trực thăng quần đảo, bắn, một mình một vùng trời nước, nó tung hoành như thao tập.

Đang là đà bay, nó vọt thẳng lên, rồi bất thần cắm đầu chúi xuống, tưởng như cắm đầu xuống đáy nước, nó rà sát mặt nước, sóng cuồn cuộn nổi theo đường bay.

Bất thần nó rà xuống rừng lác. Tấm vải dù bông của Sáu Xoa bay tung lên, tóc của Sáu Xoa cũng xõa ra, dựng lên, bay theo cơn xoáy của ngọn gió.

Nhanh nhẹn chị tuột xuống nước, đưa tay vạch lác, vùi người vào trong sâu. Chiếc trực thăng quay lại, rà sát lướt qua đầu chị. Tiếng trực thăng nổ nghe nhức óc, khiến chị phải bụm hai tai. Trầm mình dưới nước, chỉ nhô lên cổ với đầu vùi qua đám lác, lúc ẩn lúc hiện khi chiếc trực thăng quần bắn.

Lo lắng nhưng bình tĩnh. Chị ngước nhìn theo trực thăng, khi nó vừa rà qua khỏi đầu, chị lại chồm dậy, bươn người trong lác, cố trườn qua khỏi vòng bay.

Chiếc trực thăng đầu con cá rô, đang rà sát ngọn lác bỗng nó sựng lại gần bên xuồng chị, cái đầu nó chúi xuống rồi lui ra (giống như con cá rô đang hửi mồi), gió trước cái mũi của nó xoáy dậy. Một cụm lác bị quần nát, và từng cánh lục bình, từng cái lá bông súng bị gió xoáy lên, bay tả tơi. Và chiếc xuồng câu của chị hiện nguyên hình với những con cá trong khoang. Một trái lựu đạn từ trên trực thăng ném xuống, nổ tung. Từng mảnh ván văng đi. Chiếc trực thăng thu hẹp vòng bay rồi sựng lại trên cao, cây súng đại liên bên cửa nổ từng tràng chát chúa.

Chiếc xuồng bị nát ra từng mảnh, chìm mất. Phát hiện được mục tiêu, biết có người còn lẩn tránh đâu đây, chiếc trực thăng lồng lên, khi cất cao, khi rà thấp, lúc dừng lại, tập trung vào một mục tiêu, quạt cánh, lúc bị dạt ra để lộ một vùng nước - và nó bắn - bắn xối xả, bắn điên cuồng xuống đám lác.

Sáu Xoa nằm trong tầm đạn. Chị trồi lên ngụp xuống. Sức bị mòn mỏi, chị ngụp lặn mỗi lúc mỗi nhanh. Chị không đủ hơi để nín lâu dưới đáy nước. Trồi lên, thở vội lấy một hơi, lại hụp xuống. Có lúc đạn rải qua vùng nước quanh người chị. Khói bốc trên mặt nước, bụi nước bay lù mù.

Có những con cá không chịu nổi sức ép của đạn hỏa tiễn, tức thở nổi lều bều.

Nó bắn hàng giờ, bắn tả tơi cả rừng lác tưởng không còn gì chịu nổi, nó mới bay đi.

Nó quần lại rừng tràm, lại bắn, thấy chưa đủ, nó rà sát xuống cụm trăm thưa của nhà chị.

Khi chiếc trực thăng rà sát qua mái nhà, Ba Đô nhanh nhẹn gom đồ đạc cần thiết để vào khoang xuồng dưới sàn nhà. Ba Đô cởi áo, mặc quần đùi, vai đeo cây CKC, anh để đứa con lên cổ, một tay vịn con, một tay đẩy cái thau nhôm lớn, lội đi. Anh lội lại cái hầm nổi của anh cách ngôi nhà không xa, cái hầm được che kín trong chòm điên điển. Chòm điên điển lưa thưa, lúc nào cũng cao hơn mặt nước, bông điên điển nở từng chùm vàng đẹp như hoa mai.

Cái hầm nổi của anh cao như một cái gò đất. Cửa hầm được che kín nhờ cây và lá điên điển uốn oằn xuống mặt nước. Cái cửa hầm cũng đã bị ngập nước, chỉ hé ra một khoảng nhỏ, đen ngòm. Muốn vào hầm phải lặn vào trong. Thằng con một tuổi của anh không thể lặn được. Nhưng anh đã có cách, anh để đứa con vào cái thau nhôm, vẹt điên điển, từ từ đẩy cái thau với đứa con qua cửa hầm, đưa con vào trong. Rồi, một tay đưa súng vào trước, anh hụp xuống lặn vào trong. Bên trong của cái hầm nổi, từ mặt nước đến nắp hầm chỉ cao độ năm, sáu tấc Tối lờ mờ.

Thằng con khóc ré lên.

Anh ôm cái thau lắc nhè nhẹ, dỗ con:

- Nín, nín đi con.

- Nín đi, chút nữa má về.

Bên ngoài, chiếc trực thăng rà sát qua cụm tràm nhà anh, nó sựng lại trên cao, cúi mũi của nó nhích tới nhích lui như con cá hửi mồi. Rồi nó nghiêng cánh, cho nổ máy lớn, quạt mạnh.

Mái nhà anh, hai mái tranh ghép lại như tấm rèm mong manh, và ẩn dưới cụm tràm thưa, nhưng lại không tốc lên dưới cánh quạt của trực thăng.

Cây tràm và từng nhánh tràm được vợ chồng anh câu lại với nhau bằng dây điện, nó giữ chặt lấy nhau, nó ngả nghiêng cùng phía. Gió xoáy của cánh quạt không tạo thành một khoảng trống cho bọn Mỹ trên trực thăng nhìn thấy. Dù chỉ thấy những chiếc lá bị thổi ngược, chúng vẫn bắn. Nó bắn một loạt dài. Bắn xuống cụm tràm thưa, nó lại quay bắn xuống chòm điên điển. Đạn nổ trước cửa hầm, bốc khói và bụi nước bay mịt mù. Trong hầm, ngồi trong cái thau giữa bóng tối ngột ngạt và tiếng nổ, thằng bé khóc ré lên. Anh Đô vẫn ôm cái thau, lắc nhè nhẹ như đưa võng, dỗ con.

Sáu Xoa trở lại chiếc xuồng. Lác tả tơi trên mặt nước cùng với những mảnh ván nát vụn của chiếc xuồng câu nổi lều bều. Chẳng biết làm gì, vì tiếc chị lội đi nhặt lại từng mảnh ván, làm như những mảnh ván vụn ấy chị có thể ghép lại thành chiếc xuồng vậy.

Chợt nghe tiếng trực thăng quần đảo trên cụm nhà chị, chị buông mảnh ván trong tay, vẹt những cọng còn sót làm vướng mắt, chị nhìn về phía nhà: chồng và đứa con trai đầu.

Lúc nó quần nó tìm, nó bắn, cái chết đến với chị gần như một sợi tóc, có lo sợ nhưng vẫn bình tĩnh. Bây giờ, nghe và nhìn thấy chiếc trực thăng đang hiện rõ trong đôi mắt hãi hùng của chị. Chị đưa hai tay nắm chặt lấy tóc mình, như muốn giữ mái đầu mình cho vững nhưng hai nắm tóc trong tay cứ rung lên.

Rồi không nghĩ gì nữa, chị vẹt lác, bươn mình, trườn về cụm rừng của ngôi nhà. Tưởng như mình có đủ sức che chở cho con, cho chồng. Sáu Xoa cứ đi tới. Lúc trườn, lúc bơi mệt lả nhưng, Sáu không nghỉ, chị đưa tay, khi nắm lấy một nắm lác, lúc nắm lấy một dề lục bình, kéo cho thân mình trườn tới. Lội, bơi, trườn, lúc nương theo cỏ lục bình, lúc lội băng qua một khoảng trống như liều lĩnh. Nơi nào đất cao, nước cạn, chị vừa lội vừa đi, nơi nào sâu thì chị lội, lội mãi, đến lúc mệt thở không ra hơi, chị bơi ngửa và khi gần đến tầm bay của trực thăng, thì chị lặn...

Trong hầm, Ba Đô vẫn ôm cái thau lắc nhẹ dỗ con trong tiếng súng.

Nghe tiếng súng ngừng nổ, nghe tiếng trực thăng bay xa, Ba Đô vừa đưa tay đẩy cái thau với thằng con ra miệng hầm, khi đẩy anh hụp xuống nửa mặt.

Trời bên ngoài sáng trong. Vừa ra đến miệng hầm anh đã nghe tiếng kêu hãi hùng của vợ từ xa lan theo mặt nước vang tới.

- Hải... H... ả... i...

Ba Đô đưa tay vuốt mặt, ngẩng nhìn trời đáp lại:

- Ơ… ơ… ơ… - Anh không gọi tên vợ, mà chỉ gào lên, cho tiếng nói được lan xa.

Sáu Xoa đứng dưới nước, nước ngập đến cổ, chị thở. Nghe tiếng đáp của chồng, chị cũng gào theo, và dù đã kiệt sức, chị vẫn bươn tới.

Bơi đến chòm điên điển, như vùng dậy với sức lực cuối cùng, và như con cá tung mình lên khỏi mặt nước, chị ào tới, ôm lấy đứa con ra khỏi cái thau. Chị áp má của đứa con vào môi vào mũi và mắt mình, kêu lên một tiếng nghẹn ngào:

- Con! - Rồi chị đưa đứa con ra xa, nhìn lại khắp cả mặt mũi tóc tai và thân thể của đứa con, rồi lại áp sát, chị hôn tóc, hôn mắt, hôn má con.

Ba Đô vẫn đứng dưới nước, nhìn cảnh mừng rỡ, âu yếm của vợ con, và cuộc gặp gỡ của vợ chồng con cái sau cái chết khiến anh xúc động đến thẫn thờ. Đôi mắt anh đầy nước, không thể phân biệt đó là nước của cánh đồng hay nước mắt của anh.

Bao giờ cũng vậy, sau một trận đánh hay một trận bom, thì nơi đó trở nên yên tĩnh đến kỳ lạ. Nắng lên cao. Cánh đồng lại như cũ, nước lai láng mênh mông - hứng lấy tất cả ánh nắng, và như một tấm gương khổng lồ, phản lại ánh nắng. Có lẽ vì thế mà bầu trời thật sáng trong. Mây đang lang thang trên bầu trời như sáng thêm nhờ ánh nắng của mặt nước hắt ngược lên.

Sau những giờ phút hãi hùng, mừng gặp lại chồng con, sự bình tĩnh được hồi dần trong tâm tư và trên vẻ mặt của Sáu Xoa. Đến lúc ấy, vẫn ôm con và vẫn đứng dưới nước, nhớ đến chiếc xuồng câu, một giọt nước mắt lăn xuống má còn đẫm nước, chị thở dài:

- Chiếc xuồng nó bắn nát rồi anh.

Ba Đô nhìn cảnh khổ cực của vợ, một niềm thương lẫn với xót xa, dâng lên người anh. Anh nhìn vợ với đôi mắt âu yếm thương yêu.

- Mình đi thay quần áo đi. Lạnh. Cái đó để anh lo!

Thay xong quần áo, chải lại tóc, Sáu Xoa ngồi trên sạp cho con bú.

Anh Ba Đô nhóm bếp tiếp vợ, lo bữa cơm trưa. Bếp lửa của anh, củi là cây điên điển khô, dễ bắt lửa và ít khói. Vẫn cái sàn nhà ấy trên mặt nước, hai vợ chồng với đứa con, ngồi quanh bên bếp lửa. Thằng con bú no, nó ngước mắt nhìn mẹ, cười. Sáu Xoa hôn con, dạy con tập nói:

- Ba!

- Bác!

- Bánh!

- Bún!

- Bò!...

Thằng con bập bẹ nói theo, chị dúi mũi xuống hôn vào bụng con, khiến nó cười “khăng khắc”...

Cuộc sống trên cánh đồng lại bình thường. Những con chim xòe cánh bay quần trên chòm cây xơ xác, nó kêu nhau như hỏi vì sao?

Sáu hỏi chồng lúc anh bắc nồi cơm:

- Nhắm có lộ không anh?

- Bữa nay nó bắn nhiều, nhưng bắn vu vơ.

- Chắc tại nó phát hiện được chiếc xuồng của em!

- Nó bắn mò thôi. Chiều nay phải lên nhà.

Một con cá quẫy bên sàn nhà, bung ra một vành sóng.

Một loạt ảnh ghi lại hình của chiếc xuồng: chiếc xuồng lộ nguyên hình khi lá ngụy trang bị bay mất, cảnh chiếc xuồng bị bắn, cảnh những miếng ván xuồng nổi lều bều. Ba tấm hình đặt lên bàn làm việc của tên thiếu tá Mỹ và tên trung úy Jin lái chiếc trực thăng. Tên thiếu tá tuổi gần bốn mươi, tên trung úy Jin tuổi độ hai tám, ba mươi. Cả hai tên đều chúi mũi nhìn vào ba tấm ảnh, nghĩ ngợi. Tên thiếu tá nhìn lên tấm bản đồ Đồng Tháp Mười, cầm lấy cây thước dài nhỏ, đứng lên, chỉ vào bản đồ, hỏi tên trung úy:

- Trung úy có biết cái rốn là cái gì của con người không?

Tên trung úy hỏi lại cấp trên bằng đôi mắt. Tên thiếu tá tiếp:

- Là trung tâm của con người.

Hắn đưa cây thước khoanh tròn một vùng trên bản đồ:

- Đây là cái rốn của chiến trường. Trung úy nên nhớ, để bảo đảm vùng châu thổ sông Cửu Long này, chúng ta phải tạo ra ở đây một vùng trắng.

Hắn đưa thước chỉ dọc theo những bờ kinh màu sắc xanh tươi:

- Chúng ta đã triệt hạ những cái làng trù phú này. Những cái làng bên bờ kinh này là mạch máu của chiến trường miền Đông và miền Trung.

Từ trên bản đồ hiện lên cánh đồng nước, nơi trước đây là những con kinh mà nay chỉ còn thấy những cây cột nhà cháy và những tàn cây khô nhô lên mặt nước. Tên Mỹ nói theo hình ảnh:

- Dân ở vùng này đã được đưa ra vùng tự do.

Trở lại hình ảnh, tên thiếu tá nói với tên trung úy:

- Nhưng bây giờ, theo hình ảnh này thì trên cánh đồng hoang hãy còn sự sống của một con người.

Hắn cầm lấy tấm ảnh, xem lại:

- Một con người với chiếc xuồng này không thế xoay chuyển được tình thế. Nhưng nếu ở đây còn một con người thì ý chí chúng ta thua.

Tên trung úy vẫn giương hai con mắt đục nghe lời cấp trên:

- Phải diệt cho kỳ được. Tốt nhất là phải bắt sống. Bắt sống để ta xem mặt mũi họ thế nào?

Tên trung úy nói:

- Có lúc tôi nghĩ, tôi không sao hiểu được, tên này làm sao có thể sống trên cánh đồng hoang ngập nước như vậy được.

- Còn nhiều điều chúng ta chưa hiểu được họ. Trong lúc truy lùng, trung úy có nghe tiếng súng của họ không?

- Tuyệt nhiên không.

- Bắt đầu từ hôm nay, tôi chỉ giao cho trung úy một nhiệm vụ, một nhiệm vụ duy nhất. Một chiếc trực thăng, với tất cả vũ khí đã trang bị, trung úy phải tiêu diệt cho bằng được sự sống này.

Tên trung úy bật đứng nghiêm, chào.

Tên thiếu tá dịu giọng, vẻ anh em:

- Nghe nói trung úy vừa nhận tin vợ.

Tên trung úy cười sung sướng. Tên thiếu tá:

- Trung úy hãy lấy chiến công này làm quà cho bà vợ của Tổ quốc.

Tên trung úy lại ưỡn ngực với tư thế đứng nghiêm.

Ba Đô sửa lại nhà. Vợ anh, Sáu Xoa ngồi sau lái, ôm con, giữ lại. Anh quỳ trước mũi xuồng, quần đùi mình trần, với hai bàn tay khỏe mạnh, anh mở dây buộc ở cái xà ngang với cây tràm. Mở xong, anh kề vai đẩy đầu lên, rồi cứ như thế, anh buộc lại cho cao hơn. Buộc xong đầu này, mũi xuồng anh quay lại đầu khác, mở, kê vai và buộc. Bốn góc, bốn đầu, thế là nâng sàn nhà bằng sạp tre cao lên khỏi mặt nước gần một thước. Hai cái mái tranh anh nâng lên sát với tàn cây tràm.

Làm xong, anh thay vợ, giữ con, hút thuốc ngắm cái công trình của mình và nhìn vợ sửa soạn lại đồ đạc.

Những con rắn mối và thằn lằn không còn chỗ dung thân, nó đổ lên nhà vợ chồng anh. Lúc anh làm, nó chui trong các góc, bây giờ khi Sáu Xoa soạn đồ đạc, nó túa ra, chạy khắp, có con rơi tõm xuống nước.

Nhà anh khá đủ tiện nghi. Cái giường ngủ của anh là cái sạp đan bằng những cọng đế già, những cọng đế tròn như ngón tay xếp liền với nhau, đã lên nước, vàng óng. Mền mùng, bếp núc, lu hũ, chai lọ, anh còn có cây đàn ghi ta móc phím.

Với bàn tay khéo léo của Sáu Xoa, trời vừa chiều thì nhà trông gọn gàng, đẹp và tươm tất.

Thằng con của anh bò trên sạp đế, vợ anh ngồi chải tóc. Còn anh, với dáng điệu thanh thả, anh ngồi thòng chân xuống sàn, ôm cây đàn ghi ta, đàn sáu câu vọng cổ. Anh đàn không hay nhưng đủ để cho Sáu Xoa say mê.

Gió chiều lao xao thổi qua tàn cây, thổi bay bay mái tóc của Sáu Xoa, Sáu Xoa nhìn ra xa, lắng nghe từng tiếng đàn của chồng. Tiếng đàn dứt, chị nhìn chồng âu yếm và tình tứ:

- Đờn hay vậy, sao mà hồi đó không lấy một cô văn công, chồng đờn vợ ca, hổng sướng hơn.

- Lấy văn công thì tôi đi đờn cho văn công rồi. Tôi ngồi ở đây làm gì. - Rồi anh xoay qua đứa con đang chơi với nắp hộp quẹt, nói với con: - Nếu ba lấy một cô văn công thì làm sao có cái thằng này. Phải không con.

Rồi anh cúi hôn mông đít của con.

Rằm tháng chín âm lịch 1967. Như mọi năm, đến con trăng rằm tháng chín thì nước dâng lên hết mức và chan đồng.

Trời mờ sáng, Ba Đô trở về sau chuyến giao liên. Xuồng theo sau một chiếc xuồng ba lá nhỏ và cũ.

Sáu Xoa đã dọn chén cho buổi cơm sáng. Không có xuồng đi giăng câu, chị giăng quanh sàn nhà. Chị đang gỡ cá thì nghe tiếng xuồng của chồng, chị ngẩng lên:

- Có xuồng rồi đấy - Ba Đô bảo với vợ.

- Bao nhiêu đó mình?

- Anh hỏi mua, anh em ở trạm nghe, thông cảm, gởi cho mình.

Ba Đô cặp xuồng sát lại sàn, Sáu Xoa cúi mình, nắm lấy cái be xuồng nhỏ, chị cười sung sướng:

- May quá!

Cái mũi xuồng đã cao hơn cái sàn nhà của anh, sóng ọc ạch dưới sàn, xuồng không đưa vào sàn nhà được nữa, anh bảo:

- Nước cao quá!

- Cái hầm cũng ngập lút rồi, cơm xong rồi lên nhà lần nữa nghe mình.

Vẫn ngồi dưới xuồng, Ba Đô giở mùng, anh cầm cái lùng tung:

- Của con đây con. Mẹ cha, ngủ ngon quá! - Rồi anh lắc cái lùng tung. Sáu Xoa nhìn, hai vợ chồng cùng cười.

Chiếc trực thăng cất cánh. Trời sáng rõ, cái đèn lái của nó vẫn chớp tắt. Nó bay giữa bầu trời mông mênh vắng vẻ. Đang lao trên cao, nó chúi mũi rà sát mặt nước. Sóng, bụi nước, cỏ rác, bông súng, lục bình bị cuốn hút theo đường bay của nó.

Vợ chồng Sáu Xoa đang ăn cơm và cho con bú, vừa chợt nghe tiếng trực thăng thì nó rà ngang qua mái nhà rồi. Sáu Xoa giật con ra khỏi vú, quên cả việc đậy vạt áo.

- Nó làm gì sớm vậy? - Ba Đô vốn bình tĩnh nhưng lần này anh có vẻ bối rối khi nghe một loạt súng nổ.

- Nó bắn đám lác, chỗ chiếc xuồng hôm trước. Nhận xuồng đi mình.

- Bọc ni lông đâu? - Ba Đô vừa bảo vợ vừa chồm lên lái xuồng, gò lưng ấn cái lái xuồng sâu xuống, cho nước ào vô chiếc xuồng chìm lỉm. Anh nhận chìm luôn chiếc thứ hai. Trong khi đó, Sáu Xoa giở gói, lấy cái bọc ni lông xanh mở miệng túi, để đứa con vào trong, hai tay ôm ghì đứa con, sát lồng ngực, Ba Đô rút hai cây sào bơi ra xa ngoài trống có mấy cây điên điển mọc lơ thơ, anh cắm xuống đó hai cây sào, gần nhau, rồi lội vào.

Chiếc trực thăng đảo qua, rải xuống một loạt đạn. Đạn cắm xuống sàn nhà, bốc khói quanh Sáu Xoa. Ba Đô hết hoảng hét to.

- Đưa con đây! Ra mau.

Một tay vịn sàn nhà, một tay đỡ lấy đứa con nằm trong bọc ni lông, Ba Đô ôm con bơi ra cây sào trong chùm điên điển. Sáu Xoa nhanh tay lùa tất cả chén bát nồi niêu cho xuống nước, rồi trầm mình lặn theo chồng.

Hai vợ chồng, mỗi người nắm một cây sào, đâu lưng, dõi theo chiếc trực thăng. Ba Đô vừa nhìn trực thăng vừa giữ con, tay anh nâng thằng con lên khỏi mặt nước. Nhìn theo vòng đảo của trực thăng, biết mình có thể nằm trong tầm súng, Sáu Xoa hét:

- Lặn đi anh!

Ba Đô liền đưa tay túm lấy túi ni lông, lặn xuống. Hai vợ chồng Sáu Xoa phối hợp thật nhịp nhàng. Ba Đô vừa lặn thì Sáu Xoa cũng lặn theo, vừa lặn một tay vừa vịn cây sào, một tay đỡ cái bọc ni lông, khi hai người xuống đến tận đáy, hai vợ chồng đều bám lấy cây sào bằng hai bàn chân, còn hai tay thì đỡ và giữ lấy cái bọc ni lông. Ba Đô cố giữ chặt miệng túi, đưa lên cho cái bọc được căng ra, giữ không khí cho con thở.

Tiếng súng của trực thăng vừa dứt thì hai vợ chồng cũng trồi lên. Khi trồi lên khỏi mặt nước, Ba Đô đưa tay đỡ bọc ni lông, còn Sáu Xoa thì mở miệng bọc ni lông cho con thở. Khi chiếc trực thăng quần lại, biết mình nằm trong tầm súng, hai vợ chồng lại ôm cái bọc ni lông lặn xuống.

Cứ như vậy không biết bao nhiêu lần, mỗi lần trồi lên là mỗi lần cái chòm điên điển thưa đi vì đạn trực thăng. Và khi chòm điên điển bị bắn đến xác xơ, lá và bông tả tơi trên mặt nước, không còn chỗ ẩn núp của hai người thì chiếc trực thăng mới bay đi.

Anh Ba Đô đưa con vào nhà. Sáu Xoa không kịp thay quần áo và mái tóc hãy còn đẫm nước, chị vội vàng nhóm lên bếp lửa.

Ngọn lửa bùng cháy, chị ôm con ngồi bên ngọn lửa nhìn con với đôi mắt hiền từ, âu yếm.

Cụm tràm cho cái mái nhà bị đạn, cành lá bị gãy gục, xác xơ Ba Đô leo lên cây tràm, nâng những cành gãy lặc lìa gác qua một cành khác, cố giữ lại những lá xanh còn lại để che mái nhà.

Sáu Xoa ngồi bên mé sạp, làm cá sặc. Thằng con quanh quẩn bên lưng mẹ. Thằng nhỏ đang chơi với cái vỏ hộp quẹt lửa. Nó ném đi, rồi lại bò tới, lượm lên.

Nó bò sát bên mí sạp. Cái hộp quẹt trong tay nó rơi xuống nước.

- Té!

Anh Ba Đô ngồi trên ngọn tràm kêu to.

Sáu Xoa giật mình quay lại nhưng không kịp. Thằng bé đã rơi tòm xuống nước. Sáu Xoa kêu lên một tiếng thất thanh.

Ba Đô từ trên ngọn tràm phóng xuống, lặn theo, vớt đứa nhỏ lên.

Trao con cho vợ, anh leo lên sạp, mặt giận dữ, không nói không rằng, anh dang tay tát vợ.

- Coi con vậy đó hả?

Bị một cái tát bất ngờ, nhưng Sáu Xoa không phản ứng. Chị chỉ bậm môi, và tiếp tục săn sóc con. Chị lau mình thằng nhỏ, thay quần áo, khơi ngọn lửa, hơ ấm cho con.

Khi thằng con trở lại bình thường, thì cái tát như đã thấm đau, chị bắt đầu khóc.

Ngồi quay lưng, nhìn ra đồng, nghe tiếng khóc của vợ, Ba Đô thấy hối hận đến xốn xang. Anh bước xuống xuồng, bơi chiếc xuồng ra xa, buộc xuồng vào một thân cây tràm nhỏ lẻ loi, quay mặt vào nhà, hút thuốc, ân hận đến đau khổ.

Ngay đêm đó, sau khi Ba Đô rời nhà đưa khách lên đường như mọi chuyến giao liên, Sáu Xoa ngồi dậy cuốn mùng, dọn dẹp đồ đạc gọn gàng. Chị làm, vẻ mặt buồn hiu. Dọn dẹp xong, chị đưa con xuống xuồng, chống đi. Hai mẹ con với chiếc xuồng giữa đêm mùa nước, trông hiu hắt, lẻ loi.

Đoàn xuồng của Ba Đô đưa đi bị trực thăng vây trong vòng bay bên cụm tràm thưa. Ngọn đèn của chiếc trực thăng rọi ngay một cái lái xuồng vừa bị cánh quạt trực thăng quạt bay dề lục bình. Đoàn khách bị lộ, bắt được mục tiêu, trực thăng vây bắn. Cả đoàn khách hơn hai mươi người tản ra, đeo theo cây tràm, lặn hụp. Anh Ba Đô có kinh nghiệm hơn, anh cầm cây sào lặn ra xa, anh cắm cây sào xuống neo, đeo theo nó. Anh vẫn nằm trong tầm bay nhưng ở đó tách ra khỏi tầm đạn.

Có một người không biết lội, không kinh nghiệm, đã trồi lên lúc ánh đèn lướt qua.

Chiếc trực thăng sà xuống, họng súng hiện lên trước mắt anh, đen ngòm.

Một người trúng đạn bị bắt.

Sáu Xoa với chiếc xuồng và đứa con đến khu rừng của căn cứ vào lúc trời vừa sáng.

Trạm giao liên khu có nhiều ngôi nhà trên mặt nước dưới bóng cây. Nhiều người chào hỏi chị. Chị chống xuồng thẳng đến nhà bác trạm trưởng. Bác trạm trưởng trên năm mươi, tóc hoa râm, mặt xương xương. Bác đang ngồi trên sạp, thấy Sáu Xoa, bác đoán có chuyện bất thường, bác vừa đưa tay đỡ mũi xuồng vừa hỏi:

- Có việc gì không Sáu?

Sáu Xoa không nói, ôm con, bước lên sạp, òa khóc.

Bác trạm trưởng bối rối:

- Sao nó làm sao?

- Ảnh đánh cháu.

Bác trạm trưởng thở phào:

- Vậy mà tao tưởng nó làm sao. Đưa thằng nhỏ đây cho tao.

Bác đưa tay bế thằng nhỏ, nựng nó, hỏi:

- Cháu làm sao mà nó đánh?

- Thằng nhỏ té xuống nước.

- Cái thằng cộc quá! Cháu đi nó có hay không?

- Dạ không.

- Chà!

Vừa lúc đó thì một cô giao liên bơi xuồng tới:

- Bác Ba ơi!

- Gì nữa đó?

- Đoàn khách hồi hôm bị trực thăng.

- Rồi sao?

- Có một ông khách bơi xuồng trở lại nói có một người bị tụi nó bắt sống.

- Ai vậy?

- Dạ, ông khách không biết rõ.

Sáu Xoa nhìn cô giao liên, nghĩ đến chồng, chị lo lắng đến sững sờ.

Trời sáng rõ, Ba Đô mới về đến nhà. Nhìn cảnh nhà hơi khác, không thấy vợ, anh đâm lo, thoáng nghĩ vợ con có thể bị bắt. Anh nhảy lên sạp, thấy đồ đạc thật ngăn nắp, anh đoán biết, vợ anh bỏ đi. Đoán vậy, anh vẫn thấy rối. Anh kêu:

- Mình ơi! Mình!

Anh kêu mỗi lúc mỗi to. Không nghe trả lời, anh bơi xuồng ra xa, đưa tay, kêu cho vang hơn. Cũng không nghe tiếng đáp lại, anh quay vào, xếp lại đồ đạc, bưng cái nồi cơm xuống xuồng, anh chống đi.

Bác trạm trưởng đẩy mũi xuồng Sáu Xoa ra, dặn thêm:

- Về gặp nó, bảo nó lên tao một chút. Hai mẹ con đi cẩn thận nghe.

Sáu Xoa, vẻ mặt đăm chiêu, đẩy mạnh mái dầm. Chiều bảng lảng trên đồng nước. Ba Đô thấy xa xa một bóng xuồng, anh làm loa kêu to.

Sáu Xoa dừng sào, lắng nghe, nhận ra tiếng của chồng. Chị mừng rỡ, kêu con.

- Ba con kìa!

Chị chống mạnh. Trên mặt nước, hai chiếc ở từ xa, rào rào rẽ nước, lướt dần đến nhau.

Mùa nước

Tiến >>

Đánh máy: hoi_ls
Nguồn: Rút trong tập “NGUYỄN QUANG SÁNG - Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh”
NXB: Văn học, 2007NXB:
VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn: Thanh Vân đưa lên
vào ngày: 22 tháng 3 năm 2022