Giọt Lệ Trong Hồn
dịch giả: trần lê
LỜI NÓI ĐẦU
nguyên tác: the tears of my soul ( 1993)
Ngày 26 tháng Tư 1989. Hán Thành, Nam Hàn.
Tôi ngồi trong căn phòng đợi u uất, xám xịt dành cho các bị cáo, nghẹn thở chờ đợi bản án. Ngoài hành lang dẫn đến phòng xét xử, đám đông giận dữ chen lấn bên cánh cửa, tôi sợ họ sẽ tràn vào phòng. Tiếng gào thét đáng ghét vang lên, dường như cả tòa nhà cũng rung động trước những lời nguyền rủa.
Sát nhân, sát nhân, sát nhân…
Tôi chắp hai tay, toàn thân run rẩy. Những lời hò hét ấy dành cho tôi.
Không. Người ta hò hét với tôi.
Trong khi run lên vì những lời kêu la, tôi lại nghĩ đến các vụ án xét xử những kẻ phản bội ở Tòa án Nhân dân ngay sau khi nước Triều Tiên vừa thoát khỏi ách thống trị của Nhật. Giờ đây tôi mới hiểu bầu không khí hồi ấy cũng kinh hoàng biết nhường nào đối với những kẻ bị xét xử.
Mặc dù trong phòng còn có những người khác - một bác sĩ, một nữ y tá và ba điệp viên đặc biệt, hầu như sống cùng tôi trong những năm trở lại đây -, chưa bao giờ tôi cảm thấy cô độc hơn lúc này. Cho dù tôi cảm thấy những con người ấy rất gần gũi với tôi và họ cũng cảm thấy như vậy, điều này không quan trọng; tôi chờ đợi bản án, chứ không phải họ. Trong giây phút đó, tôi vô cùng ghen tị vẻ hồn nhiên của họ, tương lai của họ và một nỗi buồn ghê gớm xé lòng tôi.
Để tự an ủi, tôi cố gắng nhắc lại những dòng “Thánh Kinh” mà trước đây cha tuyên úy đã viết cho tôi, nhưng rồi cánh cửa bật mở và bốn cảnh sát bước vào trong bộ quân phục được hồ cứng, đeo phù hiệu lấp lánh, để đưa tôi vào phòng xử án. Họ bao quanh để bảo vệ tôi, như thế, họ cùng tôi chen chúc qua đám đông nhộn nhạo đang phát khùng. Căn phòng lập tức bùng nổ. Khi đó, lần đầu tiên tôi xuất hiện trước công chúng vì những cuộc xét xử không diễn ra công khai, chỉ đến khi tuyên án người ta mới cho quần chúng vào. Mọi người như một bầy ác thú bị bỏ đói, giận dữ, những lời nhục mạ, nguyền rủa trút như mưa lên đầu tôi. Nếu có thể, họ sẵn sàng xé tôi thành nhiều mảnh.
- Con nặc nô khốn nạn! - một phụ nữ đứng tuổi ngồi ở những hàng đầu suýt xoa. - Mày đã sát hại đứa con trai độc nhất của tao. Bây giờ ai là người chăm sóc tao đây?
Tôi cảm thấy thời gian như dừng lại trong quãng đường đến ghế bị cáo và khi rốt cục được ngồi xuống, tôi đã không thể tự chủ nổi. Tim tôi đập loạn xạ, người tôi run lẩy bẩy như cầy sấy. Tôi bật khóc nức nở và thầm thì nhắc đi nhắc lại một từ duy nhất: mẹ, mẹ ơi!
Dù mẹ có hình dung một số phận thế nào đi nữa cho con gái mẹ, chắc hẳn mẹ không nghĩ đến cảnh tượng này. Mẹ đã nuôi dạy tôi với tình cảm trừu mến khôn cùng và sự tận tâm hoàn toàn, và tôi cảm thấy tôi đã phản bội mẹ tôi. Trong khoảng khắc đó, tôi nghĩ đến cảnh mẹ tôi cẩn thận mặc bộ đồng phục nhà trường cho tôi, mẹ đính những ngôi sao chính tay mẹ làm lên áo quần tôi. Giá giờ đây mẹ được thấy tôi, hẳn tim mẹ sẽ ngừng đập.
Nhưng có một điều còn tồi tệ hơn thế nữa. Chẳng những tôi đã phản bội mẹ tôi mà tôi còn phản bội tổ quốc tôi. Chính phủ tôi chắc hẳn sẽ coi lời khai báo của tôi cho chính quyền Nam Hàn là một sự phản bội đê tiện nhất. Vì hành vi phản bội ấy, chẳng những tôi bị hắt hủi mà gia đình tôi chắc chắn cũng bị giam giữ trong một trại cải tạo lao động kinh khủng nào đó, và họ sẽ phải chịu đựng ở đó đến cuối đời. Tôi đã phá hỏng chẳng những đời tôi, mà cả đời họ nữa.
Bắt đầu những thủ tục hình thức, nhưng tôi không làm sao có thể chú ý đến chúng. Tôi hoàn toàn chắc chắn là người ta sẽ kết án tử hình tôi. Tôi đã làm nổ chuyến bay 858 của Hàng Hàng không Triều Tiên (Korean Air Line), tôi phải chịu trách nhiệm về cái chết của 115 người. Thật đặc biệt, nhưng cho đến khi tôi chưa bước chân vào căn phòng xử án có bầu không khí sôi động, tôi chưa nhận thức được đày đủ rằng tôi đã làm một việc kinh khủng đến mức nào. Mặc dù tôi đã đặt bom trên máy bay, tôi không nhìn tận mắt vụ nổ cũng như tôi không thấy địa điểm xảy ra tai họa và cho đến giờ, bằng một cách nào đó, tôi vẫn cảm thấy tôi chẳng dính dáng gì đến hành động này, như thế nó đã chẳng xảy ra hoặc tôi cũng không phải chịu trách nhiệm thực sự về điều đó. Nhưng khi nhìn thấy thân nhân những nạn nhân của tôi trong phòng xử án, cuối cùng tôi mới bắt đầu cảm nhận sâu sắc tính rùng rợn trong tội trạng của tôi. Tôi không dám liếc nhìn xuống cử tọa. Bởi lẽ tôi đã phá hỏng cuộc đời họ. Tôi không cảm thấy tôi có đủ nghị lực, đủ dũng cảm để làm điều đó.
Vài người phụ nữ đứng tuổi đã gây cho tôi nỗi dày vò kinh khủng nhất, những người này vẫn bám vào tia hy vọng rằng thực ra tai họa đã không xảy ra, rằng chính phủ Nam Hàn đang giữ kín các thân nhân của họ ở một nơi nào đó, nhưng họ vẫn sống.
Tôi khóc nức nở. Tôi muốn ôm chầm những con người đó, muốn nói cho họ hay tôi hối hận biết nhường nào vì hành động tôi đã làm.
Trong công trình sử học “Sách đen về chủ nghĩa cộng sản” (Le livre noir du communisme, Robert Laffont, Paris 1997), tác giả Rémi Kauffer - một chuyên gia về tình báo và khủng bố - đã dành bảy chương sách để nói về mối quan hệ giữa các thể chế “cộng sản hiện thực” (hiểu theo nghĩa: các thể chế tự nhận mình là “cộng sản”, không nhất thiết phải tuân thủ các nguyên tắc của chủ nghĩa Marx) và chủ nghĩa khủng bố.
Tác giả cuốn sách trên khẳng định: trong hai thập niên 20 và 30, phong trào cộng sản thế giới dốc toàn lực để chuẩn bị những cuộc khởi nghĩa vũ trang nhưng đều thất bại. Do đó, trong thập niên 40, họ đã lợi dụng cuộc chiến chống phát-xít Đức và giới quân phiệt Nhật, và trong hai thập niên 50 và 60, họ đã nhân danh những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc để tạo dựng những đội du kích chính qui, dần dần biến thành những đạo quân thực thụ để giúp các Đảng Cộng sản cướp chính quyền tại nhiều xứ như Nam Tư, Trung Hoa, Bắc Hàn…
Tuy nhiên, phải đương đầu với sự chống đối của các thế lực thân Hoa Kỳ, thất bại của phong trào “du kích” Nam Mỹ đã khiến một số phe, nhóm cộng sản nhận thấy họ nên trở lại những phương pháp khủng bố “truyền thống”. Lấy danh nghĩa “đấu tranh giải phóng dân tộc”, ở nhiều nơi trên thế giới, khủng bố và chiến tranh du kích đã được hòa quyện một cách “hữu hiệu” trong các hành động vũ trang, như trong trường hợp Mặt trận Giải phóng Dân tộc Algeria hoặc các tổ chức khủng bố Palestine.
Có thể tranh luận với các luận điểm trên của tác giả Rémi Kauffer, tuy nhiên, lần giở kho lưu trữ mật được “bạch hóa” sau khi Liên Xô sụp đổ, có thể thấy trong không ít trường hợp, Liên bang Xô-viết đã trợ giúp và ủng hộ một cách hữu hiệu các nhóm khủng bố ở Trung Đông và Mỹ - La Tinh.
Đặc biệt, trong nhiều năm liền, Ilich Ramirez Sanchez, một trùm khủng bố khét tiếng từng hoành hành ngang dọc ở các nước Ả Rập và phương Tây, đã được sự che chở của hầu hết các quốc gia “xã hội chủ nghĩa” ở Đông Âu: bằng những tấm thông hành và hộ chiếu giả, y đã sử dụng thủ đô Budapest (Hungary) như một địa bàn chính yếu để tổ chức và tham gia các vụ khủng bố đẫm máu.
Dầu vậy, cần phải nói là bản thân các quốc gia “xã hội chủ nghĩa” (cũ) ít khi đứng ra tổ chức khủng bố, vì mức độ mạo hiểm quá lớn. Một ngoại lệ là trường hợp Bắc Hàn: trong những năm tháng căng thẳng dưới thời “Chiến tranh lạnh”, xứ này đã thường xuyên cử các mật vụ ra nước ngoài để ám sát, giết chóc, bắt cóc và thực hiện những hành vi khủng bố, nhất là đối với các nhân vật Nam Hàn.
Nhiều phụ nữ Nhật đã bị bắt cóc và đưa về Bình Nhưỡng để đào tạo thành những điệp viên kiêm khủng bố. Đó là chưa nói đến chuyện trong hai thập niên 60 và 70, Bắc Hàn là nơi ẩn mình của vô số nhóm khủng bố Nhật, Palestine, Phillippines…, với một mục tiêu chính yếu là “lật đổ chế độ tư bản thối nát”. Có thể nói trong một thời gian dài, Bắc Triều Tiên là quốc gia cộng sản duy nhất đã chủ trương khủng bố một cách có hệ thống ở cấp nhà nước.
Trong số các hành động khủng bố đẫm máu nhất của Kim Nhật Thành, cần phải kể đến vụ ám sát 16 người xảy ra ở Rangun (trong số đó có bốn bộ trưởng Nam Hàn), hoặc vụ nổ máy bay Hãng hàng không Korean Airline ngày 29-11-1987, gây nên cái chết của 115 hành khách vô tội.
Kim Hyun Hee là một trong hai thủ phạm chính của vụ nổ máy bay nói trên. Cùng một điệp viên đứng tuổi và dày dạn kinh nghiệm (Kim Soung Ir), người phụ nữ trẻ trung (25 tuổi) và xinh đẹp đó được nhận nhiệm vụ phải “dạy cho Hán Thành một bài học”: mục đích chính của vụ khủng bố là hạ uy tín Nam Hàn, khiến nước này “mất mặt” và chứng tỏ cho thế giới thấy rằng Hán Thành không đủ sức để giữ gìn an ninh cho Thế vận hội 1988, sẽ được tổ chức sau đó ít tháng.
Tuy nhiên, ý định đó của nhà độc tài Kim Nhật Thành đã hoàn toàn phá sản. Thế vận hội Hán Thành 1988 thành công mỹ mãn, trở thành một biểu tượng của hòa bình và hữu nghị, khi các vận động viên “tư bản” và “xã hội chủ nghĩa” lại bắt tay nhau trên tinh thần bằng hữu và thể thao sau hai kỳ Olympic không trọn vẹn (1980: Moscow, và 1984: Los Angeles).
Sau vụ đặt bom, nhóm khủng bố bị phát hiện: Kim Soung Ir uống độc dược tự tử, còn Kim Hyun Hee định tẩu thoát nhưng bị bắt giam. Sau một thời gian dằn vặt nội tâm và đấu tranh với chính mình, cô gái trẻ tuổi đã cung khai mọi sự trước nhà chức trách Nam Hàn. Về sau, họ Kim đã thuật lại chi tiết những hoạt động gián điệp và khủng bố của mình trong cuốn hồi ký “Giọt lệ trong hồn” (The Tears Of My Soul, 1993), khiến thế giới phải kinh hoàng trước sự tàn ác của các nhà lãnh đạo Bắc Hàn.
Cho dù, vì những lý do dễ hiểu, cuốn hồi ký chưa thể nói lên hết được những gì tại hậu trường các sự kiện của 20 năm trước, nhưng đây là một nguồn tư liệu có độ xác tín tương đối cao về một xã hội, một thể chế khép kín mà thế giới có rất ít thông tin. NCTG xin giới thiệu đến quý độc giả “Giọt lệ trong hồn”, thông qua bản dịch tiếng Hung (“Kémek iskolája: Egy terroristanő vallomásai”, fordította: Gálvölgyi Judit, JGX Kiadó, Budapest 1994).
LỜI NÓI ĐẦU
Tiến >>
Nguồn: https://hanquocngaynay.info/
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 11 tháng 5 năm 2023