📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Nghi Vấn Truyện Kiều.

58 trả lời, 4.050 lượt xem — Trang 2 / 2

- Cuộc sống, con người, và dòng thời gian đang nhẹ nhàng trôi chẳng ai có thể biết và hiểu hết được cả, tất cả đúng sai, tốt xấu cũng tự do mỗi con người qui định mà thành, số đông sẽ thắng và được công nhận là đúng.

- Quá khứ đã qua, và có những thứ mãi mãi ko thể mất đi, cho dù đôi lúc nó được hiểu khác đi mà ko hề sai mới kỳ lạ.

+ Chuyện cổ tích Tấm Cám: ai cũng biết và tượng trưng cho người con gái VN dịu dàng đảm đang chân chất, nhưng suy cho cùng có thất sự thế ko? Lừa chị để dội nước xôi rồi làm mắm gửi cho mẹ an thịt con, vậy ai ác hơn ai????

+ Ca dao: Trâu ơi ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng Trâu cày với ta, Cấy cày vốn nghiệp nông gia, Ta đâu Trâu đấy ai mà quản gia, Bao giờ cây lúa thành bông, Thời con ngọn cỏ ngoài đống trâu ăn - Lúa mà có nhiều cỏ thì.... Mà nhiều lúa cỏ đâu Trâu ăn, lại lừa nhau nữa rồi à - [;)]

+ Suy cho cùng tất cả văn chương đều vậy, cả nếu cứ xét nét theo khía cạnh nào đó thì cũng có những người có tìm hiểu và nói ra được cái sai đó cả, trên đời làm sao có thể có " Chân, Thiện, Hoàn, Mỹ "

- Có chăng hãy hiểu và thấy những gì thực sự tốt đẹp, hãy biết thông cảm, vị tha rộng lượng với vạn sự thì cuộc sống mới có thể có chút êm dịu ngọt mềm được. Cô Tấm cuối cùng "ác" thật đấy bằng tất cả những gì cô Cám làm cộng lại, nhưng xin hãy hiểu cho, đó là tâm tư ước nguyện của người xưa, sự uất ức bị dồn nén, bị đè chặt lại trầm sâu lặng quá mà lên, nên mới có đoạn kết như vậy. Con Trâu kia bị lừa đảo ư, thưa rằng ko, người ta chỉ muốn một cuộc sống bình yên và hòa thuận tất cả chan hòa gắn bó chặt chẽ với nhau, nên mới có những câu ca dao đó, trái lẽ ư, ko thể ư, cuộc sống cũng vẫn vốn có như vậy mà.

* Còn truyện kiều vốn là Tinh Hoa đã, vẫn và sẽ mãi mãi được những người VN công nhận và tôn vinh. Cho dù ai đó cố tìm ra sự khấp khểnh, nhìn riêng về một khía cạnh thật sâu một góc cạnh mà để những điều khác mờ đi hay ko có, thì vẫn có thể hiểu và thấy đúng theo một cách nào đó,


Trong cõi phù sinh đời mấy kiếp
Tung hoành thiên địa có mấy ai?
Khổ luỵ kỳ danh khôn lưu lại
Oán quỷ vô thường dưới âm ty
Đăng nhập để trả lời
0
Đúng và sai, mong manh như tóc.
Một chớp mắt, khác nào một trăm năm?
Thương cho mình cứ hoài đi trong một chớp mắt mà cứ tưởng 100 năm.
Lắm điều còn phải bàn cùng CTLM và tieuboingoan.
Chỉ có điều, đừng đem sách vở làm dẫn chứng cho biện luận của mình. Có lẽ các bạn cho Nguyên là người ko đọc sách chăng?
Có suy nghĩ từ chính cảm nghiệm của mình, thì nói mới có sức thuyết phục được.
Nhất Hạnh là ai? Là cái ông sư ôm ốm trọc trọc đeo kính hay nói chuyện sách vở và quan tâm nhiều đến chính trị ấy không?
Còn mô típ Tấm Cám thì lật qua lật lại là hết vấn đề, = cách đứng giữa.
Các bạn có điều gì mới từ sự phát giác của mình trong một phút suy nghĩ thật sâu nào đó giữa linh hồn không?
Nếu có, Nguyên sẵn sàng nghe!
Thân ái.
Nguyên.
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện Kiều có rất nhiều những lời nhận xét về cuộc đời
Đau đớn thay phận đàn bà.....
Và những ngôn từ, hình ảnh đẹp. Rất nhiều từ ngữ hiện đại ngày nay đều được lấy từ Truyện Kiều. Truyện Kiều xứng đáng là một tác phẩm lớn trong thi ca Việt nam từ xưa và mãi mãi về sau.
Life's Good!
Website: http://www.phucdull.net.tf
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện này ai cũng biết cả. Nhiều khi đứng dưới góc độ người hiện đại chúng ta cứ hay nghĩ về Truyện Kiều với sự đóng góp và danh tác hơn là chịu khó nghĩ thêm về ý nghĩa đứng đằng sau những điều Nguyễn Du muốn gửi gắm.
Thật ra, Văn là gì? Mà Thơ là gì?
Nếu vì chuyện hay hoặc không hay đã lắm điều bàn cãi. Vậy nên cái chuyện Nghi Vấn của huyennguyen đặt ra đôi khi cũng chỉ là chuyện giỡn chơi lúc rãnh rỗi. Thơ tự thân mang trong nó tinh chất của cuộc đời. Cuộc đời thì muôn ngàn kiếp nữa cũng giống nhau cả thôi. Con người sống với con người trong chan hoà tổng thể Thiên Nhiên, Vũ Trụ và Đaọ Luật.
Thiên Nhiên ngàn năm vẫn không thay đổi tính bất di bất dịch mà hiển lộng hình tướng muôn màu.
Vũ Trụ thắp sáng Thiên Nhiên như là một thân phận giữa cuộc đời này.
Đạo Luật là Đạo của Thiên Nhiên, Vũ Trụ?
Thiệt tình, đụng tới Truyện Kiều còn muôn ngàn nan vấn, nan nghi. Thế nên huyennguyen mới có can đảm mà đặt ở đây hai chữ Nghi Vấn. Bạn hữu từ thập phương, nếu vì rộng lòng mà lại, Nguyên thật lòng đa tạ. Nếu vì hẹp lòng mà đi, Nguyên cũng đành ngậm ngùi đứng tiễn.
Rất nhiều khi, thấy mình lố bịch trước con chữ của Truyện Kiều. Bởi mênh mông có thể nào diễn tả được với vài dòng chơi chơi trà dư tửu hậu?...
Nguyên.
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-27 07:44:44tieuboingoan>
TBN nghĩ là nếu cần tìm hiểu về cái hay, cái thâm thúy cũng như những hạn chế của Truyện Kiều thì nên tìm đọc nhiều tư liệu từ nhiều góc độ khác nhau nên TBN chỉ muốn cung cấp tư liệu tham khảo nhằm sáng tỏ thêm những điều cần biết. Huyennguyen hỏi Nhất Hạnh là người gầy hay ốm thì TBN chịu. TBN chỉ biết tác giả thông qua bài viết của họ thôi à!

Cung cấp thêm cho diễn đàn một tư liệu từ vnn.vn



Tìm nguyên tác Truyện Kiều: Không tưởng!

(VietNamNet) - Năm 1962, Viện Văn học đề ra việc đi tìm nguyên tác Truyện Kiều. Trong một vài năm rộ lên phong trào đi tìm nguyên tác Truyện Kiều, nhưng chẳng bao lâu người ta biết ngay là việc không tưởng nên lại quay về con đường hiệu đính, tức là mỗi người sửa một cách theo ý mình. Thế cũng gần giống như việc sửa Kiều, nhưng ngày xưa các nhà Nho sửa cho hay hơn, thì nay các nhà 'Kiều học' sửa để cho gần với Nguyễn Du hơn.



Nửa thế kỉ tranh cãi và rắc rối...

Để bắt đầu tìm nguyên tác Truyện Kiều, việc đầu tiên của chúng ta phải là tìm được một bản gần với thời Nguyễn Du sống nhất. Nhưng hiện nay vấn đề này rất là 'bung bét'. Cứ ít lâu người ta lại tìm được một bản in Kiều Nôm "cổ nhất". Ban đầu bản "cổ nhất" là bản in năm 1872, ít lâu sau lại có kỳ phùng địch thủ: bản 1871, rồi hiện nay, ngôi vô địch thuộc về bản 1866. Năm 1866, nghĩa là sau khi Nguyễn Du nằm xuống những 46 năm, vậy thì nó khó mà là cổ nhất được! Với đà này, chưa biết bao giờ mới có bản gọi là cổ nhất thật sự, mà chỉ là 'cổ nhất được tìm thấy đến thời điểm này'.

Quan niệm của các nhà 'sửa Kiều' về bản đáng tin cậy nhất cũng khác nhau. Cụ Nguyễn Tài Cẩn rất tin vào bản Duy Minh Thị 1872, Nguyễn Khắc Bảo hay lấy bản 1879 làm chuẩn, còn Đào Thái Tôn đầu tiên tin vào bản năm 1871, nhưng gần đây lại đang đi tìm một bản khác mà theo Hoàng Xuân Hãn thì đó mới là bản đáng tin hơn cả, và ĐàoThái Tôn cũng thực tâm tin vậy... Với ngần ấy bản để làm quy chuẩn, đủ biết là cuộc tranh luận về nguyên tác Truyện Kiều rắc rối đến chừng nào. Đấy là vấn đề thứ nhất.

Vấn đề thứ hai. Họ căn cứ vào đâu để sửa? Mỗi người một cách, Nguyễn Khắc Bảo mỗi khi thấy một chữ có nhiều dị bản, liền đem mấy chục bản ông ta có trên tay ra so, rồi thì chọn lấy chữ nào thích hợp nhất - tức là theo ông là thích hợp nhất đối với Nguyễn Du. Đào Thái Tôn thì đôi khi lại bác bỏ hẳn đa số, mà theo thiểu số. Ví dụ, câu "Nghĩ rằng trong... vợ chồng", tất cả các bản đều chép là "đạo vợ chồng", trừ Duy Minh Thị chép "sự vợ chồng", nhưng ông lại theo bản Duy Minh Thị. Rồi ông nghĩ ra những cách lí giải rất hay cho chữ 'sự', hay đến nỗi ai nghe cũng phải sướng cái lỗ tai, nghĩ rằng chắc là Nguyễn Du thật rồi. Với cái lối 'tán' ấy, ông đã cho đăng rất nhiều báo, diễn đàn và mới đây nhất, tại Hội thảo quốc tế về chữ Nôm, ông cũng vẫn nói thế. Nhưng một tháng sau gặp, ông lại ngậm ngùi bảo với chúng tôi: "Có lẽ tôi nhầm mất rồi" - Tại sao? - "Bây giờ nghĩ lại thì hình như tôi đã mắc phải cái điều mà Cụ Hoàng Xuân Hãn đã dè chừng, đó là sự chữa khéo của người đời sau, khéo đến mức mà tôi mê, tôi tán. Bản Duy Minh Thị là bản đầy những chữ lạ mà như ta đã thấy nhiều chữ vẫn có thể tìm thấy cái lý, vẫn chạy nghĩa nhưng không ít những chữ nước đôi ỡm ờ cho nên có lẽ mình phải ngờ. Mà nghĩ cho cùng thì chữ 'đạo' cũng có cái lý riêng. Nó lại thanh nhã hơn".

Nhưng vấn đề là Nguyễn Du sử dụng chữ nào?- Nếu mà lí luận như ông Đào Thái Tôn thì phải lấy một cái căn cứ mặc định, đó là mọi câu chữ của Nguyễn Du phải hay nhất có thể, tinh tế nhất có thể, đúng nhất có thể, uyên bác nhất có thể, và Nguyễn Du không được mắc một sai lầm nào. Liệu chúng ta có thể mặc định điều này không?

Trong nửa thế kỉ, kể từ năm 1962, đã có hàng chục gương mặt nổi lên trong lịch sử của phong trào Đi tìm nguyên tác Truyện Kiều: Nguyễn Tài Cẩn, Đào Thái Tôn, Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân, An Tri, Nguyễn Khắc Bảo... (Vì việc đi tìm nguyên tác Truyện Kiều này theo nhiều người hầu như là không tưởng, nên chúng ta tạm gọi họ là những nhà 'sửa Kiều'). Một trong những cây đa cây đề của phong trào này phải kể đến Hoàng Xuân Hãn, người đã âm thầm nghiên cứu văn bản Truyện Kiều từ trước thời điểm 1962.


Đêm ngày, trong những căn buồng ngồn ngộn sách, họ ngồi cố vắt óc tìm xem một chữ nào đó đáng lý ra phải như thế nào. Họ ghi danh vào những nhà Kiều học của thế kỷ 20 rồi vắt sang cả thế kỷ 21. Nguyễn Khắc Bảo làm đến quên cả cái nghề thuốc gia truyền của mình. Đào Thái Tôn làm đến gãy gập lưng suốt chục năm trời, lần mò từng chữ trong cả chục bản Kiều. Nhưng đó là cái nghiệp, tìm được một chữ có vẻ "ra chất Nguyễn Du" nhất, họ sướng lắm! Nhưng mặt khác, sự trái ngược về quan điểm, dù là trong một lãnh vực thanh tao đến thế này, vẫn có thể làm nảy ra những trận cãi cọ nảy lửa. Người viết bài này không dưới một lần chứng kiến những cuộc đụng độ nặng nề giữa các phái sửa Kiều.

... Nhưng vẫn có thể đọc bất kì bản Kiều nào mà khóc với nhau!

Ấy thế nhưng, Truyện Kiều vẫn được dịch ra đủ thứ tiếng trên thế giới và được bạn bè năm châu ngưỡng mộ, mà những người dịch ắt chẳng nằm trong số các nhà sửa Kiều này. Mới đây lại có một người Hàn Quốc dịch Kiều sang tiếng Hàn. Truyện Kiều vẫn làm cho người ta khóc được. Chính Đào Thái Tôn sau cùng lại là người yên ủi chúng tôi, những kẻ hậu sinh cứ mãi băn khoăn sợ đời mình không được đọc một bản Kiều nào cho ra hồn. Ông nói:

"Duy Minh Thị 1872 là bản in đầu tiên chứng tỏ sự chữa nát Truyện Kiều, bản ấy hệ luỵ đến tất cả những bản in ở Huế và làm cho họ theo thế mà sai. Hệ Kiều ở Thăng Long đáng tin cậy hơn, các bản xê lệch nhau ít hơn nhiều. Vậy, tất cả các bản miền Bắc và bản Duy Minh Thị gặp nhau ở đâu thì đó chắc chắn là Nguyễn Du, vấn đề còn lại chỉ là giải quyết độ vênh của hai văn bản. Tôi đã thống kê 1100 câu thơ, tức xác suất 1/3 Truyện Kiều (7700 chữ) thì thấy hệ Huế lệch hơn ba trăm chữ so với hệ Thăng Long. Vậy tất cả nguyên tác Truyện Kiều cũng chỉ nằm ở khoảng ba trăm chữ này thôi, cứ thế mà nhân ba lên, là 1500 chữ, thì cũng rất ít.

Ít nhưng đến đời con tôi cũng không lần mò được hết những chữ đích thực của Nguyễn Du. Nhưng mà, sinh ra nghề thì phải làm thế thôi. Chứ còn bây giờ đọc Truyện Kiều, ta cứ lấy bất kỳ bản nào cũng được, kể cả bản ở thế kỷ 20, bản bình dân hay bản bác học, đọc hoàn toàn vẫn cảm động, vẫn khóc được với nhau. Nhưng mình muốn giải quyết là giải quyết cái phần rất nhỏ này thôi chứ nguyên tác Truyện Kiều thì cũng không có gì xô lệch lắm đâu".

Thế mà cuộc tranh luận của các nhà Kiều học đã làm cho người ta hoang mang đến nỗi mỗi khi cầm quyển Kiều cứ phải ngó ngược ngó xuôi xem in năm nào, ai chú giải, ai khảo lược, và rồi đọc mà cứ nơm nớp như ăn phải thứ cơm gạo làm dối, sợ dính sạn!

Doãn Diễm





Một trang của bản Kiều Nôm in năm 1866, bản được coi là cổ nhất được tìm thấy đến thời điểm này
📎 images394205_kieu




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
xin chào nguyên hương.Bạn định nghi vắn truyện kiêu về măt gì vậy:về giá trị nghệ thuật hay về giá trị nhân văn vậy.Bạn nói rỏ dược không,nhưng mình nghĩ sự khẳng định đo đã dược khẳng định trong suốt 300 năm nay rồi.Vậy liệu có còn là nghi vấn nữa không vậy.
trà my
Đăng nhập để trả lời
0
Không hiểu đến bao giờ có thể hiểu?
Chẳng biết bao giờ.
Xưa, có người đang bị treo lơ lửng trên miệng giếng. Cái duy nhất làm ông ta trụ lại mà chưa rơi xuống là vì miệng ông đang ngậm một cái cây bắc ngang miệng giếng đó. Có người tới hỏi ông về Đạo của cuộc đời, ông ta không trả lời. Giả dụ, ông trả lời mà người dó không hiểu, hoặc càng làm người ta rối rằm thêm hơn, mà bản thân lại đang đứng bên bờ vực thẳm của chết sống. Đây chưa nói về sự hy sinh, mà nhằm hướng đến một điều giản dị hơn: "Nếu hiểu được, hà tất đã hỏi?"
Nên chăng, cho rằng huyennguyen là kẻ khùng đi, thế tốt hơn không chừng.
Trà My? Bạn là tramy ah?
Xin cho huyennguyen được đính chính là mình là Huyền Nguyên.
Cảm tạ, nhung giá trị nhân đạo hoặc nhân vân, hoặc nghệ thuật, hỏi huyennguyen cũng bằng thừa. HN có biết gì về những thứ ấy đâu?
Xin chào, và nguyện cho tất cả an lành bình yên...
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
TỪ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN
ĐẾN ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH

Nguyễn Ngọc Bảo
(Báo Ngày Nay số 512, phát hành ngày 1 tháng 10 năm 2003)


- AI LÀ TÁC GIẢ CỦA KIM VÂN KIỀU TRUYỆN?

- CỤ NGUYỄN DU ĐÃ MƯỢN BAO NHIÊU PHẦN TỪ KIM VÂN KIỀU TRUYỆN KHI SÁNG TÁC ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH?

- SO SÁNH BUỔI XỬ OÁN CỦA THÚY KIỀU TRONG KIM VÂN KIỀU TRUYỆN VÀ ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH?

- TẠI SAO HAI TÁC PHẨM VIẾT CÙNG MỘT CÂU CHUYỆN LẠI CÓ HAI SỐ PHẬN





Nguồn Gốc của Đoạn Trường Tân Thanh

Đoạn Trường Tân Thanh là tác phẩm bằng thơ lục bát do cụ Nguyễn Du sáng tác, dựa theo một tiểu thuyết của Trung Hoa, để thuật lại cuộc đời truân chuyên của một thiếu nữ hữu sắc đa tài nhưng bạc mệnh. Câu truyện này là một huyền thoại xây dựng trên hai nhân vật có thật, sống vào đời vua Gia Tĩnh nhà Minh (1522-1566) bên Trung Hoa. Đó là Vương Thúy Kiều và Từ Hải.

Có lẽ người đầu tiên viết về Thúy Kiều là Mao Khôn, đời nhà Minh. Trong tập Ký Tiễu Trừ Từ Hải Bản Mạt (chép lại chuyện dẹp trừ Từ Hải), qua lời thuật của họ Mao, Vương Thúy Kiều là kỳ nữ tài sắc ở huyện Lâm Truy, thông thạo ngón Hồ cầm và sở trường về lối hát mới thịnh hành vào thuở bấy giờ. Bọn nụy khấu đánh cướp đất Giang Nam, bắt Thúy Kiều dâng lên thủ lãnh Từ Hải. Từ rất yêu quý Kiều và thường hỏi ý nàng về việc quân cơ. Mỗi ngày thanh thế Từ một thêm lừng lẫy khiến vua nhà Minh phải phái quan đốc phủ Hồ Tôn Hiến mang quân dẹp trừ. Hồ cho người đem vàng bạc đến tặng Kiều và nhờ nàng thuyết phục Từ quy hàng. Nghe lời Kiều, Từ ra hàng và bị Hồ cho phục binh giết chết. Kiều bị quan quân bắt giải cho Hồ Tôn Hiến. Sau khi làm ô nhục Kiều, Hồ gả nàng cho một tù trưởng tên Vĩnh Thuận. Khi qua sông Tiền Đường, Kiều nhẩy xuống sông tự tử.

Câu truyện đời Kiều dần dần được đưa vào tiểu thuyết. Trước hết là Chu Tịch đời Minh, trong truyện Chiến Công Quan Hồ Thiếu Bảo Bình Định Nụy Khấu đăng trong Tây Hồ Nhi Tập. Kế đến là Dư Hoài, cũng đời nhà Minh, với Vương Thúy Kiều Truyện trong bộ Ngu Sơ Tân Chí (quyển 8). Trong truyện ngắn này, Thúy Kiều quê ở Lâm Truy, bị bán cho nhà hát từ thuở nhỏ và thường được gọi là Kiều Nhi. Tuy có nhan sắc, hát hay, và đàn giỏi nhưng Kiều thường bị chủ đánh vì không khéo thuật tiếp khách. Sau Kiều được một người lái buôn tên La Long Vân mua về làm thiếp. Khi đại vương Từ Hải mang quân đánh Giang Nam, bắt được Thúy Kiều, mang về làm áp trại phu nhân. Vì muốn về quê, Kiều khuyên Từ Hải ra hàng Hồ Tôn Hiến. Rốt cuộc Từ bi Hồ lừa và giết chết. Sau đó, Kiều bị buộc hầu rượu Hồ Tôn Hiến, rồi bị ép gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận. Quá phẫn uất nên Kiều tự trầm tại sông Tiền Đường. Học giả Phạm Quỳnh, qua một bài biên khảo về Truyện Kiều đăng trong tạp chí Nam Phong phát hành tháng 12 năm 1919, cho rằng cụ Nguyễn Du đã dựa vào tác phẩm của Dư Hoài để viết Đoạn Trường Tân Thanh.

Sang đến Vương Thúy Kiều Truyện trong tập Hồ Khoáng Thập Di Lục Tàn Cảo của Hồ Khoáng, cũng đời nhà Minh, trình độ tiểu thuyết hóa cuộc đời của Thúy Kiều và Từ Hải tăng thêm một bậc. Trong truyện này, Từ Hải trở thành một người anh hùng, sau khi bị lừa, đã chiến đấu anh dũng cho đến khi tử trận.

Ngoài ra, theo một nguồn dư luận, cuộc đời của Thúy Kiều cũng được Từ Vị, tức Từ Văn Trường (1521-1593), một nhà văn nổi tiêng quê ở huyện Sơn Âm, tỉnh Triết Giang và sống cùng thời với Kiều, thuật lại trong tập Tứ Thanh Viên (bốn tiếng kêu đứt ruột của con vượn). Đây là một tập bao gồm 4 vở tuồng mà hai vở đầu kể những chuyện xẩy ra trong cuộc đời của Kiều và của chính tác giả:

- Tập 1: Mộc Lan Nữ – Kể chuyện Kiều phải bán mình cho một phú ông và mối tình của Kiều cùng Kim Trọng, nhân vật tượng trưng cho Từ Văn Trường.

- Tập 2: Thúy Hương Điện – Vì biết Từ Văn Trường là người yêu cũ của Thúy Kiều nên Hồ Tôn Hiến mời Từ làm mặc khách để thuyết phục Kiều khuyên Từ Hải ra hàng. Sau khi Từ Hải bị giết, Hồ Tôn Hiến chiếm đoạt Kiều rồi gửi Kiều vào chùa Thúy Hương để ngày ngày đến ân ái với nàng. Khi biết chỗ ở của Kiều, Từ Văn Trường bèn cải trang thành một thày tu, đêm đêm lẻn vào chùa cùng nàng tình tự. Có một lần lính canh trông thấy Từ nên trình báo Hồ Tôn Hiến. Hồ nổi ghen, ra lệnh bắt tất cả 36 thày tu trong vùng đến trước mặt Kiều và buộc nàng phải khai ai là kẻ vẫn đêm đêm đến với nàng. Muốn che chở cho người yêu, Kiều đã liều chỉ đại môt thày tu ở Thúy Hương Điện. Hậu quả là nhà sư bị Hồ Tôn Hiến ra lệnh chém đầu. Từ Văn Trường cho biết ông viết tập tuồng này để thanh minh cho nỗi oan khốc của thày tu tại Thúy Hương Điện.

Theo giáo sư kiêm học giả Nguyễn Duy Nhường, tác giả bộ Đại Từ Điển Tầm Nguyên và bộ Văn Học Điển Cố Thuyết Minh, Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du phải được xuất phát từ bộ Tứ Thanh Viên [1]. Ông cho rằng chỉ hai vở tuồng nêu trên mới có đủ yếu tố để Nguyễn Du phối hợp soạn ra tác phẩm bất hủ của dân tộc. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa ai tìm được bộ Tứ Thanh Viên nào tại các thư quán ở Trung Hoa.

Điều đáng lưu ý là trong các tác phẩm lịch sử cũng như văn học Trung Hoa, cuộc đời Thúy Kiều chấm dứt nơi sông Tiền Đường. Thêm nữa, không tác phẩm nào đề cập đến quãng thời gian đoạn trường của nàng.

Ngoại trừ một tác phẩm: Kim Vân Kiều Truyện, sáng tác của Thanh Tam Tài Nhân với lời phê bình của Kim Thánh Thán.

Kim Vân Kiều Truyện chính là tác phẩm duy nhất ở Trung Hoa viết về bước đường lưu lạc của Kiều và bao gồm thêm nhiều nhân vật không thấy trong những tác phẩm nêu trên. Qua ngòi bút của Thanh Tâm Tài Nhân, trong truyện này, nàng ca kỹ Kiều Nhi xuất thân từ môt gia đình trâm anh, nền nếp và tướng giặc Từ Hải biến thành vị đại vương hùng cứ môt phương. Phần cuối của Kim Vân Kiều Truyện được dùng để thuật cảnh tái hợp giữa Thúy Kiều và Kim Trọng.

Vì những sự kiện vừa kể, chúng ta có thể đoan quyết rằng Kim Vân Kiều Truyện chính là tác phẩm cụ Nguyễn Du đã dựa vào để viết Đoạn Trường Tân Thanh.

Cho đến nay, lai lịch của tác giả Kim Vân Kiều Truyện vẫn là điều bí ẩn vì những chữ Thanh Tâm Tài Nhân chỉ là một biệt hiệu chứ không phải tên thật. Một số người, trong đó có ông Nguyễn Hữu Sơn [2], cho rằng tác giả chính là Từ Vân Trường, cũng là tác giả bộ Tứ Thanh Viên kể trên. Tuy nhiên, thuyết này thiếu xác đáng vì trong Kim Vân Kiều Truyện, Kiều bán mình chuộc cha năm 1532 (năm Gia Tĩnh 11) và gặp lại Kim Trọng năm 1547. Trong khi đó, theo Minh sử, Hồ Tôn Hiến diệt Từ Hải năm 1557. Như vậy có sự chênh lệch 10 năm giữa tiểu thuyết và chính sử. Nếu Từ Văn Trường là tác giả thì không thể có sự sai lạc này vì ông là người đồng thời với Thúy Kiều.

Ngoài ra, cũng không ai biết đích xác Kim Vân Kiều Truyện được viết vào thời nào. Theo học giả Dương Quảng Hàm [3], Kim Vân Kiều Truyện kể một câu chuyện diễn ra trong thời vua Gia Tĩnh, từ 1522 đến 1566 và được Kim Thánh Thán, sống từ 1627 đến 1662, phê bình. Như vậy, tác phẩm này phải được sáng tác vào cuối thế kỷ 16 hoặc đầu thế kỷ 17. Ý kiến này thiếu thuyết phục vì cho đến nay, nhiều người vẫn hoài nghi tính xác thực của tác giả những lời phê bình ghi trong Kim Vân Kiều Truyện. Lý do Kim Thánh Thán là một nhà phê bình nổi tiếng, đã phê bình những tác phẩm thuộc loại kỳ thư của Trung Hoa như Thủy Hử, Tam Quốc Chí, và Tây Sương Ký. Vì vậy, khó thể tin ông phí công để phê bình một tác phẩm khá tầm thường như Kim Vân Kiều Truyện.

Một thuyết có thể tin được là trong khoảng hai trăm năm sau khi Thúy Kiều tự trầm ở sông Tiền Đường, một huyền thoại về cuộc đời Thúy Kiều đã được xây dựng bởi dân gian vùng ven biển thuộc tỉnh Triết Giang, nơi Từ Hải từng đặt tổng hành doanh. Đến đời nhà Thanh, Thanh Tâm Tài Nhân đã dựa vào huyền thoại này để viết Kim Vân Kiều Truyện. Khác với Minh sử và các tác phẩm tiểu thuyết trước đó, ông đã thêm vào đoạn Kiều được cứu sống khi nàng tự trầm tại sông Tiền Đường và sau đó cho nàng tái hợp với Kim Trọng. Có thể đoạn kết không phải do Thanh Tâm Tài Nhân đặt ra mà đã được tạo dựng bởi huyền thoại vừa kể. Lý do là các câu chuyện huyền thoại thường mang đặc tính luân lý “ở hiền gặp lành” nên nước sông Tiền Đường đã rửa sạch nỗi oan của Kiều và nàng cần phải được cứu sống để đoàn tụ cùng người tình cũ.

Tại Việt Nam hiện nay, có lẽ không còn một bản Kim Vân Kiều Truyện nào đã được lưu hành trước thời cụ Nguyễn Du, ngoại trừ một bản ghi lại bằng vi phim (microfilm) đang được lưu trữ tại thư viện Khoa Học Xã Hội tại Sài Gòn. Vi phim này chụp từ một bản chép tay, với ký hiệu A953, của học viện Viễn Đông Bác Cổ (École francaise d’Extrême-Orient) ở Paris. Bản Kim Vân Kiều Truyện này gồm 4 quyển với 478 trang, chia thành 20 hồi.

Đến năm 1983, nhà xuất bản Xuân Phong Văn Nghệ tại Trung Hoa in lại Kim Vân Kiều Truyện. Sách dầy 214 trang do ông Lý Trí Trung hiệu đính, dựa trên một bản đang được lưu trữ tại Đại Liên Đô thư quán. Về nội dung, bản do Xuân Phong Văn Nghệ ấn hành tương tự như bản chép tay mang ký hiệu A953, cũng chia thành 20 hồi, chỉ khác nhau đôi chút về lời văn.

Trong hai bản vừa kể, các diễn biến của Kim Vân Kiều Truyện được trình bầy qua 20 hồi sau:

Hồi 1: Thân thế Thúy Kiều - Kim Kiều gặp gỡ
Hồi 2: Mộng thấy Đạm Tiên - Kim Kiều đính ước
Hồi 3: Kim Kiều thề nguyền
Hồi 4: Kiều quyết định bán mình chuộc cha
Hồi 5: Kiều thuyết phục Vương Ông ký vào hôn thư
Hồi 6: Nhận tiền của Mã Giám Sinh - Dùng tiền chuộc Vương Ông
Hồi 7: Trao thân cho Mã - Từ giã gia đình
Hồi 8: Gặp Tú Bà tại lầu xanh ở Lâm Truy - Tự tử nhưng được cứu sống
Hồi 9: Mắc lừa Sở Khanh - Bị Tú Bà bắt trên đường đi trốn
Hồi 10: Chấp thuận tiếp khách - Được Tú Bà truyền nghề
Hồi 11: Gặp Thúc Sinh
Hồi 12: Chung sống với Thúc Sinh
Hồi 13: Hoạn Thư biết tin Thúc Sinh lấy Kiều - Thúc Sinh về thăm nhà
Hồi 14: Bị Hoạn Thư cho người bắt giải về Vô Tích - Trở thành gia nô của Hoạn Thư
Hồi 15: Bị Hoạn Thư hành hạ
Hồi 16: Tu ở Quan Âm Các trong vườn nhà Hoạn Thư - Trốn khỏi nhà Hoạn Thư, đến tu ở Chiêu Ẩn Am
Hồi 17: Sa vào lầu xanh ở Châu Thai - Gặp Từ Hải
Hồi 18: Báo ân, xử oán
Hồi 19: Trúng kế chiêu an, Từ Hải chết đứng - Kiều tự trầm nơi sông Tiền Đường, được Giác Duyên cứu
Hồi 20: Kim Kiều tái hợp





So Sánh Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều Truyện

Đối chiếu Đoạn Trường Tân Thanh với Kim Vân Kiều Truyện, ta thấy cụ Nguyễn Du đã giữ nguyên diễn biến câu chuyện. Tuy nhiên, cụ đã lược bỏ rất nhiều chi tiết không cần thiết cho tác phẩm, điển hình là cụ đã bỏ hoàn toàn hồi thứ 6 của Kim Vân Kiều Truyện và tóm lược hồi 5 trong chỉ 20 câu thơ.

Trong một bài biên khảo đăng trong tuyển tập “Nguyễn Du, Tác Giả và Tác Phẩm” do nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành năm 1999 tại Việt Nam [2], các tác giả Nguyễn Thạch Giang, Triệu Ngọc Lan, và Lô Úy Thu đã bỏ công tìm tòi những phần trong Kim Vân Kiều Truyện đã bị cụ Nguyễn Du lược bỏ. Khi so sánh Đoạn Trường Tân Thanh với Kim Vân Kiều Truyện do Xuân Phong Văn Nghệ xuất bản, các tác giả này nhận thấy cụ Nguyễn Du đã loại bỏ 142 trang trên tổng số 214 trang, tức khoảng 2/3 tác phẩm. Cụ chỉ giữ lại 72 trang và dùng các chi tiết trong số trang này để viết thành 1313 câu thơ trong tổng số 3254 câu của Đoạn Trường Tân Thanh. Như vậy, 1941 câu còn lại do chính cụ sáng tác. Thêm nữa, cụ đã loại bỏ khá nhiều nhân vật phụ trong Kim Vân Kiều Truyện cùng các hành động của họ, và nhiều lúc sắp xếp lại các diễn biến để câu chuyện được tự nhiên. Vì vậy, tác phẩm của cụ trở nên chặt chẽ và lôi cuốn hơn rất nhiều. Điều này minh chứng được rằng Đoạn Trường Tân Thanh không phải chỉ đơn thuần là môt tác phẩm dịch như một số người lầm tưởng.

Trong pham vi hạn hẹp của bài báo, xin mời quý độc giả so sánh sự khác biệt giữa Đoạn Trường Tân Thanh với Kim Vân Kiều Truyện trong một phần khá hấp dẫn của câu chuyện. Đó là phần tả cảnh Kiều dựa vào uy thế của Từ Hải để trừng phạt những kẻ cựu thù. Phần trong Kim Vân Kiều Truyện do ông Tô Nam Nguyễn Đình Diệm chuyển ngữ từ bản A953 nêu trên [4].


• Cuộc xử oán trong Kim Vân Kiều Truyện:


... Bấy giờ trong dinh bắt đầu nổi lên một tiếng trống hiệu, bọn lính tay cầm cờ mầu lam hô to lên rằng: Đem bọn phạm nhân lớp một vào hầu. Hạ Báo (một viên tướng của Từ Hải - ghi chú của Ngày Nay) liền dẫn Hoạn thị, Kế thị (tức mẹ của Hoạn Thư), Bạc Bà, Bạc Hãnh vào quỳ dưới sân.

Phu nhân bắt đầu tuyên bố tội trạng: Mụ Bạc Bà kia đẩy người vào trong cạm bẫy, còn tên Bạc Hãnh, bán người lương thiện vào nhà xướng ca. Vậy theo đúng lời thề trước của mi, lấy dao vằm nát thân thể, rồi cho ngựa ăn. Còn mụ Bạc thì đem chặt đầu bêu lên ngọn cây phía trước.

Bọn đao phủ được lệnh dạ lên một tiếng, tức thì lôi mụ Bạc Bà đem ra chặt đầu. Còn Bạc Hãnh thì dùng chiếu bó như bó củi, ngoài quấn dây thừng thật chặt, rồi hai người giữ, một người cầm cưa, cắt từ dưới chân lên đầu thành hơn 100 đoạn. Ghê thay một cái thân hình như vậy mà trong giây phút thịt nát như bùn, người coi ai cũng hoảng hồn chết ngất. Bọn đao phủ vào bẩm đã thi hành xong, phu nhân truyền đem đống thịt trộn lẫn với cỏ để cho ngựa ăn.

Kế đó, gọi đến phạm nhân họ Hoạn. Họan Thư chẳng còn hồn vía, kêu xin phu nhân tha thứ tính mạng kẻ hèn này.

Vương phu nhân rằng: Hoạn tiểu thư, nhà ngươi có nhiều mưu chước hay và cũng có gan nhẫn nại đó. Nhưng mà bất cứ việc gì cũng nên để lại chút tình, thì sau gặp gỡ khỏi ngượng. Vậy nay ngươi gặp lại ta, nhất định không thể sống được.

Hoạn Thư khấu đầu lia lịa thưa rằng: Tội của tiện thiếp thực đáng muôn chết, nhưng xin phu nhân nhớ lại trước kia phu nhân viết tờ cung trạng, làm thiếp tôi động mối tình thương, nên đã để phu nhân viết kinh trên Quan Âm Các. Rồi khi phu nhân bước ra khỏi cửa, thiếp chẳng hề đuổi theo. Cái đó đủ biết lòng riêng riêng vẫn kính yêu, chỉ vì thế bất lưỡng cập (tình thế không cho phép đứng đôi), nghĩa là không thể cắt sợi tơ tình chia lòng sủng ái, mà nó xui nên tội lỗi oan gia, dám xin phu nhân xét lại.

Vương phu nhân tỏ vẻ nghĩ ngợi một lát rồi nói tiếp: Ta đây chỉ muốn ăn thịt và lột da ngươi, để tiêu mối hận ngày trước. Nhưng giờ đây, sở dĩ ngươi được thoát chết là lúc ta đi ngươi chẳng đuổi theo, tỏ ý hé mở cửa lồng cho chim bay bổng. Nhưng còn tội sống thì ngươi không thể chối cãi được đâu. Vậy ta hỏi: Bọn sang Lâm Truy bắt ta là những tên nào? Cứ việc khai đúng sự thực, để chúng gánh bớt một phần tội lỗi cho ngươi.

Hoạn Thư cúi đầu thưa rằng: Những kẻ thi hành mưu kế dẫu là Hoạn Khuyển, Hoạn Ưng, nhưng người bầy ra mưu đó chính là tiện thiếp. Bọn chúng chẳng qua chỉ biết theo lệnh mà thôi. Nếu đem chúng ra gánh tội thay thì thiếp không nỡ.

Phu nhân rằng: Thế ra ngươi chính là phụ nữ dám nhận cả phần oan cừu vào mình đó chăng? Rồi nàng gọi quân đao phủ đem bọn Ưng Khuyển ra chém đầu để cảnh cáo những kẻ hào nô (nô bộc của phú hào) khác. Đao phủ dạ ran, lôi tuột hai tên ra chém đầu.

Phu nhân lại truyền tả hữu đem Kế thị ra nọc đánh 30 roi. Quân lính đương sắp ra tay thì Hoạn Thư ôm chầm lấy mẹ xin chịu đòn thay, và mụ quản gia (quản gia nhà mẹ Hoạn Thư, đã giúp đỡ Kiều khi nàng bị bắt về Vô Tích, và được Kiều tặng 100 lạng vàng, 2000 lạng bạc trong buổi báo ân xử oán - ghi chú của Ngày Nay) cũng vội quỳ xuống thưa rằng: Tội trạng của bà chủ tôi quả thực không thể tha thứ, vậy kẻ tớ già này xin tình nguyện thay chết cho chủ mẫu.

Phu nhân rằng: Thôi thì ta cũng nể lời mụ quản gia tha chết cho thị để mụ nhận lãnh đem đi.

Mụ quản gia tạ ơn rồi đỡ Kế thị ra ngoài dinh trại. Nhưng Kế thị năm ấy tuổi ngoài sáu mươi, lại là một vị nhất phẩm phu nhân, chưa từng gặp cảnh khổ nhục bao giờ mà nay bị bắt từ huyện Vô Tích giải đến, khổ sở biết bao, lại thấy ba quân giết người như rạ, trong khi tuổi nhiều sức yếu, mụ đã khiếp đảm chết ngay tức thì. Mụ quản gia đành ngồi một bên để trông nom thi thể.

Vương phu nhân thấy mụ quản gia đem Kế thị đi rồi, bèn truyền lệnh cho cung nữ đem Hoạn Thư ra, lột trần áo xiêm rồi treo lên đánh 100 trượng.

Cung nữ dạ ran, túm tóc Hoạn Thư lôi ra, lột hết áo quần, chỉ để chừa một cái khố, tóc bị buộc lên xà nhà. Hai tên cung nữ mỗi tên túm một tay để lôi giăng ra, hai tên khác thì cầm vọt ngựa đứng trước và sau, một tên đánh từ trên đánh xuống, một tên đánh từ dưới đánh lên, đánh như con đỉa bỏ trong thùng vôi, con lươn trong vạc nước nóng, luôn luôn dẫy dụa kêu trời. Toàn thân chẳng còn miếng da nào lành lặn. Sau khi cung nữ báo cáo đủ 100 roi, phu nhân truyền lệnh lôi ra cho Thúc Sinh nhận lãnh.

Cung nữ vâng lệnh, cởi tóc đem Hoạn Thư xuống, lôi ra phía ngoài gọi Thúc Sinh vào nhận. Thúc Sinh tạ ơn xong nhìn đến Hoạn Thư, thấy nàng chỉ còn thoi thóp thì chàng than rằng: Em ơi, chỉ vì cái khiếu thông minh của em đó mà phải rước lấy tai vạ, cầm dao cắt thịt của mình. Rồi một mặt thu nhận thi thể Kế thị, một mặt đỡ Hoạn Thư về chạy chữa đến nửa năm trời mới khỏi.

Kế đó Sử Chiêu (một tướng khác của Từ Hải) giải bọn Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh vào dinh.

Phu nhân hỏi: Tú Bà, mi có nhận được ta là ai không?

Tú Bà đáp: Kẻ hèn mọn này không nhận được ạ!

Phu nhân thét bảo: Mi hãy ngóc đầu lên nhìn xem ta là ai?

Quân sĩ dạ ran, túm tóc mụ kéo lật về phía sau. Bấy giờ mụ mới nhận rõ là Vương Thúy Kiều, thì luôn miệng kêu rằng: Tội của kẻ hèn mọn này thật đáng muôn lần bị chết chém. Chỉ xin phu nhân thương cho phần nào.

Phu nhân cười bảo: Lúc này mà mi còn mơ tưởng đến sự sống sao? Lời thề trước ngọn đèn trời ngày xưa hỏi đã tiêu tan thế nào được hử? Quân sĩ đâu, lôi con Tú Bà này ra, lấy dầu vông đun sôi để tẩm vào người, rồi dựng ngược cho đầu xuống đất, chân chổng lên trời, châm lửa đốt như ngọn đèn trời để làm tròn lời thề ngày trước. Mau lên!

Còn tên Mã Bất Tiến (tên thật của Mã Giám Sinh) thì kẹp chân tay vào mảnh gỗ cho căng thẳng ra, rồi rạch da và moi gân khiến cho tứ chi rời rạc, để ứng lời thề của nó. Ngoài ra, lại nấu một nồi dầu thông trộn lẫn với vỏ cây gai, đun thật sôi và lấy thùng nước lã lớn để bên, rồi đem Sở Khanh ra, lột hết áo xiêm, một người thì múc dầu thông đun sôi rưới vào mình hắn, một người thì lấy nước lạnh dội theo.

Quân sĩ được lệnh lôi ba phạm nhân ra ngoài. Tú Bà thì cuốn thành một cây sáp lớn. Phía dưới chỉ lộ cái đầu. Mã Giám Sinh thì bị căng xác. Sở Khanh bị quấn thành một thỏi sắt nguội.

Đoạn rồi phu nhân hô to: “Đốt sáp”, quân sĩ bèn châm lửa vào chân Tú Bà. Mụ mới bị châm một mồi lửa đã kêu đau ầm ĩ. Phu nhân mắng rằng: Mi cũng biết đau ư? Cớ sao ngày trước mi nỡ lòng hủy hoại da thịt người khác? Tú Bà chết ngất, không trả lời được nữa.

Kế đến Mã Giám Sinh, quân sĩ tìm chỗ chùm gân, lấy mũi dao nhọn khoét da, rồi dùng lưỡi câu móc vào đầu gân, dùng sức lôi mạnh một cái. Giám Sinh lập tức chết tươi. Quân sĩ rút thêm ba bốn cái gân nữa làm cho thi thể Giám Sinh rời ra từng mảnh. Phu nhân bèn sai quẳng ra ngoài bể cho cá nóc ăn để báo lại tội bạc tình.

Còn Sở Khanh bị tẩm dầu thông và keo vỏ gai, bên trong tuy vẫn còn sống nhưng bên ngoài không cựa quậy được. Quân sĩ chạy đến bóc lột miếng vỏ gai nơi đầu ra, thì ngoài da đã bị dầu thông ăn loẽn, chẳng cần dùng sức, chỉ tuốt một cái thì lột hết da. Độ nửa giờ sau, thân thể Sở Khanh chỉ còn trơ lại một cục máu đỏ lòm nhưng vẫn còn thoi thóp. Phu nhân lại sai đem nước vôi rưới vào, tức thì toàn thân Sở Khanh nổi lên những cái mụn như là bọt nước. Rồi sau ít phút trở thành mủ, rã thịt lòi xương mà chết thê thảm...


• Cuộc xử oán trong Đoan Trường Tân Thanh:


Cuộc xử oán dông dài và man rợ trong Kim Vân Kiều Truyện được cụ Nguyễn Du tóm tắt qua 42 câu thơ:


Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.
Thoạt trông nàng đã chào thưa:
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?
“Đàn bà dễ có mấy tay,
“Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan?
“Dễ dàng là thói hồng nhan,
“Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.
Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca,
Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,
“Ghen tuông thì cũng người ta thường tình,
“Nghĩ cho khi gác viết kinh,
“Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo,
“Lòng riêng, riêng những kính yêu,
“Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai.
“Trót lòng gây việc chông gai,
“Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”
- “Khen cho thật đã nên rằng
“Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời,
“Tha ra thì cũng may đời,
“Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen.
“Đã lòng tri quá thì nên...”
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
Tạ lòng, lạy trước sân mây,
Cửa viên lại dắt một giây dẫn vào.
Nàng rằng: “Lồng lộng trời cao,
“Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta!”
Trước là Bạc Hãnh, Bạc Bà
Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh.
Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình, còn sao?
Lệnh quân truyền xuống nội đao,
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
Máu rơi thịt nát tan tành,
Ai ai trông thấy, hồn kinh phách rời.
Cho hay muôn sự tại trời,
Phụ người, chẳng bỏ khi người phụ ta!
Mấy người bạc ác tinh ma,
Mình làm mình chịu kêu mà ai thương.
Ba quân đông mặt pháp trường,
Thanh thiên, bạch nhật rõ ràng cho coi.



So sánh các đoạn trên trong Kim Vân Kiều Truyện và Đoạn Trường Tân Thanh, ta nhận thấy những điểm nổi bật sau:

- Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Thúy Kiều tha tội hoàn toàn cho Hoạn Thư. Trong Kim Vân Kiều Truyện, Kiều tha tội chết nhưng ra lệnh đánh Hoạn Thư một cách dã man.

- Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Thúy Kiều không sai quân sĩ bắt mẹ Hoạn Thư đem về trị tội như trong Kim Vân Kiều Truyện.

- Cụ Nguyễn Du chỉ tả cảnh xử tội Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hãnh, Bạc Bà, và Ưng, Khuyển một cách vắn tắt chứ không chi tiết và tàn nhẫn như trong Kim Vân Kiều Truyện. Qua ngòi bút của cụ Nguyễn Du, chúng ta cảm thấy đồng tình với Kiều khi nàng tha bổng Hoạn Thư nên không phê phán nàng nặng nề khi nàng trả thù những nhân vật khác. Trái lại, khi đọc Kim Vân Kiều Truyện, có lẽ người đọc phải chau mày và có ý niệm chán ghét Kiều trước cách trừng trị dã man, tàn bạo, thiếu nhân tính nàng áp dụng đối với kẻ thù.

Ngoài phần xử oán vừa kể, trong toàn bộ câu chuyện, rất nhiều lần cụ Nguyễn Du đã loại bỏ những sự kiện có hại đến nhân phẩm của Thúy Kiều, và cả của các nhân vật quan yếu trong Kim Vân Kiều Truyện như Từ Hải và Kim Trọng. Điều này là một trong những yếu tố khiến chúng ta yêu thương những nhân vật này hơn.



***



Khi viết Đoạn Trường Tân Thanh, ngoài việc lược bỏ những đoạn hoặc rườm rà hoặc không cần thiết trong Kim Vân Kiều Truyện, cụ Nguyễn Du đã chứng tỏ biệt tài trong việc sử dụng ngôn ngữ qua những đoạn tả cảnh, tả tình, tả tình trong cảnh, tả cảnh trong tình; cũng như đã thành công trong việc miêu tả nhân vật và tô đậm cá tính nhân vật với chỉ vài câu thơ. Thêm nữa. cụ cũng đã trang bị cho các nhân vật một đời sống nội tâm phong phú với những suy tư, những khao khát, những rung động phù hợp với con người của họ theo từng hoàn cảnh của câu chuyện. Đây là những điều Thanh Tâm Tài Nhân đã thiếu xót khi sáng tác Kim Vân Kiều Truyện.

Chính tài nghệ của cụ Nguyễn Du đã cắt nghĩa được tại sao hai tác phẩm kể cùng một câu chuyện lại có hai số phận khác nhau. Một bên nhanh chóng chìm vào quên lãng ngay chính trên quê hương của nhân vật trong truyện, một đằng vừa xuât hiện đã được quần chúng mở rộng vòng tay đón nhận và trở thành tác phẩm bất hủ của dân tộc.


Đăng nhập để trả lời
0
Mình cảm thấy rất thích hai bài viết của Nguyễn Ngọc Bảo do haanh post và của Nguyễn Sĩ Đại do giolaodatme post.
Dù sao thi cũng rất cảm ơn Huyền Nguyên đã đưa ra topic này giúp mình có cơ hội được tiếp cận Truyện Kiều bằng những cách nhìn khác. Tất nhiên mình vẫn không thích cách nói của Huyền Nguyên nhưng thực sự có lẻ nó gây hiệu quả tốt.
Cảm ơn mọi người đã có lòng nhiệt thành tìm kiếm các bài viết và gửi lên chia sẽ cho mọi người.
Đăng nhập để trả lời
0
Góp một cách nhìn về Nguyễn Du và 'Truyện Kiều'
Nguyễn Sĩ Đại

Trong hội thảo khoa học về Nguyễn Du tháng 12/2005 vừa qua, nhiều ý kiến khẳng định rằng, trong thời đại ngày nay, Nguyễn Du và Truyện Kiều mới được tôn vinh xứng đáng với giá trị của nó. Ý kiến đó có hoàn toàn chính xác?


Nguyễn Du là một thiên tài. Thiên tài được hình thành không chỉ từ học vấn, từ bối cảnh xã hội cụ thể nào mà còn có yếu tố từ vũ trụ, từ một khoảnh khắc nào đó mà thôi... Truyện Kiều là một kiệt tác. Là kiệt tác, nó luôn ẩn chứa những thông tin vĩnh cửu. Không thể lấy thước đo của một thời mà đo chiều kích của thiên tài và kiệt tác. Nhưng mỗi thời, đánh giá và khai thác di sản quá khứ một cách khác nhau, âu cũng là lẽ thường tình. Với những kiệt tác, với những nhân vật kiệt xuất trong lịch sử, theo tôi, không nên tìm những “nhược điểm” theo cách nhìn của mình mà nên đi hết tầm xa, tầm rộng của họ.

1. Truyện Kiều là truyện tình năm Gia Tĩnh triều Minh hay truyện thế sự, truyện về thân phận con người của muôn đời?

Tôi được nghe cha tôi giảng Kiều từ nhỏ. Ấy là vì mẹ tôi mê Kiều đến nỗi, dù đã thuộc lòng, đêm nào cũng bắt cha tôi giảng giải kỹ từng đoạn. Có lần, hai người tranh luận sôi nổi quá, cha tôi quờ tay làm rơi cái đèn chai. Mảnh thủy tinh vỡ còn để sẹo ở tôi đến bây giờ. Thế nhưng ngay cả khi học xong đại học, tôi không bao giờ chú ý thấu đáo cái đoạn mở đầu của Truyện Kiều. Đến bây giờ, tôi thấy không hiểu cái đoạn “đơn giản” như một lời dẫn chuyện ấy thì không thể hiểu hết Truyện Kiều và Nguyễn Du.

Đoạn mở đầu ấy là:

Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

“Trăm năm” là thời gian, là khoảng sống của một đời người và cũng là từng trăm năm kiếp người một. “Cõi người ta” là không gian. Tóm lại, câu ấy gồm cả vũ trụ, là sự vĩnh cửu trong cõi người. Chữ “Tài” là tài năng, là cái vốn có, là khát vọng của con người cá nhân. “Mệnh” là điều kiện khách quan, mà khách quan thì có đáp ứng, có hạn chế. Đối với bậc tài hoa thì sự hạn chế ấy là phũ phàng vì nó vượt qua tầm thời đại, nó là sự bù lại “lộc trời” đã ban cho quá lớn. Trải qua một cuộc bể dâu - Những điều trông thấy mà đau đớn lòng là thế sự, là toàn bộ chuyện đời. Truyện Kiều do đó không phải là chuyện tình, mà là một “tiểu thuyết” luận đề. Vấn đề ở đây là quan hệ con người cá nhân với xã hội. Và cách giải quyết của Nguyễn Du là Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Có người cho rằng, để giải quyết nỗi khổ của con người, phải có một cuộc cách mạng triệt để. Nhưng thực tế, nỗi khổ và oan khuất của con người có bao giờ hết? Trong trăm năm cõi người, lấy chữ “tâm” để ứng xử, không chỉ là ảnh hưởng của đạo Phật mà là một triết lý sâu xa, là tinh hoa những tư tưởng mà Nguyễn Du tiếp thu được cộng với sự trải nghiệm của ông trong quãng đời ngắn ngủi của mình chứng kiến sự sụp đổ của nhiều triều đại, sự tạm bợ của nhiều điều, kể cả chính cả bản thân sự sống. Có người nói Nguyễn Du ảnh hưởng của giáo lý này, giáo lý khác. Không, ông đã đứng được ở bờ vĩnh cửu, đã không chỉ nói quan hệ xã hội của con người mà còn nói tới quan hệ của cõi sống với những cõi khác huyền diệu.

2. Vì sao Nguyễn Du lại chọn Thúy Kiều, một phụ nữ tài sắc thuộc tầng lớp trung lưu, làm nhân vật chính?

Không lấy nhân vật chính là người lao động bình thường không phải là hạn chế của Nguyễn Du theo quan điểm giai cấp mà là chỉ với sự lựa chọn ấy, Nguyễn Du mới có thể dẫn Thúy Kiều và chúng ta tới mọi cảnh ngộ của đời sống, mọi cung bậc của tình cảm. Theo tôi, đó là một lựa chọn thiên tài.

3. Vì sao Nguyễn Du lại lựa chọn một câu chuyện Trung Hoa?

Đây lại là một lựa chọn thiên tài nữa. Nó làm cho tác phẩm mang tính phổ quát. Thứ nữa, trong các xã hội, nhất là trong xã hội phong kiến, có những án văn tự dẫn đến việc đốt sách và mang họa tru di. Nguyễn Du là người biết rất rõ điều đó. Có một câu về Từ Hải thôi mà Tự Đức nói, nếu Nguyễn Du còn sống thì phải nọc ra đánh. Vậy viết một chuyện cụ thể Việt Nam, liên quan đến một dòng họ cầm quyền nào đó với sức tố cáo lớn như vậy, liệu Truyện Kiều có còn đến ngày nay?

Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khốc Tố Như? - Đó là câu thơ trong bài Độc Tiểu Thanh ký. Nàng Tiểu Thanh là người tài sắc, sống vào thời nhà Minh, bị vợ cả ghen giam lỏng trên núi đến buồn mà chết. Nguyễn Du đọc được một bài thơ còn sót lại sau khi bị đốt của nàng, cảm kích mà làm bài này. Bài thơ được ông Vũ Tam Tập dịch là:

Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn
Son phấn có thần chôn vẫn hận
Văn chương không mệnh đốt còn vương
Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi
Cái án phong lưu khách tự mang
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa
Người đời ai khóc Tố Như chăng?


Tôi không dám không hiểu như các cụ túc nho đã dịch và lâu nay mọi người vẫn hiểu. Nhưng tôi cũng có một băn khoăn. Vì sao lại là ba trăm năm? Có thuyết cho rằng Tiểu Thanh sống cách Nguyễn Du ba trăm năm. Nhưng các cụ cũng nói rõ, đấy chỉ là giả thuyết, còn ý của Nguyễn Du thật như thế nào thì cũng chưa biết. “Tam bách dư niên” phải chăng là một con số ước lệ, chỉ một vòng triều đại, một cuộc biến thiên lớn của lịch sử? Quả là Nguyễn Du có hay nói về già bệnh, về cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân nhưng ngay cả đến lúc chết, ông cũng chỉ nói “Được” rất thanh thản. Ông có cần, có mong muốn người đời sau khóc thương mình hay không? Nếu nghi vấn ấy có lý thì câu thơ sẽ phải được hiểu khác, sẽ mang một trường nghĩa rộng hơn. Giả sử, Nguyễn Du đặt câu hỏi, ba trăm năm sau còn người ở vào chỗ phong vận kỳ oan như Nguyễn Du mà đồng bệnh tương liên?

Và cuối cùng, tôi nghĩ rằng, tình cảm chính của chúng ta hôm nay và hậu thế cũng không phải là khóc thương ông, mà muôn vàn khâm phục, biết ơn những di sản tinh thần vô giá mà ông đã sáng tạo nên. Dẫu trong Truyện Kiều có bao nhiêu oan khuất thì sáng lên nhất vẫn là mối tình nồng thắm, đẹp đẽ của Kim - Kiều trong những ngày xuân. Nó làm sáng lên ước vọng yêu đời của không biết bao nhiêu thế hệ, nó hướng con người tới những vì sao của tình yêu và hạnh phúc.

Đánh giá về Truyện Kiều theo dòng lịch sử

Trong lời tựa của bản Kiều đem in năm 1820, Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân viết: “Ta lúc nhàn đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh như hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải con mắt trông cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy”.

Vua quan thời Minh Mệnh, Tự Đức đều rất mê Kiều. Tự Đức muốn nọc Nguyễn Du ra đánh một trăm roi vì câu Chọc trời khuấy nước mặc dầu, Dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Nhưng cũng Tự Đức: Mê gì? Mê đánh tổ tôm, Mê ngựa Hậu bổ, mê Nôm Thúy Kiều.

Tuy nhiên, có một luồng khác coi Truyện Kiều là một dâm thư: Đàn ông chớ kể Phan Trần, Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều.

Phạm Quỳnh trong bài diễn văn đọc tại Hội Khai trí tiến đức năm 1924 tại Hà Nội: “Truyện Kiều không chỉ đối với văn hóa nước nhà mà đối với văn học thế giới cũng chiếm được một địa vị cao quý... Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn...”.

Để chống lại quan điểm này, quan điểm mà các nhà cách mạng cho nhằm để “ru ngủ” thanh niên, chí sĩ Ngô Đức Kế trong bài Luận về chánh học cùng tà thuyết, Quốc văn, Kim Vân Kiều, Nguyễn Du cùng năm đó viết trên tạp chí Hữu Thanh: “Văn tuy hay mà truyện là truyện phong tình, thì có vẻ ai dâm sầu oán, đạo dục tăng bi... Các gã thiếu niên chí khí chưa định, tình dục đang nồng, xem truyện thì mê, rồi sinh cái tư tưởng trộm ngọc cắp hương, khêu hoa ghẹo nguyệt, say đắm trong trời tình bể ái mà mềm nhũn cái gan lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa...”.

Sau cách mạng, chỉ có bài của Ngô Đức Kế chứ không có bài của Phạm Quỳnh được dạy trong nhà trường. Một giáo trình đại học còn viết: Âm mưu của Phạm Quỳnh là ở chỗ này: “Truyện Kiều còn... nước ta còn”, như thế thì yêu nước chỉ lao đầu vào nghiên cứu Truyện Kiều chứ cần gì phải đấu tranh chống Pháp!

Bên cạnh sự ngợi khen và tôn vinh, học tập và nghiên cứu nhiều nhất từ trước tới nay, nửa thế kỷ qua vẫn còn nhiều lời phê phán đối với Truyện Kiều và tác giả của nó.

Trong bài Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoài Thanh viết: “Nguyễn Du đã cảm thông được một phần nỗi khổ chung của con người bị chà đạp dưới một chế độ ngày càng thêm mục nát. Cố nhiên cũng chỉ cảm thông được một phần thôi. Rốt cuộc, Nguyễn Du vẫn là người của giai cấp phong kiến, của chế độ phong kiến”.

Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai trong khi đề cao Truyện Kiều là tác phẩm ưu tú nhất, cũng viết: “Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du cố nhiên mới chỉ biểu hiện bằng những phương thức yếu ớt theo đạo lý chữ nhân của đạo Khổng hoặc theo tinh thần hiếu sinh của đạo Phật, chưa phải là chiến đấu tính cho nhân đạo, cho con người... Trong Truyện Kiều, tính chiến đấu chưa phải là tích cực và đúng với lập trường; mâu thuẫn chỉ giải quyết theo tinh thần thỏa hiệp với chế độ, tinh thần khuất phục với mệnh trời” (Đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện Kiều).




***
Nguồn: Người lao động
Em bẻ cong hành trình ánh sáng.
Trái đất quay tròn nửa tỉnh nửa mê.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-01-23 06:16:48Thanh Công>
   Trước đây, các nhà nghiên cứu giải thích nhan đề Truyện Kiều theo lối chiết tự. "Đoạn trường": đứt ruột, nỗi đau thương đứt ruột; "tân thanh": tiếng kêu mới, tiếng nói mới. Do đó tên tác phẩm được định nghĩa là: Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột. Cách giải thích nhan đề như trên đã ăn sâu vào tâm trí giới nghiên cứu và người đọc.
    Gần đây, một số nhà nghiên cứu mà người khởi xướng là PGS.TS Nguyễn Đăng Na có cách định nghĩa khác. Nguyễn Đăng Na viết:
    Tân thanh không phải là "tiếng kêu mới" hoặc "tiếng nói mới", mà là một thể thơ "bắt đầu khởi xướng từ thời sơ Đường, phát triển qua Lí Bạch, Đỗ Phủ đến Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị thì đạt tới độ rực rỡ và tên gọi... được xác định" là thơ Tân nhạc phủ. Thơ Tân nhạc phủ sáng tác theo 3 tiêu chí: thứ nhất, không mô phỏng cổ như thơ nhạc phủ trước đây, nghĩa là viết về cái mới, về những vấn đề thời sự, những điều mắt thấy, tai nghe; thứ hai, chúng không dùng để phổ nhạc như thơ nhạc phủ trước kia; thứ ba, viết về nõi khổ của người dân mà Bạch Cư Dị đã tổng kết như một nguyên tắc sáng tác: Duy ca sinh dân bệnh/ Nguyên đắc Thiên tử tri.
    Còn đoạn trường ở đây không dùng theo nghĩa đen là đứt ruột mà được dùng với nghĩa ẩn dụ: nỗi đau thương vô hạn tưởng như ai cầm dao cắt ruột mình ra thành từng khúc.
     Như vậy, Đoạn trường tân thanh là tác phẩm thơ ca viết về những vấn đề thời sự, về những nỗi đau thương tưởng như ai cầm dao cắt lòng mình thành từng khúc.
     Suy nghĩ mãi mà tôi vẫn chưa hết băn khoăn, chưa biết cách giải nghĩa nhan đề của các học giả trước đây hay của PGS.TS Nguyễn Đăng Na, cách nào đúng với chủ ý của Cụ Nguyễn Tiên Điền hơn. Vì vậy, viết ra đây nhờ các bạn trên Vn thuquan cùng trao đổi, bàn luận!


 
Thah
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Thanh Công

   Trước đây, các nhà nghiên cứu giải thích nhan đề Truyện Kiều theo lối chiết tự. "Đoạn trường": đứt ruột, nỗi đau thương đứt ruột; "tân thanh": tiếng kêu mới, tiếng nói mới. Do đó tên tác phẩm được định nghĩa là: Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột. Cách giải thích nhan đề như trên đã ăn sâu vào tâm trí giới nghiên cứu và người đọc.
    Gần đây, một số nhà nghiên cứu mà người khởi xướng là PGS.TS Nguyễn Đăng Na có cách định nghĩa khác. Nguyễn Đăng Na viết:
    Tân thanh không phải là "tiếng kêu mới" hoặc "tiếng nói mới", mà là một thể thơ "bắt đầu khởi xướng từ thời sơ Đường, phát triển qua Lí Bạch, Đỗ Phủ đến Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị thì đạt tới độ rực rỡ và tên gọi... được xác định" là thơ Tân nhạc phủ. Thơ Tân nhạc phủ sáng tác theo 3 tiêu chí: thứ nhất, không mô phỏng cổ như thơ nhạc phủ trước đây, nghĩa là viết về cái mới, về những vấn đề thời sự, những điều mắt thấy, tai nghe; thứ hai, chúng không dùng để phổ nhạc như thơ nhạc phủ trước kia; thứ ba, viết về nõi khổ của người dân mà Bạch Cư Dị đã tổng kết như một nguyên tắc sáng tác: Duy ca sinh dân bệnh/ Nguyên đắc Thiên tử tri.
    Còn đoạn trường ở đây không dùng theo nghĩa đen là đứt ruột mà được dùng với nghĩa ẩn dụ: nỗi đau thương vô hạn tưởng như ai cầm dao cắt ruột mình ra thành từng khúc.
     Như vậy, Đoạn trường tân thanh là tác phẩm thơ ca viết về những vấn đề thời sự, về những nỗi đau thương tưởng như ai cầm dao cắt lòng mình thành từng khúc.
     Suy nghĩ mãi mà tôi vẫn chưa hết băn khoăn, chưa biết cách giải nghĩa nhan đề của các học giả trước đây hay của PGS.TS Nguyễn Đăng Na, cách nào đúng với chủ ý của Cụ Nguyễn Tiên Điền hơn. Vì vậy, viết ra đây nhờ các bạn trên Vn thuquan cùng trao đổi, bàn luận!



 



 
Tại sao lại không gọp cả hai ý kiến nhỉ? Bởi vì Leo nghĩ rằng cả hai đều đúng. Đó là một sự hoàn chỉnh, qua "Đoạn Trường Tân Thanh" Leo cảm nhận đựoc một điều cụ Nguyễn Du cũng là một người đam mê âm nhạc.
[:)]
Thân,
Leo
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
Tôi thích nghe moi ngươì bình luận về Truyện Kiều .Vậy Anh ,Chi hiểu gì về cái câu
Tu là cõi phúc ,tình là dây oan.
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: hoang lac

Tôi thích nghe moi ngươì bình luận về Truyện Kiều .Vậy Anh ,Chi hiểu gì về cái câu
Tu là cõi phúc ,tình là dây oan.

 
Chào hoang lac,
Bạn muốn phân tích câu này từ truyện Kiều hay từ cuộc sống? Vì topic này chỉ bàn về Kiều, nếu bạn muốn thì cứ lập riêng một topic.Nhưng nhớ đừng có hỏi "kiểu khảo bài" thế nhé.
Thân,
[:)]
Leo.
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-26 23:43:27Leo*>
Trích đoạn: huyennguyen

Xưa nay, những câu Kiều bất hủ vẫn nằm trên cửa miệng của mỗi người Việt. Là bởi tại vì sao?
Tại vì sao vậy?
Phạm Quỳnh đã khôn ngoan vô mực khi bảo rằng: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn."
Phải chăng vì Phạm Quỳnh đã thấy gì từ Truyện Kiều?
Không biết. Thật không dám biết!
Nhưng hôm nay, chúng ta, kẻ hậu sinh... khả ố, hãy thử mon men mà bước vào Vườn Thúy mà nghe tiếng kêu đoạn trường. Đoạn Trường!
Thật là, Nguyên chẳng hiểu Tố Như Tử nói cái gì ráo sau khi đọc Truyện Kiều. Có khi mần mò chợt thấy, thì cái thấy đã bay vụt vào hư không. Quái lạ khôn lường.
Có ai, có ai muốn cùng Nguyên vấn đáp cho ra lẽ của Truyện Kiều, xin hãy vào đây mà giải thích cho Nguyên.
Chỉ xin, chúng ta, lũ người phàm tục, đừng phán xét, mà cùng suy ngẫm. Nguyên mong hồi âm từ bốn hướng tám phương trời hiện diện về đây xôn xao cho một nghi vấn. Nghi vấn Truyện Kiều.
Tạ ơn ai sẽ vào đây mở mắt cho Nguyên.



Qua "nghi vấn " của HN, Leo tóm lại những điều  HN cứ "trằn trọc" mãi là những nghi vấn sau :
1. Tại sao Phạm Quỳnh nói : "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn."
2. HN nói :"Thật là, Nguyên chẳng hiểu Tố Như Tử nói cái gì ráo sau khi đọc Truyện Kiều. Có khi mần mò chợt thấy, thì cái thấy đã bay vụt vào hư không. Quái lạ khôn lường".

Đó chính là lý do HN đã đặt ra hai từ nghi vấn. Nay Leo xin mạo muội giải thích hai câu hỏi của HN. Đáng lẽ Leo trả lời từ câu 1 đến câu 2, nhưng để dễ hiểu hơn thì Leo trả lời ngược lại.

Nội dung chính



Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều , nhân vật chính trong truyện, một cô gái "sắc nước hương trời" và có tài "cầm kỳ thi họa".
Theo kịch tính của tác phẩm, có thể chia truyện thành những phần nhỏ như sau:
1. Nhận định chung của Nguyễn Du
2. Tả hai chị em Thuý Kiều
3. Kiều thăm Mộ Đạm Tiên
4. Kiều gặp Kim Trọng
5. Kiều bán mình chuộc cha
6. Kiều mắc lừa Sở Khanh
7. Kiều gặp Thúc Sinh
8. Kiều và Hoạn Thư
9. Kiều gặp Từ Hải
10. Kiều báo ân trả oán
11. Kiều tự vẫn
12.Kim Trọng đi tìm Thuý Kiều
13. Tái hồi Kim Trọng

Và chúng ta cùng nghe thêm một số ý kiến về Nguyễn Du và tác phẩm này :


Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân: "... Xem chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh gảy xong mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thắm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là Đoạn Trường Tân Thanh cũng phải.
"Ta nhân lúc đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như sử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy..."
Phong Tuyết chủ nhân: "Đem bút mực tả lên trên tờ giấy nào những câu vừa lâm ly, vừa ủy mị, vừa đốn tỏa, vừa giải thư, vẽ hệt ra người tài mệnh trong mười mấy năm trời, cũng là vì cái cảnh lịch duyệt của người ấy có lâm ly, ủy mị, đốn tỏa, giải thư, mới có cái văn tả hệt ra như vậy..."
Phạm Quỳnh :  "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; Tiếng ta còn, nước ta còn..."

Dương Quảng Hàm :  "trên từ các bậc văn nhân thi sĩ, dưới đến các kẻ thường dân phụ nhụ, ai cũng thích đọc, thích ngâm và thuộc được ít nhiều..."
Ca dao:

Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thuý Vân , Thuý Kiều


  • Làm trai biết đánh tổ tôm
    Uống chè Mạn Hảo, xem Nôm Thuý Kiều


Huỳnh Thúc Kháng :  "(Truyện Kiều) về mặt mỹ thuật rõ là cực tốt, mà ở trong đựng những vật có chất độc..."

 G eorges Boudarel :"Ít nhà thơ trên thế giới có khả năng đạt được tiếng vang sâu đậm trong dân chúng của mình như Nguyễn Du ở Việt Nam. Truyện Kiều của ông là cuốn sách kinh điển của văn chương Việt Nam nhưng là một thứ kinh điển mọi người đều biết, không có ai là ngoại lệ."

Để trả lời cho câu còn lại thì chúng ta phải đề cập đến điều này :

1. Số ngôn ngữ đựoc dịch từ Kiều.
2. Tầm ảnh hưởng của Truyện Kiều.

Leo sẽ đi vào từng phần chi tiết.

@ ss Ct.ly : thanks ss đã mang vào thêm một thông tin nữa giúp Leo thuận lợi trong việc bình luận truyện Kiều. Leo hy vọng có tất cả các bài về Kiều để rút ra một bài kết luận nhằm giúp HN trả lời một chút nào đó về các nghi vấn của HN.
[:)]
Thân,
Leo
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
Phục cho người đặt tiêu đề của topic, đó cũng là một nghệ thuật sinh hoạt mạng. Cũng thật cảm phục cho những thành viên gạo cội góp công sức đóng góp và tranh luận.
Dứt tay khỏi bàn phím, trong tâm thức cũng chỉ là hư hư, ảo ảo, về thành viên này, thành viên kia hoặc những bài trả lời.
Với ý kiến cá nhân tôi về truyện Kiều thì thật là tuyệt vời, chưa thấy một tác phẩm truyện thơ khác có thể thay thế trong văn học cũng như dân gian Việt.
Một lần nữa: Mua vui cũng được một vài trống canh.
Đăng nhập để trả lời
0
BÚT NHƯ MUỐN MÚA VÀ MỰC NHƯ MUỐN BAY
     Đó là nghệ thuật đã được thăng hoa của Truyện Kiều. Nghệ thuật ấy trước nhất được thể hiện qua bút pháp tả cảnh ngụ tình, và việc sử dụng từ láy hết sức thuần thục, nhuần nhuyễn, điêu luyện của Nguyễn Du
    Cảnh vật đìu hiu, buồn bã, hoang sơ, các từ láy đầy tâm trạng trong đoạn thơ nói về Kiều gặp mả Đạm Tiên sau đây, đã lột tả được tâm trạng của Kiều trong ngày đầu tiên bước vào đời rất chi là trĩu nặng bất an, bồn chồn, lo lắng
Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bước lần theo ngọn tiểu khê
Nhìn theo phong cảnh bốn bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Có cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Sè sè nấm đất bên đàng
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”
        Đoạn thơ như là lời dự báo cho Kiều và cho độc giả rằng: tương lai của Kiều sẽ chìm nổi lênh đênh. Cũng qua đoạn thơ này ta thấy Nguyễn Du bị ám ảnh rất nặng bởi “Tài mệnh tương đố”, và hay vận vào mình. Thì nàng KIều của Đại thi hào cũng vậy thôi, lúc nào cũng bồn chồn lo lắng, bất an, kể cả khi vui nhất, hạnh phúc nhất:”Bây giờ rõ mặt đôi ta, biết đâu rồi nữa lại là chiêm bao”;”Rồi đây bèo dạt mây tan, biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu”;” Đến bây giờ mới thấy đây, mà lòng đã chắc những ngày một hai”
      Cảnh vật và các từ láy trong đoạn thơ nói về Mã Giám Sinh rước Kiều rồi đẩy Kiều vào Lầu xanh, và việc Vương ông tiễn đưa con sau đây cũng nói lên được tâm trạng của Kiều. Kiều buồn, buồn lắm, ê chề lắm!  Buồn đến nỗi cỏ cũng phải “rầu rầu” buồn theo, và sương cũng phải “đầm đầm” lệ sa cơ mà:”Trời hôm mây gió tối rầm, rầu rầu ngọn cỏ đầm đầm cành sương”! Cuộc đời Kiều vì thế mà cũng “khấp khểnh” như vó câu, “gập ghềnh” như bánh xe vậy:Đoạn trường thay lúc phân kì, vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh” ! Gió cũng phải “đùng đùng” nổi giận vì thói tráo trở của Mã Giám Sinh cơ mà! Thì mới ngon ngọt hứa với Vương ông như vầy mà đã nuốt lời trốn chạy rồi:”Mai sau dù có thế nào, kìa gương nhựt nguyệt nọ dao quỷ thần; dùng đùng gió giục mây vần, một xe trong cõi hồng trần như bay”. Và từ “thăm thẳm”, từ“đăm đăm” trong câu sau đây, đã nói lên được sự xa cách mõi mòn thường trực chờ đợi,nhớ về gia đình trong lòng Kiều sau này. Và đó cũng là tâm trạng dự báo của Vương ông trong buổi tiễn đưa con
        Thủ pháp điệp từ ngữ của Đại thi hào cũng rất điêu luyện . Điệp từ ngữ trong đoạn thơ sau đây đã lột tả được nỗi lòng nôn nóng tìm Kiều của KimTrọng:”Hỏi ông ông mắc tụng đình, hỏi nàng nàng đã bán mình chuộc cha; hỏi nhà nhà đã dời xa; hỏi Vương Quan với Vương bà Thuý Vân,đều là sa sút khó khăn, may thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi”. Hỏi, hỏi, hỏi, liên tục, dồn dập, chứng tỏ Kim Trọng đang nóng lòng, sốt ruột đi tìm nà Kiều lắm! Thì đây:”Bao nhiêu của bấy nhiêu đàng, còn tôi tôi quyết tìm nàng mới thôi”;”Rắp mong treo ấn từ quan, mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng qua; dấn mình trong áng can qua, vào sinh ra tử lọ là thấy nhau”. Cũng do sức mạnh của điệp từ ngữ mà cơn ghen của Hoạn nương được đẩy lên đến tột cùng, hậm hực,” càng dập càng nồng”, và rất dữ dội:”Làm cho nhìn chẳng được nhau, làm cho đày đoạ cất đầu chẳng lên; làm cho trông thấy nhỡn tiền, cho người thăm ván bán thuyền biết tay; làm cho cho mệt cho mê, làm cho đau đớn ê chề cho coi; bắt khoan bắt nhặt đến lời, mắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay”!
        Thủ pháp tu từ thậm xưng, cường điệu cũng được Nguyễn Du khai thác, huy động triệt để. Vui mừng thì thật là tột đỉnh vui mừng trong hợp hoan thế này:”Xắn tay mở khoá động rào, rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai; mặt nhìn mặt càng thêm tươi, bên lời vạn phúc bên lời hàn huyên”( Kiều qua nhà Kim);”Một nhà sum họp trúc mai, càng sâu nghĩa biển càng dài tình sông; hương càng đượm lửa càng nồng, càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu sen”(Thúc Sinh đón Kiều về làm thiếp);”Huệ lan sực nức một nhà, từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa”(quan kết duyên cho Thúc và Kiều);”Cùng nhau trông mặt cả cười, dan tay về chốn trướng mai tự tình; vinh hoa bõ lúc phong trần, tình xuân càng lại thêm xuân một ngày”(Khi Từ Hải đã tìm được công danh rồi về với Kiều);”Nỗi mừng biết lấy gì cân, lời tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu“(Kiều gặp lại gia đình);”Lời tan hợp nỗi hàn huyên, chữ tình càng mặn chữ duyên càng nồng”(Thúc Sinh về với Hoạn nương). Cái buồn và ê chề thì cũng thật là buồn và ê chề tận đáy thâm sâu thế này:”Thẫn thờ gió trúc mưa mai, ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân; ôm lòng đòi đoạn xa gần, chẳng vò mà rối chẳng dần mà đau; Thiếp như con én lạc đàn, phải cung rày đã sợ làn cây cong; cùng đường dù tính chữ tòng, biết người biết mặt biết lòng làm sao” . Và cái khóc của Kim Trọng cũng thật là ghê gớm quá thế này:”vật mình vẫy gió tuôn mưa, dầm dề giọt ngọc thẫ thờ hồn mai“. Biện pháp thậm xưng, cường điệu có tác dụng gây ấn tượng mạnh,  làm tăng sức gợi tình gợi cảm chính là vì vậy !
          Cánh xây dựng nhân vật của Đại thi hào rất toàn điện, nên hình dung và đánh giá  về nhân vật cũng rất toàn diện, khách quan. Ông xây dựng nhân vật Kiều qua việc tả: chân dung, nội tâm, lời nói, việc làm, và qua đánh giá của tác giả, cũng như qua đánh giá của các nhân vật khác. Bởi vậy, con người của Kiều rất toàn diện như vầy:”Những người hiếu nghĩa xưa nay, trời làm chi đến lâu ngày càng thương; người sao hiếu nghĩa đủ đàng, kiếp sao chọn những đoạn tràng thế thôi“(nhận xét của Vãi Giác Duyên);”Thuý kiều sắc sảo khôn ngoan, vô duyên là phận hồng nhan đã đành; lại mang lấy một chữ tình, khư khư mình buộc lấy mình vào trong; xét trong duyên nghiệp Thuý Kiều, mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm; lấy tình thâm trả nghĩa thâm, bán mình đã động hiếu tâm đến trời” (nhận xét của Sư Tam Hợp);”Chị sao phận mỏng đức dày, kiếp xưa đã vậy đời này dễ ai; tâm thành đã thấu đến trời, bán mình là hiếu cứu người là nhân; một niềm vì nước vì dân, âm công cất một đồng cân đã già”(đánh giá của Đạm Tiên);”Thuý Kiều tài sắc ai bì, có nghề đàn lại giỏi nghề văn thơ; kiên trinh chẳng phải gan vừa, liều mình thế ấy phải lừa thế kia; thoắt buôn về thoắt bán đi, mây trôi bèo nỗi thiếu gì là nơi”(nhận xét của lại già họ Đô);”Thương vì hạnh trọng vì tài, Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba”(Thúc ông thấy về Kiều);”Liền tay trao lại Thúc Sinh, rằng tài nên trọng và tình nên thương; ví chăng có số giàu sang, tài này dẫu cất nhà vàng cũng nên”(Hoạn Thư thấy về Kiều);”Như nàng lấy hiếu làm trinh, bụi nào cho đục được mình ấy vay”(Kim Trọng nhận xét về Kiều);”Quản gia có một mụ nào, thấy người thấy nết ra vào mà thương”(Mụ quản gia thấy Kiều). . .
        Thủ pháp đối lập cũng được Nguyễn Du khai thác và sử dụng thành công khi xây dựng các nhân vật Mã Giám Sin, Sở Khanh và Bạc Hạnh như vầy:
 Một chàng vừa trạc thanh xuân
Hình dong chải chuốt áo khăn dịu dàng 
Nghĩ rằng cũng mạch thư hương
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh. . .
Than ôi sắc nước hương trời
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây
Giá đành trong nguyệt trên mây
Sao hoa hoa khéo đoạ đày bấy hoa
Tức gan riêng giận trời già
Lòng này ai thấu cho ta hỡi lòng
Thuyền quyên ví biết anh hùng
Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi. . .
Rằng ta có ngựa truy phong
Có người dưới trướng vốn dòng kiện nhi. . ..
Dầu khi gió kép mưa đơn
Có ta đây cũng chẳng cơn cớ gì. . .

Thế nhưng:
Tiếng gà xao xác gáy mau
Phía sau đã thấy người đâu dậy dàng
Nàng càng thổn thức gan vàng
Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào. . .
Còn đang suy trước nghĩ sau
Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào
Sở Khanh lên tiếng rêu rao
Nghe đồn rằng có con nào ở đây
Phao cho quyến gió rủ mây
Hãy làm cho biết mặt này là ai. . .
**************************
Hỏi tên rằng Mã Giám Sinh
Hỏi quê rằng huyện Lâm Thanh cũng gần
Quá niên trạc ngoại tứ tuần
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao. . .
Mai sau dầu có thế nào
Kìa gương nhựt nguyệt nọ dao quỷ thần. . .
Thế nhưng:
Ghế trên ngồi tót sổ sàng
Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra. . .
Về đây nước trước bẻ hoa
Vương tôn quý khách ắt là đua nhau
Hẳn ba trăm lạng kém đâu
Trước là vừa vốn về sau thì lời
Miếng ngon kế đến tận nơi
Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham. . .
***************************
Này chàng Bạc Hạnh cháu bà
Người trong thân thích ruột rà chẳng ai
Cửa nhà buôn bán Châu Thai
Thật thà có một đơn sai chẳng hề. . . .
Bạc Sinh quỳ xuống vội vàng
Quá lời nguyện hết Thành Hoàng Thổ Công
Thế nhưng:
Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi
Bạc Sinh lên trước tìm nơi mọi ngày

      Và nữa, ở Truyện Kiều Nguyễn Du tiếp thu, kế thừa, vận dụng tục ngữ-ca dao-dân ca và tinh hoa của thơ Đường rất hợp đạt:”Vầng trăng ai xẻ làm đôi, nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”(ca dao có câu như vầy:”Vầng trăng ai xẻ làm đôi, đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng);”Sinh rằng từ thuở tương tri, lòng riêng riêng những nặng vì nước non; trăm năm tính cuộc vuông tròn, phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”(Trong ca dao có câu như thế này:”Làm người phải đắn phải đo, phải cân nặng nhẹ phải dò nông sâu);”Hạt mưa sá nghĩ phận hèn, liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân”(Trong ca dao và trong thơ Đường có những câu như vầy:”Xuân tàn đáo tử ti phương hận”;”Con tằm đến thác tơ còn vướng, ngọn nến chưa tàn lệ vẫn sa”)
        Bút pháp điển cố, ước lệ-tượng trưng cũng rất dào dạt trong Truyện Kiều. Nhưng nó không phải là nghệ thuật đặc sắc của Truyện Kiều, vì xu thế chung về nghệ thuật của thơ văn Trung dại là thế! Điển cố thì làm cho thơ văn hàm súc, cô đọng hơn, chẳng hạn như:”Tình cờ chẳng hẹn mà nên, mạt cua mướp đắng hai bên một phường”(nói về tích lừa đảo gặp lừa đảo, bịp bợm gặp bịp bợm);”Sinh rằng. . ., mà lòng lại nhớ đến Bình Nguyên Quân”(nhớ đến tích con người có lòng hào hiệp);”Dâng thư nđã thẹn nàng Oanh, lại thua ả Lý bán mình hay sao”(nhớ đến tích nàng Thôi Oanh Oanh và nàng Lý có đức trung hiếu vẹn toàn);”Sinh rằng nổi tiếng cầm đài, nước non luống những lắng tai Chung Kỳ”(nhớ đến tích bạn tri âm giữa Chung Tử Kỳ và Bá Nha)
         Dại diện cho cái đẹp, cho giá trị, phẩm chất theo ước lệ-tượng trưng trong thơ văn Trung đại và trong Truyện Kiều thường là:tùng, cúc, trúc, mai, cọp gió, rồng, mây, xuân, huyên, . . .:”Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân, tuyết sương che chở cho thân cát đằng;Sen tàn cúc lại nở hoa, sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân;Mượn điều trúc viện thừa lương, dem về hãy dấu tạm nàng một nơi; Vật mình vẫy gió tuôn mưa, dầm dề giọt ngọc thẩn thờ hồn mai; Trai anh hùng gái thuyền quyên, phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng; Xót thay xuân cỗi huyên già, tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi”; . .. Và đại diện cho cái ác, cái xấu thường là:đứa, gã, bọn, hùm sói,. . .:”Nào ngờ gã Mã Giám Sinh, vốn là một đứa phong tình đã quen; Còn đang suy trước nghĩ sau, mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào;Sở Khanh lên tiếng rêu rao, nghe đồn rằng có con nào ở đây;Gữa vòng gươm dựng giáo trần, kề lưng hùm sói làm trhân tôi đòi; . ..”
      Hoà quyện hài hoà với thể thơ Lục bát, Truyện Kiều  cứ nghe êm êm, ngân nga ngân nga, du dương du dương, lắng sâu lắng sâu trong lòng mãi mãi, và như thấy bút đang muốn múa và mực đang muốn bay chính là vì vậy!












nguyễn văn quý(nghệ thuật đặc sắc trong truyện kiều)
                                   

Đăng nhập để trả lời
0
Nội dung chính

1. Nhận định chung của Nguyễn Du
2. Tả hai chị em Thuý Kiều
3. Kiều thăm Mộ Đạm Tiên
4. Kiều gặp Kim Trọng
5. Kiều bán mình chuộc cha
6. Kiều mắc lừa Sở Khanh
7. Kiều gặp Thúc Sinh
8. Kiều và Hoạn Thư
9. Kiều gặp Từ Hải
10. Kiều báo ân trả oán
11. Kiều tự vẫn
12.Kim Trọng đi tìm Thuý Kiều
13. Tái hồi Kim Trọng



 
Lúc này Tất cả các bài viết liên quan đến Kiều có thể mang vào topic này để chúng ta đủ tư liệu tự viết một bài bình luận theo suy nghĩ của mình như sự phân tích của Leo. Chủ đề để bình luận làn này là nội dung đầu tiên được đề cập đến trong truyện Kiều : 
 
 
1. Nhận định chung của Nguyễn Du
 
Nguyễn Du đem thuyết "tài mệnh tương đố" (tài và mệnh ghét nhau) làm luận đề cuốn truyện, thể hiện qua các câu thơ sau :

Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục, còn truyền sử xanh
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
Chúng ta cùng bình luận về "nhận định chung của Nguyễn Du" qua các câu thơ trên. Hoan nghênh tất cả các bài viết với "cảm nhận" riêng về Kiều của các bạn.
 
Thân,
Happy New Year!
[:)]
Leo
 
Topic này Leo đưa lên phía trên mong mọi người "chú ý". Còn đây là tài liệu Leo cung cấp về đề tài này.
 

Quan niệm của Nguyễn Du về cuộc đời và thân phận con người

Nguyễn Du đã xuất phát từ quan niệm “đời là bể khổ” để đi đến những nhận định về nhân sinh trên nền tảng tâm thế Việt – lấy tình cảm, tình yêu thương làm chỗ dựa. Đối với ông, một mặt, sự đối lập giữa tài năng và số phận (luật" “tài mệnh tương đố”) là sự bất công cơ bản và lớn nhất; mặt khác, con người vẫn có thể cải hoá được số phận nếu nỗ lực tu tâm, hành thiện. Quan niệm về số phận con người là sự cụ thể hoá nhân sinh quan ấy. Nguyễn Du cho rằng, thân phận mỗi người là sự tồn tại theo duyên cảnh, là tất nhiên và mang tính tiền định. Khi xem xét thân phận con người, Nguyễn Du đặc biệt chú ý đến người tài và phụ nữ. Quan niệm về cuộc đời và thân phận con người của Nguyễn Du đã góp một sắc thái đặc biệt trong nền triết lý nhân sinh Việt Nam.

Hai trăm năm nay, Nguyễn Du được mọi thế hệ người Việt Nam biết tới trước hết như một đại thi hào dân tộc với tác phẩm thơ bất hủ Đoạn trường tân thanh, còn gọi là Truyện Kiều. Các giá trị văn học, nghệ thuật, tư tưởng trong tác phẩm của ông đã được nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu quan tâm, phát hiện khiến cho chúng ta ngày càng hiểu biết hơn về chiều sâu, bề rộng và tầm xa của tư tưởng Nguyễn Du. Nhưng dường như các nghiên cứu đó vẫn chưa thoả mãn nhu cầu người đọc và chưa khai thác hết chiều kích các giá trị được truyền tải trong tác phẩm của Nguyễn Du bởi tính cập nhật của các vấn đề xã hội, tư tưởng, nghệ thuật mà ông đặt ra qua các tác phẩm của mình. Bài viết tìm hiểu quan niệm của Nguyễn Du về cuộc đời và thân phận con người trên phương diện triết học với mong muốn cung cấp cho bạn đọc một quan niệm nhân sinh đặc sắc của đại thi hào.

1. Quan niệm về cuộc đời

Quan niệm của Nguyễn Du về cuộc đời chịu nhiều ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo và Lão giáo. Trải qua nhiều biến cố dồn dập của cuộc sống, cuộc đời trôi dạt nhiều nơi, tận mắt chứng kiến những sự kiện vật đổi sao dời, những cảnh đời thương tâm, ngang trái…, Nguyễn Du thấm thía triết lý của đạo Phật coi cuộc đời là vô thường. Ông nhìn cuộc đời bằng con mắt của một nhà nhân đạo chủ nghĩa, yêu thương, xót xa cho thân phận con người:

“Cuộc đời trăm năm biết bao nhiêu chuyện thương tâm”(1).

Câu thơ nặng trĩu nỗi niềm xúc cảm của nhà thơ. Xúc cảm ấy trong mạch văn ấy biểu lộ nỗi đau đời khôn nguôi, nỗi thương đời vô hạn do chính cảm nhận chân thực của nhà thơ về cuộc đời, nên có sức mạnh truyền cảm, lan toả đến muôn đời sau. Chính vì thế, mệnh đề triết lý Nguyễn Du nêu lên, tuy không mới so với triết lý “đời là bể khổ” của Phật giáo, nhưng lại tạo ra một hiệu quả, một sự tương thông trong cộng đồng những người cùng ngôn ngữ, cùng bối cảnh văn hoá với ông. Hơn nữa, câu thơ của Nguyễn Du còn cho thấy tâm thế khái quát sự vật, khái quát cuộc đời của ông. Ông không phải là người ngoài cuộc trong cuộc đời đầy rẫy những bi ai này. Những nỗi đau đời của người khác cũng là nỗi đau đời của chính Nguyễn Du. Ông là người quan sát, người đồng cảm, người cùng chia sẻ, người trong cuộc. Cái tâm thương cảm, đồng cảm, chia sẻ của Nguyễn Du đã khiến cho triết lý cuộc đời của ông tràn đầy chủ nghĩa nhân văn. Do vậy, Nguyễn Du được thừa nhận là đại diện cho tiếng nói của quảng đại người dân, bởi thơ ông thấm nhuần hơi thở của nhân dân, phản ánh chính những nỗi niềm, suy tư, mong đợi của người dân.

Xuất phát từ cách nhìn chung về cuộc đời trên quan điểm nhân văn thấm đượm triết lý Phật giáo như vậy, Nguyễn Du tiếp tục triển khai tư tưởng nhân sinh của mình theo hướng kết hợp Nho, Phật và Lão trên nền tảng tâm thế Việt: lấy tình cảm, tình yêu thương làm điểm tựa cho những nhận định về nhân thế.

Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhận định, luật “tài mệnh tương đố” là một trong những “luật đời” khiến con người chịu nhiều đau khổ nhất:

“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng".

Sự đối lập giữa tài năng và số phận được Nguyễn Du coi là một trong những sự bất công cơ bản và lớn nhất trong cuộc đời con người. Tài là khả năng, là năng lực của mỗi con người. Mệnh là tính quy định đã có sẵn trước khi mỗi con người sinh ra trên đời, mang tính ấn định, không thể thay đổi về số phận của mỗi con người. Như vậy, mỗi cá nhân sinh ra trên đời, bất chấp khả năng, năng lực tài giỏi hay hạn chế đến đâu, đều có một số mệnh định sẵn, xác quyết số phận của họ là khổ đau hay hạnh phúc, sung sướng hay lầm than. Thậm chí, người càng tài giỏi thì số mệnh lại càng éo le, bạc bẽo, đa đoan và ngược lại. Với sự đối lập hiển nhiên đầy bất công đó, tạo hoá, ông trời bắt đầu trò chơi đùa giỡn với con người, bất chấp những nỗ lực của con người:

“Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”(2).

Con người dường như quá nhỏ bé, bất lực trước sức mạnh vô hình nhưng hết sức hiện thực của "ông trời". Cái nhìn bi quan về cuộc đời như vậy đã đẩy Nguyễn Du đi tới những quan niệm mang nhiều ảnh hưởng của Lão-Trang. Ông quan niệm: “Mắt xem việc đời như đám phù vân”(3), “Cuộc trần thế trăm năm chỉ là giấc mộng khi mở mắt”(4). Chính nhận thức về sự bất công xuyên suốt cuộc đời con người đã khiến Nguyễn Du, có những lúc, kiếm tìm những giải pháp tiêu cực, yếm thế:

“Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày.
Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn!”(5).

Những tư tưởng trốn tránh cuộc sống, trốn tránh danh lợi, bạc tiền nêu trên cũng đã từng chế ngự tâm hồn ông, đặc biệt là khi cuộc đời ông trở nên quẫn bách, bế tắc, không lối thoát trong giai đoạn cuộc nội chiến giữa các thế lực phong kiến ở Việt Nam cuối thế kỷ XVIII:

“Phú quý trước mắt chẳng khác gì phù vân. Người đời nay chỉ biết cười người đời xưa. Người xưa chết, mồ mả ngổn ngang đó, người nay sao vẫn bôn tẩu rộn ràng?

Xưa nay kẻ hiền người ngu cũng chỉ còn trơ lại nắm đất. Không ai vượt qua cửa ải sống chết. Khuyên anh uống rượu rồi vui chơi…”(6).

Tuy nhiên, đó không phải là tư tưởng quán triệt của Nguyễn Du. Xem xét toàn bộ di sản nghệ thuật mà ông để lại, ta lại thấy một Nguyễn Du tràn đầy niềm yêu thương cuộc sống, yêu thương con người. Đặc biệt, trong Truyện Kiều, thông qua xử lý diễn biến số phận nàng Kiều, chúng ta thấy rõ một Nguyễn Du đau đời, thương đời nhưng cũng tràn đầy lạc quan vào chân - thiện - mỹ sẽ chiến thắng trong cuộc đời, khi đưa ra thông điệp về nỗ lực tu tâm, hành thiện con người sẽ cải hoá được số phận, từ đó thay đổi được thiên mệnh. Cổ vũ mục đích cuối cùng của con người là hướng tới một cuộc sống hài hòa chân - thiện - mỹ, Nguyễn Du đã nói lên được mơ ước, niềm mong mỏi hướng tới tương lai tốt đẹp của quảng đại nhân dân. Những con người chịu nhiều đau khổ, tầng lớp bình dân sẽ không thể tồn tại nếu họ thiếu niềm hy vọng, trước hết và tột cùng, rằng chân lý, sự công bằng, tốt đẹp sẽ ngự trị sau khi con người đã nỗ lực phấn đấu cho sự thay đổi, hoán cải bằng toàn bộ trái tim, sức lực cuộc đời của mình, như cô Kiều sau 15 năm lưu lạc lại được đoàn tụ, vui vầy cùng gia đình. Hy vọng đó, chân lý đó, theo cách biểu đạt của Nguyễn Du, là khúc khải hoàn của chữ “tâm”:

“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”(7).

Như vậy, Nguyễn Du đã diễn giải quan niệm về cuộc đời trong Truyện Kiều qua những bước đi tuần tự: sự đối lập giữa tài năng và số phận là luật tất yếu của cuộc đời; con người sinh ra phải tuân thủ luật đó; song trong quá trình sống, bằng sự tu tâm, bằng sự nhận thức lẽ thiện và nỗ lực thực hành điều thiện, con người có thể cải hóa được số phận định sẵn.

Trong quá trình nhận thức đó, yếu tố tư duy mang sắc thái Việt Nam, yếu tố tình cảm, sự duy tình, tình yêu thương con người đã là nền tảng chi phối và hướng dẫn chiều hướng tư duy của Nguyễn Du, đưa tư tưởng ông đạt tới sự nhận thức và phản ánh chân thực tâm nguyện, hy vọng của dân chúng. Đó là thành công lớn của Nguyễn Du và chính điều đó đã khiến ông trở thành nhà thơ của nhân dân, được nhân dân tôn vinh. Vì vậy, cho dù quan niệm về cuộc đời của Nguyễn Du mang màu sắc duy tâm chủ quan cực đoan, chúng ta cũng không thể phủ nhận những nhân tố hợp lý, độc đáo và giàu tính nhân văn của nó. Những nhân tố đó càng trở nên đáng quan tâm hơn khi chúng đã có những tác động tích cực trong việc hướng dẫn, định chuẩn hệ giá trị sống của cha ông ta suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và có lẽ, còn góp phần tích cực vào cuộc sống hiện nay nếu những tư tưởng đó được khai thác và được công chúng hoá hơn nữa.

2. Quan niệm về thân phận con người

Quan niệm của Nguyễn Du về thân phận con người là sự cụ thể hoá và triển khai thêm những nhận định về cuộc đời của ông vào những mẫu hình cụ thể - các nhân cách, như những minh chứng cho nhận định của ông.

Xã hội mà Nguyễn Du mô tả, suy ngẫm, chiêm nghiệm là xã hội của những con người mê lầm, chưa tự ý thức, chưa tự giác ngộ được về bản chất cuộc đời và ý nghĩa của sự tồn tại người. Theo quan niệm Phật giáo, đó là những người vẫn còn đang ở bến mê, theo quan niệm Nho giáo, đó là những con người đang là trò chơi của tạo hoá, của định mệnh. Những mối quan hệ xã hội chằng chịt, đan xen được Nguyễn Du tháo gỡ và sắp xếp theo dòng chảy của các quy luật Phật giáo, như luật nhân quả, duyên nghiệp, giác ngộ… Tất cả những thân phận, từ đấng anh hùng như Từ Hải, kẻ tu hành như vãi Giác Duyên, người làm quan như Hồ Tôn Hiến, kẻ sĩ như Kim Trọng, tới số phận truân chuyên như Thuý Kiều, lưu manh như Mã Giám Sinh… đều được nhìn dưới góc độ triết lý Phật giáo, là những thân phận phải hứng chịu mọi kiếp nạn đã bị quy định từ các hành vi của kiếp trước:

“Gặp phải lúc đi đường lỡ bước,
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau.
Mỗi người mỗi nghiệp khác nhau,
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ”(8).

Mỗi con người bước vào cuộc đời với một nghiệp riêng do kiếp trước quy định, là sung sướng, là anh hùng, là khổ đau, là bất hạnh…, cho đến khi rời cõi thế cũng mỗi người một vẻ chết khác nhau không ai giống ai, nhưng tất cả đều có một điểm chung, đó là đều chung thân phận bơ vơ, lạc loài. Nếu như lý luận về tha nhân của chủ nghĩa hiện sinh khẳng định sự lạc loài, phi lý của kiếp người trên chính cuộc đời trần thế thì, với Nguyễn Du, do chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết lý Phật giáo, sự lạc loài phi lý đó là thuộc về thế giới phi trần gian, ở những linh hồn đã rời cõi thế, không nơi nương tựa, lang thang phiêu bạt đi tìm điểm dừng của duyên nghiệp, đi tìm tới cái ngã đích thực tồn tại trong vĩnh cửu. Với Nguyễn Du, những thân phận con người trong cõi thế vẫn là sự tồn tại theo duyên cảnh, không mang tính phi lý, mà là một tất nhiên và mang tính tiền định:

“Biết thân chạy chẳng khỏi trời,
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh”(9).

Những thân phận này, dù có cố gắng đến nhường nào, nhưng nếu chưa giác ngộ được lẽ vô thường, chưa ngộ được chân tâm thì vẫn không thoát khỏi số phận trớ trêu mà trời đã định. Trong cuộc đời mà mỗi thân phận người tồn tại theo tự tính trời ban của mình, theo số phận đã định của mình, thì tính chủ thể của con người trở nên thật là bé nhỏ và vô vọng:

“Kẻo khi sấm sét bất kỳ
Con ong cái kiến kêu gì được oan”(10).

Trong quan niệm về con người, Nguyễn Du đặc biệt chú ý tới hai loại người - người tài và người phụ nữ. Chính ở đó, quan niệm của ông về con người chứa đựng những nét đặc sắc nhất. Đồng thời, sắc thái tư duy Việt trong tư tưởng Nguyễn Du về con người cũng bộc lộ rõ nhất khi ông thể hiện các quan niệm này. Trước Nguyễn Du, trong văn học Việt Nam nói chung, trong quan niệm về con người nói riêng luôn đặt trọng tâm sự chú ý của xã hội vào người quân tử, vào người làm quan, người có học vấn, bậc Nho sĩ. Theo quan niệm của họ, chỉ nam giới mới được coi trọng, được đánh giá là có tài hay không có tài; cái tài chỉ được thể hiện qua con đường duy nhất là văn chương, thơ phú, cử nghiệp. Nhưng tới Nguyễn Du, và gần như đồng thời với ông là Hồ Xuân Hương, người tài không còn là độc quyền của nam giới nữa. Hồ Xuân Hương đã làm một việc quan trọng, mở đường cho việc đưa hình tượng người phụ nữ vào trung tâm điểm của văn học và vào nhận thức của dân tộc giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, đó là phê phán tận gốc những mặt trái đằng sau hình tượng người quân tử theo quan niệm cũ, đưa những nhu cầu tình cảm, tâm lý, khát vọng sống của người phụ nữ lên thành những quyền cơ bản của con người, có quyền và có giá trị bình đẳng với nam giới. Tới Nguyễn Du, ông đã làm tiếp một việc quan trọng nữa, và là sự kế tiếp như một quy luật tất yếu, cần phải có trong sự tự nhận thức của dân tộc, đó là tôn vinh người phụ nữ như những tinh hoa, anh tài của xã hội.

Trong Truyện Kiều, ông đã gửi gắm tất cả niềm yêu thương, xót xa và kỳ vọng vào người phụ nữ khi xây dựng hình tượng nàng Kiều, một phụ nữ đa tài, đa sắc, lại thánh thiện và nhân ái. Trọn vẹn những lý tưởng thẩm mỹ, đạo đức và con người lý tưởng của Nguyễn Du được ông gửi gắm vào nàng Kiều. Đó là hình tượng người phụ nữ đẹp nhất mà văn học Việt Nam thời phong kiến đã đạt được. Nhân vật “nàng Kiều” là sự hình tượng hoá các phẩm chất cao quý của người phụ nữ: tài năng, giàu đức hy sinh, biết dũng cảm đương đầu với số phận, thách thức số phận, chiến thắng số phận bằng chính sự tôi luyện theo lẽ thiện, vì thế cải biến được số phận. Chưa có nhân vật văn học nào trước đó được xây dựng công phu, đẹp đẽ và chinh phục trái tim người dân đến thế. Tính tích cực của chủ thể thể hiện ở cả nhận thức và hành động của nàng Kiều như khúc khải hoàn chiến thắng của con người trước số phận, là lời gửi gắm tâm nguyện của Nguyễn Du đối với cuộc đời.

Khi đề cập đến người tài, Nguyễn Du đã thừa nhận luật “tài mệnh tương đố”. Với Nguyễn Du, người tài không chỉ là các văn nhân, trí thức Nho giáo, mà bao gồm cả phụ nữ; cái tài không chỉ thể hiện trong thơ phú, chính trị, cử nghiệp, mà cả trong các năng lực khác như đàn hát, hội hoạ. Theo ông, người có tài luôn là tinh hoa của trời đất, được đồng loại coi trọng, xót thương và ca ngợi, bởi chính họ đã làm cho cuộc đời ngày càng đẹp hơn, nhân ái hơn:

“Kiều rằng: “Những đấng tài hoa,
Thác là thể phách còn là tinh anh”(11).

Những người tài hoa khi sống phải chịu số phận long đong như một sự chuộc tội cho nhân quần, bởi họ cũng chính là những con người có tình nhất, yêu thương đồng loại nhất và là những người cảm biết được trách nhiệm của mình trước đồng loại, nên dù thấy chết vẫn tự nguyện chấp nhận như một tất yếu, giống như nàng Kiều coi việc bán mình chuộc cha là nghĩa vụ đương nhiên của người con thực hiện đạo hiếu. Những người tài hoa ấy, dù thể xác đã trở về với cát bụi, nhưng những giá trị tinh thần, những ảnh hưởng tinh tuý của họ vẫn tồn tại như những hiện hữu tất yếu. Đó mới là sự tồn tại đáng kể. Và biết bao nhiêu thân phận đi qua trái đất này đã để lại những đóng góp của họ vào cuộc sống tinh thần chung của xã hội, được người đời coi trọng, gìn giữ và làm nên các giá trị chung nhất, gọi là văn hoá.

Nguyễn Du đã dùng minh triết (sự giác ngộ) và thiện tâm, hai phương tiện duy tâm làm chìa khoá giải mã những bất công của cuộc đời. Tuân thủ những nguyên lý minh triết của Phật giáo và những sắc thái duy tình của người Việt, Nguyễn Du đã đưa ra lời giải của ông cho vấn nạn nhân sinh. Tính chân lý, khả năng ứng dụng, phạm vi giải đáp của con đường ấy tới đâu còn tuỳ thuộc vào sự tiếp cận của mỗi thế hệ hậu sinh với triết lý cuộc đời và thân phận con người của Nguyễn Du. Tuy nhiên, con đường minh triết và thiện tâm mà Nguyễn Du cổ vũ đã và đang làm nên một công cụ điều chỉnh đầy tính nhân văn cho xã hội.


(Theo Lê Thị Lan-Tiến sĩ, Phó trưởng phòng Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam).
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-30 17:31:02Leo*>
Leo "nhặt" được bài viết về Kiều. Share cho các bạn. Cũng là một bài viết về "nghệ thuật " trong Kiều.
 
"Truyện Kiều" và biệt tài sử dụng thành ngữ của Nguyễn Du


Một trong những lý do làm người đọc cảm nhận ngôn ngữ trong "Truyện Kiều" đẫm chất dân gian, gần gũi với đời sống hàng ngày là nghệ thuật sử dụng tiếng nói quần chúng của đại thi hào qua biệt tài vận dụng thành ngữ, tục ngữ. Có lẽ trong lịch sử thi ca của ta từ xưa đến nay, khó tìm được một tác phẩm nào mà thành ngữ, tục ngữ xuất hiện nhiều như trong "Truyện Kiều".

Và cách xuất hiện cũng hết sức tự nhiên, khi thì nguyên văn, khi thì được biến báo bằng cách chèn thêm một số từ khác cho hợp tình, hợp cảnh. Đại thi hào Nguyễn Du sử dụng khéo léo đến nỗi, lắm lúc chúng ta không còn biết được những câu thành ngữ quen thuộc đã nhập vào trong "Truyện Kiều", hay chính "Truyện Kiều" đã tạo ra những thành ngữ, tục ngữ ấy!
Theo sự thống kê của chúng tôi, trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã sử dụng  thành ngữ, châm ngôn khoảng 180 lần. Có những đoạn thơ, đại thi hào cho thành ngữ, châm ngôn xuất hiện gần như liên tục trong các câu thơ. Ví như đoạn nói về ý nghĩ của Hoạn Thư:


Làm cho trông thấy nhãn tiền
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay
Nỗi lòng kín chẳng ai hay
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

Trong bốn câu lục bát này, có ba thành ngữ được nhắc đến: "Trông thấy nhãn tiền", "thăm ván bán thuyền" và "gió thổi ngoài tai". Hay như bốn câu thơ:


Nghĩ đà bưng kín miệng bình
Nào ai có khảo mà mình lại xưng
Những là e ấp dùng dăng
Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi

Cũng có ba câu thành ngữ: "kín như hũ nút", "không khảo mà xưng", "rút dây động rừng"…
Cách sử dụng thành ngữ, châm ngôn của cụ Nguyễn cũng rất linh hoạt. Phần lớn thành ngữ được giữ nguyên, đưa vào làm một phần của câu thơ mà câu thơ vẫn giữ được vẻ tự nhiên, như "mạt cưa mướp đắng" trong "Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường"; "một cốt, một đồng" trong "Lạ gì một cốt một đồng xưa nay"; "cá chậu, chim lồng" trong "Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi", "một hội, một thuyền" trong "Cùng người một hội một thuyền đâu xa", "ăn xổi, ở thì" trong "Phải điều ăn xổi, ở thì"…
Nhưng không ít câu thành ngữ được giữ lấy ý nhưng thay đổi cách diễn đạt. Chúng ta cùng theo dõi bảng thống kê sau (phần trong ngoặc đơn là phần diễn đạt trong "Truyện Kiều"): Chật như nêm (Trong nhà người chật một lần như nêm); Giấm chua, lửa nồng (Giấm chua lại tội bằng ba lửa nồng); Trong ấm, ngoài êm (Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm); Gió thổi ngoài tai (Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài); Kín như bưng (Trong ngoài kín mít như bưng); Không khảo mà xưng (Nào ai có khảo mà mình lại xưng); Rút dây động rừng (Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi); Kín như hũ nút (Nghĩ đà bưng kín miệng bình); Rừng có mạch, vách có tai (Ở đây tai vách mạch rừng); Ngậm bồ hòn làm ngọt (Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay); Kiếp tằm vương tơ (Con tằm đến thác hãy còn vương tơ); Kẻ cắp gặp bà già (Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau); Khuất mặt, cách lòng (Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng); Kiến bò miệng chén (Kiến trong miệng chén có bò đi đâu); Nước đến chân mới nhảy (Phòng khi nước đã đến chân); Cá chậu, chim lồng (Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi)...
Một số lớn thành ngữ trong "Truyện Kiều" là mỗi câu gồm bốn từ, thường chia thành hai nửa đối xứng nhau, diễn tả được một ý nào đó. Ví dụ: "Thân gái, dặm trường"; "Gìn vàng, giữ ngọc"; "Nước đục, bụi trong"; "Thay bậc, đổi ngôi"; "Lỡ một, lầm hai"; "Tháo cũi, sổ lồng"; "Nhắm mắt, đưa chân"; "Liễu chán, hoa chê"; "Bướm lả ong lơi"; "Một tỉnh, mười mê"; "Kết tóc, xe tơ"…Với những thành ngữ loại này, chúng ta thật khó xác định được rằng những thành ngữ nào có sẵn từ trước, những thành ngữ nào sinh ra từ "Truyện Kiều"?
Đối với các thành ngữ chữ Hán, có một số câu tác giả "Truyện Kiều" để nguyên văn, nhưng tìm cách đưa đẩy, dắt dẫn để cho ngay cả những người không biết tiếng Hán, khi chưa đọc chú thích, cũng sơ bộ hiểu được nội dung thành ngữ ấy:


Lạ gì "bỉ sắc tư phong"
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

Hay:


Nàng rằng: "thiên tải nhất thì"
Cố nhân dễ đã mấy khi bàn hoàn…
 
thì câu "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" giúp người ta hiểu sơ bộ nghĩa "bỉ sắc tư phong" là được điều này, mất điều kia; hay: "Cố nhân dễ đã mấy khi bàn hoàn" giúp hiểu nghĩa "thiên tải nhất thì" là rất hiếm khi, ngàn năm có một…
 





Nhưng trong nhiều trường hợp, Nguyễn Du đã diễn Nôm thành ngữ chữ Hán thành một vài câu thơ thuần Việt, rất nhuần nhuyễn và dễ hiểu. Ví như muốn nói Thúy Kiều vì đã từng ở lầu xanh rồi nên rất sợ những gì tương tự, Nguyễn Du liền cung cấp cho bạn đọc thành ngữ "Kinh cung chi điểu" nhưng được Việt hóa:


Thiếp như con én lạc đàn
Phải cung rày đã sợ làn cây cong

Hay như câu thành ngữ "Tam thập lục chước, tẩu vi thượng sách" (trong ba mươi sáu chước, chước chạy là hay nhất) thì được cụ diễn Nôm bằng một câu nghi vấn mà ai cũng biết lời đáp: "Ba mươi sáu chước, chước nào là hơn?". 
Chỉ những thành ngữ chữ Hán tương đối thông dụng thì Nguyễn Du mới để nguyên, như "Động địa, kinh thiên"; "Nhân định thắng thiên", "Bình địa ba đào"; "Quốc sắc, thiên tài"; "Ngộ biến tùng quyền"... với cách dắt dẫn tự nhiên và dễ hiểu.
Bên cạnh việc sử dụng thành ngữ dân gian, khi sáng tác "Truyện Kiều", Nguyễn Du không ít lần chuyển tải những câu, những ý cổ thi vào tác phẩm của mình. Đại thi hào Nguyễn Du cũng như các nhà thơ cùng thời quan niệm rằng, bên cạnh những gì mình sáng tạo ra, việc chuyển tải những tinh hoa của dân tộc, của nhân loại đến với bạn đọc là một việc nên làm.
Bạn đọc coi việc đó thể hiện sự uyên bác, thông "thiên kinh vạn quyển" của tác giả. Cụ Nguyễn Du không bao giờ muốn "phi tang xuất xứ", ngược lại, làm cho bạn đọc thấy rằng, cái ý ấy đã có trong cổ thi của một tác giả cụ thể hoặc là thơ dân gian truyền miệng. Ví như hai câu thơ nói tâm trạng của chàng Kim sau sáu tháng về hộ tang chú ở Liêu Dương, trở lại vườn Thúy không gặp được Thúy Kiều:


Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Bạn đọc bao thế hệ không ai không biết cái ý này rút từ hai câu cuối trong bài tứ tuyệt của Thôi Hộ đời Đường, sáng tác khi ông một năm sau trở lại tìm người đẹp mà không gặp:


Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong

(Ngày này năm trước, trong cửa này/ Mặt người và hoa đào phản chiếu ánh hồng lên nhau/ Mặt người không biết nay ở đâu/ Hoa đào năm cũ cười gió đông). Nguyễn Du thấy rằng có sự trùng hợp tâm trạng giữa Kim Trọng và Thôi Hộ nên mượn ý hai câu cuối của bài thơ này. Nói cụ Nguyễn Du dịch hai câu ấy cũng không sai, nhưng e chưa hoàn toàn đúng, mà phải chú ý rằng, cụ đã dịch một cách đặc biệt, để vừa đúng nghĩa của câu thơ xuất xứ, nhưng quan trọng hơn là hợp với cảnh tình của nhân vật Kim Trọng. Bởi thế cụ không dùng hai chữ "nhân diện" (mặt người) mà chuyển thành "bóng người", vì "nhân diện" hợp với kỷ niệm của Thôi Hiệu hơn là Kim Trọng.
Hay như câu: "Tự cổ hồng nhan giai bạc mệnh", có nghĩa là: "Từ xưa đến nay, những kẻ hồng nhan đều bạc mệnh", được Nguyễn Du Việt hóa thành:


Rằng: hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu…

Vừa giữ nguyên được ý của xuất xứ, về tự nhiên, dễ hiểu một cách dân gian.
Có khi đưa cổ thi vào "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã nâng câu thơ lên một tầm mới, hay hơn ý thơ đã có. Ví như hai câu tả cảnh trăng trong cuộc chia ly của Thúc Sinh và Thúy Kiều:


Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

Nhiều người biết rằng, ý trong hai câu thơ này đi từ câu cổ thi:


Thùy bả kim bôi phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy để, bán phù không

(Ai cầm chén vàng chia ra hai nửa/ Nửa chìm đáy nước, nửa trôi trên không). Thấy nửa vầng trăng mà hỏi "Ai xẻ trăng ra hai phần" là xuất phát từ cổ thi, Nguyễn Du nói rõ cho bạn đọc thấy điều đó, chứ không hề che giấu. Bây giờ ta xét xem nghệ thuật trong câu cổ thi này và so sánh với câu trong "Truyện Kiều". Nhìn nửa vầng trăng trên trời, nửa vầng trăng dưới nước mà hỏi ai xẻ vầng trăng ra làm đôi, là một ý thơ hay, bất ngờ do sự quan sát và phát hiện.
Nhưng dù sao, đây là câu thơ viết bằng cái nhìn, đơn thuần tả cảnh thiên nhiên. Đem "Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường" mà so với "Nửa chìm đáy nước, nửa trôi trên không", ta thấy rằng câu thơ cổ thi này chỉ là điểm xuất phát để Nguyễn Du đi một bước thật xa, biến câu thơ tả cảnh có thể nhìn bằng mắt thành câu thơ tả tình đặc sắc nói về sự chia phôi.
Người chia ly rồi, vầng trăng tưởng như cũng chia thành hai nửa, một nửa theo Kiều về nơi gối chiếc, một nửa theo Thúc Sinh chốn dặm trường, thì sự chia đôi vầng trăng đó mới thật kỳ diệu và khó phát hiện hơn nhiều so với sự chia đôi đơn thuần tính chất vật lý trong câu xuất phát. Nguyễn Du đã dựa vào một câu cổ thi để sáng tác ra một câu thơ mới hay hơn hẳn. Nếu bảo cụ đã dịch câu cổ thi trên kia, thì sự sai lầm chẳng khác gì nói rằng cụ đã dịch "Kim Vân Kiều Truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân ra "Truyện Kiều".
Trong "Truyện Kiều", những câu thơ xuất phát từ cổ thi, vận dụng cổ thi còn nhiều, như tả tiếng đàn, tả cảnh mùa xuân… Và trong từng câu cụ thể, ta đều thấy được biệt tài của đại thi hào khi sử dụng cổ thi cũng như thành ngữ dân gian khi sáng tác "Truyện Kiều".
                   20/6/2009





Vương Trọng

Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Hoàng Vĩnh Châu

Phục cho người đặt tiêu đề của topic, đó cũng là một nghệ thuật sinh hoạt mạng. Cũng thật cảm phục cho những thành viên gạo cội góp công sức đóng góp và tranh luận.
Dứt tay khỏi bàn phím, trong tâm thức cũng chỉ là hư hư, ảo ảo, về thành viên này, thành viên kia hoặc những bài trả lời.
Với ý kiến cá nhân tôi về truyện Kiều thì thật là tuyệt vời, chưa thấy một tác phẩm truyện thơ khác có thể thay thế trong văn học cũng như dân gian Việt.
Một lần nữa: Mua vui cũng được một vài trống canh.

 
Rất vui khi HVC quan tâm đến topic này. Thay vì viết về người đưa ra topic, thì bạn có thể post một bài "bình luận" về "Kiều" đúng nghĩa chắc không khó khăn với bạn nhỉ? Leo rất tôn trọng ý kiến của các bạn, hy vọng các bạn nhớ "dẫn chứng văn học" vào mỗi ý kiến của mình để "chắc chắn" cho suy nghĩ của mình, và sẽ đúng với nội quy trang "Bình Luận Văn Học". Leo nghĩ chắc bạn không để ý nội quy.
Thân,
Happy New Year !
 
@ Th_trang : thanks bài post. 
[:)]
 
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
SỞ KHANH_KẺ NÉM THIÊN NHIÊN VÀO MẮT THUÝ KIỀU


Thúy Kiều là người luôn độc chiếm thiên nhiên. Ở đâu có Kiều xuất hiện thì ở đó thiên nhiên trở thành tấm gương của tâm hồn Kiều, thành nhật ký của số phận Kiều, thành kẻ a dua, chia sẻ và tòng phạm với Kiều trong những khoảnh khắc lo âu trước định mệnh, xót xa trước thân phận hay bồi hồi rạo rực trước tình yêu.


Nhưng trong cái đêm đi trốn với Sở Khanh, Thúy Kiều lại bị bỏ rơi giữa một thiên nhiên xa lạ, đầy hăm dọa. Dường như Sở Khanh đã ném cả thiên nhiên vào mặt Kiều để "rẽ dây cương" bỏ trốn trong chính khoảnh khắc Kiều muốn quên đi tất cả đất trời để dấn thân theo hắn tìm tự do.

Ba ám ảnh lớn của thiên nhiên


Có thể nói mùa thu, vầng trăng và ngọn cỏ là ba ám ảnh lớn trong trí tưởng tượng thi ca của Nguyễn Du, nhuốm đậm cảm xúc đau đời, thương người của nhà thơ.

Hình tượng mùa thu tràn ngập trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du với nhiều sắc thái tế nhị khác nhau, song Nguyễn Du thích khai thác cái lạnh, cái man mác, thấm thía của nó. "Mùa thu như dòng lệ chảy không ngớt"; "Hơi thu lạnh đã già cây cỏ tiêu điều". Các tác phẩm của ông đã biểu hiện rõ một cuộc phiêu lưu của tâm hồn từ cái "lạnh tiêu điều" của cỏ cây đến cái "lạnh buốt xương khô" của con người:

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Não người thay buổi chiều thu
Ngàn lau bạc trắng, lá ngô rụng vàng


Nếu như trong Văn chiêu hồn, Nguyễn Du đã quyết định lấy mùa thu lạnh lẽo làm khí hậu chính của âm phủ, của tình thương, thì trong Truyện Kiều, ông lại lấy mùa thu làm khí hậu chính của cõi người. Bao giờ Nguyễn Du cũng gửi gắm cho mùa thu những tâm tư sâu nặng nhất của mình ngay cả những khi chỉ miêu tả một chiếc lá, một khóm lau nho nhỏ, lẻ loi. Không có cái vui nào lại đầy đặn và sáng láng như cái vui của mùa thu:

Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng
Không có cái buồn nào có thể mong manh hơn cái buồn của mùa thu:
Đêm thu gió lọt song đào
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời


Vầng trăng trong Truyện Kiều cũng bị nhuốm dần cái lạnh của mùa thu. Vầng trăng xuất hiện lần đầu là một vầng trăng mùa xuân mở ra cuộc sống tâm hồn của Kiều với những dự cảm về tình yêu và số mệnh:

Gương nga chênh chếch dòm song
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân


Cảnh trăng nước thật rạo rực và căng tròn sự sống. Nó là bức tranh của lòng yêu đời đang bừng lên trong trái tim Kiều. Nhưng rồi, vầng trăng ấy, tấm "gương nga" trong trẻo ấy đã bị cuộc đời quăng đi quật lại qua những bầu trời khác nhau, bị "xẻ làm đôi", bị vỡ vụn chỉ còn "nửa vành", cuối cùng chỉ còn một "mảnh". Vầng trăng là hiện thân cuộc sống tâm hồn Kiều. Khi sống tâm hồn ấy bị huỷ diệt từ sau cái chết của Từ Hải, vầng trăng cũ vĩnh viễn tắt đi trên bầu trời của Truyện Kiều.

Cuộc đời của vầng trăng trong Truyện Kiều bị chia sẻ làm hai giai đoạn khác hẳn nhau, phản ánh hai tâm trạng khác nhau của Kiều. Từ khi Kiều gặp Kim Trọng đến lúc chia tay chàng, vầng trăng đã xuất hiện tới sáu lần để ghi nhận cái rạo rực của tâm hồn Kiều, trước tình yêu, trước tương lai. Vầng trăng đầy đặn nhất, sáng nhất khi Thúy Kiều và Kim Trọng trao duyên:

Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai mặt một lời song song


Từ khi hai người chia tay đến khi Kiều mắc nạn phải bán mình cho Tú Bà, hơn 600 câu thơ mà trăng chỉ xuất hiện một lần duy nhất trên đường Kiều về nhà chứa:

Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông


Vầng trăng đã trở thành lời trách móc, thành tấm gương để Kiều soi vào, thấy cái mất mát, cái đổ vỡ, cái bất hạnh ê chề của mình. Từ đây, vầng trăng chỉ hiện ra để in đậm cái cô đơn, cái lạnh lẽo, cái lẻ loi cô độc của tâm hồn Kiều:

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung...
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu…
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường...


Nếu như trong Truyện Kiều vầng trăng hiện lên trên đầu con người để chia sẻ cái thực tại cô đơn, xa cách và mất hướng, thì ngọn cỏ hiện lên dưới gót chân con người để chia sẻ cái thực tại bị giày xéo, bị vùi lấp, bị quằn quại khổ đau. Ngọn cỏ trong Truyện Kiều chỉ mới kịp xanh có một lần xanh hồn nhiên, vào tiết thanh minh, mà cũng chỉ xanh ngắn ngủi trong vòng thời gian trước khi Kiều trông thấy nó trên mồ vô chủ:

Cỏ non xanh rợn chân trời.


Một màu xanh mênh mông, vô tận và căng tròn sự sống. Nhưng ngọn cỏ ấy lại bị ngọn lửa của định mệnh thiêu cháy ngay lập tức - ngay buổi chiều hôm đó nó đã bị nhuốm một dự cảm tàn tạ của Kiều khi vừa trông thấy mả Đạm Tiên:

Sè sè nấm đất bên đường
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh


Từ đây, ngọn cỏ trở thành ngọn cỏ của W.Whytman. Nó nói với chúng ta rằng "Nếu anh muốn tìm tôi, hãy nhìn vào gót chân anh". Ngọn cỏ là hiện thân của đời Kiều cả lúc nó úa tàn lẫn lúc nó xanh tươi. Nó phải úa tàn để chứng minh cho tâm hồn quằn quại, nhàu nát:

Một vùng cỏ ấy bóng tà...
Dàu dàu ngọn cỏ đầm đầm cành sương...
Buồn trông ngọn cỏ dàu dàu...
Lối mòn cỏ nhợt màu sương...
Một sân đất cỏ dầm mưa...


Và mặt khác, nó lại phải xanh cho hết cái phần hoang dại, bất hợp pháp của mình để chứng minh cho một cái gì tan rã, tuyệt vọng và đổ nát, hoang vu. Ngọn cỏ xanh luôn là người đưa tin xấu cho Kim Trọng. Trước mắt chàng, ngọn cỏ hiện ra như một khoảng trống tuyệt đối luôn nghe vọng lên một tiếng "KHÔNG" - không có con người, không có Kiều, không còn hạnh phúc ngày xưa nữa:

Một vùng cỏ mọc xanh rì
Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu …
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa
Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời…
Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày…

Ý nghĩa của cuộc đời "nửa vàng nửa xanh" là ở đấy. Kiều là ngọn cỏ bị dập vùi, bị chà đạp nát dưới chân vẫn phải cố gắng xanh cho hết phần hoang dại của kỷ niệm, của tình yêu.

Thúy Kiều - người độc chiếm thiên nhiên

Thuý Kiều là người ý thức được rằng thiên nhiên là một dạng tồn tại của con người, là con đường để con người đến cùng nhau:

Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về


Chính vì thế, mỗi ngọn cỏ lá cây, mỗi ngọn gió là bóng dáng Kiều, đều cho ta thấy Kiều đến với ai. Ngay từ buổi đầu tiên đi hội, nhìn ngọn cỏ "dầu dầu" trên nấm mộ Đạm Tiên, ta có thể biết ngay là Kiều đang đến với Đạm Tiên. Cũng chiều hôm ấy, cảnh vật lại in bóng Kiều đến với chàng Kim Trọng:

Bóng tà như giục cơn buồn
Khách đà lên ngựa người còn nghé theo


Tai biến xảy ra, Kiều phải bán mình. Từ đó hình ảnh Kiều trong cảnh vật lúc nào cũng muốn nhuốm một sắc thái bi kịch lạnh lẽo tiêu điều:

Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông mặt nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu…


Cảnh vật như cuốn nhật ký ghi lại bao tâm trạng của Kiều với những sắc thái tinh vi nhất, bởi vì cảnh vật sống để đồng cảm với Kiều, là hiện thân cuộc sống của Kiều. Dường như với Kiều, bao giờ cảnh vật cũng mang một dự cảm xấu, báo hiệu một bất hạnh sắp xảy ra. Cảnh vật ấy là một thứ Đạm Tiên, nó hiện ra ngay trước khi lũ sai nha nhà Tú Bà xuất hiện, ngay trước khi Thúc Ông xuất hiện, ngay trước khi Hoạn Thư bày mưu tính kế, ngay trước khi lũ ác nhân nhà họ Hoạn ập vào, ngay trước khi Kiều bị đẩy ra khỏi nhà vãi Giác Duyên để đến nhà Bạc Bà, Bạc Hạnh.

Những khi có người khác ở bên, Kiều vẫn được đối diện với thiên nhiên, thiên nhiên trữ tình vẫn chỉ là thiên nhiên của tâm trạng Kiều. Những người khác hoặc là bị hất ra khỏi thiên nhiên, bị hư vô hoá, hoặc là phải coi rằng họ đang sống trong thiên nhiên của riêng Kiều. Trong tiết thanh minh ấy, đi bên Kiều còn có Thuý Vân, còn có Vương Quan. Thế mà cảnh vật vẫn hiện lên nhuốm cái tâm trạng nao nao, bâng khuâng và rờn rợn của Kiều:

Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
Sè sè nấm đất bên đường
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh


Ngỡ là Kiều đang sống một mình, đang độc chiếm thiên nhiên. Từ đây, thiên nhiên - thiên nhiên của ngày hôm ấy - hoàn toàn thuộc về Kiều, sống để thể hiện những tâm trạng của Kiều:

Một vùng cỏ ấy bóng tà
Gió hiu hiu thổi một vài bông lau


Trong một hoàn cảnh nhất định có nhiều người, thiên nhiên thường được Nguyễn Du tặng riêng cho người nào sống một mình, người có tâm hồn và tâm sự riêng tư. Nhưng cái đêm đi trốn với Sở Khanh ấy, không thể nói là Kiều đã được cả thiên nhiên, mà phải nói rằng Sở Khanh đã hất cả thiên nhiên vào mặt Kiều để bỏ trốn, nó chạy ra khỏi thiên nhiên.

Mùa thu, vầng trăng và ngọn cỏ là ba biểu tượng của số phận Kiều. Nguyễn Du đã huy động cả ba hình tượng đó để mô tả cái khoảnh khắc rợn ngợp bơ vơ của Thúy Kiều khi liều mình bỏ trốn theo Sở Khanh. Không có cảnh mùa thu nào trong Truyện Kiều có thể lạnh lẽo, nhợt nhạt và đầy ứ những dự cảm rùng rợn như cảnh đêm thu trong rừng vắng khi Thúy Kiều đi trốn:

Đêm thu, khắc lậu, canh tàn
Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương
Lối mòn cỏ nhợt mầu sương
Lòng quê đi một bước đường một đau
Tiếng gà xao xác gáy mau...


Gió lạnh, sương lạnh, ánh trăng lạnh, tiếng gà lạnh, thời gian cũng tàn tạ và nguội lạnh. Vầng trăng trên đầu, ngọn cỏ dưới chân cùng xuất hiện ứ tràn cái lạnh của mùa thu. Và mặc dù đi bên Kiều còn có cả Sở Khanh, nhưng cái lạnh ấy chỉ mình Kiều chịu đựng. Vì Thúy Kiều là con người có tâm hồn giao cảm với thiên nhiên, là một tín đồ của chủ nghĩa vật linh luôn thấy thiên nhiên quanh mình thấm đẫm linh hồn và căng tràn sự sống. Chính đêm ấy, Sở Khanh đã để cho Kiều phải cảm thấy bơ vơ, cô độc, phải sống thui thủi một mình trong rừng vắng nên thiên nhiên mới hiện ra lạnh lẽo và thê lương như thế.

Có thể hiểu là Sở Khanh đã bị hư vô hoá đi, bị giết đi trong cảm hứng trữ tình nên Kiều phải sống một mình, phải xuất hiện tâm trạng cá nhân đầy sợ hãi, lạnh lẽo. Lúc này Kiều bị sống một mình, bị nhận lấy thiên nhiên. Thực ra trong đêm đi trốn ấy Kiều rất cần có người khác để chia sẻ thiên nhiên, Kiều hoàn toàn không tự giác độc chiếm thiên nhiên như ngày đi hội Đạp Thanh.

Trong mười lăm năm lưu lạc của mình, Thúy Kiều đã bị đau khổ trong nanh vuốt của nhiều kẻ xấu xa, độc ác. Nhưng nếu như Tú Bà, Hoạn Thư và bọn Khuyển Ưng chỉ hành hạ thể chất và nhân phẩm của Kiều, thì Sở Khanh là kẻ ném Kiều vào thiên nhiên để cho mùa thu, vầng trăng và những ngọn cỏ xé nát tâm hồn, hủy hoại lòng tin của nàng





ĐỖ MINH TUẤN



TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA_ MẢNH ĐẤT MÁU THỊT CỦA VIỆT NAM
Đăng nhập để trả lời
0
BÚT PHÁP ƯỚC LỆ CỦA NGUYỄN DU
Bút pháp ước lệ của Nguyễn Du


(Qua cảnh Thúy Kiều đưa tiễn Thúc Sinh)

Người lên ngựa kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Dặm hồng bụi cuốn chinh an,
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh.
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai sẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.




Ước lệ được xem là một đặc điểm thi pháp của văn học trung đại. Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du sử dụng khá nhiều bút pháp ước lệ. Có điều nhà thơ sử dụng một cách hết sức linh hoạt, sáng tạo nên tránh được sáo mòn, nhàm chán. Không những thế bút pháp ước lệ của Nguyễn Du còn góp phần diễn tả một cách tinh tế, sâu sắc tâm trạng nhân vật.

Điều đó được thể hiện rất rõ qua cảnh Thuý Kiều đưa tiễn Thúc Sinh về tự thú với Hoạn Thư.

Thường thường khi chia tay, người ta hay nắm lấy áo nhau tỏ tình quyến luyến, bịn rịn. Níu áo dần trở thành một cách nói quen thuộc: "Chàng ơi buông áo em ra/ Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa" (Ca dao). Trong buổi tiễn đưa, Kiều cũng níu áo chàng Thúc. Cho đến lúc chàng lên ngựa, nàng mới chịu "chia bào" (buông áo). Theo logic bình thường, người này có buông áo, người kia mới được lên ngược. Ở đây, Nguyễn Du cố ý sắp xếp ngược lại: "Người lên ngựa, kẻ chia bào". Theo tôi, đây là một chi tiết cần được quan tâm. Bởi vì qua cái chi tiết ngỡ như phi logic này, Nguyễn Du không chỉ thể hiện nỗi vấn vương, lưu luyến mà còn thể hiện tâm trạng đầy lo lắng của Kiều. Nàng cố níu giữ Thúc Sinh cho đến giây phút cuối cùng. Kiều khuyên Thúc Sinh về tự thú với Hoạn Thư là mong muốn cuộc sống yên ổn lâu dài. Nhưng trong nửa năm chung sống, qua chàng Thúc, nàng đã biết ít nhiều về Hoạn Thư. Riêng cái uy con gái Thượng thư Bộ lại của Hoạn Thư cũng đã đủ cho Thuý Kiều e ngại. Nàng lo sợ mất chàng, mất cái chỗ dựa duy nhất giữa chốn "nước non quê người", nàng lại sẽ rơi vào cảnh bơ vơ chân trời góc bể. Vì vậy, nàng cố níu giữ chàng ngay cả khi chàng đã lên ngựa. Bằng một chi tiết có tính ước lệ, Nguyễn Du đã phần nào diễn tả được cái tâm trạng ngổn ngang trăm mối của nàng Kiều.

Rừng phong thu lúc chớm thu lá dần ngả sang màu đỏ được nhắc đến khá nhiều trong thơ cổ điển Trung Hoa. Cái màu đỏ của lá phong thu có tính ước lệ này qua tay thiên tài Nguyễn Du đã biến thành “màu quan san” - gợi sự xa xôi, cách trở. Phải thật hiểu tâm trạng bất an của Kiều khi chia tay Thúc Sinh, Nguyễn Du mới sáng tạo ra cái “màu quan san” độc đáo ấy. Nghĩa là lá phong đang ngả dần sang màu đỏ. Kiều đưa tiễn Thúc Sinh lúc mới sang thu. Nhưng "nhuốm màu quan san" lại rất phù hợp với tâm trạng lo lắng, bất an của nàng Kiều lúc này. Chỉ thay một dấu từ "nhuộm" sang "nhuốm" mà cái "màu quan san" càng thêm xa xôi, cách trở. Đây cũng là một dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du chăng?

Thúc Sinh đi rồi, Kiều cứ đứng nhìn theo mãi: "Dặm hồng bụi cuốn chinh an/ Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh". Thường khi tả đoàn quân xuất trận mới có cảnh "dặm hồng bụi cuốn". Trong Binh xa hành của Đỗ Phủ, cùng với tiếng ngựa phi là cảnh cát bụi bay ngút trời. Người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm : "Thét roi cầu Vị ào ào gió thu". "Bụi cuốn” nghĩa là bụi mù trời, gió ào ào… Nguyễn Du tả cảnh Thúc Sinh về Vô Tích gặp Hoạn Thư chẳng khác gì đi ra chiến trận. Theo logic bình thường thì không thật đúng. Nửa năm ăn ở với người đẹp, giờ phải chia tay, chàng Thúc chắc bịn rịn lắm. Nếu có phi thì chàng cũng chỉ phi nước kiệu thôi. Làm gì có chuyện "bụi cuốn" mù trời như thế. Ngay cả khi chia tay Hoạn Thư, vừa lên ngựa chàng đã: "thẳng ruổi nước non quê người ", vẫn không thấy Nguyễn Du miêu tả một tý bụi nào. Cho dù thẳng ruổi là phi rất nhanh, phi theo kiểu nước đại để mau về gặp lại nàng Kiều. Với tâm trạng rất háo hức, Thúc Sinh nhìn cái gì cũng đẹp: "Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng". Phi nước đại như thế thì không có một tý bụi nào. Còn "phi nước kiệu lại "dặm hồng bụi cuốn"? Đây chính là cảnh được nhìn qua tâm trạng đầy lo âu của nàng Kiều: chàng Thúc như đang đi vào nơi đầy gió bụi, chẳng khác gì ra trận. Bởi vì chàng sắp chiến đấu với Hoạn Thư - một cuộc chiến đấu không cân sức giữa anh chồng non gan và bà vợ vừa đầy uy lực, vừa đầy mưu ma, chước quỷ làm sao mà Kiều có thể yên tâm được. Một lần nữa ta hiểu thêm dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du qua một chi tiết tưởng như hết sức bình thường.

Sau khi tiễn đưa Thúc Sinh: "Người về chiếc bóng năm canh/ Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi", Kiều ngẩng lên trời và hoảng hốt: "Vầng trăng ai xẻ làm đôi…". Vầng trăng đầu tháng cũng được nhìn qua tâm trạng của nàng Kiều. Nàng đang linh cảm về một sự chia lìa, một sự "tan đàn xẻ nghé". Ca dao cũng có câu tương tự: "Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Đường trần ai vẽ ngược xuôi hỡi chàng?". Sau này thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng đau đớn thốt lên: "Đêm nay còn nửa trăng thôi/ Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi/ Ta nhớ người xa thương đứt ruột/ Gió làm nên tội buổi chia phôi" (Một nửa trăng). Nhưng theo tôi, hai câu của Nguyễn Du mang nhiều tầng nghĩa hơn. Bởi vì trăng của Nguyễn Du dù có bị xẻ làm đôi nhưng không chịu chia lìa: "Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường". Phải chăng, nhà thơ mượn hai nửa vầng trăng để bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc của mình trước cảnh chia ly của Thúc Sinh - Thuý Kiều? Và phải chăng đó cũng là mong muốn của Kiều. Kiều nhờ một nửa trăng giúp chàng Thúc thấu hiểu tâm trạng lẻ loi cô đơn của mình, một nửa kia nàng muốn trăng thay nàng soi đường cho chàng? Qua tưởng tượng của Kiều, con đường Thúc Sinh đang đi đầy gió, đầy bụi, đầy chông gai hiểm trở. Thúc Sinh thì đơn thương độc mã, ước gì nàng có thể ở bên cạnh chàng…

Rõ ràng bằng những chi tiết, những hình ảnh có tính ước lệ hết sức quen thuộc, Nguyễn Du đã biến hoá, đã nhào nặn trở thành những chi tiết nghệ thuật hết sức mới lạ, độc đáo. Nếu cứ theo logic bình thường ta tha hồ bắt bẻ nhà thơ. Song sáng tạo nghệ thuật có quy luật riêng của nó. Cái tưởng như phi lý lại rất có lý nếu ta hiểu được dụng ý tác giả. Lạ hoá bút pháp ước lệ là một trong những biệt tài của Nguyễn Du. Càng đọc, càng nghiền ngẫm Truyện Kiều, chúng ta càng khám phá nhiều điều mới mẻ trong thế giới nghệ thuật đa dạng của ông.

Theo Văn học và Tuổi trẻ



TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA_ MẢNH ĐẤT MÁU THỊT CỦA VIỆT NAM
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-31 15:44:22Thanh Công>
VÌ SAO KIỀU THA CHO HOẠN THƯ

       Trong mười lăm năm lưu lạc, kể từ khi phải bán mình chuộc cha, rơi vào tay Mã Giám sinh-Tú Bà, làm gái thanh lâu cho đến khi được Từ Hải giải cứu, Thuý Kiều đã trải qua bao ê chề nhục nhã. Hoan Thư là một trong những kẻ gây cho nàng bao đau đớn, tủi nhục. Hoạn đã đẩy Kiều từ địa vị người vợ thành con ở, từ quan hệ thiếp-chàng thành quan hệ con ở-chủ nhà. Trong bữa tiệc mừng vợ chồng tái ngộ, Hoạn không chỉ bắt Kiều hầu rượu còn bắt Kiều gãy đàn để Hoạn được hả dạ từ tiếng đàn trách móc, ai oán của Kiều, từ tiếng sụt sùi của Thúc Sinh. Vì thế: “Cũng trong một tiếng tơ đồng/ Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”.
        Hoạn Thư hành hạ Kiều và Thúc Sinh là để trả thù Thúc Sinh dám qua mặt  thị lấy vợ lẽ không khai báo, không xin phép, là để thoả mãn cái ghen “sâu sắc nước đời” có một không hai của thị. Hoạn đã bộc bạch động cơ của mình: “Làm cho cho mệt cho mê/ Làm cho đau đớn ê chề cho coi/ Trước cho bỏ ghét những người/ Sau cho để một trò cười về sau”. Chính người đàn bà “Nham hiểm giết người không dao” này đã biến Thúc sinh thành kẻ bội tình, bỏ mặc Kiều bơ vơ, đơn độc trước hàng hùm, miệng sói. Do đó, khi được Từ Hải giúp mở phiên toà công lý, Kiều đã nói rõ nỗi căm giận Hoan chất chứa bấy lâu trong lòng mình với Thúc Sinh: “Vợ chàng quỷ quái tinh ma/ Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau/ Kiến bò miệng chén chưa lâu/ Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa!”. Kẻ bị trừng trị đầu tiên là Hoạn Thư. Kiều gọi thị là “chính danh thủ phạm”. Kiều cũng dùng thủ đoạn “nói cười” năm xưa của Hoạn để hành hạ thị: “Thoắt trông nàng đã chào thưa: - Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?”. Nhưng rồi, cơn tức giận dâng trào khiến giọng Kiều trở nên đay nghiến, chì chiết: “Đàn bà dễ có mấy tay?/ Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?/ Dễ dàng là thói hồng nhan/ Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!”. Tưởng như Kiều sắp ra lệnh tùng xẻo Hoạn. Thế mà sau khi nghe thị “chối tội”, Kiều đã tha bổng: “Truyền quân lệnh, xuống tướng tiền tha ngay”. Do đâu mà Kiều có hành động lạ lùng, mâu thuẫn như thế?
       Nhiều bài viết trước đây cho rằng, Hoạn Thư thoát chết là nhờ Hoạn có những “chước lạ đời” của kẻ “quỷ quái tinh ma”, “sâu sắc nước đời”. Hoạn đã dùng lời nguỵ biện “tinh ma” để cứu mình. Đầu tiên, Hoạn “lôi” Kiều từ ghế quan toà xuống ghế giới tính để đồng cảm cùng với cái ghen của giới nữ: “Rằng: - Tôi chút phận đàn bà/ Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”. Tôi là đàn bà, cô cũng là  đàn bà. Đàn bà ai chả ghen tuông khi chồng mình “có cam phụ quýt, có người phụ ta”. Bởi vậy, cái nghen của tôi cũng “thường tình” như cái ghen của bao nhiêu người đàn bà khác. Không để Kiều có thời gian suy nghĩ, nhận ra kiểu “lập lờ đánh lận con đen” của mình, giọng cầu khẩn của Hoạn gấp gáp, nhịp thơ 1/5, 4/4 dồn dập. Rồi Hoạn chuyển nhanh sang kể lể một cách chậm rãi, tỉ mỉ công lao của mình với Kiểu trước đây: “Nghĩ cho khi gác viết kinh/ Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo”, cũng như lòng ngưỡng mộ và trân trọng tài sắc của Kiều: “Lòng riêng riêng những kính yêu”. Nhưng vì cảnh “chồng chung” nên lỡ gây ra sai sót, khuyết điểm nhỏ nay cúi đầu  xin bậc đại nhân có tấm lòng bao dung như trời biển rộng lượng tha thứ cho: “Trót đà gây việc chông gai/ Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”. Lý lẽ Hoạn Thư đưa ra vàng thau lẫn lộn. Có việc Hoạn lập lờ “đánh lận con đen”, có  việc Hoạn đã nương tay với Kiều sau khi đã thoả mãn cơn ghen, đạt được mục đích như bố trí cho Kiều ra ở Quan Âm các sau nhà hay khi Kiều trốn khỏi nhà mang theo chuông vàng khánh bạc nhưng thị không cho người truy đuổi, bắt về. Cách lý giải như vậy, đúng nhưng chưa đủ, chưa thật sự căn cứ vào tính cách nhân vật và chỉnh thể của tác phẩm. Ngoài nguyên nhân dễ thấy, hiển hiện một cách tường minh trong cảnh báo ân báo oán, theo chúng tôi còn có những nguyên nhân sâu xa sau:
Trước hết, Kiều là một con người giàu lòng nhân ái, luôn hy sinh bản thân vì người khác. Nàng than khóc cho thân phận “hồng nhan bạc mệnh” của Đạm Tiên; nàng bán mình cứu cha và nhờ em nuối lời với Kim Trọng… Ngay những ngày “hương lửa đương nồng”cùng Thúc Sinh, Kiều luôn nghĩ vì mình mà người vợ cả của Thúc thua thiệt nên nhiều lần khuyên nhủ Sinh về nói rõ sự tình với vợ cả: “Xin chàng kíp liệu lại nhà/ Trước người đẹp ý, sau ta biết tình”. Kiều biết mình với Thúc chỉ là “chút nghĩa đèo bồng” và sẵn sàng chấp nhận những cơn phẫn nộ lôi đình của Hoạn: “Dù khi sóng gió bất bình/ Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi”. Do đó, dù bị Hoạn sai người bắt về hành hạ đủ điều nhưng Kiều vẫn thấy mình là người có lỗi, là nguyên nhân dẫn đến những hành động ghen tuông của thị. Hơn thế, Kiều là người dám nhận tội và sẵn sàng chịu tội. Trước đây, khi Tú Bà bắt làm gái thanh lâu, Kiều đã phản ứng quyết liệt bằng hành động rút dao quyên sinh. Nhưng khi bị mắc mưu, chạy trốn cùng Sở Khanh, trái lời hứa với Tú Bà, nàng đã nhận tội và chấp nhận làm gái thanh lâu: “Thân lươn bao quản lấm đầu/ Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”. Hoặc khi chung sống với Thúc Sinh, bị Thúc ông kiện, viên quan “mặt sắt đen sì” xử phạt rất nặng nhưng nàng vẫn cắn răng chịu đựng: “Phận đành chi dám kêu oan/ Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày”… Mặt khác, dù bị Thúc ông kiện, viên quan xử “phép gia hình” hay bị Hoạn Thư chìa lìa tình ái và đày đoạ đủ điều nhưng cuối cùng Kiều đều được tha và mở ra con đường sống. Chẳng lẽ, bây giờ Kiều lại không bằng họ mà xử chết Hoạn Thư? Rõ ràng, những mệnh lệnh: “Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra” cùng những lời nói đay nghiến, mạnh mẽ: “Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư” chủ yếu là để phủ đầu, khủng bố tinh thần làm cho Hoạn “hồn lạc phách xiêu”. Vì thế, khi đạt được mục đích: Hoạn Thư quỳ lay, xin tha mạng thì không có lý do gì mà Kiều không tha!
       Mặt khác, cách xử án của Kiều là căn cứ vào lời nói và hành động của kẻ thù đối với mình trước đây để luận tội chúng. Bọn tội đồ buôn thịt bán người như Mã Giám sinh, Tú bà, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Bạc bà nàng dựa vào lời thề của chúng mà phán quyết: “Thề sao thì lại cứ sao gia hình”. Còn Hoạn Thư, tuy làm nhục nàng, cứa trái tim nàng rỏ máu nhưng khi Kiều “Cúi đầu quì trước sân hoa” xin cho đi tu, Hoạn đã động lòng: “Rằng: - Tài nên trọng mà tình nên thương” và thu xếp cho Kiều ra ở Quan Âm các trong vườn nhà. Bây giờ, đến lượt Hoạn “khấu đầu dưới trướng” xin tha, chẳng lẽ Kiều không chấp nhận?
      Thêm nữa, Kiều tha cho Hoạn Thư còn là chủ ý của Nguyễn Du. Khi nói về Hoạn, thi nhân không những dùng những lời xưng hô trân trọng: “tiểu thư”, “vốn dòng họ Hoạn danh gia”… mà trước đó, ông để cho Hoạn 5 lần khen Kiều: “Tiểu thư xem cũng thương tài”, “Ví chăng có số giàu sang/ Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên”… Hơn thế, ông còn “gài” cho Hoạn cử chỉ “dung kẻ dưới”, không cho người đuổi bắt khi Kiều cầm theo vàng bạc nhà Hoạn bỏ trốn. Nghĩa là các lớp lang đã được Nguyễn Du dựng sẵn, phiên toà mở ra là Hoạn Thư xuất hiện, biện bạch trơn tru, có lớp có lang, thấu tình đạt lý.
       Cuối cùng, Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa, giàu lòng yêu thương con người. Mặc dù, Truyện Kiều lấy cốt truyện từ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Nguyễn Du đã loại bỏ những chi tiết sa vào chủ nghĩa tự nhiên, gây phản cảm với người đọc. Những cảnh đánh nhau, chết chóc, xử trảm được Thanh Tâm Tài Nhân miêu tả khá kỹ lưỡng trong Kim Vân Kiều truyện được Nguyễn Du loại bỏ hoặc chỉ nêu một cách khái quát bằng một vài câu lục bát. Chẳng hạn, cảnh xử án bọn buôn thịt bán người được Thanh Tâm Tài Nhân miêu tả chi li rùng rợn chiếm gần cả chương nhưng Nguyễn Du chỉ viết có bốn câu: “Lệnh trên truyền xuống nội đao: Thề sao thì lại cứ sao gia hình! Máu rơi thịt nát tan tành/ Ai ai trong thấy hồn kinh phách rời!”.
    Người viết mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các bạn.
Thah
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-01-01 04:57:00lovely_rabbit>
trước giờ, tuy đã được học rất nhiều về truyện Kiều nhưng Thỏ chỉ nghĩ đơn giản, Kiều tha cho Hoạn Thư bởi lời biện minh, kêu ca vô cùng khôn ngoan của Hoạn Thư đánh trúng vào tấm lòng nhân hậu của Kiều. Giờ đây được đọc bài của Thanh Công, Thỏ mới hiểu thếm về nguyên nhân sâu xa Kiều tha tội cho Hoạn Thư. Mong TC có nhiều bài viết hơn nữa về truyện Kiều . Để nối tiếp nội dung này, Thỏ post một bài so sánh đoạn Kiều xử án trong Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và Truyện Kiều của Nguyễn Du để thấy được tài năng của cụ Nguyễn Du, thấy được vì sao 2 tác phẩm có cốt truyện giống nhau nhưng 1 truyện thì chìm vào lãng quên ngay tại quê nhà, còn một truyện thì trở nên bất hủ, để lại dư âm cho ngàn đời




So Sánh Đoạn Trường Tân Thanh và Kim Vân Kiều Truyện
Đối chiếu Đoạn Trường Tân Thanh với Kim Vân Kiều Truyện, ta thấy cụ Nguyễn Du đã giữ nguyên diễn biến câu chuyện. Tuy nhiên, cụ đã lược bỏ rất nhiều chi tiết không cần thiết cho tác phẩm, điển hình là cụ đã bỏ hoàn toàn hồi thứ 6 của Kim Vân Kiều Truyện và tóm lược hồi 5 trong chỉ 20 câu thơ.
Trong một bài biên khảo đăng trong tuyển tập “Nguyễn Du, Tác Giả và Tác Phẩm” do nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành năm 1999 tại Việt Nam [2], các tác giả Nguyễn Thạch Giang, Triệu Ngọc Lan, và Lô Úy Thu đã bỏ công tìm tòi những phần trong Kim Vân Kiều Truyện đã bị cụ Nguyễn Du lược bỏ. Khi so sánh Đoạn Trường Tân Thanh với Kim Vân Kiều Truyện do Xuân Phong Văn Nghệ xuất bản, các tác giả này nhận thấy cụ Nguyễn Du đã loại bỏ 142 trang trên tổng số 214 trang, tức khoảng 2/3 tác phẩm. Cụ chỉ giữ lại 72 trang và dùng các chi tiết trong số trang này để viết thành 1313 câu thơ trong tổng số 3254 câu của Đoạn Trường Tân Thanh. Như vậy, 1941 câu còn lại do chính cụ sáng tác. Thêm nữa, cụ đã loại bỏ khá nhiều nhân vật phụ trong Kim Vân Kiều Truyện cùng các hành động của họ, và nhiều lúc sắp xếp lại các diễn biến để câu chuyện được tự nhiên. Vì vậy, tác phẩm của cụ trở nên chẕt chẽ và lôi cuốn hơn rất nhiều. Điều này minh chứng được rằng Đoạn Trường Tân Thanh không phải chỉ đơn thuần là môt tác phẩm dịch như một số người lầm tưởng.
Trong pham vi hạn hẹp của bài báo, xin mời quý độc giả so sánh sự khác biệt giữa Đoạn Trường Tân Thanh với Kim Vân Kiều Truyện trong một phần khá hấp dẫn của câu chuyện. Đó là phần tả cảnh Kiều dựa vào uy thế của Từ Hải để trừng phạt những kẻ cựu thù. Phần trong Kim Vân Kiều Truyện do ông Tô Nam Nguyễn Đình Diệm chuyển ngữ từ bản A953 nêu trên [4].
·        Cuộc xử oán trong Kim Vân Kiều Truyện:  
... Bấy giờ trong dinh bắt đầu nổi lên một tiếng trống hiệu, bọn lính tay cầm cờ mầu lam hô to lên rằng: Đem bọn phạm nhân lớp một vào hầu. Hạ Báo (một viên tướng của Từ Hải - ghi chú của Ngày Nay) liền dẫn Hoạn thị, Kế thị (tức mẹ của Hoạn Thư), Bạc Bà, Bạc Hãnh vào quỳ dưới sân.
Phu nhân bắt đầu tuyên bố tội trạng: Mụ Bạc Bà kia đẩy người vào trong cạm bẫy, còn tên Bạc Hãnh, bán người lương thiện vào nhà xướng ca. Vậy theo đúng lời thề trước của mi, lấy dao vằm nát thân thể, rồi cho ngựa ăn. Còn mụ Bạc thì đem chẕt đầu bêu lên ngọn cây phía trước.
Bọn đao phủ được lệnh dạ lên một tiếng, tức thì lôi mụ Bạc Bà đem ra chẕt đầu. Còn Bạc Hãnh thì dùng chiếu bó như bó củi, ngoài quấn dây thừng thật chẕt, rồi hai người giữ, một người cầm cưa, cắt từ dưới chân lên đầu thành hơn 100 đoạn. Ghê thay một cái thân hình như vậy mà trong giây phút thịt nát như bùn, người coi ai cũng hoảng hồn chết ngất. Bọn đao phủ vào bẩm đã thi hành xong, phu nhân truyền đem đống thịt trộn lẫn với cỏ để cho ngựa ăn.
Kế đó, gọi đến phạm nhân họ Hoạn. Họan Thư chẳng còn hồn vía, kêu xin phu nhân tha thứ tính mạng kẻ hèn này.
Vương phu nhân rằng: Hoạn tiểu thư, nhà ngươi có nhiều mưu chước hay và cũng có gan nhẫn nại đó. Nhưng mà bất cứ việc gì cũng nên để lại chút tình, thì sau gẕp gỡ khỏi ngượng. Vậy nay ngươi gẕp lại ta, nhất định không thể sống được.
Hoạn Thư khấu đầu lia lịa thưa rằng: Tội của tiện thiếp thực đáng muôn chết, nhưng xin phu nhân nhớ lại trước kia phu nhân viết tờ cung trạng, làm thiếp tôi động mối tình thương, nên đã để phu nhân viết kinh trên Quan Âm Các. Rồi khi phu nhân bước ra khỏi cửa, thiếp chẳng hề đuổi theo. Cái đó đủ biết lòng riêng riêng vẫn kính yêu, chỉ vì thế bất lưỡng cập (tình thế không cho phép đứng đôi), nghĩa là không thể cắt sợi tơ tình chia lòng sủng ái, mà nó xui nên tội lỗi oan gia, dám xin phu nhân xét lại.
Vương phu nhân tỏ vẻ nghĩ ngợi một lát rồi nói tiếp: Ta đây chỉ muốn ăn thịt và lột da ngươi, để tiêu mối hận ngày trước. Nhưng giờ đây, sở dĩ ngươi được thoát chết là lúc ta đi ngươi chẳng đuổi theo, tỏ ý hé mở cửa lồng cho chim bay bổng. Nhưng còn tội sống thì ngươi không thể chối cãi được đâu. Vậy ta hỏi: Bọn sang Lâm Truy bắt ta là những tên nào? Cứ việc khai đúng sự thực, để chúng gánh bớt một phần tội lỗi cho ngươi.
Hoạn Thư cúi đầu thưa rằng: Những kẻ thi hành mưu kế dẫu là Hoạn Khuyển, Hoạn Ưng, nhưng người bầy ra mưu đó chính là tiện thiếp. Bọn chúng chẳng qua chỉ biết theo lệnh mà thôi. Nếu đem chúng ra gánh tội thay thì thiếp không nỡ.
Phu nhân rằng: Thế ra ngươi chính là phụ nữ dám nhận cả phần oan cừu vào mình đó chăng? Rồi nàng gọi quân đao phủ đem bọn Ưng Khuyển ra chém đầu để cảnh cáo những kẻ hào nô (nô bộc của phú hào) khác. Đao phủ dạ ran, lôi tuột hai tên ra chém đầu.
Phu nhân lại truyền tả hữu đem Kế thị ra nọc đánh 30 roi. Quân lính đương sắp ra tay thì Hoạn Thư ôm chầm lấy mẹ xin chịu đòn thay, và mụ quản gia (quản gia nhà mẹ Hoạn Thư, đã giúp đỡ Kiều khi nàng bị bắt về Vô Tích, và được Kiều tẕng 100 lạng vàng, 2000 lạng bạc trong buổi báo ân xử oán - ghi chú của Ngày Nay) cũng vội quỳ xuống thưa rằng: Tội trạng của bà chủ tôi quả thực không thể tha thứ, vậy kẻ tớ già này xin tình nguyện thay chết cho chủ mẫu.
Phu nhân rằng: Thôi thì ta cũng nể lời mụ quản gia tha chết cho thị để mụ nhận lãnh đem đi.
Mụ quản gia tạ ơn rồi đỡ Kế thị ra ngoài dinh trại. Nhưng Kế thị năm ấy tuổi ngoài sáu mươi, lại là một vị nhất phẩm phu nhân, chưa từng gặp cảnh khổ nhục bao giờ mà nay bị bắt từ huyện Vô Tích giải đến, khổ sở biết bao, lại thấy ba quân giết người như rạ, trong khi tuổi nhiều sức yếu, mụ đã khiếp đảm chết ngay tức thì. Mụ quản gia đành ngồi một bên để trông nom thi thể.
Vương phu nhân thấy mụ quản gia đem Kế thị đi rồi, bèn truyền lệnh cho cung nữ đem Hoạn Thư ra, lột trần áo xiêm rồi treo lên đánh 100 trượng.
Cung nữ dạ ran, túm tóc Hoạn Thư lôi ra, lột hết áo quần, chỉ để chừa một cái khố, tóc bị buộc lên xà nhà. Hai tên cung nữ mỗi tên túm một tay để lôi giăng ra, hai tên khác thì cầm vọt ngựa đứng trước và sau, một tên đánh từ trên đánh xuống, một tên đánh từ dưới đánh lên, đánh như con đỉa bỏ trong thùng vôi, con lươn trong vạc nước nóng, luôn luôn dẫy dụa kêu trời. Toàn thân chẳng còn miếng da nào lành lẕn. Sau khi cung nữ báo cáo đủ 100 roi, phu nhân truyền lệnh lôi ra cho Thúc Sinh nhận lãnh.
Cung nữ vâng lệnh, cởi tóc đem Hoạn Thư xuống, lôi ra phía ngoài gọi Thúc Sinh vào nhận. Thúc Sinh tạ ơn xong nhìn đến Hoạn Thư, thấy nàng chỉ còn thoi thóp thì chàng than rằng: Em ơi, chỉ vì cái khiếu thông minh của em đó mà phải rước lấy tai vạ, cầm dao cắt thịt của mình. Rồi một mẕt thu nhận thi thể Kế thị, một mẕt đỡ Hoạn Thư về chạy chữa đến nửa năm trời mới khỏi.
Kế đó Sử Chiêu (một tướng khác của Từ Hải) giải bọn Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh vào dinh.
Phu nhân hỏi: Tú Bà, mi có nhận được ta là ai không?
Tú Bà đáp: Kẻ hèn mọn này không nhận được ạ!
Phu nhân thét bảo: Mi hãy ngóc đầu lên nhìn xem ta là ai?
Quân sĩ dạ ran, túm tóc mụ kéo lật về phía sau. Bấy giờ mụ mới nhận rõ là Vương Thúy Kiều, thì luôn miệng kêu rằng: Tội của kẻ hèn mọn này thật đáng muôn lần bị chết chém. Chỉ xin phu nhân thương cho phần nào.
Phu nhân cười bảo: Lúc này mà mi còn mơ tưởng đến sự sống sao? Lời thề trước ngọn đèn trời ngày xưa hỏi đã tiêu tan thế nào được hử? Quân sĩ đâu, lôi con Tú Bà này ra, lấy dầu vông đun sôi để tẩm vào người, rồi dựng ngược cho đầu xuống đất, chân chổng lên trời, châm lửa đốt như ngọn đèn trời để làm tròn lời thề ngày trước. Mau lên!
Còn tên Mã Bất Tiến (tên thật của Mã Giám Sinh) thì kẹp chân tay vào mảnh gỗ cho căng thẳng ra, rồi rạch da và moi gân khiến cho tứ chi rời rạc, để ứng lời thề của nó. Ngoài ra, lại nấu một nồi dầu thông trộn lẫn với vỏ cây gai, đun thật sôi và lấy thùng nước lã lớn để bên, rồi đem Sở Khanh ra, lột hết áo xiêm, một người thì múc dầu thông đun sôi rưới vào mình hắn, một người thì lấy nước lạnh dội theo.
Quân sĩ được lệnh lôi ba phạm nhân ra ngoài. Tú Bà thì cuốn thành một cây sáp lớn. Phía dưới chỉ lộ cái đầu. Mã Giám Sinh thì bị căng xác. Sở Khanh bị quấn thành một thỏi sắt nguội.
Đoạn rồi phu nhân hô to: “Đốt sáp”, quân sĩ bèn châm lửa vào chân Tú Bà. Mụ mới bị châm một mồi lửa đã kêu đau ầm ĩ. Phu nhân mắng rằng: Mi cũng biết đau ư? Cớ sao ngày trước mi nỡ lòng hủy hoại da thịt người khác? Tú Bà chết ngất, không trả lời được nữa.
Kế đến Mã Giám Sinh, quân sĩ tìm chỗ chùm gân, lấy mũi dao nhọn khoét da, rồi dùng lưỡi câu móc vào đầu gân, dùng sức lôi mạnh một cái. Giám Sinh lập tức chết tươi. Quân sĩ rút thêm ba bốn cái gân nữa làm cho thi thể Giám Sinh rời ra từng mảnh. Phu nhân bèn sai quẳng ra ngoài bể cho cá nóc ăn để báo lại tội bạc tình.
Còn Sở Khanh bị tẩm dầu thông và keo vỏ gai, bên trong tuy vẫn còn sống nhưng bên ngoài không cựa quậy được. Quân sĩ chạy đến bóc lột miếng vỏ gai nơi đầu ra, thì ngoài da đã bị dầu thông ăn loẽn, chẳng cần dùng sức, chỉ tuốt một cái thì lột hết da. Độ nửa giờ sau, thân thể Sở Khanh chỉ còn trơ lại một cục máu đỏ lòm nhưng vẫn còn thoi thóp. Phu nhân lại sai đem nước vôi rưới vào, tức thì toàn thân Sở Khanh nổi lên những cái mụn như là bọt nước. Rồi sau ít phút trở thành mủ, rã thịt lòi xương mà chết thê thảm...
·        Cuộc xử oán trong Đoan Trường Tân Thanh:
Cuộc xử oán dông dài và man rợ trong Kim Vân Kiều Truyện được cụ Nguyễn Du tóm tắt qua 42 câu thơ:
Dưới cờ gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.
Thoạt trông nàng đã chào thưa:
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?
“Đàn bà dễ có mấy tay,
“Đời xưa mấy mẕt, đời này mấy gan?
“Dễ dàng là thói hồng nhan,
“Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.
Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca,
Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,
“Ghen tuông thì cũng người ta thường tình,
“Nghĩ cho khi gác viết kinh,
“Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo,
“Lòng riêng, riêng những kính yêu,
“Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai.
“Trót lòng gây việc chông gai,
“Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”
- “Khen cho thật đã nên rằng
“Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời,
“Tha ra thì cũng may đời,
“Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen.
“Đã lòng tri quá thì nên...”
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
Tạ lòng, lạy trước sân mây,
Cửa viên lại dắt một giây dẫn vào.
Nàng rằng: “Lồng lộng trời cao,
“Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta!”
Trước là Bạc Hãnh, Bạc Bà
Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh.
Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình, còn sao?
Lệnh quân truyền xuống nội đao,
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
Máu rơi thịt nát tan tành,
Ai ai trông thấy, hồn kinh phách rời.
Cho hay muôn sự tại trời,
Phụ người, chẳng bỏ khi người phụ ta!
Mấy người bạc ác tinh ma,
Mình làm mình chịu kêu mà ai thương.
Ba quân đông mẕt pháp trường,
Thanh thiên, bạch nhật rõ ràng cho coi.
 So sánh các đoạn trên trong Kim Vân Kiều Truyện và Đoạn Trường Tân Thanh, ta nhận thấy những điểm nổi bật sau:
- Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Thúy Kiều tha tội hoàn toàn cho Hoạn Thư. Trong Kim Vân Kiều Truyện, Kiều tha tội chết nhưng ra lệnh đánh Hoạn Thư một cách dã man.
- Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Thúy Kiều không sai quân sĩ bắt mẹ Hoạn Thư đem về trị tội như trong Kim Vân Kiều Truyện.
- Cụ Nguyễn Du chỉ tả cảnh xử tội Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hãnh, Bạc Bà, và Ưng, Khuyển một cách vắn tắt chứ không chi tiết và tàn nhẫn như trong Kim Vân Kiều Truyện. Qua ngòi bút của cụ Nguyễn Du, chúng ta cảm thấy đồng tình với Kiều khi nàng tha bổng Hoạn Thư nên không phê phán nàng nẕng nề khi nàng trả thù những nhân vật khác. Trái lại, khi đọc Kim Vân Kiều Truyện, có lẽ người đọc phải chau mày và có ý niệm chán ghét Kiều trước cách trừng trị dã man, tàn bạo, thiếu nhân tính nàng áp dụng đối với kẻ thù.
Ngoài phần xử oán vừa kể, trong toàn bộ câu chuyện, rất nhiều lần cụ Nguyễn Du đã loại bỏ những sự kiện có hại đến nhân phẩm của Thúy Kiều, và cả của các nhân vật quan yếu trong Kim Vân Kiều Truyện như Từ Hải và Kim Trọng. Điều này là một trong những yếu tố khiến chúng ta yêu thương những nhân vật này hơn.
***
Khi viết Đoạn Trường Tân Thanh, ngoài việc lược bỏ những đoạn hoẕc rườm rà hoẕc không cần thiết trong Kim Vân Kiều Truyện, cụ Nguyễn Du đã chứng tỏ biệt tài trong việc sử dụng ngôn ngữ qua những đoạn tả cảnh, tả tình, tả tình trong cảnh, tả cảnh trong tình; cũng như đã thành công trong việc miêu tả nhân vật và tô đậm cá tính nhân vật với chỉ vài câu thơ. Thêm nữa. cụ cũng đã trang bị cho các nhân vật một đời sống nội tâm phong phú với những suy tư, những khao khát, những rung động phù hợp với con người của họ theo từng hoàn cảnh của câu chuyện. Đây là những điều Thanh Tâm Tài Nhân đã thiếu xót khi sáng tác Kim Vân Kiều Truyện.
Chính tài nghệ của cụ Nguyễn Du đã cắt nghĩa được tại sao hai tác phẩm kể cùng một câu chuyện lại có hai số phận khác nhau. Một bên nhanh chóng chìm vào quên lãng ngay chính trên quê hương của nhân vật trong truyện, một đằng vừa xuât hiện đã được quần chúng mở rộng vòng tay đón nhận và trở thành tác phẩm bất hủ của dân tộc.
 (Báo Ngày Nay số 512, phát hành ngày 1 tháng 10 năm 2003)



TRƯỜNG SA VÀ HOÀNG SA_ MẢNH ĐẤT MÁU THỊT CỦA VIỆT NAM
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-05 11:15:36Leo*>
Trích đoạn: Thanh Công

VÌ SAO KIỀU THA CHO HOẠN THƯ

       Trong mười lăm năm lưu lạc, kể từ khi phải bán mình chuộc cha, rơi vào tay Mã Giám sinh-Tú Bà, làm gái thanh lâu cho đến khi được Từ Hải giải cứu, Thuý Kiều đã trải qua bao ê chề nhục nhã. Hoan Thư là một trong những kẻ gây cho nàng bao đau đớn, tủi nhục. Hoạn đã đẩy Kiều từ địa vị người vợ thành con ở, từ quan hệ thiếp-chàng thành quan hệ con ở-chủ nhà. Trong bữa tiệc mừng vợ chồng tái ngộ, Hoạn không chỉ bắt Kiều hầu rượu còn bắt Kiều gãy đàn để Hoạn được hả dạ từ tiếng đàn trách móc, ai oán của Kiều, từ tiếng sụt sùi của Thúc Sinh. Vì thế: “Cũng trong một tiếng tơ đồng/ Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”.
        Hoạn Thư hành hạ Kiều và Thúc Sinh là để trả thù Thúc Sinh dám qua mặt  thị lấy vợ lẽ không khai báo, không xin phép, là để thoả mãn cái ghen “sâu sắc nước đời” có một không hai của thị. Hoạn đã bộc bạch động cơ của mình: “Làm cho cho mệt cho mê/ Làm cho đau đớn ê chề cho coi/ Trước cho bỏ ghét những người/ Sau cho để một trò cười về sau”. Chính người đàn bà “Nham hiểm giết người không dao” này đã biến Thúc sinh thành kẻ bội tình, bỏ mặc Kiều bơ vơ, đơn độc trước hàng hùm, miệng sói. Do đó, khi được Từ Hải giúp mở phiên toà công lý, Kiều đã nói rõ nỗi căm giận Hoan chất chứa bấy lâu trong lòng mình với Thúc Sinh: “Vợ chàng quỷ quái tinh ma/ Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau/ Kiến bò miệng chén chưa lâu/ Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa!”. Kẻ bị trừng trị đầu tiên là Hoạn Thư. Kiều gọi thị là “chính danh thủ phạm”. Kiều cũng dùng thủ đoạn “nói cười” năm xưa của Hoạn để hành hạ thị: “Thoắt trông nàng đã chào thưa: - Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?”. Nhưng rồi, cơn tức giận dâng trào khiến giọng Kiều trở nên đay nghiến, chì chiết: “Đàn bà dễ có mấy tay?/ Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?/ Dễ dàng là thói hồng nhan/ Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!”. Tưởng như Kiều sắp ra lệnh tùng xẻo Hoạn. Thế mà sau khi nghe thị “chối tội”, Kiều đã tha bổng: “Truyền quân lệnh, xuống tướng tiền tha ngay”. Do đâu mà Kiều có hành động lạ lùng, mâu thuẫn như thế?
       Nhiều bài viết trước đây cho rằng, Hoạn Thư thoát chết là nhờ Hoạn có những “chước lạ đời” của kẻ “quỷ quái tinh ma”, “sâu sắc nước đời”. Hoạn đã dùng lời nguỵ biện “tinh ma” để cứu mình. Đầu tiên, Hoạn “lôi” Kiều từ ghế quan toà xuống ghế giới tính để đồng cảm cùng với cái ghen của giới nữ: “Rằng: - Tôi chút phận đàn bà/ Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”. Tôi là đàn bà, cô cũng là  đàn bà. Đàn bà ai chả ghen tuông khi chồng mình “có cam phụ quýt, có người phụ ta”. Bởi vậy, cái nghen của tôi cũng “thường tình” như cái ghen của bao nhiêu người đàn bà khác. Không để Kiều có thời gian suy nghĩ, nhận ra kiểu “lập lờ đánh lận con đen” của mình, giọng cầu khẩn của Hoạn gấp gáp, nhịp thơ 1/5, 4/4 dồn dập. Rồi Hoạn chuyển nhanh sang kể lể một cách chậm rãi, tỉ mỉ công lao của mình với Kiểu trước đây: “Nghĩ cho khi gác viết kinh/ Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo”, cũng như lòng ngưỡng mộ và trân trọng tài sắc của Kiều: “Lòng riêng riêng những kính yêu”. Nhưng vì cảnh “chồng chung” nên lỡ gây ra sai sót, khuyết điểm nhỏ nay cúi đầu  xin bậc đại nhân có tấm lòng bao dung như trời biển rộng lượng tha thứ cho: “Trót đà gây việc chông gai/ Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”. Lý lẽ Hoạn Thư đưa ra vàng thau lẫn lộn. Có việc Hoạn lập lờ “đánh lận con đen”, có  việc Hoạn đã nương tay với Kiều sau khi đã thoả mãn cơn ghen, đạt được mục đích như bố trí cho Kiều ra ở Quan Âm các sau nhà hay khi Kiều trốn khỏi nhà mang theo chuông vàng khánh bạc nhưng thị không cho người truy đuổi, bắt về. Cách lý giải như vậy, đúng nhưng chưa đủ, chưa thật sự căn cứ vào tính cách nhân vật và chỉnh thể của tác phẩm. Ngoài nguyên nhân dễ thấy, hiển hiện một cách tường minh trong cảnh báo ân báo oán, theo chúng tôi còn có những nguyên nhân sâu xa sau:
Trước hết, Kiều là một con người giàu lòng nhân ái, luôn hy sinh bản thân vì người khác. Nàng than khóc cho thân phận “hồng nhan bạc mệnh” của Đạm Tiên; nàng bán mình cứu cha và nhờ em nuối lời với Kim Trọng… Ngay những ngày “hương lửa đương nồng”cùng Thúc Sinh, Kiều luôn nghĩ vì mình mà người vợ cả của Thúc thua thiệt nên nhiều lần khuyên nhủ Sinh về nói rõ sự tình với vợ cả: “Xin chàng kíp liệu lại nhà/ Trước người đẹp ý, sau ta biết tình”. Kiều biết mình với Thúc chỉ là “chút nghĩa đèo bồng” và sẵn sàng chấp nhận những cơn phẫn nộ lôi đình của Hoạn: “Dù khi sóng gió bất bình/ Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi”. Do đó, dù bị Hoạn sai người bắt về hành hạ đủ điều nhưng Kiều vẫn thấy mình là người có lỗi, là nguyên nhân dẫn đến những hành động ghen tuông của thị. Hơn thế, Kiều là người dám nhận tội và sẵn sàng chịu tội. Trước đây, khi Tú Bà bắt làm gái thanh lâu, Kiều đã phản ứng quyết liệt bằng hành động rút dao quyên sinh. Nhưng khi bị mắc mưu, chạy trốn cùng Sở Khanh, trái lời hứa với Tú Bà, nàng đã nhận tội và chấp nhận làm gái thanh lâu: “Thân lươn bao quản lấm đầu/ Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”. Hoặc khi chung sống với Thúc Sinh, bị Thúc ông kiện, viên quan “mặt sắt đen sì” xử phạt rất nặng nhưng nàng vẫn cắn răng chịu đựng: “Phận đành chi dám kêu oan/ Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày”… Mặt khác, dù bị Thúc ông kiện, viên quan xử “phép gia hình” hay bị Hoạn Thư chìa lìa tình ái và đày đoạ đủ điều nhưng cuối cùng Kiều đều được tha và mở ra con đường sống. Chẳng lẽ, bây giờ Kiều lại không bằng họ mà xử chết Hoạn Thư? Rõ ràng, những mệnh lệnh: “Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra” cùng những lời nói đay nghiến, mạnh mẽ: “Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư” chủ yếu là để phủ đầu, khủng bố tinh thần làm cho Hoạn “hồn lạc phách xiêu”. Vì thế, khi đạt được mục đích: Hoạn Thư quỳ lay, xin tha mạng thì không có lý do gì mà Kiều không tha!
       Mặt khác, cách xử án của Kiều là căn cứ vào lời nói và hành động của kẻ thù đối với mình trước đây để luận tội chúng. Bọn tội đồ buôn thịt bán người như Mã Giám sinh, Tú bà, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Bạc bà nàng dựa vào lời thề của chúng mà phán quyết: “Thề sao thì lại cứ sao gia hình”. Còn Hoạn Thư, tuy làm nhục nàng, cứa trái tim nàng rỏ máu nhưng khi Kiều “Cúi đầu quì trước sân hoa” xin cho đi tu, Hoạn đã động lòng: “Rằng: - Tài nên trọng mà tình nên thương” và thu xếp cho Kiều ra ở Quan Âm các trong vườn nhà. Bây giờ, đến lượt Hoạn “khấu đầu dưới trướng” xin tha, chẳng lẽ Kiều không chấp nhận?
      Thêm nữa, Kiều tha cho Hoạn Thư còn là chủ ý của Nguyễn Du. Khi nói về Hoạn, thi nhân không những dùng những lời xưng hô trân trọng: “tiểu thư”, “vốn dòng họ Hoạn danh gia”… mà trước đó, ông để cho Hoạn 5 lần khen Kiều: “Tiểu thư xem cũng thương tài”, “Ví chăng có số giàu sang/ Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên”… Hơn thế, ông còn “gài” cho Hoạn cử chỉ “dung kẻ dưới”, không cho người đuổi bắt khi Kiều cầm theo vàng bạc nhà Hoạn bỏ trốn. Nghĩa là các lớp lang đã được Nguyễn Du dựng sẵn, phiên toà mở ra là Hoạn Thư xuất hiện, biện bạch trơn tru, có lớp có lang, thấu tình đạt lý.
       Cuối cùng, Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa, giàu lòng yêu thương con người. Mặc dù, Truyện Kiều lấy cốt truyện từ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Nguyễn Du đã loại bỏ những chi tiết sa vào chủ nghĩa tự nhiên, gây phản cảm với người đọc. Những cảnh đánh nhau, chết chóc, xử trảm được Thanh Tâm Tài Nhân miêu tả khá kỹ lưỡng trong Kim Vân Kiều truyện được Nguyễn Du loại bỏ hoặc chỉ nêu một cách khái quát bằng một vài câu lục bát. Chẳng hạn, cảnh xử án bọn buôn thịt bán người được Thanh Tâm Tài Nhân miêu tả chi li rùng rợn chiếm gần cả chương nhưng Nguyễn Du chỉ viết có bốn câu: “Lệnh trên truyền xuống nội đao: Thề sao thì lại cứ sao gia hình! Máu rơi thịt nát tan tành/ Ai ai trong thấy hồn kinh phách rời!”.
    Người viết mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các bạn.



Leo chỉ góp ý  là vì sao Kiều tha cho Hoạn Thư như ý của Thanh Công.Qua những bài cung cấp của Thỏ với Thanh Công thì Leo nghĩ rằng cái Quả tuỳ vào cái Nhân. Thâm Tâm Tài Nhân đưa ra những hình ảnh hết sức "khủng khiếp, dã man" cho nên nói đến một sự tha thứ dễ dàng e rằng cũng khó. Và thuờng tác phẩm cũng phản ảnh cái nhìn và cái Tâm của tác giả. Nếu như Leo nói lên một ý nghĩ thế này, rằng cụ Nguyễn Du cũng không chịu đựng nổi khi những hình ảnh man rợ xuất hiện của Kim Vân Kiều Truyện. Để hiểu thêm tại sao Kiều tha cho Hoạn Thư thì tại sao chúng ta thử đứng về phía Hoạn Thư nhé :
 

M ột bi hài kịch chống tục đa thê
 
Hoạn Thư là một nhân vật trong "Đoạn Trường Tân Thanh" của Nguyễn Du (1765-1820), cốt chuyện dựa vào quyễn "Kim Vân Kiều" của Thanh Tâm Tài Nhân, mà nhân dịp đi sứ ở Trung Hoa (1813) cụ đã đem về nước. Đầu đuôi chuyện Hoạn Thư đánh ghen Kiều thế nào? Tưởng có thể tóm lược lại như sau:
Vương viên ngoại có hai gái Thúy Kiều và Thúy Vân rất đẹp. Nhân tiết thanh minh, Kim Trọng gặp Kiều, cả hai "tình trong như đã, mặt ngoài còn e ". Kim Trọng liền mượn cớ du học thuê nhà cạnh vườn họ Vương. Kiều và Kim Trọng có dịp hội ngộ, trao tặng thoa và quạt làm tin.
Cha mẹ và cả nhà về quê ngoại, Kiều cáo bệnh không đi, đêm sang nhà Kim Trọng, cùng thề ước sẽ lấy nhau. Bất ngờ Kim Trọng phải về Liêu Dương phục tang. Trong lúc ấy, nhà họ Vương mắc nạn. Kiều quyết hy sinh bán mình cho Mã Giám Sinh để có tiền chuộc cha, rồi nhờ em là Thúy Vân thay nàng đáp tình Kim Trọng.
Mã Giám Sinh lừa Kiều đưa vào lầu xanh. Kiều không chịu, bị Tú Bà đánh đập, nàng rút dao tự tử nhưng không chết. Tú Bà lo thuốc men, hứa gả chồng cho nàng. Kiều mắc mưu Sở Khanh dẫn đi trốn, bị Tú Bà bắt lại đánh đòn tàn nhẫn, cuối cùng nàng phải chịu tiếp khách.
Thúc Sinh đã có vợ là Hoạn Thư, con quan Lại bộ, nhưng chàng lấy cớ theo cha kinh doanh, để đi xa vợ cho được tự do ăn chơi. Thúc Sinh đến lầu xanh gặp Kiều, nghe nàng đàn và họa thơ, thì say mê, bỏ tiền chuộc ra. Thúc ông biết con trai ăn ở với một gái giang hồ liền làm đơn kiện. Quan phủ xử phạt Kiều phải chọn hai điều: "Một là cứ phép gia hình. Một là lại cứ lầu xanh phó về". Kiều xin chịu "gia hình" bị đánh roi, nhất quyết không thuận trở về lầu xanh. Thúc Sinh thấy Kiều bị đòn tơi tả, động lòng khóc rằng: "Kiều đã nhiều lần khuyên chàng phải về xin phép cha và vợ cả, vì chàng không chịu nghe nên mới xảy ra oan khốc này!" Quan phủ hỏi lại nguồn cơn, rồi khen rằng: "Trăng hoa song cũng thị phi biết điều! " Lại nghe Kiều có ăn học, nên bảo làm một bài thơ vịnh cái gông mà Kiều đang mang ở cổ. Kiều tuân lệnh, làm xong trình lên, phủ đường khen hay và khuyên cha Thúc Sinh: "Ngoài thì là lý, song trong là tình", rồi truyền cho phép Thúc Sinh cưới Kiều làm bé. Thương vì nết, trọng vì tài của Kiều, Thúc ông chấp thuận.
Vợ Thúc Sinh là Hoạn Thư, vốn con nhà quan, phong cách lịch sự, khôn ngoan:
Ở ăn thì nết cũng hay,
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già.
Nàng ứng xử khéo léo, đúng khuôn phép, nhưng khi cần ra tay đối phó, nàng cũng thừa đủ mưu chước, thủ đoạn để làm cho ra lẽ mới thôi.
Thúc Sinh vắng nhà đã một năm. Trong thời gian ấy, nghe được tin chồng lấy Kiều, miệng người đã lắm, tin nhà thì không, Hoạn Thư vẫn nhẫn nhịn, nhưng càng nhẫn nhịn, càng thấy căm tức, đau khổ. Nàng cho đó là trò trẻ con, làm sao Thúc Sinh có thể giấu được mãi. Nếu Thúc Sinh biết điều, xin phép, nàng cũng sẽ ưng thuận, để tỏ ra là một chính thất hiền đức, khoan dung.
Thế kẹt của Hoạn Thư
- Tuy vậy, là người khôn ngoan, hiểu biết, Hoạn Thư hẳn cũng thấy rằng mình hiện đang ở vào thế kẹt lớn: Cha Thúc Sinh và quan trên đã chính thức cho phép Thúc Sinh cưới Kiều rồi. May mà Thúc Sinh hèn nhát, quen thói sợ vợ, nên chưa dám nghĩ đến việc cùng cha đưa Kiều về nhà nàng. Nếu ở trường hợp ấy, nàng cũng khó mà từ chối.
Hoạn Thư lại còn bị một thế kẹt nữa là nàng không có con. Đó là một cớ trong "thất xuất" ngày xưa để người đàn ông ly dị vợ (không con, dâm đãng và biếng nhác, bất hiếu với cha mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp, ghen tuông, có ác tật). Đã không con mà còn cản không cho chồng lấy vợ bé để có con thừa tự nhà chồng, là bất hiếu ("Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" : có ba điều bất hiếu với cha mẹ, mà điều lớn nhất là"vô hậu", không có con nối dòng). Rồi nếu sinh chuyện gây gổ, hành hung thì còn bị ghép vào tội ghen tuông trong "thất xuất" nữa.
Cho nên, Hoạn Thư phải làm cách nào tránh không để cho ai có thể buộc mình vào các tội bất hiếu, ghen tuông thất lợi cho nàng. Điều đó cũng không khó khăn gì cho lắm, vì nàng vốn là con nhà nề nếp, có ghen cũng không dại gì ra mặt đánh ghen một cách lỗ mãng vũ phu, đã trái với gia phong, mà còn rước tiếng ghen vào người, cho thiên hạ cười chê. Điều khó, là Hoạn Thư phải làm sao cho Thúc Sinh phải tiếp tục giấu.
Làm cho Thúc Sinh tiếp tục giấu, tức là chàng không mở miệng xin lấy Kiều, Hoạn Thư sẽ có thời gian dùng tình cảm lôi kéo chồng, làm cho chồng quên Kiều mà trở lại với nàng.
Giải pháp tình cảm
- Về phần mình, Hoạn Thư cũng giấu không cho ai biết là nàng đã biết việc Thúc Sinh lấy Kiều. Trái lại, nàng cố làm cho mọi người tưởng nàng đã triệt để tin vào lòng thủy chung của Thúc Sinh. Thủ hạ đứa nào báo tin Thúc Sinh có vợ bé, đều bị Hoạn Thư sai vả miệng bẻ răng. Sau một năm, theo lời Kiều khuyên, Thúc Sinh về nhà, định bụng xin phép cưới Kiều. Hoạn Thư dư biết, song không gây gổ, giận dữ, hay tra gạn gì, mà vẫn một mực vui vẻ, chiều chuộng, âu yếm, tỏ ra tin yêu, quí trọng chồng. Nàng còn cho Thúc Sinh biết ở nhà thiên hạ xấu miệng dèm pha chàng có vợ bé, mà nàng đâu có tin những lời xuyên tạc vu vơ ấy. Nàng không để cho bị lung lạc, làm tổn thương đến tình nghĩa vợ chồng, để phải mang tiếng xấu chung. Thúc Sinh thấy vợ không nghi ngờ gì, thì:
Nghĩ đà bưng kín miệng bình.
Nào ai có khảo mà mình lại xưng!
Nhưng suốt một năm trời nàng tận lực dùng tình cảm giành lại chồng mà vẫn vô hiệu quả. Trái lại, Hoạn Thư nhận thấy Thúc Sinh càng ngày càng tưởng nhớ, yêu thương Kiều.
Một năm trời nàng và Thúc Sinh sống với nhau có vẻ êm ấm, thuận hòa, đó chỉ là một cảnh "đồng sàng dị mộng", gần gũi xác thân mà không hảo hợp tâm hồn, ngàn lần sầu thảm, thê thiết, tủi thân hơn cả cảnh chồng lén đi khuất mắt ở riêng với vợ bé nào đó!
Giải pháp cứng rắn
- Nhu không được thì phải cương. Bây giờ phải cứng rắn đối phó thế nào làm cho Thúc Sinh và Kiều phải xa nhau: Hoặc làm cho Kiều biến đi, hoặc làm Kiều tự ý bỏ đi.
1- Làm cho biến đi
tức là làm cho mất tích, không tìm ra được, hay "thủ tiêu" (ám sát) như trong cổ tích "Vợ hai ghen ngược vợ cả" sau đây:
"Xưa có một người lấy hai vợ. Hai người ngày nào cũng cãi nhau, đánh nhau, chồng không sao chịu được, cho mỗi người ở riêng một nhà, nhưng không cách xa nhau mấy. Có một thời gian, người chồng đi buôn bè vắng, vợ cả nghe thấy vợ hai ở bên nhà nghêu ngao hát rằng: "Chồng chung, chồng chạ, ai khéo hầu hạ, thì được chồng riêng! Chi mà sợ, chi mà kiêng!" Vợ cả biết nó gây sự với mình, tuy tức giận như vẫn làm thinh không nói năng gì.
Hôm sau về nhà kể chuyện cho mẹ, cho em nghe. Mẹ khuyên: "Một sự nhịn là chín sự lành. Con đừng đối đáp nó làm gì. Đợi chồng con về sẽ hay!" Em gái cũng bảo rằng: "Cần chi phải để tâm. Người ta thường nói: Dù anh năm bảy nàng hầu, Em đây cũng cứ ngồi đầu chính thê". Vợ cả nghe mẹ, em nói như thế, nên không gây gổ gì với vợ hai.
"Không ngờ vợ hai lại thuê côn đồ bắt vợ cả đem đi giết chết, chôn một nơi, rồi sẵn có thây chết trôi sông, chúng lôi bỏ vào nhà vợ cả phóng lửa đốt cháy. Sau chồng về, tưởng vợ cả bị chết vì nhà cháy, rất thương xót, không nghi ngờ gì.
"Một hôm ngồi trong hiên trông ra, vợ hai đang giặt áo quần ngoài ao, bỗng có con xanh xanh bay đến đậu trên cây hót to lên:
Phơi áo chồng tao thì phơi trên sào,
Đừng phơi hàng rào, tao cào mặt ra.
"Người chồng nghe phảng phất như tiếng vợ cả xưa, liền đến gốc cây, rũ tay áo ra nói rằng:
Xanh xanh kia hỡi xanh xanh!
Có phải vợ anh, chui vào tay áo!
"Thì quả nhiên chim xanh xanh bay vào trong tay áo thật, rồi một chốc biến đâu mất. Người chồng nghi ngờ, đem vợ hai ra tra khảo. Vợ hai phải thú tội, rồi sợ quá, đến đêm ra đâm đầu xuống ao tự tử." (1)
Nhưng Hoạn Thư không giết Kiều như ở cổ tích nầy, nhưng...
2- Làm cho Kiều tự ý bỏ đi,
là chủ đích trọng yếu của Hoạn Thư. Trong kế hoạch nầy, đoạn đầu, (phải chăng do một trùng hợp nào?) lại giống như cốt truyện trong cổ tích trên, nhưng khác nhau là sau khi bắt cóc xong, nàng không giết Kiều mà tìm cách làm cho Kiều và Thúc Sinh phải bị nhục nhã, ê chề cho hả dạ trước đã:
Làm cho nhìn chẳng được nhau
Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên
Làm cho trông thấy nhãn tiền
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay!
Nàng mớm ý cho Thúc Sinh nên về Lâm Tri thăm cha cho phải đạo làm con. Khi Thúc Sinh vừa ra khỏi nhà, Hoạn Thư liền về bàn với mẹ sai hai tên Khuyển và Ưng đi đường tắt đến bắt cóc Kiều. Xong, đốt nhà, ném một thây chết vô chủ vào lửa để phi tang, xông thuốc mê cho Kiều ngất đi, nhưng không đem Kiều về nhà Hoạn Thư ngay cho khỏi bị lộ, mà đem về nhà mẹ nàng.
Khi Kiều tỉnh dậy, mẹ của Hoạn Thư tra gạn lý lịch, Kiều vừa khai vốn là con nhà khá giả... thì bà liền cắt lời, quát mắng Kiều là đồ "trốn chúa lộn chồng" mà đến đây còn phách lối, và sai đánh 30 gậy để cho "biết tay một lần", rồi đổi tên Kiều ra "Hoa Nô" (đứa ở gái), ghép vào hàng tôi tớ trong nhà. Mụ quản gia thương tình thuốc men, an ủi và dặn Kiều rằng:
Ở đây tai vách mạch rừng,
Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi!
Mấy ngày sau, Hoạn Thư đến thăm mẹ, nói cần một nữ tỳ. Bà mẹ sai Hoa Nô qua nhà Hoạn Thư giúp việc. Một hôm, Hoạn Thư hỏi Kiều nghề chơi biết được môn gì? Kiều thưa biết chơi hồ cầm. Nàng đưa đàn cho Kiều gảy. Nghe tiếng đàn:
Nỉ non, thanh thót, dễ say lòng người!
Tiểu thư xem cũng thương tài,
Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.
Bản Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử (2) cũng kể như vậy, nhưng nói rõ hơn là "Tiểu thư nghe xong tỏ ý vui mừng, bảo ngươi đã giỏi ngón đàn, vậy thì từ đây về sau cứ ở bên ta, để lúc thư nhàn giúp thêm cảm hứng, khỏi phải ở lẫn trong đám tôi đòi như trước. Kiều ngỏ lời cảm tạ tiểu thư có lòng cất nhắc, từ hôm ấy, ngày đêm được ở bên cạnh tiểu thư, nhờ có cung đàn cũng tạm bớt được nỗi bất bình".
Thúc Sinh khi về thăm cha, thấy Kiều bị thiệt mạng vì nhà cháy, buồn rầu, than khóc một thời gian, rồi trở về quê. Hoạn Thư vồn vã đón Thúc Sinh vào nhà. Vợ chồng hàn huyên xong, Hoạn Thư cho gọi Hoa Nô ra chào ông chủ. Kiều sửng sốt, không ngờ đây là Thúc Sinh, biết ngay mình đã bị sa vào tròng rồi. Sực nhớ đến lời dặn của mụ quản gia, Kiều đành phải cúi đầu quì xuống thi lễ. Thúc Sinh chợt nhìn thấy Kiều thì phách lạc hồn xiêu, thấy mình đã bị mắc mưu Hoạn Thư, biết làm sao mà cứu nhau được, quá xúc động nước mắt tuôn ra tràn trề.
Hoạn Thư gạn hỏi:
- Mới về mà chàng có việc gì phải động lòng như thế?
Thúc Sinh dối rằng:
- Vì mẹ mất sắp hết tang, bỗng nhớ lại thân mẫu ngày trước mà ứa lệ.
Hoạn Thư rằng: Nếu quả những giọt nước mắt của chàng vì thương thân mẫu nên mới trào ra, thực cũng đáng khen là bậc hiếu tử! Vậy thiếp xin bày tiệc rượu "tẩy trần" để chàng giải khuây (tiệc mừng "rửa bụi" cho người đi đường xa đến thăm).
Rồi : Vợ chồng chén tạc, chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan, bắt nhặt đến lời,
Bắt quì tận mặt, bắt mời tận tay.
Thúc Sinh : ...Lại càng như dại, như ngây,
Giọt dài, giọt ngắn, chén đầy, chén vơi.
Ngảnh đi, chợt nói, chợt cười,
Cáo say, chàng đã tính bài lảng ra.
Thúc Sinh thấy không sao chịu nổi, muốn xô bàn rượu mà ôm lấy Kiều để khóc rống lên, nhưng... sợ vợ, nên không dám. Hoạn Thư thì cứ ngọt ngào mời mọc, mà chàng thì một mực cứ chối từ. Hoạn Thư liền thét bảo Kiều:
Khuyên chàng chẳng cạn, thì ta có đòn!
Thúc Sinh rụng rời chân tay, đành phải gắng uống cho hết một chén to đầy rượu. Tiệc chưa xong, Hoạn Thư đã bày ra trò khác: bảo Kiều đem đàn ra gảy cho Thúc Sinh nghe:
Bốn giây như khóc, như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ,
Người trong khóc thầm!
Hoạn Thư lại quát mắng:
- Hoa Nô! Tiệc vui mà ngươi lại đàn bài đoạn trường. Sao chẳng biết ý tứ gì? Làm cho ông buồn, tội ngươi khó tha!
Thúc Sinh kinh hãi sợ Kiều bị hành hạ,vội vàng gượng nói, gượng cười cho qua... Tấn bi hài kịch kéo dài mãi đến canh ba:
Tiểu thư nhìn mặt, dường đà cam tâm,
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm :
"Vui nầy đã bõ đau ngầm xưa nay!".
Hoạn Thư đau khổ suốt hai năm trời, nay chỉ đứng đạo diễn tấn bi hài kịch nầy chưa trọn một đêm mà đã hả lòng. Nhưng nàng lại thấy rằng để Thúc Sinh và Kiều ở gần nhau mãi cũng rắc rối. Phải làm thế nào cho Kiều tự ý bỏ đi, không đợi nàng mở miệng xua đuổi.
Thế rồi, thường thấy đôi mắt Kiều sưng và đầy nước mắt, Hoạn Thư bảo Thúc Sinh tra khảo vì nguồn cơn gì ? Kiều viết tờ khai, đại ý nói quê nàng ở Bắc kinh, vì cha bị oan khiên, phải bán mình và bị lừa vào thanh lâu, có người chuộc ra làm vợ, rồi chồng đi vắng bị bắt đưa vào cửa nhà quan... buồn khổ, mong được vào chùa tu cho nhẹ nợ trần. Đọc tờ khai xong, Hoạn Thư:
Dường có ngẩn ngơ chút tình.
Rằng: Tài nên trọng, mà tình nên thương!
Ví chăng có số giàu sang,
Giá nầy dẫu đúc nhà vàng cũng nên.
Bể trần chìm nổi thuyền quyên,
Hữu tài, thương nỗi vô duyên lạ đời!
Hoạn Thư đồng ý cho Hoa Nô vào Quan Ä‚m các sau vườn để chép kinh.
Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Tử, cũng kể y như thế, song đầy đủ chi tiết hơn: "Hôm sau, Thúc Sinh cùng Hoạn Thư tắm gội trai giới, cùng lên kiệu để tiễn Thúy Kiều vào Quan Ä‚m các. Nàng toan thi hành đại lễ (bái phục), tiểu thư rằng: "Bây giờ ngươi đã là hạng thượng nhân (tu đạo), chép kinh thay ta để tròn ý nguyện, tức là đệ tử của Phật, không cần thi hành đại lễ ấy nữa". Hoạn Thư khấn rằng: "Trước kia đã hứa sao lục bộ Hoa Nghiêm kinh, nay xin..." Vừa khấn đến hai tiếng trên, thì tiểu thư bỗng nhiên ngừng lại, quay hỏi Thúc Sinh: "Trước đức Bồ Tát mà nói hoa nô (đứa ở gái) chép thay, há chẳng khinh nhờn quyển kinh đó sao?" Thúc Sinh đáp: "Nếu nói về danh phận người chép kinh, thì nên xưng là cúng dạng mới phải." Hoạn Thư nói: "Nghĩ nên thay cho nàng một đạo hiệu gì?" Thúc Sinh nhìn trên biển treo thấy có hai chữ "Trạc Tuyền" bèn bảo vợ: "Thôi lấy hai chữ ấy đặt đạo hiệu cho nàng". Hoạn Thư khấn tiếp: "Nguyên trước đệ tử hứa chép bộ Hoa Nghiêm kinh, nay đặc biệt trao cho cúng dạng Trạc Tuyền, một tay sao lục, hôm nào hoàn thành, xin tu bổ công đức". Khấn xong Hoạn Thư truyền bảo hai nữ tỳ Xuân Hoa, Thu Nguyệt rằng: "Chép kinh không phải công việc tầm thường, hai ngươi phải siêng năng phục dịch, nếu có lỗi lầm, khi ta xét thấy, nhất định sẽ trị tội nặng." Hai thị nữ cúi đầu vâng dạ. Đoạn hai vợ chồng Thúc Sinh quay ra. Thúy Kiều toan đi tiễn chân. Hoạn Thư bảo: "Thôi, cứ ở lại chép kinh, đừng câu nệ lễ nghi lai vãng." (3)
Rồi Hoạn Thư tạo hoàn cảnh cho Kiều bỏ trốn. Nàng tuyên bố về thăm mẹ. Thúc Sinh tưởng thật, lén đến chùa cùng Kiều kể lể, than khóc dông dài. Kiều hỏi có cách gì cứu nàng không? Thúc Sinh chỉ trả lời:
Liệu mà xa chạy, cao bay,
Ái ân ta có ngần nầy mà thôi!
Vừa lúc đó, Hoạn Thư bước vào, cười cười nói nói ngọt ngào, hỏi Thúc Sinh "mới ở chốn nào lại đây?" Thúc Sinh đáp đi dạo ngắm hoa, quá bước tạt vào coi viết kinh thế nào.
Hoạn Thư liền cầm bản chép kinh xem:
Khen rằng: Bút pháp đã tinh,
So vào với thiếp Lan-đình, (4) nào thua!
Tiếc thay lưu lạc giang hồ,
Nghìn vàng thật cũng nên mua lấy tài!
Hoạn Thư và Thúc Sinh ra về, Kiều hỏi hai tỳ nữ Hoạn Thư đến lúc nào? Đáp bà đến đã lâu, núp nghe câu chuyện giữa hai người từ đầu chí cuối. Kiều sợ hãi vô cùng, nghĩ rằng Hoạn Thư quả là một con người rất thâm độc, ở lâu chắc khó toàn tánh mạng. Câu "liệu mà xa chạy cao bay!" của Thúc Sinh lại hiện ra trong trí nàng. Phải, nàng phải tìm cách trốn thoát ra khỏi nơi nầy mới yên thân, nhưng đất khách quê người, ra đi tay không, ai mà chứa chấp? Buộc lòng nàng phải lấy trộm các đồ thờ bằng vàng, bạc trên bàn Phật đem theo hộ thân. Rồi thừa lúc hai nữ tỳ ngủ say, Kiều leo tường trốn đi. Nhưng Hoạn Thư bỏ qua, không cho người lùng bắt Kiều.
*
Về đòn ghen của Hoạn Thư, Nguyễn Du cho đó là một đòn: "nhẹ như bấc, nặng như chì " (câu 1879) và chỉ than một câu "Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen" (câu 1874). Còn những lời chỉ trích Hoạn Thư như "tinh ma, miệng hùm nọc rắn, nham hiểm giết người... " là của Kiều, nạn nhân của Hoạn Thư, chủ quan thốt ra. Rồi, vì thương Kiều, chúng ta hùa nhau lặp lại như thế mãi cho đến ngày nay. Có ai thông cảm được với nỗi đoạn trường của Hoạn Thư, một nạn nhân đáng thương của chế độ đa thê hà khắc ngày xưa không?
Có người chồng ngoại tình, địch thủ lại tài hoa, nhan sắc hơn mình, cha chồng và quan trên tác hợp, còn mình, vợ cả, lại bị luật lệ "thất xuất", lễ tục "phụ quyền" kiềm cặp, ràng buộc. Tưởng không có nỗi đau khổ, uất ức, nhục nhã nào hơn!
Mà "đố kỵ, ghen tuông là một trong bản chất con người tư hữu và chiếm hữu. Tình yêu là thứ đòi hỏi chiếm hữu mãnh liệt nhất. Nhất là khi đã thành vợ chồng, vì được luật pháp cho phép. Thúc Sinh đã tự ý làm mất sự phối hiệp giữa chàng và Hoạn Thư, nên Hoạn Thư đòi lại, thế thôi! Dù thương Kiều bao nhiêu, ta cũng khó trách cứ Hoạn Thư về mặt nầy. Nàng quá nặng tay với Kiều chăng? Có thể, nhưng nếu không thế thì làm sao dứt được Thúc Sinh khỏi Kiều? " (5)
Thật ra, từ khi Kiều bước chân vào nhà Hoạn Thư cho đến khi bỏ trốn, Hoạn Thư không hề đánh Kiều một roi nào. Cách hành hạ trả thù của Hoạn Thư không phải là làm cho Kiều phải đau đớn mà làm cho Kiều phải nhục nhã, và Thúc Sinh phải lộ chân tướng hèn nhát, bội bạc ra:
Liệu mà xa chạy cao bay,
Ái ân ta có ngần này mà thôi!
Khiến cho tình nghĩa giữa Thúc Sinh và Kiều ắt phải bị tan vỡ từ đây.
Con người Hoạn Thư thiện ác thế nào? Một buổi tối làm cho Kiều và Thúc Sinh phải ê chề nhục nhã, Hoạn Thư đã hả lòng. Từ đó, nàng hòa hoãn hơn. Hai lần nàng nói với Kiều, ngay trước mặt Thúc Sinh, rằng nàng trọng tài, quí nết, cùng xót thương cho số phận truân chuyên của Kiều. Điều nầy, có kẻ cho là giả dối, nhưng riêng chúng tôi, thì thấy rằng Hoạn Thư đã có phần thành thật, vì nàng đâu có bắt buộc phải nói như thế để làm gì? Nếu không phải là để an ủi, đem lại cho Kiều một ít tự tin vào giá trị của mình đã bị chà đạp, mất mát!
Thông cảm với nỗi khổ tâm của kẻ tình địch, phải là người có từ tâm và tri kỷ tri bỉ, mới có thể ứng xử như thế được. Xưa Hoàn Ôn đi đánh Hung Nô, đem về một công nương vùng ấy làm vợ hầu. Vợ cả ghen tìm đến tận nhà để hành hung. Nhưng vừa bước vào, thấy vợ hầu của chồng nhan sắc tuyệt trần, nhất là phong cách cung khiêm, lịch sự, dịu dàng, liền than rằng: "Con người như thế nầy, ta thấy còn phải mê thay, trách gì lão gia nhà ta!"
Hoạn Thư có hiểm ác không? Kiều trộm đồ trốn đi, nàng có thể bắt để quan trên gia hình, tù tội. Sau, Kiều có ra tù, nàng có quyền không cho chồng lấy Kiều, vì Kiều đã trộm cắp, ("thất xuất" điều 5). Nhưng Hoạn Thư có làm như thế đâu?
Hoạn Thư đã ứng xử theo thường tình hiện hữu của dân gian, là "chút dạ đàn bà, ghen tương thì cũng người ta thường tình!...Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai ?", nhưng đặc biệt Hoạn Thư ứng xử "ngoài thì là lý, song trong là tình ", có nhu mà có cương, có thù ghét mà cũng có xót thương, có cột mà cũng có mở, nặng tay đó nhưng vẫn giữ được "cái nhân hậu", chớ không "cạn tàu ráo máng", đúng theo bản tính trung hòa hằng hữu của con người Việt Nam.
Đòn ghen của Hoạn Thư là một tấn bi hài chống chế độ đa thê, nhiều giá trị kịch tính, tình địch trực diện biết rõ lai lịch nhau, mà lại đứng vào những cương vị ngụy tạo để ứng xử, đối đáp "người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm".
Đây cũng là một đoạn văn nhiều giá trị thẩm mỹ nghệ thuật nhất nhì trong Đoạn Trường Tân Thanh, đáng được nghiên cứu thấu đáo hơn. Chúng ta thương những nỗi đoạn trường của Kiều, nhưng sao lại quên được những nỗi đau khổ, nhục nhã của Hoạn Thư, một nạn nhân cũng như muôn vàn nạn nhân khác, của chế độ đa thê hà khắc phi nhân.
 
Một người phụ nữ “nết cũng hay” , lại suy nghĩ chính chắn : “Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình?”. Chúng ta cũng nghe “ớt nào mà ớt chẳng cay , gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng”. Như thế thì Hoạn Thư ghen không có gì là sai cả. Nếu tra xét ngọn nguồn thì Hoạn Thư có nói :

“Từ nghe vườn mới thêm hoa,
Miệng người đã lắm tin nhà thì không.
Lửa tâm càng dập càng nồng,
Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa:
Ví bằng thú thật cùng ta,
1540. Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên.
Dại chi chẳng giữ lấy nền,
Tốt chi mà rước tiếng ghen vào mình?
Lại còn bưng bít giấu quanh,
Làm chi những thói trẻ ranh nực cười!”

 
Bao nhiêu đó cũng thấy được rằng Hoạn Thư không phải là một phụ nữ “độc ác”, rất biết suy trước tính sau và còn rất “sĩ diện”, không bao giờ làm những chuyện để “xấu chàng hổ thiếp”.  Nếu nói khiếp nhựoc thì chắc chắn bất cứ đàn ông trên thế gian này từ xưa nay ai cũng “nể vợ”, không dám nói là điều tất nhiên. Với lập trường khách quan, và với quan điểm của một phụ nữ thì hai người phụ nữ đều đáng thương. Cũng đáng thuơng cho cả Thúc Sinh.Làm sao có thể phụ cả hai người phụ nữ được. Nhưng đáng trách là Thúc Sinh đã không hiểu ý vợ mình. Đây cũng là một điều cụ Nguyễn Du muốn nói đến là giữa vợ chồng, nếu không có sự hiểu nhau dễ dẫn đến những sai lầm đáng tiếc. Nguyễn Du đã bộc lộ hoàn toàn quan điểm của mình về triết học nhân sinh.
Xét về nội dung, qua các sáng tác của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm, tức đề cao “tình”. Điều quan trọng hàng đầu, là sự cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh, đặc biệt là thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Có thể nói rằng cụ Du đã hoá thân vào nhân vật và bật lên tiếng lòng mà chính xã hội PK khốn nạn đã tạo nên những uất ức, tủi nhục. Cụ Nguyễn Du rất công bằng khi mở phiên toà này.
 
 
[:)]  
 
(Tổng Hợp )
 
Leo
 
Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
Tại sao lại không gọp cả hai ý kiến nhỉ? Bởi vì Leo nghĩ rằng cả hai đều đúng. Đó là một sự hoàn chỉnh, qua "Đoạn Trường Tân Thanh" Leo cảm nhận đựoc một điều cụ Nguyễn Du cũng là một người đam mê âm nhạc.

Thân,
Leo
 
     Leo đưa ra một ý tưởng hay nhưng trong trường hợp này không thể được. "Đoạn trường" không thể cùng một lúc có nghĩa đứt ruột vừa có nghĩa là thể thơ được.
    Muốn xác định nghĩa "Đoạn trường", "tân thanh" trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh chúng ta phải đọc được đọc bản chữ Nôm. Nhưng đáng tiếc là thế hệ con cháu chúng ta chỉ đọc Đoạn trường thanh tân bản phiên âm ra chữ Quốc ngữ. Nhưng cha ông chúng ta từ Mộng Liên đường chủ nhân-người khắc in Đoạn trường tân thanh từ những năm 1820-1825 đến các nhà Hán học như Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Trương Chính... đã đọc tác phẩm bằng chữ Nôm lại hiểu sai nghĩa của cụm từ "Đoạn trường", "tân thanh" hay sao?
    Theo thiển ý của tôi, Đoạn trường tân thanh hiểu như truyền thống: Tiếng kêu mới, tiếng nói mới về nỗi đau đứt ruột phù hợp với hơn cách hiểu của P. GS Nguyễn Đăng Na. Đoạn trường tân thanh thực chất là viết về nỗi đau của nàng Kiều, bởi vậy tác phẩm này còn được gọi là Truyện Kiều (câu chuyện về cuộc đời của nàng Kiều). Nguyễn Du dựa vào tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân để viết ra Đoạn trường tân thanh. Truyện được sáng tác bằng thể thơ lục bát của Việt Nam.
Thah
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Thanh Công

  Trước đây, các nhà nghiên cứu giải thích nhan đề Truyện Kiều theo lối chiết tự. "Đoạn trường": đứt ruột, nỗi đau thương đứt ruột; "tân thanh": tiếng kêu mới, tiếng nói mới. Do đó tên tác phẩm được định nghĩa là: Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột. Cách giải thích nhan đề như trên đã ăn sâu vào tâm trí giới nghiên cứu và người đọc.
    Gần đây, một số nhà nghiên cứu mà người khởi xướng là PGS.TS Nguyễn Đăng Na có cách định nghĩa khác. Nguyễn Đăng Na viết:
    Tân thanh không phải là "tiếng kêu mới" hoặc "tiếng nói mới", mà là một thể thơ "bắt đầu khởi xướng từ thời sơ Đường, phát triển qua Lí Bạch, Đỗ Phủ đến Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị thì đạt tới độ rực rỡ và tên gọi... được xác định" là thơ Tân nhạc phủ. Thơ Tân nhạc phủ sáng tác theo 3 tiêu chí: thứ nhất, không mô phỏng cổ như thơ nhạc phủ trước đây, nghĩa là viết về cái mới, về những vấn đề thời sự, những điều mắt thấy, tai nghe; thứ hai, chúng không dùng để phổ nhạc như thơ nhạc phủ trước kia; thứ ba, viết về nõi khổ của người dân mà Bạch Cư Dị đã tổng kết như một nguyên tắc sáng tác: Duy ca sinh dân bệnh/ Nguyên đắc Thiên tử tri.
    Còn đoạn trường ở đây không dùng theo nghĩa đen là đứt ruột mà được dùng với nghĩa ẩn dụ: nỗi đau thương vô hạn tưởng như ai cầm dao cắt ruột mình ra thành từng khúc.
     Như vậy, Đoạn trường tân thanh là tác phẩm thơ ca viết về những vấn đề thời sự, về những nỗi đau thương tưởng như ai cầm dao cắt lòng mình thành từng khúc.
     Suy nghĩ mãi mà tôi vẫn chưa hết băn khoăn, chưa biết cách giải nghĩa nhan đề của các học giả trước đây hay của PGS.TS Nguyễn Đăng Na, cách nào đúng với chủ ý của Cụ Nguyễn Tiên Điền hơn. Vì vậy, viết ra đây nhờ các bạn trên Vn thuquan cùng trao đổi, bàn luận!


 
Trích đoạn: Thanh Công

Tại sao lại không gọp cả hai ý kiến nhỉ? Bởi vì Leo nghĩ rằng cả hai đều đúng. Đó là một sự hoàn chỉnh, qua "Đoạn Trường Tân Thanh" Leo cảm nhận đựoc một điều cụ Nguyễn Du cũng là một người đam mê âm nhạc.

Thân,
Leo


    Leo đưa ra một ý tưởng hay nhưng trong trường hợp này không thể được. "Đoạn trường" không thể cùng một lúc có nghĩa đứt ruột vừa có nghĩa là thể thơ được.
    Muốn xác định nghĩa "Đoạn trường", "tân thanh" trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh chúng ta phải đọc được đọc bản chữ Nôm. Nhưng đáng tiếc là thế hệ con cháu chúng ta chỉ đọc Đoạn trường thanh tân bản phiên âm ra chữ Quốc ngữ. Nhưng cha ông chúng ta từ Mộng Liên đường chủ nhân-người khắc in Đoạn trường tân thanh từ những năm 1820-1825 đến các nhà Hán học như Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Trương Chính... đã đọc tác phẩm bằng chữ Nôm lại hiểu sai nghĩa của cụm từ "Đoạn trường", "tân thanh" hay sao?
    Theo thiển ý của tôi, Đoạn trường tân thanh hiểu như truyền thống: Tiếng kêu mới, tiếng nói mới về nỗi đau đứt ruột phù hợp với hơn cách hiểu của P. GS Nguyễn Đăng Na. Đoạn trường tân thanh thực chất là viết về nỗi đau của nàng Kiều, bởi vậy tác phẩm này còn được gọi là Truyện Kiều (câu chuyện về cuộc đời của nàng Kiều). Nguyễn Du dựa vào tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân để viết ra Đoạn trường tân thanh. Truyện được sáng tác bằng thể thơ lục bát của Việt Nam.

 
Đúng là chúng ta cần phải đọc cả bản gốc mới có thể nói chính xác, nhưng thường thì các nhà ngôn ngữ ai cũng tự cho là mình đúng, và một sự thống nhất chung : đa số phục tùng thiểu số, và một kết luận khẳng định tuyệt đối đưa ra. Nhưng trên đời này chẳng có gì là tuyệt đối. Thuyết tương đối ra đời. Cuối cùng Leo xác định rằng chẳng có gì là không thể cả.Chúng ta lại tự bảo vệ ý kiến của mình đưa ra, từ một nhà bình luận thành một luật sư thiên tài.Mỗi người luôn có một cái lỹ lẽ riêng để bảo vệ cho cái đúng của mình. Các nhà Hán học không sai, nhưng chúng ta cũng không thể chối bỏ hết cả những ý tưởng mới. Với phương châm "Không từ bỏ cái cũ, tiếp nhận cái mới" đưa đến một "sự hoàn chỉnh".
 
Thứ nhất : Kiều là "tiêu biểu" cho thân phận người phụ nữ : là mang tính thời sự
Thứ hai: Bản thân "truyện Kiều" cũng giống như một ca khúc, cho nên có thể gọi "Thơ Ca" thì có thể không cần dùng để phổ nhạc. Nhưng theo tình hình hiện nay thì đã được phổ nhạc.Đã hội đủ hai điều kiện nên Leo có với ý "gộp cả hai". 

Tổng hợp (Theo logic học) : Nỗi đau đứt ruột là con (thuộc) của Nỗi đau thương vô hạn. Như vậy thì Truyện Kiều không "gíơi hạn" mà là "phổ biến đại trà" (nói theo kinh tế học).


Các nhà làm nghệ thuật hay "mượn ý" của người này để tạo nên một "tác phẩm" cho mình, tuỳ thuộc vào "trình độ" của mỗi người. Nhưng nói mượn ý thì hơi khách quan, phải nói là mượn cảm xúc.Đó là nói theo quan điểm chúng trong nghệ thuật. Vì vậy đó cũng là một cái "Tân Thanh". Và Leo nghĩ rằng cụ Nguyễn Du muốn lấy tiêu đề của khúc Đoạn Trường trong Kim Vân Kiều truyện đặt cho tác phẩm, nói lên tất cả ý nghĩa : nỗi đau đứt ruột, nỗi đau vô hạn, lại có cả ca khúc Đoạn Trường, nỗi lòng nàng Kiều....vvvv... 
 
Leo chỉ thử hoá thân nhân vật và cảm nhận tác phẩm thôi, cũng gần như "từ bụng ta suy ra bụng người "  mà. Vì khi đọc tác phẩm, có đoạn nàng Kiều dùng "ca khúc Đoạn Trường" để nói lên nỗi lòng, thế là Leo nghĩ rằng Nguyễn Du cũng "yêu âm nhạc". Âm nhạc dễ đi vào lòng người hơn là một bài thơ, cho nên có lẽ bài thơ của Cụ Nguyễn Du cũng có tiết tấu như một điệu nhạc. Một lý do khác nữa là Truyện được sáng tác bằng thể thơ lục bát của Việt Nam. Điều này gắn chặt với văn hoá dân gian Việt Nam chúng ta.Thành tựu của nó bắt nguồn từ sự thống nhất giữa nội dung tác phẩm với ngôn ngữ thi ca đạt đến trình độ mẫu mực của thơ ca cổ điển. Ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học. Không có ngôn ngữ, không có tác phẩm văn học, bởi vì chính ngôn ngữ chứ không phải là cái gì khác đã cụ thể hoá, vật chất hoá sự biểu hiện chủ đề của tác phẩm và hệ thống hình tượng phong phú của đời sống con người.
      Điều dễ nhận thấy là ngôn ngữ trong Truyện Kiều hết sức phong phú và điêu luyện. Bắt nguồn từ vốn sống dân gian trực tiếp và kế thừa tinh hoa văn hoá của dân tộc, Nguyễn Du có ý thức sử dụng giá trị biểu đạt của vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh. Thống kê số liệu cho thấy ông đã sử dụng 197 lượt từ địa phương xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm.

[/align]     Ví dụ: Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi ( câu 258 trong Truyện Kiều, từ đây chỉ ghi số câu).
[/align]      Có những từ tần số xuất hiện nhiều lần như từ chi ( gì ) tới 64 lần; mụ ( bà) 17 lần; ả
[/align]( chị) 5 lần…
 
Theo Leo, "Truyện Kiều" bắt nguồn từ "Kim Vân Kiều Truyện" rồi với một phong cách mới, cái nhìn mới, cảm xúc mới cho ra một Đoạn Trường Ca mới. Cái quan trọng là cụ Nguyễn Du "nhìn người lại nghĩ đến mình". Đơn giản thế thôi. Và nhan đề cũng lấy từ tên của khúc nhạc trong Kim Vân Kiều Truyện mà thành. Tại chúng ta chỉ lo chú tâm vào phân tích ý nghĩa nhan đề rồi suy diễn ra, chứ nếu đọc rồi cảm thì rõ ràng toàn bộ là từ một "tiếng đàn" mà làm nên kỳ tích.
 
Nói dễ hiểu là, từ một cảnh đẹp, tất cả cùng thưởng thức đưa ra ý kiến khác với từ một bức tranh mà đưa ra ý kiến. Bởi vì tạo hoá làm sao giống với nhân tạo.Cái gì cũng có nguồn gốc cả, nếu chúng ta chối bỏ thì chẳng khác gì mất gốc. Nếu có lai cũng còn bản gốc. 
 
Thân,
Leo*


[:)] 



Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
      Vấn đề chúng ta đang bàn ở đây là: Đoạn trường tân thanh là gì? Tân thanhtiếng nói mới hay thể thơ Tân nhạc phủ? Chứ không bàn sâu vào nội dung Truyện Kiều như Leo* trình bày.
     Trong quá trình tranh luận làm sáng tỏ vấn đề, các ý kiến trái ngược nhau là chuyện bình thường. Và mỗi người đưa ra lý lẽ, dẫn chứng để bảo vệ quan điểm của mình cũng là chuyện bình thường cho nên chúng ta không nên kết án họ "từ một nhà bình luận thành một luật sư thiên tài".
     1. Trước hết, chúng ta phải đưa Đoạn trường tân thanh trở về thời điểm tác phẩm ra đời (cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX). Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của văn học trung đại VN. Nhiều tác giả lớn như Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, Phạm Quý Thích, Vũ Trinh,... muốn "canh tân" truyện ngắn truyền kì. Trong các tác phẩm của mình họ thêm từ "tân" vào tên truyện như Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Tân truyền kỳ lục (Phạm Quý Thích), Tân đính hiệu Việt điện u linh tập (Gia Cát).... Do đó, từ "tân" trong Đoạn trường tân thanh cũng cùng nghĩa với từ tân trong các tác phẩm trên. Có điều, "tân" trong Đoạn trường tân thanh không phải là làm mới một thể loại văn học mà là viết mới một tác phẩm đã có trước đó (viết mới Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân).
   2. Dù Nguyễn Du viết Đoạn trường tân thanh theo nhãn quan hiện thực "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" cũng không thể coi đây là một "thể thơ "bắt đầu khởi xướng từ thời sơ Đường, phát triển qua Lí Bạch, Đỗ Phủ đến Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị thì đạt tới độ rực rỡ và tên gọi... được xác định" là thơ Tân nhạc phủ", bởi Đoạn trường tân thanh được sáng tác theo thể thơ Lục bát của VN chứ không phải theo thể thơ Tân nhạc phủ của TQ. Điều vĩ đại của Nguyễn Du-một người làm thơ chữ Hán rất đặc sắc-lại chọn chữ Nôm và thể thơ lục bát của dân tộc để viết Truyện Kiều.
   3. Từ "Tân thanh" mà P.GS Nguyễn Đăng Na viết ra để chứng minh Tân thanh là "thể thơ" chứ không phải "tiếng nói mới" lại bằng Hán tự chứ không phải chữ Nôm; trong lúc Đoạn trường tân thanh được sáng tác bằng chữ Nôm. Do đó, dẫn chứng này chưa đúng với nguyên bản tác phẩm.
Thah
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-27 08:14:14Leo*>
 

Trích đoạn: Thanh Công

     Vấn đề chúng ta đang bàn ở đây là: Đoạn trường tân thanh là gì? Tân thanhtiếng nói mới hay thể thơ Tân nhạc phủ? Chứ không bàn sâu vào nội dung Truyện Kiều như Leo* trình bày.
   Trong quá trình tranh luận làm sáng tỏ vấn đề, các ý kiến trái ngược nhau là chuyện bình thường. Và mỗi người đưa ra lý lẽ, dẫn chứng để bảo vệ quan điểm của mình cũng là chuyện bình thường cho nên chúng ta không nên kết án họ "từ một nhà bình luận thành một luật sư thiên tài".
     1. Trước hết, chúng ta phải đưa Đoạn trường tân thanh trở về thời điểm tác phẩm ra đời (cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX). Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của văn học trung đại VN. Nhiều tác giả lớn như Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, Phạm Quý Thích, Vũ Trinh,... muốn "canh tân" truyện ngắn truyền kì. Trong các tác phẩm của mình họ thêm từ "tân" vào tên truyện như Truyền kì tân phả (Đoàn Thị Điểm), Tân truyền kỳ lục (Phạm Quý Thích), Tân đính hiệu Việt điện u linh tập (Gia Cát).... Do đó, từ "tân" trong Đoạn trường tân thanh cũng cùng nghĩa với từ tân trong các tác phẩm trên. Có điều, "tân" trong Đoạn trường tân thanh không phải là làm mới một thể loại văn học mà là viết mới một tác phẩm đã có trước đó (viết mới Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân).
   2. Dù Nguyễn Du viết Đoạn trường tân thanh theo nhãn quan hiện thực "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" cũng không thể coi đây là một "thể thơ "bắt đầu khởi xướng từ thời sơ Đường, phát triển qua Lí Bạch, Đỗ Phủ đến Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị thì đạt tới độ rực rỡ và tên gọi... được xác định" là thơ Tân nhạc phủ", bởi Đoạn trường tân thanh được sáng tác theo thể thơ Lục bát của VN chứ không phải theo thể thơ Tân nhạc phủ của TQ. Điều vĩ đại của Nguyễn Du-một người làm thơ chữ Hán rất đặc sắc-lại chọn chữ Nôm và thể thơ lục bát của dân tộc để viết Truyện Kiều.
   3. Từ "Tân thanh" mà P.GS Nguyễn Đăng Na viết ra để chứng minh Tân thanh là "thể thơ" chứ không phải "tiếng nói mới" lại bằng Hán tự chứ không phải chữ Nôm; trong lúc Đoạn trường tân thanh được sáng tác bằng chữ Nôm. Do đó, dẫn chứng này chưa đúng với nguyên bản tác phẩm.


Thật ra nếu Thanh Công đọc kỹ thì Leo cũng đã nói ý như vậy(chắc Leo nói chưa rõ ràng [:)]), chỉ có điều hơi quá lời như Thanh Công nói : không nên kết án họ "từ một nhà bình luận thành một luật sư thiên tài".(Thật ra Leo nghĩ muốn làm một luật sư thiên tài không phải dễ đâu, Leo cũng ước mà không được đó chứ. [:)]) Theo Leo, "Truyện Kiều" bắt nguồn từ "Kim Vân Kiều Truyện" rồi với một phong cách mới, cái nhìn mới, cảm xúc mới cho ra một Đoạn Trường Ca mới.
Leo nghĩ Thanh Công cũng biết khi đặt một tựa đề cho một tác phấm nó cũng quan trọng lắm chứ, nó bao gồm từ nội dung đến hình thức...
 
 
Nhạc phủ (chữ Hán: 樂府) nguyên là tên gọi cơ quan âm nhạc do Hán Vũ Đế (156 tr. CN - 87) lập nên, có nhiệm vụ thu thập ca daothơ để phổ nhạc. Bài nào được lựa chọn thì gọi là nhạc phủ khúc, sau gọi vắn tắt là nhạc phủ. Thành thử danh từ nhạc phủ dùng để chỉ nhiều thể văn có vần, phổ vào nhạc được. Trong số này, bộ phận được chọn nhiều nhất, có giá trị nhất là dân ca, bởi vậy từ nhạc phủ còn dùng để chỉ dân ca đời Hán (206 tr.CN - 220) và Lục triều (220 - 581) ở Trung Quốc
 
 
Buổi đầu, nhạc phủ được dùng trong trong dịp lễ tế, hoặc để ca tụng và giúp vui cho đế vương. Về sau, do nó phô diễn được ý thức, tình cảm của đủ loại giai cấp, nhất là giai cấp nông dân (vì những bài dân ca được tuyển chọn nhiều nhất); bởi thế, ngoài vai trò trên, nó còn là một thể loại sáng tác, một lối “hát xướng” được nhiều giới yêu chuộng.
Và cũng như Kinh thi, hình tượng phụ nữ chiếm địa vị khá nổi bật trong nhạc phủ. Nhưng chỉ khác là, ở nhạc phủ không còn hình ảnh những thiếu nữ “hồn nhiên, nhí nhảnh, nghịch ngợm” như ở Kinh thi, mà đa phần chỉ có những người phụ nữ khổ đau vì nghèo đói, bệnh tật (Bệnh phụ hành - Bài hành người phụ nữ đau ốm), bị chồng bỏ (Oán ca hành - Bài hành ca oán, Hữu sở tư - Có điều suy nghĩ). Cá biệt, chỉ có ít bài tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh của phụ nữ, như: Tần La Phu trong Mạch Thượng Tang (Dâu bên đường)
Các ca khúc đều thuộc loại tạp ngôn. Lúc đầu nhiều nhất là tam ngôn về sau ngũ ngôn dần chiếm ưu thế. Loại này rất phổ biến và chia làm rất nhiều nhóm, như: Tương hòa ca từ, Tập khúc ca từ v.v...
Nhận xét tổng quát thể loại này, Nguyễn Hiến Lê viết:

Bài nào cũng tự nhiên, tình nồng nàn, phần nhiều đượm vẻ buồn, có giọng than thở cho đời người ngắn ngủi, nhân tình éo le, cảnh ngộ trắc trở, lòng người đen bạc
Tất cả những tiêu chí đều có trong Truyện Kiều cho nên chữ Tân Thanh của Nguyễn Du càng có giá trị hơn, về mọi mặt.

Nên khi bàn là Tân Nhạc Phủ hay tiếng nói mới, Leo mới nghĩ là gọp cả hai lại thì càng đúng hơn.

Còn Leo nghĩ rằng chúng ta cứ cố bác bỏ Đoạn Trường Tân Thanh được cụ Nguyễn Du " trông thâý những điều"  từ Kim Vân Kiều Truyện, chứ ngay bản Thân Cụ Nguyễn Du đã cho thấy rõ một sự thật, cụ hoàn toàn không đổi Tên nhân vật. Nếu như cụ "không thật thà" , thay hết toàn bộ tên nhân vật thì lấy đâu ra việc "tranh luận" là có trước hay có sau Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm tài nhân. Thêm một đức tính đáng tự hào cho con cháu Việt ta nữa đó là tính Thật Thà. (Leo hơi đi xa vấn đề rồi [:)])
[:)]
Thân,
Leo

Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»