📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Những Bài Thơ của Truyện Kiều

0 trả lời, 321 lượt xem — Trang 1 / 1
Những Bài Thơ của Truyện Kiều

Nguyễn Vô Cùng






Hương gây mùi nhớ trà khan giọng
Xa xôi ai có thấu tình chăng?

(Tập Kiều - NVC)

Truyện Kiều của Nguyễn Du, như mọi người đều biết, là một áng văn chương sáng chói của văn học Việt Nam. Đã có nhiều công trình khảo cứu, những biên soạn và chú giải rất công phu không ngoài mục đích để mọi người nhận thấy chân giá trị của đại tác phẩm này.
Sách chép rằng Kim Vân Kiều Truyện do Thanh Tâm Tài Nhân (tức Từ Vị, tự là Văn Trường, người Sơn Âm, Trung Hoa) làm ra để ghi chép những sự tích năm Gia Tĩnh đời nhà Minh, về sau được Quán Hoa Đường Kim Thánh Thán bình thuật lại. Vương Hoài Thị cũng có viết Vương Thúy Kiều Truyện chép trong sách Ngu Sơ Tân Chí. Những sách này nói chung có cốt truyện sơ sài và tầm thường. Đại khái, Vương Thúy Kiều quê ở Lâm Truy, có nhan sắc chim sa cá lặn, bị bán cho nhà chứa họ Mã. Nàng có tài đàn hát và là một danh kỹ thời bấy giờ. Nàng quen biết với Từ Hải từ lúc chàng còn hàn vi. Về sau, Từ Hải gặp thời, hùng cứ một vùng ở Triết Giang, mới rước nàng về phong làm phu nhân. Vua Minh Thế Tôn lo ngại, bèn sai quan tổng đốc Hồ Tôn Hiến lo việc tiễu trừ. Không đánh nổi, Hồ mới bày kế chiêu hàng, một mặt sai người mua chuộc nàng Kiều khuyên Từ Hải quy thuận. Họ Hồ bội tín, Từ Hải vì nghe lời mỹ nhân mà bị ám hại, Thúy Kiều bị bắt ép lấy viên quan Thổ Tù. Nàng ăn năn vì mình mà Từ Hải phải sa cơ, lại tủi cho thân phận mà gieo mình xuống sông Tiền Đường tự vận, truyện kết thúc. (Theo Hán Dịch Kim Vân Kiều của Trương Cam Vũ, phần lược truyện).

Dưới ngòi bút thần của Tố Như tiên sinh, lý nhân quả của Phật Giáo và quan niệm "ở hiền gặp lành" của dân gian được đưa vào truyện để có thêm đoạn Kim Kiều tái hợp, gương vỡ lại lành. Những khổ nạn trong mười lăm năm lưu lạc được đền bồi với cái "happy ending" truyền thống:
Phong lưu phú quí ai bì,
Vườn xuân một cửa để bia muôn đời.


Hồi còn đi học, thú thật tôi đã có những thắc mắc khi đọc Truyện Kiều. Chẳng hạn như khi đọc tới đoạn Kiều đi chơi trong tiết Thanh Minh, nhân thăm mả Đạm Tiên, nàng đã cảm thương cho số kiếp hồng nhan bạc mệnh của người dưới mộ mà:
Rút trâm sẵn giắt mái đầu
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần


Tôi tự hỏi bài thơ mà Thúy Kiều đã khắc lên cây đó như thế nào và làm sao mình biết được?
Hoặc Kiều khi trở về nhà sau buổi du xuân, chiêm bao gặp Đạm Tiên và đã làm bài thơ tặng người "đồng thanh đồng khí":
Này mười bài mới mới ra
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời
Kiều vâng lĩnh ý đề bài
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm


"Mười khúc ngâm" đó ra sao mà khiến Đạm Tiên vừa đọc qua đã phải thốt lên:
Ví đem vào tập Đoạn Trường
Thì treo giải nhất chi nhường cho ai


vân vân và vân vân...
Mãi về sau tôi mới biết là những bài thơ ấy có trong nguyên tác Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Trong rất ít cuốn Truyện Kiều được chú giải cẩn thận, có cả phần Việt dịch những bài thơ chữ Hán nói trên, như của soạn giả Bùi Khánh Diễn chẳng hạn.

Vào khoảng đầu năm 1981, tôi đang sống những ngày tháng lang thang bất định của một người "tù cải tạo" mới được thả về không lâu. Một hôm, tôi may mắn tình cờ thấy cuốn Hán Dịch Kim Vân Kiều Nam Âm Thi Tập của dịch giả Trương Cam Vũ (xuất bản tại Sài Gòn năm 1961) trong chồng giấy gói hàng của một sạp hàng xén ở một chợ miền quê. (Tôi chợt nghĩ tới bạo chúa Tần Thủy Hoàng với chủ trương "phần thư khanh nho" trong lịch sử Trung Hoa.
Vào những năm tháng sau ngày Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam 1975, hầu hết sách báo lưu hành dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa nếu không chịu số phận đi vào các nhà máy nghiền bột giấy thì cũng bị tịch thu đốt bỏ một cách không thương tiếc). Dĩ nhiên tôi đã dễ dàng mua lại cuốn sách nói trên với giá của một bao thuốc lá đen!
Trong tác phẩm này, dịch giả Trương Cam Vũ đã dịch ngược lại từ Truyện Kiều của Nguyễn Du sang Hán văn dưới thể thơ thất ngôn trường thiên, một dịch phẩm rất tài hoa và công phu. Đặc biệt ở cuối sách có phần phụ lục "Những thơ từ Hán văn trong Kim Vân Kiều Truyện do Thanh Tâm tài Nhân soạn". Phần này chỉ in bằng Hán văn, không có phiên âm Hán Việt hay dịch sang Việt văn.

Bởi lòng yêu văn chương và đặc biệt mến mộ Truyện Kiều, tôi đã chuyển thể những bài thơ chữ Hán nói trên, hầu hết sang thể thơ lục bát, trừ một vài bài được giữ lại nguyên thể vì tiết tấu đặc biệt của nó, hay dùng thể song thất lục bát với loại ngâm khúc. Mỗi bài thơ chuyển thể
được ghi thêm các câu thơ tương ứng trong Truyện Kiều để người đọc tiện đối chiếu.

Ước mong được cống hiến bạn đọc hầu "mua vui cũng được một vài trống canh" trong đêm dài tha hương nhiều căng thẳng và hệ lụy này. Xin hãy tìm một chút hương xưa giữa âm thanh cuồng loạn của nhạc rock, nhạc rap nơi miền đất tạm dung...

Dù đã cố gắng giữ đúng ý chính của nguyên bản, người dịch e rằng vẫn không tránh được những lỗi lầm và thiếu sót, rất mong được đón nhận những chỉ bảo chân tình của quý bậc cao minh và bạn đọc gần xa.

NGUYỄN VÔ CÙNG






1. Bạc mệnh khúc

Hoài cố quốc hề thán na Sâm Thương
Bi luân vong hề ngọc dung hà tường?
Tỉ muội cố sủng hề nhất triêu câu tử
Đông Hôn bất linh hề Phụng Tiên diệt vong
Hầu môn tợ hải hề Tiêu lang mạch lộ
Thất thân phi loại hề mậu lăng tranh quang
Vị quân tiều tụy hề cập nhỉ đồng tử
Ly hồn tình trọng hề thiển xướng ám thương
Tử phụ phụ thi hề sinh đại phụ tử
Sủng suy hoàn phiến hề nhỉ sinh bất xương
Hữu thủy vô chung hề bi hồ thất lữ
Môn tiền lãnh lạc hề lão đại thùy tương
Kim cổ hồng nhan hề mạc bất bạc mệnh
Hồng nhan bạc mệnh hề mạc bất đoạn trường
Ngã bản oán nhân hề nải vi oán khúc
Văn thử oán khúc hề thùy bất bi thương?

Bạc mệnh khúc

"Khúc nhà tay lựa nên xang,
Một thiên Bạc Mệnh lại càng não nhân"
(Truyện Kiều, câu 33-34)

Cố quốc rày Sâm Thương đôi ngã
Xót hoa nhan tơi tả ai tường?
Chiêu Nga, Phi Yến sắc hương
Ái ân đành đoạn sớm đường phân ly

Còn đâu nữa Phan Phi đẹp gót?
Hỡi Phụng Tiên chua xót đời hoa
Cửa Hầu sâu tợ bể xa
Chàng Tiêu quay gót mà ra hững hờ

Tủi dặm trường Văn Cơ vùi dập
Hận rừng sâu bóng lấp thân mai
Hỏi chàng tiều tụy bởi ai
Cùng chàng sinh tử một lời thủy chung

Hồn ly bởi tình nồng nặng nợ
Khúc bi ca nhường sợ ai hay
Mang thây cha chết thảm thay
Dâng thơ thế mạng ai tày nàng Oanh

Phai ân sủng tàn canh chiếc bóng
Quạt cất rồi phận mỏng thương ôi
Duyên sao khéo phụ phàng thôi
Như chim lẻ bạn cuối trời một thân

Xe ngựa đã nghe dần vắng vẻ
Khúc hồ xang bóng xế nao nao
Xưa nay những khách má đào
Cái điều bạc mệnh ai nào thoát qua

Nỗi đoạn trường thương sa giọt tủi
Phổ vài cung ký gởi lòng đau
Khúc đàn càng lắng càng sâu
Nghe thương não ruột lệ sầu rưng rưng!



2. Kiều hoạch thụ bì đề điếu Đạm Tiên thi

(Kỳ nhất)

Hương hồn hà xứ khứ?
Bằng điếu thống tâm tai!
Minh nguyệt lãnh uyên bị
Ám trần phong kính đài
Ngọc tuy hoàng thổ ế
Danh vị bạch vân mai
Thượng hữu như giang tửu
Vô nhân điện nhất bôi!


Kiều vạch da cây đề thơ điếu nàng Đạm Tiên


(Bài I)
"Rút trâm sẵn giắt mái đầu
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần"
(Kiều, câu 99-100)

Hương hồn phiêu lạc chốn nao
Mấy vần ai điếu xiết bao đoạn trường
Trăng soi lạnh buốt chăn sương
Bụi trần phủ kín đài gương nhạt mờ
Thân ngà dẫu có phôi pha
Tiếng tăm chưa dễ phai nhòa non mây
Rượu nồng như nước sông đầy
Có ai chuốc chén tưởng ngày xuân xanh!


(Kỳ nhị)

Tây phong hà hốt khởi?
Trận trận sử nhân ai
Thảm thiết như hàm oán
Thê lương tợ hữu hoài
Thừa loan nghi sạ khứ
Khóa hạc nhạ trùng lai
Bất đoạn hương hồn xứ
Thương thương lý ấn đài


(Bài II)
"Lòng thơ lai láng bồi hồi,
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi"
(Kiều, câu 131-132)

Gió tây đâu bỗng cuốn về
Ào ào từng trận cho tê tái sầu
Thảm thê như mối hờn sâu
Lạnh lùng như đã nát nhàu đau thương
Xe loan hun hút dặm trường
Chập chờn dấu hạc bên đường lại qua
Hồn thiêng vất vưởng bóng tà
Dấu hài theo gió bước ngà in rêu


4. Kiều xuân du qui lai bách cảm phân thừa đề thất tuyệt thi nhất thủ ký ức


Thiên không vân tĩnh quýnh vô trần
Uyển tợ băng hồ tọa lý nhân
Nhược sử đa tình cần tấn vấn
Biệt lai vô dạng chỉ thương thần

Kiều chơi xuân trở về
ngổn ngang trăm mối,
làm thơ thất tuyệt ghi nỗi lòng

"Ngổn ngang trăm mối bên lòng,
Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình"
(Kiều, câu 183-184)

Trời êm mây lặng thanh thanh
Băng hồ ngươi đó đây mình khác nao
Đa tình khách hỏi chăng nào
Biệt ly từ bấy ngăn sao nỗi niềm



5. Mộng Đạm Tiên đề từ thập thủ

I.
Tích đa tài, uyên tiên bất nhẫn tai
Hợp hoan niên niên vị nhân phổ
Tự thân chỉ bả tương tư nhai
Tương tư nhai, tích đa tài

II.
Lân bạc mệnh, dạ dạ thành cô lánh
Kim ốc thường văn trữ a kiều
Thiên thính nhất diện nan kiêu hãnh
Nan kiêu hãnh, lân bạc mệnh

III.
Bi kỳ lộ, dương trường khổ nan lộ
Lộ gian vị khổ nô tâm nan
Nhất chiết sai thời thiên chiết ngộ
Thiên chiết ngộ, bi kỳ lộ

IV.
Ức cố nhân, nhãn kiến bạch đầu tân
Hà tằng tích túc vân tiêu thượng
Nhận đắc bình sinh xa lạp chân
Xa lạp chân, ức cố nhân
V.
Niệm nô kiều, đối kính đốn hồn tiêu
Ngã kiến do liên tần thán tức
Chẩm giao hồng phấn bất tương trào
Bất tương trào, niệm nô kiều

VI.
Ai thanh xuân, kiều hoa tợ mỹ nhân
Chính thị thượng lâm xuân sắc hảo
Nguyện phi phong vũ nhuận hoa thần
Nhuận hoa thần, ai thanh xuân

VII.
Ta kiển ngộ, hảo mộng đô tỉnh khứ
Phi thị phùng nhân tiện khất lân
Chi nhân bất thức châu môn lộ
Châu môn lộ, ta kiển ngộ

VIII.
Khổ linh lạc, nhất thân vô xứ trước
Lạc hoa tạ thụ tự đông tây
Cô nhạn thất quần nhiễu liêm mạc
Nhiễu liêm mạc, khổ linh lạc

IX.
Mộng cố viên, quy hồn thùy khẳng viện
Tùng cúc cựu lô đô bất thức
Bạch vân phương thảo mặc vô ngôn
Mặc vô ngôn, mộng cố viên

X.
Khốc tương ti, ngạnh yết dĩ đa thì
Tâm thống hữu thanh nhẫn bất trụ
Tình thâm cố thổ hốt thương bi
Hốt thương bi, khốc tương ti


Chiêm bao thấy Đạm Tiên, đề 10 bài thơ

"Này mười bài mới mới ra
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời
Kiều vâng lĩnh ý đề bài
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm"
(Kiều, câu 203-206)

I.
Tài mà chi, tờ hoa chẳng thành thi
Năm tháng trùng phùng vì ngươi phổ
Mang kiếp tương tư chẳng hạn kỳ
Chẳng hạn kỳ, tài mà chi?

II.
Thương phận bạc, giấc sầu miên ngơ ngác
Gác tía kìa ai dáng mỹ miều
Mặt đẹp kiêu sa nơi đài các
Nơi đài các, thương phận bạc!

III.
Đường chông gai, khúc khuỷu gập ghềnh thay
Khó đi chưa sánh lòng ta khó
Lỡ một lầm mười có ai hay
Có ai hay, đường chông gai

IV.
Nhớ người xưa, tóc bạc sớm lần trưa
Mây lững đâu rồi đêm hẹn ước
Dập dìu xe nón đón rồi đưa
Đón rồi đưa, nhớ người xưa

V.
Tưởng bóng hình, trông gương luống giật mình
Ta thấy còn đem lòng than thở
Trách chi má phấn chẳng cười khinh
Chẳng cười khinh, tưởng bóng hình

VI.
Tiếc xuân xanh, hoa đẹp với người thanh
Quả thật rừng xanh xuân tỏ nét
Gió mưa càng nhuận vẻ hoa thần
Vẻ hoa thần, tiếc xuân xanh

VII.
Thương vận khó, giấc xuân nồng tỉnh rõ
Tình ái nào ra kẻ dễ duôi
Đường tới nhà son chưa gặp ngõ
Chưa gặp ngõ, thương vận khó

VIII.
Khổ luân lạc, một thân bao ghềnh thác
Lá hoa rơi rụng gió muôn chiều
Chiếc nhạn mất bầy bay ngơ ngác
Bay ngơ ngác, khổ luân lạc

IX.
Mộng vườn xưa, hồn theo xứ say mơ
Tùng cúc dáng xưa đâu chẳng thấy
Cỏ xanh mây trắng lặng như tờ
Lặng như tờ, mộng vườn xưa

X.
Khóc tương tư, tức tửi lắm phen nhừ
Thổn thức lòng đau khôn nhịn tiếng
Tình sâu cố lý bỗng vò tơ
Bỗng vò tơ, khóc tương tư



6. Đề cổ tùng họa tránh thi


Thập nguyệt khinh hàn diệp vị điêu
Đạm hoàng sơ lục đoản trường điều
Vô tình hữu thái kham liên xứ
Nhật giác vân đầu lộ bán yêu

Thơ đề bức tranh tùng

"Tay tiên gió táp mưa sa
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu"
(Kiều, câu 403-404)

Mấy cành vàng nhạt xanh thưa
Đông vừa chớm lạnh lá chưa úa tàn
Trời tà mây lững sương chan
Càng say nét vẽ càng tràn tấm yêu



7. Kiều dữ Kim Trọng nhị nhân thệ từ

Đồng tâm nhân Kim Trọng, Vương Thúy Kiều
Mỗ niên nhật nguyệt thời sinh
Cẩn dĩ tâm hương nhất trú, thủy lễ nhất chi
Đính ư hoàng thiên hậu thổ chi linh:
Thiết văn phu phụ đại nghĩa
Nghĩa tại chung thân bất di
Nhi nữ đa tình, tình thiết tử sinh vô phụ
Tiên thời Thúy Kiều nguyện hữu gia
Kim Trọng nguyện hữu thất
Lân tài mộ sắc, dĩ thâm kết hồ đồng tâm
Kim nhật Kiều lự kỳ thủy,Trọng lự kỳ chung
Lịch đởm khuynh tâm, cảm thất minh ư dị nhật
Tự minh chi hậu
Nam kỳ cửu tử vô biến
Nữ thệ nhất tiết chung thân
Túng ngoại lai chi biến, hoặc hữu bất trắc
Nhi ngô tâm chi thất, đoán hồ nhất định
Cẩu du thử minh, thần thiên cộng giám


Lời thề nguyền của Kim Trọng và Thúy Kiều

"Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi
"
(Kiều, câu 447-448)

Vương, Kim đôi lứa đồng tâm
Ngày sinh, mệnh tuổi lâm râm khấn lời
Nén hương chén rượu dâng bày
Trời cao nguyện tỏ, đất dày nguyện phân
Vợ chồng là nghĩa chung thân
Dù cho sống chết vạn lần chẳng di
Thành thân ấy nguyện Kiều nhi
Yên bề gia thất Trọng thì ước mong
Thương tài mến sắc một lòng
Trăm năm nguyện một chữ đồng không phai
Thủy chung từ buổi hôm nay
Lời thề dám để mai ngày phôi pha
Trai dù chín suối chẳng xa
Gái thề trọn tiết cửa nhà đảm đang
Dù cho trắc biến trăm đàng
Lời kia vẫn giữ khăng khăng một lời
Thề này xin nguyện suốt đời
Có thần chứng giám có trời xét soi



8. Mã Giám Sinh thí lệnh Kiều đề hoàn phiến xuân cưu thi

Đông phong xuy noãn chí
Bách thảo mỵ xuân dương
Hà sự cưu hoán vũ
Hoa thần dục tẩy trang

Bài thơ Mã Giám Sinh thử Kiều đề trên quạt lụa vịnh chim tu hú


"Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ"
(Kiều, câu 642)

Gió đông hơi ấm thổi vào
Cỏ hoa trăm thứ đua chào nắng xuân
Gọi mưa tu hú ngại ngần
Sạch trong một vẻ hoa thần thắm tươi



9. Kiều thác muội Thúy Vân đại tục uyên minh, phó dữ tín vật tịnh di thư dữ Trọng lang vân


Tự quân chi xuất
Họa khởi tiêu tường
Ngưỡng miện qui kỳ
Thống yên dục tuyệt
Phụ luy pháp võng
Nghĩa tại tất cứu
Tì bà biệt bả
Thực vị quân tu
Cẩm thủy hữu ngư
Ngọc sơn hữu lộc
Bỉ vật nhi thân
Ta thế nhân hề
Khổ phân ly nhi mạc tụ
Thư bất tận ngôn
Ngôn bất tận ý
Lâm biệt bái từ
Trân trọng vạn thiên!


Kiều nhờ em Thúy Vân thay mình giữ lời thề, đưa vật làm tin cùng thư gửi Kim Trọng

"Chiếc thoa với bức tờ mây
Duyên này thì giữ vật này của chung
"
(Kiều, câu 735-736)

Từ chàng khuất nẻo trời Liêu
Tai bay vạ gió đã nhiều đắng cay
Mỏi trông chàng trở lại đây
Thân bồ ngày một hao gầy đau thương
Xót lòng cha lụy pháp đường
Nghĩa ân báo đáp tìm phương cứu nàn
Ôm cầm mà lệ chứa chan
Nghĩ thề mà thẹn, mà tan nát lòng
Dòng xanh cá lội song song
Non cao hươu cũng vợ chồng sánh đôi
Vật kia đâu nỡ chia phôi
Người sao lại sớm đơn côi giữa đời!
Nỗi lòng có thấu chàng ơi
Chưa sum họp đã trao lời biệt ly
Gửi chàng thư chẳng xiết ghi
Vài hàng sao nói hết bi thảm này
Mấy lời vĩnh biệt là đây
Muôn vàn trân trọng thư này gửi trao!



10. Lánh phó thi vân

Ký biệt thương tâm nhất chỉ thư
Phong giam thanh lệ thấp phan dư
Khê biên vân thủy kinh hồi nhạn
Hồ bạn yên ba thiểu xích ngư
Liễu sắc đê thùy xuân sắc hảo
Mai hoa dao chiết ý hà như?
Tri quân nhược khẳng ưng lân ngã
Vô nại đông hoàng xúc khứ xa

Kiều ra đi để lại thư rằng:

Lòng đau gởi bức tiên hoa
Phong thư ngấn lệ nhạt nhòa rèm tơ
Khe buồn cánh nhạn ngẩn ngơ
Hồ im cá biếng nhởn nhơ theo bầy
Thướt tha vóc liễu xuân đầy
Cành mai xa bẻ ngất ngây ý sầu
Biết chàng lòng có thương sâu
Chúa Xuân ngán nỗi chờ lâu mỏi mòn



11. Kiều tại Ngưng Bích lâu tức cảnh cảm đề

Ánh song tân thủy tẩm khê hoa
Phụ thảo đà lam tứ vọng xa
Cận hải trào thanh hư tọa thấp
Cách thành phàm ảnh phất lan tà
Phong phù sấu ngã khinh đăng các
Lãng trục chinh nhân đáo ấn sa
Vãng sự bất kham tần lệ lạc
Âu hương mạn chử vũ tiền trà


Kiều ở lầu Ngưng Bích tức cảnh cảm đề

"Chung quanh những nước non người
Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu
"
(Kiều, câu 1057-1058)

Ngoài song nước thấm hoa khe
Cỏ đan gò vắng bốn bề khó trông
Tiếng triều vỗ ghế quạnh không
Buồm ai thấp thoáng hiên song xế tà
Gió nâng gót nhẹ tầng xa
Dấu người sóng cuộn bãi sa mịt mùng
Chuyện xưa lệ chẳng ngăn dòng
Hương trà biết nỗi đau lòng có khuây



12. Sở Khanh họa thi vân

Lâu ngoại thùy gia thanh mấn oa?
Tràng ngâm thanh chuyển bích đào hoa
Sầu xâm bút để đê minh yết
Oán hướng phong tiền khiếu khổ ta!
Viễn tiếp phương hương kinh phấn điệp
Vi thông u ý hi song sa
Hồng nhan liên ngã đa tài nghệ
Ngã khước liên khanh vị phá qua!

Bài thơ Sở Khanh họa Kiều

"Tần ngần đứng rũ rèm châu
Cách tường nghe có tiếng đâu họa vần"
(Kiều, câu 1059-1060)

Tóc xanh dáng ngọc nhà ai
Tường hoa vẳng tiếng ngâm dài thương sao
Sầu theo ngọn bút dâng trào
Oán nương làn gió nghẹn ngào đau thương
Xa nghe nồng đượm mùi hương
Song sa khôn nỗi tỏ tường niềm tây
Giai nhân hẳn mến tài đây
Ta yêu đôi tám vừa đầy khuôn trăng



13. Kiều phục đề thập bất giai từ vân:


I.
Nhất bất giai, nhất bất giai
Minh ngôn vị tận họa phi lai
Giảo nha họa phi lai
Lưỡng phân khai

II.
Nhị bất giai, nhị bất giai
Tình đoản tình trường tích mãn hoài
Giảo nha tích mãn hoài
Khổ nan nhai

III.
Tam bất giai, tam bất giai
Tư đáo vô biên lệ mãn tai
Giảo nha lệ mãn tai
Bất năng giai

IV.
Tứ bất giai, tứ bất giai
Cựu hận tân sầu nan bãi khai
Giảo nha nan bãi khai
Khứ hựu lai

V.
Ngũ bất giai, ngũ bất giai
Hận giảo ngân nha bán tự ngốc
Giảo nha bán tự ngốc
Cường thác tai!

VI.
Lục bất giai, lục bất giai
Biệt tửu tương khuynh nhất sắc bôi
Giao nha nhất sắc bôi
Đầu chẩm đài

VII.
Thất bất giai, thất bất giai
Oán sát vương tôn khứ bất lai
Vương tôn khứ bất lai
Thần quỉ sai!

VIII.
Bát bất giai, bát bất giai
Tử đáo hoàng tuyền phục chuyển lai
Hoàng tuyền phục chuyển lai
Nghiệt ứng cai

IX.
Cửu bất giai, cửu bất giai
Tử sinh chiết tán phượng loan hài
Chiết tán phượng loan hài
Chẩm an bài

X.
Thập bất giai, thập bất giai
Bi ai Thúy Kiều mệnh nhi quai
Thúy Kiều mệnh nhi quai
Chân khả ai!


Mười bài thơ bất giai

"Đòi phen nét vẽ câu thơ
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa
Vui là vui gượng kẻo mà
Ai tri âm đó mặn mà với ai"
(Kiều, câu 1247-1250)

Một than ước hẹn chưa tròn
Chia phôi bởi nỗi dập dồn tai ương

Hai than dài ngắn tình vương
Chất đầy một dạ canh trường khôn khuây

Ba than càng nghĩ càng say
Dòng châu càng gạt càng đầy vành mi

Bốn than sầu oán thương bi
Muốn quên sao cứ hết đi lại về

Năm than hờn tủi chán chê
Nghiến răng tưởng kẻ u mê dại khờ

Sáu than rượu tiễn mới đưa
Tà huy soi bóng chén chưa kịp tràn

Bảy than chàng tít dặm ngàn
Mãi đi để lỡ cung đàn năm nao

Tám than cõi chết ra vào
Âm dương mờ mịt lối nào định phân

Chín than loan phượng chẳng gần
An bài mỗi góc một thân tủi lòng

Mười than số kiếp long đong
Thương cho phận bạc má hồng xưa nay!



14. Thúc Sinh vịnh Kiều nhập dục thi

Dạ nguyệt thanh lâu đảo ngọc hồ
Mỹ nhân thừa tửu khiết cồ du
Băng cơ thố phách tranh minh mỵ
Tuyết thái hoa âm bán hữu vô
Sơ khởi đới tu hô bạn thức
Sạ hành hàm tiếu thỉnh nhân phù
Lâm ly khoái nhập phù dung trướng
Chẩm thượng đê thanh xướng giá cô

Thơ Thúc Sinh vịnh Kiều tắm

"Rõ màu trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên
Sinh càng tỏ nét càng khen
Ngụ tình tay thảo một thiên luật Đường"
(Kiều, câu 1313-1316)

Lầu trăng soi bóng hồ gương
Thân ngà ngọc trắng tắm hương rượu nồng
Mình băng tranh bóng chị Hằng
Nét hoa vẻ tuyết lẫn trong bóng hình
Thẹn thùng gọi kẻ lau mình
Bước đi e ấp tay vin áo người
Trướng hoa dạo bước thảnh thơi
Gối êm thấp giọng hát lời giá cô



15. Kiều vịnh mộc gia thi

Ngã dữ nhỉ vi cừu
Hỷ khuyên sáo trung đắc xuất đầu
Cảm phương viên già cái toàn thân xú
Đãn tằng kiên tử tu
Tọa tỉnh kham ưu
Khả lân tự lệ lưu
Bất đáo sam hòa tụ
Tạ hiền hầu
Giáo nhân cường hạng
Tái bất hứa phóng ca hầu

Thơ Kiều vịnh cái gông

"Cười rằng đã thế thì nên
Mộc già hãy thử một thiên trình nghề"
(Kiều, câu 1453-1454)

Ta ngươi một mối thâm thù
Mừng trong khuôn khổ lại thò đầu ra
Vuông tròn che hết xấu xa
Bao niềm hổ thẹn còn là hai vai
Ngồi trong chữ tỉnh rầu thay
Thương dòng lệ chẳng thấm đầy áo xiêm
Cúi đầu tạ hết quan viên
Ca nhân hạng giỏi đành yên một bề



16. Kiều tiễn biệt Thúc Sinh, đề kim tịch thị hà tịch thập thủ

I.
Kim tịch thị hà tịch?
Lang quân phú viễn du
Thiếp tại gia trung tần ký ức
Vấn quân hà nhật tái hồi đầu?

II.
Kim tịch thị hà tịch?
Tình thương lâm biệt nan
Nhất khúc ly ca lưỡng hàng lệ
Tống quân minh nhật xuất dương quan

III.
Kim tịch thị hà tịch?
Thương biệt bất thành hoan
Vô đoan yên mã phong phiên sậu
Kinh tán ly hồn tựu chẩm nan

IV.
Kim tịch thị hà tịch?
Minh triêu các nhất thiên
Chiêm vọng hương quan hà xứ thị?
Vân vũ bất kiến thế liên liên

V.
Kim tịch thị hà tịch?
Nguyệt viên nhân thả ly
Lưỡng địa giang san vạn dư lý
Bất tri hà nhật thị qui kỳ?

VI.
Kim tịch thị hà tịch?
Tương biệt nan thành ngôn
Hốt văn thiên bán cô hồng lệ
Tự tố ly tình thoại vị an

VII.
Kim tịch thị hà tịch?
Túy ẩm bất vong bi
Nhân đạo giải bi tu thị tửu
Tửu nhập nùng trường sầu cánh mi

VIII.
Kim tịch thị hà tịch?
Phạ kiến nguyệt quang mang
Nguyệt viên nguyệt khuyết chính thập ngũ
Lang khứ lang lai bất khả lường

IX.
Kim tịch thị hà tịch?
Cường tiếu mỵ lương nhân
Phạ lang tiều tụy sẩn nùng bệnh
Tích lang lao khổ úy lang tâm

X.
Kim tịch thị hà tịch?
Sinh ly thậm tử biệt
Tử biệt năng kỳ hội cửu nguyên
Sinh ly lưỡng địa duy đề huyết

Kiều tiễn biệt Thúc Sinh, đề 10 bài "Đêm nay..."

"Chén đưa nhớ bữa hôm nay
Chén mừng xin đợi đêm này năm sau"
(Kiều, câu 1519-1520)

I.
Đêm nay ai hỡi đêm gì
Vó câu muôn dặm chàng thì ruổi dong
Ở nhà em mãi ngóng trông
Hỏi chàng đâu buổi ngựa hồng qui lai?

II.
Đêm nay sầu biệt ai hay
Chia ly mấy nỗi đọa đày tình thương
Khúc ca dòng lệ đoạn trường
Mai chàng thôi đã cửa Dương khuất rồi

III.
Đêm nay sao dạ bồi hồi
Niềm vui giữa buổi chia tay khó tìm
Chàng lên yên ngựa đường chim
Hồn em tan giữa gối êm nhạt nhòa

IV.
Đêm nay đau xé lòng ta
Sớm mai thôi nhé cách xa phương trời
Quê nhà ngóng đã mòn hơi
Mây mưa chẳng thấy lệ rơi ròng ròng

V.
Đêm nay chàng có buồn không
Trăng tròn người khuyết cho lòng vương mang
Núi sông muôn dặm hai đàng
Hợp hoan đâu buổi cùng chàng cạn ly

VI.
Đêm nay thôi nhé người đi
Nhìn nhau sao chẳng nói gì với nhau
Bên trời lẻ tiếng chim đau
Ly tình muốn tỏ lời sầu khó phân

VII.
Đêm nay lệ thấm bao ngần
Rượu say nhấp chén vạn lần sầu tuôn
Ai kia bảo rượu giải buồn
Rượu vào cháy ruột vẫn khôn khuây sầu

VIII.
Đêm nay thức suốt canh thâu
Trăng cao vằng vặc đêm sâu ngại nhìn
Khuyết tròn trăng cứ rằm lên
Đi về chàng biết đâu tin mà lường

IX.
Đêm nay thôi đã phân trương
Gượng cười để đẹp lòng chàng chàng ơi
Ốm đau sợ khổ chàng thôi
Thương chàng lao nhọc làm vui lòng chàng

X.
Đêm nay chiếc bóng ngỡ ngàng
Niềm đau tử biệt đâu màng sinh ly
Cửu nguyên tử biệt hẹn kỳ
Sinh ly đôi ngã còn gì đau hơn?



17. Kiều tặng biệt Thúc Sinh

Hàm tình thương viễn biệt
Tôn tửu tạm lưu liên
Cố quốc kim tương phản
Tha hương nhật tiệm thiên
Phàm trương hà thượng lộ
Mã sấm độ đầu quynh
Lưỡng địa tư thiên lý
Thâm sầu vọng nhãn xuyên


Kiều tặng Thúc Sinh lúc giã biệt

"Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san"
(Kiều, câu 1529-1530)

Biệt ly chất chứa sầu tình
Đầy vơi rượu tiễn lung linh chén ngà
Quê người ngày tháng dần qua
Nước xưa giờ đã cách xa mịt mùng
Sông dài thẳng cánh buồm dong
Ngoài kia đầu bến ngựa hồng chàng đi
Nhớ nhung ngàn dặm sơn khê
Đăm đăm mắt ngóng mà tê tái sầu



18. Thúc Sinh đáp thi

Thiên lý bất vi viễn
Nhất niên qui vị trì
Đồng tại càn khôn nội
Hà tu oán biệt ly?


Thúc Sinh đáp tặng Kiều

"Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi"
(Kiều, câu 1525-1526)

Thương nhau ngàn dặm chẳng xa
Một năm trở lại có là bao lâu
Đất trời ta vẫn có nhau
Can chi mà oán mà sầu chia phôi?



19. Tự quân chi xuất hỉ (lục thủ)

I.
Tự quân chi xuất hĩ
Nhật nhật vọng thanh loan
Thanh loan vọng bất chí
Đồ ngưỡng bạch vân đoan

II.
Tự quân chi xuất hĩ
Bất cảm thướng cao lâu
Lâu ngoại hữu dương liễu
Ty ty hội nhạ sầu

III.
Tự quân chi xuất hĩ
Bất ngôn diệc bất khốc
Ngôn tắc vô tri âm
Khốc khủng kinh lang túc

IV.
Tự quân chi xuất hĩ
Trường đoản tần cố ảnh
Cố ảnh tự bồi hồi
Tiêu sấu khả lân mẫn

V.
Tự quân chi xuất hĩ
Yếm nguyệt lâm không sàng
Bạc khâm bất thành mỵ
Cô chẩm phạ nghiêm sương

VI.
Tự quân chi xuất hĩ
Vô nhật bất nam tư
Tư quân quân bất chí
Lệ trích sái la nhu!

Từ chàng...

"Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường"
(Kiều, câu 1527-1528)
I.
Từ chàng trở gót ra đi
Ngày ngày dõi bóng sá gì non cao
Non cao dễ thấy được nào
Dạo trông mây trắng dạt dào nhớ thương

II.
Từ chàng khuất cuối dặm trường
Lầu cao quạnh quẽ bước thường ngại chân
Bên lầu dương liễu xanh gần
Một màu mơn mởn bao ngần xót xa

III.
Từ chàng ruổi bước ngựa hoa
Chẳng khóc chẳng nói lòng tha thiết lòng
Mặn mà lời cũng bằng không
Khóc e kinh động giấc nồng chàng êm

IV.
Từ chàng vắng bóng bên thềm
Chong đèn ngó ảnh nhiều phen đứng ngồi
Bóng soi cho dạ bồi hồi
Hao gầy ủ rũ thương ôi phận mình

V.
Từ chàng biền biệt bóng hình
Giường không trăng mỏi trêu tình ái ân
Chăn đơn khó dỗ giấc xuân
Phòng không gối lẻ sợ ngần sương khuya

VI.
Từ chàng vạt áo chia lìa
Trời nam nhung nhớ ai kia mỗi ngày
Nhớ ai ai biết lòng đây
Lệ rơi từng giọt thấm đầy áo xiêm.



20. Kiều đầu thân Tiền Đường giang tiền, đề tuyệt mệnh từ vân

Thập ngũ niên tiền hữu ước
Kim triêu phương đáo Tiền Đường
Bách thế quang âm hỏa thước
Nhất sinh tâm sự hoàng lương
Triều tín thôi nhân khứ dã
Đẳng nhàn liễu khước đoạn trường

Thơ tuyệt mạng Kiều để lại trước khi gieo mình xuống sông Tiền Đường

"Dưới đèn sẵn bức tiên hoa
Một thiên tuyệt bút gọi là để sau"
(Kiều, câu 2627-2628)

Mười lăm năm trước hẹn rồi
Tiền Đường nay đến kịp lời ước xưa
Trăm năm sáng tối thoi đưa
Kê vàng một giấc đời vừa thoáng qua
Tiếng triều như giục lòng ta
Đoạn trường sạch nợ thế là từ đây !

NGUYỄN VÔ CÙNG dịch













Đăng nhập để trả lời
0