Hủy diệt mội sinh luôn luôn là một thủ đoạn rất cổ xưa và rất thông thường trong chiến tranh. Khi kỷ thuật và công nghệ ngày càng tinh vi, sự hủy diệt môi trường ngày càng trở nên khốc liệt. Có thể nói chiến dịch chất độc ở Việt Nam là một sự phá hoại môi trường lớn nhất trong lịch chiến tranh thế giới.
NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ.
Chiến dịch sử dụng hóa chất trong cuộc chiến tranh Việt Nam của quân đội Mỹ không lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh cận đại. Trong Thế chiến thứ II, chính phủ Mỹ ủy nhiệm và cung cấp ngân sách cho Hội đồngKhoa học Quốc gia để phát triển một hóa chất dùng cho tiêu hủy đồng lúa và vụ mùa ở Nhật. ( nên nhớ rằng lúc đó lúu gạo là nguồn thực phẩm chính người Nhật). Kết quả của nghiên cứu này là 2,4-D và 2,4,5- T( tức là chất độc màu da cam ngày nay) ra đời. Tuy nhiên, qua thảo luận Tổng thống Dwight Roosevelt và Chánh văn phònh Nhà trắng, Đô đốc Willam D. Leahy quyết định không sử dụng hóa chất này trong chiến tranh Nhật. Do đó, chất đốc màu da cam không dùng được trong Thế chiến thứ II.
Nhưng trong đầu những nhà cầm quyền Tây phương, việc sử dụng hóa chất như một vũ khí trong chiến tranh vẫn là một lựa chọn. Vào cuối thập niên 1950, qua sự thành công của Anh trong việc sử dụng hóa chất 2,4,5 – trichlogophenoxyacetic ( 2,4,5 – T ) để tiêu diệt mùa màng ở malaya, Bộ quốc phòng Mỹ lại ủy nhiệm cho cơ quan ARPD ( advanced Reseach Project Agency ) nghiên cứu và phát triển các hóa chất diệt cỏ để dùn cho mục đích quân sự [1]. Một cuộc thử nghiệm tương đối qui mô đầu tiên dùng hóa chất ( Agent Purple) được tiến hành ở Trại Drum ( bang New York) vào năm 1959, và mô hình này được ứng dụng trong chiến tranh Việt nam sau đó vài năm[2].
Giữa lúc cuộc chiên tranh giữa Việt nam và Mỹ càng ngày càng đi vào giai đoạn ác liệt, và trước sự thất bại của Mỹ trong việc theo dõi quân đội Việt nam, giới quân sự và chính trị Mỹ nghĩ đến việc dùng hóa chất. Họ lý giải rằng, chất màu da cam nên được dùng bởi vì nó có thể “ khai quang”, tức là làm trống đồng cỏ, quân đội Việt nam không có nơi để ngụy trang, và không quân Mỹ tha hồ bỏ bom cắt tuyến đường Trường Sơn.
Ngày 20 tháng 11 năm 1961, Tổng thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiên dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam[3]. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng thống Nam Việt Nam ( một chính phủ do Mỹ dựng nên và nuôi dưỡng), ủng hộ nồng nhiệt. Diệm cho rằng ông ta “ biết Cộng sản ở đâu”, và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mỹ mãn[4]. Ngược lại với quan điểm của Diệm, các giới cao cấp trong Bộ ngoại giao Mỹ như Roger Hilsman và W. Averell Harriman phản đối quyết định của Tổng thống Kennedy, vì họ cho rằng không có cách gì để biết được là chiến dịch sẽ “ khai quang” hay đồng ruộng của dân bị tiêu hủy[5]. Ong Averell Hilsman còn lý giải rằng nếu Mỹ dùng hóa chất trong cuộc chiến, Việt Nam sẽ có lý do để tố cáo Mỹ là “ chủ nghĩa đế quốc dã man” (“ Foreign imperialist barbarism”). Nhưng chiến dịch vẫn được thi hành.
Hóa chất bắt đầu được vận chuyển đến Việt Nam trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1961. Các hóa chất này được chứa trong các thùng phuy, với mã màu khác nhau: chất màu hồng ( Agent Pink), chất màu xanh lá cây ( Agent Green ), màu tím ( Agent Purple), màu da cam( Agent Orange), màu trắng ( Agent White ) và màu xanh da trời ( Agent Blue ). Mỗi thùng phuy chứa khoảng 250 lít ( tức 55gallons). Mỗi lọai hóa chất màu có thành phần hóa học khác nhau, nhưng nói chung phần lớn chúng đều có thành phần phần 2, 4, 5 – T, tức có chứa dioxin. Dioxin, như đã và sẽ đề cập trong một phần sau, là một độc tố có khả năng gây ra ung thư và hàng loạt bệnh tật khác trên con người. Vì thế, nói đến chất màu da cam, người ta thường hay đồng hóa với dioxin.
Chiến dịch phun hóa chất xuống Việt Nam có tên là “ Operation Trail Dust”. Trong chiến dịch này có nhiều chiến dịch và chương trình nhỏ. Chiến dịch Ranch Hand (“ Bàn tay nông dân” – nằm trong chiến dịch Trail Dust) thực hiện khỏang 95% việc phun hóa chất. Khi đến Việt Nam, trên danh nghĩa, các hóa chất này thuộc quyền sở hữu của chính phủ miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Điều này có nghĩa là quân đội Nam Việt Nam trực tiếp quản lý và sử dụng các hóa chất này. Trong chương trình có tên là “ Farmgate” ( do Bộ quốc phòng Mỹ điều khiển), máy bay mang nhãn hiệu Việt Nam, do phi công mặc đồ dân sự lái và có sự trợ giúp của một nhân viên người Việt, đã tiến hành những phi vụ tiêu hủy mùa vụ ở miền Nam cả Trung Việt Nam.
Trong chiến dịch Ranch Hand, có nhiều dự án với những mục tiêu cụ thể, chẳng hạn như phun ở đâu, bao nhiêu, lọai hóa chất nào, và do ai tiến hành. Mỗi dự án điều có sự chấp thuận của hai bên, Mỹ và Nam Việt Nam.
Kể từ năm 1962, lực lượng Không quân Mỹ đã bắt đầu rãi hóa chất ở qui mô lớn trong các vùng đất thuộc miền Nam và Trung Việt Nam. Phần lớn ( 90%) AO được rãi xuống Việt Nam bằng máy bay lọai C123, và phần còn lại ( 10% ) bằng trực thăng xe vận tải, và đi bộ.
NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ.
Chiến dịch sử dụng hóa chất trong cuộc chiến tranh Việt Nam của quân đội Mỹ không lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh cận đại. Trong Thế chiến thứ II, chính phủ Mỹ ủy nhiệm và cung cấp ngân sách cho Hội đồngKhoa học Quốc gia để phát triển một hóa chất dùng cho tiêu hủy đồng lúa và vụ mùa ở Nhật. ( nên nhớ rằng lúc đó lúu gạo là nguồn thực phẩm chính người Nhật). Kết quả của nghiên cứu này là 2,4-D và 2,4,5- T( tức là chất độc màu da cam ngày nay) ra đời. Tuy nhiên, qua thảo luận Tổng thống Dwight Roosevelt và Chánh văn phònh Nhà trắng, Đô đốc Willam D. Leahy quyết định không sử dụng hóa chất này trong chiến tranh Nhật. Do đó, chất đốc màu da cam không dùng được trong Thế chiến thứ II.
Nhưng trong đầu những nhà cầm quyền Tây phương, việc sử dụng hóa chất như một vũ khí trong chiến tranh vẫn là một lựa chọn. Vào cuối thập niên 1950, qua sự thành công của Anh trong việc sử dụng hóa chất 2,4,5 – trichlogophenoxyacetic ( 2,4,5 – T ) để tiêu diệt mùa màng ở malaya, Bộ quốc phòng Mỹ lại ủy nhiệm cho cơ quan ARPD ( advanced Reseach Project Agency ) nghiên cứu và phát triển các hóa chất diệt cỏ để dùn cho mục đích quân sự [1]. Một cuộc thử nghiệm tương đối qui mô đầu tiên dùng hóa chất ( Agent Purple) được tiến hành ở Trại Drum ( bang New York) vào năm 1959, và mô hình này được ứng dụng trong chiến tranh Việt nam sau đó vài năm[2].
Giữa lúc cuộc chiên tranh giữa Việt nam và Mỹ càng ngày càng đi vào giai đoạn ác liệt, và trước sự thất bại của Mỹ trong việc theo dõi quân đội Việt nam, giới quân sự và chính trị Mỹ nghĩ đến việc dùng hóa chất. Họ lý giải rằng, chất màu da cam nên được dùng bởi vì nó có thể “ khai quang”, tức là làm trống đồng cỏ, quân đội Việt nam không có nơi để ngụy trang, và không quân Mỹ tha hồ bỏ bom cắt tuyến đường Trường Sơn.
Ngày 20 tháng 11 năm 1961, Tổng thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mỹ tiến hành chiên dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam[3]. Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng thống Nam Việt Nam ( một chính phủ do Mỹ dựng nên và nuôi dưỡng), ủng hộ nồng nhiệt. Diệm cho rằng ông ta “ biết Cộng sản ở đâu”, và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mỹ mãn[4]. Ngược lại với quan điểm của Diệm, các giới cao cấp trong Bộ ngoại giao Mỹ như Roger Hilsman và W. Averell Harriman phản đối quyết định của Tổng thống Kennedy, vì họ cho rằng không có cách gì để biết được là chiến dịch sẽ “ khai quang” hay đồng ruộng của dân bị tiêu hủy[5]. Ong Averell Hilsman còn lý giải rằng nếu Mỹ dùng hóa chất trong cuộc chiến, Việt Nam sẽ có lý do để tố cáo Mỹ là “ chủ nghĩa đế quốc dã man” (“ Foreign imperialist barbarism”). Nhưng chiến dịch vẫn được thi hành.
Hóa chất bắt đầu được vận chuyển đến Việt Nam trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1961. Các hóa chất này được chứa trong các thùng phuy, với mã màu khác nhau: chất màu hồng ( Agent Pink), chất màu xanh lá cây ( Agent Green ), màu tím ( Agent Purple), màu da cam( Agent Orange), màu trắng ( Agent White ) và màu xanh da trời ( Agent Blue ). Mỗi thùng phuy chứa khoảng 250 lít ( tức 55gallons). Mỗi lọai hóa chất màu có thành phần hóa học khác nhau, nhưng nói chung phần lớn chúng đều có thành phần phần 2, 4, 5 – T, tức có chứa dioxin. Dioxin, như đã và sẽ đề cập trong một phần sau, là một độc tố có khả năng gây ra ung thư và hàng loạt bệnh tật khác trên con người. Vì thế, nói đến chất màu da cam, người ta thường hay đồng hóa với dioxin.
Chiến dịch phun hóa chất xuống Việt Nam có tên là “ Operation Trail Dust”. Trong chiến dịch này có nhiều chiến dịch và chương trình nhỏ. Chiến dịch Ranch Hand (“ Bàn tay nông dân” – nằm trong chiến dịch Trail Dust) thực hiện khỏang 95% việc phun hóa chất. Khi đến Việt Nam, trên danh nghĩa, các hóa chất này thuộc quyền sở hữu của chính phủ miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Điều này có nghĩa là quân đội Nam Việt Nam trực tiếp quản lý và sử dụng các hóa chất này. Trong chương trình có tên là “ Farmgate” ( do Bộ quốc phòng Mỹ điều khiển), máy bay mang nhãn hiệu Việt Nam, do phi công mặc đồ dân sự lái và có sự trợ giúp của một nhân viên người Việt, đã tiến hành những phi vụ tiêu hủy mùa vụ ở miền Nam cả Trung Việt Nam.
Trong chiến dịch Ranch Hand, có nhiều dự án với những mục tiêu cụ thể, chẳng hạn như phun ở đâu, bao nhiêu, lọai hóa chất nào, và do ai tiến hành. Mỗi dự án điều có sự chấp thuận của hai bên, Mỹ và Nam Việt Nam.
Kể từ năm 1962, lực lượng Không quân Mỹ đã bắt đầu rãi hóa chất ở qui mô lớn trong các vùng đất thuộc miền Nam và Trung Việt Nam. Phần lớn ( 90%) AO được rãi xuống Việt Nam bằng máy bay lọai C123, và phần còn lại ( 10% ) bằng trực thăng xe vận tải, và đi bộ.
Chán đời đi lang thang !