📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tùy Bút - Tản Văn

Tản Mạn Cuối Tuần

69 trả lời, 14.069 lượt xem — Trang 3 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-01 23:27:45Lý Lạc Long>

Năm Hợi Nói Chuyện Heo



Mọi người lại sắp sửa đón thêm một cái Tết Nguyên Đán, theo Âm lịch thì  năm  sắp đến (2007) là năm Đinh Hợi.  Heo là con vật  được xếp cuối cùng trong Thập Nhị Chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, và Hợi). Tương truyền, ngày xưa Ngọc Hoàng mở đại hội và triệu tập tất cả các loài vật, nhưng chỉ có 12 con vật như  có tên trong Thập nhị chi  đến phó hội.  Con chuột (tý) là con vật đến phó hội sớm nhất  nên đứng đầu bảng Địa Chi và con heo (hợi)  có lẽ vì  ủn ỉn, chậm chạp nên đến sau cùng nên đứng cuối bảng.  Theo Tử vi thì lợn tượng trưng cho sự giàu có vì loài lợn rừng thường làm hang trong những khu rừng. Người tuổi Hợi rất hào hiệp, ga-lăng, tốt bụng và dũng cảm nhưng thường rất bướng bỉnh, nóng tính nhưng siêng năng và chịu lắng nghe.

Mặc dù có đến 3 nước: Việt Nam, Đại Hàn  và Trung Hoa có chung ngày  Tết Nguyên Đán nhưng thường thì đa số người trên thế giới biết đến Tết  Nguyên Đán  như "Tết Tàu" (Chinese New Year).   Năm Đinh Hợi,  theo lịch cải cách của VN thì   chúng ta sẽ đón Tết Nguyên Đán vào ngày 17/2/2007 trước Tết Tàu một ngày (18/2/2007).  Chuyện này cũng chẳng phải là chuyện mới mẻ chi,  việc cải tổ âm lịch cho VN cho phù hợp với địa dư đã được làm từ năm 1967.  Nhưng rồi VN cũng vẫn nhắm mắt  để dân chúng xài lịch Tàu cho đến  năm nay  thì chuyện "lịch cải cách"  lại được chính quyền VN khuấy động lên. Lý do có thể là nhà nước và đảng  đang bị  dân chúng, từ Nam đến Bắc, tố cáo đủ thứ tội, độc tài, tham nhũng, bán nước, làm tay sai cho Trung Quốc ... nên mới dùng cơ hội này để "phân bua" với mọi người đảng ta là  sáng suốt, là "đỉnh cao trí tuệ",  là độc lập, không lệ thuộc Tàu, không bợ đít Mỹ ... v.v ...  bằng chứng là đảng cũng biết soạn lịch để cho dân VN xài.   Tóm lại,  câu chuyện trở nên "ầm ỉ"  là  do đảng muốn lợi dụng cơ hội này để tuyên truyền và kể công lao ... Đây chỉ là một trong những chuyện nhiều "d" (dài, dai, dóc, dở, dỏm...) của đảng , quá quen thuộc và  nghe hoài chán phèo . Năm sắp hết, Tết con heo  gần đến,  chúng ta nói chuyện về heo chơi và chắc chắn hấp dẫn hơn chuyện "d" của đảng nhiều .

Hợi, con vật cuối bảng trong Thập nhị chi,  người miền Bắc gọi là lợn, với người Nam kêu là heo.  Ngoài ra,  tiếng Việt còn có nhiều từ để gọi các loại lợn (heo) khác nhau  như:  Heo nái (lợn cái nuôi để sản xuất lợn con); Lợn sề (lợn nái già); Heo nọc ( heo đực dùng để truyền giống); Lợn bột, heo sửa (lợn con đang bú mẹ); Lợn hạch (lợn đực đã thiến); Lợn ỷ (một giống lợn của Việt Nam, có mõm ngắn, lưng võng và bụng sệ với lớp da màu đen hay xám); Lợn lang (lợn lông đốm đen- trắng); Lợn mọi (một dạng lợn ỷ, rất chậm lớn, chủ yếu nuôi làm cảnh); Lợn lòi ( lợn rừng) ....

Theo lịch sử ghi lại thì  năm 1918 , dịch cúm Tây Ban Nha (Spanish Flu)  đã  giết hại hơn 20 triệu người trên khắp  thế giới . Virus gây ra  dịch cúm này có nguồn gốc từ bệnh cúm ở heo .  Gần đây, năm 1998 , virus Nipah xuất phát từ heo đã làm trên 100 người thiệt mạng ở Mã Lai .

Từ xa xưa,  thịt heo  đã  là  một  thực phẫm cho loài người . Ngoại trừ các dân tộc theo đạo Hồi  hoặc đạo Do Thái  không ăn thịt heo.  Cho nhân loại nói chung thì  thịt heo là nguồn thực phẫm  quý báu , bổ dưỡng và dễ  tìm . Bên cạnh những lợi ích về mặt dinh dưỡng, ngày nay, các nhà khoa học đã chứng minh một số bộ phận của heo có thể được sử dụng để thay thế những bộ phận hư hỏng của con người .  Đây là phương pháp dùng bộ phận của một chủng loại này để ghép vào chủng loại khác. Giới chuyên môn gọi phương pháp này là "ghép dị chủng" (xenotransplantation) .

Tín đồ của Hồi giáo và Do Thái giáo không ăn thịt heo vì họ thực tập theo những lời phán dạy trong kinh sách  liên quan đến heo của tôn giáo họ.  Ngày xưa, tín đồ của Công giáo cũng không ăn  thịt heo nhưng sau giấc mơ của Pierre thấy Thiên Chúa cho phép ăn nên họ ăn .  Như trích dẫn ở dưới:
Theo LêVi 11:7. Cựu Ước
"7) Con heo, vì nó có chân chẻ làm hai móng, nhưng không nhai lại: các ngươi phải coi nó là loài ô uế.
8) Thịt của chúng, các ngươi không được ăn, xác chết của chúng, các ngươi không được đụng đến; các ngươi phải coi chúng là loài ô uế."
Theo Thiên Kinh Qu'ran
" 2: 173 Quả thật, Ngài chỉ cấm các ngươi ăn xác con vật đã chết, máu, thịt heo, và những vật cúng hiến tà thần khác ngoài Allah. Nhưng đối với những ai vì nhu cầu cần thiết hay bị ép buộc phải ăn thì không bị kết tội, vì Allah là Ðấng Khoan Dung và Nhân Từ ".
Theo Tân ước TÐCV 10:9 - 16
"Hôm sau, đang khi họ đi đường và đến gần Gia-phô, thì ông Phê-rô lên sân thượng cầu nguyện; lúc đó, vào khoảng giờ thứ sáu.
10 Ông thấy đói và muốn ăn. Đang khi người ta dọn bữa thì ông xuất thần.
11 Ông thấy trời mở ra và một vật gì sà xuống, trông như một tấm khăn lớn buộc bốn góc, đang được thả xuống đất.
12 Trong đó có mọi giống vật bốn chân và rắn rết sống trên đất, cùng mọi thứ chim trời.
13 Có tiếng phán bảo ông: "Phê-rô, đứng dậy, làm thịt mà ăn! "
14 Ông Phê-rô thưa: "Lạy Chúa, không thể được, vì không bao giờ con ăn những gì ô uế và không thanh sạch."
15 Lại có tiếng phán bảo ông lần thứ hai: "Những gì Thiên Chúa đã tuyên bố là thanh sạch, thì ngươi chớ gọi là ô uế."
16 Việc ấy xảy ra đến ba lần, và lập tức vật ấy được đưa lên trời."

Ở Việt Nam, trong tất cả các loại thịt thông dụng thì có lẽ thịt heo là được dùng nhiều nhất và có thể chế biến ra hàng trăm món khác nhau có thể dùng  trong  những yến tiệc sang trọng cho đến những bửa cơm bình thường. Và hầu hết những phần của cơ thể con heo : giò heo, da heo, lỗ tai heo, lòng heo ...  cũng được chế biến thành các món ăn  rất độc đáo. Đặc biệt trong các lễ lộc lớn  như cưới hỏi, cúng đình ... thì không thể vắng mặt heo.

Mặc dù  heo  với những ích lợi thực tiễn  về mặt thực phẫm và y học cho loài người như vậy. Nhưng trong 12 con giáp,  hoặc rộng ra hơn cho tất cả gia cầm gia súc, thì  con heo dường như là con vật bị gán cho nhiều thói hư tật xấu nhất .  Mỗi con vật thì dường như chỉ bị gán cho một hay hai "điểm xấu". Chẳng hạn, uống như trâu, dữ như cọp, , hôi như chuột, đồ chó, đồ ngựa, dê xồm, độc như rắn,  mèo mả gà đồng, đẻ như gà, yếu như gà (không dai sức) ....  Còn cho con heo thì  nào là ngu như heo, ở dơ như heo,  ham ăn như heo, làm biếng như heo,  mập ú như heo, mũi hĩnh như heo,  đồ heo nọc ....   Con người ta khi bị chê một tiếng thôi là có thể  nổi cơn "tam bành lục tặc" lên rồi.  Nhưng con heo dù cho bị chê đủ thứ, bị chê thậm tệ, vẫn bình chân như vại, vẫn tỉnh bơ và vẫn vui vẻ đúc đầu vào máng cám, ăn như heo, để ú như heo và có nhiều thịt phục vụ cho loài người. Thiệt là quá xá bất công và đúng ra chúng ta phải "khâm phục" con heo. Về con heo, Winston Churchill , thủ tướng nước Anh, có  nói rằng: "Con chó ngước nhìn chúng ta. Con mèo nhìn xuống chúng ta, còn con lợn thì coi chúng ta như là [người] ngang hàng".

Bất công cho đến nổi  cái anh chàng sợ vợ vì nàng là "giai nhân" hoặc nàng là  "Sư tử Hà đông"... làm bà mẹ tức tối rủa xả đến heo luôn: " Tao nuôi mày bằng sửa Ông Thọ,  bằng bột Bích Chi, bằng cơm gạo trắng, bằng thịt, bằng cá  ... chứ có cho mày ăn cám heo đâu mà mà ngu dữ vậy hả con?  Mày đóng trang thờ người dưng để nó coi thường mẹ mày..."

Còn nữa, trên trái đất có lẽ không có một loại động vật nào bị " thiến" nhiều hơn giống heo. Vì ngoài một số ít  heo nọc để gây giống, heo nái để sinh sản, tất cả heo thịt, đực lẫn cái, đều bị thiến  để  "con lợn lòng" của heo không nổi lên, để các chú heo, cô lợn  thịt không còn mơ tưởng đến chuyện trăng hoa mà chỉ vùi đầu vào máng, miệt mài ăn uống,  cho mau lớn và mập mạp. Thiệt đúng là oan ức và  bất công cho đời con heo thịt. Suốt kiếp phải chịu nỗi đau thái giám. Hàng ngày, trên khắp thế giới hàng triệu con heo thịt vào lò, và ít nhất cũng ngang số lượng này những chú heo, cô lợn phải chịu nỗi đau hoạn quan.  Tại sao các hội bảo vệ súc vật lại im hơi lặng tiếng về  cái vụ "thiến heo" này ha?   Lại thêm một điều bất công cho con heo.

Một bất công khác nữa là  hình ảnh heo trong thơ văn nhạc rất là hiếm hoi . Rồi kế đến khi loài người đóng phim nghèo, không có quần áo để mặc, thì giới đạo đức phản đối loại phim này  phạm thuần phong mỹ tục và gọi đó là phim "con heo".  Báo chí Tây phương đã báo động  sự việc "ghiền phim con heo"  đã trở thành một căn bệnh của thế kỷ 21.  Mặc dù con heo chẳng có chút liên quan nhưng  tên tuổi heo vẫn bị bôi lọ trong sự kiện này. Đúng là bất công thiệt !

Nói chuyện heo mà không nhắc đến Trư Bát Giới là một sự thiếu sót.  Trư Bát Giới, theo truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, là Thiên Bồng Nguyên Soái  cai quản sông trời  (Thiên hà)  của thiên đình vì uống rượu say phạm tội "mò mẫm tiên nữ" ẩu  nên  bị Trời đày biệt xứ (hạ trần), do nghiệp lực đưa đường lại rơi ngay đúng ổ heo đang sanh và phải chịu kiếp nạn " làm người đầu heo"  dưới trần thế.   Theo sách vở diễn giải thì tên "Bát Giới"  là tánh tham (ăn, ngủ, sắc, nịnh ...) cho được lợi về mình.  Vì vậy, vũ khí của họ Trư phải là đinh ba (cào cỏ), để  tiện vơ vét vào cho nhiều, cho thỏa lòng tham dục. Với chuyện hưởng lạc thú trần tục, Trư Bát Giới  rất giàu sáng kiến và  nhanh trí không ai bằng. Như trong đoạn kể bà góa phụ họ Giả kén rể. Góa phụ họ Giả than thở: "Gả đứa lớn thì sợ đứa thứ hai tị. Gả đứa thứ hai thì sợ đứa út tị. Muốn gả em út cho con lại sợ đứa lớn tị..." Bát Giới liền đề nghị ngay : "Nếu sợ các em tranh nhau, thì mẹ gả tất ba em cho con là xong, đỡ phải cãi nhau ầm ĩ, làm rối gia đạo. (...) Giá mà thêm mấy cô nữa, con rể mẹ cũng sẵn sàng thu nhận. Thuở nhỏ, con đã học được phép nhẫn nại, có bao nhiêu vợ con cũng có cách ăn ở được vừa lòng." Và đến khi bà mẹ bảo rằng các con bà không chịu lấy Bát Giới làm chồng, chàng nguyên soái heo đã  ứng xử thật mau lẹ : "Mẹ ạ, các em không chịu lấy con, hay là mẹ lấy con vậy." [TDK III 1988: 62-68].  Trứ Bát Giới theo phò Đường Tăng thỉnh kinh. Kết thúc cuộc thỉnh kinh Trư Bát Giới được Phật Như Lai phong làm Tịnh đàn Sứ giả với chức năng đặc nhiệm là có đủ thẩm quyền để... ăn uống được đồ cúng tế của khắp cả thiên hạ.  Trong khi Đường Tăng và Tề Thiên đều thành phật. Sa Tăng thành Kim Thân La Hán. Long Mã trở thành Bát bộ Thiên Long.  Trư Bát Giới vẫn còn lận đận.   Họ Trư bị Phật tổ  phê: "Tính ương vẫn còn, sắc tình chưa hết". Rồi xét vì năng khiếu "ăn khoẻ, tính lười, dạ dày to lắm"  nên phong cho họ Trư làm Tịnh Đàn Sứ giả.  Xem ra, cái bản năng  tham dục, cái chất Trư tiềm tàng trong mỗi con người chúng ta rất khó biến đổi .

Dạo này  cũng như nhiều bà con khác,  tôi cũng hơi ngán ngán thịt bò vì sợ bịnh "bò điên" nên  chuyển qua xúc xích làm bằng thịt heo. Sáng nay, ngồi ăn và đọc được một truyện vui về xúc xích tiện thể ghi lại đây chia sẻ cho đủ bộ "heo", để xem cho vui vẻ ba ngày xuân. "Có một ông thợ sản xuất xúc xích, sau một thời gian tìm tòi ông sáng chế ra được cái máy chỉ cần bỏ con heo vào là sẽ cho ra xúc xích. Một hôm, đứa con ngồi xem ông làm và hỏi: "Sao ba không chế ra cái máy bỏ khúc xúc xích vào sẽ ra con heo thì mình sẽ bán được nhiều tiền hơn". Suy nghĩ một chút, ông trả lời: " Ba muốn chứ, nhưng cái máy đó mẹ con giữ bản quyền rồi".  Thằng bé hỏi tiếp: "Thế sao ba không hỏi mượn của mẹ để xài?".  Ông bố : "Có chứ,  con heo con! Thôi đi chơi đi ... để ba làm việc tiếp" ."

Tết nơi đất khách, tuyết trắng trời trắng đất,  ba ngày xuân vắng bóng chúa Xuân, chẳng có chút hương vị của Tết.  Mồng một Tết có khi vẫn phải đi cày, mồng hai cũng kéo, mồng ba thoáng cái đã qua ... để trả nợ áo cơm.  Không khí Tết  nơi xứ người càng làm chạnh lòng người viễn xứ : " Tôi có chờ đâu có đợi đâu; Mang chi xuân đến gợi thêm sầu" (Chế Lan Viên).  Những ngày xuân nghe bản nhạc "Ly rượu mừng" của Phạm Đình Chương, càng da diết nhớ hơi nóng ấm của nồi bánh tét, mùi vị thơm ngon của đòn bánh tét đầu tiên vừa chín tới,  tiếng pháo nổ đì đùng đêm giao thừa,  hoa mai vàng nở rực rở trước sân, ... những mùa xuân thanh bình tự do nơi quê mẹ. Nhưng thôi dù ở trong hoàn cảnh nào thì xuân vẫn là xuân, chúng ta cũng phải cung chúc tân xuân nhau. Ít nhất thì cũng giữ được trong tâm những nét đẹp đáng được gìn giữ của tổ tiên chúng ta. Xin  kính chúc tất cả một năm Đinh Hợi an khang, thịnh vượng và mọi việc như ý .

"Tân niên hạnh phúc bình an tiến,
Xuân nhật vinh hoa phú quí lai."

Lý Lạc Long,
(Xuân 2007)



[/align]



Ly Rượu Mừng
Nhạc sĩ: Phạm Đình Chương
Trình bày: Ban Hợp Ca Thăng Long

(Bản nhạc này được viết tại Sàigòn năm 1955 để đăng trên số báo Tết, Báo Đời Mới, thể theo lời yêu cầu của cụ Trần Văn Ân và nhà văn quá cố Nguyễn Đức Quỳnh, là hai người chủ trương tờ báo này)
📎 NHNCH
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-03-15 20:04:03Lý Lạc Long>
Nhẫn Nhịn Và Nhu Nhược

Ở đời chúng ta thường thấy những việc nhỏ bằng sợi tóc,  nhưng đôi khi vì không nhẫn nhịn được mà có thể dẫn tới  những sóng gió và tai họa  lớn . Ông bà ta thuở xa xưa đã có câu:

"Chữ Nhẫn là chữ tương vàng
Ai mà nhẫn được mọi đàng sướng thay"

Ngày xưa, khi thầy Tử-Trương muốn xuất chánh, đến từ tạ Ðức Khổng Phu Tử  và xin cho một lời để làm phép sửa mình.

Khổng Tử nói: "Bá hạnh chi bổn nhẫn chi vi thượng". (Trăm nết chung gốc chỉ có chữ nhẫn là cao thượng hơn hết.)

Tử Trương hỏi :
"Hà vi nhẫn chi" (Tại sao mà phải nhịn?)

Khổng Tử trả lời :
"Thiên tử nhẫn chi quốc vô hại. Chư hầu nhẫn chi thành kỳ đại. Quan lại nhẫn chi tấn kỳ vị. Huynh đệ nhẫn chi gia phú quý. Phu phụ nhẫn chi chung kỳ thế. Bằng hữu nhẫn chi danh bất phế. Tự thân nhẫn chi vô họa hoạn."
(Nghĩa là: Làm Vua mà biết nhịn thì trong nước không có điều tai hại. Bậc chư hầu mà biết nhịn thì nên nghiệp lớn.  Làm quan  mà biết nhịn thì  phẩm chức sẽ thăng tiến. Anh em biết nhịn với nhau thì nhà cửa đặng giàu sang. Chồng vợ biết nhịn thì mới thương yêu được trọn đời.  Bè bạn biết nhịn thì danh nghĩa chẳng hư.  Cho bản thân mà biết nhịn chẳng lo tai họa.)

Tử-Trương hỏi tiếp:
"Bất nhẫn hà như". (Còn chẳng nhịn thì đường nào?)

Khổng Tử trả lời :
"Thiên tử bất nhẫn quốc khống hư. Chư hầu bất nhẫn tán kỳ xu.  Quan lại bất nhẫn hình phạt tru.  Huynh đệ bất nhẫn cát phân cư. Phu-phụ bất nhẫn tình ý sơ. Tự thân bất nhẫn hoạn bất trừ."
(Nghĩa là: Làm Vua mà chẳng nhịn thì nước phải trống không. Là chư hầu chẳng nhịn thì hư bại thân mình.  Làm quan  không nhịn thì phải chịu hình phạt. Anh em chẳng biết nhịn nhau, thì tài sản chia cắt, thủ túc  phân ly. Chồng vợ chẳng nhịn thì tình nghĩa sẽ phai lợt. Còn bản thân của mình mà chẳng biết nhịn thì  họa hoạn chẳng dứt.)

Ðức Khổng Tử giải nghĩa xong, thầy Tử Trương ngậm ngùi than rằng: Phải lắm, phải lắm, thật là khó thay nếu không  "nhẫn"  thì cũng khó cho bổn phận làm người.

"Một điều nhịn chín điều lành" và  không ai có thể phủ nhận được những mặt hữu ích của chữ nhẫn trong đời sống của con người.  Trời cho mỗi người mỗi tính, tôi là người trời sinh ra rất trực tính, khó quay mặt làm ngơ trước những việc không đúng và phi lý (dĩ nhiên là theo nhận xét chủ quan của tôi). Trải qua kinh nghiệm của đời sống thực tế, tôi phải nhìn nhận là một người biết nhẫn nhịn sẽ thành công dễ dàng hơn về mọi mặt : công danh, sự nghiệp, giao thiệp, quan hệ ...  Nhưng nói như thế không có nghĩa là một người phải nhẫn nhịn đến độ hèn. Mỗi hoàn cảnh  nhẫn nhịn đều phải có cái đạo lý hoặc lý tưởng trong đó.  Tuy nhiên,  ranh giới giữa nhẫn nhịn và nhu nhược chỉ cách nhau một sợi tóc và rất khó mà phân biệt.  Nhu nhược cũng như "nhẫn" là một từ Hán-Việt có nghĩa là "mềm yếu" (nhu là mềm và nhược là yếu).  Theo vận nước  thăng trầm,  những đổi thay dâu bể của cuộc sống đã dạy tôi phải nhẫn nhịn để sinh tồn, để sống được bình an như có thể . Vì chết là hết, là chấm dứt … "đa số" người chết sẽ không làm được việc chi giúp thân, giúp đời ... Thắm thoát đã ba thập kỷ trôi qua, với niềm tin là mình đang thực tập chữ nhẫn và sống một cách đúng đắn .  Nhưng gần đây,  đọc bài viết của một luật sư trẻ đang sinh sống tại Sài gòn băn khoăn về sự nhu nhược của dân VN.  Tôi nhìn lại tôi cũng như tất cả sự việc đã qua .  Có lẽ tôi cần phải tự xét lại  nguyên tắc sống của bản thân ( principles of living)  một cách nghiêm túc hơn vì có thể  cuộc sống của  tôi đã lọt qua phía bên ranh giới của sự nhu nhược đã từ lâu.  Dưới đây là bài viết  "Trả lại hào khí Diên Hồng" của Luật sư Lê Công Định.  (Bài viết này đã được đăng trong tờ báo Pháp Luật ở Sài gòn  ngày 5/3/2006.)

" Lịch sử Việt Nam là lịch sử thăng trầm của một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây.
Những khoảng khắc hòa bình hầu như ngắn ngủi. Sau 1975 niềm vui độc lập và thống nhất, với biết bao máu và nước mắt vô tội đổ xuống, đã không kéo dài bao lâu. Đất nước triền miên rơi vào khủng hoảng, hết khủng hoảng kinh tế, đến khủng hoảng đạo lý và bây giờ khủng hoảng niềm tin. Điều đó suy cho cùng có nguyên nhân nội tại từ chính sự nhu nhược của mỗi con người chúng ta.
Bốn ngàn năm lịch sử đã kết nối từng cá nhân thành một dân tộc, hun đúc nên khát vọng Đại Việt, đưa chúng ta đi hết chiến thắng này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập tự chủ và thống nhất giang sơn về một mối. Thành tựu ấy có được là do sự quật khởi của hào khí Diên Hồng qua các thời đại.
Tiếc thay khi chuẩn bị bước vào nền thái bình thịnh trị, sự nhu nhược đã thế chỗ cho tinh thần quật khởi! Kẻ thì bỏ nước ra đi, trốn tránh. Người thì ở lại nhẫn nhục, muộn phiền. Bọn cơ hội thừa dịp thi thố sự đồi bại, biến giang sơn chung thành món mồi riêng tư béo bở.
Vì nhu nhược, chúng ta không dám phản kháng thói hạch sách, nhũng nhiễu của lớp quan lại mới, chấp nhận dùng tiền vượt qua trở ngại. Đến khi nhìn lại, quốc nạn tham nhũng và quan liêu đã lan tràn, bất trị.
Vì nhu nhược, chúng ta che tai không dám nghe lời nói ngay thẳng, mặc nhiên dung túng sự dối trá và xu nịnh. Đến khi bừng dậy, đạo đức đã suy đồi, khó sửa.
Vì nhu nhược, chúng ta hài lòng với những gì đang có, cố tin vào sự ổn định giả tạo, đắm mình vào những lễ hội vô nghĩa liên miên. Đến khi nghĩ lại, xung quanh đã đầy dẫy ung nhọt, không còn thuốc chữa.
Vì nhu nhược, chúng ta bịt mắt trước những bước đi vũ bão của các dân tộc láng giềng. Đến khi tỉnh ngộ, sự tụt hậu quá rõ ràng, không còn cơ may rút ngắn khoảng cách.
Để che giấu mặc cảm do nhu nhược, khắp nơi người ta kể nhau nghe những bài vè châm biếm hoặc lớn tiếng dè bỉu chuyện cung đình tồi tệ, nhưng lại trong … quán nhậu! Chí khí kiểu "sĩ phu Bắc Hà" ấy liệu sẽ giúp ích được gì cho công cuộc chấn hưng đất nước đang lúc cần hào khí Diên Hồng năm xưa?
Muốn chấn hưng đất nước trong vận hội ngàn năm có một này cần phải rũ bỏ sự nhu nhược đó. Muôn người xin hãy nắm tay lại, chế ngự sự sợ hãi, cùng tiến về phía trước, may ra khát vọng Đại Việt mới có cơ may biến thành hiện thực. Xin đừng để sự nhu nhược của những cá nhân trở thành sự bạc nhược của cả một dân tộc."

Bài viết ở trên của luật sư Lê Công Định cũng đã được BBC trích đăng lại và đa số những ý kiến phản hồi đồng thuận với nhận xét của anh.  Có một số ý kiến nói rằng dùng chữ "nhu nhược" (mềm yếu) là không đúng, là mạ lỵ cả dân tộc,  mà  phải  là "nhẫn".  Nói khác là dân VN đang "nhẫn" để chờ một ngày mai tươi sáng hơn. Mỗi người có quyền có nhận xét riêng của mình . Cho tôi thì tôi đồng ý với luật sư Lê Công Định, vì  xài chữ nhẫn để biện minh cho những thân phận con giun  bị dằn xéo  thì  nền tảng lý lẻ để bảo vệ lập luận này  nghe không có hợp lý và thuyết phục lắm.  Nhưng điều đáng nói  nhất ở đây  là bài viết này được đăng công khai trên một tờ báo trong nước cho nên dù có đồng ý với luật sư Lê Công Định hay không, thì chúng ta cũng phải dỡ nón khâm phục sự can đảm của anh Lê Công Định. Mặc dù anh không phải là người đầu tiên vượt qua sự nhu nhược của bản thân để nói lên tiếng nói lương tâm. Đất nước VN cần thêm nhiều người như luật sư Lê công Định.

Một số ý kiến phản hồi  nêu lên sự khác biệt như hội nghị Diên Hồng đời Trần được tổ chức dưới sự chỉ đạo của những lãnh đạo tài ba, có uy tín  như Hưng Đạo Vương, và  là để chống giặc ngoại xâm nên sự đoàn kết và đồng lòng giữa dân chúng đã có sẵn đó.   Còn "hội nghị Diên Hồng" đời nay  thì  để chống  bạo quyền (hay nội xâm).  Nó sẽ được tổ chức ở đâu và ai sẽ là người chủ trì?  "Một dòng nước nhỏ có thể cuốn trôi cả một núi cát, nhưng một hòn đá nhỏ thì vẫn nằm hiên ngang giữa lòng con suối lớn".   Nếu chỉ nói là "nên làm"  thôi thì chưa có đủ mà phải "biết cách làm thế nào” để biến núi cát hay những hạt cát rời rẽ  thành một khối đá?
 
Có lẽ  vấn đề chính hiện nay cho mọi người có tấm lòng với dân tộc và đất nước, mỗi người một viên gạch  tiếp tay nhau  làm thế nào cho dân  chúng nhìn ra "sự thật thối nát" của chính quyền cộng sản thì người dân sẽ vượt qua sự nhu nhược của chính họ.  Khi lực lượng dẫn đầu mạnh đến một mức nào đó, cường quyền không thể và không dám đàn áp nữa có lẽ dân tộc VN mới thấy được ánh sáng của dân chủ tự do chân chính.
 
Ở vào thời điểm này, dù dùng chữ nào để diễn tả hiện trạng của dân VN (dân tộc VN nhẫn nhịn hay dân tộc VN nhu nhược) thì số người  dân còn đủ sức "nhẫn nhịn"  hay số người dân chưa vượt qua sự "nhu nhược" (còn mềm yếu) dường như vẫn còn chiếm đa số trong dân chúng.  Nhưng dù hoàn cảnh thế nào thì cũng chỉ có một con đường đi cho những người có tấm lòng với đất nước là "tận nhân lực tri thiên mệnh".  Cầu mong  mọi việc may mắn và thuận lợi cho những người đang cống hiến tâm lực của mình vì tương lai của quê hương tổ quốc "chân cứng đá mềm".  Và  vận nước mệnh trời sẽ chuyển theo chiều hướng tốt cho dân tộc và đất nước Việt Nam.
 
Lý Lạc Long (August 16, 2006)
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-13 09:58:12Lý Lạc Long>





Bể Đông Dậy Sóng:  Chọn Ông Bổn - Zhang He Hay Ông Kha Luân Bố - Columbus Tốt Cho Việt Nam?

Từ trước đến nay, theo sử Tây Phương, người khám phá ra châu Mỹ là Christopher Columbus.  Theo tài liệu lịch sử thì Columbus đặt chân lên đảo Bahamas ngày 12, tháng 5, năm 1492. Lẽ tất nhiên, ai cũng biết người da đỏ đã đến và cư ngụ ở lục địa Mỹ châu cả ngàn năm về trước. Hiện giờ, có những tài liệu lịch sử cho thấy người Viking xuất phát từ Bắc Âu đã từng đến vùng Bắc châu Mỹ trước cả Columbus. Và mới gần đây, người ta tìm ra một số tài liệu lịch sử có thể chứng minh là người Trung Hoa cũng đã đến Châu Mỹ trước cả Colombus luôn.  Như công trình nghiên cứu của một học giả người Anh tên Gavin Menzies trong cuốn  "1421, Năm Trung Hoa Khám Phá Châu Mỹ" (1421 The Year China Discovered America , Transworld Pulishers, 2002) thì Đô Đốc Trịnh Hòa (Zhang He) trong thời vua Minh Thành Tổ (Zhu Di,1403-1424). Theo Siu Leung Lee, một nhà sử học Trung Hoa, Trịnh Hòa là một hoạn quan, theo đạo Hồi (Muslim) là tư lịnh hạm đội Zhang- He (1371-1435) gồm 1622 chiếc tàu và đã thực hiện ít nhất là 7 chuyến hải hành trong khỏang thời gian 1405-1430 đến tận châu Phi ( Somalia) và có thể đã đi đến châu Âu (Pháp, Hoà Lan và Portugal). Mỗi chuyến hải hành gồm 27.800 người và dùng trên 300 chiếc tàu, 62 chiếc là tàu lớn, dài 475 bộ, rộng 193 bộ , mỗi chiếc chuyên chở trên 1000 người.  Như vậy chiếc tàu lớn của hạm đội Zhang He lớn hơn gấp 6 lần chiếc tàu Santa Maria của Columbus (75x25 feet).  Theo Menzies, cuộc thám hiểm lớn nhất và quan trọng nhất mà cũng là chuyến đi cuối cùng của Trịnh Hòa khởi hành vào năm 1421 và trở về nước vào mùa hè và mùa thu năm 1423. Những khảo cứu của Menzies khiến ông ta tin tưởng rằng những chiếc tàu này của hạm đội Trung Hoa đã đến tận châu Mỹ và Châu Úc.  Sau thời Trịnh Hòa, nhà Minh bắt đầu chính sách bế quan tỏa cảng, và Khổng giáo rất thịnh nên nghề thương mãi không được trọng vọng lắm trong xã hội Nho giáo (sĩ, nông, công, thương). Những chương trình hải hành (như của hạm đội Zhang He) không được triều đình nhà Minh cho phép tiếp tục nữa .

Hiện nay, các nhà khoa học đã tìm thấy các xác tàu cổ của Trung Hoa ở bang Florida, New York và Canada. Hơn thế nữa, ở Nova Scotia, Cape Dauphin của Canada cũng đã tìm thấy bằng chứng chứng minh việc người TQ đã đến đây bằng tàu. Ở New Zealand, các chuyên gia cũng đã tìm thấy những bằng chứng tương tự như vậy. Họ đã khai quật được những xác người Hồi giáo, giày của chiến binh, xác của người theo đạo Phật ... và tin rằng người TQ đã đến New Zealand trước người châu Âu.  Ngoài ra, các chuyên gia đang kiểm tra lại tuổi của những bằng chứng tìm thấy ở New Zealand bằng phương pháp kiểm tra carbon và kiểm tra ADN của những mẫu xương tìm thấy ở Canada để xác định  "nguồn gốc" của xác chết.  Quyển sách của Gavin Menzies và các mẫu vật tại triển lãm ở Singapore (năm 2005) đã gây nên sự tranh cãi trong giới nghiên cứu.  Nếu bằng chứng tìm được từ thời Thành Cát Tư Hãn và Zheng He được chứng minh là "sự thật". Điều này sẽ  khẳng định sự vĩ đại  về khả năng hàng hải của người Trung Hoa  trong quá khứ và có thể sẽ gây những tác động về mặt chính trị.

Dân Trung Hoa hải ngoại và người địa phương thường tin rằng,  đô đốc Zhang He (còn được vua Minh phong tước Bổn Đầu Công) người cao 2,13 mét, đem lại phồn thịnh, may mắn và hy vọng nên chọn ông làm thần bổn mạng. Truyền thống ông Bổn bắt đầu từ đó và cho đến ngày nay, nơi nào có cộng đồng Trung Hoa hải ngoại là nơi đó có chùa Ông Bổn.  Truyền thống này hiện nay đang được đảng & nhà nước Trung Cộng làm sống lại, nhân lúc tinh thần người Trung Hoa đang lên.  Nhiều người Trung Hoa rất tự hào là Ông Bổn Trịnh Hòa  (Zhang He) đã từng đi vòng quanh thế giới trước khi Kha Luân Bố (Christopher Columbus) tìm ra được châu Mỹ .  Ở Việt Nam, nhất là miền Nam thì dường như tỉnh nào cũng có một vài chùa ông Bổn . Những chùa Ông Bổn lâu đời và nổi tiếng thì có chùa ông Bổn ở quận 5, Sài gòn; chùa ông Bổn ở Hội An; chùa ông Bổn ở Sóc Trăng ...  Nhưng ở Việt Nam,  theo truyền tụng, có nhiều chùa ông Bổn không phải thờ ông Bổn Trịnh Hòa mà là những nhân vật khác mà cộng đồng người Hoa tôn sùng và thờ phượng như vị thần bổn mạng của cộng đồng. "?"

Nhưng xem chừng chuyện ông Bổn  Trịnh Hòa bổng trở nên xôn xao  là một dấu hiệu của cuộc đối đầu tranh giành thế thượng phong trên Thái Bình Dương giữa siêu cường Mỹ và siêu cường đang lên Trung cộng đã bắt đầu ?  Biển Đông sẽ dậy sóng trong tương lai gần ?   Cũng có thể lắm !  Vài năm gần đây, Trung cộng đã vẽ lại và phát hành bản đồ biển Trung Hoa bao gồm bờ biển Việt Nam, Phi Luật Tân , Borneo, Đài Loan. Quần đảo Trường Sa nằm trong vùng biển của Trung Cộng, tức thuộc TC. Trung Cộng  là nước nhập cảng dầu nhiều nhứt từ Trung Đông, muốn hay không cũng phải tranh thủ kiểm soát Eo Biển Mã Lai.  Hiện nay, theo đánh giá của các nhà quân sự,  không có hải quân của nước Á châu nào so nổi với hải quân TC, kể luôn cả hải quân Nhật vì Nhât bị cấm võ trang do hiệp ước đầu hàng trong thế chiến 2.   Nỗ lực Trung Cộng hiện đại hoá mạnh  hải quân, Đài Loan chỉ là mục tiêu phụ,  tranh giành ảnh hưởng trên Thái Bình Dương với Mỹ  (dầu ) mới là  chánh . Trong thời gian gần đây khi giá  xăng dầu tăng, một khuynh hướng rất rõ của đa số chuyên gia Mỹ, là đổ tội cho nhu cầu tiêu thụ dầu tăng vọt ở Trung cộng. Tuần báo Mỹ U.S. News & World Report đã tiên đoán là kinh tế Trung Quốc sẽ vượt qua Nhật vào năm 2020, sẽ trở thành thứ nhì thế giới, chỉ sau Mỹ.   Và sự thật thì dường như đúng như thế, Trung quốc cần dầu, và trữ lượng các giếng dầu thế giới có giới hạn và đang cạn dần. Viễn ảnh  chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Trung quốc để tranh dành năng lượng có vẻ như khó tránh .  Nhưng kinh tế không phải là lý do đơn thuần mà phức tạp hơn như vậy.

Theo cuốn sách mới xuất bản (22/5/2006) của 2 tác giả Jed Babbin  và Edward Timperlake : "Chạm trán: Tại Sao Trung Hoa Muốn Gây Chiến Với Mỹ" ( Showdown: Why China Wants War with the United States, Regnery Publishing ) thì chiến tranh giữa Mỹ - Hoa sẽ xảy ra vì Trung cộng muốn như thế và TC nghĩ sẽ thắng Mỹ . TC sẽ tiếp tục gây căng thẳng và cuối cùng Hoa kỳ sẽ khai chiến.  Một bối cảnh chiến tranh được dựng ra như TC sẽ đánh chiếm Đài Loan (Taiwan) vào năm 2008 và  sẽ dẫn đến việc TC  kiểm soát hoàn toàn vùng biển Thái bình Dương trong vòng vài năm kế tiếp. Theo phân tích của Babbin và Timperlake, Trung Cộng là mối hiểm họa lớn nhất cho an ninh quốc gia của Hoa kỳ  và nếu Mỹ không cản trở được tham vọng của TC thì hệ quả có thể là Thế chiến thứ Ba . Theo các nhà bình luận, thì cuốn "Chạm Trán" là một  tiếng chuông cảnh tỉnh chính phủ Mỹ về hiểm họa của TC đối với an ninh quốc gia và quyền lợi của Hoa kỳ.

Tháng 6/2006 vừa qua, hải quân Mỹ đã tổ chức cuộc thao diễn quân sự lớn nhất trên Thái Bình Dương kể từ sau chấm dứt cuộc chiến VN lấy tên là Valiant Shield (Lá chắn dũng mãnh), với sự tham dự của ba Hàng Không Mẫu Hạm, 280 phi cơ  và 22.000 quân Mỹ .  Các nước Tàu, Nga, Ấn Độ, Nhật , Nam Dương và Mã Lai ... được mời và tham dự như quan sát viên.  Riêng Nhật Bản thì có gởi 1 chiến hạm tham gia.  Theo các nhà bình luận quân sự, cuộc tập trận này có thể coi như là một đòn tâm lý của Mỹ đánh phủ đầu Trung Cộng và Bắc Hàn .

Cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng quyền bá chủ  biển Đông  (Thái Bình Dương nói chung) giữa Mỹ và Trung cộng, theo các chuyên gia phân tích quân sự, là một việc khó tránh.  Và khi chiến tranh  bể Đông xảy ra, nó sẽ lôi kéo thêm bao nhiêu quốc gia vào cuộc?  Dù với vị trí chiến lược, kinh nghiệm chiến tranh, dân số ... v.v. Việt Nam đượccoi như là một nước lớn ở Đông Nam Á . Nhưng trong tình hình thực tế của thế giới  hiện nay, theo như các chuyên gia  quân sự phân tích, VN chẳng có "thực lực" nào đáng kể trong hệ thống thế giới mới.  Chỉ nhìn riêng về Hải quân, nếu chiến tranh biển Đông xảy ra, VN chỉ có thể ngồi ngó,  không có đủ lực lượng cần thiết để chiến đấu bảo vệ lảnh hải, bờ cõi.  Đã 31 năm, trong khi các nước láng giềng không ngừng canh tân quân đội để bảo vệ lãnh thổ thì  lãnh đạo đảng cộng sản VN chỉ lo làm tay sai cho ngoại bang và các thế lực tư bản, lo khủng bố dân chúng để giữ vững "ngai vàng",  lo tham nhũng, bòn rút tài nguyên đất nước làm của riêng, lo vơ vét cho đầy túi  chẳng kể chi  đến  quốc thể Việt Nam bị sĩ nhục.  Nếu Đức Thánh Trần Hưng Đạo còn sống , nhìn lực lượng và khả năng của hải quân VN, chắc Ngài cũng phải "lắc đầu" ngao ngán ....

Trước cuộc thao dượt "Lá Chắn Dũng Mãnh",  Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Donald Rumsfeld, đã ghé VN 3 ngày, từ 4/6 đến 6/6/2006. Sự việc này được dư luận thế giới bàn tán là Mỹ muốn lôi kéo VN vào trong liên minh quân sự để chống lại ý đồ bá quyền của Trung cộng trong khu vực biển Đông.  Việc này đã làm cho lãnh đạo VN chới với, khó xử. Dù biết rằng có sự hiện diện của Mỹ, Trung cộng sẽ không còn độc quyền thao túng VN nữa.  Nhưng với thành phần lãnh đạo VN do "thiên triều" TC chọn và nỗi lo sợ cho Mỹ vào các phong trào đòi hỏi dân chủ, tự do và đa đảng sẽ nổi lên mạnh  ngoài tầm kiểm soát. Quyền lực của đảng sẽ bị lung lay.  Mặc dù đây chính là lối thoát để Việt Nam tránh được sự khống chế và đồng hóa của TC đang tiếp diễn âm thầm từng ngày.  Nhưng giới lãnh đạo VN hiện tại do thiên triều TC "chấm"  thì  làm sao Hà Nội dám ra mặt phản lại thiên triều .  Ai cũng biết, mặc dù VN có tiếng là quốc gia độc lập, nhưng hiện tại VN giống như là một chư hầu của TC.  Nên mặt dù Rumsfeld chỉ khuyên VN phải tự mình lo phòng thủ vùng biển nước mình, như một nhắn nhủ  phải  lựa chọn,  nghĩa là chỉ có quyền chọn một, chứ không được chơi trò "đu dây" để hưởng lợi như đã từng làm với Tàu và Nga trong cuộc chiến tranh Nam Bắc  Và sự vắng  mặt VN, như  quan sát viên,  tại cuộc thao diễn  Valiant Shield  có thể  hiểu như là một dấu hiệu về đường hướng của VN ?

Những bài học lịch sử về sự đe dọa của chủ quyền quốc gia  với người khổng lồ phương Bắc cũng như những kinh nghiệm với chính sách của siêu cường Mỹ đối với miền Nam trước đây  cho chúng ta thấy  con đường chọn Ông Bổn Đầu Công - Zhang He (Tàu) hay ông Kha Luân Bố - Christopher Columbus (Mỹ)  đều không phải là chọn lựa tốt cho dân tộc Việt Nam .  Nhưng với một thành phần nắm quyền, đặt quyền lợi riêng của phe nhóm mình trên quyền lợi của dân tộc và đất nước, tham quyền cố vị, ai chết mặc bây tiền thầy bỏ túi.  Cái viễn ảnh, khi biển Đông dậy sóng,  VN sẽ  trở thành một bãi chiến trường đẫm máu để phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang , cho quyền lợi và tham vọng ngông cuồng của một thiểu số nắm quyền có thể trở thành một sự thật.

Chẳng biết cho đến khi nào người dân  Việt Nam  mới cùng đứng dậy phản kháng những sai trái, bất công, đau khổ ... do chủ nghĩa cộng sản đã gây ra  cho dân tộc và đất nước.  Đứng lên đòi  lại cái quyền tự quyết cho số phận, tương lai và hạnh phúc của bản thân,  dân tộc và đất nước . Và chỉ có bằng con đường này VN mới có hy vọng tránh thoát được cái thảm kịch chiến tranh khi biển Đông nổi sóng ba đào.

Lý Lạc Long (July 5, 2006)
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-19 15:57:25Lý Lạc Long>
Một Chút Suy Tư Về Thân Phận Con Người
(Con Người: Mi Là Ai?)

Mặc dù ai cũng thấy và nhìn nhận là con người đã và đang trên đường tiến hóa nhưng hành trình tiến hóa của con người có định hướng chăng? Nếu có thì con người sẽ đi về đâu? Cái viễn đích này quá xa xôi và chắc cũng ít người có khả năng nhìn thấy được một cách chính xác nên tạm thời chúng ta cứ để đó "xem". Về cơ bản thì con người cũng là một động vật, nhưng là một động vật thượng đẳng biết tư duy, theo quan niệm Đông phương con người là "linh ư vạn vật", là "thiên địa chi tâm". Con người là một loài vật có tính xã hội nên trong cuộc sống cộng sinh, biết thích ứng với nhau, biết chế ngự bản năng cầm thú để tiến hóa được thành con người văn minh như ngày nay. Nhưng con người có thực sự đã thuần hóa được cái bản năng thú vật man rợ tiềm ẩn đâu đó trong con người và luôn chực chờ nhe răng đe dọa chúng ta.

Cởi bỏ cái lớp áo văn minh vật chất thì con người của hôm nay so với con người của hôm qua và ngàn xưa dường như không có gì khác nhau mấy. Hình dạng và thể chất có thể thanh tú và mỹ lệ hơn, trí óc có thể phát triển và hiểu biết hơn ... so với con người thuở ban sơ, nhưng vẫn còn đó y nguyên nỗi niềm khoắc khoải băn khoăn cho thân phận:"Ta là ai ? Ta đến từ đâu? Ta đi về đâu?" Như Trần Tử Ngang, một thi nhân vào thời nhà Đường đã viết những chua xót ngậm ngùi về thân phận của con người :

Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du

Độc sảng nhiên nhi lệ hạ."

Hỡi người xưa qua rồi
Hỡi người sau chưa tới
Nhìn trời đất vô cùng
Mình ta tuôn giòng lệ.” (Tuệ Chương dịch)

 
“Nhìn phía trước người xưa vắng vẻ,
Ngoảnh về sau quạnh quẽ người sau.
Ngẫm hay trời đất dài lâu,

Mình ta rơi giọt lệ sầu chứa chan.”  (Lê Anh Minh dịch:)
 
Hay đã ngao ngán như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều (1741-1798)
”Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy,
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau;
Trăm năm còn có gì đâu,
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì."


Không phải chỉ có Trần Tử Ngang hay Ôn Như Hầu mới khoắc khoải, băn khoăn về thân phận con người, mà từ ngàn xưa đã có rất nhiều nhà hiền triết, thức giả khác từ đông sang tây đã phải suy tư về "thân phận của con người"... và thậm chí nhiều vị đã "chán sống" và tự kết liễu cuộc đời họ (như Hemingway, Leo Tolstoy, Lý Bạch ...). Và trong chúng ta thì chắc ai cũng đã từng có những giây phút chán nản với cuộc sống và tự hỏi : Ta là ai giữa những thay đổi bể dâu của cuộc đời này? Có rất nhiều "hệ thống tư tưởng", quan niệm về con người, và hình như cho đến nay vẫn chưa có "hệ thống tư tưởng" nào được sự đồng thuận tuyệt đối. Ngày xưa, có một lúc, Nho giáo đã là nền tảng cho các xã hội Đông phương như Trung Hoa, Việt Nam... Nhưng hiện nay, theo đa số, thì "cách sống" theo quan niệm của Nho giáo đã lỗi thời, không thích ứng được với cuộc sống hiện đại của xã hội con người nữa. Mặc dù là vậy, nhưng chúng ta cứ thử tìm hiểu xem cái nhìn và quan niệm cơ bản của Nho giáo về con người và xã hội loài người như thế nào?
 
 Cách đây khoảng 2500 năm, Khổng Tử đã nói: "Nhân chi sơ tính bổn thiện". Và con người trở thành xấu hay tốt là do ngoại cảnh chi phối. Nói cách khác là "gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", một người, ở gần những người tốt sẽ trở thành người tốt, ở gần người xấu sẽ trở thành người xấu. Trong xã hội, theo quan niệm Khổng Tử, có những người sống thuần bằng bản năng như các loài cầm thú, đây là những con người hạ cấp, phàm phu tục tử xét về phương diện đạo đức và phẩm cách. Nho giáo "gọi chung" những người này là "tiểu nhân" dù cho họ có chiếm giữ địa vị cao, có quyền thế và giàu có trong xã hội đi chăng nữa. Nếu tiểu nhân là người thô lậu , sống thuần vào bản năng thì ngược lại "quân tử" là người tiến hóa, biết khắc phục bản thân, hiểu đạo lý, hiểu mệnh trời và hiểu định mệnh con người là gì. Những đặc tính của tiểu nhân và quân tử tương phản rõ rệt, nhưng tiểu nhân và quân tử không phải ở vị trí đối lập, không phải là hai vị thế cực đoan mà quân tử là giai đoạn tiến hóa tới của tiểu nhân . Không có tiểu nhân thì không có quân tử và tương đồng giữa họ là họ đều là con người và đều có cái "thiên tính" tốt lành trong người . Theo Nho giáo, "Con người, ai cũng giống nhau vì có bản tính lành, nhưng do tập nhiễm thói xấu nên họ mới khác xa nhau" ( Nhân chi sơ, tính bản thiện, tính tương cận, tập tương viễn -Tam Tự Kinh-) và "Cái khác biệt giữa con người và cầm thú thì không xa mấy. Kẻ thứ dân thì bỏ mất sự sai biệt ấy, còn người quân tử thì biết bảo tồn nó" (Nhân chi sở dĩ dị vu cầm thú giả kỷ hi, thứ dân khử chi, quân tử tồn chi -Mạnh Tử-). Rất rõ ràng là giữa con người với cầm thú phải có sự phân định khác biệt, nhưng kẻ tiểu nhân đã bỏ mất sự sai biệt ấy cho nên vẫn còn đồng hóa mình với cầm thú, và cư xử theo bản năng thấp kém của cầm thú. Người quân tử thì biết bảo tồn sự sai biệt ấy, khắc phục bản năng thú cầm để vượt lên trên loài cầm thú . Chẳng hạn bản năng ăn uống, sự đói và khát có thể làm hại tâm (đói ăn vụng, túng làm càn), nhưng con người có thể ngăn chặn và khống chế mối nguy hại đó. Thà đói khát chứ không làm điều sai quấy. Nếu người ta có thể ngăn cản mối hại của đói khát đừng hại lây đến lòng dạ mình, như vậy dẫu mình chẳng bằng người nhưng lòng mình chẳng lo buồn" (Nhân năng vô dĩ cơ khát chi hại vi tâm hại, tắc bất cập nhân, bất vi ưu hỹ- Mạnh Tử-).
 
 Người quân tử, theo Nho giáo, là người biết mục đích cao cả của kiếp người, biết cái "thiên mệnh" mà trời trao cho con người, nghĩa là biết cái viễn đích (mục đích xa) tối hậu của nhân sinh. Người quân tử có thể tóm ở những chữ : Nhân, Trí, Dũng, Lễ, Nghĩa, Trung, Tín, Thành, Hiếu Đễ, Khoan Thứ, Tự Cường, Hiếu học ...
- Vì Nhân (bác ái) nên lòng yêu người tỏa khắp, mong muốn người khác cũng được hạnh phúc. Vì yêu thương nhân loại, nên lòng khoan dung độ lượng thứ tha. Không nhớ lỗi lầm người khác, mà chỉ chú trọng giáo hóa họ nên người.
- Vì Trí nên biết khôn ngoan suy xét điều phải điều trái, biết minh triết bảo thân trong cảnh nguy nan, biết phân biệt, kẻ xấu người tốt trong vấn đề xử lý tiếp cận. Nếu lỡ giao du với kẻ xấu, thì phải tuyệt giao với họ nhưng không nói xấu cho họ.
- Vì Dũng nên không biết sợ sệt là gì. Thấy việc nghĩa bèn ra tay hành động. Nếu đã hành động thì phải thiết thực chứ không chỉ ở lời nói suông.
- Vì Lễ nên giữ được hòa khí, trong nhà chẳng ai ghét, trong xã hội chẳng ai oán mình. Giữ được lễ nên trong việc giao tiếp với người tránh được sỗ sàng, dù giao du đã lâu. Trong việc lễ, quý nhất là ở lòng thành chứ không phải hình thức xa hoa lòe loẹt. Khắc kỷ, phục lễ cũng gọi là nhân vậy. Phục lễ nên tự chủ, không tranh chấp với ai, tuy hợp quần với người nhưng không kéo bè kết đảng.
- Vì Nghĩa nên luôn giữ sự công chánh, chẳng tranh giành với ai. Mỗi khi thấy món lợi thì nghĩ đến điều nghĩa mà xét có nên thu nhận chăng? Nghĩa là gì ? Chẳng qua là công ích và lẽ phải, cho nên quân tử không từ nan làm việc gì dù lớn dù nhỏ, miễn là việc ấy hợp nghĩa. Điều phi nghĩa đã đành không phạm, nhưng chính trong ý nghĩ cũng không được tơ tưởng đến nó. Người quân tử dù nghèo, vẫn an vui cảnh nghèo, không vì cùng khốn mà làm điều phi nghĩa. Đã nghèo nhưng không oán than. Đối với người cầm quyền, nếu họ sai lạc (làm điều phi nghĩa) thì người quân tử dũng cảm can gián không sợ mích lòng, thà vậy còn hơn là xu phụ dối gạt họ. - Vì Trung nên giao du với bằng hữu thì hết lòng, làm việc cho người thì hết dạ. Vì trung nên làm việc cho ai hoặc phụng sự ai thì hết lòng, không phản bội. Nhưng cái trung đó không phải là lòng trung máy móc và thiển cận (ngu trung). Bậc quân tử ngay cả lúc phụng sự vua đâu phải vì cá nhân nhà vua, mà chính vì lẽ đạo. Nếu vua mà vô đạo thì trung làm gì.
- Vì Tín mà hành xử. Tín là tin mình, tin người. Nhờ chữ tín đó mà thành người. Vì tự tin vào mình nên dù ai không biết tài đức của mình, mình cũng không buồn không oán. Tự tin vào tài đức của mình, càng ngày càng trau dồi, để một mai kinh bang tế thế, bấy giờ người biết mình cũng không muộn. Vì có tin nhau nên việc mới thành tựu, người mà không tín thì không biết ra thế nào.
- Vì Thành, nhờ lòng thành ấy mà người khác mới tin tưởng mình. Những lễ lạc cũng chủ yếu là ở lòng thành chứ không phải hình thức xa hoa lòe loẹt bề ngoài.
- Vì Hiếu Đễ, Hiếu là cái đạo đối với cha mẹ. Đễ là cái đạo đối với anh chị em. Đó là kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết cũng như sống, lúc cha mẹ mất mà tưởng như hãy còn, ấy là chí hiếu vậy. Cái Đạo đối với anh chị em là mỗi người phải ăn ở đúng phận mình, anh ra anh, em ra em. Đễ là gì ? Chẳng qua là đạo phụng sự huynh trưởng. Theo Nho giáo, hiếu đễ là đầu mối của lòng nhân (bác ái) nếu ta chẳng yêu cha mẹ ta, chẳng tôn kính anh em ta mà bảo rằng yêu mến tôn kính người và cha mẹ người khác, đó là lừa bịp.
- Vì Khoan Thứ, là lòng bao dung quảng đại của bậc quân tử. Bởi lẽ tiểu nhân là "quân tử chưa thành và sẽ thành", cho nên người quân tử chú trọng giáo hóa tha nhân hơn là ghét bỏ họ. Quân tử không nhớ lỗi lầm người khác. Con người phạm điều ác, bởi lẽ họ không nhận ra cái ranh giới phân định giữa con người và cầm thú. Người quân tử không những nhìn ra cái ranh giới ấy mà còn giáo hóa tha nhân để họ phân biệt được cái ranh giới ấy và vươn lên cao hơn loài cầm thú bằng cách khắc phục bản năng tự nhiên. Quân tử khoan thứ cho người, nhưng không khoan thứ cho mình. Lúc nào cũng phải quán xét để tu thân, nếu mình có lỗi phải can đảm cải hối. Việc tu thân đó luôn luôn bền bĩ gắng công, không biết mệt mỏi.
- Vì Hiếu Học, người muốn tu thân thì phải hiếu học. Ham học hỏi nghiên cứu thì sẽ khôn ngoan hiểu biết. Học thì phải thực hành. Cái việc học tập của người quân tử cũng giống như công việc của người thợ làm ngọc, luôn luôn mài dũa trau chuốt mới có ngọc quí. Cái học của người quân tử là đem ra giúp dân giúp nước, kinh bang tế thế. Cho nên khi người quân tử cầm quyền thì tôn chỉ phải là sửa đổi con người và sửa đổi xã hội. Sửa đổi con người để xã hội hoàn thiện hơn, đồng thời sửa đổi xã hội để con nguời được hạnh phúc hơn. Đó là hai công việc song hành và phải được tôn trọng như nhau. Cho nên bậc cai trị phải luôn tu thân mới đủ tư cách dẫn đạo dân chúng. Nhờ tu thân mà tâm hồn trong sạch, tác phong hợp lễ, đạo đức tràn đầy. Nhà cai trị lẫn nhân dân đều phải xem việc tu thân làm gốc.

Người ta rất dễ dàng nhận ra đâu là tiểu nhân, đâu là quân tử. Người quân tử thì chú trọng vào nghĩa, kẻ tiểu nhân chú trọng vào lợi. Tiểu nhân chỉ lo trau chuốt bề ngoài, trọng hư danh, lời lẽ xảo trá. Sở dĩ như vậy vì họ mong dối gạt người. Họ sợ người khác phê phán nên phải tạo cái vỏ bọc đó để che đậy lòng dạ xấu xa. Còn quân tử hiểu giá trị của mình (dù ai không biết, không hiểu mình cũng không sao) nên tự trông cậy vào chính mình. Tiểu nhân thường kiêu căng hợm hĩnh nhưng trong lòng không bao giờ thư thái, còn quân tử lòng dạ thư thái mà không kiêu mạn. Tiểu nhân thích a dua bè đảng cho nên dẫu chung đụng với mọi người nhưng luôn tạo mối bất hòa. Quân tử thì ngược lại, dẫu chung đụng với nhiều người nhiều tầng lớp nhưng luôn giữ hòa khí. Quân tử là người nhân nghĩa nên lúc nào cũng cảm thấy an tâm thư thái, tiểu nhân thì ngược lại. Quân tử làm cho người được tốt đẹp, tiểu nhân chỉ mong gieo điều ác cho người. Tiểu nhân mà nắm vận mệnh quốc gia, thì là đại họa. Quân tử có hoài bão cao đẹp, tiểu nhân thì không. Về mặt xã hội loài người, theo Nho giáo thì bậc cai trị phải có lòng nhân, tức là phải yêu thương dân, vui cái vui của dân và lo cái lo của dân. Thực ra là phải lo trước cái lo của dân và vui sau cái vui của dân. Bậc cai trị phải lấy dân làm gốc và phải tâm niệm rằng: quý nhất là dân, sau đó là quốc gia, và thấp nhất là nguời cai trị (Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Cho nên người cai trị phải mưu cầu hạnh phúc cho dân. Muốn vậy, phải biết trọng hiền tài, vời họ ra giúp dân giúp nước. Nếu không tin vào bậc hiền tài thì nước trống không, nếu không có lễ nghĩa thì nước sẽ loạn. Nhờ chính sách chiêu hiền đãi sĩ, kẻ sĩ trong nước không bỏ mà đi, kẻ hiền tài ở xa xôi hâm mộ mà quy phục, như vậy quốc gia mới mau phú cường, dân mới chóng hạnh phúc.  Đã dùng người hiền tài thì phải trao thực quyền cho họ, đừng khiến cho họ chỉ có hư vị. Và thận trọng đừng chọn lầm mà khiến kẻ tiểu nhân ti tiện vượt lên trên người tôn quí (quân tử). Một chính quyền tốt phải áp dụng nhân trị (dùng nhân đức để thu phục người dân), nếu dùng bạo lực cường quyền thì dân bất đắc dĩ phải tuân theo nhưng lòng dân chẳng phục. Như vậy Nho giáo quan niệm rất rõ ràng về con người xã hội. Mỗi cá nhân chính là phần tử bất khả phân của xã hội. Cho nên mỗi cá nhân phải có trách nhiệm với xã hội. Rõ ràng cuộc sống con người đâu phải là rỗng tuếch vô vị, một mặt con người phải tự sửa đổi mình (tu thân). Chính sự tự sửa đổi đó đưa con người đến một giá trị tôn quí siêu việt hơn cầm thú. Và chính sự sửa đổi đó là nguồn gốc của văn minh. Nhưng mặt khác, con người phải sửa đổi xã hội, bằng cách sửa đổi lẫn nhau, sao cho những con người chỉ biết sống bằng bản năng (tiểu nhân) tiến hóa lên con người văn minh (quân tử). Nếu được vậy, thiên hạ thái bình.
 
Trở lại vấn đề đã nêu ở trên: Sự tiến hóa của con người rõ ràng trước mắt là làm cho xã hội hoàn thiện hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng sự tiến hóa ấy còn đi về đâu nữa ? Sự tiến hóa ấy rõ ràng là có định hướng vậy cái viễn đích xa xôi tối hậu ấy là gì? Theo quan niệm của Nho giáo, con người không chỉ là con người xã hội (tiểu nhân và quân tử) mà còn là con người siêu xuất xã hội. Con người siêu xuất ấy gọi là "thánh nhân". Thánh nhân cũng là con người như chúng ta, nhưng thánh nhân đã vượt ra khỏi đồng loại, siêu xuất trên xã hội người đời, và là kẻ siêu quần bạt tụy. Thánh nhân là người đạt đạo, là Trời được nhân cách hóa , tức là đã Phối Thiên (phối hợp với trời ). Như vậy trong cái nhìn của Nho giáo, con người không phải đơn thuần là con vật hai chân. Cái sinh vật ấy tiềm ẩn trong lòng thiên tánh cao đẹp, toàn thiện, toàn mỹ. Nếu cái thiên tánh ấy chưa được nhận chân, con người vẫn còn giống với cầm thú (tiểu nhân). Nhận ra cái thiên tánh ấy và tu tập để nâng cao phẩm cách con người, để thành con người tiến hóa thì gọi là quân tử. Nhưng định mệnh con người không dừng lại ở chỗ vị trí quân tử (dù rằng vô cùng gian nan khó nhọc mới đạt được vị trí này) mà còn tiến hóa tới cái viễn đích là phối thiên và đó là ngôi vị thánh nhân. Thành quân tử đã khó, thành thánh nhân lại càng khó hơn. Theo quan niệm của Mạnh Tử, khoảng 500 năm mới có một thánh nhân ra đời. Thôi thì chúng ta hãy tạm gác lại quan niệm về con người thánh nhân này, mà hãy nhìn lại con người xã hội theo Nho giáo.
 
 Với phương Tây thì ảnh hưởng của Nho giáo không có gì đáng nói lắm, có thể nói là "xa lạ". Chỉ một số ít học giả Tây phương nghiên cứu về Nho giáo và vài học giả điển hình như James R. Wave đã nhận xét : "Việc nghiên cứu kỹ lưỡng Luận Ngữ có thể giải quyết vấn đề đạo đức sâu thẳm của người Tây phương. Đọc sách về Nho giáo có thể giúp ta xác định lại những niềm tin tôn giáo truyền thống và có thể giúp ta nhận thức lại giá trị tình cảm và lý tưởng con người."

Tôi không phải nho gia và kiến thức về Nho giáo rất là hạn hẹp. Nhưng là con người thì có lẽ ai cũng có đôi lúc băn khoăn khoắc khoải về "thân phận và định mệnh của con người", với cái câu hỏi cũ rích từ ngàn xưa: "Ta là Ai? Ta đến từ đâu? Ta đi về đâu?" Nói cách khác là tôi chỉ đọc "lung tung" với mục đích tìm hiểu và tìm "trả lời" cho riêng bản thân tôi và ghi chép lại những lời dạy của cổ nhân và những nhận xét thô thiển của mình để chia xẻ với đọc giả. Cảm nhận của tôi khi đọc những tiêu chuẩn để trở thành "con người quân tử" của Nho giáo thì quả thật "quân tử" đúng là cái mẫu một con người "hạnh phúc, văn minh, lịch sự, toàn thiện, toàn mỹ" dù là trong xã hội hiện đại của con người như ngày nay, " một con người đúng thật là NGƯỜI". Và con người này, cách đây hơn 2500, đã được Khổng Tử diễn tả và dạy cách tu tập để trở thành. Nhưng nhìn vào thực tế, thì mẫu người quân tử này của Nho giáo hình như còn rất hiếm và có thể nói là gần giống như một động vật quý trên đường tuyệt chủng trong xã hội hiện đại của con người ngày nay. Tại sao lại như vậy? Nếu quan niệm "nhân chi sơ, tính bổn thiện" và con người là "linh ư vạn vật", là "thiên địa chi tâm" là đúng thì đa số con người chắc ai cũng sẽ ao ước và muốn trở thành " người quân tử". Bỏ hay loại các xã hội Tây phương và các xã hội mà Nho giáo không có ảnh hưởng ra. Chúng ta cứ nhìn vào xã hội của Trung Hoa và Việt Nam nơi mà Nho giáo đã có ảnh hưởng sâu đậm từ nghìn năm qua... Đáng lẽ trong hai xã hội này, theo lý lẽ thông thường thì qua một thời gian mấy ngàn năm, số lượng con người "quân tử" phải tăng thêm lên chứ tại sao lại giảm và có thể đang trên đường biến mất. Hãy tưởng tượng là chỉ 1/10 dân số (TQ có hơn 1 tỉ người và VN có hơn 80 triệu) của hai nước này đạt đến trình độ "quân tử" thì chắc xã hội Trung Hoa và Việt Nam đã là những xã hội con người "mẫu mực" của cộng đồng thế giới. Chủ thuyết Cộng sản và xã hội Cộng sản sẽ không có cơ hội hình thành (chúng ta không cần đi sâu vào lý thuyết hay chi tiết, cứ căn cứ vào thực tế của xã hội như đang thấy ở trước mặt. Đã là người Trung Hoa và Việt Nam thì chắc không ai lạ gì về giá trị của con người trong xã hội Cộng sản ở những nước này (- đấu tố cha mẹ, phản bội bạn bè, mưu mô, gian dối, xảo trá, bè đảng, vây cánh... lừa bịp, gạt gẫm nhau .... vì quyền lợi riêng tư hay của một tập thể nhỏ). Ranh giới giữa con người và cầm thú không còn rõ rệt, và nếu so sánh thì con người có thể còn tệ hơn cầm thú trên một vài phương diện nữa. Dã thú "giết" vì nhu cầu tối cần thiết để "sinh tồn" và hiếm có loài vật nào giết đồng chủng để sinh tồn. Xét về phương diện này, căn cứ vào những sự kiện thực tế và lịch sử, thì con người Cộng sản còn thua cả các loài cầm thú. Ở Việt Nam chúng ta có thể nhìn vào những sự kiện lịch sử như: Cuộc cải cách ruộng đất, đánh tư sản, trại cải tạo, kinh tế mới , lùa dân ra biển ("đăng ký" vượt biên) và bây giờ thì "bán dân" ra xứ người làm nô lệ ... Chưa kể đến những cuộc thanh toán khốc liệt trong nội bộ đang được bưng bít .
 
Tôi không có thắc mắc gì về phẩm chất của người quân tử theo quan niệm Nho giáo mà cái thắc mắc chính của tôi là những người "quân tử" của Nho giáo của thời đại này đang ở đâu? Và không lẽ mẫu người "quân tử" của Nho giáo chỉ có thể có trên lý thuyết mà thôi sao? Vì bằng chứng hiển nhiên trước mặt là trong hai xã hội TH & VN này, con người và xã hội con người đang đi ngược dòng tiến hóa của con người. Thay vì tiến đến con người tốt hơn con người ngày hôm qua ... thì những người Cộng Sản đang hướng dẫn con người quay ngược trở lại với bản năng cầm thú trong con người. Và gần 1/3 nhân loại ( với ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo) đang cúi đầu khuất phục "nhắm mắt bịt tai" đi theo sự hướng dẫn dù bằng miếng ăn nhỏ, lợi lộc lớn, hay vũ lực... thì cũng là một bằng chứng hùng hồn là số lượng "con người quân tử" rất ít hoặc đã biến mất trong xã hội Cộng sản. Tại sao lại như vậy? Vì tiêu chuẩn quân tử quá cao và đại đa số con người không có khả năng tu tập để trở thành quân tử? Hoặc con người vốn "Nhân chi sơ tính bổn Ác"? Hoặc tại "mệnh Trời" ... và Trời muốn trừng phạt dân tộc Trung Hoa và Việt Nam ?
 
 Xứ lạ, ngoài trời tuyết đang rơi, vẫn còn tự hỏi: "Tôi là Ai? Tôi đến từ đâu? Tôi đi về đâu?" Và đang tự an ủi mình: "Tôi ơi, đừng tuyệt vọng !".
 
LÝ LẠC LONG (22/11/05)

Ghi chú : Phần luận bàn về  “Con người, Tiểu nhân, Quân tử và Thánh nhân”  theo quan niệm Nho giáo một phần lớn được tham khảo và trích lại từ bài viết “ Con người trong cái nhìn của Nho giáo” của tác giả Lê Anh Minh làm cơ sở để diễn đạt thêm chút suy tư của tôi về con người.
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
Đăng nhập để trả lời
0
Kính chào LLL,

Có lẽ những bài tản mạn này mà Trâm Anh đã nhắc đến bên diển đàn khác là của cùng một tác giả mang cái nick khác, phải không thưa LLL? 

Những bài này rất có giá trị theo từng bài của nó. Cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần cho nó thấm cái ý nghĩa thì mới thấy nó hay.  Ví dụ như bài "Một Chút Suy Tư Về Thân Phận Con Người" hay "Nhẫn Nhịn Và Nhu Nhược "  thật giá trị và ý nghĩa. Trâm Anh thích đọc những bài như thế này rất hay. Cám ơn LLL có thể đem về bên kia thì cũng tốt lắm đó.

Kính chúc LLL luôn vui mạnh.

Trâm Anh

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-06-06 02:59:32Lý Lạc Long>
Trích đoạn: Tram Anh

Kính chào LLL,

Có lẽ những bài tản mạn này mà Trâm Anh đã nhắc đến bên diển đàn khác là của cùng một tác giả mang cái nick khác, phải không thưa LLL? 

Những bài này rất có giá trị theo từng bài của nó. Cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần cho nó thấm cái ý nghĩa thì mới thấy nó hay.  Ví dụ như bài "Một Chút Suy Tư Về Thân Phận Con Người" hay "Nhẫn Nhịn Và Nhu Nhược "  thật giá trị và ý nghĩa. Trâm Anh thích đọc những bài như thế này rất hay. Cám ơn LLL có thể đem về bên kia thì cũng tốt lắm đó.

Kính chúc LLL luôn vui mạnh.

Trâm Anh



Kính chào Trâm Anh,

Vâng, TA nói đúng rồi ...  của cùng 1 người.
HTL cũng có nhắn lại lời của TA và LLL sẽ làm như yêu cầu của TA.  Chân thành cám ơn TA đã thưởng thức và sự ưu ái của các Bạn dành cho. Đây là một khích lệ tinh thần rất lớn cho người viết .

LLL cũng xin kính chúc Trâm Anh mọi chuyện vui vẻ và như ý.

Best regards,
Lý Lạc Long
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-20 10:40:22nhoc_hefo>
Em thích nhất đoạn đầu cảu anh viết. Hợp với suy nghĩ của em bi giờ. Anh ạ, em đang phân vân ko biết mình nên sống hay nên chết. Thật tình em sợ chết lắm anh, chết rất đau mà, nhưng...sống như em bi giờ mệt quá. Đầu óc em cứ suy nghĩ lung tung, nó hỗn độn quá anh à...Anh có thể dzành vài phút giảng giải cho em dzìa ý nghĩa cuộc đời được ko anh?
Thân ái !
làm sao mình có thể yêu nhau
bởi chúng minh` khac' nhau nhiều quá
anh không thấy gì khi nhìn chiếc lá
còn anh tin rằng lá cũng đang yêu...
******************************
Thiên Ân + Như Ý
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: nhoc_hefo

Em thích nhất đoạn đầu cảu anh viết. Hợp với suy nghĩ của em bi giờ. Anh ạ, em đang phân vân ko biết mình nên sống hay nên chết. Thật tình em sợ chết lắm anh, chết rất đau mà, nhưng...sống như em bi giờ mệt quá. Đầu óc em cứ suy nghĩ lung tung, nó hỗn độn quá anh à...Anh có thể dzành vài phút giảng giải cho em dzìa ý nghĩa cuộc đời được ko anh?
Thân ái !



Trước hết, cám ơn Hefo đã ghé qua xem và lưu lại cảm nghĩ.

Kế đến, câu hỏi về "cuộc đời" của Hefo là một chủ đề "lớn" mà bất cứ Ai, từ vĩ nhân cho tới người bình thường, từ người giàu sang cho đến người nghèo khó, từ quan cho đến dân, từ người lớn tuổi cho đến thanh thiếu niên ... Mọi người đều PHẢI quan tâm đến (nhiều hay ít, phương diện này hay phương diện khác ... v.v). Không ai có thể tránh né được. Mọi người đều phải đối diện với "vấn đề" này. Có thể nói đây vừa là QUYỀN LỢI, vừa là BỔN PHẬN & TRÁCH NHIỆM của một con nguời.

Tạm thời, ngắn và gọn theo thiển ý của tôi nhé. Cuộc đời có thể nói trước hết là cuộc sống của Hefo, kế đến là Hefo và gia đình, bạn hữu, xa hơn nữa là Hefo và xã hội chung quanh, cuối cùng thì Hefo và nhân loại. Nói cách khác, Hefo là một cá thể riêng biệt và đồng thời là một phần tử của gia đình, của vòng tròn thân hữu, của xã hội, của nhân loại. Việc gì Hefo làm cũng liên quan và ảnh hưởng đến chung quanh ( có thể không thấy rõ ràng, nhưng chắc chắn là như vậy) và ngược lại .

Được LÀM NGƯỜI và được SỐNG là một đặc ân của "TRỜI" ban cho mình. Và theo qui luật tử sinh thì không ai có thể tránh khỏi cái chết ( chuyện này chắc ai cũng "hiểu" và chắc không cần "bàn" hén. Đại khái, Trời kêu Ai thì phải "dạ" và chuyện ngoài khả năng của NGƯỜI).

Có những cái chết "nhẹ như lông hồng", có "ý nghĩa", có "ích lợi" cho dân tộc, cho xã hội, cho nhân loại . Như những cái chết của các bậc anh hùng vì nước, vì dân, vì chính nghĩa ...Rất nhiều " cái chết như vậy" trong lịch sử VN hoặc thế giới. Như hiện giờ thì nhiều người vẫn ghi nhớ, vinh danh và ca tụng cái chết của Chúa Jesus vì nhân loại ( theo Cơ đốc giáo).

Nhưng chết để trốn tránh trách nhiệm ( vì những khó khăn và thất bại ...v.. v ... của cuộc sống) thì là một cái TỘI LỚN với bản thân, với cha mẹ, với gia đình, với bạn hữu ... và với Trời Đất. Vâng, chết có thể là hết cho một người nhưng để lại biết bao ưu phiền, tiếc nuối ... cho những người liên hệ và quan tâm đến mình. Theo tôi, chết như vậy là một SỰ HÈN NHÁT & VÔ TRÁCH NHIỆM.

Hãy gõ cửa sẽ mở, hãy hỏi sẽ có trả lời, hãy khởi hành sẽ có lúc đến đích ... Hãy mở lòng mình ra "trò chuyện" cùng vạn vật ( người và ..v..v) . Với lòng chân thành và quyết tâm, với tình yêu và thân ái thì mọi việc đều có thể " đạt được" . Phần tôi, thì tôi tin là như vậy.

Hãy trò chuyện với gia đình và thân hữu chung quanh Hefo là một bước đi "căn bản" nhất. Kế đến là do chữ "duyên", Hefo là một thành viên của VNTQ, và trong VNTQ còn có rất nhiều ANH CHỊ EM khác với những kinh nghiệm về cuộc sống rất quí báu. Tôi tin là họ sẽ rất sẵn lòng "chia sẻ" với Hefo đó. Cứ chân thành và thẳng thắn "hỏi " họ.

Chúc Nhoc_Hefo mọi việc vui vẻ và như ý.

Tình thân,
LLL

Đăng nhập để trả lời
0
Tình Bạn

Hầu hết chúng ta đều đồng ý và xem tình bạn là một phần thiết yếu của cuộc sống . Như nhà văn người Ý, Mazoni đã nói : " Một trong những hạnh phúc lớn của đời sống là tình bạn và một trong những hạnh phúc lớn của tình bạn là có người để chia xẻ, để gửi gắm một bí mật, một tâm tư". Và theo sự nghiên cứu của các nhà tâm lý học thì tình bạn là một chỗ trú ẩn an toàn và là một chìa khóa dẫn đến hạnh phúc trong cuộc sống của con người. Ngạn ngữ Anh cũng nói : " Without friends, the wolrd is but a wilderness - Không bạn bè, thế giới chỉ là một nơi hoang vắng".

Tình bạn có thể hiểu một cách đơn thuần như sự kết hợp giữa hai chữ "tình" và "bạn". Nói một cách khác, tình bạn là tình cảm của bạn bè dành cho nhau.

Trong cuộc sống thực tế thì không ai có thể sống một mình được. Vì vậy, chúng ta phải "quen biết" với rất nhiều người như: hàng xóm láng giềng, chung lớp học, cùng sở làm... Và tình bạn có thể sẽ nẩy sinh từ những quen biết này, nhưng không nhất thiết là tất cả những người chúng ta quen biết đều sẽ trở thành bạn. Giữa người quen và bạn thân có sự khác nhau rất lớn.

Người quen là người mà ta có thể biết mặt và nhớ tên, có thể đi ăn chung, có thể mời đến nhà, có thể trò chuyện về một vấn đề nào đó ... Nhưng họ không phải là người để ta chia xẻ cuộc sống, gởi gắm tâm sự. Vì ta chưa hiểu họ đủ và ngược lại thì họ cũng chưa hiểu ta lắm . Bạn thân là người hiểu ta và ta cũng hiểu bạn, thương mến, quan tâm giúp đỡ nhau khi cần thiết, chia xẻ ước vọng, buồn vui của cuộc sống . Bạn thân là chỗ dựa rất cần thiết cho chúng ta trong cuộc sống.

Người quen thì chúng ta có thể có rất nhiều, nhưng để có được một người bạn theo đúng nghĩa của bạn thì không phải là một chuyện dễ dàng. Có những người đã phải trải qua rất nhiều khó khăn, rất nhiều thử thách để nhận ra được ai là bạn, ai là tri kỷ của mình. Nhưng cũng có những trường hợp vừa quen biết nhau đã cảm thấy tâm đầu ý hợp như Bá Nha và Chung Tử Kỳ, ngày xưa, chỉ qua một khúc đàn, đã hiểu nhau và đã trở thành tri âm, tri kỷ. Chúng ta thử đi sâu hơn một chút để tìm hiểu thêm vài khía cạnh của tình bạn, sự liên hệ và những yếu tố căn bản để có một tình bạn thực sự, ảnh hưởng và tác dụng của tình bạn đối với đời sống của con người .

Tình bạn và giới tính
Tình bạn là sự quan hệ và trao đổi về mặt tinh thần giữa hai con người. Nó hình thành một cách tự nhiên, không tuân theo những quy tắc người ta định sẵn. Không ai bảo rằng hai người một già một trẻ không thể kết bạn, hai kẻ giàu nghèo không thể là tri âm. Vi vậy, cũng không thể nói rằng giữa hai người khác phái không thể có được tình bạn thực sự và đẹp. Nhưng trong xã hội loài người, đặc biệt là Á đông, từ xưa đến nay, chúng ta thường nghe những câu chuyện, những tấm gương sáng chói về tình bạn giữa hai người đồng phái như Lưu Bình và Dương Lễ, như Quản Trọng và Bảo Thúc Nha .. vân vân .. Và dường như trong văn học sử không có ghi lại một câu chuyện "nổi tiếng" nào để tiêu biểu cho tình bạn thực sự và tuyệt vời giữa hai người khác phái. Như vậy thì tình bạn thực sự giữa hai người khác phái có hay không có trong cuộc sống thực tế? Và có điều gì khác nhau về tình bạn giữa hai người khác giới tính so sánh với tình bạn giữa hai người cùng giới tính ?
Thứ nhất, thì có lẽ do của tư tưởng " nam nữ thụ thụ bất thân" từ ngàn xưa trong xã hội Á đông và ảnh hưởng vẫn còn rơi rớt lại, nên nhiều người vẫn còn băn khoăn và hoài nghi về tình bạn thực sự giữa hai người khác phái. Kế đến, thì có lẽ do sự phân biệt hay ranh giới giữa tình yêu và tình bạn của hai người khác phái không được rõ rệt lắm. Những người thuộc nhóm "hoài nghi" thì cho rằng không có tình bạn thực sự giữa hai người khác phái. Theo họ, nếu một nam, một nữ chơi thân với nhau, hiểu nhau sâu sắc và chia xẻ được vui buồn thì sớm hay muộn cũng sẽ yêu nhau. Thực tế thì đúng như vậy, có rất nhiều tình bạn thân giữa nam nữ đã phát triển thành tình yêu lứa đôi . Nhưng nói như vậy, không có nghĩa là phủ nhận sự tồn tại, giá trị hay tác dụng tốt ... của tình bạn thực sự giữa những người khác giới tính trong cuộc sống thực tế. Ở đây, chúng ta chỉ thử phân tích và tìm hiểu nguyên nhân tại sao tình bạn khác giới tính hiếm khi được lấy làm tiêu biểu và đại diện cho một tình bạn thực sự và đẹp đẽ để làm tấm gương sáng cho mọi người và hậu thế.
Một vấn đề khác của tình bạn giữa hai người khác phái là duy trì quan hệ bạn bè với người tình cũ sau khi chia tay. Nói một cách khác, là chuyển từ tình yêu thành tình bạn. Chuyện này không phải là một điều dễ làm. Và nếu mục đích chuyển thành tình bạn xuất phát từ những mối quan tâm chung trên căn bản tôn trọng lẫn nhau thì nên duy trì tình bạn . Còn nếu duy trì tình bạn vì những lý do như: Vì hy vọng người tình cũ sẽ quay trở lại, vì chưa muốn buông tha người xưa, vì tự ái ... thì đừng nên làm. Nếu duy trì quan hệ dựa trên những động lực này thì tình bạn cũng sẽ tan vỡ, và sẽ phiền lòng nhau thêm nhiều nữa.

Tình bạn và tuổi thọ
Căn cứ theo nhóm khoa học gia của Trường Đại học Flinders (Úc) phát hiện, thì bạn bè có thể giúp người già kéo dài tuổi thọ hơn là con cháu hay người thân. Đây là kết quả thu thập được sau 10 năm nghiên cứu, dựa trên các nhân tố như tình dục, tuổi tác, sức khỏe và tình trạng hút thuốc trên hơn 1.500 cụ già đã bước qua tuổi 70. Theo các nhà khoa học này, các mối quan hệ xã hội tốt như có nhiều bạn bè thân thiết có thể giúp người già có một lối sống lành mạnh như không hút thuốc hay uống rượu quá nhiều. Ngoài ra, những tình bạn gắn bó lâu dài có thể tạo những hiệu quả tích cực đến tâm sinh lý của những người lớn tuổi .

Tình bạn và cuộc sống
Xã hội càng phát triển, con người hình như càng bận rộn hơn với công việc làm. Và công việc làm càng nhiều thì sức ép và áp lực của đời sống hàng ngày càng tăng đã khiến nhiều người đẩy bạn bè sang một bên . Đây là một sai lầm lớn trong cuộc sống vì như các nhà chuyên gia đã nói :" Tình bạn là chìa khóa dẫn đến hạnh phúc".
Một cuộc thăm dò ý kiến, do Viện nghiên cứu Bat Leisure ở Hamburg, Đức, tìm thấy là 63% người Đức mong muốn nuôi dưỡng và củng cố các mối quan hệ bạn bè của họ. Với những người độc thân và cặp vợ chồng không con, con số tăng lên 73%.
Đặc biệt cho những người trung niên, luôn đặt tiêu chuẩn cao cho bản thân và sự nghiệp, thì việc duy trì tình bạn cũ và làm quen bạn bè mới càng trở nên khó khăn. "Vòng tròn bằng hữu bị thu hẹp lại và nhiều người còn chẳng buồn dành thời gian để gặp bạn bè để uống nước", chuyên gia Hannelore Fritz nói.
Nhưng công việc thì có thể mất, gia đình và mối quan hệ cộng sự có thể tan vỡ, khi đó, bạn bè sẽ trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, tình bạn cần phải được xây dựng một cách hệ thống như xây một ngôi nhà hay sự nghiệp.

Xây dựng và giữ gìn tình bạn
Hoa sẽ nở đẹp, cây non sẽ lớn lên khi được chăm sóc và vun bón thường xuyên. Tình bạn, thì cũng vậy, sẽ đẹp và bền vững khi mỗi người bạn biết quan tâm chăm sóc đến nó. Theo như nghiên cứu của các nhà chuyên gia thì một số nguyên tằc dưới đây có thể giúp chúng ta trong việc xây dựng, phát triển và giữ gìn tình bạn .

- Cùng nhau làm một vài việc: Tình bạn trước hết là một sự trao đổi. Hãy rủ bạn bè cùng làm, cùng thực hiện với nhau một dự định dù nhỏ nào đó, để chia xẻ với nhau. Như thế sẽ làm cho người bạn thấy mình được tin tưởng, bạn ấy sẽ hài lòng. Còn bạn cũng thấy vui suớng, thỏa mản vì bạn có được tình cảm thân thiết của bạn bè.
- Đừng luôn kể những điều phiền muộn, bực mình : Kể cho bạn nghe những gì xảy ra với mình là một việc làm tốt, nó giúp giải tỏa những ức chế trong lòng bạn. Bạn bè có thể là một chỗ dựa cho bạn mà. Nhưng bạn đừng luôn luôn đem những chuyện không vui của mình làm phiền bạn bè, vì bạn sẽ ép người ta nghe, đôi khi vì để tìm một sự động viên, thương cảm mà bạn chẳng còn gì hấp dẫn người ta nữa bởi bạn đã bộc lộ khả năng thiếu kiềm chế, thiếu tự tin của mình.
- Luôn ở bên cạnh bạn bè những khi cần thiết: Ai cũng có những lúc khó khăn và cần đến sự giúp đỡ của người khác, có khi chỉ là một lời thăm hỏi, một ánh mắt khích lệ, một lời nhận xét tế nhị. Hãy luôn thăm hỏi, giữ mối liên lạc với bạn bè, kịp thời nhận ra tình thế của bạn mình để tìm cách giúp đỡ hữu hiệu nhất. "Một miếng khi đói bằng một gói khi no". Nhất là khi bạn mình cô đơn, bạn cần ta lắm đấy.
- Rút lui đúng lúc : Ai cũng cần có những khoảng trời tự do của mình. Khi bạn mình mệt, khi ta đã giúp bạn hoàn thành công việc, hoặc đơn giản thấy bạn không cần đến mình nữa, thì hãy "rút lui có trật tự". Bạn của ta sẽ vô cùng biết ơn một người bạn ý tứ như ta. Hãy lịch sự cáo lui và nói với bạn bè rằng "nếu cần đến mình, bạn đừng ngại ngần, mình sẽ thu xếp được mà".
- Thông cảm cho nhau cả khi vắng mặt: Có những lúc bạn phải dành thời gian cho gia đình, cho người yêu hoặc một công việc gấp rút nào đấy. Và bạn bè của ta cũng vậy. Việc này làm cho quan hệ bạn bè có những lúc sẽ bị lãng quên. Hãy báo trước cho bạn sự vắng mặt của ta, đừng để bạn có cảm giác bị phản bội, mất lòng tin. Thông cảm cho bạn bè, nếu họ quên không thông báo sự vắng mặt của họ.

Sự khác biệt giữa tình bạn và sự quen biết chính là sự đồng cảm và chia xẻ, theo phương châm: "Điều gì ảnh hưởng đến bạn cũng ảnh hưởng đến tôi". Sự thân mật, bao dung và tin cậy lẫn nhau là những yếu tố cần thiết của một tình bạn đẹp. Như nhà tâm lý học Ann Elisabeth Auhagen đã nói : "Bạn cần phải đặt tim mình trong mối quan hệ đó. Khi đó sự cách biệt về không gian cũng không thể ảnh hưởng tới tình bạn" . Hãy nhìn thấy và tìm những điểm tốt của bạn bè cũng như hãy tìm kiếm những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Cuộc sống không ban ơn cho ta mà chính ta sẽ ban tặng cho cuộc sống những món quà từ những hành động và suy nghĩ tích cực của mình. Hãy bắt đầu ngày hôm nay và từ ngay giây phút này. Bởi vì cuộc sống đã là một niềm vui, một món quà vĩ đại nhất mà tạo hóa ban tặng cho ta và tình bạn là chìa khóa dẫn tới một trong những hạnh phúc lớn của cuộc sống.

Xin chúc những điều tốt đẹp đến với cuộc sống của bạn!

Lý Lạc Long (TTL/TCT/ MAI /23/06/2005)
Đăng nhập để trả lời
0
NIỀM TIN, TÌNH YÊU VÀ SỰ SUY TƯ


Nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã viết hai câu thơ:
"Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe
Trần có vui sao chẳng cười khì ?"

Như vậy, theo NCT, thì cuộc sống thế gian này dẫy đầy đau khổ cho con người? Và hình như đa số chúng ta đều cảm thấy như vậy. Nhưng bản năng của con người vẫn làm cho chúng ta muốn sống và để bơi qua cái bể trầm luân của nhân gian, theo K. Zung, một triết gia thuộc trường phái S. Freud thì con người dựa vào ba cái phao là Niềm tin, Tình yêu và sự Suy tư để thoát ra khỏi những cảm giác bất an khi đối diện với hư vô, cảm giác nhỏ bé, cô đơn và bất lực khi đối diện với sự bao la vĩ đại và các hiện tượng kỳ bí của vũ trụ, cảm giác lo sợ khi đối diện với cái chết. K. Zung nói có đúng hay hợp lý không? Mặc dù tôi cũng như hầu hết các bạn, chúng ta không phải là triết gia, hay những khoa học gia có đầy đủ hiểu biết và khả năng để chứng minh những gì K. Zung hay các triết gia, hay các bậc thức giả đã nói là đúng hay sai với đầy đủ chứng cớ và thẩm quyền...một cách tuyệt đối, tôi cũng xin mời bạn cùng tôi làm những "triết gia bên lề" của triết học, thăm viếng khu rừng tư tưởng của các triết gia, các bậc thức giả, nhìn vào từ phía bên ngoài với những hiểu biết giới hạn mình, xem như là chút thời giờ giải trí cuối tuần vậy!

Theo như hầu hết các tôn giáo, người nào có niềm tin thì sẽ đi qua cuộc đời một cách thanh thản, cuộc sống của họ như đã được mua bảo hiểm và cái chết đối với họ không còn là một điều lo sợ nữa. Vì họ tin rằng, sau khi nhắm mắt, họ sẽ có cuộc sống bất tử bên người họ yêu kính và tin tưởng vào Đấng toàn năng của họ như:Trời, Phật, Chúa,Thánh, Thần... Nhưng niềm tin là gì? Trong thực tế đây là một chủ đề rất bao quát và rộng lớn. Ở đây, tôi chỉ đề cập sơ lược đến hai quan niệm cơ bản trái ngược nhau về thực chất của niềm tin. Quan điểm thứ nhất thì cho rằng, niềm tin có trước ý thức, mở đầu cho ý thức và sau đó các ý thức hệ, tín ngưỡng, tôn giáo...được hình thành từ niềm tin. Quan điểm thứ hai thì ngược lại, cho rằng niềm tin là sản phẩm của ý thức. Những thí dụ cụ thể có thể rút ra từ các cuộc thánh chiến (chiến tranh tôn giáo), chiến tranh thế giới (chiến tranh về ý thức hệ) hay cả chiến tranh địa phương(chiến tranh về lý tưởng)...Nhưng bất kỳ quan điểm nào đúng thì hình như ai cũng "thấy" là niềm tin cũng có một giá trị độc lập của nó. Niềm tin giúp con người vượt qua những giới hạn của ý thức để hình thành những khả năng không ngờ được và siêu phàm của con người.

Còn những người bám vào cái phao tình yêu thì sao? Có thể cuộc sống của họ có rất nhiều dằn vặt, trái ngang, khổ đau nhưng thật ra đây là hạnh phúc. Đối với những người này, thì dù ở giữa rừng sâu trong đêm tối, giữa biển khơi trong bão giông, thậm chí đối diện với cái chết cũng không làm cho họ sợ, miễn là có người họ yêu bên cạnh. Và không có người họ yêu bên cạnh thì cũng được, miễn là họ biết chắc chắn rằng trên đời này có ai yêu thương họ hết lòng. Cái khó hay nỗi khổ tâm của những người tôn thờ tình yêu là làm sao tìm ra được "phân nửa" của họ hay "người để yêu và được yêu lại như vậy". Một số trong những người này, thì bất cần là họ có được yêu lại hay không, miễn là họ đã tìm ra được "người để yêu". Tình yêu là gì? Từ xưa đến nay, hình như chưa ai có thể định nghĩa một cách thỏa đáng về tình yêu. Tình yêu vẫn là một chủ đề được đem ra phân tích, diễn giải, bàn cãi...có lẽ từ thuở tạo thiên lập địa, từ lúc loài người xuất hiện trên quả đất cho đến giờ vẫn chưa kết thúc và sẽ mãi mãi là một đề tài hấp dẫn với tất cả mọi người. Những người đã yêu, đang yêu và kể luôn cả những người chưa yêu đều có chung một cảm giác về sự huyền bí, quyến rủ và thú vị của tình yêu.Tình yêu là một thế giới mênh mông, bí ẩn và khó hiểuvà có một điều mà ai cũng thừa nhận là:Trong chúng ta, mỗi người đều có một tình yêu thật sự và chỉ một. Có thể nói, tình yêu là một tặng phẩm tuyệt vời mà tạo hóa đã dành cho con người, tình yêu có thể mang đến cho con người hạnh phúc và sức mạnh và ngược lại thì cũng có thể mang đến nỗi khổ đau.

Hai cái phao Niềm tin và Tình yêu là hai chủ đề rất rộng lớn trong cuộc sống thực tế của con người. Đã có rất nhiều sách vở từ văn thơ cho đến những nghiên cứu khoa học nghiêm túc về niềm tin và tình yêu. Vì vậy, phần trên, tôi chỉ tóm tắt những nét đại khái và cơ bản cần thiết trong khuôn khổ của bài viết. Nếu thích thú thì các bạn có thể tìm tài liệu để đọc thêm về hai chủ đề này rất là dễ dàng.

Còn cái phao thứ ba, sự suy tư thì sao? Khi nói đến sự suy tư, thì có một số nhận xét thực tế phải nêu ra ở đây. Dường như trong lịch sử của nhân loại, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đã không có một nữ triết gia nào.Ở vào kỷ nguyên này đã có rất nhiều nữ Khoa học gia, Bác sĩ, Kỹ sư...có thể nói là phái nữ, không nhiều thì ít, đã có mặt trong hầu hết các lĩnh vực chỉ dành riêng cho nam phái trước đây. Nhưng có lẽ, lĩnh vực suy tư, theo phái nữ, đây là một lĩnh vực "vô bổ, vớ vẩn và tầm phào..." nên phái nữ đã nhất định và cương quyết không tham gia? Như vậy,thì đây là một đặc quyền, một sự biệt đãi hay đây là một gánh nặng, một bất công cho đàn ông? Tại sao lại có sự phi lý này là chỉ có đàn ông suy tư? Tạm thời, hãy gác lại việc "trả lời" cho những câu hỏi này qua một bên. Trong thực tế, lĩnh vực suy tư, lại là nơi đàn ông thường rút về sau một thành công hoặc thất bại. Hình như sự suy tư giúp đàn ông tự tin hơn ở khắp nơi,từ ở bàn nhậu với bạn hữu cho đến ngồi một mình giữa rừng. Thật kỳ lạ,trong lịch sử mấy nghìn năm qua, con người đã tích lũy nhiều thứ:Từ của cải vật chất cho đến kiến thức. Và mọi di sản của thế hệ trước để lại,thế hệ sau cứ thế mà xài,chẳng cần kiểm tra lại. Ngoại trừ di sản tư tưởng thì hình như mỗi cá nhân phải thử nghiệm rồi mới chịu chấp nhận.Tóm lại, là con người "tìm cách trả lời" cái câu hỏi cũ rích:"Ta là ai?Ta từ đâu đến và ta đi về đâu?". Mỗi người trả lời mỗi kiểu. Mỗi kiểu trả lời là mỗi quan niệm sống, mỗi thái độ sống quyết định từng hành vi nhỏ nhất của một người. Cuộc sống của những người níu vào cái phao Suy tư, điển hình như Leo Tostoy thì sống lang thang như một nhà tu khổ hạnh lúc gần cuối đời và chết vì sưng phổi (pneumonia) ở một sân ga xe lửa nhỏ và 8 năm sau khi Tostoy chết, vợ ông có nói: "Sau 48 năm chung sống với Tostoy bà vẫn không hiểu nổi Tostoy". Hemingway thì tự sát bằng súng trường, Lý Bạch thì theo truyền thuyết chết vì "tìm trăng dưới đáy sông" và nhiều triết gia, nhà văn thơ khác thì cũng vậy. Các bậc "suy tư lớn" này có thể nói là, lẽ đời các ông đã thông tỏ, lòng người ra sao các ông dò thấu, cái chết không làm các ông sợ, nhưng sự cô đơnthì không thể lấy gì lấp cho hết. Theo triết học, đối lập với sự cô đơn là sự cảm thông. Sự cảm thông được phân ra thành hai loại là cảm thông cộng đồng và cảm thông vũ trụ. Cảm thông cộng đồng không đủ cho các ông và cảm thông vũ trụ thì loài người dường như chưa tìm ra hay chưa có cách để nghe hoặc hòa tan với (trong) vạn vật, vũ trụ. Vì vậy mà họ tìm cái chết?

Ngoài ba cái phao nêu trên thì còn cái phao nào khác không? Như chúng ta thấy trong cuộc sống hàng ngày, hình như hầu hết mọi người làm việc để đạt được Quyền lực hoặc sự Giàu sang, hoặc cả hai. Vậy thì quyền lực và sự giàu sang có thể xem như là một cái phao để con người dựa vào không? Theo K. Zung thì không và còn ngược lại nữa. K. Zung xem quyền lực và sự giàu sang là tảng đá buộc vào cổ người, vì nó khiến cho con người ta sống thì bất an, chết thì sợ hãi.

Còn một điều đáng nói nữa là ba cái phao nêu trên không bao giờ chịu đi chung nên không thể kết hợp lại thành một cái bè để giúp con người bơi qua bể trầm luân dễ dàng hơn. Anh chàng Niềm tin tuy tôn thờ tình yêu nhưng khi cần cũng sẵn sàng vứt bỏ tình yêu để đuổi theo lý tưởng của mình, còn đối với sự suy tư thì anh chàng chẳng cần bận tâm, mọi điều đã có Trời, Phật, Chúa, Allah... hoặc vị thần, hoặc lãnh tụ tinh thần nào đó lo hộ cho. Cô nàng Tình yêu thì không bao giờ chịu xem mình là kẻ thứ hai nên khi gặp anh chàng Niềm tin, cô nàng thường ngó lơ, gặp lão Suy tư thì cô nàng dễ bị quyến rũ bởi sự trầm tư, sâu sắc, nhưng lâu ngày thì cô nàng sẽ nhận ra là đã lầm lẫn. Lão Suy tư thì xem anh chàng Niềm tin là trẻ con, cô nàng Tình yêu là cứu cánh. Nhưng lòng tham của lão thì vô tận, tình yêu nào đối với lão cũng không đủ, dù cô nàng Tình yêu có là tiên giáng trần thì cũng vậy, lão đam mê đó rồi vứt bỏ đó, lão cứ mãi đi tìm một sự tuyệt đối nào đó mà có lẽ không ai có khả năng làm cho lão thỏa mãn. Và vì thế, trải qua mấy ngàn năm suy tư, đã có rất nhiều bậc thánh nhân, hiền triết đề xuất và thiết lập ra nhiều hệ thống tư tưởng, khám phá và tìm ra rất nhiều sự thật và chân lý. Nhưng con người vẫn giống như thuở ban đầu, thời đại hay giai đoạn nguyên thủy của loài người, vẫn dễ giận dữ và sợ hãi, vẫn băn khoăn thân phận, vẫn cảm thấy cô đơn.

Quay trở lại câu hỏi: Tại sao chỉ có đàn ông suy tư? Và tại sao tạo hóa lại bất công, chỉ đặt gánh nặng suy tư trên vai của đàn ông? Câu hỏi khó, tưởng sẽ không có lời giải đáp. Nhưng gần đây thì Robert Winston trong cuốn "Human Instincts" (tạm dịch: Bản Năng Con Người) đã thử tìm cách trả lời câu hỏi trên. Một cách tóm tắt, theo Winston, thì trong xã hội nguyên thủy của loài người, ở giai đoạn hổn hôn, con cái không cần biết con đực nào là chồng mình, vì con đực nào chiến thắng thì sẽ là chồng của cả bầy đàn. Trong khi các con đực thì khổ sở vì sự đòi hỏi tình dục và sự cô đơn, giống đực luôn phải tìm cách vươn lên vị trí của kẻ chiến thắng để thống lĩnh bầy đàn. Và khoảng vài chục ngàn năm sau, loài người bắt đầu có ý thức về tâm linh, thì vai trò thủ lĩnh của bầy đàn thường là những con đực có được mối quan hệ với thần linh, mà bằng chứng có thể thấy qua xã hội Cổ Hy Lạp. Vì vậy, con đực nào muốn vươn lên vai trò thủ lĩnh thì phải thiết lập được mối quan hệ với thần linh bằng sự suy tư, tu hành... Những điều này dường như vẫn còn tồn tại đâu đó trong não bộ của con người hiện đại, vẫn còn điều khiển các hành vi của con người một cách vô thức khiến con người đôi lúc không hiểu tại sao chúng ta lại làm như vậy, hành xử như vậy.

Nếu đúng như K. Zung nói, thì trong ba cái phao: Niềm tin,Tình yêu và sự Suy tư, Bạn sẽ chọn cái phao nào để bơi qua cái biển đời trầm luân của cuộc sống nhân gian này?

LÝ LẠC LONG
(TTL/TCT/MAI 08/07/05)
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»