CHUYỆN GIẦN SÀNG
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẽo thơm một hột, đáng cay muôn phần.
--------------------------------------------------------------------------------
Võ Hương-An
5 tháng 11 năm 2004
------------------------------------------------------------------------------
Việc làm ra hột lúa với công phu một nắng hai sương, rõ ràng là “đắng cay muôn phần”. Thế nhưng từ hột lúa biến thành hột gạo cũng không phải là đơn giản. Ngày nay, với sự sản xuất gạo số lượng lớn của công nghiệp xay xát, với sự có mặt rộng rãi của các loại máy xay xát cở nhỏ khắp miền quê, việc làm ra hột gạo quá dễ dàng. Dễ dàng và tự nhiên cho tới nổi không ai hoài hơi để thử đặt một câu hỏi, đại loại như “không biết cái thời chưa có máy móc, ông bà mình ngày xưa làm sao để có gạo nấu cơm?”
Tại miền nam Việt Nam trước 1975, khoảng cuối thập niên 70, nông thôn bắt đầu được cơ khí hóa với máy móc nông nghiệp nhập từ Nhật. Những nhãn hiệu như Kubota, Yanma . . .đã trở thành quen thuộc với nông dân. Nào máy cày tay, máy bơm nước, máy xay xát v.v xuất hiện khắp miền từ Bến Hải tới Cà Mâu. Khoảng mùa hè năm 1967, có dịp về thăm quê, tôi chợt nhận ra cái cối xay lúa và bộ chày đạp giả gạo, vốn có mặt thường trực tại gian nhà bếp của bác tôi, nay không còn nữa. Tôi hỏi nó đâu rồi, sao bác không để mà dùng , thì bà cười, trả lời : “Để làm chi cho chật nhà, cháu. Sẵn cái máy xay lúa của ông Lời ở ngoài xóm đó, chỉ cần bỏ ta mấy đồng bạc là có gạo ăn, xay giả làm chi cho mệt.”
Nói “ngày xưa” cho có vẻ to tát chứ thực ra nào có xa xôi gì đâu. Với cái tuổi non choẹt như tôi mà còn biết được đôi điều huống hồ là các bậc già cả. Tuy nhiên, e rằng biết mà không nói ra thì rồi sẽ mai một bởi vì nó đã và đang đi vào dĩ vãng.
Để trở thành “hột gạo trắng ngần”, hột lúa phải qua bốn lần lột xác để đi từ thô (gạo lứt) đến tế ( gạo trắng tinh); đó là xay , sàng , giả và giần . Mỗi giai đoạn cần một hai loại dụng cụ khác nhau mà nhà nông không nhà nào thiếu.
Thớt trên mòn thớt dưới cũng mòn . . .
Trong cái nghề làm gạo, việc đâu tiên là phải tách hột gạo ra khỏi cái vỏ cứng của nó. Người Anh người Mỹ thì gọi “rice” tuốt luốt, có vỏ cũng “rice” mà không vỏ cũng “rice”, chín hay sống cũng đều “rice” như nhau. Còn người Việt mình thì tinh tế hơn nhiều. Loại hột thu hoạch từ cây lúa được gọi là hột lúa, và cái vỏ của hột lúa là vỏ lúa. Điều này thì hiển nhiên dễ hiểu, dễ nhận. Đến khi vỏ đi đàng vỏ, ruột đi đàng ruột, thì vỏ là vỏ trấu (trú) hay trấu, còn ruột là hột gạo. Chưa hết, nếu gạo này đem nấu chín thì gọi là cơm. Thật là lớp lang chi tiết!
Với dân tộc miền núi biết trồng lúa rẫy, họ chỉ cần một bộ dụng cụ đơn giản là cái cối và cái chày. Bỏ lúa vào cối giã một hồi cũng tách được gạo ra khỏi vỏ lúa. Đem sảy cho sạch vỏ lúa thì có ngay gạo để nấu cơm, làm bữa nào ăn bữa đó. Với người Kinh, vốn quá già kinh nghiệm về việc trồng lúa nước, nên dụng cụ làm ra hột gạo cũng có vẻ cao kỹ (hightech !) hơn , do đó cái cối xay lúa ra đời ! Cái cối xay lúa, khi hoạt động cũng có vẻ máy móc lắm. Cối được chế tạo bằng ba loại vật liệu thông dụng : tre, đất sét và gỗ (thường là gỗ nhãn). Mời bạn đọc liếc sơ cái hình vẽ để người viết dễ thưa chuyện.
Cối gồm có hai phần chính: thớt trên và thớt dưới. Thớt dưới cố định, ở trung tâm có một cái chốt (trục) dài chừng ba tấc, đường kính chừng 3 phân, dùng làm trục quay cho thớt trên.
Cả thớt trên lẫn thớt dưới đều đan bằng tre, đường kính bằng nhau, chừng 40-50cm, nhưng thớt trên cao hơn thớt dưới, thường gấp đôi. Lưng chừng thớt trên có một thanh gỗ xỏ ngang, hai đầu thò ra ngoài, mỗi bên chừng 2 tấc, có đục một cái lổ tròn để tra cái giàn xay vào. Thanh gỗ này, có hai công dụng: bên ngoài thì làm tay quay, còn bên trong thì giúp cho cái ổ quay được chắc chắn vững vàng hơn.
Bên trong cả hai thớt đều được nong đầy bằng đất sét. Mặt trên của thớt trên , đất sét được khoét thành hình miệng phểu, có một lổ thông xuống thớt dưới để làm đường dẫn lúa đi xuống. Hai mặt tiếp xúc của thớt trên và thớt dưới đều có gắn răng cối để khi ma sát thì làm vỡ vỏ lúa, phóng thích hột gạo ra ngoài. Vì cả hai mặt cùng ma sát nên cùng chịu mòn như nhau. Từ ý nghĩa đó, thành ngữ thớt trên mòn thớt dưới cũng mòn được dân ta dùng để diễn tả cái ý cả hai bên đều thiệt thòi hao tốn như nhau khi ganh đua hay tranh chấp về một việc gì đó.
Răng cối là những mảnh gỗ (nhãn) sắp xếp theo chiều thẳng đứng (kiểu trồng răng) với một kiểu thức khéo léo khiến cho khi xay, hai mặt thớt ma sát làm vỡ vỏ lúa mà không làm nát gạo. Một ông thợ đóng cối xay giỏi là người nắm được bí quyết sắp xếp hai hàm răng gỗ đó để đạt mục đích vừa nói. Người ta cưa thân cây nhãn ra thành từng tấm như tấm thớt, dày chừng 7,8 phân. Đoạn dùng cái chàng của thợ mộc để xắn ra từng miếng lớn nhỏ tùy theo nhu cầu, dày chừng 5-7mm, rối trồng xuống mặt thớt khi đất sét còn ướt. Dĩ nhiên cũng phải chèn cho kỹ để răng đứng vững khi ma sát.
Thớt dưới được đan liền với một cái bầu bao bọc chung quanh để hứng gạo đã xay ra. Bầu lại có một chừa một lổ hổng để lùa gạo xuống. Toàn bộ thớt trên và thớt dưới “ngự” vững vàng trên một cái giá gỗ hình chữ thập. Phải công nhận là dụng cụ được thiết kế một cách khá chu đáo.
Thế nào là một cái cối xay tốt? Đó là một cái cối nặng để ngồi vững vàng trên mặt đất nhưng khi xay thì lại chuyển vận nhẹ nhàng, đở tốn sức. Đặc điểm quan trọng nhất, ngoài sự bền chắc, là cối xay sạch lúa (nghĩa là số lúa còn sót lại ít) và không làm nát gạo.
Khi kỹ nghệ xe hơi ra đời thì mới phát sinh cái nghề sửa xe và mở garage. Cũng một cách như thế, khi cái cối xay lúa còn đắc dụng khắp nơi thì phải có thợ sửa cối xay lúa. Đa số những ông thợ sửa cối xay đã là những “phó cối” (thợ đóng cối xay), tuy nhiên cũng có người đóng cối xay không được nhưng lại biết cách sửa, phần lớn là sửa răng cối vì đó là bộ phận làm việc nhiều nhất nên dễ hao mòn hư hỏng. Những ông thợ này phải quảy cả gánh đồ nghề, lang thang khắp hang cùng ngõ hẽm vùng quê để hành nghề khi mùa màng rảnh rổi, họ vừa làm thợ mộc vừa làm thợ tre.
Lúa phơi khô quạt sạch được đổ vào cối. Người ta tra cái giàn xay vào tay quay và vận sức để quay cái thớt trên. Khi mới khởi động thì phải tốn sức nhiều, cũng kiểu như xe hơi khi mới bắt đầu chạy, vì khá nặng nề, nhưng khi xay đã có đà thì có phần bớt nhọc nhằn hơn. Để đở tốn sức nâng giữ cái giàn xay, người ta cột một đầu của giàn xay lên cái đòn tay của mái tranh. Chẳng phải là máy móc gì ghê gớm lắm nhưng khi xay lúa, sự ma sát cũng tạo nên một thứ tiếng động nghe ù-ù như tiếng sấm ầm ì từ xa vang tới.
Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẽo thơm một hột, đáng cay muôn phần.
--------------------------------------------------------------------------------
Võ Hương-An
5 tháng 11 năm 2004
------------------------------------------------------------------------------
Việc làm ra hột lúa với công phu một nắng hai sương, rõ ràng là “đắng cay muôn phần”. Thế nhưng từ hột lúa biến thành hột gạo cũng không phải là đơn giản. Ngày nay, với sự sản xuất gạo số lượng lớn của công nghiệp xay xát, với sự có mặt rộng rãi của các loại máy xay xát cở nhỏ khắp miền quê, việc làm ra hột gạo quá dễ dàng. Dễ dàng và tự nhiên cho tới nổi không ai hoài hơi để thử đặt một câu hỏi, đại loại như “không biết cái thời chưa có máy móc, ông bà mình ngày xưa làm sao để có gạo nấu cơm?”
Tại miền nam Việt Nam trước 1975, khoảng cuối thập niên 70, nông thôn bắt đầu được cơ khí hóa với máy móc nông nghiệp nhập từ Nhật. Những nhãn hiệu như Kubota, Yanma . . .đã trở thành quen thuộc với nông dân. Nào máy cày tay, máy bơm nước, máy xay xát v.v xuất hiện khắp miền từ Bến Hải tới Cà Mâu. Khoảng mùa hè năm 1967, có dịp về thăm quê, tôi chợt nhận ra cái cối xay lúa và bộ chày đạp giả gạo, vốn có mặt thường trực tại gian nhà bếp của bác tôi, nay không còn nữa. Tôi hỏi nó đâu rồi, sao bác không để mà dùng , thì bà cười, trả lời : “Để làm chi cho chật nhà, cháu. Sẵn cái máy xay lúa của ông Lời ở ngoài xóm đó, chỉ cần bỏ ta mấy đồng bạc là có gạo ăn, xay giả làm chi cho mệt.”
Nói “ngày xưa” cho có vẻ to tát chứ thực ra nào có xa xôi gì đâu. Với cái tuổi non choẹt như tôi mà còn biết được đôi điều huống hồ là các bậc già cả. Tuy nhiên, e rằng biết mà không nói ra thì rồi sẽ mai một bởi vì nó đã và đang đi vào dĩ vãng.
Để trở thành “hột gạo trắng ngần”, hột lúa phải qua bốn lần lột xác để đi từ thô (gạo lứt) đến tế ( gạo trắng tinh); đó là xay , sàng , giả và giần . Mỗi giai đoạn cần một hai loại dụng cụ khác nhau mà nhà nông không nhà nào thiếu.
Thớt trên mòn thớt dưới cũng mòn . . .
Trong cái nghề làm gạo, việc đâu tiên là phải tách hột gạo ra khỏi cái vỏ cứng của nó. Người Anh người Mỹ thì gọi “rice” tuốt luốt, có vỏ cũng “rice” mà không vỏ cũng “rice”, chín hay sống cũng đều “rice” như nhau. Còn người Việt mình thì tinh tế hơn nhiều. Loại hột thu hoạch từ cây lúa được gọi là hột lúa, và cái vỏ của hột lúa là vỏ lúa. Điều này thì hiển nhiên dễ hiểu, dễ nhận. Đến khi vỏ đi đàng vỏ, ruột đi đàng ruột, thì vỏ là vỏ trấu (trú) hay trấu, còn ruột là hột gạo. Chưa hết, nếu gạo này đem nấu chín thì gọi là cơm. Thật là lớp lang chi tiết!
Với dân tộc miền núi biết trồng lúa rẫy, họ chỉ cần một bộ dụng cụ đơn giản là cái cối và cái chày. Bỏ lúa vào cối giã một hồi cũng tách được gạo ra khỏi vỏ lúa. Đem sảy cho sạch vỏ lúa thì có ngay gạo để nấu cơm, làm bữa nào ăn bữa đó. Với người Kinh, vốn quá già kinh nghiệm về việc trồng lúa nước, nên dụng cụ làm ra hột gạo cũng có vẻ cao kỹ (hightech !) hơn , do đó cái cối xay lúa ra đời ! Cái cối xay lúa, khi hoạt động cũng có vẻ máy móc lắm. Cối được chế tạo bằng ba loại vật liệu thông dụng : tre, đất sét và gỗ (thường là gỗ nhãn). Mời bạn đọc liếc sơ cái hình vẽ để người viết dễ thưa chuyện.
Cối gồm có hai phần chính: thớt trên và thớt dưới. Thớt dưới cố định, ở trung tâm có một cái chốt (trục) dài chừng ba tấc, đường kính chừng 3 phân, dùng làm trục quay cho thớt trên.
Cả thớt trên lẫn thớt dưới đều đan bằng tre, đường kính bằng nhau, chừng 40-50cm, nhưng thớt trên cao hơn thớt dưới, thường gấp đôi. Lưng chừng thớt trên có một thanh gỗ xỏ ngang, hai đầu thò ra ngoài, mỗi bên chừng 2 tấc, có đục một cái lổ tròn để tra cái giàn xay vào. Thanh gỗ này, có hai công dụng: bên ngoài thì làm tay quay, còn bên trong thì giúp cho cái ổ quay được chắc chắn vững vàng hơn.
Bên trong cả hai thớt đều được nong đầy bằng đất sét. Mặt trên của thớt trên , đất sét được khoét thành hình miệng phểu, có một lổ thông xuống thớt dưới để làm đường dẫn lúa đi xuống. Hai mặt tiếp xúc của thớt trên và thớt dưới đều có gắn răng cối để khi ma sát thì làm vỡ vỏ lúa, phóng thích hột gạo ra ngoài. Vì cả hai mặt cùng ma sát nên cùng chịu mòn như nhau. Từ ý nghĩa đó, thành ngữ thớt trên mòn thớt dưới cũng mòn được dân ta dùng để diễn tả cái ý cả hai bên đều thiệt thòi hao tốn như nhau khi ganh đua hay tranh chấp về một việc gì đó.
Răng cối là những mảnh gỗ (nhãn) sắp xếp theo chiều thẳng đứng (kiểu trồng răng) với một kiểu thức khéo léo khiến cho khi xay, hai mặt thớt ma sát làm vỡ vỏ lúa mà không làm nát gạo. Một ông thợ đóng cối xay giỏi là người nắm được bí quyết sắp xếp hai hàm răng gỗ đó để đạt mục đích vừa nói. Người ta cưa thân cây nhãn ra thành từng tấm như tấm thớt, dày chừng 7,8 phân. Đoạn dùng cái chàng của thợ mộc để xắn ra từng miếng lớn nhỏ tùy theo nhu cầu, dày chừng 5-7mm, rối trồng xuống mặt thớt khi đất sét còn ướt. Dĩ nhiên cũng phải chèn cho kỹ để răng đứng vững khi ma sát.
Thớt dưới được đan liền với một cái bầu bao bọc chung quanh để hứng gạo đã xay ra. Bầu lại có một chừa một lổ hổng để lùa gạo xuống. Toàn bộ thớt trên và thớt dưới “ngự” vững vàng trên một cái giá gỗ hình chữ thập. Phải công nhận là dụng cụ được thiết kế một cách khá chu đáo.
Thế nào là một cái cối xay tốt? Đó là một cái cối nặng để ngồi vững vàng trên mặt đất nhưng khi xay thì lại chuyển vận nhẹ nhàng, đở tốn sức. Đặc điểm quan trọng nhất, ngoài sự bền chắc, là cối xay sạch lúa (nghĩa là số lúa còn sót lại ít) và không làm nát gạo.
Khi kỹ nghệ xe hơi ra đời thì mới phát sinh cái nghề sửa xe và mở garage. Cũng một cách như thế, khi cái cối xay lúa còn đắc dụng khắp nơi thì phải có thợ sửa cối xay lúa. Đa số những ông thợ sửa cối xay đã là những “phó cối” (thợ đóng cối xay), tuy nhiên cũng có người đóng cối xay không được nhưng lại biết cách sửa, phần lớn là sửa răng cối vì đó là bộ phận làm việc nhiều nhất nên dễ hao mòn hư hỏng. Những ông thợ này phải quảy cả gánh đồ nghề, lang thang khắp hang cùng ngõ hẽm vùng quê để hành nghề khi mùa màng rảnh rổi, họ vừa làm thợ mộc vừa làm thợ tre.
Lúa phơi khô quạt sạch được đổ vào cối. Người ta tra cái giàn xay vào tay quay và vận sức để quay cái thớt trên. Khi mới khởi động thì phải tốn sức nhiều, cũng kiểu như xe hơi khi mới bắt đầu chạy, vì khá nặng nề, nhưng khi xay đã có đà thì có phần bớt nhọc nhằn hơn. Để đở tốn sức nâng giữ cái giàn xay, người ta cột một đầu của giàn xay lên cái đòn tay của mái tranh. Chẳng phải là máy móc gì ghê gớm lắm nhưng khi xay lúa, sự ma sát cũng tạo nên một thứ tiếng động nghe ù-ù như tiếng sấm ầm ì từ xa vang tới.