📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Phòng Lưu Trữ

NHỮNG DANH DÂN TUỔI THÂN NỔI TIẾNG CỦA VIỆT NAM

0 trả lời, 649 lượt xem — Trang 1 / 1
Tựa như vai trò, ý nghĩa và giá trị đa dạng của loài khỉ, tuổi khỉ (sinh năm Thân) thường được coi là tuổi vất vả, bận rộn nhưng cũng sôi nổi, may mắn và thành đạt. Phải chăng vì thế, trong số danh nhân ảnh hưởng lớn tới tiến trình lịch sử Việt Nam, có khá nhiều vị tuổi Thân...

Nguyễn Trãi: Sinh năm Canh Thân 1380, quê Hà Tây, danh sĩ, nhà văn hoá, khai quốc công thần thời Lê. Nhân hậu, thông minh, đa đài, làm quan triều Hồ (1400-1407) sau khi đỗ thái học sinh (tiến sĩ) lúc mới 20 tuổi. Năm 1418 vào Thanh Hoá tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, tạo dựng những chiến lược quân sự mạnh mẽ và đường lối ngoại giao sáng suốt, dày công phò giúp Lê Lợi lãnh đạo kháng chiến chống giặc Minh toàn thắng. Từ năm 1428, được phong tước Quan Phục hầu, trở thành đại thần nhà Lê, đảm trách lĩnh vực chính trị và văn hoá. Ngoài bài Bình Ngô đại cáo oai hùng như một bản tuyên ngôn độc lập, Ông còn để lại nhiều tác phẩm giá trị về triết học, tư tưởng, thơ ca, lịch sử và địa lý.

Phạm Gia Mô: Sinh năm Bính Thân 1476, quê Hải Dương, văn thần thời Lê Sơ và Mạc. Giỏi ứng biến, nhiều mưu lược, đỗ tiến sĩ năm 1505, làm quan đến Thượng thư (Bộ trưởng) Bộ Lễ. Nhà Lê suy yếu, Ông kết thông gia và ngầm giúp đỡ Mạc Đăng Dung lộng quyền, đảo chính, lập ra nhà Mạc, nên được thăng tới chức Thái sư (Tể tướng). Ông nổi tiếng bởi bản tính linh động và tác phong quyết đoán.

Đào Duy Từ: sinh năm Nhâm Thân 1572, quê Thanh Hoá, nhà quân sự và văn hoá, danh nhân đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Tinh thông sử sách, lý số và binh pháp, nhưng bị kìm hãm dưới triều Lê - Trịnh do thuộc dòng tộc ca xướng, Ông bỏ vào Nam lập nghiệp. Tài đức dần nổi, được chúa Nguyễn biết đến, trọng dụng, phong làm Nội tán. Nhiệt tình, đa năng, ông tận tụy giúp chúa về quân sự, chính trị, văn hóa và đương đầu thành công với chúa Trịnh ngoài Bắc. Thiết kế, chỉ đạo đắp hai công trình phòng thủ quan trọng (lũy Trường Dục và luỹ Thầy), đồng thời là tác giả bộ sách quân sự đặc biệt Hổ trướng khu cơ. Ông còn sáng tác nhiều văn thơ, ca khúc rất giá trị và biên đạo một số điệu múa được lưu truyền rộng rãi. Ông là người Việt Nam đầu tiên làm thơ lục bát và là ông tổ của nghệ thuật hát tuồng.

Bùi Thế Đạt: Sinh năm Giáp Thân 1704, quê Nghệ An, võ tướng đời Lê Hiển Tông, Xuất thân từ binh sĩ nhưng lập nhiều chiến công, dần được thăng tướng tới chức Đại tư mã. Ông cầm quân trấn áp phản loạn, giặc cướp ở vùng Việt Bắc và miền Trung rất hiệu quả, ổn định an ninh trật tự, được coi là viên tướng trụ cột triều đình. Bản tính cả quyết, xông xáo, nhưng lại giàu mưu lược, luôn thận trọng khi hành quân và thương yêu binh sĩ dưới quyền là các nguyên nhân tạo nên những chiến tích của ông.

Lê Trọng Thứ: Sinh năm Giáp Thân 1704, quê Thái Bình, danh sĩ thời Lê mạt. Nổi tiếng văn thơ, giỏi việc chính trị, đỗ đồng tiến sĩ năm 1724, làm quan đến Thượng thư Bộ hình. Thông thái, nhiệt tình, giao lưu rộng, Ông được sĩ phu khắp nơi quý mến. Ông là cha của nhà bác học thiên tài Lê Quý Đôn.

Nguyễn Cư Trinh: Sinh năm Bính Thân 1716, quê Thừa Thiên - Huế, danh thần đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Văn võ song toàn, đỗ hương tiến (cử nhân), làm quan đến Thượng thư Bộ Lại. Nhiều lần cầm binh đánh dẹp, khai hoang lập ấp, phát triển bờ cõi phía Nam, lập công lớn trong việc chiêu dụ, mở nước, an dân. Ông rất được trọng vọng bởi am tường chính trị, doanh điền, ngoại giao, có bản tính liêm khiết và phong thái cao nhã. Thơ văn ông còn truyền tụng nhiều, cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, độc đáo nhất là Độn Am thi tập và bài vè 340 câu Sãi vãi.

Nguyễn Tri Phương: Sinh năm Canh Thân 1800, quê Thừa Thiên - Huế, đại danh thần thời Nguyễn, anh hùng kháng Pháp. Năng động, mưu lược, khảng khái, Ông tiến nhanh trên đường quyền lực, thăng đến Tổng thống Quân vụ Đại thần kiêm Tổng đốc các tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên từ năm 1850. Năm 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng, mở màn xâm lược nước ta, Ông được cử trực tiếp chỉ huy chống giặc. Năm 1860 sung chức Gia Định quân thứ, điều hành việc quân sự ở miền Nam. Năm 1862, thăng chức Võ hiển Đại học sĩ, bị trọng thương. Địch chiếm thành, cứu chữa và phủ dụ, nhưng ông nhất quyết chối từ, hy sinh ngày 20/12/1873 sau khi tuyệt thực gần một tháng. Ông trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, uy vũ hùng mạnh và khí tiết nam nhi.

Phan Châu Trinh: Sinh năm Nhâm Thân 1872, quê Quảng Nam, chí sĩ cận đại, nhà vận động duy tân và dân chủ. Năm 1901 đỗ phó bảng, được bổ nhiệm làm Thừa biện Bộ Lễ. Năng động, tân tiến, sớm giác ngộ cách mạng, năm 1905 từ quan, cùng các bạn đi khắp Việt Nam cổ vũ đấu tranh và liên kết trí thức yêu nước. Năm 1906 bí mật sang Nhật Bản, gặp Phan Bội Châu, khởi xướng chủ trương cải cách với mục đích thức tỉnh lòng dân, tạo dân khí mạnh, đề cao dân quyền. Năm 1911 sang Pháp, gặp Nguyễn Ái Quốc và Phan Văn Trường, thảo luận vấn đề độc lập, tự do, dân chủ. Từ năm 1925 về Sài Gòn, sôi nổi tham gia những hoạt động chính trị tiến bộ. Ông cũng để lại nhiều tác phẩm thơ văn đầy nhiệt huyết cách mạng và gây tiếng vang lớn.

Nguyễn Phúc Ưng Lịch: Sinh năm Nhâm Thân 1872, quê Thừa Thiên - Huế, vị vua yêu nước thời Nguyễn, niên liệu Hàm Nghi. Sáng dạ, can đảm, giàu lòng ái quốc, được đại thần chủ chiến Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phò tá lên ngôi lúc 12 tuổi. Năm 1885, sau cuộc tập kích Pháp ở Huế thất bại, bỏ kinh thành ra Tân Sở (Quảng Trị) lập chiến khu, phát động phong trào Cần vương cứu nước. Cuối năm 1888, ông bị giặc bắt, đầy chung thân sang Algeria và mất ở đó năm 1943.

Hồ Tùng Mậu: Sinh năm Bính Thân 1896, quê Nghệ An, chí sĩ, nhà cách mạng. Dũng cảm, trung kiên, từng trải, năm 1916 sang Thái Lan, Trung Quốc lo việc cứu nước. Năm 1923 đứng ra thành lập Tâm tâm xã - một tổ chức cách mạng có khuynh hướng cộng sản. Từ năm 1930, là cán bộ xuất sắc của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 6/1931, bị giặc bắt, giải về Việt Nam tra tấn, tù đày. Tháng 3/1943, vượt ngục vào trung bộ lãnh đạo hoạt động chống Pháp. Năm 1946, được cử làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu IV. Năm 1949, làm Tổng Thanh tra Chính phủ, rồi được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1951). Bị máy bay địch oanh tạc trên đường đi công tác, Ông hy sinh ngày 23/7/1951.

Vũ Đình Long: Sinh năm Bính Thân 1896, quê Hà Tây, nhà soạn kịch danh tiếng. Yêu nghệ thuật, sôi nổi hoạt động văn chương, báo chí và say mê viết kịch. Làm việc tại Sở Học chánh Hà Nội, chủ trương thành lập hàng loạt tờ báo văn hoá và mở Nhà xuất bản Tân Dân từ năm 1925. Năm 1954, được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Ông là nhà soạn kịch đầu tiên của nước ta và sáng tác được nhiều vở kịch rất giá trị: Toà án lương tâm, Tổ quốc trên hết, Tình trong khói lửa...

Hoàng Ngọc Phách: Sinh năm Bính Thân 1896, quê Hà Tĩnh, nhà nghiên cứu văn học. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Đông Dương, viết văn, dạy học nhiều nơi và nổi tiếng ngay khi cho xuất bản tác phẩm đầu tay là tiểu thuyết Tố Tâm (1925). Sau Cách mạng tháng Tám, giữ các chức Giám đốc của Học khu Bắc Ninh (1945 - 1951), Khu Giáo dục XII (1947 - 1948), Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương (1951), rồi về công tác ở Bộ Giáo dục, chuyên viết sách nghiên cứu. Ông có công lớn trong việc hình thành, gìn giữ, phát triển tiếng Việt và là nhà văn lãng mạn tiền phong viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của văn học Việt Nam.

Nguyễn Đức Cảnh: Sinh năm Mậu Thân 1908, quê Thái Bình, nhà cách mạng, chiến sĩ cộng sản. Nhiệt thành yêu nước, thuở nhỏ học ở Nam Định và hăng hái tham gia phong trào chống Pháp tại địa phương. Năm 1928 được cử vào Kỳ bộ Bắc Kỳ của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Năm 1929 đứng ra thành lập Tổng Công hội Bắc Kỳ. Năm 1930 tham gia thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi được cử đi chỉ đạo công tác ở miền Trung, bầu vào Ban Thường vụ Xứ ủy Trung kỳ, phụ trách tuyên huấn. Ông bị giặc bắt tại Vinh và hy sinh ngày 31/7/1932.

Ngô Gia Tự: Sinh năm Mậu Thân 1908, quê Bắc Ninh, nhà hoạt động cách mạng và cộng sản. Học rộng, tài cao, chí lớn, kiên quyết theo con đường cách mạng, năm 1926 gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội và sang Trung Quốc huấn luyện. Năm 1927 về nước, vào Tỉnh bộ Bắc Ninh; tạo dựng được nhiều cơ sở, tích cực hoạt động trong nông dân, binh lính và theo sát phong trào công nhân. Năm 1929 ra Hà Nội, dự phiên họp thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Nam Kỳ. Cuối năm 1930, ông bị địch bắt tại Sài Gòn, đày ra Côn Đảo từ tháng 5/1933 và bị mất tích trên biển khi cùng các đồng chí vượt ngục vào một đêm cuối tháng 1/1935.

Nguyễn Văn Huyên: Sinh năm Mậu Thân 1908, quê Hà Nội, giáo sư. Mẫn cảm, uyên bác, đỗ tiến sĩ văn khoa năm 22 tuổi, về dạy tại trường Viễn Đông Bác cổ và chuyên nghiên cứu lịch sử, dân tộc học. Sau Cách mạng tháng Tám, làm Giám đốc Vụ Đại học kiêm Giám đốc Viện Đông phương Bác cổ. Từ tháng 11/1946, được cử làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và giữ nhiều trọng trách. Ông là vị bộ trưởng giáo dục đầu tiên của nước ta sau thời phong kiến.

Nguyễn Gia Trí: Sinh năm Mậu Thân 1908, quê Hà Tây, hoạ sĩ bậc thầy ngành sơn mài. Tài hoa, tự chủ, quyết đoán, năm 1929 vào học trường Mỹ thuật Đông Dương và trang trí vui lạ cho nhiều tờ báo đương thời. Sau khi Pháp tái chiếm Hà Nội, ông sang Trung Quốc rồi về định cư ở Sài Gòn từ năm 1950. Vẽ rất nhiều tranh triển lãm trong và ngoài nước, được giới hội hoạ nhiệt liệt tán thưởng, khâm phục về nghệ thuật tạo hình độc đáo. Ông để lại ấn tượng khó quên cùng những bức sơn mài đặc sắc: Chải tóc, Cảnh thiên thai, Vườn xuân Trung Nam Bắc...

Hoàng Xuân Hãn: Sinh năm Mậu Thân 1908, quê Hà Tĩnh, nhà khoa học và văn hoá. Từ năm 1936 dạy trường Bưởi và Đại học Khoa học Hà Nội, là thành viên chủ chốt Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Đông Dương. Từ năm 1945 khởi xướng, tham gia các chương trình cải cách giáo dục, văn hoá, xã hội. Năm 1951 bị Pháp bắt giam, sau được trả tự do, sống ở Pháp và dốc tâm sức vào khoa học. Ông có cống hiến rất lớn cho nền giáo dục, khoa học và văn hoá Việt Nam, để lại nhiều công trình quy mô về toán, vật lý, địa lý, tư tưởng, pháp luật, lịch sử, văn thơ, ngôn ngữ, dân tộc học.

Phan Ngọc Hoan: Sinh năm Canh Thân 1920, quê Quảng Trị, nhà thơ danh tiếng, bút hiệu Chế Lan Viên. Thông minh, năng động, nghị lực, làm thơ từ nhỏ, sớm sáng danh bởi bút pháp kiêu hùng, mạnh mẽ mà sâu sắc, tài hoa ngay từ tập thơ đầy tay Điêu tàn (1937). Ông đi nhiều nơi ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam, học, dạy văn, viết báo, tham gia kháng chiến và hoạt động cách mạng, trải qua nhiều chức vị quan trọng. Sự nghiệp văn thơ rất đồ sộ với hàng nghìn bài thơ, văn xuôi, tiểu luận, phê bình. Ông được coi là nhà thơ trí tuệ và triết lý xuất sắc nhất trong nền thi ca hiện đại Việt Nam.

Đăng nhập để trả lời
0