Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

HỒNG LÂU MỘNG 45-48

3 trả lời, 1.445 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt;Edited by: <b>thatsonanhhung</b> -- <b>1/16/2004 2:16:44 PM </b> &gt;>
HỒNG LÂU MỘNG

(tiếp theo)

Hồi thứ bốn mươi lăm

Bạn kim lan ngỏ chuyện kim lan;
Đêm mưa gió ngâm bài mưa gió.


Phượng Thư đang vỗ về Bình Nhi, thấy chị em đến chơi, liền mới ngồi. Bình Nhi đi pha trà. Phượng Thư cười nói:
- Sao hôm nay đến chơi đông, như là có thiếp mời ấy.
Thám Xuân cười nói:
- Chúng tôi đến đây có hai việc: một là việc của tôi; hai là việc của cô Tư, lại kèm theo cả lời của cụ nữa.
Việc gì mà cần thiết
- Chúng tôi mở thi xã, lần đầu không được đủ, mọi người nể nhau nên sai cả lệ. Chị là người thành thật không thiên vị ai, nên tôi muốn mời chị làm “giám xã ngự sử. Hai là cô Tư đang vẽ bức tranh cái vườn, không đủ đồ dùng, đã trình cụ rồi, người bảo: “Có lẽ dưới lầu còn những thứ ấy. Thử tìm xem, còn thì đem mà dùng, hết thì bảo người đi mua”.
Phượng Thư cười nói:
- Tôi chỉ biết ăn thôi, ngoài ra chẳng hiểu nếp tẻ gì cả.
- Chị không hiểu cũng không cần chị phải làm, chỉ nhờ chị xem xét trong đám chúng tôi có ai lười biếng đáng phạt thì phạt, thế là được rồi.
- Các cô đừng lừa tôi. Tôi đã đoán ra rồi. Đâu có phải mời tôi làm “giám xã ngự sử?” Rõ ràng là bảo tôi làm người lái “buôn đồng” để nộp tiền thôi. Các cô mở thi xã, tất phải thay phiên nhau làm chủ thết rượu. Vì không đủ tiền, nên bày ra cách này lôi tôi vào để lấy tiền đó thôi. Có phải thế không?
Mọi người đều cười nói: “Chị đoán đúng đấy”.
Lý Hoàn cười nói:
- Mày thật là người pha lê mà ruột thủy tinh!
Phượng Thư cười nói:
- Khen cho chị là chị cả! Các cô ấy muốn nhờ chị dìu dắt học hành, học khuôn phép, học may vá. Bây giờ mở thi xã hết bao nhiêu tiền mà chị không dám nhận. Cụ, bà Hai thì không nói làm gì, vì là các vị “phong quân” (*) già. Còn chị mỗi tháng được mười lạng bạc lương, so với chúng tôi nhiều hơn gấp hai lần. Thế mà Cụ và bà Hai cứ thương chị là đàn bà góa, không làm gì, không đủ tiền tiêu, lại có đứa con bé được thêm mỗi tháng mười lạng nữa, như thế thì lương bằng Cụ và bà Hai rồi còn gì. Chị lại được miếng vườn cho thuê, số tiền thưởng cuối năm chị cũng được nhiều hơn. Mẹ con, thầy tớ nhà chị tất cả chưa đầy mười người, ăn mặc các cái vẫn là của trong kho chi ra. Tính ra ít nhất chị cũng có bốn, năm trăm lạng bạc. Bây giờ mỗi năm chị bỏ ra độ một hay hai trăm lạng bạc cho họ vui chơi, kể cũng được mấy năm. Sau này họ lấy chồng rồi, chẳng lẽ chị còn phải bù nữa chăng? Bây giờ chị sợ phải tiêu tiền, xui họ đến quấy rầy tôi, để ăn cho núi lở non mòn, tôi lại chả biết hay sao?
---------------
(*) Thời phong kiến, những người được phong chức tước, hoặc con làm quan to mà cha mẹ được phong, đều gọi là phong quân hoặc phong ông .
-------------------

Lý Hoàn cười nói:
- Các cô nghe đấy, tôi nói có một, nó đã điên lên nói ra
hàng tràng những câu mất dạy! Thực là hạng lái buôn, chuyên nghề so kè tính toán, bủn xỉn từng ly từng tý! Cái hạng này may là một vị tiểu thư để ra ở nhà thi thư, sĩ hoạn, lại được lấy chồng thế này mà cũng còn quá quắt như thế, nếu là con nhà nghèo hèn, làm hạng con hầu đứa ở, thì không biết đê tiện đến thế nào. Khắp gầm trời ai cũng kêu mày xoay xở quá lắm. Hôm qua lại đánh cả con Bình, sao mày bạo tay thế? Thật là đem rượu ngọt đổ vào bụng chó! Tức quá, tao chỉ muốn báo thù hộ con Bình thôi. Nghĩ mãi, không mấy khi gặp “ngày vui của con chó dài đuôi”, lại sợ cụ khó chịu, vì thế tao không nói ra, nhưng trong bụng vẫn tức. Thế mà hôm nay mày lại giở
chuyện trêu tao. Kể ra mày xách giày cho con Bình cũng chưa đáng! Mày và con Bình nên đổi địa vị cho nhau mới phải!
Mọi người nghe nói đều cười ầm lên.
Phượng Thư cười nói:
- Ô! Tôi biết rồi! Thế ra các chị tìm tôi không phải vì
thơ vì vè chỉ để báo thù cho con Bình đấy thôi. Tôi thật không ngờ con Bình đã có một người để tựa lưng như chị. Tôi biết thế này, dù có ma quỷ kéo tay tôi đánh nó, tôi cũng không dám. Chị Bình lại đây, tôi xin lỗi chị trước mặt mợ Cả và các cô của chị, cứ cho tôi là “quá chén mất khôn thôi”!
Mọi người nghe nói đều cười ầm lên.
Lý Hoàn cười hỏi Bình Nhi:
- Thế nào? Tôi phải nói cho chị hả giận mới thôi!
Bình Nhi cười nói :
- Dù các mợ nói đùa, tôi cũng không dám nhận.
Lý Hoàn nói:
- Sao lại không dám! Đã có tôi đây . Thôi, đi lấy chìa
khóa, bảo chủ chị mở cửa lấy các đồ dùng ra.
Phượng Thư cười nói:
- Chị ơi! Chị hãy vào trong vườn với họ đã. Tôi vừa định
mang sổ gạo ra tính với họ một lúc, mẹ tôi bên kia lại sai người sang gọi, không biết là bảo việc gì, tôi phải đi sang đó mới được. Lại còn quần áo cuối năm cho các cô, tôi phải sắp sẵn cho người ta may nữa.
Lý Hoàn cười nói:
- Mặc kệ! Thím cứ làm xong việc này cho tôi đi nghỉ, để
các cô ấy khỏi quấy rầy tôi.
Phượng Thư vội cười nói:
- Chị ơi? Hãy để cho em rỗi một tý đã, xưa nay chị vẫn
thương em, sao bây giờ vì việc Bình Nhi, chị lại không thương em nữa? Chị thường khuyên em: “Tuy nhiều việc, nhưng cũng nên giữ gìn sức khỏe, được rỗi lúc nào cũng nên nghỉ ngơi”. Thế mà hôm nay chị lại bắt ép em quá như thể. Vả chăng, những quần áo cuối năm của người khác mà chậm thì không can gì, chứ quần áo của các cô mà chậm thì trách cứ ở chị đấy. Chị đã chẳng chịu làm gì, lại không nói giúp lấy một lời, lẽ nào cụ chả trách chị. Tôi thà đành nhận lỗi một mình, chứ không khi nào dám làm lụy đến chị.
Lý Hoàn cười nói:
- Các cô nghe kìa, nó nói thế có được không Thế mà
vẫn cho nó là biết ăn nói đấy, Tôi hãy hỏi: thím có nhận trông nom việc thi xã này không? “
Phượng Thư cười nói:
- Sao chị lại nói thế ? Nếu tôi không tốn mấy đồng tiền
cho thi xã thì chẳng hóa ra tôi là kẻ lật lọng ở vườn Đại Quan này, còn hòng ăn ở đây được nữa không? Sớm mai tôi xin đến nhậm chức. Xuống ngựa nhận ấn, là tôi bỏ ngay ra năm mươi lạng bạc để chị em làm tiền mở tiệc họp thi xã tiêu dần. Sau này tôi không biết làm thơ làm văn, chẳng qua chỉ là một người rất tục thôi. Giám sát hay chẳng giám sát nữa cũng được, đã có tiền, chẳng còn lo chị em đuổi tôi ra nữa!
Mọi người đều cười. Phượng Thư lại nói:
Lát nữa tôi sẽ mở buồng gác, còn thứ gì cho người mang
xuống để chị em xem. Thứ gì dùng được để lại mà dùng, thiếu gì cứ chiếu đơn của chị em cho người đi mua là được rồi. Lụa về tôi sẽ cắt. Tấm bản đồ không để ở bên cụ đâu, anh Trân giữ đấy. Nói cho các người biết khỏi phải tìm tòi lôi thôi. Tôi bảo người đi lấy về và đưa cả lụa cho bọn thợ vẽ hồ nước phèn, có được hay không?
Lý Hoàn gật đầu cười nói:
- Thế thì cảm ơn thím. Được như thế là xong việc. Thôi
chúng ta về đi, nếu thím ấy không sai người mang đến, tôi lại phải đến quấy rầy lần nữa.
Nói xong, dẫn các chị em về.
Phượng Thư nói:
-Việc này chẳng phải tại ai, đều tự chú Bảo bới việc ra
cả.
Lý Hoàn nghe nói, quay lại cười nói:
- Chính vì chú Bảo mới đến đây, thế mà lại lãng quên
đi! Cuộc họp thơ đầu tiên, chú ấy đã làm lỡ việc. Chúng tôi nể quá, nay thím bảo nên phạt như thế nào?
Phượng Thư nghĩ một lúc rồi nói:
- Chẳng có cách nào khác, em bắt chú ấy quét một lượt
các nhà cửa của chị em là đủ.
Mọi người đều cười nói: “Phạt thế phải lắm”.
Mọi người định ra về, thấy một a hoàn nhỏ dắt bà Lại
đến. Phượng Thư vội đứng dậy cười nói: “Mời bà ngồi chơi”.
Rồi họ đều ngỏ lời mừng bà ấy. Bà Lại ngồi xuống cạnh giường, cười nói:
- Tôi mừng, các vị chủ nhà cũng mừng. Nếu không nhờ
được ơn chủ, thì tôi làm gì có việc mừng này? Hôm nọ mợ lại sai anh Thái mang đến cho đồ mừng. Cháu tôi đã bái vọng tạ ơn rồi.
Lý Hoàn cười nói:
Bao giờ anh ấy đi nhậm chức? .
- Bao giờ nó đi thì đi, chứ tôi có biết đâu? Hôm nọ nó
đến lạy tôi, tôi cũng chẳng biết nói gì hơn, chỉ dặn nó: “Cháu đừng tưởng được làm quan là tha hồ ngang tàng bậy bạ! Nay mày đã ba mươi tuổi, tuy là con nhà tôi tớ, nhưng vừa mới lọt lòng mẹ đã được ơn chủ buông tha ra, trên nhờ hồng phúc của chủ, dưới nhờ có bố mẹ, cũng như các cậu, mày được đọc sách biết chữ, có bà già, a hoàn, có vú nuôi nâng niu như chim phượng hoàng. Giờ nhớn như thế, liệu mày đã biết viết hai chữ “nô tài” (*) thế nào chưa? Hay chỉ biết hưởng phúc mà không hiểu ông mày, bố mày đã chịu bao nhiêu khổ nhục, hai ba đời người vất vả mới nặn ra được mày như thế này! Từ lúc bé, mày bị bao nhiêu là tai nạn, tốn kém bao nhiêu là tiền bạc, giá đúc lại cũng bằng người mày rồi ấy. Đến năm mày
ngoài hai mươi tuổi, lại nhờ ơn chủ, quyên cho một chức. Mày có biết chính trong họ nhà chủ cũng còn bao nhiêu người nhịn đói nhịn khát đấy không. Mày là con nhà tôi tớ, giờ hồn đấy, khéo không lại hết phúc! Mười năm trời sung sướng không biết mày giở trò ma quỷ thế nào, van xin chủ, lại được ra làm quan ở vùng nào tức là cha mẹ dân vùng ấy. Chức quan huyện tuy nhỏ, nhưng trách cứ rất lớn. Nếu mày không biết làm tròn phận sự, hết lòng giúp nước thờ chủ, thì trời cũng không dung cho mày đâu!”

---------
(*) Những người làm tôi tớ cho bọn quý tộc địa chủ trong thời phong kiến.
------------

Lý Hoàn, Phượng Thư đều cười nói:
- Bà hay lo xa, chúng tôi xem anh ấy cũng tốt đấy chứ.
Xưa kia anh ấy còn đến đây vài lần, nhưng mấy năm nay
không thấy anh ấy đến. Lễ sinh nhật cuối năm ngoái, chỉ thấy tên của anh ấy thôi. Hôm nọ anh ấy đến chào cụ và bà Hai khi ở bên nhà cụ, chúng tôi thấy anh ấy mặc quân phục mới, trông càng oai vệ và béo hơn trước nhiều. Giờ anh ấy được làm quan, bà nên vui mới phải, tội gì mà buồn? Nếu anh ấy không tốt, đã có cha mẹ anh ấy, bà cứ yên hưởng phúc nhà là đủ rồi. Khi nào rỗi, bà đi kiệu sang đánh bài với cụ chúng tôi, nói chuyện cho vui, ai nỡ khinh rẻ bà, ở nhà lại có cửa cao, lầu rộng, ai chả kính nể? Bà thật cũng như một vị phong quân già vậy.
Bình Nhi pha nước mang đến, bà Lại vội đứng dậy nói:
- Xin cô đừng làm phiền, cứ bảo đứa hầu nhỏ nào pha
cũng được. . .
Bà ta ta uống nước vừa nói:
- Mợ không biết, đám trẻ con này cần phải dạy bảo
nghiêm ngặt. Nghiêm như thế mà chúng còn lén lút làm bậy, để người nhớn phải bận lòng. Người biết ra bảo tính trẻ con bướng bỉnh; người không biết lại bảo là chúng nó cậy của, cậy thế khinh người, làm cho chủ nhà cũng mang tiếng. Nhiều khi tức quá, tôi không làm thế nào được, phải gọi bố phòng đến, mắng cho một trận mới yên.
Bà ta lại chỉ Bảo Ngọc nói:
- Cậu giận tôi cũng cứ nói, bây giờ hễ ông nhà có răn
bảo cậu một chút, cụ đã chằm chặp bênh. Chứ khi ông nhà
còn bé, bị cụ ông đánh luôn, ai mà không biết? ông nhà hồi còn bé có ngỗ ngược như cậu thế này đâu! Lại còn ông bác ở bên kia hay nghịch ngợm thực, nhưng không ru rú ở trong nhà như cậu, thế mà ngày nào cũng bị đòn. Lại còn ông thân của cậu Trân ở bên phủ Đông, tính nóng như lửa, hễ nổi cơn giận chẳng kể gì con, đánh như tra giặc vậy! Bấy giờ tôi mắt thấy tai nghe, thì bác Trân dạy con cũng theo khuôn phép của cụ trước, nhưng chỉ có cái là gặp đâu nói đấy. Chính bản thân bác ấy cũng không kiềm chế được mình, trách sao được con chán nó không sợ. Cậu hiểu ra sẽ cho tôi nói là phải, không hiểu thì ngoài mặt không nói, nhưng trong bụng có lẽ cậu chửi thầm tôi đấy!
Chợt thấy vợ Lại Đại đến, rồi vợ Chu Thụy và vợ Trương
Tài cũng đến trình việc. Phượng Thư cười nói:
- Nàng dâu đến đón mẹ chồng đấy.
Vợ Lại Đại cười nói:
- Không phải tôi đến đón mẹ tôi về đâu, đến dò xem các
mợ các cô có nghĩ đến thể diện cho không?
Bà Lại nghe thấy thế cười nói:
- Tôi lẩn thẩn thật . Cái việc đáng nói lại không nói, chỉ
nói những chuyện dây mơ rễ má đâu đâu ấy thôi. Vì cháu nó được bổ làm quan, bạn hữu đều định đến mừng, thế nào cũng phải bày tiệc rượu. Tôi nghĩ đã bày tiệc rượn, mời người nọ không mời người kia thì không tiện. Sau lại nghĩ, nhờ ơn chủ mới được vẻ vang thế này, dù sạt nghiệp tôi cũng vui lòng: vì thế tôi bảo bố nó phải bày tiệc rượu ba ngày liền. Hôm đầu bày mấy bàn rượu và một rạp hát ở vườn hoa, mời cụ, các bà, các mợ, các cô đến giải buồn một hôm; nhà khách bên ngoài cũng bày một rạp hát, mấy bàn rượu mời các ông, các cậu đến cho được thơm lây. Hôm thứ hai mời các bạn thân. Hôm thứ ba mời bè bạn hai phủ. Vui nhộn luôn ba ngày, gọi là nhờ hồng phúc của chủ, được chút thể diện.
Phượng Thư, Lý Hoàn đều cười nói:
- Định hôm nào đấy? Thế nào chúng tôi cũng sang. Chưa
biết chừng cụ cao hứng cũng sang đấy.
Vợ Lại Đại vội nói:
- Chọn vào ngày mười bốn, xin các mợ nể lời bà tôi.
Phượng Thư cười nói:
- Ai không biết, chứ tôi thì nhất định đi. Nhưng phải
nói trước, tôi không có lễ mừng, mà cũng không thưởng tiền gì cả . Chỉ ăn xong rồi về thôi, đừng cười nhé.
Vợ Lài Đại cười nói: .
- Sao mợ lại nói thế ? Khi mợ vui dù thưởng cho chúng
cháu vài ba vạn bạc cũng có.
Bà Lại cười nói:
- Tôi vừa đến mời cụ, người đã nhận lời đi, thế mới biết
tôi nói còn đắt nhời.
Nói xong, lại dặn một lượt nữa, rồi đứng dậy muốn về.
Chợt trông thấy vợ Chu Thụy, lại nhớ ra một việc, bà Lại nói:
- Tôi còn có một điều muốn hỏi mợ thằng bé con chị Chu.
phạm lỗi gì mà đuổi nó ra không dùng nữa?
Phượng Thư cười nói:
- Tôi đang định nói với nàng dâu của bà đấy. Nhưng lắm
việc cũng quên đi mất. Chị Lại về bảo cho chồng chị biết, trong hai phủ không ai được chứa thằng con Chu Thụy nữa, bảo nó đi đâu thì đi.
Vợ Lại Đại đành phải nhận lời. Vợ Chu Thụy liền quỳ
xuống van xin. Bà Lại vội nói:
- Việc gì thế . Nói ra để tôi bàn hộ.
Phượng Thư nói:
- Hôm nọ ngày sinh nhật tôi, trong nhà chưa ai uống
rượu, con nó đã say khướt rồi. Bên nhà mẹ tôi đưa lễ sang, nó không ở ngoài trông nom, cũng không chịu mang lễ vật vào, lại ngồi mắng người ta. Hai người con gái mang đến, nó mới dẫn bọn trẻ con bưng vào. Bọn trẻ con bưng tử tế, còn nó thì đánh rơi một cái hộp bánh hấp đổ tung ra nhà. Người ta về rồi, tôi sai Thái Minh ra gọi, nó lại mắng Thái Minh một trận. Cái hạng ranh con láo lếu coi trời bằng vung ấy, không đuổi đi để làm gì?
Bà Lại nói:
- Tôi tưởng là việc gì, hóa ra việc ấy. Xin mợ hãy nghe
lời tôi: nếu nó có lỗi, đánh mắng một trận để cho nó chừa đi thì phải hơn; chứ đuổi nó đi thì quyết không nên. Nó không phải như con đẻ của tôi tớ nhà ta, mà là người hầu của bà Hai đem sang. Nếu mợ đuổi nó đi, đối với bà Hai cũng khó coi . Theo ý tôi, mợ nên đánh nó mấy roi để bận sau nó chừa đi rồi cứ cho nó ở lại. Dù không nể riêng nó, cũng nên nể bà Hai chứ.
Phượng Thư nghe nói, liền bảo vợ Lại Đại:
- Đã thế, ngày mai bắt nó lại đây đánh bốn mươi trượng,
từ rày cấm không cho uống rượu nữa. Vợ Lại Đại vâng lời, Vợ Chu Thụy lạy tạ đứng dậy, muốn lạy tạ cả bà Lại, nhưng vợ Lại Đại kéo lên mới thôi.
Sau đó ba người cùng đi ra. Bọn Lý Hoàn cũng về trong vườn.
Đến chiều, Phượng Thư sai người mang những đỗ vẽ vào
trong vườn. Bọn Bảo Thoa chọn một lúc, chỉ dùng được một nửa. Còn thiếu một nửa, liền biên vào đơn đưa cho Phượng Thư theo thế mà mua.
Một hôm, thợ vẽ bên ngoài đã hồ lụa xong, kêu thân mẫu
mang vào. Bảo Ngọc hàng ngày đến giúp Tích Xuân. Bọn Thanh Xuân, Lý Hoàn, Nghênh Xuân, Bảo Thoa cũng đến chơi, vừa xem vẽ vừa họp nhau nói chuyện.
Bảo Thoa thấy trời mát, đêm lại hơi dài, liền đến bà với mẹ mang ít đồ thêu thùa sang. Ban ngày, hai lần sang
thăm Giả mẫu và Vương phu nhân, có khi lại phải ngồi tiếp chuyện cho vui. Khi rỗi lại sang bên vườn nói chuyện phiếm với chị em, vì thế bận suốt ngày, đêm lại phải thắp đèn thêu thùa đến canh ba mới ngủ.
Đại Ngọc hàng năm cứ đến kỳ xuân phân, thu phân, là
bệnh ho lại phát. Mùa thu năm nay, vì Giả mẫu cao hứng quá, phải dự tiệc vui hai lần, đâm ra mệt. Gần đây bệnh ho trở lại và nặng hơn trước, vì thế không ra ngoài được, chỉ tĩnh dưỡng ở trong buồng thôi. Lúc nào buồn thì mong chị em đến nói chuyện cho khuây khỏa; đến khi bọn Bảo Thoa tới thăm, nói được dăm ba câu lại uể oải không muốn tiếp. Mọi người đều biết Đại Ngọc đương ốm, vả lại ngày thường thân thể gầy yếu, hễ buồn phiền một tí là không chịu được, vì thế dù cô ta tiếp đãi không được chu tất cũng chẳng ai trách.
Hôm ấy, Bảo Thoa đến thăm Đại Ngọc, nhân nhắc đến
bệnh, Bảo Thoa nói:
- Ở đây đã mời mấy thầy thuốc, nhưng có uống cũng không thấy khỏi, chi bằng mời một danh sư khác đến chữa
thì hơn. Năm nào cứ đến mùa Xuân, mùa hạ lại ốm, bé đã
qua, già chưa đến, cứ mãi thế này thì còn ra làm sao?
- Không ăn thua gì đâu. Tôi biết bệnh tôi không thể chữa
được. Không cứ lúc có bệnh, ngay lúc khỏe trông thân hình tôi cũng đủ biết.
- Chính là như thế. Cổ nhân có câu “Có ăn được cơm
mới sống”, nhưng ngày thường cô vẫn ăn cơm mà không bồi bổ được tinh thần khí huyết, tất không phải là việc tốt đâu.
Đại Ngọc thở dài nói:
- “Sống chết có số, phú quý ở trời”, người ta muốn cũng
không được! Bệnh tôi năm nay xem ra có phần nặng hơn năm ngoái.
Trong khi nói chuyện, Đại Ngọc ho đến ba, bốn lần.
Bảo Thoa nói:
- Hôm nọ tôi xem đơn thuốc của cô, thấy nhiều nhân
sâm, nhục quế lắm. Tuy bảo là ích khí bổ thần, nhưng không nên dùng vị nóng quá. Cứ ý tôi, trước hết phải bình can dưỡng vị .Can hỏa mà bình thì không khắc tỳ thổ, vị khí tự khắc không có bệnh, ăn uống vào mới có thể bổ dưỡng được. Cứ mỗi sáng lấy một lạng yến sào thượng hạng hòa với năm đồng cân đường miếng, lấy cái ấm bạc đun thành cháo, nếu ăn quen còn hay hơn thuốc, nó rất tư âm bổ khí.
Đại Ngọc thở dài:
- Chị ngày thường đối với mọi người rất tốt, nhưng tôi
là người đa nghi, cứ cho chị là ác ngầm. Từ hôm nọ, chị bảo tôi không nên xem sách nhảm, giờ lại khuyên tôi câu này, tôi rất là cảm động. Trước đây tôi nhầm, nhầm mãi đến bây giờ. Ngẫm nghĩ từ khi mẹ tôi chết, tôi không có anh chị em, năm nay đã mười lăm tuổi, không có một người nào dạy bảo tôi như lời chị nói hôm trước. Không trách được, cô Vân bảo chị là người tốt. Trước đây thấy cô ấy khen chị, tôi vẫn khó chịu; hôm nọ chính tôi gặp mới biết rõ. Ví như chị nói câu nào, tôi hay chấp nhặt, chị cũng không để ý, lại còn lấy những lời khuyên tôi. Thế mới biết là tự tôi nhầm. Nếu hôm nọ tôi không nhận ra, có lẽ hôm nay tôi cũng không nói với chị những câu này đâu. Vừa rồi, chị bảo tôi ăn cháo yến sào, tuy yến sào cũng dễ kiếm đấy, nhưng chỉ vì người yếu năm nào cũng mắc bệnh.
Kể ra bệnh không lấy gì làm quan hệ, nhưng cũng phải mời thầy bốc thuốc, uống nhân sâm, nhục quế đủ làm nghiêng trời lệch đất rồi. Bây giờ lại giở cái món cháo yến sào mới lạ ra, bà tôi dì tôi và chị Phượng thì chẳng nói gì đâu, nhưng đám bà già và a hoàn chắc sẽ cho tôi bới chuyện. Chị xem bọn họ thấy bà tôi thương Bảo Ngọc và Chị Phượng hơn, họ còn nhìn chòng chọc, bày chuyện nói vụng, huống chi là tôi? Vả chăng tôi không phải là chủ nhà, chỉ vì không có chỗ nương tựa, nên mới đến đây, họ đã khó chịu với tôi lắm rồi. Bây giờ tôi lại không biết điều, để cho người ta phải nguyền rủa mình nữa hay sao?
- Cô đừng nói thế, tôi cũng như cô.
- Chị sao lại ví với tôi? Chị còn có mẹ, có anh; ở nhà, chị
có nhà có ruộng, đến đây lại có đất, có cửa hàng. Chị chẳng qua vì chỗ bà con nên mới đến đây, việc lớn nhỏ không phải nhờ ai một đồng nào, lúc nào muốn đi thì đi. Tôi không có một tí gì, ăn mặc tiêu pha lại đều được đối đãi như các cô ở nhà này. Như thế bọn tiểu nhân lẽ nào họ không chán ghét mình.
Bảo Thoa cười nói:
- Sau này chỉ tốn thêm một bộ đồ cưới thôi, bây giờ hãy
chưa cần nghĩ đến. Đại Ngọc đỏ mặt lên, cười nói:
- Tưởng chị đứng đắn, nên người ta mới kể những nỗi
buồn phiền ra cho nghe, thế mà chị lại đem tôi ra làm trò cười?
- Tuy tôi nói đùa, nhưng là chuyện thực. Cô cứ yên tâm,
tôi còn ở đây ngày nào, sẽ làm cho cô được khuây khỏa ngày ấy . Cô có điều gì bực tức khó khăn, cứ nói cho tôi biết, có thể đỡ đần được, thế nào tôi cũng đỡ đần cho cô. Tôi tuy có anh, chắc cô cũng đã biết anh tôi như thế nào rồi: tôi chỉ hơn cô ở chỗ còn mẹ thôi. Chúng ta là người cùng bệnh nên thương lẫn nhau. Cô là người hiểu đời, tội gì lại than thở như Tư Mã Ngưu(*) ngày trước? Câu vừa rồi cô nói phải đấy, “thêm một việc chẳng bằng bớt một việc”. Có lẽ nhà tôi còn yến sào, tôi sẽ về nới với mẹ tôi đưa đến cho cô mấy lạng, mỗi ngày bảo bọn a hoàn nấu lên, vừa tiện vừa không bận đến ai. Vật tuy nhỏ, nhưng chị có lòng tốt như thế, thật là đáng quý.
- Cái đó có gì đáng nói? Chỉ sợ không được vừa lòng mọi
người thôi. Bây giờ sợ cô mệt, tôi về đây.
- Tối chị lại đến chơi nói chuyện với tôi.
Bảo Thoa nhận lời rồi về.
Đại Ngọc húp mấy ngụm cháo rồi nằm ngả ở trên giường. Không ngờ về chiều giở trời, mưa xuống tầm tã, mây
kéo đùn đùn, khi mưa khi tạnh. Lúc ấy đã về chiều, trời tối
sầm xuống, nước mưa nhỏ róc rách vào những cành trúc, càng thêm buồn tẻ. Biết Bảo Thoa không thể đến được, Đại Ngọc ngồi bên đến cầm quyển sách xem, quyển Nhạc phú tạp cáo(**), trong đó có hai bài từ “thu cung oán” và “biệt ly oán” .
-------------
(*) Tư Mã Ngưu, học trò Khổng Tử, không có anh em nào.
(**) Các bài thơ trong Nhạc phủ. Đại Ngọc trong lòng cảm xúc, làm ngay một bài đại biệt ly theo điệu Xuân giang hoa nguyệt dạ (* ) đặt tên từ là (thu sang phong vũ tịch (**) như sau:

Sang thu hoa cỏ úa vàng, .
Đèn thu trằn trọc đêm trường đầy thu.
Song thu thu vẫn trơ trơ.
Lạnh lùng giờ lại gió mưa thêm càng.
Đời cơn mưa gió phũ phàng, . .
Sang thu tan giấc mơ màng từ đây.
Bận lòng nào nỡ ngủ say,
Bình kia bước tới, sáp này khêu cao,
Tờ mờ ngọn sáp dọi vào,
Này buồn, này giận nao nao khôn cầm.
Nhà nào gió chẳng tới thăm ?
Nơi nào mưa chẳng rì rầm bên song?
Gió thu lạnh toát chăn hồng,
Mưa thu như giục tiếng đồng hồ reo
Đêm đêm rả rích mưa rào,
Trước đèn như muốn nghẹn ngào cùng ai.
Buồn tênh khói lạnh phía ngoài,
Trúc thưa cõi vắng bên tai lầm rầm.
Lúc nào gió tắt mưa gầm,
Thì đây lệ đã ướt đầm song the. .


(* ) Đêm giăng hoa ở sông mùa xuân.
(**) Buổi chiều mưa gió trước cửa sổ mùa thu. . . .
-----------------

Ngâm xong, Đại Ngọc gác bút lên định đi ngủ, có a hoàn vào báo: “Cậu Bảo đã đến”. Nói chưa dứt lời, đã thấy Bảo Ngọc đội nón lá, khoác áo tơi đến, Đại Ngọc phì cười nói:
- Chàng đánh cá này ở đâu đến đây?
Bảo Ngọc liền hỏi:
- Hôm nay có đỡ chưa? Uống thuốc gì? Ăn được bao nhiêu cơm?
Vừa nói vừa bỏ nón xuống, cởi áo tơi ra, một tay cầm
nến, một tay che ánh đèn, soi vào mặt Đại Ngọc, nhìn một lúc rồi cười nói:
- Hôm nay thần sắc khá rồi đấy.
Khi Bảo Ngọc cởi áo tơi ra, Đại Ngọc thấy trong người
cậu ta chỉ mặc một áo lụa đỏ ngắn hơi rung rúc, lưng buộc
khăn xanh, mặc quần áo lụa xanh cải hao, chân đi bí tất sợi , dệt lẫn chỉ kim tuyến, đôi giày bươm bướm vờn hoa, Đại Ngọc hỏi:
- Trên đầu anh sợ mưa, sao dưới chân lại đi giày với bí
tất này vẫn khô thế ?
- Nguyên là anh mặc cái bộ như thế này. Vừa đi cả đôi
guốc gỗ đường, lên đến thềm thì bỏ ra.
Đại Ngọc lại thấy áo tơi và nón rất tinh xảo nhẹ nhàng,
không phải là đồ bán ở chợ, liền hỏi:
- Đan bằng cỏ gì thế ? Thảo nào mặc những đồ này không
lù xù như là lông dím.
- Ba thứ này là của Bắc Tĩnh Vương cho. Khi trời mưa,
Đức vương ở nhà thường dùng những thứ này, nếu em thích, anh sẽ kiếm một bộ đưa cho. Thứ khác không nói, chỉ có chiếc nón này là thích nhất: cái chóp ở trên có thể mở ra đóng vào được gặp khi có tuyết đội mũ vào rút cái que cài ra, bỏ chóp trên đi, chỉ còn lại một cái vành thôi. Lúc có tuyết thì con trai con gái đều đội được cả. Anh đưa cho em một cái để mùa đông có tuyết sẽ đội .
Đại Ngọc cười nói:
- Em không cần, nếu đội cái này thành ra một bà đánh
cá vẽ ở trong tranh hay là diễn ở trên sân khấu mất.
Nói đến câu này, Đại Ngọc mới nhớ ngay ra câu mình
vừa nói ăn khớp với câu nói đùa Bảo Ngọc lúc nãy nên cứ hối mãi, rồi đỏ ửng mặt lên, gục xuống án ho.
Bảo Ngọc không để ý, thấy trên án có bài thơ, liền lấy
ra xem, khen hay mãi. Đại Ngọc vội giật lấy đốt đi. Bảo Ngọc cười nói:
- Đốt cũng không can chi, anh đã thuộc hết rồi.
- Em khỏi nhiều rồi, cảm ơn anh hàng ngày lại thăm
em mấy lần, mưa cũng lại. Bây giờ đêm khuya rỗi, em muốn đi nghỉ, anh hãy về đi, mai lại đến.
Bảo Ngọc nghe nói, móc ra một cái đồng hồ vàng to bằng
hạt đào để xem, thấy kim đã chỉ vào chỗ cuối giờ tuất đầu giờ hợi, vội vàng cất đi và nói:
- Đáng lẽ em đi nghỉ rồi, anh lại đến quấy rầy em một
lúc.
Nói xong, đội nón khoác áo đi ra, bỗng quay lại hỏi:
- Em muốn ăn cái gì cứ nói, sáng mai anh sẽ trình với
cụ . Anh nói lại không rõ ràng hơn bọn bà già à .
- Để đến đêm em nghĩ xem đã, sáng mai sẽ nói. Anh
xem, lại mưa to rồi, về đi thôi. Có ai đi theo hầu đấy không ?
Hai bà già trả lời:
- Thưa cô, đã có người ở ngoài này cầm dù và thắp đèn
lồng rồi.Đại Ngọc cười nói: .
- Giờ này mà thắp đèn lồng à ?
Bảo Ngọc nói:
- Không việc gì, đèn kiểu sừng dê đấy, không sợ mưa.
Đại Ngọc nghe nói, lấy cái đèn pha lê hình quả cầu ở
trên tủ sách xuống, sai thắp một cây nếp nhỏ, đưa cho Bảo
Ngọc, nói:
- Đèn này sáng hơn đèn kia, dùng để đi mưa đấy.
- Anh cũng có một cái đèn kiểu này, nhưng sợ họ trượt
chân ngã thì vỡ mất, nên không mang đi.
- Vỡ đèn hơn hay người ngã đáng kể hơn? Anh lại không
quen đi guốc gỗ. Cái đèn lồng kia để họ thắp mang đi trước, còn cái đèn này vừa nhẹ vừa sáng, chỉ để cho một người dùng khi đi mưa thôi. Anh cầm lấy cái đèn này thì hơn, ngày mai sẽ mang sang giả em. Nếu nhỡ tay đánh vỡ cũng chẳng là bao, việc gì mà lại giở cái lối (mổ bụng giấu ngọc (*) ấy?
--------------------------
(*) Trọng của hơn người.
------------------------

Bảo Ngọc nghe nói, cầm lấy đèn. Đằng trước, hai bà già
che dù và cầm đèn sừng dê; đằng sau lại có hai a hoàn nhỏ
che dù. Bảo Ngọc đưa cái đèn cho một a hoàn cầm, rồi vịn vào vai nó đi về.
Có hai bà già ở Hành Vu Uyển, cũng che dù, xách đèn
đến đưa cho Đại Ngọc một gói yến sào lớn, một gói đường mai hoa trắng và nói:
- Những thứ này tốt hơn của đi mua. Cô chúng tôi bảo:
“Cô cứ ăn đi, hết lại đưa sang”.
Đại Ngọc nói: “Làm phiền cô nhà quá” . Rồi mời họ ra
ngoài uống nước. Bà già cười nói:
- Chúng tôi không uống, còn phải đi có việc.
Đại Ngọc cười nói:
- Tôi cũng biết các bà bận. Hôm nay mát trời, đêm lại
dài, càng nên chơi mấy ván bài.
Một bà già cười nói:
- Chẳng giấu gì, năm nay cũng có phần khá; vả chăng
đêm nào cũng phải có mấy người canh, nếu để lỡ giờ không được, chi bằng họp nhau đánh bạc để vừa ngồi cầm canh vừa giải buồn. Đêm nay đến phiên tôi, hễ đóng cửa vườn là chúng tôi lại sắp đánh đấy
Đại Ngọc cười nói:
- Phiền các bà phải đi giữa mưa vất vả, lại làm cho các
bà lỡ dịp phát tài.
Rồi sai người đưa cho họ mấy trăm đồng tiền, đem mua
rượu uống để chống lạnh. Hai bà già cười nói:
- Lại quấy quả cô phải thưởng rượu.
Nói xong, họ chào rồi ra ngoài nhận tiền, che dù ra về.
Tử Quyên cất yến sào rồi tắt đèn, buông rèm, hầu hạ .
Đại Ngọc đi ngủ. Đại Ngọc nằm nghĩ cảm ơn Bảo Thoa, lại mừng cho chị ta còn có mẹ có anh, một lúc lại nghĩ Bảo Ngọc thường ngày thân mật với chị ta, vẫn có chỗ đáng ngờ vực.
Bỗng nghe giọt mưa róc rách trên tàu chuối và cành trúc, gió lạnh thổi qua màn, tự nhiên nước mắt Đại Ngọc lại tràn ra, đến canh tư mới ngủ được.



Hết hồi 45
Thân ái,
TSAH




Tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất .
Đăng nhập để trả lời
0
HỒNG LÂU MỘNG

(tiếp theo)


Hồi Bốn Mươi Sáu

Người liều định khó thoát việc liều định
Gái uyên ương thề dứt bạn uyên ương .


Phương Thư thấy Hình phu nhân gọi, không biết là việc gì liền mặc áo lên xe đi sang . Hình phu nhân đuổi những người trong nhà ra, rồi khẽ bảo Phượng Thư:
- Gọi con đến đây, vì có một việc khó nghĩ quá. Cha con bảo ta điều này, ta chưa biết nghĩ sao, hãy bàn với con trước. Cha con trông thấy con Uyên ương ở đằng nhà cụ, muốn lấy nó làm nàng hầu bảo ta đến xin cụ. Ta nghĩ cũng là một việc thường, nhưng chỉ sợ người không cho. Con có cách gì giúp được việc này không ?
Thượng Thư cười nói:
Cứ ý con thì không nên đụng vào cái dinh ấy. Cụ mà dứt con Uyên ương ra thì sẽ ăn không ngon ngủ không yên đâu. Vả chăng ngày thường lúc vui chuyện, người vẫn nói: “cha con bây giờ đã có tuổi rồi, thế mà nàng hầu ở trong nhà cứ kè kè bên này một đứa bên kia một đứa. Điều thứ nhất là làm nhỡ nhàng con gái nhà người ta, điều thứ hai là không biết giữ gìn thân thể, việc quan làm cũng chẳng ra gì, cả ngày chỉ chè chén với bọn hầu trẻ”. Mẹ nghe đấy, bà có ưa gì cha con đâu? Bây giờ muốn tránh đi chả được, lại còn định cầm gậy rơm thọc vào mũi hùm hay sao? Xin mẹ đừng giận, con không dám nói việc ấy đâu. Rõ ràng nói cũng chẳng ăn thua gì, mà lại gây thêm nhưng điều không hay. Cha con bây giờ đã già rồi, việc làm cũng có khi nhầm lẫn, mẹ nên khuyên ngăn mới phải. Nếu lúc còn trẻ mà làm những việc ấy thì cũng không sao. Bây giờ anh em con cháu hàng đàn rồi, lại còn gây chuyện như thế, chẳng khó coi với người ta lắm hay sao?
Hình phu nhân cười nhạt nói:
- Nhà quan năm thiếp bảy thê cũng là thường, riêng nhà ta lại không được à? Mẹ có ngăn cha con cũng chẳng nghe đâu. Con Uyên Ương dù là người hầu thân yêu của cụ, nhưng một ông con cả đầu râu đốm bạc; lại làm quan, muốn lấy nó làm nàng hầu, chắc nó cũng chả từ chối. Ta gọi chị đến đây, chẳng qua để bàn thôi, thế mà chị đã nói ra hàng tràng không nên. Lẽ nào ta lại bảo chị đi? Tất nhiên ta phải đi lấy. Chị lại còn bảo ta không biết can ngăn. Chị không biết tính bố chồng chị à . Can không được lại đâm ra cãi nhau với ta thôi.
Phượng Thư thấy Hình phu nhân tính vốn khờ dại nhút nhát, chỉ tìm cách chiều chuộng Giả Xá để được yên thân, và tham vớ được nhiều tiền là thích, còn việc lớn nhỏ trong nhà đều mặc Giả Xá sắp đặt. Nhưng khoản chi thu nào vào tay bà ta, thì tìm cách bớt xen thậm tệ. Bà ta thường lấy cớ Giả Xá hay hoang phí, ta phải tằn tiện, mới có thể bù vào . Trong bọn con gái, người hầu, không tin ai và cũng chẳng nghe ai.
Phượng Thư biết bà ta lại giở tính, dù can ngăn cũng chẳng được nào, liền cười nói:
- Mẹ nói rất phải. Con hãy còn dại, chưa biết đắn đo. Con nghĩ rằng đã xin trước cha mẹ, thì không những một con
a hoàn, dù người ngọc đi nữa cụ chả cho cha con còn cho ai ? Những lời nói vắng mặt, tin làm sao được? Con thực là ngu ngốc! Ngay như cha con, khi có điều gì không phải, cha mẹ giận, muốn lôi ngay đến đánh chết, nhưng khi thấy mặt là xong hết, rồi lại lấy những vật quý đem ra cho. Cứ ý con, hôm nay cụ đang vui, mẹ đến xin ngay đi. Con hãy đến trước chuyện trò cho cụ vui, khi mẹ đến con sẽ kiếm cách đem tất cả người hầu trong nhà lảng ra một chỗ. Khi ấy mẹ tha hồ nói với người, nếu người cho càng hay, không cũng chẳng sao, chả ai biết cả.
Hình phu nhân thấy Phương Thư nói thế, liền vui vẻ bảo:
- Ta định không nên thưa với cụ vội, nếu nói trước, người không nghe sẽ hỏng mất việc. Ta nghĩ nên bảo khẻ Uyên Ương trước đã . Dù nó xấu hổ, ta sẽ nhỏ to bảo nó rạch ròi, nó không nói gì tức là yên chuyện. Bấy giờ ta mới trình cụ, dù người không bằng lòng cũng không thể ngăn cấm được ý muốn của nó. Người ta thường nói “người đã định không nên giữ lại”, như vậy mới là ổn thỏa .
Phượng Thư cười nói:
- Mẹ nhiều mưu trí thực, thế là êm thắm vạn phần. Đừng nói là con Uyên ương, dù ai đi nữa, cũng chẳng muốn trèo cao trông lên, để mong được mở mày mở mặt hay sao? Nó bỏ danh giá nửa bà chủ không làm, đâm đầu đi làm a hoàn, sau này lấy một thằng ranh con, thế là xong đời.
Hình phu nhân cười nói:
- Nói thế phải đấy. Không cứ con Uyên Ương, ngay cả đến những a hoàn lớn coi việc, ai mà chẳng thích được như thế . Giờ chị hãy sang trước đi, chớ để lộ chuyện đấy, ta ăn cơm xong sẽ sang ngay.
Phương Thư nghĩ thầm: “Con Uyên Ương thực đáng ghét. Nhưng chắc đâu nó bằng lòng? Nếu mình sang trước, nó bằng lòng ra thì không có chuyện gì, nếu không bằng lòng, mẹ ta là người đa nghi, lại ngờ ta nói lộ chuyện, để cho nó làm bộ. Bấy giờ mẹ ta thấy đúng như lời ta nói, đâm xấu hổ, đem ta ra giày vò cho hả giận, như thế không hay. Chi bằng ta cùng đến với mẹ ta, dù nó bằng lòng hay không, chắc mẹ chẳng ngờ đến ta”.
Liền cười nói: .
- Lúc nãy con vừa về đến nhà, bên nhà mợ con mang cho hai lồng gà gô, con đã bảo chúng nó quay rồi, định đến bữa cơm chiều đưa sang biếu mẹ. Khi mới đến cửa ngoài, thấy bọn hầu nhỏ kéo xe đi, nói: “Xe của mẹ bật mui, phải đem đi sửa”. Chi bằng bây giờ mẹ ngồi xe của con cùng đến thì hơn.
Hình phu nhân nghe nói, liền gọi người đến lấy quần áo thay, Phương Thư vội vàng hầu hạ một lúc, rồi hai mẹ con cùng ngồi xe đi, Phượng Thư lại nói: .
- Mẹ đến đằng cụ, nếu con cùng đi, người hỏi đến làm gì sẽ không tiện; vậy mẹ đến trước, con về thay quần áo rồi sẽ sang sau.
Hình phu nhân nghe nói có lý, liền một mình đến chào Giả mẫu, chuyện phiếm một lúc rỗi ra, nói vờ là sang nhà Vương phu nhân. Theo lối cửa sau tìm đến buồng Uyên ương, thì thấy nó đang ngồi thêu. Thấy Hình phu nhân đến, Uyên Ương đứng dậy. Hình phu nhân cười hỏi:
- Cô làm gì thế ?
Vừa hỏi vừa cầm lấy bức thêu ở tay Uyên Ương ra xem rồi nói :
- Ta xem hoa của cô thêu nào.
Ngắm một lúc rồi nói: “Đẹp lắm”. Liền bỏ bức thêu xuống, ngắm nghía suốt người Uyên Ương, thấy nó mặc áo lụa màu hoa sen rung rúc, đeo cái khoác vai bằng nhiễu xanh, mặc quần màu nước biển, thắt đáy lưng ong, mặt trái xoan, tóc đen láy, mũi dọc dừa, hai má có mấy nốt rỗ nhỏ. Uyên ương thấy Hình phu nhân nhìn mình, đâm ra
ngượng, trong bụng lấy làm lạ, cười hỏi:
- Thưa bà, bây giờ giữa chừng giữa buổi, bà sang có việc gì?
Hình phu nhân đưa mắt, bọn người hầu lui ra ngoài.
Hình phu nhân ngồi xuống, cầm lấy tay Uyên ương cười nói:
- Ta sang cốt để mừng cho cô đây.
Uyên Ương nghe nói, trong bụng đã đoán được vài ba phần, đỏ mặt cúi đầu, không nói câu gì. Hình phu nhân nói:
- Chắc cô cũng biết, ông nhà hiện giờ không có người hầu nào đáng tin cậy cả. Định bụng mua một người, nhưng lại sợ những người của bọn lái buôn đưa đến không được tử tế nhỡ ra phải người có tật xấu gì, mua về được vài ba ngày lại đâm giở quẻ. Muốn tìm một người con gái ở ngay trong nhà, nhưng không có người nào khá cả: kẻ thì xấu người, kẻ thì xấu nết, được đằng nọ, hỏng đằng kia. Ta để ý đến nửa năm nay, chỉ có cô là hơn cả: dáng người đẹp, thạo công việc, tính nết ôn hòa, có thể tin cậy, thật là được cả người lẫn nết, ý ta muốn trình cụ lấy cô em về nhà. Cô không phải như người ở ngoài mới mua về, cứ về đến nhà là sẽ phong ngay làm dì Hai, vừa có thể diện, vừa được tôn quý. Tục ngữ nói: “người vàng lại đổi lấy vàng”, ngừơi đâu lại vừa mắt ông nhà như thế! Bây giờ cô về bên nhà, sẽ được thỏa lòng mong muốn cao quý xưa nay, lại bịt miệng được những kẻ vẫn không ưa cô. Cô theo tôi về trình cụ đi . Nói xong định kéo tay Uyên Ương đi. Uyên Ương đỏ bừng mặt lên, giật tay lại không đi.
Hình phu nhân tưởng cô ta xấu hổ, liền nói:
- Việc gì mà cô phải xấu hổ? Cô không phải nói câu gì cả, chỉ theo tôi đi là được rồi.
Uyên Uơng chỉ cúi đầu không đi. Hình phu nhân thấy thế liền hỏi:
- Không lẽ cô còn không bằng lòng hay sao? Nếu quả có thế thì cô khờ dại quá. Không muốn làm bà chủ, lại muốn làm con hầu à! Vài ba năm nữa, cô đi lấy một thằng bé con, đầy tớ lại hoàn đầy tớ. Nay về với chúng tôi, chắc cô đã biết tính tôi, hiền lành, hay dung kẻ dưới, ông nhà lại đối đãi tử tế với cô. Độ chừng một năm, năm bảy tháng sinh được đứa con, thế là cô bằng vai với tôi rồi. Cô muốn sai bảo người trong nhà ai chẳng phải nghe? Danh giá bà chủ mà không chịu làm, sau này lỡ dịp có hối cũng muộn!
Uyên Ương vẫn cúi đầu, không chịu nói một câu.
Hình phu nhân lại nói:
- Cô xưa nay là người nhanh nhẹn kia mà, sao bây giờ lại thẫn thờ ra thế . Có điều gì không bằng lòng cô cứ nói, tôi hứa sẽ làm cho cô được vừa ý.
Uyên ương vẫn không nói gì.
Hình phu nhân lại cười nói:
- Chắc cô còn bố mẹ ở nhà, tự mình không nói ra, sợ xấu hổ, phải chờ bố mẹ cô hỏi mới nói ra chăng? Như thế cũng đúng lý. Vậy để tôi đi hỏi rồi, bảo bố mẹ cô đến. Có điều gì cô cứ nói với bố mẹ cô cũng được. .
Nói xong liền đi đến nhà Phượng Thư.
Phượng Thư đã thay quần áo xong, nhân tiện trong nhà vắng người, liền đem việc này nói cho Bình Nhi biết. Bình Nhi lắc đầu cười nói:
- Cứ ý tôi việc này chưa chắc đã ổn. Những khi vắng người, chúng tôi thường gợi chuyện, nhưng xem ý chị ta chưa chắc đã chịu. Thôi hãy cứ nói xem sao.
Phượng Thư nói:
- Bà Cả tất phải đến đây bàn việc ấy, nó bằng lòng còn khá nếu không, chỉ thêm bẽ mặt với các chị thôi, nghĩ cũng khó coi đấy. Chị đi bảo họ quay gà gô, làm thêm mấy món ăn nữa, sắp sửa bữa cơm rồi chị đi ra đâu đó, lúc nào bà ấy về hãy vào.
Bình Nhi nghe nói, truyền bảo bọn bà già, rồi đủng đỉnh đi qua bên vườn.
Uyên Ương thấy Hình phu nhân đi rồi, chắc thế nào cũng đến bàn với Phượng Thư và sẽ có người đến hỏi mình, chi bằng tránh đi một chỗ cho xong. Uyên ương liền tìm Hổ Phách bảo:
- Cụ có hỏi tôi, chị cứ bảo tôi khó ở, sáng nay không ăn cơm, đi vào trong vườn chơi một chốc sẽ về.
Hổ Phách nhận lời. Uyên Ương qua vườn chơi, không ngờ lại gặp Bình Nhi. Bình Nhi thấy không có ai, liền cười nói:
- Bà dì mới đến đấy à?
Uyên Ương đỏ mặt nói:
- Không trách được chúng mày thông đồng với nhau định kế hại tao! Tao sẽ đến làm to chuyện với mụ chủ nhà mày xem!
Bình Nhi thấy Uyên Ương giận dỗi ra mặt, tự hối mình đã lỡ lời liền kéo chị ta đến góc cây phong, ngồi xuống hòn đá kể rõ đầu đuôi câu chuyện Phượng Thư vừa nói. Uyên Ương đỏ mặt lên, cười nhạt, bảo Bình Nhi:
- Tôi nghĩ chị em chúng ta vẫn ăn ở tốt với nhau: như
các chị Tập Nhân, Hổ Phách, Tố Vân, Tử Quyên, Thái Hà, Ngọc Xuyến, Xạ Nguyệt, Thúy Mặc, cùng chị Thúy Vũ theo hầu cô Sử, chị Khá Nhân và chị Kim Xuyến đã chết rồi, chị Phiến Tuyết đã đi rồi, kể cả chị với tôi nữa tất cả hơn mười người, từ khi còn bé, điều gì mà chẳng nói với nhau, việc gì mà chẳng bàn với nhau? Bây giờ đã lớn cả rồi, ai có thân người ấy lo, nhưng bụng tôi thì vẫn như trước: có điều gì, việc gì, tôi không giấu các chị. Câu này thì tôi nói, chị hãy để bụng, đừng nói cho mợ Hai biết: “đừng nói ông ấy muốn tôi làm vợ lẽ, chứ dù bây giờ, bà ấy chết đi, ông ấy mối lái năm lần bảy lượt lấy tôi về làm vợ cả, tôi cũng chẳng nghe”.
Bình Nhi muốn nói nữa, thấy đằng sau núi có tiếng cười ha hả nói:
- Thật cái con không biết thẹn! Nói không biết ngượng mồm!
Hai người nghe nói giật nảy mình, vội chạy ra sau núi tìm, thấy Tập Nhân đang cười rồi chạy đến hỏi:
- Có việc gì thế ? Nói cho tôi nghe với.
Rồi ba người cùng ngồi trên hòn đá, Bình Nhi kể lại chuyện vừa rồi cho Tập Nhân nghe. Tập Nhân nói:
- Nhẽ ra chúng ta không nên nói: lão già này thực là đê tiện quá .Hễ thấy ai hơi dễ coi là lão không chịu buông tha.
Bình Nhi nói:
- Chị đã không bằng lòng, tôi xin bảo cách cho chị.
Uyên Ương hỏi: “cách gì?” . . . . . . . . Chị cứ nói với cụ rằng, đã cho cậu Liễn rồi, như thế ông Cả sẽ không thể đòi nữa. .
Uyên Ương nhổ toẹt một cái nói:
- Mày còn nhắc đến cái của ấy làm gì? Hôm trước chủ mày chả đã nói bậy đó sao? Không ngờ bây giờ tao mới rõ.
Tập Nhân cười nói:
- Chị không bằng lòng hai người kia, theo ý tôi, chị nên nói với cụ, nhờ người bảo rằng đã cho cậu Bảo rồi, như thế ông Cả cũng sẽ dứt lòng đòi hỏi.
Uyên ương vừa tức vừa thẹn, vừa nổi nóng, liền mắng:
- Hai con khốn nạn này! Chúng mày không được chết tử tế đâu! Người ta có việc khó xử, tưởng chúng mày là người đứng đắn nên bàn cách giúp, chúng mày chẳng nghĩ hộ được gì, lại thay nhau đem tao ra làm trò cười . Chúng mày tưởng rằng rồi đây sẽ tốt cả đấy! Sẽ làm dì Hai cả đấy? Cứ ý tao, việc ở trên đời này chưa chắc đã được như ý cả đâu. Chúng mày hãy xếp lại, vừa vừa chứ, đừng có hí hửng vội.
Hai người thấy Uyên Ương nóng lên, liền cười nói:
- Chị đừng nên ngờ vực, chúng ta từ bé đến giờ đã thân mật với nhau như chị em ruột, chẳng qua lúc vắng người, chúng tôi nói đùa để cười cho vui đấy thôi. Chị định thế nào cứ nói cho chúng tôi biết, không ngại gì đâu.
- Chả có ý định gì. Tôi cứ không đi là xong.
Bình Nhi lắc đầu nói:
- Chị không đi, chưa chắc người ta đã để cho chị yên.
Tính ông Cả thế nào, chị đã biết rồi đấy. Tuy chị là người hầu bên cụ, bây giờ lão chẳng dám làm gì chị đâu, nhưng không dễ chị theo hầu cụ suốt đời? Cũng có lúc phải đi chứ. Bấy giờ mà lọt vào tay lão thì không ra gì đâu!
Uyên Ương cười nhạt:
- Cụ còn sống ngày nào tôi nhất định không rời chỗ này!
Nếu người quy tiên, thế nào lão ta cũng phải để tang ba năm, không có lẽ mẹ vừa chết lại đi lấy vợ lẽ! Chờ hết ba năm, xem cơ mầu thế nào bấy giờ sẽ liệu. Nếu khi nguy cấp khó xử, tôi đành cắt tóc đi tu! Không thì chết là cùng! Suốt đời chẳng lấy chồng đã làm sao? Lại càng khỏi vướng.
Bình Nhi và Tập Nhân cười nói:
- Con bé này thật không biết thẹn, thuận miệng cứ lau láu nói ra hết cả.
- Đã đến nông nỗi này thẹn mà làm gì? Các chị không tin, sau này sẽ biết! Bà ấy nói sẽ đi tìm bố mẹ tôi. Cử cho đến tận Nam Bình mà tìm!
Bình Nhi nói:
- Ông bà nhà chị đều trông nhà cho chủ ở Nam Kinh không đến đây bao giờ, lâu rồi cũng sẽ tìm được. Nhưng hiện giờ có anh và chị dâu chị ở đây. Tiếc rằng chị là người sinh ra ở nhà này, chứ không như hai chúng tôi chỉ có một mình đến đây thôi .
Uyên Ương nói:
- Sinh ra ở nhà này thì đã làm sao? Trâu không muốn uống nước cố đè sừng liệu có được chăng? Tôi không bằng lòng chẳng lẽ giết cả bố mẹ tôi?
Đương nói thì chị dâu Uyên Ương đến. Tập Nhân nói:
- Bây giờ họ không tìm đến bố mẹ chị, chắc họ đã nói chuyện với chị dâu chị.
Uyên Ương nói:
- Con đĩ ấy chỉ chuyên làm nghề “bán rau chào khách”, nghe thấy vậy làm gì mà nó chẳng chiều chuộng đi ngay.
Vừa lúc ấy người chị dâu đến nơi, cười nói:
- Cô ở đây à? Tôi đi tìm mãi không thấy. Cô lại đằng này tôi nói câu chuyện.
Bình Nhi, Tập Nhân đều mời ngồi. Người chị dâu nói:
- Các cô cứ ngồi, tôi cùng cô em nói câu chuyện riêng.
Tập Nhân và Bình Nhi giả cách không biết, đều cười nói:
- Chuyện gì mà cần thiết Chúng tôi thử đoán xem, chờ đoán xong rồi hãy đi.
Uyên Ương nói:
- Chuyện gì đấy? Chị cứ nói đi.
Người chị dâu cười nói:
- Cô cứ lại đây tôi sẽ nói, thế nào cũng có chuyện hay.
- Có phải là việc bà ấy đã nói với chị không?
- Cô đã biết lại còn hỏi vặn gì tôi! Mau mau lại đây! Tôi nói rạch ròi cho mà nghe. Việc vui mừng to như trời ấy!
Uyên ương nghe nói, đứng ngay dậy, nhìn thẳng vào mặt chị dâu nhổ toẹt một cái, mắng:
- Thôi hãy ngậm ngay cái mồm l... ấy lại, cút khỏi chỗ này cho rảnh, Chuyện gì hay? Chuyện con khỉ ăn gừng? Chuyện gì mừng? Chuyện ông huyện về quê!(*)
Thảo nào ngày thường các người cứ thèm thuồng bọn a hoàn nhà khác được làm bà trẻ, để cả nhà cậy thế làm càn, cả nhà đều được làm bà trẻ. Thấy thế là các người nóng mắt lên, chực đẩy tôi vào lò lửa. Nếu tôi đắc thế, các người ở ngoài tha hồ ngang tàng làm bậy, tự phong cho mình là ông cậu. Nếu tôi không ra gì, gặp lúc thất thế, các người sẽ rụt cổ lại, sống chết bỏ mặc tôi.

-----------
(* ) Nguyên văn: Truyện con cắt của vua Huy Tông đời Tống. Con ngựa của Triệu Tử Ngang và truyện quan trạng lên đậu mùa!
-----------

Uyên Ương vừa nói vừa khóc. Bình Nhi, Tập Nhân tìm cách khuyên giải. Người chị dâu ngượng mặt quá, liền nói:
- Bằng lòng hay không, cô cũng nói tử tế, việc gì mà phải xỉa xói nhau... Tục ngữ có câu: "trước mặt người lùn chớ nói chuyện lùn”. Cô mắng tôi, tôi không dám nói lại; nhưng hai cô này có trêu ghẹo gì cô, thế mà cô cũng nhai nhải như bà trẻ thế này, bà trẻ thế nọ, như thế có ngượng mặt cho các cô không?
Bình Nhi, Tập Nhân vội nói:
- Chị đừng nói những câu như thế. Chị ấy có nói gì đến chúng tôi đâu, chị đừng có gắp chúng tôi vào. Chị đã thấy các ông bà nào cất nhắc chúng tôi lên làm bà trẻ chưa. Vả chăng hai người chúng tôi chẳng có anh em, bố, mẹ nào ở đây để nhờ thế lực chúng tôi mà làm bậy! Chị ấy muốn mắng người nào tha hồ mà mắng, chúng tôi không việc gì phải chạnh lòng.
Uyên Ương nói:
- Nó thấy tôi mắng, đâm ra xấu hổ, không biết làm thế nào cho khỏi bẽ mặt, mới kiếm lời xúc xiểm hai chị đấy thôi. May mà hai chị là người hiểu đời. Vì tôi quá nóng, nói không biết giữ lời, nó mới nhân đó bày chuyện.
Chị dâu cụt hứng, hầm hầm bỏ đi.
Uyên Ương tức quá vẫn còn mắng theo. Bình Nhi, Tập Nhân can ngăn một lúc mới yên. Bình Nhi hỏi Tập Nhân:
- Chị núp ở đây làm gì thế ? Chúng tôi không trông thấy chị.
Tập Nhân nói:
- Tôi nhân sang buồng cô Tư thăm cậu Bảo. Không ngờ thậm một chút, nghe nói cậu ấy đã về rồi. Tôi đang ngờ, sao lại không gặp? Tôi định sang bên cô Lâm tìm, lại gặp người nhà cô ấy bảo là cậu ấy không sang đấy. Tôi ngờ cậu ấy đi ra ngoài vườn. Ngay lúc đó gặp chị ở đằng kia lại. Tôi tránh ra một bên, chị không trông thấy. Sau chị Uyên ương đến, tôi liền ở trong gốc cây chạy về phía sau núi giả, thấy hai chị đương ngồi nói chuyện. Thế mà bốn con mắt không trông thấy tôi.
Nói chưa dứt lời, chợt đằng sau có người nói:
- Bốn con mắt không trông thấy chị à? Giồ cả sáu con mắt cũng không trông thấy tôi đấy!
Ba người giật mình quay lại nhìn, té ra Bảo Ngọc.
Tập Nhân cười nói:
- Cậu ở đâu đến đây? Làm tôi tìm mãi.
- Tôi ở đằng cô Tư về, thấy chị đi đến, chắc là chị tìm tôi nên tôi nép vào một chỗ để lừa chị. Trông thấy chị ngơ ngác đi qua, vào nhà rồi lại ra, gặp ai cũng hỏi, tôi buồn cười quá . Có ý chờ chị đến gần sẽ dọa lên một tiếng cho giật mình. Sau lại thấy chị cũng lẩn lẩn lút lút, biết là chị lại định dọa ai. Tôi ló đầu ra nhìn thấy hai chị kia, tôi liền đi vòng đến sau lưng chị. Chị đi rồi, tôi nấp vào chỗ của chị.
Bình Nhi cười nói:
- Chúng ta ra phía sau tìm xem chưa biết chừng lại vớ được một đôi nữa đấy.
Bảo Ngọc cười nói:
- Không còn ai nữa đâu.
Uyên Ương biết là Bảo Ngọc nghe hết chuyện này rồi,nên chỉ gục đầu xuống hòn đá giả cách ngủ. Bảo Ngọc lay dậy cười bảo:
- Đá này lạnh lắm, chúng ta về nhà ngủ chẳng hơn ư.
Nói xong, kéo Uyên ương dậy, lại mời cả Bình Nhi về nhà uống nước, và cùng Tập Nhân khuyên Uyên Ương đi, Uyên Ương mới chịu đứng dậy. Bốn người cùng đến viện Di Hồng. Những câu chuyện vừa rồi, Bảo Ngọc đã nghe thấy cả, nên trong bụng cũng khó chịu thay cho Uyên ương, cứ lặng lẽ nằm ngủ trên giường, mặc cho ba người cười nói ở nhà ngoài.
Hình phu nhân hỏi Phượng Thư về bố mẹ Uyên Ương, Phượng Thư nói:
- Bố nó tên là Kim Thái, hai vợ chồng đều trông nom nhà cửa ở Nam Kinh không hay về đây. Anh nó là Văn Tường, hiện giữ việc mua bán cho cụ. Chị dâu nó cũng trông coi việc giặt rửa ở nhà cụ.
Hình phu nhân sai người gọi vợ Kim Văn Tường đến, nói rạch ròi cho nghe. Chị ta lấy làm thích lắm, hăm hở đi tìm Uyên Ương, chắc mẩm nói một câu là xong ngay; ai ngờ bị uyên Ương mắng cho một trận, lại bị Tập Nhân, Bình Nhi nói cho mấy câu, xấu hổ quá, về nói với Hình phu nhân:
- Chẳng ăn thua gì, tôi lại bị nó mắng cho một trận.
Vì có Phượng Thư ở đấy, chị ta không dám nói đến Bình Nhi chỉ nói:
- Tập Nhân lại hùn thêm vào, nói tôi nhiều câu chẳng ra gì, không thể kể với bà được. Bà bàn với ông đi mua đám khác vậy thôi . Chắc con ranh ấy chăng có số tốt, mà nhà chúng tôi cũng chẳng làm gì có phúc lớn như thế.
Hình phu nhân nói:
- Việc gì đến con Tập Nhân? Sao nó lại biết được?
Rồi lại hỏi:
- Còn có ai ở đấy nữa không?
Vợ Kim Văn Tường nói:
- Còn có cô Bình nữa.
Phương Thư vội nói:
- Sao chị không lôi cổ nó về cho tôi? Tôi vừa mới đi khỏi, nó đã chạy biến rồi, về đến nhà chẳng thấy bóng vía đứa nào? Chắc nó cũng hùn thêm mấy câu chứ gì?
- Cô Bình không đứng gần đấy, tôi nhìn xa hình như cô ta, nhưng không chắc có đúng không, tôi đoán chừng đấy thôi.
Phượng Thư liền sai người:
- Mau đi gọi Bình Nhi, nói ta đã về rồi, bà cũng ở đây, bảo nó phải về ngay.
Phong Nhi liền thưa:
- Cô Lâm cho người mang giấy đến mời ba, bốn lần chị ấy mới đi. Lúc mợ vừa về đến cửa, tôi đi gọi chị ấy ngay. Nhưng cô Lâm nói: “về thưa với mợ, ta nhờ chị ấy một việc”.
Phượng Thư nghe vậy mới thôi, lại cố ý nói: .
- Có việc gì mà ngày nào cũng nhờ nó thế?
Hình phu nhân không làm thế nào được, ăn xong cơm chiều rồi về nói với Giả Xá, Giả Xá nghĩ một lúc, liền gọi Giả Liễn đến bảo:
- Nhà cửa ở Nam Kinh còn có nhiều người khác trông nom, chứ không phải một mình Kim Thái, phải gọi ngay nó về đây.
Giả Liễn thưa:
- Lần trước ở Nam Kinh đưa tin về nói Kim Thái bị chứng đờm, thường mê man bất tỉnh, đã cho cả tiền mua sẵn áo quan rồi. Không biết bây giờ nó còn sống hay chết. Nếu nó sống cũng chẳng biết việc gì, gọi về cũng vô ích. Còn vợ nó thì lại điếc .
Giả Xá nghe xong quát mắng:
- Đồ ngu biết gì? Mày không cút ngay đi à? .
Giả Liễn sợ quá lùi ra. Một lúc lại cho gọi Kim Văn Tường đến, Giả Liễn đành đứng chờ ngoài thư phòng, không dám về, cũng không dám gặp bố. .
Một lúc, Kim Văn Tường đến. Bọn hầu nhỏ dẫn hắn vào cửa thứ hai, lâu lắm mới thấy hắn ra về. Giả Liễn không dám hỏi chuyện. Một lúc sau, thấy Giả Xá ngủ rồi mới dám về nhà.
Đến tối, Phượng Thư kể lại chuyện, hắn mới hiểu rõ. Uyên ương suốt đêm không ngủ. Đến hôm sau, người anh cô ta đến xin Giả mẫu cho cô ta về nhà chơi, Giả mẫu
bằng lòng. Uyên Ương không muốn về, nhưng sợ Giả mẫu ngờ, nên đành phải đi. Người anh đem những lời của Giả Xá nói cho cô ta biết, lại hứa hẹn nào là được thể diện, được làm dì Hai, trông nom việc nhà. Uyên Ương chỉ cắn răng không bằng lòng. Người anh không biết làm thế nào, đành phải về trình Giả Xá.
Giả Xá tức giận nói:
- Ta bảo cho mà biết, mày về bảo vợ mày rằng: xưa nay “chị hằng yêu tuổi trẻ” chắc nó chê ta già, có lẽ nó chỉ yêu các cậu trẻ thôi! Chắc chắn là nó đã nhắm vào Bảo Ngọc, có lẽ cả thằng Liễn nữa. Nếu nó có bụng ấy thì bảo nó hãy mau mau xếp lại . Ta muốn lấy, nó không bằng lòng, sau còn ai dám lấy nó nữa? Đó lả điều thứ nhất. Điều thứ hai nó tưởng cụ thương nó, sau này sẽ chính thức gả nó cho một người ở ngoài phủ này. Bảo nó nghĩ kỹ đi: dù nó lấy ai nữa, cũng khó thoát khỏi tay ta. Trừ phi nó chết đi, hay suốt đời không lấy chồng, ta mới chịu! Nếu không, bảo nó nên mau mau nghĩ lại, sẽ có nhiều điều hay đấy.
Giả Xá nói một câu, Kim Văn Tường “vâng” một câu.
Giả Xá lại bảo:
- Không được nói dối ta, ngày mai ta lại bảo bà mày đến hỏi thẳng Uyên Ương. Mày nói nó không bằng lòng, sẽ không có lỗi; nếu ta hỏi nó bằng lòng thì mày liệu hồn đấy!
Kim Văn Tường vâng dạ luôn mồm. Về đến nhà, không
kịp bảo vợ đi nói, hắn tự mình đến bảo thẳng Uyên ương; Uyên Ương tức quá không trả lời được câu gì. Nghĩ một lúc, Uyên Ương nói:
- Dầu tôi bằng lòng, cũng phải mang tôi đến trình cụ đã.
Người anh và chị dâu đều cho Uyên ương đã nghĩ lại, vui mừng khôn xiết. Người chị dâu liền dẫn Uyên Ương đến trình Giả mẫu.
Vừa gặp lúc Vương phu nhân, Tiết phu nhân và bọn chị em Lý Hoàn, Phượng Thư, Bảo Thoa cùng mấy người đàn bà coi việc có thể diện đang nói chuyện vui ở đấy. Uyên Ương mừng lắm, kéo chị dâu vào quỳ trước mặt Giả mẫu, vừa khóc vừa kể lại những câu Hình phu nhân nói thế nào, chị dâu nói ở trong vườn thế nào, nay người anh lại nói như thế nào. Vì cháu không bằng lòng, ông Cả bảo là cháu mê cậu Bảo Ngọc, nếu không thì cũng đợi lấy người ngoài, bảo cháu có chạy lên trời suốt đời cũng không thoát khỏi tay ông ấy. Thế nào ông ấy cũng báo thù ! Lòng cháu đã lạnh tắt rồi! Cháu nói trước mặt mọi người ở đây, đừng nói là Bảo Ngọc, chứ dù “Bảo Kim”, “Bảo Ngân”, “Bảo Thiên Vương”, “Bảo Hoàng Đế” nào nữa, cháu cũng chẳng lấy, cứ ở vậy suốt đời là xong chuyện! Nếu cụ ép quá, cháu đành một nhát dao là xong đời, chứ không
thể nào tuân lời được. Tốt phúc ra, cháu được chết trước cụ, nếu không may, cháu cũng đành nhất định hầu hạ đến khi cụ quy tiên, cháu sẽ không về với bố mẹ và anh em cháu đâu, hoặc tự tử, hoặc gọt đầu đi tu. Nếu bảo cháu không thực bụng, chỉ tạm thời tình cách chống đỡ, thì đã có giời đất, quỷ thần, . . mặt trời, mặt trăng chứng minh, sẽ bóp cháu sưng cổ nổ hầu ra mà chết!
Trước lúc Uyên Ương đến, trong tay áo đã giấu sẵn một cái kéo, nay vừa nói vừa đưa kéo lên cắt tóc. Bọn bà già, a hoàn trông thấy vội giữ lại, thì đã cắt mất một nửa nắm rồi.
May tóc cô ta quá rậm, cắt vẫn không việc gì, mọi người vội vàng giúp cô ta búi lên. .
Giả mẫu nghe nói, giận quá, người run cầm cập, ni giọng nói:
- Ta chỉ còn có một người trông cậy được, chúng nó lại định tìm cách cướp đi.
Nhân thấy Vương phu nhân đứng bên cạnh, liền bảo:
- Các người xưa nay đều lừa ta cả! Ngoài mặt ra vẻ hiếu thảo trong bụng lại ngấm ngầm chực hại ta . Có của gì tốt cũng đến lấy, có người nào tốt cũng đến đòi; còn có cột con bé, thấy ta yêu nó, tự nhiên các người đâm tức, định xách nó đi, để rồi tha hồ mà làm hại ta.
Vương phu nhân đứng dậy, không dám nói lại một câu gì . Tiết phu nhân thấy Vương phu nhân cũng bị quở, nên không tiện khuyên giải; Lý Hoàn vừa nghe thấy những câu nói của Uyên Ương, đã dẫn chị em đi ra rồi. Thám Xuân là người biết nghĩ: biết Vương phu nhân bị mắng oan không dám nói lại; Tiết phu nhân là em ruột Vương phu nhân, không tiện cãi hộ cho chị; Bảo Thoa cũng không thể nói hộ cho dì; Lý Hoàn, Phượng Thư, Bảo Ngọc lại càng không dám lên tiếng; chỉ còn nhờ có bọn cháu gái; nhưng Nghênh Xuân thì thực thà, Tích Xuân hãy còn bé. Vì vậy, chị ta đang đứng ngoài cửa sổ nghe ngóng, vội chạy ngay vào cười nói với Giả mẫu:
- Việc này có liên can gì đến mẹ cháu đâu? Bà nghĩ lại xem: ông anh Cả muốn lấy người trong nhà, thì em dâu biết làm sao được? Mà dù có biết cũng phải chịu thôi.
Thám Xuân chưa nói dứt lời, Giả mẫu cười nói:
- Thật ta già lẫn rồi! Bà dì đừng cười tôi nhé? Chị bà là người rất hiếu thuận, không như chị dâu cả của tôi, một tí gì cũng sợ chồng, trước mặt mẹ chồng chẳng qua cũng chỉ dựa dẫm cho xuôi chuyện thôi. Thật là tôi nói oan cho chị ấy.
Tiết phu nhân chỉ vâng dạ, rồi lại nói:
- Cụ hơi thiên vị, có lẽ cũng vì thương con dâu út hơn.
Giả mẫu nói:
- Tôi không thiên vị đâu?
Lại nói:
- Bảo Ngọc, bà mắng nhầm mẹ cháu, sao cháu không nhắc để mẹ cháu bị mắng oan?
Bảo Ngọc cười nói:
- Không có nhẽ cháu lại bênh mẹ cháu mà nói bác giai và bác gái à . Chung quy cũng có người không phải, nhưng nếu mẹ cháu không nhận thì còn đổ cho ai? Cháu nhận lỗi về cháu chắc bà cũng chẳng tin nào.
Giả mẫu cười nói :
- Thế cũng có nhẽ. Nay cháu quỳ xuống trước mặt mẹ cháu nói: Mẹ đừng bực nha, bà đã có tuổi rồi, xin mẹ hãy nhìn Bảo Ngọc này thôi.
Bảo Ngọc chạy đến quỳ xuống định nói, Vương phu nhân vội cười kéo Bảo Ngọc dậy:
- Đứng dậy, không thể thế được, lẽ nào mày lại thay bà đến xin lỗi ta à?
Bảo Ngọc nghe nói liền đứng dậy.
Giả mẫu cười nói:
- Cháu Phượng cũng chẳng nhắc gì bà!
Phượng Thư cười nói:
- Cháu chưa vạch những điều không phải của bà ra, bà đã lại quặc cả cháu vào.
Giả mẫu nghe nói, cùng mọi người cười ầm lên:
- Thế mới lạ chứ! Ta cần nghe điều nào là điều không phải?
Phượng Thư nói:
- Ai bảo bà khéo chải chuốt cho người? Chải chuốt đến nỗi nó đẹp mơn mởn lên, trách nào người ta chả thích? May cháu là dâu đấy, chứ là cháu trai, thì cháu đòi bà đã lâu rồi, không còn chờ đến bây giờ.
- Đó là điều không phải của ta à?
- Đúng là điều không phải của bà.
- Đã thế thì ta không cần nó nữa, cháu đem nó về.
- Để cháu tu hết kiếp này, đến kiếp sau được làm con trai, cháu mới cần đến nó. Cháu mang nó về cho thằng Liễn, để xem ông bố chồng mặt dày của cháu còn đòi nữa hay thôi!
- Cháu Liễn không xứng đáng, nó chỉ xứng đáng với cháu và Bình Nhi là hai chiếc “bánh cháy” đấy thôi. .
Mọi người nghe nói cười ầm lên.
A hoàn vào trình: .
- Bà Cả đã đến. . . .
Vương phu nhân vội ra đón.



Hết hồi 46
Thân ái,
TSAH




Tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất .
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt;Edited by: <b>thatsonanhhung</b> -- <b>1/20/2004 5:18:09 AM </b> &gt;>
Hồi Bốn Mươi Bảy

Tiết Bàn đa tình bị đánh
Tương Liên sợ tội trốn đi.

Vương phu nhân thấy Hình phu nhân đến, liền ra đón.
Hình phu nhân chưa hiểu Giả mẫu đã biết việc Uyên Ương, định đến thăm dò tin tức. Vào đến cửa, được bọn bà già khẽ mách, Hình phu nhân mới biết. Định quay về, nhưng người trong nhà đã trông thấy; lại thấy Vương phu nhân ra đón, nên đành phải vào chào Giả mẫu. Giả mẫu không thèm bắt lời.
Hình phu nhân tự nghĩ xấu hổ. Phượng Thư mượn cớ tránh đi chỗ khác. Uyên Ương tức giận về buồng. Tiết phu nhân và Vương phu nhân sợ Hình phu nhân sượng mặt, cũng dần dần lui ra. Hình phu nhân đành phải ngồi lại. Giả mẫu thấy không có ai, mới bảo:
- Ta nghe nói, chị đi làm mối cho ông nhà chị phải
không ? Chị cũng là hạng có đủ “tam tòng tứ đức” đấy. Nhưng cái hiền hậu của chị thật là quá đáng. Bây giờ nhà chị, con cháu đã đầy đàn rồi, thế mà chị còn sợ ông ấy. Tại sao chị không can ngăn câu nào, cứ mặc cho ông ấy muốn giở tính gì thì giở . Hình phu nhân đỏ bừng mặt lên, thưa:
- Con đã khuyên ngăn nhiều lần, mà không nghe. Mẹ
còn lạ gì nữa? Con cũng bất đắc dĩ phải chiều đấy thôi.
Giả mẫu nói:
- Thế nó bắt chị giết người, chị cũng giết à? Chị thử nghĩ xem, em dâu chị xưa nay vốn là người thực thà, lại hay đau ốm. Nhưng có việc gì mà không qua nó. Tuy có con dâu chị giúp đỡ nhưng cứ “buông dầm cầm chèo”, trăm việc đến tay. Mặc dù ta đã bớt việc cho nó nhiều rồi, nhưng cũng có khi cả hai người không nghĩ xiết, thì đã có con Uyên Ương cẩn thận, biết lo toan... ít nhiều đến việc riêng của ta. Cái gì cần nó lấy ngay cho ta; cái gì đáng thêm, nó lựa dịp bảo họ thêm cho ta. Nếu không được con Uyên Ương thì các việc trong ngoài lớn nhỏ chỉ có hai mẹ con nó làm gì chẳng có thiếu sót? Bây giờ lại còn để ta phải lo lắng, để ta ngày nào cũng tính toán đòi thứ này thứ nọ hay sao? Cả nhà này, chỉ còn một mình nó lớn tuổi, nó đã biết nết ta, hợp tính với ta, nó lại không hề mượn tiếng ta đòi bà này cho áo quần, bà nọ cho tiền bạc bao giờ. Vì
thế mấy năm nay, hễ nó nói việc gì, thì từ em dâu chị, nàng dâu chị, cho chí lớn bé trong nhà, chẳng ai là không tin nó. Bởi vậy không những một mình ta nhờ cậy nó, mà cả em dâu chị, nàng dâu chị, cũng đỡ phải lo toan. Có con bé ấy, dù việc gì, con dâu, cháu dâu không nghĩ xiết, ta cũng không phải thiếu thốn và cũng không có gì phải bực mình. Bây giờ lấy nó đi, các chị định cho ai đến hầu ta? Dù các chị có đem đến một người đẹp như châu báu mà không biết nói năng gì thì cũng vô ích . Ta đang định sai người đến thương lượng với chồng chị , muốn lấy ai, ta có tiền đây, nó lấy tám nghìn, một vạn đi mua cũng được chứ đòi con bé này thì không xong đâu! Để nó hầu hạ ta mấy năm, cũng như chính chồng chị giữ đạo hiếu hết lòng hầu hạ ta. Nay vừa hay chị đến đây, chị sẽ đem lời ta về nói cho chồng chị biết, để cho êm chuyện.

Nói rồi, gọi người đến bảo: “Mời bà dì và các cô đến đây,
đang nói chuyện vui, sao lại về cả thể ?”
A hoàn vội đi tìm. Mọi người lại đều sang cả. Chỉ có Tiết
phu nhân bảo a hoàn:
- Ta vừa sang rồi, giờ còn sang làm gì nữa? Về nói là ta đã ngủ rồi.
A hoàn nói:
- Trăm lạy bà dì! Ngàn lạy bà dì! Cụ cháu đang giận đấy! Nếu bà không sang thì làm sao cho êm chuyện được. Xin được thương các cháu với! Nếu bà ngại đi, cháu xin cõng bà sang.
Tiết phu nhân cười nói:
- Đồ ranh con! Việc gì phải sợ! Chẳng qua bị mắng mấy câu thôi.
Nói xong, đành cùng a hoàn đi sang. Giả mẫu mời ngồi, rồí cười nói:
- Chúng ta đánh bài chức. Bà đánh bài cũng vẫn còn thấp, chúng ta ngồi một chỗ đừng để con Phượng ăn gian.
Tiết phu nhân cười nói:
- Phải đấy! Xin cụ xem hộ bài cho. Chỉ có bốn bà cháu đánh thôi, hay phải thêm một vài người nữa?
Vương phu nhân cười nói:
- Bốn người thôi!
Phượng Thư nói:
- Thêm một người nữa càng vui. .
Giả mẫu nói:
- Gọi con Uyên Ương đến đây, cho nó ngồi tay dưới. Mắt bà dì đã kém, cho nó trông cả bài của hai chúng ta.
Phượng Thư cười bảo Thám Xuân:
- Các cô biết chữ, sao không đi học xem bói.
Thám Xuân nói:
- Thế mới lạ chứ, bây giờ chị không cố nghiền ngẫm để kiếm mấy đồng của bà, lại nghĩ đến xem bói?
Phượng Thư nói:
- Tôi đương muốn bói xem hôm nay thua hết bao nhiêu, chứ tôi lại còn mong gì được nữa! Cô thử xem, chưa đánh bài mà hai bên đã sẵn sàng mai phục cả rồi.
Giả mẫu và Tiết phu nhân cười ầm lên:
Một lúc, Uyên Ương đến ngồi ở dưới cánh Giả mẫu. Dưới cánh Uyên Ương là Phượng Thư. Thảm đỏ giải ra, lần lượt trang bài, bắt cái. Năm tay cầm bài lên đánh một lúc. Uyên Ương thấy bài của Giả mẫu đã thập thành, chỉ chờ một quân “nhị binh” thôi, liền ra hiệu cho Phượng Thư. Đến lượt đánh ra, Phượng Thư cố ý ngần ngừ một lúc, rồi nói:
- Nếu cháu đánh quân này thì đúng vào quân chờ của
dì. Nếu cháu không đánh thì dì không ù được.
Tiết phu nhân nói:
- Tôi không chờ quân của chị đánh ra đâu.
- Để rỗi cháu xem bài dì.
- Chị cứ việc xem bài. Thôi hãy đánh đi, xem quân gì nào?
Phượng Thư liền để ngay quân bài ra trước mặt Tiết phu nhân. Tiết phu nhân xem là quân “nhị binh”, cười nói:
- Ta không cần quân này, chỉ sợ cụ ù đấy thôi!
Phượng Thư cười nói:
- Cháu đánh nhầm rồi!
Giả mẫu hạ ngay bài xuống, cười nói:
- Mày dám rút về à? Ai bảo mày đánh nhầm?
Phượng Thư nói:
- Cháu đã nói là phải bói một quẻ mới được! Tự mình đánh ra, không còn dám trách ai!
Giả mẫu cười nói:
- Thế là tự mày vả vào mồm lại còn hỏi mình xem có
đúng hay không?
Lại cười bảo Tiết phu nhân:
- Không phải tôi thích được tiền, cất để làm vui đấy thôi.
Tiết phu nhân cười nói:
- Chúng cháu ai mà chả nghĩ thế. Đâu lại có người vớ vẩn dám bảo cụ chỉ thích tiền.
Phượng Thư đang đếm tiền, nghe thấy nói thế, hến xâu tiễn vào, cười bảo mọi người:
- Thế là tôi hòa vốn rồi . Bà không thích tiền, chỉ thích vui thôi . Tôi bủn xỉn thật, đánh thua là đếm tiền, thôi cất đi vậy.
Giả mẫu vẫn quen lối để Uyên Ương trang bộ bài, rồi cười nói với Tiết phu nhân. Nhưng không thấy Uyên Ương trang bài. Giả mẫu nói:
- Mày giận gì thế ? Bài cũng chẳng buồn trang cho tao?
Uyên Ương cầm bài lên cười nói:
- Mợ không xỉa tiền ra cho bà?
Giả mẫu nói:
- Nó không xỉa tiền cho tao, thế là nó đếm hộ tao rồi đấy.
Liền sai a hoàn nhỏ lấy hết chuỗi tiền của Phượng Thư về. A hoàn cầm lấy chuỗi tiền, để bên cạnh Giả mẫu, Phượng Thư cười nói:
- Bà cho cháu xin lại chuỗi tiền . Cháu thua bao nhiêu bà lấy đủ số thôi, còn thừa bà trả lại cháu.
Tiết phu nhân cười nói:
- Chị Phượng này bủn xỉn thật, bà đùa đấy thôi!
Phượng Thư nghe nói, đứng dậy kéo Tiết phu nhân, quay lại trỏ vào cái hòm đựng tiền của Giả mẫu, cười nói:
- Dì xem kìa, không biết trong hòm này đã “đùa” bao nhiêu tiền của cháu rồi đấy! Chuỗi tiền này chơi chưa đầy nửa giờ, tiền ở trong hòm đã vẫy tay gọi, chờ khi nào chuỗi tiền này rơi vào hòm rồi thì chả cần đánh bài và bà cũng hết cả giận. Thế là bà lại sai cháu đi làm việc khác ngay.
Giả mẫu và mọi người cười ầm lên. Giữa lúc ấy Bình Nhi lại mang một chuỗi tiền đến, vì sợ không đủ đánh, Phượng Thư nói:
- Không cần phải để trước mặt ta, cứ để bên cạnh bà.
Đưa cả số tiền một lúc cho gọn, không cần phải đưa hai lần, sợ số tiền ở trong hòm thêm bận việc.
Giả mẫu cười, bài ở trên tay rơi cả xuống bàn, liền đẩy Uyên ương bảo:
- Mau đến rạch mồm nó ra coi!
Bình Nhi theo lời, đặt tiền xuống, cười một lúc mới về.
Vừa đến cửa, Giả Liễn hỏi:
- Bà bây giờ ở đâu? Ông bảo ta mới về. .
- Bà đứng hầu cụ lâu lắm, chẳng dám động đậy gì, cũng chỉ muốn có dịp là lẻn về thôi. Cụ tức giận mãi. May có mợ Hai pha trò một lúc mới hơi nguôi nguôi.
- Giờ ta sang hỏi cụ xem hôm mười bốn này có sang nhà
Lại Đại không, để sắp kiệu sẵn. Ta đến vừa mời bà về, vừa góp vui, thế có được không ?
- Cứ ý tôi, cậu không nên sang là phải, cả nhà này, ngay
đến bà Hai và Bảo Ngọc cũng còn có lỗi nữa là bây giờ cậu sang chỉ tội rước vạ vào mình mà thôi.
- Câu chuyện đã xong rồi, không lẽ lại còn kéo cả ta vào hay sao? Vả chăng việc này không liên can gì đến ta. Ông bảo ta phải đi tìm bà về. Nếu biết ta sai người khác đi, trong lúc ông đang giận, sẽ lại mượn cớ để mắng ta cho hả.
Bình Nhi thấy Giả Liễn nói có lý, cũng theo cả sang. Lên đến thềm, Giả Liễn rón rén đi, ngó đầu vào trong nhà, thấy Hình phu nhân đang đứng ở đấy. Phượng Thư trông thấy trước liền đưa mắt bảo hắn đừng vào; lại đưa mắt cho Hình phu nhân. Hình phu nhân không tiện đi ngay, liền rót một chén nước dâng Giả mẫu. Giả mẫu quay lại, Giả Liễn không kịp tránh. Giả mẫu liền hỏi:
- Ai ở ngoài kia trông như đứa bé con nào thò đầu vào đấy ?
Phượng Thư đứng dậy nói:
- Cháu cũng thoáng nhìn thấy có bóng một người.
Vừa nói vừa đứng dậy đi ra.
Giả Liễn liền đi vào cười nói:
- Cháu đến hỏi xem hôm mười bốn này bà có đi chơi không để sắp sẵn kiệu.
Giả mẫu nói:
- Sao mày không vào ngay, lại thậm thụt ngoài ấy như con ma ấy?
- Thấy bà đang đánh bài, cháu không dám vào, gọi nhà cháu ra ngoài hỏi đấy thôi.
- Làm gì mà vội thế ? Chờ khi nó về nhà, hỏi có được không? Sao trước kia không thấy mày cẩn thận như thế? Không biết mày đến đây để lắng tin hay dò xét việc gì? Cứ thập thò như ma, làm tao giật cả mình . Cái thằng đê tiện kia! Vợ mày đang đánh bài với tao, được lúc vắng nhà, mày hãy về mà bàn với con vợ Triệu Nhị tìm cách hại vợ mày đi!
Nói xong, mọi người cười ầm lên. Uyên Ương cười nói:
- Vỡ Bảo Nhị chứ! Bà lại kéo vợ Triệu Nhị vào.
Giả mẫu cười nói: .
- Thế à? “Bão” hay “bội” tao nhớ thế nào được(*). Nhắc đến chuyện này làm tao thêm bực mình! Khi tao về nhà này làm chắt dâu, đến bây giờ tao cũng lại có chắt dâu rồi. Trước sau năm mươi tư năm, bao nhiêu việc rùng rợn quái gở đều đã qua cả, nhưng chưa từng gặp việc nào như thế! Mày còn không bước khỏi chỗ này à!
Giả Liễn không dám nói câu gì, vội chạy ra. Bình Nhi
chờ ở ngoài cửa sổ, khẽ cười nói:
- Tôi đã bảo cậu không nghe, để đến nỗi sa vào lưới!
Đương nói thì Hình phu nhân cũng ra. Giả Liễn nói:
- Chỉ vì cha sinh chuyện, bây giờ trút cả tội cho mẹ con .
-------------------
(*) “Bão” là ôm, “bội” là cõng. Người Trung Quốc thường dùng chữ trong khi không hài. Việc Giả Liễn ngoại tình với vợ Bão Nhị (xem ở hồi 41).-----------------------

Hình phu nhân nói:
- Cái giống bất hiếu trời đánh này. Người ta chết thay cho cha còn được nữa là; mới bị mắng có mấy câu mà đã kêu ca ầm lên. Mày hãy liệu chừng! Mấy hôm nay bố mày tức giận, giờ hồn không lại bị đòn đấy!
- Thôi mẹ về đi, cha con bảo đi mời mẹ đã lâu rồi.
Nói xong Giả Liễn đưa mẹ hắn về nhà.
Hình phu nhân đem chuyện vừa rồi kể qua mấy câu, Giả Xá không còn cách gì, đâm ra xấu hổ. Từ đấy, liền cáo bệnh, không dám đến hầu Giả mẫu, chỉ sai Hình phu nhân và Giả Liễn hàng ngày đến thăm. Rồi sai người đi tìm kiếm các nơi, sau cùng, bỏ ra năm trăm lạng bạc, mua một đứa con gái mười bảy tuổi, tên là Yên Hồng đem về.
Thấm thoát đã đến ngày mười bốn. Tờ mờ sáng, vợ Lại Đại lại đến mời. Giả mẫu cao hứng, dẫn Vương phu nhân, Tiết phu nhân và chị em Bảo Ngọc đến vườn hoa nhà Lại Đại ngồi một lúc. Vườn hoa này tuy không bằng vườn Đại Quan, nhưng cũng rộng rãi ngăn nắp, rừng suối lâu đài, cũng có nhiều chỗ đẹp làm cho người ta say sưa mến cảnh. Ở bên ngoài, có Tiết Bàn, Giả Trân, Giả Liễn, Giả Dung cùng mấy người họ gần đều đến cả. Lại Đại cũng mời mấy người quan lại đương chức và một số con nhà đại gia đến tiếp. Trong đám ấy có Liễu Tương Liên mà trước đây Tiết Bàn đã được gặp một lần, trong bụng vẫn quyến luyến không quên. Lại nghe thấy hắn thích
chơi tuồng hát, và trong đó chơi toàn những vai học trò, vai nữ rất tài hoa. Tiết Bàn nhận nhầm hắn là con nhà ăn chơi, muốn kết thân với hắn, nhưng không có người đưa đón. May sao hôm đó gặp hắn, Tiết Bàn vui quá, mê tít. Bọn Giả Trân cũng hâm mộ tiếng hắn, liền mượn hơi men nói với hắn hát cho nghe hai vở. Sau lại sang ngồi bên cạnh, hỏi tẩn mẩn chuyện nọ chuyện kia.
Liễu Tương Liên nguyên là con nhà thế gia, vì học không đỗ lại gặp cha mẹ mất sớm. Hắn vốn tính hào hiệp, không câu nệ những việc vặt, lại thích chơi thương múa kiếm, rượn chè, cờ bạc, trai gái, đàn hát, cái gì cũng biết. Vì hắn trẻ tuổi xinh trai, những người không biết rõ tung tích, đều nhận nhầm là hạng phường chèo con hát. Con Lại Đại là Lại Thượng Vinh thường chơi thân với hắn, nên hôm nay cũng mời hắn đến dự tiệc . Không ngờ sau khi say rượu, người khác còn khá, chứ Tiết Bàn thì lại trở lại bệnh cũ. Vì thế, Liễu Trung Liên trong bụng không vui, định lừa dịp ra về cho xong chuyện. Không ngờ Lại Thượng Vinh đến nì nằng mãi:
- Vừa rồi cậu Bảo dặn tôi; cậu ấy vừa vào đến cửa, tuy trông thấy anh, nhưng đông người không tiện nói chuyện, bảo tôi dặn anh, khi tan tiệc anh đừng về vội, cậu ấy có câu chuyện muốn nói với anh. Nếu anh nhất định đòi về, để tôi gọi cậu ấy ra, hai người gặp nhau đã, như thế thì không can gì đến tôi.
Nói xong, liền sai đứa hầu bé vào trong nhà bảo khẽ bà già mời cậu Bảo đến. Đứa bé vào một lát thì Bảo Ngọc đi ra. Lại Thượng Vinh cười bảo Bảo Ngọc:
- Thưa chú, tôi giao anh này cho chú, để tôi đi tiếp khách đây.
Nói xong đi ngay.
Bảo Ngọc kéo Liễu Tương Liên đến thư phòng bên cạnh hỏi chuyện:
- Lâu nay anh có đến thăm mộ Tần Chung không?
- Có đến. Hôm nọ mấy người chúng tôi đi săn, cách mộ anh ấy chỉ có vài dặm. Tôi nghĩ mùa hạ năm nay nhiều mưa,sợ mộ lở, liền lẻn đến đấy xem, thì có chỗ bị lở. Khi về nhà kiếm được mấy trăm đồng tiền, đến sáng hôm thứ ba, tôi thuê mấy người đến đắp lại tử tế rồi.
- Thảo nào. Tháng trước sen trong ao vườn Đại quan nở hoa, tôi ngắt mười cái, sai Dinh Yên đem đến viếng mộ anh ấy . Khi về, tôi hỏi: “trời mưa thế, mộ có bị lở không?”
Dinh Yên nói:
- Không, nhưng không lở mà lại mới hơn trước. Tôi chắc là có người bạn nào đã đến sửa dọn. Tiếc rằng ngày nào tôi cũng bị giữ rịt ở nhà không được đi đâu, hơi làm việc gì người nhà cũng biết, không người này ngăn thì người khác khuyên, chỉ nói được chứ không làm được! Dù có tiền đấy, tôi cũng không được tiêu .
- Anh không cần phải để ý đến việc ấy, bên ngoài đã có tôi chỉ cần anh có bụng nghĩ đến cậu ấy là được rồi. Tôi đã sắp sẵn một món tiền để đến ngày mồng một tháng mười sắp tới sẽ tiêu về việc thăm mộ. Anh cũng biết đấy, tôi nghèo rớt mồng tơi, trong nhà chẳng dành dụm được gì, hễ kiếm được đồng nào lại tiêu hết sạch. Nên nhân dịp này, tôi dành lại một món, để đến khi ấy khỏi phải chạy vạy.
- Cũng chính vì việc ấy mà tôi định sai Dinh Yên đi tìm anh, nhưng anh không mấy khi ở nhà, biết anh thường nay đây mai đó, không ở chỗ nào nhất định.
- Anh không cần phải tìm tôi, tôi làm việc này chẳng qua chỉ vì hết lòng với bạn. Bây giờ tôi lại phải đi xa, có lẽ năm, ba năm tôi mới về:
Bảo Ngọc nghe nói, vội hỏi:
- Tại sao lại thế?
Liễu Tương Liên cười nhạt nói:
- Tâm sự của tôi, chờ khi đến nơi sẽ biết. Giờ xin tạm biệt. - Không mấy khi được gặp nhau, anh nên đợi đến chiều, chúng ta cùng về một thể có hơn không?
- Anh con nhà dì của anh vẫn giữ cái thói ấy, nếu tôi ngồi lại, không khỏi có chuyện, chi bằng tôi tránh đi là hơn.
Bảo Ngọc nghĩ một lúc, nói:
- Đã thế thì anh tránh hẳn đi là phải. Nhưng nếu anh quả thực định đi xa, cũng nên nói trước cho tôi biết, chứ nhất thiết đừng lẳng lặng mà đi!
Nói xong, nước mắt trào ra.
Liễu Tương Liên nói:
- Thế nào tôi cũng phải từ biệt anh, nhưng anh đừng nói cho ai biết.
Nói xong liền đứng dậy chực đi, lại nói:
- Thôi anh vào đi, không cần phải tiễn tôi.
Vừa nói vừa ra khỏi thư phòng. Mới đi đến cửa ngoài, đã thấy Tiết Bàn đứng đấy gọi ầm lên:
- Ai cho chú Liễu đi đấy?
Liễu Tương Liên nghe hắn nói, bốc nóng lên, giận không đánh được một cái cho chết ngay. Nhưng rồi lại nghĩ, khi say rượu mà đánh người, chỉ làm ngượng mặt lại Thượng Vinh, nên đành phải nén giận. Tiết Bàn thấy Liễu Tương Liên đi ra, mừng như được của báu, vội loạng choạng chạy theo nắm lấy cười hỏi:
- Em ơi! Đi đâu đấy? . .
- Đi một tí rồi về ngay.
- Em mà đi thì anh mất vui. Em thương anh với, hãy ngồi một tí đã. Có việc gì cần, em giao cho anh, đừng vội vã như thế. Em có người anh này, thì muốn làm quan, phát tài, cái gì cũng dễ thôi!
Tương Liên thấy Tiết Bàn nói những câu khó chịu quá, trong lòng bực bội, nghĩ ngay một kế, liền kêu hắn ra chỗ vắng, cười nói:
- Anh thực bụng yêu em hay là nói dối em đấy?
Tiết Bàn nghe nói, trong lòng rạo rực, liếc mắt nói:
- Em ơi! Sao em lại hỏi anh câu ấy? Nếu có bụng giả dối, anh chết ngay ở đây! .
- Đã thế, ở đây không tiện, anh hãy ngồi lại một chốc, rồi em đi trước, anh sẽ theo sau. Khi về nhà em, chúng ta nhất định uống rượu suốt đêm. Ở nhà em còn có hai đứa bé con rất đẹp, chưa hề tiếp khách bao giờ. Anh không cần phải mang ai đi theo, đến đấy có sẵn người hầu.
Tiết Bàn nghe nói, mừng quá tỉnh hẳn rượu, nói:
- Có thật thế không? .
- Người ta thực bụng đối với anh, anh lại không tin à?
- Anh có phải thằng ngốc đâu, sao lại không tin? Nếu em đi trước, anh không biết chỗ, làm thế nào tìm được em?
- Nhà em ở ngoài cửa Bắc, anh có thể ra đó ngủ một đêm được không?
- Đã có em thì anh còn cần gì đến nhà nữa?
- Đã thế em chờ anh ở đầu cầu ngoài cửa Bắc. Chúng ta hãy vào uống rượu đã. Khi nào em đi rồi, anh hãy đi theo, như thế họ không để ý.
Tiết Bàn nhận lời.
Hai người lại vào uống rượu một lúc. Tiết Bàn không nén nổi, cứ đưa mắt nhìn Tương Liên, trong bụng càng nghi càng vui sướng, hết be rượu nọ đến be rượu kia, cứ tự rót uống, không cần phải ai mời. Không ngờ hơi men đã hăng lên tám chín phần.Thấy không ai để ý, Tương Liên đứng dậy đi ra ngoài cửa, bảo hầu nhỏ là Hạnh Nô:
- Mày về trước đi, tao đi ra ngoài thành đã, rồi về sau.
Nói xong, cưỡi ngựa ra thẳng cửa Bắc, đến cầu chờ Tiết Bàn. Độ chừng ăn xong bữa cơm, thấy Tiết Bàn cưỡi ngựa chạy đến, phùng má trợn mắt, đầu lắc lư, hết nhìn bên nọ lại quay sang bên kia. Khi hắn đi đến trước ngựa Tương Liên, mắt cứ nhìn về đằng xa, không để ý đến xung quanh. Tương Liên vừa bật cười, vừa tức giận, liền lùi ngựa về đằng sau. Tiết Bàn đi mãi, thấy đã dần dần thưa vắng bóng người, liền quay ngựa trở lại gặp ngay Tương Liên. Hắn vui mừng như được ngọc báu, vội cười nói:
- Anh chắc em không khi nào sai hẹn.
- Đi mau lên, cẩn thận không có người ta trông thấy lại chẳng ra làm sao!
Nói xong Tương Liên tế ngựa đi trước. Tiết Bàn theo
sát đằng sau. .
Tương Liên thấy trước mặt vắng người, lại có một bãi sậy, liền xuống buộc ngựa vào cây, rồi cười bảo Tiết Bàn:
- Anh xuống ngựa đi, chúng ta hãy thề trước đã, nếu sau này ai thay lòng đổi dạ, nói cho người khác biết, sẽ chịu tội như lời thề.
- Em nói phải đấy.
Rồi cũng buộc ngựa vào cây, Tiết Bàn quỳ xuống thề:
- Nếu anh ngày sau thay lòng đổi dạ, nói cho người khác biết, thì trời tru đất diệt...
Nói chưa dứt lời, thấy đằng sau “choang” một tiếng như chùy sắt, giáng xuống, Tiết Bàn mặt tối sầm lại, mắt nổ đom đóm, người lảo đảo, ngã lăn xuống đất. Biết hắn không chịu quen đòn, Tương Liên mới tát nhẹ mấy cái, hắn đã mặt mũi thâm tím như quả bồ quân. Tiết Bàn trước muốn chống đỡ, định đứng dậy, nhưng bị Tương Liên lấy chân đá một cái, lại ngã vật xuống. Hắn liền làu nhàu: .
- Hai người đều bằng lòng cả! Nếu em không nghe thì cứ nói, việc gì lại lừa tôi đến đây để đánh tôi? .
Rồi hắn mắng ầm lên. Tương Liên nói:
- Tao bảo cho thằng mù này! Mày có biết cụ Liễu là ai không? Mày không van xin, lại dám nói láo . Tao đánh chết mày cũng vô ích, chỉ đánh cho mày ốm đòn thôi.
Nói xong, lại lấy roi ngựa, đánh ba bốn chục roi vào lưng
và đùi Tiết Bàn đã gần tỉnh rượu, đau quá không chịu nổi, kêu lên một tiếng “úi chao”. Tương Liên cười nhạt nói:
- Mới có thế thôi! Tôi cứ tưởng mày dạn đòn!
Vừa nói vừa kêu chân trái Tiết Bàn dìm xuống bãi sậy, bùn lấm be bét, đầy người, lại hỏi:
- Mày đã biết tay tao chưa?
Tiết Bàn không trả lời, chỉ nằm gục xuống rên hữ hữ.
Tương Liên lại vất roi đi, nắm tay đấm mấy quả. Tiết Bàn kêu rối rít lên:
- Xương tôi gãy cả rồi . Tôi biết em là người đứng đắn, chỉ vì tôi nghe người ta đồn nhầm đấy thôi!
- Không được kéo người ta vào. Mày chỉ được nói chuyện hiện giờ thôi.
- Hiện giờ tôi không có gì đáng nói cả? Chẳng qua em là người đứng đắn, tôi trót nhầm đấy thôi?
- Phải nói nhũn nữa, tao mới tha cho.
Tiết Bàn rên hừ hừ, nói: “Bạn ơi”. –
Tương Liên lại đấm cho một quả nữa. Tiết Bàn kêu lên một tiếng, rồi nói: “ông anh ơi” - Tương Liên lại đấm luôn cho hai quả nữa. Tiết Bàn vội kêu lên “úi chao ơi”, rồi nói:
- Ông ơi! ông tha cho con là thằng mù không có mắt!
Từ nay trở đi, con kinh người, sợ lắm rồi.
- Mày phải uống hai ngụm nước bùn này đi!
- Nước này bẩn quá, con uống thế nào được?
Tương Liền lại giơ tay lên đấm. Tiết Bàn vội nói:
- Con xin uống... Con xin uống... -
Nói xong hắn đành phải cúi đầu xuống gốc sậy uống một ngụm, chưa kịp nuốt đã ọe ngay ra, bao nhiêu thức ăn mửa ra hết cả. Tương Liên nói:
- Mày phải ăn hết những đồ thối tha này tao mới tha cho?
Tiết Bàn lạy thì thụp nói:
- Xin ông làm phúc tha cho con, đến chết con cũng không ăn được đâu!
- Đồ thối xác này, làm bẩn lây cả đến tao!
Nói xong Tương Liên bỏ mặc Tiết Bàn ở đấy, rồi lên ngựa. Tiết Bàn thấy Tương Liên đi rồi mới yên tâm, tự hối mình không nên nhận nhầm người ta. Muốn gượng đứng dậy, nhưng khắp người đau đớn không chịu được.
Bọn Giả Trân không thấy Tiết Bàn và Tương Liên ở trong tiệc, đi tìm các nơi cũng không thấy. Có người nói: “Thấy họ đi vội ra cửa Bắc rồi .”
Đứa hầu nhỏ của Tiết Bàn xưa nay vẫn sợ hắn, thấy hắn bảo không được theo, nó còn dám đi sao được? Giả Trân không yên tâm, sai Giả Dung dẫn bọn hầu nhỏ đi tìm; ra thẳng cửa Bắc, đi qua cầu độ hai dặm đường, chợt trông thấy ngựa của Tiết Bàn buộc ở bên bãi sậy. Mọi người đều nói: “May quá! Có ngựa tất phải có người?” Rồi cùng đến chỗ buộc ngựa, nghe trong đám sậy có người rên rỉ. Mọi người chạy đến xem, thấy quần áo Tiết Bàn rách tươm, mặt mũi sưng vù lên, khắp người ướt như lợn sề đẫm bùn.
Giả Dung đã đoán được tám chín phần, liền xuống ngựa sai người kéo hắn lên, cười nói:
- Chú Tiết ngày nào cũng giở thói lẳng lơ, hôm nay lại lẳng lơ đến bãi sậy này, chắc hẳn ông long vương yêu chú là người phong nhã, muốn vời chú đến làm phò mã, chú đã va phải sừng rồng rồi đấy!
Tiết Bàn xấu hổ quá, không thể chui ngay xuống hố
được, còn mặt mũi nào trên lên ngựa nữa. Giả Dung liền sai người ra cửa Ô thuê một cái kiệu nhỏ cho Tiết Bàn ngồi, rồi cùng về trong thành. Giả Dung lại muốn khiêng hắn vào dự tiệc ở nhà họ Lại, nhưng Tiết Bàn vật vã van xin đừng cho ai biết. Giả Dung mới chịu thôi. Giả Dung lại đến nhà họ Lại trình Giả Trân việc này. Giả Trân cũng biết là hắn bị Tương Liên đánh, liền cười nói:
- Cho nó như thế mới đáng kiếp
Đến chiều về, Giả Trân đến hỏi thăm, Tiết bàn nằm ở trong nhà, cáo ốm không ra.
Giả mẫu về rồi, mọi người đâu về đấy cả. Tiết phu nhân và Bảo Thoa về, thấy Hương Lăng khóc sưng cả mắt, hỏi nó đầu đuôi rồi vội đến thăm Tiết Bàn, thấy trên mặt và mình đầy thương tích, nhưng không đến nỗi sai gân gãy xương gì.
Tiết phu nhân vừa thương vừa giận, mắng Tiết Bàn, rồi lại mắng Tương Liên, muốn nói với Vương phu nhân sai người đi bắt hắn. Nhưng Bảo Thoa ngăn lại nói:
- Việc này không quan trọng gì, chẳng qua họ uống rượu với nhau, quá say thường hay giở mặt. Kẻ say bị đánh đau cũng là lẽ thường. Vả chăng ai còn chả biết cái anh bạo thiên nghịch địa của nhà ta. Chẳng qua chỉ tại mẹ quá thương anh ấy thôi. Muốn hả giận cũng dễ, chờ năm, ba ngày nữa anh ấy khỏi, đi ra ngoài được, bên bác Trân và cậu Liễn chưa chắc đã chịu bỏ qua việc này, nhất định sẽ đứng ra dàn xếp, mẹ sẽ bắt hắn xin lỗi anh con ở trước mặt mọi người là được rồi. Nếu mẹ coi việc này là to tát, đi nói với mọi người chỉ tỏ ra mẹ quá nuông chiều, để anh ấy gây chuyện với người ta, nay anh ấy mới bị đánh đau một lần, mẹ đã làm ầm lên, dựa thần dựa thế bà con để đè nén người ta à.
Tiết phu nhân nói:
- Con ơi! Con nghĩ phải đấy, mẹ vì một lúc tức giận đâm ra hồ đồ.
Bảo Thoa cười nói:
- Thế mới được. Anh ấy không sợ mẹ, không nghe người ta khuyên ngăn, càng ngày càng ngông cuồng; có bị vài ba lần như thế mới chừa.
Tiết Bàn nằm trên giường, chửi mắng Tương Liên luôn miệng, lại sai người hầu đến phá nhà, đánh chết hắn, rồi đi kiện. Tiết phu nhân quát ngăn bọn hầu lại, bảo:
- Tương Liên lúc say rượu ngông cuồng, bây giờ tỉnh rượu hối lại sợ tội đã trốn đi mất rồi.


Hết hồi 47
Thân ái,
TSAH




Tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất .
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi Bốn Mươi Tám


Dùng bậy chữ tình, nhầm về tình, chàng đi buôn bán .
Mến yêu gái nhã, gặp cuộc nhã, nàng mãi ngâm thơ.

Tiết Bàn nghe thấy Tương Liên trốn đi rồi mới đỡ giận.
Mấy hôm sau, hắn bớt đau, nhưng thương tích chưa lành, đành phải giả ốm ở nhà, không dám ló mặt đến thăm bè bạn.
Thấm thoát đã đến tháng mười, trong số người làm công ở các cửa hiệu, cuối năm tính tiền xong, họ muốn về nhà, nên phải sửa rượu tiễn. Trong đó có một người tên là Trương Đức Huy, từ bé vẫn làm quản lý cho hiệu cầm đồ của nhà Tiết Bàn.
Gia tài hắn có đến hai, ba nghìn vàng. Năm nay hắn cũng muốn về quê, sang xuân mới đến, liền nói với Tiết Bàn:
- Năm nay giấy sắc và các loại hương khan hiếm, sang năm tất phải đắt. Ra giêng tôi sẽ cho đứa con lớn của tôi đến trông nom cửa hiệu, trước tết Đoan Ngọ, tôi tiện đường đi mua một số giấy sắc và hương bánh về bán. Trừ nộp thuế và tiêu pha, ít nhất cũng có thể được lãi gấp mấy lần.
Tiết Bàn nghe nói, nghĩ bụng: “Giờ mình bị đòn, không mặt mũi nào nhìn thấy người ngoài, muốn tránh đi ít lâu, nhưng không có chỗ, nếu ngày nào mình cũng giả cách ốm, chẳng lẽ cứ ốm mãi sao được. Vả chăng mình đã lớn rồi, vẫn văn dốt vũ dát, nói là đi buôn, nhưng cân kẹo, bàn tính không sờ đến bao giờ ; thổ ngơi, phong tục, đường sá xa gần cũng chẳng biết gì cả. Chi bằng ta thu xếp ít tiền vốn, đi theo Trương Đức Huy độ một năm, lỗ lãi không cần, hãy tránh đi cho đỡ xấu hổ đã. Mặt khác, đi ra để xem phong cảnh các nơi cũng hay”. Đến khi tan tiệc, hắn liền vui vẻ bảo Trương Đức Huy hãy chờ một vài ngày nữa, hắn cùng đi một thể.
Đến tối, Tiết Bàn nới việc ấy với mẹ. Tiết phu nhân nghe nói tuy cũng thích đấy, nhưng lại sợ con ra ngoài sinh sự, còn việc tiêu mất tiền vốn chỉ là điều nhỏ thôi. Vì thế không muốn cho hắn đi và nói: .
- Mày thế nào cũng phải ở gần tao, tao mới yên lòng.
Vả chăng cũng không cần mày phải đi buôn, không phải chờ mấy trăm bạc lãi của mày mới có mà tiêu. Mày ở nhà yên phận làm ăn, còn hơn là được mấy trăm bạc lãi.
Nhưng khi nào Tiết Bàn lại chịu nghe, liền nói:
- Ngày thường mẹ vẫn bảo con không biết việc đời, cái này không biết, cái kia không hay. Bây giờ con cố cắt đứt những việc chơi phiếm, để đi lập thân, học buôn học bán, mẹ lại không để cho con đi à! Vậy mẹ bảo con làm gì bây giờ ? Con không phải là con gái, cứ giam hãm ở nhà, thì bao giờ mới khá ra được? Vả chăng Trương Đức Huy là người có tuổi, nhà ta quen ông ta từ lâu, việc gì con cũng hỏi ông ấy, thì nhầm thế nào được? Nhỡ con có sơ hở việc gì, ông ta tất phải khuyên bảo. Món hàng đắt rẻ thế nào, ông ấy thông thạo cả, cái gì con cũng hỏi ông ấy rồi mới mua, thì thuận lợi biết chừng nào. Thế mà mẹ lại không cho con đi! Mấy hôm nữa con không nói gì với nhà, cứ việc sửa soạn đi. Sang năm phát tài trở về, lúc đó mẹ mới biết tay con!
Nói xong, hắn hậm hực đi ngủ.
Tiết phu nhân liền bàn với Bảo Thoa. Bảo Thoa cười nói:
- Quả thực anh ấy muốn ra đời làm ăn đứng đắn thì cũng được đấy . Chỉ sợ ở nhà nói hay, đến khi ra ngoài lại chứng nào tật ấy, thì khó mà ngăn giữ được. Thôi mẹ chẳng hơi đâu mà lo nhiều thế. Nếu anh ấy biết sửa lỗi, thì phúc cho cả đời anh ấy; bằng không mẹ cũng chẳng còn cách nào hơn. Ta chỉ biết hết sức người thôi, còn hay dở là nhờ trời. Giờ anh ấy đã lớn rời, mẹ không cho anh ấy đi ra khỏi cửa, không cho làm việc gì, năm nay ru rú trong nhà, sang năm cũng lại thế thôi. Anh ấy đã nói, có phần danh chính ngôn thuận, thì mẹ cũng nên nghĩ kỹ, bỏ ra một nghìn hay tám trăm lạng bạc giao cho anh ấy đi thử một chuyến xem sao. Dầu sao đã có bạn buôn giúp đỡ chắc họ cũng không nỡ lửa dối anh ấy đâu. Vả lại anh ấy đi ra ngoài, bên cạnh không có ai xui giục làm bậy, không có chỗ dựa để cậy thần cậy thế. Mỗi người ở mỗi nơi thì còn ai sợ ai nữa? Có thì ăn, hết thì nhịn, chung quanh không có người nương tựa, biết thân như thế, anh ấy sẽ đỡ sinh chuyện cũng chưa biết chừng.
Tiết phu nhân ngẫm nghĩ một lúc, nói:
- Con nói phải đấy, để cho nó đi học khôn, có tốn ít tiền cũng đáng.
Đến sáng hôm sau, Tiết phu nhân sai người mời Trương Đức Huy đến, bảo Tiết Bàn thết rượu ở ngoài thư phòng, còn mình ngồi ở sau hành lang cách cửa sổ, dặn đi dặn lại, nhờ Trương Đức Huy trông nom con hộ. Trương Đức Huy vâng dạ luôn mồm. Ăn cơm xong, hắn cáo từ ra về, và nói:
- Ngày mười bốn này xuất hành rất tốt, xin cậu sắp sẵn hành lý, thuê một con lừa, đến sáng hôm ấy chúng ta cùng đi.
Tiết Bàn mừng lắm, kể lại cho Tiết phu nhân nghe.
Tiết phu nhân, Bảo Thoa và Hương Lăng cùng mấy bà già sửa soạn hành lý trong mấy ngày liền, sai bõ già của Tiết Bàn, và hai người hầu đã quen việc cùng hai đứa hầu cận đi theo, tất cả là sáu người. Thuê ba cỗ xe lớn chở hành lý, lại thuê bốn con lừa đi đường trường. Tiết Bàn cưỡi con lừa lớn màu xám của nhà nuôi, lại dắt thêm một con ngựa nữa đi theo. Mọi việc xong xuôi, Tiết phu nhân và Bảo Thoa suốt đêm khuyên bảo Tiết Bàn.
Đến ngày mười ba, Tiết Bàn sang chào mợ trước, rồi đi chào những người trong nhà họ Giả. Bọn Giả Trân cũng đều chào lại, không cần kể rõ. Đến sáng ngày mười bốn, Tiết phu nhân và Bảo Thoa tiễn Tiết Bàn ra cửa ngoài, hai mẹ con nhìn hắn đi khuất rồi mới quay về.
Khi Tiết phu nhân vào kinh, chỉ mang theo bốn năm gia đình người nhà, vài ba bà già và lũ hầu con thôi. Bây giờ trừ những người đi theo Tiết Bàn ra, ở nhà chỉ còn có vài đứa hầu trai. Vì thế, hôm đó Tiết phu nhân đến thu dọn ngay những đồ chơi và rèm màn ở thư phòng Tiết Bàn đem về, rồi gọi vợ của hai người hầu trai đi theo Tiết Bàn cũng vào trong nhà ngủ. Lại bảo Hương Lăng: “xếp đặt cẩn thận trong nhà, khóa cửa lại, tối đến lên ngủ với ta”.
Bảo Thoa nói:
- Mẹ đã có những người này ở bên cạnh rồi, nên cho chị Lăng đến ở với con. Trong vườn vắng, đêm lại dài, đêm nào con cũng làm việc, nếu thêm được một người chẳng vui hay sao?
Tiết phu nhân cười nói:
- Phải đấy, ta quên mất, nên cho nó sang ở với con là phải. Hôm đó, ta đã bảo anh con: Văn Hạnh còn bé, nói trước quên sau, một mình Oanh Nhi hầu không xuể. Cần phải mua thêm cho con một con hầu nữa.
- Không biết lai lịch mà cứ mua người về, lỡ ra không vừa ý, tốn tiền không đáng kể, lại thêm bực mình nữa. Mẹ hãy để thong thả xem đã, biết rõ người rồi sẽ mua.
Vừa nói vừa bảo Hương Lăng thu dọn chăn đệm, hòm rương sai một bà già và Trần Nhi mang đến Hành Vu Uyển, rồi Bảo Thoa và Hương Lăng cùng vào trong vườn.
Hương Lăng nói với Bảo Thoa:
- Tôi vẫn muốn nói với mẹ, khi cậu ấy đi rồi, tôi sẽ đến ở với cô . Nhưng lại sợ mẹ ngờ vực bảo tôi chỉ thích sang vườn để chơi đùa, không ngờ bây giờ cô lại nói cho.
Bảo Thoa cười nói:
- Tôi vẫn biết chị thích vườn này đã lâu, chỉ vì không có dịp thôi. Thỉnh thoảng đến một lần, chị lại vội vội vàng vàng, chẳng có thú gì. Vì thế, nhân dịp này, tôi xin cho chị ở lâu, chừng một năm. Tôi thì có thêm bạn, chị thì được thỏa lòng.
- Cô ơi! Nhân dịp này, cô dạy tôi làm thơ nhé?
- Chị thật là được đất Lũng lại mong đất Thục(*). Tôi khuyên chị hãy thong thả. Hôm nay mới đến trước hết chị ra phía cửa Đông, đến chào cụ, rồi chào tất cả mọi người, nhưng không nên nói cho họ biết vì cớ làm sao mà chị lại dọn sang ở bên vườn này. Có ai hỏi, chỉ nói là tôi bảo chị sang ở với tôi cho vui. Xong rồi chị vào vườn thăm các cô.

-------------------
( *) ý nói được cái nọ lại mong cái kia.
--------------------

Hương Lăng vâng lời, khi sắp đi, thấy Bình Nhi vội vàng chạy đến. Hương Lăng liền hỏi thăm. Bình Nhi cũng cười đáp lại . Bảo Thoa cười bảo Bình Nhi:
- Hôm nay tôi đem chị Hương Lăng đến ở với tôi, định sang nói với mợ chị đây.
- Sao cô lại nói câu ấy? Làm tôi không thể trả lời được.
- Như thế mới đúng nhẽ. “Nhà phải có chủ, đền phải có ông từ chứ”. Tuy việc không to tát, nhưng cũng phải nói qua, để những người canh gác trong vườn biết là có thêm hai người, tiện cho họ trong khi đóng mở cửa ngỏ. Chị về nói hộ, tôi khỏi phải sai người sang nữa.
Bình Nhi vâng lời, lại hỏi Hương Lăng:
- Chị đến ở đây sao không đi chào bà con hàng xóm?
Bảo Thoa cười nói:
- Tôi đang bảo chị ấy đi đấy.
Bình Nhi nói:
- Chị đừng đến nhà tôi vội, cậu Hai đương ốm nằm ở nhà đấy.
Hương Lăng vâng lời, đến chào Giả mẫu trước.
Bình Nhi thấy Hương Lăng đi rồi, liền kéo Bảo Thoa khẽ hỏi:
- Cô có nghe thấy bên nhà tôi mới xảy ra việc gì không?
- Không. Vì mấy hôm nay bận tiễn anh tôi đi, nên việc bên nhà các chị, tôi chẳng biết gì cả. Ngay các chị em mấy hôm nay tôi cũng không được gặp. .
- Ông tôi vừa mới đánh cậu ấy một trận nhừ tử. Thế mà cô không biết à?
- Sáng ngày mới thoảng nghe, nhưng tôi chưa tin là thực.Tôi định sang thăm mợ chị, lại gặp chị đến. Tại sao ông lại đánh cậu ấy thế ?
Bình Nhi nghiến răng nói:
- Chỉ vì lão Giả Vũ Thôn “Vũ xả” (*) nào ấy, bỗng dưng vác cái mặt vọ ở đâu lần đến. Mới nhận họ chưa đầy mười năm, nó đã sinh ra bao nhiêu chuyện rắc rối!
Mùa Xuân năm nay, không biết ông tôi trông thấy mấy cái quạt cũ ở đâu khi về, xem tất cả những quạt ở nhà đều không có cái nào đẹp bằng. Thế là ông tôi lập tức sai người đi tìm các nơi. Ai ngờ có một tên oan gia không sợ chết, người ta đặt đùa cho nó cái hiệu thằng “ngốc đá”. Nó nghèo xác, cơm cũng không có mà ăn, nhưng trong nhà lại có đến hai mươi cái quạt. Nó chết cũng không chịu mang ra khỏi nhà. Cậu tôi nhờ người nói lót mãi mới được gặp; nói đến hai, ba lần, nó . mới chịu mời đến nhà chơi và giở quạt ra cho xem qua một tí.
Theo lời cậu tôi, hạng quạt ấy làm bằng loại trúc Tương Phi (**), và ngọn trúc... lại đều có nét vẽ và chữ đề của người xưa.

-------------------
(*) Nguyên văn: Vũ thôn “phong thôn”
(* ) Vợ vua Thuần là Tương phu nhân. Khi vua Thuần chết. Bà khóc nhiều quá, nước mắt nhỏ vào cành trúc đến đâu thì có vần đến đấy, nên gọi là Tương phi trúc.

---------------------

Cậu tôi về trình, ông tôi liền bảo đi mua, hết bao nhiêu tiền cũng trả cho nó. Nhưng thằng “ngốc đá” nói: - “Tôi thà chết đói chết rét, chứ một nghìn lạng bạc một cái, cũng không bán”. Ông tôi không biết làm thế nào, ngày nào cũng cứ mắng cậu tôi là không làm được việc gì. Cậu ấy đã hứa đưa trước cho nó năm trăm lạng bạc, sau mới lấy quạt, nhưng nó nhất định không bán, chỉ nói: “Muốn lấy quạt thì hãy giết tôi trước đã.”
Cô thử nghĩ xem còn có cách gì nữa không? Ngờ đâu lão Vũ Thôn là hạng không có lương tâm, nghe thấy thế, liền bày mưu vu cho nó thiếu tiền công, bắt nó đến cửa quan, bảo: “Mày thiếu tiền công, phải bán gia tài để nộp”. Rồi tịch thu số quạt, tính thành quan giá, mang đi! Hiện giờ thằng “ngốc đá” không biết còn sống hay chết. Ông tôi mới hỏi cậu tôi: “Sao người ta lại lấy được về đây?” Cậu ấy chỉ nói có một câu: “Vì một việc nhỏ làm người ta khuynh gia bại sản cũng không phải là giỏi”. Ông tôi nổi giận, bảo là cậu ấy đem lời chẹn họng ông tôi. Đó là việc lớn thứ nhất. Mấy ngày sau, lại có mấy việc nhỏ nữa, tôi không nhớ hết; vì thế ông tôi góp cả tội lại, đánh cậu tôi một trận.
Chẳng biết đánh đấm thế nào, không đánh bằng roi, bằng vọt, bạ cái gì ông tôi đánh cái ấy, làm mặt cậu tôi bị toạc hai chỗ. Thấy nói bên bà dì có một thứ thuốc chữa khỏi vết đòn, nên đến nhờ cô tìm hộ cho tôi xin một viên.
Bảo Thoa sai Oanh Nhi lấy hai viên thuốc đưa cho Bình Nhi, rồi nói:
- Như thế tôi không sang nữa, nhờ chị về nói hộ, tôi gửi lời hỏi thăm.
Bình Nhi nhận lời rồi về.
Hương Lăng đi chào mọi người xong, về nhà ăn cơm chiều. Ăn xong, bọn Bảo Thoa đến cả đằng Giả mẫu, Hương Lăng liền sang quán Tiêu Tương. Bấy giờ Đại Ngọc đã đỡ nhiều rồi, thấy Hương Lăng vào ở trong vườn, tự nhiên cũng vui thêm. Hương Lăng cười nói:
- Em sang ở đây, lúc nào rỗi, đến nhờ cô dạy làm thơ thì phúc cho em lắm.
Đại Ngọc cười nói:
- Chị đã muốn làm thơ thì phải gọi tôi bằng thầy. Tôi không giỏi, cũng dạy nổi chị.
- Nếu thực thế, em xin gọi cô là thầy, xin cô đừng ngại.- Làm thơ có gì khó mà phải học? Chẳng qua chỉ có khai, thừa, chuyển, hợp, trong đó thừa và chuyển đều là hai vế đối nhau, chữ bằng đối với chữ trắc, hư đối với hư, thực đối với thực . Nếu được câu hay khác thường thì bằng trắc hư thực không cần phải đối nhau cũng được.
- Thảo nào khi rảnh, em thường lấy quyển thơ cũ ra xem
mấy bài, có câu đối nhau rất chỉnh, có câu lại không đối. Lại nghe người ta nói, các chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm không cần, chỉ có các chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu là phải rõ ràng. Xem thơ của cổ nhân, có khi đúng như thế, có khi những chữ thứ hai, thứ tư, thứ sáu lại không thế. Vì vậy lúc nào em cũng lấy làm ngờ. Bây giờ cô nói, thì ra khuôn phép ấy không cần lắm, chỉ cần lời và câu văn cho mới lạ là hay thôi.
- Đúng đấy. Nhưng lời và câu văn là việc phù du, cần nhất phải đặt từ cho sát. Nếu từ sát thực thì lời và câu văn không cần điêu luyện cũng vẫn hay. Như thế gọi là: “Không nên lấy lời hại ý”.
- Em chỉ thích câu thơ của Lục Phóng Ong (*), lời rất thiết thực:

Rèm mau không cuộn hương còn mãi,
Nghiện chơi sâu mực đọng nhiều.


- Chớ nên xem loại thơ ấy. Vì chị chưa biết làm thơ, nên thấy những câu nông cạn đã thích ngay. Nếu mắc vào khuôn sáo ấy thơ sẽ không tiến được nữa. Chị hãy nghe tôi: chị thích học, ở đây tôi có toàn tập thơ Vương Ma Cật, chị hãy chịu khó nghiền ngẫm kỹ càng một trăm bài thơ ngũ ngôn của ông ta, rồi sau đọc một trăm hai mươi bài thất ngôn của Đỗ Phủ, sau nữa là Tức Lục Du, người đời Tống, làm thơ rất giỏi, nhân lại đọc độ một, hai trăm bài thất ngôn tuyệt cú của Lý Bạch. Phải lót dạ thơ của ba thi hào ấy đã, sau mới xem đến thơ của Đào Uyên Minh, ứng Dịch, Lưu Vũ Tích, Tạ Diều, Nguyễn Tịch, Dữu Lượng, Bão Chiếu. Chị là người thông minh nhanh nhẹn, học chừng trong một năm sẽ thành nhà thơ.
- Cô ơi, đã thế cô cho em mượn sách mang về, đến đêm em đọc mấy bài.
Đại Ngọc bảo Tử Quyên đưa tập thơ ngũ ngôn của Vương Ma Cật cho Hương Lăng và bảo:
- Chị xem những bài nào có khuyên đỏ là tôi đã chọn rồi, có bài nào học bài ấy. Nếu không hiếu nghĩa, chị sẽ hỏi cô Bảo, hoặc gặp tôi, tôi sẽ giảng cho.
Hương Lăng cầm tập thơ về Hành Vu Uyển, chẳng nhìn đến công việc gì, thắp ngay đèn đọc hết bài này đến bài khác. .
Bảo Thoa mấy lần giục cũng không đi ngủ. Bảo Thoa thấy Hương Lăng mài miệt quá, đành phải để tùy ý.
Một hôm, Đại Ngọc vừa rửa mặt chải đầu xong, thấy Hương Lăng cười hớn hở đem đến giả tập thơ cũ, và mượn tập thơ Đỗ Phủ. Đại Ngọc cười nói:
- Nhớ được tất cả bao nhiêu bài rồi?
- Nhưng bài có khuyên đỏ, em đọc hết cả.
- Đã lĩnh hội được ít nào chưa?
- Em đã lĩnh hội được một ít, nhưng chưa biết có đúng không. Em nói cho cô nghe nhé.
- Cần phải nhận xét bàn bạc mới tiến được. Chị hãy nói cho tôi nghe nào.
- Cứ ý em thì những chỗ hay của bài thơ, có nhiều ý tứ không thể nói ra được, nhưng ngẫm nghĩ lại rất thiết thực; có nhiều câu thơ như là vô lý, nhưng nghĩ rất có lý có tình.
- Nói thế là chị đã có ít nhiều thi từ rồi đấy! Nhưng do đâu mà chị biết được như thế?
- Em xem bài “Ngoài cửa ải” có câu:

Bãi rộng khói đùn làn thẳng tắp;
Sông dài ác xế mặt tròn vành.


Em nghĩ khói thì “thẳng” thế nào được? Mặt trời tất nhiên là “tròn” rồi. Thế thì chữ “thẳng” như là vô lý, mà chữ “tròn” hình như rất tục. Nhưng sau gấp sách lại ngẫm nghĩ, hình như mắt trông thấy hẳn cái cảnh ấy. Muốn tìm hai chữ khác thay vào nhưng không sao tìm được. Lại còn câu:

Trắng xóa sông ngòi khi ác lặn;
Xanh lè giời đất lúc trào dâng.


Hai chữ “trắng” và “xanh” , mới nghe cũng hình như vô lý, nhưng nghĩ kỹ ra thì chỉ có hai chữ ấy mới hình dung hết được phong cảnh. Đọc lên thấy nặng chình chích như miệng ngậm quả trám ấy. Lại có câu:

Mặt trời rớt lại rơi đầu bến; .
Đám khói trơ ra bốc giữa làng.


Chữ “rớt” và chữ “trơ” sao mà họ khéo nghĩ được như vậy. Năm trước, khi chúng em lên kinh, một hôm về chiều, thuyền đậu trên bờ, người vắng, chỉ có mấy cái cây, đằng xa có mấy nhà đang nấu cơm chiều, khói bốc lên màu xanh biếc lẫn với đám mây. Ngờ đâu đêm qua đọc đến hai câu thơ này, mắt em như lại trông thấy cảnh ấy.
Đang nói chuyện thì Bảo Ngọc và Thám Xuân đến, đều vào ngồi nghe Hương Lăng nói về thơ. Bảo Ngọc cười nói:
- Đã thế thì không cần phải xem thơ nữa. Chỗ lãnh hội không phải ở đâu xa xôi, cứ nghe nói hai câu ấy đủ biết về chị đã nắm được mấu chốt của cách làm thơ rồi. .
Đại Ngọc cười nói:
- Chị bảo mấy chữ “đám khói trơ ra” là hay, nhưng chị chưa biết đó là bắt chước ý câu thơ của người trước. Tôi cho chị xem câu này, so với câu kia nhẹ nhàng và thiết thực hơn.
Nói xong, liền đưa cho Hương Lăng xem câu thơ của Đào Uyên minh:

Tờ mờ xóm làng xa,
Trơ vơ khói trên bãi
.

Hương Lăng xem rồi gật đầu khen ngợi mãi, cười nói:
- Thế thì chữ trơ là do ý hai chữ “trơ vơ” mà ra! .
Bảo Ngọc cười to nói:
- Thế là chị đã hiểu lắm rồi, không cần phải giảng giải nữa. Nếu còn giảng giải đâm ra loãng mất. Bây giờ chị cứ làm thơ đi, nhất định là hay.
Thám Xuân cười nói:
- Ngày mai tôi viết thêm một cái thiếp, mời chị vào thi xã .
Hương Lăng nói:
- Cô ơi, sao cứ trêu chọc em thế . Chẳng qua thích thơ, em học để mà chơi đấy thôi.
Thám Xuân, Đại Ngọc đều cười nói:
- Ai chẳng chơi? Không lẽ chúng tôi mới là người biết làm thơ à? Nếu bảo chúng tôi biết làm thơ, tiếng đồn ra khỏi vườn này, có lẽ người ta cười đến vỡ bụng mất!
Bảo Ngọc nói:
- Thế! mình coi rẻ mình rồi. Hôm trước tôi ra bàn việc vẽ với các ông họa sư ở ngoài kia, họ nghe thấy chúng ta mở thi xã đều xin tôi đưa tập thơ cho họ xem. Tôi viết mấy bài đưa cho họ, ai cũng phải thán phục. Họ đã chép để mang đi khắc rồi. .
Thám Xuân, Đại Ngọc hỏi:
- Có thật thế không?
Tôi mà nói dối thì cũng như con vẹt trên cây này.
- Anh thật bậy quá! Đừng nói thơ chẳng ra thơ, mà có ra thơ chăng nữa cũng không nên mang bút tích của chúng tôi ra ngoài.
- Sợ cái gì? Nếu bút tích của những người trong khuê các trước kia không truyền ra ngoài, bây giờ biết sao được những bài thơ của họ.
Chợt thấy Tích Xuân sai Nhập Họa đến mời Bảo Ngọc.
Bảo Ngọc vừa đi thì Hương Lăng lại xin đổi lấy tập thơ Đỗ Phủ, và nói với Đại Ngọc, Thám Xuân:
- Xin hai cô ra đầu bài cho em về làm thử; làm xong, nhờ hai cô chữa hộ.
Đại Ngọc nói:
- Đêm qua trăng đẹp quá, tôi đang định làm một bài, nhưng chưa nghĩ xong. Chị làm đi. Hạn vần thập tứ hàn, chị muốn dùng chữ nào trong vần ấy thì dùng.
Hương Lăng mừng quá, mang tập thơ về, nghĩ một lúc, làm được hai câu. Nhưng lại tiếc thơ Đỗ Phủ, nên mải miết đọc vài bài, không thiết đến ăn uống, nằm ngồi cũng không yên. Bảo Thoa nói:
- Làm gì chị phải đeo khổ vào mình thế ? Chỉ tại cái cô Tần cám dỗ chị, để tôi kể tội cho nó. Xưa nay chị vốn là ngớ ngẩn, giờ đến việc này, lại càng ngớ ngẩn thêm.
- Cô ơi! Cô đừng làm rầy tôi nữa.
Hương Lăng vừa nói vừa đưa bài thơ mới làm cho Bảo Thoa xem. Bảo Thoa cười nói:
- Bài này không được, không phải lối làm như thế. Nhưng đừng xấu hổ, cứ mang sang cho cô Đại Ngọc, xem cô ta bảo thế nào?
Hương Lăng cầm bài thơ sang đưa cho Đại Ngọc, Đại Ngọc xem thơ thấy:


Đêm lạnh vầng trăng đứng giữa giời,
Tròn xoe trong vắt bóng chơi vơi.
Nhà thơ hứng quá trừng đôi mắt,
Khách ẩn buồn tình lảng một nơi.
Lầu thúy gương đâu treo xế cạnh,
Rèm châu băng những giắt bên ngoài .
Đêm nay đuốc bạc chi cần đốt,
Bục vẽ lan can đã sáng ngời (*)


-----------------------
(*) Nguyên văn “Hàn”, vì hạn chế của dịch, phải dịch theo vần khác.
----------------------------

Đại Ngọc cười nói:
- Ý tứ thì có, nhưng lời không được nhã, chỉ vì chị xem thơ ít nên bị nó gò bó. Bỏ bài này đi, chị làm bài khác. Cần phải mạnh dạn mà làm.
Hương Lăng nghe nói, lẳng lặng về nhà, không buồn vào buồng, lại đến gốc cây bên bờ ao, khi thờ thẫn trên hòn đá, khi ngồi xuống vạch đất. Những người qua lại đều lấy làm lạ.
Bọn Lý Hoàn, Bảo Thoa, Thám Xuân và Bảo Ngọc đều đứng ở sườn núi đằng xa nhái mà cười. Thấy Hương Lăng lúc cau mày, lúc mỉm cười một mình, Bảo Thoa cười nói:
- Chị này nhất định điên rồi! Đêm qua chị ta lầm rầm đến tận canh năm mới ngủ. Nằm được một lúc giời sáng, đã lại thấy dậy rồi, vội vàng chải đầu sang ngay bên cô Tần. Khi về thẫn thờ một lúc, làm được một bài nhưng không hay, chắc bây giờ chị ta lại làm bài khác đấy.
Bảo Ngọc cười nói:
- Thật đúng là “đất thiêng thì người giỏi!” Trời đã sinh ra người, không bao giờ bỏ phí tính tình của người. Ngày thường chúng ta vẫn phàn nàn, tiếc cho chị ấy là người tục! Ngờ đâu bây giờ lại thế này! Mới biết trời đất rất công bằng.
Bảo Thoa cười nói:
- Anh chịu khó được như chị ấy, thì học cái gì mà chẳng thành tài?
Bảo Ngọc không trả lời. Chọt thấy Hương Lăng hớn hở chạy sang bên Đại Ngọc. Thám Xuân cười nói:
- Chúng ta đi sang đó, xem thơ của chị ta có hay không?
Liền cùng nhau đến quán Tiêu Tương, thấy Đại Ngọc đang xem và giảng giải bài thơ của Hương Lăng. Mọi người hỏi Đại Ngọc: .
- Thơ làm ra sao rồi?
- Kể ra chị ta cũng đáng khen rồi đấy, nhưng vẫn chưa được . Bài thơ này lại gọt quá, còn phải làm lại.
Mọi người xem, thì thấy:

Bạc hay là nước dọi ngoài song,
Mâm ngọc nhìn xem giữa ánh hồng.
Hương đượm hoa mai màu nhạt nhạt,
Móc tan tơ liệu sợi thòng thòng,
Thềm vàng xoa phấn thừa, đâu đấy?
Giàn ngọc dây sương nhẹ phải không?
Tỉnh giấc lầu tây người vắng ngắt,
Ngoài rèm còn đấy mảnh gương trong.


Bảo Thoa cười nói:
- Không phải là vịnh trăng. Theo từ bài này, dưới chữ trăng phải thêm chữ “sắc” nữa mới được. Chị xem đấy, câu nào cũng là vịnh “sắc” trăng cả. Nhưng thôi, xưa nay thơ vẫn là nói phiếm hết, chị cứ làm ít lâu nữa, thơ sẽ hay đấy.
Hương Lăng vẫn cho bài thơ này đã hay lắm rồi, giờ nghe nói thế, đâm ra cụt hứng, không chịu bỏ qua, lại muốn nghiền ngẫm ngay. Thấy các chị em đang cười nói, Hương Lăng ra đứng trước cây trúc dưới thềm, dốc cả tâm trí vào thơ, tai không cần nghe, mắt không cần nhìn đến những sự việc ở chung quanh. Một lúc Thám Xuân đứng ở trong cửa sổ cười nói:
- Cô Lăng ơi, hãy “nhàn nhân” một tí đã.
Hương Lăng giật mình trả lời:
- Chữ “nhàn” ở vần [thập nữ san] kia, cô nhầm rồi.
Mọi người nghe nói, cười ầm lên. Bảo Thoa nói:
- Thực là con ma thơ! Chỉ tại con Tần cám dỗ chị ấy.
Đại Ngọc cười nói:
- Thánh nhân nói “dạy người không biết chán”, chị ta cứ hỏi đến tôi, lẽ não tôi lại không bảo ?
Lý Hoàn cười nói:
- Chúng ta kéo chị ấy đến Ngẫu Hương, nhân cô Tư xem bức vẽ, để chị ấy tỉnh lại mới được.Nói xong, đứng dậy, kéo Hương Lăng đi sang Ngẫu Hương tạ. Vào đến ở Noãn Hương, thấy Tích Xuân đang mệt, nằm ngủ trưa trên giường, bức vẽ dựng cạnh vách, ngoài có the phủ. Mọi người gọi Tích Xuân dậy, mở the ra xem, thấy mười phần mới vẽ xong được ba. Trong bức vẽ có mấy vị mỹ nhân, Hương Lăng liền chỉ vào đó nói:
- Vị này là các cô, vị kia là cô Lâm. . . : -
Thám Xuân cười nói:
- Những người nào biết làm thơ, đều được vẽ vào bức tranh này, chị cố học thơ đi.
Mọi người cười đùa một lúc, rồi đâu lại về đấy.
Hương Lăng trong bụng lúc nào cũng nghĩ đến thơ. Buổi tối ngồi thờ thẫn ở trước đến cho đến hết canh ba mới lên giường nằm, hai mắt cứ trừng trừng cho đến canh năm mới ngủ được một tí.
Một lúc trời sáng, Bảo Thoa trở dậy. Lắng nghe Hương Lăng đang ngủ say, nghĩ bụng: “Chị ta trằn trọc, cả đêm không biết đã làm xong thơ chưa? Bây giờ chắc mệt, ta đừng gọi vội”.
Bỗng thấy Hương Lăng nói mê:
- Thơ xong rồi! Lẽ nào bài này lại không hay?
Bảo Thoa nghe vậy, vừa bực mình vừa buồn cười, liền gọi Hương Lăng dậy hỏi:
- Đã xong thơ chưa? Lòng thành của chị đã thấu đến trời rồi. Khéo không thơ chẳng học nổi, lại đeo cái ốm vào người đấy.
Vừa nói vừa đi rửa mặt chải đầu, rồi cùng chị em sang bên Giả mẫu.
Nguyên Hương Lăng cố chí mài miệt học làm thơ, tinh thần để cả vào đấy, ban ngày chẳng nghĩ được câu gì, chợt trong giấc mộng, lại nghĩ được cả tám câu. Rửa mặt chải đầu xong, chị ta vội vàng viết ngay ra, đem đến đình Thấm Phương, thấy Lý Hoàn cùng các chị em vừa ở bên Vương phu nhân về, Bảo Thoa nói với họ là chị ta ngủ mê cũng làm thơ. Mọi người đang cười, ngẩng đầu lên, đã thấy Hương Lăng đến rồi, liền tranh nhau xem thơ.

Hết hồi 48
HếT TậP II
Thân ái,
TSAH




Tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất .
Đăng nhập để trả lời
0