📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

THẦN THOẠI HY LẠP - VERA XMINOVA 🔒

15 trả lời, 11.028 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-11 00:58:58Mập Muội Muội>
THẦN THOẠI HY LẠP

Nguyên gốc: Bộ Lông Cừu Màu Vàng
Tác giả: VERA XMINOVA
Nhà Xuất Bản Tổng Hợp Nghĩa Bình.
Số Xuất Bản: 7ĐP/66KH - 17/XBNB
Lưu Chiểu: tháng 7 năm 1988.

[sm=1005.gif]
Mục Lục:

Truyền Thuyết PÊXÂY
Truyền Thuyết ĐEĐAN VÀ ICÁC
Truyền Thuyết HOÀNG TỬ TREDÂY
Truyền Thuyết ÔPHÊI VÀ EVRIĐICA
Truyền Thuyết HÊRĂC
+ Sự ra đời của người anh hùng
+ Hera muốn giết chết Hêrăc
+ Chọn đường
+ Chiến công đầu tiên – Hêrăc giết con sư tử.
+ Chiến công thứ hai – Hêrăc giết con thủy quái.
+ Chiến công thứ ba – Hêrăc đuổi theo con hươu.
+ Chiến công thứ tư – Hêrăc bắt sống con heo rừng.
+ Chiến công thứ năm – Hêrăc đuổi chim Xchin phan.
+ Chiến công thứ sáu – Hêrăc dọn chuồng ngựa.
+ Chiến công thứ bảy – Hêrăc thuần phục con bò.
+ Chiến công thứ tám – Hêrăc lấy con ngựa.
+ Chiến công thứ chin – Hêrăc đoạt chiếc thắt lưng của nữ hoàng Impolira.
+ Chiến công thứ mười – Hêrăc mở đường ra.
+ Chiến công thứ mười một – Hêrăc lấy quả táo vàng.
+ Chiến công thứ mười hai – Hêrăc xuống âm phủ lấy chó Xerbe về.
+ Hêrăc làm nô lệ.
+ Hêrăc giải thoát cho Prômêtê.
+ Kết thúc một đoạn đời.

-------------------------------------------------------------------------------------------

Lời Giới Thiệu

Vào khỏang những thế kỷ giữa của thiên niên kỷ I (trước CN), một vầng hào quang chói lọi bùng lên từ bán đảo Bancăng đã làm rực sáng cả chân trời bình minh của lịch sử loài người; đó là vầng sáng trí tuệ của các dân tộc sống trên đất Elađa, vầng sáng mà ngày nay, chúng ta vẫn còn nói về sự rực rỡ của nó dưới một cái tên quen thuộc: nền văn minh Hy Lạp.

Trong tiến trình lịch sử, văn minh Hy Lạp là một cột mốc lớn. Với những gì có được của nền văn minh ấy, con ngừơi đã bỏ lại sau lưng mình những chuỗi ngày hồng hoang, mông muội của thời tiền sử để bắt đầu bước tới ngưỡng cữa đầu tiên của thời đại văn minh. Không phải ngẫu nhiên mà F.Engels đã đánh giá rất cao vai trò của văn minh Hy Lạp trong lịch sử, và ông đã coi văn minh này, cùng với văn minh La mã cổ đại, là cái nôi lớn có nhiệm vụ chuẩn bị cho sự ra đời của châu Âu hiện đại về mọi phương diện.
Nếu có dịp so sánh bản đồ thế giới qua hai thời kì: cổ đại và hiện đại, các bạn sẽ thấy rằng: đất đai của người Hy Lạp ngày xưa rộng lớn hơn nhiều so với nước Hy Lạp ngày nay(1). Thuở ấy, Hy Lạp cổ đại bao gồm miền nam bán đảo Ban-căng, các đảo ở giữa biển Êgiê và cả phần ven biển phía tây của Tiểu Á. Trên vùng đất mang hình dáng tựa như chiếc đinh ba của thần biển Pôxêiđông, nhấp nhô đồi núi và dày đặc đảo nhỏ, đảo to, những người Elina, bằng sức mạnh và óc sáng tạo kỳ diệu của mình, đã để lại cho thế giới một di sản nghệ thuật đồ sộ. Đó là những quần thể kiến trúc hoành tráng, những tượng đá hoa cương sống động, những bức vẽ trên đồ gốm, những mê-lốt (2), bi kịch, những tác phẩm văn học chan chứa chất anh hùng ca, v.v…
Sự phát triển rực rỡ và tính hoàn thiện, mẫu mực của nhiều loại hình nghệ thuật đã khiến những người đời sau, dù ở trình độ văn minh cao hơn cũng đã phải thán phục, coi đây chính là “thời kỳ ngự trị của cái Đẹp và cái Hài Hòa”.

Bay bổng trên đôi cánh diệu kỳ của trí tưởng tượng, những con người Elina đã sáng tạo nên cả một kho tàng thần thoại phong phú của mình - thần thoại Hy Lạp – để giải thích về thiên nhiên và tìm hiểu về nguồn gốc của vũ trụ, nguồn gốc loài người, để nói lên ước mơ, khát vọng và đề cao những thành quả lao động trong cuộc đấu tranh gian khổ chinh phục thiên nhiên, để ca ngợi những người anh hùng, tiêu biểu cho sức mạnh của một tập thể trong thời kì chiến tranh thị tộc và khẳng định sự tồn tại tất yếu của mình trên mảnh đất quanh năm bão tố…

---
(1). Để phân biệt, ngừơi ta gọi nước Hy Lạp cổ là Elađa, và người Hy Lạp cổ là Elina.
(2). Khúc ca dành để biểu hiện tình cảm riêng, mang hình thức âm nhạc.



(Do đây là quyển sách cũ nên đã mất vài chương đầu. Xin mọi người thông cảm)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-10 01:39:44Mập Muội Muội>
Truyền thuyết PEXÂY

Thuở ấy, ở Angôxa có một vị vua mà người ta đã tiên đóan rằng sau này, ông sẽ bị chính cháu trai của mình giết chết.
Vua có một người con gái tên là Đanaia rất xinh đẹp, tiếng đồn về nhan sắc của nàng vang xa khắp Hy Lạp. Nhà vua sợ Đanaia sẽ có con trai – người giết mình sau này – nên ông quyết định không gả chồng cho công chúa. Vua ra lệnh xây dựng một lâu đài bằng đá ở sâu dưới đất với những cánh cửa bằng đồng và nhốt công chúa trong đó, không cho một người đàn ông nào nhìn thấy nàng. Nhưng chính thần Dớt vĩ đại đã dùng sét đánh tan cửa lâu đài, và trong một trận mưa vàng, Dớt xuống đất, nơi giấu Đanaia rồi trở thành chồng của nàng.
Sau đó, Đanaia sinh được một đứa con trai đặt tên là Pexây.
Một hôm, nhà vua xuống chỗ giấu con gái và nghe thấy tiếng trẻ khóc. Vua rất ngạc nhiên, mở khóa đi vào lâu đài và nhìn thấy trên tay công chúa là một chú bé xinh đẹp.
Nỗi sợ hãi đè nặng lên tâm trí nhà vua. Ông bắt đầu nghĩ cách bài trừ đi cái tai họa đáng sợ này. Cuối cùng, ông hạ lệnh cho công chúa và cậu bé Pexây vào một cái thùng lớn rồi bí mật ném ra biển.
Sóng vào gió đưa cái thùng đi khắp nơi rồi cuối cùng tấp vào đảo Xêphin. Một người đang ngồi câu cá nhặt được chiếc thùng ấy. Ông lôi nó lên bờ rồi mở nắp…
Khi biết những người bị giam trong thùng là ai và chuyện gì đã xảy ra với họ, người đánh cá thương tình dẫn hai mẹ con về nhà.
Pexây lớn lên không phải hàng ngày mà là hàng giờ. Vóc dáng của chàng cao lớn cân đối. Không một người nào ở đây có thể so sánh được với chàng về vẻ đẹp, sức mạnh và sự khéo léo. Vua ở đảo Xeriphơ nghe lời đồn về Pexây liền ra lệnh cho chàng cùng mẹ chàng vào cung. Vẻ đẹp của Đanaia đã chinh phục nhà vua. Ông ta ân cần tiếp đãi hai mẹ con rồi mời họ ở lại trong cung điện.
Một hôm, Pexây thấy mẹ khóc. Chàng hỏi và được bà cho biết là vua Xêphin đang muốn ép bà làm vợ. Đanaia tha thiết yêu cầu con trai hãy bảo vệ mình và Pexây đã trở thành tấm lá chắn vững chắc của mẹ.
Để chiếm đoạt Đanaia, vua Xêphin cho gọi Pexây đến vào bảo:
- Nay ngươi đã trưởng thành và khỏe mạnh, đã đến lúc ngươi có thể đền đáp công ơn nuôi dưỡng của ta. Ngươi hãy lên đường và mang về đây cho ta đầu con quái vật Međula.
Tuân lệnh vua, Pexây tạm biệt mẹ lên đường đi tìm con quái vật mà chàng chưa bao giờ nghe thấy.
Các vị thần đã giúp đỡ Pexây. Nữ thần thông thái Atêna đến gặp chàng trong mơ và nói cho chàng biết Međula là một trong ba chị em của quỷ Gorgôn sống ở vùng đất của thần Đêm tối. Cả ba chị em chúng đều là những con quái vật đáng sợ, nhưng ghê gớm hơn cả là quỷ Međula. Tóc trên đầu nó là những con rắn quấn quanh, cặp mắt nó nảy lửa, và bất cứ ai nhìn vào cặp mắt ấy đều hóa thành đá. Để chàng có thể chống lại được phép màu đáng sợ trong mắt quái vật, Atêna đưa cho Pexây một chiếc khiên sáng lấp lánh.
Sau đó, thần thông tin Hecmet của Dớt vĩ đại chỉ đường cho Pexây. Thần còn tặng cho chàng thanh gươm báu của mình, nó rất sắc bén, có thể chém được cả sắt, đá.
Pexây đi rất lâu về phía mặt trời lặn. Cuối cùng chàng đến được vương quốc của đêm tối. Ở lối vào vương quốc này có ba mụ phù thủy già canh giữ. Chúng chỉ có chung một con mắt và một cái răng. Vì cậy chúng phải lần lượt đưa mắt cho nhau theo thứ tự. Pexây lén lại gần ba con quỷ, chàng chờ lúc một trong ba mụ đưa mắt cho mụ kia thì giơ tay giật phắc con mắt qu‎í báu đó. Ngay lập tức cả ba mụ già mù tịt. Chúng khóc lóc van xin Pexây trả lại con mắt duy nhất cho chúng.
- Hãy cho ta vào vương quốc Đen tối và chỉ cho ta cách tìm mụ Međuda. Ta sẽ trả mắt cho – Pexây đặt điều kiện.
Mặc dù không muốn cho Pexây vào vương quốc đêm tối cũng như không muốn chỉ đường cho chàng tìm đến Međuda, nhưng trước thảm họa sẽ mù vĩnh viễn, các mụ già đành phải chấp nhận điều kiện của Pexây.
Pexây trả lại mắt cho lũ quỷ rồi tiếp tục đi. Trên đường Pexây may mắn gặp được ba nàng tiên tốt bụng. Người thứ nhất tặng chàng chiếc mũ đội tàng hình. Người thứ hai trao cho Pecxây một đôi dép có cánh, ai mang đôi dép đó thì có thể bay được trên trời như chim. Người thứ ba trao cho chàng một cái túi có thể nhỏ lại hoặc to ra theo ý muốn của người mang nó. Pexây khoác túi lên vai, xỏ chân vào đôi dép, đội mũ tàng hình rồi bay lên trời. Chẳng bao lâu chàng đến được nơi của quỷ Gorgôn. Đó là một đảo đá đen đơn độc trên mặt biển. Chàng bay trên đảo và thấy lũ quái vật đang ngủ trên vách đá.
Chúng có đôi cánh bằng vàng, đôi tay bằng đồng với những cái móng sắc nhọn như dao.
Pexây nhìn thấy quái vật Međuda, nó nằm sát biển hơn cả. Chàng hạ cánh xuống vách đá cạnh nó, những con rắn trên đầu nó rít lên. Međula ngủ nhưng mắt vẫn mở. Không thể nhìn vào đôi mắt đáng sợ của quái vật, Pexây xoay người lại. Chàng nhấc tấm khiên sáng lấp lánh như gương lên, nhìn quái vật qua gương phản chiếu rồi vung gươm chém vào đầu nó. Ngay lúc ấy, hai chị em của quái vật thức dậy. Thấy Međuda đã bị giết , chúng tức tối bay lượn tìm kiếm kẻ thù. Nhưng lúc đó Pecxây đã đội mũ tàng hình. Chàng nhanh nhẹn nhét đầu Međuda vào cái túi mầu nhiệm rồi bay trở về. Chàng vượt qua biển rồi bay trên sa mạc Libi. Những giọt máu từ cái đầu quái vật chảy ra rơi xuống cát đều biến thành những con rắn độc.
Pexây bay đã lâu, chàng thấm mệt và muốn nghỉ ngơi. Nhìn thấy phía dưới là đồng cỏ xanh rờn với những đàn cừu, đàn bò béo mập, lại thấy một khu vườn râm mát ở giữa có một cây táo mà tất cả thân, cành, lá, quả đều bằng vàng, chàng liền hạ xuống. Người chủ khu vườn có cây táo vàng là gã khổng lồ Atlat. Hắn đã được biết rằng rồi sẽ có lúc, con trai của thần Dớt sẽ đến và ăn cắp những quả táo vàng từ cây táo quý giá của hắn.
Pexây không biết điều đó. Chàng thản nhiên nói với gã khổng lồ:
- Ta là Pexây, con trai của Dớt vĩ đại. Ta đã giết quái vật Međuda. Hãy cho ta nghỉ lại khu vườn đẹp đẽ của ngươi một đêm.
Khi biết trước mặt mình chính là con trai của Dớt, gã khổng lồ tức giận quát lên:
- Thằng vô lại! Mày muốn ăn cắp những quả táo vàng của tao à? – Rồi hắn thẳng tay đuổi chàng ra khỏi vườn.
Không chịu nổi sự xúc phạm quá đáng đó, Pexây liền mở túi giơ cái đầu của quái vật ra trước mặt gã khổng lồ. Trong khoảnh khắc, gã khổng lồ biến thành một dãy núi cao, đầu của nó biến thành đỉnh núi, râu và tóc hóa thành rừng rậm, còn vai thì thành những ghềnh đá vựng đứng. Trên đỉnh núi cao là bầu trời với muôn vì sao lấp lánh. Ngày nay dãy Atlat vẫn đứng đó, gánh trên vai mình cả bầu trời mênh mông.
Còn Pexây lại tiếp tục bay.
Chàng bay qua Etiôphia và bỗng nhiên nhìn thấy trên vách đá gần bờ biển có một cô gái rất xinh đẹp. Hạ xuống thấp, chàng thấy cô gái đó còn sống, chỉ có tay là bị xiềng chặt vào vách đá. Tiến lại gần hơn, chàng hỏi:
- Nàng là ai? Tại sao lại bị xiềng thế này?
Cô gái nói rằng cô là công chúa, con gái vua Ethiôphia, bị xiềng ở đây cho quái vật ăn thịt. Nguyên là hoàng hậu mẹ nàng đã có lần khoe rằng con gái của mình còn đẹp hơn cả những nàng tiên cá. Để trừng phạt sự xúc phạm đó, thần biển Pôxâyđơn đã đưa đến vùng này một con quỷ biển chuyên ăn thịt người và phá phách mùa màng, nhà cửa của nhân dân. Dân lành bị giết hại quá nhiều, họ liền kéo đến cung điện yêu cầu vua và hoàng hậu phải quên tình riêng đưa công chúa ra làm vật hy sinh cho quái vật để cứu mọi ngừơi.
Thế là người ta xiềng công chúa vào vách đá rồi bỏ nàng ở lại một mình. Công chúa khiếp sợ nhìn ra biển, chờ đợi giây phút cuối cùng của đời mình. Và khi cái đầu của quái vật nhô lên, nàg liền hoảng hốt kêu cứu. Nghe tiếng khóc thảm thiết của con, vua và hoàng hậu chỉ biết ôm mặt khóc. Pexây nói với họ:
- Hãy gả công chúa cho ta, ta sẽ cứu nàng.
Không chút đắn đo, vua và hoàng hậu hứa sẽ gả công chúa và trao cả ngai vàng cho chàng nếu chàng giết chết quái vật, cứu được công chúa.
Pexây đi đôi dép thần vào, bay lên cao. Bóng chàng in xuống mặt nước trước mõm con quái vật, nó liền đóp ngay lấy. Khi đó, Pexây như con chim ưng lao từ trên cao xuống, lấy kiếm đâm quái vật. Quái vật bị thương, máu nhuộm đỏ nước biển. Nó điên cuồng lồng lộn phun nước lên cao làm ướt sũng đôi dép của Pexây khiến chàng không thể bay được nữa. Đúng lúc ấy nhìn thấy một tảng đá nhô lên mặt nước, chàng liền đứng xuống đó và dùng hết sức lực vung kiếm chém vào đầu quái vật. Nó quẫy mạnh cái đuôi khổng lồ lần cuối cùng và rồi chìm xuống đáy biển. Nhà vua, hoàng hậu và toàn dân Etiôphia vui mừng chào đón người anh hùng. Lễ cưới của Pexây và công chúa được tổ chức vô cùng trọng thể…
Trong bữa tiệc, Pexây hào hứng kể cho công chúa và mọi người trong hoàng tộc nghe về những chặng đường mà chàng đã trải qua. Giữa lúc đó, bỗng có tiếng ồn ào ngoài cung điện rồi một đám người mang vũ khí xộc vào cung điện. Đó là Phinê – kẻ trước kia đã đến cầu hôn công chúa cùng đồng bọn của hắn. Phinê chĩa mũi giáo vào ngực Phinê quát:
- Cút khỏi đây ngay! Tên ăn cướp!
Đồng bọn của hắn cũng chĩa mũi giáo vào những người đang dự tiệc.
Nhà vua đứng dậy ngăn bọn kia lại:
- Pexây không phải là kẻ cướp. Chàng đã cứu xông chúa thoát khỏi quái vật. Nếu các ngươi yêu nàng, tại sao các ngươi không ra bờ biển? Các ngươi đã quay đi để mặc nàng chờ chết. Vậy thì cớ gì các ngươi lại đến đòi nàng cho mình?
Phinê chẳng nói chẳng rằng phóng luôn ngọn giáo vào Pexây. Trượt rồi ! Giáo chỉ cắm vào chiếc ghế Pexây ngồi. Chàng lập tức rút ngọn giáo lên, phóng trả lại Phinê. Hắn uốn người tránh nên ngọn giáo đâm trúng một tên khác. Đó là dấu hiệu bắt đầu cho một cuộc chiến đấu đẫm máu. Mọi người sợ hãi chạy toán loạn đem theo cả công chúa. Tựa lưng vào cột nhà, với thanh gươm báu và chiếc khiên sáng lấp lánh, Pexây một mình chống đỡ với cả một đám đông thù địch. Cuối cùng, nhận thấy mình đã núng thế, chàng liền mở túi rút đầu con quái vật ra. Bọn khi hau háu nhìn Pexây nhưng chỉ trong nháy mắt, tất cả đều đờ người ra và biến thành đá. Vậy là trong cung điện nhà vua, cái duy nhất còn lại là những pho tượng đá.
Pexây cùng vợ là công chúa Anđrômet lên đường trở về đảo Xêriphơ để nộp cho nhà vua đầu quỷ Međuda như đã hứa. Đặt chân lên đảo, Pexây mới hay rằng mẹ của chàng đã phải trốn vào một ngôi đền vì không chịu lấy nhà vua.
Pexây bước vào cung điện ngay lúc nhà vua đang chè chén. Vua cứ ngỡ rằng chàng đã chết rục xương ở đâu đó rồi nên hắn vô cùng sững sốt khi thấy chàng vẫn sống trở về.
Pexây nói:
- Kẻ hạ thần đã hoàn thành công việc được giao và đã đem đầu quái vật về đây!
Nhà vua không tin, bật cười, thế là cả đám quần thần cũng phá lên cười.
Pexây liền rút đầu quái vật ra, giơ lên và nói:
- Cái mà bệ hạ yêu cầu thần phải đi lấy về đây! Hãy nhìn nó cho kĩ!
Vua nhìn vào và hoá thành đá ngay tức khắc.
Pexây không muốn làm vua đảo này. Chàng cùng vợ và mẹ lên đường về Tổ quốc.
Ông ngoại chàng, nhà vua già được biết người cháu bị quẳng xuống biển năm nào, bây giờ vẫn sống và trở về. Sợ bị giết, ông liền rời bỏ thành trốn đi nơi khác.
Pexây lên làm vua. Chàng trả lại cho Hecmet, Atêna và ba nàng tiên tất cả những báu vật mà chàng đã mượn ngày trước. Riêng đầu của quái vật, chàng đưa cho nữ thần Atêna. Từ đó đến này, nữ thần vẫn giữ nó, đặt trong cái khiên vàng.

… Bẵng đi ít lâu, một hôm ở vương quốc có cuộc thi sức mạnh giữa các tráng sĩ. Mọi người tụ tập rất đông. Vị nua già cũng bí mật đến đấu trường để xem. Trong môn ném dĩa, Pexây với một sức khoẻ kì lạ đã ném chiếc dĩa khiến nó bay đi rất xa và rơi xuống… trúng đầu vị vua già. Ông lăn ra chết. Thế là lời tiên đoán cháu trai giết ông ngoại đã thành sự thật.
Mặc dù chuyện giết người là vô tình song Pexây không thể nào quên được chuyện đó. Chôn cất ông ngoại xong, chàng giã từ vương quốc thân yêu đi đến một miền đất mới.

-----------
Pexây giết quái vật Međuda
📎 hilap001
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-11 01:05:36Mập Muội Muội>
Truyền thuyết ĐEĐAN VÀ ICÁC

Từ thuở xa xưa, khi con người con chưa biết gì về các công cụ máy móc, ở Aten có một người thợ thủ công tài hoa tên là Đeđan. Ông là người đầu tiên nghĩ ra cách làm cho tượng đá hoa cương có thể cử động được như người.
Đối với công việc của mình, ông luôn tự nghĩ và tự làm lấy các công cụ rồi dạy cho mọi người biết cách sử dụng nó. Có lần quan sát vây của con cá, ông đã nghĩ ra cách làm một cái cưa. Ông cũng nghĩ ra cách làm một cái compa để vẽ vòng tròn cho đúng, rồi cách làm và trang trí bát đĩa, chậu sành bằng các công cụ thô sơ…
Một hôm, ông cùng người cháu trai đi lên đỉnh núi cao để ngắm nhìn cảnh đẹp của thành phố. Mải mê nhìn cảnh đẹp, đứa cháu trượt chân rơi xuống vực chết, thế là người ta buộc Đeđan vào tội giết người. Đeđan vội trốn khỏi Aten. Ông lên tàu nhằm hướng đảo Corit của quốc vương Minoc.
Vua Minoc rất vui mừng bởi số phận đã dẫn đến cho ông một con người tài hoa của xứ Aten. Đức vua yêu cầu Đeđan xây dựng cho mình một lâu đài ngầm có thật nhiều phòng và những lối đi phức tạp để ai lọt vào đó rồi thì không thể tìm được lối ra. Công việc được Đeđan hoàn thành tốt đẹp, và giờ đây, trên đảo Cơrit vẫn còn vết tích của công trình vĩ đại này.
Thời gian trôi đi… Đeđan sống ở chỗ vua Minoc như một tù nhân bị giam lỏng. Ông thường ngồi trên bờ biển, dõi mắt về phía quê hương, nghĩ đến chuyện cũ mà lòng buồn rười rượi. Chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi, có lẽ chẳng ai còn buộc tội ông nữa. Nhưng Đeđan biết rằng không bao giờ vua Minoc chịu thả ông ra, và cho ông một chiếc thuyền trở về quê hương. Và cũng chẳng chiếc tàu nào dám cho ông đi nhờ vì họ rất sợ sự đuổi bắt của nhà vua. Thế là Đeđan bắt đầu suy nghĩ tìm cách trở về…
Một hôm Đêđan ngồi trên bờ biển, ngước mắt nhìn bầu trời xanh bao la và nghĩ: “Không! Đối với ta, con đường biển đã khép kín lại rồi! Chỉ có bầu trời là rộng mở đón ta, trên trời có ai đuổi bắt được ta đâu? Chim chóc có đôi cánh và nó có thể bay đi bất cứ nơi nào. Chả lẽ con người lại không bằng chim?”
Thế là ông nảy ra ‎y’ định làm cho mình một đôi cánh. Ông lấy lông của những con chim lớn, khéo léo buộc nó lại bằng những sợi chỉ rồi gắn sáp vào. Chẳng bao lâu ông đã làm được hai đôi cánh, một đôi cho ông và một đôi cho Icác – con trai ông, người đã cùng ông đi đến đảo Cơrit. Những đôi cánh được gắn chặt vào ngực.
Thế rồi cái ngày Đeđan thử đôi cánh của mình đã đến, ông hi vọng nó sẽ vỗ nhịp nhàng đưa ông lên khỏi mặt đất. Và quả , đôi cánh đã nâng ông lên trời đưa ông đến những nơi ông muốn đến. Hạ xuống đất. Đeđan lắp cánh cho con trai và dạy nó bay:
- Con phải vỗ cánh đều đặn và phải thật bình tĩnh, đừng bay sát ngọn sóng quá để không bị ướt cánh, nhưng cũng đừng bay cao quá để những tia sáng mặt trời làm sáp chảy ra. Con hãy bay đằng sau cha nhé.
Sáng sớm hôm sau họ bay ra khỏi đảo Cơrit.
Chỉ có những ngừơi đánh cá trên biển, người chăn gia súc trên đồng cỏ mới nhìn thấy họ. Nhưng mọi người cữ ngỡ rằng đấy là những vị thần có cánh đang bay lượn trên mặt đất.
Hòn đảo lớn lởm chởm đá đã ở sau lưng phía dưới họ là biển xanh mênh mông.
Mặt trời ở trên cao đang thiêu đốt mọi vật. Đeđan bay rất cẩn thận, là là trên mặt biển, luôn dõi mắt lo sợ cho đứa con trai. Còn Icác lại vô cùng thích thú với chuyến bay, cậu bay nhanh hơn cha, cao hơn cha, vỗ mạnh cánh vào không khí. Chả là cậu muốn bay nhanh hơn con chim én đang lượn, cao hơn con chim sơn ca đang hót và nhìn thẳng vào mặt trời.
Dưới cái nắng như thiêu như đốt của mặt trời, sáp bị chảy, và những chiếc lông vũ rơi lả tả. Icác cố giang hai tay để giữ thăng bằng cho khỏi ngã, nhưng muộn rồi! Không một cái gì có thể giữ cậu bé trên không được nữa, cậu rơi xuống và mất hút trong làn nước sâu thẳm.
Đeđan nhìn quanh – không thấy con trai trên bầu trời xanh; nhìn xuống biển, ông chỉ thấy những chiếc lông vũ dập dờn trên sóng.
Đeđan vô cùng tuyệt vọng và đau đớn, việc làm đầu tiên của ông khi đặt chân xuống hòn đảo quê hương là bẻ gãy đôi cánh, nguyền rủa công trình sáng tạo kỳ diệu của mình. Vì công trình ấy mà con trai ông chết.
Câu chuyện tuy bi thảm nhưng mọi người nhớ mãi chuyến bay đầu tiên này. Từ đó đến nay, trong tâm hồn của họ vẫn luôn mơ ước chinh phục được bầu trời, làm chủ khoảng không bao la.



📎 hilap003
0
woa mập muội muội kiếm được cuốn truyện hay quá, Horus thích lắm à... Nhỏ tới giờ khoái mấy truyện nào có tiên có thần lắm, khoái coi sư tích mấy vị thần nữa hihi hồi nhỏ mê thần thoại Hy Lạp lém à........hihi sẵn tiện nếu mập muội có thần thoại của mấy nước khác nữa thì post lên dùm hén[:D]....mà mấy cái hình này là mập muội lấy trong truyện lên luôn á, từ 1988 mà còn rõ ghê há chắc mập muội giữ kỹ lắm hén[:D]
0
Truyền thuyết HOÀNG TỬ TREDÂY

Mặc dù tuổi đã cao, Đức vua Ehêi vẫn chưa có con. Nhà vua đã hai lần lấy vợ nhưng các hoàng hậu chẳng sinh được cho nhà vua một đứa con nào. Nhà vua vô cùng buồn bã. Không biết tại sao mình lại hiếm hoi đến vậy, ông đã đem điều đó đến hỏi một nhà tiên tri. Tuy nhiên câu trả lời của nhà tiên tri lại rất bí ẩn khiến vua Ehêi không sao hiểu được.
Nghe đồn ở vương quốc Treden có một nhà thông thái già tên là Piphêi, Đức vua liền đi đến đó nhờ nhà thông thái giải đáp hộ điều bí ẩn ấy.
Piphêi đã giải thích lời tiên đoán như sau: vua sẽ có con trai, và người con trai đó sẽ trở thành một người anh hùng lừng lẫy tiếng tăm. Đức vua rất vui mừng, và để điều tiên đoán đó sớm trở thành sự thật, vua đã cưới vợ lần thứ ba. Lần này vua cưới chính con gái của nhà thông thái rồi khắc khoải mong chờ sự ra đời của đứa con.
Bỗng nhiên vua Ehêi nhận được tin cấp báo: nhân lúc nhà vua đi vắng, kẻ thù đang lăm le xâm lược đất nước, Đức vua cần phải quay về ngay. Nhưng còn vợ con? Vị vua già muốn để vị anh hùng tương lai sinh ra tại đây, và thành phố này được ca ngợi cùng những chiến công của chàng. Trước khi rời khỏi Treden, nhà vua chôn thanh gươm và đôi hài của mình dưới một tảng đá lớn trong vườn thượng uyển rồi nói với vợ:
- Khi con trai của ta đã trưởng thành và đủ sức mạnh có thể nhấc nổi hòn đá này lên, nàng hay trao thanh gươm và đôi hài của ta cho nó rồi để nó đi đến chỗ ta. Những thứ này sẽ là vật làm tin để ta nhận ra con trai của mình.
Thế rồi Đức vua trở về quê hương.
Chẳng bao lâu, hoàng hậu sinh được một người con trai đặt tên là Tredây. Tredây lớn lên trong lâu đài của Piphêi, ông đã dạy cho cậu bé tất cả những gì con người cần phải biết trong cuộc sống. Khi Tredây tròn mười sáu tuổi, mẹ cậu dẫn cậu đến trước tảng đá lớn và nói:
- Dưới tảng đá này là món quà cha con để lại cho con. Con hãy nhấc nó lên và lấy những vật mà cha con giấu ở dưới đó.
Chàng trai, bằng sức mạnh của đôi tay, đã nhấc bổng tảng đá nặng và ném nó sang một bên, lấy lên thanh gươm và đôi hài. Lúc đó người mẹ mới cho con biết cha cậu là ai. Bà trao thanh gươm và đôi hài cho con, rồi nói cha cậu sẽ nhận ra cậu nhờ những vật báu đó.
Tredây muốn mau chóng được gặp cha nên ngay ngày hôm đó, cậu tạm biệt mẹ và ông ngoại rồi lên đường. Ngừơi mẹ muốn chàng đi đường biển bởi đường biển sẽ an toàn hơn đường rừng – nơi đầy rẫy thú dữ và những tên cướp độc ác thường rình rập, giết hại khách bộ hành.
Nhưng Tredây đã chọn con đường xuyên qua rừng, và chàng đã lập được những chiến công van dội trên đường đi. Đến một miền đất xa lạ, chàng gặp một người khổng lồ thọt chân có cánh tay vạm vỡ đang đi khập khễnh trên đường.
Vừa nhìn thấy Tredây, gã khổng lồ thét lên giận dữ:
- Ê, thằng kia, khôn hồn thì quay trở lại ngay!
Tredây ngạc nhiên hỏi tại sao chàng phải quay lại?
Huơ tay lên trên đầu, gã khổng lồ trả lời:
- Hãy trở lại nơi mày đã đi và nói với mọi người là ta, Pêriphet không cho phép kẻ nào đi qua đây. Thề với những ngón tay mà thần Hêphê đã rèn cho ta: mi không bước thêm được bước nào nữa đâu!
Nói xong, gã khổng lồ vung vẩy những ngón tay bằng sắt của mình làm nó phát ra tiếng kêu rít khủng khiếp, đất đá bay mù mịt. Không thể quay trở lại. Tredây lao vào tấn công tên khổng lồ nhanh đến nỗi hắn không kịp đánh trả lại. Rồi chàng ôm choàng lấy đôi tay sắt của hắn, bẻ quặt lại đằng sau và ghì chặt cứng. Pêriphet đánh rơi đôi bàn tay sắt, hắn phải cuối xuống nhặt. Nhân cơ hội đó Trêdây đạp mạnh vào chân của tên khổng lồ, quật ngã rồi giết hắn bằng một nhát gươm. Sau đó, gạt xác tên khổng lồ sang một bên, nhặt lấy bàn tay sắt của hắn. Vui mừng với chiến công của mình, chàng tiếp tục lên đường, nhưng đấy mới chỉ là thử thách bước đầu của chàng tai.
Tới Ixtme, khi đi ngang qua khu rừng thông rậm rạp, chàng trai nghe thấy dường như trên những ngọn thông cao, lũ ác điểu đang xâu xé một vật gì đó. Bỗng nhiên gã khổng lồ hung dữ tên là Xinhic xuất hiện. Hắn xông vào trói chặt tay chân chàng trai.
- Mày có nhìn thấy hai cây thông cao chọc trời kia không? – Gã khổng lồ nói với Tredây – Tao sẽ vít ngọn nó xuống sát đất, buộc tay chân mày vào rồi thả cho nó bật lên. Đó là luật lệ mà tao đặt ra cho bất kì ai bước vào khu rừng nào. Không phải vô cớ mà người ta gọi tao là “cây thông ăn thịt người” đâu.
Nói xong, gã khổng lồ vít hai ngọn thông xuống, bẻ cong nó lại, không thèm chú tâm đến người tù của mình.
Tredây dùng răng lôi thanh gươm của cha ra, cắt đứt sợi dây trói rồi thật khẽ khàng, chàng tiến đến sau lưng gã khổng lồ. Khi ngọn của hai cây thông hạ xuống gần đất, gã khổng lồ giẫm chân xuống. Tredây với tất cả sức mạnh chộp lấy hai tay hắn buộc vào cành cây, rồi chàng uốn thẳng cây thông ra. Thế là nó bật lên, xé tan xác gã khổng lồ ghê tởm.
Ra khỏi khu rừng quái đản đó, Tredây tiếp tục lên đường, chàng đi đến bờ biển. Bên vách đá lởm chởm có gã khổng lồ Xkhirôn đang ngồi bắt mọi người qua lại rửa chân cho hắn. Tredây nhìn thấy rất nhiều bộ xương người trên bờ, còn dưới nước là con rùa vàng khổng lồ. Chàng trai hiểu điều gì đang đe dọa tính mạnh mình. Chàng giả vờ như đang tìm cách múc nước ở dưới biển lên để chuẩn bị rửa chân cho Xkhirôn. Gã khổng lồ nhấc chân lên nhưng không phải để rửa mà để đạp chàng trai xuống biển, như gã vẫn thường làm từ trước đến nay. Tredây nhanh nhẹn túm ngay lấy chân gã , rồi dùng hết sức ném gã xuống biển cho con rùa xé xác. Diệt trừ xong gã cướp đường khổng lồ, Tredây tiếp tục đi.
Cách Elépxin không xa, chàng trai lại phải đánh nhau với đại lực sĩ Xépkion – người được mệnh danh là bất khả chiến bại. Tredây trẻ, khỏe, nhanh nhẹn, ngay từ thuở ấu thơ đã được ông ngoại truyền dại võ nghệ tinh thông. Còn Xépkion thì vụng về, chỉ quen ức hiếp kẻ yếu. Do vậy trong trận chiến đấu, Tredây nhanh chóng hạ sát kẻ thù.
Đến tối, một người bỗng ra chặn đường Tredây và ngọt ngào nói:
- Chàng trai ơi, một mình đi trên đường vắng vẻ nguy hiểm lắm. Hãy ghé vào nhà tôi ăn tối và nghỉ lại. Nhà tôi luôn mở rộng cửa đón khách qua đường, giường ngủ tôi đã chuẩn bị sẵn cho chàng.
Nghe bùi tai, Tredây vui lòng đi cùng hắn về nhà. Hắn chính là tên cướp quỷ quyệt độc ác. Hắn dụ dỗ khách đi đường, lừa họ nằm vào chiếc giường của hắn rồi giết chết.
Hắn cũng rắp tâm hại Tredây như vậy nhưng người anh hùng trẻ tuổi đã nhìn thấy chiếc giường đẫm máu và xung quanh là những khúc thân người. Tredây vô cùng tức giận chàng túm lấy tên cướp ném hắn vào chiếc giường đáng nguyền rủa rồi vội vã ra khỏi căn nhà.
Sau bao nhiêu chặng đường, cuối cùng chàng đã đến được vương quốc của cha và đi vào kinh đô. Khi chàng đi trên đường phố, những người dân Aphina ngạc nhiên nhìn chàng: bộ quần áo chàng mặc rất dài, còn tóc thì để xõa đến ngang vai, trông chàng thật giống một cô gái. Mọi người trên quãng trường đều cười nhạo chàng. Tredây tức giận, chàng với lấy một cỗ xe ngựa không có người ngồi, rồi với một sức mạnh khủng khiếp, và ném nó về phía họ. Lúc ấy, mọi người mới nhận ra đó không phải là một cô gái mà là một anh hùng trẻ tuổi có sức mạnh vô song. Họ vội vàng dẫn chàng đến cung điện của Đức vua. Đức vua Ehêi đã già yếu lắm rồi. Trong cung thất mọi việc đều do mụ phù thủy Međia cai quản. Trước kia mụ ta là vợ của chàng Iadôn, đã xin đến ẩn náu tại vương quốc này và hứa làm cho vua trẻ được lại. Međia đoán ngay được rằng chàng trai mới đến kia đích thị là con trai của nhà vua. Tredây đến Aphina là ở đây tất sẽ có nhiều thay đổi. Mụ hiểu rằng quyền lực của mụ ở đây thế là hết. Vì vậy mụ quyết định giết bằng được Tredây.
Khi mọi người báo với Đức vua là có một người lạ mặt từ một nước khác đến muốn gặp Đức vua, Međia liền nói với Đức vua rằng kẻ thù phái kẻ lạ mặt đó đến để ám hại nhà vua.
Đứng cạnh cha bên chiếc bàn ăn, Tredây chờ đợi phút được ôm lấy người cha yêu dấu. Nhưng Međia đã ra hiệu cho Đức vua, rồi bằng một nụ cười xảo quyệt, mụ đưa cho Tredây chén rượu có thuốc độc. Tredây rút thanh kiếm của cha ra, giả như chuẩn bị cắt bánh mì. Đức vua nhận ra thanh kiếm và hiểu rằng chàng trai mới đến này chính là con trai mình. Kinh hoảng tột độ, nhà vua giằng lấy chén ruợu trong tay chàng, ném nó xuống sàn rồi ôm lấy con trai. Thấy âm mưu của mình thất bại, mụ phù thủy Međia liền biến khỏi cung điện.
Đức vua giới thiệu con trai mình với mọi người – nhà vua tương lai của họ - rồi tổ chức một bữa tiệc lớn chào mừng cuộc ngộ.
Nhưng sự xuất hiện của Tredây – người kế vị trẻ tuổi lại làm cho bọn giặc ngoại xâm từ lâu chờ đợi cái chết của vị vua già vô cùng tức giận. Khi sự chờ đợi đã trở thành vô ích, chúng quyết định dùng sức mạnh để xâm lược Aphina.
Trong cuộc xâm lược này, quân địch chia làm hai mũi. Mũi thứ nhất giàn trận trước cổng thành để nghi binh, còn mũi thứ hai đông hơn nhiều thì bí mật vòng về phía sau thành đánh tập hậu.
Biết được âm mưu của kẻ thù, Tredây cho tập trung quân bất ngờ mai phục ở cổng sau, tiêu diệt sạch bọn chúng. Còn cánh quân phía trước, khi biết được thất bại của đồng bọn vô cùng hoảng sợ và bắt đầu tháo lui. Thế là bằng trí thông minh, sức khoẻ và lòng dũng cảm, Tredây đã cứu được cha và cả vương quốc khỏi thảm họa xâm lược.
oOo
Một buổi sáng, Tredây bị đánh thức bởi những tiếng ồn ào ngoài phố, và chàng hết sức kinh ngạc khi thấy cả kinh thành đang ở trong tình trạng cực kỳ rối loạn. Sau đó, chàng được mọi người kể cho biết rằng: trước đây, trong một buổi lễ hội ở Aphina, người ta đã tổ chức nhiều cuộc thi giữa các chàng trai về sức mạnh, sự nhanh nhẹn và tài khéo léo. Con trai của vua Minoc ở đảo Cơrit đã chiến thắng tất cả các đấu sĩ ở Aphina. Vua Ehêi không chịu nổi điều đó. Nhà vua đã yêu cầu kể chiến thắng phải chứng minh sức mạnh thực sự của mình bằng cách thuần phục được một con bò mộng hung dữ, điều mà chưa một ai có thể làm được. Kết cục, con bò mộng đã xéo nát con trai vua Minoc. Được tin ấy, vua Minoc tức thì phái một đội chiến thuyền hùng mạnh đến Aphina, bao vây kinh thành. Những người dân Aphina không chịu nổi cuộc bao vây khốc liệt ấy – cái đói đã buộc họ phải đầu hàng. Sau đó, vua Minoc đã đặ ra một điều kiện kinh khủng: cứ chín năm một lần, Aphina phải bắt bảy cô gái đẹp nhất và bảy chàng trai khỏe mạnh nhất đưa đến Cơrit làm vật cống nạp.
Mọi người kể tiếp:
- Bên bờ biển của vương quốc Cơrit có một tòa lâu đài rất lớn bằng đá hoa cương do nhà kiến trúc nổi tiếng người Hy Lạp và Đêđan xây dựng. Lâu đài này có vô số gian phòng với những lối đi vô cùng ngoắt ngoéo. Ai đã vào cung điện này thì chỉ đi vòng quanh mãi mà không thể nào tim được lối ra. Giữa lâu đài có một con quái vật đầu bò chuyên ăn thịt người tên là Minôta. Người ta nói rằng đó chính là con trai của vua Minoc, và để che dấu nỗi nhục đẻ ra quái vật của mình, vua Minoc đã ra lệnh xây lâu đài này.
Hôm nay chính là thời hạn khủng khiếp ấy. Đội thuyền của Minoc với những cánh buồm đen đã đậu kín bến cảng. Tiếng than khóc vang lên từ những ngôi nhà có người thân phải ra đi.
Một đám đông dân chúng kéo đến cung điện. Họ nói với vua Ehêi:
- Chúng tôi phải đem con mình nạp cho quái vật, còn con của ngài vẫn được ở lại bên ngài, ngài không chia xẻ nỗi đau khổ đó với chúng tôi sao?
Tất nhiên Tredây không thể chịu được những lời quở trách ấy.
- Ta đã chuẩn bị sẵn sàng. – Chàng nói với những người dân Aphina – Hãy thay thế ta vào một trong số những chàng trai bị cống nạp và để ta cùng đi với họ đến đảo Cơrit. Mọi người cứ an tâm, chúng ta không chết đâu, ta sẽ giết chết con quái vật đầu bò ấy và đem lại tự do vĩnh viễn cho mọi người, giải thoát đất nước ra khỏi sự chống nạp ghê tởm đó.
Vua Ehêi rất lo sợ khi nghe con trai nói như vậy. Ông van xin chàng hãy ở lại Aphina và ra lệnh cho các thần dân không được cống nạp vị vua tương lai của họ. Tredây hết lời an ủi cha. Chàng hứa nhất định sẽ chiến thắng trở về và hẹn với người cha đang đau buồn là: nếu còn sống, khi trở về chàng sẽ treo lên chiếc thuyền của mình một cánh buồm trắng để từ xa, nhà vua đã nhìn thấy dấu hiệu chiến thắng của con trai.
Ngày ra đi, bảy chàng trai và bảy cô gái xuống thuyền đi đến đảo Cơrit với cả nỗi khiếp sợ, hãi hùng và niềm hy vọng mong manh.
Khi chiếc thuyền của Aphina cập đảo Cơrit, vua Minoc lập tức ra lệnh đưa những người cống nạp đến lâu đài của hắn. Những người Aphina đi dọc theo bờ biển. Tredây dẫn đầu, trông chàng vẫn ung dung, trên khuôn mặt thanh tú không hề gợn một chút lo lắng.
Trong cung điện, Minoc bắt đầu miệt thị những người Aphina và toan làm nhục một cô gái. Hành động thô bỉ của hắn đã bị Tredây ngăn lại.
- Ngươi là ai mà dám chống lại ta: vua của vương quốc Cơrit con trai của Dớt vĩ đại? – Minoc tức giận quát lên.
Tredây kiêu hãnh trả lời:
- Ta là con vua Ehêi, và thần biển Pêxâyđôn chính là người bảo mệnh của ta từ thuở bé.
Ariana, con gái của Minoc, một cô gái đẹp tuyệt trần rất kinh ngạc khi nghe thấy những lời ấy. Nàng đã nhận ra người nói là chàng Tredây nổi bật trong đám tù nhân, và nàng đã mê ngay vẻ đẹp cứng cỏi gan góc của chàng khi dám đứng ra bênh vực người bạn gái. Trong thâm tâm, nàng chỉ muốn được làm cô gái kia… Thế rồi trong tim nàng bốc cháy một ngọn lửa tình yêu. Nàng vô cùng sợ hãi khi nghe cha chàng nói với nụ cười độc ác:
- Nếu quả thật thần Biển là người bảo trợ ngươi thì hãy để ông ta tìm giúp ngươi chiếc nhẫn này!
Tháo chiếc nhẫn vàng, vua Minoc ném xuống biển sâu. Tredây dũng cảm lao xuống nước. Một tiếng kêu sợ hãi khẽ thốt ra từ miệng Ariana… Tất cả đều im lặng nhìn xuống biển, chờ đợi… Thời gian trôi đi nặng nề, không ai có thể hi vọng chàng trai quay lên được nữa.
Dưới biển sâu, những ngọn sóng đã cuốn chàng trai ra xa rồi đưa chàng vào cung điện của vua Thủy Tề. Nơi đây Đức vua và hoàng hậu đón chàng rất niềm nở, trao lại cho chàng chiếc nhẫn của Minoc rồi cho người đưa chàng trở lại bờ biển, nơi mọi người đang nóng lòng chờ đợi. Đứng trước mặt vua Minoc , Tredây thản nhiên chìa cho hắn chiếc nhẫn. Những người tù Aphina reo hò vui sướng, còn những người dân Cơrit thì rất lấy làm lạ, tụ tập đứng rất đông quanh chàng.
Vua Monoc hạ lệnh mau chóng đem tù nhân đến lâu đài và giam họ ở đó. Nàng Ariana quyết đinh phải cứu Tredây. Khi bảy chàng trai và bảy cô gái bị dẫn đến lâu dài, Ariana đã đứng chờ ở cổng. Nàng đưa cho Tredây một cuộn chỉ và dặn chàng phải mắc vào mỗi căn phòng mà chàng đi qua. Tredây nghe kỹ lời dặn của Ariana rồi dũng cảm tiến vào lâu đài.
Thế rồi họ đi đến chổ ở của quái vật Minôta. Nhìn thấy con quỷ quỷ đầu bò, các chàng trai và cô gái vô cùng khiếp hãi, họ lùi cả lại phía sau. Một mình Tredây xông đến chỗ quái vật, và một trận chiến đấu quyết liệt đã diễn ra. Cuối cùng Tredây đã giết chết được quái vật. Các chàng trai hân hoan vây quanh Tredây, còn các cô gái thì ôm lấy nhau mà khóc vì sung sướng. Sau đó, theo sợi chỉ cứu tinh của nàng Ariana, họ trở lại đi qua những gian phòng rắc rối và cuối cùng, ra khỏi tòa lâu đài bình yên.
Ariana đón họ ở cổng. Nàng cùng mọi người đi về phía cửa biển, nơi con thuyền của họ đang nằm đó. Nàng biết cha sẽ vô cùng tức giận khi biết được chiến thắng của Tredây và sự chạy trốn của đoàn tù binh Aphina. Thế nào rồi vua cũng cho thuyền đuổi theo. Vì vậy, nàng bày cách cho Tredây và các bạn của chàng trước khi lên thuyền của mình phải đục thủng hết đáy thuyền của Cơrit đang đậu trên bãi.
Arina lên thuyền đi theo những ngừơi tù, lòng đầy hi vọng là tình yêu của mình sẽ được Tredây đáp lại.
Trên đường đi, họ phải ghé lại đảo Naxốc để nghỉ ngơi cho lại sức vì đã lâu họ không được ngủ và rất mệt mỏi.
Nửa đêm, Tredây nghe thấy một giọng nói huyền bí ra lệnh cho chàng phải để lại nàng Ariana trên đảo. Không dám sai lời, Tredây đánh thức các bạn dậy và họ lặng lẽ xuống thuyền rời đảo Naxốc, để lại nàng Ariana xinh đẹp.
Buổi sáng thức dây, Ariana nhận thấy mọi người đã ra đi. Nàng chạy đến bờ biển thảm thiết gọi Tredây và đau đớn nhìn theo cánh buồm đen cứ khuất xa, khuất xa mãi… Trong tột cùng thất vọng, nàng ngã vật đầu xuốn đất, cầu xin thần linh mau mau cho cái chết đến đem mình đi. Giữa lúc đó, thần Đianhich xuất hiện trước mặt nàng, an ủi rồi xin cưới nàng làm vợ. Thần hứa sẽ cho nàng trở thành bất tử và tặng nàng một vòng hoa kết từ những ngôi sao lấp lánh. Ariana buồn bã đặt vòng hoa lên bầu trời, ở đó nó cứ lấp lánh và chiếu sáng mãi giữa các chòm sao.
Tredây trở về Aphine. Gió thuận thổi phần phật trên cánh buồm đen, những ngọn sóng vuốt ve mạn thuyền. Ngồi ở mũi thuyền, Tredây nhìn màn sương đang che phủ đảo Naxốc và trong lòng chàng trào lên niềm hối hận. Chàng nhớ đến nàng Ariana xinh đẹp, người đã hết lòng giúp đỡ chàng và các bạn trong lúc nguy nam, vậy mà khi thoát nạn, họ lại đang tâm bỏ nàng ở lại một mình trên hòn đảo xa lạ… Đắm mình trong u sầu, Tredây quên cả lời hứa với cha là thay cánh buồm đen bằng cánh buồm trắng.
Vua Ehêi ngày đê, trông ngóng con trai trở về. Vị vua già yêu ngày ngày ngồi bên bờ biển, dõi nhìn và thấp thỏm lo âu, chờ đợi. Cuối cùng, ông nhìn thấy ngoài khơi xa thấp thoáng một cánh buồm, nhưng nó không phải là canh buồm trắng mà là cánh buồm đen – dấu hiệu của sự chết chóc. Mắt vua Ehêi tối sầm lại, trong cơn tuyệt vọng ghê gớm, ông lao đầu xuống biển tự tử.
Thuyền cập bến! Khi Tredây đặt những bước chân của mình lên mảnh đất quê hương cũng là lúc anh nhận được tin dữ về cái chết của cha. Đó là sự báo thù của số mệnh. Tredây buồn bã lên làm vua ở Aphia. Còn nơi mà Ehêi thất vọng lao đầu xuống, ngay nay người ta gọi là biển Ehêi (hay Êgiê vùng biển nằm giữa đất Tiểu Á và Hy Lạp mà phía nam của nó là đảo Cơrit, và xa hơn chút nữa, giáp mạn bờ biển Tiểu Á về phía đông là đảo Síp).
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-13 00:42:35Mập Muội Muội>
To Horus: tặng bạn bịch bánh hen [sm=cwm39.gif] vừa[sm=eat.gif] vừa đọc[sm=1005.gif]. truyện còn cũng kha khá. Sau này type hổng nổi nhờ Horus phụ nhen.
Horus thích là 3M vui rồi. [:)]

-----------
Hình minh hoạ: Truyền thuyết HOÀNG TỬ TREDÂY

Cha con xum họp.
Vào hang của con quỷ đầu bò.





📎 hilap004|hilap005|hilap006
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-13 00:42:59Mập Muội Muội>
Truyền thuyết ÔPHÊI VÀ EVRIĐICA

Ôphêi là một danh ca nổi tiếng. Món quà tuyệt diệu của chàng là những bài hát, niềm vinh quang của chàng bay khắp nước Hy Lạp.
Cảm động trước những bài hát của Ôphêi, nàng Evriđica xinh đẹp đã yêu và trở thành vợ chàng. Nhưng hạnh phúc của họ lại quá ngắn ngủi…
Một hôm, hai người đi vào rừng chơi. Ôphêi say sưa đàn và hát, còn nàng Evriđica thì mê mải hái hoa. Vô tình nàng đi dần vào rừng rậm. Bỗng nàng cảm thấy như có ai đó đang đuổi theo mình. Sợ hãi, nàng vứt hoa đi rồi chạy trở lại chỗ của Ôphêi. Trong lúc vội vàng nàng sa chân vào một tổ rắn độc. Những con rắn lập tức quấn quanh chân nàng… Evriđica kêu lên đau đớn rồi ngã vật xuống cỏ. Nghe từ xa văng vẳng lại tiếng kêu thảm thiết của vợ, Ôphêi vội vã chạy đến. Nhưng muộn quá rồi! Đôi cánh thần chết đã cướp Evriđica đưa về thế giới bên kia.

Nỗi đau của chàng Ôphêi thật vô hạn. Chàng xa lánh mọi người và đi lang thang trong rừng, suốt ngày thổ lộ nỗi niềm của mình qua lời hát. Những bài hát của chàng có sức hấp dẫn kỳ lạ: cây cối đứng im, thú dữ chui ra khỏi hang, chim chóc rời khỏi tổ ấm cả những tảng đá cũng nhúc nhích đến gần để lắng nghe chàng thổ lộ tình yêu bất hạnh của mình.
Chàng trai không xóa được nỗi buồn ngày càng trĩu nặng trong tâm hồn.
- Không, ta không thể sống thiếu Evriđica được. – chàng nói – Không có nàng, cuộc sống của ta thật vô nghĩa. Cứ để thần chết đem ta vào vương quốc của Diêm vương, ta sẽ gặp lại ngừơi vợ yêu quí của ta.
Nhưng thần chết không đến. Chàng trai quyết định đi tìm đường xuống cõi âm. Chàng đi rất lâu, cuối cùng, dưới một cái hang sâu thẳm, chàng tìm thấy đường dẫn đến con sông Đen – ranh giới giữa trần gian và âm phủ.
Ôphêi đứng trên bờ nhìn dòng nước đen ngòm cuộn chảy. Chàng trông thấy những cái bóng đen mờ ảo đang rên rỉ than khóc – đó là những linh hồn đang chờ đợi con đò của lão Kharôn.
Lão Kharôn đã chống đò sang. Ôphêi gặp lão ta, năn nỉ:
- Hãy chở giúp tôi qua bờ bên kia.
Nhưng Kharôn từ chối:
- Ta chỉ chở ngừơi chết thôi, mà ngươi thì đang còn sống…
- Hãy thương tôi với! Tôi khống muốn sống nữa, một mình ở lại trên đời thật là bất hạnh. Tôi muốn nhìn thấy người vợ yêu quí của tôi.
Lão lái đò thô bạo gạt Ôphêi ra và nhổ sào. Không biết làm gì nữa, chàng trai thẫn thờ lên phím đàn và bắt đầu hát. Những âm thanh buồn bã, êm dịu cất cao đến nỗi chính Kharôn cũng ngây người lắng nghe và mũi lòng cho Ôphêi xuống thuyền, chở chàng qua sông.
Lên bờ, chàng vừa đi vừa hát. Những bài hát cháy bỏng sức sống về một tình yêu bất diệt, về niềm hạnh phúc và đau khổ… làm cho cả âm phủ xúc động. Chàng đi vào cung điện của Diêm vương mà không gặp trở ngại gì.

Trong căn phòng rộng, Diêm vương uy nghi ngồi trên ngai vàng, bên cạnh là hoàng hậu Pêxêphôna xinh đẹp. Thần chết với đôi cánh và lưỡi hái sáng quắc trong tay đứng sau lưng diêm vương, còn xung quanh thần chết là một lũ quỷ luôn sẵng sàng bay lên mặt đất cướp linh hồn của con người. Ở một chỗ khác, những quan tòa của Diêm vương đang xử tội các linh hồn vì những việc làm độc ác của họ nơi dương thế. Với chiếc roi làm bằng nhiều con rắn, các quan tòa quất túi bụi vào người phạm nhân, tùy theo tội lỗi của họ.
Diêm vương giận dữ nhìn Ôphêi mọi người xung quanh đều run lên khiếp sợ. Nhưng Ôphêi vẫn bình tĩnh đến trước mặt vị chúa tể của cõi âm phủ và nâng đàn cất giọng hát về tình yêu của mình với Evriđica, về nỗi đau thương, luyến tiếc người vợ trẻ sớm phải lìa đời chưa có được hạnh phúc làm mẹ… Lời ca xúc động, bi ai và chua xót của Ôphêi làm cho hoàng hậu Pêxêphôna phải rơi nước mắt, Diêm vương phải cuối đầu trầm ngâm thở dài.
Ôphêi ngừng hát, cả cung điện chìm trong im lặng.
Rồi Diêm vương hỏi:
- Ngươi muốn gì hỡi chàng ca sĩ? Ta hứa sẽ thực hiện lời thỉnh cầu của ngươi.
- Muôn tậu! Cuộc sống của chúng tôi trênt rần gian thật ngắn ngủi, đến một lúc nào đó tất cả mọi ngươi đều bị thần chết mang xuống xức sở âm u này. Không ai thoát khỏi điều đó. Nhưng tôi còn sống và lặn lội xuống đây chỉ với một lời cầu xin: hãy trả lại người vợ Evriđica yêu quí cho tôi. Nàng đã bị đòi xuống đây quá sớm… Xin ngài hãy cho nàng trở về dương thế để thấy ánh sáng mặt trời, được tắm trong hương hoa của đất và được hưởng tình yêu hạnh phúc.
Hướng về phía hoàng hậu, chàng nói:
- Xin lệnh bà hãy gia ân cho, hỡi nữ thần xinh đẹp! Chính lệnh bà đã biết cuộc sống trên trần gian đẹp biết dường nào. Hãy giúp Evriđica trở về với tôi.
- Thôi được! – Diêm vương nói – Ta sẽ cho Evriđica trở về với ngươi. Ngươi có thể đưa Evriđica đi nhưng phải hứa…
- Hãy ra lệnh đi! Ôphêi thốt lên – Tôi sẽ làm tất cả để có thể đưa nàng trở lại mặt đất.
- Ngươi không được nhìn Evriđica khi chưa lên tới mặt đất – Diêm vương tiếp tục – Hãy trở về trần gian Evriđica đi ngay sau ngươi đó nhưng không được nhìn. Nếu sai lời, Evriđica sẽ biến mất không bao giờ nhìn thấy nữa.
Rồi Diêm vương ra lệnh cho nàng Evriđica đi theo Ôphêi. Ôphêi đi nhanh ra khỏi vương quốc của Diêm vương, cái bóng của Evriđica theo sau.
Họ im lặng đi qua con đò của Kharôn đến con đường dẫn họ trở về dương thế.
Ôphêi chậm chạp leo lên núi. Bóng tối và im lặng bao quanh… Phía sau chàng dường như không có ai đi theo cả. Chì có trái tim chàng rộn ràng “Evriđica, Evriđica!”
Cuối cùng phía trước họ đã có ánh sáng, gần trần gian lắm rồi. Càng đến gần, ánh sáng càng rõ hơn, có thể nhìn rõ mọi vật xung quanh.
Rồi một nỗi lo âu vò xé tim chàng: có Evriđica cùng đi không? Nàng có đi sau ta không? Quên mất lời hứa, chàng quay lại nhìn và gọi to:
- Em ở đâu, Evriđica? Hãy nhìn anh đi!
Trong khoảnh khắc, chàng nhìn thấy bóng hình của nàng, khuôn mặt hiền lành diễm lệ… nhưng chỉ trong khoảnh khắc thôi. Ngay lập tức, bóng biến mất vào đêm tối.
- Evriđica!
Đau đớn khôn cùng, chàng trai quay trở lại bến sông hối hả gọi lão lái đò Kharôn và van nài lão chở chàng qua sông một lần nữa, nhưng không ai đáp lại lời cầu xin của chàng. Chàng ngồi rất lâu bên bờ sông, chờ đợi và chờ đợi…
Rồi chàng phải quay lại trần gian.
Chàng sống mà không thể nào quên được mối tình duy nhất của mình với nàng Evriđica xinh đẹp. Kỷ niệm về nàng vẫn sống mãi trong trái tim và những bài hát đẫm lệ của Ôphêi.


📎 hilap007
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-13 01:40:37Mập Muội Muội>
Truyền Thuyết HÊRĂC

+ Sự ra đời của người anh hùng.

Trước ngày Hêrăc(1) ra đời, trên đỉnh núi Ôlempơ quanh năm tuyết phủ có một bữa tiệc của các vị thần.
Dớt –Chúa tể của các vị thần đã báo cho các thần biết rằng: vào giờ này, ở thế giới loài người sắp sinh ra một ngừơi anh hùng vĩ đại; người đó có một sức lực vô song vè sẽ hoàn thành những công việc vĩ đại lưu danh muôn thuở.
- Nó là đứa con trai yêu quí của ta, ta sẽ trao cho nó vương miệng của toàn cõi Hy Lạp, và những ngừơi anh hùng khác phải phục vụ nó! – Dớt nói.

Nữ thần Hêra – vợ của thần Dớt cảm thấy bị xúc phạm vì thần Dớt đã trao sức mạnh và vinh quang cho con trai của một người phụ nữ trần gian. Chỉ một khoảnh khắc trong đầu nữ thần đã xuất hiện một kế hiểm độc. Hêra nói với thần Dớt:
- Hãy nâng đỡ cho kẻ nào đầu tiên sinh ra trong giờ này. Nó sẽ nhận được vương miện của toàn cõi Hy Lạp, và tất cả những người anh hùng khác phải phục vụ nó.

Nếu như lúc đó, thần Dớt nhìn vào mắt vợ của mình thì thần sẽ hiểu ngay đó là trò chơi ác độc của Hêra. Thế nhưng lúc này, nữ thần lừa dối Ata đã làm sao nhãng sự chú tâm của Dớt, và Dớt không nhận ra sự ranh ma của vợ mình. Thần giơ cao cái cốc vàng lên và nói:
- Ta sẽ nâng đỡ! Cú để nó sinh ra và lớn lên!

Vào lúc đó, dưới trần gian có hai phụ nữ cùng chuyển dạ. Đó là hoàng hậu Acmêna ở Phivơ – người mà Dớt đã chọn làm mẹ của người anh hùng, và hoàng hậu Nikipa ở Miken.

Khi đó, nữ thần Hêra bằng quyền phép của mình, đã làm cho một đứa trẻ đáng lẽ ra đời chậm hơn thì bây giờ lại ra đời nhanh hơn đứa kia. Vậy là, ra đời trước là con của hoàng hậu xứ Miken, một hoàng tử yếu ớt gầy còm, rồi tiếp sau là hoàng tử con trai của hoàng hậu Acmêna.
Khi hoàng tử Epriphêi của xứ Miken ra đời, Hêra nói với thần Dớt:
- Hỡi Dớt, chúa tể của các thần linh, hãy vui mừng đi! Bây giờ dưới trần gian đã cho ra đời con người mà thần hứa sẽ trao vương quyền cho toàn cõi Hy Lạp.

Dớt lúc này mới hiểu được âm mưu ác độc của Hêra, mặt thần đỏ bừng vì tức giận. Tất cả đều nín lặng, chờ đợi cơn giông tố…
Cơn giông tố ấy, Dớt đã trút xuống đầu nữ thần lừa dối Ata: Dớt quẳng nữ thần từ đỉnh Ôlempơ xuống mặt đất, vĩnh viễn không cho Ata lên thượng giới, ở với các vị thần nữa. Từ đó đến nay, nữ thần lừa dối sống giữa loài người, và bằng những lời bịa đặt của mình, nữ thần đã gieo rắc bao tai vạ cho trần gian.

Sau đó, Dớt hướng về phía Hêra và nói:
- Ta biết, nàng sẽ đem tai họa cho con trai của Acmêna, sẽ đẩy nó vào vòng nguy hiểm, nhưng tất cả những thử thách đó, nó sẽ vượt qua một cách oanh liệt. Mọi cố gắng làm hại nó của nàng chỉ nhân niềm vinh quang của nó lên gấp bội mà thôi. Nó sẽ lập được những chiến công mà từ trước đến nay không kẻ nào làm được. Khi nó hoàn thành mọi nhiệm vụ dưới đất, ta sẽ cho nó lên đỉnh Ôlempơ, và chính thức trở thành bất tử. Cứ để cho nó xứng đáng với cái tên Hêrăc, có nghĩa là “Vinh quang của Hêra”

-----
(1) Trong nhiều bản dịch khách, tên Hêrăc được phiên âm thành Hêrăclet hoặc Hecquyn.


+ Hêra muốn giết chết Hêrăc:

Amphiriôn, vua của Phivơ trở về lâu đài nghỉ ngơi sau cuộc đi săn. Thanh gươm sắc của vua treo trên tường, còn ở phía dưới giường, trong cái khiên của vua, giống như một chiếc nôi, Iphic và Hêrăc – hai đứa con của Acmêna đang nằm ngủ. Hoàng hậu trải lên đó một tấm lông cừu trắng để bọn trẻ nằm cho êm.

Đêm đã khuya lắm rồi, mặt trăng chiếu sáng vào cánh cửa nữa khép nữa mở. Trong lâu đài, mọi người đều đã ngủ: cả vua, cả hoàng hậu, cả những người hầu và quân lính của nhà vua.
Bỗng có tiếng sột soạt trên những phiến đá ở bậc thang, từ ngoài vườn có hai con rắn lớn bò vào – đó là những con rắn được nữ thần Hêra gửi đến.
Chúng bò qua cái ghế của hoàng hậu, rồi bò tới cái khiên, nơi bọn trẻ đang ngủ. Những cái đầu trắng nhấc cao, những đôi mắt tỏa sáng khắp phòng một thứ ánh sáng xanh lè, ma quái. Chúng nhẹ nhàng vào chỗ bọn trẻ rồi thè cái lưỡi đen, dài ghê tởm ra…

Hai cậu bé đột nhiên thức giấc. Iphic sợ hãi, kêu thét lên, lăn ra khỏi cái khiên, bò ra phía trước, khóc gọi mẹ. Hai con rắn không đụng đến nó. Chúng bò vào trong nôi, quấn chặt lấy Hêrăc. Cậu bé bật cười, chìa tay ra, rồi như một trò chơi, cậu tóm chặt cổ hai con rắn. Những con rắn vẫy vùng trong tay cậu bé, cố gắng cắn chết cậu, nhưng Hêrăc đã bóp mạnh đến độ chúng không thở được nữa.
Những tiếng phì phì im bặt, ánh sánh ma quái ở đôi mắt rắn tắt ngấm…
Tiếng khóc của Iphic đã đánh thức hoàng hậu. Bà sợ hãi ngồi bật dậy kêu cứu. Vua giật mình lấy thanh kiếm của mình lao vào phòng; cả quân lính và những người hầu cũng chạy vào.

Trước mắt họ là một cảnh tượng kỳ lạ: cậu bé Hêrăc trong nôi đang cười, hai tay cầm hai con rắn đã chết. Lúc đó, Hêrăc chưa đầy một tuổi.


📎 hilap 008
0
+ CHỌN ĐƯỜNG

Khi Hêrăc lớn hơn một chút, nhà vua mời thầy dạy cho con tất cả những gì mà một hiệp sĩ cần biết: bắn cung, đấu kiếm, phóng dao, cưỡi ngựa,… Nhà vua muốn con mình trở thành một người văn võ song toàn nên còn cho Hêrăc học những môn khoa học và nghệ thuật, nhưng Hêrăc chẳng thích những môn này, và thầy giáo thường không hài lòng về điều đó.
Một lần, thầy giáo dạy nhạc, vì quá bực mình nên đã đánh Hêrăc, Hêrăc không chịu, đánh lại thầy, không ngờ sức cậu mạnh quá làm ông thầy ngã lăn ra chết.

Nhà vua tức giận, truyền xử tội con trai. Hêrăc hăng hái tự bảo vệ mình:
- Ông ta đánh con trước! Đánh con thì con phải đánh lại chứ! Con đâu muốn giết ông ta, con cũng không biết cú đánh của con lại mạnh đến như vậy.
Khi đó nhà vua sợ con lại tiếp tục đem tai họa đến nên ra lệnh đưa chàng vào núi chăn cừu. Hêrăc đã ở trên núi cao, trong rừng thẳm mấy năm, chàng sống như một gã mục đồng bình thường, lao động rèn luyện sức khỏe.

Cùng lúc đó Miken, hoàng tử Epriphêi cũng lớn lên. Tuy chẳng đẹp đẽ, thông mình, chẳng có sức khỏe hay tài cáng gì nhưng do lời phán nguyền của thần Dớt và do mưu mẹo của Hêra, chàng ta vẫn được làm vua toàn cõi Hy Lạp, có quyền quyết định cuộc sống của Hêrăc và bắt Hêrăc phải phục vụ mình.
Khi hoàng tử Epriphêi tròn hai mươi tuổi, nhà vua băng hà, Epriphêi đã trờ thành vua của Miken.

Nữ thần Hêra ra lệnh cho Epriphêi phải gọi Hêrăc đến. Sứ giả của Epriphêi đến Phivơ và nói rằng nhà vua cho đòi Hêrăc phải đến phục vụ theo mong muốn của thần linh. Hêrăc cần phải hoàn thành mười hai nhiệm vụ mà Epriphêi ra lệnh. Sau đó, chàng mới được tự do.

Bạn bè của Hêrăc khuyên chàng không nên đi.
Hêrăc biết rằng nhà vua không thể dùng sức mạnh để cưỡng ép chàng làm việc được, nhưng những y’ nghĩ về các chiến công cứ thôi thúc chàng.
Chàng đang ngập ngừng phân vân nửa đi nửa ở thì trên đường bỗng xuất hiện hai người phụ nữ từ hai phía đi đến…

Người thứ nhất ăn mặc bình thường, tóc búi cao. Đôi mắt nàng nhìn chàng thẳng thắn, phong thái của nàng điềm tĩnh, ung dung. Rất tự tin, nàng đến trước mặt Hêrăc và thân mật chào chàng.

Còn người phụ nữ thứ hai thì rất xinh đẹp. Bộ quần áo lộng lẫy càng làm tôn thêm vẻ đẹp của nàng. Khuôn mặt của nàng được trang điểm kỹ lưỡng, tóc kết thành nhiều lọn nhỏ rồi quấn cao trên đầu. Trên đôi tay trắng muốt của nàng lấp lánh những chiếc nhẫn vàng, và nàng đi đến chỗ Hêrăc phơi phới như trong một điệu nhảy.

Dịu dàng nắm tay Hêrăc, người phụ nữ xinh đẹp say đắm nhìn vào mắt chàng nói:
- Chàng đang phân vân nghĩ ngợi lắm phải không? Nhìn khuôn mặt tối sầm, đôi màu cau lại, em biết… chàng đừng bận tâm suy nghĩ làm gì. Hãy nhìn em và cười lên đi! Cuộc đời đẹp lắm, chỉ toàn niềm vui thôi! Hãy sống cho mình! Cuộc sống là những ngày hội vui vẻ và chỉ có một mối quan tâm duy nhất: phải thụ hưởng thật nhiều: ăn ngon, ngủ yên, quần áo lộng lẫy, ngoài ra không còn gì dằn dặt mình nữa cả. Người hạnh phúc là người có thể sống cả cuộc đời bên bàn tiệc: không lao động và không cần quan tâm đến việc gì! Hãy đi cùng với em, chàng sẽ được hạnh phúc!

Hêrăc mê mẩn cả tâm thần, đang chuẩn bị đi theo người đẹp thì người phụ nữ kia ngăn chàng lại:
- Chàng không thấy xấu hổ sao? – Nàng tức giận nói – Thần linh đã ban cho chàng một sức khỏe cường tráng mà chàng lại muốn làm một kẻ biến nhác, ăn không ngồi rồi. Cuộc sống đang còn nhiều xấu xa, chàng phải như một ngừơi chủ làm cho nó đẹp hơn chứ. Chàng phải đấu tranh diệt trừ cái ác, loại khỏi trái đất những con quái vật và kẻ thù. Sức mạnh và trí thông minh của con ngừơi cần dùng vào những cuộc đấu tranh.

- Chàng nghe thấy chưa? – Ngươi đẹp nói với Hêrăc – hãy đi theo ngừơi đó, chàng sẽ không còn biết đến niềm vui sung sướng, không còn biết yên tĩnh, nghỉ ngơi nữa đâu!

- Nghỉ ngơi sau công việc, - người phụ nữ đầu tiên phản đối – chỉ có lương tâm trong sạch mới đem lại sự yên tĩnh cho con người. Còn niềm vui lớn của người anh hùng là làm nên những việc tốt đẹp để điều ác không còn trên đời này. Hãy nghe ta, chàng trai trẻ ạ! Hôm nay là ngày lễ, mai là bữa tiệc – tâm hồn con người sẽ trở nên trống rống. Rồi nỗi buồn sẽ đến. Những thú vui tầm thường sẽ làm con người nhụt chí và anh sẽ chỉ trở thành một kẻ ích kỷ mà thôi. Thật buồn cho người nào mà cả cuộc đời chỉ là khách trên những bàn tiệc xa lạ. Một khi tiệc đã tàn, bọn hầu cận sẽ đuổi anh ta ra và anh ta chỉ còn lại một mình trên phố hiu quạnh. Anh ta sẽ cần cho ai? Ai sẽ quan tâm đến anh ta? Còn những ngừơi đã lao động quên mình, luôn có mặt ở những nơi nguy hiểm, diệt trừ quái vật, chiến đấu chống kẻ thù. Vinh quang thuộc về những người anh hùng ấy. Họ sẽ là những người trẻ mãi.

Nói những lời ấy, khuôn mặt người phụ nữ rực lên những ánh sáng lạ thường, và Hêrăc vội chạy lại phía nàng, kêu lên:
- Nữ thần, tôi đi theo người!
Trong khoảnh khắc, cả hai người phụ nữ biến mất, không để dấu vết gì trên đường, dường như chỉ là ảo ảnh. Nhưng lúc này Hêrăc đã vui vẻ, cương quyết đi mau về nhà, chàng biết chàng phải làm gì.
- Ta sẽ đi Miken – Buổi sáng sớm, chàng nói với người thân và bạn bè – Ta cần phải thực hiện ước muốn của thần linh, hoàn thành mười hai nhiệm vụ mà Epriphêi ra lệnh.
Không một ai ngăn cản chàng, và chính người bạn thân nhất của Hêrăc là Iôlai đã cùng đi với chàng.
Hêrăc làm cho mình một cây cung lớn và những mũi tên nhọn hoắt. Chàng vào rừng kiếm thêm một ngọn chùy rồi đi đến chỗ vua Epriphêi.



📎 hilap009
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-02-15 22:45:23Mập Muội Muội>
+ Chiến công đầu tiên: Hêrăc giết chết con sư tử

Đã lâu rồi những người dân Nêmê không dám chăn gia súc ở đồng cỏ ven rừng, không dám đi bộ ngang qua khu rừng, thậm chí không thể ngủ yên trong nhà nữa. Một con sư tử rất lớn đang ngự trị trong rừng Nêmê, mỗi ngày nó lại ăn, lúc thì một con cừu, lúc thì một đứa trẻ hay khách bộ hành xấu số. Đã có nhiều người lính với gươm giáo trong tay đi vào rừng giết sư tử nhưng đều không trở về, bởi vì mọi vũ khí đều bất lực trước mãnh thú này. Không một ngọn giáo nào đâm thủng được bộ lông nó, kiếm sắc cũng không làm cho da nó sây sát mảy may.
- Thật bất hạnh – Những người nông dân than thở - Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ bị giết hết.

Nữ thần Hêra, ngừơi bảo trợ cho vua Ephriphê bày cho vua gọi Hêrăc đến để chàng giết con sư tử này.
Hêrăc đi đến Nêmê và bắt đầu hỏi mọi người con thú sống ở đâu, tìm nó bằng cách nào. Không ai dám chỉ đường cho chàng, cũng không ai dám dẫn chàng đi cả.
- Chính con sư tử sẽ tự tìm đến anh, nếu anh đi vào rừng. – Mọi người nói rồi ái ngại nhìn chàng trai trẻ - họ không tin rằng chàng có thể giết con ác thú.

Hêrăc một mình tiến vào rừng. Những cây cao cản chàng từ mọi phía, những bụi cây nhỏ như quấn lấy chân, chim chóc kêu to để làm cho chàng sợ, nhưng Hêrăc vẫn tiến về phía trước, tìm dấu vết của con sư tử.

Đi một lúc lâu, chàng bỗng nghe thấy tiếng gầm gừ, con sư tử đã đánh hơi thấy kể thù, nó gầm lên làm cho cả khu rừng rung chuyển, và với vài bước nhảy, nó đã đến trước mặt Hêrăc. Con mãnh thú đứng đối diện với Hêrăc trừng mắt nhìn, rồi với sức mạnh kỳ quái, nó lại gầm lên man rợ. Hêrăc không nhục chí, chàng giương cung bắn thẳng vào mắt nó. Con sư tử đau đớn, đưa đầu xuống lấy chân rút mũi tên ra như rút một cọng rơm. Sau đó nó ngồi dậy, và như một con mèo, nhảy cao lên vồ xuống người Hêrăc. Hêrăc né người tránh sức nặng của nó, rồi với tất cả sức mạnh, chàng giáng một đòn sấm sét vào cái đầu rối bù của sư tử. Nhưng con ác thú vẫn không chết, nó vùng khỏi tay Hêrăc, gầm lên rồi bỗng nhiên quay ngoắt trở lại, chạy mất hút vào rừng.

Hêrăc đuổi theo nó.
Chẳng bao lâu, chàng nhìn thấy một cái hang. Giương cung lên, chàng bình tĩnh tiến vào. Trong hang rất tối, không nhìn thấy gì cả. Đột nhiên, con sư tử từ chỗ nấp xô ra nhào vào ngực chàng định xé xác đối thủ, nhưng Hêrăc đã nhanh tay xiết chặt lấy họng nó. Với những ngón tay cứng như sắt, chàng xiết mạnh cho đến lúc con sư tử tắt thở…

Không thể đem xác con sư tử về ví nó quá nặng, chàng chỉ lột lấy bộ da và chặt cái đầu của nó đưa về.
Ở lâu đài, thấy chàng mang cái đầu và bộ da con ác thú trên vai, mọi người đều kinh ngạc kêu lên và chạy lại đón chàng. Còn lại chính vua Epriphêi thì lại vô cùng sợ hãi trốn tít trong cung điện.
- Đây, ta đã mang về cho đức vua cái đầu và bộ da con sư tử! Hêrăc nói, nhưng nhà vua quá nhát gan, thậm chí sợ cả con sư tử đã chết, không dám cầm lấy bộ da của nó.
- Thôi, nhà ngươi cứ giữ lấy. – Vua phán.
- Xin đa tạ. – Hêrăc nói và mang bộ da sư tử đi.
Chàng dùng nó như một cái áo giáp vì nó che chở cho chàng rất tốt: không một thứ gươm giáo nào có thể đâm thủng nó được.
Với bộ da sư tử trên người, Hêrăc đi làm việc thứ hai mà vua Epriphêi ra lệnh.


+ Chiến công thứ hai: Hêrăc giết con thủy quái.


Cách Argốt không xa có một cái đầm rất rộng. Nguồn nước trong lành, mát mẻ của nó phụt từ dưới đất lên nhưng nó yếu quá, không đủ sức chảy ra sông, ra biển mà chỉ quanh quẩn trong một vùng đất thấp. Nước bị ứ đọng lâu ngày phủ đầy rêu, cỏ và biến vùng đó thành đầm lầy. Trên mặt đầm, cỏ xanh tươi tốt luôn luôn phủ kín nên bao người đi đường đã sa chân xuống đó vì cứ tưởng đây là một bãi cỏ nên thơ.
Khi sa chân xuống đầm lầy, họ liền bị một con thủy quái chín đầu dùng những cái đầu rắn gớm giếc quấn chặt, dìm xuống đầm lầy và ăn thịt…

Thường thường, khi con thủy quái đã no nê, nằm ngủ, hơi thở đầy khí độc của nó phun lên không khí như một lớp sương mù; người nào ngửi phải khí độc đó sẽ ốm rất lầu rồi chết. Bởi vậy, mọi người sợ không dám đến gần đầm lầy và cũng chẳng có ai dám sống gần cái chốn đáng sợ ấy.

Vua Epriphêi ra lệnh cho Hêrăc phải giết chết con quái vật này.
Hêrăc ngồi trên cỗ xe cùng với người bạn của chàng là Iôlai đi đến đầm lầy. Tới nơi, Hêrăc để bạn ở lại ngoài đường với cỗ xe, còn chàng đốt đuốc nhằm hướng đầm lầy thẳng tiến.
Con thủy quái đã ăn no, đang thiu thiu ngủ. Hêrăc những mũi tên lửa vào nó để chọc tức con quái vật, rồi chàng kéo nó lên khỏi đầm lầy.
Con thủy quái vung cái đuôi lạnh giá, trơn tuột quấn vào chân Hêrăc, còn chín cái đầu của nó kêu lép bép, vây lấy người chàng. Hêrăc giơ tấm da sư tử ra làm lá chắn rồi bình tĩnh rút kiếm chặt phăng một trong những cái đầu đáng sợ ấy. Những giọt máu đen từ chỗ cái đầu bị chặt rớt xuống đất liền biến thành hai cái đầu khác ghê gớm hơn. Chẳng bao lâu, xung quanh hêrăc lúc nhúc đầy những rắn, tất cả đếu vây lấy tấn công chàng.
Hêrăc không thể nào dời khỏi chỗ được: chân chàng bị một vòng toàn thân quắn quấn chặt, còn tay thì đã mỏi rã rời vì cứ phải chặt và chặt liên tiếp những cái đầu rắn mới. Bỗng chàng thấy đau nhói ở chân trái. Cúi xuống nhìn, bỗng chàng thấy một con tôm lớn đang cắn vào gót chân mình.
Hêrăc bật cười:
- Hai đánh một à? Như vậy là không thật thà đâu! Chiến đấu phải cho công bằng chứ? Nhưng bây giờ thì ta có quyền gọi bạn ta đến giúp đỡ rồi! – Và chàng gọi Iôlai đang đợi ở ngoài xe tới.

Hêrăc đưa bạn ngọn đuốc đỏ rực, ra lệnh đốt vào các vết thương của thủy quái; và như vậy, ở mỗi cái đầu bị chặt, lửa đốt làm cho nó không mọc được đầu mới nữa. Chẳng bao lâu, cái đầu cuối cùng của con quái vật rớt xuống. Nhưng nó không muốn chết. Thậm chí sau khi chính cái đầu đã lìa khỏi cổ, chúng vẫn nằm trên bãi cỏ, giương mắt tức giận nhìn người anh hùng.
Hêrăc hất con quái vật xuống vùng đầm lầy, lấy đất vùi lại để nó không còn làm hại ai được nữa. Trong vũng máu đen của nó, chàng tẩm những mũi tên của mình, làm cho nó trở nên vô cùng nguy hiểm. Nếu những người nào bị những mũi tên này bắn trúng thì không một phương thuốc nào có thể chữa họ khỏi chết.


+ Chiến công thứ ba: Hêrăc đuổi theo con hươu.


Những người dân đi lấy củi ở sườn núi Apkapơ đã có lần nhìn thấy một con hươu tuyệt đẹp có đôi sừng bằng vàng. Nó đứng trên vách núi cao, nhìn mọi người như thách thức, nhưng chỉ vừa nghe tiếng cành cây gẫy là như một cơn gió lốc, nó bắt đầu phóng qua các vách đá với những món chân bằng bạc.
Tiếng đồn về con hươu kì lạ lan rộng trong nhân dân. Đã có nhiều người thợ săn đi tìm nó, nhưng khi họ vừa nhìn thấy là con hươu đã phóng vào rừng sâu. Rừng rất rậm rạp, không có lối đi, núi cao dường như cản bước con người…
Những người thợ săn trẻ trở về, thất vọng, và họ nói rằng trên đời này không thể tìm ra người nào có thể đuổi bắt được con hươu ấy.

Lần thứ ba, Epriphêi ra lệnh cho Hêrăc phải bắt sống được con hươu và mang nó về Miken.
Hêrăc cùng với Iôlai đi vào núi Apkađơ. Chàng để cung và những mũi tên tẩm độc của mình ở nhà, chỉ mang theo xẻng, dao và rìu. Họ chặt cây, dọn cỏ làm đường đi trong rừng rậm, đục những bậc thang trên vách đá. Rồi họ bắt cầu qua những con suối, con sông. Trên những cây cầu đó, họ đi qua vực; theo những bậc thang, họ leo lên các ngọn núi cao. Đôi khi, chỉ một thoáng thôi, con hươu xuất hiện trước mặt họ, và đôi sừng vàng lấp lánh dẫn họ đi mãi, đi mãi vào sâu hơn nữa trong rừng.
Hêrăc và Iôlai kiên nhẫn bám theo dấu chân con vật. Họ băng qua những ngọn núi cao phủ đầy tuyết, rồi xuống những hang sâu, vượt qua những con sông, con suối. Các tảng băng rơi xuống theo dốc đứng luôn luôn là mối đe dọa với họ. Họ gặp lối lên của mặt trời trên những đỉnh núi cao, họ ngủ đêm trong những hốc cây to, trong những bụi cây rậm rạp, ăn quả rừng , uống nước suối… Và cứ như vậy, không mệt mỏi, không nản chí, họ đi lên ngày một cao và vượt qua những dãy núi hiểm trở.

Con hươu ngày càng xuất hiện trước họ hơn, dường như nó đã bắt đầu quen với con người. Nó dừng lại, nhìn họ rồi tiếp tục đi như không còn nhanh chóng như trước nữa. Bây giờ giết nó thật dễ dàng, nhưng họ cần phải bắt sống nó theo lệnh vua.
Cuối cùng họ đã dồn được con hươu lên đỉnh núi cao rồi quay lại. Iôlai đứng đứng đón nó ở con đường hẹp dưới vực. Nhìn thấy chàng , con hươu quay lại muốn tiếp tục chạy nhưng ở đây, Hêrăc đã đợi sẵn. Nó đâm luống cuống, không biết chạy đường nào… Rồi bỗng nhiên, nó lao đầu xuống vực. Đúng lúc đó, Hêrăc túm được sừng nó và giữ chặt lấy. Rồi cả hai người dẫn con vật bị bắt được xuống núi.

Bất ngờ, ở một chỗ rẽ của đường rừng, một ngừơi phụ nữ xinh đẹp mặc bộ quần áo ngắn, vai mang cung tên xuất hiện trước mặt họ. Nét mặt người đó rất giận dữ, mắt long lên. Bằng những cử chỉ kiên quyết, người phụ nữ chặn hai người đi săn lại, còn con hươu giờ đây đã chạy lại chỗ người đó.
Người đàn bà trẻ vừa vuốt ve con hươu vừa nói:
- Ôi, những người tham lam! Chẳng lẽ các người hết đường đi và những cánh đồng rộng lớn ở thung lũng dưới kia rồi ư? Tại sao lại phá vỡ sự yên tình trong khu rừng của ta? Chưa bao giờ nơi đây có dấu chân người. Bây giờ các ngươi sẽ chỉ cho mọi ngừơi đến đây, rồi họ sẽ lấy búa rìu chặt cây của ta, lấy cung tên bắn vào muông thú của ta. Tại sao các người lại làm điều đó?

Hêrăc biết đấy chính là con gái thần Dớt – nữ thần săn bắn Actêmit.
- Xin nữ thần đừng giận chúng tôi – Hêrăc nói – Chúng tôi đến đây theo lệnh của ngừơi cha Dớt vĩ đại. Chính thần Dớt đã phái chúng tôi đi phục vụ con người. Chúng tôi phá đường lên đỉnh núi vì trái đất này của chung của mọi ngừơi. Cứ để cho những người dũng cảm, khỏe mạnh đến đây sau chúng tôi. Ở đây phong cảnh thật tuyệt vời, không khí thật trong lành; và chính con người, nếu lên được đây sẽ trở nên trong sạch và tốt bụng hơn đấy!
Nghe Hêrăc nói, cái nhìn của nữ thần dịu xuống. Ngừơi vuốt ve con vật xinh đẹp bảo nó:
- Cứ đi với họ đi! Mi sẽ nhanh chóng trở về với ta thôi mà! Sau đó, nữ thần biến mất sau bụi cây.

Hêrăc và Iôlai lại tiếp tục đi, dẫn theo con vật bị bắt.
Trên đường trở về, họ đi nhanh và dễ dàng hơn bởi đã có con đường cũ. Chẳng bao lâu họ về tới Miken. Hêrăc đưa con hươu kì diệu vào cung vua, nhưng vì sợ nữ thần Actêmit nên Epriphêi lại đưa con vật cho Hêrăc. Nhớ đến những lời nói của nữ thần với con hươu. Hêrăc lại thả con hươu về rừng.
0
hihi cảm ơn mập muội nhiều truyện hấp dẫn quá[sm=z_pepsi.gif] mời mập muội 1 ly, nghỉ tay làm một phát rồi post tiếp hè[sm=beerchug.gif]
0
Cám ơn ly Pepsi của Horus nhen.

Mời Horus xem tiếp những phần sau. 3M gõ có hơi chậm.

Mong Horus và các mod thông cảm.
[sm=rose.gif]
0
+ Chiến công thứ tư: Hêrăc bắt sống con heo rừng.

Cứ mỗi buổi sáng mùa hè và mùa thu, khi những người nông dân sống ở chân núi Erimantơ đi thu hoạch rau và lúa mì thì họ lại sợ hãi nhìn đồng ruộng của mình: ở đó có những dấu vết tàn phá kinh khủng, đất đai bị xới tung lên, cây cối bị nhổ bật cả rễ, và rất nhiều vạt lúa bị xéo nát bằng sức mạnh tàn khốc của một kẻ nào đó. Người ta nói rằng: ở sâu trong rừng rậm, tít trên đỉnh núi cao có một con heo rừng, cứ đêm đêm nó lại xuống núi tàn phá ruộng đồng. Những cái răng nanh và móng vuốt của nó thật đáng sợ. Không ai dám cả gan vào rừng diệt trừ con mãnh thú này.
Vua Epriphêi ra lệnh cho Hêrăc phải săn con heo rừng đó.

Ngạc nhiên bởi dân cư ở đây không biết sử dụng những mũi tên đồng, bởi vì muốn giết heo rừng đâu phải chuyện đơn giản, người anh hùng một mình lên đường vào núi.
Đến lưng chừng núi, chàng nghe thấy có tiếng vó ngựa rồi bỗng nhiên, một đàn ngựa hoang phóng vụt qua chàng, ào ào lao xuống thung lũng. Nhìn kỹ lại, Hêrăc thấy đó không phải ngựa. Dường như đó là những con người, nhưng có nữa người là ngựa. Nhìn xa cứ tưởng những kỵ sĩ đang cưỡi ngựa phóng nhanh.
- Kentara! – Hêrăc kêu lên.
- Như một cơn lốc, những ngừơi Kentara phóng qua Hêrăc lôi theo tất cả những vật trên đường lao xuống khu dân cư dưới chân núi.

“Còn đáng sợ hơn những mãnh thú nữa!”. Hêrăc nghĩ và hiểu tại sao vua Epriphêi lại bảo chàng đến đây săn. Nhưng chàng không sợ, tiếp tục đi. Chẳng bao lâu, chàng nhìn thấy một cái hang, trước cửa hang có một người Kentara trẻ tuổi đang đứng.
Hêrăc dũng cảm đến gần, hỏi người đó với giọng thân thiện:
- Tôi là người đi săn. Đức vua ra lệnh cho tôi phải tìm cho được con heo rừng và giết chết nó. Làm sao tìm được nó? Mong anh nếu biết hãy chỉ đường cho tôi.
Chàng Kentara vui vẻ trả lời:
- Con thú này luôn luôn quấy phá dân cư ở khu rừng này và đe dọa cả chúng tôi nữa. Chúng tôi phải sống trong hang để nó không phá được khu ở của chúng tôi. Thật tốt nếu anh giết được nó. Tôi sẽ chỉ cho anh dấu vết của con mãnh thú này. Nhưng trước hết anh hãy là khách của tôi.

Anh ta dẫn Hêrăc vào hang, đốt lửa lên rồi mời Hêrăc ăn thịt và trái cây.
- Tôi quen uống rượu rồi – Hêrăc nói – mà chỗ anh chắc là không có thứ ấy.
- Ô, không đâu! – Chàng Kentara kêu lên thích thú – chính thần rượu nho Đianhic đã tặng chúng tôi một thùng rượu ngon cách đây không lâu. Tôi sẽ đãi anh, nhưng đừng để các bạn của tôi biết việc đó.
Và anh ta mở thùng rượu rồi họ uống với nhau rất vui vẻ.
Bỗng nhiên ở cửa hang có tiếng móng ngựa đập cửa ầm ầm. Những người Kentara ngửi thấy mùi rượu và họ rất tức giận. Cho là một kẻ lạ mặt nào đó đã lọt vào nơi ở và đang uống trộm rượu của mình, họ liền dữ tợn hú lên những tiếng hoang dại và tiến vào hang.

Hêrăc từ trong hang sâu ném những hòn than đỏ lửa về phía họ. Sợ lửa, họ phóng đi.
Hêrăc ra khỏi hang, tiếp tục đi vào rừng. Nhưng những người Kentara đã bao vây chàng, khi thấy chàng chỉ có một mình, họ mừng rỡ và tấn công chàng một lần nữa. Khi đó Hêrăc bắn những mũi tên tẩm máu của con quái vật ở đầm lầy, mấy người trong bọn họ ngã xuống đất chết ngay tại trận.
Vừa lúc đó, người Kentara trẻ tuổi đã tiếp đãi Hêrăc ra khỏi hang. Anh ta ngạc nhiên nhìn những người Kentara đang nằm xung quanh.
- Sao? Một cái gỗ bé tí thế này cũng làm chết ngừơi à? – Anh ta hỏi – Cái cây nhỏ này có thể giết chết được không? – Và anh ta rút tên ra khỏi người bị giết.
- Cẩn thận đấy! – Hêrăc kêu to.
Nhưng đã muộn rồi: khi Kentara rút mũi tên ra, mũi tên bật vào chân anh ta, và không kêu lên được một tiếng, anh ta chết.

Hêrăc buồn rầu mang những ngừơi Kentara bị chết vào hang, đậy cửa hang bằng một tảng đá lớn rồi đi tiếp.
Không khó khăn gì, chàng tìm thấy con mãnh thú ở trong rừng, làm nó bị thương ở chân rồi bắt sống đem vào cung điện. Vua Epriphêi mất vía vì tiếng gầm vang của nó. Hắn ra lệnh nhốt con heo một cái thùng đồng lớn thả xuống nước, nhưng rồi cứ nhìn thấy cái thùng là vua lại sợ run ngừơi. Bằng một giọng yếu ớt, vua bảo Hêrăc:
- Đem đi! Đem nó đi mau!
Hêrăc bật cười, mang con heo rừng đi, rồi chàng giết nó và chia thịt cho nhân dân.


+ Chiến công thứ năm: Hêrăc đuổi chim Xchinphan.

Thần chiến tranh Arex có một đàn chim rất kinh khủng: vuốt và mỏ của chúng bằng sắt, lông của chúng bằng đồng. Khi bay cao, bằng một sức mạnh kỳ lạ, chúng bắn lông ra như những mũi tên. Bầy chim sống trong một khe núi sâu cạnh hồ Xchinphan. Nước từ cái hồ này chảy qua khe núi vào sâu trong vương quốc của thần Chết. Hồ rất hoang vu, xung quanh là những vách đá dựng đứng. Chỉ có một cây sậy lớn mọc trên hòn đảo giữa hồ, đó là nơi những con chim của thần Chiến tranh sống.

Sau một cuộc đi săn đẫm máu người và các sinh vật khác, những con chim khủng khiếp đó lại bay về đảo nghỉ trên các ngọn cây. Vua Epriphêi ra lệnh cho Hêrăc phải đi đến hồ Xchinphan đuổi đàn chìm của thần chiến tranh ra xa ngoài biển.

Hêrăc mời Iôlai đi với mình rồi cầm lấy cây cung và những mũi tên độc đi vào núi. Họ đi loanh quanh rất lâu, cuối cùng cũng đến được khe núi, đười đáy khe là hồ Xchinphan.
Hêrăc và Iôlai ngồi trên một tảng đá dưới nước nhìn ra mặt hồ bất động. Nỗi buồn, sự mệt mỏi ngấm vào họ, làm cho họ thấy khó thở.
- Một cái gì đó khác thường đang xảy ra trong tôi. – Hêrăc nói với bạn – Khó thở quá, trái tim như sắp ngừng đập, cây cung như sắp rơi khỏi tay tôi.

Một cơn buồn ngủ nguy hiểm đã ập đến, cả hai người không chóng chọi lại được… Họ ngủ thiếp đi…
Giữa lúc đó, từ hòn đảo trên hồ, một đàn chim đỏ bay cao, con này nối đuôi con khác kêu ầm ĩ. Chúng bay xung quanh hồ, trên khe núi và chẳng bao lâu như một đán mây che kín bầu trời, bóng chúng in đặc trên mặt nước. Hai người vẫn say sưa ngủ…
Bỗng nhiên một cái gì đó như hòn đá rơi cạnh Hêrăc làm chàng tỉnh giấc. Cạnh chàng là một cái mõ bằng gỗ bình thường mà những người nông dân hay dùng để đuổi chim ra khỏi vườn nhà. Atêna nữ thần thông minh đã gửi vật đó đến để giúp những người anh hùng.

Hêrăc đánh thức bạn dậy, đưa cho bạn cái mõ và ra lệnh gõ lên. Tiếng mõ vang động núi rừng, xé tan sự im lặng ghê người của nó. Đàn chim kêu những tiếng hoảng sợ, nháo nhác bay và bắn ra tua tủa những cái lông nhọn hoắt. Hêrăc lấy cung của mình ra bắn lại , hết mũi tên này đến mũi tên khác. Những con chim bị thương rơi xuống hồ. Lông chim nặng kéo chúng chìm xuống chìm nước. Khoác tấm da sư tử mà không một mũi tên nào xuyên thủng được , Hêrăc tiếp tục bắn. Nhiều con rơi xuống hồ nước đen, nước hồ dìm chúng xuống sôi sung sục, hơi nước bốc lên nghi ngút.
Những con chim sống sót hoảng sợ bay cao lên khỏi mặt hồ, nhập thành đàn và bay đi rất xa, chúng đã bay ra phía biển đầy phong ba bão táp.
- Mau mau đi ra khỏi đây thôi – Hêrăc nói rồi ném cái mõ của thần Atêna xuống nước.
Họ vội vã rời khỏi cái hồ chết chóc, trở về.
0
+ Chiến công thứ sáu: Hêrăc dọn chuồng ngựa cho vua Avgiza.

Sự giàu có của vua Avgiza xứ Eliđa thật khó mà tả hết. Vô số những đàn bò, đàn cừu và bầy ngựa của nhà vua được chăn thả trong thung lũng phì nhiêu bên sông Anphêi. Vua có ba trăm con ngựa chân trắng như tuyết, hai trăm con chân đỏ như đồng thau, mười hai con ngựa toàn thân trắng muốt như những con thiên nga vậy. Trong số mười hai con ngựa trắng ấy, một con đặc biệt có ngôi sao lấp lánh trên trán. Vua có nhiều gia súc như vậy nên kẻ tôi tớ không sao quét dọn sạch sẽ được các chuồng ngựa. Sau nhiều năm phân ngựa đã chất lên tận nóc…

Vua Epriphêi muốn kết thân với vua Avgiza và làm nhục Hêrăc nên đã gửi người anh hùng đến dọn sách chuồng ngựa cho vua Avgiza.

Hêrăc đến Eliđa, vào cung điện gặp nhà vua và nói:
- Nếu nhà vua cho tôi một phần mười số ngựa của nhà vua, ta sẽ dọn sạch chuồng trong một ngày.
Vua Avgiza bật cười. Gã nghĩ không thể nào có chuyện ấy được nên dễ dãi nói với Hêrăc:
- Ta hứa sẽ cho ngươi một phần mười số ngựa của ta, nếu trong một ngày ngươi dọn được cho những chuồng ngựa của ta sạch sẽ.

Khi đó, Hêrăc yêu cầu đem đến cho chàng một cái xẻng. Thấy vậy, vua Avgiza mỉa mai cười, ra lệnh đem xẻng cho Hêtăc.
- Ngươi định làm việc với cái xẻng này trong bao lâu? – Vua hỏi.
- Tất nhiên chỉ một ngày thôi. – Hêrăc trả lời rồi đi đến bờ sông Anphêi.
Nửa ngày, chàng làm việc bằng xẻng. Đào đất dưới chân lên, Hêrăc đắp thành một cái đập rồi dẫn cho nước chạy thẳng vào chuồng ngựa của nhà vua. Nước sông Anphêi chảy mạnh cuốn theo tất cả phân rác, máng ăn, ngăn chuồng, thậm chí cả những bức tường cũ nát. Chống tay lên cán xẻng, Hêrăc nhìn dòng sông làm việc. Đến khi mặt trời lặn, chuồng ngựa đã sạch sẽ tinh tươm.
- Thưa Đức vua, - Hêrăc nói – ta đã dọn sạch không những phân mà còn tất cả những gì rách nát trong chuồng ngựa của ngài. Ta đã làm nhiều hơn cái ta đã hứa. Bây giờ xin Đức vua hãy đưa cho ta phần ngựa mà ta được hưởng.

Nhưng vua Avgiza tham lam đã phản bội lại lời hứa của mình. Hắn chửi mắng Hêrăc và không đưa ngựa cho chàng. Lúc đó Hêrăc liền nổi cơn thịnh nộ, thách đấu với Avgiza và cuối cùng chàng giết chết tên vua lật lọng ấy trong một trận đấu kiếm.


+ Chiến công thứ bảy: Hêrăc thuần phục con bò đực ở đảo Cơrit.

Đã sáu lần Hêrăc tuân lệnh vua Epriphêi dấn thân vào con đường khó khăn nguy hiểm, và cả sáu lần Hêrăc đều hoàn thành nhiệm vụ của mình: giết con sư tử ở Nêmê, giết con thủy quái đầm lầy Lernêi, bắt sống con hươu và con heo rừng đưa về Miken, đuổi đàn chim Xchinphan ra khỏi Hy Lạp, trong một ngày dọn sạch chuồng ngựa của vua Avgiza.
Giờ đây vua Epriphêi một lần nữa lại bắt chàng đi đến đảo Cơrit của vua Minốc, thuần phục con bò điên mà không một người dân nào của đảo Cơrit dám làm việc đó cả.

Hồi xưa, con bò đực bơi đến đảo Cơrit, vua Minóc đã hứa đem nó làm lễ vật hiến thần biển Pôxâyđơn. Nhưng về sau, vua Minốc lại quá thích con bò trắng tinh với cặp sừng bằng vàng nàynên đã giữ lại và đem một con bò khác tế thần. Thần biển nổi giận làm cho con bò qúi giá ấy bị điên. Nó lồng lên, phá chuồng chạy ra khỏi cung điện của nhà vua và trở thành nỗi khiếp sợ của toàn dân trên đảo.

Hêrăc xuống tàu đi đến đảo Cơrit. Bão tố nổi lên. Giằng xé con tàu và cuối cùng, nó đã đánh vỡ tàu. Các thủy thủ ôm lấy những tấm ván bơi dạt vào bờ biển của một nước xa lạ.
Ở đây có những cây thông thật kì lạ. Trên cây có lá rất to, bóng của nó có thể che kín được một người.

Hêrăc và những người bạn vừa thoát chết của mình nghỉ ngơi dưới bóng những cây này rồi lại tiếp tục đi trên bờ cát nóng. Họ đi rất lâu, cuối cùng họ cũng có thể đến được một thành phố lớn ven biển. Ở bến cảnh có rất nhiều tàu, còn trên bờ là những cung điện và đền thờ bằng đá cao vút.
- Các anh đang ở Ehiptơ – những người dân ở đây nói với họ - Hãy mau mau đến nhà thờ dự lễ đi.

Cai quảnh Ehiptơ là một tên bạo chúa. Khi nhìn thấy những người lạ mặt, họ liền cho quân lính xích họ lại.
- Các ngươi đến đây đúng vào ngày lễ này, - nhà vua hung bạo nói với họ - ta sẽ đem các người ra làm lễ vật tế thần.
- Các thần không nhận vật hy sinh là người đâu – Hêrăc nói.
Tên vua bật cười, trả lời:
- Nhưng chúng tao tin là được! Mày sẽ là kẻ đầu tiên bị đâm chết để tế thần. Chúng tao sẽ xem, các thần có nhận mày hay không. – Rồi hắn ra lệnh dẫn toán tù binh vào một ngôi đền lớn đông nghẹt ngừơi ở giữa thành phố.

Khi ngọn lửa tế thần được đốt lên, viên tư tế già cầm một con dao nhọn, dài và sắc đi đến. Hêrăc với tất cả sức mạnh giật tung sợi dây xích. Chùng dùng luôn sợi dây sắt đó quật chết lão tư tế già. Sau đó chàng giật lấy thanh kiếm của tên vua rồi đâm hắn chết tươi.
Chàng giải cứu tất cả bạn mình rồi vội vã cùng họ ra bến cảng. Ở đó họ cướp lấy một con tàu và đi đến đảo Cơrit rất nhanh.

Tới nơi, Hêrăc tạm biệt các bạn rồi một mình lên bờ. Chẳng bao lâu chàng nhìn thấy con bò bất trị đó. Sợi dây xích bị đứt kêu leng keng, con bò gừ gừ sùi bọt mép, đôi mắt vằn lên những tia máu, rồi nó lao vào Hêrăc. Hêrăc núp sau một thân cây. Con bò dừng lại, giơ đầu định húc vào cây. Con bò dừng lại giơ đầu định húc vào cây. Khi đó Hêrăc vội nhảy lên lưng nó. Con bò điên tiết lắc mạnh, cố gắng hất Hêrăc xuống đất nhưng vô hiệu. Chàng đã quấn chặt sừng nó bằng sợi dây xích và giữ chặt lấy nó. Con bò đực bướng bỉnh, lao xuống biển bơi đi, nhưng sóng nước đã làm dịu cái tính bất trị của nó, nó bắt bắt đầu hiền lành như một con trâu đang làm đồng, và lẳng lặng đưa Hêrăc về Miken.

Hêrăc dẫn nó vào trại nuôi bò của vua Epriphêi. Nhưng người mục đồng rất sợ con bò hung dữ đó. Không ai dám dẫn nó vào chuồng. Thế là nó bỏ chuồng, đi lang thang khắp nơi. Cuối cùng, một người bạn của Hêrăc là Tredây đã bắt nó làm lễ tế thần.

[sm=1005.gif]
0
+ Chiến công thứ tám: Hêrăc lấy con ngựa của vua Điômet.

Vua Epriphêi một lần nữa lại ra lệnh cho Hêrăc phải lên đường đi bắt con ngựa của vua Điômet.
Lần đầu tiên kể từ khi phục vụ vua Epriphêi đến nay, Hêrăc thấy đau lòng… Chàng không sợ sư tử, thủy quái, hay những cuộc phiêu lưu xa xôi, những công việc nặng nhọc và ngay cả trận chiến đẫm máu, những âm mưu xảo quyệt của con người. Nhưng giờ đây, công việc mà nhà vua giao cho đã làm cho chàng bứt rứt vô cùng.

Chiếm đoạt một vật mà quyền sở hữu thuộc về họ - điều đó cũng có nghĩa là phải đoạt lấy nó bằng sức mạnh hoặc sự lừa dối, song Hêrăc không muốn mình là một tên cướp hay một kẻ bịp bợm.

Chàng lên đường với trái tim trĩu nặng, chàng quyết định sẽ đi rất lâu rồi mới tới Phơrac để có dịp nghĩ xem mình nên làm gì.
Chàng đi đến Phexalia, vào kinh thành của Đức vua, hiền lành và hạnh phúc Acmet, người được thần ánh sáng Apôlông rất yêu mến.
Hồi xưa, thần ánh sáng Apôlông đã có thời gian phạm lỗi lầm nên bị thần Dớt đẩy xuống trần gian phục vụ con người. Apôlông đến chỗ vua Acmet và suốt một năm, Apôlông làm người chăn gia súc cho nhà vua. Hạnh phúc đã đến với Acmet. Ruộng đất cho một vụ mùa bội thu, gia súc sinh sôi đầy đàn không đếm xuể. Hòa bình và phong lưu ngự trị trong vương quốc nhà vua.

Nhưng có lẽ qúi hơn mọi cái chính là thần Apôlông đá giúp vua Acmet cưới Anketa làm hoàng hậu. cha của Anketa làm hoàng hậu. Cha của Anketa là vua Pêli đã hứa gả con gái cho ai thắng được sư tử và gấu vào cỗ xe đem đến rước dâu. Thần Apôlông đã thuần phục được bầy thú dữ, thắng chúng vào cỗ xe đưa đến chỗ vua Pêli, và Anketa đã thành vợ của Acmet. Họ còn sống chung với nhau rất hạnh phúc và đã có rất nhiều con.

Khi thời gian phục vụ của Apôlông kết thúc thì cũng là lúc Acmet bị gọi về âm phủ. Thần Apôlông muốn làm một điều gì đó tốt lành cho nhà vua. Theo mong muốn của của Apôlông, nữ thần số mệnh Môira cầm trong tay sợi chỉ cuộc sống của mọi người đã đồng y’ kéo dài cuộc sống của Acmet nếu như có ai đó chết thay nhà vua trong vòng một giờ.

Thế rồi một giờ qua đi, thần Chết đã đến, nữ thần Môira hỏi:
- Ai muốn chết thay Acmet?
Không một ai, kể cả bạn bè, kẻ hầu người hạ, con cái, thậm chí cả cha mẹ vua đã rất già nhưng cũng không muốn đổi mạng sống của mình cho ngừơi khác. Khi đó hòang hậu xinh đẹp Anketa nói:
- Tâu quân vương! Em rất vui lòng được chết thay quân vương. Thiếu ngừơi, em cũng không thể sống được, chỉ xin người hứa với em rằng sẽ không cho một người phụ nữ nào vào ngôi nhà của chúng ta. Hãy hứa với em điều đó, em sẽ yên lòng nhắm mắt.

Và Acmet đã trân trọng hứa với vợ như vậy.
Anketa mặc quần áo đẹp đẽ, nằm trên giường đợi thần Chết mang nàng đi. Tất cả mọi người đều im lặng đứng chung quanh nàng, buồn rầu nhìn nàng lần cuối. Thế rồi bóng đen phủ lên mặt nàng, đôi mắt nàng nhắm nghiền, hơi thở đã ngừng…

Tiếng kêu khóc truyền đi khắp cung điện, khắp kinh thành. Những người dân ở đây đã biểu lộ nỗi buồn của mình bằng cách cắt tóc ngắn và cắt bờm những con ngựa của mình. Người ta đã xây dựng một lăng mộ ở ngọai ô, đợi ngày chôn cất.

Hêrăc đến đây đúng vào lúc này, chàng không biết gì cả và đi vào cung điện của Đức vua như người khách xin ngủ nhờ. Acmet mặc đang rất buồn vì cái chết của vợ nhưng không thể từ chối đón tiếp Hêrăc được. Vua tiếp Hêrăc niềm nở và ra lệnh dọn cho chàng nghỉ ở một căn phòng thật tốt trong cung điện, còn chính nà vua lại ra ngọai ô chỗ sắp chôn hòang hậu. hêrăc mệt mỏi, rất hài lòng được nghỉ ngơi, ăn uống trong một căn phòng mát mẻ, sạch sẽ, chỉ buồn một nỗi là không ai tiếp chuyện với chàng cả.

Người đầy tớ già đem đồ ăn đến cho Hêrăc, nhìn chàng buồn rầu nhưng không nói gì cả.
Hêrăc khó chịu với cái nhìn đó nên nói:
- Tại sao ngươi cứ nhìn ta như vậy? Chủ của ngươi đã tiếp ta như một ngừơi bạn, một ngừơi đầy tớ tốt không được đối xử ngược lại với khách của chủ mình. Hãy lại đây uống với ta để ta khỏi phải uống một mình. Hãy uống hết đi, rồi chúng ta sẽ vui vẻ.

Người đầy tớ già buồn bã lắc đầu nói:
- Trong nhà này đang có chuyện buồn, cười và uống rượu lúc này không tốt đâu?
- Chuyện buồn nào? – Hêrăc ngạc nhiên hỏi – điều gì đã xảy ra trong ngôi nhà hạnh phúc này?
Và chàng đã nghe người đầy tớ già kể lại cái chết cao thượng của hòang hậu.

Trái tim Hêrăc đau nhói. Chàng quyết định phải dành lại cuộc sống cho Anketa. Khóac cái áo lên vai, Hêrăc đi vội đến mộ nàng.
Khi những người thân và bạn bè của Anketa đa ra về trong nỗi buồn khôn tả, Hêrăc liền đi đến gần mộ và nấp sau một cái cây cạnh lối đi. Lúc thần Chết bước đến mộ để mang linh hồn Anketa xuống âm phủ, Hêrăc liền xông đến đánh nhau với thần Chết. Với một sức mạnh kinh khủng, chàng đánh thần Chết thừa sống thiếu chết rồi túm lấy vai thần giữ chặt, đòi thần phải trả lại linh hồn cho Anketa.

Một mình vua Acmet ngồi trong cung điện trống trải. Bỗng Hêrăc ồn ào vui vẻ đi vào đem theo một phụ nữ trùm kín người bằng một tấm khăn dài.
- Đủ rồi, Acmet. – Hêrăc nói với vua. – Tại sao bạn buồn rầu lâu vậy? Vui lên đi, tôi dẫn về cho bạn một ngừơi phụ nữ này. Tôi đã đọat được nàng trong một trận quyết đấu. Nàng sẽ an ủi bạn! hãy vui lên nào, bạn sẽ hạnh phúc như trước kia.
Acmet trả lời Hêrăc:
- Ta đã hứa với người vợ yêu quí là không bao giờ cưới người phụ nữ khác làm vợ. Hãy dẫn ngừơi phụ nữ này đi đi – ta không muốn nhìn thấy người ấy.

Khi đó Hêrăc liền mở khăn chòang ra, và Acmet nhìn thấy Anketa. Nhà vua lao đến chỗ nàng nhựng lại dừng lại sợ hãi: nàng đã chết rồi, chính tay vua đã an tang kia mà!
- Đừng sợ ! Hêrăc an ủi nhà vua, - nàng còn sống đó. Tôi đã cướp nàng từ tay của thần Chết đem về cho bạn. Hãy sống và hạnh phúc mãi nhe!
Thế rồi nhà vua và hòang hậu hạnh phúc ôm chấm lấy nhau. Tin vui ấy chẳng mấy chốc lan khắp cung điện, rồi cả kinh thành. Vui vẻ thay cho nỗi buồn. Những người dân ở đây lại để tóc dài, không cắt bờm ngựa nữa và tổ chức những bữa tiệc linh đình, náo nhiệt,

Còn Hêrăc lại tiếp tục lên đường, hài lòng vì đã là một việc tốt đẹp cho mọi người.
Đến biển, chàng lên tàu đi Phơrăc. Những người thủy thủ đi phiêu bạt khắp thế gian, biết rất nhiều chuyện kể cho Hêrăc nghe về những gì họ viết về vua Điômet và những con ngựa của vua.
Điômet là một vị vua hung dũ, độc ác và rất ghét những người ngọai quốc. Nhà vua cho xây một pháo đài bên bờ biển với những bức tường đá xây quanh và sống ở đó với một đội quân bảo vệ hùng mạnh.

Mỗi khi có tàu lạ cập bờ, Điômêt liền sai đầy tớ mời họ đến chơi. Vua dẫn họ vào cung điện rồi trước mặt họ ca ngợi những con ngựa của mình. Vua Điômet có bốn con ngựa hoang. Không ai có thể thắng được chúng vào xe. Chúng bị xích vào buống bằng những sợi xích sắt. Thức ăn của chúng không phải bằng cỏ hay hạt ngũ cốc mà bang thịt người tươi sống, tất nhiên vua không nói với khách điều này. Khi khách tỏ y’‎ muốn xem những con ngựa kỳ diệu đó, vua dẫn các vị khách đó vào chuồng ngựa rồi cho chúng ăn thịt.

Những thũy thủ đã kể cho Hêrăc như vậy.
Thế là bây giờ mọi sự bứt rứt của Hêrăc tan biến. Không thể để trên đời những con ngựa độc ác và tên vua xảo quyêt kia được. Phải diệt trừ thôi.
Thế rồi Hêrăc chọn theo mình những thủy thủ tài giỏi, dũng cảm nhất đi đến đất nước Pơrăc. Ngồi trên bờ, họ đòi nhà vua phải đem ngựa ra nộp. Vua Điomet xua quân ra đánh. Hêrăc và các bạn của chàng đã đánh tan đội quân đó, giết chết tên vua độc ác rồi quăng chúng cho chính những con ngựa của hắn ăn thịt.

Sau đó, chàng đem ngựa xuống tàu, chở về cho vua Epriphêi. Vua Epriphêi ra lệnh thả bầy ngựa vào núi nơi những con thú dữ sẽ ăn thịt chúng.

0
truyện hấp dẫn thiệt nhưng mừ sao thấy Hec quyn ác quá vậy giết người tùm lum à
0