Dặm xanh (The green mile) - Tác giả : Stephen King
Truyện hình sự kinh dị
LỜI GIỚI THIỆU
“THE GREEN MILE” – DẶM XANH là tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của Stephen King, một nhà văn nổi tiếng với những câu chuyện hình sự, kinh dị; người được báo chí và độc giả mệnh danh là “Ông vua kinh dị” (King of Horror) . Tác phẩm này đã được giải thưởng Bram Stoker năm 1997 cho thể loại tiểu thuyết xuất sắc nhất.
Nội dung sách gồm sáu phần được nối kết với nhau qua lời tường thuật của viên quản giáo trường trại tử tù khi đã già. Câu chuyện xoay quanh các tù nhân chờ ngày lên ghế điện và các quản giáo có nhiệm vụ canh giữ họ trong những ngày cuối đời. Trong số các tử tù có John Coffey, một người da đen to lớn có năng lực siêu nhiên. Anh bị kết án tử hình vì tội đã bắt cóc và sát hại hai bé gái sinh đôi của ông bà Detterrick. Điều trớ trêu là John Coffey không phải là thủ phạm. Anh đã bị bắt khi đang cố gắng cứu sống hai đứa bẻ và bị kết án tử hình vì tội ác do kẻ khác gây ra…
Lồng trong câu chuyện dữ dội ở trại tử tù là những mối quan hệ đầy nhân bản giữa người và người. Các quản giáo, dù biết tù nhân của mình đã phạm phải những tội ác tày trời và sắp phải trả giá cho tội ác ấy là những bản án tử hình, nhưng vẫn cố gắng trấn an họ trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, cố làm sao cho họ được chết không đau đớn. Từng trang sách toát lên tình yêu thương của tác giả với nhân vật của mình khiến người đọc, dù bị lôi cuốn bởi bối cảnh khắc nghiệt của câu chuyện, vẫn cảm thấy xúc động mạnh mẽ.
Có thể nói “THE GREEN MILE” – DẶM XANH là một trong những tiểu thuyết gây tiếng vang lớn của Stephen King, không chỉ bởi cốt truyện đầy kịch tích mà còn bởi phong cách hành văn đặc biệt của ông: lối cuốn, đơn giản và sâu sắc. Cuốn tiểu thuyết đề cập đến những vấn đề nhức nhối trong xã hội Mỹ hiện nay: sự kỳ thị chủng tộc, những tù nhân bị kết án tử hình oan. Đó cũng là điều nhắc nhở cảnh báo đối với lương tri của mỗi con người.
“THE GREEN MILE” cũng đã được chuyển thể và dựng thành phim với nam diễn viên Tom Hank (người đã hai lần đoạt giải Oscar nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim “Philadenphia” và “Forest Gump”) đóng vai viên quản giáo trưởng trại tử tù Paul Edgecombe. Phim đã có ở Việt Nam với tựa đề “Quản giáo và tử tù”.
Với những thành công trên, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu “THE GREEN MILE” – DẶM XANH cùng bạn đọc. Cảm ơn sự đón nhận và phê bình sách của các bạn. NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Phần 1: CÁI CHẾT CỦA HAI CÔ BÉ
1
Câu chuyện xảy ra vào năm 1932, khi nhà tù tiểu bang còn ở Cold Mountain và chiếc ghế điện cũng ở nơi ấy.
Dĩ nhiên những tù nhân thường kể các câu chuyện khôi hài về chiếc ghế, giống như người ta luôn cười cợt về những chuyện làm cho họ sợ nhưng không thể nào thoát khỏi nỗi ám ảnh của chúng. Họ gọi chiếc ghế điện ấy là “Già Sparky” hoặc “Juicy vĩ đại”. Họ cười cợt về cách tính dòng điện và về giám đốc nhà tù Moores. Vào dịp lễ Tạ ơn năm ấy, ông ta đã phải tự nấu lấy bữa ăn tối, bởi vì bà vợ Melinda của ông yếu đến nỗi không thể nào làm được.
Nhưng đối với những người phải ngồi trên chiếc ghế ấy thì những câu chuyện đùa cợt sẽ sớm qua đi. Trong thời gian làm việc ở Cold Mountain, tôi đã tham gia bảy mươi tám cuộc hành hình (một con số tôi không thể nào quên được), tôi sẽ còn nhớ đến nó cả trong phút lâm chung), và tôi nghĩ phần lớn những người này chỉ chợt hiểu điều gì sẽ xảy ra khi những khớp xương của họ bị cột chặt vào hai chân bằng gỗ sồi của “Già Sparky”. Sau đó là sự nhận thức (người ta nhìn thấy nỗi kinh hoàng trong đôi mắt họ) rằng đôi chân của họ đã chấm dứt sứ mạng rồ. Máu vẫn còn chảy trong huyết quản của họ, các bắp thịt vẫn còn mạnh mẽ, nhưng tất cả đã kết thúc. Họ sẽ không bao giờ còn được đi dạo trên các cánh đồng hoặc khiêu vũ thâu đêm với các cô gái trong dịp hội hè nữa.
Những người khách của “Già Sparky” nhận biết cái chết sắp đến từ dưới khớp xương ống chân trở lên. Sau khi đã thầm thì những lời nói (thường là rối rắm) lần cuối, một cái mũ chụp lớn màu đen bằng vải lụa sẽ được chụp lên đầu của họ. Hình như chiếc mũ chụp được dành cho người bị hành hình, nhưng tôi vẫn luôn nghĩ rằng nó dành cho chúng tôi, để chúng tôi không phải nhìn thấy nỗi kinh hoàng trong đôi mắt của tội nhân, khi họ chợt nhận ra rằng sẽ phải chết với hai đầu gối bị cột chặt và bẻ gập lại.
Không có cái chết như thế ở Cold Mountain mà chỉ có ở khu E, một trại giam nằm biệt lập với bốn trại khác. Nó chỉ lớn bằng một phần tư so với các trại kia và được làm bằng gỗ, với một mái nhà bằng sắt trần trụi giống như tròng mắt nhìn trân trối lên bầu trời của một người trong cơn mê sảng. Trong trại E có sáu xà lim. Chúng được phân bố mỗi bên ba buồng chạy dọc theo một hành lang rộng ở giữa. Mỗi xà lim rộng gần gấp đôi so với các xà lim ở bốn trại kia. Đó là các buồng giam dành cho từng tù nhân riêng rẽ. Quả là quá tiện nghi đối với một nhà tù (đặc biệt là trong những năm ba mươi), thế nhưng các cai tù ở đấy rất muốn đổi chỗ làm sang bốn trại giam kia, quí vị cứ tin đúng là như thế.
Trong những năm tôi còn làm quản giáo ở khu E, chưa bao giờ cả sáu xà lim đều có “khách”. Người ta phải cảm ơn Thượng Đế về những ân huệ nho nhỏ như thế. Lúc đông nhất là bốn xà lim chứa bốn tù nhân, kể cả da trắng và da đen (ở Cold Mountain không có sự phân biệt chủng tộc, màu da giữa những người sắp chết) và lúc đó, khu giam giữ tử tù trở thành một địa ngục thu nhỏ.
Có một người phụ nữ trong buồng giam, Beverly McCall. Cô ta da đen và rất đẹp, đẹp như nguồn tội lỗi mà người ta cứ muốn lao vào. Cô ta đã chịu đựng suốt sáu năm trời việc bị chồng đánh đập, nhưng không chịu đựng được dù chỉ một ngày khi biết hắn ngoại tình. Vào buổi tối khi phát hiện ra mình đã bị lừa dối, cô ta lẳng lặng chờ, chờ cho đến khi gã Lester McCall tội nghiệp trở về sau cuộc vui với bạn bè (và có lẽ với tình nhân mới của hắn), chờ cho đến khi nghe tiếng chân của chồng bước qua cửa hiệu cắt tóc lên cầu thang để vào phòng ở; cô ta chờ cho đến lúc hắn đang cởi dở dang chiếc áo măng tô và đâm một nhát dao chí tử để xem lòng dạ phản bội của hắn. Và cô ta đã làm việc ấy bằng một trong các con dao cạo của chồng.
Hai đêm trước khi phải ngồi vào vòng tay của “Già Sparky”, cô ta gọi tôi đến trước buồng giam và nói rằng mình đã được một vị thần từ châu Phi – nguồn gốc của cô ta – đến thăm. Ngài đã khuyên cô ta hãy từ bỏ cái tên của cuộc đời nô lệ và chết dưới cái tên tự do của mình : Matuomi. Lời cầu xin của cô ta là hãy ghi tên trên giấy chứng tử của mình là Beverly Matuomi. Tôi đồ rằng không có vị thần linh nào nói cho cô ta bất cứ cái tên nào, hoặc một ý niệm để cô ta có thể nhớ lại. Dù sao thì tôi cũng nói “Vâng, O.K, được rồi!”. Một trong vô số điều người ta học được khi làm cai tù là đừng bao giờ từ chối bất cứ điều gì với những kẻ đã bị kết án tử hình nếu không thật cần thiết. Trong trường hợp của Beverly Matuomi thì điều ấy cũng không có ý nghĩa gì. Vào ba giờ chiều ngày hôm sau, ngài Thống đốc bang đã gọi điện thoại đến để ra lệnh ân xá, chuyển án tử hình thành tù chung thân ở nhà tù dành cho phụ nữ Grassy Valley Penal Facility. Tôi vui mừng khi nhìn thấy cái mông tròn trĩnh của Bevs rẽ sang trái để đi ra ngoài thay vì rẽ phải để đến với chiếc ghế điện, tôi có thể đoan chắc với quí vị điều đó.
Ba mươi lăm năm sau hoặc hơn thế - ít nhất phải là ba mươi lăm năm – tôi đã thấy lại cái tên này trên một tờ báo, dưới tấm ảnh của một phụ nữ da đen có gương mặt thon gầy, tóc bạc trắng và đeo kính gọng đồi mồi. Đó là Beverly. Bà ta đã sống mười năm cuối đời trong tự do và đã cứu thư viện của thị trấn nhỏ Raines Falls khỏi bị đóng cửa, trong lời cáo phó ghi như thế. Beverly cũng đã dạy lớp giáo lý ngày chủ nhật và rất được yêu mến ở thị trấn xa xăm ấy. “NGƯỜI NỮ QUẢN THỦ THƯ VIỆN ĐÃ QUA ĐỜI VÌ MỘT CƠN ĐAU TIM”, tít bài báo như thế và chỉ đến dòng cuối của bài báo, như được vô tình thêm vào, là dòng chữ “đã từng thụ án hai mươi năm tù về tội giết người.”
Chỉ có đôi mắt to, long lanh ẩn phía sau cặp kính gọng đồi mồi thanh lịch là vẫn thế. Đó là đôi mắt của một người đàn bà, dù đã bảy mươi tuổi, vẫn sẵn sàng chộp lấy con dao cạo đang cắm trong ca nước khử trùng khi bị thôi thúc. Người ta có thể nhận ra một kẻ sát nhân, ngay cả lúc họ từ giã cõi đời khi đang là một thủ thư già ở một thị trấn nhỏ bị lãng quên. Có thể nhận biết họ khi người ta đã phải canh giữ một số lớn kẻ sát nhân như tôi. Chỉ có một lần tôi hoài nghi về ý nghĩa công việc của mình và chính vì thế tôi viết lại câu chuyện này.
Hành lang rộng chạy dài giữa khu E được trải bằng loại vải sơn lát sàn màu xanh lá úa nhợt nhạt. Do đó, ở các khu khác người ta gọi là “Chặng Đường Cuối”, còn ở Cold Mountain gọi là “Green Mile” – “Dặm Đường Xanh” hay “Dặm Xanh”. Tôi độ chừng rằng chiều dài của nó đo từ nam đến bắc, từ đầu đến cuối, là sáu mươi bước. Đầu tiên là phòng ngoài khá rộng, tạm gọi là tiền sảnh, cuối hành lang là một ngã ba hình chữ T. Rẽ trái có nghĩa là sống, nếu ta gọi những gì diễn ra trên khoảng sân dưới ánh nắng hiu hắt ấy là cuộc sống. Có nhiều người đã rẽ trái, đã sống nhiều năm liền như thế. Ở đó, những tên trộm, những kẻ đốt nhà, những tên hiếp dâm nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của chúng, đi dạo theo cách của chúng và thực hiện những cuộc mua bán nho nhỏ theo kiểu của chúng.
Nhưng rẽ phải là một cái gì đó khác hẳn. Trước tiên, người ta sẽ bước vào văn phòng (nơi thảm trải sàn cũng mang màu xanh lá úa, tôi đã định cho thay nhưng mãi vẫn không thực hiện được) và đến trước bàn viết của tôi. Phía sau, bên trái của bàn viết là quốc kỳ nước Mỹ, bên phải là cờ của tiểu bang. Sau đấy có hai cánh cửa, một dẫn đến nhà vệ sinh nhỏ mà tôi và các quản giáo khu E (thỉnh thoảng cả giám đốc Moores) sử dụng, cánh cửa kia dẫn đến một nơi tương tự như nhà kho. Ở đó, cuộc đời sẽ kết thúc khi người ta bước vào Dặm Xanh.
Đó là một cánh cửa nhỏ. Tôi đã phải cúi thấp đầu khi đi qua đó, còn John Coffey thậm chí phải ngồi bệt xuống và trượt đi. Sau đó người ta sẽ thấy một đầu cầu thang hẹp. Xuống ba bậc thang bằng xi măng là một căn phòng có lát ván sàn. Đó là một căn phòng ảm đạm với mái sắt như mái của khu E. Vào mùa đông, ở trong đó lạnh đến nỗi người ta có thể nhìn thấy cả hơi thở của mình, còn mùa hè thì lại ngột ngạt, nóng bức. Trong buổi hành hình Elmer Manfred – vào tháng bảy hoặc tháng tám năm 1930, tôi nghĩ là khoảng đó – đã có chín nhân chứng ngất xỉu. Bên phải của nhà kho là cuộc sống. Ở đó có các dụng cụ để lao động (tất cả đều ở trên giá và bị xích lại chắc chắn, làm như đấy là vũ khí thay vì cuốc và xẻng), vải thô, bao đựng hạt giống để gieo trồng ở trên khu vườn của nhà tù, các thùng các-tông chứa giấy vệ sinh, nhiều pa-lét để phôi, vật đúc của xưởng cơ khí nhà tù, thậm chí có cả vôi để đánh dấu sân chơi bóng rổ và bóng đá. Các tù nhân chơi trên một khu vực được gọi là đồng cỏ. Ở Cold Mountain, người ta rất vui khi được chơi như thế trong những buổi chiều thu muộn.
Phía bên trái, lại là cái chết. Chiếc ghế điện được gọi là “Già Sparky” ấy được bắt chặt trên một cái bục bằng gỗ ở góc hướng đông nam của nhà kho. Chiếc ghế có các chân bằng gỗ sồi chắc chắn, hai cánh tay rộng đã từng hút những giọt mồ hôi hoảng sợ của hàng trăm người toát ra trong giây phút cuối của cuộc đời họ. Chiếc mũ bằng kim loại treo phía sau lưng ghế như mũ của con rô-bốt trong loạt truyện tranh của Buck Rogers. Một sợi dây cáp nối từ chiếc mũ xuyên qua tường ở phía sau chiếc ghế. Bên cạnh ghế có đặt một cái xô mạ kẽm. Khi nhìn vào trong đó, người ta thấy một miếng bọt biển hình tròn lắp vừa khớp với chỗ lõm trong chiếc mũ. Trước khi tội nhân bị hành hình, nó sẽ được nhúng vào một dung dịch muối để tăng khả năng dẫn điện từ dây cáp điện đến não của kẻ bị kết án tử hình.
Truyện hình sự kinh dị
LỜI GIỚI THIỆU
“THE GREEN MILE” – DẶM XANH là tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của Stephen King, một nhà văn nổi tiếng với những câu chuyện hình sự, kinh dị; người được báo chí và độc giả mệnh danh là “Ông vua kinh dị” (King of Horror) . Tác phẩm này đã được giải thưởng Bram Stoker năm 1997 cho thể loại tiểu thuyết xuất sắc nhất.
Nội dung sách gồm sáu phần được nối kết với nhau qua lời tường thuật của viên quản giáo trường trại tử tù khi đã già. Câu chuyện xoay quanh các tù nhân chờ ngày lên ghế điện và các quản giáo có nhiệm vụ canh giữ họ trong những ngày cuối đời. Trong số các tử tù có John Coffey, một người da đen to lớn có năng lực siêu nhiên. Anh bị kết án tử hình vì tội đã bắt cóc và sát hại hai bé gái sinh đôi của ông bà Detterrick. Điều trớ trêu là John Coffey không phải là thủ phạm. Anh đã bị bắt khi đang cố gắng cứu sống hai đứa bẻ và bị kết án tử hình vì tội ác do kẻ khác gây ra…
Lồng trong câu chuyện dữ dội ở trại tử tù là những mối quan hệ đầy nhân bản giữa người và người. Các quản giáo, dù biết tù nhân của mình đã phạm phải những tội ác tày trời và sắp phải trả giá cho tội ác ấy là những bản án tử hình, nhưng vẫn cố gắng trấn an họ trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, cố làm sao cho họ được chết không đau đớn. Từng trang sách toát lên tình yêu thương của tác giả với nhân vật của mình khiến người đọc, dù bị lôi cuốn bởi bối cảnh khắc nghiệt của câu chuyện, vẫn cảm thấy xúc động mạnh mẽ.
Có thể nói “THE GREEN MILE” – DẶM XANH là một trong những tiểu thuyết gây tiếng vang lớn của Stephen King, không chỉ bởi cốt truyện đầy kịch tích mà còn bởi phong cách hành văn đặc biệt của ông: lối cuốn, đơn giản và sâu sắc. Cuốn tiểu thuyết đề cập đến những vấn đề nhức nhối trong xã hội Mỹ hiện nay: sự kỳ thị chủng tộc, những tù nhân bị kết án tử hình oan. Đó cũng là điều nhắc nhở cảnh báo đối với lương tri của mỗi con người.
“THE GREEN MILE” cũng đã được chuyển thể và dựng thành phim với nam diễn viên Tom Hank (người đã hai lần đoạt giải Oscar nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim “Philadenphia” và “Forest Gump”) đóng vai viên quản giáo trưởng trại tử tù Paul Edgecombe. Phim đã có ở Việt Nam với tựa đề “Quản giáo và tử tù”.
Với những thành công trên, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu “THE GREEN MILE” – DẶM XANH cùng bạn đọc. Cảm ơn sự đón nhận và phê bình sách của các bạn. NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
Phần 1: CÁI CHẾT CỦA HAI CÔ BÉ
1
Câu chuyện xảy ra vào năm 1932, khi nhà tù tiểu bang còn ở Cold Mountain và chiếc ghế điện cũng ở nơi ấy.
Dĩ nhiên những tù nhân thường kể các câu chuyện khôi hài về chiếc ghế, giống như người ta luôn cười cợt về những chuyện làm cho họ sợ nhưng không thể nào thoát khỏi nỗi ám ảnh của chúng. Họ gọi chiếc ghế điện ấy là “Già Sparky” hoặc “Juicy vĩ đại”. Họ cười cợt về cách tính dòng điện và về giám đốc nhà tù Moores. Vào dịp lễ Tạ ơn năm ấy, ông ta đã phải tự nấu lấy bữa ăn tối, bởi vì bà vợ Melinda của ông yếu đến nỗi không thể nào làm được.
Nhưng đối với những người phải ngồi trên chiếc ghế ấy thì những câu chuyện đùa cợt sẽ sớm qua đi. Trong thời gian làm việc ở Cold Mountain, tôi đã tham gia bảy mươi tám cuộc hành hình (một con số tôi không thể nào quên được), tôi sẽ còn nhớ đến nó cả trong phút lâm chung), và tôi nghĩ phần lớn những người này chỉ chợt hiểu điều gì sẽ xảy ra khi những khớp xương của họ bị cột chặt vào hai chân bằng gỗ sồi của “Già Sparky”. Sau đó là sự nhận thức (người ta nhìn thấy nỗi kinh hoàng trong đôi mắt họ) rằng đôi chân của họ đã chấm dứt sứ mạng rồ. Máu vẫn còn chảy trong huyết quản của họ, các bắp thịt vẫn còn mạnh mẽ, nhưng tất cả đã kết thúc. Họ sẽ không bao giờ còn được đi dạo trên các cánh đồng hoặc khiêu vũ thâu đêm với các cô gái trong dịp hội hè nữa.
Những người khách của “Già Sparky” nhận biết cái chết sắp đến từ dưới khớp xương ống chân trở lên. Sau khi đã thầm thì những lời nói (thường là rối rắm) lần cuối, một cái mũ chụp lớn màu đen bằng vải lụa sẽ được chụp lên đầu của họ. Hình như chiếc mũ chụp được dành cho người bị hành hình, nhưng tôi vẫn luôn nghĩ rằng nó dành cho chúng tôi, để chúng tôi không phải nhìn thấy nỗi kinh hoàng trong đôi mắt của tội nhân, khi họ chợt nhận ra rằng sẽ phải chết với hai đầu gối bị cột chặt và bẻ gập lại.
Không có cái chết như thế ở Cold Mountain mà chỉ có ở khu E, một trại giam nằm biệt lập với bốn trại khác. Nó chỉ lớn bằng một phần tư so với các trại kia và được làm bằng gỗ, với một mái nhà bằng sắt trần trụi giống như tròng mắt nhìn trân trối lên bầu trời của một người trong cơn mê sảng. Trong trại E có sáu xà lim. Chúng được phân bố mỗi bên ba buồng chạy dọc theo một hành lang rộng ở giữa. Mỗi xà lim rộng gần gấp đôi so với các xà lim ở bốn trại kia. Đó là các buồng giam dành cho từng tù nhân riêng rẽ. Quả là quá tiện nghi đối với một nhà tù (đặc biệt là trong những năm ba mươi), thế nhưng các cai tù ở đấy rất muốn đổi chỗ làm sang bốn trại giam kia, quí vị cứ tin đúng là như thế.
Trong những năm tôi còn làm quản giáo ở khu E, chưa bao giờ cả sáu xà lim đều có “khách”. Người ta phải cảm ơn Thượng Đế về những ân huệ nho nhỏ như thế. Lúc đông nhất là bốn xà lim chứa bốn tù nhân, kể cả da trắng và da đen (ở Cold Mountain không có sự phân biệt chủng tộc, màu da giữa những người sắp chết) và lúc đó, khu giam giữ tử tù trở thành một địa ngục thu nhỏ.
Có một người phụ nữ trong buồng giam, Beverly McCall. Cô ta da đen và rất đẹp, đẹp như nguồn tội lỗi mà người ta cứ muốn lao vào. Cô ta đã chịu đựng suốt sáu năm trời việc bị chồng đánh đập, nhưng không chịu đựng được dù chỉ một ngày khi biết hắn ngoại tình. Vào buổi tối khi phát hiện ra mình đã bị lừa dối, cô ta lẳng lặng chờ, chờ cho đến khi gã Lester McCall tội nghiệp trở về sau cuộc vui với bạn bè (và có lẽ với tình nhân mới của hắn), chờ cho đến khi nghe tiếng chân của chồng bước qua cửa hiệu cắt tóc lên cầu thang để vào phòng ở; cô ta chờ cho đến lúc hắn đang cởi dở dang chiếc áo măng tô và đâm một nhát dao chí tử để xem lòng dạ phản bội của hắn. Và cô ta đã làm việc ấy bằng một trong các con dao cạo của chồng.
Hai đêm trước khi phải ngồi vào vòng tay của “Già Sparky”, cô ta gọi tôi đến trước buồng giam và nói rằng mình đã được một vị thần từ châu Phi – nguồn gốc của cô ta – đến thăm. Ngài đã khuyên cô ta hãy từ bỏ cái tên của cuộc đời nô lệ và chết dưới cái tên tự do của mình : Matuomi. Lời cầu xin của cô ta là hãy ghi tên trên giấy chứng tử của mình là Beverly Matuomi. Tôi đồ rằng không có vị thần linh nào nói cho cô ta bất cứ cái tên nào, hoặc một ý niệm để cô ta có thể nhớ lại. Dù sao thì tôi cũng nói “Vâng, O.K, được rồi!”. Một trong vô số điều người ta học được khi làm cai tù là đừng bao giờ từ chối bất cứ điều gì với những kẻ đã bị kết án tử hình nếu không thật cần thiết. Trong trường hợp của Beverly Matuomi thì điều ấy cũng không có ý nghĩa gì. Vào ba giờ chiều ngày hôm sau, ngài Thống đốc bang đã gọi điện thoại đến để ra lệnh ân xá, chuyển án tử hình thành tù chung thân ở nhà tù dành cho phụ nữ Grassy Valley Penal Facility. Tôi vui mừng khi nhìn thấy cái mông tròn trĩnh của Bevs rẽ sang trái để đi ra ngoài thay vì rẽ phải để đến với chiếc ghế điện, tôi có thể đoan chắc với quí vị điều đó.
Ba mươi lăm năm sau hoặc hơn thế - ít nhất phải là ba mươi lăm năm – tôi đã thấy lại cái tên này trên một tờ báo, dưới tấm ảnh của một phụ nữ da đen có gương mặt thon gầy, tóc bạc trắng và đeo kính gọng đồi mồi. Đó là Beverly. Bà ta đã sống mười năm cuối đời trong tự do và đã cứu thư viện của thị trấn nhỏ Raines Falls khỏi bị đóng cửa, trong lời cáo phó ghi như thế. Beverly cũng đã dạy lớp giáo lý ngày chủ nhật và rất được yêu mến ở thị trấn xa xăm ấy. “NGƯỜI NỮ QUẢN THỦ THƯ VIỆN ĐÃ QUA ĐỜI VÌ MỘT CƠN ĐAU TIM”, tít bài báo như thế và chỉ đến dòng cuối của bài báo, như được vô tình thêm vào, là dòng chữ “đã từng thụ án hai mươi năm tù về tội giết người.”
Chỉ có đôi mắt to, long lanh ẩn phía sau cặp kính gọng đồi mồi thanh lịch là vẫn thế. Đó là đôi mắt của một người đàn bà, dù đã bảy mươi tuổi, vẫn sẵn sàng chộp lấy con dao cạo đang cắm trong ca nước khử trùng khi bị thôi thúc. Người ta có thể nhận ra một kẻ sát nhân, ngay cả lúc họ từ giã cõi đời khi đang là một thủ thư già ở một thị trấn nhỏ bị lãng quên. Có thể nhận biết họ khi người ta đã phải canh giữ một số lớn kẻ sát nhân như tôi. Chỉ có một lần tôi hoài nghi về ý nghĩa công việc của mình và chính vì thế tôi viết lại câu chuyện này.
Hành lang rộng chạy dài giữa khu E được trải bằng loại vải sơn lát sàn màu xanh lá úa nhợt nhạt. Do đó, ở các khu khác người ta gọi là “Chặng Đường Cuối”, còn ở Cold Mountain gọi là “Green Mile” – “Dặm Đường Xanh” hay “Dặm Xanh”. Tôi độ chừng rằng chiều dài của nó đo từ nam đến bắc, từ đầu đến cuối, là sáu mươi bước. Đầu tiên là phòng ngoài khá rộng, tạm gọi là tiền sảnh, cuối hành lang là một ngã ba hình chữ T. Rẽ trái có nghĩa là sống, nếu ta gọi những gì diễn ra trên khoảng sân dưới ánh nắng hiu hắt ấy là cuộc sống. Có nhiều người đã rẽ trái, đã sống nhiều năm liền như thế. Ở đó, những tên trộm, những kẻ đốt nhà, những tên hiếp dâm nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của chúng, đi dạo theo cách của chúng và thực hiện những cuộc mua bán nho nhỏ theo kiểu của chúng.
Nhưng rẽ phải là một cái gì đó khác hẳn. Trước tiên, người ta sẽ bước vào văn phòng (nơi thảm trải sàn cũng mang màu xanh lá úa, tôi đã định cho thay nhưng mãi vẫn không thực hiện được) và đến trước bàn viết của tôi. Phía sau, bên trái của bàn viết là quốc kỳ nước Mỹ, bên phải là cờ của tiểu bang. Sau đấy có hai cánh cửa, một dẫn đến nhà vệ sinh nhỏ mà tôi và các quản giáo khu E (thỉnh thoảng cả giám đốc Moores) sử dụng, cánh cửa kia dẫn đến một nơi tương tự như nhà kho. Ở đó, cuộc đời sẽ kết thúc khi người ta bước vào Dặm Xanh.
Đó là một cánh cửa nhỏ. Tôi đã phải cúi thấp đầu khi đi qua đó, còn John Coffey thậm chí phải ngồi bệt xuống và trượt đi. Sau đó người ta sẽ thấy một đầu cầu thang hẹp. Xuống ba bậc thang bằng xi măng là một căn phòng có lát ván sàn. Đó là một căn phòng ảm đạm với mái sắt như mái của khu E. Vào mùa đông, ở trong đó lạnh đến nỗi người ta có thể nhìn thấy cả hơi thở của mình, còn mùa hè thì lại ngột ngạt, nóng bức. Trong buổi hành hình Elmer Manfred – vào tháng bảy hoặc tháng tám năm 1930, tôi nghĩ là khoảng đó – đã có chín nhân chứng ngất xỉu. Bên phải của nhà kho là cuộc sống. Ở đó có các dụng cụ để lao động (tất cả đều ở trên giá và bị xích lại chắc chắn, làm như đấy là vũ khí thay vì cuốc và xẻng), vải thô, bao đựng hạt giống để gieo trồng ở trên khu vườn của nhà tù, các thùng các-tông chứa giấy vệ sinh, nhiều pa-lét để phôi, vật đúc của xưởng cơ khí nhà tù, thậm chí có cả vôi để đánh dấu sân chơi bóng rổ và bóng đá. Các tù nhân chơi trên một khu vực được gọi là đồng cỏ. Ở Cold Mountain, người ta rất vui khi được chơi như thế trong những buổi chiều thu muộn.
Phía bên trái, lại là cái chết. Chiếc ghế điện được gọi là “Già Sparky” ấy được bắt chặt trên một cái bục bằng gỗ ở góc hướng đông nam của nhà kho. Chiếc ghế có các chân bằng gỗ sồi chắc chắn, hai cánh tay rộng đã từng hút những giọt mồ hôi hoảng sợ của hàng trăm người toát ra trong giây phút cuối của cuộc đời họ. Chiếc mũ bằng kim loại treo phía sau lưng ghế như mũ của con rô-bốt trong loạt truyện tranh của Buck Rogers. Một sợi dây cáp nối từ chiếc mũ xuyên qua tường ở phía sau chiếc ghế. Bên cạnh ghế có đặt một cái xô mạ kẽm. Khi nhìn vào trong đó, người ta thấy một miếng bọt biển hình tròn lắp vừa khớp với chỗ lõm trong chiếc mũ. Trước khi tội nhân bị hành hình, nó sẽ được nhúng vào một dung dịch muối để tăng khả năng dẫn điện từ dây cáp điện đến não của kẻ bị kết án tử hình.
Life is too short.