📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Dặm xanh-Stephen King 🔒

1 trả lời, 3.797 lượt xem — Trang 1 / 1
Dặm xanh (The green mile) - Tác giả : Stephen King
Truyện hình sự kinh dị

LỜI GIỚI THIỆU
“THE GREEN MILE” – DẶM XANH là tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của Stephen King, một nhà văn nổi tiếng với những câu chuyện hình sự, kinh dị; người được báo chí và độc giả mệnh danh là “Ông vua kinh dị” (King of Horror) . Tác phẩm này đã được giải thưởng Bram Stoker năm 1997 cho thể loại tiểu thuyết xuất sắc nhất.
Nội dung sách gồm sáu phần được nối kết với nhau qua lời tường thuật của viên quản giáo trường trại tử tù khi đã già. Câu chuyện xoay quanh các tù nhân chờ ngày lên ghế điện và các quản giáo có nhiệm vụ canh giữ họ trong những ngày cuối đời. Trong số các tử tù có John Coffey, một người da đen to lớn có năng lực siêu nhiên. Anh bị kết án tử hình vì tội đã bắt cóc và sát hại hai bé gái sinh đôi của ông bà Detterrick. Điều trớ trêu là John Coffey không phải là thủ phạm. Anh đã bị bắt khi đang cố gắng cứu sống hai đứa bẻ và bị kết án tử hình vì tội ác do kẻ khác gây ra…
Lồng trong câu chuyện dữ dội ở trại tử tù là những mối quan hệ đầy nhân bản giữa người và người. Các quản giáo, dù biết tù nhân của mình đã phạm phải những tội ác tày trời và sắp phải trả giá cho tội ác ấy là những bản án tử hình, nhưng vẫn cố gắng trấn an họ trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, cố làm sao cho họ được chết không đau đớn. Từng trang sách toát lên tình yêu thương của tác giả với nhân vật của mình khiến người đọc, dù bị lôi cuốn bởi bối cảnh khắc nghiệt của câu chuyện, vẫn cảm thấy xúc động mạnh mẽ.
Có thể nói “THE GREEN MILE” – DẶM XANH là một trong những tiểu thuyết gây tiếng vang lớn của Stephen King, không chỉ bởi cốt truyện đầy kịch tích mà còn bởi phong cách hành văn đặc biệt của ông: lối cuốn, đơn giản và sâu sắc. Cuốn tiểu thuyết đề cập đến những vấn đề nhức nhối trong xã hội Mỹ hiện nay: sự kỳ thị chủng tộc, những tù nhân bị kết án tử hình oan. Đó cũng là điều nhắc nhở cảnh báo đối với lương tri của mỗi con người.
“THE GREEN MILE” cũng đã được chuyển thể và dựng thành phim với nam diễn viên Tom Hank (người đã hai lần đoạt giải Oscar nam diễn viên chính xuất sắc nhất trong phim “Philadenphia” và “Forest Gump”) đóng vai viên quản giáo trưởng trại tử tù Paul Edgecombe. Phim đã có ở Việt Nam với tựa đề “Quản giáo và tử tù”.
Với những thành công trên, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu “THE GREEN MILE” – DẶM XANH cùng bạn đọc. Cảm ơn sự đón nhận và phê bình sách của các bạn. NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

Phần 1: CÁI CHẾT CỦA HAI CÔ BÉ

1

Câu chuyện xảy ra vào năm 1932, khi nhà tù tiểu bang còn ở Cold Mountain và chiếc ghế điện cũng ở nơi ấy.
Dĩ nhiên những tù nhân thường kể các câu chuyện khôi hài về chiếc ghế, giống như người ta luôn cười cợt về những chuyện làm cho họ sợ nhưng không thể nào thoát khỏi nỗi ám ảnh của chúng. Họ gọi chiếc ghế điện ấy là “Già Sparky” hoặc “Juicy vĩ đại”. Họ cười cợt về cách tính dòng điện và về giám đốc nhà tù Moores. Vào dịp lễ Tạ ơn năm ấy, ông ta đã phải tự nấu lấy bữa ăn tối, bởi vì bà vợ Melinda của ông yếu đến nỗi không thể nào làm được.
Nhưng đối với những người phải ngồi trên chiếc ghế ấy thì những câu chuyện đùa cợt sẽ sớm qua đi. Trong thời gian làm việc ở Cold Mountain, tôi đã tham gia bảy mươi tám cuộc hành hình (một con số tôi không thể nào quên được), tôi sẽ còn nhớ đến nó cả trong phút lâm chung), và tôi nghĩ phần lớn những người này chỉ chợt hiểu điều gì sẽ xảy ra khi những khớp xương của họ bị cột chặt vào hai chân bằng gỗ sồi của “Già Sparky”. Sau đó là sự nhận thức (người ta nhìn thấy nỗi kinh hoàng trong đôi mắt họ) rằng đôi chân của họ đã chấm dứt sứ mạng rồ. Máu vẫn còn chảy trong huyết quản của họ, các bắp thịt vẫn còn mạnh mẽ, nhưng tất cả đã kết thúc. Họ sẽ không bao giờ còn được đi dạo trên các cánh đồng hoặc khiêu vũ thâu đêm với các cô gái trong dịp hội hè nữa.
Những người khách của “Già Sparky” nhận biết cái chết sắp đến từ dưới khớp xương ống chân trở lên. Sau khi đã thầm thì những lời nói (thường là rối rắm) lần cuối, một cái mũ chụp lớn màu đen bằng vải lụa sẽ được chụp lên đầu của họ. Hình như chiếc mũ chụp được dành cho người bị hành hình, nhưng tôi vẫn luôn nghĩ rằng nó dành cho chúng tôi, để chúng tôi không phải nhìn thấy nỗi kinh hoàng trong đôi mắt của tội nhân, khi họ chợt nhận ra rằng sẽ phải chết với hai đầu gối bị cột chặt và bẻ gập lại.
Không có cái chết như thế ở Cold Mountain mà chỉ có ở khu E, một trại giam nằm biệt lập với bốn trại khác. Nó chỉ lớn bằng một phần tư so với các trại kia và được làm bằng gỗ, với một mái nhà bằng sắt trần trụi giống như tròng mắt nhìn trân trối lên bầu trời của một người trong cơn mê sảng. Trong trại E có sáu xà lim. Chúng được phân bố mỗi bên ba buồng chạy dọc theo một hành lang rộng ở giữa. Mỗi xà lim rộng gần gấp đôi so với các xà lim ở bốn trại kia. Đó là các buồng giam dành cho từng tù nhân riêng rẽ. Quả là quá tiện nghi đối với một nhà tù (đặc biệt là trong những năm ba mươi), thế nhưng các cai tù ở đấy rất muốn đổi chỗ làm sang bốn trại giam kia, quí vị cứ tin đúng là như thế.
Trong những năm tôi còn làm quản giáo ở khu E, chưa bao giờ cả sáu xà lim đều có “khách”. Người ta phải cảm ơn Thượng Đế về những ân huệ nho nhỏ như thế. Lúc đông nhất là bốn xà lim chứa bốn tù nhân, kể cả da trắng và da đen (ở Cold Mountain không có sự phân biệt chủng tộc, màu da giữa những người sắp chết) và lúc đó, khu giam giữ tử tù trở thành một địa ngục thu nhỏ.
Có một người phụ nữ trong buồng giam, Beverly McCall. Cô ta da đen và rất đẹp, đẹp như nguồn tội lỗi mà người ta cứ muốn lao vào. Cô ta đã chịu đựng suốt sáu năm trời việc bị chồng đánh đập, nhưng không chịu đựng được dù chỉ một ngày khi biết hắn ngoại tình. Vào buổi tối khi phát hiện ra mình đã bị lừa dối, cô ta lẳng lặng chờ, chờ cho đến khi gã Lester McCall tội nghiệp trở về sau cuộc vui với bạn bè (và có lẽ với tình nhân mới của hắn), chờ cho đến khi nghe tiếng chân của chồng bước qua cửa hiệu cắt tóc lên cầu thang để vào phòng ở; cô ta chờ cho đến lúc hắn đang cởi dở dang chiếc áo măng tô và đâm một nhát dao chí tử để xem lòng dạ phản bội của hắn. Và cô ta đã làm việc ấy bằng một trong các con dao cạo của chồng.
Hai đêm trước khi phải ngồi vào vòng tay của “Già Sparky”, cô ta gọi tôi đến trước buồng giam và nói rằng mình đã được một vị thần từ châu Phi – nguồn gốc của cô ta – đến thăm. Ngài đã khuyên cô ta hãy từ bỏ cái tên của cuộc đời nô lệ và chết dưới cái tên tự do của mình : Matuomi. Lời cầu xin của cô ta là hãy ghi tên trên giấy chứng tử của mình là Beverly Matuomi. Tôi đồ rằng không có vị thần linh nào nói cho cô ta bất cứ cái tên nào, hoặc một ý niệm để cô ta có thể nhớ lại. Dù sao thì tôi cũng nói “Vâng, O.K, được rồi!”. Một trong vô số điều người ta học được khi làm cai tù là đừng bao giờ từ chối bất cứ điều gì với những kẻ đã bị kết án tử hình nếu không thật cần thiết. Trong trường hợp của Beverly Matuomi thì điều ấy cũng không có ý nghĩa gì. Vào ba giờ chiều ngày hôm sau, ngài Thống đốc bang đã gọi điện thoại đến để ra lệnh ân xá, chuyển án tử hình thành tù chung thân ở nhà tù dành cho phụ nữ Grassy Valley Penal Facility. Tôi vui mừng khi nhìn thấy cái mông tròn trĩnh của Bevs rẽ sang trái để đi ra ngoài thay vì rẽ phải để đến với chiếc ghế điện, tôi có thể đoan chắc với quí vị điều đó.
Ba mươi lăm năm sau hoặc hơn thế - ít nhất phải là ba mươi lăm năm – tôi đã thấy lại cái tên này trên một tờ báo, dưới tấm ảnh của một phụ nữ da đen có gương mặt thon gầy, tóc bạc trắng và đeo kính gọng đồi mồi. Đó là Beverly. Bà ta đã sống mười năm cuối đời trong tự do và đã cứu thư viện của thị trấn nhỏ Raines Falls khỏi bị đóng cửa, trong lời cáo phó ghi như thế. Beverly cũng đã dạy lớp giáo lý ngày chủ nhật và rất được yêu mến ở thị trấn xa xăm ấy. “NGƯỜI NỮ QUẢN THỦ THƯ VIỆN ĐÃ QUA ĐỜI VÌ MỘT CƠN ĐAU TIM”, tít bài báo như thế và chỉ đến dòng cuối của bài báo, như được vô tình thêm vào, là dòng chữ “đã từng thụ án hai mươi năm tù về tội giết người.”
Chỉ có đôi mắt to, long lanh ẩn phía sau cặp kính gọng đồi mồi thanh lịch là vẫn thế. Đó là đôi mắt của một người đàn bà, dù đã bảy mươi tuổi, vẫn sẵn sàng chộp lấy con dao cạo đang cắm trong ca nước khử trùng khi bị thôi thúc. Người ta có thể nhận ra một kẻ sát nhân, ngay cả lúc họ từ giã cõi đời khi đang là một thủ thư già ở một thị trấn nhỏ bị lãng quên. Có thể nhận biết họ khi người ta đã phải canh giữ một số lớn kẻ sát nhân như tôi. Chỉ có một lần tôi hoài nghi về ý nghĩa công việc của mình và chính vì thế tôi viết lại câu chuyện này.
Hành lang rộng chạy dài giữa khu E được trải bằng loại vải sơn lát sàn màu xanh lá úa nhợt nhạt. Do đó, ở các khu khác người ta gọi là “Chặng Đường Cuối”, còn ở Cold Mountain gọi là “Green Mile” – “Dặm Đường Xanh” hay “Dặm Xanh”. Tôi độ chừng rằng chiều dài của nó đo từ nam đến bắc, từ đầu đến cuối, là sáu mươi bước. Đầu tiên là phòng ngoài khá rộng, tạm gọi là tiền sảnh, cuối hành lang là một ngã ba hình chữ T. Rẽ trái có nghĩa là sống, nếu ta gọi những gì diễn ra trên khoảng sân dưới ánh nắng hiu hắt ấy là cuộc sống. Có nhiều người đã rẽ trái, đã sống nhiều năm liền như thế. Ở đó, những tên trộm, những kẻ đốt nhà, những tên hiếp dâm nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của chúng, đi dạo theo cách của chúng và thực hiện những cuộc mua bán nho nhỏ theo kiểu của chúng.
Nhưng rẽ phải là một cái gì đó khác hẳn. Trước tiên, người ta sẽ bước vào văn phòng (nơi thảm trải sàn cũng mang màu xanh lá úa, tôi đã định cho thay nhưng mãi vẫn không thực hiện được) và đến trước bàn viết của tôi. Phía sau, bên trái của bàn viết là quốc kỳ nước Mỹ, bên phải là cờ của tiểu bang. Sau đấy có hai cánh cửa, một dẫn đến nhà vệ sinh nhỏ mà tôi và các quản giáo khu E (thỉnh thoảng cả giám đốc Moores) sử dụng, cánh cửa kia dẫn đến một nơi tương tự như nhà kho. Ở đó, cuộc đời sẽ kết thúc khi người ta bước vào Dặm Xanh.
Đó là một cánh cửa nhỏ. Tôi đã phải cúi thấp đầu khi đi qua đó, còn John Coffey thậm chí phải ngồi bệt xuống và trượt đi. Sau đó người ta sẽ thấy một đầu cầu thang hẹp. Xuống ba bậc thang bằng xi măng là một căn phòng có lát ván sàn. Đó là một căn phòng ảm đạm với mái sắt như mái của khu E. Vào mùa đông, ở trong đó lạnh đến nỗi người ta có thể nhìn thấy cả hơi thở của mình, còn mùa hè thì lại ngột ngạt, nóng bức. Trong buổi hành hình Elmer Manfred – vào tháng bảy hoặc tháng tám năm 1930, tôi nghĩ là khoảng đó – đã có chín nhân chứng ngất xỉu. Bên phải của nhà kho là cuộc sống. Ở đó có các dụng cụ để lao động (tất cả đều ở trên giá và bị xích lại chắc chắn, làm như đấy là vũ khí thay vì cuốc và xẻng), vải thô, bao đựng hạt giống để gieo trồng ở trên khu vườn của nhà tù, các thùng các-tông chứa giấy vệ sinh, nhiều pa-lét để phôi, vật đúc của xưởng cơ khí nhà tù, thậm chí có cả vôi để đánh dấu sân chơi bóng rổ và bóng đá. Các tù nhân chơi trên một khu vực được gọi là đồng cỏ. Ở Cold Mountain, người ta rất vui khi được chơi như thế trong những buổi chiều thu muộn.
Phía bên trái, lại là cái chết. Chiếc ghế điện được gọi là “Già Sparky” ấy được bắt chặt trên một cái bục bằng gỗ ở góc hướng đông nam của nhà kho. Chiếc ghế có các chân bằng gỗ sồi chắc chắn, hai cánh tay rộng đã từng hút những giọt mồ hôi hoảng sợ của hàng trăm người toát ra trong giây phút cuối của cuộc đời họ. Chiếc mũ bằng kim loại treo phía sau lưng ghế như mũ của con rô-bốt trong loạt truyện tranh của Buck Rogers. Một sợi dây cáp nối từ chiếc mũ xuyên qua tường ở phía sau chiếc ghế. Bên cạnh ghế có đặt một cái xô mạ kẽm. Khi nhìn vào trong đó, người ta thấy một miếng bọt biển hình tròn lắp vừa khớp với chỗ lõm trong chiếc mũ. Trước khi tội nhân bị hành hình, nó sẽ được nhúng vào một dung dịch muối để tăng khả năng dẫn điện từ dây cáp điện đến não của kẻ bị kết án tử hình.



Life is too short.
0
2
1932 là năm của John Coffey. Các chi tiết được đăng tải đầy trên báo và người nào quan tâm đến câu chuyện ấy đều có thể đọc được. Người nào đó có nhiều năng lượng hơn là một cụ già đang chờ đợi sự kết thúc của cuộc đời trong một nhà dưỡng lão ở Georgia.
Tôi nhớ lại, đó là một mùa thu nóng bức. Quả thực rất nóng bức. Tháng mười cũng như tháng tám. Và bà vợ của vị giám đốc nhà tù, Melinda, phải vào bệnh viện ở Indianola. Mùa thu năm ấy, tôi bị căn bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu tồi tệ nhất trong cuộc đời mình. Tôi không đến nỗi phải vào bệnh viện nhưng mỗi lần đi tiểu tôi chỉ muốn chết đi cho xong. Đó là mùa thu của Delacroix, một người Pháp có cái đầu bị hói gần hết và là mùa thu của một con chuột. Người đàn ông ấy đã đến vào mùa hè và bày trò vui với cái trục chỉ bằng gỗ. Nhưng chủ yếu đó là mùa thu mà John Coffey đến trại E, bị kết án tử hình vì tội hãm hiếp và sát hại hai cô bé sinh đôi nhà Detterick.
Ở trại tử tù, mỗi một ca trực có bốn đến năm quản giáo, nhưng phần nhiều trong số đó là quản giáo từ các trại khác tăng cường. Biên chế của khu E ngoài tôi ra là Dean Stanton, Harry Terwilliger và Brutus Howell. Các quản giáo gọi anh ta là “Brutal” – “Kẻ tàn nhẫn” – nhưng đó thật sự chỉ là lời nói đùa, vì trái ngược với thân hình cao lớn, lực lưỡng, anh ta thậm chí không làm hại đến cả một con ruồi, nếu như không cần thiết. Đến bây giờ thì ba người đều đã chết, kể cả Percy Wetmore, kẻ thật sự tàn nhẫn và lại ngu ngốc nữa. Percy không có gì cần phải làm ở khu E, nơi mà một kẻ độc ác bẩm sinh không thể giúp ích được gì và đôi khi lại gây nguy hiểm nữa. Nhưng hắn có người cô là vợ của ngài thống đốc tiểu bang. Thế là hắn có mặt ở trại tử tù.
Chính Percy Wetmore là người đã áp giải Coffey đến khu E với tiếng quát tháo ầm ỹ. Có lẽ hắn rất thích thú khi hò hét :”Một xác chết biết đi! Một xác chết biết đi đang đến!”
Thời tiết nóng như bản lề của các cánh cửa. Cánh cửa dẫn vào khu trại giam được mở ra, để một luồng ánh sáng tràn vào và người đàn ông cao lớn xuất hiện. Đây là người cao lớn nhất mà tôi đã từng thấy, ngoài trừ các vận động viên bóng rổ trên vô tuyến truyền hình. Gã mang còng tay, còn đôi chân thì bị xích lại với nhau bằng sợi xích nặng nề, khua lỏang xoảng như các đồng xu bị rơi xuống đất, theo từng bước chân của gã trên hành lang màu xanh lá dẫn đến xà lim.
Percy Wetmore đi một bên Coffey, còn anh chàng gầy gò Harry Terwillger đi bên kia. Hai người trông giống như hai đứa trẻ đang áp tải một con gấu to lớn vừa săn bắt được. Thậm chí Brutus Howell so với Coffey cũng giống như một đứa trẻ, tuy Brutal cao hơn một mét tám mươi mốt, lại lực lưỡng. Anh ta đã từng là cầu thủ tiền vệ của một đội bóng đá và đã định theo nghề cầu thủ chuyên nghiệp cho đến khi bị tống cổ đi và quay trở lại nhà tù Cold Mountain.
John Coffey là một người da đen, như phần lớn phạm nhân tạm lưu lại một thời gian ở trại E trước khi chết trong vòng tay của “Già Sparky”. Gã cao phải đến hai mét, không nhanh nhẹn như những vận động viên bóng rổ thường thấy trên vô tuyến truyền hình, nhưng vai rộng và người cuồn cuộn bắp thịt. Người ta đã đưa cho gã bộ quần áo lớn nhất của nhà tù, tuy vậy, cái quần vẫn ngắn cũn cỡn để lộ bắp chân đầy sẹo, chiếc áo phanh ra vì không thể che nổi bộ ngực rộng của gã, còn tay áo cũng quá ngắn. Bàn tay to lớn của gã cầm một chiếc mũ. Có vẻ như gã có thể dễ dàng dứt đứt sợi dây xích như chúng ta làm với sợi dây buộc gói quà Giáng Sinh, nhưng khi quí vị nhìn vào gương mặt của gã, quí vị biết là gã sẽ không làm chuyện đó. Trông gã không ngu ngốc, mặc dù Percy nghĩ như thế và đã gọi gã là thằng ngốc. Gã chỉ có vẻ như một người bị lạc đường. Gã đưa mắt nhìn quanh như cố nghĩ xem mình đang ở đâu, thậm chí, mình là ai. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là trông gã như anh chàng da đen khổng lồ Samson sau khi bị nàng Dalida cạo đầu bằng đôi bàn tay bạc tình của nàng và vì thế, đã tước hết mọi niềm vui của hắn.
”Một xác chết biết đi!” Percy vừa hô to vừa lôi cái còng tay của con người to như gấu này, làm như là hắn có thể buộc Coffey phải đi nếu như gã không muốn bước tới nữa. Harry không nói gì, nhưng trông anh ta có vẻ khó chịu.
”Xác chết biết đi!”
- Đủ rồi! – Tôi nói. Tôi đang ở trong xà lim dành sẵn cho Coffey và ngồi trên tấm ván dùng làm giường. Dĩ nhiên tôi đã biết trước là người tù ấy sắp đến và đang chờ để đón hắn, đồng thời nhận lấy trách nhiệm giám sát hắn, nhưng tôi không ngờ hắn to lớn đến thế. Percy nhìn tôi với ánh mắt như ngầm bảo mọi người đều biết đó là thằng khốn nạn (dĩ nhiên ngoại trừ chính tên tù mới bị áp giải đến, kẻ chỉ biết cưỡng hiếp và sát hại trẻ con thôi), nhưng hắn không nói gì.



Life is too short.
0