📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Cửa địa ngục 🔒

128 trả lời, 22.714 lượt xem — Trang 1 / 5
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-29 04:27:22Thái Nhi>
Sách có tất cả bốn phần:

* Phần I: Đường về - 8 chương
- Chương 1-3 Ct.Ly đã nhận (hoàn tất)
- Chương 4-5 Asin đã nhận (hoàn tất)
- Chương 6-8 Chưa có người nhận

* Phần II: Lắng nghe - 11 chương
- Chương 1-4 Chưa có người nhận
- Chương 5 Khachxa đã nhận (hoàn tất)
- Chương 6-11 Chưa có người nhận

* Phần III: Thành đô - 4 chương
Chưa có người nhận

* Phần IV: Chẳng ai tìm dấu - 12 chương
- Chương 1-5 Chưa có người nhận
- Chương 6-12 Khachxa đã nhận (hoàn tất đến chương 7)



[url=http://vnthuquan.net/user/nikolailovxop/cua dia nguc.pdf]Phần một trang11 &gt; trang86[/url]

[url=http://vnthuquan.net/user/nikolailovxop/Cua dia nguc part2.pdf]Phần hai - 1st half trang87 &gt; trang121[/url]

[url=http://vnthuquan.net/user/nikolailovxop/Cua dia nguc-tr122-tr187.pdf]Phần hai - 2nd half trang122 &gt; trang187[/url]

[url=http://vnthuquan.net/user/nikolailovxop/cua dia nguc part3.pdf]Phần ba trang191 &gt; trang227[/url]

[url=http://vnthuquan.net/user/nikolailovxop/Cua dia nguc part4 - 1st half.pdf]Phần bốn - 1st half trang231 &gt; trang294[/url]

[url=http://vnthuquan.net/user/nikolailovxop/Cua dia nguc part4 - 2nd half.pdf]Phần bốn - 2nd half trang295 &gt; trang370[/url]


Hết


📎 Cua dia nguc
0
Làm sao mà download PHẦN MỘT xuống dzị? vào cái site Megaupload đó cũng không có down được nè ! dường như nó bắt Register sao đó !

 
0
Asin chỉ cần chờ khoảng 45 phút, xong rồi download xuống cất vô folder, rồi gõ theo kiễu nào tùy ý, chúc vui vẽ
0

Trích đoạn: bebebongbong

Asin chỉ cần chờ khoảng 45 phút, xong rồi download xuống cất vô folder, rồi gõ theo kiễu nào tùy ý, chúc vui vẽ


Mình đâu có thấy đồng hồ đếm ngược 45 phút đâu nhỉ, mình cũng đang kẹt với cái vụ Mega này đây, nên vẫn chưa gõ gì được với truyện mà NIK muốn gõ dùm. Chán quá.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-09 15:08:29Ct.Ly>
Trích đoạn: conbo2

Quả thật thằng megaupload dạo này trở chứng rồi. Nó đòi Premium.

All download slots (100) assigned to your country (Viet Nam) are in use.
Please try again later.


Mít Đặc và Biết Tuốt nếu scan chọn loại đen trắng ấy, nó sẽ có kích thước nhỏ hơn scan màu


Hèn chi ! ttl tried to figure out what is the problem... Could not think of any reason... Thì ra Việt Nam bị megaupload.com "limit"[:D] Bó tay thiệt !!!
0
Góp ý:
TQVN có thể dành ra khoảng 5 gigabytes để dành cho upload và downdload các cuốn sách cần đánh máy. Vì files loại này thường cũng có size nhỏ mà. Và khi upload & download xong sẽ "xóa" , lấy chỗ trống lại để up & down load files tiếp. Hiện nay cho hầu hết các servers thì 5 giga memory is virtually nothing. =&gt; Is it a workable & practical solution????




0
Gmail của Asin nè
phuong.tr@gmail.com

 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-03 04:37:14nikolailovxop>
Hello Asin, Nhờ quái nhân giúp đỡ Nik đã Update lại cái link rồi, giờ bạn quay lại bên trên
click vào "phần một" để download nhe...happy typing[:)]
0
Hi Nik !

Mấy hôm nay Computer của Asin bị virus nên mất tiêu file Cuadianguc.pdf rồi, vào đây download lại thì hình như là Nik đã xóa trên FTP, Nik làm ơn up lại giùm nha, còn chút xíu nữa là xong rồi, và up tiếp phần tiếp theo nha.

Thân ái
Asin

 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-21 23:59:03Ct.Ly>
Bản nhỏ gọn hơn đây!

Ct.Ly nhận gõ

Từ trang 1 - 23


Cửa Địa Ngục



Tác giả : James Dawson
Dịch giả : Bồ Giang


Quay lưng giữa bước đường về
Lắng nghe nhìn lại bên hè phố đêm
Thành đô mờ mịt im lìm
Ngủ say, và chẳng ai tìm dấu theo
A.E . Housman Cửa địa Ngục
(Đan - Chinh dịch )



Đã mang vào thư viện
📎 1|2|3
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-28 12:44:16ct.ly>
Còn 2 chương 4, 5 nữa

Asin nhận gõ
📎 4|5
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-23 14:10:06Ct.Ly>
Từ trang 1 - 23

Cửa Địa Ngục


Tác giả : James Dawson
Dịch giả : Bồ Giang


Quay lưng giữa bước đường về
Lắng nghe nhìn lại bên hè phố đêm
Thành đô mờ mịt im lìm
Ngủ say, và chẳng ai tìm dấu theo
A.E . Housman Cửa địa Ngục
(Đan - Chinh dịch )

Nguyên tác
Midmost of the homeward track
Once we listened and looked back,
But the city, dusk and mute,
Slept, and there was no pursuit
Hell Gata

Chương 1
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-23 14:10:31Ct.Ly>
từ trang 25 -

Chương 2


Đêm hốm ấy tôi ngủ rất ít. Tôi đã bị dằn vặt không phải vì những cơn ác mộng bất thần trong những quãng thời gian ngắn mà vì những lúc phải thao thức. Tôi dã bị ám ảnh bởi
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-23 14:10:54Ct.Ly>
Đến trang 36


Chương 2 (b)

Đôi mắt dưới hàng lông mày xám tro của ông ta chăm chú nhìn tôi nhưng hình như ông ta không nghe câu nói móc của tôi:
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-22 00:00:15Ct.Ly>
Chương 4 ( Từ trang 52)



DILLINGHAM làm cho tôi kinh ngạc trong lúc chúng tôi im lặng bước dọc theo đoạn hành lang lót thảm dẫn tới cửa phòng của Ted vì bỗng nhiên ông ta khom mình xuống và bước

Đã mang vào thư viện

 
0
Các bạn ơi mình nhận Phần 2 từ chương 1--&gt;4 nha.
Gặp tay kiếm khách âu bàn kiếm
Chẳng phải thi nhân chớ tặng thi


Quê ngoại tớ đấy (Mũi Né - Phan Thiết)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-12 23:05:24Ct.Ly>
Phần 4


[size=5]9


Ngày tám tháng ba là một trong những ngày dài nhất của đời tôi. Bầu trời nặng trĩu những mây suốt buổi chiều dài. Khi tia sáng cuối cùng khởi sự tắt, không gian vẫn không bớt ảm đạm. Thỉnh thoảng lại có một trận mưa lớn. Tôi nghe tiếng những giọt nước đập mạnh vào dãy cửa sổ phía tây tựa hồ trời đang mưa tuyết.
0
Sorry các bạn!

Mình nhầm[:@]. Mình xin nhận phần 2 (từ trang 87 đến trang 121)[;)].

Thân.
Tam thập rồi sao độ bốn Xuân
Mà sao đời mãi vẫn gian truân
Hai mươi năm lẻ còn tay trắng
Thử hỏi trong lòng sao có Xuân...
0
Cuối cùng chỉ còn Chương 6-11 của Phần II là chưa có ai nhận, vậy mình nhận phần này vậy[:@].

Thân.
Tam thập rồi sao độ bốn Xuân
Mà sao đời mãi vẫn gian truân
Hai mươi năm lẻ còn tay trắng
Thử hỏi trong lòng sao có Xuân...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-12 22:53:52Ct.Ly>
Phần II
Chương 6
Tôi tỉnh dậy khỏi một giấc ngủ chập chờn vào khoảng hai giờ sáng với một cảm giác đã bị đánh thức bởi một tiếng động khác thường. Tôi nhìn chiếc đồng hồ nhỏ loại du lịch bên
Tam thập rồi sao độ bốn Xuân
Mà sao đời mãi vẫn gian truân
Hai mươi năm lẻ còn tay trắng
Thử hỏi trong lòng sao có Xuân...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-12 23:07:18Ct.Ly>
Phần II
Chương 7
Cô gái trong phòng vô tuyến lấy bức điện tín mà tôi vừa thảo và đọc lại cho tôi nghe, trong lúc cô ta đánh dấu từng chữ một bắng bút chì:
- John Dillingham, Công ty Hermes, 2091 đường R.N.W., Hoa-thịnh-đốn, D.C (HERCOR).
Tam thập rồi sao độ bốn Xuân
Mà sao đời mãi vẫn gian truân
Hai mươi năm lẻ còn tay trắng
Thử hỏi trong lòng sao có Xuân...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-12 22:51:09Ct.Ly>
Phần II
Chương 8
Monique không xuống ăn bữa tối hôm ấy. Tôi đoán nàng có ý định không ăn gì trước buổi hòa nhạc. Theo sự hiểu biết ít ỏi của tôi về các ca sĩ, tôi nhớ đã đọc đâu đó rằng họ thường thích ăn sau khi hát.
Sau bữa ăn tối, tôi đến phòng nàng và gõ cửa. Không có tiếng trả lời. Tôi liều chuồi vào dưới khe cửa một bức thư ngắn đại ý yêu cầu nàng để cho tôi được mời nàng ăn tối trong phòng tôi sau buổi hòa nhạc. Chưa đầy mười lăm phút sau, Daisy gõ cửa phòng tôi, đem phúc thư của nàng đến. Cô ta vừa mỉm cười một cách e lệ đến chịu không nổi vừa đưa
Tam thập rồi sao độ bốn Xuân
Mà sao đời mãi vẫn gian truân
Hai mươi năm lẻ còn tay trắng
Thử hỏi trong lòng sao có Xuân...
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-12 22:51:25Ct.Ly>
Phần II
Chương 9
Có tiếng gõ vang lên ngoài cửa phòng của tôi ngay lúc vừa quá mười hai giờ khuya. Tôi vẫn còn thức, nhưng tôi chưa kịp cử động thì Monique đã giật mình tỉnh dậy. Ngồi thẳng
Tam thập rồi sao độ bốn Xuân
Mà sao đời mãi vẫn gian truân
Hai mươi năm lẻ còn tay trắng
Thử hỏi trong lòng sao có Xuân...
0
Phần 4


10


Lối vào ở đáy buồng thang máy, trước kia là chân cầu thang, lúc này trống vắng và tối đen. Ánh sáng ở mặt tiền phía ngoài chỉ lờ mờ soi bên trong cửa. Chúng tôi có thể trông thấy chiếc Land Rover đang đậu trên khoảng đường cách cửa độ mười thước.
Ted bảo:
- Rất có thể có người gác bên ngoài. Phải hết sức cẩn thận.
Tôi thận trọng nhìn qua mép cửa.
- Tôi không trông thấy gì lạ. Có lẽ không có ai canh gác. Mình đành phải liều lĩnh thử xem. Chú và Monique cứ tạm ở đây. Hãy dùng tiểu liên để che chở tôi. Tôi sẽ bước đại ra xe. Nếu không có gì xẩy ra, chú và Monique hãy chạy ra theo tôi.
Monique nắm chặt cánh tay của tôi với cả hai bàn tay của nàng trong một lát rồi thả ra. Tôi từ từ bước ra giữa vùng ánh đèn sáng, gần như phải đếm một nhịp thật chậm trong đầu để giữ cho đôi chân đừng chạy. Tôi có cảm tường như mình là một con ruồi bò trên một bức tường trắng thật rộng.
Tôi vừa đi được năm bước trong ánh sáng thì tôi bỗng nghe một tiếng nổ lớn vang lên từ phía trên. Tôi liền ngước nhìn lên, nhưng bị chói mắt nên không thể trông thấy gì. Tôi lại nghe một tiếng nổ khác sắc và ngắn hơn. Tôi chạy tới chiếc Land Rover và trong lúc chạy tôi nhận thấy đó không phải là tiếng đạn cỡ 50(1) mà là một cỡ nhỏ hơn.
Tôi núp vào phía sau chiếc xe và nhìn lui vừa đúng lúc để trông thấy một bóng người té qua lan can và rơi xuống đất làm vang lên một tiếng bịch. Rồi tôi trông thấy Ted đang đứng cách cửa độ vài ba thước, với khẩu tiểu liên trên tay, nhìn sững xác chết. Sau đó Ted bước tới gần, dùng chân đá nhẹ cái xác. Đoạn Ted ra dấu cho Monique ngồi vào ghế trước và trèo vào phía sau trong lúc tôi ngồi vào ghế tài xế.
Ted hối thúc:
- Chúa ơi! Hỏng bét cả rồi. Như thế cũng đủ đánh thức tất cả mọi người trong tòa lâu đài dậy. Mình hãy rời khỏi đây ngay lập tức.
Tôi nhìn lui tòa lâu đài trong lúc cho máy nổ. Mọi khung cửa sổ đều tối đen. Tôi gần như cầu nguyện cho đừng có ai nghe vụ bắn súng vừa qua.
Chiếc đồng hồ đeo tay của tôi cho biết lúc này đã mười giờ rưỡi. Còn một giờ rưỡi nữa để lái xe chạy tới bãi biển Lunna, cách đây khoảng mười ba cây số. Một khoảng thời gian quá thừa thãi, dù chúng tôi sẽ gặp chuyện trở ngại. Ý tôi chỉ muốn rời khỏi nơi này đúng giờ hẹn. Nhưng quả thật tôi không thể sắp xếp thời khắc biểu đúng theo ý mình được. Tôi đặc biệt lưu tâm tới đoạn đường chạy qua Bragawick gần bến tàu và các ụ tàu đậu. Tôi biết có nhiều người canh gác ở đó. Tôi không rõ căn cứ của bọn lính gác đặt tại đâu, nhưng theo quang cảnh tôi đã được trông thấy từ xa, tôi đoán bọn chúng hiện ở trong các trại dọc theo phi trường.
Tôi bảo:
- Mình đi.
Tôi lái chiếc Land Rover vọt ra khỏi cổng và phóng vào con đường dốc chạy qua căn cứ hỏa tiễn xuống làng Bragawick và bãi biển về phía dưới. Tất cả chúng tôi đều im lặng. Tôi cũng muốn như thế bởi vì tôi đang cố tìm lại trong ký ức một con đường tắt có thể đưa chúng tôi đến thẳng bãi biển không cần phải chạy qua khu vực bến tàu là nơi tôi đoán chắc sẽ gặp bọn lính gác. Nhưng sự im lặng không kéo dài.
Ted nghiêng mình tới trước trong lúc chúng tôi đi về phía Nam và kê đầu giữa Monique và tôi trên lưng ghé trước, tựa cắm trên hai cánh tay gác chéo với nhau. Tôi có thể trông thấy mặt kiếng trên bảng điều khiển phản chiếu lại chiếc đầu khá lớn của Ted.
Ted chợt nói:
- Stuart, chắc anh không đồng ý, nhưng em muốn anh thả cho em xuống ở ngã ba có con đường rẽ vào căn cứ hỏa tiễn. Trong lúc phá bộ máy vô hiệu hóa, em đã nảy ra một ý nghĩ. Em tin tưởng có thể biết cách phá hủy các dàn hỏa tiễn đó.
Tôi đáp:
- Chú nói đúng. Tôi không đồng ý. Chú chỉ làm một việc vô ích.
- Em biết anh không chịu. Nhưng dù sao em vẫn làm theo ý của em. Nếu anh không ngừng xe để cho em xuống theo kiểu văn minh, em sẽ nhảy xuống trong lúc xe chạy. Như thế em có thể gãy một hoặc cả hai chân, và lúc bấy giờ anh sẽ lãnh đủ. Tốt hơn hết anh nên để cho em hành sự theo lối văn minh.
- Chú loạn trí rồi. Tôi cấm…
- Cho em xin đi, Đại tá, chớ làm tàng nữa. Em đâu còn ở trong loại quân nhân trừ bị.
Tôi hầm hừ:
- Bây giờ chú lại đi hăm dọa tôi. Chú sẽ tính sao với bọn lính gác?
- Khi tìm đến chúng tất nhiên phải gặp chúng. Stuart, em không đùa đâu. Đây là dịp may độc nhất vô nhị để cho em có thể sửa chữa lỗi lầm em đã phạm. Em quả quyết với an hem có thể chế ngự được những hỏa tiễn đó.
- Chú hãy cho tôi biết chú sẽ làm cách nào?
- Nếu em có nửa tiếng đồng hồ và một cái bảng đen, em sẽ vẽ cho anh xem một họa đồ điện. Nhưng dù vậy nhất định anh cũng không hiểu ất giáp gì. Stuart, anh nên tin lời em. Em đã nhớ lại một điều Kalwitz đã kể cho em nghe về cái tủ điện. Em có thể thay đổi một chút trong hệ thống làm cho hỏa tiễn tự động phóng lên không cần bấm nút điều khiển. Đây là một dịp may hiếm có. Kìa, Stuart! Con đường rẽ vào căn cứ sắp sửa tới rồi.
Ted nói với một vẻ khẩn trương dữ dội, dường như rít vào tai tôi. Bàn chân của tôi tự nhiên nhấc lên khỏi cần ga. Chiếc Land Rover khựng ngay lại.
- Chú sẽ ở đây bao lâu?
- Không lâu lắm. Có lẽ độ nửa giờ. Em sẽ không để cho ai trông thấy dấu đâu. Phải làm sao cho trong tủ điện không có vẻ gì khác lạ.
- Theo ý tôi thì khỏi cần làm gì nữa. Chú đã phá hỏng máy vô hiệu hóa. Bây giờ người của mình có thể tấn công đảo này.
- Và rất có thể làm cho các hỏa tiễn tự động phóng lên? Vả lại, trong lúc mình trở về Murra, bọn chúng có thể đặt những máy vô hiệu hóa khác. Thôi… anh hãy dừng xe lại, hay là để cho em nhảy?
Tôi liền dừng chiếc Land Rover ở lối rẽ vào căn cứ hỏa tiễn. Tôi có thể trông thấy ánh đèn tỏa lên từ căn cứ chỉ cách xe chưa đầy một cây số.
Ted đặt bàn tay lên vai tôi và nói:
- Anh Stuart. Chắc anh hiểu em phải làm một cái gì chứ? Gần như tất cả thảm họa này là lỗi lầm của em. Em sẽ ra bãi biển đúng giờ hẹn. Trong căn cứ có một chiếc xe jeep. Và em vẫn còn chưa quên những phương pháp quân đội đã dạy em để tránh bọn lính tuần.
- Đó là trong bóng tối. Còn nơi này thì sáng rực ánh đèn.
- Anh đừng lo ngại, em sẽ thành công mà. Em sẽ tìm cách làm chuyển hướng bọn lính gác.
- Chúc chú may mắn. Và làm cho thật nhanh.
Monique quay đầu lại và hôn lên má Ted. Ted mỉm cười với nàng.
- Monique, hãy thận trọng.
Tôi hỏi:
- Chú còn nhớ dấu hiệu chứ? Phòng lúc chú đến trễ.
- OUI. O, U và I. Tè tè tè – tích tích tè – tích tích.
Ted siết vai tôi và vai Monique rồi biến vào đêm tối, sau khi đóng mạnh cửa xe lại. Tôi ngồi nhìn theo Ted một hồi lâu, cố nghĩ xem có điều gì không được ổn, như một viên đại úy không thể tổng hợp các lý do chứng tỏ rằng hay nhất là đừng đi hành quân. Đa số vì sợ bị nghĩ là hoảng sợ.
Monique chợt đặt bàn tay của nàng lên cánh tay của tôi. Nàng vừa nhìn trở lại con đường phía sau vừa nói:
- Stuart, có ánh đèn pha từ lâu đài chạy xuống về ngả này.
Tôi liền nhìn lui và trông thấy ánh đèn đang đảo qua đảo lại phía trên cao. Hai ánh đèn sát nhau, như hai ngọn đèn pha của một chiếc xe Jeep. Tôi gài số chiếc Land Rover và tiếp tục chạy, hy vọng ánh đèn kia không có nghĩa là Anson đã được phát giác. Nhưng điều đó cũng có thể lắm. Trước mặt lâu đài chắc phải có người canh gác. Đáng lẽ chúng tôi phải xô Anson xuống biển. Tôi phóng hết tốc lực về phía Bragawick.
Trong lúc chúng tôi chạy xe vào khu vực phía trên của làng Bragawick, ánh đèn pha đã di động qua khỏi con đường dẫn vào căn cứ hỏa tiễn và bắt đầu rọi vào ngay sau lưng chúng tôi.
Monique hỏi bằng một giọng đầy lo lắng:
- Chắc bọn chúng đã phát giác?
- Anh hy vọng không phải vậy. Nhưng dù sao chiếc xe đó cũng sắp sửa theo kịp mình. Theo ý anh, mình nên quẹo vào một nơi nào đó để ẩn núp. Vả lại, mình cũng không cần ra bãi biển quá sớm.
Nhưng tôi nói đã quá trễ. Chiếc xe Jeep bắt kịp chúng tôi trong lúc chúng tôi sửa soạn quẹo phải để chạy vào một con đường hẹp ở đầu làng. Nó qua mặt chúng tôi và chặn đầu chiếc Land Rover, ngừng ở ngay giữa đường, hai bánh sau tung lên hai luồng sỏi.
Tôi bảo Monique:
- Em hãy cúi sát xuống sàn xe.
Tôi bước xuống khỏi ghế tài xế và đứng bên cạnh xe, khẩu 38(2) nằm sẵn trong bàn tay phía sau chân phải của tôi. Tôi không muốn hắn quá gần bến tàu như thế này.
Một bóng đen nhảy ra khỏi chiếc xe Jeep và đi trở về phía tôi. Đó là một gã tôi chưa hề gặp. Y mang một khẩu súng lục ở bên hông bộ đồng phục màu xám. Tôi có thể trông thấy phù hiệu “O” của tổ chức ở bên trái ngực của y. Quả thật là một điểm nhắm quá tốt, tôi thầm nghĩ.
Y lên tiếng hỏi lúc bước ra khỏi ánh đèn pha:
- Xe ai đó?
Tôi đáp ngay:
- Xe của đại úy Anson.
Y tiến đến gần và nhìn vào mặt tôi:
- Ông là ai?
- Một người bạn của đại úy Anson.
- Ông là gì một mình ở đây?
- Đem xe xuống bến tàu cho đại úy Anson.
Y liếc nhìn tôi một cách nghi ngờ, mắt y lúc này đã quen dần với bóng tối.
- Đại úy Anson hiện ở dưới bến tàu hay sao?
- Phải.
- Tôi không biết mặt ông. Ông hãy lên xe và đi theo tôi xuống bến tàu. Tôi đang đi tìm đại úy Anson. Cửa phòng của ông ấy ở lâu đài đã khóa chặt và trên đó không có một ai khác. Ông theo tôi mau lên.
Y đã lầm to khi tưởng rằng tôi sẽ vâng lệnh. Lúc y vừa quay gót tôi liền đưa nòng súng đang nắm trong tay lên và đánh mạnh báng xuống đầu. Y té quỵ xuống như một con bò trong lò sát sinh.
Tôi thò đầu vào trong chiếc Land Rover và lên tiếng gọi Monique. Nàng liền trèo lên ghế ngồi như cũ và khẽ hỏi:
- Xong rồi?
- Không hoàn toàn xong. Anh đang bị kẹt. Em có thể lái chiếc xe này?
- Có lẽ được.
- Anh phải trở anh bạn này trên chiếc xe Jeep vào đây.
Tôi phải vất vả một hồi mới đưa được cái xác vô tri giác vào phía sau của chiếc xe Jeep và lấy tấm vải dầu đậy kín y lại. Rồi tôi leo lên chiếc xe Jeep.
Chúng tôi cùng lái xe chạy vào một vùng vắng vẻ của Bragawick về phía tây bắc, cách xa con đường cái băng qua làng. Những con đường ở nơi này đầy những ổ gà qua nhiều mùa đông không được tu bổ. Chiếc xe Jeep nhảy lên nhảy xuống không ngừng, vì không sao tránh hết những ổ gà, nhưng Monique vẫn lái chiếc Land Rover chạy theo bén gót. Công việc này rất khó vì tôi đã tắt đèn pha, chỉ bật đèn lái, và Monique phải nhắm chừng về phía tôi mà chạy tới. Tôi không sao trông thấy rõ những ổ gà hoặc những vũng nước mưa mãi cho đến khi bánh xe lăn lên. Nàng chạy theo sau tôi, lại càng khó trông thấy hơn nữa.
Mấy phút sau chúng tôi ra khỏi làng và chạy vào một con đường tương đối khá hơn, về phía tây bắc, gần như chạy thẳng trở về phía căn cứ hỏa tiễn. Đây không phải là con đường tôi muốn đi. Nhưng tôi đang tìm một chỗ ẩn nấp tạm thời và đang chống cự một cách dữ dội với cái linh cảm nên đi ra bãi biển ngay dù quá sớm. Chúng tôi còn hơn một tiếng đồng hồ nữa mới tới giờ hẹn. Tôi đành phải liều lĩnh hy vọng rằng cuộc săn đuổi sẽ không mở màn trước mười hai giờ khuya.
Cách xa gần một cây số, tôi bỗng trông thấy một khối đen ở bên trái con đường. Tôi vội vàng giảm tốc độ và chăm chú nhìn vào khối đen. Trông nó như một trang trại với một căn nhà phụ khá lớn ở phía sau, có lẽ là một kho chứa đồ. Trong lúc tôi nhìn, chúng tôi cùng tới một lối đi dơ bẩn dẫn về phía những khối đen. Tôi liền quẹo vào đó. Nơi đây tệ hơn con đường chúng tôi vừa tách khỏi. Nhưng tôi thấy an toàn hơn. Các rãnh nước mưa và các tảng đá cho tôi biết chắc ngôi nhà đang bị bỏ hoang.
Tôi lái xe qua khỏi ngôi nhà chạy ra tới kho chứa ở phía sau. Monique theo sát tôi và nhảy ra khỏi chiếc Land Rover. Nàng chạy lại gần tôi.
Tôi bảo:
- Em hãy đợi ở đây một chút.
Nói đoạn tôi bước tới cửa kho. Cửa đóng bít kín lối vào, nhưng không có khóa. Tôi vừa xô cánh cửa để mở ra thì bản lề đã bị rỉ gãy lìa và cả cánh cửa ngã xuống trên mặt đất làm cho bụi tung lên như một đám sa mù.
Tôi lái chiếc xe Jeep qua khung cửa đen ngòm của kho chứa, chạy vào trong thật xa để đủ cho chiếc Land Rover nối đuôi. Monique lái vào theo. Trước khi trở ra với nàng, tôi lôi gã đàn ông đang bất tỉnh ra khỏi ghế sau của chiếc Jeep và cuốn y lại trong tấm vải dầu có đủ cả bút và dây nịt. Tôi cuốn y lại thật chặt và thắt dây nịt quanh mình y ở tay và chân. Điều cuối cùng tôi phải làm là sờ tay tìm đúng đầu của y và tặng thêm một phát báng súng cho chắc ăn.
Monique đang chờ tôi bên cạnh chiếc Land Rover. Nàng phóng mình vào trong vòng tay của tôi. Chúng tôi đứng ôm nhau như thế suốt mấy phút, không nói gì. Toàn thân nàng run rẩy.
Tôi nói vào tóc nàng:
- Xong cả rồi. Mình đã hành sự đúng mức.
- Theo sát chương trình.
Giọng nàng vẫn còn run, nhưng nàng đã cất được tiếng cười.
Tôi trấn an nàng:
- Việc xảy ra đến đâu, anh sẽ giải quyết đến đấy, em cứ tin anh đi. Nếu muốn, em chỉ cần cầu nguyện thêm cho mình. Bây giờ mình hãy đi tìm cây đèn bấm.
Tim tôi như trực nhảy ra khỏi cổ họng trong lúc tôi mò mẫm trong hộc đựng găng tay của chiếc Land Rover. Trong đời tôi, chưa bao giờ tôi cảm thấy khoan khoái bằng khi tôi sờ được cái vật tròn dài và trơn láng đó. Cây đèn bấm khá nặng nhưng có móc để có thể đeo vào thắt lưng. Tôi úp bàn tay lên mặt kiếng và thử bấm nút. Đèn cháy. Những đốt xương bàn tay của tôi hiện ra lờ mờ đen bên cạnh mầu hồng của thịt.
Mùi súc vật trong kho chứa chỉ còn thoang thoảng, gần như đã mất hẳn. Nền kho đầy đá sỏi và bụi bặm. Chúng tôi bước ra ngoài và đứng nhìn về phía đông nam. Mưa đã tạnh nhưng tôi không đạt được ước vọng về sa mù. Nó đã tan biến. Bầu trời đã trở nên quang đãng và đầy sao sáng. Tôi lại còn có thể trông thấy ánh sáng lờ mờ của bến tàu Bragawick, nơi chiếc tàu hàng vẫn đang tiếp tục xuống hàng trong đêm.
Về phía tây bắc, không cách xa quá bốn trăm thước tôi có thể trông thấy ánh đèn của căn cứ hỏa tiễn. Trong lúc chúng tôi đang nhìn, chúng tôi bỗng nghe một tiếng súng nổ. Monique bước tới sát bên tôi và tôi choàng một cánh tay quanh vai nàng. Không có một tiếng gì khác lạ tiếp theo tiếng súng, ngoại trừ âm vang của tiếng nổ.
Tôi kề môi sát tai Monique:
- Em có ngán không, nếu anh bỏ em đứng đây một mình trong vài phút?
Nàng đáp:
- Em đâu có ở đây một mình. Còn có gã nằm trong tấm vải dầu.
- Em hãy chờ anh trong kho chứa và giữ cây đèn bấm. Đây là khẩu súng lục. Em đừng nên ngại dùng nếu có ai tới. Anh sẽ huýt gió làm hiệu khi anh trở lại. Em có biết bài “Auprès de ma blonde ”?(3)
Nàng vờ làm mặt giận.
- Anh muốn chọc quê em phải không?
- Anh sẽ trở lại trong vòng nửa giờ.
Nàng hôn nhanh tôi và băng ngang cánh đồng giốc lên hiện giờ chỉ có một lớp cỏ thấp thỉnh thoảng mới mọc một bụi kim tước. Công việc leo giốc quả thật khó khăn. Khắp cánh đồng rải rác những tảng đá chênh vênh. Tôi không dám di chuyển nhanh vì sợ té xuống những hố khô và gãy chân.
Cuối cùng tôi đến hàng rào bao quanh căn cứ hỏa tiễn trước khi biết mình tới nơi. Giữ cách xa hàng rào lối vài thước, tôi khởi sự đi vòng về phía trái.
Mới đi được hơn mươi bước tôi bỗng vấp phải một vật mềm. Đó là một xác người với một khẩu tiểu liên nằm bên cạnh. Tôi xoay ngửa cái xác trong lúc tim đập thình thịch.
Không phải Ted. Đó là một tên lính gác mặc đồng phục xám, bị bắn ngay khoảng giữa hai mắt. Tôi nghĩ chắc đây là phát súng duy nhất mà tôi vừa nghe ban nãy. Ted vẫn có biệt tài bắn súng rất chính xác, thường chỉ cần một viên là đã trúng đích. Tôi liền nhặt khẩu súng lên và đeo trên vai. Trong băng đầy những đạn.
Tôi thận trọng di chuyển sát góc ngôi nhà được dùng làm đài kiểm soát, đầu tiên nằm sát trên mặt đất để dò xét động tĩnh. Tôi có thể trông thấy chiếc xe Jeep đậu ở trước cửa nhưng không có tên lính tuần. Tôi chỉ bắt gặp y sau khi đã bò qua khỏi góc tường y nằm chết. Nhìn cái đầu y bị vẹo sang một bên, tôi đoán y đã bị gãy cổ do một người tấn công từ phía sau lưng.
Tôi đứng dậy và nhìn qua khung cửa mở. Ted đang lom khom trước một tủ điện. Tôi huýt gió đoạn đầu của bài “Scotland the Brave”(4). Ted quay nhanh người lại và chụp lấy khẩu tiểu liên nằm bên cạnh. Trông thấy tôi Ted nhe răng cười và hỏi:
- Anh làm quái gì ở đây?
Tôi bảo:
- Kiểm soát công việc của chú. Tới đâu rồi?
- Còn mười dàn nữa. Em đã phá được hai dàn ở phía này. Bây giờ thì các đầu đạn không thể nổ được. Nhưng em đã phải bỏ laij một vài phần vì không làm kịp. Anh nên trốn khỏi đây mau lên.
- Tôi ở lại để phụ giúp chú.
- Cho em can đi. Không kheo anh lại làm cho hỏa tiễn tự động phóng lên. Monique đâu rồi?
Tôi liền kể cho Ted nghe. Ted lại nói:
- Em rất mừng vì được gặp anh. Em vừa tìm được cái này hay lắm.
Ted đi qua một phòng giấy và trở lại với hai cái hộp da nhỏ có quai để mang lên vai. Mỗi hộp chỉ nhỏ như một gói thuốc lá. Ted kéo một cây an ten ra khỏi mỗi hộp và bảo:
- Đây là một loại máy truyền tin nhỏ nhất mà em chưa từng thấy. Lẽ tất nhiên chế tạo tại Nhật Bản. Có cả thảy năm băng tần. Anh hãy lấy theo một máy và mình sẽ liên lạc với nhau trong lúc em cố gắng hoàn tất công việc ở đây.
Ted vặn cho hai máy có băng tần giống nhau, rồi bấm nút vi âm của một máy và thổi vào đó. Tôi có thể nghe rõ hơi thở của Ted trên máy kia.
Ted nói tiếp:
- Máy có thể xử dụng cách xa nhau mười dặm(5) theo đường chim bay. Cứ một lát em lại thử với anh.
- Chú cố làm cho thật nhanh. Đồng hồ chú chỉ mấy giờ rồi.
- Mười một giờ năm.
Đồng hồ tôi cũng vậy.
Ted đã quay trở về tủ điện thứ ba lúc tôi vừa bước ra tới ngưỡng cửa.
Tôi trở về phía nam, băng qua cánh đồng cỏ, bị trầy một đầu gối vì đụng phải một tảng đá lớn nằm dưới một cái hố mà tôi đã té xuống.
-------------------------------
Chú thích:
1/ Đường kính đầu đạn thường được tính bằng đơn vị Anh: đạn 50 tức là 0.50 inch tức 12,7 ly (c.t.c.d.g.)
2/ 38 tức 0,38 inch: loại súng có khẩu kính (đường kính của nòng súng) 9,65 ly.
3/ Tiếng Pháp, có nghĩa “Bên cạnh cô gái tóc vàng của tôi”.
4/ Tiếng Anh, có nghĩa “Tô-cách-lan anh dũng”.
5/ 10 dặm = 16 cây số.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-27 12:22:43Ct.Ly>
(tiếp theo trang 258 - phần IV - CHẲNG AI TÌM DẤU)

Một trong bốn chiếc ngư lôi đỉnh S vừa rời khỏi ụ. Nó chạy thụt lùi rồi quay mũi về phía chúng tôi, bắt đầu lướt nhanh. Tôi vừa định đưa ống nhòm cho Archie thì đã thấy nước văng tung tóe lên ở phía trước chỉ cách mũi xuồng chúng tôi độ mười lăm thuớc tây.
Archie liền bảo :
- Tôi không biết bọn người đó nói tiếng gì. Nhưng như thế này nghĩa là hãy dừng lại.
Anh ta và Eric vội vàng nhảy tới chỗ cột dây buồm để hạ buồm xuống trong lúc tôi hiểu chậm hơn những gì đã trông thấy. Một viên đạn, rõ ràng được bắn ra từ một khẩu đại liên của chiếc ngư lôi đỉnh, lại rơi xuống nổ tung trên mặt nước ngay phía trước chúng tôi.
Archie lại trở về đứng bên cạnh tôi :
- Ông bảo họ là bạn ông đấy à?
Nói đoạn anh ta lấy một cái loa phóng thanh nhỏ cầm sẵn trên tay trong lúc chiếc ngư lôi đỉnh chạy vòng tới và ghé sát vào một bên hông chúng tôi, dừng lại cách xa chừng sáu thước. Một gã đàn ông mặc đồng phục ở trên boong tàu đưa loa phóng thanh lên miệng la lớn :
- Các ông là ai?
Archie cũng lớn tiếng trả lời :
- Chiếc Ailsa, ở Sternholm. Tại sao các ông bắn chúng tôi?
- Hãy đứng yên. Tôi sẽ qua bên đó.
Chiếc ngư lôi đỉnh lại từ từ chuyển động, trườn mình tới gần hông xuồng máy của chúng tôi. Hai gã đàn ông dùng hai móc sắt kéo cho hai chiếc tàu cặp sát, cho đến khi mấy miếng đệm bằng cao su chạm vào nhau.
Archie giận dữ bảo :
- Coi chừng nước sơn !
Gã đàn ông không thèm nghe. Y bước qua mạn tàu và nhảy xuống sàn của chiếc Ailsa. Y cầm một khẩu súng tiểu liên kẹp chắt dưới khuỷu tay phải. Đó là một loại súng mà tôi chưa từng thấy, có lẽ là một khẩu Schmiessen của Đức còn thừa lại sau Đệ Nhị Thế Chiến.
- Các ông làm gì trong vịnh này?
Archie chỉ tay vào tôi, đáp, quên cả tức giận :
- Tôi đang tìm cách đưa ông này vào bờ.
Tôi liền nói tiếp :
- Tôi là Stuart Dunbar. Tôi đến đây để gặp Đại úy Howard Anson.
- Ông có việc gì với Đại úy Anson?
Tôi vắn tắt trả lời :
- Việc riêng.
Y chăm chú nhìn tôi dưới đôi lông mày rậm. Rồi y nhảy trở lên boong của chiếc ngư lôi đỉnh. Y trao khẩu tiểu liên cho một người khác và bảo :
- Coi chừng mấy người này. Độ một phút sau tôi sẽ trở lên.
Nói xong y đi xuống phía dưới. Chưa đầy một phút sau y trở lên boong và gọi sang chiếc Ailsa :
- Được rồi, ông Dunbar, ông có thể lên tàu. Còn mấy người kia hãy trở lui ngay tức khắc. Tôi cho các anh mười phút để ra khỏi vịnh này. Nhớ giữ kín miệng nếu không các anh sẽ hối không kịp.
Eric bĩu môi.
- Bạn quý.
Archie liền đưa mắt nhìn em rồi trầm tỉnh nói với tôi :
- Nếu ông muốn trình báo vụ này, ông chỉ cần nói với tôi một tiếng. Tôi sẽ rất sẵn sàng giúp ông.
Tôi vội bảo :
- Đừng. Archie, anh nên nghe theo lời y nói. Y không đùa đâu. Tôi thành thực cảm ơn các anh. Chúc các anh may mắn trong cuộc đua. Đây,
Vừa nói tôi vừa đưa cho anh ta một tờ giấy bạc mười Anh kim.
- Tuy không đúng lắm, nhưng chắc cũng vừa đủ?
Anh ta đáp :
- Ông cho thế này là quá hậu.
Sau khi hành lý của tôi đã được di chuyển khỏi xuồng máy, tôi trèo lên boong của chiếc ngư lôi đỉnh. Eric liền xô xuồng ra xa hông tàu. Archie lái chiếc thuyền buồm ra khỏi cửa vịnh và tôi đứng nhìn bóng dáng họ nhỏ dần trong lúc họ vẫn còn vẫy tay chào tôi. Tôi chợt cảm thấy cô đơn trong lúc chiếc Ailsa dần dần khuất dạng quanh mũi đất và chiếc ngư lôi đỉnh lướt vào bến tàu.

(hết chương 3)

(tiếp theo từ chương 4, phần thứ IV - CHẲNG AI TÌM DẤU)


4. Một chiếc Land Rover mui trần đang đậu trên bến tàu trong lúc chiếc ngư lôi đỉnh S tiến vào ụ. Tôi có thể trông thấy chiếc đầu sói không sao lầm lẫn của Anson ở phía trên tay lái. Một gã đàn ông mặc đồng phục xám ngồi bên cạnh ông ta với một khẩu tiểu liên đặt trên đầu gối. Anson bước xuống khỏi xe và đi ra ụ tàu theo một đoạn đường hẹp. Ông ta đưa một bàn tay ra cho tôi khi tôi bước lên bên, và lên tiếng :
- Chào ông Dunbar. Rất vui mừng được gặp lại ông.
Tuy nhiên giọng ông ta chẳng những không vui vẻ một chút nào mà lại còn gượng gạo.
Tôi đáp :
- Chào ông Anson. Tôi đến để bàn tính với ông về đề nghị của ông. Ông có vẻ không khích lệ khách đến đây thì phải?
- Không. Ông đến là một điều rất hay. Tuy ông hơi trễ, nhưng dù sao mình vẫn có thể bàn luận. Ông làm sao mà tìm ra chỗ ở của tôi?
- Martin Allen đã cho tôi hay, ngay trước khi ông ấy chết.
- Phải. Matuschek đã hành sự không được chu đáo. Tôi phải nói chuyện với anh ta về vụ này. Mình nên đi ngay. Trời đã chiều lắm rồi. Ít nhất, tôi cũng có thể mời ông một bữa cơm tối và một giường ngủ đêm hôm nay. Ông có thể đi xe lên tận lâu đài cùng với Nelson và tôi.
Ông ta quay phắc người lại và bước tới chiếc Land Rover. Tôi liền đi theo ông ta. Gã đàn ông cầm súng rời khỏi ghé trước và ra băng sau, cầm theo hành lý của tôi. Trông y có vẻ cau có trong lúc chật vật với túi đồ khá nặng của tôi.
Đường bắt đầu lên dốc thật gắt ngay khi chúng tôi băng ngang Bragawick. Tôi ngắm những ngôi nhà bé nhỏ trong làng, nhớ lại lời Colin Andrews đã diễn tả về nơi này. Toàn thể đều xây bằng đá bản xứ, với mái lợp rơm. Một bọn người không nhiều lắm, đa số là đàn ông, đang xê dịch những thân cây. Họ là những người thợ. Tất cả, cũng như gã Nelson đang ngồi ở băng sau, đều mặc đồng phục xám. Mỗi người đều mang một dấu hiệu nhỏ có hình chữ &lt;O&gt; trên túi ở ngực bên trái để phân biệt.
Thỉnh thoảng tôi mới trông thấy một người đàn bà, nhưng không phải là hạng đàn bà nội trợ. Họ chỉ giống như những người phụ việc, đầu tóc rối bù, ăn mặc lòe loẹt. Phần đông có bộ mặt của dân du mục. Tôi liên tưởng đến một thành phố khai thác mỏ hoặc gỗ xẻ. Đây không phải là một làng có nhựa sống. Trên những con đường chúng tôi chạy qua, không hề thấy bóng dáng một đám trẻ con nào nô đùa.
Chúng tôi ra khỏi Bragawick và vẫn tiếp tục lên dốc. Độ dốc lớn đến nỗi chúng tôi vừa đi lên chưa được một cây số tôi đã trông thấy những mái nhà xa tít về phía dưới.
Cảnh tượng chợt trông thấy ở về phía nam của thành phố làm tôi giật mình. Nằm dài trên vùng bình nguyên dưới dó là cả một phi trường, với hai phi đạo dài và một tòa nhà lớn. Ngoài ra, hai bên phi đạo có nhiều trại chứa phi cơ. Tôi nói với Anson trong lúc ông ta vẫn giữ im lặng suốt từ khi chúng tôi rời khỏi bến tàu.
- Thì ra ở đây có cả một phi trường.
- Vâng.
- Có phải chiếc đang ở trên cầu kiểm soát đó là một chiếc DeHaviiland Bốn-B?
- Vâng. Ông có cặp mắt tốt thật.
- Còn một chiếc Caravelle?
- Đó là phi cơ riêng của tôi. Chiếc Bốn-B thuộc tổ chức.
- Oui-Die?
Ông ta nhìn tôi một cách lạ lùng, không nói gì, mắt quay trở lại con đường quanh co. Nó không đến nỗ quá ngoằn ngoèo như tôi đã tưởng và chiếc Land Rover giữ nguyên một tốc độ khá đều. Chúng tôi hướng về phía bắc đông bắc. Trong lúc chúng tôi lên cao dần, tôi có thể trông thấy mặt biển ở phía nam và đông nam. Tôi còn thoáng thấy được chiếc Ailsa, lúc náy đã biến thành một chấm trắng nhỏ xíu bên kia đảo Nossie, đang trực chỉ theo phía đông để trở về Murra.
Tôi nói với Anson :
- Hòn đảo này tuyệt quá. Chắc ông đang làm chủ ở đây?
- Đâu phải. Có thể tạm gọi là mướn lại.
- Về phía bên trái, có một vùnggì trông như một trại thiết giáp vậy?
Anson mím môi lại thành một lằn thẳng. Ông ta liếc mắt về phía gã đàn ông đang ngồi ở băng sau, nói lảng :
- Ngày hôm nay chắc không thể nào đi viếng cảnh được. Tời sắp tối mất rồi.
Ông ta vói tay bật đèn xe. Tôi có cảm tường ông ta đang quyết định một điều gì, trong lúc ông ta nói tiếp :
- Sáng mai tôi sẽ dẫn ông đi xem một vòng trên đảo, nếu ông vẫn còn ở lại đây với chúng tôi.
Tôi ngậm miệng trên suốt đoạn hành trình còn lại chỉ im lặng nhìn những mép đá lởm chởm gần bờ bể bên phải. Hàng hà sa số chim biển vừa bay vòng quanh vừa kêu la om sòm trên các bờ đá - trong đó có đủ các loài du cầm và hải âu có thể lội nước, lũ hải âu này đang lũ lượt kéo nhau vào đất liền khi màn đêm khởi sự buông xuống. Tôi biết rất có thể có cả loài hải báo xám đặc biệt của miền Đại-tây-dương trong đám núi đá phía dưới những đoạn bờ biển hình răng cưa.
Tôi chợt có một cảm tưởng huyền bí về đảo này. Tôi không sao xua đuổi được ý tưởng hoang liêu của nó ra khỏi tâm trí. Nó đứng yên, hoặc trôi lênh đênh giữa vùng bắc Đại-tây-dương, nằm như một chiếc tàu khổng lồ đi về cõi hư vô, trong một nỗi cô đơn tàn khốc, giữa những ngọn gió lạnh buốt thổi về hướng đông bắc.
Tôi chợt cảm thấy tóc dựng đứng lên ở sau gáy.
Tòa lâu đài đứng sừng sững trên một bờ đá ở mé biển phía đông. Tôi có thể trông thấy nó lúc chúng tôi chạy theo khúc đường vòng cuối cùng. Các khung cửa sổ đã bắt đầu sáng ánh đèn. Trên các bức tường hoa phủ chung quanh, đèn được thắp sáng choang, theo tôi đoán có lẽ không vì muốn cho đẹp mà vì muốn bảo đảm an ninh. Tôi có thể trông thấy nhiều khẩu tiểu liên gắn sẵn sàng vào giá trong chòi gác chính phía trên cao. Tuy nhiên tôi không thể quả quyết có người đang kềm giữ hay không. Những bức tường đá màu xám đã khiến cho cảm tưởng của tôi về hòn đảo này càng thêm vững chắc. Trông nó không khác chiếc cầu phao đang bay bổng lên cao của một con tàu, và con tàu này chính là hòn đảo.
Anson bảo :
- Lâu đài Kinnoul.
Quẹo khỏi đường cái, ông lái xe chừng năm sáu chục thước theo một đoạn đường vòng rải sỏi, chạy vào một khuôn sân nhỏ có những bức tường thấp bằng đá bọc quanh. Tôi nghĩ những bức tường này có thể thay thế cho hào hố. Trông nó giống như đất đá đổ xuống và các lực lượng võ trang khó lòng bò lên nỗi. Chúng tôi dừng lại ở trong sân.
Anson nói :
- Donald sẽ mang hành lý giúp ông và chỉ phòng cho ông. Chúng ta sẽ gặp lại nhau ở đại sảnh để uống cocktail vào lúc bảy giờ. Ông khỏi cần mặc đồ lớn. Tôi thường ăn tối một mình, không dùng chung với các cấp chỉ huy thuộc ban khoa học hiện sống trong lâu đài. Chúng ta sẽ cùng uống cocktail với họ.
Ông ta quay nhanh người và biến vào trong một khung cửa hẹp tối đen, để Donald tiếp tục đi với tôi. Khi chúng tôi bước vào bên trong một hành lang nhỏ xíu tôi ngạc nhiên trong thấy nó chỉ đưa tới một thang máy. Chúng tôi phải đứng chờ. Anson đã đi lên một mình.
Rồi mãi đến lúc trông thấy những phần còn sót lại của một cầu thang cũ, bằng đá đã được thay thế bằng một cái thang máy, tôi mới hiểu ngõ vào này như thế nào. Đây là lối duy nhất để đi vào lâu đài, hoặc đi trở ra. Xưa kia, khoảng trống chật hẹp này vốn là chân cầu thang bằng đá. Một chiến sĩ muốn vào đây phải vửa bước lên cầu thang vừa chiến đấu,mang theo cả khiên lẫn kiếm khó nhọc lắm mới tiến lên được một nấc thang đục sâu trong đá.
Bảng điều động thang máy cho biết có cả thảy bốn tầng, kể luôn tầng trệt là tầng chỉ dùng làm lối ra vào. Ba nút bấm ở trên ghi rõ : ĐẠI SẢNH, CƯ XÁ CHUYÊN VIÊN, NHÂN VIÊN. Donald dẫn tôi lên tầng cư xá chuyên viên tức tầng phía trên đại sảnh. Y đưa tôi đi dọc theo một hành lang dài, hai bên có rất nhiều khung cửa. Cuối cùng y bỏ hành lý của tôi vào một phòng trong góc, và vắn tắt bảo :
- Buồng tắm ở chính giữa hành lang.
Nói đoạn, y đi ra, khẩu tiểu liên mang lắc lư qua vai trái. Tôi có thể nghe giọng nói của y không hề có một chút nhân tính. Nó tuôn ra cửa miệng y như ra khỏi một bộ máy vô tri giác.
Đồ đạc trong phòng tuy đẹp nhưng đơn sơ. Một chiếc giường rộng kê ở đầu phòng, và đầu kia là một lò sưởi đốt bằng củi. Một cánh cửa dẫn vào một buồng vệ sinh chỉ có bồn rửa mặt và một cầu tiêu.
Quang cảnh nhìn qua các khung cửa sổ thật là ghê sợ, dù lúc trời đang tối dần. Mấy cửa sổ phía đông nhìn ra phía trên một bờ vực đầy những đá nhọn lởm chởm đến nỗi khó lòng đủ chỗ cho một bàn chân dài độ hơn hai tấc đặt lên. Các cửa sổ phía bắc nhìn thẳng ra bờ đá dốc đứng chạy xuống biển cách xa gần hai trăm thước phía dưới. Tòa lâu đài đứng trên một mũi đất nhô ra biển. Tôi đoán ít nhất phải có hai hoặc có lẽ ba mặt của tòa nhà trông ra bờ đá. Tôi đã đoán đúng. Chúng tôi đã đi vào theo một mặt duy nhất được dùng làm lối vào. Và cũng chỉ có một con đường ra khỏi lâu đài Kinnoul.
Tôi bước ra khỏi thang máy và đi vào đại sảnh lúc hơn bảy giờ. Căn phòng làm tôi liên tưởng ngay đến phòng khánh tiết trong Whitehall (1) nơi Charles Đệ Nhất (2) đã bị mất đầu bởi tên đao phủ lúc nhà vua vừa bước qua khỏi cửa. Nhưng nơi này rộng gấp rưỡi. Trần phòng cao, các ngọn đèn vách, những bước chân dung - đa số đều mặc loại vải sọc vuông của người Tô-cách-lan _ ván lót tường màu đen, sàn nhà bằng gỗ không trải thảm mòn tới bóng loáng, và những khung cửa sổ cao khiến tôi nghĩ đến thời Phục Hưng (3) toàn thịnh. Một ngọn lửa đang cháy đỏ rực trong một lò sưởi lớn ở khoảng giữa phòng.

Chú thích
(1) Whitehall : một hoàng cung thời xưa của nước Anh gần Westminter Abbey, còn gọi là Whitehall Palace.
(2) Charles Đậ Nhất (1600-1649) : Hoàng đế Anh quốc từ 1625. bị kết tội phản quốc và bị hành hình vào năm 1649.
(3) Renaissane : cuộc cách mạng văn hóa, nghệ thuật và khoa học xảy ra ở Châu Âu vào thế kỷ XV và XVI.
(đến trang 267)
07061707
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-27 12:23:52Ct.Ly>
(tiếp theo từ chương 4, phần thứ IV - CHẲNG AI TÌM DẤU)

4. Một chiếc Land Rover mui trần đang đậu trên bến tàu trong lúc chiếc ngư lôi đỉnh S tiến

Đem vào cho đủ 1 chương
07061707
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-27 12:24:27Ct.Ly>
(tiếp theo từ trang 265 - phần IV - CHẲNG AI TÌM DẤU)

Anson bảo :
- Lâu đài Kinnoul.


Đã đem vào cho đủ 1 chương
07061707
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-27 12:27:42Ct.Ly>
(tiếp theo trang 267, phần IV - CHẲNG AI TÌM DẤU)

Một chiếc bàn chạy dài suốt ba phần tư chiều dài của căn phòng, được sửa soạn làm bàn ăn cho độ chừng hai mươi lăm người. Mọi người đã đến đủ mặt trong đại sảnh, đang quây quần chung quanh một quầy rượu nhỏ ở mút phòng.
Anson bước ra khỏi đám đông và tiến tới chào đón tôi.
- Xin chào mừng Ông Dunbar đến đại sảnh của lâu đài Kinnoul. Ông hãy tới đây, để tôi giới thiệu ông với mấy bạn đồng nghiệp của tôi.
Bây giờ tôi không còn nhớ được tên của họ, nhưng những khuôn mặt của họ chắc sẽ ám ảnh tôi đến trọn đời. Có lẻ họ cũng như bất cứ một nhóm người bình thường nào trong bất cứ một buổi tiệc trà bình thường nào. Nhưng đó là một nhóm người đủ mọi quốc tịch. Tôi nhớ có hai người Tô-cách-lan, trên mười Người Anh, ba bốn người Hoa kỳ, ba người Trung-hoa, một người Pháp, và năm người Đức. Ngoài ra trong đám đông lại có một người Tiệp Khắc, không phải Matuschek. Câu chuyện họ đương nói với nhau đa số gồm những tiếng rất lạ tôi không sao hiểu nổi, và có cả những danh từ toán học.
Tôi bắt chuyện một cách vắn tắt với một người Anh trẻ tuổi. Lối ăn nói của anh ta có vẻ hạ lưu, chỉ được đổi thay một chút ít nhờ đã học qua ngành đại học.
Anh ta nói :
- Chắc ông thấy chúng tôi là một người kỳ lạ.
- Đâu có gì kỳ lạ lắm. Tôi chỉ nghĩ rằng đây là một buổi tiệc trà như đa số ở những nơi khác. Cảnh tượng này khiến tôi liên tưởng đến những buổi tiệc trong trường học Oxford mà tôi đã có dịp đến dự buổi cơm tối với một người bạn trong ngành giáo dục.
Anh ta bật cười :
- Vâng, đúng như thế, ngoại trừ một điều là chúng tôi gần gũi nhau hơn. Ông định làm gì ở đây?
Anson trở lại và ngắt lời trước khi tôi kịp đáp :
- Ông Dunbar đang định nhập hội với bọn mình. Bây giở tôi phải đưa ông ấy đi ăn tối để thảo luận việc này.
Chúng tôi ăn tối trong một căn phòng nhỏ ở cách đại sảnh một hành lang, đối diện với thang máy, ngồi ở mọi chiếc bàn con trải một tấm khăn không hề có một vết dơ và muỗng nĩa đều bằng bạc sáng bóng. Sau đó chúng tôi dời sang phòng làm việc của ông ta để uống cà phê và rượu - một căn phòng vĩ đại với một cái bàn viết thật rộng bằng gỗ đào hoa tâm kê ở một đầu phòng, mặt bàn trống trơn chỉ có một cây đèn bằng đồng xinh xắn, một bộ bút và một hộp điện thoại nội đàm. Một chiếc ghế xoay như một chiếc ngai vàng đặt phía sau bàn. Chúng tôi cùng ngồi trên hai cái trường kỷ ở đầu phòng đối diện, trước một lò sưởi lớn, một loa phóng thanh Klipschorn ở trong một góc tường bên cạnh lò sưởi. Từ chiếc loa đang vang nhẹ một trong ba phiên khúc của Arriaga.
- Có phải chương trỉnh thứ ba của đài BBC?
Ông ta đáp :
- Không phải. Một anh chành ghiền nhạc trong một đài phát thanh. Anh ta cứ thâu nhạc suốt ngày. Nếu ông không thích nghe, tôi sẽ tắt ngay/
- Không. tôi thích Arriaga.
- Vậy sao? Về âm nhạc thì tôi mù tịt.
Người không có âm nhạc trong tâm hồn là những kẻ rất dễ phản bội, và hư hỏng, hình như tôi đã nghe cái ý đó trong đoạn cuối cùng của bài Twelfth Night (Đêm thứ mười hai). Anson đang hút một điếu xì gà Upmann. Tôi châm ống điếu trong lúc ông ta mở đầu câu chuyện :
- Bây giờ mình có thể tự nhiên bàn luận. Trước hết ông hãy nói thật vì sao ông tìm đến đây. Không, không - tôi muốn ông cho biết lý do thật sự. Ông muốn hợp tác với tôi là một chuyện hoàn toàn vô lý. Tôi đã lưu ý từ lâu rằng ông có ác cảm một cách kỳ lạ đối với tôi.
Tôi liền nói :
- Hóa tính của mình không giống nhau. Nhưng tôi đâu có cơ hội để nhận hay từ chối lời đề nghị của ông. Ngay sau hôm đó, ông đã rời tàu quá sớm.
- Ông nói lảng hay lắm. Vậy tôi xin trả lời giúp ông. Lẽ tất nhiên, ông đang đi tìm người em trai của ông. Ông vẫn chưa chịu nhìn nhận bản phúc trình cho hay ông ấy đã chết.
- Thà chết còn hay hơn.
- Ông vẫn cố tình hiểu sai ý tôi. Nhưng lẽ dĩ nhiên ông nghĩ đúng. Ông ấy chưa chết và hiện ở đây.
- Trong lâu đài?
- Phải. Và có lẽ ông cũng đang nóng lòng gặp Monique de Ménard, không phải chỉ vì muốn ra tay nghĩa hiệp.
Tôi bảo :
- Tôi biết cô ta hiện ở đây. Tôi cần gặp cả hai người đó.
- Rồi ông sẽ được gặp đủ. Nhưng để ngày mai, sau khi ông viếng một vòng quanh đảo, rất trọng yếu cho việc huấn luyện ông về sau. Tôi khởi hành lúc bảy giờ. Như vậy đối với ông có quá sớm hay không?
- Tôi sẽ sẵn sàng chờ ông đúng bảy giờ.
- Tôi sẽ đến đón ông - hoặc Donald đến - đúng sáu giờ năm mươi lăm tại phòng của ông. Từ đây đến đó ông chỉ nên ờ trong phòng.
Ông ta đứng dậy và mở cánh cửa ra phía hành lang. Nelson với khẩu súng còn đeo lủng lẳng trên vai. liền đưa tôi trở về phòng. Gian đại sảnh không còn một ai và bọn gia nhân đang dọn sạch chiếc bàn dài trong lúc chúng tôi băng qua.
Vừa mở cửa phòng cho tôi, Nelson vừa bảo :
- Tôi sẽ ở phía dưới thang máy.
Căn cứ vào nơi do y chỉ, tôi đã hiểu ngay vì sao y không cần khóa cửa phòng tôi sau khi đã đóng lại.

(hết chương 4)


5. Món điểm tâm gồm trứng và thịt muối được đưa tới tận phòng tôi trên một cái khay. Tôi ăn xong, liền cạo râu và thay áo quần thì vừa đúng sáu giờ rưỡi. Nelson đưa tôi xuống. Anson đang đợi tôi trong một chiếc Jeep mui trần. Ông ta mặc một cái áo choàng ngắn dày cộm có cổ bằng da trừu.
Ông ta lên tiếng trước :
- Chào ông. Ông không lạnh hay sao?
Tôi chỉ mặc một chiếc áo khoát bằng vải len với một áo nịt dày bên trong.
- Như thế này là vừa đủ. Nếu trời không mưa.
- Trong thùng xe có sẵn hai bộ áo quần đặc biệt để dùng vào lúc nào trời quá lạnh.
Tôi trèo lên. Ông ta liền phóng xe đi, hất tung hai luồng sỏi nhỏ về phía sau lúc bốn bành xe có khía sâu của chiếc Jeep cắn chặt vào mặt đường rải sỏi. Ông ta quay về phương bắc, chạy trên con đường ở gần bờ biển.
Ông ta lại bảo :
- Ông phải nói chuyện một đôi câu đi chứ. Ông có biết gì về mấy hải đảo nhỏ ở vùng này?
- Rất ít.
- Tất cả quần đảo Hebrides, còn được gọi là Isles of the West (Hải Đảo Miền Tây), nguyên thuộc nước Na-uy, mãi đến cuộc chiến tranh vào năm 1263 mới chuyển qua To-cách-lan. Người ta còn có thể thấy rõ di tích của thời kỳ lệ thuộc Na-uy trong các địa danh, chẳng hạn Stenrness, Lunna Voe, Vaila Voe và Nossie Holm, cùng các tên tương tự. "Voe" có nghĩa là vịnh nhỏ. "Holm" có nghĩa là một hoang đảo. Và còn nhiều nữa. Trong thời kỳ bị Tô-cách-lan thống trị, thời kỳ được mệnh danh là Triều Đại Đảo Chúa, khi dòng họ MacDonald of Islay là những vị chúa tể, quần đảo Hebrides thực sự có đủ sức mạnh làm rung chuyển ngai vàng của xứ Tô-cách-lan. Tôi nhận thấy đây là một sự trùng phùng thú vị.
- Trùng phùng với cái gì?
- Lẽ tất nhiên ông chưa biết chúng tôi đang làm gì ở đây. Tới đúng lúc tôi sẽ cho ông rõ.
Ông ta chợt mỉm cười với một ý nghĩ thầm kín trong đầu và nói tiếp :
- Ông sẽ là người ngoại cuộc duy nhất biết được chuyện này, sau khi ông đã đi viếng một vòng khắp đảo.
- Ngôi nhà gì bên tay trái vậy?
- Phòng thí nghiệm. Vừa mới hoàn tất. Các khoa học gia của chúng tôi thường làm việc trong các phòng phía dưới của lâu đài, nhưng ở đó chật chội quá. Về phía sau khu nhà thí nghiệm có cả cư xá cho chuyên viên. Tôi chưa có thể đưa ông vào xem ở bên trong được, vì chỉ những người có phận sự đặc biệt mới được phép vào.
- Đại khái, phòng thí nghiệm thuộc loại gì?
- Phần lớn là điện tử, hóa học và vật lý học. Phần vụ điện tử hướng mọi nổ lực và việc kiện toàn máy vô hiệu hóa, được gọi là Mục Tiêu Một. Chuyện đó, dĩ nhiên ông đã biết.


(tiếp theo từ trang 273, chương 5, phần IV - CHẲNG AI TÌM DẤU)


- Có phải đó là chiếc hộp đen do em tôi phát triển ra?
- Không phải, chiếc hộp đen của Jacques de Ménard. Chúng tôi đặt tên cho chiếc hộp của em ông là Mục Tiêu Hai. Rủi thay, chúng tôi không thể hoàn thiện Mục Tiêu Một, nên chúng tôi cần Mục Tiêu Hai.
- Tôi hiểu. Và em tôi bắt buộc phải giao cho ông?
Ông ta trả lời bằng một giọng tin tưởng :
- Phải. Căn cứ theo lời ông nói, tôi đoán ông không tin em ông sẽ giao lại. Nhưng chính ông đã có một kinh nghiệm về phương pháp khai thác của chúng tôi? Tôi nghĩ rằng ông ấy sẽ trao cho chúng tôi bộ phận còn thiếu.
- Tại sao ông cần phải có?
- Mục Tiêu Một bị giới hạn ở đường chân trời - tức độ chừng bốn mươi dặm tại cao độ này. Như thế cũng thừa đủ để bảo vệ chúng tôi trên Saint Sudra, nhưng chúng tôi cần một hệ thống tốt hơn để dùng về sau. Các chuyên viên điện tử của tôi không đủ sức cải tiến Mục Tiêu Một. Nhưng vẫn tiếp tục không ngừng. Công cuộc nghiên cứu hóa học của chúng tôi hướng về các loại hơi độc gây phản ứng tê bại. Công cuộc nghiên cứu vật lý thì phần lớn thuộc lãnh vực tia laser, mặc dù vấn đề laser ngày nay đã hơi lỗi thời. Mình tới nơi rồi - nơi cao nhất của đảo.
Ông ta giảm tốc độ chiếc xe Jeep và thắng lại ở mép bờ đá cao về phía cực bắc của hòn đảo.
- Đó là hồ Rata bên tay trái. Hồ Venna và hồ Madoch ở ngay dưới đây - cả hai đều tuyệt đẹp, rồi ông sẽ thấy.
Nhưng chính bờ đá khiến tôi lạnh xương sống. Nó thẳng đứng và cao hơn mặt nước biển có tới trên ba trăm rưỡi thước tây. Nhiều đàn chim như những đàm mây lớn vừa liệng vòng quanh vừa kêu la om sòm, trong đó tôi nhận thấy cả loài hải yến và chim cắt.
Anson bảo :
- Xưa kia nơi này là chỗ trú ẩn của các loài chim. Tôi hơi lấy làm tiếc vì chúng tôi đã biến đổi một đôi phần. Nhưng tôi tin các loài chim sẽ trở lại khi chúng tôi bước qua một thời kỳ trọng đại khác.
Ông ta nhìn tôi bằng khóe mắt. Trong lúc tôi vẫn không nói gì, ông ta tiếp lời :
- Về chuyện chúng tôi sẽ bước qua nơi nào - đó là bài giảng kế tiếp.
Tôi nói :
- Tôi xin hỏi thêm một câu. Theo tôi đoán thì ngôi nhà trên đỉnh bờ đá kia là một đài radar. Tại sao phải có radar như vậy?
Nhận xét của tôi không thể nào lầm được, vì ngay trên mái của ngôi nhà sườn sắt có mấy cái ăng-ten như những chiếc rổ đang quay tròn.
Anson đáp :
- Rất dễ hiểu. Có lẽ ông không được rõ máy vô hiệu hóa hiện đại của chúng tôi, tức Mục Tiêu Một, còn có một khuyết điểm khác. Nó làm tê liệt mọi hoạt động điện thường, điện tử cùng những hoạt động liên hệ - không phải chỉ của kẻ lạ mà luôn của chính chúng tôi nữa. Vỉ lý do này, lẽ tất nhiên chúng tôi không thể cho nó hoạt động liên tục, và phải dùng radar để báo cho chúng tôi biết lúc có kẻ lạ tiến tới gần. Khi thấy những chấm sáng trên màn hình radar, nhân viên túc trực sẽ báo động để cho toàn thể công nhân ngoài hải cảng cũng như trên phi trường và trong các phòng thí nghiệm đều biết nguồn năng lượng sắp bị máy vô hiệu hóa làm gián đoạn. Khi chúng tôi đã có được bộ máy của em ông - tức Mục Tiêu Hai, chúng tôi sẽ không cần phải dùng phương pháp bất tiện này nữa.
- Ông thật tình lo ngại sẽ bị tấn công hay sao?
- Ông hãy đợi tới khi quan sát xong. Rồi ông sẽ thấy. Lúc này, tôi chỉ muốn cho ông hay một điều : chúng tôi không muốn bị người ngoài dòm ngó.
Chúng tôi chạy xe xuống phía tây cho tới khi gần đến vùng đất bằng phẳng ơ trung tâm của hòn đảo. Anson không nói gì thêm trong lúc chúng tôi chạy vòng theo những bờ đá mỗi lúc một thấp dần song song với bờ biển về phía tây. Khi trông thấy một khu có nhiều bồn chứa kỳ lạ, tôi vừa hỏi chuyện về đêm vừa qua thì ông ta quẹo chiếc Jeep khỏi con đường chật hẹp và ngừng lại ở góc đường.
Ông ta chỉ tay về phía nam bồn chứa, bảo :
- Bài giảng kế tiếp.
Ông ta chăm chú nhìn tôi trong lúc tôi nhìn sững quang cảnh này. Trước mắt tôi là một ngôi nhà dài và thấp, chỉ có một tầng. Trên mặt tường liền lạc là mấy khung cửa sổ giống hệt trên một chiếc tàu. Những khung cửa sổ đó nhìn ra một khu đất rộng hình chữ nhật bao bọc bởi một hàng rào kẽm gai. Khu đất trơ trụi không một chút cây cối. Rồi tôi dần dần để ý thấy nhiều chỗ lồi lên khỏi mặt đất một cách đều đặn trong hình chữ nhật. Tất cả đều thấp, hơi tròn đầu, sơn lốm đốm nâu để tiếp với màu đất. Mỗi chiếc nắp bằng kim loại dường như có bản lề mở qua một bên. Có cả thảy ba hàng, mỗi hàng bốn cái, cách khoảng nhau độ chừng ba mươi thước tây.
- Ông đoán thử xem nó là gì?

Tôi đáp :
- Tôi có biết gì đâu mà đoán cho nổi. Mấy cái đó trông giống như những bồn dầu nhỏ mà tôi có dịp trông thấy ở Romania với những cái giếng có mái che và gắn đường ống. Nhưng ở đây không có một khúc ông nào. Có phải ông đã tìm ra mỏ dầu?
Anson bật cười. Tôi chưa hề nghe ông ta cười như thế. Đó là một tràng âm thanh the thé như những tiếng sủa của một giống vật, nghe hết sức khó chịu. Tôi có cảm giác màng tai đang vỡ ra.
Cười xong, ông ta giải thích :
- Ông có thể nói như vậy, nếu ông thích dùng giọng văn hoa mỹ. Nhưng thật ra thì không phải. Đó là những hầm chứa hỏa tiễn có tầm bắn trung bình, được đặt ngay bên dưới nắp hầm. Hỏa tiễn được trang bị những hệ thống hướng dẫn cực kỳ chính xác và có thể phóng đi bất cứ lúc nào tôi muốn.
Tôi ngồi sững nhìn mấy dãy hầm, lắng nghe âm vang lời nói của Anson trong đầu. Trong lĩnh vực của tôi, tôi đã thấy nhiều người khổ sở vì một khuyết điểm kỳ lạ về sự phối hợp của bộ óc và cái miệng. Họ hiểu một cách rành rẽ mà vẫn không sao thốt ra một câu nào hay ho. Đặc biệt nhất là một vài người trong giới giáo sư vẫn thường giảng bài hàng giờ cho các học sinh. Một nhà toán học đại tài, đã quen suy nghĩ thành phương trình, có thể phiên dịch những phương trình ra ngôn ngữ mà quý bạn và tôi đều có thể hiểu. Người kém hơn không thể như thế được. Anson gần như là một nhà toán học. Ông ta nghĩ bằng những hình ảnh lạ lùng, tàn nhẫn, rồi ông ta sắp lại thành lời khiến tôi giá buốt tận xương tủy. Tôi đã tưởng lầm ông ta là kẻ mơ mộng đầy ảo tưởng. Ông ta đâu phải vậy. Ông ta có thái độ của một người đã quen cận chiến và thích trò này, một người muốn đánh cá dù thời vận bên ngoài có vẻ xui xẻo, bởi vì ông ta biết chắc mình có thể đổi thay thời vận.
Mãi một lúc sau tôi mới nói được :
- Có lẽ ông muốn nói.
- Tôi không nói đùa.
- Phóng đi bất cứ lúc nào ông muốn - tôi chấp nhận như thế. Nhưng nhắm vào đâu?
Ông ta không trả lời tôi một cách trực tiếp.
- Ông sẽ nhận thấy chúng tôi khỏi cần đặt phòng kiểm soát dưới đất. Thật sự không thành vấn đề. Không thể có ai phục thù, vì chúng tôi có bộ máy vô hiệu hóa, và chỉ cần dùng hỏa tiễn một lần, trong trường hợp tối cần.
Tôi chợt có một hình ảnh điên cuồng của một người hiến thân vào một cuộc chiến tranh bí mật với Nga - Xô, và cố xua tan. Trong cơn xúc động, tôi hỏi một câu khờ khạo :
- Ông làm sao mà đưa được hỏa tiễn đến đây?
- Rất đơn giản. Nếu ông chỉ muốn hỏi điều đó, tôi xin trả lời ngay : bằng đường biển. Nhưng nếu ông muốn hỏi chúng tôi đưa từ đâu đến thì đó là một chuyện khác. Chúng tôi đã đặt chế tạo tại rất nhiều quốc gia và các hãng chế tạo yên trí họ làm cho một chính phủ ngoại bang nào đó.
Ông ta chợt bật cười thành tiếng trước vẻ mặt của tôi.
- Không, không phải là một xứ tương tự Cuba đâu. Không có một món nào được chế tạo tại Nga - Xô. Người Nga không hề hay biết gì về sự hiện hữu của mấy dàn hỏa tiễn này. Ngoài ra cũng chưa có một ai khác hay biết.
- Các hỏa tiễn đó để làm gì?
- Hiện giờ thì không để làm gì cả. Nhưng cũng sắp sửa tới lúc được sử dụng. Đó là một vấn đề. Đáng tiếc lả ông sẽ không bao giờ viết đăng lên mặt báo được.
Ông ta dừng lại một lát để xem đồng hồ tay.
- Vừa đúng mười hai giờ trưa. Tôi sẽ nói cho ông nghe sau khi ăn cơm xong. Mình hãy trở về lâu đài.
Ông ta cho chiếc Jeep nổ máy và chạy băng ngang qua đảo bằng một con đường dẫn chúng tôi qua khỏi lối vào đai kiểm soát hỏa tiễn xây cất bằng gỗ.

(hết chương 5)
07061707
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-27 12:26:34Ct.Ly>
(Tiếp theo từ chương 5 - phần IV - CHẲNG AI TÌM DẤU)

5. Món điểm tâm gồm trứng và thịt muối được đưa tới tận phòng tôi trên một cái khay. Tôi ăn xong, liền cạo râu và thay áo quần thì vừa đúng sáu giờ rưỡi. Nelson đưa tôi xuống. Anson đang đợi tôi trong một chiếc Jeep mui trần. Ông ta mặc một cái áo choàng ngắn
07061707
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-27 12:28:07Ct.Ly>
(tiếp theo từ trang 273, chương 5, phần IV - CHẲNG AI TÌM DẤU)

- Có phải đó là chiếc hộp đen do em tôi phát triển ra?
- Không phải, chiếc hộp đen của Jacques de Ménard. Chúng tôi đặt tên cho chiếc hộp của
07061707
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»