📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Người từ miền đất lạnh 🔒

67 trả lời, 10.705 lượt xem — Trang 3 / 3
CHƯƠNG 15

THAM DỰ HỘI NGHỊ

Liz nhìn lá thư của Trung Ương Đảng bộ và tự hỏi nó chứa đựng những gì. Nàng cảm thấy hơi bối rối. Nàng phải nhìn nhận nàng không khỏi vui sướng, nhưng tại sao họ không tham khảo nàng trước ? Phải chăng Uỷ Ban Quận Bộ đã đề nghị tên nàng , hay là Trung Ương tự chọn ? Nhưng theo nàng biết thì không ai ở Trung Ương biết nàng. Dĩ nhiên nàng đã có cơ hội gặp các phát ngôn viên không chính thức, và ở hội nghị cấp quận nàng đã bắt tay với viên Đại diện Đảng bộ. Có lẽ người đàn ông ở Ban Giao Tế Văn Hoá đã nhớ đến nàng và nàng đoán ông ta có thể đã đề nghị tên nàng, hoặc nhớ đến nàng khi có học bổng. Ông ta là một con người kỳ hoặc, đã đưa nàng đến quán Black and White để uống cà phê sau buổi họp và hỏi chuyện về bạn trai của nàng. Ông ta không hề tỏ một lời tán tỉnh nào với nàng, thẳng thắn mà nói, nhưng nàng thấy ông ta đã hỏi nàng một lô câu về nàng. Nàng vào Đảng bao lâu rồi, ở xa cha mẹ có nhớ nhà không ? Nàng không quan tâm nhiều đến ông ta nhưng câu chuyện ông ta nói đã có ảnh hưởng. Nhà nước Công Nhân của Cộng Hoà dân chủ Đức Quốc, quan niệm về thi sĩ công nhân và v.v… Chắc hẳn ông ta biết rành về Đông Âu, nhất định ông ta đã du lịch nhiều. Nàng đoán ông ta là một giáo sư, ông ta có cái vẻ hơi mô phạm, nói năng lưu loát. Sau đó có buổi quyên tiền cho Quỹ Tranh Đấu, Ashe đã góp vào một Anh kim, nàng đã không khỏi lấy làm lạ. Bây giờ thì nàng chắc chắn rồi, đúng là như vậy : chính Ashe đã nhớ đến nàng. Ông ta đã nói với ai đó ở Quận Bộ Luân Đôn và Quận Bộ đã cho Trung Ương biết hay đại khái như thế. Làm việc theo lối này kể cũng ngồ ngộ, nhưng Đảng luôn luôn giữ bí mật, và nàng nghĩ đó cũng là phần vụ của một Đảng Cách Mạng. Sự bí mật không làm Liz thích thú lắm, nó có vẻ không lương thiện. Nhưng nàng cho là cần thiết, và có trời biết, có nhiều người khoái như vậy.
Nàng đọc lại lá thư. Nó được viết bằng giấy của Trung Ương, có một dấu in đỏ sậm trên đầu trang, lá thư bắt đầu bằng “Đồng chí thân mến”. Nghe có vẻ quân đội quá, Liz nghĩ, và nàng ghét thế, nàng chưa hề quen với hai chữ “Đồng chí”.
Đồng chí thân mến,
Chúng tôi vừa bàn với các đồng chí ở Xã Hội Thống Nhất Đảng của Cộng Hoà Dân Chủ Đức Quốc về việc có thể trao đổi các nhân viên Đảng Bộ ở đây và các đồng chí ở Đức Quốc dân chủ. Ý kiến được đề ra là tạo một căn bản thay đổi theo cấp bậc và hồ sơ giữa hai đảng chúng ta. Xã Hội Thống Nhất Đảng thừa hiểu rằng những biện pháp kỳ thị hiện thời của Bộ Nội Vụ Anh khiến cho phái viên của họ khó mà đến Anh Quốc được trong một tương lai gần, nhưng họ cho rằng một sự trao đổi kinh nghiệm vì thế lại càng quan trọng. Họ đã có lòng mời chúng ta chọn năm bí thư phân bộ giàu kinh nghiệm và hồ sơ tốt về việc kích động quần chúng khu phố. Mỗi đồng chí chọn lọc đó sẽ có ba tuần lễ tham dự các buổi bàn cãi Phân Bộ, nghiên cứu sự tiến bộ kỹ nghệ và xã hội, cùng thấy tận mắt bằng chứng gây hấn của bọn Phát xít ở Tây Âu. Đây là một cơ hội lớn cho các đồng chí chúng ta để học được các kinh nghiệm của một hệ thống xã hội trẻ trung.
Bởi vậy chúng tôi đã yêu cầu Quận Bộ đề nghị trong số cán bộ công nhân ở khu vực của đồng chí những người nào có thể có lợi ích nhất để đi, và tên của đồng chí đã được đề nghị. Chúng tôi muốn đồng chí đi nếu không có gì trở ngại, và thi hành phần hai của kế hoạch – nghĩa là tiếp xúc với một Phân bộ ở Cộng Hoà Dân Chủ Đức Quốc mà các Đảng viên có kiến thức kỹ nghệ giống đồng chí và cũng có những vấn đề như đồng chí. Phân bộ Bayswater đã được xếp song đôi với Nevenhagen, một khu ngoại ô ở Leipzig. Freda Luman, Tổng thư ký Phân bộ Nevenhagen, đang sửa soạn một cuộc đón tiếp trọng thể. Chúng tôi chắc chắn đồng chí là người xứng hợp với công tác, và sẽ gặt hái được thành công mỹ mãn. Mọi chi phí sẽ được đài thọ bởi Sở Văn Hoá Cộng Hoà Dân Chủ Đức Quốc.
Chúng tôi tin chắc đồng chí sẽ nhận thấy đây là một vinh hạnh lớn lao, khiến cho đồng chí không để những lý do cá nhân ngăn trở đồng chí nhận lời. Các cuộc thăm viếng sẽ diễn ra cuối tháng tới, khoảng 23, nhưng các đồng chí được chọn sẽ đi riêng rẽ vì các lời mời không trùng nhau. Xin đồng chí vui lòng cho chúng tôi biết càng sớm càng tốt rằng đồng chí có thể nhận lời hay không, và chúng tôi sẽ cho đồng chí biết thêm chi tiết.
Càng đọc nàng càng thấy lạ kỳ. Mở đầu bằng một sự thông báo ngắn ngủi như vậy, sao họ có thể biết nàng có thể rời khỏi thư viện ? Rồi nàng ngạc nhiên nhớ ra Ashe đã hỏi nàng trong những ngày nghỉ nàng làm gì, năm nay đã xin nghỉ phép chưa, và có phải loan báo gì nhiều nếu muốn xin nghỉ không. Sao họ không cho nàng biết nbững người được chọn kia là ai ? Có lẽ không có lý do nào đặc biệt khiến họ phải cho biết, nhưng không cho biết thì có vẻ kỳ lạ làm sao ấy. Lá thư lại dài quá. Ở Trung Ương họ thường khó khăn về việc dung thư ký đến nỗi họ thường viết thư ngắn, hoặc nhờ các đồng chí gọi điện thoại. Thư này quá đặc biệt, đánh máy quá khéo, chắc đã không được thực hiện từ Trung Ương. Nhưng nó được ký bởi Uỷ viên Văn Hoá; đúng là chữ ký của ông ta, không thể nghi ngờ gì được. Nàng đã nhìn thấy dạng chữ ký này ở cuối các thông báo hàng trăm lần. Và lá thư lại có vẻ vụng về, nửa thư lại nửa tôn giáo mà nàng đã quen dù không thích. Nói rằng nàng có hồ sơ tốt về việc kích động quần chúng khu phố thì thật là ngốc. Nàng không có tài đó. Thật tình nàng ghét loại công việc đó của Đảng – nói vào các loa phóng thanh ở cổng nhà máy, bán báo Công nhân tại góc đường, đi gõ cửa từng nhà vào những kỳ bầu cử địa phương. Chỉ có công tác cổ vũ hoà bình mới không khiến nàng khó chịu, vì đối với nàng nó có một ý nghĩa. Mình có thể nhìn vào những đứa trẻ trên đường phố khi mình đi ngang, nhìn vào những người mẹ đẩy những chiếc xe trẻ con, những người già nua đứng ở cửa, và mình có thể tự bảo : “ Mình đang làm điều này cho họ”. Đó mới thật là đấu tranh cho hoà bình.
Nhưng nàng chưa hề trông thấy cảnh tranh đấu giành phiếu và giành bán nhật báo như thế. Nàng nghĩ có lẽ bởi vì nó khiến chúng hiện nguyên hình. Thật dễ dàng khi có chừng chục người tụ họp trong một buổi họp Phân bộ để tái lập thế giới, bước đi trong hàng ngũ tiến phong của xã hội chủ nghĩa và nói chuyện về sự tất yếu của lịch sử. Nhưng sau đó nàng lại phải đi ra phố với một chồng nhật báo Công nhân, thường phải đợi một hai tiếng đồng hồ mới bán được một số. Có đôi lần nàng bịp, cũng như các người khác đã bịp, tự mình mua độ chục số đề thoát nợ mà về nhà. Trong buổi họp kế tiếp họ sẽ khoe khoang về chuyện đó – quên mất là chính họ cũng đã tự mua : “Đồng chí Gold đã bán được mười tám số tối thứ bảy - Mười tám số !”. Thành quả để ghi vào biên bản, và bản tin phân bộ nữa. Quận Bộ sẽ xoa tay, và có thể nàng sẽ được đề cập đến trong danh sách Về Quỹ Tranh Đấu trên trang đầu. Thật là một thế giới nhỏ bé, và nàng ước gì họ thành thật hơn chút nữa : nhưng chính nàng cũng đã nói dối về nó với mình. Có lẽ họ đều thế cả. Hoặc có lẽ các người khác hiểu rõ tại sao người ta phải nói dối nhiều đến thế.
Dường như thật kỳ hoặc khi họ cử nàng làm bí thư Phân bộ. Chính Mulligan đã đề nghị : “Đồng chí trẻ tuổi, đầy nhiệt huyết, duyên dáng của chúng ta…” Chắc hắn nghĩ nàng sẽ ngủ với hắn nếu hắn cất nhắc cho nàng thành Bí thư. Các người khác đã bầu nàng vì họ có cảm tình với nàng, và vì nàng biết đánh máy. Vì nàng đã chịu khó làm việc và không cố gắng khiến họ phải đi vận động vào cuối tuần. Dầu sao cũng không thường xuyên. Họ đã bầu nàng vì họ muốn có một hội quán nho nhỏ, đàng hoàng, ấm cúng và đầy tinh thần cách mạng mà vẫn không vẽ vời. Thật toàn là một sự gian trá. Alec dường như đã hiểu điều đó, chàng không coi nó là quan trọng. “Có người nuôi chim kim tước, có người gia nhập Đảng”. chàng có lần đã nói thế, và đúng thật. Ít nhất ở Nam Bayawater câu đó đúng, và Quận Bộ thừa biết điều đó. Đó là lý do tại sao nàng được đặc biệt tuyển chọn, đó là lý do tại sao nàng nhất quyết không chịu tin rằng Quận Bộ đã can thiệp vào. Nàng chắc chắn câu giải đáp là Ashe. Có lẽ ông ta mến nàng, có lẽ ông ta không phải là người ẻo lả mà chỉ trông có vẻ thế thôi.
Liz nhún vai, hơi quá mức bình thường, thứ động tác mà người ta làm khi bị kích động và có một mình. Dầu sao nàng cũng sắp được đi ngoại quốc, khỏi phải tốn tiền mà còn có vẻ lý thú. Nàng chưa hề xuất ngoại lần nào và chắc chắn sẽ không đủ tiền để đi. Chuyến đi có vẻ đầy hứa hẹn sẽ có nhiều chuyện vui. Nàng đã có nhiều thành kiến về người Đức. Theo lời người ta nói, nàng biết Tây Đức chỉ có toàn bọn quân phiệt và lũ người thích trả thù, còn Đông Đức thì dân chủ và yêu chuộng hoà bình. Nhưng nàng không nghĩ rằng tất cả những người Đức tốt lành đều ở một bên và tất cả những người Đức xấu xa ở bên kia. Và chính những người Đức xấu xa đã giết cha nàng. Có lẽ đó là lý do Đảng đã chọn nàng, như một hành vi rộng lượng hoà giải. Có lẽ đó là điều Ashe đã nghĩ đến khi hỏi nàng những câu hỏi đó. Dĩ nhiên, đó là lời giải đáp. Bỗng nhiên lòng nàng tràn ngập một cảm giác ấm áp biết ơn đối với Đảng. Họ thật là những người đứng đắn và nàng hãnh diện cùng biết ơn được ở trong hàng ngũ của họ. Nàng đi lại bàn và mở ngăn kéo trong một cái bục cũ là nơi nàng giữ các giấy viết của Phân Bộ và các con tem. Đặt một tờ giấy vào máy chữ Underwood đã cũ mòn, Quận Bộ đã gửi xuống khi nghe tin nàng biết đánh máy, nó hơi nhảy một chút nhưng vẫn còn tốt, nàng đánh máy một lá thư nhận lời tươm tất và đầy lòng biết ơn Trung Ương thật là tuyệt, nghiêm minh, nhân ái, vô tư, và trường cửu. Họ là những người thật tốt. Những người tranh đấu cho hoà bình. Khi nàng đóng ngăn kéo lại nàng chợt thấy tấm danh thiếp của Smiley.
Nàng chợt nhớ đến người đàn ông nhỏ thó có bộ mặt nhăn nheo, thành khẩn, đứng ở cửa phòng nàng và hỏi : “Đảng có biết chuyện cô và Alec không ?” Nàng thật ngốc quá. Thôi, giờ thì không nên bận tâm về chuyện ấy nữa
0
CHƯƠNG 16

Trên quãng đường về, Fiedler và Leamas ngồi yên lặng trên xe. Trong bong hoàng hôn mờ tối, các ngọn đồi trông đen thẫm và đầy hang hốc, hai ngọn đèn pha như chen lấn với bong tối mỗi lúc một lan tràn, trông tựa hồ ánh đèn của những chiếc tàu ở xa tít ngoài khơi.
Fiedler ngừng xe trong một cái chái nhỏ bên hông nhà và họ cùng đi bộ đến cửa trước. Họ sắp vào nhà thì nghe một tiếng gọi từ phía rặng cây, theo sau là tiếng người kêu tên Fiedler. Họ quay lại và Leamas nhận ra trong bong tối nhá nhem ba người đứng ở cách xe chừng hai chục thước có vẻ đang đợi Fiedler. Fisdler bèn hỏi :
_Các anh muốn gì ?
_Chúng tôi muốn nói chuyện với ông. Chúng tôi từ Berlin tới.
Fiedler ngập ngừng hỏi Leamas :
_Tên gác mắc dịch đâu rồi ? Phải có một đứa ở cửa trước chứ.
Leamas chỉ nhún vai. Fiedler lại hỏi :
_Sao đèn trong nhà trước không bật lên ?
Rồi y đi từ từ lại phía mấy người đàn ông.
Leamas đợi một chút, rồi, vì không nghe thấy gì, chàng đi lần vào căn nhà tối om để đến dãy nhà phụ phía sau. Đây là một cái lều tồi tàn kiểu trại lính, nằm sau ngôi nhà chính, tứ phía là những khoảng đất trồng thông non. Căn lều chia làm ba phòng ngủ thông với nhau và không có hành lang. Phòng ở giữa đã dành cho hai tên gác. Leamas không hề biết ai ở căn thứ ba. Đã có lần chàng cố mở cánh cửa thông từ phòng chàng sang phòng đó nhưng cửa khoá. Chàng chỉ khám phá ra đó là một phòng ngủ bằng cách nhìn qua một khe hở nơi tấm màn cửa nhân một buổi sáng sớm đi dạo. Hai tên gác thường đi theo chàng cách khoảng 50 thước, lúc đó đã không đi vòng căn lều, và chàng nhìn vào cửa sổ. Căn phòng có một chiếc giường chiếc đã được dọn sẵn, và một cái bàn viết nhỏ có giấy bút trên mặt. Chàng đoán rằng có ai đó, với cái tính kỹ lưỡng của người Đức đã canh chừng chàng từ bên trong phòng. Nhưng Leamas là một con chó già rồi, đâu để bị phiền bởi sự theo dõi. Ở Berlin đó đã là một sự kiện thực tế của đời sống, nếu mình không phát giác được thì càng tệ hơn nữa, nó có nghĩa là chúng cẩn thận hơn hoặc là mình lơ là. Thường thì bởi vì chàng giỏi cái nghề đó, bởi vì chàng có óc quan sát và trí nhớ tốt, bởi vì chàng làm việc giỏi thế nào chàng cũng khám phá ra. Chàng biết những đội hình mà bọn theo dõi hay dung, chàng biết các mánh khoé, các nhược điểm, các lúc có thể cho chúng rơi. Đối với chàng bị canh chừng là một chuyện không đáng gì, nhưng khi chàng bước qua đoạn đường từ ngôi nhà sang căn lều và đứng trong phòng ngủ của bọn gác, chàng có một cảm giác rõ rệt là có gì không ổn.
Các ngọn đèn trong lều được điều động từ một nơi nào không rõ. Chúng được một bàn tay vô hình bật và tắt. Vào buổi sáng chàng thường bị đánh thức bởi ánh sáng chói loà bất thần của ngọn đèn duy nhất trên trần phòng. Buổi tối chàng thường bị hối thúc lên giường ngủ vì đến giờ là đèn tắt. Khi chàng vào lều, mới có 9 giờ và đèn đã tắt. Thường thì đèn sáng cho đến 11 giờ, nhưng bây giờ thì đèn tắt và các tấm liếp cửa sổ cũng đã được hạ xuống. Chàng đã để ngỏ cánh cửa thông với ngôi nhà chính để ánh sáng từ đó chiếu tới phòng bọn gác, nhưng chàng chỉ có thể thấy được hai cái giường trống. Trong lúc chàng nhìn vào phòng, ngạc nhiên vì thấy nó trống trơn, cánh cửa sau lưng có một tiếng lách cách hoặc tiếng chân người. Đối với Leamas, bản năng bất thần cảnh giác, như thế không khác lần ghi âm trên phim nhựa đã ngừng lại. Rồi chàng ngửi thấy mùi khói xì gà. Khói hẳn đã vương trong không khí từ trước nhưng đến giờ chàng mới nhận thấy. Như một người mù, xúc giác và khứu giác của chàng sắc bén hơn trong bóng tối.
Có hộp quẹt trong túi nhưng chàng không dung. Chàng bước sang bên cạnh, áp lưng vào tường và giữ bất động. Đối với Leamas chỉ có một lối giải thích , chúng đang đợi chàng, và vì thế chàng quyết định đứng nguyên tại chỗ. Rồi từ phía nhà chính nơi chàng đã đi qua chợt có tiếng chân. Có ai xoay thử quả nắm cánh cửa vừa đóng ban nãy và khoá lại. Leamas vẫn không động đậy. Chưa đến lúc. Không còn nghi ngờ gì nữa : chàng là một tên tù trong căn lều. Rất chậm Leamas ngồi chồm hổm xuống, tay thọc vào túi áo vét. Chàng thật bình tĩnh, gần như thư thái vì sắp được hành động, nhưng tâm trí đang nhớ lại chuyện đã qua. “Anh gần như luôn luôn có một vũ khí : một cái gạt tàn thuốc, vài đồng tiền, cây bút máy, bất cứ gì đâm hoặc chặt được”. Đó là châm ngôn của anh chàng trung sĩ nhỏ người dễ tính ở căn nhà gần Oxford hồi chiến tranh. “Đừng bao giờ dùng hai tay một lúc, dù có một con dao, cây gậy hay khẩu sung, để tay trái tự do và giữ nó ngang bụng. Nếu không tìm được thứ gì để đánh, hãy xoè tay, ngón cái gồng cứng lại”. Cầm hộp quẹt trong lòng bàn tay phải, chàng xoay dọc và bóp nát nó sao cho cạnh sắc nhọn của hộp quẹt thò ra giữa các kẽ ngón tay. Đoạn chàng nhích người đi sát cho đến khi gặp một cái ghế mà chàng biết nó ở góc phòng. Bây giờ thì bất chấp tiếng ồn, chàng xô cái ghế ra giữa phòng. Vừa lùi lại, vừa đếm số bước, chàng đứng ở góc hai bức tường. Lúc đó chàng nghe cánh cửa phòng ngủ của chàng bật tung ra. Chàng cố nhận rõ cái hình người chắc phải đứng ở ngưỡng cửa nhưng ngay cả từ phía phòng chàng cũng không có ánh sáng. Bóng tối thật dày đặc. Chàng không dám tiến tới để tấn công, vì cái ghế lúc này đang nằm giữa phòng. Nó là lợi điểm chiến thuật của chàng, vì chàng biết nó nằm đâu, còn chúng thì không. Chúng sẽ phải tiến lại chàng, nhất định như thế, chàng không thể để chúng đợi đến khi bọn tăng viện phía ngoài tìm đến chỗ bật điện và vặn đèn lên. Chàng rít lên bằng tiếng Đức :
_Nào, nhào tới đi, bọn khốn kiếp. Tao ở đây này, trong góc. Tới đây bắt tao đi, xem thử có nổi không ?
Không có một cử động, không có một âm thanh.
_Tao đây này, bọn mày không thấy được sao ? Chuyện gì thế ? Chuyện gì vậy các con, tới đi xem thử có nổi không ?
Rồi chàng nghe một tiếng chân bước tới, và một bước khác theo sau, kế đó là tiếng chửi thề của một gã đàn ông vấp phải cái ghế, và đó là dấu hiệu Leamas đang chờ đợi. Liệng hộp quẹt đi, chàng từ từ và cẩn thận bò tới từng bước, tay trái giơ ra như một người giơ tay gạt các cành cây nhỏ trong rừng, đến khi chàng chạm rất nhẹ vào một cánh tay và cảm thấy lớp vải ấm nham nhám của một bộ quân phục. Cũng vẫn với bàn tay trái, Leamas vỗ vào cánh tay đó hai lần, hai cái vỗ rõ rệt, và nghe một giọng sợ hãi thì thầm bên tai bằng tiếng Đức :
_Huns đấy phải không ?
_Câm đi thằng ngu.
Leamas khẽ đáp lại, và cùng lúc đó thò tay tới nắm tóc gã đàn ông, kéo đầu chúi xuống về phía trước, rồi với một cú chặt khủng khiếp chàng xoáy cạnh bàn tay phải vào gáy y với một cái thọc tay ngược lên trên, rồi thả cho y ngã xuống theo trọng lực. Khi thân hình y vừa đụng mặt sàn thì đèn bật sáng.
Nơi ngưỡng cửa là một Đại uý còn trẻ thuộc Cảnh sát nhân dân Đức. Y đang hút xì gà, và đằng sau y là hai gã đàn ông. Một mặc thường phục có vẻ rất trẻ, tay cầm một khẩu súng lục Tiệp Khắc có cần nạp đạn trên lưng báng súng. Họ cùng nhìn vào gã đàn ông nằm trên sàn nhà. Một người nào đó mở khoá cánh cửa ngoài và Leamas xoay lại để xem là ai. Khi chàng đang xoay người bỗng có tiếng quát, chắc của viên Đại uý, bảo chàng đứng yên. Chàng từ từ quay lại nhìn vào ba người bọn họ.
Tay chàng vẫn ở hai bên sườn khi cú đánh giáng xuống. Nó dường như đập vụn sọ chàng. Trong lúc ngã quị, nhẹ nhàng bất tỉnh, chàng tự hỏi không biết có phải mình bị đánh bởi một khẩu súng lục hay không, loại súng cổ điển có một cái khoen trên báng súng nơi người ta cột dây đeo.
Chàng bị đánh thức bởi một tên tù hát nghêu ngao và tiếng trên gác thét bảo y im. Chàng mở mắt và như một ánh sáng chói loà, cơn đau đớn bùng ra trong óc. Chàng nằm im không chịu nhắm mắt, ngắm những mảnh màu sắc hoa lên trước mắt. Chàng cố kiểm điểm lại thân thể : hai bên chân chàng lạnh ngắt và chàng ngửi thấy mùi hôi chua lòm của quần áo nhà tù. Tiếng hát ngừng và Leamas bỗng muốn nó lại tiếp tục vang lên dù biết không thể được. Chàng định giơ tay sờ vào chỗ máu đông lại trên má, nhưng tay chàng ở sau lưng bị khoá lại. Chân chàng cũng bị trói : chắc máu đã ngừng lưu thông nên chân lạnh ngắt. Một cách đau đớn chàng nhìn quanh cố ngẩng đầu lên một vài phân khỏi sàn nhà. Chàng ngạc nhiên khi thấy hai đầu gối mình trước mặt. Theo bản năng tự nhiên, chàng cố duỗi chân và trong khi làm thế cả người chàng bị một cơn đau đớn xâm chiếm bất ngờ và kinh khủng đến nỗi chàng gào lên một tiếng kêu xót xa như tiếng hét cuối cùng của một người bị tra tấn. Chàng nằm thở dốc, cố nén cơn đau và vì bản tính ương ngạnh, chàng lại cố từ từ duỗi chân ra một lần nữa. Tức thì cơn đau đớn kinh khủng trở lại, nhưng chàng đã tìm được nguyên do : tay và chân chàng bị xiềng lại với nhau đằng sau lưng. Ngay khi chàng thử duỗi chân sợi dây rút lại, khiến vai chàng trĩu xuống và cái đầu đầy thương tích chạm xuống sàn đá. Chắc chúng đã đánh chàng nhừ tử trong khi chàng bất tỉnh, cả người chàng cứng lại và bầm dập, bụng dưới đau nhói. Chàng tự hỏi không biết chàng đã giết tên gác hay không. Chàng hy vọng là đã.
Trên đầu chàng là một bóng đèn to lớn, sáng chói như trong một phòng giải phẫu. Không có đồ đạc, chỉ có tường vôi trắng, gần sát xung quanh, và một cánh cửa thép sơn xám, một màu xám than sang trọng, thứ màu người ta thường trông thấy nơi các toà cao ốc ở Luân Đôn. Không còn gì khác nữa, không gì hết, không có gì để nghĩ ngợi. Chỉ có cơn đau tàn bạo.
Chắc chàng đã nằm đây ba tiếng đồng hồ trước khi họ đến. Không khí nóng lên vì ánh đèn, chàng khát nước nhưng không chịu gọi. Cuối cùng cửa mở và Munt xuất hiện. Chàng biết đó là Munt nhờ đôi mắt. Smiley đã nói với chàng về đôi mắt của y
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-28 10:46:43Lê Mậu Duy Quang>
Đọc truyện của vnthuquan cũng nhiều rồi nên bây giờ Quang muốn góp chút công sức với các bạn. Các bạn chia cho Quang vài chương nhé!

Hiện nay Quang thấy có bạn Sieunhapviet đã nhận gõ chương 21-26, còn bạn Smallduck thì đã nhận tới chương 16 cũng đã xong. Vậy Quang sẽ gõ từ chương 17 - 20 nhé!

Thân.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
0
Chương 17 MUNDT

Họ cởi trói và để chàng gượng dậy. Có lúc chàng suýt đứng lên được, rồi trong khi máu lưu thông trở lại nơi tay chân, và trong khi những khớp xương trong người chàng được thoát khỏi sự dồn nén đã phải chịu, chàng đã ngã xuống. Họ để chàng nằm đó, ngắm chàng với vẻ thờ ơ của một bọn trẻ con nhìn một côn trùng. Một tên gác bước qua Mundt và quát chàng đứng dậy. Leamas bò tới chân tường và chống bàn tay sưng vù vào lớp gạch vôi trắng. Chàng cố một lần nữa và lần này tên gác đã để chàng đứng dựa lưng vào tường. Chàng thấy tên gác chuyển sức nặng lên chân trái và chàng biết y sẽ đá chàng nữa. Với tất cả sức lực còn lại Leamas nhào tới cúi đầu húc vào mặt tên gác. Cả hai ngã xuống. Leamas nằm trên. Tên gác đứng dậy và Leamas nằm đó đợi đòn. Nhưng Mundt nói gì đó với tên gác rồi Leamas cảm thấy mình bị nhấc bổng lên ở vai và chân và nghe thấy tiếng cửa xà lim đóng lại trong khi họ khiêng chàng đi dọc hành lang. Chàng khát nước kinh khủng.
Họ mang chàng đến một căn phòng nhỏ đủ tiện nghi, có bàn và ghế đàng hoàng. Màn cửa kiểu Thụy Điển che khuất một nửa các khung cửa sổ có chấn song. Mundt ngồi tại bàn và Leamas ngồi trong một chiếc ghế bành với đôi mắt chàng nửa nhắm nửa mở. Bọn gác đứng ở cửa. Leamas lên tiếng:
- Cho tôi uống.
- Whisky?
- Nước.
Mundt đổ đầy một cái bình nơi bồn nước ở góc phòng, và đặt trên bàn cạnh chàng với một cái ly. Y ra lệnh:
- Mang đồ ăn cho y.
Một tên gác rời phòng, quay lại với một lon súp và chút dồi xắt mỏng. Chàng vừa uống vừa ăn trong lúc họ nhìn chàng yên lặng.
Cuối cùng Leamas hỏi:
- Fiedler đâu?
Mundt trả lời:
- Bị câu lưu.
- Tại sao?
- Cấu kết để phá hoại an ninh của nhân dân.
Leamas từ từ gật đầu bảo:
- À thế là anh đã thắng. Anh bắt y hồi nào?
- Đêm qua.
Leamas đợi một lúc, cố tập trung vào Mundt rồi lại hỏi:
- Còn tôi thì sao?
- Anh là một nhân chứng cụ thể. Dĩ nhiên sẽ xét xử anh sau.
- Như vậy tôi là một phần của công tác do Luân Đôn dựng lên để hạ Mundt phải không?
Mundt gật đầu, châm một điếu thuốc và chuyền qua cho một tên gác để y đưa lại cho chàng. Y bảo:
- Đúng vậy.
Tên gác đi lại, và với một cử chỉ lịch sự đầy hằn học, đặt điếu thuốc vào môi Leamas.
Leamas nhìn nhận:
- Đúng là một điệp vụ chu đáo.
Và chàng nói thêm một cách ngốc nghếch:
- Bọn Tàu này thật giỏi.
Mundt không nói gì. Leamas trở thành quen với sự im lặng của y trong lúc cuộc thẩm vấn tiến hành. Mundt có một giọng nói khá vui tai, đó là điều Leamas không hề ngờ, nhưng y nói rất ít. Có lẽ đó là một phần của lòng tự tin phi thường của Mundt, cho nên y chỉ nói khi cần, y để cho những quãng im lặng dài xen vào hơn là trao đổi những lời không đâu. Về điểm này y khác với những tay thẩm vấn chuyên nghiệp làm việc bằng cách tấn công trước, gợi không khí và khai thác sự nương nhờ về tâm lý của một tên tù đối với người chất vấn hắn. Mundt khinh rẻ kỹ thuật: y là một con người của sự kiện và hành động. Leamas thích thế hơn.
Bề ngoài của Mundt rất phù hợp với tính khí của y. Y giống như một lực sĩ. Mái tóc vàng hoe của y cắt ngắn, trông mềm mại và tươm tất. Gương mặt trẻ của y có một nét rắn rỏi và một vẻ thẳng thừng đáng sợ, nó không có một chút hài hước hoặc mơ tưởng. Y trông trẻ nhưng không non nớt, những người lớn tuổi hơn y vẫn phải nhìn y bằng đôi mắt nể nang. Y có khổ người đẹp. Quần áo y vừa với thân hình vì y là người dễ ăn mặc. Leamas cảm thấy không có một chút khó khăn nào mà nhớ ra Mundt là một tay giết người chuyên nghiệp. Có một vẻ lạnh lẽo toát ra từ con người y, một niềm tự tin vững chắc trang bị cho y một khả năng toàn hảo trong việc sát nhân. Mundt là một người rất cứng.
Y bảo:
- Anh sẽ bị xét xử vì một tội danh khác nữa, nếu cần.
Rồi y nói thêm một cách thản nhiên:
- Đó là tội sát nhân.
- Thế là tên gác chết rồi sao?
Một cơn đau đớn mãnh liệt ào qua đầu chàng.
Mundt gật đầu:
- Đúng thế, vụ án gián điệp của anh hơi có tính cách quy ước. Tôi đề nghị vụ Fiedler phải được xử công khai. Đó cũng là ý muốn của chủ tịch đoàn.
- Và anh muốn tôi tự thú?
- Phải.
- Nói một cách khác, anh hiện không có bằng chứng gì.
- Chúng tôi sẽ có bằng chứng. Chúng tôi sẽ có lời thú nhận của anh.
Không có vẻ hăm dọa trong giọng nói của Mundt. Không có kiểu cách như sân khấu. Y vẫn tiếp:
- Mặt khác rất có thể anh sẽ được hưởng khoan hồng. Anh đã bị tình báo Anh ép buộc làm vụ này: họ kết tội anh ăn cắp tiền và rồi bắt anh phải giăng một cái bẫy để trả thù tôi. Toà sẽ có thiện cảm đối với một lời biện hộ như vậy.
Leamas có vẻ nao núng:
- Sao anh biết họ kết tội tôi ăn cắp tiền?
Nhưng Mundt không trả lời. Y chỉ nói:
- Fiedler đã quá ngu. Ngay khi tôi đọc phúc trình của anh bạn Peter tôi đã hiểu tại sao người ta gửi anh đến, và tôi biết trước Fiedler sẽ mắc bẫy. Fiedler rất ghét tôi.
Mundt gật đầu như để nhấn mạnh sự thực trong lời nhận xét của y:
- Dĩ nhiên người bọn anh biết điều đó. Đây là một điệp vụ rất tinh xảo. Ai hoạch định vậy, anh hãy cho tôi biết. Có phải Smiley không? Hắn làm được chuyện đó?
Leamas không nói gì.
- Chắc anh hiểu tôi muốn xem phúc trình về cuộc thẩm vấn của Fiedler. Tôi bảo hắn gửi đến cho tôi. Hắn cứ chần chờ mãi và tôi biết là tôi nghĩ đúng. Rồi hôm qua hắn gửi phúc trình đi khắp trong Chủ Tịch Đoàn, mà không gửi cho tôi một bản nào. Ai đó ở Luân Đôn giỏi thật.
Leamas vẫn không nói gì. Mundt hỏi một cách tự nhiên:
- Lần cuối anh gặp Smiley là khi nào?
Leamas ngập ngừng không chắc về mình. Đầu chàng nhức khủng khiếp.
Mundt lặp lại:
- Lần cuối anh gặp Smiley là khi nào?
Cuối cùng Leamas nói:
- Tôi không nhớ. Thật ra anh ta không còn ở trong tổ chức nữa. Anh ta thỉnh thoảng ghé lại thôi.
- Hắn là bạn thân của Peter Guillam phải không?
- Chắc vậy.
- Theo ý anh thì Guillam đang nghiên cứu tình hình kinh tế ở Cộng Hoà Dân Chủ Đức Quốc. Một ban nhỏ kỳ lạ trong cơ sở anh nhưng anh hoàn toàn không rõ nó làm gì?
- Phải.
Âm thanh và hình ảnh đang hỗn độn trong đầu óc lùng bùng của chàng. Mắt chàng nóng bức và nhức nhối. Chàng cảm thấy sắp nhuốm bệnh.
- Rồi, lần cuối anh gặp Smiley là bao giờ?
- Tôi không nhớ... Tôi không nhớ.
Mundt lắc đầu:
- Anh có một trí nhớ rất tốt... về bất cứ gì bắt tội được tôi. Ai cũng phải nhớ mình đã gặp một người lần cuối vào khi nào. Chẳng hạn, anh có gặp hắn sau khi từ Bá-Linh về không?
- Có, tôi nghĩ thế. Tôi bất thần gặp anh ta một lần tại cơ sở ở Luân Đôn.
Lúc đó, Leamas đã nhắm mắt và đang toát mồ hôi.
- Mundt, tôi không thể tiếp tục được nữa... không thể nào thêm nữa... Tôi bệnh.
- Sau khi Ashe gặp anh, sau khi hắn bước vào cái bẫy giăng ra cho hắn, các anh đã ăn cơm trưa với nhau, phải không?
- Phải, ăn cơm trưa với nhau.
- Bữa cơm chấm dứt vào khoảng bốn giờ. Rồi sau đó anh đi đâu?
- Tôi xuống phố, tôi nghĩ thế. Tôi không nhớ chắc... Trời ơi, Mundt...
Chàng vừa ôm đầu vừa nói tiếp:
- Tôi không thể tiếp tục được nữa. Cái đầu tôi...
- Rồi sau đó anh đi đâu? Tại sao anh cho rơi những người theo dõi anh, tại sao anh cố cho họ rơi bằng được như thế?
Leamas không nói gì: chàng đang thở dốc, đầu vùi trong hai bàn tay.
- Anh hãy trả lời câu này, rồi anh sẽ được nghỉ. Anh sẽ có một cái giường. Anh sẽ được ngủ nếu anh muốn. Bằng không anh phải trở về xà lim, anh hiểu không? Anh sẽ bị trói tay chân và cho ăn ở trên sàn như một con vật, anh hiểu không? Anh hãy cho tôi biết anh đã đi đâu?
Bỗng nhiên mạch càng nhảy hỗn loạn thêm trong óc chàng và căn phòng đang nhảy múa. Chàng nghe có những giọng nói và tiếng chân xung quanh, những hình thù ma quái tới lui tách rời khỏi âm thanh và trọng lực, có người nào đó đang la hét, nhưng không phải la chàng, cánh cửa mở ra, chàng chắc chắn có kẻ đã mở cửa. Căn phòng đầy người, tất cả giờ đang la hét, rồi họ bỏ đi, vài người đã đi mất, chàng nghe họ bước xa dần, tiếng chân họ nện thình thịch như tiếng mạch nhảy trong đầu chàng, rồi tiếng vọng im hẳn và chỉ còn sự im lặng. Rồi như được ban phước, một miếng vải mát rượi đặt lên trán chàng và những bàn tay tử tế mang chàng đi.
Chàng tỉnh dậy trên một giường bệnh viện, và đứng ở cuối giường là Fiedler đang phì phào một điếu thuốc lá.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
0
Chương 18 FIEDLER

Leamas kiểm điểm lại thực tại. Một cái giường có trải ra. Một căn phòng riêng cho chàng, không có chấn song nơi cửa sổ, chỉ có màn cửa và kính mờ. Tường xanh nhạt, đường viền xanh đậm. Và Fiedler với điếu thuốc trên môi, đang nhìn chàng.
Một cô điều dưỡng mang đồ ăn đến: một quả trứng, chút súp loãng và trái cây. Chàng cảm thấy như chết rồi nhưng nghĩ rằng cần phải ăn. Vì vậy chàng ăn và Fiedler tiếp tục nhìn. Y chợt hỏi:
- Anh cảm thấy sao?
Leamas đáp:
- Thật tàn tệ.
- Nhưng khá hơn trước chứ?
- Chắc vậy.
Chàng ngập ngừng và tiếp:
- Bọn thối tha đó đã đáng tôi nhừ tử.
- Anh đã giết một tên gác, anh biết chứ?
- Tôi đoán thế... Nhưng chúng còn đợi gì nữa khi chúng bày ra một vụ quá ngu như vậy? Tại sao chúng không chụp cả hai chúng ta một lúc? Tại sao lại tắt hết đèn đi? Nếu có vụ nào tổ chức quá kỹ thì chỉ có vụ này.
- Tôi e rằng chúng tôi - với tư cách một quốc gia - đều có khuynh hướng tổ chức quá kỹ. Đối với người ngoài, như thế mới mong hữu hiệu.
Hai người lại yên lặng một hồi.
Leamas hỏi:
- Anh đã gặp phải chuyện gì?
- Ồ tôi cũng đã bị dần mềm xương trong lúc tôi bị thẩm vấn.
- Bởi người của Mundt?
- Bởi người của Mundt và Mundt. Thật là một cảm giác đặc biệt vô cùng!
- Đó là một cách nói.
- Không, không, không phải là về mặt thể chất. Về thể chất, đó là một ác mộng, nhưng anh thừa biết Mundt có một sự thích thú đặc biệt khi được đánh tôi. Ngoài việc lấy lời thú nhận.
- Vì anh đã bịa ra câu chuyện về...
- Vì tôi là một người Do-thái.
Leamas khẽ kêu:
- Trời đất!
- Đó là lý do khiến tôi được đối đãi đặc biệt. Suốt lúc đó hắn cứ nói thầm với tôi. Thật rất kỳ lạ.
- Hắn nói gì?
Fiedler không trả lời. Cuối cùng y khẽ bảo:
- Thế là xong hết.
- Sao? Cái gì xảy ra?
- Vào ngày chúng ta bị bắt tôi đã xin Chủ Tịch Đoàn ra trát bắt Mundt như một kẻ thù của nhân dân.
- Nhưng anh điên rồi... Tôi đã bảo anh, anh đang lên cơn điên, Fiedler. Hắn sẽ không bao giờ...
- Còn có bằng chứng khác kết tội hắn ngoài bằng chứng của anh. Bằng chứng tôi đã thâu nhập lần lần, trong ba năm qua. Bằng chứng của anh cung cấp đã xác nhận bằng chứng của tôi. Ngay khi sự việc sáng tỏ tôi đã thảo một phúc trình và gửi đến mọi thành viên trong Chủ Tịch Đoàn, ngoại trừ Mundt. Họ nhận được cùng ngày với ngày tôi xin ra trát bắt Mundt.
- Ngày mình bị chộp.
- Đúng. Tôi biết Mundt sẽ ra tay. Tôi biết hắn có bạn bè trong Chủ Tịch Đoàn, hoặc ít nhất có bọn người hắn bảo sao cũng gật, những người quá sợ hãi nên đã chạy ngay lại hắn khi nhận được phúc trình của tôi. Nhưng tôi tin thế nào hắn cũng sẽ thua. Chủ Tịch Đoàn có thứ vũ khí cần thiết để diệt hắn, họ có bản phúc trình, và trong mấy ngày mà anh và tôi bị thẩm vấn họ đã đọc đi đọc lại đến khi họ biết nó là đúng và mỗi người đều biết rằng những người khác cũng biết. Cuối cùng họ hành động. Kết hợp lại bởi nỗi sợ hãi chung, nhược điểm chung, và sự hiểu biết chung, họ quay ra chống hắn và triệu tập một phiên toà.
- Phiên toà?
- Một phiên toà bí mật, dĩ nhiên, ngày mai họp. Mundt hiện bị câu lưu.
- Bằng chứng kia là gì? Bằng chứng anh đã thâu nhập được...
Fiedler mỉm cười đáp:
- Hãy đợi và xem. Ngày mai anh sẽ thấy.
Fiedler im lặng một lát, nhìn Leamas ăn. Chàng hỏi y:
- Phiên toà này được tổ chức và điều hành ra sao?
- Tuỳ vị Chánh Thẩm. Đây không phải là một phiên Toà Án Nhân Dân - Anh phải nhớ thế. Nó có tính cách một cuộc tra vấn hơn - một Ủy Ban Tra Vấn, như vậy, được chỉ định bời Chủ Tịch Đoàn để điều tra và phúc trình về một vấn đề nào đó. Phúc trình bao gồm một đề nghị. Trong một vụ như thế này, lời đề nghị sẽ có hiệu lực của một phán quyết, nhưng được giữ bí mật, theo lề lối thường lệ của Chủ Tịch Đoàn.
- Nó hoạt động ra sao? Có các Luật sư và Thẩm phán không?
- Có ba Thẩm phán và có các Luật sư. Ngày mai tôi sẽ đích thân nêu vấn đề buộc tội Mundt, Karden sẽ bênh vực cho y.
- Karden là ai?
Fiedler ngập ngừng:
- Một người rất chì. Trông như một anh bác sĩ nhà quê nhỏ người và tốt bụng. Hắn đã ở Buchenwald.
- Sao Mundt không tự bênh vực được?
- Đó là ý muốn của Mundt. Người ta nói rằng Karden sẽ gọi một nhân chứng.
Leamas nhún vai bảo:
- Đó là chuyện của anh.
Lại im lặng. Cuối cùng Fiedler nói một cách trầm ngâm:
- Tôi sẽ không để tâm - tôi nghĩ là tôi sẽ không để tâm, hoặc không để tâm nhiều - nếu hắn đã gây tổn thương cho tôi vì chính tôi, vì ghét hoặc ghen. Anh hiểu chứ? Sự đau đớn lâu dài và suốt thời gian mình tự nhủ: "Hoặc mình sẽ ngất đi hoặc sẽ lớn mạnh lên để chịu đựng cơn đau, tạo hóa sẽ giúp sức mình", và cơn đau cứ tăng lên như một nhạc sĩ vĩ cầm tăng âm giai. Mình tưởng nó sẽ không tăng lên hơn được như nó cứ tăng - cơn đau đớn là như vậy, nó tăng lên tăng lên mãi, và tất cả những gì tạo hóa làm là mang mình lên từ nốt này đến nốt khác. Như một đứa bé điếc bị dạy nghe. Và suốt thời gian đó hắn cứ thì thầm: "Do-thái... Do-thái...". Tôi có thể hiểu được, tôi chắc chắn tôi có thể hiểu được, nếu hằn đã làm chuyện đó vì chính nghĩa, vì Đảng nếu anh muốn nói thế, hoặc vì ghét tôi. Nhưng không phải thế, hắn ghét...
Leamas ngắt lời:
- Được rồi chắc anh thừa biết. Hắn là một thằng khốn.
Fiedler gật đầu.
- Đúng, hắn là một thằng khốn.
Y có vẻ bị kích động, Leamas nghĩ rằng y muốn khoe khoang.
Fiedler nói thêm:
- Tôi đã nghĩ nhiều về anh. Tôi nghĩ nhiều về câu chuyện mình đã nói với nhau - anh nhớ chứ - về cái động cơ.
- Động cơ nào?
Fiedler mỉm cười:
- Xin lỗi, đó là lối dịch thẳng. Tôi muốn nói: động cơ là bộ máy, là tinh thần, là sự thôi thúc, hoặc bất cứ gì mà người Thiên Chúa Giáo gọi.
- Tôi không phải là người Thiên Chúa Giáo.
Fiedler nhún vai và lại mỉm cười:
- Anh biết tôi muốn nói gì. Điều làm anh bối rối... Tôi sẽ nói theo một cách khác. Chẳng hạn Mundt có lý? Hắn đòi tôi thú nhận, anh biết chứ, tôi phải thú nhận đã đi với điệp viên Anh quốc hiện đang tìm cách mưu sát hắn. Anh dư hiểu lối lý luận này: toàn điệp vụ đã được bày ra bởi Tình Báo Anh Quốc để nhử chúng tôi - đúng ra là nhử tôi, thanh toán người tài giỏi nhất trong Abteilung. Để chúng tôi tự giết nhau.
Leamas nói một cách thản nhiên:
- Hắn cũng đã dùng luận điệu đó với tôi.
Rồi chàng tiếp ngay:
- Làm như tôi đã xào nấu được tất cả câu chuyện.
- Nhưng điều tôi muốn nói là thế này: giả thử anh đã làm chuyện đó, giả thử chuyện đó là thật... Tôi xin lấy một ví dụ, chỉ là một giả thuyết, anh có thể giết một người không, một người vô tội...
- Chính Mundt cũng là một tên giết người.
- Giả thử hắn không phải thế, giả thử chính tôi mới là người họ muốn giết: Luân Đôn sẽ làm chuyện đó không?
- Cái đó còn tuỳ... Tùy theo nhu cầu...
Fiedler nói một cách hài lòng:
- À, tùy theo nhu cầu. Quả thật, giống như Stalin. Tai nạn lưu thông và bản thống kê. Tôi cảm thấy thư thái hẳn.
- Sao vậy?
- Anh phải ngủ một chút. Anh hãy gọi món ăn nào anh thích. Họ sẽ mang tới bất cứ gì anh muốn. Ngày mai, anh có thể nói.
Khi đến cửa, y nhìn lại bảo:
- Anh thừa biết, mình cũng cá mè một lứa cả. Thế mới buồn cười.
Một lát sau Leamas ngủ thiếp đi. Chàng an tâm khi biết Fiedler là đồng minh của mình và chẳng bao lâu họ sẽ đưa Mundt đến chỗ chết. Đó là điều chàng đã mong đợi từ lâu lắm.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
0
Chương 19 HỘI NGHỊ HAY PHÂN BỘ

Liz sung sướng ở Leipzig. Sự khắc khổ vẫn khiến nàng thú vị vì nó đem lại cho nàng niềm vui của sự hy sinh. Căn nhà nhỏ nàng lưu trú có vẻ tăm tối nghèo nàn, thức ăn thiếu thốn và phần lớn phải dành cho đám trẻ con. Họ nói chuyện chính trị trong mỗi bữa ăn, nàng và bà Luman, Bí Thư Phân Bộ Leipzig - Neuenhagen, một người đàn bà nhỏ bé tóc xám có chồng điều khiển một hầm đá ở ngoại ô thành phố. Liz có ý nghĩ giống như sống trong một cộng đồng tôn giáo, một tu viện hay một nông trại. Mình lại cảm thấy khoẻ hơn khi bao tử trống rỗng. Liz biết chút tiếng Đức đã học nơi bà cô của nàng, và nàng ngạc nhiên thấy mình sử dụng được thật nhanh. Nàng thử nói chuyện với đám trẻ con trước, và chúng cười, chỉ thêm cho nàng. Các đứa bé thoạt tiên đối xử một cách khác lạ đối với nàng, tựa hồ nàng là một người có phẩm chất vĩ đại hay giá trị hiếm có, và vào ngày thứ ba một đứa trong đám thu hết can đảm hỏi nàng có mang lại chút sô-cô-la nào từ "druben" - nghĩa là từ "phía bên kia". Nàng đã không hề nghĩ đến chuyện đó và cảm thấy xấu hổ. Sau đó chúng dường như quên mất nàng.
Vào những buổi tối có công tác của Đảng, họ phân phát văn phẩm, thăm viếng đảng viên trong Phân Bộ đã khiếm khuyết nhiệm vụ hoặc trễ nãi họp hành, ghé Quận Bộ bàn về "Các Vấn Đề Liên Hệ Tới Sự Tập Trung Phân Phối Nông Sản" mà các Bí Thư Phân Bộ đều có mặt, và dự một buổi họp của Hội Đồng Tư Vấn Công Nhân của một xưởng chế tạo dụng cụ máy móc ở ngoại ô thành phố.
Cuối cùng, vào hôm thứ tư, một ngày Thứ Năm, là Hội Nghị Phân Bộ của họ. Ít nhất đối với Liz, đây là kinh nghiệm phấn khởi nhất, nó sẽ là một gương sáng về tất cả những gì Phân Bộ của nàng ở Bayswater một ngày kia có thể thành. Họ đã chọn một đề tài tuyệt diệu để thảo luận buổi tối - "Chung Sống Sau Hai Thế Chiến" - và họ mong đợi một số tham dự viên kỷ lục. Cả vùng đã được thông báo: họ đã sắp xếp để khỏi có một buổi họp trùng hợp nào khác trong vùng lân cận vào tối hôm đó; hôm ấy cũng không phải là một ngày dân chúng mua sắm có thể đi về trễ.
Bảy người đến.
Bảy người cộng với Liz, Bí Thư Phân Bộ và đại diện Quận Bộ. Liz cố giữ vẻ mặt thản nhiên nhưng nàng bất lực. Nàng khó thể tập trung chú ý vào diễn giả, và khi nàng cố nghe thì anh ta lại dùng những từ ngữ kép quá dài mà nàng không tài nào đoán ra nghĩa. Cũng giống các buổi họp ở Bayswater, cũng như các bài hát đều đâu giữa mần hồi nàng còn đi nhà thờ - cũng một vài gương mặt ngoan ngoãn mất hồn, cũng sự tự giác cầu kỳ, cũng cảm tưởng về một tư tưởng lớn trong tay những người thấp kém. Nàng luôn cảm thấy như thế - thật là khiếp nhưng nàng đành chịu. Nàng ước ao thà rằng không có ai đến, bởi vì như thế này chỉ khiến cho tình cảnh thêm thảm hại, xấu hổ.
Bởi vì bảy người chẳng là gì cả: còn tệ hơn là không có ai, bởi đó là bằng chứng về sự trì trệ của đại đa số quần chúng không thể hô hào được. Nó chỉ khiến cho mình thêm đau lòng.
Căn phòng khá hơn một lớp học ở Bayswater, nhưng dù thế vẫn không tiện nghi. Ở Bayswater, mỗi lần tìm phòng họp thật là vui. Thoạt tiên, họ giả vờ là một nhóm nào khác, chứ không phải là Đảng. Họ thường chọn những căn phòng phía sau những quán rượu, một phòng họp ủy ban trong quán Ardena, hoặc bí mật gặp gỡ tại nhà nhau. Rồi Bill Hazell ở trường trung học gia nhập Đảng và từ đó họ sử dụng phòng học của y. Ngay việc này cũng là một sự liều lĩnh - Hiệu trưởng tưởng rằng Bill hướng dẫn một nhóm kịch nghệ, và theo luật lệ nhà trường, rất có thể họ sẽ bị tống cổ. Dù sao đi nữa, như thế vẫn thích hợp hơn cái Sảnh Đường bằng bê tông tiền chế này, với những kẽ nứt trong góc và bức hình của Lenin. Sao họ lại có được cái khung thảm hại kia để lồng bức hình? Hàng bó ống tháo nước tuôn ra từ các góc và lá cờ thì đầy những bụi. Cảnh tượng như một đám tang Phát-xít. Đôi khi nàng nghĩ Alec đã nói đúng - mình tin tưởng vì mình cần phải tin; cái mình tin tưởng tự nó không có giá trị, không có chức phận. Chàng nói gì nhỉ? "Một con chó gãi chỗ nó ngứa. Các con chó khác nhau ngứa ở những chỗ khác nhau". Không, lầm rồi, Alec đã lầm - nói thế là Ác, Hoà Bình, Tự Do và Bình Đẳng - dĩ nhiên đó là các sự kiện. Còn về lịch sử - mọi định luật mà Đảng đã chứng minh? Không, Alec lầm: sự thật hiện hữu ở ngoài con người và được chứng tỏ trong lịch sử, cá nhân phải chiều theo nó, và nếu cần có thể bị nó nghiền nát. Đảng là đạo quân tiền phong của lịch sử, mũi lao của cuộc đấu tranh Hòa Bình. Nàng duyệt qua đề mục một cách hơi phân vân. Nàng ước mong có nhiều người đến. Bảy người thì ít quá. Trông họ có vẻ giận, giận và đói.
Phiên họp bế mạc, Liz đợi bà Luman thu dọn các báo chí sách vở không bán được còn nằm trên các bàn lớn cạnh cửa, ghi tên vào sổ tham dự và khoác áo choàng, vì tối đó trời lạnh. Diễn giả đã bỏ về - hơi thô lỗ, Liz thầm nghĩ - trước khi đến phần thảo luận chung. Bà Luman đang đứng ở cửa với bàn tay để trên công tắc đèn thì một người đàn ông từ trong bóng tối hiện ra ở ngưỡng cửa. Trong một thoáng, Liz ngỡ đó là Ashe. Hắn cao người mảnh khảnh và mặc áo mưa có nút bằng da. Hắn hỏi:
- Đồng chí Luman?
- Phải.
- Tôi đang tìm một đồng chí người Anh tên Gold. Cô ấy lưu ngụ ở nhà đồng chí?
Liz xen lời:
- Tôi là Elizabeth Gold.
Người đàn ông tiến vào Sảnh Đường, đóng cửa lại sau lưng nên ánh sáng chiếu rõ vào mặt hắn. Hắn vừa xuất trình giấy tờ cho bà Luman lúc đó còn đứng ở cửa vừa bảo:
- Tôi là Halten, thuộc Quận Bộ.
Bà ta gật đầu và liếc về phía Liz với vẻ hơi xao xuyến.
Người đàn ông quay sang nói với Liz:
- Tôi đã được Chủ Tịch Đoàn nhờ đưa một lá thư cho đồng chí Gold để thông báo một sự thay đổi trong chương trình của đồng chí, một thư mời tham dự một buổi họp đặc biệt.
- Ồ.
Liz nói vẻ hơi sửng sốt. Thật phi thường khi ngay cả Chủ Tịch Đảng cũng đã nghe nói đến nàng.
Halten bảo:
- Đây là một dấu hiệu, một dấu hiệu với hảo ý.
Liz nói một cách bối rối:
- Nhưng tôi... Nhưng bà Luman.
- Tôi chắc là đồng chí Luman sẽ miễn thứ cho đồng chí.
Bà Luman nói nhanh:
- Dĩ nhiên.
- Buổi họp ở đâu?
Halten đáp:
- Đồng chí cần phải đi tối nay. Đường khá xa. Gần đến Gorlitz.
- Đến Gorlitz... Ở đâu thế?
Bà Luman nói nhanh:
- Phía Đông, ở biên giới Ba Lan.
- Chúng tôi sẽ đưa đồng chí về nhà bây giờ. Đồng chí có thể thu xếp vật dụng và chúng ta sẽ tiếp tục lên đường ngay.
- Tối nay? Bây giờ?
- Phải!
Halten dường như không để Liz được lựa chọn.
Một chiếc xe hơi lớn màu đen đang đợi họ. Có một gã tài xế ở phía trước và một lá cờ cắm trên mui xe. Chiếc xe trông giống như một quân xa.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
0
Chương 20 PHIÊN TOÀ

Phòng xử không lớn hơn một lớp học. Ở một đầu, trên năm sáu cái ghế dài vửa được kê thêm là các tên gác, cai ngục và xem lẫn với bọn chúng là các khán giả - những thành viên Chủ Tịch Đoàn và các viên chức chọn lọc. Đầu phòng kia là ba nhân viên của Toà Án ngồi trên ghế có lưng dựa cao trước một cái bàn gỗ sồi không đánh bóng. Trên đầu họ, ngay giữa trần nhà, có một ngôi sao đỏ bằng ván ép treo bởi ba sợi dây. Tường phòng xử trắng như tường xà lim đã nhốt Leamas.
Ở hai bên, trên hai cái ghế kê xích về phía trước bàn và xoay vào nhau, là hai người đàn ông. mội người trung niên khoảng sáu mươi tuổi, mặc đồ đen và cà vạt xám, loại y phục mặc trong nhà tại các vùng quê ở Đức; người kia là Fiedler.
Leamas ngồi đằng sau, hai bên có lính gác. Giữa đám đầu của khán giả chàng trông thấy Mundt, quan hắn toàn là cảnh sát, tóc hắn cắt thật ngắn, đôi vai rộng khoác chiếc áo tù màu xám quen thuộc. Đối với Leamas dường như đây là một điểm kỳ lạ về thái độ của Tòa, hoặc về ảnh hưởng của Fiedler: Fiedler vẫn được mặc quần áo của mình, còn Mundt phải mặc quần áo tù.
Leamas ngồi vào chỗ không được bao lâu thì Chánh Thẩm của Phiên Tòa, ngồi ở giữa bàn, rung chuông. Tiếng chuông khiến chàng chú ý nhìn về phía đó, và rùng mình khi thấy Chánh Thẩm là một người đàn bà. Cũng khó mà trách được Leamas đã không để ý đến điều này. Bà ta khoảng năm mươi tuổi, mắt nhỏ và tóc đen, cắt ngắn như tóc đàn ông. Bà ta mặc loại áo màu đen sẫm dùng để làm việc mà các bà vợ Sô-viết vẫn thích mặc. Bà ta đưa mắt nhìn quanh phòng, gật đầu với một tên gác đứng sát cửa, và bắt đầu ngay vào việc khai diễn phiên toà, không lễ nghi rườm rà:
- Các đồng chí đều biết tại sao chúng ta ở đây. Các cuộc thảo luận phải được giữ bí mật, các đồng chí hãy nhớ thế. Đây là một Phiên Toà được triệu tập theo lệnh của Chủ Tịch Đoàn. Chúng ta chỉ chịu trách nhiệm với Chủ Tịch Đoàn mà thôi. Chúng ta sẽ nghe các chứng cớ nào phù hợp.
Bà ta chỉ về phía Fiedler một cách đầy trang nghiêm:
- Đồng chí Fiedler, đồng chí hãy bắt đầu đi.
Fiedler đứng dậy, khẽ gật đầu chào về phía chiếc bàn. Y rút trong cái cặp ở cạnh người ra một xấp giấy xếp lại với nhau bằng một sợi dây đen ở góc.
Y nói một cách trầm tĩnh và khoan thai, với một vẻ dè dặt mà Leamas chưa hề thấy nơi y. Leamas xem đó là một sự trình diễn giỏi, thích hợp với vai trò của một người lấy làm đau buồn khi phải treo cổ cấp chỉ huy của mình.
Fiedler bắt đầu:
- Quý đồng chí cần biết trước tiên, nếu chưa biết, rằng vào ngày Chủ Tịch Đoàn nhận được phúc trình của tôi về các hoạt động của đồng chí Mundt, tôi đã bị bắt, cùng với hàng viên Leamas. Cả hai chúng tôi bị cầm tù, và cả hai chúng tôi bị... mời, dưới sự cưỡng bách cực đoan, phải thú nhận rằng toàn thể sự truy tố khủng khiếp này là một âm mưu của bọn Phát-xít chống lại một đồng chí trung kiên.
"Quý vị đồng chí có thể thấy ngay nơi phúc trình là tôi đã ghi rõ trường hợp nào chúng tôi đã chú ý đến Leamas: tự chúng tôi đã tìm đến y, nhử y rời bỏ hàng ngũ và cuối cùng mang hắn đến Dân Chủ Đức Quốc. Không có gì có thể tỏ rõ hơn sự vô tư của Leamas bắng điều này: hắn vẫn không chịu, vì những lý do tôi sẽ giải thích, tin rằng Mundt là một điệp viên của Anh Quốc. Do đó thật phi lý nếu cho rằng Leamas là một sự sắp đặt: sáng kiến là do chúng tôi, và chứng cứ rời rạc nhưng chủ yếu của Leamas chỉ cung ứng sự chứng thực sau cùng trong một chuỗi dài dấu hiệu xảy ra suốt ba năm qua.
"Quý vị đồng chí hiện có trước mặt hồ sơ viết tay của vụ này. Vì vậy tôi chỉ cần giải thích rõ về các sự kiện mà quý vị đã biết:
"Tội của đồng chí Mundt là y đã làm điệp viên cho một đế quốc. Lẽ ra, tôi có thể truy tố y về nhiều tội khác - như y đã trao tin tức cho Mật Vụ Anh, đã biến cơ quan của y thành một tay sai vô tình của một nước tư bản trưởng giả, đã che chở các nhóm phản động chống Đảng và đã nhận các món ngoại tệ trả công. Những tội danh này bắt nguồn từ tội danh đầu: Hans-Dièter Mundt là điệp viên của một đế quốc. Hình phạt của tội này là tử hình. Không còn tội nào nặng hơn trong bộ hình luật của chúng ta, không tội nào khiến quốc gia chúng ta lâm nguy hơn, hoặc đòi các cơ quan của Đảng phải cảnh giác hơn".
Đến đây, y đặt tập giấy xuống.
"Đồng chí Mundt, 42 tuổi, là Phó Giám Đốc Cơ Quan Bảo Vệ Nhân Dân, độc thân, đã luôn luôn được xem là một người có khả năng đặc biệt, miệt mài phục vụ cho quyền lợi của Đảng, không nương tay trong khi thi hành nhiệm vụ.
"Tôi sẽ trình bày vài chi tiết về nghề nghiệp của bị cáo. Y được tuyển vào cơ quan năm 28 tuổi và được huấn luyện như thường lệ. Sau giai đoạn tập sự, y đảm nhận công tác tại các quốc gia Bắc-Âu, nhất là Na-uy, Thụy-điển và Phần-lan - ở những nơi đó y đã thành công trong việc thiết lập một mạng lưới tình báo mang cuộc chiến với những phần tử xách động, Phát-xít vào tận doanh trại của kẻ thù. Y đã thi hành công tác một cách tốt đẹp, và không có lý do gì để nghĩ rằng trong thời gian này y không phải là một nhân viên cần mẫn của Cơ Quan. Nhưng thưa quý đồng chí, quý đồng chí không nên quên sự liên hệ đầu tiên này của y với Bắc-Âu. Những mạng lưới do đồng chí Mundt thành lập sau chiến tranh đã cung ứng cho y, trong những năm sau, nhiều lần viện cớ để y đi Phần-lan và Na-uy, nơi mà nhiệm vụ trở thành một cái mặt nạ che chở cho y rút ra hàng ngàn đô-la từ các ngân hàng ngoại quốc để trả công cho hành vi phản bội của y. Xin đừng lầm: đồng chí Mundt không phải là nạn nhân của những kẻ cố tình ngăn chận trào lưu tiến hóa của lịch sử. Trước hết là sự hèn nhát, rồi sự yếu đuối, rồi lòng tham; đó là những động cơ đã thúc đẩy y, giấc mơ của y là cảnh giàu sang phú quý. Mỉa mai thay, chính hệ thống tinh vi đã thoả mãn lòng say mê tiền bạc của y lại khiến sức mạnh của công lý theo đuổi y".
Fiedler ngừng, nhìn quanh phòng, mắt đột nhiên ngời sáng vì hăng hái. Leamas say sưa theo dõi. Fiedler lớn tiếng nói tiếp:
- Chúng ta hãy xem đây là một bài học cho những kẻ thù khác của quốc gia, mà tội ác của chúng bẩn thỉu đến nỗi phải âm mưu trong bóng đêm!
Một tiếng rì rầm bàn tán đồng nổi lên từ thành phần khán giả ít ỏi cuối phòng.
- Chúng sẽ không thoát khỏi tai mắt của nhân dân, những người mà chúng tìm cách bán xương máu!
Fiedler như đang nói với một cử tọa đông hơn là một nhóm các viên chức và lính gác tụ tập trong căn phòng nhỏ xíu với mấy bức tường vôi trắng.
Lúc bấy giờ Leamas mới nhận thấy Fiedler không liều lĩnh: thái độ của Toà, của các nhân chứng phải kỳ tuyệt về mặt chính trị. Fiedler chắc cũng biết rõ mối nguy của sự phản công ngược lại sau đó trong những vụ như thế này, cho nên y đang tự bảo vệ lấy mặt sau mình: lời kết tội, chỉ trích của y sẽ được ghi vào biên bản và phải là một người can đảm lắm mới đứng lên bác bỏ.
Fiedler mở hồ sơ trên bàn trước mặt:
- Cuối 1959, Mundt được gửi đến Luân Đôn với tư cách là nhân viên của Phái Bộ Thép Đông Đức. Y có thêm nhiệm vụ nữa là thi hành những biện pháp cần thiết để chống lại các nhóm di dân phản loạn. Trong công việc, y đã bị nhiều nguy hiểm lớn lao - và đạt những kết quả quý giá.
Sự chú ý của Leamas lại hướng về ba người ngồi tại chiếc ghế bàn chính giữa. Bên trái Chánh Thẩm là một người đàn ông còn khá trẻ, tóc đen. Mắt y như đang lim dim. Mái tóc y lưa thưa, không có hàng lối, nước da xám xịt của một con người khắc khổ. Tay y thon, táy máy với góc xấp giấy trước mặt. Leamas đoán y là người của Mundt, chàng thấy khó giải thích được tại sao. Bên kia Chánh Thẩm là một người hơi già, đầu hói, có bộ mặt cởi mở dễ ưa. Leamas nghĩ y giống một tên đần, chàng đoán rằng nếu số phận Mundt được để lên một bàn cân, người trẻ tuổi sẽ bênh vực y và người đàn bà kết tội y. Còn người kia sẽ bối rối trước sự khác biệt đó về ý kiến và ngả theo phe Chánh Thẩm.
Fiedler lại nói:
- Chính vào cuối thời gian công tác tại Luân Đôn, y đã được thu dụng. Tôi đã nói rằng y chịu nhiều nguy hiểm. Trong công việc, y đã thành kẻ thủ của Mật Vụ Anh, và họ ra trát bắt y. Mundt không có quyền đặc miễn ngoại giao (Anh quốc, với tư cách là hội viên trong NATO(1) không công nhận chủ quyền tuyệt đối của ta), nên đã phải lẫn trốn. Các hải cảng đều bị canh chừng; hình dáng y được gửi đi khắp quần đảo Anh. Vậy mà sau hai ngày trốn tránh, đồng chí Mundt đáp một chiếc taxi đến phi trường Luân Đôn và bay về Bá Linh. "Thật giỏi". Quý vị sẽ nói thế, và quả là thế thật. Với cả lực lượng Cảnh Sát Anh đang được báo động, mọi đường bộ, đường hoả xa, đường biển, đường hàng không đều bị canh chừng thường trực, mà đồng chí Mundt đáp máy bay rời khỏi phi trường Luân Đôn, giỏi thật... Hoặc quý vị đồng chí có thể có cảm tưởng, sau khi suy nghĩ lại, rằng chuyến thoát thân của Mundt khỏi Anh quốc hơi quá giỏi, hơi quá dễ dàng, đến nỗi nếu không có sự thông đồng của nhà chức trách Anh quốc thì sẽ không thể nào thành được!
Một tiếng rì rào khác, đồng nhất hơn trong tiếng trước, nổi lên từ cuối phòng.
- Sự thật là thế này: Mundt đã bị người Anh bắt cầm tù. Trong một buổi sơ vấn ngắn ngủi và đáng ghi nhớ, họ bày ra cho y sự lựa chọn cổ điển. Những năm dài trong một nhà tù đế quốc chấm dứt một sự nghiệp sáng lạn, hay là trở về quê nhà một cách kỳ diệu, không ai ngờ, và thực hiện lời hứa y đã đưa ra? Dĩ nhiên, người Anh đặt điều kiện để cho y về là phải cung cấp tin tức cho họ và họ sẽ trả những món tiền lớn. Với củ cà-rốt trước mặt và cây gậy sau lưng, Mundt đã bị thu dụng.
"Giờ thì người Anh có lợi ích để đưa Mundt tiến xa trong nghề. Chúng tôi chưa thấy rõ được rằng thành công của Mundt trong việc thanh toán những điệp viên Tây phương loại xoàng là công việc của các quan thầy đế quốc của y phản bội những cộng sự viên - những người không còn xài đến - để uy tín của Mundt thêm gia tăng. Chúng tôi không thể chứng tỏ điều đó, nhưng đó là một giả thuyết rất lữu lý.
"Từ 1960 - năm đồng chí Mundt trở thành Trưởng Ban Phản Gián của Abteilung - chúng tôi đã nhận được nhiều dấu hiệu từ khắp nơi trên thế giới cho thấy là có một điệp viên cao cấp trong hàng ngũ chúng ta. Quý vị đều biết Karl Riemeck là một điệp viên: khi hắn bị trừ khử, chúng ta nghĩ rằng, phần tử xấu đã bị tiêu diệt. Nhưng các tin đồn vẫn còn.
"Cuối 1960, một nhân viên cũ của ta tiếp xúc với một người Anh ở Lebanon được biết là có liên lạc với Mật Vụ Anh. Hắn đưa cho người này, sau đó không lâu chúng tôi đã phát giác - một bảng mô tả hai ban trong Abteilung nơi trước kia hắn đã làm việc. Tài liệu này, sau khi chuyển về Luân Đôn, đã bị gạt bỏ. Thật là kỳ lạ, như thế chỉ có nghĩa là Mật Vụ Anh đã có tin tình báo đó rồi, và tin đó là tin cập nhật hoá.
"Từ giữa năm 1960 trở đi chúng ta mất dần nhân viên tại ngoại quốc với một nhịp độ đáng báo động. Thường thì họ bị bắt sau khi được gửi đi vài tuần. Đôi khi đối phương còn cố xoay các nhân viên đó trở ngược hại ta; nhưng chỉ thỉnh thoảng. Dường như họ không mấy lưu tâm đến điều đó.
"Thế rồi - đầu 1961, nếu tôi nhớ không lầm - chúng ta có một may mắn. Bằng một cách mà tôi xin không nói ra ở đây, ta nhận được một bản tóm lược các tin tức tình báo mà Mật Vụ Anh có được về Abteilung. Nó thật đầy đủ, chính xác, và cập nhật hóa một cách đến sửng sốt. Tôi đưa nó cho Mundt coi, dĩ nhiên - y là thượng cấp của tôi. Y bảo y không ngạc nhiên tí nào, y đang điều tra một vài vụ và tôi không nên có hành động gì, e rằng y sẽ thất bại trong các cuộc điều tra đó. Tôi phải thú thật là lúc bấy giờ tôi thoáng có ý tưởng xa vời và huyền hoặc rằng chính Mundt có thể đã cung cấp tin tức cho đối phương. Còn có những dấu hiệu khác nữa...
"Tôi không cần phải nói với quý vị đồng chí rằng người cuối, chính người cuối cùng bị ngờ làm gián điệp lại là Trưởng Ngành Phản Gián. Ý niệm này thật đáng sợ, quá hoang đường, khiến ít người dám nghĩ đến, chớ đừng nói là phát triển nó! Tôi thú thật đã có cái tội quá miễn cưỡng trong sự truy tầm một lối suy diễn có vẻ huyễn hoặc như vậy. Thế là lầm.
"Nhưng thưa quý vị đồng chí, chứng cứ cuối cùng đã lọt vào tay ta. Tôi đề nghị gọi nhân chứng đó ra bây giờ.
Y quay lại liếc về phía cuối phòng:
- Mang Leamas lên đây...
Các tên gác hai bên chàng đứng dậy và Leamas len lỏi qua hàng người, đến lối đi rộng không đầy nửa thước chạy dọc giữa phòng. Một tên gác ra dấu cho chàng biết chàng phải đứng hướng vào bàn. Fiedler đứng cách chàng chừng hai thước. Đầu tiên Chánh Thẩm hỏi chàng:
- Nhân chứng tên gì?
- Alec Leamas.
- Bao nhiêu tuổi?
- Năm mươi.
- Có gia đình?
- Không.
- Nhưng trước kia đã có?
- Bây giờ thì không.
- Nghề nghiệp của anh?
- Phụ Tá Quản Thủ Thư Viện.
Fiedler giận dữ xen lời, dằn giọng:
- Trước kia anh làm việc cho Tình Báo Anh phải không?
- Phải, một năm trước đây.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
0
Chương 20 PHIÊN TOÀ (tt)

- Toà đã đọc phúc trình về cuộc thẩm vấn anh. Tôi muốn anh cho họ biết một lần nữa về cuộc đối thoại với Peter Guillam Tháng Năm năm ngoái.
- Ông định nói lần chúng tôi nói chuyện về Mundt?
- Phải.
- Tôi đã nói với ông rồi. Lúc đó, tôi ở Cơ Sở, tức văn phòng ở Luân Đôn, bản doanh của chúng tôi tại công trường Cambridge. Tôi tình cờ gặp Peter ở hành lang. Tôi biết anh ta dính vào vụ Fennan và tôi hỏi anh ta lúc này George Smiley ra sao. Rồi chúng tôi nói đến chuyện Dieter Frey, người vừa chết, và Mundt, kẻ dính vào chuyện đó. Peter bảo anh ta cho rằng Maston - Maston là người chịu trách nhiệm về vụ đó - đã không muốn Mundt bị bắt.
Fiedler hỏi:
- Anh nghĩ sao về chuyện đó?
- Tôi biết Maston đã làm rối tung vụ Fennan lên. Tôi cho rằng ông ta không muốn Mundt khuấy bùn lên khi xuất hiện trước lão Barley.
Chánh Thẩm xen vào:
- Nếu Mundt đã bị bắt, y có sẽ bị truy tố về mặt pháp lý không?
- Cái đó tùy nơi nào bắt y. Nếu cảnh sát bắt được y, họ sẽ phúc trình cho Bộ Nội Vụ. Sau đó thì không quyền hành nào cứu hắn thoát khỏi bị kết tội.
Fiedler hỏi:
- Và nếu Cơ Sở anh bắt được thì sao?
- Ồ, đó lại là chuyện khác. Tôi cho rằng họ sẽ thẩm vấn y và cố đổi y lấy một người của chúng tôi bị đối phương bắt giữ, hoặc họ sẽ cho y một cái vé tàu.
- Nghĩa là sao?
- Thủ tiêu y.
- Thanh toán y?
Lúc này Fiedler mới đặt tất cả câu hỏi, và các nhân viên của Phiên Toà chăm chú viết vào hồ sơ trước mặt.
Leamas đáp:
- Tôi không biết họ làm gì. Tôi chưa hề dính vào trò đó.
- Họ không có thể tuyển dụng y như một nhân viên của họ sao?
- Có chứ, nhưng không thành công.
- Sao anh biết được?
- Chúa ơi, tôi đã nói mãi với ông. Tôi không phải chỉ là một con dấu đóng trên giấy tờ! Tôi đã đứng đầu Ban Chỉ Huy tại Bá-linh trong bốn năm. Nếu Mundt đã là một người trong bọn tôi, tôi phải biết chứ. Tôi đã không thể không biết được.
- Hẳn thế.
Fiedler như hài lòng với câu trả lời, có lẽ tin chắc những kẻ còn lại trong Phiên Toà không như Leamas. Bây giờ y hướng sự chú ý vào điệp vụ "Rolling Stone", bắt buộc Leamas một lần nữa phải kể qua các biện pháp an ninh phức tạp đặc biệt về sự luân lưu hồ sơ, những bức thư gởi cho các ngân hàng ở Stockholm và Helsinki và thư trả lời mà Leamas đã nhận được. Nói với Toà, Fiedler nhận định:
- Chúng tôi không nhận được thư trả lời từ Helsinki. Tôi không hiểu tại sao. Nhưng hãy để tôi tóm lược cho quý vị đồng chí. Leamas gởi tiền ở Stockholm ngày 15 tháng 6. Trong xấp giấy tờ trước mặt quý vị có một bản sao của ngân hàng Hoàng Gia Bắc Âu gửi cho Robert Lang. Robert Lang là tên của Leamas dùng để mở trương mục tại Copenhagen. Từ bức thư đó (đánh số thứ tự 12 trong hồ sơ của quý vị), quý vị sẽ thấy rằng tất cả số tiền - mười ngàn đô la - đã được rút ra bởi đồng trương chủ một tuần lễ sau. Tôi nghĩ rằng...
Fiedler tiếp tục nói trong lúc đầu y chỉ về phía hình bóng bất động của Mundt ở hàng đầu:
- Bị cáo không thể chối cãi rằng y đã ở Copenhagen ngày 21 tháng 6, trên danh nghĩa thi hành công tác mật cho Abteilung.
Y ngừng rồi lại tiếp ngay:
- Chuyến đi của Leamas đến Helsinki - chuyến đi thứ nhì để ký thác tiền - xảy ra vào ngày 24 tháng 9.
Cất cao giọng, y quay lại nhìn thẳng vào Mundt:
- Vào ngày 3 tháng 10 đồng chí Mundt làm một chuyến đi bí mật đến Phần-lan - một lần nữa lại lý do là vì quyền lợi của Abteilung.
Tất cả cùng im lặng. Fiedler từ từ quay lại nói một lần nữa với Toà. Bằng một giọng bất thần hạ xuống và đầy đe dọa, y hỏi:
- Quý vị có cho rằng các chứng cứ đó chỉ là do suy đoán? Xin hãy để tôi nhắc quý vị một điều khác nữa.
Y quay về phía Leamas:
- Nhân chứng, trong những hoạt động của anh ở Bá-linh, anh có liên hệ đến Karl Riemeck, trước kia là bí thư của Chủ Tịch Đoàn Xã Hội Thống Nhất Đảng. Sự liên hệ đó ra sao?
- Y là nhân viên của tôi cho đến khi bị người của Mundt bắn.
- Hẳn thế. Y bị người của Mundt bắn. Một trong nhiều điệp viên bị thanh toán gọn bởi đồng chí Mundt trước khi họ có thể bị thẩm vấn. Nhưng trước khi bị người của Mundt bắn có phải y đã là một điệp viên của Mật Vụ Anh?
Leamas gật đầu.
- Anh có thể mô tả cuộc họp giữa Riemeck và người mà anh gọi là Control?
- Control từ Bá-linh đến để gặp Karl. Karl là một trong những điệp viên được việc nhất của chúng tôi, tôi cho là thế, và Control muốn gặp y.
Fiedler ngắt lời:
- Y cũng là một trong những người được tín cẩn nhất?
- Phải, ồ phải, Luân Đôn rất quý mến Karl, y không làm gì quấy. Khi Control đến, tôi thu xếp cho Karl tới nhà tôi và cả ba chúng tôi cùng ăn tối. Tôi không thích Karl đến đây, nhưng không nói với Control được. Chuyện rất khó giải thích, nhưng họ có thành kiến ở Luân Đôn, họ ở xa quá và tôi rất sợ họ sẽ viện cớ phổng tay trên mất Karl - họ có thể làm thế lắm.
Fiedler dịu giọng:
- Nên anh thu xếp cho cả ba gặp nhau. Rồi chuyện gì đã xảy ra?
- Control đã nói trước với tôi rằng ông ta cần chừng mười lăm phút nói chuyện riêng với Karl, nên trong buổi tối tôi giả vờ hết rượu. Tôi liền đi lại nhà De Jong. Tôi đã uống hai ly ở đó, mượn một chai và mang về.
- Lúc anh gặp họ, họ ra sao?
- Ông muốn nói gì?
- Control và Riemeck vẫn còn nói chuyện? Nếu thế, thì họ đang nói chuyện gì?
- Họ không còn nói chuyện với nhau khi tôi trở về.
- Cám ơn anh, anh có thể ngồi xuống.
Leamas quay về chỗ ngồi của chàng ở cuối phòng. Fiedler quay về phía ba nhân viên Toà và bắt đầu:
- Tôi muốn nói trước tiên về điệp viên Riemeck, người đã bị bắn, Karl Riemeck. Quý vị có trước mặt một danh sách tất cả các tin tức mà Riemeck đưa cho Alec Leamas ở Bá-linh, theo như Leamas nhớ được... Thật là một hồ sơ phản phúc đáng nể... Để tôi tóm tắt cho quý vị, Riemeck đưa cho quan thầy y một bản ghi chi tiết các công việc và nhân viên của toàn thể Abteilung. Hắn có thể, nếu ta tin Leamas, mô tả cả những cung cách làm việc của ta trong những phiên họp bí mật nhất. Với tư cách Bí Thư của Chủ Tịch Đoàn hắn cho những biên bản về các diễn biến bí mật nhất.
"Đối với hắn thật dễ dàng. Chính hắn thu góp hồ sơ mỗi buổi họp. Nhưng con đường đưa Riemeck vào những chuyện bí mật của Abteilung thì lại là một chuyện khác. Vào cuối 1959 ai đã tuyển chọn Riemeck vào Ủy Ban Bảo Vệ Nhân Dân, tiểu ban quan yếu của Chủ Tịch Đoàn có nhiệm vụ phối trí và thảo luận các công việc của những cơ quan an ninh của ta? Ai trong mỗi chặng đường nghề nghiệp của Riemeck từ 1959 (năm Mundt từ Anh về, quý vị nên nhớ thế) đã đặc biệt cử vào những chức vụ đặc biệt? Tôi sẽ nói cho quý vị biết (Fiedler chợt nói lớn) - Chỉ có một người có thể che chở cho những hoạt động gián điệp của y: Hans-Dièter Mundt. Chúng ta hãy nhớ lại xem Riemeck tiếp xúc ra sao với các cơ quan tình báo Tây phương ở Bá-linh - xem hắn tìm ra chiếc xe của De Jong đi picnic như thế nào và để cuộn phim vào xe ra sao. Quý vị có ngạc nhiên về sự biết trước mọi việc của Riemeck không? Sao hắn đã biết được nơi tìm ra chiếc xe vào đúng ngày đó? Chính Riemeck không có xe, y không thể nào theo dõi De Jong từ nhà hắn tại Tây Bá-linh. Chỉ có một cách duy nhất, nhờ đó y có thể biết được là Cơ quan Cảnh Sát An Ninh của chính chúng ta, đã báo cáo sự hiện diện của xe De Jong theo thường lệ ngay khi chiếc xe chạy ngang trạm kiểm soát Liên Khu. Kiến thức đó Mundt có, và chuyển cho Riemeck biết. Đó là tất cả nội vụ truy tố Hans-Dièter Mundt. Tôi xin nói với quý vị, Riemeck là sản phẩm của Mundt, là gạch nối giữa Mundt và quan thầy đế quốc của y!"
Fiedler ngừng, rồi tiếp tục một cách trầm tĩnh:
- Mundt - Riemeck - Leamas: đó là sợi xích chỉ huy, và đó là định lý về kỹ thuật tình báo trên toàn thế giới. Mỗi mắc xích phải được giữ sao cho càng lâu càng hay, không biết về các mắc xích khác. Vì vậy, sự việc Leamas khăng khăng cho rằng không biết gì về mối hại Mundt là một điều hữu lý: đó là bằng chứng an toàn của các quan thầy của y tại Luân Đôn.
"Quý vị cũng đã được phúc trình đầy đủ về vụ gọi là "Rolling Stone" đã được điều hành ra sao, theo những điều kiện bí mật đặc biệt, Leamas đã biết lờ mờ thế nào về một ban tình báo dưới quyền Peter Guillam được cho là liên quan đến tình trạng kinh tế của nền Cộng Hòa chúng ta. Một ban, mà đáng ngạc nhiên thay, lại ở trên danh sách luân lưu hồ sơ "Rolling Stone". Tôi xin lưu ý quý vị rằng chính Peter Guillam là một trong nhiều sĩ quan An Ninh Anh Quốc đã dính líu vào vụ điều tra về các hoạt động của Mundt hồi y còn ở Anh Quốc".
Người đàn ông trẻ tuổi ngồi ở bàn nhấc cây viết chì lên, vừa nhìn Fiedler với cặp mắt mở to, lạnh và cứng rắn, vừa hỏi:
- Vậy tại sao Mundt thanh toán Riemeck, nếu Riemeck là nhân viên của y?
- Y không còn cách nào hơn, Riemeck đang bị nghi ngờ. Nhân tình của y đã phản y bằng cách tiết lộ khoe khoang. Mundt ra lệnh bắn anh ta ngay lúc nào bắt gặp anh ta, nhắn tin cho Riemeck biết là phải trốn, và mối nguy bội phản đã bị dập tắt. Sau này, Mundt ám sát luôn người đàn bà.
"Tôi muốn trình bày rõ hơn một chút về kỹ thuật của Mundt. Sau khi y về Đức năm 1959, Tình Báo Anh án binh bất động để chờ đợi. Sự thuận cộng tác của y với họ chưa tỏ rõ, nên họ cho y chỉ thị và chờ đợi, chịu trả tiền và hy vọng mọi việc sẽ tốt đẹp. Khi đó Mundt không phải là một nhân viên cao cấp cả Cơ Quan ta - cũng như của Đảng ta - nhưng y thấy và hiểu nhiều, và những gì y thấy y bắt đầu báo cáo. Dĩ nhiên y tự lực liên lạc với quan thầy của y. Chúng ta phải giả thử rằng y được gặp gỡ tại Tây Bá-linh, rằng trong những chuyến đi ngoại quốc ngắn ngủi đến Bắc Âu và nơi khác, y đã được tiếp xúc và thẩm vấn. Người Anh thoạt đầu chắc đã phải cẩn thận - ai mà không thế? Họ ước lượng giá trị những gì y cho họ, so với những gì họ đã biết, nhưng họ e hắn có thể chơi trò gián điệp nhị trùng. Nhưng dần dần họ nhận ra họ đã đào được một mỏ vàng. Mundt bắt đầu phản bội với cái hiệu năng có hệ thống đã nổi tiếng của y. Thoạt tiên, tôi đoán thế, nhưng có căn cứ thưa quý vị Đồng Chí, dựa trên kinh nghiệm lâu dài trong nghề cũng như trên chứng cứ của Leamas. Trong mấy tháng đầu, họ không dám thiết lập mạng lưới nào có Mundt ở trong. Họ để y một mình, họ giúp y, trả công và huấn thị y mà không qua một tổ chức của họ tại Bá-linh. Họ lập ra ở Luân Đôn, dưới quyền Guillam (vì chính hắn là người thu dụng Mundt ở Anh) một ban bí mật và tí hon có một nhiệm vụ mà ngay trong Cơ Sở cũng không ai biết trừ một số người chọn lọc. Họ trả tiền cho Mundt theo một hệ thống đặc biệt mà họ gọi là "Rolling Stone" và hiển nhiên họ phối kiểm thật cẩn thận những tin tức do y cung cấp. Như vậy chắc quý vị nhận thấy điều đó phù hợp với những lời phản đối của Leamas về sự hiện diện của Mundt, mặc dù - quý vị sẽ thấy - không những Leamas đã trả tiền cho y, mà cuối cùng còn chuyển về Luân Đôn những tin tức từ Riemeck do Mundt lấy được.
"Cuối 1959, Mundt thông báo cho quan thầy ở Luân Đôn biết rằng y đã tìm ra trong Chủ Tịch Đoàn một người sẽ làm trung gian giữa họ và Mundt, người đó là Karl Riemeck.
"Làm sao Mundt tìm được Riemeck? Tại sao y dám tin tưởng Riemeck chịu cộng tác? Quý vị phải nhớ đến địa vị cao cấp của Mundt: y được quyền coi mọi hồ sơ an ninh, có thể nghe lén điện thoại, mở trộm thư, mướn người canh chừng, y có thể thẩm vấn bất cứ ai với một quyền bất khả chỉ trích, và có trước mặt y bức hoạ chi tiết về đời sống riêng tư của họ. Nhất là y có thể làm câm nín nghi ngờ ngay lập tức bằng cách quay ngược vào những người đó với chính thứ vũ khí - (giọng Fiedler run lên vì giận dữ) - được tạo ra để che chở họ.
Quay về một cách tự nhiên với giọng nói điềm tĩnh trước đó của y, Fiedler tiếp:
- Bây giờ, quý vị có thể thấy những gì Luân Đôn đã làm. Vẫn giữ lý lịch Mundt trong vòng bí mật, họ thu xếp để tuyển dụng Riemeck và thiết lập một cách tiếp xúc gián tiếp giữa Mundt và ban chỉ huy tại Bá-linh. Đó là ý nghĩa của sự tiếp xúc giữa Riemeck với De Jong và Leamas. Đó là cách quý vị nên giải thích chứng cứ của Leamas, đó là cách quý vị nên đo lường tầm mức sự phản bội của Mundt.
Y quay lại và nhìn thẳng vào mặt Mundt, y la lớn:
- Đây là tên phá hoại, tên khủng bố của quý vị! Đây là tên bán đứng quyền lợi của nhân dân.
"Tôi sắp dứt lời, chỉ còn một điều cần phải nói. Mundt đã được tiếng là một người bảo vệ nhân dân trung kiên, bất diệt, và y đã làm câm vĩnh viễn những cái miệng nào có thể phát giác sự bí mật của y. Như thế, y đã dùng danh nghĩa của nhân dân để che chở cho sự phản bội theo bọn phát-xít của y và tiến thân trên con đường nghề nghiệp trong Cơ Quan của chúng ta. Không thể tưởng tượng ra một tội ác nào ghê rợn hơn tội ác này. Đó là lý do khiến rốt cuộc, sau khi làm hết cách để bảo vệ Karl Riemeck khỏi bị nghi ngờ càng ngày càng gia tăng, y đã ra lệnh bắn chết Riemeck tại chỗ. Đó là lý do tại sao y xếp đặt việc ám sát tình nhân của Riemeck. Khi quý vị đưa phán quyết lên Chủ Tịch Đoàn, xin đừng ngần ngại mà không nhìn nhận tính chất thú vật trong tội ác của tên này. Với Huns-Dièter Mundt, tử hình là một phán quyết khoan hồng.

(1) North Atlantic Treaty Oganization: Tổ Chức Minh Ước Bắc Đại Tây Dương.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
0
«« « 1 2 3 » »»