Từ chỉ giống trong tiếng Việt
Một anh bạn người nước ngoài vào chợ Hôm mua thực phẩm đã nói với người bán gà rằng: "Bà bán cho tôi một cái gà đực". Thế là mấy người bán hàng cạnh đó cười rũ ra. Bà bán gà liền chỉnh lại: "Không phải là "cái gà đực" mà là "con gà sống" chứ". Anh bạn nước ngoài ngẩn ra một lúc rồi lại nói: "Tôi muốn mua gà chết chứ không mua gà sống". Bà bán hàng lại bảo: "Thế thì phải gọi là "gà mổ sẵn" chứ không phải là "gà chết...". Câu chuyện mua gà của anh bạn nước ngoài nọ kết thúc ở đấy. Bởi vì, cuối cùng anh vẫn mua được "gà đực" (tức gà sống) và là "gà chết" (tức "gà mổ sẵn).
Việc dùng từ chỉ giống trong tiếng Việt thật là phức tạp. Rõ ràng là giống đực mà không ai nói "gà đực", trong khi lại gọi "vịt đực", "trâu đực", "bò đực", "chó đực"... Rõ ràng là giống cái mà không ai nói "gà cái", trong khi lại gọi "vịt cái", "trâu cái", "bò cái" "cáo cái"... Riêng gà, chim thì thay vì dùng "đực, cái" người ta gọi là "sống" (hay "trống") và "mái". Còn lợn là động vật có vú như trâu, bò, chó... lại có thêm một cách gọi nữa là "giống (đực)" và "nái" (cái). Đặc biệt hơn, nếu con "nái" đã đẻ quá nhiều hoặc chỉ được nuôi để sinh sản thì người ta gọi là "sề" (hay "nái sề"). Cũng có trường hợp dùng "nái" với trâu cái, nhưng rất hiếm; chẳng hạn trong tục ngữ có câu "Ruộng sâu trâu nái, con gái đầu lòng".
Việc sử dụng từ chỉ giống (hay giới tính) đối với danh từ chỉ người trong tiếng Việt lại càng phức tạp. Trong khi giảng dạy về phạm trù giống (ngữ pháp) của các ngôn ngữ trên thế giới, chúng tôi nhận thấy người học thường có sự nhầm lẫn giữa giống - là một loại phạm trù ngữ pháp, với giống - thực chất là giới tính của người và động vật. Giống ngữ pháp gắn liền với hình thức của từ và thường được phân biệt thành bộ đôi là "đực và cái", hoặc thành bộ ba là "đực, cái và trung". Danh từ trong tiếng Pháp có hai giống, danh từ trong tiếng Nga có ba giống. Đối với các ngôn ngữ có phạm trù giống, tất cả các danh từ đều phải thuộc về một giống nhất định, bất kể danh từ đó là danh từ chỉ động vật hay bất động vật. Chính vì vậy, có những trường hợp: cùng là danh từ chỉ bất động vật nhưng danh từ này lại là là giống cái, danh từ kia lại là giống đực; hoặc có trường hợp: một danh từ chỉ động vật có giống ngữ pháp đối lập với giống của động vật trong thực tế.
Danh từ trong tiếng Việt không có giống ngữ pháp. Vì thế, vấn đề "giống" ở tiếng Việt chỉ còn là chuyện giới tính của người và động vật mà thôi. Tuy nhiên, vấn đề cần bàn chính là việc cấu tạo giống ở danh từ chỉ người và danh từ chỉ động vật lại không giống nhau.
Đối với danh từ chỉ động vật, giống được thể hiện qua một kiểu kết cấu duy nhất là:
"Danh từ chỉ loài + yếu tố chỉ giống (đực, cái)"
- Thí dụ:
"Gà trống (sống) - gà mái"
"Trâu đực - trâu cái (nái)"
"Lợn giống - lợn nái"...
Các danh từ chỉ người trong quan hệ thân tộc phần lớn gắn với giới tính. Điều đó có nghĩa là: yếu tố giới tính nằm ngay trong nghĩa từ vựng của danh từ chỉ người.
Thí dụ:
Ông, cha, thầy, tía, chú, cậu, anh... là các từ có ý nghĩa giới tính nam;
Bà, mẹ, u, má, cô, dì, thím, chị... là các từ có ý nghĩa giới tính nữ.
Khi sử dụng chúng, người ta không cần phải kèm yếu tố chỉ giới tính nữa.
Trường hợp "anh trai" và "chị gái" là một ngoại lệ. Ngoài ý nghĩa giới tính chúng còn có ý nghĩa chỉ quan hệ "ruột thịt". Người ta gọi anh ruột là "anh trai", chị ruột là "chị gái"; chứ không gọi anh họ, chị họ bằng cách gọi đó.
Các danh từ: cụ, bác, cháu, con, em... không mang ý nghĩa giới tính xác định, vì thế lại có khả năng tham gia kết hợp để mang giới tính nam hoặc nữ. Để cấu tạo giới tính cho các danh từ này không gặp khó khăn gì. Người ta chỉ cần đặt các cặp từ "ông - bà" hoặc "trai - gái" vào ngay sau chúng:
Cụ ông - cụ bà
Bác trai - bác gái
Cháu trai - cháu gái
Con trai - Con gái
Em trai - em gái
Ngoại lệ, từ "bác" có thể kết hợp cả "trai - gái" và cả với "ông - bà" để tạo ra hai biến thể:
Bác trai - bác gái
và bác ông - bác bà (xuất hiện ở phương ngữ miền trung).
Có điều đáng chú ý là: khi cấu tạo giới tính cho một số danh từ chỉ người trong tiếng Việt, ta lại dùng những cặp từ vốn có giới tính như cặp "ông - bà" "nam - nữ", "trai - gái" để kết hợp. Như vậy, những cặp từ này là "đa chức năng" chứ không phải là những danh từ chỉ người thuần túy.
Các danh từ chỉ người trong quan hệ xã hội hoặc các danh từ chỉ nghề nghiệp chức vụ, chức danh của tiếng Việt vì không có ý nghĩa giới tính tự thân, nên việc cấu tạo giới tính cũng chỉ đơn giản bằng cách duy nhất là kết hợp từ chỉ giới tính với chính những danh từ trên.
Tuy nhiên, nhìn chung, việc lựa chọn "ông - bà", "nam - nữ" hay "trai - gái" để kết hợp với một từ cụ thể nào lại không hoàn toàn giống nhau.
Có những danh từ chỉ kết hợp với một trong các cặp nêu trên.
Chẳng hạn danh từ giám đốc có thể dùng với cặp "nam - nữ" chứ không dùng với cặp "trai - gái". Người ta dùng:
Giám đốc nam - giám đốc nữ
chứ không dùng:
Giám đốc trai - giám đốc gái
Nhưng lại có những danh từ vừa kết hợp được với cặp "nam - nữ" (theo trật tự Hán Việt) kiểu:
Nam dân quân - nữ dân quân
Nam sinh viên - nữ sinh viên
vừa kết hợp được với cặp "trai - gái" (theo trật tự thuần Việt) kiểu:
Dân quân trai - dân quân gái
Sinh viên trai - sinh viên gái
Xin được nói thêm về một nghề trong truyền thống luôn gắn với ý nghĩa "giới tính nam" - đó là nghề "thầy giáo". Với nghề nghiệp này, người Việt chúng ta đã phải dùng một từ đối lập về giới tính - từ "cô" để chỉ người dạy học là nữ - "cô giáo". Các từ Hán Việt khác đồng nghĩa với "cô giáo" hoặc "thầy giáo" vẫn được cấu tạo giới tính bằng quy tắc kết hợp từ chỉ giới tính "nữ hoặc nam" với chúng:
Nữ giáo viên - nam giáo viên
Nữ giảng viên - nam giảng viên.
Với một cách nhìn khái quát, ta có thể nhận thấy: giống và giới tính của danh từ chỉ người và động vật trong tiếng Việt là một vấn đề không đơn giản. Một trong những lý do của hiện tượng này là vì có những danh từ tự thân mang ý nghĩa giới tính, còn một số danh từ khác lại không. Hơn nữa, riêng với các danh từ chỉ người không tự thân mang nghĩa giới tính thì việc cấu tạo giới tính cũng không thuần nhất mà linh hoạt và còn được giải thích bằng ngữa nghĩa của chúng nữa.
Phan Hồng Liên
Một anh bạn người nước ngoài vào chợ Hôm mua thực phẩm đã nói với người bán gà rằng: "Bà bán cho tôi một cái gà đực". Thế là mấy người bán hàng cạnh đó cười rũ ra. Bà bán gà liền chỉnh lại: "Không phải là "cái gà đực" mà là "con gà sống" chứ". Anh bạn nước ngoài ngẩn ra một lúc rồi lại nói: "Tôi muốn mua gà chết chứ không mua gà sống". Bà bán hàng lại bảo: "Thế thì phải gọi là "gà mổ sẵn" chứ không phải là "gà chết...". Câu chuyện mua gà của anh bạn nước ngoài nọ kết thúc ở đấy. Bởi vì, cuối cùng anh vẫn mua được "gà đực" (tức gà sống) và là "gà chết" (tức "gà mổ sẵn).
Việc dùng từ chỉ giống trong tiếng Việt thật là phức tạp. Rõ ràng là giống đực mà không ai nói "gà đực", trong khi lại gọi "vịt đực", "trâu đực", "bò đực", "chó đực"... Rõ ràng là giống cái mà không ai nói "gà cái", trong khi lại gọi "vịt cái", "trâu cái", "bò cái" "cáo cái"... Riêng gà, chim thì thay vì dùng "đực, cái" người ta gọi là "sống" (hay "trống") và "mái". Còn lợn là động vật có vú như trâu, bò, chó... lại có thêm một cách gọi nữa là "giống (đực)" và "nái" (cái). Đặc biệt hơn, nếu con "nái" đã đẻ quá nhiều hoặc chỉ được nuôi để sinh sản thì người ta gọi là "sề" (hay "nái sề"). Cũng có trường hợp dùng "nái" với trâu cái, nhưng rất hiếm; chẳng hạn trong tục ngữ có câu "Ruộng sâu trâu nái, con gái đầu lòng".
Việc sử dụng từ chỉ giống (hay giới tính) đối với danh từ chỉ người trong tiếng Việt lại càng phức tạp. Trong khi giảng dạy về phạm trù giống (ngữ pháp) của các ngôn ngữ trên thế giới, chúng tôi nhận thấy người học thường có sự nhầm lẫn giữa giống - là một loại phạm trù ngữ pháp, với giống - thực chất là giới tính của người và động vật. Giống ngữ pháp gắn liền với hình thức của từ và thường được phân biệt thành bộ đôi là "đực và cái", hoặc thành bộ ba là "đực, cái và trung". Danh từ trong tiếng Pháp có hai giống, danh từ trong tiếng Nga có ba giống. Đối với các ngôn ngữ có phạm trù giống, tất cả các danh từ đều phải thuộc về một giống nhất định, bất kể danh từ đó là danh từ chỉ động vật hay bất động vật. Chính vì vậy, có những trường hợp: cùng là danh từ chỉ bất động vật nhưng danh từ này lại là là giống cái, danh từ kia lại là giống đực; hoặc có trường hợp: một danh từ chỉ động vật có giống ngữ pháp đối lập với giống của động vật trong thực tế.
Danh từ trong tiếng Việt không có giống ngữ pháp. Vì thế, vấn đề "giống" ở tiếng Việt chỉ còn là chuyện giới tính của người và động vật mà thôi. Tuy nhiên, vấn đề cần bàn chính là việc cấu tạo giống ở danh từ chỉ người và danh từ chỉ động vật lại không giống nhau.
Đối với danh từ chỉ động vật, giống được thể hiện qua một kiểu kết cấu duy nhất là:
"Danh từ chỉ loài + yếu tố chỉ giống (đực, cái)"
- Thí dụ:
"Gà trống (sống) - gà mái"
"Trâu đực - trâu cái (nái)"
"Lợn giống - lợn nái"...
Các danh từ chỉ người trong quan hệ thân tộc phần lớn gắn với giới tính. Điều đó có nghĩa là: yếu tố giới tính nằm ngay trong nghĩa từ vựng của danh từ chỉ người.
Thí dụ:
Ông, cha, thầy, tía, chú, cậu, anh... là các từ có ý nghĩa giới tính nam;
Bà, mẹ, u, má, cô, dì, thím, chị... là các từ có ý nghĩa giới tính nữ.
Khi sử dụng chúng, người ta không cần phải kèm yếu tố chỉ giới tính nữa.
Trường hợp "anh trai" và "chị gái" là một ngoại lệ. Ngoài ý nghĩa giới tính chúng còn có ý nghĩa chỉ quan hệ "ruột thịt". Người ta gọi anh ruột là "anh trai", chị ruột là "chị gái"; chứ không gọi anh họ, chị họ bằng cách gọi đó.
Các danh từ: cụ, bác, cháu, con, em... không mang ý nghĩa giới tính xác định, vì thế lại có khả năng tham gia kết hợp để mang giới tính nam hoặc nữ. Để cấu tạo giới tính cho các danh từ này không gặp khó khăn gì. Người ta chỉ cần đặt các cặp từ "ông - bà" hoặc "trai - gái" vào ngay sau chúng:
Cụ ông - cụ bà
Bác trai - bác gái
Cháu trai - cháu gái
Con trai - Con gái
Em trai - em gái
Ngoại lệ, từ "bác" có thể kết hợp cả "trai - gái" và cả với "ông - bà" để tạo ra hai biến thể:
Bác trai - bác gái
và bác ông - bác bà (xuất hiện ở phương ngữ miền trung).
Có điều đáng chú ý là: khi cấu tạo giới tính cho một số danh từ chỉ người trong tiếng Việt, ta lại dùng những cặp từ vốn có giới tính như cặp "ông - bà" "nam - nữ", "trai - gái" để kết hợp. Như vậy, những cặp từ này là "đa chức năng" chứ không phải là những danh từ chỉ người thuần túy.
Các danh từ chỉ người trong quan hệ xã hội hoặc các danh từ chỉ nghề nghiệp chức vụ, chức danh của tiếng Việt vì không có ý nghĩa giới tính tự thân, nên việc cấu tạo giới tính cũng chỉ đơn giản bằng cách duy nhất là kết hợp từ chỉ giới tính với chính những danh từ trên.
Tuy nhiên, nhìn chung, việc lựa chọn "ông - bà", "nam - nữ" hay "trai - gái" để kết hợp với một từ cụ thể nào lại không hoàn toàn giống nhau.
Có những danh từ chỉ kết hợp với một trong các cặp nêu trên.
Chẳng hạn danh từ giám đốc có thể dùng với cặp "nam - nữ" chứ không dùng với cặp "trai - gái". Người ta dùng:
Giám đốc nam - giám đốc nữ
chứ không dùng:
Giám đốc trai - giám đốc gái
Nhưng lại có những danh từ vừa kết hợp được với cặp "nam - nữ" (theo trật tự Hán Việt) kiểu:
Nam dân quân - nữ dân quân
Nam sinh viên - nữ sinh viên
vừa kết hợp được với cặp "trai - gái" (theo trật tự thuần Việt) kiểu:
Dân quân trai - dân quân gái
Sinh viên trai - sinh viên gái
Xin được nói thêm về một nghề trong truyền thống luôn gắn với ý nghĩa "giới tính nam" - đó là nghề "thầy giáo". Với nghề nghiệp này, người Việt chúng ta đã phải dùng một từ đối lập về giới tính - từ "cô" để chỉ người dạy học là nữ - "cô giáo". Các từ Hán Việt khác đồng nghĩa với "cô giáo" hoặc "thầy giáo" vẫn được cấu tạo giới tính bằng quy tắc kết hợp từ chỉ giới tính "nữ hoặc nam" với chúng:
Nữ giáo viên - nam giáo viên
Nữ giảng viên - nam giảng viên.
Với một cách nhìn khái quát, ta có thể nhận thấy: giống và giới tính của danh từ chỉ người và động vật trong tiếng Việt là một vấn đề không đơn giản. Một trong những lý do của hiện tượng này là vì có những danh từ tự thân mang ý nghĩa giới tính, còn một số danh từ khác lại không. Hơn nữa, riêng với các danh từ chỉ người không tự thân mang nghĩa giới tính thì việc cấu tạo giới tính cũng không thuần nhất mà linh hoạt và còn được giải thích bằng ngữa nghĩa của chúng nữa.
Phan Hồng Liên