Phần IV
Thời Lý, lập Thăng Long đưa thế nước vươn cao
Lý Công Uẩn, người khai sinh
kinh thành Thăng Long, mở đầu đưa
thế nước vươn cao
Nhà Tiền Lê do Lê Hoàn tức Lê Đại Hành khởi nghiệp năm 980 gồm Lê Hoàn làm vua được 24 năm, Lê Long Việt tức Trung Tông ở trên ngôi vẻn vẹn chỉ có 3 ngày, còn Lê Long Đĩnh tức Ngọa Triều giữ ngai vàng cũng chỉ được 4 năm. Ngọa Triều tàn bạo quá, nên sau khi chết, triều thần nhà Lê không ai còn muốn đưa dòng dõi của nhà Lê lên làm vua nữa.
Triều thần, quân sĩ và dân chúng mong muốn đất nước Đại Cồ Việt của dân tộc Việt dũng cảm, dòng giống con rồng cháu tiên, vừa trải qua hơn ngàn năm đau khổ dưới ách thống trị của ngoại bang và hơn hai chục năm tan tác vì loạn sứ quân có một đức vua vừa có tài vừa có đức trị vì.
Đức vua đó chính là Thái tổ Lý Công Uẩn, xuất hiện năm 1010, sáng lập nên triều đại Lý huy hoàng, đưa đất nước ta phát triển trên mọi mặt, đạt những thành tựu rực rỡ và đưa kinh đô của dân tộc về nơi trung tâm trời đất, khai sinh nên kinh đô Thăng Long tức thủ đô Hà Nội ngày nay.
Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp, lộ Bắc Giang nay là làng Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, sinh ngày 17 tháng Hai năm Giáp Tuất niên hiệu Thái Bình thứ 5 đời Đinh Tiên Hoàng tức ngày 8 tháng 3 năm 974. Làng Cổ Pháp xưa gọi là làng Diên Uẩn, do chuyện Đinh Không Thiền sư thời Bắc thuộc đào ruộng lấy đất đắp nền dựng chùa bắt được mười chín chiếc khánh cổ pháp bảo, nên được đổi tên thành Cổ Pháp. Mẹ Lý Công Uẩn họ Phạm, cha không được sử sách ghi rõ tên tuổi (Sử sách chỉ ghi sau khi lên ngôi vua, Lý Thái Tổ đã phong mẹ làm Minh Đức Thái hậu, cha làm Hiển Khánh Vương). Có sách ghi: bà Phạm thị đi chơi chùa Tiêu Sơn, cùng với thần giao hợp rồi có chửa. Lúc ba tuổi, Công Uẩn được mẹ gửi vào chùa Lục Tổ làm con nuôi nhà sư Lý Khánh Vân, được Khánh Vân cho mang họ Lý của mình. Khánh Vân là em Thiền sư Vạn Hạnh, học trò Đức Thiền ông đạo giả ở chùa Lục Tổ. Vạn Hạnh thông minh và hiếu học, tinh thông cả Tam giáo (Nho, Phật, Lão), thuộc lòng kinh sách Tam Tạng (Kinh Tạng, Luật Tạng, Luân Tạng) của Phật giáo, tiên đoán được nhiều chuyện đời, nói ra điều gì, thiên hạ đều coi như sấm ngữ, được các vua đời Đinh, đời Lê rất mực kính trọng, được vua Lê Đại Hành tôn làm Quốc sư. Thiền sư Vạn Hạnh khi gặp con nuôi của em mình, thấy tướng khác lạ, nhận xét: "Cậu bé này là con người phi thường, sau này đến lúc cường tráng tất có thể cứu đời, yên dân, làm minh chủ cả thiên hạ". Thiền sư Khánh Vân biết vậy nên đã dành mọi tâm sức dạy dỗ cho Công Uẩn, không chỉ riêng phần Phật học mà còn mở rộng thêm nhiều đạo học, cả văn lẫn võ. Lý Công Uẩn lúc nhỏ thông minh, chăm học, học đâu nhớ đấy, lớn lên càng tỏ ra thông tuệ, khảng khái, không màng của cải, có ý chí lớn. Mặc dầu thời bấy giờ Phật giáo đang trong giai đoạn phát triển, các nhà sư không những được nhân dân tôn kính, mà cả triều đình và quan lại các lộ cũng rất nể trọng nhưng Lý Công Uẩn tự nhận biết muốn giúp đời cứu nước không chỉ đội áo cà sa, ngày ngày ăn chay niệm kinh, cầu khấn Phật tổ cứu độ cho chúng sinh ngày thường thoát được tội lỗi và khi về bên kia thế giới sẽ không bị đọa đầy ở nơi địa ngục, hoặc thỉnh thoảng đi quyên giáo làm phúc, hoặc ban thuốc lành cho các đệ tử đang lâm nguy trong vòng bệnh hoạn. Lý Công Uẩn đã mạnh dạn tâu lên Phật tổ và cầu xin các Thiền sư Khánh Vân, Vạn Hạnh cho được rời sân Phật, tìm đến kinh đô Hoa Lư, xin được thử tài thử sức kiếm việc ở chốn quan môn. Nhờ Quốc sư Vạn Hạnh giới thiệu, Lý Công Uẩn được sớm lọt mắt Lê Đại Hành. Vua Lê giao cho Lý Công Uẩn công việc hầu hạ giúp đỡ Thái tử Nam Phong Vương Lê Long Việt, con thứ ba rất được yêu quý của nhà vua. Lê Long Việt đang độ thanh niên được Lý Công Uẩn, một trang nam nhi tuấn tú, tinh thông kinh sử, văn hay võ giỏi, tuổi tác tuy còn trẻ nhưng chín chắn, tính tình trung thực cương nghị ngày ngày hết lòng săn sóc nên rất mực hài lòng.
Năm ất Tỵ (1005) vua Lê Đại Hành do tuổi cao bị bệnh mất. Thái tử Long Việt là người kế vị, nhưng ba hoàng tử khác gồm Long Kính, Long Trích, Long Đĩnh lại tranh giành lên ngôi nên lôi kéo triều thần và quân sĩ gây rối loạn, khiến đất nước trong chín tháng liền không vua. Cuối cùng Long Việt giành được thế lên ngôi, nhưng vừa lên ngôi được ba ngày thì bị em ruột cùng mẹ, con thứ 5 của Lê Hoàn là Long Đĩnh sai người vào cung giết chết. Kinh đô Hoa Lư bàng hoàng. Quan lại triều đình và người thân trong phe ủng hộ Long Việt sợ liên lụy hoảng hốt bỏ trốn sạch, chỉ riêng một mình Lý Công Uẩn không bỏ trốn, ngược lại còn đến bên thây Lê Long Việt ôm khóc thảm thiết. Bọn quan quân tay chân của Long Đĩnh hết sức kinh ngạc, tâu xin bắt Công Uẩn giết chết. Long Đĩnh sau khi giết anh toại được lòng tham cướp ngôi, chợt có phút thức tỉnh, cảm phục nghĩa khí của Công Uẩn, bụng muốn thu dùng nên không bắt giết mà còn khen là người có tấm lòng trung nghĩa, đáng được nêu gương, bèn sai làm chủ sự đứng ra lo việc mai táng cho Long Việt, sau đó còn gọi ra ban thêm chức tước để mua chuộc. Lý Công Uẩn được Long Đĩnh đầu tiên phong giữ chức Tứ Sương quân Phó Chỉ huy sứ, sau lại phong Tả Thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, một chức quan võ cao cấp. Mấy lần được phong là mấy lần Lý Công Uẩn trong bụng khá bứt rứt nhưng nghĩ sẽ khó thoát khỏi bàn tay tàn ác của Long Đĩnh nếu bản thân không nhận, bèn cố sức nén chịu, giả bộ phấn khích quỳ lạy tạ ơn.
Long Đĩnh là một ông vua vô cùng tàn bạo. Từ khi ngồi lên ngai vàng không ngày nào là không gây tội ác. Bản thân lại rất dâm đãng vì thế sau khi lên làm vua chưa được bao lâu sức khoẻ đã trở nên suy sụp, trong các buổi chầu đều nằm nghe các triều thần tâu trình vì thế gọi là Ngọa Triều.
Ngọa Triều sống sa đọa và tàn ác đã nhanh chóng huỷ hoại những di sản tốt đẹp do Lê Đại Hành để lại, gây cho dân chúng quân sĩ và cả các triều thần bao nỗi bất bình chán ngán. Bấy giờ ở nhiều nơi trong nước xuất hiện các điềm lạ: Tại chùa ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp có con chó mẹ đẻ một con chó con màu trắng trên lưng có đốm lông đen hình chữ "Thiên Tử"; xung quanh mộ thân phụ Lý Công Uẩn đêm đêm nghe tiếng tụng kinh râm ran; cây đa ở chùa Song Lâm có vết hằn sâu hình chữ "quốc"; cây gạo to giữa làng Cổ Pháp bị sét đánh, vỏ cây bị lột để lộ một bài sấm:
Thụ căn yểu yểu
Mộc biểu thanh thanh
Hoà đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Chấn cung xuất nhật
Đoài cung ẩn tinh
Lục thất niên gian
Thiên hạ thái bình.
Tạm dịch:
Rễ cây thăm thẳm
Vỏ cây xanh xanh
Lúa dao cây đổ
Mười tám con thành
Cung đông nhật mọc
Cung tây sao tàn
Khoảng sáu bảy năm
Thiên hạ thái bình
Theo lối ghép chữ Hán, bài sấm truyền có nghĩa rõ ràng: Ba chữ "hòa" ( ), chữ "đao" ( ), chữ "mộc" ( ) ghép với nhau thành chữ "Lê" ( ), câu thứ ba có nghĩa: Nhà Lê đổ. Câu thứ tư ghép ba chữ "thập" ( ), chữ "bát" ( ), chữ "tử" ( ) sẽ có chữ "Lý" ( ), cả câu có nghĩa: Nhà Lý lên.
Quốc sư Vạn Hạnh sau khi đọc bài thơ sấm, đoán ngay được nghĩa, vội vào kinh đô Hoa Lư nói cho Lý Công Uẩn nghe:
- Gần đây có bài sấm lạ ở quê hương nói vận nhà Lê sắp mất, nhà Lý sắp lên, đất nước sẽ được thái bình thịnh vượng. Trong họ Lý không có ai khoan hòa, nhân hậu, có tài đức và được lòng dân như ông. Nay bần tăng tuổi đã ngoại bảy mươi, sợ không kịp thấy được việc đó, nghĩ mà buồn giận".(1)
Lý Công Uẩn nghe xong, dáng chiều suy nghĩ, sợ câu chuyện lây lan động đến tai vua ắt sẽ mang vạ, bèn vội vàng mời ngay Vạn Hạnh trở lại lộ Bắc Giang, đưa đến ẩn tu trên núi Ba Sơn, đất Tiên Sơn.
Năm Kỷ Dậu (1009), Ngọa Triều chết. Lý Công Uẩn cùng Hữu Điện tiền Chỉ huy sứ Nguyễn Đề đưa 500 quân Tuỳ Long vào cung canh giữ. Trước đó lúc Ngọa Triều ốm nặng sắp mất, trong Nội quan có Chi hậu Đào Cam Mộc, một con người tinh tường nhiều việc, gặp Công Uẩn đưa lời nói khích:
- Chúa thượng (Ngọa Triều) tâm trí u tối, ương ngạnh, làm nhiều điều bất nghĩa. Trời đã chán cái đức của Chúa Thượng rồi nên không sống lâu được nữa. Con nối ngôi thì còn nhỏ chưa đảm đương được nhiều việc khó khăn phiền phức. Trăm quan không có chỗ nương tựa, hạ dân mong muốn có vị chân chúa. Sao Thân Vệ không nhân lúc này theo dấu thuở xưa vua Thang(2)), vua Võ(3)), hoặc gần đây họ Dương(4)), họ Lê(5) để làm,trên thuận ý trời, dưới hợp lòng dân mà còn bo bo giữ theo thói thường nhỏ mọn?
Lý Công Uẩn sợ mắc mưu gian, vội quát:
- Sao ông dám ăn nói như vậy, ta tất phải bắt ông trình phán quan!
Đào Cam Mộc không chút sợ hãi, chậm rãi thưa tiếp:
- Tôi thấy thiên thời, lòng người như thế mới dám nói, nay ngài đưa tôi trình phán quan, chắc tôi không tránh khỏi cái chết.
Công Uẩn nghe nói vậy, cảm thấy Cam Mộc có ý tôn phù mình, bèn nói:
- Ta không nhẫn tâm tố cáo ông, chỉ sợ nói lộ ra thì đều chết cả.
Cam Mộc lại nói:
- Người trong nước đều nói họ Lý đáng lên thay họ Lê, sấm đồ đã xuất hiện không thể che dấu được. Chuyển họa thành phúc là đúng lúc này vậy, Thân Vệ còn nghi ngờ nữa sao?
Công Uẩn vội hỏi:
- Ta xem chí ông cùng với Quốc sư Vạn Hạnh không khác nhau. Nếu thực như thế thì kế phải làm sao?
Cam Mộc đáp:
- Nay trăm họ mỏi mệt, dân không chịu nổi mệnh lệnh. Nếu Thân Vệ lấy ân đức vỗ về, trăm họ tất cùng nhau mà theo về, cũng như nước chảy xuống chỗ thấp ai mà ngăn được.
Mấy ngày sau, khi Ngọa Triều vừa chết, lợi dụng lúc trăm quan đang phân vân trước việc con của Ngọa Triều còn bé, vừa chưa thể nương tựa vừa lo sợ máu ác của Ngọa Triều di truyền gây hại và nhân lúc Lý Công Uẩn đang cầm quân Tuỳ Long đóng trong nội điện, Đào Cam Mộc liền hội các quan trong triều lại rồi nói:
- Nay là lúc ức triệu người đã có lòng khác, trên dưới đều xa lìa nhân đức, người người oán giận chính sách hà khắc bạo ngược của Tiên vương (Ngọa Triều) nên không muốn theo về tự quân nữa. Hết thảy mọi người đều có ý tôn cử Thân Vệ lên thay. Chúng ta nếu không nhân lúc này mà lập Thân Vệ lên ngôi Thiên tử, lỡ ra bất chợt có biến thì tất cả còn giữ được không?
Đào Cam Mộc nói xong, trăm quan đều nhất tề mời Lý Công Uẩn lên chính điện lập làm Thiên Tử, dập đầu tung hô "Vạn tuế".
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế tháng 11 năm Kỷ Dậu, tức tháng 1 năm 1010, xưng hiệu là Thái Tổ, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Lý Thái Tổ ngay sau khi lên ngôi lập tức ra lệnh đốt bỏ hết mọi dụng cụ tra tấn và phương tiện tiêu khiển dã man của Ngọa Triều, thả hết số tù tội, trước khi thả cho cấp đủ áo quần, nới lỏng nhiều luật lệ kìm kẹp đối với dân chúng, cất nhắc phong thêm quan tước cho những người có tài đức có công và một số người trong gia tộc. Đào Cam Mộc có công lớn trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi được phong làm Nghĩa Tín hầu và được kết hôn cùng con gái lớn của nhà vua là An Quốc công chúa. Trần Cảo được phong làm Tướng Công, Ngô Đinh làm Xu Mật sứ, Đào Thạc Phụ làm Thái Bảo, Đặng Văn Hiếu làm Thái Phó, Bùi Xa Lỗi làm Tả Kim ngô, Đàm Thản làm Tả Võ vệ, Đỗ Giám làm Hữu Võ vệ...
Lý Thái Tổ nghĩ nhiều về nơi định đô. Kinh đô Hoa Lư do Đinh Tiên Hoàng đế lập nên từng tồn tại 42 năm dưới hai triều đại Đinh, Lê vốn là vùng đất đẹp, có nhiều lợi thế, giữa là vùng đồng bằng tuy hẹp nhưng bằng phẳng, xung quanh là hàng loạt núi đá vòng cung, cảnh quan rất hùng vĩ: phía trước núi Mã Yên như bức tường thành án ngự, phía đông có núi Cột Cờ, phía đông nam có Ghềnh Tháp, mỏm núi thấp nhô sát Ngòi Sào Khê chảy qua Hang Luồn (Xuyên Thuỷ Động) là nơi tập luyện thuỷ quân tiện lợi, lưng chừng núi có Động An Tiên, ngoài ra còn có Hang Muối, Hang Tiền nơi cất giữ quân lương lý tưởng, rồi Hang Quèn và gần đó là Đấu Long Quân, một thung lũng khá rộng rất tiện cho việc tập luyện quân bộ; bên phía tây có đường Thượng Đạo thông vào Thanh Hoa hoặc ra mạn Bắc; phía bắc có sông Hoàng Long chảy thông ra sông Đáy, từ đó nhập vào hệ thống sông Nhị Hà có thể dễ dàng đi ra biển hoặc toả ra vùng đồng bằng hay ngược lên miền núi. Tuy mới được lập thành kinh đô trong vòng bốn thập kỷ nhưng cung điện, đền đài, miếu mạo đã từng từng lớp lớp, lộng lẫy nguy nga: nào điện Bách Bảo Thiên Tuế nơi vua coi chầu ở trên núi Đại Vân, toàn bộ cột lớn cột nhỏ đều dát vàng dát bạc, nào điện Phong Lưu ở bên đông, điện Tử Hoa ở bên tây, điện Bồng Lai bên tả, điện Cực Lạc bên hữu, trong nội cung có điện Trường Xuân nơi vua ngủ tĩnh lặng nên thơ, gần đấy là hai điện Càn Nguyên và Long Lộc mái ngói toàn bằng bạc trắng uy nghi đường bệ. Bên ngoài thành nội là hàng loạt dinh thự của các quan lại, mái ngói đỏ chen lẫn, hoà quyện trong màu xanh của cây cỏ bạt ngàn.
Hoa Lư đẹp như một bức tranh hoành tráng, đủ sông, đủ núi, đủ đồng bằng nhưng Hoa Lư chật hẹp chỉ thích hợp cho một vị trí phòng ngự lợi hại mà thiếu yếu tố đứng ở nơi trung tâm trời đất, từ đấy có thể phóng tầm mắt nhìn rộng được bốn phương, đoán định được sự an nguy của đất nước, nhanh chóng huy động được sức tài, của cải của toàn thiên hạ hướng đến một sự nghiệp lớn, lâu dài, xây dựng một quốc gia phồn vinh, cường thịnh.
Lý Công Uẩn nghĩ về quê hương Bắc Giang yêu quý với các đô thành Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) và Long Biên (gần Thị xã Bắc Ninh ngày nay) đã có từ mấy trăm năm trước, từng là lỵ sở đô hộ của nhiều triều đại phương Bắc. Luy Lâu và Long Biên tuy ở giữa vùng đồng bằng, phía bắc có dãy Nham Biền - Cửu thập cửu phong (99 ngọn núi) lừng lững ngang trời che chắn nhưng với trí thông minh tuyệt vời, nhà vua nhanh chóng nhận ra trên nhiều phương diện có tính chiến lược, các đô thành quê hương đều không đáp ứng được.
Lý Công Uẩn nghĩ đến thành Đại La, nơi vừa có thành luỹ kiên cố vừa là đất đô hội bậc nhất nằm giữa vùng đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu, sông ngòi chi chít, dân cư đông đúc, giao thông thuỷ bộ thuận lợi; vòng ngoài trên các mặt bắc, đông bắc, tây bắc, tây, tây nam nhưng dãy núi trùng điệp vòng cung bao bọc tạo nên bức trường thành vô cùng kiên cố; gần hơn bên mạn bắc, tây bắc có dãy Tam Đảo, bên mạn tây có dãy Ba Vì sừng sững ôm che và các dòng sông Bắc Giang (tức sông Thiên Đức hay sông Đuống), Nguyệt Đức (sông Cầu), Nhị Hà trải dài bên mạn bắc, mạn đông, sông Đáy bên mạn nam, sông Nhuệ bên mạn tây tạo thành những hào thiên nhiên sâu rộng chắn giữ. Nơi đây đúng là "nơi trung tâm của trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi".
Nhà vua nghĩ kỹ, ra chiều quyết định, bèn tự tay viết chiếu:
"Ngày xưa, đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam Đại theo ý riêng mình mà tự tiện di chuyển. Làm như thế chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương Chu, cố đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau xót vì việc đó không thể không dời đô. Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương(*), ở nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi Nam, Bắc, Đông, Tây lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muốn đời .
Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?"(**).
Giữa triều đình, khi chiếu vừa tuyên đọc xong, văn võ bá quan liền thưa: "Bệ hạ vì thiên hạ lập kế lâu dài, trên cho nghiệp đế được thành, dưới cho dân chúng được giàu, điều lợi lớn lao như thế, không ai là người không theo". Thưa xong, tất cả nhất loạt tung hô "Vạn tuế".
Theo kế hoạch đã định, tháng bảy mùa Thu năm Canh Tuất (1010), việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La được thi hành. Nhà vua ngồi trên thuyền ngự cùng đoàn thuyền tuỳ tùng và các quan đại thần rời sông Hoàng Long đi vào sông Đáy, vượt qua sông Châu, vào sông Nhị rồi ngược dòng Nhị Hà tiến về phía thành Đại La. Từ xa, vua Lý Thái Tổ nhìn về kinh đô mới, chợt thấy trong đám mây nơi chân thành hình dáng một con rồng vàng đang bay lên. Nhà vua hết sức vui mừng, cho là điềm lành, liền nhân cớ đó đặt ngay tên cho kinh đô mới là Thăng long (rồng bay lên).
Đến kinh đô mới, Lý Thái Tổ ban bố lệnh xá thuế ba năm liền cho cho toàn dân, đồng thời xoá hết mọi khoản thuế còn nợ của dân trong các năm trước, quy định ai có việc gì oan trái muốn khiếu kiện hoặc kêu oan được đến tận triều đình để tâu bày, nhà vua sẽ đích thân đứng ra xem xét, phân xử. Lý Thái Tổ còn dành thời gian đi các nơi thăm nom dân tình, ban tiền lụa cho các bậc kỳ lão... Tấm lòng nhân ái của nhà vua thấm đượm khắp thiên hạ, những người nghèo khổ thoát được bao cảnh tội đồ, roi vọt vì thiếu nợ thuế, chấm dứt cảnh phải lìa bỏ quê cha đất tổ do quanh năm làm ăn vất vả mà thóc tiền không đủ nộp tô, nộp thuế và lao dịch nặng nề, không đủ đáp ứng cho bọn tham quan ô lại, cường hào ác bá. Tấm lòng nhân ái cao cả của Lý Thái Tổ không chỉ thể hiện lúc mới lên ngôi mà sau này trong nhiều lần gặp những năm mất mùa đói kém nhà vua đã ban bố lệnh miễn xoá thuế, lúc cả năm lúc nửa năm, năm Bính Thìn (1016) lại một lần nữa xá thuế 3 năm liền. Năm Tân Dậu (1021) nhân ngày sinh nhật, nhà vua mở tiết Thiên Thanh, kết trúc làm núi Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi tạo đủ hình chim bay thú chạy hết sức kỳ lạ, rồi ban yến để bầy tôi mua vui nhưng sau đó thấy lễ tiết trên gây nhiều nỗi nhọc nhằn cho dân, tốn kém cho công quỹ nên năm sau đã cương quyết bãi bỏ.
Lý Công Uẩn ngay từ sau ngày lên ngôi đến tận khi mất đã quan tâm củng cố, chỉnh đốn quốc gia trên nhiều mặt.
Nhà vua cho chia lại các đơn vị hành chính, đổi 10 đạo cũ thành 24 lộ mới, dưới lộ là phủ, huyện, hương, giáp, đổi Hoa Lư thành phủ Tràng An, đổi ái Châu, Hoan Châu thành trại, tăng thêm sự quan tâm đối với các phiên trại biên giới phía Nam, đổi châu Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức, đổi sông Bắc Giang thành sông Thiên Đức, củng cố và tăng thêm quyền lực của triều đình tạo thành bộ máy nhà nước trung ương tập quyền mạnh.
Nhà vua thường xuyên chăm lo phát triển kinh tế văn hóa, định chế độ thuế khóa rõ ràng để cho dân chúng yên tâm sản xuất. Thuế được đánh theo 6 loại: thuế ruộng đất đầm ao, thuế tiền thóc về bãi dâu, thuế sản vật núi rừng, thuế muối, thuế gỗ và hoa quả đầu nguồn, thuế đối với các sản vật quý: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hương liệu. Năm Nhâm Tý (1012) nhà vua ngự giá xem bơi chải ở sông Phú Lương (sông Hồng), từ đấy bơi chải trở thành môn thể thao văn hoá được tổ chức hàng năm và phát triển ở nhiều lộ phủ. Năm Kỷ Mùi (1019) nhà vua cho dựng nhà Thái Miếu ở lăng Thiên Đức, long trọng tôn vinh các bậc tiên tổ, phát huy sâu sắc truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt: uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Lý Thái Tổ vốn xuất thân cửa Phật vì vậy sau khi lên ngôi, đạo Phật được hết sức coi trọng, được nâng lên thành quốc giáo. Dân chúng được khuyến khích thờ Phật và đi tu. Chùa chiền được xây dựng mới hoặc tu sửa lại. Nhiều chùa đúc thêm chuông, tạc thêm tượng, dựng thêm bia. Những quả chuông treo ở chùa Đại Giáo, chùa Hưng Thiện, chùa Thắng Nghiêm, lầu Ngũ Phượng được đúc dưới thời Lý Thái Tổ là những quả chuông lớn, kỹ xảo công phu, nổi tiếng tới hàng trăm năm sau. Trên các tấm bia, triều đình và nhà chùa ca ngợi công lao to lớn của các bậc anh hùng hào kiệt đối với đất nước quê hương, của các vị chân tu đối với đạo với đời. Các Thiền sư Vạn Hạnh, Khánh Vân được tôn lên hàng Quốc sư, cố vấn cho nhà vua nhiều công việc lớn lao của quốc gia. Năm Mậu Ngọ (1018) Lý Thái Tổ sai Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Học sang nhà Tống xin kinh Tam Tạng. Hai năm sau, đoàn sứ bộ đưa được kinh về nước, nhà vua sai sao chép thành nhiều bản giao cho các nhà sư truyền bá rộng rãi trong dân chúng. Nhờ vậy tinh thần vị tha, bác ái, nhân đạo của đạo Phật lại thêm cơ hội thấm sâu trong tâm linh và đạo đức của mọi tầng lớp nhân dân.
Lý Thái Tổ đặc biệt quan tâm chăm lo củng cố binh bị, giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc bờ cõi đất nước. Nhà vua cho phiên chế lại quân đội, định rõ tổ chức nhỏ nhất đồng thời cũng gắn bó nhất với người lính là giáp gồm 15 người do một quản giáp chỉ huy, trên quản giáp là chính thủ... Các con trai đều được phong vương và đều được giao trực tiếp cầm quân. Theo hầu vua có hai đội Tả hữu Túc xa, mỗi đội 500 quân. Bản thân nhà vua cũng tự mình làm tướng cầm quân đi đánh dẹp giặc giã nhiều phen: Năm Tân Hợi (1011) nhà vua đi dẹp loạn Cử Long ở Thanh Hoa bắt được tên đầu sỏ khiến giặc tan; năm Nhâm Tý (1012) dẹp loạn ở Diễn Châu, năm Quý Sửu (1013) đánh dẹp Hà Trắc Tuấn, châu mục người thiểu số ở Vị Long (Hà Giang). Năm Giáp Dần (1014) tướng Nam Chiếu là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn quân sang đánh phá cướp bóc vùng châu Bình Lâm (nay thuộc tỉnh Hà Giang), nhà vua sai con là Dực Thánh Vương đem quân đánh đuổi, giết chết hàng vạn, bắt sống rất nhiều người ngựa.
Năm ất Mão (1015) Hà Trắc Tuấn lại nổi loạn, nhà vua sai hai con là Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương đem quân đánh dẹp, bắt sống đem về kinh chém bêu đầu. Năm Giáp Tý (1024) có loạn ở châu Phong và châu Đô Kim (nay thuộc tỉnh Tuyên Quang), Khai Thiên Vương Phật Mã và Khai Quốc Vương Bồ phải cất quân đánh dẹp. Năm Đinh Mão, dân thiểu số ở châu Thất Nguyên (nay là Thất Khê, Lạng Sơn) và Văn Châu (nay là Văn Uyên, Lạng Sơn) làm phản, Khai Thiên Vương Phật Mã và Đông Chinh Vương Lực phải chia quân hai đạo đi đánh dẹp, các bộ lạc sau đó mới chịu thần phục. Trong điều kiện đất nước mới bước đầu thống nhất, các thế lực phản loạn và các bộ lạc dân tộc thiểu số vẫn đang nuôi ý đồ cát cứ, các thế lực ngoại xâm đang lăm le xâm chiếm cướp phá, những võ công của Lý Công Uẩn và các con tuy không nổi lên một cách hiển hách nhưng đã mang lại hiệu quả to lớn giữ vững chủ quyền ở những nơi biên cương xa xôi, đưa non sông thống nhất một mối, xây dựng quốc gia thành một nhà nước phong kiến tập quyền mạnh.
Đối với các nước láng giềng, Lý Công Uẩn luôn muốn tìm cách sống hòa bình nhưng khi cần thiết phải dùng sức mạnh để đối phó, nhà vua cũng đã tỏ ra rất kiên quyết. Bấy giờ trên biên cương phía bắc, nhà Tống đang phải lo đối phó với nước Liêu của người Khiết Đan ở miền Bắc Trung Quốc thường xuyên đem quân uy hiếp. Lý Công Uẩn nắm được tình hình đó, nhưng để tạo mối bang giao, ngay khi vừa mới lên ngôi tuy công việc dời kinh đô còn hết sức bộn bề, nhà vua vẫn cử ngay một đoàn sứ bộ giao cho Viên ngoại lang Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm cầm đầu sang Tống giao hảo. Sang năm sau (1011) Lý Công Uẩn lại cử Viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Văn mang sản vật phương Nam sang biếu tặng. Triều đình Tống mua chuộc Đào Khánh Văn ở lại Đông Kinh, kinh đô Tống, tính kế xử dụng vào âm mưu xấu. Vua Lý nghe tin cử người sang gặp Tống Chân Tông đòi bằng được Đào Khánh Văn, vua Tống muốn giữ nhưng không giữ được, đành phải trao trả, Khánh Văn bị bắt đưa về nước, bị xử tội đánh chết. Năm Nhâm Tuất (1022) người Đại Nguyên Lịch trên đất Tống sang quấy nhiễu ở biên giới. Nhà vua sai con là Dực Thánh Vương đưa quân lên đánh, đuổi đến tận trại Như Hồng ở phía tây Khâm Châu (đất Tống), thiêu đốt sạch đạn dược lương thảo của địch, xong xuôi mới chịu rút quân về nước.
ở biên giới phía Nam, người Chiêm Thành lúc đầu muốn hòa hảo, nên năm 1011, ngay sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi chưa lâu, đã sai sứ mang sư tử (cá sấu) sang biếu tặng, nhưng đến năm Canh Thân (1020) lại mang quân cướp phá châu Hoan. Vua Lý phải sai Khai Thiên Vương Phật Mã và Thái Bảo Đào Thạc Phụ đem quân đi đánh, vào sâu trong đất Chiêm, giết chết tướng Chiêm là Bố Linh, bấy giờ người Chiêm Thành mới chịu yên. Người Chân Lạp tuy ở xa nhưng nghe tiếng Đại Cồ Việt hùng mạnh nên đã thường xuyên sai sứ sang biếu tặng sản vật quý, mong giữ quan hệ giao hảo.
Quốc gia Đại Cồ Việt những năm cuối đời Lý Thái Tổ là một quốc gia có biên cương vững chắc, quốc thổ thống nhất, chính trị ổn định, kinh tế văn hoá phát triển.
Lý Thái Tổ làm vua 19 năm, mất ngày 31 tháng 3 năm 1028 (tức ngày 1 tháng 3 năm Mậu Thìn) thọ 54 tuổi, khởi nghiệp nên nhà Lý gồm 9 đời vua: Lý Thái Tổ (1010 - 1028), Lý Thái Tông (1028 - 1054), Lý Thánh Tông (1054 - 1072), Lý Nhân Tông (1072 - 1127), Lý Thần Tông (1128 - 1138), Lý Anh Tông (1138 - 1175), Lý Cao Tông (1176 - 1210), Lý Huệ Tông (1210 - 1225), Lý Chiêu Hoàng (1225), tồn tại tổng cộng 215 năm.
Đánh giá về Lý Thái Tổ sử sách và nhân dân ca ngợi nhưng có lẽ vì khởi nghiệp của nhà vua không thật đặc sắc, lại không có những chiến công lẫy lừng, thêm vào đó nhà vua vốn xuất thân cửa Phật, khi làm vua quan tâm nhiều việc mở mang Phật giáo, nên có một số sử gia Nho giáo và nhiều người trong các thế hệ đánh giá chưa thật đúng mức về Người.
Thật ra Lý Thái Tổ không chỉ là ông vua nhân hậu, có công sáng lập nên triều Lý vững mạnh và dài lâu mà hơn thế rất nhiều, Lý Thái Tổ đã có công lao hết sức to lớn tổ chức lại quốc gia, củng cố lại đất nước trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị đến quân sự, từ ngoại giao đến nội trị, từ kinh tế đến văn hoá xã hội, đưa tình trạng đất nước trước đó trong các triều đại Đinh, Lê mặc dầu trên danh nghĩa là một quốc gia độc lập nhưng còn manh mún, phân tán, nhất là đối với các vùng biên cương hẻo lánh xa xôi hiệu lực cai quản của triều đình còn rất hạn chế, nhiều lĩnh vực hoạt động của quốc gia chỉ mới trong giai đoạn phôi thai, trở thành một quốc gia thống nhất thật sự với một chế độ tập quyền trung ương mạnh, có kỷ cương nhất quán, tạo nền móng hết sức quan trọng để sau đó trong các đời con, cháu, chắt: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông đưa quốc gia Đại Việt thành một quốc gia hùng cường bậc nhất trong lịch sử dân tộc.
Với trí thông minh tuyệt vời và tầm nhìn hết sức rộng lớn, Lý Thái Tổ đã chọn chính xác vùng đất lý tưởng để xây dựng kinh đô, trung tâm của đất nước, quả tim lớn của dân tộc. Lý Thái Tổ đã chọn đúng, chọn đẹp đất đóng đô, khiến bao đời sau từng có những người con thông tuệ bậc nhất của dân tộc cũng phải khâm phục và ít ai dám có ý khác, kể cả bọn xâm lược ngoại bang.
Những công lao đó của Lý Công Uẩn đối với quốc gia dân tộc phải được đánh giá là những công lao vĩ đại. Và Thái tổ Lý Công Uẩn xứng đáng được ca ngợi là một trong những vị vua lỗi lạc, kiệt xuất bậc nhất của dân tộc Việt Nam.
==============
* Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất, mang cầm tinh con chó. Năm Canh Tuất (1010), cầm tinh con chó, Lý Công Uẩn lên ngôi.
* Tức mộ Hiển Khánh Vương.
(1) Thật ra Quốc sư Vạn Hạnh còn sống đến năm ất Sửu (1025) mới mất.
(2) Thành Thang (Trung Quốc) năm 1766 TCN diệt vua Kiệt nhà Hạ tàn bạo nổi tiếng, lập nên nhà Thương.
(3) ) Võ Vương (Trung Quốc) năm 1122 TCN buộc vua Trụ nhà Ân cực kỳ tàn ác phải tự thiêu, lập nên nhà Chu.
(4) ) Chỉ Dương Tam Kha, người cướp ngôi của cháu là Ngô Xương Ngập, con Ngô Quyền.
(5) Chỉ Lê Đại Hành.
(*) Chỉ Cao Biền
(**) Chiếu dời đô - Bản dịch theo "Thơ văn Lý, Trần" (tập I).