📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Sống mãi với Thăng Long-Hà Nội 🔒

25 trả lời, 3.402 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-08 08:57:59tieuboingoan>
Sống mãi với Thăng Long-Hà Nội

Đặng Duy Phúc

Nhà xuất bản Hà Nội - 2002

Lời nói đầu





Thăng Long - Hà Nội, Thủ đô thân yêu và vinh quang của chúng ta sắp tròn 1.000 năm tuổi, một tuổi thọ mà trên thế giới này không mấy thủ đô có được.
Để chào mừng sự kiện lịch sử mang ý nghĩa hết sức trọng đại đó, với tất cả tấm lòng, tôi mong muốn được viết thêm vấn đề gì đó - dù rất nhỏ - trong muôn vàn những vấn đề to lớn và vô cùng phong phú của Thủ đô.
Tôi nghĩ nhiều về con người, nhân tố mang tính quyết định cho sự trường tồn của vùng đất thiêng liêng này - sự trường tồn không chỉ một ngàn năm kể từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư đến Đại La và lập nên kinh đô Thăng Long, mà là cả bốn ngàn năm kể từ khi vùng đất này còn mang tên hương Long Đỗ và từ những ngày "cậu bé kỳ vĩ" Phù Đổng Thiên Vương xuất hiện trên quê hương Phù Đổng (nay là xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội) giúp vua Hùng đánh giặc giữ nước. Sự trường tồn đó cũng đã để lại dấu ấn hết sức rực rỡ khi cách đây hơn 2.200 năm, Thục An Dương Vương (257TCN - 207TCN) xây dựng nên kinh đô Cổ Loa lừng danh mà ngày nay dấu vết thành xưa còn trông rõ trên đất Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội.

Thật hạnh phúc cho tôi, được dùng ngòi bút của mình ca ngợi những con người đã làm nên lịch sử - lịch sử của vùng đất thiêng liêng này và trong mức độ đáng kể cũng chính là lịch sử của đất nước - những người không chỉ được sinh ra trên nơi đây từng lập nên những sự nghiệp lớn lao, mà còn cả với những người vốn quê hương không phải ở đây nhưng đã đem hết tài năng, tâm sức lập nên những công trạng bất hủ trên chính vùng đất được coi là quê hương thứ hai này của mình. Những con người lỗi lạc đó đã và đang sống mãi với thời gian, sống mãi với Thăng Long - Hà Nội!
Sau con người, phần tiếp theo là những công trình - những công trình được tạo dựng bởi chính những người con tài hoa, thông minh và cần cù, từng sinh ra và lớn lên trên vùng đất này cũng như bởi những người con ưu tú của các vùng đất khác đã từng yêu mến nơi đây như chính quê hương mình - qua thử thách khắc nghiệt của thời gian đã và đang sống mãi.
Tôi đã cố gắng đọc nhiều, quan sát thực địa, nghiên cứu và suy ngẫm nhiều những tài liệu, tư liệu và những câu chuyện được tiếp cận, những thứ mà trong chừng mực không nhỏ không phải đều thống nhất. Thực ra thì làm sao có thể hoàn toàn thống nhất được, khi thời gian nhiều sự kiện xẩy ra đã quá xa dưới con mắt của nhiều người với quan điểm khác nhau, sinh sống trong những thời điểm xa gần khác nhau. Ngay với những vấn đề, những sự kiện đang diễn ra trước mắt ta, với những con người đang sống trong cùng một thời đại mà nào đã dễ gì có được sự nhận định thống nhất !
Với ý thức nghiêm cẩn nhưng không cầu toàn, tôi mạnh dạn viết những gì mà tôi trân trọng và yêu mến.
Xin giới thiệu cùng bạn đọc quý mến và rất mong được đón nhận những góp ý quý báu của quý vị.
Cũng nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các tác giả đã có nhưng tài liệu viết trước và đến tất cả quý vị đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi viết nên tập sách này.

Xuân Nhâm Ngọ - 2002
Đặng Duy Phúc




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Phần I


Thuở đất nước buổi bình minh



Long đỗ - Rốn rồng, vùng đất rồng ẩn



Cách đây bốn ngàn năm, vào thời các vua tổ Hùng Vương dựng nước đóng đô ở Phong Châu (nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ), vùng đất Thủ đô Hà Nội trù phú ngày nay tuy còn là một vùng đầm lầy và rừng rậm hết sức hoang vu nhưng tại đây cũng đã có người Việt cổ sinh sống. Điều này được chứng tỏ qua nhiều bằng chứng khảo cổ học. ở Văn Điển, ở Triều Khúc (đều thuộc huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội), ở Cổ Loa (thuộc huyện Đông Anh) đã tìm thấy nhiều di vật cổ của nền văn hóa Phùng Nguyên thuộc giai đoạn đầu thời đại đồng thau, có niên đại cách ngày nay 3500 đến 4000 năm; ở Đông Hội, ở Dục Tú (đều thuộc huyện Đông Anh) đã thu lượm được các di vật cổ của nền văn hóa Đồng Đậu thuộc giai đoạn giữa thời đại đồng thau, cách đây 3000 đến 3500 năm; ở Vĩnh Quỳnh (thuộc huyện Thanh Trì), ở Trung Mầu (thuộc huyện Gia lâm ) đã đào thấy các di vật cổ của nền văn hóa Gò Mun thuộc giai đoạn cuối thời đại đồng thau, có niên đại 2500 đến 3000 năm về trước. Trống đồng được xếp trong nền văn hóa Đông Sơn có niên đại cách đây 2000 đến 2500 năm, không chỉ được tìm thấy ở vùng thành Cổ Loa cổ xưa nổi tiếng, ở Dục Tú, ở Vĩnh Quỳnh, ở Trung Mầu trên các vùng ngoại thành, mà còn được phát hiện ngay tại Ngọc Hà, một phường thuộc quận Ba Đình, quận trung tâm Hà Nội ngày nay.
Vào thời các vua Hùng, vùng trung tâm Hà Nội bây giờ có tên gọi là hương Long Đỗ, động Lâm ấp. Bấy giờ bên phía tây động Lâm ấp có động Già La (nay là Quán La, Xuân La, huyện Từ Liêm), bên phía đông có động Nha Lâm (nay là vùng Yên Ninh, Hòe Nhai, đông bắc quận Ba Đình), phía bắc giáp sông Hồng (thời đó Hồ Tây chưa hình thành, vùng bờ nam Hồ Tây ngày nay bấy giờ gọi là bến Lâm ấp), phía nam là động Bình Sa (thời Lý đổi thành giáp Cơ Xá, nay là dải đất phía đông quận Hoàn Kiếm). Gọi là Long Đỗ (Rốn rồng) vì tương truyền trên đỉnh núi Nùng, nằm ngay trung tâm hương có lỗ một đường xuyên thông từ đỉnh xuống tận sâu trong lòng núi trông giống như rốn con rồng. Với cách nhìn nhận cái lỗ trên đỉnh núi Nùng là rốn rồng, vùng đất trải dài bên phía đông từ Trúc Bạch đến Yên Ninh, Yên Quang nằm theo thế rồng chầu, những gò đất Châu Long, Châu Phụ là những viên châu ngọc rồng phun, kể cả hòn đảo nhỏ Nhược Châu Chử (hiện nằm ở phía tây bắc hồ Trúc Bạch, trước đây trên đó có miếu thờ Thần Chó Con (Miếu Cẩu Nhi) và nay trên nền miếu cũ có một nhà bia mới dựng, ghi lại sự tích xưa) cũng là viên ngọc châu do rồng nước phun ra tạo thành, thì vùng đất này dường như đã được ám chỉ rằng chính đây là vùng đất của rồng, vùng rồng ẩn. Có lẽ đã nghe nói nhiều đến cái tên Long Đỗ và hiểu khá sâu sắc về vùng đất rồng ẩn, rồng cuộn này, cũng như trong tâm tưởng luôn luôn nghĩ đến những con rồng ở nơi đây nên Đức vua tài ba Thái Tổ Lý Công Uẩn năm 1010 khi dời kinh đô đất nước từ Hoa Lư ra Đại La, ngồi trên thuyền ngự, từ xa nhìn về kinh đô mới chợt thấy một đám mây vàng nơi chân thành đang cuồn cuộn bay lên, đã liên tưởng, cho đó là Rồng vàng bay lên và lấy việc rồng bay lên (thăng long) đặt tên cho kinh đô mới: Thăng Long.
Rất tiếc là núi Nùng nay không còn nữa, do đó nhân dân ngày nay không còn có cơ hội được tận mắt nhìn thấy rốn rồng và đắm mình suy ngẫm các chuyện xưa. Núi Nùng xưa ở khu vực doanh trại bộ đội cạnh đường Hoàng Diệu đối diện với Đài Liệt sĩ và núi Khán, một ngọn núi tương tự với núi Nùng cùng nằm trong hương Long Đỗ, xưa nằm xế trước cổng Phủ Chủ tịch bây giờ. Cuối thế kỷ 19, bọn thực dân Pháp đã sai lính và dân phu san phẳng nhằm lấy đất lập trại lính, xây phủ Toàn quyền và mở đường. Nhiều người trước đây thường lầm tưởng quả núi đất nhỏ trong vườn Bách Thảo cạnh Hồ Tây là núi Nùng hoặc núi Khán nhưng thực ra đó là núi Sưa, tên chữ là Sư Sơn hoặc Xuân Sơn (ngày trước cây sưa thân cứng như lim mọc đầy ở trên núi), nằm trong địa phận làng Xuân Sơn xưa.






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Vua Rồng và truyền thuyết về nguồn gốc hồ tây


Hồ Tây, một hồ nước mênh mông rộng 526 hec-ta, nằm ở phía bắc Hà Nội là một thắng cảnh tuyệt đẹp của Thủ đô. Thời các vua Hùng nơi đây là bến Lâm ấp sau gọi là Đầm Xác Cáo, Hồ Kim Ngưu (Hồ Trâu Vàng) tiếp sau nữa gọi là Lãng Bạc (Hồ Sóng), thời Lý được đổi thành Dâm Đàm (Đầm Sương Mù), thời Lê đổi thành Tây Hồ, những năm Trịnh Tạc làm chúa (1652 - 1682) lấy hiệu là Tây Vương, Tây Hồ bị đổi thành Đoái Hồ, Trịnh Tạc chết, hồ lấy lại tên cũ Tây Hồ, còn nhân dân thì thường gọi hồ là Hồ Tây; về nguồn gốc, từ xa xưa đã được nhân dân truyền kể trong câu chuyện huyền thoại rất đẹp gắn bó với Đức Vua Tổ có nguồn gốc từ rồng.
Chuyện kể rằng: Ngày xửa ngày xưa giữa vùng rừng núi hết sức hoang vu nơi đây có một ngọn núi cao, trên đó có con cáo chín đuôi (cửu vĩ hồ tinh) nhờ hàng ngàn năm tu luyện, biến được thành tinh phép thuật hết sức lợi hại. Cáo chín đuôi lòng dạ độc ác, đã dùng mọi thủ đoạn biến hóa xảo quyệt, bắt đi nhiều nam thanh nữ tú, trẻ con hiền lành thơ ngây, đưa về hang sâu trên núi, hành lạc và ăn thịt. Nhân dân trong vùng hợp sức tìm cách tiêu diệt nhưng không sao đối địch nổi với cáo chín đuôi. Tang tóc đau thương do cáo chín đuôi gây ra chồng chất không sao kể xiết. Dân chúng không còn cách nào để tự vệ, bèn cử người xuôi theo dòng sông Hồng, tìm đường ra biển gặp Đức vua Lạc Long Quân, tâu bày sự tình, kêu xin Đức vua ra tay cứu vớt. Đức vua Lạc Long Quân là con Kinh Dương Vương, vua nước Xích Quỷ, vốn dòng giống rồng, lấy vợ là bà Âu Cơ tức công chúa Nguyệt Tiên con gái vua Đế Lai, vốn dòng giống tiên, đẻ được một bọc trứng, trứng nở thành một trăm người con trai; vì rồng và tiên ở với nhau lâu không hợp nên về sau năm mươi người theo mẹ lên núi Phong Sơn, năm mươi người theo cha ra biển Nam Hải, phá núi lấp biển xây dựng cơ đồ. Lạc Long Quân nghe kêu xin, thương con dân mình bị tàn hại, bèn lệnh cho dân chúng di dời ra xa và dâng nước biển lên làm ngập chìm cả vùng, nhấn chết chìm cáo chín đuôi đang ẩn dưới đáy hang sâu. Để trừ tiệt vĩnh viễn cáo chín đuôi, Lạc Long Quân sau đó quyết định giữ nguyên lượng nước đã dâng không rút về biển và vì vậy vùng đất này mãi ngập chìm dưới nước. Từ đó nhân dân gọi vùng hồ nước này là Đầm Xác Cáo. Đầm Xác Cáo chính là Hồ Tây ngày nay. Để giữ kỷ niệm xưa, nhiều cánh đồng và thôn xóm quanh hồ từ rất lâu đã mang những tên gọi gợi nhớ về một thời cáo chín đuôi - hồ tinh gây hại đã bị giết: cánh đồng Hồ Đỗng (hang cáo), làng Cáo (tức làng Xuân Đỉnh), Hồ Thôn, Hồ Khẩu... Cách đây không lâu, Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định đặt tên hai con đường lớn bao bọc Hồ Tây hai bên phía đông bắc, tây bắc là đường Âu Cơ và đường Lạc Long Quân. Đó vừa là sự biểu hiện lòng biết ơn hai vị Thuỷ tổ thiêng liêng của dân tộc, vừa như phảng phất gợi nhớ tới hình ảnh kỳ vĩ của vị vua rồng, vị cứu tinh bất diệt trong câu chuyện huyền thoại hấp dẫn từng được nhân dân truyền tụng trong hàng mấy ngàn năm nay về nguồn gốc Hồ Tây .
Về nguồn gốc Hồ Tây còn có nhiều huyền thoại thú vị khác, đáng kể có câu chuyện dẫn tới việc hồ mang tên là Hồ Kim Ngưu.
Chuyện kể rằng: Ngày xửa ngày xưa ở nước ta có ông Khổng Lồ thân thể cao lớn, sức khỏe muôn người khôn địch. Ông Khổng Lồ xuất gia làm thiền sư, thường ngày tay chống một cây gậy sắt, vai đeo một túi nải nâu, lần lượt đi hết vùng này đến vùng nọ để khuyến giáo, quyên góp đồng nhằm đúc tượng Phật và chuông đồng. Ông đã đi khắp nước Nam, thu gom được rất nhiều đồng nhưng vẫn chưa cho rằng đã đủ. Ông bèn lên kinh đô xin Đức vua cho được sang phương Bắc tiếp tục khuyến giáo thu gom. Sang Bắc, ông tìm đến kinh đô Tràng An xin yết kiến nhà vua Trung Quốc. Vua Trung Quốc thấy ông Khổng Lồ to cao, kỳ dị, rất lấy làm lạ hỏi:
- Thiền sư từ đâu tới và xin gặp Trẫm có việc gì?
Ông Khổng Lồ vừa thưa vừa chỉ vào túi nải đeo bên mình:
- Bần tăng từ nước Việt ở phương Nam tới, xin Bệ hạ cho một ít thỏi đồng để đưa về nước đúc thêm tượng, thêm chuông nhằm mở mang thêm đạo Phật.
Vua Trung Quốc vốn là người sùng đạo Phật nhìn vào cái túi chẳng có gì to đeo bên mình nhà sư, mỉm cười nói thoải mái:
- Thiền sư xin một túi chứ cả trăm túi Trẫm cũng sẵn sàng.
Nói đoạn, nhà vua liền sai quan dẫn ông Khổng Lồ đến nhà kho, sai quân lính mở cửa cho ông Khổng Lồ vào và để tự do cho ông nhặt đồng bỏ vào túi mà chẳng cần giám sát. Ông Khổng Lồ nhặt một lúc, được một túi đầy, bèn dùng gậy sắt quẩy lên vai trở về nước. Quan quân giữ kho thấy ông Khổng Lồ chỉ quẩy một túi đồng sau vai, trông chẳng có vẻ gì là nặng, nghĩ chẳng có gì phải xem xét, bèn đóng cửa kho rồi đi về nhà. Hôm sau quan coi kho đến làm việc, như thường lệ sai lính mở cửa để đi soát xét một lượt, nhìn vào khu vực chứa đồng đen thấy nhẵn sạch trơn, bèn hốt hoảng chạy vào cung tâu lên nhà vua. Vua Trung Quốc lập tức sai quân lính đuổi theo bắt giữ ông Khổng Lồ. Bấy giờ ông Khổng Lồ đã đi đến bờ bắc sông Trường Giang, ngoảnh lại phía sau thấy bụi cát bốc lên mù mịt, biết rằng vua Trung Quốc đang cho quân lính đuổi theo bắt giữ mình, bèn không đợi tìm thuyền qua sông mà lấy ngay chiếc nón thúng đang đội trên đầu thả xuống nước, đặt túi đồng lên trên rồi vừa bơi vừa đẩy nón xuôi theo dòng sông ra biển, sau đó men theo ven biển tìm đường về quê hương. Về đến kinh đô, ông Khổng Lồ vào chầu vua, tâu kể hết mọi sự tình. Nhà vua hết sức khen ngợi, bèn giao cho ông đem hết số đồng đưa từ phương bắc về gộp cùng số đồng đã thu gom trong nước trước đây, đúc thành bốn thứ bảo khí nhà Phật: tượng Phật cao 6 trượng, chóp đỉnh tháp Báo Thiên 12 tầng, đỉnh đồng đường kính rộng 10 sải tay và một quả chuông đồng cực lớn. Chuông đúc xong, ông Khổng Lồ liền mời Đức vua đến ngự lãm và cho lệnh khởi đánh. Nhà vua lệnh cho ông Khổng Lồ dùng dùi là một cây gỗ lớn đánh một hồi chuông dài báo cho trăm họ biết được tin vui và mừng cho đất nước thái bình thịnh trị. Tiếng chuông dóng lên ầm vang bốn cõi. Trăm họ hân hoan kéo nhau ra đường rồi cùng nhau tụ hội ở các đình làng reo hò nhảy múa đón mừng sự kiện đặc biệt hiếm có. Tiếng chuông ngân vang tận đến kinh đô Trung Quốc. Nghe tiếng chuông, con trâu vàng to lớn nằm trước kho đồng của nhà vua Trung Quốc tự nhiên bừng tỉnh dậy, ngỡ là tiếng mẹ gọi - đồng đen là mẹ vàng - bèn vươn mình phóng thẳng một mạch xuống phương Nam, tìm đến quả chuông khổng lồ, quần mãi xung quanh. Trâu vàng quẩn quanh tìm mẹ mãi không thấy, cứ quần mãi, quần mãi khiến cho cả một vùng đất lớn xung quanh quả chuông sụt xuống thành một vùng vực sâu. Quả chuông sau đó do đất lở cũng tụt xuống vực. Trâu vàng cũng theo đó nhảy xuống và nằm bên cạnh quả chuông. Bấy giờ sấm chớp bỗng nổi lên, trời mưa to như trút nước, chẳng bao lâu sau, vùng đất bị trâu vàng dẫm sụt, nước tràn đầy trải rộng thành một hồ nước mênh mông. Quả chuông từ đấy nằm mãi dưới lòng hồ không ai trục vớt lên nổi và trâu vàng vẫn cứ nằm mãi bên cạnh quả chuông dưới đáy nước mà không quay về lại phương Bắc. Từ đấy nhân dân đặt tên cho hồ nước đó là hồ Kim Ngưu (Trâu Vàng). Ông Khổng Lồ tức Thiền sư Minh Không về sau được thợ đúc đồng Ngũ Xã của kinh đô Thăng Long tôn thờ làm Tổ sư nghề đúc đồng (Ngũ Xã nay ở phía đông nam hồ Trúc Bạch, thuộc phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội). Trên đất Ngũ Xã hiện còn đình và chùa. Đình thờ Tổ sư Minh Không, có tượng Tổ sư bằng gỗ cao 1,7m. Chùa thờ Phật, có pho tượng A-Di-Đà bằng đồng cao 3,95m, chu vi 11,6m nặng 10 tấn, nếu kể cả tòa sen thì tượng cao 5,5m nặng 12 tấn. Đây là pho tượng đồng lớn thứ hai nước ta hiện nay, sau pho tượng Trần Hưng Đạo ở thành phố Nam Định vừa mới được đúc trong năm 2000.

Về con trâu vàng, còn có truyền thuyết kể tiếp: Hễ ai sinh được mười người con trai thì có thể đứng ở bờ hồ vỗ tay làm hiệu, trâu vàng sẽ từ đáy hồ chạy lên bờ để người đó dắt về nhà. Một hôm có một người đàn ông lớn tuổi đến bên bờ hồ vỗ tay làm hiệu. Trâu vàng từ giữa hồ ngoi lên khỏi mặt nước, lội nhanh vào bờ để cho người đàn ông nọ xỏ dây vào mũi dắt về nhà. Đang trên đường đi, bỗng nhiên trâu vàng lồng lên, giật đứt dây, quay đầu chạy chui vào một cái hang gần bên đường. Mọi người xung quanh hết sức ngạc nhiên, hỏi kỹ mới rõ người đàn ông nọ tuy có mười người con trai nhưng chỉ có chín người là con đẻ, người còn lại là con nuôi. Nhân dân sau đó đã lập đền thờ Trâu Vàng gọi là đền Kim Ngưu ở gần nơi có cái hang nọ, tại làng Tây Hồ, bên phía đông Hồ Tây.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-14 07:46:13tieuboingoan>
Cậu bé kỳ vĩ đất Phù Đổng



Nước ta thời kỳ Hùng Vương dựng nước tên gọi là nước Văn Lang. Nước Văn Lang gồm 15 bộ(*) trong mấy trăm năm đầu nhờ các bậc vua hiền trị vì nên đất nước được cường thịnh, nhân dân được yên vui hạnh phúc. Đến đời vua Hùng Vương thứ sáu hiệu là Hùng Huy Vương, do tính tình nhu nhược nên việc nước bị bê trễ, quốc gia mỗi ngày mỗi suy yếu. Bấy giờ ở phương Bắc, nhà Thương - Ân (1766 TCN - 1122TCN) do Thái Giáp cháu của Thành Thang (vua khởi nghiệp nhà Thương, người đã đứng lên đánh đổ vua Kiệt, ông vua cực kỳ tàn bạo cuối đời nhà Hạ) đang trị vì Trung Quốc. Thái Giáp có Y Doãn, một công thần nổi tiếng giúp rập, muốn mở mang bờ cõi xuống phương Nam, đã phái Thạch Linh, một võ tướng khét tiếng mang mấy vạn quân xuống đánh nước Văn Lang. Nước Văn Lang lúc đó do công việc binh bị chểnh mảng, quân tướng lâu ngày chẳng luyện tập nên mấy lần nhà vua sai các lạc tướng đem quân đi chặn giặc là mấy lần bị bại trận. Các bộ ở phía bắc như Bình Văn, Lục Hải lần lượt bị rơi vào tay giặc. Thạch Linh bắt đầu tiến quân đến Vũ Ninh. Kinh đô Phong Châu bị uy hiếp nghiêm trọng - Bấy giờ có Lý Tiến, nhà bên bờ sông Tô Lịch thuộc bộ Giao Chỉ nghe tin giặc ác đưa quân lấn chiếm bờ cõi, đã tập hợp trai tráng trong vùng, tổ chức thành đội ngũ, gắng sức luyện tập cung kiếm rồi xin nhà vua cho đưa quân đi cự giặc. Lý Tiến đánh nhau nhiều trận với Thạch Linh ở phía bắc Vũ Ninh, tinh thần chiến đấu hết sức dũng cảm nhưng do quân sĩ mới tập hợp, số lượng quân ít nên không thể chống lại với quân giặc vừa đông vừa quen chiến trận.

Cuối cùng Lý Tiến bị thương nặng, phải lui về Tô Lịch và hy sinh ngay tại quê hương. Vua Hùng nghe tin Lý Tiến thúc thủ, hết sức lo lắng bèn sai sứ giả tỏa đi các nơi truyền rao tìm kiếm người tài ra giúp cứu nước.

Chuyện xưa kể rằng : Bấy giờ ở làng Phù Đổng tức làng Gióng thuộc bộ Vũ Ninh (nay là thôn Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội ) có một cậu bé lên ba, từ khi mẹ là Thánh Nương (Nàng Thánh) sinh ra chẳng nói chẳng rằng, nhưng khi nghe tin sứ giả nhà vua đi truyền rao tìm người tài, thì liền thưa với mẹ nhờ mời sứ giả đến nhà để xin được nói chuyện. Gặp sứ giả, cậu bé nhờ tâu lên nhà vua xin đúc cho một con ngựa sắt, một chiếc nón sắt và một cây roi sắt, hứa sau khi được vua ban sẽ đánh thắng quân giặc. Sứ giả về kinh tâu với nhà vua, vua và quần thần đều hết sức kinh ngạc, nhiều người cho đó là chuyện dối trá không thể tin, nhưng thế nước đang lúc hiểm nguy, nhà vua đành liều thử chiều theo ý cậu bé. Ngựa , nón và roi sắt vừa rèn đúc xong, sứ giả bèn cùng quân lính mang đến đất Phù Đổng cho cậu bé. Nhà vua đồng thời phong cho cậu bé làm Bắc bình phá lỗ tướng quân, sai cầm quân cấp tốc đi đánh giặc Ân. Nhận được các thứ vua ban, cậu bé hết sức mừng rỡ, liền vươn vai đứng dậy, tự nhiên biến thành một chàng trai cực kỳ cao lớn, to khoẻ. Chàng trai lấy nón sắt đội lên đầu, tay cầm roi sắt, nhảy phắt lên lưng ngựa quất mạnh, ngựa sắt bỗng lồng lên phía trước, đưa chàng trai đến trước hàng quân rồi cùng quân lính tiến thẳng lên phía quân giặc đang đóng dưới chân núi Trâu Sơn(**) thuộc bộ Vũ Ninh. Nhân dân khắp vùng bấy giờ do căm thù giặc đã tự trang bị lấy khí giới, hăng hái đi theo chàng trai làng Gióng đánh giặc. Chàng trai đi vào trận địa giặc Ân, miệng thét to như sấm rền, một tay lấy nón sắt làm mộc, một tay vung mạnh roi sắt đánh xuống đầu quân giặc như đi vào chỗ không người, quân giặc bị chết như rạ. Giặc Ân thấy cảnh tượng đó, kinh hãi run lên như cầy sấy, kêu thét lên rằng gặp phải tướng Nhà Trời, liền hò nhau vứt bỏ khí giới, quay đầu tháo chạy thục mạng. Chàng trai cùng quân Nam truy đuổi, nửa chừng roi sắt bị gãy, nhân thấy bụi tre ngà bên đường, bèn giơ tay nhổ bật cả gốc lẫn rễ, vung lên truy quét tiếp tục. Quân giặc bị đại bại. Những tên may mắn thoát chết, liều chạy một mạch cút thẳng về bên kia biên giới, không hề dám mảy may ngoái cổ. Đánh thắng xong giặc, chàng trai không trở về làng và cũng không đến kinh đô lĩnh thưởng mà phóng thẳng lên núi Vệ Linh (tức núi Sóc Sơn thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội), đến đỉnh thì người và ngựa đều biến mất. Nhân dân lúc bấy giờ đều cho rằng đó là người của Nhà Trời đầu thai xuống hạ giới giúp vua Hùng và nhân dân Lạc Việt đánh giặc giữ nước, bèn tôn làm Thánh Gióng và lập đền thờ ở chân núi Vệ Linh, nơi chàng trai hiển thánh.

Vua Hùng nghe tin thắng trận hết sức vui mừng, nhưng khi nghe tiếp chuyện cậu bé phi ngựa lên núi biến mất thì hết sức luyến tiếc. Nhà vua bèn sắc phong cho cậu bé làm Đổng Thiên Thần, sai lập đền thờ ở quê hương Phù Đổng, hàng năm tế lễ trọng thể. Đến thời Lý, vua Lý Thái Tổ gia phong làm Đổng Thiên Vương tức Phù Đổng Thiên Vương, giao cúng tế theo nghi thức quốc lễ.

Trên thực tế, ở chân núi Vệ Linh, nay thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội đã có đền thờ Thánh Gióng từ lâu đời. Đền được gọi tên là đền Sóc Sơn hoặc đền Vệ Linh. Trải qua thời gian hàng ngàn năm đền hỏng đi hỏng lại, làm đi làm lại nhiều lần. Đền hiện nay mới được xây dựng lại cách đây chưa lâu trên khu vực nền đền cũ, lưng tựa núi, mặt trông thẳng ra hồ nước rộng, hai bên núi đồi trùng điệp, đang là một thắng cảnh của huyện Sóc Sơn và của thành phố Hà Nội. Hàng năm vào ngày mồng 5 tháng Giêng âm lịch, nhân dân Sóc Sơn mở hội cúng tế trọng thể, nhân dân khắp nơi đến dự rất đông vui. Đền thờ ở Phù Đổng gọi là đền Phù Đổng, đền Thánh Gióng hay đền Thượng. Tại đây trong khu di tích Phù Đổng còn có đền Hạ, tức đền Mẫu thờ bà mẹ của Thánh Gióng. Tại đền Phù Đổng hiện còn lưu giữ được nhiều đạo sắc phong từ đời Lê, đời Nguyễn Tây Sơn và nhiều tế khí có từ lâu đời. Hội Gióng ở Phù Đổng hàng năm được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng Tư âm lịch, ngày Phù Đổng Thiên Vương hiển thánh về trời. Lễ hội được tổ chức trọng thể, linh đình, bởi thế nên từ lâu đã có câu ca:

Ai ơi mồng Chín tháng Tư
Không đi hội Gióng cũng hư cả đời.


Chuyện Phù Đổng Thiên Vương rõ ràng không thể là chuyện chính xác hoàn toàn, mà làm sao có thể chính xác khi dân tộc ta chưa có chữ viết và hai, ba ngàn năm sau mới có những sử gia qua thu thập sưu tầm những câu chuyện truyền miệng ghi lại thành chuyện trong sử sách. Nhưng không thể cho rằng đó là câu chuyện huyền thoại hư cấu hoàn toàn. Nhà Ân xưa ở phương Bắc là có thật, chỉ có điều khoảng thời vua Hùng thứ 6, đó là nhà Thương (1766 TCN - 1401 TCN) tiền thân của nhà Ân (1401 TCN - 1122 TCN), nhân dân ta do đó gọi giặc Thương là giặc Ân - Việc giặc Ân - Thương xâm lược nước Văn Lang, vua Hùng sai sứ đi tìm mgười tài và đến đất Phù Đổng, bộ Võ Ninh gặp người tài giỏi như mong muốn chắc là chuyện có thật. Có điều cậu bé ba tuổi làng Phù Đổng bỗng vươn vai thành người cao lớn rồi cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc rõ ràng là câu chuyện phóng đại. Có thể bấy giờ ở làng Phù Đổng có một chàng trai ít nói, sức khoẻ hơn người, vâng theo lời rao truyền, đã xung phong đầu quân giết giặc, được vua ban cho một cây côn sắt, một chiếc nón chiến bọc sắt kiểu chiếc mộc và một con tuấn mã màu sắt nâu, dẫn đầu đoàn quân, đánh giặc hết sức dũng mãnh, khiến cho giặc Ân phải thảm bại, cuối cùng buộc phải tháo chạy về nước, còn chàng trai sau khi đánh thắng giặc tự cho mình đã đền được nợ nước, bản thân không muốn vướng vào đường danh lợi nên đã không trở lại nhà vì nếu trở lại nhà thì thật cũng khó lòng thoát khỏi cảnh mời nài của vua và triều đình, cuối cùng quyết định đi vào vùng núi hoang vu mai danh ẩn tích sống một cuộc đời bình thường. Nhân dân quê nhà và cả nước do quá ngưỡng vọng chàng trai tài giỏi từng lập nên chiến công phi thường đã thần bí hóa câu chuyện nghe tưởng như là huyền thoại. Qua nhân vật cậu bé kỳ vĩ làng Phù Đổng, nhân dân đất Việt đời đời như muốn khẳng định đất nước ta thời nào cũng có người tài giỏi, hễ giặc đến nhà thì già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà đều một lòng quyết đánh quyết thắng quân giặc và những con người tài giỏi chân chính thực sự, những bậc thánh của đời thường xưa nay đều luôn coi nghĩa vụ đối với nước với dân là trọng, còn vinh hoa phú quý chỉ là những áng phù vân, càng tránh xa được bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.

Lời kể thêm: ở Hà Nội, đền thờ Phù Đổng Thiên Vương không chỉ có ở quê hương Phù Đổng, ở làng Vệ Linh, xã Phù Linh dưới chân núi Sóc Sơn, nơi Thánh Gióng hiển thánh về trời, mà còn có ở làng Xuân Tảo, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, gần bên bờ Hồ Tây. Đền thờ ở Xuân Đỉnh gọi là đền Sóc, cũng là một ngôi đền có lịch sử lâu đời. Tương truyền Thánh Gióng khi xưa dẫn quân đi đánh giặc Ân đã dừng chân nghỉ trên Gò Con Phượng tại đây. Dân làng Cáo bấy giờ đã nấu cơm và mang cà Cáo đặc sản địa phương dâng lên cho Thánh Gióng. Sau khi nghe tin Thánh Gióng đánh tan giặc Ân, hiển thánh về trời, nhân dân làng Cáo nhớ ơn Người, đã lập đền thờ ngay tại Gò Con Phượng. Thời nhà Lý, vua và các quan đại thần hàng năm vào ngày mồng 7 tháng Giêng (âm lịch) đến tế lễ trọng thể tại đền. Từ đó hàng năm ngày 7 tháng Giêng (âm lịch) trở thành ngày hội lớn của nhân dân vùng phía tây Hồ Tây.

====================

(*)15 bộ gồm: Văn Lang (vùng Phú Thọ, nam Tuyên Quang, bắc Vĩnh Yên ngày nay), Giao Chỉ (vùng Hà Đông, nam Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình), Chu Diên (vùng nam Vĩnh Yên, Phúc Yên), Vũ Ninh (vùng bắc Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang), Phúc Lộc (vùng Sơn Tây, Hòa Bình), Tân Hưng (vùng Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La), Ninh Hải (vùng Quảng Ninh, Quảng Đông thuộc Trung Quốc), Vũ Định (vùng Thái Nguyên, Bắc Cạn, bắc Tuyên Quang), Lục Hải (vùng Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Tây thuộc Trung Quốc), Bình Văn (vùng Hồ Nam thuộc Trung Quốc), Dương Tuyền (vùng Hải Dương, Hải Phòng), Cửu Chân (Thanh Hóa), Hoài Hoan (Nghệ An), Cửu Đức (Hà Tĩnh), Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế).
(**) Trâu Sơn nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Kiệt tác thành cổ loa
và đức vua anh hùng lâm thảm nạn



Những năm đầu thế kỷ thứ III trước Công nguyên, triều đại Hùng Vương bước vào giai đoạn suy thoái. Bấy giờ bộ tộc Âu Việt ở phía bắc nước Văn Lang do thủ lĩnh Thục Phán cầm đầu đang trong giai đoạn phát triển. Năm 257 TCN, Thục Phán có các tướng Cao Lỗ, Nồi hầu, Lạc hầu, Đinh Toàn ... giúp sức đã đưa quân đánh chiếm kinh đô Phong Châu, lật đổ triều đại Hùng Vương, thống nhất hai bộ tộc Âu Việt, Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc và xưng hiệu là Thục An Dương Vương. Thục An Dương Vương thấy kinh đô Phong Châu ở nơi sơn địa, khó tạo bề phát triển, bèn quyết định dời đô về đồng bằng, chọn đất Kẻ Chủ tức Chạ Chủ, tên chữ là Phong Khê (nay là xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội), nơi dân cư đông đúc, có địa thế lợi hại, làm nơi xây dựng kinh đô mới. Vùng đất đầu tiên thuộc Hà Nội được vinh dự chọn là kinh đô của đất nước chính là từ đấy.
Thục An Dương Vương quyết định xây thành Cổ Loa đảm bảo vừa là trung tâm chính trị hành chính của quốc gia, vừa là căn cứ quân sự hùng mạnh có khả năng bảo vệ vững chắc sự tồn hưng của đất nước.
Thành Cổ Loa trải qua hơn 2200 năm lịch sử, vượt qua biết bao sự tàn phá ác liệt của thiên nhiên và con người- tiếc thay đến nay vẫn chưa hết bị tàn phá - đang sừng sững ở mạn bắc Thủ đô, trên vùng bờ bắc sông Hồng, cách cầu Thăng Long - cây cầu thế kỷ - chưa đầy 6 km, vẫn còn dư sức để chứng minh đầu óc thông thái, bàn tay tài hoa, ý chí kiên cường của Thục An Dương Vương và nhân dân Âu Lạc. Thành được xây trên một khu đất cao bên tả ngạn sông Thiếp tức Hoàng Giang hay Ngũ Huyện Khê, xưa kia vốn là một nhánh sông quan trọng nối liền sông Hồng với sông Cầu, sông Lục Đầu ...
Tương truyền thành xưa được xây quanh có chín lớp hình xoáy trôn ốc (do vậy nên được gọi là thành ốc hay Loa Thành), ngày nay vẫn còn ba vòng thành rất rõ: vòng trong cùng hình chữ nhật, chu vi dài 1km6, xưa kia là Cấm Thành, bao quanh Điện Ngự triều, nơi vua hội họp với quần thần và cung thất của nhà vua; vòng giữa hình vỏ nghêu dài 6km5 bao quanh khu vực dành cho quan lại và kho tàng, vòng thành ngoài hình tròn dài 8 km bao quanh khu doanh trại và khu luyện tập của quân lính. Thành bằng đất, chân thành nhiều đoạn được kè đá, phía ngoài có hào sâu và rộng, xưa kia thuyền bè đi lại dễ dàng. Trên mặt thành đắp nhiều ụ đất cao nhô ra phía ngoài để làm vọng canh và công sự phòng ngự. Chiều cao trung bình của thành hiện khoảng 4m đến 5m, có chỗ cao tới 10m đến 12m, chân thành rộng khoảng 20m đến 30m, mặt thành rộng từ 6m đến 12m. Tài thao lược kiệt xuất của vua Thục còn thể hiện ở chỗ tất cả các hào được nối liền với nhau và nối với Hoàng Giang thành một hệ thống đường thuỷ liền với Đầm Cả rộng mênh mông, có thể cùng lúc đậu được hàng trăm thuyền chiến, cũng như nối thông tiện lợi với những con sông lớn trong vùng. Với tính năng đa dạng cả bộ lẫn thuỷ, thành Cổ Loa đảm bảo vừa là một thành luỹ bộ binh vững chắc vừa là một căn cứ thuỷ quân thuận tiện. Việc xây dựng một ngôi thành bề thế như vậy trên một vùng đất nhiều sông ngòi, đầm lầy chắc chắn là rất khó, nhiều đoạn phải đắp đi đắp lại, xây lên đổ xuống nhiều lần nhưng cuối cùng thành vẫn được xây xong vững chắc và kiên cố - không chỉ vững chãi trong mấy chục năm triều đại Thục mà còn vững chãi trong hàng mấy ngàn năm - đã thể hiện ý chí sắt đá và tài năng kiệt xuất của Thục An Dương Vương, các tướng sĩ và nhân dân Âu Lạc. Nhân dân kính phục, kẻ thù kinh ngạc trước một công trình kiệt tác mà từ hàng ngàn năm trước đó cho đến bấy giờ chưa hề thấy và vì thế kỳ tích xây dựng thành Cổ Loa đã được thần bí hóa thành câu chuyện thần thoại. Chuyện thần thoại về thành Cổ Loa từng được ghi trong chính sử và truyền tụng trong dân gian rằng:
Thành Cổ Loa hễ cứ đắp xong lại bị sụt lở, đắp đi đắp lại nhiều lần vẫn không sao trụ vững. Vua Thục hết sức lo lắng, bèn lập đàn cúng trời đất và các vị thần linh, xin trời đất và các vị thần linh phù hộ. Cúng xong, tối đến nhà vua nằm mơ gặp một vị thần đến đứng trước cửa thành chỉ vào thành mà bảo rằng:
- Muốn đắp xong thành, ngày mai đợi gặp Giang sứ hỏi sẽ rõ.
Sáng sớm hôm sau nhà vua mặc lễ phục, trịnh trọng cùng các quan tuỳ tòng bước ra khỏi cổng thành nhìn xuống phía dưới mặt sông Hoàng Giang, đứng đợi. Một lúc sau, bỗng thấy dưới mặt sông có một con Rùa vàng đang từ phía xa bơi lại. Nhà vua lên tiếng chào, lập tức từ dưới sông nghe tiếng Rùa vàng phát nên tiếng người đáp lại. Nhà vua bèn sai quan đưa mâm vàng rước rùa vàng lên mâm rồi cùng mình đi về chính điện. Nhà vua hỏi Rùa vàng tức thần Kim Quy về nguyên nhân khiến thành bị sụt lở. Rùa vàng đáp:
- Lý do là vì tinh khí núi sông vùng này bị hồn thiêng của con vua thuở trước làm vẩn đục nhằm trả thù. Nó nấp ở núi Thất Diệu. Tại ngọn núi đó có một con quỷ vốn là hồn của người con hát thuở trước chết chôn ở đấy hóa thành. Hư khí của quỷ hiện thành con gà trắng và ám vào người con gái, con chủ quán cạnh núi. Ai đi qua đấy, ngủ đêm tại quán đều bị chết vì quỷ ám. Chúng thường gọi nhau họp thành đàn thành lũ, phá phách chỗ này chỗ nọ. Nếu giết được được con gà trắng để diệt bỏ tinh khí lũ quỷ, thành chẳng còn lo bị đổ.
Nhà vua nghe nói vậy bèn nhờ Rùa vàng cùng đi với mình, cải trang thành người khách qua đường đến quán nọ xin ngủ trọ.
Chủ quán nhìn nhà vua thấy dáng vẻ đĩnh đạc, cho rằng đây là một người hiền, không nỡ để gặp nạn, bèn nói:
- Ngài là bậc quý nhân, xin đi đến nơi khác nghỉ, kẻo mắc nạn.
Nhà vua cười mà rằng:
- Sống chết đều do mệnh trời, lo gì nạn do bọn ma quỷ.
Đêm đó, nhà vua ngủ lại tại quán. Đến nửa đêm, nghe tiếng lũ quỷ đứng bên ngoài gọi mở cửa, Rùa vàng bèn lên tiếng quát mắng và dùng pháp thuật ngăn chặn, khiến lũ quỷ không sao vào được. Đến gần sáng khi nghe tiếng gà gáy, bọn quỷ đành bỏ về trên núi. Rùa vàng xin vua đuổi theo chúng. Nhà vua bèn cùng Rùa vàng truy đuổi. Đến lưng chừng núi thì tinh khí lũ quỷ biến mất. Vua và Rùa vàng liền quay lại quán. Chủ quán nghĩ bụng người khách trọ đêm qua chắc đã chết, bèn gọi gia nhân mở cửa buồng trọ đưa xác đi chôn cất, không ngờ vừa mở cửa vào thì thấy nhà vua vẫn vui vẻ cười nói như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Ông ta kinh ngạc sụp lạy mà thưa:
- Ngài được bình yên vô sự như thế này chắc hẳn ngài là bậc thánh nhân.
Vua bèn nói với chủ quán mua con gà trắng giết để tế lễ. Gà trắng chết, con gái của chủ quán cũng chết theo. Vua liền sai người lên núi Thất Diệu đến lưng chừng núi, nơi sáng sớm lũ quỷ lúc bị đuổi biến mất, đào tìm thấy ở đó có nhạc khí cổ và xương người. Vua sai đốt thành tro rồi đổ xuống sông. Yêu khí từ đó mất hẳn. Việc xây đắp thành từ đó trở nên thuận lợi, nhanh chóng.Chẳng bao lâu sau, thành được đắp xong, Rùa vàng liền từ biệt Đức vua. Đức vua hết sức cảm tạ Thần Rùa. Trước lúc chia tay, Đức vua còn gặng hỏi:
- Nếu sau này giặc dữ đến đánh phá có cách nào chống giữ tốt nhất, xin thần mách bảo.
Rùa vàng liền rút một chiếc móng của mình, đưa cho nhà vua và nói:
- Nước yên hay nguy đều do trời định. Vạn nhất giặc dữ có đến thì dùng chiếc móng này làm lẫy nỏ rồi nhằm thẳng quân giặc mà bắn, chắc chắn giặc dữ sẽ tan.
Vua tận tay nhận chiếc móng, lần nữa cảm tạ rồi tiễn thần Rùa ra sông bơi về phía đông. Sau đó vua giao cho tướng Cao Lỗ chế nỏ thần, lấy móng Rùa vàng làm lẫy, đặt tên nỏ là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ. Nhờ có nỏ thần nên khi Triệu Đà, vua nước láng giềng phương Bắc nhiều lần hùng hổ đưa đại quân đánh thành Cổ Loa xâm lăng Âu Lạc, đều bị Thục An Dương Vương đánh bại.



Lại nói về Thục An Dương Vương:
Khi Thục An Dương Vương lên làm vua ở Âu Lạc thì ở phương Bắc đang ở giai đoạn cuối thời Chiến Quốc (475 TCN - 221 TCN). Năm 246 TCN, Tần Doanh Chính Thái tử nước Tần mới 13 tuổi được lập làm Tần Vương kế tục ngai vàng của cha là Trang Tương Vương. Tuy làm vua nhưng mọi việc của quốc gia đều do Tướng quốc Lã Bất Vi giải quyết. Mãi tới năm 237 TCN, Tần Doanh Chính tròn 22 tuổi mới thật sự tự mình chấp chính. Chỉ sau mấy năm tự chấp chính, năm 230 TCN, Doanh Chính đưa quân diệt nước Hàn, năm 228 TCN diệt nước Triệu, năm 225 TCN diệt Ngụy, năm 223 TCN diệt hai nước Sở và Yên, năm 221 TCN diệt nốt Tề, quốc gia cuối cùng trong Thất Hùng của thời Chiến Quốc ở Trung Quốc. Cũng chính vào năm 221 TCN, Doanh Chính tự xưng là hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc tức Tần Thuỷ Hoàng đế. Với tham vọng muốn làm bá chủ khắp thiên hạ, Tần Thuỷ Hoàng sau khi đã nắm trọn Trung Quốc, năm 218 TCN sai Hiệu uý Đồ Thư đem mấy chục vạn quân xuống phương Nam đánh chiếm các nước Bách Việt. Quân Tần đã chiếm cứ một vùng rộng lớn, thành lập nên ba quận mới: Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Bắc và Đông Quảng Tây), Tượng Lâm (Nam Quý Châu, Tây Quảng Tây). Đồ Thư khi đưa quân xuống sâu vào trong đất Âu Lạc đã bị Thục An Dương Vương và quân dân Âu Lạc dựa vào rừng núi hiểm trở, chặn đánh dữ dội. Hàng vạn tên quân Tần và ngay cả chủ tướng giặc Đồ Thư cũng đã bị giết chết. Nước Âu Lạc thoát hiểm, ngoài một phần đất bị chiếm, cơ bản đã không bị rơi vào ách kìm kẹp của Tần. Lý Ông Trọng, một tướng giỏi người đất Chèm (nay thuộc xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội) sau đó đó được Thục An Dương Vương cử đi sứ sang Tần nhằm cải thiện quan hệ. Nhưng số phận trớ trêu vẫn không buông tha quốc gia Âu Lạc. Mới yên với quân Tần được mấy năm thì lại gặp ngay nạn Triệu Đà.
Triệu Đà vốn một viên quan của nhà Tần, được Tần Thuỷ Hoàng giao trấn trị tại quận Nam Hải mới thành lập. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng chết (năm 210 TCN), triều Tần lâm vào thoái trào. Lợi dụng tình hình đó, Triệu Đà bèn mưu hùng cứ phương Nam. Sau khi chiếm thêm hai quận Quế Lâm và Tượng Quận, Triệu Đà quyết định bành trướng sang Âu Lạc, liền đưa quân xuống tây nam đánh chiếm kinh đô Cổ Loa. Nhờ kinh nghiệm chiến đấu trong những năm chống quân Tần, đặc biệt là nhờ thành Cổ Loa được xây dựng kiên cố, lại có vũ khí nỏ thần liên châu, cùng lúc bắn được nhiều mũi tên khá lợi hại nên Triệu Đà dù quân đông tướng đông vẫn không sao đánh chiếm được kinh đô Âu Lạc, và mỗi lần đem quân đánh Âu Lạc là mỗi lần thất bại nặng nề. Không cam tâm từ bỏ mưu đồ bành trướng, năm 208 TCN Triệu Đà giả bộ hòa hiếu, cho con là Trọng Thuỷ sang Âu Lạc cầu hôn xin được lấy công chúa Mỵ Châu, con gái của Thục An Dương Vương. Vua Thục mong được sống hòa bình, mất cảnh giác không nghe lời can ngăn của các tướng đã chấp nhận lời cầu hôn của họ Triệu, cho Trọng Thuỷ được lấy Mỵ Châu và ở rể tại kinh đô Cổ Loa. Các tướng Cao Lỗ, Nồi hầu trong bụng vốn sẵn nghi ngờ ý đồ của Triệu Đà đã tìm mọi cách giám sát các hoạt động của Trọng Thủy. Trọng Thuỷ được cha giao nhiệm vụ do thám thành Cổ Loa, bí mật của nỏ thần liên châu và nội tình quân Thục, thấy các tướng Cao Lỗ, Nồi hầu luôn để mắt tới mình, tự nghĩ sẽ rất khó hoàn thành nhiệm vụ cha giao, nên đã dùng lời ngon ngọt qua Mỵ Châu nói xấu, chia rẽ Cao Lỗ, Nồi hầu với vua Thục. Cuối cùng Cao Lỗ, Nồi hầu và một số người thân của hai ông buộc phải bỏ chức về quê. Không còn người giám sát, Trọng Thuỷ đã nhanh chóng dò xét nắm được tình hình bố phòng của thành Loa, bí mật của nỏ thần liên châu và nhiều vấn đề quan trọng khác của quân Thục. Sau gần một năm ở rể, dò nắm được nhiều điều cha dặn, Trọng Thuỷ vờ kêu nhớ nhà, xin được về thăm cha mẹ và người thân ở Nam Hải. Trước khi lên đường, Trọng Thuỷ hỏi Mỵ Châu:
- Tình nghĩa vợ chồng giữa hai ta hết sức sâu nặng, chẳng thể nào quên. Sau này lỡ giữa hai nước có chuyện bất hòa thì làm sao ta tìm được nàng?
Mỵ Châu bịn rịn đáp:
- Thiếp có chiếc áo được kết bằng lông ngỗng, đi đâu thiếp cũng mang theo bên mình. Nếu lỡ có chuyện can qua, dọc đường thiếp sẽ vặt lông ngỗng rắc xuống đường làm dấu. Chàng cứ theo dấu lông ngỗng mà tìm thiếp.
Trọng Thuỷ về Bắc, mật báo mọi tình hình cho Triệu Đà. Triệu Đà sau khi nghe biết các bí mật phòng vệ của Âu Lạc, lập tức dẫn đại quân tiến đánh Cổ Loa. Thục An Dương Vương do chủ quan mất cảnh giác, hoàn toàn tin vào hiệu lực của nỏ thần, không lường được âm mưu quỷ quyệt của cha con đứa con rể phản phúc, lâu nay không quan tâm phòng bị, nên sau một thời gian chống cự, cuối cùng thành bị phá, nhà vua phải đưa Mỵ Châu, thân quyến và một số tướng tá thân cận bỏ thành chạy. Quân giặc ráo riết truy đuổi, cuối cùng Thục An Dương Vương phải cho Mỵ Châu ngồi chung ngựa đơn độc chạy về phương Nam. Trên đường chạy, Mỵ Châu nhớ lời hứa với Trọng Thuỷ trước khi chia tay, vừa chạy vừa rút lông ngỗng trên chiếc áo lông ngỗng đang mặc trên mình rắc xuống đường làm dấu. Theo dấu vết lông ngỗng, Trọng Thuỷ và quân Triệu Đà truy đuổi vua Thục mỗi lúc mỗi gấp. Tục truyền khi chạy tới núi Dạ Sơn (thuộc huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) một bên biển một bên núi, nhà vua thấy đã cùng đường, bèn hướng ra biển cúi lạy cầu xin Thần Kim Quy đến cứu giúp. Sau chốc lát, Thần Kim Quy hiện lên trên mặt nước, lớn tiếng quát:
- Kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc, sao không giết ngay đi!
Nhà vua tuốt gươm quay lại phía sau lưng. Mỵ Châu lạy cha vừa khóc vừa thưa:
- Con trọn tiết trung tín, chẳng ngờ bị người đánh lừa. Sau khi chết xin được hóa thành ngọc châu để thỏa nỗi oan nhục này.
Lưỡi gươm của vua Thục vừa chém xuống, máu trong người Mỵ Châu phun ra xối xả, loang khắp mặt nước biển. Loài trai biển nuốt vào bụng, máu đỏ hóa thành ngọc trai. Vua Thục sau đó nhảy xuống biển tự vẫn.
Trọng Thuỷ cùng quân Triệu đuổi đến nơi, thấy Mỵ Châu đã chết, thương khóc hồi lâu, sau đó đưa xác về chôn ở Loa Thành. Trọng Thuỷ thương nhớ Mỵ Châu, trở lại nơi giếng nước trước kia Mỵ Châu thường ngồi trang điểm, khóc và nhảy xuống giếng tự tận. Đồn rằng, ngọc trai biển nếu dùng nước giếng đó rửa, ngọc sẽ sáng đẹp lên bội phần.
Nước Âu Lạc và An Dương Vương Thục Phán tồn tại đúng 50 năm (257 TCN - 207 TCN), để lại trong lịch sử dân tộc những dấu ấn hào hùng khó quên, cuối cùng cay đắng mất vào tay Triệu Đà, một kẻ mà sau khi thôn tính Âu Lạc đã lập tức xưng vương, tiếp sau xưng đế, lập nên vương nghiệp kéo dài năm đời trong 96 năm, chiếm cứ một vùng rộng lớn ở phương Nam Trung Quốc.

Dân tộc ta từ đó rơi vào đêm đen dài nô lệ trọn cả ngàn năm.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Phần II



Thuở những vì sao lấp lánh
trong đêm dài nô lệ







Những người con anh hùng
của Hà Nội xưatheo Hai bà Trưng đánh giặc



Năm 207 TCN, kinh đô Cổ Loa thất thủ. Mất kinh đô, mất luôn cả quốc gia, người Việt trở thành những người bị trị, bị áp bức và bóc lột thậm tệ. Sau 96 năm bị họ Triệu cai trị, đến khi họ Triệu suy vong, đất nước lại rơi vào ách thống trị của nhà Hán. Nhà Hán chia đất nước ta thành quận huyện, thực hiện âm mưu đồng hóa dân Âu Việt, Lạc Việt hòa chung vào Hán tộc. Lịch sử còn ghi lại không biết bao nhiêu nỗi thống khổ của dân ta dưới ách cai trị tàn bạo của bọn thứ sử, thái thú nhà Hán. Vua quan nhà Hán bắt dân chúng cống nộp đủ mọi thứ của ngon vật lạ : ngà voi, sừng tê, đồi mồi, lông trả, ngọc châu, vàng bạc ..., bóc lột tô thuế nặng nề. Roi vọt, cùm xích, giết chóc không lúc nào ngưng. Mạng sống của con người rẻ rúng như súc vật. Thái thú Giao Chỉ Tô Định là một mẫu thái thú, thứ sử tham lam tàn ác đến cùng cực. Tô Định đã vô cớ giết hại không biết bao sinh linh đất Việt, đã giết Thi Sách, một con người yêu nước và có ý chí kiên cường, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (miền tây Hà Tây hiện nay), chồng bà Trưng Trắc. Bà Trưng Trắc và em là bà Trưng Nhị, con gái Lạc tuớng huyện Mê Linh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) vốn dòng dõi Hùng Vương, là những người con gái dũng lược, mưu trí. Như lửa đổ thêm dầu, hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhị vốn rất căm giận bọn giặc nước, nay lại thêm mối thù nhà, đã anh dũng đứng lên lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống bọn cai trị nhà Hán. Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ quê hương Mê Linh nhanh chóng lan rộng khắp cả bốn quận: Giao Chỉ (vùng Bắc Bộ ngày nay) Cửu Chân (Bắc Trung Bộ), Nhật Nam (Trung Trung Bộ), Hợp Phố (Quảng Đông, Trung Quốc), khí thế long trời lở đất. Tên Thái thú ác bá Tô Định sợ quá, phải cắt tóc cạo râu cải trang, không kịp mang theo ấn tín, liều chết tháo chạy về Bắc. Nghĩa quân nhanh chóng giải phóng Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) thủ phủ của giặc tại bộ Giao Chỉ và sau một thời gian ngắn giải phóng suốt cả “65 huyện thành”. Bà Trưng Trắc được tôn lên làm vua, đóng đô ở quê nhà Mê Linh. Nhân dân một cõi phương Nam hả lòng hả dạ chào đón đất nước sạch bóng quân thù, hai năm liền được miễn hẳn mọi thứ thuế khóa. Nhưng bọn giặc nước không lúc nào ngừng dã tâm xâm lược, muốn biến Âu Lạc thành quận huyện, nên tháng 4 năm 42 Quang Vũ đế nhà Đông Hán là Lưu Tú chọn Mã Viện, viên tướng khét tiếng ác bá đã từng đàn áp đẫm máu người Khương ở Tiên Liêu và nông dân người Hán ở Hoãn Thành (An Huy), là bố đẻ một vương phi của mình, phong làm Phục Ba Tướng quân cùng với Lưu Long, Đoàn Chí dẫn đại binh hơn hai vạn tên và hai ngàn thuyền xe, thủy bộ phối hợp tiến đánh Hai Bà. Hai Bà Trưng đã cùng với các tướng của mình - đa số là nữ - như bà Lê Chân (quê Hải Phòng), bà Thánh Thiên, ả Tắc, ả Di (quê Bắc Ninh, Bắc Giang), bà Bảo Châu, bà Nguyệt Thái (quê Hải Dương), năm mẹ con bà Lê Thị Hoa (quê Thanh Hóa), Chu Thước (quê Hà Tây), ba anh em họ Trương (quê Quảng Ninh) ... và quân dân cả nước anh dũng chặn đánh địch ở Lãng Bạc (nay thuộc Tiên Sơn, Bắc Ninh) và ở nhiều nơi khác, gây cho quân Mã Viện nhiều phen kinh hoàng. Sau hơn một năm trời cầm cự quyết liệt, do quân sĩ thiếu kinh nghiệm chiến đấu, quân Hai Bà bị đẩy lui về Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Tây), cuối cùng trong một cuộc chiến đấu không cân sức, quân Nam bị tổn thất nặng nề, Hai Bà không cam chịu để giặc bắt, đã anh dũng gieo mình xuống dòng Hát Giang tự tận (ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão – tháng 3 năm 43).

Cùng với nhân dân cả nước anh dũng đứng lên theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa giành lại non sông, cư dân Hà Nội mặc dầu thuở đó còn thưa, lại sống rải rác mỗi nơi một ít, nhưng lòng yêu nước, ý chí quật cường thì không hề thiếu và vì vậy từ khắp mọi thôn xóm, nhân dân đã đứng lên hưởng ứng sôi nổi. Do thời Hai Bà Trưng cách đây quá lâu, thời gian Hai Bà trị vì lại ngắn, nên sử sách chính thống không đủ điều kiện ghi nhiều, ghi rõ tên tuổi, công trạng của những người con ưu tú trên đất Hà Nội xưa từng đóng góp tích cực sức tài, tính mạng vào sự nghiệp hiển hách đánh giặc cứu nước thuở đó, nhưng trên nhiều đền miếu rải rác khắp Hà Nội ngày nay và trong nhiều câu chuyện dân gian truyền tụng, ta vẫn được nghe kể nhiều vị anh hùng từng được bà con trong các làng xã thờ cúng, ngợi ca. Có thể kể, đó là ông tổ nghề vật đất Mai Động Nguyễn Tam Trinh, Nàng Tía, Nàng Quốc, Khỏa Ba Sơn, vợ chồng Đào Kỳ, công chúa Vĩnh Huy, ba anh em họ Đào ở Ngọc Động, ba chị em họ Đào ở Thổ Quan, ba anh em chàng Quách, nàng Đinh ở Thượng Cát, ông Đông Bảng ở Gia Lộc, ông Đống, ông Hựu ở Kim Hồ v.v...

Hai Bà Trưng từng được nhân dân Hà Nội từ xa xưa cho đến ngày nay thờ tại đền Đồng Nhân - Đền xưa được dựng trên bãi Đồng Nhân bên bờ sông Hồng. Đến đầu thế kỷ kỷ 19 do bãi sông bị lở, đền được dời vào thôn Hương Viên nay thuộc phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng. Tên Hai Bà còn được chính quyền thành phố Hà Nội long trọng lấy đặt cho một đại lộ chính tại thủ đô: đại lộ Hai Bà Trưng và một quận lớn tại nội thành: quận Hai Bà Trưng.

Tên ông tổ nghề vật Nguyễn Tam Trinh đất Mai Động (nay là phường Mai Động, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) cũng đã được lấy đặt cho một con đường mới mở đi qua quê hương ông. Nguyễn Tam Trinh thuở xưa mở trường dạy học cả văn lẫn võ bên bờ sông Kim Ngưu. Về võ, ông quan tâm truyền dạy cho học trò cách thức đấu vật, tăng cường sức mạnh. Lúc đầu ông chỉ dạy chừng vài chục học trò trong làng. Học trò ông tiến bộ nhanh chóng. Mùa xuân các làng xã quanh vùng đua nhau mở hội. Trong các xới vật vang rền tiếng trống, luôn thu hút được nhiều người đến xem. Các học trò ông tỏa đi các nơi thi tài, chiếm hết các giải vật trong vùng. Tiếng tăm trường học của ông ngày càng lan rộng. Học trò các nơi kéo đến xin thụ giáo ngày mỗi đông. Ông vốn là một người yêu nước, thường ngày gặp cảnh áp bức của bọn quan lại nhà Hán đối với bà con quanh xóm quanh làng, nhiều lần phải tự kìm chế mà cảm thấy không đành lòng. Ông ngấm ngầm vừa dạy học trò, vừa thu nạp những chàng trai yêu nước giàu lòng nghĩa hiệp để tính bề chống trả bọn quan quân đô hộ.
Đầu năm 40, nghe tin Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị đứng lên khởi nghĩa ở Mê Linh, ông lập tức triệu tập các học trò xa gần, tổ chức thành đội ngũ, đi tìm gặp Hai Bà xin gia nhập quân nghĩa. Hai Bà vốn đã nghe tiếng ông, hết sức vui mừng chào đón ông và các tráng sĩ cùng đi. Hai Bà cử ông làm tướng, chỉ huy một đạo quân lớn. Đạo quân của ông đã tham gia nhiều trận đánh quân Mã Viện, gây cho chúng nhiều phen thất bại. Cuối cùng do quân Nam thế yếu, Hai Bà phải tự tận, ông và nhiều học trò ông cũng đã vì nước hy sinh anh dũng. Một số ít học trò của ông trốn tránh quay về làng cũ, nối nghiệp ông mở trường truyền dạy cho hậu thế. Cứ thế nghề vật ở Mai Động truyền từ đời này qua đời khác, nổi tiếng bao đời nay ở Thăng Long, Đông Kinh, Hà Nội.

Nhân dân Mai Động kính trọng ông, lập đền thờ, tôn ông làm ông tổ nghề vật, hàng năm cứ đến ngày 10 tháng hai âm lịch lại mở hội tế lễ tưởng nhớ ông và tổ chức đua tài vui vẻ.

Nàng Tía quê ở Vĩnh Ninh (nay thuộc xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Cha mẹ mất sớm, Nàng Tía được bà cô ruột đón về nuôi nấng, cho đi học cả văn lẫn võ. Mới 15 tuổi Nàng Tía đã trở thành một cô gái xinh đẹp, văn hay võ giỏi. Một ngày nọ, trước khi khởi nghĩa, Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị nhân lúc đi qua Vĩnh Ninh, gặp Nàng Tía đang gánh nước trên vai, trông thấy cô gái vừa xinh đẹp vừa nhanh nhẹn, bèn dừng lại nói chuyện. Có cảm tình với nàng, Hai Bà tặng nàng một ít bạc tiền và căn dặn bà cô cùng bà con lối xóm quan tâm giúp đỡ nuôi dạy.
Ba năm sau, Nàng Tía vừa tròn mười tám tuổi, nghe tin Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Mê Linh, nhớ lại lần gặp gỡ Hai Bà với lòng cảm phục chẳng bao giờ quên, Nàng Tía vận động một số bạn bè, chiêu mộ thêm một số đệ tử lập nên một đội dân binh đưa lên Mê Linh xin được đứng trong hàng ngũ nghĩa quân. Nàng được Hai Bà giao cầm đầu một đạo quân đi giải phóng một số huyện thành, đóng góp tích cực vào công cuộc khởi nghĩa. Đến khi Mã Viện đem quân Bắc sang đánh Hai Bà, Nàng Tía đã tham gia đánh nhiều trận, giết chết nhiều quân địch. Sau khi đại quân Nam thất trận, Hai Bà tự tận ở Hát Giang, Nàng Tía còn cầm quân đánh giặc ở cửa Thần Phù, vây hãm quân giặc nhiều ngày. Quân giặc tăng viện binh, Nàng Tía lâm vào thế hiểm. Cuối cùng trong một trận đánh quyết liệt không cân sức ngay trước cửa biển Thần Phù, Nàng Tía cùng một số chiến hữu đã anh dũng hy sinh.

Nhân dân Vĩnh Ninh thương nhớ và cảm phục người con gái ưu tú của quê hương, đã lập ngai thờ Nàng Tía ngay tại đình làng. Hàng năm hội làng mở vào ngày 13 tháng năm, nhân dân Vĩnh Ninh và khách thập phương lại có dịp thắp hương thành kính tế lễ người con gái anh hùng.

Cùng với Nàng Tía ở bờ nam, bên bờ bắc sông Hồng có Nàng Quốc - Quốc nương, cũng là một liệt nữ. Nàng Quốc ở Hoàng Xá, trang Hạ Tốn (nay thuộc xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Nàng Quốc chiêu mộ hơn hai ngàn thanh niên nam nữ, tổ chức thành đội ngũ, kéo lên Mê Linh gia nhập nghĩa quân. Được Hai Bà Trưng phong làm tướng, cử đưa quân đuổi đánh quan quân nhà Hán ở các huyện thành, Nàng Quốc lập nhiều công lớn, được Hai Bà tuyên dương công trạng, thưởng cho một khu đất ở Hoàng Xá để lập đền thờ mẹ. Khi Mã Viện đưa đại quân sang đánh quân Nam, bà đưa quân bản bộ anh dũng chặn đánh quân Hán và oanh liệt hy sinh giữa trận tiền. Nhân dân Hoàng Xá cảm phục Nàng Quốc đã dựng câu đối ở đình làng để ca ngợi công lao và khí tiết của bà. Câu đối đó nay vẫn còn ở đình Hoàng Xá, Kiêu Kỵ.

Trên đất huyện Gia Lâm tại làng Xuân Đỗ xưa (nay thuộc xã Cự Khối) còn có ông Khỏa Ba Sơn, khi Hai Bà Trưng nổi lên đánh đuổi Tô Định, đã chiêu mộ hơn hai trăm tráng đinh, trang bị đủ gươm đao, tự nguyện xin được đứng trong hàng ngũ nghĩa quân theo Hai Bà đánh giặc. Ông được Hai Bà giao giữ vùng Xuân Đỗ, lập đồn trại giả ở Hoa Động (nay cũng thuộc xã Cự Khối) dương cao thanh thế, đánh lừa giặc Hán. Khi Hai Bà thất thủ, ông ngầm lẩn tránh trong xóm trong thôn, nuôi dưỡng khí tiết chống giặc, tận đến khi mất.


Lúc Hai Bà Trưng đứng lên khởi nghĩa, trên vùng đất cận kề với kinh đô cũ Cổ Loa, có vợ chồng Đào Kỳ và Phương Dung quê ở Hội Phụ (nay thuộc xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội) dẫn hơn một trăm gia nhân đến Mê Linh xin yết kiến Hai Bà, tình nguyện xin gia nhập nghĩa quân. Phương Dung vốn rất căm giận Thái thú Tô Định giết cha mình là Nguyễn Trát, một hào kiệt ở đất Lang Tài, từng từ chối tước lộc tiền bạc chiêu dụ của vua quan nhà Hán, nên khi gặp Đào Kỳ, một thanh niên mặc dầu mồ côi cả cha lẫn mẹ nhưng học giỏi, chăm làm, có chí khí, đã đem lòng yêu mến nhận cùng nhau kết tóc xe tơ, nguyện chung sức trả thù nhà, đền nợ nước. Hai Bà Trưng cử vợ chồng Đào Kỳ cầm quân coi giữ vùng bắc sông Đuống, đánh quét bọn quan quân nhà Hán và tay sai lẩn trốn trong các xóm làng. Khi Mã Viện đưa quân sang đánh nước ta, Hai Bà cử vợ chồng Đào Kỳ đưa quân lên tận biên giới phía bắc cự giặc. Vợ chồng Đào Kỳ đã chiến đấu hết sức ngoan cường nhưng thế và lực quân giặc đều mạnh hơn quân ta gấp bội. Giữa trận tiền, Đào Kỳ bị chém trọng thương, phải phi ngựa lui về phía sau, chạy về tới quê hương Đông Ngàn thì tắt thở. Phương Dung giữa trận chiến đấu ác liệt bị thất thế và bị lạc, cuối cùng về được đến Đông Ngàn, nghe tin chồng đã chết, bèn đến bên mộ chồng tuẫn tiết.

Hậu thế cảm phục khí tiết của hai vợ chồng Đào Kỳ - Phương Dung đã làm thơ ca ngợi :

Sinh vi lương tướng tử vi thần
Vạn cổ cương thường hệ thử thân
Loa địa song đôi thu nguyệt ảnh
Anh hùng liệt nữ tướng quân phần
.

Dịch thơ :

Sống là tướng giỏi chết là thần
Muôn thuở cương thường trọng tấm thân
Đất Loa đôi ảnh trăng thu dọi
Liệt nữ anh hùng mộ tướng quân.


Gương liệt nữ thời Hai Bà Trưng đáng để ngợi ca còn có Công chúa Vĩnh Huy hay Đức bà làng Dâu. Hai chữ công chúa chính là do đời sau kính trọng và yêu mến mà đặt nên chứ thật ra bà Vĩnh Huy không phải là con vua. Bà vốn gốc người vùng Yên Tử, Đông Triều sau do làm ăn sinh sống chuyển đến nhập cư tại Cổ Châu tức làng Dâu (nay thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội). Bà là người có tấm lòng nhân ái rộng mở, luôn quan tâm giúp đỡ những người khốn khó. Bà dùng kinh nghiệm bản thân, thường xuyên giúp đỡ mọi người cách làm ăn sinh sống. Bà con trại Tế áng đất Cổ Châu đã suy tôn bà làm Trại trưởng. Khi nghe tin Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, bà đã chiêu mộ được hơn một nghìn nam nữ thanh niên trại Tế áng và các trại khác quanh vùng, phiên chế thành đội ngũ, tổ chức luyện tập võ nghệ rồi kéo quân lên Mê Linh gia nhập nghĩa quân. Đội quân của bà được trực tiếp theo Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị đánh thẳng vào lỵ sở của Thái thú, đuổi Tô Định tháo chạy không kịp mang theo ấn tín. Khi Mã Viện đưa đại quân sang đánh Hai Bà, Vĩnh Huy đã chỉ huy quân Nam chống cự hết sức anh dũng. Trong một trận đánh không cân sức, bà bị giặc bắt. Tướng giặc ép bà làm vợ. Bà giả bộ thuận lòng rồi nhân lúc quân giặc sơ hở đã trốn khỏi doanh trại giặc chạy về Tế áng. Bà cho gọi dân làng hội họp khẩn cấp bàn kế đối phó với giặc. Theo thần tích, lúc bà vừa nói xong thì trời đất bỗng tối xầm, mưa đổ xối xả, sấm sét vang lên dữ dội. Khi trời đất trở lại yên tĩnh, nơi bà đứng nói chuyện với dân làng hồi hôm, thấy lồ lộ một đống đất lớn do mối vừa đùn lên. Mọi người cho rằng bà đã hiển thánh về trời. Nhân dân Cổ Châu sau đó đã lập đền thờ bà.

Ở làng Dâu hiện nay còn có một bãi đất, ở giữa có gò cao. Bãi đó được gọi là Bãi mộ Đức Bà và gò cao có tên là Gò Yên Ngựa.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-14 07:59:31tieuboingoan>
Thành Tống Bình và Lý Bôn,
vị anh hùng đầu tiên xưng đế



Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị tuy chỉ giành được 3 năm độc lập cho non sông (40 - 43), nhưng đó là thiên anh hùng ca bất diệt, chứng minh hùng hồn tinh thần yêu nước, yêu độc lập dân tộc của phụ nữ và nhân dân đất Việt vốn bất khuất tự ngàn xưa.
Sau khi khởi nghĩa của Hai Bà thất bại, đất nước lại rơi tiếp vào ách cai trị của nhà Đông Hán thêm 177 năm (43 - 220). Đến thời Tam Quốc, Trung Quốc chia thành ba nước Bắc Ngụy, Tây Thục, Đông Ngô, nước ta rơi vào ách cai trị của Đông Ngô gần 60 năm. Năm 265, Tấn cướp ngôi của Ngụy sau đó diệt tiếp Đông Ngô, năm 280 nước ta rơi vào vòng xích của Tấn. Sau Tấn, Trung Quốc phân chia thành Nam Bắc Triều. Năm 420, Lưu Dụ cướp ngôi của Tấn lập ra nhà Nam Tống. Năm 479, nhà Tống mất ngôi, nhà Tề kế nghiệp. Hai mươi hai năm sau, nhà Lương lại cướp ngôi của Tề... Suốt 500 năm sau khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nước ta chìm sâu trong bể khổ thống trị của ngoại bang. Nhiều tên ác bá phương Bắc thay nhau tới dày xéo nhân dân đất Việt. Cuộc sống của người Việt bị đầy đọa cùng cực. Tức nước ắt phải vỡ bờ. Đã có bao nhiêu người con ưu tú của đất nước không cam chịu sự đè nén của bọn giặc cướp, đã dũng cảm đứng lên kêu gọi nhân dân đồng tâm đuổi giặc cứu nước. Chu Đạt năm 157, Lương Long năm 178-181 và nhiều cuộc khởi nghĩa khác đã nổ ra liên tiếp trong thế kỷ thứ II. Sang thế kỷ thứ III, Bà Triệu - tức Triệu Thị Trinh người huyện Quan Yên quận Cửu Chân (miền núi Nưa, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa) vốn là người có khí phách kiên cường, khi 19 tuổi có người khuyên nên đi lấy chồng, bà đã trả lời: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ không thèm cúi đầu chịu khom lưng làm tì thiếp người !”, lại là người có tài võ nghệ cao cường, năm 248 đã cùng anh là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng có khí phách, chiêu mộ nghĩa quân, lãnh đạo nhân dân vùng lên khởi nghĩa, giết chết tên Thứ sử Giao Châu, đánh cho quân Ngô phải kinh hồn bạt vía. Bà Triệu khi ra trận thường cưỡi voi, mặc áo giáp vàng, quân sĩ mến phục tôn là Nhụy Kiều tướng quân. Vua Đông Ngô là Tôn Quyền phải cử viên danh tướng Lục Dận đưa gần một vạn quân sang đàn áp. Bà Triệu cùng anh đã đánh trả hết sức oanh liệt, sau 6 tháng chiến đấu anh dũng, cuối cùng do thất thế đã hy sinh lúc mới 23 tuổi.
Trong các thế kỷ tiếp theo, nhiều người con ưu tú của dân tộc đã dũng cảm liên tục đứng lên đấu tranh không hề sợ gian khổ, tổn thất, hy sinh. Lương Thạc (319 - 323), Lý Tốn (380), Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiến (468 - 485) v.v... là những anh hùng, đến nay sử sách vẫn còn ghi.
Sang thế kỷ thứ VI, Lý Bôn (còn gọi là Lý Bí) quê ở Long Hưng, Thái Bình, sinh năm Quý Mùi (503), thông minh từ nhỏ, lớn lên văn võ kiêm toàn, từng làm giám quân cho nhà Lương nhưng trước cảnh tàn ác của bọn quan quân đô hộ đã bỏ quan về quê, tập hợp nghĩa binh, đứng lên dựng cờ khởi nghĩa (tháng 1 năm 542). Tù trưởng đất Chu Diên là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục cùng Tinh Thiều, Phạm Tu ... những người dân Việt lỗi lạc lúc đó đã lần lượt kéo đến giúp rập. Thế lực của nghĩa quân mạnh lên nhanh chóng. Tiêu Tư, tên thứ sử tàn ác khét tiếng của nhà Lương lúc đó đàn áp không nổi, cuối cùng bị nghĩa quân đánh cho tan tác, phải bỏ cả lỵ sở Long Biên (gần thị xã Bắc Ninh ngày nay) chạy tháo thân về Bắc. Tháng 2 năm 544, Lý Bôn sau khi đánh tan viện binh của quân Lương và quét sạch quân đô hộ ra khỏi bờ cõi, chính thức lên ngôi vua, tự xưng là Nam Đế, đế hiệu đầu tiên của một vị vua đất Việt ở phương Nam, đặt tên nước là Vạn Xuân, phế bỏ niên hiệu của nhà Lương, đặt niên hiệu mới là Thiên Đức (Đại Đức), xây thành Tống Bình bên cửa sông Tô Lịch (thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội ngày nay). Đây là vùng đất đầu tiên thuộc nội thành Hà Nội ngày nay trở thành căn cứ chiến lược quan trọng của đất nước. Thành được xây bằng đất, lũy bằng tre (tiếc thay thời gian đã huỷ hoại, đến nay không còn lại dấu tích). Lý Nam Đế cho dựng điện Vạn Thọ làm nơi nhà vua cùng các quan văn võ luận bàn việc nước. ở phường Yên Hoa (nay là phường Yên Phụ, quận Tây Hồ) phía ngoài thành Tống Bình, nhà vua cho xây một ngôi chùa lớn lấy tên là chùa Khai Quốc. Chùa Khai Quốc chính là tiền thân của chùa Trấn Quốc nổi tiếng trên bán đảo Kim Ngư (đảo Cá Vàng ở Hồ Tây, Hà Nội ngày nay).
Nhà Lương không chịu mất đất đô hộ béo bở ở phương Nam, nên năm ất Sửu (545), LươngVũ đế Tiêu Diễn cử Dương Phiêu sang làm Thứ sử Giao Châu, đồng thời sai Trần Bá Tiên một viên tướng khét tiếng khát máu (12 năm sau, năm 557 chính Trần Bá Tiên là người đã lật đổ nhà Lương, tự xưng hiệu là Vũ đế, lập nên nhà Trần, triều đại cuối cùng của Nam Triều ở Trung Quốc) đưa quân xuống phương Nam đánh Lý Nam Đế, hộ vệ Dương Phiêu. Lý Nam Đế cầm quân chống cự với Trần Bá Tiên trong gần một năm trời. Sau khi bị thua ở Long Biên, quân Nam lui về giữ thành Tống Bình. Thành Tống Bình do phải xây dựng khẩn trương, mức độ xây dựng đơn sơ, mà quân địch lại là những tên thiện chiến, từng quen đánh công đồn nên cuối cùng bị vỡ, tướng Phạm Tu bị tử trận. Lý Nam Đế phải lui quân lên giữ thành Gia Ninh, tiếp theo lui về thành Tân Xương, gần đất Phong Châu, kinh đô cũ của các vua Hùng, năm 546, đánh nhau to với quân Lương ở hồ Điển Triệt (nay thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, nhân dân thường gọi là hồ Tứ Yên, vì hồ nằm ở khu vực xã Tứ Yên) bị thua, phải rút quân về giữ động Khuất Lão (nay thuộc huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc), sau do sức yếu nên giao binh quyền cho tướng thân tín là Triệu Quang Phục tiếp tục cuộc chiến đấu. Triệu Quang Phục đưa quân về đóng ở đầm Dạ Trạch (nay thuộc huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên) vốn là đất quê hương của ông. Trần Bá Tiên đưa quân vây kín đầm, tưởng sẽ bóp chết nghĩa quân trong một sớm một chiều, nhưng Triệu Quang Phục đầy tài thao lược, một tay cầm gươm đánh giặc, một tay cầm cuốc cầm cày khai hoang trồng lúa trồng rau trên những khoảnh đất cao giữa hồ, tự túc lương thực, đêm đêm dẫn quân chèo thuyền bất thần đánh cho quân địch nhiều phen kinh hồn bạt vía. Năm Mậu Thìn (548), sau khi nghe tin Lý Nam Đế mất ở Khuất Lão, để có chính danh đánh giặc, Triệu Quang Phục bèn lên ngôi vua, lấy hiệu là Triệu Việt Vương (nhân dân vẫn thường gọi ông là Dạ Trạch Vương). Năm 549, Lương Vũ đế Tiêu Diễn bị quân Hầu Cảnh nhốt chết đói, nhà Lương lâm nạn lớn, triều đình nhà Lương buộc phải rút Trần Bá Tiên về nước, giao việc bình định Giao Châu cho Dương Sàn. Triệu Việt Vương nhân cơ hội đó, tổ chức phản công giết chết Dương Sàn, khôi phục lại hoàn toàn nền độc lập cho đất nước. Rất tiếc về sau, Lý Phật Tử, người cùng họ với Lý Nam Đế trước theo Lý Nam Đế, đánh nhau với giặc Lương bị thua phải theo Lý Thiên Bảo chạy trốn sang Lào, khi Lý Thiên Bảo chết, được lên thay, nghe tin quân Lương thua bèn đưa quân trở lại tranh giành đất đai với Triệu Việt Vương, năm 571 lợi dụng lúc hai bên giảng hòa, đã đưa quân bất ngờ đánh úp Triệu Việt Vương, khiến Triệu Việt Vương bại trận, cùng đường phải nhảy xuống cửa biển Đại Nha (nay thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định) tự tận. Lý Phật Tử xưng hiệu là là Hậu Lý Nam Đế, ở trên ngôi được 11 năm, năm 602 bị tướng của nhà Tuỳ là Lưu Phương do Tùy Văn đế Dương Kiên cắt cử đưa 10 vạn quân sang xâm lăng nước ta đánh bại. Lý Phật Tử bị bắt, bị giải sang Trường An, Trung Quốc.

Nước ta nhờ Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương khôi phục được độc lập 58 năm, từ đó rơi trở lại ách nô lệ triền miên kéo dài hơn 300 năm nữa mới dứt.






Phạm Tu, vị thống tướng
cùng chết với thành Tống Bình


Mùa xuân năm 542, Lý Bôn dựng cờ khởi nghĩa chống bọn giặc Lương cướp nước. Hào kiệt khắp nơi nghe tin, nô nức kéo nhau về Long Hưng, Thái Bình tụ nghĩa. Từ đất Chu Diên có tù trưởng Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục, từ miền sông Thương sông Cầu có anh em Trương Hống, Trương Hát, từ vùng đồng bằng có Quảng dương môn lang Tinh Thiều, một người nổi tiếng giỏi từ chương ... đều đã lần lượt về Long Hưng tụ hội và đều được Lý Bôn hết sức trọng vọng. Lý Bôn càng trọng vọng khi giáp mặt với Phạm Tu, một lão đô vật nổi tiếng ở vùng sông Tô. Phạm Tu đã dẫn một đoàn tráng sĩ gồm đàn em và học trò của mình đến làm lễ ra mắt thủ lĩnh nghĩa quân.

Phạm Tu lúc gia nhập nghĩa quân, tuổi đã khá cao, nhưng yêu nước đánh giặc không hề phân biệt trẻ già. Ông sinh năm Bính Thìn (476) tại làng Quang Liệt bên dòng Tô Lịch, cạnh kề nơi cửa sông Tô nhập vào cùng sông Nhuệ (nay thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Biết ông là một đô vật có tiếng tăm vừa giỏi vật, giỏi võ, rất có uy tín, Lý Bôn phong ông làm tướng chỉ huy một đạo quân lớn. Được Lý Bôn tin cậy, ông đã không tiếc sức tiếc công huấn luyện nghĩa quân vốn từ những nông dân chưa quen sử dụng binh đao trở thành một đội quân chiến đấu sẵn sàng xung trận. Chính ông là người đã dẫn đầu đoàn quân dưới sự chỉ huy tối cao của Lý Bôn đánh thẳng vào lỵ sở của Thứ sử tàn ác Tiêu Tư ở châu trị Long Biên. Tiêu Tư đốc thúc quân Lương ra sức chống cự nhưng trước khí thế sôi sục của nghĩa quân và tài chỉ huy của ông, Tiêu Tư bị thất bại thảm hại, phải liều chết trốn chạy một cách nhục nhã. Vua Lương sai Tôn Quỳnh, Lư Tử Hùng đưa quân sang cứu Tiêu Tư. Lý Bôn nghe tin bèn cử Phạm Tu lên tận biên giới chặn đánh, khiến cho quân giặc thiệt hại nặng nề. Tôn Quỳnh và Lư Tử Hùng do bại trận đã bị vua Lương buộc phải tự tử. Năm 543, vua Lâm ấp ở phía Nam nghe tin Giao Châu gặp rắc rối, bèn đưa quân sang đất Nhật Nam (Nghệ An ngày nay) cướp phá. Để bảo vệ cương giới và sự bình yên của dân chúng, Lý Bôn lại cử Phạm Tu đưa quân đánh dẹp. Phạm Tu đã đánh cho vua tôi Lâm ấp đại bại ở Cửu Đức (Hà Tĩnh ngày nay). Năm 544 sau khi quét sạch giặc Lương ra khỏi bờ cõi, đánh tan viện binh Lương và vua tôi Lâm ấp ở Cửu Đức, Lý Bôn quyết định lên ngôi vua, xưng hiệu là Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, xây thành Tống Bình làm căn cứ chiến lược lớn ở bên cửa sông Tô Lịch. Sau khi lên ngôi vua, Lý Bôn chính thức phong Triệu Túc làm Thái Phó, Triệu Quang Phục làm Đại tướng, Tinh Thiều đứng đầu hàng quan văn và Phạm Tu đứng đầu hàng quan võ.

Vua và triều đình nhà Lương không cam tâm để mất Giao Châu nên năm 545 đã cử Trần Bá Tiên, một viên tướng khét tiếng ác ôn đưa quân hộ vệ Dương Phiêu sang làm Thứ sử Giao Châu. Lý Nam Đế cử tướng đưa quân lên phía bắc quyết liệt chặn giặc nhưng không lại. Trần Bá Tiên sau khi đánh chiếm Long Biên liền đem quân xuống đánh phía nam. Lý Nam Đế giao tướng Phạm Tu toàn quyền chỉ huy phòng giữ thành Tống Bình. Trần Bá Tiên muốn diệt đứt một cứ điểm quan trọng của vua Nam, tiêu diệt nhiều sinh lực của nghĩa quân nên đã tập trung toàn lực đánh Tống Bình. Thành Tống Bình do mới xây dựng, mức độ xây dựng còn sơ sài, thành bằng đất, luỹ bằng tre gỗ, chưa được cao được chắc, vì vậy trước sức tiến công của đoàn quân thiện chiến phương Bắc, việc phòng giữ gặp rất nhiều khó khăn. Tướng Phạm Tu một mặt đôn đốc động viên quân sĩ ra sức chống giữ, một mặt lên thành tự mình cầm gươm giết giặc. Quân giặc dồn toàn bộ bao vây bốn phía, lớp trước ngã lớp sau tiến lên, khí thế hết sức dữ tợn. Quân Nam chống trả hết sức anh dũng, giết chết rất nhiều giặc nhưng cuối cùng thành vẫn bị phá, tướng Phạm Tu tả xung hữu đột liều chết giữ thành, cuối cùng đã anh dũng hy sinh tại trận, đúng vào ngày 20 tháng 7 âm lịch. Lý Nam Đế sau đó lui quân sang phía tây bắc giữ thành Gia Ninh.

Sinh ra bên dòng sông Tô, chết cùng thành Tống Bình bên dòng sông Tô, Phạm Tu đã nêu một tấm gương anh dũng tuyệt vời bảo vệ quê hương. Sự nghiệp của ông tuy không trọn, nhưng tấm lòng và chí khí của ông sống mãi trong lòng nhân dân Hà Nội, nhân dân Việt Nam.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Khai quốc - trấn quốc,
ngôi chùa Đẹp loại cổ nhất nước



Phật giáo được truyền vào nước ta từ rất sớm. Theo lời Quốc sư Thông Biện ( -1134), một nhà sư rất uyên thâm thời Lý, khi trả lời câu hỏi của Phù Thánh Linh Nhân hoàng thái hậu (tức ỷ Lan nguyên phi, vợ vua Lý Thánh Tông) về phái Thiền tông ở nước ta, dẫn lời của nhà sư Đàm Thiên (Trung Quốc) tâu với Cao tổ nhà Tùy là Văn đế Dương Kiên (581-604) rằng: “Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới đến Giang Đông (miền đông Trung nguyên Trung Quốc) chưa khắp thì ở Luy Lâu (thủ phủ thời Sĩ Nhiếp, 187-266) đã có tới hai mươi ngôi bảo tháp, độ hơn năm trăm vị sư và dịch được mười lăm quyển kinh rồi” thì chậm nhất Phật giáo cũng đã có mặt ở nước ta từ giữa thế kỷ thứ II và ngay từ thế kỷ đó nước ta đã có nhiều chùa. Rất tiếc những bảo tháp và chùa chiền đó ngày nay ít được nhắc tới. Ngôi chùa vào loại cổ nhất ở nước ta được nêu trong sử sách chính là chùa Khai Quốc, tiền thân của chùa Trấn Quốc trên bán đảo Kim Ngư tại Hồ Tây, Hà Nội.

Chùa Khai Quốc được vua Lý Nam Đế, ngay sau khi lên ngôi năm 544, cho xây dựng ở ngoại thành Tống Bình tại thôn Yên Trì, Yên Hoa ngoài bãi sông Hồng (sau đổi thành Yên Phụ, nay thuộc phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội). Sau khi chùa được dựng xong không rõ vị thiền sư nào là người đầu tiên đến trụ trì, và không hiểu Đạt Ma đại sư tức Bồ đề Đạt Ma (Bodhidharma) người ấn Độ, tổ thứ nhất dòng Thiền Tông Trung Quốc, người từng đến Quảng Châu cuối đời Lương Vũ đế (502-549) có đến thuyết pháp tại chùa hay không, chỉ biết rằng năm 580, Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitacuri) người ấn Độ trước khi đến trụ trì tại chùa Pháp Vân đã đến giảng kinh tại chùa và trong các đời sau Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần ... đã có rất nhiều nhà sư có tiếng tăm như thiền sư Vân Phong ( -957) thời vua Ngô Quyền, Quốc sư Khuông Việt (933-1011) thời vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành, thiền sư Thảo Đường thời vua Lý Thái Tổ, Quốc sư Thông Biện thời vua Lý Nhân Tông, thiền sư Tịnh Không (1091-1170) thời vua Lý Anh Tông... đều đã trụ trì ở đây. Chính tại chùa này, ngày Rằm tháng Hai năm Quý Dậu (1096) Linh Nhân hoàng thái hậu đã đặt tiệc chay chiêu đãi chư tăng. Thời vua Lê Thái Tông (1434-1442) chùa được đổi tên là An Quốc. Thời vua Lê Kính Tông (1600-1619) do bãi sông Hồng bị lở, chùa được dời vào đảo Kim Ngư, một hòn đảo nhỏ phía đông nam Hồ Tây (địa điểm hiện nay của chùa Trấn Quốc ). Chính trên hòn đảo nhỏ này, thời Lý các vua nhà Lý đã dựng cung Thuý Hoa, thời Trần các vua nhà Trần đã dựng điện Hàm Nguyên làm nơi hóng mát, xem đua thuyền và xem đánh cá. Đến thời vua Lê Hy Tông (1676-1704) chùa được đổi thành chùa Trấn Quốc và tên đó được giữ đến tận ngày nay. Năm 1842 vua Thiệu Trị nhà Nguyễn đến thăm, đổi tên chùa là Trấn Bắc nhưng tên đó nhanh chóng bị lãng quên, chùa vẫn cứ được nhân dân gọi như tên cũ hồi nhà Lê.

Sau khi chùa An Quốc được di dời vào đảo Kim Ngư độ mấy năm, vào đời vua Lê Thần Tông (1619-1643) nhân dân ba làng Yên Phụ, Yên Quang và Yên Ninh đắp đập Cố Ngự (sau gọi là Cổ Ngư, ngày nay là đường Thanh Niên) chắn ngang Hồ Tây để khoanh khu vực đánh cá, ngăn Hồ Tây thành hai phần, phần lớn là Hồ Tây hiện nay, phần nhỏ là Hồ Trúc Bạch, nhân đó mới đắp con đường từ đập Cố Ngự đi thẳng ngay đến cổng chùa. Cũng vào thời đó, năm 1639, chúa Trịnh Tráng đã cho xây lại Tam quan và xây hành lang hai bên tả hữu.

Cuối thời Lê - Trịnh, chùa Trấn Quốc đã may mắn vượt qua một thảm họa hủy diệt. Nguyên nhân là do các chúa như Trịnh Giang (1729-1740), Trịnh Sâm (1767 -1782) nổi tiếng ăn chơi, không kể gì đến lễ giáo nhà Phật, từng biến ngôi chùa nổi tiếng diệu huyền thành hành cung tráng lệ để ăn chơi sa đọa, đến khi họ Trịnh bị diệt, Lê Chiêu Thống lên ngôi, đã hạ lệnh đốt hết mọi nơi chúa Trịnh đã ở, chùa Trấn Quốc vì vậy cùng nằm trong số phủ đệ cung điện phải đốt, nhưng nhờ sự bảo vệ ráo riết của nhân dân, lính nhà vua chỉ đốt những nhà nổi quanh chùa vốn là nơi ở của cung nữ và hoạn quan, còn chùa vẫn giữ được nguyên vẹn.

Chùa Khai Quốc - An Quốc - Trấn Quốc kể lịch sử đến nay hơn 1450 năm nhưng những tượng Phật, chuông đồng và các đồ tế khí tự xa xưa, không còn một thứ gì thời gian cho tồn tại. Tấm bia cổ nhất còn đứng vững là tấm bia được dựng vào năm Dương Hòa thứ 5 (1639) đời vua Lê Thần Tông, lời bia do Trạng nguyên khoa Đinh Sửu (1637) Nguyễn Xuân Chinh soạn. Tượng cổ Đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn tại chùa là một trong số vài ba pho tượng loại này đẹp nhất nước. Chùa ngày nay như được tô thêm màu xanh thanh tịnh và như được về gần hơn với đất Phật diệu huyền nhờ cây bồ đề cành lá tươi xanh mỗi năm tán lá mỗi thêm rộng, thêm xum xuê trước sân chùa. Đó là cây bồ đề được lấy từ gốc cây mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã ngồi thiền định cách đây hơn 2500 năm, được đích thân Tổng thống ấn Độ Pra - Sát nhân chuyến sang thăm Việt Nam tháng 3 năm 1959 mang trao tặng tận tay Bác Hồ và sau đó Bác Hồ cho rước lên trồng tại chùa.

Tại vườn chùa ở phía cổng vào có nhiều ngôi mộ của các hòa thượng danh tiếng, trong số đó có mộ của Đại lão hòa thượng Kim Cương Tử nguyên Phó chủ tịch thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì lâu năm tại chùa, vừa tạ thế hồi cuối tháng 4 năm 2001.
Chùa Trấn Quốc nằm giữa Hồ Tây, Hà Nội vừa là một thắng cảnh nổi tiếng vừa là một di tích văn hóa lịch sử cực kỳ quý hiếm, xứng đáng để người đời nay và mãi mãi các đời sau gìn giữ, chiêm ngưỡng.













http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Mai Hắc đế, ông vua đen
khí phách hiên ngang



Sau 58 năm giành được độc lập từ tay nhà Lương hồi cuối thế kỷ VI, sang đầu thế kỷ thứ VII, năm 602 đất nước lại rơi vào vòng xích của Tuỳ và 16 năm sau, năm 618 chuyển sang bị sự nô dịch của nhà Đường kéo dài mấy trăm năm triền miên. Nhà Đường lập Giao Châu Đô hộ phủ, sau đổi thành An Nam Đô hộ phủ, bóc lột nhân dân ta tàn tệ. Để lo cho đủ những thứ cống nộp nào ngà voi, sừng tê, đồi mồi, lông trả, nào mật trăn, mật gấu, da cá, vàng bạc ... và bao thuế khóa nặng nề, người dân Giao Châu phải kéo nhau hàng đoàn lên rừng xuống biển, nai lưng tìm kiếm, khổ cực trăm bề, nhiều người phải đổ xương đổ máu. Không chịu khuất phục trước các thế lực hung bạo, nhân dân Giao Châu đã không ngừng nổi dậy chống lại bọn quan quân đô hộ.

Năm 678 Lý Tự Tiên tập hợp nhân dân miền núi đứng lên chống lại tên Đô hộ tàn ác Lưu Diên Hựu. Lưu Diên Hựu đưa quân đàn áp dã man giết hại Lý Tự Tiên. Bạn chiến đấu của Lý Tự Tiên là Đinh Kiến, Tư Thận đã tiếp tục đứng lên lãnh đạo khởi nghĩa đưa quân về vây chặt thành Tống Bình, giết chết Lưu Diên Hựu. Đường Duệ Tông phải cấp tốc phái viện binh ào ạt kéo sang đàn áp. Nghĩa quân sức mỏng thế yếu, Đinh Kiến, Tư Thận phải tuẫn tiết để lại cho đời sau những tấm gương nghĩa khí bất khuất.

Sau khởi nghĩa của Lý Tự Tiên, Đinh Kiến, Tư Thận hơn bốn chục năm, năm 721 Mai Thúc Loan người đất Mai Phụ, huyện Thiên Lộc thuộc châu Hoan (nay là xã Thạch Bắc, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh) da đen, nổi tiếng nghĩa hiệp, giỏi võ giỏi vật, đã cùng đoàn phu gánh vải đi cống nộp vùng lên khởi nghĩa. Việc cống nộp quả vải (lệ chi) theo lệnh của vua Đường Huyền Tông Lý Long Cơ chiều ý người đẹp Dương Quý Phi đã làm cho nhân dân ta trăm bề cực khổ. Không chỉ lo chọn giống vải đủ ngon đủ ngọt mà phải chọn loại vải vừa mới ương chín, phải đóng gói sao cho quả vải được thoáng mát giữ được chất tươi trong nhiều ngày. Cực nhất là việc vận chuyển vải. Những người phu gánh vải dưới những trận mưa roi của những tên lính áp tải phải vừa đi vừa chạy làm sao đến được các trạm đón nhận sớm nhất rồi từ đó các phu trạm thay nhau phi ngựa chuyển vận vải sang tận kinh đô Tràng An, Trung Quốc. Được quần chúng hưởng ứng, quân khởi nghĩa của Mai Thúc Loan nhanh chóng giải phóng châu Hoan, châu ái, thừa thắng tiến nhanh ra Bắc tấn công thủ phủ Tống Bình khiến tên An Nam Đô hộ Quang Sở Khách hoảng hồn, phải hộc tốc trốn chạy về Bắc. Mai Thúc Loan quyết định đặt tên nước là Vạn An, xưng hiệu là Đại Đế, còn nhân dân thường gọi là Mai Hắc đế (ông vua người họ Mai, màu da đen, quê đất Mai Phụ) nêu chính danh một quốc gia độc lập ở phương Nam. Ông cử con là Mai Thúc Huy sang Lâm ấp và Chân Lạp vận động ngoại giao, tạo thế liên kết tăng cường sức mạnh. Đường Huyền Tông không cam chịu để mất phương Nam, bèn sai Nội thị tả giám môn Vệ tướng quân Dương Tự Húc cùng với Quang Sở Khách dẫn 10 vạn quân sang đánh Tống Bình, đàn áp quân khởi nghĩa. Trước một đạo quân Đường thiện chiến và đông gấp nhiều lần, Mai Thúc Loan cố sức chống cự nhưng không địch nổi, phải lui quân về châu Hoan, xây thành Vạn An trên núi Vệ Sơn (Rú Đụn) và lập phòng tuyến phòng ngự Hồng Lĩnh để chặn giặc. Dương Tự Húc kéo quân vào châu Hoan. Nghĩa quân và quân Đường đánh nhau dữ dội dưới chân núi Hồng Lĩnh. Quân Đường bị tổn thất nặng, còn phía nghĩa quân, Mai Thúc Loan bị thương, con cả bị tử trận. Sau trận đó, Mai Hắc Đế lui quân về giữ thành Vạn An. Một thời gian sau, Mai Hắc Đế mất, con là Mai Thúc Huy nối nghiệp xưng đế, sử sách gọi là Mai Thiếu Đế, tiếp tục dương cao ngọn cờ chống giặc. Quân giặc nghe tin Mai Hắc Đế mất, bèn đem đại quân tấn công thành Vạn An. Mai Thiếu Đế dựa vào thành luỹ được đắp trên núi chống trả quyết liệt. Sau một thời gian cầm cự, trong một trận chống giặc dữ dội lúc hai bên đang dằng co, Mai Thiếu Đế không may bị trúng tên, cuối cùng đã anh dũng hy sinh. Quân Nam mất chủ tướng nên thành Vạn An không lâu sau cũng thất thủ.

Mai Hắc Đế với lòng yêu nước nồng nàn và chí căm thù giặc sâu sắc đã đánh cho quan quân nhà Đường những đòn choáng váng, mặc dầu ông đặt chân trên đất Tống Bình không lâu và giành độc lập cho non sông chỉ được 5 năm (721 - 726) nhưng đã để lại cho hậu thế một tấm gương sáng chói về tinh thần quật khởi đời đời kính phục.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Bố cái đại vương,
vị vua anh hùng được dân yêu như cha mẹ



Sau khởi nghĩa của Mai Thúc Loan chưa đầy nửa thế kỷ, năm 766, Phùng Hưng, một hào kiệt đất Đường Lâm (nay là xãĐường Lâm, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây) lại phất cờ khởi nghĩa. Phùng Hưng là con của Phùng Hạp Khanh, một tướng giỏi từng tham gia khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Ông cùng hai em là Phùng Hải, Phùng Dĩnh đều là những người nổi tiếng có khí phách, có sức khoẻ hơn người, vật được trâu, đánh được hổ, được nhân dân trong vùng rất mến phục. Căm thù bọn quan quân nhà Đường đàn áp bóc lột nhân dân tàn tệ, Phùng Hưng đứng lên khởi nghĩa, được nhân dân hết sức hưởng ứng. Nghĩa quân đầu tiên nổi dậy làm chủ Đường Lâm, sau đó đánh chiếm cả một vùng rộng lớn quanh vùng. An Nam Đô hộ nhà Đường là Cao Chính Bình đãbao lần đưa quân đàn áp nhưng không sao đè bẹp nổi. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân lúc công lúc thủ kéo dài hơn 15 năm đãlàm cho quân giặc điên đầu, mất ăn mất ngủ. Năm 782, Phùng Hưng nghe lời khuyên của tướng Đỗ Anh Hàn, đãcùng Phùng Hải, Phùng Dĩnh, Bồ Phá Cần đưa quân tiến đánh La Thành (bấy giờ thành Tống Bình đãđược đổi tên là La Thành). Cao Chính Bình mở cửa thành dẫn đại quân ra nghênh chiến, bị thua to phải chạy vào thành đóng chặt cửa, lo quá phát bệnh chết. Phùng Hưng thừa thắng tấn công chiếm lĩnh thành, tổ chức lại việc cai trị, xoá bỏ mọi chế độ hà khắc của nhà Đường, xây dựng nền tự chủ quốc gia, thực thi nhiều chính sách thương dân. Nhân dân được giải phóng hết sức vui mừng, rất mực kính yêu ông, suy tôn ông là Bố Cái đại vương, coi ông như cha mẹ. Ông làm vua được bảy năm thì mất. Con ông là Phùng An được đưa lên nối ngôi. Phùng An mới ở trên ngôi được hai năm thì nhà Đường cử Triệu Xương làm An Nam Đô hộ đưa quân sang đánh. Triệu Xương một mặt đưa quân uy hiếp, mặt khác sai sứ đem lễ vật và dùng lời lẽ xảo trá thu phục. Phùng An mắc mưu giặc, năm 791 ra hàng nhà Đường, làm mất nghiệp lớn của người cha anh hùng được nhân dân kính yêu như cha mẹ và của nhân dân đất Việt.

Mong muốn của Phùng Hưng cởi ách nô lệ cho dân cho nước chỉ dược thực hiện trong một thời gian ngắn ngủi nhưng ý chí quật cường của người anh hùng đất Đường Lâm sống mãi!

Phùng Hưng sinh ở Đường Lâm, lớn lên lập sự nghiệp to lớn giải phóng đất nước, giải phóng La Thành, thủ phủ của đất nước, cuối cùng chết và chôn ở La Thành. Lăng mộ ông hiện còn ở số 1 đường Giảng Võ, Hà Nội, nằm trong khuôn viên Công ty chế tạo thiết bị lạnh Long Biên. Ông được thờ tại nhiều nơi trên đất Hà Nội: đình Thịnh Hào (quận Đống Đa), đình Kim Mã(quận Ba Đình), đình Triều Khúc (huyện Thanh Trì), đình Quảng Bá (quận Tây Hồ). Tại Quảng Bá bên bờ Hồ Tây vẫn còn đến nay những địa danh như Gò Lá Cờ (nơi cắm cờ), Gò Con Mộc (nơi quân lính luyện tập gươm giáo khiên mộc), Gò Bến Trùm (nơi quân lính tắm giặt) từng ghi những kỷ niệm hào hùng về một thời đóng quân xa xưa của người Anh hùng.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Dương Thanh, cha và con cùng
chết với La Thành



Năm 791, nhà Đường tuy đàn áp chiếm lại La Thành lập được An Nam Đô hộ phủ nhưng nhân dân các nơi trong đất nước ta vẫn không ngừng nổi lên phản kháng. Năm 803, nhân lúc tên cáo già Triệu Xương bị đau phải về Bắc, Bùi Thái được vua Đường cử sang thay còn chân ướt chân ráo, Vương Quý Nguyên một tướng người Việt đã nổi lên đánh đuổi buộc Bùi Thái phải trốn chạy về nước. Hiến Tông nhà Đường không cam chịu thất bại nhưng không cử được ai có đủ bản lĩnh và kinh nghiệm đưa quân xuống phương Nam đàn áp, buộc phải đốc thúc Triệu Xương, bấy giờ tuổi đã khá cao, chữa nhanh bệnh, lại xuống đánh chiếm phương Nam. Vương Quý Nguyên cố sức chống cự nhưng trước một Triệu Xương quỷ quyệt và đạo quân xâm lăng thiện chiến đông gấp nhiều lần, cuộc khởi nghĩa cuối cùng bị dập tắt.Triệu Xương ở lại làm An Nam Đô hộ mấy năm nhưng do già yếu, nhà Đường phải đưa Lý Tượng Cổ sang thay. Lý Tượng Cổ là một tên quan Đô hộ nổi tiếng hung bạo và khắc nghiệt. Hắn còn kéo hơn một ngàn tay chân sang hoành hành, hà hiếp, áp bức nhân dân ta thậm tệ. Bấy giờ có Dương Thanh, một thủ lĩnh người Việt, dòng dõi hào trưởng, đang làm Thứ sử châu Hoan, do có biểu hiện tự chủ nên Lý Tượng Cổ rút về La Thành, giao giữ một chức nha môn tại Đô hộ phủ. Năm 819, nhân dân Tày, Nùng, Dao miền Man Hoàng động nổi lên chống nhà Đường. Lý Tượng Cổ giao Dương Thanh dẫn 3000 quân đi đàn áp. Có lực lượng trong tay, Dương Thanh bèn cùng con là Dương Chí Liệt và bạn thân tín là Đỗ Sĩ Giao lập mưu kêu gọi quân sĩ dưới quyền không đi đánh miền ngược mà quay giáo trở lại đánh đuổi bọn Lý Tượng Cổ và đám quan lại tàn ác nhà Đường. Được quân sĩ hưởng ứng, ngay đang đêm đầu tiên xuất quân cách La Thành không xa, Dương Thanh và quân khởi nghĩa đã quay lại tập kích phủ thành Đô hộ, giết chết Lý Tượng Cổ cùng hơn một ngàn bộ hạ của hắn, đuổi quan quân nhà Đường phải tháo chạy về bắc, giải phóng La Thành, nêu cao quyền tự chủ. Hiến Tông nhà Đường dùng mưu xảo quyệt, hạ chiếu "tha tội" cho Dương Thanh và cử ông làm Thứ sử Quỳnh Châu (một châu trong đảo Hải Nam, Trung Quốc) tính bề điệu hổ ly sơn, đưa ông đi khỏi quê hương hậu cứ của ông. Không mắc mưu giặc, Dương Thanh chống cự chiếu chỉ của vua Đường, kiên quyết không rời La Thành. Dụ dỗ mua chuộc không được, vua Đường bèn hạ lệnh chiếm lại La Thành bằng vũ lực, cử viên Đô hộ Quế Trọng Vũ đưa đại quân tiến đánh La Thành. Quế Trọng Vũ một mặt dùng kế mua chuộc ly gián các thủ lĩnh nghĩa quân với Dương Thanh, một mặt thúc quân ra sức đánh thành. Do âm mưu của giặc, nội bộ nghĩa quân bị chia rẽ, sức chiến đấu vì vậy bị giảm sút. Mặc dầu Dương Thanh cố sức chống cự nhưng không nổi, cuối cùng thành bị phá, ông và con trai là Dương Chí Trinh đều bị tử trận. Dương Chí Liệt và Đỗ Sĩ Giao liều chết phá vòng vây, đưa quân về giữ Tạc Khẩu, Trường Châu (nay thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình), cầm cự được một thời gian, đến tháng 7 năm 820, đại quân Đường tập trung đàn áp, cuối cùng bị thất bại.
Dương Thanh dù đã làm quan cho nhà Đường nhưng lòng yêu nước chí tự cường không vì đó mà suy giảm. Sự nghiệp tuy không thành, cả cha và con đều cùng chết với La Thành nhưng cả nhà ông đã nêu một tấm gương nghĩa khí bất khuất, đời đời bất tử.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-25 12:18:38tieuboingoan>
Tống Bình, La Thành, Đại La Thành



Tống Bình, La Thành, Đại La Thành là tên của Hà Nội thời kỳ nước ta bị phong kiến phương Bắc nô dịch.
Đầu thời vua Hùng, vùng trung tâm Hà Nội ngày nay chính là hương Long Đỗ, Động Lâm ấp. Phần phía bắc Hà Nội ngày nay gồm các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, thời các vua Hùng, vua Thục thuộc bộ Vũ Ninh, một trong 15 bộ của nước Văn Lang, nước Âu Lạc. Vào thời đó, vùng nội thành và các huyện Thanh Trì, Từ Liêm nằm ở phía hữu ngạn sông Hồng của Hà Nội ngày nay là đất thuộc bộ Giao Chỉ. Đến khi nước ta rơi vào ách nô dịch của các triều đại phong kiến phương Bắc: Triệu, Hán, Ngô, Tấn, các triều đại này thường chia lại quận huyện, vùng đất Hà Nội ngày nay vẫn luôn nằm trong quận Giao Chỉ hoặc Giao Châu. Vùng nội thành và các huyện Thanh Trì, Từ Liêm của Hà Nội ngày nay chủ yếu là nằm trong địa hạt huyện Chu Diên; huyện Gia Lâm ngày nay, thời đó thuộc huyện Liên Lâu; huyện Sóc Sơn thuộc huyện Tây Vu; huyện Đông Anh thuộc huyện Phong Khê, thời Tấn chuyển sang thuộc huyện Vũ Ninh. Cuối thời Tấn, Trung Quốc phân liệt thành Nam Bắc Triều. Nước ta lại lần lượt qua tay Tống, Tề, Lương. Giữa thời Tống (còn gọi là Lưu Tống hay Tiền Tống), năm 454, Hiếu Vũ đế Lưu Tuấn lập huyện mới Tống Bình gồm phần lớn đất nội thành Hà Nội ngày nay. Chính trên phạm vi đất huyện Tống Bình, Lý Nam Đế năm 544 sau khi đánh đuổi quan quân nhà Lương, giành độc lập cho non sông, đã tuyên bố đặt tên nước là Vạn Xuân, xưng đế hiệu, xây dựng thành Tống Bình trên vùng cửa sông Tô. Tuy chỉ tồn tại trong vòng hai năm, năm 545 bị quan quân nhà Lương quay lại đánh chiếm, thành bị phá, tướng giữ thành là Phạm Tu chết cùng thành, nhưng thành Tống Bình mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một nét son chói lọi.
Năm 602, nhà Tiền Lý mất, nhà Tuỳ nối gót các triều đại phương Bắc trước đây tiếp tục nô dịch nước ta, đã dời Đô hộ phủ Giao Châu từ Long Biên về Tống Bình.
Năm 618, Lý Uyên cướp ngôi nhà Tuỳ, lập nên nhà Đường. Nước ta lại chuyển sang bị nhà Đường đô hộ. Năm 621, Giao Châu Tổng quản Khâu Hòa đã huy động nhân lực xây lại thành Tống Bình bắt đầu bằng việc xây Tử Thành (thành con) hình vuông chu vi 900 bộ (mỗi bộ 6 thước, mỗi thước tương đương 0,4m, tổng cộng 2160m).
Năm 757, Túc Tông nhà Đường đổi An Nam Đô hộ phủ thành Trấn Nam Đô hộ phủ, cử Trương Bá Nghi làm quan Đô hộ. Trương Bá Nghi đã cho đắp thêm thành Tống Bình và đổi tên thành La Thành. Năm 767, Trương Bá Nghi cho xây lại La Thành rộng hơn và cao hơn, phía đông giáp sông Hồng, phía bắc giáp sông Tô Lịch.
Năm 791, Triệu Xương sau khi dụ được Phùng An, con trai của Phùng Hưng hàng phục nhà Đường, lại cho đắp thêm La Thành. Năm 853, 858, 861, 862, Nam Chiếu, một nước lớn ở phía tây bắc nước ta (vùng Vân Nam, Trung Quốc ngày nay) nhiều lần đưa quân đánh phá. Tháng 2 năm 863, quân Nam Chiếu chiếm được La Thành, giết chết Tiết độ sứ nhà Đường là Sái Tập; quan quân nhà Đường kẻ bị giết, kẻ bỏ trốn, nhân dân ta bị tàn sát và bị bắt hơn 15 vạn người, của cải bị cướp bóc, nhà cửa bị đốt phá. Nhân dân La Thành và khắp nơi đã nổi dậy giữ làng giữ bản chống trả kịch liệt giặc Nam Chiếu. Cuối năm 865, Đường ý Tống phong Cao Biền làm Kinh lược Chiêu thảo sứ đưa quân đánh Nam Chiếu và đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân ta. Sau khi đánh thắng quân Nam Chiếu, vua Đường đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân tiết trấn, phong Cao Biền làm Tiết độ sứ. Để phòng quân Nam Chiếu sang đánh phá đồng thời để chống lại các cuộc nổi dậy của nhân dân ta, Cao Biền cho đắp cao và mở rộng La Thành với chiều dài chu vi 1982 trượng 5 thước(*), thân cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 5 thước. Trên mặt thành còn xây thêm tường phụ cao 5 thước 5 tấc. Trên cổng thành có lầu thành, tất cả có 5 lầu thành. Trên mặt thành cách từng quãng lại dựng địch lâu (lầu để quan sát quân địch), tổng cộng có 55 địch lâu. Ngoài thành còn có đê bao bảo vệ, đê có chu vi 2.125 trượng 8 thước, cao 1 trượng 5 thước, chân rộng 2 trượng. Trong thành có 5.000 căn nhà.
Quy mô thành trở nên khá đồ sộ, do vậy Cao Biền đã cho đổi tên là Đại La Thành. Đến cuối thế kỷ thứ IX, đầu thế kỷ thứ X, thành Đại La đã trở thành một trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế khá nhộn nhịp ở phương Nam.

===================

(*) Một trượng bằng 10 th­ước. Một th­ước bằng 10 tấc. Một tấc t­ương đương 4 cm.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Phần III


Khi đất nước vùng lên khôi phục tự chủ Và trong buổi đầu non sông giành lại độc lập


Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, những anh hùng đặt nền móng cho nền tự chủ


Cao Biền đắp rộng, xây cao, tăng sức kiên cố cho Đại La Thành và dùng bùa yểm tà thuật làm mê hoặc lòng người, chống lại sự phản kháng của nhân dân, hòng ngự trị lâu dài ở phương Nam (sử nước ta viết: cuối đời, Cao Biền tự xưng vương) nhưng trên thực tế Cao Biền chỉ trụ được 9 năm, nhà Đường sau đó gia phong chức Kiểm hiệu Thượng thư Hữu bộc xạ điều về Bắc làm Tiết độ sứ Thiên Bình, ít lâu rồi mất. Sau Cao Biền, Cao Tầm, cháu Cao Biền giữ chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ được 4 năm, Tăng Cổn được 14 năm, tình hình còn tạm yên lắng. Đến khi Chu Toàn Dục và Độc Cô Tổn, những kẻ vừa dốt nát vừa tham lam và độc ác khét tiếng nối gót nhau làm Tiết độ sứ thì căm phẫn của nhân dân ta đã lên đến tột độ. ách đô hộ của phong kiến phương Bắc hơn ngàn năm dù ngụy trang tô son trát phấn đến thế nào đi chăng nữa thì đến thời điểm đó cũng đã lộ rõ chân tướng là một công cụ vừa quá nặng nề vừa quá mọt ruỗng lỗi thời, nhân dân đất Việt không sao còn có thể chịu đựng nổi. Trong hoàn cảnh đó đã xuất hiện Khúc Thừa Dụ.
Khúc Thừa Dụ quê ở Cúc Bồ, đất Hồng Châu (nay thuộc Ninh Giang, tỉnh Hải Dương) vốn sinh ra trong một dòng họ lớn, có tiếng tăm, bản thân ông từ trẻ đã nổi tiếng khoan hòa, hay thương người lại là người thông minh, có chí lớn, một hào trưởng được nhân dân rất tin yêu, mến phục.
Bấy giờ, ở phương Bắc, triều đại nhà Đường đã đến hồi suy sụp. Năm 880, Hoàng Sào một thủ lĩnh nông dân, vốn là một người buôn muối ở Oan Cư (Sơn Đông) cầm đầu một đạo quân 60 vạn nông dân chiếm cứ kinh đô Tràng An, xưng đế tuyên bố thành lập quốc gia Đại Tề. Mặc dầu Hoàng Sào chỉ giữ Tràng An được 3 năm, tháng 5 năm 883 bị bức phải bỏ Tràng An và năm sau hy sinh nhưng đã giáng cho nhà Đường những đòn chí mạng, làm lung lay tận gốc triều đại Đường. Sau khi đàn áp xong khởi nghĩa Hoàng Sào, nhà Đường lại tiếp tục bị tan nát trong cuộc giằng xé giữa bọn quân phiệt cát cứ và bọn hoạn quan chuyên quyền.
Lúc đó ở nước ta, Chu Toàn Dục và Độc Cô Tổn nối gót nhau làm Tiết độ sứ, dở mọi mánh khoé áp bức bóc lột tàn tệ nhằm ních chặt túi tham. Chu Toàn Dục mặc dầu có em là Chu Toàn Trung tức Chu Ôn (người sẽ cướp ngôi nhà Đường lập ra nhà Hậu Lương sau này), một kẻ phản bội phong trào nông dân Hoàng Sào đầu hàng nhà Đường, leo lên đến tận chức Hữu Kim ngô vệ Đại tướng quân, lo lót, nâng đỡ nhưng vì vô tài, thô lỗ và tham lam nên đầu năm 905 chính Chu Toàn Trung lại phải xin vua Đường bãi chức, rút về Bắc. Độc Cô Tổn được Ai đế nhà Đường cử sang thay, nhưng Độc Cô Tổn vừa hết sức tham lam vừa hết sức tàn ác. Nhân dân ta thời đó đã đặt cho y biệt hiệu "Ngục thượng thư" (tên thượng thư độc ác). Nắm lấy thời cơ nhà Đường đang trong cơn hấp hối và nhân việc Độc Cô Tổn dưới sức ép của sự tranh giành giữa các phe phái ở Tràng An, bị biếm chức và bị điều đi Hải Nam, đầu năm 905, Khúc Thừa Dụ lãnh đạo nhân dân đứng lên đánh đuổi bọn quan quân đô hộ nhà Đường, chiếm thành Đại La, tự xưng làm Tiết độ sứ, khôi phục quyền tự chủ cho đất nước.
Để cứu vãn tình thế và tỏ ra còn có uy quyền, đầu năm 906, Ai đế nhà Đường buộc phải xuống chiếu chấp nhận để Khúc Thừa Dụ làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ đồng thời còn gia phong chức Đồng bình chương sự. Tuy trên danh nghĩa còn mang quan tước của nhà Đường nhưng về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ. Giành lấy chính quyền từ tay bọn phong kiến nhà Đường, Khúc Thừa Dụ trên thực tế đã chấm dứt về cơ bản ách đô hộ kéo dài hơn một ngàn năm của phong kiến phương Bắc. Lịch sử dân tộc chắc chắn mãi mãi sẽ ghi nhớ công lao ông như là một trong những người anh hùng có công đặt nền móng khôi phục nền độc lập, tự chủ của đất nước.
Ngày 23 tháng 7 năm 907, Khúc Thừa Dụ mất. Con là Khúc Hạo lên nối nghiệp cha, cũng tự xưng là Tiết độ sứ, đảm nhiệm trọng trách củng cố nền tự chủ còn non trẻ của dân tộc mà thân phụ ông đã gây dựng. Bấy giờ ở phương Bắc, Chu Toàn Trung đã cướp ngôi nhà Đường, lập ra nhà Hậu Lương. Trung Quốc bước sang thời Ngũ Đại, năm đời mười nước hết sức hỗn độn. áp dụng chính sách hai mặt, nhà Hậu Lương một mặt buộc phải phong cho Khúc Hạo làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, mặt khác lại phong cho Tiết độ sứ Quảng Châu là Lưu ẩn kiêm cả chức Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, An Nam đô hộ (Lưu ẩn là anh của Lưu Cung, người sẽ cát cứ vùng Quảng Tây - Quảng Đông, lập ra nước Nam Hán và xâm lược nước ta sau này). Khúc Hạo là người có ý chí tự cường cao. Ông đã thực thi nhiều cải cách quan trọng. Về mặt hành chính, ông chia nước thành lộ, phủ, châu, giáp, xã. Về mặt tô thuế, ông cho sửa lại chế độ điền tô, xoá bỏ lực dịch. Trên cơ sở khoan dung, ông giữ chính sự được yên ổn, trăm họ được yên vui, xây dựng đất nước đạt nhiều tiến bộ. Mười năm trên cương vị Tiết độ sứ, Khúc Hạo tuy bề ngoài vẫn mang tước của triều đình phong kiến phương Bắc nhưng trên thực chất là người đứng đầu đất nước trong những năm đầu thế kỷ thứ X, đã đóng góp công lao to lớn củng cố nền tự chủ của đất nước. Năm 917, Khúc Hạo mất. Sau khi ông mất, con ông là Khúc Thừa Mỹ lên thay, vẫn tự xưng là Tiết độ sứ.
Cũng đúng vào năm đó, ở Quảng Châu, Lưu ẩn chết, em là Lưu Cung lên thay, chiếm cứ vùng này lập nên nước Nam Hán. Nam Hán dòm ngó tính chuyện xâm chiếm nước ta. Khúc Thừa Mỹ muốn phân hóa các thế lực phong kiến phương Bắc, tranh thủ nhà Hậu Lương, tạo thanh thế với Nam Hán, đã cử sứ sang Biện Kinh cầu phong. Nhà Hậu Lương phong cho Khúc Thừa Mỹ chức Tiết độ sứ.
Năm 930, vua Nam Hán lợi dụng tình thế mấy năm hòa hoãn, Khúc Thừa Mỹ lơ là việc binh bị, sai Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh đưa quân sang đánh nước ta. Khúc Thừa Mỹ chống cự không nổi, bị bắt đem về Quảng Châu. Nhà Nam Hán bắt chước nhà Tây Hán, nhà Đông Hán thuở trước, đặt chức Thứ sử Giao Châu, cử Lý Tiến sang làm Thứ sử và giao Lý Khắc Trinh đóng quân yểm trợ.
Nước ta bấy giờ lại lâm nguy cơ rơi trở lại ách nô dịch nặng nề triền miên trước đây.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0

Dương Đình Nghệ giải phóng Đại La


Lúc Nam Hán chiếm nước ta, Trung Quốc đang trong thời Ngũ Đại (907 - 960). Các lực lượng cát cứ chia nhỏ Trung Quốc thành mười nước: Hậu Lương, Bắc Hán, Tiền Thục, Ngô Mân, Ngô Việt, Sở, Nam Bình, Hậu Thục, Nam Đường và Nam Hán. Nam Hán chỉ là nước bé chiếm cứ Quảng Châu (Quảng Đông ngày nay) nhưng mộng bành trướng không bé. Chiếm được Đại La, đặt lại Giao Châu Thứ sử, vua tôi nhà Nam Hán muốn tạo thêm một hậu cứ mạnh để tăng thế lực tranh dành với các nước phía bắc. Nhưng nhân dân ta thời bấy giờ được Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo khơi dậy ý thức tự chủ, tự tôn dân tộc, không cho quân Nam Hán thực hiện mưu đồ mong muốn, đã nổi dậy phản kháng bọn ngoại xâm ở khắp mọi nơi, khiến quan quân Nam Hán chỉ du dú trong thành Đại La, chẳng hề dám rời xa khỏi thành. Trong các lực lượng nổi dậy phản kháng lúc đó, mạnh mẽ nhất và thành công nhất có lực lượng của tướng Dương Đình Nghệ.
Dương Đình Nghệ người người đất Dương Xá, ái Châu (Thanh Hóa), tướng cũ của Khúc Hạo, là một người có ý chí và mưu lược. Khi quân Nam Hán đánh chiếm Đại La, do thất thế, ông phải lui về quê hương, chiêu mộ hơn ba ngàn thanh niên trai tráng, ngày đêm ra sức luyện tập võ nghệ, xây dựng thành đạo quân tinh nhuệ.
Đầu năm 931, Dương Đình Nghệ phát lời kêu gọi hào kiệt các nơi chung sức đánh giặc, đã thu hút được nhiều lực lượng tham gia chiến đấu. Sau đó ông đưa quân tiến công giải phóng thành Đại La. Tướng Nam Hán là Lương Khắc Trinh mở cửa thành dẫn quân nghênh chiến, bị Dương Đình Nghệ giết chết ngay tại trận. Quân giặc hoang mang cao độ. Thứ sử Lý Tiến phải liều chết mở cửa thành cùng đám tay chân thân tín trốn chạy về Phiên Ngung. Vua Nam Hán nghe tin Dương Đình Nghệ khởi nghĩa đánh thành Đại La lập tức cử Trần Bảo đưa quân tiếp cứu. Trần Bảo đưa quân đến gần Đại La thì biết thành đã bị quân khởi nghĩa chiếm giữ. Trong khi đang phân vân tính toán thì gặp Dương Đình Nghệ tung quân ra đánh. Trần Bảo lâm vào thế bị động bối rối, cuối cùng bị giết chết, viện quân bị đại bại. Chiến thắng của Dương Đình Nghệ, đã giải phóng thành Đại La, giải phóng toàn bộ đất nước khỏi dã tâm xâm lược của nhà Nam Hán, khôi phục nền tự chủ cho tổ quốc.
Sau chiến thắng, Dương Đình Nghệ noi gương Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo tự xưng là Tiết đô sứ, ra sức chấn chỉnh mọi việc trong nước, tăng cường chế độ tự chủ, cải thiện cuộc sống cho dân chúng, chăm lo phát triển mọi mặt đất nước.
Năm 937, trong khi hoài bão xây dựng đất nước lớn mạnh đang được ông từng bước thực hiện thì bỗng nhiên xảy ra sự kiện ông bị tên nha tướng của mình là Kiều Công Tiễn phản phúc giết hại nhằm đoạt chức Tiết độ sứ.
Nhân dân nghe tin cực kỳ căm phẫn. Nền tự chủ của đất nước mới khôi phục lại bị đe dọa nghiêm trọng.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Ngô Quyền nổi sóng Bạch Đằng,
dựng lại Loa thành, xây nền độc lập



Năm 937, Kiều Công Tiễn người Phong Châu, nha tướng của Dương Đình Nghệ, nhân lúc bất ngờ đã giết chết Dương Đình Nghệ đoạt chức Tiết độ sứ.
Trước hành động phản phúc đó, nhân dân khắp nơi căm phẫn lên án. Nhiều tướng cũ của Dương Đình Nghệ nổi lên chống lại. Kiều Công Tiễn lượng sức mình không chống nổi làn sóng phản kháng đang dâng cao, vội vã sai người sang cầu cứu vua Nam Hán. Vua Nam Hán Lưu Cung được cầu cứu, nghĩ thời cơ chiếm lại đất Việt đã đến, bèn phong cho con là Hoằng Thao làm Giao Vương (vua Giao Châu) đưa quân sang xâm lược và tự mình dẫn quân tiếp ứng.
Bấy giờ, Ngô Quyền con rể của Dương Đình Nghệ đang làm tướng coi giữ ái Châu, nghe tin Kiều Công Tiễn phản phúc giết bố vợ mình, lại còn hèn hạ sai người sang cầu cứu bán nước cho Nam Hán, trong lòng hết sức căm giận, bèn tức tốc chuẩn bị đưa quân ra Bắc trừng trị tên phản bội, đánh đuổi bọn xâm lược.
Ngô Quyền (897 - 944) người đất Đường Lâm (nay là xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, cùng quê với Phùng Hưng), con trai của Châu mục Ngô Mân. Ông là người khôi ngô, thông minh, có sức khoẻ và võ nghệ cao cường, có chí lớn, tiếng tăm từng lan khắp vùng. Do có tài, ông được Dương Đình Nghệ tin yêu, gả cho con gái là Dương thị Như Ngọc. Ông đã từng cùng Dương Đình Nghệ đánh bại quân Nam Hán năm 931, khôi phục nền tự chủ cho đất nước. Sau chiến thắng quân Nam Hán, ông được giao trấn giữ châu ái, một địa bàn quan trọng ở phía Nam.
Đầu mùa đông năm 938, Ngô Quyền đưa quân ra Bắc, ào ạt đánh thẳng vào Đại La, giết chết tên phản bội Kiều Công Tiễn, bêu đầu hắn trước cổng thành cho trăm họ hả cơn căm giận, trừ mối họa bên trong, củng cố thêm lực lượng, chuẩn bị chống quân Nam Hán. Hào kiệt khắp nơi nghe tin Ngô Quyền diệt trừ được tên phản phúc bán nước, đang ra sức tổ chức lực lượng chống ngoại xâm, đã nô nức kéo về Đại La xin được góp sức chung lo đánh giặc. Lực lượng nghĩa quân nhờ vậy lớn mạnh lên nhanh chóng.
Nắm vững đường tiến quân của quân Nam Hán từ phía biển vào, Ngô Quyền đã cho quân sĩ đẵn gỗ, đẽo cọc, đầu bịt sắt nhọn cắm đâỳ lòng sông Bạch Đằng tại nơi hiểm yếu gần cửa biển, tạo thành một trận địa ngầm sẵn sàng chờ giặc. Kế hoạch của ông là nhân khi thuỷ triều lên cho quân Nam cưỡi thuyền nhẹ khiêu chiến, giả vờ thua chạy, nhử quân giặc đuổi theo từ vịnh Hạ Long vào sông Bạch Đằng vượt qua bãi cọc ngầm, sau đó đợi cho nước thuỷ triều rút sẽ tập trung quân đánh quật lại khiến thuyền giặc trở lui vướng cọc sắt, thuyền bị vỡ, quân mai phục ở hai bên bờ nhân đó đánh rát thêm buộc quân giặc vào thế chiến bại. Kế hoạch đó được đích thân Ngô Quyền chỉ huy. Ông vừa động viên quân sĩ vừa ra nghiêm lệnh, tất cả quân sĩ đều phải nhất loạt theo lệnh điều khiển của ông. Với lòng căm giận cao độ quân Nam Hán hai lần đưa quân xâm lấn bờ cõi lại được Ngô Quyền ân cần cổ vũ động viên, quân Nam nghiêm túc thi hành mệnh lệnh của chủ tướng, đã đánh cho quân Nam Hán đại bại, thuyền giặc vướng cọc sắt bị vỡ bị đắm hơn nửa, quân giặc bị giết, bị chết đuối, mười phần chỉ còn lại hai ba. Chủ tướng giặc là Hoằng Thao bị giết tại trận. Bại quân Nam Hán chạy về đến địa đầu biên giới, nơi Lưu Cung, vua Nam Hán đang ém quân tiếp ứng, kể lại sự tình Hoằng Thao bị giết, quân Nam Hán thảm bại, Lưu Cung thất kinh, oà lên khóc, vội vàng đưa quân tháo lui.
Kế hoạch đánh quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền như có phép thần, đã giành đại thắng, đánh tan mọi ý đồ bành trướng của vua quan Nam Hán, đồng thời gióng lên hồi chuông lớn cảnh tỉnh mọi thế lực xâm lược phong kiến phương Bắc, đưa cục diện nước ta bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập lâu dài cho dân tộc, đất nước Nam là của người nước Nam, việc của dân Nam do chính dân Nam định liệu.
Đại thắng năm 938 của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng được nhân dân Việt Nam đời đời ca ngợi là chiến công hiển hách bậc nhất của dân tộc.
Sau đại thắng, Ngô Quyền chính thức xưng vương (939), đóng đô ở Cổ Loa, kinh đô xưa của Thục An Dương Vương, tuyên bố xoá bỏ mọi luật lệ hà khắc của các thời kỳ đô hộ, định lại triều nghi, tự khẳng định nước Việt là một quốc gia độc lập. Nước ta thực sự trở lại là một quốc gia độc lập hoàn toàn sau thời kỳ Bắc thuộc dài đằng đẵng cả ngàn năm chính là bắt đầu từ Ngô Quyền. Thành Cổ Loa sau hơn ngàn năm hoang phế được Ngô Vương dựng lại thành kinh đô thiêng liêng của đất nước anh hùng. Nhờ sự tái lập kinh đô hồi giữa thế kỷ X, thành ốc được sửa sang củng cố, nên ngày nay sau hơn 2200 năm trên đất Cổ Loa, Hà Nội vẫn còn thấy rõ dấu tích đồ sộ của thành xưa.
Rất tiếc Ngô Quyền làm vua quá ngắn, chỉ được 6 năm thì mất (944) thọ 47 tuổi. Trước khi mất, Ngô Vương uỷ thác con là Ngô Xương Ngập cho Dương Tam Kha, em của Dương hậu dựng làm vua , nhưng Dương Tam Kha lại cướp ngôi của cháu, Ngô Xương Ngập phải chạy trốn. Em của Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Văn bàn mưu cùng các tướng hội quân bắt được Dương Tam Kha, nể tình cậu cháu nên chỉ giáng chức. Ngô Xương Văn lên ngôi xưng là Nam Tấn Vương, sai người đón anh là Ngô Xương Ngập về cùng trông coi việc nước. Ngô Xương Ngập xưng hiệu là Thiên Sách Vương lại tính mưu hạ bệ Nam Tấn Vương để làm vua một mình nhưng ý định đó chưa kịp thi hành thì bị bệnh chết. Tình hình trên khiến nhà Ngô nhanh chóng bị suy yếu và cuối cùng dẫn đến tình trạng 12 sứ quân cát cứ tranh dành nhau quyết liệt kéo dài hơn 20 năm (945 - 968). Nam Tấn Vương và con Thiên Sách Vương là Ngô Xương Xí lên kế nghiệp thực chất cũng chỉ là một sứ quân mà thôi.










http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Đinh Bộ Lĩnh lập Đại cồ việt - Đại la, Cổ loa nhường vị trí trung tâm


Sau khi Ngô Quyền mất, đất nước ta rơi vào cảnh rối bời. Liền trong hơn hai mươi năm từ năm 945 đến năm 968, loạn 12 sứ quân, mỗi người chiếm giữ một vùng, tranh dành đánh phá lẫn nhau, gây cho nhân dân vô vàn thống khổ :
- Kiều Công Hãn tức Kiều Tam Chế chiếm giữ vùng Phong Châu (nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ).
- Kiều Thuận tức Kiều Lệnh Công chiếm giữ vùng Hồi Hồ (nay thuộc huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ).
- Nguyễn Khoan tức Nguyễn Thái Bình chiếm giữ vùng Tam Đái (nay thuộc huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc).
- Ngô Nhật Khánh tức Ngô Lãm Công chiếm giữ vùng Đường Lâm (nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây).
- Đỗ Cảnh Thạc tức Đỗ Cảnh Công chiếm giữ vùng Đỗ Động (nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây).
- Lý Khuê tức Lý Lãng Công chiếm giữ vùng Siêu Loại (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
- Nguyễn Thủ Tiệp tức Nguyễn Lệnh Công chiếm giữ vùng Tiên Du (nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
- Lã Đường tức Lã Tá Công chiếm giữ vùng Tế Giang (nay thuộc huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên).
- Nguyễn Siêu tức Nguyễn Hữu Công chiếm giữ vùng Tây Phù Liệt (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội).
- Phạm Bạch Hổ tức Phạm Phòng át chiếm giữ vùng Đằng Châu (nay thuộc huyện Kim Thi, tỉnh Hưng Yên).
- Trần Lãm tức Trần Minh Công chiếm giữ vùng Bố Hải Khẩu (nay thuộc khu vực Thị xã Thái Bình).
- Ngô Xương Xí con của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập trên danh nghĩa là vua Ngô rút về chiếm giữ vùng Bình Kiều (nay thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa) thực tế vai trò chỉ như một sứ quân.
Các sứ quân không ai chịu ai, nhăm nhe tìm cách tiêu diệt nhau để một mình lên ngôi vua.
Cuối cùng có Đinh Bộ Lĩnh người ở động Hoa Lư (nay là huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình), con trai của Đinh Công Trứ (thứ sử Hoan Châu thời Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền nhưng mất sớm), một người nổi tiếng cương nghị, mưu lược, có chí lớn, từng theo sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu, được Trần Lãm nhận làm con nuôi và khi chết giao toàn bộ binh quyền, lần lượt đánh bại các sứ quân khác, được tôn là Vạn Thắng Vương, năm 968 dập tắt loạn 12 sứ quân, đưa đất nước thống nhất về một mối. Đinh Bộ Lĩnh hồi nhỏ sau khi cha chết, theo mẹ về quê ở, thường đi chơi với lũ trẻ chăn trâu từng dùng bông lau đánh trận giả, được lũ trẻ phục tài tôn làm tướng, được rước như thiên tử, lớn lên mặc dầu thanh niên và nhân dân quê nhà mến mộ quy tụ bên ông rất nhiều nhưng vì bất hòa với chú là Đinh Dự nên ông quyết định cùng con trai là Đinh Liễn sang Bố Hải Khẩu xin theo Trần Lãm.
Sau khi dẹp xong loạn Mười hai sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh chính thức lên ngôi vua, xưng hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế tức Đinh Tiên Hoàng đế, định đô tại quê hương Hoa Lư, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, lấy niên hiệu là Thái Bình, đàng hoàng sánh vai cùng nhà Tống ở phương Bắc (năm 960, Triệu Khuông Dận, Thái tổ nhà Tống làm binh biến cướp ngôi nhà Hậu Chu, lập nên nhà Tống). Cổ Loa, Đại La không còn là kinh đô, trung tâm chính trị hành chính của quốc gia nhưng sự thống nhất đất nước lúc bấy giờ thật sự là hạnh phúc lớn của toàn dân tộc.
Sau khi lên ngôi, Đinh Bộ Lĩnh ra sức chăm lo củng cố mọi mặt. Về nội trị, định lại quan chế, chỉnh đốn triều nghi, phong thưởng cho các tướng sĩ có công, Nguyễn Bặc được phong tước Định Quốc Công, Đinh Điền làm Ngoại Giáp, Lê Hoàn làm Thập đạo Tướng quân, con là Đinh Liễn tước Nam Việt Vương. Về quân sự, Đinh Bộ Lĩnh phiên chế lại quân đội chia làm 10 đạo, trên danh nghĩa mỗi đạo 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người, tăng cường việc luyện tập, nhằm xây dựng nên một đội quân hùng mạnh.
Về ngoai giao, để tạo thế hòa hoãn, tránh đụng độ với nhà Tống đang hưng thịnh, năm 972 Đinh Bộ Lĩnh cử con là Đinh Liễn mang lễ vật sang cống, cầu phong và chấp nhận sắc phong của vua Tống. Để tăng cường kỷ cương phép nước, răn đe những kẻ không chịu tuân thủ pháp luật của triều đình, Đinh Bộ Lĩnh đặt những hình phạt nặng như bỏ vào vạc dầu hoặc cho hổ báo ăn thịt nhờ vậy sớm chấm dứt tình trạng âm ỉ cát cứ, gây rối, làm loạn, phá hoại sự bình yên của trăm họ. Mặt khác nhà vua khuyến khích nhân dân làm điều thiện theo giáo lý của nhà Phật. Đinh Bộ Lĩnh rất coi trọng Phật giáo, thiền sư Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, giữ chức Tăng thống đứng đầu các tăng lữ, được tham dự triều chính trên cương vị như cố vấn.
Nhiều việc làm của Đinh Tiên Hoàng đế đã tạo nên quyền lực tập trung, nâng cao được hiệu lực của triều đình. Quốc gia nhờ đó được tập trung thống nhất, tạo đà và thế cho sự phát triển lớn mạnh.
Đinh Tiên Hoàng đã cống hiến cho dân tộc công lao rất to lớn. Rất tiếc cuối đời, ông phạm sai lầm, bỏ con trưởng Đinh Liễn, người con cả đã theo ông đánh trận từ nhỏ có nhiều công trạng, lập con út là Hạng Lang, con trai của thứ phi yêu quý làm Thái tử. Đinh Liễn không được kế vị, rất bất bình, đầu năm 979 đã sai người giết Hạng Lang. Chuyện lục đục trong nội bộ gia đình đã làm suy giảm nghiêm trọng uy thế của Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn và triều đình nhà Đinh. Cuối năm 979 họa lớn đã xảy ra: Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn bị tên Đỗ Thích đang đêm lẻn vào cung ám hại. Đỗ Thích người làng Đại Đê (nay thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), từng giữ chức Chi hậu Nội nhân ở trong cung vua Đinh, một hôm nằm mơ thấy có một vì sao từ trên trời rơi xuống đúng miệng, khi tỉnh dậy, đoán đó là điềm lành được thần nhân báo mộng sẽ làm vua, nên nhân cơ hội sau một buổi yến tiệc ở trong cung, Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn đang lúc ngủ say, hắn đã lén vào cung giết chết. Triều thần sau đó đã lùng bắt Đỗ Thích, đem chém đầu và tôn con thứ hai của Đinh Bộ Lĩnh là Vệ Vương Đinh Toàn (có sách chép là Đinh Tuệ) con của Dương hậu mới 6 tuổi lên ngôi vua.
Đinh Bộ Lĩnh làm vua được 12 năm, di hài được đưa lên táng ở Sơn Lăng, Trường Yên (nay thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình).
Tuy cuối đời có phạm sai lầm bỏ con trưởng lập con thứ và bị giết một cách oan nghiệt nhưng với sự nghiệp đại định và nhất thống quốc gia, mở đầu nên thời kỳ lịch sử độc lập thống nhất bền vững lâu dài cho tổ quốc, dù chưa chọn được nơi định đô có vị thế trường tồn, Đinh Bộ Lĩnh đối với lịch sử dân tộc trước sau luôn xứng đáng là vị vua khai quốc anh hùng.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Lê Hoàn đuổi Tống, bảo vệ Đại cồ việt


Tin cậu bé Đinh Toàn mới 6 tuổi được triều đình nhà Đinh tôn lên ngôi vua nước Đại Cồ Việt chẳng mấy chốc bay tới tai Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa tại kinh đô Đông Kinh (Biện Kinh) Trung Quốc. Máu bành trướng lại nổi lên, Triệu Khuông Nghĩa lập tức phong Tri Ung Châu Hầu Nhân Bảo làm Giao Châu thuỷ lục Chuyển vận sứ cùng các tướng Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng, Vương Soạn, Thôi Lượng, Giả Thực đưa quân sang cướp nước ta.
Cuối năm 980, quân Tống theo hai đường thủy bộ ào ạt tiến đánh Đại Cồ Việt. Quân bộ từ Ung Châu (Quảng Tây ngày nay) theo đường Lạng Sơn tiến vào. Quân thuỷ từ Quảng Châu (Quảng Đông ngày nay) vượt biển tiến sang. Hai đạo quân này theo kế hoạch sẽ tiến thẳng đến Hoa Lư hẹn thời gian cùng nhau tấn công chiếm Hoa Lư.
Tin quân Tống chia hai đường thuỷ bộ tiến đánh nước ta gây cho triều đình nhà Đinh lại thêm một phen bối rối. Số là trước khi nghe tin nhà Tống đem quân xâm lấn, nội bộ triều đình nhà Đinh đã qua một phen rối bời. Mặc dầu đã cùng với Lê Hoàn tôn lập Đinh Toàn lên ngôi nhưng Đinh Điền, Nguyễn Bặc vẫn ngờ Lê Hoàn trong tay nắm binh quyền sẽ làm những việc không hay đối với nhà vua còn nhỏ tuổi nên nên đã dấy binh chống lại Lê Hoàn. Kết cục Lê Hoàn chẳng những không bị đánh đổ, ngược lại Đinh Điền, Nguyễn Bặc bị Lê Hoàn giết chết.
Nay quân Tống đem đại binh xâm lấn, vua thì còn quá ít tuổi, quân tướng thì sau các biến động, lòng dạ lo lắng phân vân. Thái hậu Dương Vân Nga đang giữ quyền nhiếp chính bèn giao cho Lê Hoàn, bấy giờ đang giữ chức Thập đạo Tướng quân, Điện tiền Đô chỉ huy sứ (Tổng chỉ huy quân đội kiêm Chỉ huy trưởng quân Cấm vệ) toàn quyền định liệu, lại phong cho Phạm Cự Lượng làm Đại tướng cùng bàn mưu tính kế góp sức đánh giặc. Khi họp bàn với các tướng sĩ, Phạm Cự Lượng lên tiếng nói:
- Nay quân giặc đã gần ngoài bờ cõi mà chúa thượng thì còn thơ ấu, dẫu bọn ta có liều chết mà đánh rồi may lập được chút công lao thì ai sẽ là người biết cho? Chi bằng trước hay tôn quan Thập đạo Tướng quân (Lê Hoàn) lên ngôi Thiên tử rồi sau đó mới xuất quân.
Các tướng sĩ nghe xong đồng thanh hô “vạn tuế” rồi cùng vào cung tâu lên Thái hậu Dương Vân Nga. Dương Thái hậu đồng tình với các tướng sĩ, liền sai lấy áo Long Cổn khoác lên người Lê Hoàn, đưa Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế. Đinh Toàn bị giáng xuống làm Vệ Vương như cũ.
Lê Hoàn sinh năm 941 tại Xuân Lập, châu ái (nay là xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa), thuở nhỏ nhà nghèo, phải đi làm con nuôi cho một người trong họ, lớn lên theo Đinh Liễn dẹp loạn 12 sứ quân lập được nhiều công trạng, được Đinh Bộ Lĩnh khen ngợi và tin dùng, phong làm Thập đạo Tướng quân lúc mới 30 tuổi.
Lê Hoàn lên ngôi vua, lấy hiệu là Đại Hành Hoàng đế, niên hiệu là Thiên Phúc, lập tức chia quân đi các ngả chặn đánh quân Tống. Đầu năm 981, Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng dẫn quân bộ tiến đánh Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ tiến đánh Tây Kết, Lưu Trừng dẫn quân thuỷ tiến vào sông Bạch Đằng. Phía đường thuỷ, Lê Hoàn sai quân sĩ đóng cọc trên sông Bạch Đằng theo kế sách chống giặc của Ngô Quyền khi trước. Phía đường bộ, ông sai người trá hàng dụ Hầu Nhân Bảo đến Chi Lăng, đặt phục binh chém chết Hầu Nhân Bảo. Lê Hoàn tự mình chỉ huy quân sĩ chặn đánh Trần Khâm Tộ. Quân Trần Khâm Tộ thua to, chết quá nửa, thây phơi đầy đồng, hai tướng giặc là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt sống. Quân Tống trên cả ba hướng đều bị đại bại, những tên may mắn còn sống sót liều chết vắt chân lên cổ trốn chạy về bên kia biên giới.
Nước Đại Cồ Việt nhờ đó đã đứng vững mặc cho mưu đồ bành trướng của nhà Tống bấy giờ đang khá dữ dội. Vua nhà Tống sau chiến bại tức giận đã phạt tội giết chết Tôn Toàn Hưng, Vương Soạn. Lưu Trừng lo bị phạt tội, sợ quá lâm bệnh chết.
Sau chiến thắng, Lê Hoàn bắt tay ngay vào việc xây dựng đất nước trên tất cả các mặt đồng thời vẫn không lơi lỏng nhiệm vụ phòng vệ giữ vững độc lập cho dân tộc. Ông quan tâm mở mang phát triển mọi mặt kinh tế nhằm nâng cao đời sống nhân dân đồng thời tự mình hoặc cắt cử các tướng đem quân đi đánh dẹp bọn phản nghịch ở các nơi, tạo sự thống nhất bình yên cho đất nước. Năm 982, ông còn tự cầm quân đi đánh Chiêm Thành, chém chết vua Chiêm, san phẳng kinh đô, loại trừ việc quân Chiêm Thành thường sang đánh phá quấy rối nước ta.
Với nhà Tống, ông thường cử sứ sang thông hiếu, dùng sách lược ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo trong cách đối xử nhưng kiên quyết giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ.
Tiếp chiếu thư của vua Tống, ông lấy cớ bị ngã ngựa đau chân, đặt chiếu thư lên điện chứ không chịu lạy. Trước thái độ hống hách của sứ thần nhà Tống, ông cho dẫn hổ dữ đến trước mặt sứ thần mời thưởng ngoạn, khiêng trăn lớn đến quán dịch mời sứ thần ăn thịt. Sứ nhà Tống bị mấy phen kinh sợ không còn dám hạnh họe gì nữa.
Năm 1005, Lê Hoàn mất, thọ 65 tuổi, làm vua 25 năm.
Trong sự nghiệp hiển hách của Lê Hoàn đánh thắng quân Tống, giữ vững bờ cõi non sông, rất tiếc sử sách không lưu ghi được cụ thể, nhưng chắc chắn có rất nhiều những đóng góp quan trọng của nhân dân Đại La, một trung tâm đô thị lớn, đông dân và phồn vinh nhất nước thời bấy giờ.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Lê Ngọa triều hủy hoại đế nghiệp ở Hoa Lư, phát sinh tiền đề lập kinh đô mới


Sau khi Lê Hoàn mất, Thái tử Lê Long Việt là người kế vị nhưng ba anh em khác trong số 11 con trai của ông là Trung Quốc Vương Long Kính, Đông Thành Vương Long Trích và Khai Minh Vương Long Đĩnh không chịu, đã lôi kéo các quan đại thần và quân sĩ chống lại, tranh dành quyền lên ngôi. Cuộc tranh giành kéo dài trong chín tháng trời, đất nước không có vua, kinh đô Hoa Lư rối bời, lòng dân ly tán. Đông Thành Vương thất thế phải bỏ chạy trốn vào Chiêm Thành nhưng vẫn bị bắt, bị giết. Cuối cùng Thái tử Long Việt giành được thế lên ngôi nhưng vừa mới ở trên ngai vua được 3 ngày thì bị em ruột cùng mẹ là Long Đĩnh, con thứ năm của Lê Hoàn sai người vào cung giết chết. Long Việt tức Lê Trung Tông bấy giờ mới 23 tuổi.
Long Đĩnh là người tàn bạo. Sau khi giết anh chiếm ngôi, ở trên ngai vàng, Long Đĩnh lại càng tàn bạo hơn, thường lấy việc hành hạ và giết người làm trò tiêu khiển: nào sai lấy rơm tẩm dầu quấn quanh những người phạm tội rồi đốt, nào bắt tù nhân trèo cây cao rồi sai người chặt gốc cho cây đổ, nào nhốt tù binh vào chuồng thả xuống nước đặt hở đầu để xem người bị nhốt quằn quại chết dần khi nước thuỷ triều lên, nào dùng dao cùn xả vào tù nhân gây đau đớn dãy dụa kéo dài tận khi chết, thậm chí còn sai người dùng dao sắc róc mía trên đầu Đức Tăng thống Quách Mão giả vờ róc trượt tay, dao phập vào đầu trọc nhẵn thín của vị Quốc sư được nhân dân kính trọng. Vào các buổi chầu, Long Đĩnh thường cho tên hề Liêu Thủ Tâm làm các trò khôi hài, nhại lại và bóp méo các lời tâu của các đại thần để gây cười hoặc leo lẻo luôn mồm khỏa lấp các lời bẩm báo của triều thần xin bàn việc nước.
Long Đĩnh không chỉ bạo ngược mà còn dâm ô vô độ khiến sinh bệnh không ngồi được lâu, đến nỗi khi thiết triều thường phải nằm để văn võ bá quan chầu lạy và nghe tấu trình công việc, vì vậy nhân dân và sử sách thường gọi là Ngọa Triều (nằm khi thiết triều ).
Ngọa Triều sống tàn ác sa đọa, đã nhanh chóng huỷ hoại những di sản tốt đẹp do vua cha Lê Đại Hành tạo dựng, gây cho triều thần và dân chúng bao nỗi bất bình chán ngán.
Vì dâm đãng và bệnh hoạn, Lê Ngọa Triều chết sớm (1009) lúc tuổi mới 24 đang độ thanh niên, làm vua chỉ được 4 năm. Do con trai còn quá bé, hơn nữa triều thần và quân sĩ đều oán giận chính sách hà khắc bạo ngược của Ngoạ Triều, sợ dòng máu tàn bạo sẽ di truyền sang vua con, khiến mọi người sẽ thêm điêu đứng, nên không ai muốn đưa con trai Ngọa Triều là Khai Phong vương Sạ lên nối ngôi mà đều muốn tìm cách đưa một người khác vừa có đức vừa có tài lên làm hoàng đế Đại Cồ Việt.
Nhà Tiền Lê vì thế đến đó chấm dứt nghiệp đế và Hoa Lư vì thế đến đó cũng chấm dứt vai trò đế đô.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Phần IV


Thời Lý, lập Thăng Long đưa thế nước vươn cao




Lý Công Uẩn, người khai sinh
kinh thành Thăng Long, mở đầu đưa
thế nước vươn cao



Nhà Tiền Lê do Lê Hoàn tức Lê Đại Hành khởi nghiệp năm 980 gồm Lê Hoàn làm vua được 24 năm, Lê Long Việt tức Trung Tông ở trên ngôi vẻn vẹn chỉ có 3 ngày, còn Lê Long Đĩnh tức Ngọa Triều giữ ngai vàng cũng chỉ được 4 năm. Ngọa Triều tàn bạo quá, nên sau khi chết, triều thần nhà Lê không ai còn muốn đưa dòng dõi của nhà Lê lên làm vua nữa.
Triều thần, quân sĩ và dân chúng mong muốn đất nước Đại Cồ Việt của dân tộc Việt dũng cảm, dòng giống con rồng cháu tiên, vừa trải qua hơn ngàn năm đau khổ dưới ách thống trị của ngoại bang và hơn hai chục năm tan tác vì loạn sứ quân có một đức vua vừa có tài vừa có đức trị vì.

Đức vua đó chính là Thái tổ Lý Công Uẩn, xuất hiện năm 1010, sáng lập nên triều đại Lý huy hoàng, đưa đất nước ta phát triển trên mọi mặt, đạt những thành tựu rực rỡ và đưa kinh đô của dân tộc về nơi trung tâm trời đất, khai sinh nên kinh đô Thăng Long tức thủ đô Hà Nội ngày nay.

Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp, lộ Bắc Giang nay là làng Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, sinh ngày 17 tháng Hai năm Giáp Tuất niên hiệu Thái Bình thứ 5 đời Đinh Tiên Hoàng tức ngày 8 tháng 3 năm 974. Làng Cổ Pháp xưa gọi là làng Diên Uẩn, do chuyện Đinh Không Thiền sư thời Bắc thuộc đào ruộng lấy đất đắp nền dựng chùa bắt được mười chín chiếc khánh cổ pháp bảo, nên được đổi tên thành Cổ Pháp. Mẹ Lý Công Uẩn họ Phạm, cha không được sử sách ghi rõ tên tuổi (Sử sách chỉ ghi sau khi lên ngôi vua, Lý Thái Tổ đã phong mẹ làm Minh Đức Thái hậu, cha làm Hiển Khánh Vương). Có sách ghi: bà Phạm thị đi chơi chùa Tiêu Sơn, cùng với thần giao hợp rồi có chửa. Lúc ba tuổi, Công Uẩn được mẹ gửi vào chùa Lục Tổ làm con nuôi nhà sư Lý Khánh Vân, được Khánh Vân cho mang họ Lý của mình. Khánh Vân là em Thiền sư Vạn Hạnh, học trò Đức Thiền ông đạo giả ở chùa Lục Tổ. Vạn Hạnh thông minh và hiếu học, tinh thông cả Tam giáo (Nho, Phật, Lão), thuộc lòng kinh sách Tam Tạng (Kinh Tạng, Luật Tạng, Luân Tạng) của Phật giáo, tiên đoán được nhiều chuyện đời, nói ra điều gì, thiên hạ đều coi như sấm ngữ, được các vua đời Đinh, đời Lê rất mực kính trọng, được vua Lê Đại Hành tôn làm Quốc sư. Thiền sư Vạn Hạnh khi gặp con nuôi của em mình, thấy tướng khác lạ, nhận xét: "Cậu bé này là con người phi thường, sau này đến lúc cường tráng tất có thể cứu đời, yên dân, làm minh chủ cả thiên hạ". Thiền sư Khánh Vân biết vậy nên đã dành mọi tâm sức dạy dỗ cho Công Uẩn, không chỉ riêng phần Phật học mà còn mở rộng thêm nhiều đạo học, cả văn lẫn võ. Lý Công Uẩn lúc nhỏ thông minh, chăm học, học đâu nhớ đấy, lớn lên càng tỏ ra thông tuệ, khảng khái, không màng của cải, có ý chí lớn. Mặc dầu thời bấy giờ Phật giáo đang trong giai đoạn phát triển, các nhà sư không những được nhân dân tôn kính, mà cả triều đình và quan lại các lộ cũng rất nể trọng nhưng Lý Công Uẩn tự nhận biết muốn giúp đời cứu nước không chỉ đội áo cà sa, ngày ngày ăn chay niệm kinh, cầu khấn Phật tổ cứu độ cho chúng sinh ngày thường thoát được tội lỗi và khi về bên kia thế giới sẽ không bị đọa đầy ở nơi địa ngục, hoặc thỉnh thoảng đi quyên giáo làm phúc, hoặc ban thuốc lành cho các đệ tử đang lâm nguy trong vòng bệnh hoạn. Lý Công Uẩn đã mạnh dạn tâu lên Phật tổ và cầu xin các Thiền sư Khánh Vân, Vạn Hạnh cho được rời sân Phật, tìm đến kinh đô Hoa Lư, xin được thử tài thử sức kiếm việc ở chốn quan môn. Nhờ Quốc sư Vạn Hạnh giới thiệu, Lý Công Uẩn được sớm lọt mắt Lê Đại Hành. Vua Lê giao cho Lý Công Uẩn công việc hầu hạ giúp đỡ Thái tử Nam Phong Vương Lê Long Việt, con thứ ba rất được yêu quý của nhà vua. Lê Long Việt đang độ thanh niên được Lý Công Uẩn, một trang nam nhi tuấn tú, tinh thông kinh sử, văn hay võ giỏi, tuổi tác tuy còn trẻ nhưng chín chắn, tính tình trung thực cương nghị ngày ngày hết lòng săn sóc nên rất mực hài lòng.

Năm ất Tỵ (1005) vua Lê Đại Hành do tuổi cao bị bệnh mất. Thái tử Long Việt là người kế vị, nhưng ba hoàng tử khác gồm Long Kính, Long Trích, Long Đĩnh lại tranh giành lên ngôi nên lôi kéo triều thần và quân sĩ gây rối loạn, khiến đất nước trong chín tháng liền không vua. Cuối cùng Long Việt giành được thế lên ngôi, nhưng vừa lên ngôi được ba ngày thì bị em ruột cùng mẹ, con thứ 5 của Lê Hoàn là Long Đĩnh sai người vào cung giết chết. Kinh đô Hoa Lư bàng hoàng. Quan lại triều đình và người thân trong phe ủng hộ Long Việt sợ liên lụy hoảng hốt bỏ trốn sạch, chỉ riêng một mình Lý Công Uẩn không bỏ trốn, ngược lại còn đến bên thây Lê Long Việt ôm khóc thảm thiết. Bọn quan quân tay chân của Long Đĩnh hết sức kinh ngạc, tâu xin bắt Công Uẩn giết chết. Long Đĩnh sau khi giết anh toại được lòng tham cướp ngôi, chợt có phút thức tỉnh, cảm phục nghĩa khí của Công Uẩn, bụng muốn thu dùng nên không bắt giết mà còn khen là người có tấm lòng trung nghĩa, đáng được nêu gương, bèn sai làm chủ sự đứng ra lo việc mai táng cho Long Việt, sau đó còn gọi ra ban thêm chức tước để mua chuộc. Lý Công Uẩn được Long Đĩnh đầu tiên phong giữ chức Tứ Sương quân Phó Chỉ huy sứ, sau lại phong Tả Thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ, một chức quan võ cao cấp. Mấy lần được phong là mấy lần Lý Công Uẩn trong bụng khá bứt rứt nhưng nghĩ sẽ khó thoát khỏi bàn tay tàn ác của Long Đĩnh nếu bản thân không nhận, bèn cố sức nén chịu, giả bộ phấn khích quỳ lạy tạ ơn.

Long Đĩnh là một ông vua vô cùng tàn bạo. Từ khi ngồi lên ngai vàng không ngày nào là không gây tội ác. Bản thân lại rất dâm đãng vì thế sau khi lên làm vua chưa được bao lâu sức khoẻ đã trở nên suy sụp, trong các buổi chầu đều nằm nghe các triều thần tâu trình vì thế gọi là Ngọa Triều.

Ngọa Triều sống sa đọa và tàn ác đã nhanh chóng huỷ hoại những di sản tốt đẹp do Lê Đại Hành để lại, gây cho dân chúng quân sĩ và cả các triều thần bao nỗi bất bình chán ngán. Bấy giờ ở nhiều nơi trong nước xuất hiện các điềm lạ: Tại chùa ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp có con chó mẹ đẻ một con chó con màu trắng trên lưng có đốm lông đen hình chữ "Thiên Tử"; xung quanh mộ thân phụ Lý Công Uẩn đêm đêm nghe tiếng tụng kinh râm ran; cây đa ở chùa Song Lâm có vết hằn sâu hình chữ "quốc"; cây gạo to giữa làng Cổ Pháp bị sét đánh, vỏ cây bị lột để lộ một bài sấm:

Thụ căn yểu yểu
Mộc biểu thanh thanh
Hoà đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Chấn cung xuất nhật
Đoài cung ẩn tinh
Lục thất niên gian
Thiên hạ thái bình.


Tạm dịch:

Rễ cây thăm thẳm
Vỏ cây xanh xanh
Lúa dao cây đổ
Mười tám con thành
Cung đông nhật mọc
Cung tây sao tàn
Khoảng sáu bảy năm
Thiên hạ thái bình


Theo lối ghép chữ Hán, bài sấm truyền có nghĩa rõ ràng: Ba chữ "hòa" ( ), chữ "đao" ( ), chữ "mộc" ( ) ghép với nhau thành chữ "Lê" ( ), câu thứ ba có nghĩa: Nhà Lê đổ. Câu thứ tư ghép ba chữ "thập" ( ), chữ "bát" ( ), chữ "tử" ( ) sẽ có chữ "Lý" ( ), cả câu có nghĩa: Nhà Lý lên.

Quốc sư Vạn Hạnh sau khi đọc bài thơ sấm, đoán ngay được nghĩa, vội vào kinh đô Hoa Lư nói cho Lý Công Uẩn nghe:

- Gần đây có bài sấm lạ ở quê hương nói vận nhà Lê sắp mất, nhà Lý sắp lên, đất nước sẽ được thái bình thịnh vượng. Trong họ Lý không có ai khoan hòa, nhân hậu, có tài đức và được lòng dân như ông. Nay bần tăng tuổi đã ngoại bảy mươi, sợ không kịp thấy được việc đó, nghĩ mà buồn giận".(1)

Lý Công Uẩn nghe xong, dáng chiều suy nghĩ, sợ câu chuyện lây lan động đến tai vua ắt sẽ mang vạ, bèn vội vàng mời ngay Vạn Hạnh trở lại lộ Bắc Giang, đưa đến ẩn tu trên núi Ba Sơn, đất Tiên Sơn.

Năm Kỷ Dậu (1009), Ngọa Triều chết. Lý Công Uẩn cùng Hữu Điện tiền Chỉ huy sứ Nguyễn Đề đưa 500 quân Tuỳ Long vào cung canh giữ. Trước đó lúc Ngọa Triều ốm nặng sắp mất, trong Nội quan có Chi hậu Đào Cam Mộc, một con người tinh tường nhiều việc, gặp Công Uẩn đưa lời nói khích:

- Chúa thượng (Ngọa Triều) tâm trí u tối, ương ngạnh, làm nhiều điều bất nghĩa. Trời đã chán cái đức của Chúa Thượng rồi nên không sống lâu được nữa. Con nối ngôi thì còn nhỏ chưa đảm đương được nhiều việc khó khăn phiền phức. Trăm quan không có chỗ nương tựa, hạ dân mong muốn có vị chân chúa. Sao Thân Vệ không nhân lúc này theo dấu thuở xưa vua Thang(2)), vua Võ(3)), hoặc gần đây họ Dương(4)), họ Lê(5) để làm,trên thuận ý trời, dưới hợp lòng dân mà còn bo bo giữ theo thói thường nhỏ mọn?

Lý Công Uẩn sợ mắc mưu gian, vội quát:

- Sao ông dám ăn nói như vậy, ta tất phải bắt ông trình phán quan!

Đào Cam Mộc không chút sợ hãi, chậm rãi thưa tiếp:

- Tôi thấy thiên thời, lòng người như thế mới dám nói, nay ngài đưa tôi trình phán quan, chắc tôi không tránh khỏi cái chết.

Công Uẩn nghe nói vậy, cảm thấy Cam Mộc có ý tôn phù mình, bèn nói:

- Ta không nhẫn tâm tố cáo ông, chỉ sợ nói lộ ra thì đều chết cả.

Cam Mộc lại nói:

- Người trong nước đều nói họ Lý đáng lên thay họ Lê, sấm đồ đã xuất hiện không thể che dấu được. Chuyển họa thành phúc là đúng lúc này vậy, Thân Vệ còn nghi ngờ nữa sao?

Công Uẩn vội hỏi:

- Ta xem chí ông cùng với Quốc sư Vạn Hạnh không khác nhau. Nếu thực như thế thì kế phải làm sao?

Cam Mộc đáp:

- Nay trăm họ mỏi mệt, dân không chịu nổi mệnh lệnh. Nếu Thân Vệ lấy ân đức vỗ về, trăm họ tất cùng nhau mà theo về, cũng như nước chảy xuống chỗ thấp ai mà ngăn được.
Mấy ngày sau, khi Ngọa Triều vừa chết, lợi dụng lúc trăm quan đang phân vân trước việc con của Ngọa Triều còn bé, vừa chưa thể nương tựa vừa lo sợ máu ác của Ngọa Triều di truyền gây hại và nhân lúc Lý Công Uẩn đang cầm quân Tuỳ Long đóng trong nội điện, Đào Cam Mộc liền hội các quan trong triều lại rồi nói:

- Nay là lúc ức triệu người đã có lòng khác, trên dưới đều xa lìa nhân đức, người người oán giận chính sách hà khắc bạo ngược của Tiên vương (Ngọa Triều) nên không muốn theo về tự quân nữa. Hết thảy mọi người đều có ý tôn cử Thân Vệ lên thay. Chúng ta nếu không nhân lúc này mà lập Thân Vệ lên ngôi Thiên tử, lỡ ra bất chợt có biến thì tất cả còn giữ được không?

Đào Cam Mộc nói xong, trăm quan đều nhất tề mời Lý Công Uẩn lên chính điện lập làm Thiên Tử, dập đầu tung hô "Vạn tuế".

Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế tháng 11 năm Kỷ Dậu, tức tháng 1 năm 1010, xưng hiệu là Thái Tổ, lấy niên hiệu là Thuận Thiên. Lý Thái Tổ ngay sau khi lên ngôi lập tức ra lệnh đốt bỏ hết mọi dụng cụ tra tấn và phương tiện tiêu khiển dã man của Ngọa Triều, thả hết số tù tội, trước khi thả cho cấp đủ áo quần, nới lỏng nhiều luật lệ kìm kẹp đối với dân chúng, cất nhắc phong thêm quan tước cho những người có tài đức có công và một số người trong gia tộc. Đào Cam Mộc có công lớn trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi được phong làm Nghĩa Tín hầu và được kết hôn cùng con gái lớn của nhà vua là An Quốc công chúa. Trần Cảo được phong làm Tướng Công, Ngô Đinh làm Xu Mật sứ, Đào Thạc Phụ làm Thái Bảo, Đặng Văn Hiếu làm Thái Phó, Bùi Xa Lỗi làm Tả Kim ngô, Đàm Thản làm Tả Võ vệ, Đỗ Giám làm Hữu Võ vệ...

Lý Thái Tổ nghĩ nhiều về nơi định đô. Kinh đô Hoa Lư do Đinh Tiên Hoàng đế lập nên từng tồn tại 42 năm dưới hai triều đại Đinh, Lê vốn là vùng đất đẹp, có nhiều lợi thế, giữa là vùng đồng bằng tuy hẹp nhưng bằng phẳng, xung quanh là hàng loạt núi đá vòng cung, cảnh quan rất hùng vĩ: phía trước núi Mã Yên như bức tường thành án ngự, phía đông có núi Cột Cờ, phía đông nam có Ghềnh Tháp, mỏm núi thấp nhô sát Ngòi Sào Khê chảy qua Hang Luồn (Xuyên Thuỷ Động) là nơi tập luyện thuỷ quân tiện lợi, lưng chừng núi có Động An Tiên, ngoài ra còn có Hang Muối, Hang Tiền nơi cất giữ quân lương lý tưởng, rồi Hang Quèn và gần đó là Đấu Long Quân, một thung lũng khá rộng rất tiện cho việc tập luyện quân bộ; bên phía tây có đường Thượng Đạo thông vào Thanh Hoa hoặc ra mạn Bắc; phía bắc có sông Hoàng Long chảy thông ra sông Đáy, từ đó nhập vào hệ thống sông Nhị Hà có thể dễ dàng đi ra biển hoặc toả ra vùng đồng bằng hay ngược lên miền núi. Tuy mới được lập thành kinh đô trong vòng bốn thập kỷ nhưng cung điện, đền đài, miếu mạo đã từng từng lớp lớp, lộng lẫy nguy nga: nào điện Bách Bảo Thiên Tuế nơi vua coi chầu ở trên núi Đại Vân, toàn bộ cột lớn cột nhỏ đều dát vàng dát bạc, nào điện Phong Lưu ở bên đông, điện Tử Hoa ở bên tây, điện Bồng Lai bên tả, điện Cực Lạc bên hữu, trong nội cung có điện Trường Xuân nơi vua ngủ tĩnh lặng nên thơ, gần đấy là hai điện Càn Nguyên và Long Lộc mái ngói toàn bằng bạc trắng uy nghi đường bệ. Bên ngoài thành nội là hàng loạt dinh thự của các quan lại, mái ngói đỏ chen lẫn, hoà quyện trong màu xanh của cây cỏ bạt ngàn.

Hoa Lư đẹp như một bức tranh hoành tráng, đủ sông, đủ núi, đủ đồng bằng nhưng Hoa Lư chật hẹp chỉ thích hợp cho một vị trí phòng ngự lợi hại mà thiếu yếu tố đứng ở nơi trung tâm trời đất, từ đấy có thể phóng tầm mắt nhìn rộng được bốn phương, đoán định được sự an nguy của đất nước, nhanh chóng huy động được sức tài, của cải của toàn thiên hạ hướng đến một sự nghiệp lớn, lâu dài, xây dựng một quốc gia phồn vinh, cường thịnh.
Lý Công Uẩn nghĩ về quê hương Bắc Giang yêu quý với các đô thành Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) và Long Biên (gần Thị xã Bắc Ninh ngày nay) đã có từ mấy trăm năm trước, từng là lỵ sở đô hộ của nhiều triều đại phương Bắc. Luy Lâu và Long Biên tuy ở giữa vùng đồng bằng, phía bắc có dãy Nham Biền - Cửu thập cửu phong (99 ngọn núi) lừng lững ngang trời che chắn nhưng với trí thông minh tuyệt vời, nhà vua nhanh chóng nhận ra trên nhiều phương diện có tính chiến lược, các đô thành quê hương đều không đáp ứng được.

Lý Công Uẩn nghĩ đến thành Đại La, nơi vừa có thành luỹ kiên cố vừa là đất đô hội bậc nhất nằm giữa vùng đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu, sông ngòi chi chít, dân cư đông đúc, giao thông thuỷ bộ thuận lợi; vòng ngoài trên các mặt bắc, đông bắc, tây bắc, tây, tây nam nhưng dãy núi trùng điệp vòng cung bao bọc tạo nên bức trường thành vô cùng kiên cố; gần hơn bên mạn bắc, tây bắc có dãy Tam Đảo, bên mạn tây có dãy Ba Vì sừng sững ôm che và các dòng sông Bắc Giang (tức sông Thiên Đức hay sông Đuống), Nguyệt Đức (sông Cầu), Nhị Hà trải dài bên mạn bắc, mạn đông, sông Đáy bên mạn nam, sông Nhuệ bên mạn tây tạo thành những hào thiên nhiên sâu rộng chắn giữ. Nơi đây đúng là "nơi trung tâm của trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi".

Nhà vua nghĩ kỹ, ra chiều quyết định, bèn tự tay viết chiếu:

"Ngày xưa, đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam Đại theo ý riêng mình mà tự tiện di chuyển. Làm như thế chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương Chu, cố đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau xót vì việc đó không thể không dời đô. Huống chi thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương(*), ở nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi Nam, Bắc, Đông, Tây lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muốn đời .
Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?"(**).


Giữa triều đình, khi chiếu vừa tuyên đọc xong, văn võ bá quan liền thưa: "Bệ hạ vì thiên hạ lập kế lâu dài, trên cho nghiệp đế được thành, dưới cho dân chúng được giàu, điều lợi lớn lao như thế, không ai là người không theo". Thưa xong, tất cả nhất loạt tung hô "Vạn tuế".

Theo kế hoạch đã định, tháng bảy mùa Thu năm Canh Tuất (1010), việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La được thi hành. Nhà vua ngồi trên thuyền ngự cùng đoàn thuyền tuỳ tùng và các quan đại thần rời sông Hoàng Long đi vào sông Đáy, vượt qua sông Châu, vào sông Nhị rồi ngược dòng Nhị Hà tiến về phía thành Đại La. Từ xa, vua Lý Thái Tổ nhìn về kinh đô mới, chợt thấy trong đám mây nơi chân thành hình dáng một con rồng vàng đang bay lên. Nhà vua hết sức vui mừng, cho là điềm lành, liền nhân cớ đó đặt ngay tên cho kinh đô mới là Thăng long (rồng bay lên).

Đến kinh đô mới, Lý Thái Tổ ban bố lệnh xá thuế ba năm liền cho cho toàn dân, đồng thời xoá hết mọi khoản thuế còn nợ của dân trong các năm trước, quy định ai có việc gì oan trái muốn khiếu kiện hoặc kêu oan được đến tận triều đình để tâu bày, nhà vua sẽ đích thân đứng ra xem xét, phân xử. Lý Thái Tổ còn dành thời gian đi các nơi thăm nom dân tình, ban tiền lụa cho các bậc kỳ lão... Tấm lòng nhân ái của nhà vua thấm đượm khắp thiên hạ, những người nghèo khổ thoát được bao cảnh tội đồ, roi vọt vì thiếu nợ thuế, chấm dứt cảnh phải lìa bỏ quê cha đất tổ do quanh năm làm ăn vất vả mà thóc tiền không đủ nộp tô, nộp thuế và lao dịch nặng nề, không đủ đáp ứng cho bọn tham quan ô lại, cường hào ác bá. Tấm lòng nhân ái cao cả của Lý Thái Tổ không chỉ thể hiện lúc mới lên ngôi mà sau này trong nhiều lần gặp những năm mất mùa đói kém nhà vua đã ban bố lệnh miễn xoá thuế, lúc cả năm lúc nửa năm, năm Bính Thìn (1016) lại một lần nữa xá thuế 3 năm liền. Năm Tân Dậu (1021) nhân ngày sinh nhật, nhà vua mở tiết Thiên Thanh, kết trúc làm núi Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi tạo đủ hình chim bay thú chạy hết sức kỳ lạ, rồi ban yến để bầy tôi mua vui nhưng sau đó thấy lễ tiết trên gây nhiều nỗi nhọc nhằn cho dân, tốn kém cho công quỹ nên năm sau đã cương quyết bãi bỏ.

Lý Công Uẩn ngay từ sau ngày lên ngôi đến tận khi mất đã quan tâm củng cố, chỉnh đốn quốc gia trên nhiều mặt.

Nhà vua cho chia lại các đơn vị hành chính, đổi 10 đạo cũ thành 24 lộ mới, dưới lộ là phủ, huyện, hương, giáp, đổi Hoa Lư thành phủ Tràng An, đổi ái Châu, Hoan Châu thành trại, tăng thêm sự quan tâm đối với các phiên trại biên giới phía Nam, đổi châu Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức, đổi sông Bắc Giang thành sông Thiên Đức, củng cố và tăng thêm quyền lực của triều đình tạo thành bộ máy nhà nước trung ương tập quyền mạnh.
Nhà vua thường xuyên chăm lo phát triển kinh tế văn hóa, định chế độ thuế khóa rõ ràng để cho dân chúng yên tâm sản xuất. Thuế được đánh theo 6 loại: thuế ruộng đất đầm ao, thuế tiền thóc về bãi dâu, thuế sản vật núi rừng, thuế muối, thuế gỗ và hoa quả đầu nguồn, thuế đối với các sản vật quý: sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hương liệu. Năm Nhâm Tý (1012) nhà vua ngự giá xem bơi chải ở sông Phú Lương (sông Hồng), từ đấy bơi chải trở thành môn thể thao văn hoá được tổ chức hàng năm và phát triển ở nhiều lộ phủ. Năm Kỷ Mùi (1019) nhà vua cho dựng nhà Thái Miếu ở lăng Thiên Đức, long trọng tôn vinh các bậc tiên tổ, phát huy sâu sắc truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt: uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

Lý Thái Tổ vốn xuất thân cửa Phật vì vậy sau khi lên ngôi, đạo Phật được hết sức coi trọng, được nâng lên thành quốc giáo. Dân chúng được khuyến khích thờ Phật và đi tu. Chùa chiền được xây dựng mới hoặc tu sửa lại. Nhiều chùa đúc thêm chuông, tạc thêm tượng, dựng thêm bia. Những quả chuông treo ở chùa Đại Giáo, chùa Hưng Thiện, chùa Thắng Nghiêm, lầu Ngũ Phượng được đúc dưới thời Lý Thái Tổ là những quả chuông lớn, kỹ xảo công phu, nổi tiếng tới hàng trăm năm sau. Trên các tấm bia, triều đình và nhà chùa ca ngợi công lao to lớn của các bậc anh hùng hào kiệt đối với đất nước quê hương, của các vị chân tu đối với đạo với đời. Các Thiền sư Vạn Hạnh, Khánh Vân được tôn lên hàng Quốc sư, cố vấn cho nhà vua nhiều công việc lớn lao của quốc gia. Năm Mậu Ngọ (1018) Lý Thái Tổ sai Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Học sang nhà Tống xin kinh Tam Tạng. Hai năm sau, đoàn sứ bộ đưa được kinh về nước, nhà vua sai sao chép thành nhiều bản giao cho các nhà sư truyền bá rộng rãi trong dân chúng. Nhờ vậy tinh thần vị tha, bác ái, nhân đạo của đạo Phật lại thêm cơ hội thấm sâu trong tâm linh và đạo đức của mọi tầng lớp nhân dân.

Lý Thái Tổ đặc biệt quan tâm chăm lo củng cố binh bị, giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc bờ cõi đất nước. Nhà vua cho phiên chế lại quân đội, định rõ tổ chức nhỏ nhất đồng thời cũng gắn bó nhất với người lính là giáp gồm 15 người do một quản giáp chỉ huy, trên quản giáp là chính thủ... Các con trai đều được phong vương và đều được giao trực tiếp cầm quân. Theo hầu vua có hai đội Tả hữu Túc xa, mỗi đội 500 quân. Bản thân nhà vua cũng tự mình làm tướng cầm quân đi đánh dẹp giặc giã nhiều phen: Năm Tân Hợi (1011) nhà vua đi dẹp loạn Cử Long ở Thanh Hoa bắt được tên đầu sỏ khiến giặc tan; năm Nhâm Tý (1012) dẹp loạn ở Diễn Châu, năm Quý Sửu (1013) đánh dẹp Hà Trắc Tuấn, châu mục người thiểu số ở Vị Long (Hà Giang). Năm Giáp Dần (1014) tướng Nam Chiếu là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn quân sang đánh phá cướp bóc vùng châu Bình Lâm (nay thuộc tỉnh Hà Giang), nhà vua sai con là Dực Thánh Vương đem quân đánh đuổi, giết chết hàng vạn, bắt sống rất nhiều người ngựa.

Năm ất Mão (1015) Hà Trắc Tuấn lại nổi loạn, nhà vua sai hai con là Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương đem quân đánh dẹp, bắt sống đem về kinh chém bêu đầu. Năm Giáp Tý (1024) có loạn ở châu Phong và châu Đô Kim (nay thuộc tỉnh Tuyên Quang), Khai Thiên Vương Phật Mã và Khai Quốc Vương Bồ phải cất quân đánh dẹp. Năm Đinh Mão, dân thiểu số ở châu Thất Nguyên (nay là Thất Khê, Lạng Sơn) và Văn Châu (nay là Văn Uyên, Lạng Sơn) làm phản, Khai Thiên Vương Phật Mã và Đông Chinh Vương Lực phải chia quân hai đạo đi đánh dẹp, các bộ lạc sau đó mới chịu thần phục. Trong điều kiện đất nước mới bước đầu thống nhất, các thế lực phản loạn và các bộ lạc dân tộc thiểu số vẫn đang nuôi ý đồ cát cứ, các thế lực ngoại xâm đang lăm le xâm chiếm cướp phá, những võ công của Lý Công Uẩn và các con tuy không nổi lên một cách hiển hách nhưng đã mang lại hiệu quả to lớn giữ vững chủ quyền ở những nơi biên cương xa xôi, đưa non sông thống nhất một mối, xây dựng quốc gia thành một nhà nước phong kiến tập quyền mạnh.

Đối với các nước láng giềng, Lý Công Uẩn luôn muốn tìm cách sống hòa bình nhưng khi cần thiết phải dùng sức mạnh để đối phó, nhà vua cũng đã tỏ ra rất kiên quyết. Bấy giờ trên biên cương phía bắc, nhà Tống đang phải lo đối phó với nước Liêu của người Khiết Đan ở miền Bắc Trung Quốc thường xuyên đem quân uy hiếp. Lý Công Uẩn nắm được tình hình đó, nhưng để tạo mối bang giao, ngay khi vừa mới lên ngôi tuy công việc dời kinh đô còn hết sức bộn bề, nhà vua vẫn cử ngay một đoàn sứ bộ giao cho Viên ngoại lang Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm cầm đầu sang Tống giao hảo. Sang năm sau (1011) Lý Công Uẩn lại cử Viên ngoại lang Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Văn mang sản vật phương Nam sang biếu tặng. Triều đình Tống mua chuộc Đào Khánh Văn ở lại Đông Kinh, kinh đô Tống, tính kế xử dụng vào âm mưu xấu. Vua Lý nghe tin cử người sang gặp Tống Chân Tông đòi bằng được Đào Khánh Văn, vua Tống muốn giữ nhưng không giữ được, đành phải trao trả, Khánh Văn bị bắt đưa về nước, bị xử tội đánh chết. Năm Nhâm Tuất (1022) người Đại Nguyên Lịch trên đất Tống sang quấy nhiễu ở biên giới. Nhà vua sai con là Dực Thánh Vương đưa quân lên đánh, đuổi đến tận trại Như Hồng ở phía tây Khâm Châu (đất Tống), thiêu đốt sạch đạn dược lương thảo của địch, xong xuôi mới chịu rút quân về nước.

ở biên giới phía Nam, người Chiêm Thành lúc đầu muốn hòa hảo, nên năm 1011, ngay sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi chưa lâu, đã sai sứ mang sư tử (cá sấu) sang biếu tặng, nhưng đến năm Canh Thân (1020) lại mang quân cướp phá châu Hoan. Vua Lý phải sai Khai Thiên Vương Phật Mã và Thái Bảo Đào Thạc Phụ đem quân đi đánh, vào sâu trong đất Chiêm, giết chết tướng Chiêm là Bố Linh, bấy giờ người Chiêm Thành mới chịu yên. Người Chân Lạp tuy ở xa nhưng nghe tiếng Đại Cồ Việt hùng mạnh nên đã thường xuyên sai sứ sang biếu tặng sản vật quý, mong giữ quan hệ giao hảo.
Quốc gia Đại Cồ Việt những năm cuối đời Lý Thái Tổ là một quốc gia có biên cương vững chắc, quốc thổ thống nhất, chính trị ổn định, kinh tế văn hoá phát triển.

Lý Thái Tổ làm vua 19 năm, mất ngày 31 tháng 3 năm 1028 (tức ngày 1 tháng 3 năm Mậu Thìn) thọ 54 tuổi, khởi nghiệp nên nhà Lý gồm 9 đời vua: Lý Thái Tổ (1010 - 1028), Lý Thái Tông (1028 - 1054), Lý Thánh Tông (1054 - 1072), Lý Nhân Tông (1072 - 1127), Lý Thần Tông (1128 - 1138), Lý Anh Tông (1138 - 1175), Lý Cao Tông (1176 - 1210), Lý Huệ Tông (1210 - 1225), Lý Chiêu Hoàng (1225), tồn tại tổng cộng 215 năm.

Đánh giá về Lý Thái Tổ sử sách và nhân dân ca ngợi nhưng có lẽ vì khởi nghiệp của nhà vua không thật đặc sắc, lại không có những chiến công lẫy lừng, thêm vào đó nhà vua vốn xuất thân cửa Phật, khi làm vua quan tâm nhiều việc mở mang Phật giáo, nên có một số sử gia Nho giáo và nhiều người trong các thế hệ đánh giá chưa thật đúng mức về Người.

Thật ra Lý Thái Tổ không chỉ là ông vua nhân hậu, có công sáng lập nên triều Lý vững mạnh và dài lâu mà hơn thế rất nhiều, Lý Thái Tổ đã có công lao hết sức to lớn tổ chức lại quốc gia, củng cố lại đất nước trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị đến quân sự, từ ngoại giao đến nội trị, từ kinh tế đến văn hoá xã hội, đưa tình trạng đất nước trước đó trong các triều đại Đinh, Lê mặc dầu trên danh nghĩa là một quốc gia độc lập nhưng còn manh mún, phân tán, nhất là đối với các vùng biên cương hẻo lánh xa xôi hiệu lực cai quản của triều đình còn rất hạn chế, nhiều lĩnh vực hoạt động của quốc gia chỉ mới trong giai đoạn phôi thai, trở thành một quốc gia thống nhất thật sự với một chế độ tập quyền trung ương mạnh, có kỷ cương nhất quán, tạo nền móng hết sức quan trọng để sau đó trong các đời con, cháu, chắt: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông đưa quốc gia Đại Việt thành một quốc gia hùng cường bậc nhất trong lịch sử dân tộc.
Với trí thông minh tuyệt vời và tầm nhìn hết sức rộng lớn, Lý Thái Tổ đã chọn chính xác vùng đất lý tưởng để xây dựng kinh đô, trung tâm của đất nước, quả tim lớn của dân tộc. Lý Thái Tổ đã chọn đúng, chọn đẹp đất đóng đô, khiến bao đời sau từng có những người con thông tuệ bậc nhất của dân tộc cũng phải khâm phục và ít ai dám có ý khác, kể cả bọn xâm lược ngoại bang.
Những công lao đó của Lý Công Uẩn đối với quốc gia dân tộc phải được đánh giá là những công lao vĩ đại. Và Thái tổ Lý Công Uẩn xứng đáng được ca ngợi là một trong những vị vua lỗi lạc, kiệt xuất bậc nhất của dân tộc Việt Nam.


==============

* Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất, mang cầm tinh con chó. Năm Canh Tuất (1010), cầm tinh con chó, Lý Công Uẩn lên ngôi.
* Tức mộ Hiển Khánh Vương.


(1) Thật ra Quốc sư Vạn Hạnh còn sống đến năm ất Sửu (1025) mới mất.
(2) Thành Thang (Trung Quốc) năm 1766 TCN diệt vua Kiệt nhà Hạ tàn bạo nổi tiếng, lập nên nhà Thương.
(3) ) Võ Vương (Trung Quốc) năm 1122 TCN buộc vua Trụ nhà Ân cực kỳ tàn ác phải tự thiêu, lập nên nhà Chu.
(4) ) Chỉ Dương Tam Kha, người cướp ngôi của cháu là Ngô Xương Ngập, con Ngô Quyền.
(5) Chỉ Lê Đại Hành.


(*) Chỉ Cao Biền
(**) Chiếu dời đô - Bản dịch theo "Thơ văn Lý, Trần" (tập I).




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Lý Thường Kiệt, người con kiệt xuất
đất Thăng long



Lý Thường Kiệt (1019 - 1105) vốn họ là Ngô, huý là Tuấn, tự là Thường Kiệt (lúc làm quan do lập được công trạng to lớn được vua ban cho quốc tính nên đổi họ là Lý), người làng An Xá, huyện Quảng Đức, thành Thăng Long sau chuyển sang phường Thái Hòa phía trong kinh thành (nay là đất Đại Yên, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội), cha mất sớm (lúc ông mới 12 tuổi), được vợ chồng bà cô ruột nuôi cho ăn học. Chồng bà cô là Tạ Đức thấy Thường Kiệt thông minh, có chí khí, trong lòng rất yêu mến nên ngày đêm ra sức truyền dạy võ nghệ binh thư. Ông còn gửi Thường Kiệt theo học Nho học với Lý Công ẩn, một thầy giáo nổi tiếng, người hoàng tộc, mở trường dạy học trên đất Bái Ân gần nơi ngã ba sông Thiên Phù - Tô Lịch (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy). Khi đến tuổi thành niên, Thường Kiệt được Tạ Đức đem cô cháu gái yêu là Thuần Khanh gả cho làm vợ. Năm ông 18 tuổi, mẹ mất. Ông cùng em là Lý Thường Hiến (sau này cũng là một tướng giỏi của nhà Lý) lo đủ mọi lễ tống táng. Hết tang mẹ, ông xin tòng quân, được phong chức Kỵ mã hiệu uý. Năm 23 tuổi (1041), dưới thời vua Lý Thái Tông, ông được sung chức Hoàng môn Chi hậu (một chức hoạn quan). Trong 13 năm cuối thờ Lý Thái Tông, do có tài và có công, ông được thăng nhiều lần, năm 1053, ông được thăng đến chức Đô Tri, trông coi tất cả mọi việc trong cung. Năm 1054, năm nước ta đổi tên thành Đại Việt, do có công phù dực Lý Thánh Tông lên ngôi, ông được phong lên chức Bổng hành quân Hiệu uý, một chức quan võ cao cấp.

Năm 1061, ông được vua Lý Thánh Tông giao cầm quân dẹp loạn vùng Ngũ Huyện Giang (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa) lập được công to.

Năm 1069, ông theo vua Lý Thánh Tông bằng đường thuỷ sang đánh Chiêm Thành, được vua Lý phong làm Đại tướng quân kiêm chức Nguyên soái giao dẫn quân đi tiên phong. Em ông là Lý Thường Hiến được trao chức Tán kỵ vũ uý cùng đi đánh giặc. Quân Đại Việt do Lý Thường Kiệt dẫn đầu sau khi đánh tan thuỷ quân Chiêm Thành ở cửa biển Nhật Lệ, lần lượt qua Đại Trường Sa, cửa Tư Dung, cửa Thi Nại tiến thẳng đến thành Trà Bàn (Vijaya) kinh đô Chiêm Thành (ở phía bắc thành Bình Định ngày nay), đánh thắng lớn bên bờ sông Tu Mao, chém chết tướng Chiêm là Bố Bì Dà La. Vua Chiêm là Chế Củ nghe tin quân mình đại bại đã bỏ kinh đô dắt vợ con trốn xuống phía Nam. Lý Thường Kiệt đem quân đuổi theo bắt được vua Chiêm ở biên giới Chân Lạp. Chế Củ muốn giữ mạng sống đã xin dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Quảng Bình, bắc Quảng Trị ngày nay) để chuộc tội. Sau chiến thắng quân Chiêm, Lý Thường Kiệt được nhà vua phong chức Phụ quốc Thái Phó, Phụ quốc Thượng tướng quân, Khai Quốc Công, Thiên tử nghĩa nam (con nuôi của vua). ít lâu sau, ông được phong lên Thái Uý đứng thứ hai ở triều đình, cùng với Thái sư Lý Đạo Thành giúp vua trông coi việc nước.

Năm 1072, vua Lý Thánh Tông mất. Lý Thường Kiệt có công giúp Nhân Tông Lý Càn Đức, con trai của Lý Thánh Tông và Thái phi ỷ Lan, lúc đó mới 8 tuổi giữ vững ngôi vua, nên được Lý Nhân Tông và Thái phi cất lên làm Tể chấp, giữ vai trò số một ở triều đình.

Bấy giờ ở phương Bắc, Tống Thần Tông Triệu Húc (1067 - 1085) một hoàng đế trẻ quyền biến, mới lên ngôi, đang nuôi ý chí phục hưng quốc gia mà mấy đời vua trước dưới sức uy hiếp của nước Liêu ở đông bắc, nước Hạ ở tây bắc từng làm cho lao đao. Triệu Húc dùng Vương An Thạch, một người có đầu óc cải cách, làm Tể tướng. Về quan hệ với Đại Việt ở phương Nam, vào các đời Tống Nhân Tông (1022 - 1063), Tống Anh Tông (1063 - 1067) mặc dầu ở biên giới giữa hai nước thường xuyên xẩy ra các chuyện lộn xộn gây nên bởi các tù trưởng người thiểu số, nhưng do phải lo đối phó với phương bắc nên nhà Tống thường bỏ qua, giữ không xảy ra chuyện lớn. Sau khi Vương An Thạch thực thi Tân pháp khiến quốc gia Tống mọi mặt nhanh chóng được khôi phục trở nên phồn vinh, thì máu bành trướng xuống phương Nam của các hoàng đế Trung Hoa từ bao đời nay thấm trong Tống Thần Tông lại trỗi dậy.

Lợi dụng lúc Lý Nhân Tông mới lên ngôi, tuổi còn bé, triều đình Tống lần lượt giao cho Thẩm Khỉ, Lưu Di vừa trông coi Quế Châu vừa làm Kinh lược sứ Quảng Tây ra sức chuẩn bị binh lực đưa quân sang đánh chiếm Đại Việt.
Trước mưu đồ trắng trợn của nhà Tống định xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt tâu lên vua Lý Nhân Tông và Linh Nhân Thái hậu "Xin đưa quân đánh Tống. Ngồi im đợi giặc, không bằng đem quân ra trước, chặn thế mạnh của giặc". Để chuẩn bị cho việc đưa quân lên phía bắc, Lý Thường Kiệt chủ động xoá mối bất hòa giữa ông với Lý Đạo Thành, xin nhà vua mời Lý Đạo Thành đang bị giáng chức làm quan coi giữ Nghệ An, về lại triều giữ chức Thái Phó cùng trông coi việc nước. Năm 1075, Lý Thường Kiệt dùng sách lược tấn công để tự vệ, dẫn 10 vạn quân tổ chức cuộc tập kích táo bạo đánh chiếm Khâm Châu, Liêm Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay) giết chết Trần Vĩnh Thái, Lỗ Khánh Tôn, hai tướng coi giữ Khâm Châu, Liêm Châu cùng nhiều quân tướng nhà Tống, thu giữ nhiều lương thảo khí giới, sau đó đưa quân đánh Ung Châu (thành phố Nam Ninh, thủ phủ tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc ngày nay), sau 42 ngày vây hãm cuối cùng đã chiếm được Ung Châu, buộc Tô Giám, tướng giữ thành Ung Châu phải tự thiêu, triệt phá hoàn toàn căn cứ quan trọng và rất kiên cố của quân Tống chuẩn bị xâm lăng Đại Việt, đánh cho quân Tống những đòn choáng váng, đẩy quân thù vào thế bị động chiến lược. Nghe tin Ung Châu mất, viên tướng Tống coi giữ Tân Châu ở phía bắc Ung Châu là Cổ Căn Lặc sợ quá, vội cùng tuỳ tùng bỏ thành trốn chạy. Sau khi san phẳng các thành Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu và đốt cháy các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Thiên Long, Cổ Vạn ở miền Nam đất Tống, Lý Thường Kiệt đưa quân về nước, lập thế trận sẵn sàng đánh trả quân Tống.

Năm 1076, vua Tống cử Quách Quỳ, một võ tướng có tiếng từng lập công lớn trong chiến tranh chống Liêu, Hạ làm Nguyên soái An Nam đạo hành doanh Đô Tổng quản, Triệu Tiết, Yên Đạt làm Phó Đô Tổng quản cùng các tướng Đào Bật, Khúc Chẩn, Nhâm Khỉ, Mân Hoà, Dương Tùng Tiên, Miêu Lý ... đem 30 vạn quân, 1 vạn ngựa bằng hai đường thuỷ bộ ào ạt tấn công Đại Việt.

Lý Thường Kiệt lập chiến tuyến sông Như Nguyệt (đoạn sông Cầu từ Như Nguyệt đến Phả Lại) chặn đánh quyết liệt, quân Tống không sao vượt qua nổi. Để tăng cường ý chí cho quân Nam, Lý Thường Kiệt đã sai người tâm phúc đang đêm đọc vang ở đền thờ Trương Hát, Trương Hống (hai anh em và đều là tướng của Triệu Việt Vương) bên bến sông Như Nguyệt, bài thơ Nam quốc sơn hà:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lộ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch:

Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận ở sách trời,
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Được "thơ thần " cổ vũ, quân Nam vượt sông, mở đòn phản công sấm sét đánh cho quân Tống đại bại, mười phần chỉ còn lại hai ba (theo Lý Đào đời Tống viết trong "Tục tư trị thông giám trường biên" thì số binh mã vua Tống cho kiểm điểm khi về đến đất Tống chỉ còn 23.400 lính và 3.174 ngựa). Quách Quỳ cuối cùng phải xin giảng hòa, thu quân rút vội về nước.

Chiến thắng vĩ đại năm 1076 - 1077 của Lý Thường Kiệt đè bẹp mộng xâm lăng của nhà Tống, khiến chúng từ triều này qua triều nọ đều kinh sợ, liền trong hai trăm năm sau không còn dám động chạm đến Đại Việt.

Sau chiến thắng quân Tống, trong điều kiện vua Nhân Tông còn bé (mới 12 tuổi), Lý Thường Kiệt với vai trò người đứng đầu triều đình, một mặt đấu tranh đòi nhà Tống phải trả lại những vùng đất biên giới trước đây bị nhà Tống chiếm, mặt khác chăm lo chỉnh đốn nội trị, khôi phục và phát triển kinh tế văn hoá, mở mang giáo đục, đào tạo tuyển chọn hiền tài. Trước đây quân ta đã đắp đê sông Như Nguyệt để làm chiến tuyến chống quân Tống. Cuối năm 1077, Lý Thường Kiệt cho đắp vững chãi thêm nhằm vừa phòng chống lũ lụt vừa tăng khả năng phòng vệ quân sự. Năm 1076, mặc dầu đang phải tập trung sức chống giặc Tống, Quốc Tử Giám, trường Đại học đầu tiên của nước ta đã được mở, nhằm đào tạo nhân tài một cách có quy củ.

Năm 1082, vua Nhân Tông đến tuổi trưởng thành, mọi việc ở triều đã có thể tự mình quyết định, bèn cử Lý Thường Kiệt đi trông coi ái Châu. Sau 19 năm trấn trị ái Châu, năm 1101, ông bấy giờ đang ở tuổi 82, lại được triệu về kinh nhậm chức. Đất Diễn, ái xa rời oai phong của Lý Thường Kiệt, lại nảy sinh loạn lạc. Năm 1104, Lý Giác chiếm Diễn Châu. Mặc dầu Lý Thường Kiệt bấy giờ tuổi đã 85, vẫn tình nguyện cầm quân đi dẹp loạn Lý Giác. Lý Giác bị đánh đuổi phải chạy sang Chiêm Thành. Vua Chiêm là Chế Ma Na nhân cơ hội đó đưa quân lên phíabắc chiếm lại ba châu trước kia Chế Củ đã dâng vua Lý. Lý Nhân Tông lại phải cử Lý Thường Kiệt đem quân đánh đuổi Chế Ma Na, thu hồi lại ba châu. Nước Chiêm Thành từ đó trở lại thần phục Đại Việt như cũ. Đuổi xong quân Chiêm, Lý Thường Kiệt đưa quân trở về Thăng Long và ít lâu sau đến giữa năm 1105, thì tạ thế, thọ 86 tuổi. Vua Lý Nhân Tông truy tặng ông tước hiệu: Nhập nội điện Đô tri kiểm hiệu Thái uý, Bình chương quân quốc trọng sự, Việt Quốc công.

Lý Thường Kiệt không chỉ đóng góp cho dân tộc những chiến công vĩ đại, mà còn đóng góp xuất sắc trên rất nhiều lĩnh vực, góp phần to lớn vào việc xây dựng Đại Việt thành một quốc gia cường thịnh. Về văn hoá ngoài bài "Nam quốc sơn hà" thi khí hùng hồn, được coi như bản Tuyên ngôn lịch sử đầu tiên của dân tộc, Lý Thường Kiệt còn có "Phạt Tống lộ bố văn", bài hịch gửi nhân dân miền Nam Trung Quốc khuyên hãy bình tâm, đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng Bắc phạt năm 1075.

Với công lao to lớn trên nhiều mặt, Lý Thường Kiệt, người con kiệt xuất của đất Thăng Long luôn được các thế hệ người Việt Nam ca ngợi là một trong những anh hùng hào kiệt vĩ đại nhất của dân tộc.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0

Lý Thánh Tông, vị minh quân sinh và lớn lên trên đất ngoại thành Thăng long



Nước ta vào thời Lý phát triển mạnh mẽ trên mọi phương diện. Cực thịnh vào thời đó là giai đoạn vua Lý Thánh Tông trị vì.
Vua Lý Thánh Tông (1023 - 1072) huý là Nhật Tôn, con trưởng vua Lý Thái Tông và Mai hoàng hậu, sinh ngày 25 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 14 (1023) tại cung Long Đức ngoại thành Thăng Long. Từ buổi lọt lòng đến tuổi thành niên kể cả sau khi đã được phong làm Thái tử lúc 5 tuổi, 27 năm liền Nhật Tôn luôn sống ở ngoại thành, giữa miền thôn dã nên sau khi lên làn vua dễ dàng thấu hiểu mọi việc trong dân nhất là cảnh vất vả làm ăn đầu tắt mặt tối, những nỗi bất công oan ức đè nặng lên những người nghèo khổ, những thói hư tật xấu của bọn tham quan ô lại v.v...
Nhật Tôn thông minh, nhân hậu, văn hay võ giỏi, từng mấy lần được Thái Tông phong làm Nguyên soái đưa quân dẹp loạn ở Đô Kim, ở ái Châu, từ nhỏ đã có chí tự lập, lớn lên giàu ý chí tự cường và vì vậy cho nên năm 1054 ngay sau khi vừa lên ngôi, tiếp thu truyền thống oanh liệt của ông nội là Lý Thái Tổ và cha là Lý Thái Tông, ông đã cho đổi tên nước là Đại Việt, nuôi hoài bão xây dựng đất nước thành một quốc gia hùng mạnh, nâng tầm cao mới cho quốc hiệu.

Lý Thánh Tông thương dân như con nên trăm họ mến phục, nhờ vậy giặc giã ít, đất nước bình yên. Một lần vua ngự ở điện Thiên Khánh xử kiện. Khi ấy công chúa Động Tiên đứng hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa bảo với các hình quan rằng:

- Ta yêu con ta cũng như yêu thương thiên hạ. Dân chúng trong thiên hạ nhiều kẻ không hiểu biết mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót. Từ nay về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ đều nhất loạt phải khoan giảm.

Một lần khác gặp buổi mùa đông rất lạnh, giữa chốn triều trung nhà vua nói với các cận thần:

- Trẫm ở trong cung, sưởi lò than, mặc áo lông chồn mà còn lạnh thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, xiềng xích khổ đau, gian ngay chưa rõ, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió lạnh, rét buốt có thể gây chết. Trẫm rất thương xót.

Nói xong, vua truyền lệnh cho quan Hữu ty phát thêm chăn chiếu cho tù nhân và cấp cơm ngày hai bữa. Vua đồng thời xuống chiếu miễn một nửa thuế năm đó cho dân.

Vua Lý Thánh Tông quan tâm phát triển mọi mặt đất nước. Nhà vua khuyến khích việc học hành, mở mang dân trí, cho lập Văn Miếu (năm 1070) để thờ Khổng tử và 72 vị tiên hiền đạo Nho. Vua cho truyền bá giáo lý đạo Phật, xây cất sửa sang nhiều chùa chiền và chính tự thân là người sáng lập Thiền phái Thảo Đường, chủ trương gắn đạo với đời để giúp đời, cứu khổ cứu nạn, xuất thế để nhập thế. Chùa Khai Quốc (tiền thân chùa Trấn Quốc ngày nay) thời đó chính là ngôi chùa lớn không chỉ của kinh đô Thăng Long mà còn của cả nước, tụ hội các thiền sư Thiền phái Thảo Đường.

Nhà vua gần gũi với nhân dân, quan tâm thúc đẩy phát triển kinh tế, mùa xuân thường đi xem cấy lúa, đánh cá, mùa hạ đi xem bơi thuyền, xem và động viên nhân dân gặt hái, cử người tổ chức khai thác vàng ở động Vũ Kiện, khai thác bạc ở huyện Hạ Liên v.v...

Lý Thánh Tông đặc biệt quan tâm việc củng cố binh bị, chỉnh đốn quân ngũ, huấn luyện sĩ tốt, chế định binh pháp. Bấy giờ ở biên giới phía Nam, quân Chiêm Thành thường sang quấy nhiễu, năm 1069 vua đã thân chinh cùng Lý Thường Kiệt đem quân thảo phạt, triệt phá kinh đô Trà Bàn, bắt sống vua Chiêm Chế Củ, khiến Chế Củ phải dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để đổi lấy mạng sống.

Với nhà Tống ở phương Bắc, Lý Thánh Tông luôn tìm cách giao hảo, cải thiện bang giao, vì vậy tuy thỉnh thoảng có va chạm nhau ở biên giới nhưng không xảy ra chiến tranh lớn. Từ khi Tống Thần Tông lên ngôi năm 1067, đặc biệt là từ khi Tống Thần Tông dùng Vương An Thạch làm Tể tướng năm 1069, mưu đồ nhà Tống xâm lược Đại Việt càng ngày càng lộ rõ. Trước âm mưu của nhà Tống, Lý Thánh Tông đã không ngừng ngày đêm chăm lo tăng cường sức mạnh của quân đội, giao cho Lý Thường Kiệt thường xuyên lo liệu kế hoạch đối phó. Chính trên cơ sở đó, Đại Việt đã đủ sức mạnh đánh Tống để phòng ngự năm 1075 và đánh thắng oanh liệt cuộc xâm lăng của giặc Tống trong những năm 1076 - 1077, khi Lý Thánh Tông đã mất và Lý Nhân Tông lên kế vị hãy còn nhỏ tuổi.

Lý Thánh Tông mất vào đầu năm Canh Dần - 1072, làm vua 17 năm (1054 - 1072), thọ 50 tuổi.

Sử sách viết về ông hết thảy đều ca ngợi ông là bậc minh quân.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0

Nguyên phi Ỷ lan, bà hoàng xuất thân nông dân trên đất ngoại thành



Lý Thánh Tông khi tuổi đã ngoài 40 mà chưa có hoàng tử nối nghiệp, bèn tự mình hoặc sai những cận thần tin cẩn đi cầu tự ở các đền chùa có tiếng linh thiêng xin Thần, Phật phù hộ độ trì cho hoàng hậu, hoàng phi sớm mang thai sinh cho nhà vua quý tử.

Một ngày tốt lành, nhà vua cùng các cận thần đi lên phía bắc đến chùa Pháp Vân (thường gọi là chùa Dâu, nay ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) cầu tự. Nhân dân các làng xã ven đường nghe tin vua đi qua, đua nhau đổ ra đường nô nức nghêng giá. Khi xa giá nhà vua đi qua làng Sủi tức làng Thổ Lỗi, lộ Bắc Giang (nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội), tất cả dân làng đều đổ nhau ra đứng sát ven đường để tận mắt chiêm ngưỡng, duy chỉ có một cô thôn nữ hái dâu vẫn đứng giữa ruộng dâu tựa bên gốc lan thản nhiên như không có việc gì lớn xẩy ra xung quanh. Từ trên xe ngự, nhà vua nhìn thấy thế lấy làm lạ, bèn sai quân lính vời cô gái đến trước xe hỏi chuyện. Được tận mắt nhìn rõ sắc đẹp mặn mà của cô gái, lại nghe cô nói năng vừa lễ độ vừa lưu loát dịu dàng, nhà vua nảy sinh cảm tình và sau đó đã truyền đưa cô vào cung tuyển làm cung phi, đặt tên là Ỷ Lan (đứng tựa cây lan) để kỷ niệm buổi đầu gặp gỡ.


Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Yến Loan, quê làng Thổ Lỗi, mẹ mất sớm, từ nhỏ ở với cha và mẹ kế, sau ngày vào cung, ngày càng được nhà vua yêu thương, không chỉ quý vì sắc mà còn trọng vì tài. Mấy năm sau, năm 1066 Ỷ Lan sinh hạ hoàng tử Càn Đức (sau này là vua Lý Nhân Tông). Vừa mới sinh, ngay ngày chào đời, Càn Đức được phong làm Thái tử và Ỷ Lan được phong làm Nguyên phi, chỉ đứng dưới Hoàng hậu Thượng Dương một bậc. Nhà vua cũng đã thay tên cho quê hương Thổ Lỗi của ỷ Lan bằng tên mới Siêu Loại (vượt lên trên đồng loại).

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông cùng Lý Thường Kiệt đưa quân xuống phương Nam đánh Chiêm Thành, Ỷ Lan nguyên phi được nhà vua giao quyền trị nước. Bà trông coi mọi việc rất quy củ, cả nước yên vui, lòng dân cảm phục.

Vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành lúc đầu thất lợi nên đem quân trở về. Khi nhà vua về đến châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hưng Yên ngày nay) nghe tin ở nhà Ỷ Lan trị nước êm đẹp, bèn tự trách mình "Nguyên phi là đàn bà mà còn làm được tốt như thế, ta là nam nhi há lại chịu kém sao!", liền sau đó vua lệnh cho quân sĩ quay trở lại, dốc sức đánh địch, dành được toàn thắng, phá được kinh đô Chiêm, bắt được vua Chiêm là Chế Củ.

Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Thái tử Lý Càn Đức tức Lý Nhân Tông mới 7 tuổi lên nối ngôi. ỷ Lan được tôn lên làm Linh Nhân Hoàng Thái hậu, buông rèm giúp con trị nước, đã cùng với Thái Uý Lý Thường Kiệt, Thái Phó Lý Đạo Thành sửa sang chính sự, tăng cường binh bị, đánh Tống thắng lợi, vỗ yên thiên hạ, giữ vững sơn hà, hoàn thành nhiều sự việc trọng đại. Ỷ Lan yêu nước, thương dân, sùng đạo Phật, đặc biệt rất mực thương yêu những người nghèo khổ. Bà đã hạ lệnh cho lấy tiền bạc trong kho chuộc những người phụ nữ nghèo phải bán mình hoặc bị cha mẹ buộc lòng đem bán, đem thân thế nợ, trả họ về cho gia đình hoặc gả chồng cho họ. Bà hết sức quan tâm việc sản xuất. Bà hiểu rất rõ "con trâu là đầu cơ nghiệp", nên đã khuyên con là Nhân Tông hạ lệnh trừng trị nghiêm bọn ăn trộm trâu giết mổ làm thịt và tội lạm giết trâu bò cho lễ tết đình đám.

Ỷ Lan sùng đạo Phật nên đã cho dựng nhiều chùa, tạc nhiều tượng, đúc nhiều chuông, truyền bá rộng rãi giáo lý nhà Phật nhằm khuyến khích nhân dân sống thiện, làm nhiều điều thiện. Bà am hiểu sâu sắc đạo Phật. Nhờ cuộc nói chuyện cởi mở giữa Bà và Quốc sư Thông Biện ( - 1134), một Thiền sư nổi tiếng uyên bác, trụ trì tại chùa Khai Quốc mà các đời sau, cho đến nay chúng ta có được những tư liệu quý giá về lịch sử đạo Phật truyền vào nước ta.

Công đức của bà rất lớn do vậy nhân dân ca tụng bà là "Phật Quan Âm" và gắn bà với hình tượng cô Tấm trong chuyện cổ tích Tấm Cám.

Tuy bà chưa ra khỏi thói thường trong việc bỏ đói đến chết Hoàng Thái hậu Thượng Dương và 72 cung nữ, trả thù việc Thượng Dương dựa vào thế của Lý Đạo Thành gạt bỏ bà khi Lý Thánh Tông vừa mới qua đời, nhưng Ỷ Lan vẫn luôn nổi trội là người phụ nữ nông dân xuất thân nghèo khó, thông minh, tài giỏi, giàu lòng yêu nước yêu dân, giúp chồng giúp con làm nên nhiều sự nghiệp lớn lao đối với đất nước, ít có trong lịch sử dân tộc.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-01 07:22:44tieuboingoan>
Lý Nhân Tông, vị vua giỏi làm vua lâu nhất trong lịch sử


Vua Lý Thánh Tông ngoại 40 tuổi mới sinh được con trai, đó là Thái tử Càn Đức, con Nguyên phi ỷ Lan. Càn Đức ngay ngày chào đời (1066) tại Cung Thành Thăng Long đã được phong làm Thái tử và lúc mới 7 tuổi khi Thánh Tông mất, được đưa lên nối ngôi hiệu là Lý Nhân Tông (1072 - 1127).
Ngay từ nhỏ, Nhân Tông đã tỏ rõ là con người thông tuệ, nhân hậu. Tuy Nhân Tông làm vua còn bé nhưng nhờ có Thái hậu ỷ Lan buông rèm nhiếp chính và Phụ quốc Thái uý Lý Thường Kiệt, Thái phó Lý Đạo Thành hết lòng phò tá nên mọi việc luôn tiến triển tốt đẹp.
Về đối nội, năm ất Mão (1075) vua xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học Tam trường nhằm tuyển chọn nhân tài cho đất nước. Đó là khoa thi đầu tiên trong lịch sử thi cử ở nước ta. Khoa đó chọn được 10 người, thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Lê Văn Thịnh người huyện An Định, lộ Bắc Giang, làm quan lập được nhiều công trạng, có công lớn trong việc đòi nhà Tống trả cho Đại Việt nhiều vùng đất ở Quảng Nguyên (nay thuộc tỉnh Cao Bằng), từng được phong giữ chức Thái sư (Tể tướng) trong nhiều năm, năm 1096 bị ngờ có ý mưu phản, bị buộc tội đày lên Thao Giang.
Năm Bính Thìn (1076) vua mở Quốc Tử Giám làm nơi học tập cho con em hoàng tộc và quan lại. Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của nước ta. Nhà vua đã chọn những danh nho, những vị khoa bảng nổi tiếng làm thầy giáo giảng dạy.
Năm Bính Dần (1086) vua lại mở khoa thi chọn người tài giỏi sung làm quan ở Hàn lâm viện. Khoa đó, Mạc Hiển Tích, người Chí Linh, Hải Dương đậu đầu, được bổ làm Hàn lâm học sĩ. Mạc Hiển Tích về sau làm quan lên đến chức Thiếu sư.
Nhờ các việc làm trên nên việc học hành ở nước ta thời bấy giờ rất phát triển.
Nhà vua còn chăm lo chấn chỉnh bộ máy cai trị, năm Kỷ Tỵ (1089) định rõ quan chế phân thành chín bậc rõ ràng: ở hàng đại thần chánh trật có Thái sư, Thái phó, Thái uý, phó trật có Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu uý, tiếp theo về bên văn có Thượng thư, Tả Hữu Tham tri, Tả Hữu Gián nghị Đại phu, Thị lang..., về bên võ có Đô thống, Nguyên suý, Tổng quản, Khu mật sứ, Kim ngô Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng, Tướng quân..., ở các lộ và châu huyện có Tri phủ, Phán phủ, Tri châu, Trấn lộ quan, Trấn trại quan... Quan chế đời Lý Nhân Tông nhiều triều đại mãi về sau vẫn còn áp dụng.
Về kinh tế, Lý Nhân Tông quan tâm việc đắp đê phòng lụt, năm Mậu Tý (1108) cho đắp đê Cơ Xá (nay là đoạn đê sông Hồng gần cầu Long Biên thuộc phường Phúc Xá, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) mở đầu việc đắp đê ngăn lũ ở nước ta, năm Đinh Dậu (1117) hạ chiếu cấm giết trộm trâu bò, năm Quý Mão (1123) thậm chí nhà vua còn hạ lệnh cấm giết trâu. Chiếu viết rằng "Trâu là con vật quan trọng giúp việc cày cấy, làm lợi cho người không ít. Từ nay về sau ba nhà làm một bảo, không được giết trâu ăn thịt, ai làm trái thì trị tội theo hình luật". Nhà vua còn xuống chiếu khuyến khích nhân dân nung ngói lợp nhà và cấm chặt phá cây cối vào mùa xuân nhằm tạo điều kiện cho rừng, vườn phát triển.
Về đối ngoại, triều đại Lý Nhân Tông mãi mãi sáng ngời trong sử sách bởi những chiến công chói lọi do Lý Thường Kiệt đưa quân phá tan các căn cứ chuẩn bị chiến tranh Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu ở miền nam Trung Quốc (năm 1075) và đánh thắng oanh liệt 30 vạn quân Tống (năm 1076 - 1077) trên chiến tuyến sông Như Nguyệt, bảo vệ vững chắc nền độc lập của non sông. Sau thất bại năm 1077, nhà Tống còn tham lam định chiếm lâu dài mấy huyện ở châu Quảng Nguyên (Cao Bằng), Lý Nhân Tông không chịu mất đất, đã nhiều lần sai sứ sang Tống kiên quyết đòi lại, năm 1084 Tống Thần Tông buộc phải nhượng bộ trả hết đất cho Đại Việt.
ở biên giới phía Nam, năm 1104 vua Chiêm Thành là Chế Ma Na đưa quân định chiếm lại ba châu ngày trước Chế Củ dâng đất chuộc tội, Lý Nhân Tông đã cử Lý Thường Kiệt đưa quân vào đánh, bấy giờ mới chịu thần phục hoàn toàn. Nước Chân Lạp thấy Đại Việt hùng mạnh cũng đã thường xuyên cử sứ bộ đến Thăng Long dâng cống phẩm.
Lý Nhân Tông làm vua đến năm 1127 thì mất, thọ 62 tuổi, ở trên ngôi 56 năm, đã có công lao to lớn góp phần đưa Đại Việt trở thành một quốc gia cường thịnh bậc nhất trong lịch sử dân tộc và là vị vua trị vì lâu nhất trong lịch sử Việt Nam. Trước khi mất, nhà vua để lại di chiếu chứa chan lòng yêu nước thương dân: "Trẫm nghe, phàm các loại sinh vật, không loài nào là không chết. Chết là số lớn của trời đất và lẽ đương nhiên của mọi vật. Thế mà người đời không ai là không thích sống, ghét chết. Chôn cất hậu làm mất cơ nghiệp, để tang lâu làm tổn tính mệnh, trẫm không cho thế là phải. Trẫm ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến khi chết lại khiến cho thứ dân mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, giảm ăn uống, bỏ cúng tế, làm cho lỗi ta thêm nặng, thiên hạ sẽ bảo ta là người thế nào? Trẫm xót phận tuổi thơ phải nối ngôi báu, ở trên các vương hầu, lúc nào cũng nghiêm kính sợ hãi. Đã 56 năm nay, nhờ anh linh của tổ tông, được hoàng thiên phù hộ, bốn biển yên lành, biên thuỳ ít biến, chết mà được xếp sau các vị tiên quân là may rồi, còn phải thương khóc làm gì?
... Việc tang thì chỉ ba ngày bỏ áo trở, nên thôi thương khóc; việc chôn thì nên theo Hán Văn đế, cốt phải kiệm ước, không xây lăng mộ riêng, nên để ta hầu bên cạnh tiên đế. Than ôi! Mặt trời đã xế, tấc bóng khó dừng; từ giã cõi đời, nghìn thu vĩnh quyết. Các ngươi nên thực lòng nghe trẫm, bảo rõ cho các vương công, bày tỏ cho hết trong ngoài".
Lý Nhân Tông được sử sách ca ngợi sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, là bậc vua giỏi của triều Lý. Những chiến công vĩ đại đánh thắng quân xâm lược nhà Tống hùng mạnh trong những năm 1076 - 1077, sự hình thành một cách sáng suốt Quốc Tử Giám, trường Đại học đầu tiên của nước ta, hiện diện đến ngày nay ngay giữa trung tâm thủ đô Hà Nội là những sự kiện lịch sử lớn lao luôn làm cho mọi người Việt Nam tự hào, chính là đã diễn ra dưới thời Lý Nhân Tông trị vì.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Lê Văn Thịnh, Mục Thận - "Người hóa hổ, người bắt hổ" trên hồ Dâm đàm (1)


Trong Đại Việt sử ký toàn thư, phần Nhân Tông hoàng đế có đoạn viết: " Năm Bính Tý (1096), mùa xuân, tháng 3, Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết, an trí ở Thao Giang(2). Bấy giờ vua ra hồ Dâm Đàm, ngự trên thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát mây mù tan thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt, nói: "Việc nguy rồi!". Người đánh cá là Mục Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Thịnh là đại thần có công giúp đỡ, không nỡ giết, đày lên trại đầu Thao Giang. Thưởng cho Mục Thận quan chức và tiền của, lại cho đất ở Dâm Đàm là thực ấp. Trước đây Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý(3) có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch".
Câu chuyện Lê Văn Thịnh dùng phép thuật hóa hổ ở hồ Dâm Đàm định ám hại vua Lý Nhân Tông mang đầy tính hoang đường, nhưng Lê Văn Thịnh và Mục Thận lại là những nhân vật lịch sử có thực.
Lê Văn Thịnh quê ở Đông Cứu, huyện An Định, lộ Bắc Giang (nay thuộc làng Bảo Tháp, xãĐông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh) là người đậu đầu khoa Minh kinh bác học, Nho học Tam trường, khoa thi đầu tiên ở nước ta, được tổ chức vào năm 1075 đời vua Lý Nhân Tông. Sau khi đậu, ông được tuyển vào cung hầu vua học và từng được phong làm Thị lang bộ Binh. Năm 1084 ông được cử làm Chánh sứ cùng với Nguyễn Bồi đi sứ nhà Tống, đến đất Vĩnh Bình đấu tranh đòi lại một số vùng đất đang bị nhà Tống chiếm giữ. Thành Trạc, Chánh sứ nhà Tống lập luận:
- Những đất mà quân nhà vua (chỉ vua Tống) đãđánh lấy thì đáng trả cho Giao Chỉ. Còn những đất mà các người coi giữ mang nộp để theo ta(4) thì khó mà trả lại.
Lê Văn Thịnh đãđanh thép đập lại:
- Đất phải có chủ. Những người coi giữ mang nộp và trốn đi thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Việc chủ giao cho mà tự lấy trộm đãkhông tha thứ được, mà trộm của và tàng trữ của ăn trộm thì pháp luật cũng không cho phép. Huống chi nay, chúng lại mang đất trộm dâng để làm nhơ bẩn sổ sách nhà vua.
Năm đó nhà Tống phải trả cho Đại Việt 6 huyện, 3 động vùng Quảng Nguyên. Nhờ đấu tranh ngoại giao có công, năm 1085 Lê Văn Thịnh được phong giữ chức Thái sư. Ông giữ chức Thái sư liền trong 12 năm, đóng góp nhiều công sức giúp vua trị nước, đến năm 1096 thì xẩy ra vụ án trên hồ Dâm Đàm, kết cục bị đầy lên trại đầu sông Thao. Sau khi ông chết, nhân dân Đông Cứu và nhiều làng ở lộ Bắc Giang đãlập đền thờ ông.
Mục Thận quê ở Võng Thị (nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội) bên bờ tây hồ Dâm Đàm, xuất thân làm nghề chài lưới, giỏi võ nghệ. Mùa xuân năm Bính Tý (1096) nhân đi đánh cá trên hồ Dâm Đàm, có công cứu vua Lý Nhân Tông thoát khỏi sự mưu hại của Lê Văn Thịnh nên được vua phong làm Đô uý và ban đất vùng Dâm Đàm làm thực ấp. Sau khi mất, ông được truy phong làm Thái uý Trung Duệ Vũ Lượng công, được lập đền thờ ngay tại quê hương Võng Thị, hàng năm được tế lễ trọng thể. Hai con trai của Mục Thận là Cá Lễ tức Mục Nhất lang và Cống Lễ tức Mục á lang làm quan dưới thời Nhân Tông, Thần Tông, Cá Lễ đựoc phong là Dực Thánh công, Cống Lễ được phong làm Vệ Quốc Tướng quân. Sau khi chết cả hai anh em đều được lập đền thờ. Đền thờ Cá Lễ gọi là đền Dực Thánh, đền thờ Cống Lễ gọi là đền Vệ Quốc. Cả hai ngôi đền trên hiện vẫn còn tại phường Bưởi, quận Tây Hồ. Thân phụ của Mục Thận là Mục Ôn cũng được truy phong quan tước. Cả bốn cha con ông cháu đều được truy phong Đại vương nên nhân dân thường gọi gia đình họ Mục là gia đình Tứ Đại vương.
Năm 1252, vua Trần Thái Tông nhân đi chơi hồ Dâm Đàm đãdừng thuyền ở Võng Thị lên bờ thăm đền Mục Thận, sai Lê Văn Hưu viết một bài thơ ca ngợi. Đó là bài thủ vĩ ngâm:

Mục gia

Mục thị tỳ bà tứ Đại vương(5)
Xuân thu hưởng tự địa thiên trường
Tổ công tông đức thiên niên hỏa
Tử hiếu tôn hiền vạn thê hương
Lưỡng sản song thân ao tiển kiến
Nhất bào nhị thánh kỷ thừa dương
Lịch triều tự điển vinh phong tặng
Mục thị đệ huynh tứ Đại vương.

Dịch nghĩa:

Gia đình họ Mục

Họ Mục bốn Đại vương như đàn tỳ bà bốn dây
Hàng năm xuân thu hai kỳ được tế lễ
Công đức tổ tiên như lửa sáng ngàn năm
Con hiếu cháu hiền hương thơm vạn thuở
Hai lần đẻ hai thần kể cũng ít thấy
Một bọc thành hai thánh thật thừa xứng danh
Chức tước tặng phong vinh dự ghi tên lịch sử
Anh em nhà họ Mục cả bốn đều là Đại vương.

Chuyện Lê Văn Thịnh hóa hổ mưu hại Lý Nhân Tông trên hồ Dâm Đàm và chuyện Mục Thận tung lưới bắt hổ, bắt đúng Lê Văn Thịnh, tự xưa đến nay đãcó rất nhiều người luận bàn. Với cách nhìn khoa học, câu chuyện trên rất có thể chỉ là một màn ngụy trang cho một sự tranh dành quyết liệt trong nội bộ triều đình nhà Lý vào cuối thế kỷ XI và sự thất thế dẫn đến sự buộc phải ra đi của Lê Văn Thịnh đãđược che dấu trong câu chuyện hoang đường dễ dàng thích ứng với dân trí thời bấy giờ, tương tự như câu chuyên "rắn báo thù Nguyễn Trãi" vào giữa thế kỷ XV.


=======================

(1) Dâm Đàm: tên Hồ Tây thời Lý.
(2) Thao Giang: tên trại thời Lý, nay là vùng sông Thao gần thị xã Phú Thọ.
(3) Nước Đại Lý: một nước xưa ở vùng Vân Nam, Trung Quốc.
(4) ý chỉ vùng Vật Dương là đất Nùng Trí Hội đem nộp cho nhà Tống vào năm 1064, vùng Vật ác là đất Nùng Tôn Đản nộp cho nhà Tống từ năm 1057.
(5) Tứ Đại vương gồm Mục Ôn, Mục Thận, Cống Lễ và Cá Lễ.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-01 07:37:32tieuboingoan>
Tô Hiến Thành, Gia cát Khổng Minh
thời Lý ở Thăng Long


Thời Tam Quốc (220-280), ở Trung Quốc có Gia Cát Khổng Minh, thừa tướng của nước Thục là một nhân vật kiệt xuất, vừa giỏi mưu lược vừa có đạo đức cao trọng, được người Trung Quốc từ đời này sang đời nọ hết sức ca tụng.

ở nước ta vào cuối thời Lý có Tô Hiến Thành tài kiêm văn võ, đạo đức cao trọng, công trạng lớn lao được nhân dân đương thời và đời sau luôn ca tụng, thường ví ông với Gia Cát Khổng Minh.

Tô Hiến Thành (? - 1179) người đất Ô Diên (nay thuộc Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Tây) làm quan thời Lý Anh Tông và Lý Cao Tông.

Anh Tông lên kế vị ngôi vua lúc mới hai tuổi. Mọi việc ở triều đình đều nằm trong tay Phụ chính thái uý Đỗ Anh Vũ. Đỗ Anh Vũ tư thông với Lê Thái hậu nên được thể càng lộng quyền, tự do ra vào cung cấm, kiêu ngạo, coi thường các đình thần. Điện tiền đô chỉ huy sứ Vũ Đái, Hỏa đầu đô Quảng Vũ Lương Thượng Cá, Hỏa đầu đô Ngọc Giai Đồng Lợi, Hỏa đầu đô Tả Hưng Thánh Nguyễn Dương, Nội thị Đỗ ất, Phò mã lang Dương Tự Minh... hợp mưu bắt giam Đỗ Anh Vũ và bố cáo với nhà vua. Đỗ Anh Vũ bị đày đi cày ruộng ở Cảo Xã, sau nhờ Lê Thái hậu cứu, được phục chức bèn phản công giết hại những người trước đây hại mình. Bấy giờ Anh Tông còn nhỏ, triều chính rối tung như tơ vò. May nhờ triều đình lúc đó có nhiều bề tôi giỏi như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền, Lý Công Tín nên việc lộng hành của Đỗ Anh Vũ dần bị chặn lại, đất nước dần trở lại bình yên.

Tô Hiến Thành là người toàn tài, võ công và văn trị đều lập được nhiều công trạng to lớn. Về võ, ông có công lớn năm 1141 bình định cuộc biến loạn ở Thái Nguyên, Tuyên Hoá bắt được kẻ cầm đầu Thân Lợi, năm 1159 phá tan các cuộc đánh phá của người Ai Lao và Ngưu Hống, năm 1167 đem quân đánh Chiêm Thành buộc Chiêm Thành phải trở lại thần phục như cũ.

Nhờ có võ công dẹp yên các cuộc đánh phá của Ai Lao và Ngưu Hống, năm 1159 ông được phong lên chức Thái uý.

Về văn trị, Tô Hiến Thành hết lòng giúp vua sửa sang chính trị, mở mang văn hoá giáo dục, phát triển kinh tế nên Đại Việt những năm dưới thời Anh Tông chấn hưng đạt mức hùng mạnh trở lại. Đầu năm 1175, khi biết mình sức khoẻ đã yếu, Lý Anh Tông phong Tô Hiến Thành lên chức Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự, tước vương, uỷ thác việc giúp rập Thái tử Long Cán.

Mùa thu năm 1175, Anh Tông mất, Thái hậu Chiêu Linh nhân đó muốn xin lập lại con mình là Long Xưởng làm Thái tử (trước đó Long Xưởng đã được lập làm Thái tử nhưng do làm chuyện vô luân nên bị Anh Tông truất ngôi) để kế vị, đã đưa vàng bạc đút lót cho bà Nữ thị vợ Tô Hiến Thành. Tô Hiến Thành nói với vợ cự tuyệt:

- Ta là đại thần nhận mệnh tiên đế dặn lại giúp rập vua bé(*), nay lấy của đút mà làm việc phế lập thì còn mặt mũi nào trông thấy Tiên đế ở suối vàng?

Chiêu Linh Thái hậu dùng vàng bạc đút lót không được nhưng vẫn không chịu từ bỏ âm mưu, bèn cho mời Tô Hiến Thành vào cung và bảo rằng:

- Ông đối với nước có thể gọi là trung đấy. Song, tuổi ông cũng đã về chiều, vua ông đang thờ thì tuổi còn nhỏ, những việc ông làm rồi ai sẽ biết cho? Chi bằng lập Trưởng quân (chỉ Long Xưởng) thì người đó sẽ mang ơn ông mà cho ông đựợc giàu sang lâu dài, thế có phải là hay hơn không?

Tô Hiến Thành liền đáp:

- Bất nghĩa mà được giàu sang, đó không phải là việc bậc trung thần nghĩa sĩ chịu làm. Huống chi di chúc của Tiên vương còn văng vẳng bên tai, công luận sẽ nói như thế nào? Thần không dám phụng chiếu.

Tô Hiến Thành đáp xong xin trở lui ngay. Về đến dinh, ông bèn cấp tốc cho mời các quan tả hữu đến căn dặn phải hết lòng phò ấu chúa, ai không vâng mệnh sẽ bị nghiêm trị.

Đến năm 1178, vào dịp hết tang Lý Anh Tông, Chiêu Linh Thái hậu ban yến cho các quan ở biệt điện, nhân đó bảo rằng:

- Hiện nay Tiên đế đã chầu trời, vua nối còn thơ ấu, nước Chiêm Thành thất lễ, người phương Bắc cướp biên. Các khanh chịu ơn nặng của triều đình, nên lo việc của nước nhà. Kế sách ngày nay không gì bằng lập lại Thái tử (ý chỉ Long Xưởng), để vận nước được lâu, lòng dân được yên.

Các quan ngoảnh nhìn quan Thái phó rồi đều chắp tay cúi đầu nói:

- Thái phó nhận mệnh lệnh rõ ràng của Tiên đế. Bệ hạ cũng đã nhiều lần dỗ bảo rồi, bọn thần không dám trái lệnh.

Nói xong tất cả đều lạy tạ rồi lui ra. Tô Hiến Thành quản lĩnh cấm binh, nghiêm hiệu lệnh, thưởng phạt công bằng, mọi người trong nước đều quy phục. Nhờ vậy chính sự trong nước giữ được yên ổn.

Đạo đức cao trọng của Tô Hiến Thành còn được sử sách ghi chép và truyền tụng trong câu chuyện như sau:

Trước đây khi Tô Hiến Thành ốm bệnh, Tham tri chính sự Vũ Tán Đường ngày đêm hầu bên cạnh, Gián nghị đại phu Trần Trung Tá vì bận việc không lúc nào rỗi để tới thăm hỏi.

Đến khi bệnh nặng, Đỗ Thái hậu (mẹ đẻ vua Cao Tông) thân đến thăm, hỏi rằng:

-Nếu có mệnh hệ nào thì ai là người có thể thay ông?

Tô Hiến Thành trả lời:

- Trung Tá có thể thay được.

Đỗ Thái hậu lại hỏi:

- Tán Đường hàng ngày hầu thuốc thang, sao không thấy ông nhắc đến?

Tô Hiến Thành trả lời:

- Vì Thái hậu hỏi người nào có thể thay thần nên thần nói đến Trung Tá, còn như hỏi người hầu dưỡng thì phi Tán Đường còn ai nữa!

Đỗ Thái hậu khen là trung nhưng rất tiếc sau khi Tô Hiến Thành mất đã không theo lời ông nói mà đã đưa Đỗ An Di, em của Thái hậu lên làm Phụ chính khiến chính sự của triều Lý từ đó suy sụt.

Mùa hạ năm 1179, Tô Hiến Thành chết. Vua Lý Cao Tông bớt ăn 3 ngày, nghỉ thiết triều 6 ngày để tỏ rõ sự đặc biệt kính trọng.

================================

(*) Long Cán lên ngôi tức Lý Cao Tông lúc mới 3 tuổi.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0
Thành Thăng Long thời Lý



Trong hơn hai thế kỷ, nhà Lý bắt đầu từ Thái tổ Lý Công Uẩn đãliên tục xây dựng và củng cố thành Thăng Long tạo nên sự phát triển về mọi mặt, đưa Thăng Long thực sự là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của đất nước và là công trình thành luỹ lớn nhất trong các triều đại phong kiến.

Ngay sau khi dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, Lý Thái Tổ một mặt đổi tên thành, mặt khác tập trung sức xây dựng lại thành luỹ vốn đãbị bỏ hoang phế trong nhiều năm và xây dựng mới nhiều cung điện, dinh thự làm nơi ở, nơi làm việc của nhà vua và đình thần.
Thành Thăng Long ngay từ thời Lý Thái Tổ đãlà một tòa thành lớn gồm ba phần. Phần trong cùng là Cấm Thành bao quanh khu Đại Nội gồm cung điện của vua ở và làm việc, cung thất của hoàng hậu và phi tần. Cấm Thành được xây bằng gạch đá, được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt. Ngay sau mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ đãcho xây dựng tại Cấm Thành một khu kiến trúc đồ sộ: "phía trước dựng điện Càn Nguyên, làm nơi coi chầu, bên tả xây điện Tập Hiền, bên hữu dựng điện Giảng Võ, lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cung Uy Viễn, hướng chính nam dựng điện Cao Minh, đều có Thềm Rồng, trong Thềm Rồng có hành lang dẫn ra xung quanh bốn phía, sau điện Càn Nguyên dựng điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ, bên tả xây điện Nguyệt Minh, phía sau dựng hai cung Thuý Hoa, Ngọc Bội làm chỗ ở cho cung nữ"(1). Điện Càn Nguyên là nơi hoàng đế coi chầu, điện Tập Hiền để hội họp các quan văn, điện Giảng Võ để hội họp các quan võ. Cửa chính đi vào Cấm Thành là Đoan Môn nhìn thẳng vào điện Càn Nguyên.

Phần vòng thành thứ hai bao quanh phía ngoài được gọi là Hoàng Thành tức thành Thăng Long. Thành được đắp bằng đất ở phía ngoài, xây bằng gạch đá ở phía trong, xung quanh có hào sâu. Phía bắc thành men theo sông Tô Lịch, dùng sông Tô Lịch làm hào sâu ngăn cách với phía ngoài, phía tây thành xuyên qua vùng đất phường Ngọc Hà, phường Đội Cấn quận Ba Đình ngày nay, phía nam thành vượt qua khu Văn Miếu đi qua mạn bắc chợ Cửa Nam ngày nay, phía đông thành đi gần song song với sông Hồng, cắt ngang Hàng Buồm, ven theo Hàng Đường ngày nay, rồi đi lên tiếp giáp với phần thành phía bắc. Trong khu Hoàng Thành có nhiều dinh thự của các quan lại, đồn trại của quân lính, chùa tháp đền đài và một số nhà cửa hàng quán của nhân dân. Trong Hoàng Thành, Lý Thái Tổ cho dựng điện Hàm Quang trên một quả núi đất gần bờ sông, kiến trúc rất nguy nga, lợp toàn bằng ngói bạc, thềm cao hàng trăm bậc, hàng năm vào những đêm trăng thanh gió mát, nhà vua, hoàng hậu và các phi tần đến đó thưởng trăng và xem bơi thuyền. ở phía nam Hoàng Thành nhà vua cho đắp đàn Viên Khâu tức đàn Nam Giao (nay ở khoảng khu vực nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, quận Hai Bà Trưng) để tế trời, đàn XãTắc (nay là khu XãĐàn, phường Nam Đồng, quận Đống Đa) để tế đất và ở phía tây lập khu ruộng Tịch Điền để hàng năm vào dịp tháng Hai âm lịch, nhà vua đến đó tự mình cầm cày cày ruộng nhằm khuyến khích nhân dân chăm lo việc cấy cầy phát triển nông tang.

Hoàng Thành ăn thông với bên ngoài bằng bốn cửa: cửa Tường Phù ở phía đông, cửa Diệu Đức ở phía tây, cửa Quảng Phúc ở phía bắc, cửa Đại Hưng ở phía nam.

Phần ngoài cùng là khu dân cư bao gồm những phố phường của thương nhân và thợ thủ công, những xóm làng nông nghiệp và một hệ thống bến - chợ giao lưu buôn bán tấp nập. Một vòng thành bằng đất còn gọi là luỹ tức La Thành cũng tức Đại La Thành làm chức năng vừa là thành luỹ bảo vệ vừa là đê phòng chống lũ lụt bao bọc phía ngoài Hoàng Thành che chở cho cả ba khu Cấm Thành, Hoàng Thành và khu dân cư. Mặt đông luỹ chạy dọc theo hữu ngạn sông Hồng được coi như đoạn đê bảo vệ kinh thành (từ Bến Nứa thuộc phường Phúc Xá, quận Hoàn Kiếm đến ô Đông Mác thuộc phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội ngày nay), mặt bắc dựa theo sông Tô Lịch từ bờ sông Hồng đến Yên Thái (phường Bưởi, quận Tây Hồ), mặt tây dựa theo đoạn sông Tô Lịch ở phía tây từ Yên Thái đến ô Cầu Giấy, mặt nam nay là từ ô Cầu Giấy theo sông Kim Ngưu qua Giảng Võ đến Ô Chợ Dừa, vượt qua Phương Liên theo đường Đại Cồ Việt, đường Trần Khát Chân đến ô Đông Mác nối vào phần luỹ phía đông. La Thành ăn thông với bên ngoài bởi nhiều cửa thành có quân lính thường xuyên canh gác: cửa Triều Đông (dốc Hoè Nhai), cửa Tây Dương (Cầu Giấy), cửa Trường Quang (ô Chợ Dừa), cửa Nam (ô Cầu Dền), cửa Vạn Xuân (ô Đống Mác). Chu vi hai vòng La Thành và Hoàng Thành tổng cộng dài tới khoảng 25 cây số.

Trải qua hơn hai trăm năm thời nhà Lý, Thăng Long không hề bị giặc ngoại xâm xâm lấn phá hoại, ngược lại còn được một số đời vua tu sửa củng cố, nhờ vậy kinh thành luôn giữ được vẻ tráng lệ, đường bệ. Năm 1029, Lý Thái Tông sau khi vừa lên ngôi do nằm mơ thấy thần rồng hiện lên ở thềm điện Càn Nguyên vừa bị phá đổ trong loạn Tam vương, "bèn sai Hữu ty mở rộng quy mô, nhằm lại phương hướng mà làm lại, đổi tên là điện Thiên An. Bên tả dựng điện Tuyên Đức, bên hữu dựng điện Diên Phúc, thềm trước điện gọi là Long Trì (thềm rồng). Phía đông thềm rồng đặt điện Văn Minh, phía tây đặt điện Quảng Vũ, hai bên tả hữu thềm rồng đặt lầu chuông đối nhau để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên. Bốn xung quanh thềm rộng đều có hành lang để tụ họp các quan và sáu quân túc vệ. Phía trước làm điện Phụng Thiên, trên điện dựng lầu Chính Dương để làm nơi trông coi tính toán giờ khắc, phía sau làm điện Trường Xuân, trên điện dựng gác Long Đồ làm nơi nghỉ ngơi du ngoạn"(1)

Cung điện đình đài không chỉ được đặt ở trong Cấm Thành, Hoàng Thành mà con đặt ở ngoài thành. Cung Long Đức dành cho hoàng thái tử dựng ngoài Hoàng Thành với ý thức "muốn cho thái tử hiểu biết mọi việc của dân"(2). Cung Dâm Đàm dựng bên bờ hồ Dâm Đàm làm nơi vua ngự ra xem đánh cá và nghỉ ngơi. Năm 1098, Lý Cao Tông còn cho dựng thêm một cụm lâu đài quanh ao Phượng Liên gồm điện Sùng Uyên, điện Huy Dương, điện ánh Thiềm, đình Lai Phương, đình ất Vân, lầu Trường Minh và cầu Ngoạn Hoa. Năm 1170, Lý Anh Tông cho lập Xạ Đình ở phía nam La Thành là nơi giúp nhà vua tập bắn cung, cưỡi ngựa và giúp các võ quan luyện tập chiến trận.
Thời Lý nhà vua và dân chúng rất sùng đạo Phật vì vậy chùa chiền được xây dựng ở khắp nơi. Tại kinh thành Thăng Long nhiều đền chùa nổi tiếng được dựng, nhiều chuông đồng cực lớn được đúc, tồn tại và có tiếng vang đến hàng trăm hàng ngàn năm sau. Chùa Diên Hựu - Một Cột được dựng năm 1049, tháp Báo Thiên mười hai tầng, cao ngất hai chục trượng (khoảng 80m) có chóp đỉnh bằng đồng được dựng năm 1057 đứng giữa Nguyệt Hồ. Tại chùa Một Cột có chuông Quy Điền cực lớn, đúc xong không thể di chuyển được. Tại tháp Báo Thiên có chuông lớn đúc hết 12.000 cân đồng (hơn 7 tấn). Chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên cùng với vạc Phổ Minh (Nam Định) và tượng Quỳnh Lâm (Quảng Ninh) được ca ngợi là "tứ đại khí" nổi tiếng nhất đất nước trong thời Lý. Rất tiếc chuông Quy Điền sau này bị giặc Minh phá để lấy đồng đúc súng đạn, tháp Báo Thiên bị sét đánh nhiều lần huỷ hoại nên hai "đại khí" nổi tiếng trên đất Thăng Long không còn đến ngày nay cho hậu thế chiêm ngưỡng. Tuy vậy trên đất thủ đô Hà Nội ngày nay vẫn còn tồn tại nhiều di tích lịch sử quý hiếm được xây dựng từ thời nhà Lý như chùa Một Cột nằm chếch phía sau lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đền Quán Thánh ở đầu đường Thanh Niên bên Hồ Tây, đền Linh Lang tức đền Voi Phục ở Thủ Lệ, đền Đồng Cổ ở Bưởi, đền Cao Sơn ở Kim Liên, đền Bạch Mãở phố Hàng Buồm, chùa Láng ở phường Láng Thượng v.v...
Nhà Lý rất quan tâm đến việc phát triển văn hoá, giáo dục, thi tuyển đào tạo bồi dưỡng nhân tài. Năm 1070 vua Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu để thờ Khổng Tử và 72 tiên hiền đạo Nho, năm 1076 vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám để giảng dạy con em hoàng tộc và các quan lại. Những công trình nổi tiếng đó đãphát huy tác dụng tốt tận đến các đời sau và hiện đang là những di tích cực kỳ quý báu của Thủ đô.
Nhà Lý quan tâm việc phát triển kinh tế nhằm làm cho dân giàu nước mạnh. Kinh thành Thăng Long với vai trò vị trí trung tâm, về kinh tế cũng đãđể lại những dấu ấn lịch sử khó quên. Thập Tam Trại(3) ở phía tây kinh thành tương truyền là vùng đất vua Lý Thái Tông thưởng cho chàng trai họ Hoàng đất Lệ Mật (huyện Gia Lâm) có công vớt được xác công chúa khi chơi thuyền trên sông Thiên Đức (sông Đuống) bị đắm thuyền chết đuối. Một vùng đất hoang hóa ở phía tây kinh thành nhờ công khai phá của những chàng trai cô gái đất Lệ Mật, bạn bè của chàng trai họ Hoàng, chẳng bao lâu sau đãtrở thành vùng đất màu mỡ cung cấp cho nhân dân Thăng Long vô vàn quả hoa, lương thực, thực phẩm. Vùng đất Nghi Tàm bên bờ đông Hồ Tây ngày nay thời Lý là trại Tầm Tang, công chúa Từ Hoa con vua Lý Thần Tông đãcùng các cung nữ ra đó trồng dâu chăn tằm. XãXuân Đỉnh gồm hai thôn Cáo Đỉnh, Xuân Tảo của huyện Từ Liêm ở phía tây Hồ Tây ngày nay, đời Lý là đất Cảo Xã, một khu đất mà triều đình nhà Lý từng buộc những người phạm tội phải đến đó cày ruộng nộp tô nặng cho triều đình. Phụ chính Thái uý Đỗ Anh Vũ thời Lý Anh Tông khi phạm tội cũng đãtừng bị đày ra cày ruộng ở đây.
ở phía trong hoặc ở vùng giáp ranh với thành nhà Lý, nhiều nghề thủ công như dệt, nhuộm, gốm, sứ, xeo giấy, đúc đồng, rèn, mộc, nề, mỹ nghệ, chế biến thực phẩm v.v... do thợ thủ công bản địa hoặc từ khắp nơi kéo về kinh thành sinh cơ lập nghiệp, đãsản xuất ra đủ loại nhu yếu phẩm cung cấp cho triều đình, nhân dân kinh thành và nhân dân cả nước. Những làng nghề xeo giấy, dệt lụa vùng Bưởi (nay thuộc quận Tây Hồ) rèn Hoè Thị (nay thuộc huyện Từ Liêm), kim hoàn Định Công ( nay thuộc huyện Thanh Trì), đúc đồng Ngũ Xã(nay thuộc quận Ba Đình), đúc tiền Cựu Lâu (nay thuộc quân Hai Bà Trưng), gốm sứ Bồ Bát - Bát Tràng (nay thuộc huyện Gia Lâm) v.v... hiện nay một số đang tồn tại, có nguồn gốc xuất xứ và phát triển từ thời Lý.
Trên tổng thể, thành Thăng Long thời Lý với số dân ước đến dăm vạn người (riêng số cấm quân làm nhiệm vụ bảo vệ Cấm Thành lúc đầu có 10 vệ, sau tăng lên 16 vệ, khoảng 3.200 quân) không chỉ là trung tâm chính trị - văn hóa - kinh tế của đất nước mà còn là một thành luỹ quân sự kiên cố, một vùng thành thị đông đúc, trù phú, nhân dân được sống thanh bình, hạnh phúc.
Thăng Long thời Lý thực sự có nhiều cái đáng để suy ngẫm, tự hào.

=================================

(1) Theo Đại Việt sử ký toàn thư
(2) Theo Đại Việt sử ký toàn thư
(3) Thập Tam Trại: Mười ba trại gồm Liễu Giai, Ngọc Hà, Đại Yên, Giảng Võ, Cống Vị, Vạn Phúc, Thủ Lệ, Cống Yên, Hữu Tiệp, Vĩnh Phúc, Ngọc Khánh, Kim Mã, Xuân Biểu.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
0