<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-14 08:31:03Ngọc Lý>
.

(3/1936-3/2006)
Đập vỡ đập vỡ đập vỡ đập vỡ
Niềm cô độc sâu
Giọng trầm đêm hút.
Thanh Tâm Tuyền
Tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1936 tại Vinh.
Bắt đầu con đường văn nghệ khá sớm, cùng bạn Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp... chủ trương nguyệt san Lửa Việt năm 1954.
Một trong những cây bút nòng cốt của nhóm Sáng Tạo từ năm 1956 đến năm 1960.
Nhập ngũ năm 62, giải ngũ năm 66, rồi tái ngũ năm 68.
Sau 75 bị bắt đi cải tạo ở Việt Bắc
Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc (1956), Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy (1964), Thơ Ở Đâu Xa (1990); các tập truyện Bếp Lửa (1957), Khuôn Mặt (1964), Tiếng Động (1970)...
Đứng đầu dòng thơ tự do trong nhóm Sáng Tạo, thơ Thanh Tâm Tuyền tựu trung ba mạch tư tưởng tượng trưng, siêu thực và xã hội; thơ ông dầy đặc những tứ thơ, ngôn ngữ, nhạc điệu mới lạ, bất thường, đôi khi rất khó hiểu
"Trong năm 1956, Thanh Tâm Tuyền cho ra mắt tập thơ tự do đầu tiên ở Việt Nam nhan đề Tôi Không Còn Cô Độc. Ông nhận định: « … thơ phá thể (2) chính là biểu hiện của Thơ Mới ở ngõ cụt, nhạc điệu của thơ phá thể là một thứ nhạc điệu nghèo nàn và giả tạo nhất …» với « … những câu dài ngắn khác nhau đầy những vần điệu – không những chỉ dùng vần điệu để nối các câu với nhau, ngay trong một câu riêng biệt cũng có vần điệu nữa - của thơ phá thể, tôi (Thanh Tâm Tuyền) thường nhận xét đó không phải là thơ, phải gọi là lời của một bản nhạc cải cách nào đó». Bởi thế cho nên « thơ hôm nay không dừng lại ở thơ phá thể, thơ hôm nay là Thơ Tự Do». " (Hàn Lệ Nhân)
Dạ Tâm Khúc
thơ Thanh Tâm Tuyền
nhạc Phạm Đình Chương
Trần Thái Hòa trình bày
- Dạ Khúc
- Lệ đá xanh
thơ Thanh Tâm Tuyền,
Phạm Quang Tuấn phổ nhạc
Vào khoảng 11 giờ rưỡi sáng, giờ Miền Đông Hoa Kỳ, ngày đầu Xuân năm nay, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền đã tạ thế. Với sự thận trọng của gia đình thi sĩ, và có lẽ đó cũng là ý muốn của ông khi còn sinh tiền, chỉ có một số nhỏ thân quyến và bạn bè của ông được thông báo tin dữ và được gia đình thỏa thuận cho đến dự tang lễ ở thành phố Roseville thuộc tiểu bang Minesota. Nhưng chỉ không đầy nửa ngày sau ngày Thanh Tâm Tuyền tạ thế, các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở Quận Cam, tiểu bang California, tin dữ được nhanh chóng loan đi. Một điều rất đáng ngạc nhiên là rất nhiều người trong cộng đồng Việt ở hải ngoại, tuy không phải trong giới văn nghệ sĩ, có thể chưa từng đọc tác phẩm của nhà thơ này, đã tỏ ra đau buồn thương tiếc khi nghe tin Thanh Tâm Tuyền đã chết. Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa...Đôi khi tôi muốn tin. Đôi khi tôi muốn tin. Ôi những người khóc lẻ loi một mình.
Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh năm 1936 ở Thanh Hóa và trưởng thành ở Hà Nội, di cư vào Sài gon năm 1955. Ngay từ những ngày đầu ở Miền Nam ông đã tham dự vào sinh hoạt báo chí của sinh viên di cư: cùng với một số bạn bè như Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ ...ông là cây viết chủ lực của tờ Lửa Việt, tiếng nói của sinh viên Sài gon. Khi Lửa Việt phải đình bản vì thiếu tài chính, Thanh Tâm Tuyền đi dạy ở các trường trung học tư ở Ban Mê Thuộc và Sàigòn. Thực ra tên tuổi Thanh Tâm Tuyền chỉ được nhiều người biết tới khi ông cùng nhà văn Mai Thảo chủ trương Tạp Chí Sáng Tạo vào năm 1957. Nhà văn Mai Thảo sinh thời gọi Thanh Tâm Tuyền, một cách rất yêu mến, là “Benjamin” của Sáng Tạo. Của Sáng Tạo chứ không của nhóm Sáng Tạo. Vì không bao giờ có nhóm Sáng Tạo. Tuy tạp chí này chỉ có mặt trong sinh hoạt văn học trong khoảng hơn hai năm, đình bản rồi tái bản rồi đình bản, nhưng ảnh hưởng sâu đậm của tờ tạp chí văn học có phong cách tiền phong này đối với văn học Việt Nam hiện đại là một sự kiện không thể chối cãi. Năm 1962 Thanh Tâm Tuyền bị động viên vào khóa 14 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, sau đó được giải ngũ vì là nhà giáo nhưng rồi lại bị tái ngũ sau biến cố Mậu Thân năm 1968. Bị tái ngũ Thanh Tâm Tuyền được chuyển về làm việc ở Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, làm biên tập viên cho tờ nhật báo Tiền Tuyến của quân đội và sau đó thuyên chuyển lên Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Đà Lạt. Sau tháng Tư năm 1975 Thanh Tâm Tuyền tức Đại-úy Dzư Văn Tâm bị đưa đi học tập cải tạo gần 12 năm trong các trại tù cải tạo suốt từ Nam ra Bắc. Đầu thập niên 90 Thanh Tâm Tuyền và gia đình định cư ở thành phố Saint Paul thuộc bang Minnesota, Mỹ. Trong suốt thời gian sống cuộc đời di dân cho đến khi tạ thế, Thanh Tâm Tuyền đã không tham dự vào bất kỳ một sinh hoạt văn học nghệ thuật nào ở hải ngoại.
Người ta thường gọi Thanh Tâm Tuyền là thi sĩ có lẽ vì ông là tác giả hai tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc và Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy, người đã đưa Thơ tự do lên đỉnh cao văn chương Việt Nam. Thực ra Thanh Tâm Tuyền là một tài năng đa diện: ngoài thơ, ông còn cho xuất bản truyện vừa, truyện dài, truyện ngắn, kịch, và tạp ghi. Ngoài ra Thanh Tâm Tuyền cũng có những bài viết về văn học có tính cách tranh luận đăng trên các tạp chí Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn...trước năm 1975. Về văn xuôi, có lẽ Bếp Lửa là tác phẩm được nhiều người yêu thích nhất.
Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền trong những ngày đầu xuất hiện vào năm 1955 là một thách đố cho cả người đọc thơ lẫn người làm thơ. Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ. Thanh Tâm Tuyền. Đất nước có một lần. Tôi ghì đau đớn trong thân thể. Những dòng sông những đường cầy núi nhọn. Những biêt ly rạn nứt lòng đường. Anh sợ những cột đèn đổ xuống. Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát. Sớm mai khua thức nhiều nhớ thương. Mai tôi đi tôi đi vào sương đen. Sương rất độc, tẩm vào người nỗi chết.
Trong thời gian lao cải và sau khi được thả về, Thanh Tâm Tuyền sáng tác “thơ trong đầu” và những bài thơ đó đến với người đọc không do ông cho in nhưng do những người yêu mến thơ ông xuất bản thành tập Thơ Ở Đâu Xa. Phần lớn những bài thơ này rất cõi riêng, viết cho vợ con, bạn bè thân thiết nhưng cái ngôn từ “đất trích” trong giai đoạn này đọc lên tuy thấy xót xa nhưng không một dấu vết oán hận. Vì thi sĩ tội đồ mắt ngước nhìn trời xanh ‘gánh cỏ trên vai thơ trong đầu.’. Duỗi soải chân tay gối trên nứa. Ngó trời nhá nhem nghe mưa mau. Tưởng chừng thi thể ai thối rữa. Hồn viển vông chẳng chút oán sầu. Đứng vững không khuỵu chân. Trên mảnh đất nghèo khổ. Vang vang trời vào xuân. Ta bật kêu mừng rỡ. Sáng nay thức giấc trong trại giam. Anh nhớ những câu thơ viết thời trẻ. Bừng cháy trong lòng anh bấy lâu u ám quạnh quẽ. Ánh lửa mênh mang buổi tình đầu.
Thanh Tâm Tuyền ra đi vào ngày đầu xuân bỏ những người yêu mến ông ở lại. Trong thơ Thanh Tâm Tuyền, Mùa Xuân luôn được nhắc tới. Thanh Tâm Tuyền là thi sĩ mở Hội Xuân cho thi ca Việt Nam hiện đại. Đi băng đi Xa xăm về gần. Biền biệt qua mảnh đất vỡ tung. Đi vào đám đông, ngủ cô đơn trên giường bệnh. Hay sẽ mãi mãi nằm ngoài nghĩa địa. Vẫn chẳng có gì khác lạ. Tuy thi sĩ không thấy có gì khác lạ đối với chính ông nhưng đối với chúng ta, cái khác lạ đó chính là sự vắng mặt của thi sĩ giữa chúng ta.
Thơ Thanh Tâm Tuyền là chữ nghĩa bị đập nát và tái tạo. Và khi được tái tạo, chữ nghĩa ấy tinh khôi. Chữ nghĩa Thanh Tâm Tuyền ở với (with us) chúng ta, và ở trong (in us) chúng ta. Mãi mãi.
THẠCH TRÂN
3/24/2006
*Những chữ in nghiêng là Thơ Thanh Tâm Tuyền
© 2006 gio-o

(3/1936-3/2006)
Đập vỡ đập vỡ đập vỡ đập vỡ
Niềm cô độc sâu
Giọng trầm đêm hút.
Khi tôi nghe tin, có bàng hoàng.
Tôi không biết ông,
chỉ biết qua vài câu thơ,
sức sáng tạo,
khả năng đập vỡ các bức tường.
Hôm nay, tôi nghe tin
ông đã ra khỏi cuộc đời.
Đã đập vỡ niềm cô độc sâu?
Tôi vừa thắp nén hương trầm
lên ban thờ cho ông,
và nghiệm ra.
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền
vừa thực sự tự do,
ngày 22 tháng 3 năm 2006.
Kính mời các bạn
cùng thắp nén hương
đến một nhà thơ
luôn bắt mọi con chữ
phải thao thức.
Tôi không biết ông,
chỉ biết qua vài câu thơ,
sức sáng tạo,
khả năng đập vỡ các bức tường.
Hôm nay, tôi nghe tin
ông đã ra khỏi cuộc đời.
Đã đập vỡ niềm cô độc sâu?
Tôi vừa thắp nén hương trầm
lên ban thờ cho ông,
và nghiệm ra.
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền
vừa thực sự tự do,
ngày 22 tháng 3 năm 2006.
Kính mời các bạn
cùng thắp nén hương
đến một nhà thơ
luôn bắt mọi con chữ
phải thao thức.
Thanh Tâm Tuyền
Tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1936 tại Vinh.
Bắt đầu con đường văn nghệ khá sớm, cùng bạn Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp... chủ trương nguyệt san Lửa Việt năm 1954.
Một trong những cây bút nòng cốt của nhóm Sáng Tạo từ năm 1956 đến năm 1960.
Nhập ngũ năm 62, giải ngũ năm 66, rồi tái ngũ năm 68.
Sau 75 bị bắt đi cải tạo ở Việt Bắc
Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc (1956), Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy (1964), Thơ Ở Đâu Xa (1990); các tập truyện Bếp Lửa (1957), Khuôn Mặt (1964), Tiếng Động (1970)...
Đứng đầu dòng thơ tự do trong nhóm Sáng Tạo, thơ Thanh Tâm Tuyền tựu trung ba mạch tư tưởng tượng trưng, siêu thực và xã hội; thơ ông dầy đặc những tứ thơ, ngôn ngữ, nhạc điệu mới lạ, bất thường, đôi khi rất khó hiểu
"Trong năm 1956, Thanh Tâm Tuyền cho ra mắt tập thơ tự do đầu tiên ở Việt Nam nhan đề Tôi Không Còn Cô Độc. Ông nhận định: « … thơ phá thể (2) chính là biểu hiện của Thơ Mới ở ngõ cụt, nhạc điệu của thơ phá thể là một thứ nhạc điệu nghèo nàn và giả tạo nhất …» với « … những câu dài ngắn khác nhau đầy những vần điệu – không những chỉ dùng vần điệu để nối các câu với nhau, ngay trong một câu riêng biệt cũng có vần điệu nữa - của thơ phá thể, tôi (Thanh Tâm Tuyền) thường nhận xét đó không phải là thơ, phải gọi là lời của một bản nhạc cải cách nào đó». Bởi thế cho nên « thơ hôm nay không dừng lại ở thơ phá thể, thơ hôm nay là Thơ Tự Do». " (Hàn Lệ Nhân)
Dạ Tâm Khúc
thơ Thanh Tâm Tuyền
nhạc Phạm Đình Chương
Trần Thái Hòa trình bày
- Dạ Khúc
- Lệ đá xanh
thơ Thanh Tâm Tuyền,
Phạm Quang Tuấn phổ nhạc
thanh tâm tuyền
THẠCH TRÂN
nguồn: gió o
THẠCH TRÂN
nguồn: gió o
Vào khoảng 11 giờ rưỡi sáng, giờ Miền Đông Hoa Kỳ, ngày đầu Xuân năm nay, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền đã tạ thế. Với sự thận trọng của gia đình thi sĩ, và có lẽ đó cũng là ý muốn của ông khi còn sinh tiền, chỉ có một số nhỏ thân quyến và bạn bè của ông được thông báo tin dữ và được gia đình thỏa thuận cho đến dự tang lễ ở thành phố Roseville thuộc tiểu bang Minesota. Nhưng chỉ không đầy nửa ngày sau ngày Thanh Tâm Tuyền tạ thế, các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở Quận Cam, tiểu bang California, tin dữ được nhanh chóng loan đi. Một điều rất đáng ngạc nhiên là rất nhiều người trong cộng đồng Việt ở hải ngoại, tuy không phải trong giới văn nghệ sĩ, có thể chưa từng đọc tác phẩm của nhà thơ này, đã tỏ ra đau buồn thương tiếc khi nghe tin Thanh Tâm Tuyền đã chết. Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa...Đôi khi tôi muốn tin. Đôi khi tôi muốn tin. Ôi những người khóc lẻ loi một mình.
Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh năm 1936 ở Thanh Hóa và trưởng thành ở Hà Nội, di cư vào Sài gon năm 1955. Ngay từ những ngày đầu ở Miền Nam ông đã tham dự vào sinh hoạt báo chí của sinh viên di cư: cùng với một số bạn bè như Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ ...ông là cây viết chủ lực của tờ Lửa Việt, tiếng nói của sinh viên Sài gon. Khi Lửa Việt phải đình bản vì thiếu tài chính, Thanh Tâm Tuyền đi dạy ở các trường trung học tư ở Ban Mê Thuộc và Sàigòn. Thực ra tên tuổi Thanh Tâm Tuyền chỉ được nhiều người biết tới khi ông cùng nhà văn Mai Thảo chủ trương Tạp Chí Sáng Tạo vào năm 1957. Nhà văn Mai Thảo sinh thời gọi Thanh Tâm Tuyền, một cách rất yêu mến, là “Benjamin” của Sáng Tạo. Của Sáng Tạo chứ không của nhóm Sáng Tạo. Vì không bao giờ có nhóm Sáng Tạo. Tuy tạp chí này chỉ có mặt trong sinh hoạt văn học trong khoảng hơn hai năm, đình bản rồi tái bản rồi đình bản, nhưng ảnh hưởng sâu đậm của tờ tạp chí văn học có phong cách tiền phong này đối với văn học Việt Nam hiện đại là một sự kiện không thể chối cãi. Năm 1962 Thanh Tâm Tuyền bị động viên vào khóa 14 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, sau đó được giải ngũ vì là nhà giáo nhưng rồi lại bị tái ngũ sau biến cố Mậu Thân năm 1968. Bị tái ngũ Thanh Tâm Tuyền được chuyển về làm việc ở Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, làm biên tập viên cho tờ nhật báo Tiền Tuyến của quân đội và sau đó thuyên chuyển lên Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Đà Lạt. Sau tháng Tư năm 1975 Thanh Tâm Tuyền tức Đại-úy Dzư Văn Tâm bị đưa đi học tập cải tạo gần 12 năm trong các trại tù cải tạo suốt từ Nam ra Bắc. Đầu thập niên 90 Thanh Tâm Tuyền và gia đình định cư ở thành phố Saint Paul thuộc bang Minnesota, Mỹ. Trong suốt thời gian sống cuộc đời di dân cho đến khi tạ thế, Thanh Tâm Tuyền đã không tham dự vào bất kỳ một sinh hoạt văn học nghệ thuật nào ở hải ngoại.
Người ta thường gọi Thanh Tâm Tuyền là thi sĩ có lẽ vì ông là tác giả hai tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc và Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy, người đã đưa Thơ tự do lên đỉnh cao văn chương Việt Nam. Thực ra Thanh Tâm Tuyền là một tài năng đa diện: ngoài thơ, ông còn cho xuất bản truyện vừa, truyện dài, truyện ngắn, kịch, và tạp ghi. Ngoài ra Thanh Tâm Tuyền cũng có những bài viết về văn học có tính cách tranh luận đăng trên các tạp chí Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn...trước năm 1975. Về văn xuôi, có lẽ Bếp Lửa là tác phẩm được nhiều người yêu thích nhất.
Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền trong những ngày đầu xuất hiện vào năm 1955 là một thách đố cho cả người đọc thơ lẫn người làm thơ. Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ. Thanh Tâm Tuyền. Đất nước có một lần. Tôi ghì đau đớn trong thân thể. Những dòng sông những đường cầy núi nhọn. Những biêt ly rạn nứt lòng đường. Anh sợ những cột đèn đổ xuống. Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát. Sớm mai khua thức nhiều nhớ thương. Mai tôi đi tôi đi vào sương đen. Sương rất độc, tẩm vào người nỗi chết.
Trong thời gian lao cải và sau khi được thả về, Thanh Tâm Tuyền sáng tác “thơ trong đầu” và những bài thơ đó đến với người đọc không do ông cho in nhưng do những người yêu mến thơ ông xuất bản thành tập Thơ Ở Đâu Xa. Phần lớn những bài thơ này rất cõi riêng, viết cho vợ con, bạn bè thân thiết nhưng cái ngôn từ “đất trích” trong giai đoạn này đọc lên tuy thấy xót xa nhưng không một dấu vết oán hận. Vì thi sĩ tội đồ mắt ngước nhìn trời xanh ‘gánh cỏ trên vai thơ trong đầu.’. Duỗi soải chân tay gối trên nứa. Ngó trời nhá nhem nghe mưa mau. Tưởng chừng thi thể ai thối rữa. Hồn viển vông chẳng chút oán sầu. Đứng vững không khuỵu chân. Trên mảnh đất nghèo khổ. Vang vang trời vào xuân. Ta bật kêu mừng rỡ. Sáng nay thức giấc trong trại giam. Anh nhớ những câu thơ viết thời trẻ. Bừng cháy trong lòng anh bấy lâu u ám quạnh quẽ. Ánh lửa mênh mang buổi tình đầu.
Thanh Tâm Tuyền ra đi vào ngày đầu xuân bỏ những người yêu mến ông ở lại. Trong thơ Thanh Tâm Tuyền, Mùa Xuân luôn được nhắc tới. Thanh Tâm Tuyền là thi sĩ mở Hội Xuân cho thi ca Việt Nam hiện đại. Đi băng đi Xa xăm về gần. Biền biệt qua mảnh đất vỡ tung. Đi vào đám đông, ngủ cô đơn trên giường bệnh. Hay sẽ mãi mãi nằm ngoài nghĩa địa. Vẫn chẳng có gì khác lạ. Tuy thi sĩ không thấy có gì khác lạ đối với chính ông nhưng đối với chúng ta, cái khác lạ đó chính là sự vắng mặt của thi sĩ giữa chúng ta.
Thơ Thanh Tâm Tuyền là chữ nghĩa bị đập nát và tái tạo. Và khi được tái tạo, chữ nghĩa ấy tinh khôi. Chữ nghĩa Thanh Tâm Tuyền ở với (with us) chúng ta, và ở trong (in us) chúng ta. Mãi mãi.
THẠCH TRÂN
3/24/2006
*Những chữ in nghiêng là Thơ Thanh Tâm Tuyền
© 2006 gio-o
