📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Thanh Tâm Tuyền đập vỡ niềm cô độc sâu...

6 trả lời, 339 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-14 08:31:03Ngọc Lý>
.



(3/1936-3/2006)



Đập vỡ đập vỡ đập vỡ đập vỡ
Niềm cô độc sâu
Giọng trầm đêm hút.




Khi tôi nghe tin, có bàng hoàng.
Tôi không biết ông,
chỉ biết qua vài câu thơ,
sức sáng tạo,
khả năng đập vỡ các bức tường.
Hôm nay, tôi nghe tin
ông đã ra khỏi cuộc đời.
Đã đập vỡ niềm cô độc sâu?
Tôi vừa thắp nén hương trầm
lên ban thờ cho ông,
và nghiệm ra.
Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền
vừa thực sự tự do,
ngày 22 tháng 3 năm 2006.

Kính mời các bạn
cùng thắp nén hương
đến một nhà thơ
luôn bắt mọi con chữ
phải thao thức.






Thanh Tâm Tuyền



Tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1936 tại Vinh.

Bắt đầu con đường văn nghệ khá sớm, cùng bạn Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp... chủ trương nguyệt san Lửa Việt năm 1954.

Một trong những cây bút nòng cốt của nhóm Sáng Tạo từ năm 1956 đến năm 1960.

Nhập ngũ năm 62, giải ngũ năm 66, rồi tái ngũ năm 68.

Sau 75 bị bắt đi cải tạo ở Việt Bắc

Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc (1956), Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy (1964), Thơ Ở Đâu Xa (1990); các tập truyện Bếp Lửa (1957), Khuôn Mặt (1964), Tiếng Động (1970)...

Đứng đầu dòng thơ tự do trong nhóm Sáng Tạo, thơ Thanh Tâm Tuyền tựu trung ba mạch tư tưởng tượng trưng, siêu thực và xã hội; thơ ông dầy đặc những tứ thơ, ngôn ngữ, nhạc điệu mới lạ, bất thường, đôi khi rất khó hiểu

"Trong năm 1956, Thanh Tâm Tuyền cho ra mắt tập thơ tự do đầu tiên ở Việt Nam nhan đề Tôi Không Còn Cô Độc. Ông nhận định: « … thơ phá thể (2) chính là biểu hiện của Thơ Mới ở ngõ cụt, nhạc điệu của thơ phá thể là một thứ nhạc điệu nghèo nàn và giả tạo nhất …» với « … những câu dài ngắn khác nhau đầy những vần điệu – không những chỉ dùng vần điệu để nối các câu với nhau, ngay trong một câu riêng biệt cũng có vần điệu nữa - của thơ phá thể, tôi (Thanh Tâm Tuyền) thường nhận xét đó không phải là thơ, phải gọi là lời của một bản nhạc cải cách nào đó». Bởi thế cho nên « thơ hôm nay không dừng lại ở thơ phá thể, thơ hôm nay là Thơ Tự Do». " (Hàn Lệ Nhân)



Dạ Tâm Khúc
thơ Thanh Tâm Tuyền
nhạc Phạm Đình Chương
Trần Thái Hòa trình bày


- Dạ Khúc
- Lệ đá xanh
thơ Thanh Tâm Tuyền,
Phạm Quang Tuấn phổ nhạc



thanh tâm tuyền
THẠCH TRÂN
nguồn: gió o



Vào khoảng 11 giờ rưỡi sáng, giờ Miền Đông Hoa Kỳ, ngày đầu Xuân năm nay, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền đã tạ thế. Với sự thận trọng của gia đình thi sĩ, và có lẽ đó cũng là ý muốn của ông khi còn sinh tiền, chỉ có một số nhỏ thân quyến và bạn bè của ông được thông báo tin dữ và được gia đình thỏa thuận cho đến dự tang lễ ở thành phố Roseville thuộc tiểu bang Minesota. Nhưng chỉ không đầy nửa ngày sau ngày Thanh Tâm Tuyền tạ thế, các cơ quan truyền thông Việt ngữ ở Quận Cam, tiểu bang California, tin dữ được nhanh chóng loan đi. Một điều rất đáng ngạc nhiên là rất nhiều người trong cộng đồng Việt ở hải ngoại, tuy không phải trong giới văn nghệ sĩ, có thể chưa từng đọc tác phẩm của nhà thơ này, đã tỏ ra đau buồn thương tiếc khi nghe tin Thanh Tâm Tuyền đã chết. Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa...Đôi khi tôi muốn tin. Đôi khi tôi muốn tin. Ôi những người khóc lẻ loi một mình.

Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh năm 1936 ở Thanh Hóa và trưởng thành ở Hà Nội, di cư vào Sài gon năm 1955. Ngay từ những ngày đầu ở Miền Nam ông đã tham dự vào sinh hoạt báo chí của sinh viên di cư: cùng với một số bạn bè như Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ ...ông là cây viết chủ lực của tờ Lửa Việt, tiếng nói của sinh viên Sài gon. Khi Lửa Việt phải đình bản vì thiếu tài chính, Thanh Tâm Tuyền đi dạy ở các trường trung học tư ở Ban Mê Thuộc và Sàigòn. Thực ra tên tuổi Thanh Tâm Tuyền chỉ được nhiều người biết tới khi ông cùng nhà văn Mai Thảo chủ trương Tạp Chí Sáng Tạo vào năm 1957. Nhà văn Mai Thảo sinh thời gọi Thanh Tâm Tuyền, một cách rất yêu mến, là “Benjamin” của Sáng Tạo. Của Sáng Tạo chứ không của nhóm Sáng Tạo. Vì không bao giờ có nhóm Sáng Tạo. Tuy tạp chí này chỉ có mặt trong sinh hoạt văn học trong khoảng hơn hai năm, đình bản rồi tái bản rồi đình bản, nhưng ảnh hưởng sâu đậm của tờ tạp chí văn học có phong cách tiền phong này đối với văn học Việt Nam hiện đại là một sự kiện không thể chối cãi. Năm 1962 Thanh Tâm Tuyền bị động viên vào khóa 14 trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, sau đó được giải ngũ vì là nhà giáo nhưng rồi lại bị tái ngũ sau biến cố Mậu Thân năm 1968. Bị tái ngũ Thanh Tâm Tuyền được chuyển về làm việc ở Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, làm biên tập viên cho tờ nhật báo Tiền Tuyến của quân đội và sau đó thuyên chuyển lên Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Đà Lạt. Sau tháng Tư năm 1975 Thanh Tâm Tuyền tức Đại-úy Dzư Văn Tâm bị đưa đi học tập cải tạo gần 12 năm trong các trại tù cải tạo suốt từ Nam ra Bắc. Đầu thập niên 90 Thanh Tâm Tuyền và gia đình định cư ở thành phố Saint Paul thuộc bang Minnesota, Mỹ. Trong suốt thời gian sống cuộc đời di dân cho đến khi tạ thế, Thanh Tâm Tuyền đã không tham dự vào bất kỳ một sinh hoạt văn học nghệ thuật nào ở hải ngoại.

Người ta thường gọi Thanh Tâm Tuyền là thi sĩ có lẽ vì ông là tác giả hai tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc Liên Đêm Mặt Trời Tìm Thấy, người đã đưa Thơ tự do lên đỉnh cao văn chương Việt Nam. Thực ra Thanh Tâm Tuyền là một tài năng đa diện: ngoài thơ, ông còn cho xuất bản truyện vừa, truyện dài, truyện ngắn, kịch, và tạp ghi. Ngoài ra Thanh Tâm Tuyền cũng có những bài viết về văn học có tính cách tranh luận đăng trên các tạp chí Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn...trước năm 1975. Về văn xuôi, có lẽ Bếp Lửa là tác phẩm được nhiều người yêu thích nhất.

Thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền trong những ngày đầu xuất hiện vào năm 1955 là một thách đố cho cả người đọc thơ lẫn người làm thơ. Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ. Thanh Tâm Tuyền. Đất nước có một lần. Tôi ghì đau đớn trong thân thể. Những dòng sông những đường cầy núi nhọn. Những biêt ly rạn nứt lòng đường. Anh sợ những cột đèn đổ xuống. Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát. Sớm mai khua thức nhiều nhớ thương. Mai tôi đi tôi đi vào sương đen. Sương rất độc, tẩm vào người nỗi chết.

Trong thời gian lao cải và sau khi được thả về, Thanh Tâm Tuyền sáng tác “thơ trong đầu” và những bài thơ đó đến với người đọc không do ông cho in nhưng do những người yêu mến thơ ông xuất bản thành tập Thơ Ở Đâu Xa. Phần lớn những bài thơ này rất cõi riêng, viết cho vợ con, bạn bè thân thiết nhưng cái ngôn từ “đất trích” trong giai đoạn này đọc lên tuy thấy xót xa nhưng không một dấu vết oán hận. Vì thi sĩ tội đồ mắt ngước nhìn trời xanh ‘gánh cỏ trên vai thơ trong đầu.’. Duỗi soải chân tay gối trên nứa. Ngó trời nhá nhem nghe mưa mau. Tưởng chừng thi thể ai thối rữa. Hồn viển vông chẳng chút oán sầu. Đứng vững không khuỵu chân. Trên mảnh đất nghèo khổ. Vang vang trời vào xuân. Ta bật kêu mừng rỡ. Sáng nay thức giấc trong trại giam. Anh nhớ những câu thơ viết thời trẻ. Bừng cháy trong lòng anh bấy lâu u ám quạnh quẽ. Ánh lửa mênh mang buổi tình đầu.

Thanh Tâm Tuyền ra đi vào ngày đầu xuân bỏ những người yêu mến ông ở lại. Trong thơ Thanh Tâm Tuyền, Mùa Xuân luôn được nhắc tới. Thanh Tâm Tuyền là thi sĩ mở Hội Xuân cho thi ca Việt Nam hiện đại. Đi băng đi Xa xăm về gần. Biền biệt qua mảnh đất vỡ tung. Đi vào đám đông, ngủ cô đơn trên giường bệnh. Hay sẽ mãi mãi nằm ngoài nghĩa địa. Vẫn chẳng có gì khác lạ. Tuy thi sĩ không thấy có gì khác lạ đối với chính ông nhưng đối với chúng ta, cái khác lạ đó chính là sự vắng mặt của thi sĩ giữa chúng ta.

Thơ Thanh Tâm Tuyền là chữ nghĩa bị đập nát và tái tạo. Và khi được tái tạo, chữ nghĩa ấy tinh khôi. Chữ nghĩa Thanh Tâm Tuyền ở với (with us) chúng ta, và ở trong (in us) chúng ta. Mãi mãi.

THẠCH TRÂN
3/24/2006

*Những chữ in nghiêng là Thơ Thanh Tâm Tuyền
© 2006 gio-o
Đăng nhập để trả lời
0
.


Bùi Vĩnh Phúc
Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy



1


Một buổi chiều, một buổi chiều nào đó, như tất cả những buổi chiều ta đã lang thang trên xứ lạ, như tất cả những buổi chiều mặt trời rơi xuống xoáy buồn vào trái tim, ta nhìn đời sống mình bốc khói. Khói cay ngun ngún cháy đi tất cả những ngày đã qua, cháy đi những mộng tưởng cũ kỹ, những hè đường đầy lá úa ướt át, những dòng sông thở nồng mùi gỗ mục. Đời đã ngun ngún cháy đi những giây phút hạnh phúc đẹp đẽ và mơ mộng nhất của ta, cháy đi những cửa sổ mở tung nhìn con chim bay trên trời, những ngõ hẹp cất giấu bóng chiều âm ỉ, và khuôn mặt em, khuôn mặt ướt mưa mà hai bàn tay ta đã nâng niu như một cánh hoa gần. Trong mắt em ta nhìn thấy ngoài kia cơn mưa chụp xuống giăng kín buổi chiều. Em chớp mi, và bầu trời phủ đầy bóng tối. Một bóng tối thơm ngát mùi hoa chanh.

Một buổi chiều, một buổi chiều nào đó, giam mình giữa dòng xe cộ trùng điệp của giờ tan sở, để chiếc xe tự động lăn theo dòng nối tiếp mệt nhoài, tâm tư ta lại nhớ về những buổi chiều cũ ở quê nhà. Những buổi chiều đã ngun ngún bay đi. Bay đi như khói thuốc, như hương khói mùa xưa. Những buổi chiều trời thắp mãi tiếng mưa sầu. Làm thế nào để quên được nhau. Hạt mưa kia long lanh nỗi nhớ niềm từ biệt, hoàng hôn bàng hoàng màu khói nhạt...

Ta chợt nhớ đến người thi sĩ ấy. Thanh Tâm Tuyền. Bây giờ, ông đang nuôi những cơn mộng nào. Ông đã sống như thế nào giữa lòng quê nhà mưa bay gió thổi [1] . Ông nhìn ngắm như thế nào những con đường, những buổi chiều, những băng đá, những dòng sông, những thành phố ngày xưa. Trời thì còn mưa, mưa mãi. Mưa rơi ướt những hoài vọng, những ước mơ, và bóng tối như đang đổ xuống không cùng. Ta muốn bật một que diêm để cùng Thanh Tâm Tuyền nhìn lại những buổi chiều cũ, có hơi ấm ngày xưa.


Buổi chiều vào chật khoang xe. Đèn thắp lên
Tiếng máy nổ bỗng thành tiếng cười dài
Mưa xuống bên ngoài, ngoài cửa sổ. Những bàn tay níu lấy vòng sắt lạnh
Mỗi ngày chúng ta đứng bên nhau không quen nhau
Thân mật ngó lên mái tóc rối nền trời khuya
Ngó vào mắt hoang xa dòng sông không bờ
(...)
Chuyến xe buýt chạy trong buổi chiều. Trời mưa, mưa ngoài châu thành.
Không tìm thấy bến không đỗ lại
Vai áo đã ướt đầy
Tóc em rét mướt
Một ngày mới bắt đầu với tờ báo phát hành sớm gói trên tay.
Xe còn chạy mưa hoài dòng sông hoang mắt bỏ cố níu lấy cửa xe...

(“Một chỗ trên ô-tô-buýt”)


Que diêm đã bật lên rồi đó, chúng ta có ngửi thấy hơi ấm quê nhà? Ôi, một chiều mưa, mưa rơi ngoài châu thành, chiếc xe buýt xanh chạy vào trái tim, dòng sông và những chấm mưa lổ đổ, buổi chiều xanh lơ màu sương khói, vai áo em mềm ướt hồng da thịt, vùng tóc rối rét đầy. Em hiền, em hiền như bánh không men, như ngọn tháp giáo đường ngoài xa kia vươn lên như một búp nến. Hơi lửa nhỏ nhẹ cháy vào lòng ta rét mướt. Xe chạy hoài dòng sông nuối mắt. Búp nến buồn hiu hắt những hơi mưa. Sợi tóc quệt ngang vành môi theo đường bay của gió. Những con chim bay vào cõi sa mù.



*


Tôi muốn viết về Thanh Tâm Tuyền như ông vẫn còn đang đứng ở đó, bên một cây cầu hay một dòng sông, tay sờ lên đường viền của những vòng sắt lạnh. Tôi muốn viết về ông như viết về những kỷ niệm của mỗi một chúng ta. Tôi không nghĩ là thơ ông đã tạo được những rung động trong đông đảo quần chúng hay được tất cả những người thưởng ngoạn, những người làm văn nghệ thời đó nhất trí chấp nhận như một giá trị hiển nhiên. Thanh Tâm Tuyền, và một vài người khác cùng thời với ông, đã có công giới thiệu và làm bùng nở một dòng thơ tự do đầy sức sống trong một giai đoạn phát triển của văn học miền Nam. Trong cái nhiệt tình thắp lửa, có những lúc có thể là ông đã phát biểu cái tiếng nói thơ, chuyên chở tâm tình và sự suy tư của ông, ở những cung bậc quá khác lạ với những âm điệu vẫn được những người khác - những người cùng sống ở một thời đại với ông - thường dùng.

Thanh Tâm Tuyền đã được yêu thương, ca tụng cũng như đã bị lên án và chối bỏ trong những năm ông bám lấy thơ, coi thơ như một cung cách sống, một nỗ lực để có thể sống cái đời sống của mình một cách trọn vẹn. Ngoài một số những bài thơ làm sau giai đoạn 1964, chưa được in thành tập, những bài thơ tiêu biểu nhất của ông, làm trong những giai đoạn trước đó, đã được ông thu góp trong hai tập Tôi không còn cô độc (1955) và Liên-đêm-mặt trời tìm thấy (1964). Hai tập thơ đã trình bày trước độc giả con người của Thanh Tâm Tuyền một cách khá rõ nét. Kiêu căng, ngạo mạn, lạnh lùng, cô độc, cô đơn, cô lữ, lãng mạn, tha thiết, dằn vặt, yêu thương, khô khan, bùng cháy, mệt mỏi, hoài nghi, thất vọng, siêu hình, trong sáng, rắc rối, phức tạp, xót xa, phẫn nộ... Đó là một số từ chúng ta có thể dùng để nói về thơ Thanh Tâm Tuyền, về Thanh Tâm Tuyền. Ông đã sống thiết tha và vũ bão như vậy. Có những lúc ông cũng đã cảm thấy mệt mỏi, hoài nghi, và thất vọng, nhưng trong tất cả những trạng thái sống đó, tôi chưa từng thấy ông sợ sệt.

Như con sư tử và như đứa trẻ thơ (đúng, Thanh Tâm Tuyền cũng có đôi khi như thế) của Nietzsche, Thanh Tâm Tuyền đi vào đời sống với tất cả những say đắm, yêu thương, thơ dại và phẫn nộ chất chứa trong hồn ông. Ông đã được yêu ghét thế nào, chúng ta chắc chẳng cần nhắc lại. Hãy chỉ nhớ là, bây giờ, Thanh Tâm Tuyền vẫn đang ở tại quê nhà, vẫn còn canh giữ cho ta những giấc mộng cũ, và những bài thơ của ông, lang thang ở những xó góc tối tăm nào đó của đời sống, của trí óc ta, lâu lâu vẫn còn khua gõ những bước chân âm thầm trở về. Và ta lại nhìn ra những bóng mưa của thời gian xưa cũ, những dòng sông vẫn chảy lặng lẽ, mưa vẫn rơi, mưa rơi nhỏ nhẹ, mưa rơi ngoài châu thành. Trái tim ta ướt đẫm nước mắt...


Anh ngắm hai bàn tay anh nhớ tàn lá về chiều
Khóc thờ ơ ngoài không trung.


*


Đọc lại những bài thơ Thanh Tâm Tuyền, tôi thấy mình yêu và gần ông ở những bài, những đoạn, những ý ông nói về tình yêu. Thật ra, bài nào của Thanh Tâm Tuyền lại không có tình yêu trong đó. Tình yêu giữa nam và nữ. Tình yêu mến thiên nhiên, yêu thương con người nói chung. Tình yêu giữa ánh sáng và bóng tối, tình yêu đồng loại bị dồn nén bởi sự tàn ác, bất công và nước mắt - nổ bùng ra thành phẫn nộ. Tình yêu làm Thanh Tâm Tuyền trở nên lãng mạn, và đau khổ, nhục nhằn. Tình yêu xót xa hoà chung với sự đau khổ vì nỗi đời, vì mệnh nước.

Nói như thế có nghĩa là tôi gần như yêu hết tất cả những bài thơ của Thanh Tâm Tuyền, vì có thể nói bài thơ nào của ông mà lại không chứa đựng tình yêu, tôi lại muốn nói một lần nữa như vậy. Dù sao, có những bài thơ trong đó ông đã đưa vào quá nhiều những hình ảnh, những tư tưởng siêu hình, và những điều đó, theo ý tôi, làm bài thơ ông mất bớt đi sự lôi cuốn. Điều tôi đang nói đây có thể là một điều kỳ lạ đối với một số người yêu thích Thanh Tâm Tuyền và nghĩ rằng thơ ông chủ yếu ở chỗ siêu thực, như thơ của Paul Eluard, Breton, Aragon, Rimbaud, Lautréamont... Thật sự, nói chung, thơ Thanh Tâm Tuyền đúng là rất gần với thơ của các nhà thơ siêu thực của Pháp; nhưng trong thơ của ông, những bài mà cảm tính và lý tính được diễn ra ở một mức độ cân bằng, hoặc nghiêng nhiều hơn về phía cảm tính, lại cuốn hút tôi hơn. Những bài quá nghiêng về lý tính không mời gọi tôi trở lại với chúng nhiều lần như những bài kia. Như vậy, có phải tôi là con người nghiêng nhiều về cảm tính? Tôi cũng không rõ. Nhưng nếu tôi là một mẫu người thích để cảm tính ngự trị, chắc tôi đã không chọn con đường đi vào phân tích, lý luận hay phê bình. Có lẽ, cuối cùng tôi đã nghĩ, không biết có phải là một sự bất công đối với Thanh Tâm Tuyền không, là những bài thơ quá nghiêng về lý tính của Thanh Tâm Tuyền, những bài thơ có vẻ quá sức siêu thực hay siêu hình của ông, làm cho tôi thấy ông bớt đi sự tự nhiên, tự tại của mình [2] . Những bài thơ ấy che giấu ông lại, thay vì mở ông ra với nụ cười tiếng khóc, với sự xót xa thương yêu, dằn vặt, phẫn nộ... của ông. Mà chính những điều ấy lại làm Thanh Tâm Tuyền gần gũi chúng ta hơn.

Hãy đọc ít đoạn thơ cũ của Thanh Tâm Tuyền, những lời thơ rất cũ gõ cửa trái tim nàng kia, để thấy lại bóng dáng của tình yêu, sự dịu dàng của bóng tối, những xót xa, đau khổ của nỗi đời, mệnh nước đan kín lấy nhau.


Hỡi Liên những Liên và Liên
Anh muốn nghe một bài hát buồn - lời anh không thành điệu - muốn
nghe một bản hát buồn. Thí dụ. Trưa nắng giữa ngã năm ngã sáu có
chợ có ga, đường tàu mải miết. Bóng tối lặng thinh em hát lên
làm sao mà chịu đựng, hoa lá chia sầu. Một góc bàn anh hôn màu
gỗ trống.

Hỡi Liên những Liên và Liên
Chẳng là anh ngông cuồng kiếm tìm tổ quốc vậy em biết không. Mà
tổ quốc ngàn đời nín thở vì trời thì xanh mà khổ đau nói sao cho
hết. Chẳng là anh chót yêu em vậy em biết không? Mà khi yêu nhau,
trong những đêm sao hằng hà, làm thế nào để quên được nhau...

(“Nói về dĩ vãng”)


Đôi khi ở nơi đất lạ này, trưa nắng giữa ngã năm ngã sáu có chợ có ga, đường tàu mải miết, tôi chợt rưng rưng nhớ nhà. Tổ quốc ngàn đời nín thở vì trời thì xanh mà khổ đau nói sao cho hết. Người thi sĩ ấy đã cảm ra những điều xót xa bàng hoàng này từ những ngày xưa. Sự bén nhạy của người thi sĩ đã khiến cho chàng ta được gọi tên như những nhà tiên tri thấu thị. Những nhà tiên tri này lên tiếng báo trước định mệnh của con người. Định mệnh có thể mang hình một cây thập tự nhưng cũng có thể là sự phục sinh. Nó có thể có mùi vị ẩm mốc của những đám lá chết nhưng cũng có thể có mùi thơm mát của những giọt sương long lanh đầu lá. Lên tiếng nói về những điều đó là nỗi khao khát đồng thời cũng là chức năng của người thi sĩ. Thế nhưng, đối với những chế độ đòi hỏi sự đồng phục trong lề lối sống của những con người mà nó nắm giữ, định mệnh con người phải hiểu là của nhà nước và do nhà nước định đoạt, ban phát. Thi sĩ không có quyền cất lên tiếng nói để làm tròn chức năng cũng như để thỏa mãn những khao khát của chàng. Thi sĩ bị lưu đày khỏi quê hương hay bị lưu đày vào đời sống cùng khốn theo cả hai nghĩa đen và bóng. Ngày xưa, thời Platon, người ta trịnh trọng và lễ phép (giả hình) choàng vòng hoa vào cổ người thi sĩ, rồi đuổi họ ra khỏi xứ sở. Bây giờ, người ta không cần triết học, người ta vất bỏ sự lễ phép (giả hình và không giả hình), người ta tóm lấy cổ thi sĩ và tống chàng vào ngục. Hãy vào trong ngục mà rao giảng cho bóng tối lòng yêu thương và những điều tiên tri của ngươi, hỡi kẻ thi sĩ kia. Trong vùng bóng tối đó, ngươi hãy nói lên sự thấu thị của ngươi. Đâu là sự thật của cuộc đời? Mặt trời đang lên ngoài kia, và ngươi là kẻ ngồi trong bóng tối. Hỡi kẻ thi sĩ kia, ngươi không sản xuất ra của cải vật chất, ngươi đòi lên tiếng nói năng gì?!!

Ngày xưa, người thi sĩ đã phẫn nộ, đã hét lên, đã run lên, đã giận dữ, đã tràn nước mắt... vì những kẻ đòi độc quyền ban phát sự thật như thế. Hãy nhớ về Hung gia lợi, 1956.


Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest
Anh một trái tim em một trái tim
Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác
Hãy cho anh giận bằng ngực em
Như chúng bắn lửa thép vào
Môi son họng súng
Mỗi ngã tư mặt anh là hàng rào
Hãy cho anh la bằng cổ em
Trời mai bay rực rỡ
Chúng nó say giết người như gạch ngói
Như lòng chúng ta thèm khát tương lai
Hãy cho anh run bằng má em
Khi chúng đóng mọi đường biên giới
Lùa những ngón tay vào nhau
Thân thể anh chờ đợi
Hãy cho anh ngủ bằng trán em
Đau dấu đạn
Đêm không bao giờ không bao giờ đêm
Chúng tấn công hoài những buổi sáng
Hãy cho anh chết bằng da em
Trong giây xích chiến xa tội nghiệp
Anh sẽ sống bằng hơi thở em
Hỡi những người kế tiếp

Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest

("Hãy cho anh khóc bằng mắt em những cuộc tình duyên Budapest“)


Phẫn nộ là phẫn nộ trước sự đè nén, áp bức và dối trá, bưng bít sự thật. Sự thật của người thi sĩ, sự thật cháy hoài trong trái tim người thi sĩ là gì? Đó là tình yêu. Tình yêu trong tất cả mọi thể thái và lốt vỏ của nó: hạnh phúc, đau khổ, hoang mang, xót xa, hoài nghi, tuyệt vọng, rạng rỡ, âm u, hơi thở, tiếng cười, ngọt ngào, cay đắng, gần gũi, cách xa, dịu dàng, hung bạo, phương phi, rực rỡ, mệt mỏi, chán chường...


Hãy khép mắt khép mắt thật khẽ
Có thấy chúng ta rơi vào giấc ngủ sâu vào những giấc mơ
Hương hoàng lan lẫn mái tóc người yêu
Xa thành phố bỗng lạc đường
Tại sao cánh rừng cháy tôi một mình
Người nào ngủ đây người nào chết đây thân xác tan tành
Hãy khép mắt khép thật kín
Và chúng ta rơi vào cơn ác mộng một mình

(„Khai từ của một bản anh hùng ca“)

Em gối đầu sương xuống
Chuyện trò bằng bóng hình
Tôi đẹp như hình tôi
Như cuộc đời
Như mọi người
(...)
Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát
Sớm mai khua thức nhiều nhớ thương
Em là cánh hoa là khói sóng
Đêm màu hồng

(„Bài ngợi ca tình yêu“)


Tình yêu trong thơ Thanh Tâm Tuyền ít khi được nhìn thấy dưới một khía cạnh vẹn toàn. Tình yêu ấy luôn luôn xao động, sấp ngửa giữa ánh sáng và bóng tối, giữa chúm môi lá biếc những chòm hôn vội vàng và con đường đi buổi chiều hấp hối, ôi buổi chiều sương mù, giữa những


Ngón tay âm thầm trò chuyện
Những bước chân thỏ rừng
Chạy trên cỏ sắc
Sợi tóc đen như một chuỗi cười


và:


(...)
Điếu thuốc bỗng trở niềm hắt hủi
Khói tím buồn
Vì chiều theo chân em sang bên kia đồi
Nụ cười mang theo
(...)
Em có biết sau lúc em từ biệt
Điếu thuốc cháy trên môi như người bạn chết
Hơi nóng khô nhành củi gẫy tàn...


Tình yêu trong thơ Thanh Tâm Tuyền còn là tình nhân ái, là lời yêu thương cho những con người cô độc, lẻ loi, trong bóng tối chảy thảm giọt lệ sầu. Thi sĩ khi nghĩ đến mình, đồng thời, chàng nghĩ đến những người xung quanh. Nhìn cuộc lênh đênh chìm nổi của người khác, chàng nghĩ đến cuộc lang thang, nỗi cô đơn của chính mình. Những mơ-ước-hoài-nghi-ngọt-ngào-cay-đắng-thiết-tha cứ thế quyện lấy trái tim chàng.


Tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi một phút
những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không
lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

đôi khi anh muốn tin
ngoài đời chỉ có trời sao là đáng kể
mà bên những vì sao lấp lánh đôi mắt em
đến ngày cuối
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời thơm phức những trái cây của Thượng Đế
mà bên những trái cây ngọt ngào đôi môi em
nguồn sữa mật khởi đầu
đôi khi anh muốn tin
ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
vòng ân ái
đôi khi anh muốn tin
ôi những người khóc lẻ loi một mình
đau đớn lệ là những viên đá xanh
tim rũ rượi

("Lệ đá xanh“)


Trong ngôn ngữ tình yêu của Thanh Tâm Tuyền, những sợi tóc không còn chỉ là những sợi tóc, những sợi tóc đen như một chuỗi cười. Những giọt lệ không còn là những giọt lệ, nhưng lệ là những viên đá xanh. Và môi em là trái cây ngọt ngào. Cánh tay, thân thể em là cỏ hoa quyến rũ. Buổi chiều không còn đứng yên, nhưng chiều theo chân em sang bên kia đồi. Và bệnh viện mắt kín mưa đêm. Đêm trong thơ Thanh Tâm Tuyền, như thế, có một thân xác và một linh hồn.


Đêm hiền từ nhỏ to trên trán
Màu đen sáng đủ ngó vào nụ cười
Có đấy không này em mưa chan hoà
Trên ngực trên ngực em bát ngát


Thân thể người con gái, người đàn bà trở thành một cái gì vừa cụ thể, gần gũi, có thể ăn cắn như một thứ trái cây, có thể ngửi được, vùi đầu vào được, sờ mó, nâng niu, vuốt ve được..., vừa trở nên một cái gì trừu tượng hoặc thanh thoát xa vời:


Da trắng như tiếng hát ở trên trời...
Anh cúi xuống hôn cánh môi tím màu đêm mà thương nhớ...

Đừng trói anh vào trần gian bằng mắt em nhìn kia...

Người đàn bà rũ tóc thành một cơn bão mặn
Hương nồng chiều dòng kinh mùa hè...


Tất cả những sự chuyển dịch, biến hoá từ hơi thở của tình yêu ấy luôn luôn kéo thi sĩ vào thiên nhiên. Một thiên nhiên khi thì trong xanh, bừng lên sáng sủa như một tiếng chim, nhưng cũng có những lúc cái thiên nhiên ấy lại chỉ hiện ra ở những hình thể sắc cạnh, chỉ là những khối gỗ, sắt vô tri.

Trước hết, đây là thiên nhiên mềm, mở tung cửa sáng vào trời xanh. Tiếng mưa gõ nhịp lách tách vào mắt em.


(...)
Cửa sổ trời những mắt chưa quen
trán hoang đồng cỏ
run đường môi kỷ niệm
đi qua những thành phố đầy tim
cười đổ mưa một mình

(„Của em“)


Hay là thiên nhiên của mùa về với những bông mía trắng phất phơ hay đám lau buồn lắt lay trong gió.


(...)
Ai xui rằng mùa măng chưa tới
Mà mùa về măng thôi chẳng ngọt
Vườn măng rừng tháng sáu đêm sâu
Muốn làm người học trò mười bảy tuổi
Đạp xe trên đường đồng
Bông mía trắng những căn nhà ngủ dưới cây...

(„Bao giờ“)

(...)
Tuổi ấu thơ hòn cù lao xa khuất
Và tình yêu như đám lau buồn
Vàm sông nước xoáy như tiếng cười thầm
Ở sau lưng ở trước mặt
Anh thả người trôi nổi

("Sầu khúc“)


Đó là những mảnh thiên nhiên hiền lành, thơ mộng, hoặc buồn bã, nhưng trong chúng, người ta vẫn thấy một cái gì thân mật, gần gũi. Nhưng đó là khi con người còn giữ lại được mình. Khi người ta cảm nhận được sự mất mát, xa lạ của mình đối với chính mình, khi người ta thấy mình đang bị cái thiên nhiên của sắt thép gỗ đá, của tiếng cơ khí chạm vào nhau và phát ra tiếng kêu của một loài sắt lạnh, của những cao ốc, những cột đèn... bao phủ lấy họ, người ta không còn thấy được nét mềm mại thơ mộng của thiên nhiên nữa.


Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu em đi xa

Đi đi chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau
Đi đi anh đưa em vào quán rượu
Có một chút Paris
Để anh được làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hà Nội
Anh (...) ôm em trong tay mà đã nhớ em
ngày sắp tới.
Chiếc kèn hát mãi than van
Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như con mắt giận dữ
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như bàn ghế không bầy...

(...)
Anh đưa em đi trốn
Những dày vò ngày mai

(“Dạ khúc”)


Khi người ta ý thức được tình trạng bị mất mát, bị xâm chiếm, bị tha hóa của mình thì người ta hoặc là chạy trốn, hoặc chống cự lại, hoặc là trở nên chai lì, mất hết rung động trước những hiện hữu quanh mình. Lòng trở nên dửng dưng, hoang vắng.


(...)
Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông
Mà lòng mình phơi trên kè đá
Con thuyền xuôi
Chiều không xanh không tím không hồng
Những ống khói tàu mệt lả

(“Bao giờ”)


Trước một đời sống đang bị cuộn tròn vào tiếng cười của cơ khí, của tiếng động cơ xô anh vào bẫy, trên cát lầy lún mãi, tuổi thiếu niên chạy về nhảy múa trên tóc anh và gọi, có những lúc người thi sĩ đã dửng dưng một cách xót xa như thế, buổi chiều bây giờ trở thành dửng dưng, như lòng ta dửng dưng nhìn những ống khói cơ khí kia kiệt sức. Màu sắc thường làm dậy lên những rung động trong hồn người. Buổi sáng sắc xanh, buổi trưa sắc trắng, buổi chiều sắc tím, hay hồng. Cũng có khi yêu đời, người ta thấy buổi chiều sắc xanh, hoặc đang yêu người, ta thấy chiều lên sắc hồng; còn khi người ta buồn hoặc để lòng mình lãng mạn vu vơ bập bềnh tiếng sóng, người ta thấy chiều tím. Chiều
không xanh không tím không hồng, ấy là chiều đã không còn chỗ trú ngụ trong lòng người. Chiều đã đi ra ngoài trí nhớ. Chiều đã trở thành một thực thể biệt lập, ngoại tại. Và chiều dửng dưng:


Em biết không?
Em biết không?
Trong ngục tù giam giữ những than van
Người ta kêu một mình
Thành tiếng động rửng rưng đống sắt rỉ hoen rơi đổ
Não óc anh hàng chấn song nguyền rủa
Khi em đi qua những đường phố dẫm nát những giấc mộng theo đòi
Hy vọng dội lên trong mọi hồi trống rỗng
Anh ngắm hai bàn tay anh nhớ tàn lá về chiều
Khóc thờ ơ ngoài không trung...

(“Sầu khúc”)



--------------------------------------------------------------------------------
[1]Bài này được viết vào năm 1986, khi Thanh Tâm Tuyền còn sống tại Việt Nam, chưa định cư tại Mỹ.
[2]Thật ra, có thể nói tính chất siêu thực thường không dung nạp lý tính. Siêu thực ở ngoài lý trí. Thế nhưng, những đoạn thơ mà nhiều người nghĩ có vẻ “siêu thực” nhất của Thanh Tâm Tuyền lại chứa đựng đầy lý tính. Và hình ảnh trong những bài này thường mang màu sắc ẩn dụ. Xin xem Liên-đêm-mặt trời tìm thấy ở các bài “Hơi thở”, “Thành phố”; “Bài không tên” ở trang 72, đoạn 10,; “Sầu khúc”, đoạn 5; “Từ chối”; “Bài không tên” trang 113-123.


Nguồn: Đăng lần đầu trên nguyệt san Văn Học, California, 1986. In lại trong Lý luận và phê Bình / Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước 1975-1995 của Bùi Vĩnh Phúc, nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1996. Đăng lại trên talawas với một số thay đổi và bổ túc của tác giả.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5335&rb=0101
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-23 09:13:29Ngọc Lý>
.

Bùi Vĩnh Phúc
Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy



2

Nhưng Thanh Tâm Tuyền không để cho những tù ngục của mệt mỏi, dửng dưng ấy giam giữ ông. Ông bám vào tình yêu, vào sự lãng mạn của mình. Đó là chiếc chìa khóa giúp ông mở tung những cánh cửa của chán nản, của tuyệt vọng, của mệt mỏi, của sự đồng phục trong đời sống, của những sắt thép gỗ đá và những mệnh lệnh liên tiếp được dựng lên, tung ra để cầm nắm, để giam giữ tâm-ý-thể con người. Khuôn mặt tình yêu có trong sáng hay buồn bã, đôi mắt tình yêu có rạng rỡ hay thảm sầu, chàng thi sĩ vẫn tìm ra ở đó những phúc âm của đời mình.


(...)
Hãy ngửa khuôn cổ tròn như một cành hoa trắng,
anh đeo vào đây vòng ca ngợi
Hãy chìm mắt xuống những lớp nhớ nhung
như biển lớn anh đang dâng
Hãy đặt bàn tay mười ngón lửa
sưởi lên môi anh từng lạnh giá bởi những lời đã thốt
Anh sẽ hôn em, thời khắc hạnh phúc vẫn mong manh

(...)
Bởi con chim vẫn giam trong lồng ngực vừa được bay nên bay
mau hơn ánh sáng, anh nhìn được mắt em tuyệt vời tận muôn nghìn quá khứ.
Bởi con chim đã bay kịp thời-gian nên chậm lại, anh nhìn
thấu hồn em trong suốt những mai sau.
Bởi con chim còn xòe cánh liệng tròn, anh thâu nhận hết em qua vô vàn hình ảnh

(“Liên-đêm-mặt trời tìm thấy”)

(...)

Anh đưa tiễn em, gửi theo những giấc mộng giấu kín hết đời. Em
lên đường và anh chỉ còn chân tay tẻ nhạt vô duyên như xứ sở
tang thương vì bom đạn.

(“Chiều trên phi trường”)


Trong tình yêu riêng của mình, Thanh Tâm Tuyền đã sống và chết trong đời sống như thế, đã hạnh phúc và đớn đau như thế, nhưng người thi sĩ ấy không để tình yêu che mờ hết những rung động khác trong con người chàng. Thanh Tâm Tuyền đòi hỏi tự do. Tự do trong mọi thể thái của nó. Người thi sĩ ấy đã làm thơ, và thơ của ông trước tiên là một sự phá bỏ những xiềng xích cũ. Sự cân đối, mực thước, cùng nhịp điệu, lối gieo vần của những thể thơ cũ có lẽ đã cản trở Thanh Tâm Tuyền trong cách diễn đạt những tư tưởng vỡ bờ, những lề lối suy nghĩ nằm ngoài khuôn phép của ông. Thanh Tâm Tuyền muốn cho hơi thở mình được tự do, tư tưởng mình được phóng khoát, nên ông đã đẩy thơ tự do của ông, thời ấy, vào những con đường hết sức mới lạ. Dĩ nhiên là Thanh Tâm Tuyền không thể thoát khỏi ảnh hưởng của những trào lưu Tây Phương đang ghi những dấu ấn trên tâm thức của thanh niên thời đó. Nhưng việc ông can đảm đưa vào thi ca chúng ta thời ấy những thể mới, ý mới như ông đã làm cũng đã cho chúng ta thấy tính cách khai phá của ông.

Trên đường đi tìm một tự do hằng khao khát, Thanh Tâm Tuyền, như bất cứ ai chọn cuộc lên đường đầy thử thách để tìm một dải đất mới cho mình, đã có những lúc phẫn nộ. Có những phẫn nộ chính đáng, trong đó có những mầm hạt cho một hạnh phúc ước mơ sau này. Có những phẫn nộ vô lý, vô cớ, không dựa trên một lý do chính đáng nào cả. Nhưng thật sự ra thì phẫn nộ, phản kháng là yếu tính của con người nghệ sĩ, của kẻ sáng tạo. Tôi thấy, ở một mức độ nào đó, sự phản kháng của Thanh Tâm Tuyền có một số nét gần gũi với cung cách phản kháng của Albert Camus.

Trong Con người phản kháng (L'homme révolté), và trước đó, thể hiện trong Kẻ xa lạ (L'étranger), Camus đã trình bày ý nghĩa của cung cách phản kháng này. Nhiều người và nhiều nhà phê bình đã không hiểu rõ ý nghĩa phản kháng trong các tác phẩm của Camus nên đã đưa ra những bàn cãi và phê bình đi ra ngoài những điều ông muốn nói, và bởi thế, đã thất bại trong việc đánh giá các tác phẩm của ông. Bây giờ, sau khi những bàn cãi sôi nổi đã lắng xuống, Albert Camus đã chết, và tác phẩm của ông đã được xếp vào loại những tác phẩm chứa đựng những giá trị thâm sâu và nhân bản nhất của con người [1] , người ta mới nhìn kỹ hơn những ý nghĩa mà Camus đã mang đến cùng với từ “phản kháng” trong văn chương ông. Camus đã không dùng từ này theo nghĩa vẫn được chấp nhận. Sự phản kháng của ông không trực tiếp để chống lại cái khát vọng có tính cách lãng mạn để thăng hoa và tiêu diệt những giới hạn ràng buộc con người. Sự phản kháng này nhắm thẳng vào tất cả những âm mưu, những sức cản làm giảm bớt đi cái khả năng của con người trong việc nắm bắt những cơ hội để sống hạnh phúc trong vòng những giới hạn ấy. Những kẻ thù mà Camus vạch mặt và không ngừng chiến đấu để chống lại là tất cả những sức mạnh làm đông cứng, mô-mi-hoá con người, cho dù bất cứ những sức mạnh này ở dưới dạng nào - tinh thần, cá nhân, hay định chế - bắt nguồn từ sự vô cảm, mơ ngủ, hay từ những mạng lưới chằng chịt của các ý thức hệ, xanh hay đỏ, của thời đại này nhằm trói buộc và cầm bắt tâm-ý-thể con người. [2]

Hãy đọc lại Hãy cho anh khóc bằng mắt em những cuộc tình duyên Budapest để thấy sự phản kháng này của Thanh Tâm Tuyền. Hay là đọc bài sau đây:


Ngực anh thủng lỗ đạn tròn
lưỡi lê thấu phổi
tim còn nhẩy đập
nhịp ba nhịp ba nhịp ba
tình yêu tự do mãi mãi

(...).

núi cao uốn cây rừng
nhịp ba nhịp ba nhịp ba
tình yêu tự do mãi mãi
đất nước ào ào vỗ nhịp
triều biển chập chùng
Hà Nội Huế Sài gòn
ôm nhau nức nở

(...).

nhịp ba

tình yêu
tự do
mãi mãi
tình yêu tự do mãi mãi
tình yêu tự do mãi mãi
tình yêu tự do
mãi mãi anh ơi

(“Nhịp ba”)


Hoặc sự phản kháng của Thanh Tâm Tuyền trước những bất hạnh, những bất công, những bất túc của lương tâm con người. Trong lời phản kháng này, ta vẫn còn nghe ra một niềm hy vọng.


Một người da đen một khúc hát đen
Bầu trời đen sâu không cùng
Những dòng nước mắt

Xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng
Bằng giọng của máu của tủy của hồn bắt đầu ngày tháng
Giữa rừng không lời rừng mãi trống không

(...).
Vì Blues không xanh vì điệu Blues đen
Trên màu da nức nở
Trong hộp đêm
Bắt đầu chảy máu thầm kín khóc cổ họng mình
Ngón tay cấu lấy ống kèn như một bùa thiêng

(...).

thế giới va chạm những loài kim réo gọi
Thời gian mềm
không gặp thời gian
Không gian quay thành những vòng kỷ niệm
Rồi một buổi nào Blues hiện về xanh

("Đen“)


Và sau đây là một cơn phẫn nộ vô cớ. Nào ai có biết tôi phẫn nộ gì. Cuộc đời này lúc nào cũng chật hẹp, tù túng, người nhìn người hau háu những móng vuốt giơ ra. Tôi phẫn nộ với tất cả mọi thứ đảo lộn hay đã được sắp xếp để đặt vào thế giới này. Hãy hét lên cho nguôi giận.


Tôi buồn chết như buồn ngủ
dù tôi đang đứng trên bờ sông
nước đen sâu thao thức
tôi hét tên tôi cho nguôi giận
thanh tâm tuyền
đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi... [3]

("Phục sinh“)


Ngôn ngữ của Thanh Tâm Tuyền mạnh và chắc; nhịp điệu sắc gọn ở những bài mang ý phẫn nộ. Trong những bài nói chuyện yêu đương chan chứa, những hình ảnh dịu được đưa vào đã giúp điều chỉnh giọng thơ. Chính Thanh Tâm Tuyền cũng có nói xa gần đến điều này khi bảo thơ tự do “không gieo vần lối đồng âm đồng thanh, vần của nó là vần ẩn giấu cách xa (có thể đi tới khác âm, nghịch thanh), nhịp điệu của nó là sự phối hợp của một toàn thể không khuôn trong một số câu nhất định khiến cho hơi thơ tự do dễ kéo dài hơn các hơi thơ khác” [4] . Ngoài ra, cũng trong đoạn trình bày về thơ tự do, cũng như về thái độ, cung cách làm thơ của mình, như Võ Phiến đã dẫn trong Văn học Miền Nam, Tổng quan (Văn nghệ 1986), trong tập Liên-đêm-mặt trời tìm thấy, Thanh Tâm Tuyền cũng nhắc đến một thứ nhịp điệu gọi là nhịp điệu của hình ảnh, một thứ nhịp điệu khác là nhịp điệu của ý tưởng, cả hai thứ này là sự thể hiện của nhịp điệu của ý thức.

Tôi nghĩ là Thanh Tâm Tuyền cũng đã khá hào hứng khi nói về những bài thơ cũng như những khám phá của mình - mặc dù nhiều điều trong những suy nghĩ của ông rất đáng cho chúng ta lưu ý. Nhưng, thật sự, như tôi đã nhận xét ở trên, trong những bài có chủ ý rõ là nói về tình yêu nam nữ, tình yêu đôi lứa, Thanh Tâm Tuyền vẫn dùng những nhịp gãy, nhịp trắc trở, những dấu nhấn khác thường so với những thể thơ cũ. Nhưng những hình ảnh rất đẹp và lạ và mới trong những bài thơ này đã làm cho cả bài thơ mềm đi và bay lên như một tiếng chim vào cửa sổ trời mở rộng.

Đọc kỹ, thật sự, ở một số bài, người ta vẫn thấy Thanh Tâm Tuyền còn sử dụng những vần hoặc nhịp điệu của thơ cũ. Những bài này không nhiều, nhưng vẫn có. Và vẫn rất đáng yêu. Hãy đọc lại năm câu thơ này:


Vứt mẩu thuốc cuối cùng xuống dòng sông
Mà lòng mình phơi trên kè đá
Con thuyền xuôi
Chiều không xanh không tím không hồng
Những ống khói tàu mệt lả.

("Bao giờ“)


Vần vẫn còn đấy, mặc dù nhịp điệu có được làm cho sai khác đi. Đoạn thơ sau đây cũng thế. Vần vẫn còn đó, nhưng nhịp điệu đã được chuyển hoá đi làm cho khác lạ, tạo nên những syncopes như trong âm nhạc. Những âm được sử dụng cũng là những âm chõi, cùng với những nhịp nhấn khác lạ, làm cho bài thơ toát ra một cảm giác buồn bực, dồn nét, bứt rứt. Tất cả những điều đó dọi phóng thành một cảnh buồn, chiếu mãi trong tâm thức người đọc. Những cảnh này được tạo nên bằng những bức ảnh đen trắng hoặc có màu xám xịt. Tiếng lóc cóc của vó ngựa trên đường về huyệt mộ và tiếng kèn harmonica nổi bật lên trong bối cảnh này.


Khi đêm chạy trở lui
Người nào thổi harmonica
Tôi đến bằng mọi cách
Tiếng kèn khóc oà

Mưa bẩn sân ga
Toa tầu hạng ba
Chuyến xe hàng ốm yếu
Thổ mộ con ngựa già

Đường mòn đưa đến huyệt
Đứa trẻ con thổi harmonica
Trong hoàng hôn tóc rối
Tiếng kèn khóa oà...

(“Sầu khúc”)


*


Tôi đã yêu thơ, đã làm thơ, và đã đọc thơ của nhiều người. Càng đọc nhiều tôi lại càng yêu nhiều. Càng yêu nhiều, tôi lại cứ muốn đọc mãi. Thơ làm cho ta yêu cuộc sống hơn, thiết tha với sự sống hơn. Nếu thơ không làm được những điều đó, không gợi lên trong lòng người đọc những tình cảm đó, thơ không đạt đến cứu cánh của nó nữa.

Thơ Thanh Tâm Tuyền cho tôi nhiều cảm xúc. Mỗi lần trở lại với thơ ông, tôi đều tìm ra một nét gì mà tôi đã chưa hề thấy trước đó. Bởi những ý tưởng, những hình ảnh Thanh Tâm Tuyền sử dụng thường không nằm trong những ước lệ của tiếng nói hay của lối suy tư hàng ngày, ta thường không nhìn ra được hết cái chân diện mục của chúng. Gần gũi với trường phái thơ siêu thực của Pháp, những hình ảnh mà Thanh Tâm Tuyền sử dụng trong thơ ông cũng, phần nào, có tác dụng của những đường nét trong những bức tranh siêu thực của các hoạ sĩ thế kỷ 20. Dù sao, nếu nhìn dưới khía cạnh hội họa, tôi nghĩ chúng ta đều thấy rằng những “bức tranh cất tiếng” [5] của Thanh Tâm Tuyền có nhiều nét gần gũi với các bức tranh của những họa sĩ siêu thực lớp sau như Max Ernst, René Magritte, Salvador Dali, Pierre Roy... hơn là với những họa sĩ siêu thực lớp trước như Jean (Hans) Arp [6] . Nói về tính chất siêu thực trong văn chương, cũng như trong các thể thái khác, có lẽ không ai có thẩm quyền hơn André Breton. Ông định nghĩa: tính cách siêu thực là cái tính cách tự động thuần túy xét trên mặt tâm linh, qua đó, nó được diễn tả ra hết sức rõ ràng - bằng chữ viết, hoặc bằng bất cứ một thể thái nào khác - cái tiến trình tư duy thật sự của con người. Đây là tiếng nói của bất cứ một hình thái thẩm mỹ hay đạo đức nào. Được sáng tạo ra từ những thúc đẩy ở ngoài phạm vi luận lý và lấy chất liệu từ tiềm thức và từ những thị kiến nghệ thuật, các thi sĩ hoặc họa sĩ thuộc trường phái siêu thực đã sáng tạo nên những tác phẩm xuất phát từ những mơ mộng thuần túy của họ về một thế giới mà họ mong ước đạt tới. Tác phẩm của họ không còn nằm trong phạm trù thực tại mà đã bước chân sang một biên địa khác, có những lý tưởng, những ước mơ, và ngay cả những ảo vọng nữa. Đây là những con chim vô hình đập cánh và bay vào cõi vô biên, để rơi lại những tiếng hót vương vất trong cõi trần gian.

Thơ Thanh Tâm Tuyền, ở một số khía cạnh, đã bay nghiêng về những vùng không gian đó. Còn ông, trong chốn trần gian tăm tối và đầy lệ thảm kia, nơi tất cả những tiếng nói bình thường của con người đang bị bóp nghẹt hay bóp méo, nơi những trái tim không còn được tiếp tục nhẩy đập những nhịp yêu thương cũ, ông sẽ ra sao?

Những câu thơ tiên tri ngày nào có trở về trong đời sống kẻ thi sĩ?


Những giấc ngủ xiềng xích
Cuộc lưu đày thêm xa
Tôi trốn về lẩn lút
Đất đai không tìm ra
Đâu cũng toàn quỷ sứ
Riễu cợt tôi ngây ngô

Cớ sao nhà ngươi khóc
Muốn làm người là điên
Con người thì cô độc
Không phép thuật nhiệm mầu

Tôi khóc mặc tôi khóc
Bầy quỷ nhảy xung quanh
Tôi khóc hoài tôi khóc
Và chúng nó phát điên

Chúng tước lấy tiếng nói
Giam tôi trong bóng tối.
Tôi khóc không ra lời
Và tôi đi lang thang
Tôi đi tìm tiếng nói
Cho cổ họng của tôi

(...)..

Tôi nhìn người tuyệt vọng
Tôi nhìn người khẩn cầu
Linh hồn tôi rách nát
Lời nói còn ở đâu ....

(“Liên-đêm-mặt trời tìm thấy”)



*


Thanh Tâm Tuyền, ngay trong những ngày xưa, thời ông còn được tự do làm thơ hạnh-phúc-yêu-thương-phẫn-nộ, đã cho thấy ông là một con người đã từng nếm nhiều trái-cây-đau-khổ. Tôi nghĩ là ông đã đọc nhiều, đi nhiều, thấy nhiều, cảm nhiều, mơ mộng nhiều, suy nghĩ nhiều, nhớ thương nhiều... Ông đã sống nhiều và ông đã trải đời sống mình ra thơ. Con người ấy, nhìn ở một góc cạnh nào đó, có những lúc ngạo mạn, vô lý, rừng rú, nhưng cũng có những lúc sôi nổi, thiết tha, đắm đuối, dịu dàng.

Để tóm kết bài viết này, tôi muốn ghi lại những dòng chữ sau đây của Rainer Maria Rilke. Người thi sĩ Đức tài hoa và tha thiết ấy đã nói những lời hết sức thật và sống động về thơ, về sự làm thơ:

Người ta phải chờ đợi và gom góp những cảm xúc và sự dịu ngọt của cả đời dài, có khi cả một đời người, tới lúc đó, ở cuối cuộc gom góp đó, người ta mới có thể viết được mươi câu thơ hay. Bởi lẽ, thơ, không phải như người ta tưởng chỉ là những cảm xúc giản dị, mà nó chính là kinh nghiệm.

Để có thể viết được một câu thơ, người ta phải thấy bao nhiêu là thành phố, bao nhiêu là người là vật, người ta phải hiểu biết về loài vật, người ta phải cảm được sự sung sướng của con chim bay và biết được những cánh hoa nhỏ bé đã mở mắt chào đón bình minh như thế nào. Người ta phải có khả năng nhớ lại những con đường ở những xứ sở xa xôi mà người ta đã đi qua, những gặp gỡ bất ngờ và những chia tay xa tắp trong trí nhớ. Người ta phải có khả năng nhớ lại được những ngày niên thiếu với những dấu vết khó giải thích, nhớ lại những bậc sinh thành mà người ta đã làm cho đau khổ khi những bậc sinh thành này mang đến cho người ta niềm vui mà người ta không thèm đón bắt, nhớ lại những cơn đau yếu hết sức kỳ lạ bắt đầu bằng một số những thay đổi sâu xa và trầm trọng, nhớ lại những ngày người ta ẩn kín, im lặng trong phòng, nhớ lại những buổi sáng bên bờ biển, những biển hồ sông rạch, nhớ lại những buổi tối lang thang đã bay qua đời người ta rồi bay tuốt lên trời cao với những vì sao (...). Người ta phải có những kỷ niệm về những đêm yêu đương, không đêm nào giống một đêm nào, có những hồi tưởng về những tiếng la hét của phụ nữ trong khi sinh đẻ, và về những người đàn bà nhẹ hẫng, tái nhợt, nằm thiêm thiếp trên giường với em bé ở bên. Nhưng người ta cũng cần phải có kinh nghiệm ở bên cạnh một người đang chết, người ta cần phải có kinh nghiệm ngồi bên cạnh một người đã chết rồi trong một căn phòng có cửa sổ mở tung ra những cơn ồn ào từng chập. Nhưng chỉ có hồi niệm không vẫn chưa đủ. Người ta phải có khả năng để quên chúng đi khi chúng trở nên quá nhiều, quá đầy trong óc người ta, và người ta phải có lòng nhẫn nại để chờ cho đến khi chúng quay trở lại. Bởi vì đấy chưa phải là hồi niệm đâu. Chúng chỉ là hồi niệm khi chúng biến thành máu chảy trong trái tim, trong thân thể người ta, khi chúng trở thành cái nhìn và những điệu bộ, không tên tuổi và không còn có thể tách thoát, phân biệt khỏi chính chúng ta. Chỉ tới lúc đó người ta mới có thể bất ngờ, trong một thời khắc hiếm hoi nào đó, viết ra chữ đầu tiên của một câu thơ đang bắt đầu ngoi lên từ trong những vùng âm u mờ mờ sương đục của hồi niệm và chảy tràn ra ngoài. [7]

Thanh Tâm Tuyền đã dâng hiến cho đời nhiều dòng thơ rất đẹp, những câu thơ đau khổ và phẫn nộ, hạnh phúc và thương yêu của ông làm cho ta chảy nước mắt. Nhưng nếu Thanh Tâm Tuyền chỉ có được mươi câu thơ hay, ông cũng xứng đáng cho ta yêu mến và cảm phục, bởi lẽ ông đã sống, đã tân toan trong đời sống, đã chịu đựng và gìn giữ tất cả để trở nên một thi sĩ.

Hãy choàng vào cổ thi sĩ một vòng hoa và hãy để chàng ngồi giữa chúng ta trong cuộc đời này.

Thi sĩ, hãy cho ta khóc bằng mắt anh những cuộc tình duyên và những đời người khốn khổ!

1986



------------------------------------------------------------------

[1]Trong một tiểu luận tựa đề là “Camus in America”, Serge Doubrovsky đã cho rằng Camus là một nhà văn vĩ đại của nước Mỹ. Và mặc dù Camus đương nhiên là một nhà văn lớn của Pháp, nhìn dưới khía cạnh quần chúng, ông vĩ đại hơn nữa trong lòng người Mỹ. Trường hợp đặc biệt và độc nhất của Camus được tạo ra do một sự liên đới cảm nhận và chia sẻ giữa Camus, tác phẩm của ông và quần chúng Mỹ. Cái chết đột ngột của Camus làm chấn động bất cứ một con người nào có suy tư. Chưa nói đến phản ứng của giới văn học, có nhiều người bình thường đã nước mắt đầm đìa khi nghe tin Camus chết; có những người khác thề nhịn ăn trong nhiều ngày. Trên nước Mỹ, nơi văn chương chỉ được coi là một hoạt động có tính cách phụ thuộc, cái chết của Hemingway và Faulkner không để lại những giọt nước mắt. Chưa nói là một tác giả ngoại quốc, một nhà văn nổi tiếng của Mỹ chết đi cũng không gây xúc động gì lắm trong lòng quần chúng Mỹ cho bằng cái chết của một tay chơi football hồi hưu. Trường hợp Camus là trường hợp đặc biệt và độc nhất (“Camus in America”. Trích N.R.F., XCVIII (01/02/1961), 292-296, Ellen Conroy Kennedy dịch ra Anh văn).
[2]Xem Germaine Brée, Introduction to Camus, Prentice Hall, Inc. 1962.
[3]Thật sự, Thanh Tâm Tuyền không phải là người đầu tiên tự gọi tên mình một cách đau khổ trong thơ. Trước đó, một nhà thơ khác cũng đã tự gọi tên mình một cách thống khổ như thế. Xem Federico García Lorca, “Thơ ở New York”, “Đất và trăng”.


Quiero llorar porque me da la gana
como lloran los ninos del último banco
porque yo no soy un poeta, ni un hombre, ni una hoja
pero sí un pulso herido (...)
Quiero llorar diciendo mi nombre,
Federico García Lorca, a la orilla de este lago...

(Tôi muốn khóc bởi vì tôi muốn khóc
như những đứa trẻ con khóc buồn trên những tay ghế dựa của những
kẻ ngẩn ngơ
bởi vì tôi không là thi sĩ, cũng chẳng là con người, chẳng là cánh lá
nhưng chỉ là cái nẩy bật chảy máu của một vết thương (...)
Tôi muốn khóc và gọi tên tôi
Federico García Lorca, bên bờ hồ này... )

[4]Xem Liên-đêm-mặt trời tìm thấy, 1964.
[5]Chữ của Plutarch (diễn lại ý của Simonides): “Painting is mute poetry, and poetry a speaking picture”, Irving Babbitt, The New Laokoon, Boston and New York, 1910.
[6]Những họa sĩ siêu thực đầu tiên, trong nỗ lực diễn tả những kinh nghiệm nội tâm, ở bên ngoài ý thức, đã đi theo con đường sử dụng các kỹ thuật của tâm lý học hiện đại. Sơn hay mực được vẩy đổ trên vải vẽ không có một mục đích để tạo một hình thể rõ rệt nào trong óc người sáng tạo. Những mảnh giấy nhỏ cũng được xé ra và thả xuống mặt tranh, tạo nên những sự kết hợp bất ngờ. Nhà nghệ sĩ siêu thực hy vọng rằng những sự kết hợp bất ngờ đó có thể là chìa khoá mở toang cánh cửa tiềm thức của họ. Những họa sĩ siêu thực lớp sau phát triển tính cách siêu thực theo một kỹ thuật khác. Họ diễn tả lại cái thế giới của những giấc mộng mà họ có qua nỗ lực thực hiện những bức tranh tiến đến độ chính xác và rõ ràng như sự chính xác, rõ nét của một tấm ảnh chụp. Mặc dù có vẻ đứng ở một cực bên kia với những họa sĩ siêu thực đầu tiên trong kỹ thuật sáng tạo, những họa sĩ siêu thực lớp sau này cũng nhấn mạnh rằng hình ảnh trong tranh của họ là những hình ảnh tự phát, tự sinh, và có những liên hệ trực tiếp với những kinh nghiệm vô thức của thế giới nội tâm họ.
[7]Rainer Maria Rilke, The Notebooks of Malte Laurids Brigge, M.D. Herter Norton dịch ra Anh văn (W.W. Norton & Company, Inc., 1949).



http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5336&rb=0101
Đăng nhập để trả lời
0
.

Đoạn văn sau đây trích từ
NGUYỄN HƯNG QUỐC
nghĩ về thơ


THANH TÂM TUYỀN
Đêm



Ở miền Nam trước năm 1975, dường như nhiều lúc Thanh Tâm Tuyền cũng muốn thăm dò cái cõi tiềm thức ẩn mật trong một số bài thơ đến nay vẫn bị coi là tối tăm. Thử đọc bài thơ số 9 trong chùm "Đêm" in trong tập Liên đêm mặt trời tìm thấy:

Một giọng trầm đêm
Niềm cô độc sâu
Nét nhạc xanh cung thương đen
Mi mắt trĩu mùa đông cũ
Cái chết bốc hơi
Tiếng kèn rách vô hình dáng
Người con gái áo đen xõa tóc ngất
Hai cánh tay dài quằn quại hai con trăn hiền lành
Không khí nhiễm độc
Đập vỡ
Quá khứ hỗn xược trên da trống
Ném miểng chai lên mặt trời mù
Nói thầm nói thầm
Mùa rét mướt
Thời gian dần trừ khử
Giọng như hơi cháy dưới sình lầy
Nhát búa hoảng hốt
Tương lai thét đớn đau
Lửa ma trơi vụt tắt
Tiếng cười dữ tợn
Người con gái áo đen
Thổ máu
Cái chết bốc hơi chóng mặt
Nôn xuống chân giận hờn sỏi đá
Đập vỡ đập vỡ đập vỡ đập vỡ
Niềm cô độc sâu
Giọng trầm đêm hút.



Bài thơ viết về đêm tối. Trọn vẹn một đêm tối. Từ lúc khởi sự đêm đến lúc tận cùng đêm. Đêm mưa rơi lâm thâm. Như những tiếng nói thầm. Mưa không đủ lớn để nền trời thành đặc quánh hẳn. Người ta vẫn thấy, mờ thật mờ, trên cao, một vài vì sao thưa thớt như những mảnh chai lấp lánh. Bóng tối được ví với người con gái. Đêm xuống: "người con gái áo đen xõa tóc ngất." Rạng đông hừng lên: "Người con gái áo đen... thổ máu". Đêm bị đồng hóa với cái chết. Đêm càng sâu, những tiếng nói, tiếng động càng dần dần tắt. "Thời gian dần trừ khử. Giọng như hơi cháy dưới sình lầy." Chỉ còn lại, nặng nề trong những người thao thức, "niềm cô độc sâu".

Chủ tâm của Thanh Tâm Tuyền là khơi gợi, trong thơ, cái "niềm cô độc sâu" ấy. Đêm là một giọng trần. Trầm và buồn. Buồn và ngột ngạt. Giữa cái "giọng trầm" với những "nét nhạc xanh cung thương đen" kia, thỉnh thoảng bật lên những tiếng động chát chúa: những "tiếng kèn rách", "nhát búa hoảng hốt", "tiếng cười dữ tợn"... Có thể đó là những tiếng động thật trên các đường phố, nhưng cũng có thể chỉ là những âm thanh vang dậy từ tiềm thức. Tự thâm tâm, người ta gào thét đòi đập vỡ cái "giọng trầm đêm", cái "niềm cô độc sâu" đang đè nén họ trong bóng tối mịt mùng và cô liêu.


_________

Nguyễn Hưng Quốc. Nghĩ về thơ. Cali: Nhà xuất bản Văn Nghệ, 1989, trang 54, 55, 56.
Đăng nhập để trả lời
0
.






Thanh Tâm Tuyền: Từ 'Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy'
Nguyễn Mạnh Trinh






Tôi hình dung Thanh Tâm Tuyền từ một cuốn sách cũ trong tủ sách tôi. Cuốn “Bếp lửa“ mà tôi nghĩ in rất lâu, đến nay phải chừng nửa thế kỷ. Màu giấy đã ố vàng, bìa đã long và tôi đi bọc bìa cứng lại. Tôi chẳng nhớ tại sao tôi đã có cuốn sách ấy, cũng như tôi đã có cuốn “Vang Bóng Một Thời có chữ ký của Nguyễn Tuân với câu đề tặng độc đáo “Tôi Tặng Tôi…”. Và, đây chân dung thi sĩ mà tôi tưởng tượng từ những trang sách:


“… Hắn lớn lên trong một thành phố đã mất, thành phố bị vây hãm như một hòn cù lao nổi chờ ngày tan rã không để lại dấu vết. Hắn đọc Marx tìm thấy giấc mộng “biến cải thế giới”, đọc Rimbaud tìm thấy giấc mộng “thay đổi cuộc đời”, đọc Dostoievski tìm thấy thái độ ”tất cả hay không có gì hết”, đọc Gide tìm thấy “đời sống thành khẩn trung thực”, đọc Malraux tìm thấy hào quang của trí tuệ đối đầu với Định Mệnh, đọc Sartre tìm thấy “cuộc hiện sinh và chọn lựa”. Hắn lớn lên cùng bè bạn vượt qua mau tuổi trẻ để suy nghĩ và mơ ước hành động. Mỗi đứa một lối lăn mình theo mối cám dỗ lớn lao của hư vô. Hắn lìa bỏ quê hương, chia tay với bè bạn, dấn mình vào lịch sử, đuổi theo giấc phiêu lưu của trí tuệ sự thật được tạo nên từ niềm hư vô của tuổi trẻ bị tước đoạt… “

Thực ra, đó là những dòng chữ của tác giả “Bếp Lửa“ viết về nhân vật Vũ Đạo Ánh, nhưng trong cảm nhận của tôi có nét chung mang của thế hệ những người sinh trước chúng tôi một thập niên. Họ, những người trí thức lơ láo giữa ngưỡng cửa lịch sử và triết học. Họ, đứng trước những ngã ba, ngã tư và như một tình cờ, bị cuốn theo cuộc sống. Chiến tranh, càng hằn thêm nỗi ngơ ngác giữa hư không. Có những cuộc khởi hành mà trong đó, nhà văn nhà thơ đóng vai kẻ sống sót của một thời định mệnh. Họ đã gánh vác trên vai gánh nặng của thế gian…

Nhân vật trong “Bếp Lửa“ ấy, cũng là một nhân vật của thơ Thanh Tâm Tuyền, thơ của nỗi mê sảng quằn quại của tuổi trẻ thời chiến tranh. Thơ, bức xúc. Và, thơ nhuốm nỗi hư vô chập chờn trong ngày tháng nổi trôi theo từng biến cố thời sự:

“Trên đèo Hải vân
Nếu nhớ quê hương
Muốn chết
Vũ Đạo Ánh
Chiến tranh vẫn còn (đến khi nào)
Đồn đóng sườn núi
Ngó biển không
Chiều chẳng mặt trời
Một mình rừng
Mây lõa thể
Vũ Đạo Ánh
Đập cụt cổ chai bia
Lấy súng bắn lên không
Đạn chì sẽ ghim ngực tao lép
Vũ Đạo Ánh
Chim én vẫn bay đầy đàn trên trời chiều đường phố Sài Gòn.”

Thanh Tâm Tuyền, nhà thơ của những ngày Sáng Tạo. Trèo lên cây bưởi hái hoa, là bài viết của những dòng về một nền thi ca mới, của nỗ lực lên đường, đã gây ra những ảnh hưởng cho một nền văn học đang thời phát triển. Thơ, mang những nỗi niềm của mênh mang hướng vọng về một quê hương đã xa nhưng cũng là đích nhắm đến của tương lai nhiều khuôn cửa mở ra cho một bình minh chữ nghĩa.

Với “Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy“, thi ca đã khác với Thơ Mới ngày xưa của Huy Cận, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương,Đinh Hùng,… Thơ mở toang các cánh cửa còn đóng kín. Thơ là những xúc cảm còn hôi hổi, rạt rào. Trong chữ nghĩa có nhiệt tâm của tuổi trẻ của hăm hở kiếm tìm từ những chân trời xa. Và, là nối tiếp của những bàn tay, kéo lôi băng băng theo dòng đời rẽ theo những ngõ ngách lịch sử nhiều bất ngờ biến dịch.

Thơ cho một biến cố chính trị có lẽ ít sống lâu trong tâm trí độc giả yêu thơ. Thế mà, bài thơ về một thời sự như thế của Thanh Tâm Tuyền lại vẫn được nhắc đến như một mốc dấu của một thời thi ca:

“Hãy cho anh khóc bằng mắt em.
Những cuộc tình duyên Budapest.
Anh một trái tim em một trái tim
Chúng kéo đầy đường chiến x ađại bác
Hãy cho anh giận bằng ngực em
Như chúng bắn lửa thép vào
Môi son họng súng
Mỗi ngã tư mặt anh là hàng rào
Hãy cho anh la bằng cổ em
Trời mai bay rực rỡ
Chúng nó say giết người như gạch ngói
Như lòng chúng ta thèm khát tương lai
Hãy cho em run bằng má em
Khi chúng đóng mọi đường biên giơí
Lùa những ngón tay vào nhau
Thân thể anh chờ đợi…”

Tôi tẩn mẩn đọc đi đọc lại bài thơ này để chiêm nghiệm những tìm kiếm cho một bài thơ hay. Cũng là những điệp khúc, cũng là những liên tưởng, dù viết như một hành động biểu dương chính nghĩa nhưng vẫn có âm hưởng của một bản tình ca. Ngôn ngữ bình dị, nhưng trong phong cách có một nỗ lực làm cho khác đi những bến sông xưa nếu không nói là làm mới những xúc cảm cũ.

Một bài thơ khác, “Dạ Khúc“, chẳng hạn. Những hình ảnh đã khác với những tượng hình ước lệ xa xưa. Có những biểu tượng của thành thị, của những góc cạnh của chân trời tây phương xa xôi cùng với những hình bóng của kỷ niệm, của những điều tưởng thật xa nhưng lại gũi gần trong cuộc sống. Thành phố ấy, kéo dài ra những phương hướng xa, những góc cạnh mới. Thiên nhiên, cảnh vật, khoác bộ áo tân kỳ, không phải để tươi màu hơn mà đề chuyên chở theo những nỗi niềm, những dàn trải cho cuộc sống vẫn nhịp dồn dã ngoài kia …

“Anh sợ những cột đèn đổ xuống.
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu em đi xa.
Đi đi chúng ta tới công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau
Đi đi anh đưa em vào quán rượu
Có một chút Paris
Để anh được làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hà Nội
Anh là thằng điên khùng
Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới
Chiếc kèn mãi than van
Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng…”

Không cần phân biệt là thơ để đọc hay thơ để ngâm. Cũng như không cần phải cái tâm phân biệt của người thưởng thức thơ của ngày xưa và bây giờ. Không cần những cái rườm rà hiện đại hay không hiện đại, thơ viết từ nửa thế kỷ trước vẫn tạo được những liên tưởng cho người đọc thơ. Tôi thực tình khá ngỡ ngàng trước những thơ ô vuông hay cánh én, hoặc những lên hàng xuống hàng mà có người cho rằng nếu thiếu hoặc sai lệch sẽ giết hại thơ một cách tàn bạo. Tôi vẫn nghĩ, từ xưa tới nay, thơ cần phải cảm xúc và tương thông. Cái mới, cần nhưng chưa đủ. Cũng như, cái khác lạ không giống với cái kỳ cục.

Cũ và mới, như trong một chu kỳ, có thể cũ với thiên niên kỷ trước nhưng mới với ngày hôm nay. Đó là cái hiểu thô thiển của tôi. Tôi vẫn nghĩ nếu có sự cố công thơ chỉ là trang trí thủ công. Ý thức làm mới chỉ bắt nguồn từ những không cố tình mới có sự mời gọi chia sẻ chân thực và tự nhiên.

Thơ Thanh Tâm Tuyền vào lúc tôi mới lớn đã như một luồng gió lạ thổi tới. “Tôi không còn cô độc” và “Liên, Đêm Mặt trời Tìm Thấy” là tập thơ có khá nhiều ảnh hưởng với người đọc và người viết cũng như hiện tượng “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học“ của Phạm Công Thiện của thập niên sau. Thơ tự do đã thành một thể loại quen thuộc trong văn học Việt Nam và vần điệu thơ trong sự khơi mở nhiều phá cách đã làm thơ có nét lôi cuốn riêng của một thời kỳ văn chương đòi hỏi và kêu gọi sự sáng tạo. Thơ mới với bảy chữ, tám chữ, lục bát của những năm trước 1945 quá quen thuộc dễ thành nhàm chán cũng phải, biến dạng. Thơ lục bát xuống dòng theo từng điệu nhấn theo từng cách đọc, hoặc, thơ bảy chữ, tám chữ biến ra những khuôn khổ vần điệu khác phóng túng hơn.

Có bữa, tôi đọc lại tập thơ của Thanh Tâm Tuyền in ở hài ngoại. Tập “Thơ ở Đâu xa”. Tôi thấy những bài thơ khá chân phương, lục bát, bảy chữ như của một thuở nào tiền chiến. Sau một cuộc đổi dời, thơ cũng dời đổi chăng?

Bây giờ, những Sartre, những Malraux, những Gide,… là những hình bóng đã qua? Những từ ngữ nhiều vần trắc, xử dụng trong một phong thái phù thủy đã ít xuất hiện. Và, thơ, là một mặt gương phản chiếu đời thực với tất cả những đường nét thô nhám của nó. Suy tưởng, triết lý, có khi là những chuyện hư không.

Bây giờ, là ngày tháng bắt đầu cho những điều mà từ lâu dã biết đã hiểu đang từ từ hiện đến. Thơ không còn là lời tiên tri nữa mà là mô tả sự thực, như bài đầu của tập thơ, Ngày Đến:

“tinh mơ xe đến Long Giao
đón người đám cỏ tranh cao ven đường
trông lên đồi núi mờ sương
mưa bay tất tưởi mưa rong tần ngần
tiêu điều ngơ ngác trại quân
đất lầy bùn đỏ quánh chân ghê người
ngổn ngang chiến cụ bỏ rơi
xanh om bờ bụi tả tơi lũy đồn
nhà hoang vách trống gió luồng
vắng tanh nỗi nhớ dập dồn bóng vang
ngả lưng trên đất mơ màng
hé trời trôi dạt ngỡ ngàng tấm thân.”

Trong tập sách “La Part d’Exil” có lời biện giải của tác giả “Thơ ở đâu xa” về trường hợp làm thơ của mình:

... Đối diện với hiện trang hỗn loạn sông mơ hồ không chủ đích của thời điểm sau 1975, tôi có cảm giác đã sống xong cả cuộc đời, phần còn lại của cuộc sống tôi chỉ là dư thừa và không đáng quan tâm tới nữa. Hoàn toàn là ảo vọng. Năm đó, chế độ mới bắt tôi vào trại tập trung cải tạo như các bạn bè tôi, những kẻ cùng chia sẻ và cam chịu sự lưu đầy lên những vùng ma thiêng nước độc, bình thản, dửng dưng, không hy vọng nhiều nhưng cũng chẳng tuyệt vọng lắm.Tôi đã có ý nghĩ mình đã “biến mất “và chẳng có ngày trở về, như bọt bèo trôi trên sóng lịch sử. Tại sao không? Nhưng, quả là sự lầm lẫn. Người ta đưa tôi lên vùng thượng du Bắc Việt, cô lập với thế giới bên ngoài. Tôi sống trong thiên nhiên, “tự do hạn chế với chỉ tiêu gỗ mỗi ngày” với nhiều cơ hợi để trốn trại. Nhưng mỗi ngày lao động qua đi, tôi vẫn trở về trại giam theo con đường cũ.Tại sao lại có tình trạng ấy? và tại sao tôi lại phản ứng như vậy? Có phải là trường hợp kẻ trắng tay hoặc nỗi niềm của người tuyệt vọng tận cùng khi bị bỏ rơi? Lúc đó, là niềm hy vọng không hiện hữu của môi trường chẳng thể thẩm thấu qua với tình trạng không liên hệ. Chẳng có điều gì rõ rệt với tôi. Nhưng, tôi nhủ thầm, mình sẽ hồi sinh, nghĩa là thi ca trở về và ngự trị. Tôi thật sung sướng trong hoàn cảnh ấy. Tôi nhút nhát e lệ như khi sáng tác những bài thơ đầu. Tôi giấu diếm mọi người, kể cả bạn tù, tôi không dám đưa họ đọc. Cuộc sống ngày lại ngày vô cùng dửng dưng, không lý tương lai, chẳng nề dĩ vãng, không phập phồng hiện tại, thì thử hỏi, còn lại chi cuộc đời? Điều hiện hữu hiển nhiên ở trong bạn, có sẵn không mong muốn. Để qua đi, tất cả những ngày đen tối, những đêm mưa gió, thời tiết lạnh căm, bão bùng của những mùa tiếp qua mùa…Tôi tìm niềm vui riêng từ những nỗi niềm hiện diện trong tôi. Và, tôi mang vác độc nhất sự thực luôn luôn có mặt và ẩn khuất trốn lánh trong thân thế tôi…”

Có người cho rằng thơ bây giờ và thơ xưa cũ của Thanh Tâm Tuyền có vóc dáng khác biệt nhau. Một giản dị chân thật có khi còn cổ điển của “Thơ Ở Đâu Xa”. Một kiểu cách trí thức phức tạp nhiều suy tư nặng cách khai phá của “Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy“ hay “Tôi Không Còn Cô Độc”.

Riêng tôi, trong cảm nhận mình, tôi nghĩ vẫn chỉ là một, nhưng biểu hiện bằng hai phương cách. Nhiều chất suy tư, thi sĩ đã biểu hiện tình cảm mình theo từng trường hợp khác nhau. Thơ, rốt cuộc chỉ là biểu hiện của con người thực, lãng mạn, và cố vượt thoát những mê lú đời thường, những khó khăn trở ngại của con đường nhân gian đầy gai chông.

Đọc những trang thơ, thấy hiển hiện những sinh hoạt của trại tù. Dù bị trù dập, dù bị đè nén, nhưng vẫn là thái độ rõ ràng, thua trận nhưng không bại hoại tư cách. Và, ở tất cả, vẫn nhú lên những mầm nụ của yên lành, vô ngại vô ưu.

“Mặt trời hồng như trăng
Thức lòng ta buổi sớm
Gió núi thổi rộn ràng
Gọi nghe biển dậy sóng
Đứng vững không khuỵu chân
Trên mảnh đất nghèo khổ
Thở hít tận vô cùng
Ngây say đóa hồng rợ.
Vang vang trời vào xuân
Ta bật kêu mừng rỡ
Ơi bè bạn xa xăm
Tim ta cũng cháy đỏ
Rực thắm bóng trăng ngần “

Một bài thơ khác, hơi cổ điển, thất ngôn bát cú, nhưng lai láng tình cảm của phút giây xúc động thực, của nỗi niềm trao gửi nhau Thơ không có hơi hướng Đường Tống xa xưa mà lại có nét sinh động của một hiện tại mà tâm sự với bạn bè cùng nhau thì miên man không dứt như biển cả. Bài “Thư gửi P.L.P. ở K5T1”

“Nhớ bạn như đang nhớ thuốc lào
Đường gần nhưng cách trở xiết bao
Mấy năm không gặp nhau rồi nhỉ?
Râu tóc long đong hẳn bạc phau?
”Đằng ấy “còn chăng nét “tiếu ngạo”
“tớ đây” vẫn giữ vẻ “tiêu dao”
Mong ngày hội ngộ nằm chung chiếu
Tán gẫu qua đêm như độ nào.”
Thanh tâm Tuyền đã nói về trường hợp làm thơ của mình:

“Và làm thơ trong trại cải tạo, đó cũng là trở về với thi ca bình dân. Chế độ lao động trong trại rất căng thẳng, một ngày tám tiếng, một tuần bảy ngày không nghỉ không cuối tuần. Mỗi tù nhân có một mảnh chiếu tạo thành một thế giới riêng, sắp lớp hai hàng sáu chục người thành một phòng trên trăm tù. Viết là một xa xỉ từ chỗ ngồi và thời gian để viết. Với một đời sống có nhịp điệu như thế, hối hả chụp giựt cộng lẫn đói lạnh... làm sao có ai nghĩ đến chuyện sáng tạo? Ngay cả đến bực thiên tài cũng chẳng thể vượt qua được những “khó khăn “ghê gớm này. Tuy nhiên người Việt có câu “làm thơ” chứ không ai nói “viết thơ”. Ấy, người ta có thể làm thơ bất kỳ lúc nào, bất cứ ở đâu, đi, đứng nằm ngồi bất kể.. Thơ gặp anh, không hò hẹn trước mà cũng chẳng định rõ ngày giờ. Người ta không htể kiếm nó vì chẳng biết đâu mà tìm. Bạn chỉ có độc một việc: đón nhận nó, trò chuyện cùng nó... Và, chỉ một yêu sách duy nhất: hãy giữ vẹn tiếng nói chân chất của bạn. Tiếng nói này, sau sẽ định rõ số phận riêng nó. Nó, chính là nàng thơ, luôn ẩn mật, có lúc vào bằng chính lộ nhưng đôi lúc vào bằng hẻm nhỏ. Hãy lắng nghe. Nàng thơ hay đeo mặt nạ, khuôn mặt khuất sau tấm voan che kín, nếu ký ức không tỉnh táo, sẽ chẳng thể nào nhận diện nàng. Trong khi lao động hụt hơi nàng tới. Đột nhiên, giữa đồng, giữa rừng, nàng ngưng. Nàng ra lệnh cho bạn ngưng tay. Bạn sẽ bắt đầu nhìn trời đất, quên trong một phút những việc làm theo phản xạ. Nàng kéo lôi bạn trong cơn ru êm ả. Trong hiện hữu tự nhiên, là nguồn vui. Bởi, khi nàng thơ rời bỏ, bạn trở lại cuộc sống và nhận diện để thấy đời như một nhịp thơ. Như vậy, khi làm việc bằng chân tay, đôi tai bạn sẽ đuổi theo nhịp điệu và tiết tấu bài thơ. Sự hài hòa này đem đến yếu tố kết hợp giữa công việc (vốn hạn định những động tác) –và ký ức (đang ghi nhận để chứa đựng )…’







Nguyễn Mạnh Trinh

http://www.viet.no/modules.php?name=News&file=article&sid=1228

Đăng nhập để trả lời
0
.

Bài do meocon_thongminh93
đem vào diễn đàn

HOÀNG NGỌC TUẤN
Bài thơ "Đen" của Thanh Tâm Tuyền:
bài thơ jazz đầu tiên
(và có thể duy nhất)
của Việt Nam




Những phân tích trong 3 chương đầu [của tiểu luận "Thơ Jazz: tiết tấu, âm thanh và phong khí da đen"] cho thấy thơ jazz mang một số đặc tính chủ yếu như: mô tả chân dung các nhạc sĩ và âm nhạc của họ; mô tả âm sắc độc đáo của nhạc cụ; được viết như lời ca blues; và, được viết để đọc trên nền nhạc jazz. Một cách tổng quát, những đặc tính chủ yếu này có thể giúp chúng ta phân biệt thơ jazz với những loại thơ da đen khác. Tuy nhiên, sự phân biệt này khó được thực hiện một cách tuyệt đối minh bạch. Cũng như thơ da đen nói chung, hầu hết thơ jazz nói về thân phận da đen lưu đày, niềm đau nô lệ, phản ứng trước thái độ kỳ thị chủng tộc, nhắc đến nguồn gốc Tây Phi xa xưa, tình trạng lao động khổ sai, những bất công xã hội, sự nghèo đói, tính cách vô luân của đời sống đô thị, mặc cảm màu da, sự kêu gọi đoàn kết chủng tộc, v.v... Những điểm dị biệt giữa thơ jazz và thơ da đen, do đó, ít hơn những điểm tương đồng. Sự dị biệt hầu như chỉ gắn liền với những đặc tính có liên hệ với jazz hay không. Có lẽ chính vì thế mà Sascha Feinstein và Yusef Komunyakaa, hai thi sĩ jazz và nhà biên tập thơ jazz nổi tiếng, đã có vẻ lưỡng lự trước hai thuật ngữ "jazz poetry" và "jazz-related poetry". Nếu "thơ jazz" thực chất chỉ là "thơ-có-liên-hệ-đến-jazz", thì chẳng qua nó là một dạng thơ da đen viết về những đề tài có liên hệ đến jazz hay chịu ảnh hưởng của jazz trong âm thanh và tiết tấu.

Tuy nhiên, có những bài thơ vẫn được gọi là thơ jazz trong khi chúng chỉ đề cập đến jazz, mà chẳng đậm đà phong khí da đen gì mấy. Thử đọc bài thơ "Indiana Haiku" của Etheridge Knight:

Mirror of keen blades
Slender of guitar strings; Wes
Montgomery jazz.[1]
Tạm dịch:

Tấm gương soi cạnh sắc
Mỏng như dây đàn guitar: Wes
Montgomery jazz.
Bài này cùng nhiều bài haiku khác đã được Sascha Feinstein và Yusef Komunyakaa chọn đăng trong The Jazz Poetry Anthology và The Second Set. Tất nhiên, chúng ta có thể đưa ra lý luận rằng nếu nhạc jazz ở New Orleans những năm 1920 sẵn sàng đón nhận những ảnh hưởng đa văn hóa trong phong cách, thì thơ jazz cũng thế: để mô tả chân dung của một nhạc sĩ jazz, nhà thơ có thể sử dụng cả thể thơ haiku của Nhật Bản; và điều quan trọng nhất trong bài thơ này là Etheridge Knight đã mô tả diệu thủ Wes Montgomery với âm sắc guitar như cắt thịt, một trong những âm sắc guitar độc đáo nhất trong lịch sử nhạc jazz.

Nhưng nếu thế, liệu chúng ta có thể làm thơ jazz qua thể lục bát của Việt Nam chăng? Câu hỏi này có thể tạm được trả lời bằng hai cách: 1/ rằng thơ lục bát, với tiết tấu đều đặn, số lượng âm tiết và kết cấu âm điệu bằng trắc khả đoán và đặc thù Việt Nam của nó, không thể thích hợp với nhịp chỏi và tính cách ứng diễn (improvisation) của nhạc jazz, trong khi thơ haiku có tiết tấu không đều đặn, và âm điệu cao thấp không quy định nên có thể thích hợp với nhạc jazz hơn; và 2/ vì nhạc jazz xuất phát từ người da đen Bắc Mỹ, nên chỉ có tiếng Anh, đặc biệt là loại tiếng Anh viết theo giọng Mỹ đen mới thực sự thích hợp, trong khi đó, thơ lục bát không thể được viết bằng tiếng Anh (ngược lại, thơ haiku có thể được viết bằng tiếng Anh).

Cách trả lời thứ nhất có vẻ chấp nhận được, nhưng cách trả lời thứ hai có lẽ cần phải được xét lại, vì đã có những bài thơ không được viết bằng tiếng Anh trong nguyên tác, nhưng bản dịch Anh ngữ của chúng vẫn được Feinstein và Komunyakaa chọn đăng trong các tuyển tập thơ jazz. Như những bài thơ của Léopold Sédar Senghor, chẳng hạn.

Trong thi tuyển Poèmes (1964) gồm những bài thơ viết bằng tiếng Pháp của Senghor, nhà thơ và cựu tổng thống nước Senegal ở Tây Phi, có một số bài đề cập đến jazz và chân dung nhạc sĩ jazz, như bài "Ndéssé ou 'Blues'", với hai câu thơ cuối như sau:

[...] Oh! le bruit de la pluie sur les feuilles monotone!
Joue-moi la seule 'Solitude', Duke, que je pleure jusqu'au sommeil.[2]
Tạm dịch:

Ôi! tiếng mưa đơn điệu cứ rơi hoài trên lá!
Duke ơi, hãy tấu lên khúc 'Solitude' cho đến khi tôi ngủ vùi trong nước mắt.
Dùng chữ "Blues" trong nhan đề (trong ngôn ngữ Senegal, chữ "Ndéssé" có nghĩa là sự lắng nghe với lòng ngưỡng mộ), Senghor viết bài thơ về niềm đau da đen, và kết thúc bằng hai câu thơ về Duke Ellington và bản nhạc jazz "Solitude" lẫy lừng. Bài thơ này đã xuất hiện trong thi tập Chants d'ombre từ năm 1945. Đến năm 1963, nó xuất hiện trong tuyển tập Modern African Poetry qua bản dịch Anh ngữ của Gerald Moore và Uli Beier dưới nhan đề "Blues".[3] Năm 1991, bản Anh ngữ này lại được Feinstein và Komunyakaa chọn đăng trong tuyển tập The Jazz Poetry Anthology.[4] Diễn trình của sự việc cho chúng ta thấy rằng bài thơ của Senghor đã được xếp vào phạm trù thơ Phi châu gần 30 năm trước khi được xếp vào phạm trù thơ jazz. Nhưng tại sao không phải nguyên tác Pháp ngữ, mà bản dịch Anh ngữ được chọn vào tuyển tập thơ jazz? Tôi nghĩ họ chọn bản dịch Anh ngữ của bài thơ để đăng vào tuyển tập thơ jazz có lẽ vì họ chỉ nhắm đến độc giả Anh ngữ (chủ yếu là độc giả Mỹ), hoặc có lẽ họ cho rằng tiếng Pháp không thích hợp với phong khí da đen Bắc Mỹ, chiếc nôi của jazz.

Nhưng nếu nói thế, bản dịch Anh ngữ của bài thơ "Đen" của Thanh Tâm Tuyền quá thích hợp để xuất hiện trong các tuyển tập thơ jazz. Thanh Tâm Tuyền đã cho xuất bản bài thơ này từ năm 1964, trong thi tập Liên, đêm mặt trời tìm thấy. Cũng như Senghor, Thanh Tâm Tuyền không chủ tâm làm thơ jazz và không viết bằng Anh ngữ. Tôi tin rằng nếu Feinstein và Komunyakaa đọc được bài thơ của Thanh Tâm Tuyền họ sẽ kinh ngạc khi thấy nhà thơ Việt Nam còn làm thơ đậm đà chất "jazz" hơn nhà thơ da đen Senegal nhiều lắm. Chúng ta thử đọc:

Một người da đen một khúc hát đen
Bầu trời đen sâu không cùng
Những giòng nước mắt
Xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng
Bằng giọng của máu của tủy của hồn bắt đầu ngày tháng
Giữa rừng không lời rừng mãi trống không
Ném mình ném đám đông vào trần truồng tủi cực hờn xác thịt
Tan vỡ hôm qua hôm nay kể gì ngày mai
Tội rằng không quên chẳng thể được quên
Vì Blues không xanh vì điệu Blues đen
Trên màu da nức nở
Trong hộp đêm
Bắt đầu chảy máu thầm kín khóc cổ họng mình
Ngón tay cấu lấy ống kèn như một bùa thiêng
Chọn ngoài thể xác ngoài thương yêu ngoài dữ tợn
Chọn thế giới va chạm những loài kim réo gọi
Thời gian mềm
Không gặp thời gian
Không gian quay thành những vòng kỷ niệm
Rồi một buổi nào Blues hiện về xanh.[5]
Chỉ xem lướt qua, độc giả cũng có thể thấy bài thơ này ngập ngụa phong khí da đen, với những ý tượng: người da đen, khúc hát đen, bầu trời đen, rừng, trần truồng tủi cực hờn xác thịt, màu da nức nở...

Đối với độc giả mê jazz và thơ jazz, nhiều ấn tượng khác lại lập tức mọc lên:

- "xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng" có thể gợi đến tiếng kèn của Coltrane như trong bài "a/coltrane/poem" của Sonia Sanchez, và bài "Don't Cry, Scream" của Haki Madhubuti;

- "ngón tay cấu lấy ống kèn như một bùa thiêng" cho thấy giá trị tâm linh của âm nhạc trong đời sống da đen, như trong bài thơ "Gonsalves" của Ron Welburn: một diệu thủ saxo có thể được xem như hiện thân của Obatala, vị thần sáng tạo và cứu khổ;

- "thế giới va chạm những loài kim réo gọi" làm nhớ đến bầu không khí jazz "big band" của Duke Ellington, với nhiều giọng kèn réo gọi đan bện vào nhau những chùm đa âm sắc;

- "thời gian mềm không gặp thời gian" cho thấy âm nhạc mở ra một vùng thời gian khác, bên ngoài thời gian vật lý; Charles S. Johnson đã nhận xét rằng nhạc jazz là một lối thoát để người da đen vượt ra khỏi vùng không gian và thời gian cụ thể của cuộc sống;[6]

- "không gian quay thành những vòng kỷ niệm" gợi đến những cơn say nhạc và say rượu của thính giả và nhạc sĩ jazz; đồng thời, cũng gợi đến những con trốt âm thanh trong tiếng nhạc của các diệu thủ, như trong bài thơ "For Eric Dolphy" của Etheridge Knight, chẳng hạn...

Về tiết tấu, bài thơ của Thanh Tâm Tuyền được viết rất tự do, với số âm tiết trong các câu tăng giảm bất khả đoán như tiết tấu ứng diễn của nhạc jazz. Trong bài này, số lượng âm tiết trong các câu là: 8 / 6 / 4 / 8 / 12 / 8 / 13 / 10 / 8 / 8 / 5 / 3 / 10 / 10 / 10 / 10 / 3 / 4 / 8 / 8.

Về cấu trúc âm thanh, bài thơ này (một cách tình cờ?) đã thể hiện hết sức ngoạn mục cách thế ứng diễn trong nhạc jazz (có lẽ nhà thơ đã nghe quá nhiều nhạc jazz trước khi viết bài thơ này chăng?).

Để ứng diễn, nhạc sĩ jazz thường thực hiện các bước sau đây:

1. Một nhạc tố (musical element) được giới thiệu. Nhạc tố này có thể xuất hiện dưới nhiều dạng, từ đơn sơ như một tế bào âm thanh (sonic cell), đến một mô thức giai điệu (melodic motif), cho đến một nhạc đề (musical theme).

2. Nhạc tố này được khai triển theo hình thức tái điệp (repetition) có biến thiên (variation) và thường được mở rộng (extension).

3. Sự mở rộng có thể được tiếp tục phát triển rất dài hơi theo những đường lối bất khả đoán, và tiến trình này làm sinh ra những khả thể chứa đựng nhiều nhạc tố mới. Để kéo dài sự ứng diễn, nhạc sĩ có thể chọn một nhạc tố mới, hoặc kết hợp một số nhạc tố mới với nhau, để tiếp tục khai triển theo hình thức tái điệp có biến thiên và mở rộng.

Xét theo các bước của diễn trình này, chúng ta thấy bài thơ của Thanh Tâm Tuyền tương ứng với ba đợt khai triển.

Đợt 1:

- Nhạc tố: đen. Sự tái điệp có biến thiên: người da đen, khúc hát đen, bầu trời đen. Sự mở rộng: sâu không cùng. Sự tiếp tục phát triển: Những giòng nước mắt / Xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng.

Đợt 2 (khai triển từ một nhạc tố mới nẩy sinh từ đợt 1):

- Nhạc tố: bằng. Sự tái điệp có biến thiên: bằng tiếng kèn đồng, bằng giọng của máu. Sự mở rộng: của tủy của hồn bắt đầu ngày tháng. Sự tiếp tục phát triển: Giữa rừng không lời rừng mãi trống không / Ném mình ném đám đông vào trần truồng tủi cực hờn xác thịt / Tan vỡ hôm qua hôm nay kể gì ngày mai / Tội rằng không quên chẳng thể được quên / Vì Blues không xanh vì điệu Blues đen / Trên màu da nức nở / Trong hộp đêm / Bắt đầu chảy máu thầm kín khóc cổ họng mình / Ngón tay cấu lấy ống kèn như một bùa thiêng.

Trong sự tiếp tục phát triển này, lại có những tiểu nhạc tố mới nẩy sinh và được khai triển theo dạng tức đa tầng như sau:

- Tiểu nhạc tố 1: của. Sự tái điệp có biến thiên: của máu, của tủy, của hồn. Sự mở rộng: bắt đầu ngày tháng.

- Tiểu nhạc tố 2: rừng. Sự tái điệp có biến thiên: rừng không lời, rừng mãi trống không.

- Tiểu nhạc tố 3: ném. Sự tái điệp có biến thiên: ném mình, ném đám đông. Sự mở rộng: vào trần truồng tủi cực hờn xác thịt.

- Tiểu nhạc tố 4: hôm. Sự tái điệp có biến thiên: hôm qua, hôm nay. Sự mở rộng: kể gì ngày mai.

- Tiểu nhạc tố 5: quên. Sự tái điệp có biến thiên: không quên, chẳng thể được quên.

- Tiểu nhạc tố 6 là sự kết hợp hai tiểu nhạc tố: vì + Blues. Sự tái điệp có biến thiên: Vì Blues không xanh, vì điệu Blues đen. Sự mở rộng: Trên màu da nức nở. Sự tiếp tục phát triển: Trong hộp đêm / Bắt đầu chảy máu thầm kín khóc cổ họng mình / Ngón tay cấu lấy ống kèn như một bùa thiêng.

Đợt 3:

- Nhạc tố mới: chọn. Sự tái điệp có biến thiên: chọn ngoài thể xác ngoài thương yêu ngoài dữ tợn, chọn thế giới va chạm những loài kim réo gọi. Sự mở rộng: Thời gian mềm / Không gặp thời gian. Sự tiếp tục phát triển: Không gian quay thành những vòng kỷ niệm / Rồi một buổi nào Blues hiện về xanh.

Trong diễn trình khai triển của đợt 3, lại có một tiểu nhạc tố mới nẩy sinh và được khai triển theo dạng thức như sau:

- Tiểu nhạc tố: ngoài. Sự tái điệp có biến thiên: ngoài thể xác, ngoài thương yêu, ngoài dữ tợn. Như thế, tiểu nhạc tố này được khai triển ở một tầng khác, luồn bên trong diễn trình của đợt 3.

Bên cạnh cấu trúc âm thanh, ba đợt khai triển trong bài thơ của Thanh Tâm Tuyền còn tương ứng với bố cục tổng thể của một bản nhạc jazz "truyền thống": đợt đầu ngắn, gồm nhạc cụ chính độc tấu trên nền nhạc; đợt thứ hai rất dài, gồm tất cả nhạc cụ trong ban nhạc lần lượt đổi vai và ứng diễn đa tầng phức tạp; đợt cuối cùng ngắn, gồm các nhạc cụ chính hoà tấu và kết thúc.

Qua sự phân tích trên đây, chúng ta thấy bài thơ của Thanh Tâm Tuyền đã nắm bắt được nhiều phẩm tính nòng cốt của thơ jazz: đậm đặc phong khí da đen; gây nhiều ấn tượng mạnh và rõ về nhạc jazz; thể hiện sự tự do về tiết tấu của nhạc jazz; có cấu trúc âm thanh tương ứng mật thiết với tiến trình ứng diễn nhạc jazz; và có bố cục tổng thể tương ứng với một bản nhạc jazz truyền thống. Bài thơ không mô tả chân dung các nghệ sĩ và âm nhạc của họ, không mô tả âm sắc nhạc cụ, không được viết như lời ca blues, nhưng bài thơ có thể được đọc một cách hết sức thích hợp trên nền nhạc jazz.

Tôi cho rằng đây là bài thơ jazz đầu tiên (và có thể duy nhất) của Việt Nam. Chỉ tiếc rằng bài thơ được viết bằng tiếng Việt, một ngôn ngữ rất xa lạ với đời sống người da đen Bắc Mỹ. Tuy nhiên, tôi tin chắc rằng một bản dịch Anh ngữ thật tốt, do một người am hiểu nhạc jazz thực hiện, nhất định sẽ mang bài thơ vào hàng ngũ những tác phẩm có hạng của thơ jazz.



_________________________

[1]Etheridge Knight, Born of a Woman (Boston: Houghton Mufflin, 1980), 98.


[2]Léopold Sédar Senghor, Poèmes (Paris: Éditions du Seuil, 1964), 24-25.


[3]Gerald Moore and Ulli Beier (ed.), Modern African Poetry (Middlesex, Eng.: Penguin, 1984), 232. Đây là ấn bản lần thứ ba. Ấn bản đầu tiên phát hành năm 1963 dưới nhan đề Modern Poetry from Africa.


[4]Sascha Feinstein and Yusef Komunyakaa (ed.), The Jazz Poetry Anthology (Bloomington: Indiana University Press, 1991), 192.


[5]Thanh Tâm Tuyền, Liên, đêm mặt trời tìm thấy (Sài Gòn: Sáng Tạo, 1964), 81-82.


[6]Charles S. Johnson, "Jazz Poetry and Blues", Carolina Magazine (May 1928): 16.

TÁC GIẢ CỦA BÀI VIẾT :HOÀNG NGỌC TUẤN

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-01 09:05:41Ngọc Lý>
.

Cảm ơn meocon_thongminh93 đã mang vào đây một bài viết rất hay. Thơ Thanh Tâm Tuyền rất mới và rất sáng tạo, từ những ngày rất xưa, có lẽ cái mới nhất và hay nhất của ông là thay vần bằng âm điệu và tiết tấu, rung lên hơi thở thật.

Mà trong cõi đời thường này, có lẽ cho đến hôm nay, còn hơi thở nào trầm buồn sâu lắng da diết và dài dằng dặc suốt bao cuộc đời hơn là hơi thở cam chịu của một người nô lệ, người nô lệ da đen trong những năm trước 1960s.

    Một người da đen một khúc hát đen
    Bầu trời đen sâu không cùng
    Những giòng nước mắt
    Xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng
    Bằng giọng của máu của tủy của hồn bắt đầu ngày tháng
    Giữa rừng không lời rừng mãi trống không
    Ném mình ném đám đông vào trần truồng tủi cực hờn xác thịt
    Tan vỡ hôm qua hôm nay kể gì ngày mai
    Tội rằng không quên chẳng thể được quên

Sự đồng cảm của Thanh Tâm Tuyền với người nô lệ da đen sau này được lập lại qua dòng nhạc Trịnh Công Sơn, nỗi đau của người nô lệ da vàng...
đi tìm quê hương

Đôi khi, sự đồng cảm của người nghệ sĩ vượt qua không gian, thời gian, như một lời tiên tri, và làm chúng ta không khỏi lạnh toát sống lưng...

Xin phép meocon_thongminh93, cho mang bài mới nhập thêm vào loạt bài về Thanh Tâm Tuyền nhé,

Cảm ơn meocon_thongminh93 rất nhiều,

Ngọc Lý

.
Đăng nhập để trả lời
0