TIẾNG VIỆT CHÚNG TA
(tiếp theo)
Tiếng Việt Của Thế Hệ Con Em Chúng Ta (Tại Hải Ngoại)
Về việc con em chúng ta càng ngày càng bớt thông thạo tiếng Việt là điều rất dễ hiểu. Tôi có hai con, cả hai đều chào đời tại Hoa Kỳ; một trai sinh cuối năm 1975 và một gái sinh năm 1978. Vợ chồng tôi ở nhà đều nói tiếng Việt với nhau và với các cháu; nhờ đó các cháu hiểu được tiếng Việt khá nhiều (khoảng 70% những gì chúng tôi nói), nhất là nếu chúng tôi nói chậm rãi, không nói quá nhanh. Nhưng các cháu chỉ có được độ 50% số chữ tiếng Việt cần thiết để nói chuyện (trả lời); và đọc được khoảng 15% (cháu trai) hoặc 5% (cháu gái) bài viết bằng tiếng Việt! Một trong những khó khăn cho việc con em chúng ta học tiếng Việt thông thạo là các dấu (sắc, huyền, hỏi, ngã và nặng). Lúc các con tôi còn nhỏ, mỗi khi có ai điện thoại đến muốn nói chuyện với "ba" thì các cháu đưa điện thoại cho "bà" ngoại (vì các cháu gọi tôi là "bố")! Nếu viết tiếng Việt mà không bỏ dấu thì lắm khi khá tai hại. Tôi còn nhớ có một lần tôi nhận được điện thư (email) của anh QT ở Dallas, TX, có hai chữ "cho de." Tôi đọc đi đọc lại cả câu, và cả đoạn, nhưng không hiểu tại sao anh ấy muốn nói "chó đẻ" (nhưng không dám viết thư hỏi lại cho rõ)? Phải mất ngót hai hôm, tôi mới vỡ lẽ ra là anh ấy viết "cho dễ"! (19)
Cách đây 6, 7 năm, một hôm cháu trai thỏ thẻ với mẹ, "Mẹ ơi, mẹ đừng có gả con cho con gái bác X nghe Mẹ!" Bà xã tôi ôm bụng cười và trả lời, "Đừng sợ! Con không thương, thì mẹ không 'gả' con cho con gái của bác đâu!" Xét cho cùng cháu nói được câu tiếng Việt đó cũng là hay lắm rồi! Cháu không bao giờ xem phim bộ Hongkong, nên tôi không hiểu cháu đã học được chữ "gả (bán)" từ đâu?! Các cháu thường tự "chế" ra nhiều chữ mới theo nhu cầu nói chuyện.
Thí dụ, có khi các cháu nói "bạn con ngồi 'vòng vòng' chờ" ("Ngồi vòng vòng" là các cháu dịch chữ "Sit around") hoặc "Hết người bỏ đi!" (Everyone left)...
Ngoài ra, con em chúng ta còn bị lẫn lộn vì "người chột dạy người mù" (xin lỗi các bạn bị thương tật về mắt, tôi chỉ muốn dùng một thành ngữ thật ví von thôi), như trường hợp ông giáo sư dạy Việt ngữ từ Hànội sang đã nói bên trên; hay một nhạc sĩ nào đó đã viết bài "Sao Nỡ Đành..." (gì gì đó), vì tôi chưa từng nghe hai chữ "nỡ" và "đành" đi chung với nhau!... Với những “thầy dạy” như thế thì thế hệ con cháu chúng ta sẽ làm sao hiểu những cái hay như “đóng cửa ngủ thả cửa,” hay “mai ăn khỏi trả tiền” (ngày nào đến tiệm cũng thấy “ngày mai” chứ không phải “hôm nay”), hay “nhổ răng không đau” (nhổ răng mát tay đến độ bệnh nhân không cảm thấy đau, hay là nhổ lộn răng không đau, răng đau vẫn còn nguyên đó?)…
Gần đây một bạn viết thư cho tôi, bày tỏ sự lo lắng việc các trung tâm dạy tiếng Việt ở Hoa Kỳ không có học trò. Nhưng khi tôi phổ biến sự lo âu nầy thì nhiều bạn ở khắp nơi cho biết các trung tâm dạy tiếng Việt ở địa phương của họ hoạt động rất mạnh; chẳng những không cắt giảm mà còn mở thêm một số lớp dạy tiếng Việt. Đấy là một tin mừng cho cộng đồng người Việt chúng ta. Chúng ta cũng phải ghi nhận công lao của các phụ huynh đã giúp đỡ (khuyến khích, lo phương tiện chuyên chở, tài chính, v.v.) cho con em đến học tiếng Việt. tại các trung tâm đó. Hy vọng nhờ đó, tiếng Việt sẽ sống mãi với các thế hệ con cháu chúng ta ở hải ngoại...
KẾT LUẬN
Để thay lời kết thúc bài viết nầy, tôi xin chép lại một một mẫu chuyện do hai anh Lê Văn Ninh và Nguyễn Lương Bình ở Dallas, Texas, đã gửi đến tôi gần đây, liên quan mật thiết với đề tài tôi mới trình bày bên trên.
Máy vi tính cần thần dược Viagara.
(Hai anh LV Ninh và NL Bình chôm được trên mạng.)
-----------------------------------------------
THUẬT NGỮ TIN HỌC
Chuyện này xảy ra ở một tiệm bán computer ở Việt Nam, giữa khách hàng và người bán. Một ông khách bước vào tiệm vi tính nói với cô bán hàng:
- Cô ạ, tôi thấy hình như phần mềm của cô không tương thích với cấu hình phần cứng của tôi ở nhà. Khi vừa cài đặt phần mềm của cô vào ổ đĩa cứng của tôi thì sự cố đã xảy ra. Bộ xử lý trung ương của tôi đột nhiên yếu hẳn đi rồi lịm luôn. Tôi nghĩ là cô có sẵn mầm bệnh nội trú âm thầm.
- Ấy chết, anh đừng nói vậy. Phần mềm của em tốt lắm mà. Bảo đảm sạch sẽ, mọi người ai dùng qua cũng hài lòng.
- Không đâu, thực sự là có vấn đề.
- Thế thì lúc cài đặt anh đã kích hoạt đúng mức chưa? Anh có điều chỉnh cổng vào cho cân đối không?
- Có chứ. Tôi đã làm đầy đủ các thao tác theo trình tự bài bản hẳn hòi.
- Thế anh có thể nào cho em xem công cụ của anh được không?
Anh chàng vội đưa cái còm lên. Cô bán hàng săm soi một hồi rồi nói :
- Em thấy công cụ phần cứng của anh đã cũ và yếu lắm rồi. Thế hệ của anh như thế này thì làm sao mà xử lý phần mềm đời mới như của chúng em. Phải nâng cấp thôi anh ạ. Anh có muốn sử dụng thêm loại công cụ tiện ích bổ sung không? Hàng Trung Quốc mới về, tốt lắm !
- Thế nó có phục hồi và tăng cường chức năng cho tôi không cô?
- Có chứ anh. Nó giúp tái hồi bộ vi xử lý, tăng kích thước bộ mạch chính và làm tăng tốc xung nhịp của anh nữa.
- Được rồi, cô cho tôi cái ấy ngay đi.
- Vậy xin anh đặt phần cứng lên đây ngay để em truyền vào nhá. Tiếc cái là bây giờ băng thông của em quá hẹp nên anh chịu khó dẫn truyền chậm chạp từng ít một. Đừng tham mà tiếp thu nhanh nhé, kẻo làm chúng em nghẽn mạch, còn bao nhiêu khách hàng sau đang chờ kia kìa.
Chấn Võ (7/2002)
__________________
Cước Chú
(1)Người viết xin nói rõ là đoạn hồi ký được chép lại dưới đây chỉ để làm tài liệu. Người chép lại không phải là sai khi có nhận xét phần lớn chữ “chuyện” trong đoạn hồi ký đáng lẽ phải là “truyện.” Vấn đề là mỗi địa phương có một ý thích khác nhau. (Như đã trình bày bên trên, đoạn hồi ký nầy đã được gửi đến Diễn Đàn CVA Bắc California, giúp người viết có hứng viết bài nầy.)
Hồi Ký Trần Văn Khê
Qua tới tháng ba 1985, không định trước mà tình cờ tôi (Trần Văn Khê) phải làm một chuyện mà cả đời tôi chưa làm bao giờ. Khi trở về trường đại học Sorbonne, tôi nhìn thấy một biêủ ngữ giới thiệu đang có "Hội nghị Quốc Tế cuả những người thuật chuyện (truyện) đời xưa" tại Paris...
".....chẳng hay ở Việt Nam có những người chuyên môn đi thuật chuyện (truyện) đời xưa không?" Tôi trả lời : "Nước tôi không có người chuyên hành nghề đó, nhưng trong gia đình ông bà thường hay thuật chuyện (truyện) đời xưa cho con cháu nghe.
- Ông có biết thuật chuyện ( truyện) không?
- Có chớ.
- Vậy sao ông không tham dự hội nghị để cho Việt Nam có mặt và chúng tôi có dịp nghe chuyện (truyện) đời xưa Việt Nam?.....
... Nêú ông đồng ý, chúng tôi xin phép được ghi tên ông trên danh sách những người thuật chuyện (truyện) cổ tích và sẽ có một buổi dành cho chuyện (truyện) đời xưa Việt Nam.
..... Trong hội nghị nầy, tôi thuật lại các chuyện (truyện) cổ tích như Tấm Cám, Sọ Dừa, chuyện (truyện) Trương Chi Mỵ Nương, Trọng Thuỷ Mỵ Châu, chuyện (truyện) liên quan đến âm nhạc như sự tích cây đờn đáy, đờn độc. huyền (đờn bầu). Thật quá bất ngờ, những câu chuyện tôi kể được nhiều người ưa thích, được đài phát thanh France Culture thâu chuyện (truyện) Trương Chi Mỵ Nương rồi phát đi phát lại nhiều lần.....
.... Tôi nhắc lại những truyền thuyết liên quan đến việc hình thành dân tộc. như chuyện (truyện) Lạc Long Quân và Âu Cơ, chiến đấu với thiên tai như Sơn Tinh Thuỷ Tinh, rồi nguy cơ vì bị gián điệp nước ngoài như Trọng Thuỷ Mỵ Châu, việc chống ngoại xâm thì có chuyện (truyện) Thánh Gióng. Tôi kết luận nói chung truyền thuyết của Việt Nam xoay quanh việc dựng nước, giữ nước, giữ giềng môí xã hôị, đúng thưởng sai phạt. Ngoài ra còn có những truyền thuyết về âm nhạc hay chuyện (truyện) tiếu lâm chế diễu những tật xấu của con người, những tệ đoan trong xã hội... Bỗng nhiên tôi trở thành "Người thuật chuyện (truyện) đời xưa quốc tế "...
.... Có lần nhà Văn Hoá Thế Giới ở Paris tổ chức thuật chuyện (truyện) cho trẻ nhỏ từ 7 đến 10 tuổi, một bà trong ban tổ chức nói với tôi :
- Giáo sư thuật chuyện (truyện) Trương Chi Mỵ Nương người lớn nghe mê lắm, nhưng bữa nay, toàn con nít nhỏ, e rằng giáo sư thuật chuyện (truyện) đó, chúng nó không hiểu đâu.
- Không sao, tôi sẽ thuật chuyện (truyện) Tấm Cám.
Để cho lũ trẻ cùng tham dự, tới đoạn Cám muốn dụ cá bống lên nên bắt chước hát bài cuả Tấm, tôi dạy cho chúng cùng hát theo “bống bống bang bang", tới đoạn Tấm gặp cảnh khó khăn ngồi khóc, tôi hỏi : "Rồi ai hiện ra?" Các cháu đồng thanh trả lời : "Bouddha ! Bouddha!" (Bụt) Nhờ vậy tạo được bầu không khí rất sôi động và vui nhộn...
Do vậy trong mấy tháng trời tôi biến thành một người kể chuyện (truyện) đời xưa.. chuyên nghiệp
Trích từ Hồi ký Trần văn Khê Ghi chú - Các chữ "truyện" trong ngoặc đơn là cuả người chép,vì người chép có cảm tưởng ô T V K viết nhầm về chính tả.
nhdokhac
Bởi không chắc chắn, tôi mới để trong ngoặc.
Nhưng tôi biết rõ là khi viết "truyện Tấm Cám "chẳng hạn thì viết "tr". Còn như "nói câu chuyện" thì viết "ch".
Kính
nhdokha
(2)Trong những lá thư viết gửi Diễn Đàn tôi dùng “từ” thay vì “chữ.” Khi sắp xếp lại bài viết nầy, tôi cũng giữ nguyên như thế. Nhưng vào phút chót, tôi đổi lại “chữ” vì khi đọc lại bài viết, tôi phải ngừng lại nhiều lần tại các chữ “từ” để phân biệt “từ” là “chữ” (word) hay “từ” dùng để chỉ chiều hướng (from). Đó là chưa kể có vài nơi trong bài, tôi viết hai chữ “từ” hoàn toàn khác biệt nầy sát bên nhau, khiến cho người đọc dễ lầm là “thong thả” (từ từ). Dù chỉ ngừng trong tích tắc, dòng tư tưởng của người đọc cũng bị gián đoạn; như thế là lỗi của người viết (theo Style Book của báo The New York Times).
Từ cuối thập niên 1960, tôi vẫn dùng “từ” thay vì “chữ” (word) vì tôi nghĩ “từ” chỉnh hơn “chữ.” “Chữ” còn có thể là mẫu tự hay tiếng (của một sắc dân, quốc gia, v.v.); thí dụ khi ta nói “chữ u,” người nghe chưa hiểu ta muốn nói mẫu tự “u” hay từ “u” (xưa kia được dùng đồng nghĩa với “mẹ,” ngày nay thường được dùng thay thế “bướu”). Hiện nay, “từ” rất thông dụng ở VN; tuy nhiên, nhiều người lầm lẫn “tự” (một chữ đơn âm như “cha,” “mẹ,” v.v.) và “từ” (có thể gồm hơn một “tự” đi chung nhau, như “trái chuối,” “văn sĩ,” v.v.) Do đó người ta mới dùng “cụm từ” để chỉ các “từ” gồm nhiều “tự” họp thành; chữ “cụm” thật là thừa thãi trong trường hợp nầy.
Bạn Phạm Văn Bân ở Nam California có góp ý thật rõ ràng như sau:
Chữ "tự" và "từ" hay bị dùng lẫn lộn trong tiếng Việt đến nỗi nếu không viết thành tiếng Hán thì không sao phân biệt được! Ngay cả Paulus Huình Tịnh Của làm cuốn Quấc Âm Tự Vị cũng bối rối, dùng lộn trong lời tựa cuốn tự vị này. Thực ra, nghĩa của chữ "tự" không lầm được nhưng khi xét đến chữ "từ" thì khá rắc rối. Văn pháp lấy "từ" làm đơn vị phân tích, không cứ một chữ hay mấy chữ; cứ hễ đủ một khái niệm thì gọi là một "từ". Từ là một lời nói để bày tỏ khái niệm nào đó. Trong định nghĩa này thì có khi một "tự" đã là một "từ". Thí dụ: nhà, xe, bánh, kẹo, khóc, cười. Có khi phải hai "tự" mới thành từ. Thí dụ: thú vật, loài người, giống bò sát.
Nói theo kiểu lung tung nghĩa chữ của người Việt thì cuốn từ điển nào mà chỉ kê chữ và nghĩa chữ thì gọi đúng là "tự điển"; còn cuốn từ điển nào có thêm phần thí dụ thành ngữ, điển tích, điển cố thì gọi là "từ điển" (Pinyin: cidian, đọc là xửa điển)
Vì là tiếng độc âm nên cả hai tiếng Việt và Hán rất thường phải có thêm một chữ đi kèm để làm rõ nghĩa. Hiếm khi một chữ đứng một mình được; vì vậy, có người cho rằng thực ra, tiếng Việt và Hán là thứ tiếng đa âm trong ý nghĩa đó. Thí dụ: “từ” không rõ nghĩa khi đứng một mình; phải có thêm chữ nữa mới rõ. Thí dụ: từ biệt, từ bi, từ chối, từ chức, từ đường, từ loại, từ mẫu, từ nguyên, từ giã, từ ngữ, từ vựng, từ tạ, từ tốn, từ tạ, từ tuyệt, từ thạch, từ trần, từ trường. (Các chữ "từ" trên viết khác nhau trong Hán tự nhưng khi viết kiểu biểu âm (kiểu chữ đang viết) thì khó phân biệt nghĩa).
Phạm Văn Bân
(3)Chuyện hay Truyện?
(3a)Ý kiến của bạn Nguyễn Đ. Phương (đã được gửi đến Diễn Đàn.)
Cho tới hiện tại chưa ai xác định được rõ rệt sự khác biệt trong việc sử dụng hai chữ nầy. Riêng tôi xin có ý kiến như sau.
Chữ Chuyện thường được dùng trong văn nói, thuật ngữ, thí dụ: nói chuyện, kể chuyện, thuật chuyện,... như nói một câu chuyện, kể một câu chuyện hoăc là "đồ lắm chuyện". Chuyện có tính cách ngắn ngũi và trực diện giữa người với người.
Chữ Truyện thường được dùng trong văn viết hoặc là đọc, hay là nói về, thí dụ: viết truyện, đọc truyện, nói về một quyển truyện... như viết một quyển truyện, đọc một quyển truyện, nói về một quyển truyện,... Truyện có tính cách dài hơn, trực tiếp giữa người và vật nhưng gián tiếp giữa người với người.
Vài ý kiến gửi Quí vị.
NDPHUONG
(3b)Anh Nguyễn Lương Bình, TX, (CVA63) góp ý kiến (gửi về Diễn Đàn):Thày Phụng (tôi không nhớ rõ, hình như là Lê Hữu Phụng) dạy Việt văn CVA lớp lục hay ngũ năm 57-58 có giải thích về sự khác biệt giữa chuyện và truyện, cũng giống như anh Chấn viết.
Chữ "chuyện" dùng liên quan đến ngôn từ, như kể chuyện, nói chuyện (trong lớp), lắm chuyện.
Chữ "truyện" dùng liên quan đến sách vở, như quyển truyện, đọc truyện. Bởi khi ta thấy 2 chữ "câu chuyện" và "câu truyện", thì chữ thứ nhất (câu chuyện) ý chỉ do ai kể lại, còn câu truyện thì đọc từ sách.
(3c)Anh Hoàng Cơ Long góp ý kiến (gửi về Diễn Đàn):
Xin được góp ý như sau: Hồi theo học bậc tiểu học (từ thập niên 40) tại Hà Nội, hầu như hàng tuần học sinh phải viết một bài Chính tả Việt ngữ (hồi đó gọi là Ám tả). Viết xong bài Chính tả, học sinh được chuyển vở (tập) cho nhau để bắt lỗi. Bài chính tả có chữ Chuyện hay Truyện được thầy giáo dậy rằng học sinh viết là Chuyện hay Truyện đều đúng cả, không bị bắt lỗi.
Từ thủa nhỏ tôi được đọc những sách truyện với những tựa đề Chuyện Thiếu nhi, Truyện Cổ nước Nam, Chuyện Phù Đổng Thiên Vương, Truyện Tấm Cám, Truyện Kiều. Chữ Chuyện hay Truyện được xử dụng theo ý thích hay thói quen của từng người xử dụng mà không phân biệt như Chuyện Tử Tế, Chuyện Chúng Mình, Tập Truyện Ký chọn lọc, Chuyện Một Chiếc Ải Đã Mất...
Đọc phần cước chú của Chị Nhuận sau chữ CHuyện, Chịghi trong dấu ngoặc chữ TRuyện, thì tôi hiểu theo hai lối. Một là ý Chị muốn nói là phải dùng chữ TRuyện mới đúng, hai là cũng giống như chữ TRuyện. Không biết còn có thể hiểu theo ý nào khác nữa không.
Tôi lật cuốn Việt Nam Tự điển để xem lối viết và nghĩa của hai chữ Chuyện và Truyện. Tôi thấy chỉ có một chữ CHUYỆN, chữ này là tiếng Việt (còn gọi là chữ Nôm) tự điển không chua thêm lối viết chữ nho, và được giải nghĩa là những trao đổi khi bàn bạc cùng nhau, thí dụ nói chuyện, câu chuyện. Còn chữ TRUYỆN được chua thêm chữ nho, chỉ có một chữ và được giải nghĩa là "sự tích cổ hay sách chép những sự tích cổ" Thí dụ Truyện cổ tích, Kể truyện Kiều.
Có ý kiến của anh Chấn Võ về phát âm giọng miền Nam, CH hay TR chính xác. Điều này thì quả nhiên là đúng. Khi nghe một âm giọng miền Nam nói học TRò, CHuyên TRị, CHăm sóc, TRáng kiện... là chúng ta biết là các chữ sẽ được viết như thế nào. Tuy nhiên khi Anh Chấn Võ đưa ra ví dụ giọng Nam nói CHuyện cổ tích mà không nói TRuyện cổ tích thì tôi lại thấy là tiếng Viêt có hai chữ CHuyện và TRuyện đồng nghĩa, phát ââm khác vì cái đánh lưỡi và viết cũng hơi khác nhau.
Tôi lại trở về thời ấu thơ là dùng chữ nào cũng đúng và không bị bắt lỗi.
(3d)
Anh Quang Tô góp ý kiến (gửi về Diễn Đàn). Rất tiếc người viết bài nầy không nhận được thư góp ý của anh Phạn Hữu Độ như anh Quang Tô nói đến.
Tôi đồng ý với dẫn giải của anh Độ,và một số đồng môn khác. Từ khi đi học từ nhỏ cho tới lớn, tôi được biết và vẫn áp dụng như sau: chữ "truyện" để chỉ những điều được viết thành văn, thành một tác phẩm; còn chữ "chuyện" để chỉ những điều được nói ra, bất thành văn. Đơn giản thế thôi.
Quang To
(3e)Anh Phạm Văn Bân góp ý kiến trên “Quán Không Cửa” như sau:
Xin hoan hô bài các bài viết về chữ Việt; xin tiếp tục giùm.
Tôi xin bàn góp chút xíu về tiếng "chuyện và truyện" cho vui.
Chuyện: là tiếng Việt thuần túy, nghĩa:
§ sự việc được kể lại: chuyện cổ tích, chuyện đời xưa
§ công việc: gây chuyện - nó chưa làm nên chuyện gì hết - không phải chuyện đơn giản - tán chuyện
§ hàn huyên, nói chuyện, trò chuyện, chuyện vãn.
Truyện: là tiếng Hán Việt, nghĩa: việc có lớp lang, thứ tự: truyện phim, truyện thơ, truyện ký, truyện ngắn, truyện dài, truyện cổ tích. Người Trung quốc phát âm tiếng truyện giữa âm CH và TR, người Việt nói trại ra tiếng "chuyện" và dùng lẫn lộn, rất khó phân biệt trúng trật. Thí dụ:
Đúng: chuyện cổ tích, truyện cổ tích, truyện ký
Phân biệt: không nói: gây truyện, trò truyện, truyện vãn.Có vài tự điển phân loại hai chữ này bằng cách định nghĩa rằng chuyện là việc kể, thuật lại bằng lời nói và truyện là việc kể, thuật lại bằng chữ viết thành sách.
Xin lưu ý các âm khởi đầu CH và TR dưới đây:
cha và tra, chà và trà, chác, chát, trác và trát, chách và trách, chạch và trạch, chay, tray và trai, chài và chày, chải, chãi, chảy, trải, và trảy, chái, trái và cháy, chàm và tràm, chạm và trạm, chan, tran và trang, chàng, tràn và tràng, chán và trán, chanh và tranh, chánh và tránh, chào và trào, chảo và trảo, cháo và tráo, chắc, chắt và trắc, châm và trâm, chầm và trầm, trăn và trăng, chằn, chằng và trằn, chắn và trắng, chận và trận, chật và trật, châu và trâu, v.v...
Nhiều quá, kể không hết. Xin ngưng vì thấy... khô khan quá, không biết có ai quan tâm chơi chữ cho vui không. Nếu quý bạn nào quan tâm, xin cho biết, tôi sẽ ráng gõ máy tiếp.Bân
(4)Chị Phạm Ngọc Mỹ Lan, CA, chia sẻ một kinh nghiệm như sau (gửi thẳng đến người viết):
Đọc mục "Tiếng Việt của thế hệ con em chúng ta (tại hải ngoại)" tôi nhớ lại một kỹ niệm ngộ nghĩnh.
Hồi nhỏ tôi sống ở Đàlạt và chỉ biết con đường từ nhà đến trường và từ trường về nhà, ít khi đi đâu nên sau khi lập gia đình về SàiGòn sống mới thấy nhiều quán, tiệm, trong đó tôi nhớ mỗi lần đi ngang qua tiệm đó tôi lại thắc mắc: “Tiệm Sửa Xe, Làm Đồng, Vô Dầu Mỡ.” Tôi hiểu sưả xe là người ta sưả lại xe bị hỏng, nhưng không hiểu làm đồng là gì vì muốn làm được ra đồng phải có nhà máy kinh khủng lắm chứ một tiệm nhỏ xiú, nhem nhếch thế mà làm ra đồng được thì lạ quá. Chưa hết người ta còn làm tất cả những thứ đó mà chẳng cần dầu mỡ gì cả. Thế mới tài chứ!Cũng tại Sài Gòn tôi hay đến làm tóc tại một "Viện Uốn Tóc" gần nhà mà mỗi lần đến, nhìn thấy tên "Viện" tôi lại "lấn cấn" trong lòng mặc dù chú Há Viện Chủ (hay Viện Trưởng?) chải tóc rất đẹp!Thế mới biết việc "người ta cứ dùng hoài thì đúng thôi“ cần phải xét lại một tý đấy anh Chấn ạ.
Thân kính, Mỹ L
(5)Anh Hoàng Cơ Long cũng góp ý (gửi về Diễn Đàn):Tôi là dân Bắc kỳ 'răng đen, ăn thịt chó' (không phải nay đâu), từ ngày vô Nam, học được nhiều lối nói, cũng như phát âm của bà con miền Nam, cả bà con phát âm giọng miền Trung nữa, nghe sao mà 'dễ thương chi lạ'
(6)Anh Đặng Gia Thoại hiện ở Úc góp ý (gửi về Diễn Đàn):
Tôi đồng ý với bạn về cái điểm chọn Việt ngữ trước 1975 để làm "căn bản" mà bàn luận. Nhưng bạn lý luận rằng ngụy quyền Hànội thay đổi các từ Hán Việt thành Việt nhằm cho đồng bào ở ngoài Bắc không hiểu những lời tuyên truyền ở miền Nam thì không hoàn toàn đúng đâu! Nếu có ý đó thì đó chỉ là một khía cạnh nhỏ của mục đích của chúng mà thôi. Mục đích chính của chúng là tạo cho người miền Bắc dưới sự kiểm soát của chúng có lối "ăn nói" khác hẳn với người ở miền Nam, nếu miền Nam gửi biệt kích ra Bắc thì vì "nói" kiểu khác lập tức người miền Bắc phát hiện ra ngay không phải là "đồng chí" của họ, phải báo công an ngay! Đó chính là lý do mà hầu hết các biệt kích quân của miền Nam gửi ra Bắc trong thời gian đầu sau năm 1956 đều bị bắt trọn gói chỉ sau khi tiếp xúc với dân chúng ngay những phút đầu tiên. Sau đó trước khi gửi biệt kích ra Bắc, các biệt kích quân đã được huấn luyện một khóa đặc biệt tại Nha Trang hoàn toàn cô lập với người ngoài và chuyên học cách "nói" kiểu ngoài Bắc để khi ra Bắc không bị "lộ" đấy bạn. Tóm lại là ngụy quyền Hànội vô cùng thâm độc, và mưu mẹo chứ chúng không "đơn giản" và ngây thơ như nhiều người tưởng đâu!
(7)Tiếng Việt ở VN ngày nay.
(7a)Chị Hoàng Lệ Yến ở California góp ý kiến (gửi riêng đến người viết)
Già Chấn ơi,
Tôi có dự vào lớp huấn luyện dậy Việt ngữ ở đây (Cali), ông có tin rằng nhiều đôỉ thay phát khóc lên được, tôi được học chữ TRUYỆN và CHUYỆN, và nhiều chữ khác nữa, như chữ i = y, "lí do chýnh đáng" how's that?!!! Tôi ngậm nguì không nổi mà phaỉ khóc ré lên và ráng hoc tiếng Mỹ cho dễ bề đả thông tư tưởng vậy.
Người miền Bắc bây giờ không còn thuần túy nữa, tôi có về Bắc cách đây 7 năm, họ dùng ngôn ngữ gốc gác của bác Hồ, pha trộn vào thành một thổ ngữ đặc biệt cách mạng cho nên muốn bàn về tiếng Việt mến yêu năm xưa thì còn có đường, chứ mà động đến văn hoá ngày nay ông nhớ uống 1 lọ thuốc an thần rồi hãy tính!!
(7b)Anh Bùi Vi Thiện góp ý kiến (gửi về Quán Không Cửa)
Tôi không rành lắm về ngôn ngữ học, và cũng không biết rõ lắm những thay đổi về các chữ hán việt sau và trước năm 1954 ở ngoài Bắc. Vì thế tôi xin chỉ được mạn phép được nêu vài nhận xét theo kiểu mắt thấy tai nghe mà thôi. Nếu có chi lầm lẫn xin quí bác tha tào cho. Đa tạ.
Sau năm 1975 tôi gặp lại họ hàng ở ngoài Bắc vào Nam tôi nhận thấy những người lớn tuổi tuy có dùng vài danh từ lạ tai, nhưng giọng nói vẫn y như giọng của người Bắc di cư năm 1954, nhưng những người trẻ tuổi thì the thé rất khó nghe.
Cho đến sau cuộc di cư tìm tự do sang Mỹ, tôi có gặp vài cháu nhỏ mới sang Mỹ theo diện HO chừng vài năm thì thấy giọng nói khác hẳn giọng của cha mẹ cuả các cháu và đồng thời dùng khá nhiều danh từ lạ tai
(7b)Chị Hương Kiều Loan ở Kansas góp ý kiến (gửi về Quán Không Cửa)
Bác (Bùi Vi Thiện) nói đúng, gia đình chúng tôi về VN 97 thăm thân nhân, thì gia đình người em họ phía của ông xã, những người lớn tuổi tức là trên 50, nói thuần túy giọng bắc kỳ, giọng nghe sang, có con gái học giỏi, chơi dương cầm, mà giọng thì... đặc biệt nhà quê, nghe rất khó chịu, mặc dù cháu mới 17 tuổi. Nhưng một gia đình khác, thì các cháu tuổi từ 40 đến gần 60, vẫn giọng nói cũ của VN miền bắc, nghĩa là nghe không có... kỳ kỳ...
Nhà văn Duyên Anh cũng đã có lần nói với tôi về nhận xét giọng nói miền bắc bây giờ khác xưạ Nhất là không còn cái về thanh lịch của thời 54, mà các bà, các cô sẵn sàng xổ tiếng Đức nghe rất... tiếc thay!
Nhưng chắc họ thành phần mới di tản từ miền nào vào HàNội, chắc chắn không phải thành phần thanh lịch của HN trước 54.
Tôi gõ với bằng hai ngón tay, nên có nhiều lỗi chính tả xin quý vị ráng đọc, vì thời gian vào máy không thoải mái.
(7a)Anh Nguyễn Lương Bình góp ý kiến (gửi riêng đến người viết):
Ngoài việc CS miền bắc cố tình ngu dân, chính cán bộ CS cũng không đủ trình độ cho nên khi họ vô miền Nam, gặp quá nhiều kỹ thuật tiến bộ tân kỳ cho nên mới có những từ ngữ sáng lập vội vã để gọi những thứ mình thấy thường ngày nhưng là 1 khám phá mới cuả những "người rừng": cái nồi ngồi trên cái cốc, đồng hồ hai cửa sổ không người lái, v.v...
Ngoài bắc hình như phân biệt 2 chữ ô & dù. Ô để che mưa, dù để che nắng
(8)Anh Trần Văn Lương góp ý kiến như sau:
Tôi rất sung sướng khi thấy anh cũng có ý kiến giống tôi về những chữ do Cộng sản VN chế biến tại miền Bắc trước 75 và tại toàn thể VN sau 1975. Thú thật với anh tôi bị dị ứng với những "sáng chế"quái đản này.
Khi đọc một bài mà gặp những chữ như "cụm từ" (chữ này quả là 1 quái thai), "tản mạn" (dùng sai nghĩa), "tham quan", "đứa bé 6 tháng tuổi" (than ôi văn phạm!)... thì bao nhiêuhứng thú đều bay lên mây xanh hết.
Điều đáng buồn là báo chí Việt ngữ tại hải ngoại không biết vì lười biếng hay dốt nát mà cứ bình tĩnh dùng các chữ quái đản này, mặc dầu lúc nào cũng vỗ ngực chống Cộng và cảnh tỉnh mọi người về sự xâm nhập văn hóa của Cộng sản.
Tôi rất đồng ý với anh là mình nên dùng tiêu chuẩn tiếng Việt tại miền nam VN trước 1975 để làm căn bản, từ đó phát triển thêm tiếng Việt một cách hợp lý.
Xin bổ túc với anh thêm về 1 điều lố bịch của cách chế chữ của cm: họ lấy 1 chữ kép (thường là 2 chữ) Hán Việt và bỏ đi 1 chữ, chỉ giữ lại một chữ. Tôi xin đề ra ít thí dụ:
Đồ ngoại (thay vì đồ ngoại quốc)
Bang Texas (thay vì Tiểu bang Texas)
Tăng tốc (thay vì tăng tốc độ)
Xe tải (thay vì xe vận tải)
(9)Ông Giáo Sư từ Hànội sang
(9a)Chị Phạm Ngọc Mỹ Lan góp ý như sau (gửi về Diễn Đàn nhưng không được posted vì không phải là hội viên):
Trước hết tôi muốn nói đến ông "giáo sư Hà Nội" nào đó thật là kém vì ông ấy chỉ biết một thứ ngôn ngữ -- có thể nói là địa phương, thường dùng ở miền Bắc -- lại đi áp đặt cho những địa phương khác là miền Nam hay miền Trung! Ông ấy dở tôi không ngạc nhiên vì trong system ấy thì họ như vậy mà thôi (vì thế dân ta chưa khá được!!!). Chỉ phiền một nỗi là làm cho con em chúng ta khi chưa nắm vững tiếng mẹ đẻ các cháu dễ bị hoang mang (confused), không biết phải nghe ai.
Nói đến chuyện nầy tôi lại nhớ ngay trong gia đình tôi vì chúng tôi là gốc người Bắc nên khi nói không phân biệt CH-TR, D-GI, S-X, I-Y v. v... mà khi còn ở VN trong nhà người giúp việc là người miền Nam nên các cháu bị lẫn lộn khi viết. Chúng tôi liên lạc với nhau ngoài việc gọi phone thường muốn các cháu viết tiếng Việt qua thư từ hoặc e-mail. Trong một e-mail mới đây cháu viết: "Me oi, mat chời sap lan sau đồi nha Be dep lam. Cac Gì cac Cậu xang Be xẽ rắt các Gì các Cậu di xem!".
Đọc đến đây thì cả hai vợ chồng tôi vừa buồn cười vừa thương con quá. Trong thư sau cháu phân trần rằng vì Mẹ nói chữ gì Bé cứ viết ngược lại may ra đúng! "Vi Me noi tieng Bac ma!" đó là cách đơn giản nhất qua lý luận của cháu!
Trở lại chữ "chuyện" và "truyện" thì (tôi là người Hà Nội xưa) nên khi đọc thì chẳng phân biệt gì cả, đọc âm CH và TR như nhau. Nhưng khi viết thì tôi phân biệt rất rõ. Ví dụ tôi có thể viết mà không phải đắn đo suy nghĩ gì cả câu sau đây: "Ô hay quá, với một câu chuyện đơn giản như thế mà ông ấy viết thành một truyện dài rất đặc sắc, anh Chấn đã đọc chưa?".
(9b)Anh Nguyễn Thạch Lục, VA, góp ýkiến như sau (gửi về Diễn Đàn)
Nước Mỹ này có nhiều cái kỳ cục. Như Trường William Joyner mướn mấy tên từ Hànội qua để làm research về dân tị nạn VN. Nghe khôi hài. Cháu anh bị tên giáo VC kỳ thị nam, bắc. Chúng ta nhìn vào tiếng Mỹ và tiếng Anh có nhiều từ khác nhau. Tiếng Pháp và Canada cũng vẫn có từ khác nhau... Hồi năm 54, dân Hànội nói: “thằng đó càn quá." Vào trong nam thì nói “thằng đó du đãng quá.” Yankee nói tiếng Anh khác dân Red Neck. Nhiều khi không ai sai ai trái. VC nói cái gì cũng đúng, chúng ta nói gì cũng sai. Có thời VC muốn dùng toàn tiếng Việt như “máy bay lên thẳng” thay vì trực thăng, “lính thủy đánh bộ” (thay vì thủy quân lục chiến) nhưng nghe nó kỳ quái lắm
(10)Cuối tháng 3/2002, anh Trần Kim Sa, NY, trước kia là hiệu trưởng trường trung học Châu Văn Tiếp tại tỉnh lỵ Phước Tuy, đã gửi tôi thư dưới đây, cho thấy một thí dụ về sự thay đổi của Tiếng Việt: từ "Quốc" đã được viết là "Quấc" ("Ấ").
Tôi vừa tình cờ đọc được tin nầy hôm nay, sao lại gởi anh xem chơi.
"Đại Nam Quốc âm tự vị” của Huỳnh Tịnh Của
đọat giải nhất cuộc thi “Những cuốn sách vàng”
210 tựa sách quý của 52 cá nhân và đơn vị trong cả nước đã được thẩm định và tuyển chọn trong cuộc thi “Những cuốn sách vàng” tại TP Hồ Chí Minh. Phần lớn các sách giới thiệu văn hóa, lịch sử, ca dao tục ngữ, thơ văn, nghệ thuật, con người và đất nước Việt Nam. Kết quả, 23 quyển sách đoạt giải. Giải nhất thuộc về bộ sách “Đại Nam Quốc âm tự vị” của Huỳnh Tịnh Của, bản in đầu tiên năm 1895, do ông Bùi Thanh Danh lưu giữ và bộ từ điển Quốc ngữ - la-tinh "Dictionarium Annamiticum - Latin" của J.L.Taberd, in năm 1838 được ông Hoàng Minh lưu giữ.Trở lại chữ của Huỳnh Tịnh Của thì tôi nhớ lại sách của ông HTC "Đại Nam QUẤC Âm Tự Vị" (chữ Quốc viết với "Ấ" thay vì chữ "Ố" như người Bắc viết). Ông Huỳnh Tịnh Của tên là Paulus Của, người Bà Rịa, Phước Tuy. Anh em giáo sư chúng tôi đã xây dựng một trường Trung Học Bán Công Đệ Nhị Cấp tại BR, và dùng tên ông đặt cho trường. Ở Bà Rịa có 3 nhân vật nổi tiếng là Châu Văn Tiếp trong Gia Định tam hùng của vua Gia Long, đặt tên cho trường Trung Hoc ở Tỉnh, nơi tôi dạy nhiều năm trước khi sập tiệm. Thứ đến là BS Phạm Hữu Chí, người BS nổi tiếng Tây phải nể, đã có tên đường cạnh bên BV Chợ Rẫy Saigon; tên ông dược đặt cho trường Trung Hoc ở quận Long Điền cách BR độ 6km. Người thứ ba là ông HTC. Sau 1975, tất cả đều mất tên vì VC cho là họ có tội theo Tây.
Sau 1975, VC bỏ tên trường Huỳnh Tịnh Của, vì cho rằng ông HTC theo Tây. Cơ sở trường nầy do anh em chúng tôi đầu tư xây cất bị sát nhập vào cơ sở trường Sư Phạm
(11)Các ý kiến của cước chú #11 nầy đã được gửi về Diễn Đàn.)
Bạn Nguyễn Thanh Bình có viết là tiếng Việt không có âm "R;" và anh Hoàng Cơ Long cho rằng anh Bình sai với dẫn chứng "rồng, rắn" đã có từ xưa... Đúng là "rồng, rắn" đã có trong tiếng Việt từ ngàn xưa, nhưng có thể không phát âm là "R" như chúng ta phát âm ngày nay.
Anh Hoàng Cơ Long rất có lý khi viết là "R" đã có sẳn trong mẫu tự La tinh, các nhà truyền giáo nghe người VN phát âm "R" nên mới dùng mẫu tự "R" để ký âm. Tôi cũng xin nói rõ các vấn đề trong bài nầy tôi đã ấp ủ trong đầu từ trên 20 năm nay, nhưng không có cơ hội để viết ra, trước khi tôi đọc bài viết của hai anh Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Cơ Long và Đặng Gia Thoại.
(11a)Anh Nguyễn Thanh Bình góp ý như sau (theo anh Nguyễn Thọ Chấn thì ông Nguyễn Chấn, tức Charlie Nguyễn, của nhóm Giao Điểm mà anh Bình viết dưới đây nguyên là Cục Trưởng Cục Quân Cụ của QLVNCH; không phải là anh Nguyễn Ngọc Chấn tức CNN ở California hoặc anh Nguyễn Thọ Chấn tức Sầu Đông ở Canada):
Về vấn đề "CHuyện" hay "TRuyện", theo thiển ý chỉ có chữ "CHuyện" mà hoàn toàn không có chữ "TRuyện" trong ngôn ngữ Việt Nam trước thời nước ta tiếp xúc với Tây Phương. Thực thế, trong tiếng Việt ngày xưa hoàn toàn không có các chữ phát âm với vần R. Vần R chỉ thấy có trong chữ Quốc Ngữ, tức thứ chữ do bọn cha cố áo đen sáng tạo ra khi đến VN với mục đích truyền đạo và cướp nước ! Chứng minh??
1- Nếu xét về gốc Hán tự của các dòng họ VN và Trung Hoa ta sẽ thấy chữ "Chan" (hay "Chen") của Tàu chính là chữ "Trần" của VN. Thế thì tại sao khi transcribe bằng mẫu tự La Tinh, thì người Tàu lại viết CH, còn VN ta thì viết TR?? Về các họ TRương và TRang cũng tương tự như vậỵ
2-Theo CVA Nguyễn Chấn (tức Charlie Nguyễn), tác giả 2 cuốn sách nổi tiếng "Công Giáo: Huyền Thoại và Tội Ác" và "Công Giáo bên bờ vực thẳm" (có thể xem trên http://www.giaodiem.com), các cha cố Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Phú Lang Sa đã đến VN truyền đạo khởi đầu là ở Bùi Chu và vùng phụ cận vào năm 1430 (và gia đình tổ tiên anh là những người đầu tiên "rửa tội"!). Và như phần lớn chúng ta đều biết, vùng Công Giáo Bùi Chu /Phát Diệm là nơi tập trung phần lớn các người nói ngọng và nói uốn lưỡi.
Các cha cố Tây Phương này tìm cách ghi âm tiếng Việt (mà họ phải nghe từ những người ngọng và người nói uốn lưỡi này) bằng mẫu tự La Tinh, và coi đó là “tiêu chuẩn” của ngôn ngữ VN. Do đó, mấy thế kỷ sau, khi người Pháp đã chiếm trọn nước ta – nhờ sự trợ giúp đắc lực của bọn cha cố áo đen và đám tay sai VN -- thứ chữ này trở thành Quốc Ngữ thì tự nhiên ngôn ngữ VN bị biến đổi theo kiểu nói uốn lưỡi, và do đó chúng ta mới có vần R trong mẫu tự.
Trên đây chỉ là vài suy luận (và speculation) thô thiển của riêng tôi chứ không có trong sách vở nào khác. Nhưng tôi cũng xin đa tạ quý vị nào có thể chứng minh ngược lại là tôi sai!
(11b)Chị Nhuận góp ý như sau:
Tôi xin bàn góp :
Vùng Bùi Chu, Phát Diệm vốn thuộc huyện Kim Sơn, do ông Nguyễn Công Trứ đắp đê ngăn nước mà tạo nên. Ông Nguyễn Công Trứ làm quan nhiều nhất với vua Tự Đức tức là quãng giữa thế kỷ 19 (vua Gia Long lên ngôi năm 1802).
Vậy thì Bùi Chu Phát Diệm có sau khi các cố đạo Gia Tô La Mã tập viết tiếng ta theo mẫu tự la- tinh
(11c)Anh Hoàng Cơ Long góp ý như sau:
Mới đây, được đọc một số ý kiến của Đồng môn NTBình, tôi thấy anh Bình đã dùng cái gọi là 'Chuyện hay Truyện' như một nhịp cầu để đưa ra một đề tài mà tôi tạm gọi là 'R và TR', hay 'Phát Riệm và Con Tâu Tắng'
Trước khi vào đề, tôi xin có điều thưa cùng Chị Nhuận. Số là khi thấy Chị nhắc lại rằng G.S. Nghiêm Toản đã dậy là nói một câu chuyện và đọc một truyện. Chỉ mấy chữ Chị nhắc lại làm cho tôi bừng nhớ những ngày học lớp Việt văn Thầy Toản. Tôi cũng là một môn đồ của thầy Toản. Tôi đã vắng mặt giờ Thầy giảng về 2 chữ này, trốn học Chị ạ. Ngày xưa ở Hà Nội, vào những năm Một Nghìn Chín Trăm 'lâu lắm rồi’, còn có thể nói là vào những năm thuộc tiền bán thế kỷ trước, lớp Việt văn của G.S. Nghiêm Toản được đông đảo học sinh theo học. Lớp được mở tại tư gia của các G.S. Bùi Hữu Đột, dậy Toán, và Bùi Hữu Sủng, dậy Pháp văn, tại Phố Hàng Bè. Có tới 70 trò chen nhau trong một phòng học hẹp, giới quần hồng chỉ có 4 Chị và các Chị độc chiếm bàn đầu. Chúng tôi biết qúy danh các Chị, Chị Nhuận, Chị Ly không phải vì các Chị cho tên mà do Thầy Toản khi diễn giảng thường hô tên qúy Chị, không để thêm mắm thêm muối vào lời dậy mà để thêm hương thêm sắc cho học trò dễ nhập tâm. Vậy mà lời Thầy dậy thì mau quên còn tên qúy Chị thì lại dễ nhớ.
Sau khi một chút 'lung khởi’ tôi xin được thưa chuyện cùng Anh NTBình về R và TR. Anh cho rằng trong ngôn ngữ Việt Nam, trước thời nước ta tiếp xúc với Tây phương, 'chỉ có chữ CHuyện mà hoàn toàn không có chữ TRuyện'. Tôi phải xin thưa ngay là Sai Anh ạ, nhưng tôi xin không bàn về điều này, để đề cập tới đề tài chính Anh muốn nói.
Sau khi đưa ra điều quả quyết như vậy, Anh viết 'Thực thế, trong tiếng Việt ngày xưa hoàn toàn không có chữ phát âm với vần R. Xin thưa với anh là Sai Anh ạ. Trong ngôn ngữ tổ tiên ta có những chữ Rồng, Rắn (con rắn), Dắn dỏi. Những chữ này không phải là chữ Hán (chữ nho). Vậy khi nói tới những chữ này tổ tiên ta đã phải phát âm khác nhau để phân biệt, cho nên khi muốn diễn tả tiếng nói thành chữ viết thì mẫu tự La tinh có chữ R mới có thể diễn tả được âm uốn lưỡi.
Rồi Anh viết tiếp 'Vần R chỉ thấy trong chữ Quốc Ngữ, tức thứ chữ do... (tôi xin phép bỏ 5 chữ) sáng tạo’ù. Nói vần R chỉ thấy trong chữ Quốc Ngữ là nói Sai, chính xác thì phải nói chữ R đương nhiên là 1 trong 23 chữ cái trong vần Việt ngữ mà không phải là chỉ thấy, vì chữ R còn là một trong 26 chữ mẫu tự La tinh. Tôi xin dùng chữ Pháp để chuyển ngữ chữ quốc ngữ, langue nationale Anh ạ. Quốc ngữ nghĩa là ngôn ngữ của một quốc gia, của một dân tộc. Quốc ngữ của chúng ta là Việt ngữ. Tôi xin đan cử một thí dụ về chữ 'quốc ngữ'. Trong Hiến pháp của Phi Luật Tân quy định rằng quốc ngữ của Phi Luật Tân là Tagalog và Anh ngữ. Khi các vị giáo sĩ truyền đạo ở nước ta, để diễn tả ngôn ngữ Việt bằng văn tự, qúy vị giáo sĩ đã lấy 26 chữ mẫu tự La tinh, bỏ đi 4 chữ g, j, w, z, thêm vào chữ Đ, tạo thành 23 chữ cái vần Việt ngữ. Chúng ta nói là vần quốc ngữ cũng được. Nếu vì nhu cầu truyền giáo, qúy vị giáo sĩ đã tạo ra vần Việt ngữ thì đúng, xong công việc này đã là một công trình mà dân ta được hưởng lợi, hiển nhiên là nhờ vậy mà giữa Anh và tôi, chúng ta đang dùng văn tự do các giáo sĩ truyền giáo đặt ra để trao đổi với nhau đấy chứ. Tượng Alexandre de Rhodes và đường phố mang tên 'Người’ tại Sài Gòn, có phải là để nói lên đạo lý của dân ta không Anh?
Sau khi đưa ra điều gọi là tiếng Việt xưa không có chữ phát âm R và vần R chỉ thấy có trong chữ Quốc Ngữ, Anh Bình chứng minh.
Thứ nhất anh chứng minh bằng dựa trên gốc Hán tự của các dòng họ VN và Trung Hoa. Anh nhận xét rằng chữ Chan hay Chen của Tàu chính là chữ Trần của VN. Rồi anh hỏi, vậy sao khi dùng mẫu tự La tinh chuyển âm thì người Tàu lại viết CH, còn VN ta thì viết TR. Anh chứng minh điều gì, Anh nêu lên câu hỏi mà không giải đáp.
Tôi lại xin thưa với anh là chính ngay những điều Anh nêu lên để hỏi cũng là những điều Sai. Thưa anh người Tàu dùng mẫu tự La Tinh để chuyển âm chữ có phát âm Chen là Chen, còn chữ Trần khi dùng mẫu tự vần Việt ngữ thì được viết là Trần. Hai chữ Trần và Chen đều cùng một mặt chữ Hán, xong Tàu phát âm khác Việt phát âm khác. Có vậy thôi. Thực ra đối với câu hỏi: Tàu là CH sao Việt lại là TR, thì câu trả lời, có thể đơn giản như sau: Thây kệ Tàu, nó phát âm rồi mượn mẫu tự La tinh để viết thành Chen, thành Chó, thành Chí, thành Chấy thì đó là việc của người Tàu, can chi mà ta thắc mắc. Phải làm như người Tàu mới phải phép sao. Thưa Anh Thanh Bình, tôi xin thú nhận là khi đọc qúy danh của Anh tôi có một cảm giác nhẹ nhàng và êm đềm làm sao, riêng đối với tôi chữ Bình còn là cả một mơ ước. Chữ Bình cũng là tên với lối viết chữ Tàu, người Tàu mượn mẫu tự La Tinh đển phiên âm thành Ping (một cán bộ Tàu cộng với tên đọc âm chữ Tàu là Bạch Bình Bình, được Tàu phiên âm thành Pai Ping Ping). Giờ đây nếu phải theo lối người Tàu để gọi Anh Bình là Anh Ping, thì thưa anh riêng tôi, tôi khổ lắm Anh ạ. Tôi nghĩ lan man giả thử một người yêu của Anh viết thư cho Anh, khi Nàng đặt câu mở đầu tràn đầy tha thiết 'Anh Ping yêu quý, hay Chị nhà viết thư cho Anh với hàng chữ mở đầu 'Mình Ping yêu dấu’ù, hay 'Cưng Ping dấu yêu’ù, tôi không biết là bức thư được tiếp nối và được tiếp nối bao hàng.
Điều chứng minh thứ hai, Anh Bình đã cẩn thận đưa ra 'hai cuốn sách nổi tiếng' và còn cẩn thận cho bà con hay địa chỉ website để có thể xem. Đưa ra sách nổi tiếng để cho bà con hay là sách nói rằng '... VN truyền đạo khởi đầu là ở Bùi Chu và vùng phụ cận vào năm 1430' Anh cho hay là điều mà 'phần lớn chúng ta đều biết, vùng công giáo Bùi Chu/Phát Diệm nói ngọng và nói uốn lưỡí
Tôi xin thưa cùng anh là, điều Anh trích dẫn 'sách nổi tiếng' nói việc truyền đạo khởi đầu ở Bùi Chu vào năm 1430, tôi e rằng nói năm 1430 là 'sách nổi tiếng' nói sai, hay anh trích dẫn sai. Thành thử cả hai sách và Anh đều Sai cả. Hai Không thì thành Có, nhưng Hai Sai thì vẫn chỉ là Sai mà thôi. Bà con vùng Thái Bình nhiều người còn nói Sái Bình, vùng Bùi Chu/Phát Diệm nói Phát Riệm. D, GI phát âm uốn lưỡi thành R tuốt luốt. Anh cho rằng bà con nói ngọng, các giáo sĩ truyền đạo đã phải lấy vần R để chuyển ngữ, và coi đó là chuẩn của ngôn ngữ VN. Anh cho rằng việc xử dụng chữ R để chuyển ngữ trong việc truyền đạo, để rồi 'do đó mấy thế kỷ sau người Pháp chiếm trọn nước ta’ù và Anh kết tội là do các giáo sĩ truyền đạo dùng chữ R vì dân nói ngọng, thứ chữ này trở thành quốc ngữ. Những điều Anh quy kết nó không liên quan gì tới nhau hết. Tôi thì nghĩ rằng ta mất nước vào tay người Pháp vào thời gian thế kỷ thứ 19 chỉ vì vua quan ta hèn yếu thiển cận, dân ta thì yếu nhược, cảnh mất nước nhà tan sao tránh được.
Chuyện vì bà con nói ngọng, uốn lưỡi, Phát Riệm, cũng không hoàn toàn đúng đâu Anh ạ. Vùng Sấu giá, vùng đồng chua nước mặn, cũng thuộc Thái Bình, bà con ta lại không nói uốn lưỡi được, thí dụ con Trâu thì nói Con Tâu, cho nên có những câu bà con ta diễu bà con ta như sau 'Con Tâu Tắng đứng ở Bụi Te’.
Trong khi phát biểu ý kiến, có thể có những lời lẽ không lọt tai Anh, tôi xin Anh bỏ qua đi cho. Tôi cũng xin lỗi các đồng môn trên diễn đàn, đã nhận được mail này làm cho hộp thơ nặng thêm, hoặc loại đề tài này không hợp 'khẩu vị' thì xin một giây, quý Anh Chị delete đi.
(11d)Anh Đặng Gia Thoại cũng góp ý như sau:
Tôi tuy không hoàn toàn đồng ý với anh Bình về tất cả các nhận xét và suy luận của anh ấy nhưng tôi thấy ý kiến (của anh Nguyễn Thanh Bình) nói rằng trước đây "có thể" tiếng Việt "cổ"(old) của ta không có "xài" vần uốn lưỡi "R" rất đáng lưu ý vì ngày xưa tôi có dịp đi khá nhiều vùng quê khác nhau ở Miền Bắc VN tôi đã thấy quả thực người nông dân VN ở nhiều vùng khi phát âm chữ con rắn thì phát âm không uốn lưỡi chữ Rắn thanh "dắn", con rồng thì thành con "dồng" v..v.. nhận xét của anh Bình có phần có lý chứ không phải sai đâu anh Long ơi...
(11e)Chị Nhuận góp thêm ý như sau:
KG anh Thoại
Vâng đúng đấy. Người Thăng Long không uốn lưỡi khi nói vần "R" cũng như không nói "Này" thành "Lày", "Nói" thành "Lói", hay "tâu tắng " (trâu trắng), "sế sì " (thế thì)... như người 1 số vùng thôn quê.
nhdokhac
(12)Anh Nguyễn Lê Tiến bàn thêm (gửi về Diễn Đàn):
Âm R và L có lẽ ngày xưa là một. Dấu vết còn trong chữ Nôm. Thí dụ chữ "Trong" được viết : chữ Long (rồng) + chữ trung (giữa). ( Chữ "long" biểu âm còn "trung" là biểu ý).
Chữ "Trăng" (mặt trăng) được viết : "Ba" (sóng) + "Lăng." Thời xưa như vậy đọc là "BLăng." Trường hợp này như chữ "BLỜI" biến thành "TRỜI" vậy. Bởi thế trong kinh công giáo còn gọi là "đức chúa lời."
Theo nhiều nhà nghiên cứu tiếng Việt xưa có nhiều phụ âm như BL, KL, KM, KN.. vân vân. Sau mất dần đi, chỉ còn ph, tr.. TR thì cũng đang "mất" đấy. Chỉ người Trung và Nam còn giữ. Người Bắc biến thành mặt chăng, mặt chời ! ông giăng !
(13)Xin bạn đọc xem bài viết rất công phu về "Khái Niệm Tạo Chữ Mới Cho Tiếng Việt (Ngày Nay)" của anh Phạm Văn Bân.
(14)Theo anh Phạm Văn Bân (trong một thư gửi thân hữu khoảng cùng thời gian tôi gửi từng phần của bài viết nầy về Diễn Đàn),
Người Trung quốc không bao giờ nói Hán Văn mà họ nói Hán Tự (hanzi, chữ Hán vì chữ đang dùng là của chủng tộc Hán lập ra) và Trung Văn (Zhong Wen, văn của Trung quốc, bao gồm chủng tộc Hán và các chủng tộc khác của Trung quốc).
(15)Đây là một lối nói lái thật đơn giản (chán chưa, chưa chán, chứa chan, chan chứa). Theo tôi thì hay chữ "chứa chan" và "chan chứa" không có gì khác biệt cả, ngoài việc "Chứa Chan" còn là tên một núi nhỏ ở tỉnh Biên Hòa (nay gọi là tỉnh Đồng Nai).
Tuy nhiên có người nói "chan chứa" nhấn mạnh ở "chan" (đỗ vào, như chan canh vào chén cơm), và "chứa chan" nhấn mạnh ở "chứa" (chứa đựng sẳn rồi, không phải đỗ thêm mới tràn trề). Thí dụ, “Lòng đức Phật chứa chan tình thương yêu nhân loại bị vướng vào vòng Sinh Lão Bệnh Tử;” nhưng “Cảnh khốn khổ của của người đời trong vòng Sinh Lão Bệnh Tử làm lòng đức Phật chan chứa nỗi thương yêu...”
(16)Xin trích một bài viết mới đây của Anh Phạm Văn Bân cho các bạn muốn nghiên cứu thêm. Xin cảm ơn anh Bân. (Anh Bân gửi thân hữu bài viết nầy sau loạt bài tôi gửi về Diễn Đàn.)
Gần đây có vài bạn bàn về chữ "tham quan" theo nhiều góc cạnh khác nhau. Đây là một thí dụ điển hình về sự rắc rối trong tiếng Việt, tạo ra rất nhiều ngộ nhận, đã và sẽ tiếp tục xảy ra không những trong đời tôi mà sẽ còn xảy ra trong nhiều đời sau. Vì thế, tôi muốn bàn thêm vấn đề này trong tính cách khách quan của một người biết chút ít về tiếng Việt và tiếng Hán. Nếu thiếu sót hoặc vô tình gây sự bất bình của bất cứ quan điểm nào của bất cứ ai thì tôi xin lỗi và mong tha thứ cho. Xin tạ tạ.
Trong tiếng Việt, dù muốn dù không, sự thật khách quan là chúng ta phải mượn tiếng Trung quốc quá nhiều! Có hai cách mượn : hoặc mượn và phát âm y như tiếng Trung quốc, hoặc mượn nhưng đọc trại ra âm gần giống âm Trung quốc, gọi là tiếng Việt có gốc Hán hay tiếng Hán Việt.
Do đặc điểm đồng âm, dị nghĩa mà nguyên nhân chính là vì có cấu tạo độc âm nên muốn phân biệt nghĩa của tiếng Việt và Hán thì chỉ có cách duy nhất là lắng tai nghe nội dung (context) của câu chuyện mà xác định nghĩa của tiếng được nói ra. Tôi xin miễn bàn về giọng nói vì người ta có thể sử dụng giọng nói để làm trái hẳn nghĩa của chữ được nói ra (tức trường hợp nói mỉa mai, xỏ xiên bóng gió, cười khẩy, cười khi dể, na ná như người đàn bà nói "Ghét anh thấy mồ" nhưng thực ra có nghĩa là "Yêu anh lắm", v.v...) Tiếng đồng âm, dị nghĩa nhiều vô số kể trong tiếng Việt và Hán, tùy theo trình độ mà người ta sử dụng theo chủ quan của họ : chính trị, thuần túy ngôn ngữ học, viết văn, làm thơ, v.v... Cần lưu ý rằng ngày nay, tiếng Việt được viết theo kiểu chữ biểu âm (nói sao, viết vậy) nên khi gặp tiếng đồng âm thì rất khó xác định nghĩa; trong khi tiếng Hán viết theo kiểu chữ biểu nghĩa nên không vấp phải khổ nạn này. Thí dụ : khi tôi hỏi một số bạn về nghĩa của chữ tân trong câu "vợ chồng phải tương kính như tân" thì đa số trả lời : tân nghĩa là mới (vợ chồng phải tương kính nhau như lúc mới lấy nhau.) Thực ra, tân là chữ Hán Việt, phải học chữ Hán và phải đọc câu này viết bằng chữ Hán thì mới biết chữ tân có nghĩa là khách, nghĩa là phải kính trọng lẫn nhau như tiếp đãi một người khách quý.
Bây giờ thử lấy chữ "tham quan" trong câu : "Tôi đi du lịch San Francisco và dự định sẽ tham quan buổi đại hội Thụ Nhân 2002" và "Ngày xưa, tham quan ô lại thường bị xử án gắt gao." làm thí dụ.
Truy về nguồn gốc thì tất cả bốn chữ tham quan nêu trên đều là tiếng Hán chứ không phải là tiếng Việt, không phải của Việt Cộng (Pinyin : Yuè Gòng, Cộng Sản Việt Nam) cũng không phải của Việt Nam Cộng Hòa (Pinyin : Yuè Nán Gòng Hé). Trong thực tế chữ nghĩa Việt Nam, cứ hễ "phe địch" xài chữ nào thì "phe ta" lại cố gắng xoay sở kiếm chữ khác để xàị Tự bản thân chữ có nghĩa riêng của nó; vấn đề là con người bóp méo, diễn giải sai hoặc "hiếp" chữ nghĩa làm sự việc rối bời. Đôi khi vì quá khích, người ta khỏi suy xét lôi thôi : phàm cái gì của "phe địch" thì đều sai, trật, xấu cả còn của "phe ta" cho dù tệ hại đến đâu cũng đều hay, tốt cả. Quan điểm của tôi là nếu nó là con mèo thì cứ gọi là con mèo, không nên nhét cái chủ quan của mình vào sự việc. (Tục ngữ Pháp : appeler le chat par son nom). Trăm người, trăm ý cho nên tùy từng người nhận thức, tôi không muốn lạm bàn.
Chữ Hán không phân chia tự loại như tiếng Anh, Pháp mà chỉ chia ra làm hai loại chữ mà thôi : thực tự và hư tự. Tuy nhiên, để dễ hiểu thì các bạn có thể xếp chữ "tham quan" trong câu đầu là động tự và "tham quan" trong câu sau là danh tự.
Trong chữ Hán, tất cả bốn chữ tham quan trong hai câu trên đều viết khác nhau với nghĩa khác nhau hoàn toàn.
Trong câu "Tôi đi du lịch San Francisco và dự định sẽ tham quan buổi đại hội Thụ Nhân 2002", nghĩa của các chữ Hán như sau:
Du : (you) thuộc bộ Thủy (nước) : bơi lội, rong chơi, nhàn tản, hay di chuyển (thượng du, hạ du, du hí, du thuyền, du đãng, du lãm, du lịch, du khách, du mục, du thuyết, ngao du, du học, du ngoạn, du di, v.v...)
Lịch : (lì) thuộc bộ Chỉ (ngưng lại) : từng trải, vượt qua (lịch trình, người lịch lãm, Nguyễn Công Trứ : Chơi cho lịch mới là chơi)
Du lịch : đi chơi xa để biết phong cảnh.
Tham : (can) thuộc bộ Khư (chén ăn cơm) : gia nhập vào, yết kiến, nghiên cứu (tham gia, tham mưu, tham tán, tham dự, tham chính, tham chiến, tham kiến, tham yết, tham khảo, tham luận, tham chiếu, tham nghị, v.v...)
Quan : (guan) thuộc bộ Kiến (con mắt, thấy) : xem xét, quan niệm, quan điểm, Quan Thế Âm Bồ Tát (quan sát, tẩu mã quan hoa nghĩa là cưỡi ngựa xem hoa, khách quan, chủ quan, lạc quan, bi quan, thế giới quan, v.v...)
Tham quan : tham gia xem tận mắt, hàm ý nghiên cứu, khảo sát một cái gì đó. Xin lưu ý rằng hai chữ "du lịch" và "tham quan" ở đây có nghĩa khác nhau, không phải là hai tiếng đồng nghĩa.
Trong câu "Ngày xưa, tham quan ô lại thường bị xử án gắt gao.", nghĩa của các chữ Hán như sau:
Tham : (tan) thuộc bộ Bối (con sò) : ham, hám, phàm người nào mong muốn không giới hạn và không biết đủ thì gọi là tham; ăn hối lộ cũng gọi là tham. (tham lam, tham nhũng, tham quan, tham quyền cố vị, tham sinh úy tử, tham vọng)
Quan : (guan) thuộc bộ Miên (mái nhà) : viên chức của triều đình (quan liêu, quan cách, cơ quan, sĩ quan, tiếng Quan Thoại)
Ô : (wu) thuộc bộ Thủy (nước) : nước đọng lại, dơ bẩn (ô nhiễm)
Lại : (lì) thuộc bộ Khẩu (cái miệng) viên chức giúp việc cho quan
Tham quan ô lại : cả bọn nhà quan và viên chức giúp việc ăn hối lộ, tham nhũng dơ bẩn.
Theo tôi quan sát, trong khoảng 50 năm gần đây, thì hầu hết người Việt học viết chữ Hán chứ không phải học nói tiếng Hán bởi vì cách học của họ là viết chữ Hán nhưng đọc thì đọc theo âm Hán Việt, không đọc theo âm chính thức Mandarin (tức Quan Thoại hoặc các giọng khác như : Ngô, Khách Gia, Mân, Việt, Cám, Tương, v.v...) Như vậy, có thể nói rằng người Việt đã tạo ra một hệ thống nói tiếng Hán riêng (gọi là Hán Việt) mà người Hán không thể nghe và hiểu được. Kể ra thì hiện tượng này rất kỳ quái! Trước nay 50 năm, có lẽ đa số tiền nhân của chúng ta cũng học như thế. Thí dụ : học viết chữ "sách", nhưng đọc là "thư" thay vì đọc giọng Quan Thoại là "shu". Do cách học như vậy nên dù "thâm Nho, Hán rộng" đến đâu đi nữa vẫn có thể gây ra lỗi lầm nghiêm trọng. Thí dụ : tác giả Phạm Tất Đắc viết cuốn sách có tựa đề là "Văn Pháp Chữ Hán (cổ Hán Văn)", trong đó chủ yếu là dùng khuôn mẫu của hệ thống ngữ pháp của tiếng Pháp mà áp dụng vào tiếng Trung quốc. Tác giả không hẳn bỏ đi cách phân loại thực tự và hư tự truyền thống trong ngữ pháp Trung quốc, nhưng thay vào đó là cách phân loại Hán tự thành danh tự, tĩnh tự, động tự, v.v... Đây là tác phẩm rất có giá trị về ngôn ngữ học, soạn thảo kỹ lưỡng nhưng rất tiếc là khi đối chiếu cái tựa bằng chữ Việt "Văn Pháp Chữ Hán (cổ Hán Văn)" với cái tựa bằng chữ Hán "Hán Văn Văn Pháp" được in ngay phía dưới thì nghĩa không ăn khớp với nhaụ Người Trung quốc không bao giờ nói Hán Văn mà họ nói Hán Tự (hanzi, chữ Hán vì chữ dang dùng là của chủng tộc Hán lập ra) và Trung Văn (Zhong Wen, văn của Trung quốc, bao gồm chủng tộc Hán và các chủng tộc khác của Trung quốc). Người Trung quốc có dùng tiếng Văn Pháp, Ngữ Pháp nhưng không nói tiếng Văn Phạm. Tôi không biết vì sao người Việt lại dùng chữ Văn Phạm.
Do không học cách nói tiếng Trung quốc nên không nhận thức rõ ràng ý nghĩa và cách dùng chữ Hán. Thí dụ : người Việt nói: đi biểu tình với nghĩa là bày tỏ ý chí, nguyện vọng về việc nào đó. Tiếng biểu tình là tiếng Hán, nghĩa là bày tỏ cái tình ở bên trong ra. Người Trung quốc dùng tiếng biểu tình trong trường hợp nói đến một người nào đó tỏ ra vẻ mặt mừng, giận, thương, vui, yêu, ghét, muốn - gọi là thất tình. Khi đi biểu tình, họ không nói đi biểu tình mà nói : đi thị uy.
Một thí dụ khác là tiếng khốn nạn. Đây cũng là tiếng Hán, chỉ có nghĩa là gặp hoạn nạn khó khăn. Người Trung quốc dùng tiếng này với ý nhẹ nhàng và bình thường thôi nhưng trong tiếng Việt lại mang một ý rất nặng (truyện Les misérables được dịch là Những kẻ khốn nạn) hoặc mang thêm nghĩa chửi rủa như : hèn mọn, hèn nhát, đê tiện (đồ khốn nạn!). Có thể vì hay dùng để chửi nên tiếng khốn nạn mất đi cái nghĩa nhẹ nhàng ban đầu chăng?
Ngày nay, việc học Hán ngữ khó khăn hơn ngày xưa rất nhiều! Lý do là vì vào năm 1951, Trung Cộng tạo ra hai hệ thống chữ gọi là giản thể tự (tức là bỏ bớt nét của chữ Hán cổ truyền, còn gọi là phiền thể tự) và Pinyin (tức là hệ thống biểu âm tiếng Hán, viết bằng kiểu chữ a b c, na ná như chữ Việt đang viết.) Về phía Đài Loan thì vẫn dùng phiền thể tự và đồng thời cũng tạo ra một hệ thống chữ song song, gọi là hệ thống Bopomofo (dùng những ký hiệu trông rất lạ mắt). Khi đi học, học sinh ở Trung Hoa lục địa cũng như ở Đài Loan đều phải học cùng một lúc hai hệ thống chữ do chính phủ của họ đặt rạ Sau gần 50 năm cưỡng ép sử dụng, người Trung Hoa lục địa không còn đọc được chữ Hán viết kiểu phiền thể; và rất có thể kiểu chữ giản thể dần dần sẽ bị đào thải để chỉ còn kiểu chữ Pinyin mà thôị Nếu cả tỉ người Trung Hoa lục địa chỉ biết giản thể tự và Pinyin thì muốn hay không muốn, vài trăm triệu người Trung quốc yêu thích kiểu chữ phiền thể tất nhiên phải bị yếu thế. Tuy nhiên, đó là chuyện của người Trung quốc.
"Chuyện" của người Việt học Hán ngữ khổ tâm hơn! Thường thì trước hết, họ phải học viết chữ Hán (phiền thể tự) theo kiểu chữ Khải là loại chữ đã có từ cuối đời nhà Hán, khoảng năm 180 sau Tây lịch, nhưng vẫn còn dùng cho đến ngày nay. Chữ Khải là loại chữ "ngang bằng sổ thẳng", còn gọi là chữ Chân; nếu viết nhanh gọi là chữ Hành, viết bay bướm gọi là chữ Thảo. Đó là phần căn bản về viết. Còn về phần đọc thì thầy dạy cách đọc trại Hán Việt chứ không dạy đọc theo giọng Quan Thoạị Nói cách khác, đây là cách học Hán ngữ do người Việt dạy. Ai tò mò thì phải tìm thầy để học nói tiếng Quan Thoạị Muốn áp dụng kiến thức Hán học vào việc tìm hiểu tiếng Việt thì bắt buộc phải thông thạo ít nhất là hai hệ thống tiếng nói : Hán Việt và Quan Thoại.
Mỗi món "ăn chơi" vừa điểm qua ở trên đều phải tốn công học, học món nào thì biết món đó, không học thì tất nhiên không biết. Tôi thiển nghĩ để học tường tận tiếng Hán là việc rất khó, khó hơn học tiếng Anh, Pháp cả chục lần!
Việc mượn tiếng để sử dụng là việc thông thường cho mọi ngôn ngữ trên thế giới, trong đó "ông tổ" của ngôn ngữ không tới 10 "người" nhưng "con cháu" thì có hơn trăm tiếng nói và chữ viết khác nhau. Do không tìm hiểu về lịch sử ngôn ngữ học nên khi mượn tiếng Hán, một số người Việt suy nghĩ sai, tự ái không căn cứ, lấy làm xấu hổ và tìm cách sửa đi. Chính vì thiếu hiểu biết một cách có hệ thống về chữ Hán, tiếng Quan Thoại, tiếng Hán Việt, tiếng Việt thuần túy cho nên ngày nay chúng ta cứ cãi vã và thắc mắc về chữ và tiếng Việt.
Người Trung quốc nói : "Nội Khoa, Ngoại Khoa, Truyền Nhiễm Khoa, Ngoại Ngữ Học Viện" nhưng người Việt đổi trật tự chữ (word order) thành "Khoa Nội, Khoa Ngoại, Khoa Truyền Nhiễm, Học Viện Ngoại Ngữ". Điều này nghe kỳ lắm, giống như thay vì giữ đúng cấu trúc ngữ pháp gốc "bạch mã" thì lại đổi thành "mã bạch". Trong trường hợp quả thực không có tiếng Việt thuần túy để thế hoặc dịch ra nghe "nôm na" quá thì việc đảo trật tự chữ đưa đến tình trạng hỗn độn về nguyên tắc ngữ pháp. Lấy chữ "Ngoại Kiều Cục" làm thí dụ. Sau 1975, người ta dịch và treo tấm bảng to tướng : "Phòng Công Tác Người Nước Ngoài" Tiếng "phòng, công, tác, ngoài" là tiếng Hán, chỉ có hai tiếng "người, nước" là tiếng Việt thuần túy. Nếu mục đích là dùng tiếng Việt thuần túy càng nhiều càng tốt thì thí dụ này cho thấy người ta không biết người ta đang làm cái gì. Thí dụ khác khi dịch chữ "thủy quân lục chiến" Việt Cộng dịch là "lính thủy đánh bộ", phân nửa là tiếng Hán, phân nửa là tiếng Việt. Tôi nghĩ chỉ có hai cách dùng chữ đúng : một là giữ nguyên cấu trúc Hán Việt, hai là, may quá tôi có chữ Việt thuần túy để dịch, "lính nước đánh đất". Thế nhưng "lính thủy đánh bộ, lính nước đánh đất" nghe lỉnh kỉnh, không sang nên có lẽ phải quay trở về... thủy quân lục chiến. (Xin xem thêm bài "Khảo tiếng Hán Việt" đã viết).
Không có gì sai với khuynh hướng dùng tiếng Việt thuần túy để thay tiếng Hán Việt khó hiểu nhưng không nên quá cực đoan, miễn cưỡng thay tiếng Hán nếu như tiếng Hán đã được Việt hóa và trở nên phổ thông rồi.
Tiếng Hán được mượn và dùng quá lâu đời nên có thể gọi là đã thành tiếng Việt (Việt hóa). Cái hay của người Việt là ở chỗ chúng ta thiếu tiếng nên mượn tiếng Hán và biến thành tiếng của mình tự nhiên đến nỗi không cần học tiếng Hán mà vẫn hiểu tiếng Hán. Thí dụ trong câu : "Tạp chí XYZ thông báo đồng bào Việt Nam hải ngoại biểu tình ở Tiểu Saigon phản đối Cộng Sản chà đạp nhân quyền". Tôi thiển nghĩ người Việt Nam nào có trình độ Trung học trở lên đều hiểu nghĩa của câu này. Cả câu chỉ có hai chữ thuần túy Việt Nam là "ở và chà", chữ "Saigon" có thể là chữ có gốc Cambodia, còn tất cả các chữ khác đều là chữ Hán đã được Việt hóa.
(17)Anh Phạm Văn Bân góp (gửi thẳng đến người viết):
Đúng vậy, tiếng quan thoại là tiếng chính; còn các tiếng khác là tiếng địa phương. Tiếng quan thoại cho mình bằng cớ chính xác nhất về việc mượn tiếng Hán theo nguyên con hoặc đọc trại đi.
Còn tiếng Cantonese thì do điều kiện địa lý sát nách Vietnam nên nếu muốn dẫn chứng nguồn gốc tiếng Hán hoặc Hán Việt mà không thấy ở tiếng quan thoại thì cần phải xét qua tiếng Cantonese. Như tiếng FO (phật): tiếng quan thoại đọc là “pho” nhưng Cantonese lại đọc y âm:” phật”!
Do tiếng Việt và quan thoại cùng độc âm nên có cùng quy luật bằng, trắc mà anh thấy trong thơ Đường. Thêm vào đó là mình mượn tiếng Hán rất nhiều nên người Tàu nghe mình ngâm thơ thì họ cảm nhận được ngay.
(18)Trong bài “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” trên Website Giao Điểm (http://www. giaodiem/docbao-vn/giugintiengviet.htm), ông (?) Võ Ngân Vương cho biết người Việt đã “Việt hóa” chữ Hán bằng các cách chính sau đây:
· Rút gọn chữ kép thành chữ đơn: văn (văn chương, văn học), chế (chế biến, chế tạo), lệnh (mệnh lệnh), hỗn (hỗn hào), v.v.
· Rút gọn rồi ghép thêm một chữ của tiếng Việt (chữ nôm) vào: bao gồm, bồi đắp, kỳ lạ, sống động, v.v.
· Thay đổi thứ tự chữ kép: náo nhiệt (người Hoa dùng “nhiệt náo”), di chuyển (“chuyển di”), phóng thích (“thích phóng”), cứu vãn (“vãn cứu”), v.v.
· Thay đổi một phần của chữ kép: họa sĩ (người Hoa dùng “họa sư/họa công”), tường tận (“tường tế”), du thủ du thực (“du thủ hiếu nhàn”), thập tử nhất sinh (“cửu tử nhất sinh”), an phận thủ thường (“an phận thủ kỹ”), thượng lộ bình an (“nhất lộ bình an”), v.v.
· Dùng chữ Hán với một ý nghĩa khác hẳn: đinh ninh (yên chí) nhưng tiếng Hán có nghĩa “dặn dò,” bồi hồi (bồn chồn, lòng dạ không yên) “đi đi lại lại,” khốn nạn (đáng khinh) “khó khăn, khổ sở,” đáo để (đanh đá) “đến cùng,” thủ đoạn (mưu mẹo mánh khóe) “phương pháp, kỹ pháp,” dã tâm (lòng dạ hiểm độc) “tham vọng,” v.v.
· Dùng tiếng Hán với một nghĩa trái ngược lại : mê ly (rất hấp dẫn) nhưng tiếng Hán có nghĩa “mơ hồ, không rõ,” lẫm liệt (oai phong) “rét mướt,” v.v.
(19)Phiếm luận của anh Phạm Nguyên Khôi (gửi về Diễn Đàn vài tháng sau khi tôi đã gửi bài viết về Diễn Đàn):
Thưa quý bạn đồng môn,
Viết Email tiếng Việt mà không bỏ dấu, đôi khi cũng gây ra chuyện hiểu lầm. Chiều hôm qua, một anh bạn có kể cho nghe 1 câu chuyện vui mà tôi muốn chia xẻ với qúy đồng môn:
Một anh chàng nọ gởi cho người yêu 1 email trong đó có đoạn "Anh biet em dam dang nen....". Nhận được email, người yêu của anh ta khóc lóc, giận hờn vì hiểu lầm chữ "Đảm đang" thành "dâm đãng"
Một câu chuyện tiếu lâm khác mà tôi quên tác gỉa (hình như là Khái Hưng?), viết rằng 1 viên chức ở miền Bắc, khi nhận được một công điện đã hiểu lầm chữ "vợ đẻ" thành ra "vỡ đê"
Vậy nên quý anh chị cũng nên cẩn thận khi viết Email tiếng Việt mà không bỏ dấu cho rõ ràng.
Hết
Thân,
NHDT
Peace is the way of love
★
★
★
★
★
0