📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Thể Thao

NGÔI NHÀ CÁC HUYỀN THOẠI BÓNG ĐÁ!

20 trả lời, 1.366 lượt xem — Trang 1 / 1
VDTH mạn phép cùng ghóp chút thông tin về các huyền thoại bóng đá ai có thì cùng phụ tay với VDTH hén.
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Vì sao Alfredo Di Stefano được mệnh danh là “mũi tên bạc”?



Mặc dù không đoạt danh hiệu “Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỷ 20”, nhưng Alfredo Di Stefano lại giành được số phiếu bầu của Ban giám khảo FIFA nhiều hơn Maradona.

Alfredo Di Stefano là cầu thủ người Achentina nhưng sự nghiệp thi đấu của ông lại gắn liền với những thành công trên đấu trường Châu Âu. Ông đã 2 lần giành danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất Châu Âu và cùng với Real Madrid 5 lần liên tiếp đoạt cúp C1.
Di Stefano là cầu thủ toàn diện và được các chuyên gia bóng đá đánh giá là cầu thủ xuất sắc nhất của mọi thời đại. Ông chơi bóng nhanh và có phẩm chất kỹ thuật của một cầu thủ La-tinh. Ông là nỗi kinh hoàng đối với các hậu vệ và thủ môn đối phương khi còn chơi bóng cho Real Madrid.
Chính vì có tốc độ, lại là người Achentina (từ argetine trong tiếng La-tinh có nghĩa là bạc) nên các cầu thủ cùng thời mệnh danh ông là “mũi tên bạc”.
Với những thành tích không thể phủ nhận, ông đã chiếm 9,75% số phiếu bầu của các nhà báo và các huấn luyện viên trong khi Maradona chỉ nhận được 6%.
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-15 07:01:48Vangdanhthienha>
Dino Zoff



Sinh ngày 28/2/1942 ở Mariano del Friuli, Zoff khởi đầu sự nghiệp cầu thủ tại Udinese, khi mới 19 tuổi. Năm 1972, ông chuyển sang Juventus và gắn bó với sân Delle Alpi cho đến ngày giã từ sân cỏ. Trong màu áo Juve, Zoff giành được 6 scudetto, 2 Cup quốc gia Italy và 1 Cup UEFA. Ông từng tham gia 570 trận đấu tại Serie A. Trên sân cỏ thế giới, đôi găng siêu phàm này đã cùng đội tuyển Italy hưởng vinh quang tại Euro 1968 và World Cup 1982.

Zoff đảm nhận việc dẫn dắt đội tuyển Olympic từ 1986 đến 1988. Sau đó là một thời gian dài ông làm việc tại Lazio. Năm 2000, Dino Zoff đưa đội quân áo thiên thanh tới ngôi á quân Euro tại Bỉ - Hà Lan.

Mặc dù là một cầu thủ, đội trưởng, huấn luyện viên thiên tài, niềm mong ước duy nhất của người đàn ông 60 tuổi này trong dịp sinh nhật vẫn là được quây quần, sum họp cùng gia đình.
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Euro 1984: Phần thưởng xứng đáng cho bóng đá Pháp

Michel Platini, người đứng đầu trong bộ tứ tiền vệ huyền thoại, dẫn dắt tuyển Pháp tới danh hiệu vô địch châu Âu năm 1984. Không chỉ chấm dứt cơn khát chiến thắng kéo dài hàng thập kỷ của người hâm mộ, Platini còn lập kỷ lục ghi tới 9 bàn thắng tại một vòng chung kết.

Trong bóng đá đôi khi xảy ra những sự vô lý ngoài sức tưởng tượng. Cơn lốc màu da cam ở thời kỳ đỉnh cao nhất, chinh phục người hâm mộ toàn thế giới với lối chơi tổng lực, lại hai lần phải thúc thủ ở hai trận chung kết World Cup liên tiếp, 1974 và 1978, trước hai đội chủ nhà Đức và Argentina, bị đánh giá là yếu hơn.



Còn bất công hơn thế nữa là việc Pháp chưa từng giành được một chiếc Cup nào, cả ở cấp độ đội tuyển lẫn CLB. Stade de Reims đã hai lần lọt vào trận đấu cuối cùng của Cup C1 các năm 1956 và 1959 nhưng đều phải dừng bước trước Real Madrid. Còn thành tích cao nhất mà đội tuyển Pháp giành được cho tới khi đó là chiếc HC đồng World Cup 1958 và xếp thứ tư giải năm 1982. Trong khi đó, đất nước hình lục lăng là nơi xuất xứ của giải thưởng danh giá Quả bóng vàng châu Âu, cũng chính người Pháp đề xướng ý kiến tổ chức World Cup và Cup C1. Thậm chí, chiếc Cup vô địch châu Âu được mang tên Henri Delaunay, nhà báo Pháp, người đã vận động để tổ chức ra giải vô địch dành cho các quốc gia châu Âu.

Thế nhưng, tại lần thứ hai đăng cai vòng chung kết EURO, Pháp tràn đầy cơ hội đăng quang. Đội chủ nhà sở hữu một đội hình mạnh nhất trong lịch sử, hơn cả thời của Raymond Kopa và Just Fontaine năm 58, khi Pháp hạ đương kim vô địch CHLB Đức 6-3 ở trận tranh giải ba. Bộ tứ tiền vệ nổi tiếng với Michel Platini, Alain Giresse, Jean Tigana và Luis Fernandez sẵn sàng vượt qua bất kỳ chướng ngại nào, sau khi gây choáng váng cho các đối thủ tại Cup thế giới ở Tây Ban Nha hai năm trước. Hàng phòng ngự cực kỳ chắc chắn nhờ sự góp mặt của thủ thành có đôi "tay nhựa" Joel Bats cùng các hậu vệ như Patrick Battiston hay Maxime Bossis.

Sự lo lắng nằm ở hàng tấn công. Kể từ sau khi Just Fontaine, vua phá lưới World Cup 1958 với 13 bàn thắng, giải nghệ, những chú gà trống Gaulois chưa bao giờ sản sinh được một cây săn bàn bẩm sinh. Tuy nhiên, CĐV đặt niềm tin vào Michel Platini. Cầu thủ đang khoác áo Juventus đã hai lần đoạt Quả bóng vàng châu Âu các năm 1983 và 1984 (anh sẽ tiếp tục giành danh hiệu này một lần nữa năm 1985, khi giúp Juventus lần đầu vô địch Cup C1, qua đó trở thành cầu thủ duy nhất 3 lần liên tiếp đoạt giải thưởng danh giá nhất thế giới do tạp chí France Football trao tặng). Platini tham dự EURO lần này sau khi đã 3 lần liền trở thành vua phá lưới tại Serie A nhờ những pha ghi bàn từ hàng tiền vệ.

Những ứng cử viên nặng ký khác có thể kể đến CHLB Đức và Tây Ban Nha. Á quân World Cup 1982 có sự bổ sung của những tài năng như Rudi Voeller, Andreas Brehme và Guido Buchwald. Nhưng Đức gặp vấn đề với lối chơi không thực sự nhuần nhuyễn. Tây Ban Nha là một đối thủ nguy hiểm dẫu chỉ giành vé ở lượt đấu cuối cùng vòng loại. Tại trận này, Tây Ban Nha buộc phải thắng Malta với tỷ số chênh lệch ít nhất 11 bàn để vượt qua đội đầu bảng Hà Lan. Kết quả, dù bỏ lỡ một quả phạt 11 m nhưng Tây Ban Nha vẫn giành vị trí số một bảng 7 vòng loại sau chiến thắng 12-1. Chung cuộc, Tây Ban Nha cùng được 13 điểm như Hà Lan sau 8 vòng đấu, nhưng có hiệu số thắng bại là 24-8 so với 22-6 của đối thủ, nhờ vậy, giành quyền tới Pháp nhờ ghi được nhiều bàn thắng hơn.


Michael Laudrup.



Những đội được đánh giá là ngựa ô tại giải có Romania và Đan Mạch. Romania là đội đã vượt qua Italy để có mặt tại Pháp. Đương kim vô địch thế giới Italy là một thất vọng lớn lao vì chỉ thắng được một trận đấu cuối cùng trước đảo Síp trong 8 lượt đấu ở vòng loại. Đan Mạch, thường bị đánh giá là đội bóng hạng hai ở châu Âu, bỗng nhiên có được thế hệ tài năng nhất trong lịch sử, tính cả đến ngày nay. Nổi nhất trong số đó là Allan Simonsen, Quả bóng vàng châu Âu 1977, cùng các đồng đội Preben Elkjaer, Frank Arnesen, Soren Lerby, Morten và Jesper Olsen, đặc biệt là thần đồng 19 tuổi Michael Laudrup. Hai năm sau EURO 1984, Laudrup, huyền thoại lớn nhất lịch sử quốc gia vùng Bắc Âu, sẽ cùng Đan Mạch bùng nổ khi tham dự World Cup 1986 tại Mexico.

Michel Platini - kẻ huỷ diệt

Phong cách của huyền thoại bóng đá thế giới, cả trên sân cỏ lẫn ngoài đời, đều không cho thấy điều đó. Nhưng những kỳ công mà Platini đã thực hiện thì quả thật đã gây ra nỗi kinh hoàng cho mọi đối thủ. Tại trận khai mạc, Platini ghi bàn duy nhất giúp Pháp vượt qua Đan Mạch. Như thường lệ, sự phối hợp giữa Giresse và Tigana cho phép Platini tung hoành bất chấp sự đeo bám của hậu vệ đối phương. Trận đấu thứ hai thực sự là của riêng Platini với một cú hat-trick vào lưới Bỉ. Cuộc đối đầu giữa Platini và Enzo Scifo đã không hấp dẫn như mong đợi vì cầu thủ gốc Italy chơi mờ nhạt và bị thay ra giữa chừng. Hai pha lập công khác của Giresse và Fernandez giúp Pháp hoàn tất chiến thắng 5-0. Một lần nữa, Giresse toả sáng với những pha phối hợp lắt léo và những đường chuyền thông minh.

Trận đấu giữa Nam Tư, đội đã bị loại, và Pháp, đội đã giành vé lại diễn ra hấp dẫn. Nam Tư đã mở tỷ số trước và chỉ chịu thua Pháp bởi phong độ xuất sắc của Platini. Trận thứ hai liên tiếp Platini lập hat-trick, nâng số bàn thắng ghi được lên con số 7 sau 3 trận vòng bảng. Thua 2-3, Nam Tư bị loại mà không kiếm nổi 1 điểm, dù chơi hay trong cả 3 lần xuất quân.

Cùng với Pháp, Đan Mạch là đội còn lại của bảng 1 lọt vào bán kết. Trong khi Pháp đè bẹp Bỉ 5-0 thì những chú lính chì cũng hạ nhục Nam Tư với kết quả tương tự. Đội bóng Đông Âu chơi cũng hay và kỹ thuật như đối thủ nhưng để thua do khả năng kết thúc quá kém và sự đen đủi một cách khó hiểu. Trận này, Michael Laudrup không ghi bàn nhưng tỏ ra xuất sắc và tạo nhiều cơ hội cho đồng đội. Ở trận đấu quyết định với Bỉ, Đan Mạch đã có cuộc lội ngược dòng ngoạn mục, thắng 3-2 dù bị dẫn trước hai bàn ngay trong 45 phút đầu tiên.

Trong 4 đội Đức, Romania, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha ở bảng 2, không có cái tên nào nổi trội hẳn lên. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đều đã hoà trong hai trận đầu tiên và cần phải thắng ở lượt trận cuối mới có cơ hội đi tiếp. Và cả hai đội cùng giành chiến thắng sít sao 1-0. Trong hai trận đấu này, thắng lợi 1-0 mà Tây Ban Nha có được khi đối đầu với Đức thực sự là một thử thách khó khăn mà các cầu thủ xứ sở đấu bò đã vượt qua được. Trong khoảng thời gian đầu tiên, thủ thành Luis Arconada đã phải hai lần vất vả cản phá những pha kết thúc của Klaus Allof. Trong vòng 30 phút cuối, Tây Ban Nha buộc phải tăng tốc vì đối thủ của họ chỉ cần hoà là đủ để có mặt ở vòng sau. Nhưng cũng phải đến khi trận đấu bước sang những phút đá bù giờ, một sự không hiểu ý giữa thủ môn Harald Schumacher và các trung vệ tạo điều kiện cho Antonio Maceda đánh đầu tung lưới Đức.

Trận bán kết đầu tiên giữa Pháp và Bồ Đào Nha là một trong những trận đấu hay nhất tại các vòng chung kết. Một trận đấu mà tính hấp dẫn, sự căng thẳng tương tự như cuộc đối đầu Italy thắng Đức 4-3 tại bán kết World Cup 1970. Platini chuyền bóng cho Domergue ghi bàn phút 24. Trong những phút tiếp theo, dưới sự dẫn dắt của Platini, thế trận diễn ra một chiều và Manuel Bento đã phải vất vả ngăn chặn các cơ hội của đối phương. Thủ môn chỉ cách ngày sinh nhất lần thứ 36 đúng hai ngày đã có một buổi chiều xuất sắc. Đến phút 74, Chalana bên cánh trái chuyền cho Rui Jordao bất ngờ đánh đầu, ghi bàn đầu tiên tại giải, gỡ hoà 1-1. Hiệp phụ thứ nhất diễn ra được 8 phút, lại là Jordao, vẫn đón bóng của Chalana, vôlê chính xác vào góc cao. Dồn tất cả lên tấn công, đội chủ nhà cân bằng 2-2 nhờ công Domergue, sau khi bóng đi ra từ chân Platini.

Platinin cũng chính là sự khác biệt giữa hai đội. Trong khi Bồ Đào Nha đã sẵn sàng bước vào loạt đá luân lưu thì tỷ số 3-2 được ấn định. Phút cuối cùng hiệp phụ thứ hai, Tigana chuyền ngang khung thành. Platini bình tĩnh khống chế trước khi sút tung lưới Bento, làm cả nước Pháp bùng nổ. Platini chạy dọc đường biên, phía sau anh là đám động với hàng trăm lá quốc kỳ là hình ảnh đẹp nhất của vòng chung kết. 16 năm sau, trận đấu trên lặp lại. Cũng tại bán kết EURO, năm 2000, Pháp một lần nữa vượt qua Bồ Đào Nha trong hiệp phụ thứ hai bằng bàn thắng của một huyền thoại khác - Zinedine Zidane.

Ở trận bán kết còn lại, Tây Ban Nha vượt qua Đan Mạch sau cuộc đấu cân não trên chấm 11 m. Hai đội hoà nhau 1-1 trong 120 phút thi đấu. Đội bóng đến từ phía bên kia dãy Pyrenees có tham vọng lặp lại chiến tích của 20 năm trước nhưng đội chủ nhà lại quyết không bỏ qua cơ hội lần đầu tiên giành ngôi quán quân. Một trận đấu hứa hẹn đầy hấp dẫn và quyết liệt.

Sai lầm của thủ thành Arconada


Jean Tigana là một trong số cầu thủ chơi hay nhất EURO 1984.
Tây Ban Nha khởi đầu tốt hơn nhưng nhanh chóng sau đó, Pháp đã xác lập vị thế của một nhà vô địch tương lai với lối chơi áp đặt. Tuy vậy, hầu như không có cơ hội thực sự nguy hiểm nào được tạo ra trong hiệp một. Thời điểm bước ngoặt xảy ra ở phút 57. Thật nực cười khi trong một giải đấu hấp dẫn, một cầu thủ chơi rất tốt từ đầu lại mắc phải một sai lầm làm hoen ố cả sự nghiệp. Cú đá trực tiếp từ ngoài vòng 16m50 mà Platini thực hiện không có chút nào đặc trưng cho những pha đá phạt nổi tiếng của anh. Nó đi thấp, vòng qua bên ngoài hàng rào, đi vào vị trí thủ môn Arconada đã đón sẵn. Arconada đổ người đón bóng, nhưng lại để trôi qua người và lăn vào phía bên kia vạch cầu môn. Bàn thua làm tan biến sự hưng phấn mà Tây Ban Nha mang theo từ đầu giải.

Thời gian còn lại, các cầu thủ Pháp mặc sức tung hoành và tạo ra rất nhiều pha hãm thành. Bàn thắng phút 90 của Bruno Bellone ấn định kết quả 2-0. Trong số 14 lần tuyển Pháp làm tung lưới đối phương, đây là bàn duy nhất được ghi do công một tiền đạo. Trong khi đó, Platini ghi tới 9 bàn thắng sau 5 trận đấu. Tương tự như 13 bàn thắng của Just Fontaine năm 1958, một người Pháp nữa lại lập nên một kỷ lục ghi bàn khó có thể bị bắt kịp. Đáng chú ý hơn, Platini đã ghi bàn bằng cả chân trái, chân phải, bằng đầu và đá phạt, đồng thời còn tạo nhiều cơ hội cho đồng đội. Một mình Platini còn ghi được nhiều bàn thắng hơn so với cả hai đội Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Một cầu thủ toàn năng.

Nhiều ý kiến cho rằng Pháp đã may mắn với lợi thế sân nhà. Nhưng không ai có thể phủ nhận Pháp là nhà vô địch tuyệt đối khi đó. Trong suốt cả năm, họ thi đấu 12 trận và giành chiến thắng cả 12.

Kết quả các trận đấu tại EURO 1984:

Chung kết

Pháp 2 - 0 Tây Ban Nha

Bán kết

Pháp 3 - 2 Bồ Đào Nha
Đan Mạch 1 - 1 Tây Ban Nha

Vòng đấu bảng

Bảng 1

Pháp 1 - 0 Đan Mạch
Bỉ 2 - 0 Nam Tư
Pháp 5 - 0 Bỉ
Đan Mạch 5 - 0 Nam Tư
Pháp 3 - 2 Nam Tư
Đan Mạch 3 - 2 Bỉ

Bảng 2

Đức 0 - 0 Bồ Đào Nha
Romania 1 - 1 Tây Ban Nha
Đức 2 - 1 Romania
Bồ Đào Nha 1 - 1 Tây Ban Nha
Đức 0 - 1 Tây Ban Nha
Bồ Đào Nha 1 - 0 Romania
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Platini trở thành “Vua bóng đá Pháp”



Michel Platini đã được Tạp chí “France Football” bầu là cầu thủ xuất sắc nhất nước Pháp thế kỷ 20. Anh được các chuyên gia bóng đá xếp trên Zinedine Zidane, cầu thủ xuất sắc nhất thế giới năm 2000 và Raymond Kopa.

“France Football” đã quy tụ các chuyên gia bóng đá nổi tiếng cho cuộc bầu chọn này. Tiền vệ Platini, cựu đội trưởng đội tuyển Pháp, đã ghi được 41 bàn thắng trong 72 trận thi đấu quốc tế cho đội tuyển quốc gia. Đây là kỷ lục mà cho đến nay chưa cầu thủ Pháp nào đạt được. Anh là đội trưởng đội tuyển Pháp 50 lần và cùng với đội tuyển vô địch châu Âu năm 1984. Ngoài ra Michel Platini đã ba lần được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu khi khoác áo CLB Junentus (1983, 1984, 1985), ba lần là vua phá lưới tại giải bóng đá của Italia (mặc dù anh là một tiền vệ), cùng đội tuyển Pháp hai lần vào tới bán kết vòng chung kết bóng đá thế giới.
Aime Jacquet, cựu huấn luyện viên đội tuyển Pháp giành chức vô địch thế giới 1998, được bầu là “Huấn luyện viên xuất sắc nhất thế kỷ”. Reims, cựu huấn luyện viên CLB St. Etienne, xếp thứ hai. Cựu huấn luyện viên đội tuyển Pháp từ năm 1955-1962, Albert Batteux đứng thứ ba. Người thày của Platini, cựu huấn luyện viên đội tuyển Pháp năm 1984 Michel Hidalgo, về thứ tư trong cuộc bình chọn này.
Câu lạc bộ St. Etienne được bình chọn là “Câu lạc bộ xuất sắc nhất thế kỷ”. St. Etienne là đội bóng ba lần liên tiếp giành chức vô địch quốc gia Pháp (1974-1977), và lọt tới trận chung kết Cúp C1 năm 1976 (St. Etienne thua Bayern Munich ở trận chung kết này).
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-16 07:35:19conbo2>
Ủng hộ VDTH, CB đóng góp một số bài về 50 cầu thủ châu Âu xuất sắc nhất 50 năm, từ 1954 đến 2004, tuy hơi cũ nhưng cũng có nhiều chi tiết thú vị, UEFA tổ chức vào năm 2004 do người hâm mộ bầu chọn qua mạng. Loạt bài trên báo Tuổi trẻ.

50 cầu thủ châu Âu xuất sắc nhất 50 năm qua: Xanh màu Ý

Ban tổ chức UEFA bắt đầu công bố năm vị trí từ 50 đến 46, và tuần tới sẽ là các cầu thủ có vị trí từ 45 đến 41.

Các tuyển thủ Ý đã chiếm đa số với 3/5 xuất trong số các vị trí từ 46 đến 50 là: Alessandro Costacurta, Alessandro Del Piero và Alessandro Nesta. Hai cầu thủ còn lại là José Emilio Santamaria và Gary Lineker.


Xếp hạng 50 với 42.511 phiếu là Alessandro Costacurta, trung vệ CLB AC Milan và đội tuyển Ý. Costacurta là thành viên của AC Milan thời kỳ vàng son cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Cùng với AC Milan, Costacurta sáu lần vô địch quốc gia, đoạt bốn cúp C1, trong đó có danh hiệu vô địch champions league 2003 ở tuổi 37. Costacurta cũng thi đấu hai lỳ World Cup với đội tuyển Ý.




Xếp hạng 49 với 43.227 phiếu là Alessandro Del Piero, tiền đạo đội Juventus và đội tuyển Ý. Năm nay 30 tuổi, Piero đã gắn bó với Juventus suốt 10 năm qua. Cùng với Juventus, Piero đã vô địch Ý sáu lần, một lần vô địch champions league 1996.




Xếp hạng 48 với 43.690 phiếu là José Emilio Santamaria, đã ba lần vô địch cúp C1 cùng với Real Madrid. Ông thi đấu cho hai đội tuyển quốc gia: Uruguay- nơi ông sinh ra, và Tây Ban Nha tại World Cup. Đã sáu lần vô địch Tây Ban Nha, và là HLV đội tuyển TÂy Ban Nha tại World Cup 1982.




Xếp hạng 47 với 44.657 phiếu là Alessandro Nesta, trung vệ của câu lạc bộ AC Milan và đội tuyển Ý. Nesta nổi lên như là kiểu mẫu của trung vệ dập thời đại. Nesta là cầu thủ trụ cột giúp câu lạc bộ Lazio vô địch Ý 2000, và đoạt cúp C2, chiếc cúp cuối cùng trong lịch sử của cúp C2 năm 1999. Nesta đã nếm hương vị chiến thắng champions league 2003 ngay mùa đầu tiên đến với AC Milan.




Xếp hạng 46 với 44.787 phiếu là Gary Lineker, Vua phá lưới Wolrd Cup 1986. Lineker là chân sút xuất sắc thứ hai trong màu áo đội tuyển Anh khi ghi được 48 bàn trong 80 lần khoác áo quốc gia trong những năm 1984-1992. Lineker cũng là một trong những hình mẫu tiêu biểu của Fair Play.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Nổi bật Manchester United

Bắt đầu từ tuần rồi, UEFA đã giới thiệu hàng tuần năm cầu thủ trong TOP 50 cầu thủ châu Âu xuất sắc nhất trong 50 năm qua. Nếu như tuần trước là năm cầu thủ có vị trí từ 50 đến 46, thì tuần này là năm cầu thủ có hạng từ 45 đến 41, và câu lạc bộ Manchester United đã nổi lên khi có hai cầu thủ được bầu chọn trong tuần này là Eric Cantona, thủ lĩnh của đội trong thập niên 1990 và tiền đạo số một hiện nay Ruud Van Nistelrooy.


Xếp hạng 45 với 49.504 phiếu là Valentin Ivanov, chân sút hàng đầu của bóng đá Liên Xô trong thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Ivanov đã thi đấu trọn vẹn sự nghiệp cho câu lạc bộ Torepedo Moskva. Với đội tuyển, Ivanov đã đoạt huy chương vàng Olympic 1956, cũng như vô địch Euro 1960. Ivanov cũng ghi bốn bàn tại Wolrd Cup 1962.




Xếp hạng 44 với 47.398 phiếu là Ruud Van Nistelrooy đến MU vào năm 2001 với hợp đồng trị giá 19 triệu bảng Anh, và ngay mùa đầu tiên Nistelrooy đã ghi 24 bàn. Qua mùa thứ hai, Nistelroy ghi thêm 25 bàn, góp phần quan trọng giúp MU bảo vệ hành công danh hiệu danh hiệu vô địch Anh quốc. Trong màu áo PSV Eindhoven, Nistelrooy cũng đã hai lần là Vua phá lưới giải vô địch Hà Lan.




Xếp hạng 43 với 47.915 phiếu là Stanley Matthews, cầu thủ đoạt Quả bóng vàng đầu tiên năm 1956. Matthews nhận danh hiệu cao quý này ở tuổi 41, năm mà Matthews đã dẫn dắt Blackpool FC thắng ngược Bolton Walderers 4-3 trong trận chung kết cúp FA, với 54 lần khoác áo đội tuyển Anh. Sau đó Matthews tiếp tục thi đấu đến năm 50 tuổi mới giải nghệ, và năm 1965, ông đã đựơc trao tước hiệu Hiệp Sĩ.




Xếp hạng 42 với 48.436 phiếu là Eric Cantona. Cantona là cầu thủ nổi tiếng (cả tốt lẫn xấu) trong sự nghiệp cầu thủ với những bàn thắng, và đường chuyền sắc sảo của lối chơi bóng tinh tế, tài hoa, thông minh, cũng như những hành động nóng nảy tấn công trọng tài, cầu thủ và cả cổ động viên trong cả hai màu áo câu lạc bộ lẫn đội tuyển quốc gia. Đã ghi 20 bàn cho đội tuyển Pháp trong 45 lần khoác áo quốc gia. Tại Anh, Cantona được nhớ đến như là động lực chính giúp Manchester United đăng quang ở giải vô địch sau 26 năm mong đợi, và trong hai năm 1994, 1996, Cantona là nhạc trưởng của MU đọat cú đúp: vô địch quốc gia và cúp quốc gia.




Xếp hạng 41 với 49.504 phiếu là Raymond Kopa, cầu thủ Pháp bốn lần vô địch quốc gia trong màu áo câu lạc bộ Reims Champsgne, từng thua Real Madrid 3-4 trong trận chung kết cúp C1 đầu tiên năm 1956. Hai năm sau, Kopa thi đấu cho câu lạc bộ Hoàng gia Real Madrid và không chỉ vô địch Tây Ban Nha mà còn thắng Fiorentina và AC Milan để đọat thêm hai cúp C1 trong năm lần liên tiếp vô địch giải này của Real Madrid từ 1956 đến 1960. Thi đấu ở vị trí trung phong, nhưng Kopa ngoài biệt tài ghi bàn còn là cầu thủ kiến tạo rất hiệu quả. Lối chơi toàn diện này của Kopa đã giúp đội Pháp xếp hạng ba tại Wolrd Cup 1958.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-16 07:03:29conbo2>
Xuất hiện Vua của các Vua phá lưới World Cup

Tuần này năm cầu thủ đựơc công bố đại diện cho năm quốc gia khác nhau và thi đấu ở khắp các vị trí từ thủ môn đến tiền đạo.




Xếp hạng 40 với 50.247 phiếu là Bernd Schuster, tiền vệ của đội tuyển CHLB Đức, nhạc trưởng trong lối chơi của đội vô địch Euro 1980 tại Ý. Schuster có biệt danh "thiên thần tóc vàng" được coi là con ngựa chứng của bóng đá Đức.
Do bất đồng quan điểm với HLV trưởng đội tuyển quốc gia, cũng như không đồng ý với cách đưa tin quá đậm vào đời sống riêng tư của giới truyền thông nước nhà, Schuster đã sớm từ chối khoác áo đội tuyển dù tài năng đang nở rộ. Chính vì vậy Schuster chỉ có 21 lần thi đấu cho đội tuyển. Nhưng Schusters là một trong số ít các cầu thủ thi đấu lần lượt cho ba câu lạc bộ khổng lồ và có truyền thống của Tây Ban Nha là Barcelona, Real Madrid và Atletico Madrid, trong đó có một lần vô địch Tây Ban Nha mùa bóng 1984-1985 cùng Barcelona.




Xếp hạng 39 với 50.841 phiếu là Peter Shilton, thủ môn đội tuyển Anh. Shilton có sự nghiệp lâu dài với đội tuyển qua 125 lần khoác áo đội tuyển Anh, trong đó có 17 lần thi đấu tại các vòng chung kết World Cup. Shilton cũng góp công lớn vào thành công rực rỡ cho câu lạc bộ Nottingham Forest trong những năm cuối thập niên 1970 khi vô địch Anh 1978, đoạt cúp C1 hai lần năm 1979 và 1980.




Xếp hạng 38 với 53.612 phiếu là tiền đạo đội tuyển Pháp Just Fontaine , người vẫn đang giữ kỷ lục ghi bàn nhiều nhất tại một vòng chung kết Wolrd Cup. Tại World Cup 1958 tại Thụy Điển, cùng với thành tích hạng ba của đội Pháp, Fontaine đã trở thành Vua phá lưới với 13 bàn thắng. Fontaine cũng bốn lần vô địch Pháp với câu lạc bộ Nice rồi Reims, và ghi tất cả 30 bàn trong 21 trận quốc tế.




Xếp hạng 37 với 53.732 phiếu là Marco Tardelli, được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trong trận chung kết World Cup 1982. Tardelli đã ghi một bàn cho đội Ý trong trận thắng CHLB Đức 3-1 để đoạt chức vô địch thế giới 1982. Tardelli chơi xuất sắc cả hai vị trí tiền vệ và hậu vệ. Anh là một trong những cầu thủ trụ cột của đội Juventus, và cũng là một trong số ít cầu thủ trong bộ sưu tập thành tích có đủ các chiếc cúp châu Âu: đoạt cúp C1 1985, Cup C2 1984 và cúp UEFA 1977. Ngoài ra Tardelli còn năm lần vô địch Ý và hai lần đoạt cúp Ý.




Xếp hạng 36 với 53.873 phiếu là José Antonio Camacho, cựu hậu vệ câu lạc bộ Real Madrid và đội tuyển Tây Ban Nha. Camacho chơi rất mạnh mẽ ở hai vị trí trung vệ và hậu vệ phải. Camacho đã có sự hồi phục ngoạn mục khi nhiều ngưòi tưởng Camacho sẽ sớm giải nghệ vì đứt dây chằng đầu gối. Sau đó Camacho có sự nghiệp thi đấu cho đội tuyển 81 lần, đồng thời Camacho cũng chính là HLV đội tuyển Tây Ban Nha tại World Cup 2002.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Câu lạc bộ "1000 sao" Real Madrid có hai vị trí

Tiếp tục đếm ngược 50 cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu trong 50 năm qua, tuần này UEFA giới thiệu năm cầu thủ có thứ hạng từ 35 đến 31, và Real Madrid hiện có biệt danh là CLB "ngoài hành tinh" hay "1000 sao" đã có hai cầu thủ lọt vào danh sách này.




Xếp hạng 35 với 53.874 phiếu là Gianni Rivera, một trong những cầu thủ xuất sắc nhất trong lịch sử câu lạc bộ AC Milan. Năm 16 tuổi, Rivera đã được AC Milan mua với giá kỷ lục 200.000 USD. Rivera thi đấu trận đầu tiên ở Seria A khi mới 15 tuổi ! "Chàng trai vàng" đã hết mình với AC Milan trong suốt 16 mùa bóng, và đã cùng AC Milan hai lần vô địch C1, đoạt một cúp C2, ba lần vô địch Serie A cùng một kỷ lục: 501 lần khoác áo cho AC Milan, 60 lần mang băng thủ quân đội tuyển Ý, và sau đó trở thành nghị sĩ.




Xếp hạng 34 với 54.796 phếu là Johan Neeskens, hai lần tham dự trận chung kết World Cup 1974, 1978. Neeskens là thành viên trụ cột của đội tuyển Hà Lan thời kỳ vàng son khi làm thế giới bóng đá rúng động với lối đá tổng lực qua đấu pháp "10-1": tất cả tấn công, tất cả phòng thủ! Neeskens thi đấu cho hai câu lạc bộ lớn là Ajax Amsterdam và Barcelona. Với Ajax, Neeskens đoạt ba cúp C1 và tại Barcelona, Neeskens đoạt cúp C2 năm 1979. Hiện nay Neeskens là HLV của câu lạc bộ NEC Nijmegen.
(Neeskens hiện đang đến VN trong vai trò trợ lý HLV đội tuyển U23 Australia dự Cúp bóng đá mùa xuân)




Xếp hạng 33 với 55.398 phiếu là Berti Vogts, một trong số ít người thành công trên đấu trường quốc tế trong cả hai vai trò cầu thủ và huấn luyện viên. Cả sự nghiệp cầu thủ, Vogts thi đấu cho Monchenglabach với năm lần vô địch Bundesliga, đoạt hai cúp UEFA. Ở đội tuyển Cộng Hòa Liên Bang Đức, Vogts thi đấu 96 trận và đã vô địch World Cup 1974. Sau đó Vogts trở thành HLV đội tuyển Đức trong quãng thời gian sau World Cup 1990 đến World Cup 1998. Vogts đã đem về cho bóng đá Đức danh hiệu vô địch Euro 1996. Hiện nay ông là HLV đội tuyển Scotland.




Xếp hạng 32 với 56.880 phiếu là Raul Gonzalez, "Hoàng tử" của câu lạc bộ Hoàng gia Real Madrid. Trưởng thành từ lò đào tạo của Real, ở tuổi 17, Raul đã trở thành tiền đạo ghi bàn trẻ nhất cho Real Madrid khi đưa bóng vào lưới câu lạc bộ Atletico de Madrid. Raul đã ba lần vô địch Champions League cùng Real Madrid.




Xếp hạng 31 với 58.078 phiếu là Luis Figo, thành viên của "thế hệ vàng" Bồ Đào Nha khi vô địch giải trẻ thế giới 1991. Tiền vệ Figo rời Sporting de Portugal đến Barcelona năm 1995, sau đó đoạt cúp C2 và hai giải vô địch Tây Ban Nha. Năm 2000, Figo về với câu lạc bộ không đội trời chung với Barcelona là Real Madrid. Tài năng sáng chói của nhà tổ chức Figo đã giúp Figo được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất mùa bóng 2001-2002 của FIFA.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Tôn vinh thủ môn

Có đến 3/5 cầu thủ được xếp hạng từ 30 đến 26 thi đấu ở vị trí thủ môn, trong đó có hai thủ môn người Đức sáng chói thế giới.




Xếp hạng 30 với 58.151 phiếu là Oliver Kahn, thủ môn câu lạc bộ Bayern Munich và đội tuyển Đức. Kahn từng thi đấu cho câu lạc bộ Karlsruher SC. Năm 2001 Kahn cùng Bayern Munich đoạt cú ba: Champions League, Bundesliga và cúp Đức. Hai lần được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất năm của Đức. Có mặt cùng đội tuyển Đức từ World Cup 1994, nhưng phải sau World Cup 1998, Kahn mới là sự lựa chọn số một. Kahn đã đoạt danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất Wolrd Cup 2002 khi góp phần quan trọng đưa đội Đức vào đến trận chung kết gặp Brazil.



Xếp hạng 29 với 62.375 phiếu là Sepp Maier, một trong những huyền thoại của Bayern Munich thi đấu 473 trận tại giải vô địch Cộng Hòa Liên Bang Đức. Đỉnh cao sự nghiệp của thủ môn Maier là cùng Bayern Munich đoạt cúp C1 năm 1974, và một tháng sau, Maier thi đấu cực kỳ xuất sắc trong trận chung kết thắng Hà Lan 2-1 để giúp CHLB Đức đoạt chức vô địch World Cup1974 trên sân nhà. Ngoài ra, Maier còn có danh hiệu vô địch Euro 1972, ba cúp C1, và một cúp Liên lục địa 1976.




Xếp hạng 28 với 62.383 phiếu là Gheorghe Hagi, tuyển thủ Rumani có biệt danh "Maradona của Đông Âu". Hagi được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất qua mọi thời đại của Rumani. Anh thi đấu ở vị trí tiền vệ tấn công với 125 lần khoác áo đội tuyển quốc gia, trong đó có 65 lần đeo băng thủ quân và ghi được 35 bàn thắng. Hagi đã ba lần liên tiếp đoạt chức vô địch Rumani cùng với câu lạc bộ Steaua Bucarest trước khi thi đấu ở Ý, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ mà tại đây Hagi đã có dịp nâng cao chiếc cúp UEFA 2000 cùng với câu lạc bộ Galatasaray.




Xếp hạng 27 với 66.463 phiếu là Peter Schmeichel, thủ môn đội tuyển Đan Mạch. Cuộc đời Schmeichel bắt đầu lừng lẫy khi chuyển qua thi đấu cho Manchester United từ năm 1991, dù rằng trước đó Schmeichel đã được biết đến từ Euro 1988, và hai lần được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất năm của Đan Mạch. Schmeichel là thủ môn mẫu mực về tài năng lẫn phong cách, anh là người hùng trong sự kiện "bất ngờ thế kỷ" khi Đan Mạch vô địch Euro 1992. Ngoài những danh hiệu vô địch Anh, đoạt cúp Anh, Schmeichel còn cùng Manchester United đoạt chức vô địch champions league 1999.




Xếp hạng 26 với 66661 phiếu là Ronald Koeman, trung vệ khét tiếng không chỉ chắc chắn trong phòng thủ mà còn có khả năng ghi bàn từ những cú sút phạt sấm sét. Chính sở trường này, Koeman đã ghi bàn giúp Barcelona (Tây Ban Nha) vô địch cúp C1 năm 1992. Năm 1988 là năm vinh quang nhất của Koeman khi trong màu áo Eindhoven anh đoạt cú ba: cúp C1, vô địch Hà Lan, cúp Hà Lan. Ngoài ra, cùng đội tuyển Hà Lan, Koeman vô địch Euro 1988.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Tiền vệ tấn công

Bốn cầu thủ xếp hạng từ 25 đến 22 thì có ba thi đấu cùng vị trí tiền vệ tấn công, trong đó có hai cầu thủ còn thi đấu là Roberto Baggio và David Beckham.




Xếp hạng 25 với 67.484 phiếu là Michael Laudrup, tuyển thủ Đan Mạch. Anh được cả thế giới biết đến khi chơi cực kỳ xuất sắc khi dẫn dắt đội Đan Mạch đè bẹp Uruguay 6-1 tại World Cup 1986. Đáng tiếc do bất đồng với HLV trưởng Richard Moller Nielsen nên Laudrup đã vắng mặt tại vòng chung kết Euro 1992 khi Đan Mạch đoạt chức vô địch. Trong màu áo câu lạc bộ, Laudrup vẫn luôn khẳng định vai trò của cầu thủ trụ cột. Anh đã cùng Juventus đoạt cúp Liên lục địa, sau đó đoạt cúp C1 với Barcelona và năm chức vô địch Tây Ban Nha với bốn lần cùng Barcelona và một lần trong màu áo Real Madrid.




Xếp hạng 24 với 68.239 phiếu là Roberto Baggio, tuyển thủ Ý. Năm 1990, Baggio đã là cầu thủ đắt giá nhất thế giới khi từ Fiorentina chuyển qua thi đấu cho Juventus. Tại World Cup 1990 trên sân nhà, Baggio khiến cho mọi người nhớ đến pha ghi bàn độc diễn khi đá với đội Tiệp Khắc. Bốn năm sau, Baggio là thủ lĩnh của đội Ý tại World cup 1994. Đáng tiếc anh đã sút hỏng quả phạt luân lưu 11m trong trận chung kết trước Brazil, khiến cho đội Ý mất cơ hội lần thứ tư vô địch thế giới.




Xếp hạng 23 với 70.884 phiếu là Bobby Moore, "chàng trai vàng" (golden boy) của bóng đá Anh trong thập niên 1960. Liên tiếp ba năm đeo băng thủ quân, Moore đã cùng câu lạc bộ West Ham United đoạt cúp FA 1964, và cúp C2 năm 1965, rồi cùng đội tuyển Anh vô địch World Cup 1966. Chơi ở vị trí trung vệ, chỉ huy tuyến phòng ngự, Moore đã 108 lần khoác áo đội tuyển quốc gia, trong đó chỉ vắng mặt 10 lần trong suốt thập niên thi đấu cho đội Anh bắt đầu từ trận gặp Peru năm 1962. Moore thi đấu 544 trận cho West Ham United từ 1958 đến 1974, và 124 trận cho Fulham trước khi giải nghệ năm1976 lúc 35 tuổi.




Xếp hạng 22 với 71.299 phiếu là David Beckham, biểu tượng thành đạt của thể thao Anh quốc hiện nay. Beckham trưởng thành từ lò đào tạo Manchester United và anh nổi tiếng trong pha ghi bàn từ giữa sân trong trận gặp Wimbledon mùa bóng 1996, đồng thời Beckham cũng nổi tiếng là tên tội đồ khi bị đuổi ra sân khiến cho đội Anh bị Achentina loại ở World Cup 1998.
Tuy nhiên Beckham đã dần lấy lại thanh danh và trở thành người hùng của bóng đá Anh quốc khi anh ghi những bàn thắng quyết định trong cả hai màu áo câu lạc bộ Manchester United và đội tuyển Anh. Cùng với Manchester United, Beckham đã có hat-trick vô địch năm 1999: premierships, cúp FA và champions leagues. Năm 2003, Beckham chuyển qua thi đấu cho Real Madrid và tiếp tục thành công.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Đếm ngược 50 cầu thủ xuất sắc châu Âu: 21, 20, 19!




Xếp 21 với 71.333 phiếu là Frank Rijkaard, cựu tuyển thủ Hà Lan. Dưới sự dẫn dắt của huyền thoại bóng đá Hà Lan Johan Cruyff, Rijkaard đã thi đấu chuyên nghiệp từ tuổi 17 trong màu áo Ajax Amsterdam. Năm 19 tuổi đã thi đấu cho đội tuyển quốc gia. Năm 1987, Rijkaard rời Ajax về thi đấu cho Sporting (Bồ Đào Nha), rồi Real Zaragoza (Tây Ban Nha), và Rijkaard bắt đầu trở thành ngôi sao thế giới khi về thi đấu cho AC Milan (Ý).
Tại đây Rijkaard đá tiền vệ và cùng đồng đội biến AC Milan trở thành câu lạc bộ số một thế giới khi thống trị ở cúp C1 và cúp Liên lục địa. Năm 1993 anh quay trở lại Ajax, và năm 1995, Rijkaard đã giúp Ajax vô địch cúp C1 khi thắng AC Milan trong trận chung kết. Ở đội tuyển Hà Lan, Rijkaard chơi vị trí trung vệ khi vô địch Euro 1988, sau đó anh là HLV đội tuyển Hà Lan vào bán kết ở Euro 2000, và hiện nay là HLV câu lạc bộ Barcelona.





Xếp hạng 20 với 78.840 phiếu là Kevin Keegan, cầu thủ xuất sắc nhất Anh quốc trong thập niên 1970, hai lần được trao Quả bóng vàng 1978, 1979. Nhờ có Keegan mà Liverpool đoạt được cúp C1, hai cúp UEFA và ba lần vô địch Anh quốc. Keegan lại thành công khi năm 1980 giúp Hamburg dành cú đúp vô địch và đoạt cúp quốc gia Đức và vào đến trận chung kết cúp C1. Hiện nay Keegan là HLV câu lạc bộ Manchester City, trước đó Keegan là HLV đội tuyển Anh tại Euro 2000.





Xếp hạng 19 với 79.036 phiếu là George Best, tài năng bóng đá hiếm có, nhưng thật bất hạnh bởi bóng đá Bắc Ailen khi đó chưa mạnh nên Best chưa một lần được thi đấu ở vòng chung kết World Cup. Best có 37 lần khoác áo đội tuyển quốc gia, ghi được chín bàn. Nhưng Best được cả thế giới biết đến trong màu áo Manchester United khi là linh hồn của đội trong thập niên 1960. Tại đây, Best là lực đẩy giúp Manchester United hai lần đoạt cúp C1. Năm 1968 là năm thăng hoa của Best khi Manchester United đoạt cúp C1, riêng mình, Best được Hiệp hội ký giả thể thao Anh bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất năm của nước Anh, đồng thời Best đoạt luôn Quả bóng vàng. Đáng tiếc, với cuộc sống phóng túng và nghiện rượu, Best đã sớm giã từ sự nghiệp.
(Best đã mất năm 2005 do hậu quả của rượu)
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Đếm ngược 50 cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu: 18, 17, 16




Xếp hạng 18 với 82.668 phiếu là Gerd Muller, biệt danh "mũi tên vàng" của đội tuyển bóng đá Cộng Hòa Liên Bang Đức. Muller được coi là ông Vua của vùng cấm địa khi luôn có mặt đúng lúc và luôn tận dụng cơ hội ghi bàn trong mọi tư thế ở khu vực 16m50. Bàn thắng vàng của Muller vàng là bàn ấn định tỉ số 2-1 giúp đội CHLB Đức vô địch World Cup 1974 khi thắng Hà Lan trong trận chung kết.
Với 10 bàn thắng tại Wolrd Cup 1970, cùng 4 bàn thắng tại World Cup 1974, cho đến nay Muller là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất tại các vòng chung kết World Cup. Có Muller, Bayern Munich bắt đầu nổi tiếng ở đấu trường châu Âu, và khởi đầu bằng chiến tích cúp C2 năm 1967. Muller- cỗ máy ghi bàn của đội CHLB Đức đã ghi được 68 bàn trong 62 lần khoác áo đội tuyển. Năm 1970, Muller được trao quả bóng vàng.





Xếp hạng 17 với 83.800 phiếu là Franco Baresi, trung vệ đội tuyển Ý, và được coi là cầu thủ chuyên nghiệp trung thành nhất khi suốt sự nghiệp chỉ thi đấu duy nhất cho câu lạc bộ AC Milan. Baresi được coi là cuộc cách mạng của vai trò trung vệ càn quét. Baresi không chỉ quyế liệt cản phá, mà còn thường xuyên đem bóng lên cao tấn công rất hiệu quả.
Baresi bắt đầu thi đấu cho AC Milan từ năm 1977, và lần đầu tiên thi đấu cho đội tuyển quốc gia trong trận gặp Rumani năm 1982, nhưng Baresi không có tên trong thành phần đội tuyển vô địch World Cup1982. Tuy nhiên trong suốt 20 năm cống hiến cho AC Milan (giải nghệ năm 1997), Baresi đã góp phần quan trọng giúp AC Milan chiến thắng nhiều lần trên các đấu trường: cúp C1, cúp UEFA, Siêu cúp châu Âu, cúp Liên lục địa, Serie A và cúp Ý.




Xếp hạng 16 với 86.649 phiếu là Karl Heinz Rummenigge, con chim đầu đàn của bóng đá CHLB Đức trong những năm cuối thập niên 1970 và nửa đầu thập niên 1980. Trong màu áo Bayern Munich, Rummenigge đã hai lần đoạt cúp C1 (1975, 1976); một lần đoạt cúp Liên lục địa, hai lần vô địch Đức và hai cúp quốc gia. Khởi đầu chơi ở vị trí tiền đạo cánh phải, sau đó di chuyển vào đá vị trí trung phong. Đã ghi 45 bàn trong 95 lần khoác áo đội tuyển. Rummenigge là thủ quân đội CHLB Đức vô địch Euro 1980, hai lần hạng nhì World Cup 1982, 1986, và hai lần đoạt Quả bóng vàng châu Âu 1980, 1981.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Đếm ngược 50 cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu: 15, 14, 13

Họ, Lothar Matthaus, Bobby Charlton, Rud Gullit đều là thủ lĩnh của câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia trong thời của họ. Cả ba đều chơi vị trí tiền vệ và cùng là những nhạc trưởng tài ba...




Xếp hạng 15 với 86.798 phiếu là Lothar Matthaus, cầu thủ đang giữ kỷ lục về số lần khoác áo đội tuyển Đức với 150 lần! Matthaus cũng là thủ quân đội Đức vô địch World Cup 1990. Matthaus có ưu thế về thể lực, ngoài khả năng càn lướt tranh chấp bóng không mệt mỏi, anh còn cực kỳ nguy hiểm trong những quả sút xa. Matthaus khởi đầu sự nghiệp trong màu áo Monchengladbach, sau đó chuyển qua thi đấu cho Bayern Munich, Inter Milan... Matthaues nổi lên từ vị trí tiền vệ tấn công, khi lớn tuổi anh lùi dần xuống vị trí tiền vệ phòng ngự rồi trung vệ tự do. Matthaus đã hai lần đoạt cúp UEFA trong màu áo Bayern Munich và Inter Milan. Năm 1990 được trao tặng quả bóng vàng.





Xếp hạng 14 với 89.921 phiếu là Bobby Charlton, huyền thoại của Manchester United. Charlton tham gia Manchester United khi mới 17 tuổi vào năm 1954 và đã góp công lớn giúp câu lạc bộ hai lần vô địch nước Anh 1956, 1957. Charlton là một torng số ít cầu thủ sống sót sau thảm kịch nổ máy bay ở Munich, và 10 năm sau, Charlton đã dẫn dắt Manchester United đoạt cúp C1 1968, và Manchester United trở thành câu lạc bộ Anh đầu tiên đoạt được cúp này. Charlton đã ghi 49 bàn trong 106 lần khoác áo đội tuyển Anh. Đỉnh cao sự nghiệp của Charlton là cùng đội Anh vô địch World Cup 1966, và cùng năm, Charlton được trao tặng Quả bóng vàng.




Xếp hạng 13 với 91.001 phiếu là Ruud Gullit, cầu thủ khổng lồ nhưng chơi bóng rất linh hoạt và thông minh. Gullit thực sự bùng nổ khi từ PSV Eindhoven chuyển qua thi đấu cho AC Milan vào năm 1987 với giá chuyển nhượng kỷ lục thế giới 9,25 triệu Euro. Ngay lập tức, trong mùa đầu tiên Gullit đã đem lại chức vô địch Serie A cho AC Milan.
Thời gian sau đó là thời kỳ hoàng kim của AC Milan khi được coi là câu lạc bộ số một thế giới vì thống trị cúp C1 và cúp Liên lục địa. Người khổng lồ AC Milan khi đó luôn gắn liền với bộ ba ngưòi Hà Lan bay Gullit-Basten-Rijkaard, trong đó Gullit luôn được coi là con chim đầu đàn. Ở đội tuyển quốc gia, Gullit đã đưa đội Hà Lan đoạt chức vô địch Euro 1988, và đó cũng là chiến thắng quốc tế vang dội nhất của bóng đá Hà Lan. Bản thân mình, Gullit cũng một lần đoạt Quả bóng vàng.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Đếm ngược 50 cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu: 12, 11, 10

Ba cầu thủ trong TOP 12, có đến hai là ông Vua không ngai khi chưa một lần vô địch World Cup. Người còn lại lên ngôi dù hai tháng trước đó còn chịu án kỷ luật vì tội dàn xếp tỉ số...




Xếp hạng 12 với 91.194 phiếu là Paolo Rossi ngôi sao sáng của Wolrd Cup 1982. Là trung phong đội tuyển Ý vô địch World Cup1982, Rossi còn đoạt riêng hai danh hiệu cá nhân: cầu thủ xuất sắc nhất và Vua phá lưới với sáu bàn. Đầu năm 1982 Rossi vẫn còn trong thời gian bị treo giò hai năm do liên quan đến vụ dàn xếp tỉ số trận đấu ở giải vô địch Ý. Thế nhưng khi hết hạn vào tháng 4, Rossi được gọi vào đội tuyển thi đấu ở Tây Ban Nha trong tháng 6, và Rossi đã trở thành người hùng khi ghi bàn trong ba trận liên tiếp thắng Brazil 3-2, Ba Lan 2-0 và CHLB Đức 3-1, giúp đội Ý vô địch thế giới.
Cũng trong năm này, Rossi được trao Quả bóng vàng. Trong màu áo Juventus, Rossi đã đoạt cúp C1 năm 1985, cúp C2 năm 1984 và Siêu cúp châu Âu. Đáng tiếc do chấn thương nên Rossi phải giải nghệ sớm ở tuổi 29.





Xếp hạng 11 với 94.361 phiếu là Ferenc Puskas, thủ quân đội tuyển vàng bất bại trong những năm đầu thập niên 1950 của Hungari. Đáng tiếc trong thời gian vàng son này, Hungari chỉ có trận thua duy nhất lại là thua 2-3 trong trận chung kết World Cup 1954 trước đội CHLB Đức sau khi dẫn trước 2-0.
Khi 15 tuổi, Puskas đã đá cho đội Kispest Honved và đã ghi 14 bàn trong 179 trận cho câu lạc bộ thủ đô Budapest. Puskas cũng ghi 18 bàn cho đội tuyển quốc gia trong bốn năm không biết thua trong đó có chiếc huy chương vàng Olimpic 1952. Tổng cộng Puskas ghi 84 bàn trong 85 lần thi đấu trong màu áo Hungari. Sau đó Puskas thi đấu cho Real Madrid, và cùng câu lạc bộ này năm lần vô địch cúp C1. Trong đó Puskas lập kỷ lục ghi bốn bàn trong trận chung kết Real Madrid thắng Eintrach Frankfurt 7-3 mùa bóng 1959-1960.





Xếp thứ 10 với 95.497 phiếu là Paolo Maldini, hậu vệ vệ tài năng của câu lạc bộ AC Milan, đội tuyển Ý, và có một sự nghiệp lừng lẫy hơn người cha Cesare cũng là thủ quân AC Milan vô địch cúp C1 năm 1963. Maldini được ba Cesare dẫn dắt từ đội trẻ AC Milan, và Maldini ở tuổi 16 đã thi đấu ở Serie A vào tháng 1-1985. Maldini đã hơn cha, Cesare khi bốn lần đoạt cúp C1 và sau này là champions league trong các năm 1989, 1990, 1994, 2003.
Maldini cũng không ít lần vô địch Ý, đoạt cúp Ý và đoạt cúp Liên lục địa. Với 126 lần, Maldini hiện là cầu thủ Ý khoác áo đội quốc gia nhiều nhất. Ngoài ra, trong trận AC Milan thắng Deportivo La Corona 4-1 ở lượt đi tứ kết Champions League 2003-2004, Maldini đã lập kỷ lục với 130 trận thi đấu ở các cúp châu Âu, phá kỷ lục cũ 129 trận của trung vệ đội tuyển Hà Lan Frank De Boer.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Đếm ngược 50 cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu: 9, 8, 7

Cả ba đều là những tên tuổi số một của bóng đá nước họ. Đó là nhạc trưởng Michel Platini (Pháp), lthủ môn huyền thoại Lev Yashin (Liên Xô) và là chân sút biệt danh "Con báo đen" Eusebio (Bồ Đào Nha)...




Xếp hạng 9 với 99.380 phiếu là Michel Platini, tiền vệ thủ quân đội tuyển Pháp. Sự xuất hiện của Platini đã làm thay đổi hình ảnh của Pháp trong thế giới bóng đá. Platini đã sớm được biết tại Olympic Montreal 1976, và sau đó bắt đầu được coi là ngôi sao thế giới kể từ World Cup 1978. Sau World Cup 1982 khi đưa đội Pháp vào bán kết, Platini qua Ý thi đấu cho câu lạc bộ Juventus, và tại đây Platini thăng hoa với ba lần đoạt danh hiệu Vua phá lưới Serie A, và đã ghi bàn quyết định từ chấm phạt 11m trong trận chung kết thắng Liverpool 1-0, giúp Juventus đoạt cúp C1 năm 1985.
Platini đã ghi 41 bàn trong 72 lần khoác áo đội tuyển quốc gia, trong đó có chín bàn ghi được tại vòng chung kết Euro 1984, góp phần quan trọng đem lại chức vô địch châu Âu 1984- danh hiệu vô địch giải lớn quốc tế đầu tiên cho bóng đá Pháp. Platini cũng ba năm liên tiếp đoạt Quả bóng vàng 1983, 1984, 1985.




Xếp hạng 8 với 101.862 phiếu là Lev Yashin, thủ môn số một của lịch sử bóng đá qua mọi thời đại. Tên đầy đủ là Lev Ivanovich Yashin. Năm 1953, Yashin tính chuyển qua chơi môn hockey trên băng vì quá mệt mỏi khi phải làm thủ môn dự bị cho "Con Cọp" Alexei Khomich. Thế rồi khi Khomich bị chấn thương, Yashin đã không bỏ lỡ cơ hội thể hiện tài năng.
Một năm sau Yashin khoác áo đội tuyển Liên Xô trong trận thắng Thụy Điển 3-2. Rồi Yashin là thủ môn đội Liên Xô đoạt huy chương vàng OLympic 1956 ở Melbourne. Năm 1960, Yashin là nguồn cảm hứng giúp đội Liên Xô đoạt chức vô địch châu Âu lần thứ nhất. Yashin đã 78 lần thi đấu cho đội tuyển Liên Xô, đã năm lần vô địch quốc gia, ba lần đoạt cúp quốc gia, và là thủ môn duy nhất được trao tặng Quả bóng vàng 1963.




Xếp hạng 7 với 103.937 phiếu là Eusebio. Sinh ra và lớn lên ở Mozambique, đến năm 19 tuổi Eusebio mới đến Bồ Đào Nha, và hai câu lạc bộ lớn Benfica, Sporting đã tranh nhau chữ ký của Eusebio. Chính Eusebio đã kết thúc chuỗi thống trị ở cúp C1 của Real Madrid khi Eusebio dẫn dắt Benfica thắng Real Madrid 5-3, trong đó Eusebio ghi hai bàn. Trong 14 mùa bóng, Eusebio đã giúp Benfica 11 lần vô địch Bồ Đào Nha. Năm 1965 được trao tặng Quả bóng vàng, Vua phá lưới World Cup 1966 với chín bàn thắng, và đội Bồ Đào Nha xếp thứ ba. Eusebio đã ghi 41 bàn trong 64 lần thi đấu cho đội Bồ Đào Nha.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Đếm ngược 50 cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu: 6,5




Xếp hạng sáu với 107.435 phiếu là Alfredo Di Stefano, huyền thoại của bóng đá châu Âu và Real Madrid. Stefano dẫn dắt Real Madrid năm lần liên tiếp vô địch cúp C1 (1956-1960). Sinh ở Buenos Aires (Achentina), Di Stefano khởi đầu sự nghiệp trong câu lạc bộ quê nhà CA River Plate. Tại đây Stefano đưa River Plate vô địch Achentina, và ông cũng giúp cho đội tuyển Achentina vô địch Copa America.
Sau đó Stefano chuyển qua thi đấu cho CD Los Millonarios (Colombia). Tại đây Stefano ghi 89 bàn, trong 102 trận đấu sau gần bốn mùa bóng, và ba lần vô địch Colombia trước khi đặt chân đến châu Âu tham gia vào câu lạc bộ Real Madrid năm 1952. Ngoài những chiếc cúp châu Âu, Stefano còn giúp Real Madrid tám lần vô địch Tây Ban Nha, một lần đoạt cúp Tây Ban Nha. Stefano cũng có 31 lần thi đấu cho đội tuyển Tây Ban Nha, ghi được 23 bàn thắng. Hai lần được trao tặng Quả bóng vàng 1957, 1959.




Xếp hạng 5 với 114.529 phiếu là Dino Zoff, thủ môn huyền thoại của bóng đá Ý và thế giới. Đã một thời Zoff giữ kỷ lục khoác áo đội tuyển Ý nhiều nhất với 112 lần, trong đó có trận chung kết World Cup 1982 khi Ý thắng CHLB Đức 3-1 mà Zoff là thủ quân đội vô địch thế giới Ý lúc 40 tuổi. Với danh hiệu vô địch World cup 1982, Zoff là thủ môn thứ hai của câu lạc bộ Juventus đạt được danh hiệu này sau Gianpiero Comi tại World Cup 1934.
Năm 1968, Zoff giúp Napoli đoạt cúp UEFA. Đến mùa bóng 1973-1974, Zoff chuyển đến thi đấu cho Juvenuts, và Zoff lập kỷ lục thế giới giữ nguyên vẹn khung thành trong các trận đấu quốc tế với thời gian 1.143 phút. Trong màu áo Juventus, ngoài chiếc cúp C2, Zoff còn có cúp nước Ý và vô địch Ý.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Đếm ngược 50 cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu: 4,3,2,1


4- Marco Van Basten




3 - Franz Beckenbauer




2 - Johan Cruyff




1 - Zinedine Zidane
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-16 13:05:39Vangdanhthienha>
Sơ lược sự nghiệp cầu thủ và HLV của Daniel Passarella (sinh 25/5/1953, tại Buenos Aires)::Được đánh giá là một trong các trung vệ hay nhất mọi thời đại của bóng đá thế giới.





Cầu thủ:

1966: Bắt đầu sự nghiệp tại câu lạc bộ địa phương, Argentino de Chacabuco.

1974: Gia nhập River Plate.

1975: Cùng River Plate vô địch Argentina, danh hiệu đầu tiên của CLB này sau 18 năm chờ đợi.

1976: Lần đầu tiên khoác áo đội tuyển Argentina (vào thay người trong trận giao hữu thắng Liên Xô cũ 1-0, ngay ở Kiev). Trong 70 trận làm nhiệm vụ quốc gia, ông đeo băng thủ quân ở 46 trận đấu quốc tế.

1978: Với tư cách thủ quân, ông cùng với Argentina đoạt Cup vàng thế giới ngay tại quê nhà.

1982: Chuyển tới thi đấu cho Fiorentina (Serie A, Italy).

1982-86: Thi đấu 109 trận cho Fiorentina.

1986: Trở thành cầu thủ Argentina duy nhất hai lần có mặt trong đội hình đoạt Cup vàng thế giới. Tuy nhiên, tại vòng chung kết World Cup 1986, ông không thi đấu một trận nào vì bị ốm.

1986-88: Thi đấu 43 trận cho Inter Milan.

1988: Trở lại River Plate.

1989: Giải nghệ và được chỉ định làm HLV River Plate.

HLV:

1990: Giúp River vô địch quốc gia.

1991: Cùng River chiến thắng tại Apertura (nửa đầu mùa giải Vô địch quốc gia Argentina, theo thể thức mới).

1993: Cùng River đăng quang tại Clausura (nửa cuối giải Vô địch quốc gia).

1994: Trở thành HLV trưởng đội tuyển Argentina. Ra mắt với chiến thắng 3-0, vào 16/11, trước Chile.

1995: Cùng Argentina vào tứ kết Copa America, được tổ chức tại Uruguay (bị Brazil loại ở loạt đá 11m).

1996: Đoạt huy chương bạc Olympic với Argentina (thua Nigeria 2-3 trong trận chung kết).

1997: Tháng 7, Argentina lại thất bại tại tứ kết Copa America, tại Bolivia. Đây là giải đấu mà Passarella thử nghiệm nhiều cầu thủ trẻ.

Tháng 9, Argentina vượt qua vòng loại World Cup 1998.

1998: Ngày 29/4, giúp Argentina lần đầu tiên đánh bại Brazil trong vòng 20 năm (giao hữu trước khi World Cup khởi tranh).

Tháng 6, cùng Argentina vượt qua tứ kết World Cup, sau khi loại Anh ở loạt đá luân lưu.

Tháng 7, Argentina thua Hà Lan 1-2 tại bán kết. Ở trận đó, tiền vệ Ariel Ortega bị truất quyền thi đấu ở phút cuối do xô xát với thủ thành Edwin van der Sar. Ngay sau khi Argentina bị loại, Pasarella từ chức HLV trưởng.

1999: Trở thành HLV trưởng đội tuyển Uruguay.

2001: Từ chức HLV trưởng Uruguay.
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-16 13:21:04Vangdanhthienha>
Gabriel Batistuta




Batistuta khởi đầu sự nghiệp năm 1988 tại đội bóng hạng Nhất Argentina, Newell's Old Boys. Một năm sau, anh gia nhập River Plate trước khi sát cánh cùng Boca Juniors năm 1990. Tại đây, bằng khả năng ghi bàn tuyệt vời của mình, anh đã chinh phục được các CLB bóng đá châu Âu.

Năm 1991, anh ký hợp đồng thi đấu cho CLB Fiorentina của Italy, rồi đưa CLB tới danh hiệu Cup quốc gia và Siêu Cup Italy năm 1995 và 1996. Năm 2000, anh chuyển tới AS Roma và cũng nhanh chóng đạt được thành công. Ngay trong mùa giải đầu tiên, Batigol đã góp công không nhỏ cùng đội giành chức vô địch Serie A. Năm 2003, anh chơi một thời gian ngắn cho Inter Milan trước khi quyết định chuyển tới Qatar. Tại đây, mùa giải năm ngoái, anh ghi được 25 bàn thắng. Thế nhưng vì chấn thương, mùa bóng này anh mới chỉ chơi 3 trận và chưa ghi được bàn thắng nào.

Batigol (biệt danh của Batistuta)thi đấu quốc tế 78 trận đấu và 56 bàn thắng cho đội tuyển Argentina. Anh từng tham dự World Cup với Argentina các năm 1994, 1998 và 2002. Trận đấu cuối cùng của anh trong màu áo sọc xanh trắng là chiến thắng trước Nigeria với tỷ số 1-0, ở World Cup 2002. Batigol cũng là thủ lĩnh của đội Argentina giành danh hiệu Copa America năm 1991 và 1993.

Cho đến nay, Batistuta vẫn là cầu thủ Argentina ghi được nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển quốc gia.
Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0
Romario




Đôi nét về Romario

Tên đầy đủ: Romario da Souza Faria
Biệt danh: Baixinho Romario (Thằng lùn)
Ngày sinh: 29/1/1966, tại Jacarezinho, Rio de Janeiro, Brazil
Chiều cao: 169cm
Cân nặng: 72Kg
Những CLB danh tiếng đã qua: Vasco de Gama, Flamengo, Valencia, Barcelona, PSV Eindhoven và Fluminese.
Danh hiệu quan trọng nhất: vô địch World Cup 1994.


Được khoác lên mình chiếc áo vàng xanh từ năm 1985, nhưng Romario chỉ thực sự nổi tiếng khi anh giúp tuyển Brazil giành chức vô địch World Cup 1994 ở Mỹ. Cũng trong năm đó, anh giành danh hiệu Cầu thủ hay nhất thế giới. Romario cũng rất nổi tiếng ở châu Âu khi thi đấu cho PSV (Hà Lan), Barcelona (Tây Ban Nha). Năm 1998, tiền đạo cao 1m69 này không được tham dự World Cup bởi một chấn thương nặng ở chân.

Ở Brazil, Romario sau đó vẫn toả sáng, và các CĐV nước này từng biểu tình đòi HLV Luiz Felipe Scolari đưa anh vào đội tuyển tham dự World Cup 2002. Tuy nhiên, Romario cuối cùng vẫn phải làm khán giả ở giải đấu đó, đành nhìn tuyển Brazil đăng quang chức vô địch thế giới lần thứ 5 ở Nhật Bản qua truyền hình. Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của Romario kết thúc ở đội bóng thuộc bang Rio de Janeiro - Fluminese.

Một trong những CĐV trung thành nhất của Romario là huyền thoại Tostao - người cùng tuyển Brazil giành Cup thế giới năm 1970. Ông cho rằng Romario là trung phong hay nhất mọi thời đại mà nền bóng đá Brazil từng sản sinh ra. Trong màu áo tuyển Brazil, Romario đóng góp 70 bàn thắng sau 87 lần ra sân, và chỉ xếp sau Vua bóng đá Pele ( 95 bàn sau 114 trận).

Trong hơn 20 năm gắn bó với trái bóng tròn, Romario đã nếm đủ vị ngọt bùi cay đắng của một cầu thủ chuyên nghiệp. Anh nổi tiếng với những pha đi bóng xuất thần và những bàn thắng đẹp, nhưng cũng nổi đình đám bởi những scandal ngoài sân cỏ. Romario hiện là cha của 5 đứa trẻ, và có tới 4 cô vợ. Hiện tại, anh chỉ muốn được ở nhà chăm sóc cô vợ Isabela đang mang bầu đứa trẻ thứ hai.

Tôi lúc nào cũng sẵn sàng học hỏi, nhưng không phải lúc nào tôi cũng thích nghe người khác dạy mình.
"W. Churchill"
Đăng nhập để trả lời
0