📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tùy Bút - Tản Văn

Chữ nghĩa bề bề

4 trả lời, 2.602 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt;Edited by: <b>Thanhvien</b> -- <b>4/11/2004 6:44:26 AM </b> &gt;>
Bài nầy được "chôm" từ TVVN online.

*****************************************************


CHỮ NGHĨA BỀ BỀ


Đặng Trần Huân



Thấm thoắt mục này mỗi tháng chỉ có một bài ngăn ngắn mà đã quá nửa năm rồi, trèo sang cả thiên niên kỷ lộn (vì năm 2001 mới bắt đầu). Nói ngọt, nói nhẹ người tán thành nhiều mà người giận cũng không phải ít. Trong số thư độc giả cũng có nhiều vấn đề được nêu lên, người viết xin có đôi lời trần tình.

Có vị nói viết như mục này không phải là phê bình văn học. Xin thưa ngay mấy tiếng phê bình văn học nghe đao to búa lớn quá kẻ này không đủ khả năng và không dám nhận.

Mục đích của người viết - nằm ở một nơi xa thị tứ, thiếu tài liệu tham khảo - chỉ tình cờ đọc được cuốn sách hoặc xem được cuốn phim, nghe được bài hát nào thấy là lạ thì phát biểu ý kiến về tác phẩm đó, ý kiến của một đọc giả, một khán thính giả có trình độ kiến thức trung bình như đa số. Vì vậy có khi chỉ nói lên sự thích thú hay nỗi bực mình chủ quan với cả tác phẩm, có khi chỉ là góp ý cho một câu, một đoạn mà thấy cần phải nêu lên. Cũng không câu nệ là tác phẩm mới ra hay đã cũ mèm. Không cứ mới mà hay và cũ như Kiều mà dở. Cũng như bây giờ mới được đọc thì cũ người mới ta, coi xong phải xuýt xoa hay nhăn nhó. Cũng như không phải một ca khúc được chính tác giả trình bày thì hay hơn người khác. Có khi tác giả chỉ giỏi về sáng tác mà không có giọng ca trời cho. Mà người đi xem vì ái mộ nhà soạn nhạc nên muốn thấy cái dung nhan mùa hạ.
Chính khi nói với vài bạn trong giới văn nghệ về mục này có bạn thân chỉ ở cách vài dặm đã cười hề hề và nói:
- Ông viết như thế thì bố ai dám gửi sách, gửi cho ông để ông mang ra diễu hả?

Cũng có nhiều nhận xét mà độc giả cho là sai, quá đáng hay không đồng ý, chúng tôi sẽ viết lại, nói lại để nhiều người đóng góp. Vừa để tìm ra chân lý, vừa phục thiện và được học thêm.

ĐẶNG TRẦN HUÂN
(Trích báo đầu năm 2000)
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Cũng Đủ Lãng Quên Đời

Người Việt có câu ca dao: "Lời nói chẳng mất tiền mua. Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau". Vì thế đi đâu đâu, mọi cơ hội giỗ Tết, cưới hỏi, tiệc tùng, tiếp tân, mừng con đỗ đạt, ra mắt sách, khai trương ta nghe tràn đầy những lời chúc tụng tốt đẹp, văn hoa, những lời giới thiệu, những câu tâng bốc, khen ngợi nhau ngọt hơn mật ong.

Trong lãnh vực văn chương thì những lời khen ngợi còn lên cao độ, siêu đẳng vì các nghệ sĩ là gì, nếu chẳng phải là những chuyên viên làm cho mọi sự đời thêm hồng, thêm thắm. Đây không phải là chuyện mới lạ mà là chuyện từ ngàn xưa. Còn nhớ khi văn Nôm bắt đầu có, và truyện Kiều của Nguyễn Du ra đời thì đã có biết bao nhà văn nhà báo ca tụng tác phẩm này. Số sách báo ca tụng Kiều chắc dầy gấp mấy chục lần chính cuốn Kiều. Tuy cũng có người chê Kiều nhưng chỉ chê một khía cạnh nào đó như trường hợp học giả Huỳnh Thúc Kháng.

Điển hình về những lời ca tụng Kiều chắc phải là nhà văn Phạm Quỳnh. Khi đó, ngày 8. 9. 1924, Phạm Quỳnh tổ chức một cuộc nói chuyện về truyện Kiều ở trụ sở Hội Khai Trí Tiến Đức, Hà Nội với hai diễn giả làTrần Trọng Kim và chính ông. Phạm Quỳnh ca tụng Kiều với một giọng say sưa, xuất thần như trong mộng. Ông nói Kiều là một áng văn hay nhất thế giới, không nói đâu xa chỉ so sánh với văn học hai nước trực tiếp ảnh hưởng tới Việt Nam hồi đó là Pháp và Trung Hoa thì Kiều cũng xếp hạng trên cơ rồi.
Ông thao thao ca tụng Kiều vừa là kinh vừa là truyện vừa là thánh thư Phúc âm của dân tộc là quốc hồn quốc túy. Phạm Quỳnh nói như hát rằng:
"Thử hỏi cổ kim đông tây đã có một áng văn chương nào cảm người được sâu và được rộng như thế chưa?. . ." Than ôi mỗi lần nghĩ tới mà không khỏi rùng mình, chột dạ sửng sốt rụng rời, tưởng như hòn ngọc trên tay bỗng rơi xuống vỡ tan tành. Rồi mới tỉnh ra sực nhớ đến mấy câu Kiều, vỗ bàn đập ghế, gõ nhịp rung đùi, lớn giọng cao ngâm: "Lơ thơ tơ liễu . . ." bỗng thấy trong lòng vui vẻ, trong dạ vững vàng, muốn nhảy muốn múa, muốn reo muốn hò, muốn ngạo nghễ với non sông mà tự phụ với người đời: truyện Kiều còn, nước ta còn . . .
Nghe đã thấy mê ly ngây ngất chưa?

Những lời văn của Phạm Quỳnh có ảnh hưởng chăng tới các thế hệ phê bình đi sau không? Hay là những linh hồn lớn gập nhau, các nhà phê bình giới thiệu những thế hệ sau cũng luôn luôn có những lời mật ngọt.

Hồi sinh thời y sĩ đại tá Nguyễn Tuấn Phát, ông có viết những bài phiếm về y học trên vài tờ báo Sài Gòn. Ông cũng vẽ và làm thơ. Ông viết có duyên, ngoài đời ông rất vui vẻ, cởi mở, có cảm tình với anh chị em nghệ sĩ. Có lần người viết bài này tặng sách ông đề nghị đề tặng: "Tặng anh Nguyễn Tuấn Phát, người nghệ sĩ lạc đường vào y học", ông dẫy nảy lên đáp "Đừng đề thế, mày! Chẳng gì nghề bác sĩ cũng nuôi sống mình, không nên bội bạc”.
Khi xuất bản cuốn sách đầu tay và duy nhất "Một Vài Cảm Nghĩ Của Người Thầy Thuốc", Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát được đón nhận với nhiều nồng nhiệt, và những nhà văn quen biết ông cũng dành cho ông những cảm tình đặc biệt. Một phần cũng nhờ các đơn vị cảm mến ông y sĩ trưởng của ngành, cuốn sách được tái bản ngay vài tháng sau đó. Một nhà văn có tiếng đã viết bài giới thiệu sách có một câu đại ý là Lâm Ngữ Đường viết "Một Nghệ Thuật Sống" thật là xuất sắc nhưng so với Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát thì còn kém xa. Vị bác sĩ nghệ sĩ đọc lời phê bình, má hơi ửng đỏ.

Trên Sài Gòn Nhỏ số ra ngày 17. 1. 1997, Tố Mai kể rằng nhà thơ Hà Thượng Nhân viết bài khen bài "Bát Phở Đầu Đời" của Nguyễn Tử Đóa như sau:
"Chỉ với bài thơ nhỏ tôi dám nghĩ rằng Nguyễn Tử Đóa có cái phong cách của Bạch Cư Dị lẫn Đỗ Phủ. Bạch trong sáng và Đỗ thẳm sâu."

"Trong Đêm Giữa Ban Ngày", Vũ Thư Hiên kể Kim Lân có một truyện ngắn nhan đề Thằng Câm và so sánh Kim Lân với văn hào Nga Tourgueniev cho rằng nhà văn Nga này khó vượt nổi được Kim Lân.

Lúc thanh niên, Kim Lân có dịp tới thăm tôi vì quê anh ở Phù Lưu (Bắc Ninh) cách làng tôi chỉ một cánh đồng, và anh em vẫn thường gọi là Tài Rỏm (tên thật Nguyễn Văn Tài) vì anh ốm yếu gày gò, lúc đó mới bắt đâu tập viết. Nếu tôi không lầm thì hình như Kim Lân chỉ có một tác phẩm khác là Vợ Nhặt. Bây giờ mới thấy Vũ Thư Hiên ca tụng Kim Lân với truyện Thằng Câm viết nhưng chưa bao giờ đăng báo, còn ở trong vòng bí mật.

Khi viết lời giới thiệu cho tập truyện "Tiểu Thư Con Gái Nhà Ai?" của Hoàng Dược Thảo, Trần Bích San cũng liên hệ tới nhà văn Nga Chekhov và viết:
"Anton Chekhov để lại cho nhân loại những truyện ngắn hoàn hảo đến độ một ngự sử văn học danh tiếng Tây phương cho là không ai có thể thay đổi một chữ, dù chỉ một chữ thôi, trong các đoản thiên của ông."
Khi đọc đoạn văn này, có người bạn ngồi bên cạnh tôi đã nói đùa:
- Thay đổi luôn cả câu hay bỏ luôn cả truyện cũng được. Có chết ai đâu?

Thói quen dẫn chứng quá nhiều bằng văn học ngoại quốc, ít tự tin vào văn tài của mình, mà thích dựa vào bóng một cây cổ thụ sẵn có khiến người ta nhớ đến những đoạn văn của nhà phê bình Trương Tửu viết trong cuốn Kinh Thi Việt Nam từ hơn năm chục năm trước.

Đại ý Trương Tửu thắc mắc sao hồi đó có thể có những con người Việt Nam từ đầu móng chân đến cuối sợi tóc mà lại chỉ đi tìm thú văn chương, thú tinh thần ở những thơ Quan Thư, Cát Đàm, Thảo Trùng, Hàng Lộ của Kinh Thi là một tác phẩm thuần chất Trung Hoa.

Ông cũng dẫn chứng câu Khổng Tử nói Bất học Thi vô dĩ ngôn, không đọc Kinh Thi thì không có chuyện gì mà nói và cho rằng câu đó chỉ đúng với đồng bào Tàu của ông Khổng Tử chứ đâu đúng với chúng ta.
Từ xưa hàng chục triệu người Việt không hề biết tới Kinh Thi trong ngũ kinh Trung Quốc thì họ không nói được hay sao? Có hay không có Kinh Thi với người Việt có hề chi?

Khi không muốn dẫn chứng bằng văn phẩm ngoại quốc để so sánh, một vài tác giả có tinh thần độc lập đôi khi lại chủ quan thổi phồng giá trị tác phẩm.

Bài thơ Một Thế Kỷ Mấy Vần Thơ của Truy Phong đăng trên tuần báo Tiến Thủ được Sơn Nam nhận xét là “một trong những bài thơ đẹp nhất của thế kỷ hai mươi”.

Xuân Vũ khi giới thiệu cuốn Qua Các Nẻo Đường Quê của Xuân Tước xuất bản năm 1994, ca tụng truyện ngắn Con Rắn Vú Nàng như sau:

Trước nhất đây là một truyện ngắn kiệt xuất có thể xếp vào loại truyện hay nhất Việt Nam. Nếu có nhà xuất bản nào in một tập truyện chọn lọc Việt Nam thì xin hãy đọc truyện này . . .

Theo tôi, nói về cuộc sống nông thôn ở Nam Kỳ chưa có một truyện ngắn nào hay bằng truyện "Con Rắn Vú Nàng" của Xuân Tước tính cho đến nay. Nó có thể xếp ngang với bất cứ truyện ngắn hay nào của thế giới . . . Về bố cục thì thật là tài tình. Nó chuyển biến nhanh chóng, khoa học và đưa tình cảm của người từ thấp lên cao chót vót, rồi đổ lộn nhào một cách khoái trá, bất ngờ nhưng rất lô gích.

Có những áng văn phải hay như thế nào thì mới có người la lên mà ca tụng tận tình như thế chứ mà lại bị chìm lấp trong bóng tối thật là phí uổng. Có nên lập lại đề nghị của nhà văn Xuân Vũ rằng có nhà xuất bản nào in tuyển tập hãy nhớ đừng quên những áng văn này. Ít nhất để chúng trình diện với độc giả xem độc giả có đồng ý là những áng văn được ca tụng vào hàng quốc tế không, có làm cho văn học Việt Nam nở mày nở mặt hay không? Nếu không thì cũng được biết chân giá trị của tác phẩm theo khiếu thưởng ngoạn của riêng mình và lần sau không nghe lời giới thiệu của các vị đó nữa. Chúng ta đã có hàng chục tuyển tập xuất bản ở hải ngoại rồi mà các nhà sưu tầm, phụ trách tuyển chọn đã bỏ quên những tác phẩm lớn kể trên hay là đã tuyển chọn theo cảm hứng, theo sự thân quen, sự thù tạc hàng ngày.

Trong bài phỏng vấn luật sư Nguyễn Văn Chức đăng trên báo Con Ong Texas ngày 10. 10. 97, ông Chức cho biết ông nhận được năm cuốn Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên của những người đề nghị ông viết bài ca tụng. Trong số những người đó có cả những bậc đàn anh có nhận thức cao về văn hóa và chính trị đã ca ngợi Đêm Giữa Ban Ngày là một kiệt tác của thế kỷ thứ hai mươi. Những lờiø tâng bốc ngọt như mía đó hẳn ẩn dụ một ý đồ chính trị, đón gió trở cờ.

Những lời khen quá đáng, cũng có khi rất thành thực vì quá chủ quan, quá hài lòng về những điều mình thấy, mình đọc và vì cảm tình đã lấn át lý trí, lấn át sự vô tư?

Trong làng báo Nam Cali cũng có một hiện tượng một tờ tuần báo sinh sau nhưng đã nổi lên và đứng vững là tờ Saigon Post. Số đầu tiên ra mắt cuối năm 1995, nhờ kỹ thuật ấn loát tờ báo trông đẹp mắt, rực rỡ nhất là cái bìa, tiếc rằng tấm bìa in công phu chỉ là một tờ quảng cáo, với cái tên báo nhỏ xíu.

Thường thường bìa một tờ báo tuần giá trị phải là một bức ảnh, một họa phẩm, hay đơn giản là mục lục nhưng không để cho quảng cáo lấn lướt. Nhưng tiếc thay quảng cáo lại là lẽ sống còn của nhiều tờ báo.

Ở xứ Mỹ này ngay đối với những tờ báo thâm niên nhiều khi quảng cáo vẫn nắm sự sinh tử của chúng, trừ khi được tài trợ bởi những thế lực giấu tên. Tờ tuần báo ảnh lâu đời của nước Mỹ (hình như Saturday Evening Post) đình bản chỉ vì bị truyền hình tranh mất quảng cáo sau cả trăm năm làm mưa gió trên thị trường báo chí. Tờ Life cũng ngắc ngoải phải ra khổ nhỏ hơn, xuất bản khi trồi khi sụt vì lý do như thế.

Tờ báo in đẹp như Saigon Post đứng vững được hơn một năm phải là lý do để cho anh em tòa soạn hài lòng. Trong bài xông đất đăng số Xuân Đinh Sửu nhà văn Nhật Thịnh và nhà thơ Nguyên Phương đã tỏ ra phấn khởi khi so sánh Saigon Post với tời báo ảnh Paris Match ở tận Paris, Pháp quốc.

Paris Match có cả trăm tuổi thọ vẫn cải tiến liên miên để mong tiến thủ. Có thời tờ báo này đã đổi mới bằng cách thay vì khuôn khổ hình chữ nhật thì báo in vuông như hòn gạch bông cho lạ mắt, mục lục thì đảo lộn thông lệ thay vì in ở cuối hay đầu thì cho vào giữa các trang báo cho độc giả mất thì giờ lần mò cho vui. Loanh quanh rồi cuối cùng trở về dạng bình thường thôi. Và tờ báo đứng vững, có uy tín quốc tế chính vì nội dung của nó hơn là báo đẹp và đổi mới lố lăng, lập dị.
Khi nghe các bạn so sánh báo nhà với Paris Match tôi cũng hơi chột dạ, hơi ngượng vì mình cũng có chân trong ban biên tập mà không đóng góp đựơc là bao nhưng vẫn phải chia sẻ hoài bão của các bạn mình dù thấy rằng so sánh hơi quá đáng.

oOo

Việc giới thiệu sách nhiều khi cũng đưa đẩy người viết say sưa, xa rời thực tế. Một trường hợp điển hình là nhà văn Hồ Trường An khi viết lời bạt cho tác phẩm đầu tay của một nhà văn nữ khoan khoái quá, ca tụng tác phẩm chưa đủ còn ca tụng cả nhan sắc và duyên dáng của tác giả cuốn sách mặc dầu ông chưa gập mà chỉ nhìn qua ảnh. Ông viết:
Ở bìa sau quyển sách có in tấm ảnh màu của chị . . . Có lẽ nếu đem thơ của cụ Tiên Điền Nguyễn Du khi cụ mô tả Thúy Vân ở hai câu:

Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang


thì đúng diện mạo chị . . . ngay. Khuôn mặt chị tròn nét mày hơi dầy và đậm nhưng tỉa gọt rất thanh nhã. Thúy Vân có thêm Hoa cười ngọc thốt đoan trang. Trên tấm ảnh kia, nụ cười của tác giả . . . tươi ơi là tươi, như hoa hồng buổi sáng tinh mơ với cặp môi rõ nét và thanh tú được tô hồng đào ngọt lịm. Nụ cười rất tự nhiên không chút điệu đà, không chút nắn nót để phô bày đôi hàm răng ngọc trai khít khao và đều đặn. Đó là hoa cười . . .

Còn tới mười hai giòng nữa tả giọng nói và mầu áo của tác giả nhưng xin thôi không trích nữa. Chẳng trách gì người thưởng ngoạn khi gập áng văn hay, hợp gu mình thì ngất ngư khoan khoái như ca dao: Chim khôn thì khôn cả lông. Khôn cả cái lồng người xách cũng khôn.

oooOooo


Trên lãnh vực văn thơ báo chí thì vậy, nhưng trên lãnh vực ca nhạc còn du dương gấp trăm lần vì ca nhạc bản chất vốn đã du dương. Chỉ xin cử một đoạn - coi như lạc lõng - để mời quý vị thưởng lãm thêm. Đoạn này trích trong bài viết về ca sĩ Bích Chiêu của Vũ Xuân Hùng khi nàng tới thăm Cali, đăng trên nguyệt san Hồn Việt số158, tháng 11. 1996:

Phải nhìn và nghe Bích Chiêu hát mới thấy hết được chất quyến rũ, sinh động của nàng. Ở Bích Chiêu lúc đó là nam châm, là giòng điện cao thế, là cái ngọt của đường phèn. Hát Nỗi Lòng thì chẳng ai có thể ngậm ngùi, chua sót như Bích Chiêu. Hát Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa thì chưa tiếng ca nào ăn đứt được cái đằm thắm, nũng nịu, tình tứ của Bích Chiêu. Ca Gái Xuân thì chao ôi, lẳng tơ tình ái đến độ ta muốn ôm chằm mà cắn một cái cho đã cái hàm răng.

Sang đến nhạc twist, Bích Chiêu đốt lửa chuốc rượu vào lòng khách nghe bằng lối trình diễn của loài trăn, loài cọp. Nàng hát đâu ra đó. Điệu nào cũng hay, nhạc nào cùng tuyệt.

Quý vị hết bàng hoàng chưa?

Sống tha hương nơi xứ lạ, ngày đêm lăn lóc với nhiều công việc hai ba ca không ngừng nghỉ để có tiền trả tiền nhà, tiền xe, tiền bệnh viện, thì giờ nghỉ ngơi hạn hẹp có khi cả ngày chỉ có vài chục phút không có lúc nào rảnh để đọc sách, thưởng văn, không có thì giờ đi phòng trà ca nhạc thì cứ nghe kể lại cũng đủ lâng lâng, thả hồn lên tận Thiên Thai rồi.

Tiết kiệm gì một lời khen, không mất lòng ai cả. Người được khen, cũng có khi biết là hơi quá nhưng vui mừng trong bụng, người khen viết xong cũng thở phào khoan khoái. Và người đọc thì cũng được vài phút mê ly, lâng lâng như đang mừng đám cưới, như đang uống rượu trước giờ hợp cẩn và nói như mấy chữ trong thơ Đinh Hùng mà Mai Thảo đã mượn làm tên cho tiểu thuyết của mình: Cũng Đủ Lãng Quên Đời.

Tháng 1. 1998
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Câu Chuyện Từ Điển Việt Nam


Bất cứ nước nào đã tự hào là có một nền văn hóa là phải có một cuốn tự điển để chuẩn xác cho ngôn ngữ của quốc gia mình hầu tránh sự dùng chữ bừa bãi , lố lăng hay lai căng, vay mượn. Chữ quốc ngữ sau khi thành hình không lâu đã có ngay một cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên của Paulus Huỳnh Tịnh Của, cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị xuất bản cuối thế kỷ 19.

Dựa theo cuốn tự điển đầu tiên này nhiều tự điển và từ điển Việt Nam khác được các tác giả sau này biên soạn. Trước 1975, hai cuốn thông dụng trong Nam là Việt Nam Từ Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức và Việt Nam Từ Điển của Lê Văn Đức. Phía nhà cầm quyền cộng sản sau 1946 không biên soạn tự điển tiếng Việt ngay. Cho tới khi cộng sản chiếm hoàn toàn miền Nam Việt Nam năm 1975 cuốn từ điển thông dụng của họ chỉ có Từ Điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên. Bộ Bách Khoa Tự Điển Việt Nam mà Hà Nội quảng cáo từ lâu chưa biết đến bao giờ hoàn tất.

Có nhiều tác giả thường khen Hà Nội có những công trình khảo cứu văn học công phu hơn Việt Nam Cộng Hòa vì nhà cầm quyền cộng sản chịu bỏ ra những ngân quỹ lớn cho việc biên khảo và huy động nhiều nhân lực. Điều này có thể đúng với một số tác phẩm nhưng không đúng với tất cả vì các nhà biên khảo Hà Nội vô tình hay cố ý còn nặng về tuyên truyền, và phải hướng mọi nghiên cứu của họ theo đường lối chỉ thị của đảng cộng sản nên trở thành thiếu vô tư.

Ví dụ đơn giản là cuốn biên khảo Người Anh Hùng Làng Dóng của Cao Huy Đỉnh nói về huyền thoại thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương) cả hàng nghìn năm trước mà cũng xen kẽ vào những đoạn tuyên truyền chống Mỹ cứu nước khiến ta có cảm tưởng như ăn cà rem mà lại thêm gia vị . . . mắm tôm.

oOo

Trong cuốn Từ Và Vốn Từ Tiếng Việt do nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội phát hành năm 1986, tác giả Nguyễn Văn Tu viết rằng từ trước tới nay Việt Nam chỉ mới có 6 cuốn từ điển tiếng Việt mà ông gọi là từ điển một ngôn ngữ. Tác giả liệt kê những từ điển có trước 1945 như cuốn từ điển của Huình Tịnh Của, Việt Nam Tự Điển của Hộâi Khai Trí Tiến Đức tới Từ Điển Học Sinh của nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội và kể thêm một cuốn thời Việt Nam Cộng Hòa của Đào Văn Tập xuất bản tại Sài Gòn.

Sau đó, cũng tác giả Nguyễn Văn Tu cho nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghịệp, Hà Nội in cuốn Các Nhóm Từ Đồng Nghĩa Trong Tiếng Việt, khi liệt kê các từ điển Việt Nam có ghi thêm Từ Điển Tiếng Việt Phổ Thông của Viện Ngôn Ngữ Học nhưng cả hai cuốn sách của ông Tu đã dẫn đều không hề nói tới cuốn từ điển của Lê Văn Đức .

Việt Nam Từ Điển của Lê Văn Đức được biên soạn trong mười năm với sự hiệu đính của nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ, ấn hành trong ba năm và tới năm 1970, nhà xuất bản Khai Trí mới cho ra mắt tại Sài Gòn. Bộ từ điển gồm hai cuốn khổ lớn, chữ nhỏ dày tổng cộng 2515 trang có đầy đủ phần định nghĩa thông thường và các phần nhân danh, địa danh, tục ngữ, thành ngữ, điển tích . . .

Chẳng lẽ Nguyễn Văn Tu là một giáo sư nhiều năm, đã từng viết sách về ngôn ngữ mà không biết tới bộ từ điển đồ sộ Lê Văn Đức. Thực ra thì ông Tu biết nhưng hoặc là theo chỉ thị hoă.c là tự ý ông muốn dìm những tác phẩm của miền Nam chăng vì cho rằng cái gì xuất hiện ở miền Nam đều vô giá trị.

Điều nhận xét này không võ đoán mà chỉ là nhận xét về đường lối của cộng Việt xưa nay vẫn cố tình lờ đi những công trình của miền Nam.

Ví dụ về truyền hình, Việt cộng phổ biến và giảng dạy rằng truyền hình Việt Nam chỉ có từ năm 1970 là năm Hà Nội bắt đầu có đài, một tuần phát hình hai ba lần, mỗi lần vài chục phút. Trong khi tại Việt Nam Cộng Hòa đã có truyền hình từ năm 1966 khi đài phát đặt trên một phi cơ lượn trên không phận Sài Gòn trong thời gian chờ đài dưới đất đang xây cất dở đang.

Nói tới lịch sử điện ảnh thì cộng sản chỉ kể từ những phim đèn chiếu (phim tranh vẽ chỉ có hình, không cử động) sau 1946 khi họ chạy vào rừng, rồi tới phim phóng sự vài chục phút Nước Về Bắc Hưng Hải mà không nói gì tới những phim Việt Nam vùng quốc gia như Cánh Đồng Ma, Trận Phong Ba hay Kiếp Hoa.

Sách viết về lịch sử mỹ thuật hay âm nhạc chẳng hạn, họ sẵn sàng bôi tên những họa sĩ, những nhạc sĩ có tên tuổi từ trước 1945 nếu những nghệ sĩ tài danh đó đã ở lại hoặc trở về vùng quốc gia không theo họ, cùng ở với họ trên rừng già Việt Bắc.

oooOooo

Trở lại chuyện tự điển, sau hiệp định Geneva 1954, cộng sản chính thức trở về tiếp thu Hà Nội cũng chưa có thì giờ lo chuyện này. Tới sau ngày 30. 4. 75 chiếm được Sài Gòn cán bộ văn hóa Hà Nội vào Sài Gòn còn ào ào vơ vét các loại từ điển song ngữ Anh - Việt, Pháp - Việt, Hán - Việt mà Hà Nội không có.

Về tiếng Việt mãi tới năm 1963, Hà Nội mới soạn xong cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên, rồi tới năm 1967 mới phát hành. Cuốn Từ Điển Tiếng Việt này do Văn Tân chủ biên với thành phần biên soạn gồm 13 người trong đó có những nhà trí thức, học giả quen tên từ lâu như Nguyễn Tấn Gi Trọng, Ngụy Như Kontum, Trần Văn Giáp, Hoa Bằng . . .

Kể từ khi Việt cộng rút vào rừng thì ngôn ngữ Việt tại miền Bắc đã có nhiều tiếng mới rất xa lạ với tiếng Việt bình thường. Lấy ví dụ ngay trong cuốn Từ Điển Tiếng Việt của Văn Tân ta đã bắt gặp những chữ lạ tai có nghĩa khác hẳn nghĩa thông thường mà người Việt đã dùng trước khi cộng sản Việt ra công khai năm 1945. Xin đan cử vài ví dụ:

- lô gích: hợp với luận lý.
- quá độ: thời gian chuyển tiếp giữa hai thời kỳ.
- hồ hởi: cởi mở, vui vẻ, phấn khởi.
- đường kính: thứ đường ăn đã tinh chế thành tinh thể màu trắng.
- lái xe: người điều khiển tay lái cho xe ô tô chạy. ( dùng động từ làm danh từ )
- sự cố: nguyên nhân sinh ra việc biến .
- công nghiệp: phương thức dùng máy móc biến hóa nguyên liệu thành vật dụng hoặc thành công cụ.

Có lẽ vì những ngôn ngữ mới chế, ép buộc ấy ăn sâu vào tim óc các soạn giả tự điển, nên nhiều khi tiếng Việt trở nên rất ngô nghê.

Trong Từ Điển Tiếng Việt (Văn Tân) nhiều tiếng Việt gốc Hán đã Việt hóa cho ngôn ngữ thêm phong phú thì các tác giả tự điển lại cho là lộn xộn và chủ trương loại bỏ nhiều từ thông dụng. Về điểm này các tác giả viết trong Lời Nói Đầu: “Cái hiện tượng thiếu ngăn nắp trong tiếng Việt kể ra thì còn nhiều“. Cũng trong bài này, khi giải thích cách xếp đặt từ theo thứ tự nào, họ viết: Về trật tự A B C chúng tôi theo đúng trật tự của vần chữ quốc ngữ Việt.

Ngôn ngữ của một dân tộc có phải là một cái tủ áo đâu mà gọi là một ngôn ngữ thiếu ngăn nắp. Và khi sắp xếp chữ theo vần A B C sao không gọi là theo thứ tự mà lại dùng hai chữ trật tự như khi sắp xếp ngôi vị các đảng viên trong Bộ Chính Trị, hay hô hào trật tự trong một đám biểu tình tiền chế để hoan hô lãnh tụ. Họ hô hào làm cho tiếng Việt trong sáng nhưng chính những người làm tự điển lại làm mù mờ và nghèo nàn thêm tiếng Việt.

oooOooo

Cho tới trước năm 1967, ở trong Nam và có thể cả ngoài Bắc khi cần kê cứu tiếng Việt vẫn phải dùng tạm cuốn Việt Nam Tự Điển do Hội Khai Trí Tiến Đức (Ban Văn Học) Hà Nội biên soạn và nhà in Trung Bắc Tân Văn in năm 1931. Cuốn này dày khoảng 700 trang, được tái bản nhiều lần và được dùng rộng rãi vì cuốn từ điển Huynh Tịnh Của thì quá cổ cả về định nghĩa và cách viết nên chỉ còn dùng để nghiên cứu mà thôi.

Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức còn thiếu sót nhiều (Ví dụ chữ sen chỉ có định nghĩa là một loài cây dưới nước mà thiếu định nghĩa thông thường nữa là cô giúp việc trong gia đình) nên miền Bắc năm 1967 có Từ Điển Tiếng Việt (Văn Tân) và miền Nam năm 1970 có Việt Nam Từ Điển của Lê Văn Đức thay thế.

Viện Ngôn Ngữ Học của Hà Nội xúc tiến việc soạn thảo một cuốn tự điển Việt Nam mới, và tới năm 1988 nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội in xong tại thành phố Hồ Chí Minh với tên là Từ Điển Tiếng Việt. Sách dày 1206 trang do Hoàng Phê chủ biên. Theo lời giới thiệu ở đầu sách Từ Điển Tiếng Việt là một cuốn từ điển đầu tiên của Việt Nam do một tập thể cán bộ ngôn ngữ biên soạn. Tập thể này gồm 17 người so với cuốn Từ Điển Tiếng Việt (Văn Tân) thì tập thể của Từ Điển Tiếng Việt (Hoàng Phê) đông hơn tới bốn người nhưng không có những học giả quen tên lâu đời như trường hợp từ điển Văn Tân mà toàn là những tên lạ hoắc có thể là những đảng viên được cử vào làm thành viên của Viện Ngôn Ngữ Học.

Trong lá thư đề ngày 7. 3. 1987 in trên đầu sách, thủ tướng Phạm Văn Đồng khen ngợi bộ biên tập, tán dương cuốn sách này là chuẩn hóa tiếng Việt và giữ gìn sự trong sáng cho tiếng Việt.

Cho tới nay từ điển Hoàng Phê đã được tái bản nhiều lần và cuốn mới nhất chúng tôi được thấy là ấn bản 1996. Khi biên sọan Từ Điển Tiếng Việt (Hoàng Phê), các tác giả đã tham chiếu các từ điển trong Nam, ngoài Bắc nên có một số ưu điểm và mới mẻ hơn nếu so với Từ Điển Tiếng Việt (Văn Tân) hoặc Việt Nam Từ Điển (Lê Văn Đức).

So với cuốn Văn Tân, từ điển Hoàng Phê có nhiều từ hơn. Chẳng hạn hai từ thanh nhạc và lâm sàng là hai từ mà báo chí cộng sản thường dùng, từ điển Hoàng Phê có giải nghĩa nhưng từ điển Văn Tân không có và từ điển Lê Văn Đức cố nhiên không có vì hình như trong Nam không ai dùng hai từ này. Về thành ngữ có từ “ đầu “ đứng trước Văn Tân có 14 thành ngữ như đầu cua tai nheo, đầu trâu mặt ngựa . . . nhưng thiếu đầu Ngô mình Sở. Hoàng Phê có đầy đủ hơn nhưng nếu so với Lê Văn Đứùc thì không thấm vào đâu vì trong Việt Nam Từ Điển (Lê Văn Đức) có tới 44 thành ngữ với từ “ đầu “ đứng trước.

Về cách định nghĩa, trong từ điển Hoàng Phê được biên soạn gọn gàng và chính xác. Tuy nhiên cũng còn nhiều trường hợp cần bàn bạc. Chẳng hạn từ trước tới nay khi định nghĩa chữ “ cây “ các tác giả thường thường theo cách định nghĩa chữ tree hay arbre trong tiếng Anh và tiếng Pháp. Và ghi cây là thực vật có lá, thân mộc, thẳng. Định nghĩa như thế thì hồng, cúc, bầu, bí không được gọi là cây nữa vì chúng làm gì có thân mộc và không thẳng. Trong từ điển Hoàng Phê và Văn Tân cây được định nghĩa là thực vật có thân lá rõ rệt. Vậy nếu tra chữ “tơ hồng“ trong từ điển Hoàng Phê thì giống thực vật không có lá rõ rệt này vẫn được gọi là cây. Theo Lê Văn Đức thì cây là tất cả loài thực vật biết ăn phân, chịu sương nắng, sống, lớn và sinh sản. Định nghĩa như thế thì lại quá dài dòng.

Từ “ly“ trong Nam thay từ “cốc“ ngoài Bắc, từ điển Văn Tân định nghĩa ly là cốc pha lê nhỏ. Từ điển Hoàng Phê định nghĩa là cốc nhỏ để uống rượu. Thực ra cốc và ly chỉ là hai tiếng của hai miền Nam và Bắc chỉ chung một đồ dùng, chứ cốc và ly không hề khác nhau như mèo và hổ. Trong trường hợp này ở từ ly có thể ghi “xem từ: cốc“ và khi ở từ cốc sẽ mô tả rõ ràng và chính xác hơn tránh rườm rà mà làm sai nghĩa.

Văn Tân giảng là cốc pha lê nhỏ, Hoàng Phê thêm cốc dùng để uống rượu. Vậy thì những cái cốc làm bằng nhôm, bằng chất dẻo, bằng thủy tinh và mang ra uống nước cam, nước trà mà không uống rượu thì không được gọi là “ly“ hay sao?

Về chính tả, tự điển Hoàng Phê viết li với chữ I ngắn và có giải thích là sở dĩ họ dùng I ngắn là tuân hành quyết định ngày 5. 4. 1984 của Bộ Giáo Dục. Cái kiểu ra sắc lệnh bắt phải viết thế này thế nọ là một lề thói quen dùng của các chế độ cộng sản. Tuy nhiên có lẽ thấy cách dùng I ngắn nó ngô nghê quá và quyết định của Bộ Giáo Dục cũng phi lý nên nhiều tác giả chẳng nghe theo. Trong cuốn Từ Điển Chính Tả Thông Dụng của Nguyễn Kim Thản do nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội in năm 1985 (sau quyết định của Bộ Giáo Dục) tác giả vẫn viết và khuyên nên viết ly, cụng ly với chữ y dài như dân ta vẫn dùng từ xưa tới nay, và cũng là mặc nhiên không coi quyết định của Bộ ra sao cả.

Một điểm nữa là từ điển Hoàng Phê còn rất nhiều từ nguyên văn Anh, Pháp. Từ volt trong từ điển Hoàng Phê được giữ nguyên tiếng Anh với định nghĩa đơn vị đo hiệu thế, điện thế. Ta cũng thấy nhan nhản những từ nguyên văn ngoại quốc khác rồi giảng nghĩa bằng tiếng Việt như logarithm, clinker, logic v . v . . . xếp thẳng hàng với những chữ Việt trong một cuốn từ điển mang danh là Từ Điển Tiếng Việt. Chúng tôi nghĩ việc định nghĩa những tiếng Anh, Pháp như trên là công việc của từ điển song ngữ Anh Việt và Pháp Việt chứ không phải là công việc của nhóm Hoàng Phê. Trừ những tiếng Anh, Pháp đã Việt hóa và viết theo lối Việt như ô tô, sà bông, xe tăng chẳng hạn, chúng tôi thấy cách làm của từ điển Văn Tân khi ghi theo lối Việt như ga men, lô ga rít, vôn, vôn kế, lô gích, ác mô ni ca . . . rồi giảng nghĩa những từ này bằng tiếng Việt hợp lý hơn. Còn nếu làm như Hoàng Phê là ghi cả clinker, logic . . . sao chẳng ghi luôn shool, book, maison, amour . . . cho từ điển Việt Nam phong phú, nhiều từ nhất thế giới.

Một điểm khác cần bàn cãi là địa vị tiếng Việt miền Nam mà Hoàng Phê có ý muốn loại bỏ. Trong Từ Điển Tiếng Việt ( Hoàng Phê ) có rất ít từ miền Nam. Khi giảng giải những từ vô (vào), mền (chăn), mùng (màn) . . . các nhà soạn từ điển thuộc Viện Ngôn Ngữ Học đã ghi chú là phương ngữ tức là thổ ngữ địa phương. Thiết nghĩ một từ nếu chỉ thông dụng ở một địa bàn thật nhỏ hẹp như cấp tỉnh chẳng hạn thì gọi là thổ ngữ được, nhưng trường hợp những chữ như vô, mùng, mền được đồng bào trên cả một lãnh thổ bát ngát từ Quảng Trị tới Cà Mau đều nói và hiểu mà chỉ coi là thổ ngữ thì người ta có thể ngờ rằng tập thể soạn giả từ điển Hoàng Phê có tinh thần tự tôn, địa phương hay kỳ thị. (Trong từ điển Văn Tân có các từ vô, mùng, mền . . . mà không hề ghi là phương ngữ).

Ngoài Bắc ai ai cũng hiểu những từ vừng, lạc, bít tất, hoa đại . . . mà đồng bào trong Nam chỉ hiểu được khi gọi là mè, đậu phộng, vớ, bông sứ . Tuy vậy trong Việt Nam Từ Điển của một người, Lê Văn Đức, vẫn có những chữ vừng, lạc, tất . . . ghi như là tiếng nói chung của quốc gia. Nếu Lê Văn Đức mà lại ghi vừng, lạc, tất . . . là thổ ngữ thì độc giả miền Bắc sẽ nghĩ sao?

Có thể vì quan niệm phương ngữ của nhóm Hoàng Phê quá khắt khe nên rất nhiều từ thông dụng trong Nam bị coi như không có trong ngôn ngữ Việt. Có thể dẫn chứng là trong Từ Điển Tiếng Việt ấn bản đầu tiên từ la ve mà đồng bào trong Nam thường đọc là la de, dùng thay cho từ bia của miền Bắc đã bị loại bỏ không được nhắc nhở. Sau khi từ điển phát hành, trên báo Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh số 528 - 15. 4. 1988 đã có người nêu lên sự bất công này nên ở ấn bản 1994, 1996 của từ điển Hoàng Phê mà chúng tôi được thấy đã bổ túc sự thiếu sót đó. Tuy nhiên từ la ve và tất cả từ miền Nam thông dụng khác nếu có trong các ấn bản mới của tư điển Hoàng Phê vẫn được các soạn giả giữ vững lập trường coi là chúng là những thổ ngữ chẳng đáng lưu tâm.

Vì người ngoài Bắc không lưu tâm tới thổ ngữ la ve nên khá nhiều nhà văn có tiếng miền Bắc đã phạm lỗi chính tả sơ đẳng khi viết là la de hai từ quá thông dụng này của miền Nam. Vũ Thị Thường trong Câu Chuyện Bắt Đầu Từ Những Đứa Trẻ do nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, Hà Nôi in năm 1977, Dương Thu Hương trong Những Bông Bần Ly cũng do Tác Phẩm Mới xuất bản năm 1981 và bao nhiêu nhà văn miền Bắc khác cho tới bây giờ vẫn viết la de với chữ D như những văn hào lói nghọng.

Nếu từ la ve và những từ miền Nam khác được ghi trong từ điển, trong các sách văn phạm chắc nhiều tác phẩm hay đã tránh được những viên sạn, cắn phải ê răng.

oooOooo
Soạn một cuốn từ điển cho có giá trị không phải là chuyện dễ mà đòi hỏi công sức của nhiều người, thời gian của nhiều năm.

Nhưng vẫn phải làm vì tương lai của một ngôn ngữ luôn luôn phải chuẩn hóa, phải gìn giữ cho trong sáng, chọn lọc thêm từ ngữ cho chính xác và phong phú. Người Pháp, người Mỹ hãnh diện với những Petit Larousse, Petit Littré hay Webster, American Heritage không cồng kềnh như các bộ từ điển bách khoa chỉ khoảng hai ngàn trang mà đầy đủ và chính xác, lẽ nào Việt Nam không có một cuốn từ điển cho đầy đủ dùng được cho toàn quốc, cả ba miền Nam, Trung, Bắc.

Việc đó chúng tôi nghĩ Hà Nội có thể làm được với một Viện Ngôn Ngữ Học trong tay miễn là các soạn giả chịu lắng nghe những ý kiến xây dựng và gạt bỏ sự tự tôn, gạt bỏ tư tưởng địa phương hay kỳ thị.

Tháng 10. 1998
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện Cải Cách Tiếng Việt


Kể từ khi tiếng Việt được hình thành tới nay biết bao nhiêu nhà ngôn ngữ học và không ngôn ngữ học đề xướng thay đổi nó. Nhiều quá kể ra không xuể.

Theo Vũ Ngọc Phan những nhà văn lớp trước muốn cải cách tiếng Việt được nhiều người biết đến có lẽ là Nguyễn Trọng Thuật và Trần Trọng Kim. Với cuốn Việt Văn Tinh Nghĩa xuất bản năm 1928, Nguyễn Trọng Thuật có nhiều nhận xét về tiếng Việt thời đó và đồng thời đề nghị một số cải cách nhưng những cải cách của ông bị văn phạm Pháp ảnh hưởng khá sâu đậm.

Thấy tiếng Pháp có số nhiều, số ít, giống đực, giống cái, ông đề nghị tiếng Việt cũng nên có những chữ câm đằng sau để phân biệt khi nghĩa khác nhau. Ví dụ chữ kinh có nhiều nghĩa khác nhau nên mỗi khi viết chữ kinh theo nghĩa nào phải viết khác nhau cho chính xác như viết kinhs sợ, kynhp đô, kynh Thánh, kinh nghiệm v. v . . Những đề nghị của Nguyễn Trọng Thuật chỉ gây thêm rắc rối phức tạp vì tất cả mọi nghĩa của chữ kinh khi đọc nguyên một câu văn hoặc nó có kèm theo một chữ khác là đủ nghĩa rồi. Do đó cuốn Việt Văn Tinh Nghĩa của ông dù có nhiều nhận xét, phân tách Việt ngữ rất hay nhưng những đề nghị của ông không được mấy người tán thành.

Ngoài Việt Văn Tinh Nghĩa của Nguyễn Trọng Thuật, Trần Trọng Kim soạn cuốn Việt Nam Văn Phạm (chung với Phạm Duy Khiêm và Bùi Kỷ) có những tiến bộ rõ rệt. Ngay trong bài tựa, Trần Trọng Kim đã công bố đường lối minh bạch rằng Việt ngữ là một ngôn ngữ đơn giản, không nên mô phỏng văn phạm Pháp để áp đặt cho tiếng Việt. Nhưng xét về nội dung Việt Nam Văn Phạm cũng phân chia ra danh từ, động từ, tính từ . . . Một ví dụ: ba chữ cái nhà ở, Trần Trọng Kim cho là động từ vì có chữ ở. Thế nhưng khi cuốn Việt Nam Văn Phạm được dịch sang tiếng Pháp với tên Grammaire Annamite do Lê Thăng xuất bản thì cái nhà ở được dịch là maison d ' habitation thì không thể coi là động từ được nữa.

Thành ra chủ trương không theo văn phạm Pháp khi soạn tiếng Việt nhưng vô hình trung các tác giả đã bị ảnh hưởng nặng nề văn phạm Pháp mà không hay. Y như bây giờ có khá nhiều nhà văn, nhà báo hải ngoại mặc dầu biết Việt cộng đã đặt ra những chữ rất ngô nghê, lố bịch nhưng khi viết thì vẫn vô tình bị lôi cuốn và dùng những chữ lố lăng mà cộng sản đã chế ra.

Sau Nguyễn Trọng Thuật và Trần Trọng Kim, nhiều lần vấn đề cải cách ngôn ngữ được đề ra. Cái trở ngại của tiếng Việt là năm dấu và những chữ cái mà vần Pháp ngữ không có trong khi chúng ta đang sống dưới thời thuộc Pháp. Có một dạo ngành bưu điện đã đề nghị và áp dụng thử những chữ Việt mà tiếng Pháp không có như ưng ý, ăn cháo . . . thay bằng uung ý, aan cháo để dùng khi gửi điện tín. Ngành in cũng muốn bỏ năm dấu và thay những tiếng thuần túy Việt bằng chữ cái Pháp nhưng không thực hiện nổi mà vẫn phải dùng con chữ đúc riêng cho tiếng Việt không tinh xảo lắm để chờ tới khi kỹ thuật đúc chữ Việt tinh vi hơn.

Tới nay máy điện toán (computer) được phát minh, các nhu liệu tiếng Việt được sáng chế kịp thời vấn đề sắp chữ không còn nữa. Nhưng tới thư điện tử (e-mail) thì không đọc được hết các loại tiếng Việt từ các nhu liệu ở nhiều vùng khác nhau trên trái đất. Người dùng đành tùy tiện gửi cho nhau với nhu liệu tiếng Anh không dấu. Nhưng cũng có trở ngại. Ví dụ đánh thieu phu dam dang ta có thể lầm đảm đang với dâm đãng. Hoăc khi nhận một thư điện tử có câu: Bac Duong cuoi vo cho chau Hung ngay 7 thang 3 vua qua. Tuy o xa nhung cô chu Duong cung ve du dam cuoi. Người ngoài có thể biết có một người tên Duong mới làm đám cưới cho con nhưng chỉ người trong gia tộc mới hiểu được người anh tên là Đường, người em là Dương và chú rể là Hưng chứ nếu đoán sẽ có thể lộn hai tên Duong và Hưng với Hùng hay húng . . . quế.

Biết khi đề nghị cải cách có thể gặp chống đối nên những người đề xướng phải tự thực hành lối viết của mình để làm gương.

Vào thập niên 1960, khi in tập phiếm luận Chuyện Vô Lý của Lãng Nhân, nhà xuất bản Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn đã áp dụng lối viết các từ kép bỏ dấu nối và viết liền vào nhau như ânái, hạnhphúc, chínhchuyên, giađình. . . Lối viết này mới trông cũng thấy ngồ ngộ nhưng không phải là không có trở ngại. Nếu những từ kép ô mai, phát hành, bác sĩ thú y mà viết liền thành ômai, pháthành, bácsĩ thúy người ta cũng có thể lộn với ôm ai?, phá thành, bác sĩ Thúy. Phải chăng thấy chuyện thí nghiệm này cũng gian nan nên bút ký Chuyện Vô Lý lần đầu chỉ in 160 bản tặng bạn bè và chuyện dính liền cũng rơi vào quên lãng một thời gian khá dài.

Nguyễn Hữu Ngư một mình một chợ đưa ra nhiều thay đổi cách viết trong tiếng Việt như bỏ Y dài thay thế bằng I ngắn, bỏ phụ âm H trong GH, NGH v . v . . . Không ai nghe theo thì ông tự thực hành một mình. Ông bỏ tên Nguyễn Hữu Ngư của cha mẹ đặt để ký biệt hiệu là Nguiễn Ngu Í, Ngê Bá Lí đơn thương độc mã áp dụng lối viết ấy trong các tác phẩm của mình.

Sau 1975 ở hải ngoại cũng có nhiều tác giả đưa ra những cải cách có khi mới, có khi không. Về việc viết I ngắn thay thế Y dài hai nhà biên khảo Lê Hữu Mục và Nguyễn Đình Hòa nêu lại vấn đề này và hỗ trợ nó. Có nhiều người không đồng ý chuyện thay đổi này nhưng có người yểm trợ và người yểm trợ mạnh mẽ nhất là Dương Đức Nhự.

Theo một bài đăng trên tuần báo Sài Gòn Nhỏ, Westminter, CA , số xuân Kỷ Mão của Đỗ Hữu và Diên Nghị (sau đăng lại có sửa chữa trên tạp chí Tinh Hoa, Minneapolis, MN, số tháng 10. 99 với tên Đức Cố & Diên Nghị), hai tác giả cho biết Dương Đức Nhự không những yểm trợ chuyện thay thế Y dài do Lê Hữu Mục và Nguyễn Đình Hòa theo đuổi mà còn đề nghị cả chuyện viết dính liền, bỏ phụ âm H, du nhập chữ cái F, J, W, Z. Ông đề nghị viết ngẫm ngĩ, ngễnh ngãng, gồ gề thay cho ngẫm nghĩ, nghễnh ngãng, gồ ghề; viết zễ zàng, zu dương thay cho dễ dàng, du dương.

Nhà thơ Diên Nghị và Đức Cố hẳn là cũng không tán thành lối cải cách của ông Nhự khi đưa ra thí dụ chép truyện Kiều như sau:

Trăm năm trong kõj người ta
Cữ tài, cữ mệnh qéw là gét nhaw .
Trải kwa một kuộk bể zâu
Những diềw trông thấj mà daudớn lòng
Lạ jì bỉsắc tưfong,
Trời xanh kwen thój má hồng dánh gen.
Kảw thơm lần jở trướk dèn
Fongtình kổlụk kòn trwiền sử xanh . . .

Có thể bị ám ảnh về kiến thức uyên bác của mình, về những điều đã dày công học hỏi và nghiên cứu nên thạc sĩ ngôn ngữ học Dương Đức Nhự thấy cần phải thay đổi một cái gì mà ông cho là mới chăng? Nhưng thực ra những cải cách của giáo sư Nhự tưởng là mới lại không có gì là mới cả. Viết toàn I ngắn thì đã có từ khi Paulus Của viết tên ông là Hùinh Tịnh Của vào cuối thế kỷ thứ 18. Nguyễn Hữu Ngư cũng chỉ làm công việc lặp lại. Còn cộng sản Hà Nội thì quen cách cai trị theo lối độc tài nên đã ra hẳn một pháp lệnh về việc thay đổi I ngắn, Y dài.

Cách viết tiếng Việt với những chữ cái la tinh F, J, W, Z thì ông Hồ đã thực hiên và lần cuối cùng là trong chính di chúc viết tay của ông đã có những chữ nhân zân, fe xã hội chủ nghĩa, fục vụ, Đỗ Fủ . . . Lối viết đó được các đàn em bợ đỡ, điển hình nhất là Nguyễn Kim Thản, viện trưởng Viện Ngôn Ngữ Học đã tâng bốc như sau:

Ngay từ khi viết Đường Kách Mệnh người đã dùng F thay Ph, Z thay D và G , dùng K thay cho C, bỏ H trong GH và NGH. Những người làm công tác ngôn ngữ học ở nước ta ngày nay vô cùng khâm phục những sự sửa đổi nói trên của Bác. Thiên tài và sự vĩ đại của Bác biểu hiện ở từng việc làm, từng chủ trương cụ thể như vậy đó . . . (Tiếng Việt Của Chúng Ta, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1983, tr. 40).

Di chúc viết tay của ông Hồ với cách viết lố lăng như trên đã được chụp lại in trong báo Nhân Dân sau khi ông chết và năm 1976 cũng bút tích ấy trong cuốn Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Tiểu Sử Và Sự Nghiệp do Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Trung Ương biên soạn. Sự thay đổi chữ nghĩa đó sau này đã được ban hành bằng một pháp lệnh của chính quyền và được thực hiện trong Từ Điển Tiếng Việt (Hoàng Phê) từ ấn bản 1988 và trong Đại Từ Điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý) do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo xuất bản năm 1998.

Cách viết dính liền những từ kép thì cũng là lập lại điều mà Nam Chi Tùng Thư đã làm từ năm 1962 mà không ai theo.

Sống ở Mỹ ảnh hưởng lối viết cắt xén chữ nghĩa trong ngôn ngữ nên đã có khá nhiều người lên tiếng hoặc tự cải cách viết tiếng Việt theo một lối riêng mà mạnh mẽ nhất là viết tắt. Nhà thơ Du Tử Lê sau những sáng kiến về thơ gạch chéo cũng đã cho in hẳn ngoài bìa sách của ông cái tên với chữ thật lớn K. Khúc Của Lê mà không viết ca khúc như thường lệ.

Báo Văn Nghệ Tiền Phong đã từng lên tiếng châm biếm lối viết tắt này khi đưa ra những “dự phóng“ (đao to búa lớn cho nó oai):

K nhac, H hong, C xich
Chan minh nhung lam b b
Lai cam bo đuoc ma d chan nguoi

Những người ủng hộ lối viết tắt lý luận rằng người Mỹ viết Toys R Us (chữ R viết ngược), BBQ, U R here, Open on Nite thay cho Toys are us, Barbecue, You are here, Open all night mọi người vẫn hiểu. Không những viết mà khi đọc họ cũng bỏ những khuôn mòn sáo cũ. Khi nói về Quân Đoàn Một họ viết chữ số La Mã I Corps nhưng khi đọc họ đâu cần đọc First Corps hay Corps One mà đọc là Ai Co. Nước Mỹ là cường quốc bậc nhất thế giới tại sao ta không bắt chước họ cho tiện lợi?
Nghĩ cho cùng thì những cách viết lạ lùng khác thường ở Mỹ cũng thường chỉ thấy trong những bảng hiệu, trong những quảng cáo. Ở một quốc gia tư bản tự do, cạnh tranh kịch liệt thì một số chuyên viên quảng cáo chỉ nghĩ làm sao cho mọi người chú ý, làm sao lôi kéo được sự tò mò, lôi kéo nhiều khách hàng nghĩa là mang lại nhiều lợi lộc bằng mọi cách. Nếu không có luật lệ hạn chế hay quần chúng phản đối thì quảng cáo thương mại có thể sử dụng mọi hình thức dù lố bịch, vô luân, bạo lực, dâm đãng để làm sao kiếm được nhiều tiền. Nếu đúng như vậy có lẽ ta ta chẳng nên du nhập vào văn chương chữ nghĩa tiếng Việt để coi như một cải cách tân kỳ.

Tiếng Việt có ưu điểm của nó nhưng cũng làm cho những người ngoại quốc muốn nghiên cứu phải bối rối về việc sử dụng uyển chuyển các từ ngữ mà chẳng cần văn phạm và năm dấu Việt độc đáo không có trong ngôn ngữ nào trên thế giới.

Có thể vì lẽ đó tác giả Phụng Nghi trong cuốn 100 Năm Phát Triển Tiếng Việt (Nxb Văn Nghệ, 1999) đã dành hẳn một chương để bàn chuyện có nên bỏ một trong hai dấu hỏi (?) ngã (~) trong tiếng Việt không? (tr. 137).

Ông dẫn chứng ba khuynh hướng khác nhau về vấn đề này là khuynh hướng chỉ dùng một dấu trên toàn quốc, khuynh hướng dùng một dấu riêng tại miền Nam và khuynh hướng giữ nguyên trạng không cần thay đổi.

Vấn đề đáng nói nhất là khuynh hướng đầu được nêu lên trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1990 là hai dấu hỏi ngã nên nhập chung làm một cho tiện, hỏi ngã gì cũng được. Ý kiến của tác giả bài báo thật dễ dãi nhưng khó chấp nhận và thực tế thì đã chín năm trôi qua chưa có ai tán thành đề nghị đó. Nếu chỉ vì ngại khó mà cứ đọc sao viết vậy thì chữ nghĩa không còn là chữ nghĩa nữa. Hai dấu hỏi và ngã có nghĩa khác nhau, dùng trong những trường hợp khác nhau không thể đồng hóa thành một được.

Nếu câu nói: Anh nỡ bỏ cô ấy mà không nghĩ tới tình nghĩa những năm qua sao? mà viết toàn một dấu hỏi là Anh nở bỏ cô ấy mà không nghỉ tới tình nghỉa nhửng năm qua sao? thì chắc cả trăm năm nữa cũng khó có thể quen tai. Nếu báo thành Hồ chủ trương chỉ viết một dấu cho dễ thì cũng nên theo những anh bộ đội nói ngọng không phân biệt được hai chữ L và N, mà bỏ một chữ L đi. Khi đó học trò viết Nu na nu nống cái Bống nằm trong cái Ong nằm ngoài hoặc là Não nính nệ nàng Náng nên nàng Nủ nấy nòng nợn nuôn nuôn đều được coi là đúng chính tả. Và nhân tiện cũng bắt chước giọng đọc của người miền Nam tất cả những chữ bắt đầu bằng V đều viết thành D cho tiện việc mặc dầu trong Nam đồng bào dù đọc là D nhưng vẫn viết V trúng phóc (la ve).

Cũng như không thể viện cớ thông tin trung thực, vô tư để khi rỗi rãi ngồi ghi âm hai người nói chuyện gẫu rồi cứ thế chép lại nguyên văn in thành sách, chắc chắn tác phẩm kịch này phải dày cả nghìn trang với đầy rẫy thì, mà, à, ờ, ừ và nhiều khi còn chửi thề, nói tục.

Học chữ hay muốn nói cho đúng thì cũng phải chịu khó nên không thể ngại khó mà đơn giản hóa quá mức đến thành thiếu sót, thiếu nghĩa. Không thể viện cớ đơn giản để mà đưa đề nghị bắt chước người Mỹ chỉ cần xưng hô bằng hai tiếng I, You cho tiện để bỏ hết những từ ông, bà, cô, bác, chú, thím, cậu, dì . . . thân thương, độc đáo của Việt ngữ.

oOo

Vấn đề cải cách một ngôn ngữ không phải là một chuyện dễ dàng. Người Trung Hoa hẳn cũng biết chữ viết của họ phức tạp, bất tiện nhưng không hề nghĩ tới chuyện la tinh hóa chữ Hán mà chỉ thay đổi Hán tự từ văn ngôn ra bạch thoại cho đơn giản hơn thôi. Người Nhật mạnh dạn hơn đã đặt ra một cách viết tiếng Nhật bằng chữ cái la tinh gọi là romanji được chính quyền tích cực truyền bá nhưng cho tới nay có lẽ vẫn chưa có sách Nhật in bằng tiếng Nhật cải cách romanji. Họ vẫn yêu thích lối chữ Nhật hiện hành, hình thức hơi giống chữ Hán nhưng ít nét và không rườm rà.

Việc thay đổi chữ viết có ảnh hưởng tới kho tàng thư tịch của các dân tộc nên khó bề thực hiện. Giả thử có một nền văn học lâu đời như Trung Quốc, nếu thay đổi chữ Hán bằng chữ la tinh thì phải có một đội ngũ hùng hậu người mình dịch các áng văn của mình sang chữ mới của chính mình.

Học giả Hoàng Xuân Hãn chắc chắn đã nghiên cứu những đề nghị cải cách tiếng Việt của các tác giả trước ông, đã biết sự khó khăn khi cải cách nên năm 1942 ông đã viết trong cuốn Danh Từ Khoa Học rằng: Tiếng hiện thời của các nước đều đầy những sự vô lý. Nhưng đố ai cải cách nó được.

Để kết luận vấn đề ngôn ngữ, chúng tôi thiết nghĩ tiếng Việt hiện nay đã xử dụng được trong bậc đại học, đã có những thuật ngữ diễn đạt được những vấn đề chuyên môn, khó khăn mà không gặp trở ngại nên chúng ta có thể tự hào về ngôn ngữ hiện tại. Công việc cần của chúng ta là bảo tồn ngôn ngữ ấy sao cho tiếp tục trong sáng mà đừng chế ra những cải cách lai căng làm vẩn đục tiếng Việt như Hà Nội đã làm.

Việc thay đổi chỉ nên thực hiện khi thật sự cần thiết cho việc diễn đạt tư tưởng, hay cải đổi những phi lý rõ rệt mà không nên quá dễ dãi để a dua, mô phỏng nhất thời ngôn ngữ nước ngoài với mục đích làm duyên khiến cho mất sự đơn giản nhưng phong phú và uyển chuyển của tiếng Việt chúng ta.

Tháng 11. 1999
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0
Cuốn Từ Điển Tái Bản Tám Lần


Cuốn Từ Điển Việt Anh do nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội tung ra thị trường đầu năm 1998 mới thoạt nhìn ta thấy có cảm tình ngay. Sách dày 2296 trang, khổ trung 16 và 24 phân (6, 25 và 19, 25 inh) in trên giấy trắng tốt, bìa cứng, dày nhiều màu. Điều đáng nể hơn nữa là giòng chữ A 220.000 từ A ghi ngay bìa sách.

Nhưng khi thấy tên tác giả Bùi Phụng, độc giả khựng lại và hoài nghi. Đây là một cuốn từ điển có một quá trình cẩu thả từ nhiều năm nay bây giờ được bổ sung và in lại. Từ Điển Việt Anh của Bùi Phụng xuất bản lần đầu năm 1977, phát hành tại Hà Nội và một tờ báo xuất bản tại Hà Nội đã chê trách nặng nề. Nhưng phải mãi tới năm 1986 Sài Gòn mới thấy cuốn Từ Điển Việt Anh do nhà xuất bản Trường Đại Học Tổng Hợp in lại và bán tại miền Nam. Trong cuốn tái bản 1986 tác giả viết rằng cuốn sách đã được thành ủy cộng sản Hà Nội khen ngợi, cho phép tái bản và ông cũng đã "chỉnh lý" lại hoàn toàn so với ấn bản đầu tiên.

Liền sau đó trên tuần báo Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh tại miền Nam số ra ngày 15. 4. 1988 đăng một bài vạch ra rất nhiều lỗi lầm sơ đẳng của cuốn tái bản 1986. Ra hải ngoại chúng tôi cũng đã nhận xét sơ qua về cuốn sách đó và đã đăng trên nhiều báo và in trong một cuốn sách xuất bản năm 1995. Chúng tôi xin phép được trích lại vài đoạn tiêu biểu:

Trước hết soạn giả lầm lẫn liên miên về những từ quân sự hay vạn vật. Hãy tạm kể ba từ theo định nghĩa trong từ điển Bùi Phụng:

- Hạ sĩ: Sergeant.
- Rau muống: Spinach.
- Thược dược: Peony.

Theo sự hiểu biết thông thường thì sergeant là trung sĩ, corporal là hạ sĩ. Dahlia là thược dược còn peony là mẫu đơn hoặc bông trang theo tiếng miền Nam. Spinach là giống rau Tây phương ta tạm so sánh với rau giền còn chấp nhận tạm nhưng không thể Việt hóa nó ra rau muống được.

Dịch sang tiếng Anh những từ có tính cách hơi chuyên môn như thế cũng tạm coi là chuyện khó. Nhưng với nhiều từ rất thông thường mà tác giả cũng chọn những tiếng Anh không tương ứng, không chính xác và sai lầm nữa. Hãy lật một số trang và lấy ra một số trường hợp điển hình trong ấn bản 1986 như sau:

- Á đông: Asian. Các nước Á đông: Asian countries.
- Hoạt họa. Phim hoạt họa: Walt Disney movie.
- Bí danh: Penname.
- Lung tung: Roll of drum.
- Tằm tơ: Silkworm.
- Tầm tang: Raising of silkworm.
- Tầm chương trích cú: Plagiarize.
- Tên cúng cơm: First name.
- Hán học: Chinese characters.
- Học thuyết. Học thuyết chủ nghĩa cộng sản: Accept the Communist doctrine.
- Gạo tám: High quality rice.
- Tám xoan: Perfume rice.
- Hoa quả: Fruits.
- Hoa trái: Flowers and fruits.

Chúng ta hãy phân tách những từ nói trên.

Trong tiếng Việt có từ Âu tây có nghĩa là châu Âu, là phương Tây nhưng từ Á đông không có nghĩa là châu Á mà chỉ có nghĩa là miền đông châu Á. Tiếng Anh từ Asian có nghĩa thuộc về châu Á nhưng không có nghĩa là miền đông châu Á. Vì vậy không thể dịch Asian countries là các nước Á đông mà chỉ có nghĩa là các nước Á châu. Nói như Bùi Phụng thì Ấn Độ, Ba Tư cũng là hai nước Á đông như Nhật Bản, Cao Ly hay sao vì đó là những Asian countries. Để nói về phim hoạt họa người Anh, Mỹ viết cartoon movie chứ không dùng Walt Disney movie. Walt Disney là người Mỹ nổi tiếng khắp thế giới về những phim hoạt họa của ông như Lọ Lem, Bạch Tuyết nhưng tên ông chưa trở thành một danh từ chung như các nhà khoa học Watt, Hertz hay Bell. Liên Xô hồi xưa cũng có một bộ phim hoạt họa khá hay Hãy Đợi Đấy mà lại gọi là Walt Disney movie thì chắc nhà làm phim Liên Xô buồn không ít.

Bí danh là một tên hiệu để dấu tung tích thật của mình, còn penname là bút danh mà các nhà văn ký trên tác phẩm. Một tổng bí thư hay một anh du kích xã cũng có quyền lấy một bí danh nhưng không thể có penname nếu không có đủ chữ nghĩa để viết sách, viết báo. Lung tung là một tính từ hay trạng từ chỉ sự bừa bãi, mất trật tự tại sao trong từ điển Bùi Phụng lại trở thành roll of drum có nghĩa là hồi trống. Tằm tơ là một nghề không thể dịch thành silkworm là con tằm, một động vật. Tầm tang dịch là raising of silkworm chưa đúng vì thiếu từ tang là cây dâu.

Tầm chương trích cú là sưu tầm những câu văn hay, câu văn lạ không thể dịch thành plagiarize có nghĩa là đạo văn, lấy văn người khác rồi ký tên mình. First name theo người Mỹ thì là tên nhưng nếu theo người Việt thì là họ. Ngày nay lưu vong trên đất Mỹ người ta viết ngược lại theo lối Mỹ như Nguyễn Thái Kỳ thành Ky Thai Nguyen thì first name là Ky được nhưng gọi tên cúng cơm chưa hẳn đúng. Học thuyết chủ nghĩa cộng sản dịch là Communist doctrine là đủ và đúng rồi can chi phải thêm chữ accept là chấp nhận vừa thừa vừa sai nghĩa. Gạo tám dịch là high quality rice (gạo thật ngon), tám xoan dịch là perfume rice (gạo có mùi thơm) thì quá mơ hồ. Nếu tác giả vào Nam sinh sống đi chợ sẽ gặp vài chục thứ gạo: Nàng Hương, Nanh Chồn, Sóc Nâu, Chợ Đào . . . thì tác giả có khả năng nào để kiếm đủ từ để dịch các loại gạo hay lại chung chung. Cũng như hoa quả và bông trái là hai từ Nam, Bắc nhưng đồng nghĩa mà sao khi thì có hoa (flowers and fruits) khi thì có quả chẳng có hoa (fruits).

Về chính tả soạn giả đã quá dễ dãi trong một cuốn từ điển. Chúng ta thấy ông dùng những từ như anh mấy tôi (you and me), gái giá (widov) răng há (whore), săn seo (wrinkled), hoi hóp (very weakly) v . v . . . Phát âm “mấy“ chỉ là phát âm sai của từ "với" mà đồng bào miền quê hay mắc phải. Trong truyện Lụa, Tô Hoài tả đôi nhân tình miền quê dùng từ " mấy lỵ" thay cho "với lại" nhưng ông đã cẩn thận cho in chữ nghiêng. Khi nói tới các chị em ăn sương người ta mỉa mai là "giang hồ, giang há" chứ không viết là "răng há" . Da người khi ngâm nước có thể săn lại và người già thì da "nhăn nheo" chứ không nói "săn seo". Người ta cũng nói "thoi thóp" chứ không dùng " hoi hóp ". Từ sau này dùng trong cổ văn hoặc ở vài địa phương hẹp. Người có chồng hay vợ chết gọi là "góa", đôi khi chấp nhận từ ""hóa". Ở miền Nam đồng bào nói là"ở giá, gái giá, giá chồng" nhưng không viết là "giá". Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị của Lê Ngọc Trụ (Nxb Thanh Tân, Sài Gòn 1959) và Từ Điển Chính Tả Thông Dụng của Nguyễn Kim Thản (Nxb Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội 1984) đều thừa nhận điều đó.

oOo

Khi mượn được cuốn Từ Điển Việt Anh tái bản lần thứ tám chúng tôi tra ngay những từ mà chúng tôi nghĩ là sai lầm ghi ở đoạn trên xem có được "chỉnh lý" như tác giả nói chưa?

Chỉ có nhóm từ học thuyết chủ nghĩa cộng sản đã bỏ chữ accept mà lần trước ông giảng là accept the Communist doctrine và từ phim hoạt họa thêm một định nghĩa animated film. Còn lại tất cả những từ mà chúng tôi phê phán như tầm chương trích cú, hoa quả, hoa trái, thược dược, Hán học, Á đông, lung tung, răng há, gái giá, anh mấy tôi, hạ sĩ, bí danh v .v . . . đều còn y nguyên không thay đổi một chữ.

Cuốn sách tái bản năm 1998, tác giả không ghi chỉnh lý nữa mà ghi là "cố gắng sửa chữa và bổ sung" thì không hiểu ông sửa chữa ở những chỗ nào? Chúng tôi hoài nghi và tra cứu thêm thì lại tìm ra quá nhiều nhược điểm mới, đếm ra không xuể.
Trước hết nói về danh từ sử địa ông sử dụng cả những từ kiểu phiên âm của Hà Nội như Philíppin, Ixraen, Indonêxia đồng thời vẫn dùng Cao Ly, Nam Hàn, Triều Tiên, Cao Miên nhưng vẫn còn thiếu Lào, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Liên Xô, Ca Na Đa hay Gia Nã Đại v. v. . . Nhưng ông không thống nhất cách viết hoa các danh từ sử địa. Trong khi Sơn Tinh, Mỹ kim, Mỹ la tinh viết hoa thì thủy tinh và mỹ quốc lại viết chữ thường.

Đó có thể coi là những lỗi ấn loát nhưng trường hợp hai từ cùng nghĩa tằm để chỉ con tằm nhả tơ, Bùi Phụng khi thì viết với chữ ă (tằm tơ) khi thì chữ â (tầm tang) không thể đổ lỗi cho nhà in được. Cũng có nhiều lỗi khác không thể chấp nhận được như những từ yêng hùng, ba tui, ba tăng, hĩm . . . mà từ điển nghiêm trang ghi nhận như tiếng nói đứng đắn không chú thích đó là tiếng lóng, tiếng tục.

Những từ định nghĩa không thỏa đáng còn nhan nhản chỉ xin ghi một vài từ mà thôi:

- han: ask.
- hoa hồng bán: selling commission.
- đại hồ cầm: large Chinese violin.
- hai mắt: binocular.
- quả hạnh: almond
- me tây: Vietnamese woman married to French man.
- thủy: beginning.

Từ han đứng một mình có nghĩa là rỉ sét, chứ ngày nay không dùng với nghĩa là hỏi nên không thể giảng là ask; bán hàng thuê từng món để chia lấy công thì chỉ gọi là ăn hoa hồng chứ không ai dùng từ kép hoa hồâng bán. Đại hồ cầm mà nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát gọi đùa là đàn trâu và người Mỹ gọi là double bass khác với vĩ cầm, trung hồ cầm không phải là một nhạc cụ gốc Tàu nên không thể gọi là large Chinese violin. Nhóm từ hai mắt không thể giảng là binocular có nghĩa là ống nhòm vì không ai nói một câu tiếng Việt là "Tôi mang cái hai mắt đi xem đá banh cho rõ". Cũng như không ghi quả hạnh khi dịch là almond mà phải ghi hạnh nhân. Không ai nói "chè quả hạnh" mà chỉ nói "chè hạnh nhân". Từ thủy muốn có nghĩa là beginning thì phải viết là khởi thủy và cũng không thể giảng nghĩa thủy chung là beginning and end như trong cuốn từ điển đang nói.

Với tiếng Việt từ me tây có một hàm ý xấu thường để chỉ những phụ nữ Việt lấy chồng Pháp thường không cưới xin, tạm bợ, không vì tình yêu chứ không thể nói chung tất cả phụ nữ lấy chồng Pháp là me Tây được. Nếu dùng từ như vậy thì tất cả phụ nữ Việt lấy chồng Mỹ cũng là me Mỹ sao? Và bà tổng thống Cao Ly Lý Thừa Vãn là người Áo chẳng lẽ trong từ điển Áo gọi bà là me Cao Ly? Dùng chữ như thế có thể bị coi là mạ lỵ.

Có những trường hợp ông phân chia ra ba bốn từ khác nhau nhưng khi giảng tiếng Anh thì chỉ có một từ mà thôi như ba từ quạ, quạ cái, quạ khoang chiếm ba giòng riêng biệt nhưng bên phần Anh ngữ ba từ đó chỉ gọn ghẽ lặp lại ba lần một tiếng crow. Cũng tương tự ông kê ra đủ thứ khoai lang, khoai ngà, khoai nghệ, khoai ngọt, khoai từ nhưng tất cả đều giảng bằng một tiếng Anh thống nhất sweet potato.

Có những từ không cần phải tách bạch ra làm nhiều từ, nhiều dòng như trường hợp các từ thủy lợi lớn, thủy lợi nhỏ, thủy lợi vừa để rồi cũng giảng chung là conservancy projects với những tính từ chỉ khối lượng đặt phía trước.

Có lẽ muốn cho từ điển được dày ông đã cho ghi những từ lạ.

Chẳng hạn trong hai trang 1248 và 1249, tác giả liệt kê tới 47 từ có từ mỹ đứng đầu trong đó có mỹ cảnh, mỹ chất, mỹ chính, mỹ hiệu, mỹ mục, mỹ sắc, mỹ tài, mỹ tú. Hoặc ở mục cà có cà nát, cà vơ. Những từ này trong Nam không ai biết, ngoài Bắc có ai dùng không nhưng không thấy ghi trong cuốn từ điển mới nhất là Đại Từ Điển Tiếng Việt do Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo (Trung Tâm Ngôn Ngữ Và Văn Hóa Việât Nam) chủ trương, phó tiến sĩ Nguyễn Như Ý chủ biên cùng với ba phó tiến sĩ khác và nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội in năm 1998, dày gần 2000 trang khổ lớn 19 và 27 phân.

Ở ba trang 1913 - 1915 có đến 132 từ bắt đầu bằng chữ thủy. Ta không thể so sánh tất cả 132 chữ ấy mà chỉ bắt thăm chín từ thủy cần, thủy cầm, thủy cầu, thủy chuẩn, thủy công, thủy hiểm, thủy hoạn, thủy ngọc, thủy quốc thì tới tám từ không có trong Đại Từ Điển Tiếng Việt. Riêng từ thủy công trong từ điển Bùi Phụng giảng là matelot nghĩa là lính thủy nhưng ở ĐTĐTV lại có nghĩa là công trình thủy lợi.

Cũng trong mục đích làm cho có nhiều từ để có thể trưng ra bìa trong Từ Điển Việt Anh có những từ kép như hai tay: both hands, ba cuộc cách mạng: three revolutions, hai mắt: two eyes, bốn bánh: four wheel, quả bơ: avocado, quả hạnh: almond, quả bưởi: grapefruit . . .

Trong tiếng Việt có những từ đứng một mình cũng đủ nghĩa nhưng cũng có những từ nếu không có loại từ đi kèm sẽ mang một nghĩa khác. Ví dụ nếu viết mực người Việt hiểu là một chất có màu, voi cũng hiểu là con thú lớn có vòi và ngà nhưng ở vần C ta phải có từ kép cá mực, chó mực hay cá voi để cho rõ nghĩa nhưng trường hợp những từ như rô, diếc, chép, trắm, lờn bơn thì dùng một mình là đủ.

Trường hợp từ cam người ta hiểu là trái hay cây gì rồi khỏi cần phân tách bằng những cụm từ riêng để giảng nghĩa trong từ điển như hoa cam, quả cam, nụ cam, rễ cam, cành cam nữa.

Nếu muốn làm giàu từ bằng cách đó thì tác giả nên thêm vào những từ ba mắt, bốn mắt, năm mắt, năm bánh, sáu bánh, bảy bánh, tám bánh, quả đào, quả chanh, qủa quýt . . . cứ thế mà đếm (riêng từ bốn mắt còn có thể ghi giải nghĩa thứ hai là tiếng lóng mắt đeo kính, và ngoài những quả đào, quả chanh ông còn có thể thêm các từ trái đào, trái chanh nữa để khỏi mang tiếng kỳ thị "thổ ngữ" miền Nam)

Ngôn ngữ thường đàm của người Việt còn những dạng như nói lái (sạn cổng, cộng sản; hỗi xạ, xã hội), lặp lại bằng vần iếc (cơm kiếc, nhà nhiếc, vợ viếc), giản lược hai tiếng của miền Nam (ảnh, bả thay cho anh ấy, bà ấy) mà đem ghi tất cả vào từ điển thì biết bao nhiêu cho hết.

Phải chăng vì muốn cho cuốn từ điển 50.000 từ năm 1986 biến thành cuốn từ điển 220.000 từ năm 1998 nên Bùi Phụng đã đặt ra nhiều tiếng mà người Việt không ai biết, không ai dùng hoặc nhiều từ trùng lặp. Với cái kiểu làm con vỏi con voi cái vòi đi trước ấy thì trong lần tái bản thứ chín Bùi Phụng có thể hãnh diện là người làm phong phú cho tiếng Việt và có thể ngang nhiên ghi ngoài bìa 500.000 từ hay một triệu từ nếu đủ giấy để in và đủ chỗ để bày.

Tóm lại cuốn Từ Điển Việt Anh tái bản lần thứ tám của Bùi Phụng chỉ có thể coi là một cuốn sách đẹp và dày mà thôi. Về nội dung sách biên soạn thiếu khoa học và quá cẩu thả, tắc trách.

Từ lần tái bản năm 1986, Bùi Phụng đã viết rằng mục đích từ điển của ông nhằm phục vụ sinh viên và người nước ngoài. Trong lần tái bản thứ tám ông không ghi rõ nhưng chắc lập trường phục vụ của ông hẳn vẫn không thay đổi. Nếu vậy thử hỏi nếu người ngoại quốc tra Từ Điển Việt Anh và tin vào những từ sai nghĩa, sai chính tả lẫn những từ ngọng, từ tục mà cho rằng đó là ngôn ngữ đứng đắn thì họ sẽ nghĩ sao về tiếng Việt mà Hà Nội vẫn luôn luôn nói là trong sáng, là ngôn ngữ của một dân tộc có bốn ngàn năm văn hiến.

Tháng 9. 1999
Thân,
NHDT


Peace is the way of love
Đăng nhập để trả lời
0