📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tay cự phách Sidney Sheldon 🔒

77 trả lời, 14.426 lượt xem — Trang 3 / 3
poiuy gõ chương 16 & 17 cho xong tập 1 nhé. Nếu bạn nào gõ rồi thì nhớ thông báo cho poiuy biết để đỡ mất công.. hihi
0
sumo nhận gõ tiếp chương 34 nũa nha
0
Tôi nhận gõ từ 32 đến 34
0

CHƯƠNG XXVI - Tay Cự phách xong rồi nè mấy bồ ơi

Khi Eve trở lại New York, nàng thuê một căn phòng trong khách sạn ở vùng giữa thành phố, như đã được chỉ dẫn. Một giờ sau, Bard Rogers gọi điện thoại cho nàng.
"Bà nội cô vùa gọi điện thoại từ Paris, Eve ạ. Hình như có chuyện xích mích gì giữa cô và bà nội"
"Không hẳn thế", Eve cười to. "Chỉ là vấn đề nhỏ trong gia đình". nàng sắp sửa tung ra một cuộc chống chế tỉ mỉ, bổng nàng nhận ra được mối nguy hiểm nếu làm như vậy. Từ nay trở đi, nàng phải rất cẩn thận. Xưa nay, nàng chưa hề phải suy nghĩ về đồng tiền. Nhưng bây giờ nó hiện ra lù lù trong đầu óc nàng. Nàng chưa biết số tiền trợ cấp cho nàng là bao nhiêu, và lần đầu tiên trong đời, nàng cảm thấy lo sợ.
"Bà ấy có bảo cho cô biết rằng một bản chúc thư mới sẽ được soạn thảo, có phải vậy không?"
"Phải, bà có nhắc sơ sơ đến chuyện ấy", nàng quyết phải tỏ ra lạnh nhạt.
"Tôi nghĩ có lẽ chúng ta nên gặp nhau để bàn về vấn đề này. Thứ hai này vào lúc ba giờ, được không?"
"Được, bác Brad ạ"
"Tại văn phòng tôi nhé. Được không?".
"Tôi sẽ có mặt ở đấy".
Vào lúc ba giờ kém năm, Eve đi vào toà nhà Kruger - Brent. Nàng được đón tiếp một cách kính cẩn bởi viên bảo vệ an ninh, người bấm nút thang máy, và cả người gác thang máy nữa. Tất cả mọi người đều biết mình. Eve thầm nghĩ. Mình là một Blackwell. Chiếc thang máy đưa nàng đến tầng lầu của ban lãnh đạo công ty, và một lát sau, Eve ngồi trong văn phòng của Brad Rogres.
Brad rất ngạc nhiên khi nhận được điện thoại của bà Kate cho biết rằng bà sẽ tước quyền thừa kế của Eve, vì ông biết rằng bà ta yêu thương đặc biệt cô cháu gái này và đã có nhiều dự tính dành cho cô ta. Brad không thể nào tưởng tượng ra được chuyện gì đã xảy ra. Dẩu sao, đó không phải là công việc của ông. Nếu Kate muốn bàn luận với ông về vấn đề ấy thì ông cũng sẵn lòng. Công việc của ông là thực hiện các lệnh của bà Kate. Ông cảm thấy một sự thương hại thoáng qua đối với cô con gái dễ thương đang ngồi trước mặt ông. Kate lúc gặp ông lần đầu tiên, vào thời xa xưa ấy, cũng trạc tuổi người con gái này, và ông lúc ấy cũng không già hơn bao nhiêu. Nhưng bây giờ, tuy ông đã già, tóc đã bạc, ông vẫn hy vọng rằng một ngày nào đó Kate Blackwell sẽ nhận thức rằng có kẻ nào đó vẫn còn yêu bà sâu đậm.
Ông nói với Eve, "Tôi có ít giấy tờ để cô ký. Xin cô đọc cho kỹ đã, rồi..."
"Điều đó không cần thiết".
"Eve ạ, cái này quan trọng lắm. Cô cần phải hiểu đã". Thế rồi ông bắt đầu giải thích, "Theo chúc thư của bà nội cô, cô là người thụ hưởng một quỹ ký thác không thể hủy bỏ, hiện nay đã trên năm triệu đô-la. Bà nội cô là người sử dụng quỹ này. Tùy theo ý muốn của bà ấy, số tiền ấy có thể trả cho cô bất cứ lúc nào từ tuổi hai mươi mốt đến ba mươi lăm". Ông đằng hắng giọng, "Bà ấy quyết định sẽ trao số tiền ấy cho cô khi nào cô ba mươi lăm tuổi".
Thật là một cái tát vào giữa mặt.
"Bắt đầu từ hôm nay, cô sẽ nhận được một khoản trợ cấp hằng tuần là hai trăm năm mươi đô-la"
Thật vô lý! Một chiếc áo dài coi được cũng đắt hơn số tiền ấy. Làm thế nào nàng sống được với 250 đô la một tuần? Điều này chỉ nhằm mục đích hạ nhục nàng thôi. Lão khốn kiếp này có lẽ toa rập với bà nội nàng trong vụ này. Lão ấy đang ngồi sau chiếc bàn viết, cười cười ra vẻ thích thú lắm. Nàng chỉ muốn nhặt miếng chặn giấy bằng đồng trước mặt lão và nện lên đầu hắn. Nàng cảm thấy như nghe tiếng xương sọ của lão vỡ lạo xạo dưới tay nàng.
Brad vẫn tiếp tục nói với giọng đều đều. "Từ nay cô không được mua hàng chịu nữa, để thoả mãn nhu cầu riêng tư hay vì mọi lý do khác, và cũng không được dùng danh nghĩa gia đình Blackwell để mua sắm ở các cửa hiệu. bất cứ thứ gì cô mua đều phải trả bằng tiền mặt".
Cơn ác mộng mỗi lúc mỗi trở nên tệ hại hơn.
"Tiếp theo nữa. nếu có bất kỳ lời bàn tán nào liên hệ đến tên cô trên nhật báo hay tạp chí - trong nước hay ngoài nước - thì số tiền trợ cấp hằng tuần này cũng sẽ bị ngưng lại. Cô rõ rồi chứ?"
"Vâng". Giọng nói của nàng nghe như tiếng thì thầm.
"Cô và em cô là Alexandra được cấp giấy bảo hiểm sinh mạng của bà nội các cô, giá trị năm triệu đô la cho mỗi người. Giấy bảo hiểm về phần cô đã bị hủy bỏ bắt đầu từ sáng hôm nay. Đến cuối năm, nếu bà nội cô cảm thấy hài lòng về cô, tiền trợ cấp hằng tuần của cô sẽ được tăng gấp đôi". Ông do dự một lát rồi nói tiếp. "Còn một điều khoản cuối cùng nữa".
Bà ấy lại muốn treo mình lên trước công chúng đây.
"Vâng?"
Brad Rogers trông có vẽ hơi bối rối. "Bà nội cô không bao giờ còn muốn gặp lại cô nữa, cô Eve ạ"
Nhưng mà, tôi muốn gặp lại bà lần nữa, bà già ạ. Eve nhủ thầm. Tôi muốn trông thấy bà chết trong sự đau đớn.
Giọng nói của Brad như nhỏ giọt vào đầu óc đang sôi sùng sục của Eve. "Nếu cô có gặp điều gì khó khăn, cứ điện thoại cho tôi. Bà nội cô không muốn cô bén mảng đến tòa nhà này nữa hay đến thăm bất cứ tài sản nào của công ty".
Về vấn đề này, Brad đã tranh luận với bà Kate. "Lạy Chúa! Cô ấy là cháu nội của bà mà. Nó là máu và thịt của bà. Thế mà bà đối xử với nó như là cùi hủi"
"Chính nó là cùi hủi"
Thế là cuộc bàn cãi chấm dứt.
Lúc này, Brad nói một cách ngượng nghịu, "Thôi được, như thế là tôi đã cho cô biết tất cả mọi sự. Cô còn có câu hỏi gì nữa không, cô Eve?"
"Không". Nàng đang bị xúc động mãnh liệt.
"Vậy thì cô hãy ký vào các giấy tờ này".
Mười phút sau, Eve đi xuống dường phố, với một tấm ngân phiếu 250 đô la trong túi.
*
**
Sáng ngày hôm sau, Eve đến gặp một nhân viên nhà đất và bắt đầu tìm một căn hộ. Trong trí tưởng tượng của nàng, nằng nghĩ đến một dãy buồng đẹp đẽ ở tầng lầu cao, nhìn xuống công viên Central Park, sơn màu trắng với những đồ đạc tối tân và một sân thượng để làm nơi đãi đằng khách khứa. Sự thật đến với nàng như một cú đánh làm xây xẩm mặt mày. Dường như không có dãy buồng nào ở đường Park Avenue dành cho một người với lợi tức 250 đô la một tuần cả. Nơi mà nàng có thể thuê được chỉ là một căn hộ một phòng ở Little Italy với một cái đi văng dùng làm giường nằm, một cái góc thụt mà viên phụ trách nhà đất gọi cho đẹp đẽ là "thư viện", một cái bếp nhỏ và một phòng tắm xinh xắn lát gạch men hoen ố.
"Có....có phải đây là nơi tốt nhất mà ông có hay không?: Eve hỏi?
"Không", y nói, "Tôi có một ngôi nhà giữa phố, gồm hai mươi phòng, trên đường Sulton Place, giá nửa triệu đô la, thêm tiền bảo trì".
Đồ khốn kiếp! Eve thầm nghĩ.
*
**
Nhưng nỗi tuyệt vọng thật sự chỉ đến với Eve vào trưa hôm sau, khi nàng mới dọn đến. Nơi ở này đúng là một nhà tù. Phòng trang điểm của nàng ở nhà rộng bằng toàn thể căn hộ này. Nàng nghĩ đến Alexandra ở sung sướng trong ngôi nhà đồ sộ ở Đại lộ thứ Năm. Lạy Chúa, vì sao trước kia Alexandra không bị chết cháy cho rồi? Chỉ suýt chút nữa là nàng đã thành công rồi! Nếu Alexandra chết, và nàng, Eve, là người thừa kế duy nhất thì đâu đến nổi này? Bà nội nàng ắt không dám tước quyền thừa kế của nàng.
Nhưng nếu bà Kate Blackwell tưởng rằng Eve sẽ từ bỏ quyền thừa kế của nàng dễ dàng như thế thì bà chưa hiểu được cháu gái của bà. Eve không có ý định sống với 250 đô la một tuần lễ. Có năm triệu đô la thuộc về nàng còn nằm tại ngân hàng, mà bà già độc ác ấy vẫn còn giữ lại, không cho nàng sờ đến. Nhưng chắc chắn phải có cách lấy được số tiền ấy. Mình phải tìm cho ra cách ấy.
Giải đáp cho vấn đề này đến với nàng ngày hôm sau
*
**
"Thưa cô Blackwell, tôi có thể giúp gì cho cô?". Alvin Seagram hỏi Eve một cách kính cẩn. Ông là phó chủ tịch ngân hàng National Union, và thực sự ông sẵn sàng làm hầu như bất cứ thứ gì cho Eve. Ngọn gió may mắn nào đã đưa cô gái này đến với ông? Nếu ông có thể nắm được trương mục của Kruger - Brent, hay một phần của nó mà thôi, sự nghiệp của ông sẽ lên cao như hỏa tiễn.
"Tôi có một số tiền ký thác cho tôi". Eve giải thích. "Năm triệu đô la. Theo các quy tắc đã được ấn định cho việc ký thác này, tôi chỉ nhận được số tiền ấy vào lúc ba mươi lăm tuổi", nàng tủm tỉm cười một cách ngây thơ. "Từ đây đến đó có vẻ lâu quá"
"Ở tuổi cô bây giờ thì điều đó cũng đúng", ông Seagram mỉm cười. "Cô...mười chín tuổi, phải không?"
"Không, hai mươi mốt"
"Mà lại xinh đẹp nữa, xin phép cô cho tôi nói như vậy, thưa cô Blackwell".
Eve cười bẽn lẽn. "Cám ơn ông Seagram". Câu chuyện này chắc sẽ đơn giản hơn là mình nghĩ. Eve tự nhủ. Lão này là một thằng ngốc.
Seagram cũng cảm thấy mối thiện cảm giữa hai người. Cô ấy có vẻ thích mình đây. "Thưa cô, nói cụ thể ra thì tôi có thể giúp ích gì được cho cô?"
"Vâng, tôi không biết ông có thể nào cho tôi mượn một số tiền ứng trước, lấy số ngân quỹ ký thác của tôi làm bảo đảm được không? Chắc ông cũng biết, tôi cần tiền ấy bây giờ hơn là sẽ cần nó về sau này. Tôi đã hứa hôn và sắp đến ngày cưới. Vị hôn phu của tôi là một kỹ sư xây dựng làm việc ở Israel, và anh ấy phải ba năm nữa mới trở lại nơi này".
Alvin Seagram tỏ vẻ rất thông cảm. "Tôi đã hiểu rất rõ". Tim ông đập thình thình. Tất nhiên, ông có thể thỏa mãn lời yêu cầu của nàng. Tiền bạc vẫn thường ứng trước khi đã có ngân khoản ký thác. Và khi ông thỏa mãn được yêu cầu của nàng, nàng sẽ giới thiệu cho ông những thành viên khác của gia đình Blackwell và ông cũng sẽ thỏa mãn họ. Sau đó thì sẽ không có gì ngăn cản ông được nữa. Ông sẽ trở thành một thành viên của ban lãnh đạo ngân hàng National Union. Có lẽ một ngày kia ông sẽ lên ghế chủ tịch. Tất cả điều này là nhờ ở cô gái tóc hoe bé nhỏ và xinh đẹp đang ngồi ở phía bên kia bàn giấy của ông.
"Không có vấn đề khó khăn nào cả", Alvin Seagram cam đoan với Eve. "Đó chỉ là một vụ giao dịch đơn giản. Cô cũng hiểu rằng chúng tôi không thể cho cô vay toàn thể số tiền, nhưng chúng tôi có thể để cô vay ngay lập tức một số tiền, chẳng hạn như một triệu đô la. Như vậy đã đủ chưa?"
"Rất đủ", Eve nói, cố không bộc lộ nỗi vui sướng.
"Vậy thì tốt. Xin cô cho biết các chi tiết về ngân quỹ ký thác", ông nhặt ngòi bút lên.
"Ông có thể tiếp xúc với ông Brad Rogers ở Kruger - Brent. Ông ấy sẽ cung cấp các chi tiết ông cần"
"Tôi sẽ gọi điện thoại đến ông ấy ngay"
Eve đứng vậy, "Cần phải đợi bao nhiêu lâu?"
"Không quá một vài ngày. Tôi sẽ tự tay làm gấp"
Nàng đưa bàn tay xinh đẹp, nhỏ nhắn, "Ông rất tốt".
Ngay lúc Eve vừa bước ra khỏi phòng làm việc, Alvin Seagram nhặt lấy điện thoại. "Cho tôi gặp ông Brad Rogers ở Công ty hữu hạn Kruger - Brent". Ngay đến cái tên này cũng đủ làm cho xương sống ông rung lên một cảm giác sung sướng.
*
**
Hai ngày sau, Eve trở lại ngân hàng và được dẫn đến văn phòng của Alvin Seagram. Câu nói đầu tiên của ông này là: "Tôi e rằng không thể giúp được cô, cô Blackwell ạ".
Eve không thể tin nổi những gì cô vừa nghe. "Tôi không hiểu. Chính ông đã nói rằng vấn đề này đơn giản mà. Ông bảo rằng...".
"Tôi xin lỗi. Lúc ấy tôi chưa nắm được các sự kiện..."
Ông còn nhớ rất rõ cuộc nói chuyện với Brad Rogers. "Vâng, quả thật có một ngân qũy năm triệu đô la được ký thác dưới tên Eve Blackwell. Ngân hàng của ông có thể tự do ứng trước bao nhiêu cũng được, căn cứ vào ngân quỹ ấy. Thế nhưng, tôi cũng cần phải cảnh cáo cho ông biết rằng bà Kate Blackwell sẽ coi việc này như là một hành động không thân thiện".
Brad Rogers không cần phải nói rõ ra những hậu quả sẽ như thế nào. Kruger - Brent có những bạn bè đầy quyền lực ở khắp mọi nơi. Và nếu các bạn bè ấy bắt đầu rút tiền ra khỏi National Union thì Alvin Seagram không cần phải dự đoán những điều tai hại sẽ lớn lao như thế nào cho sự nghiệp của ông.
"Tôi xin lỗi", ông lặp lại câu nói với Eve. "Tôi không thể làm gì được".
Eve nhìn ông ta, tỏ vẻ rất thất vọng. Nhưng nàng không để cho anh chàng ấy biết cái cú đánh ông ta vừa giáng xuống đầu nàng mạnh mẽ như thế nào. "Xin cám ơn ông đã bận tâm về việc này. Còn có nhiều ngân hàng ở New York nữa. Xin chào ông".
"Thưa cô Blackwell " Alvin Seagram nói. "Không có một ngân hàng nào trên thế giới sẵn sàng cho cô vay một xu nhỏ với ngân quỹ ký thác ấy"
*
**
Alexandra cảm thấy bối rối, không làm sao hiểu được. trước kia, bà nội đã bày tỏ bằng mọi cách rằng bà mến chuộng Eve. Bây giờ, chỉ qua một đêm, mọi sự đều thay đổi cả. Nằng biết rằng đã có sự gì ghê gớm xảy ra giữa bà nội và Eve, nhưng không hiểu đó là chuyện gì.
Mỗi khi Alexandra cố đưa vấn đề này ra thì bà nội nói, "Chẳng có gì bàn cãi cả. Eve nó chọn cuộc sống riêng cho nó"
Alexandra cũng chẳng biết được gì thêm qua Eve.
Kate Blackwell bắt đầu dành nhiều thời giờ hơn với Alexandra. Alexandra rất lấy làm ngạc nhiên. nàng không những đối diện với bà luôn luôn, mà đã trở thành một thành phần thực sự trong đời sống của bà, giống như thể là bà nội mới nhìn thấy nàng lần đầu tiên vậy. Alexandra có cảm giác kỳ lạ là mình đang được xem xét, đánh giá.
Kate quả thực trông thấy cô cháu gái của bà lần đầu tiên, nhưng bởi vì bà đã bị lừa gạt một cách cay đắng nên bà phải dè dặt gấp đôi trước kia trong việc nhận định về cô gái song sinh với Eve. bất cứ khi nào được rãnh rỗi, bà ngồi với Alexandra, dò hỏi, chất vấn và lắng nghe nàng nói. Cuối cùng, bà cảm thấy hài lòng.
Thật ra không dễ gì hiểu được Alexandra. nàng là con người kín đáo, và dè dặt hơn Eve. Nàng có trí thông minh, lanh lẹn, và vẻ ngây thơ của nàng, phối hợp với sắc đẹp, khiến cho nàng càng thêm dễ mến. Nàng vẫn hay nhận những lời mời mọc nhiều vô kể để tham dự vào các buổi tiệc tùng, dạ hội và xem hát, nhưng vào lúc này chính bà Kate quyết định nàng nên chấp nhận nơi nào và từ chối nơi nào. Vấn đề tìm một chàng trai môn đăng hộ đối cũng chưa đủ hay gần như chưa đủ. Điều mà bà Kate đang tìm cho Alexandra là một người có thể giúp cho nàng tiếp tục triều đại của bà. Bà không nói gì với Alexandra về điều này. Còn có nhiều thì giờ để cho bà tìm được một người xứng đôi vừa lứa. Đôi khi, vào những buổi sáng sớm, khi Kate cảm thấy khó ngủ, bà nằm nghĩ đến Eve.
*
**
Cuộc sống của Eve tiến triển khá tốt đẹp. Câu chuyện xảy ra với bà nội đã làm thương tổn "cái tôi" của nàng một cách nặng nề, đến nỗi nàng đã quên đi một điều rất quan trọng. Nàng đã quên hẳn rằng nàng rất hấp dẫn đối với đàn ông. Trong một bữa tiệc đầu tiên, sau ngày dọn đến căn hộ mới, nằng đã cho số điện thoại của nàng cho sáu chàng trai - bốn người trong số ấy đã có gia đình - và chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ đồng hồ, nàng đã nhận được sự đáp ứng của tất cả sáu người. Từ ngày ấy, Eve biết rằng nàng không cần phải lo lắng gì nữa về vấn đề tiền bạc. Người ta gửi quà tặng đến cho nàng như mưa rào: những thứ nữ trang đắt tiền, những bức tranh qúy và nhất là tiền mặt.
"Tôi vừa mới đặt mua một chiếc tủ chè, nhưng ngân phiếu về khoản trợ cấp của tôi chưa đến nơi. vậy có phiền anh lắm không, anh yêu qúy".
Nhưng, họ chẳng có gì phiền lòng cả.
Khi Eve đi ra chổ công cộng, nàng phải xếp đặt làm sao cho người đi theo nàng phải là những chàng trai độc thân. Còn những người có gia đình rồi thì nàng tiếp họ tại nhà. Eve tỏ ra rất kín đáo. Nàng thận trọng không để cho tên tuổi của nàng trở thành đề tài bàn tán trên báo chí, điều này không phải là vì nàng lo sợ số tiền trợ cấp của nàng sẽ bị cắt mà chính là vì nàng đã quyết định rằng một ngày kia bà nội nàng sẽ phải bò sát đất để đến với nàng. Bà Kate Blackwell cần có một người thừa kế để thay bà đảm nhiệm công ty Kruger - Brent. Alexandra không đủ khả năng để làm bất cứ việc gì ngoài công việc của một bà nội trợ, Eve cảm thấy hể hả với ý nghĩ này.
Một buổi trưa nọ, lật những trang báo Town and Country, Eve chợt nhìn thấy bức hình Alexandra đang khiêu vũ với một chàng trai trông hấp dẫn. Eve không nhìn vào hình ảnh Alexandra mà nhìn chàng trai ấy. Và nàng nhận ra rằng nếu Alexandra lấy chồng và có con trai thì đó là tai họa lớn cho Eve và cho các dự tính của nàng.
Nàng chăm chú nhìn bức hình một hồi lâu.
Trong suốt thời gian một năm, Alexandra đã gọi điện thoại cho Eve đều đặn, để mời nàng ăn trưa, ăn tối, nhưng lần nào Eve cũng kiếm cớ thoái thác. Nhưng bây giờ, Eve quyết định rằng đã đến lúc nàng phải nói chuyện với Alexandra. Vì vậy, nàng mời Alexandra đến căn hộ của nàng.
Alexandra chưa hề thấy căn hộ này trước đó, nên Eve cố thu hết can đảm để chờ đợi một lời bày tỏ thương hại. Thế nhưng, Alexandra chỉ nói, "Căn hộ này thật là thích, chị Eve ạ. Nó có vẻ rất ấm cúng, phải thế không, chị?".
Eve tủm tỉm cười, "Nó hợp với chị. Chị thích một cái gì thật thân mật". Eve đã cầm khá nhiều nữ trang và các bức tranh để có thể rời đến một căn hộ đẹp hơn, nhưng nếu làm như vậy thì bà Kate sẽ biết và sẽ hỏi nàng kiếm đâu ra tiền. Vào lúc này, phương châm của nàng là "cẩn thận, kín đáo".
"Bà nội có khỏe không?" Eve hỏi.
"Cũng khỏe" Alexandra do dự đáp, "Chị Eve ạ, em không biết chuyện gì đã xảy ra giữa bà nội và chị, nhưng nếu có việc gì chị cần em giúp đỡ thì em sẽ..."
Eve thở dài. "Bà không nói với em sao?"
"Không. Bà không muốn bàn đến chuyện ấy".
"Chị không trách bà nội. Tội nghiệp, có lẽ bà cảm thấy mình tội lỗi quá chừng. Số là trước đây chị có gặp một ông bác sĩ trẻ rất tốt. Chị và anh ấy sắp sửa cưới nhau. Hai người cùng ăn nằm với nhau. Thế là bà nội biết được chuyện ấy, bà đuổi chị ra khỏi nhà và không muốn nhìn thấy mặt chị nữa. Chị nghĩ rằng bà nội mình quá xưa cổ, Alex ạ"
Nàng nhìn thấy vẻ lo ngại trên mặt Alexandra. "Thật kinh khủng quá. Hai người nên đến gặp bà nội. Chắc chắn bà sẽ......."
"Anh ấy chết trong một tai nạn máy bay"
"Trời, chị Eve ạ, tại sao chị không nói với em chuyện này trước đây?"
"Lúc ấy chị thẹn quá, không dám nói với ai, ngay cả với em nữa". Nàng cầm lấy tay em gái, bóp thật chặt. "Em cũng biết đấy, chị kể cho em nghe tất cả mọi chuyện".
"Để em nói với bà nội. Em sẽ giải thích...."
"Đừng làm thế. Chị có quá nhiều tự ái. Em hãy hứa với chị rằng em sẽ không bao giờ nói điều này với bà. Không bao giờ"
"Nhưng chắc chắn bà nội sẽ..."
"Hứa đi!"
Alexandra thở dài. "Thôi được"
"Em hãy tin lời chị. Chị ở đây rất sung sướng. Đi đi về về tùy thích. Thật là tuyệt".
Alexandra nhìn chị và nhớ lại trước đây nàng đã nhớ chị biết bao nhiêu.
Eve quàng tay lên người Alexandra, và nói với vẻ trêu chọc. "Thôi, chị kể về chị như thế là đủ rồi. Bây giờ em hãy nói về những gì đã xảy đến với em. Em đã gặp được "Ông Hoàng tử đáng yêu" chưa? Chắc là có rồi chứ gì?"
"Chưa"
Eve nhìn kỹ cô em gái. Nó là tấm gương phản chiếu hình ảnh của nàng, vì vậy nàng quyết định phải phá hủy nó đi. "Rồi em sẽ có, em ạ"
"Em chưa vội. Em cho rằng đã đến lúc em bắt đầu phải tự nuôi sống. Em đã nói với bà nội về chuyện ấy. Tuần sau, em sẽ gặp người đứng đầu một hãng quảng cáo để bàn về việc làm"
Hai người cùng ăn trưa trong một quán ăn nhỏ gần nơi ở của Eve. Eve đòi trả tiền cho kỳ được. Nàng không cần chút gì của em gái.
Khi hai người chia tay nhau, Alexandra nói, "Chị Eve ạ, nếu chị cần tiền..."
"Đừng nói vớ vẩn thế, em ạ. Chị thiếu gì tiền..."
Alexandra vẫn chưa chịu. "Thế nhưng, khi nào chị thiếu tiền, chị có thể lấy bất cứ thứ gì em có".
Eve nhìn thẳng vào mắt Alexandra. "Chị sẽ tin vào điều đó". nàng mỉm cười "nhưng thực sự chị không cần gì cả, Alex ạ". Nàng không thèm nhặt những mảnh vụn. nàng có ý định ăn cả cái bánh. Vấn đề là: Làm thế nào để chiếm lấy nó?
*
**
Một buổi tiệc cuối tuần được tổ chức ở Nassau.
"Có chị đến dự thì buổi tiệc sẽ khác hẳn, Eve ạ. Tất cả các bạn của chị đều sẽ có mặt".
Người gọi là Nita Ludwig, một cô gái Eve đã quen biết ở trường học bên Thụy Sĩ.
Nàng sẽ gặp một số bạn trai mới. Nàng đã chán với những "thu hoạch" hiện tại rồi.
"Nghe có vẻ vui đấy. Tôi sẽ đến". Eve nói.
Trưa hôm ấy, nàng cầm một chiếc vòng ngọc do một ông chủ hãng bảo hiểm, đã có vợ và ba con, tặng nàng tuần trước vì quá say đắm nàng. Với số tiền cầm đồ ấy, nàng sẽ sắm một bộ đồ mùa hè mới ở hiệu may Lord and Taylor, và mua vé khứ hồi đi Nassau...Sáng hôm sau, nàng lên máy bay.
*
**
Tài sản của gia đình Ludwig là một tòa lâu đài to lớn, trãi dài trên bãi biển. Ngôi nhà chính có ba mươi phòng, và phòng nhỏ nhất cũng lớn hơn cả căn hộ của Eve. Eve được một người hầu gái mặc đồng phục dẫn đến căn phòng dành riêng cho nàng. Trong khi Eve rửa ráy cho mát mẻ thì người hầu gái ấy mở hành lý ra cho nàng. Sau đó, nàng đi xuống nhà gặp gỡ các khách mời.
Trong phòng khách có mười sáu người, và họ có một đặc điểm chung duy nhất: họ đều giàu có cả. Nita Ludwig là người tin tưởng mạnh mẽ vào câu phương ngôn: "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã". Những con người này có chung một suy nghĩ về cùng một thứ; họ cảm thấy dễ chịu khi ngồi với nhau vì họ đều nói chung một thứ ngôn ngữ. Họ chia xẻ với nhau những trường nội trú sang trọng nhất, những ngôi nhà lộng lẫy nhất, những chiếc thuyền buồm, những chiếc máy bay phản lực tư nhân, và cả những vấn đề thuế má. Một nhà báo đã phong cho họ cái tên là "giới phản lực", một danh xưng mà họ thường đưa ra để chế giễu nhau và lấy làm thích thú. Họ là một thiểu số được ưu đãi, được chọn lựa, tách rời ra khỏi những người khác do một vị thần biết phân biệt. Mặc kệ những người khác tin rằng tiền bạc không thể mua được tất cả mọi thứ. Nhóm người này biết rõ hơn. Với tiền bạc, họ mua được sắc đẹp, tình yêu, cuộc sống xa xỉ và một chổ đứng trên thiên đường. Đó là tất cả những thứ mà Eve đã bị tước đi do ý muốn bất thường của một bà già. Nhưng không được lâu đâu, Eve thầm nghĩ.
Nàng bước vào phòng khách thì cuộc nói chuyện rì rào ngưng bặt. Trong một căn phòng toàn là những người đẹp, nàng nổi bật lên trên tất cả. Nita dẫn Eve đi chào các bạn bè, và giới thiệu nàng với những người không quen biết. Eve thật là xinh đẹp và vui vẻ. Nàng quan sát từng chàng trai với cái nhìn hiểu biết, và lựa ra các mục tiêu của nàng với sự thành thạo của một nhà chuyên môn. Đa số những người lớn tuổi đều có vợ con, nhưng điều đó chỉ làm cho việc lựa chọn của nàng dễ dàng hơn.
Một chàng trai hói đầu, mặc chiếc quần short vuông và chiếc sơ mi thể thao kiểu Hawaii, đến bên nàng và nói, "Tôi đoán chắc cô đã chán nghe người ta khen cô là rất xinh đẹp, phải thế không?"
Eve thưởng cho ông ta một nụ cười nồng thắm và nói, "Tôi không bao giờ chán chuyện ấy cả, thưa ông........."
"Tên tôi là Peterson. Nhưng cô cứ gọi tôi là Dan cho thân mật. Cô là một minh tinh Hollywood mới phải"
"Tôi e rằng tôi không có tài đóng kịch"
"Nhưng tôi thì lại cho rằng cô có nhiều tài năng khác nữa"
Eve cười một cách bí hiểm "Khi nào ông thử rồi thì mới biết được, phải không, ông Dan?"
Dan liếm mép, "Cô đến đây một mình sao?"
"Vâng"
"Tôi có một chiếc du thuyền đậu ở trong vịnh. Có thể nào chúng ta cùng đi chơi vào ngày mai được không?"
"Nghe có vẻ thích đấy", Eve nói.
Dan cười, "Tôi không hiểu sao trước đây chúng ta không gặp nhau bao giờ. Tôi quen biết bà nội cô nhiều năm rồi"
Eve vẫn giữ nụ cười trên môi, nhưng phải cố gắng hết sức, "Bà nội tôi là một người rất được yêu mến", Eve nói, "Bây giờ có lẽ chúng ta nên đi đến nói chuyện với các bạn khác nhỉ".
"Đúng vậy, cô em yêu qúy ạ". Anh ta nháy mắt một cái, "Ngày mai nhé, nhớ đấy"
*
**
Từ lúc ấy, anh ta không thể nào gặp riêng Eve một lần nữa. Nàng tránh anh ta vào lúc ăn trưa, và sau bữa ăn, nàng mượn một chiếc xe hơi dành cho khách ở trong ga-ra, rồi lái xuống phố. Nàng đi qua tháp Black - Beard và khu vườn xinh đẹp Ardastra, nơi có những con hồng hạc màu sắc sặc sỡ đang biểu diễn. Nàng dừng ở bờ bể để xem những chiếc thuyền đánh cá đang trút lên bờ những con rùa thật to, những con tôm hùm, cá nhiệt đới, và nhiều vỏ ốc màu sắc sặc sỡ. Những vỏ ốc này sẽ được đánh bóng và bán cho các du khách.
Mặt nước trong vịnh trơn láng, sóng bể lóng lánh như kim cương. Bên kia vũng nước Eve có thể trông thấy bãi bể Paradise Island cong vòng như lưỡi liềm. Một chiếc thuyền máy vừa rời bến đậu ở bãi bể, và khi nó bắt đầu tăng thêm tốc độ thì hình dáng một người đàn ông bắt đầu nhô lên trên nền trời, kéo lê ở phía sau chiếc thuyền. Thật là một quang cảnh khiến cho người ta phải giật mình, sửng sốt. Người ấy xuất hiện, bám lơ lửng vào một thanh kim khí buộc chặt với một chiếc buồm màu xanh, thân hình anh ta dài, mảnh khảnh, duỗi ra chống chọi lại sức gió. Eve đứng nhìn say mê, trong khi chiếc thuyền máy gầm lên, tiến về phía cảng, và hình người treo lơ lửng trên không lướt đến gần hơn. Chiếc thuyền đến gần bến đậu, đổi hướng rất nhanh. Trong chốc lát, Eve nhìn thoáng thấy mặt người ấy, đen sẫm và đẹp trai, rồi anh ta biến đi đâu mất.
*
**
Năm giờ sau, anh ta bước vào trong phòng khách của Nita Ludwig. Eve có cảm tưởng như thể nàng đã buộc anh ta phải đến đây. Nàng đã biết anh sẽ xuất hiện. Nhìn gần, anh ta trông càng đẹp trai hơn nữa. Anh cao chừng hai thước, nét mặt rám nắng như được chạm trổ tuyệt hảo, mắt xanh và thân hình gọn gàng như một vận động viên. Khi cười, anh để lộ hàm răng trắng, đều đặn. Anh nhìn xuống Eve, tủm tỉm cười, khi Niata giới thiệu anh với nàng.
"Đây là George Mellis. Còn đây là Eve Blackwell"
"Lạy Chúa, cô giống như bức tranh trong viện bảo tàng Louvre", George Mellis nói. Giọng anh ta trầm và khàn khàn với một âm điệu khó có thể xác định.
"Đi theo tôi nào". Niata ra lệnh, "Tôi sẽ giới thiệu anh với các vị khách khác"
Anh ta vẫy tay xua nàng đi. "Khỏi phải bận tâm. Tôi đã gặp mọi người rồi".
Nita nhìn hai người, ra dáng suy nghĩ. "Thôi được, nếu tôi có thể làm gì được việc gì thì anh cứ gọi tôi nhé"
"Anh hơi lỗ mãng đối với chị ấy đấy, anh không thấy hay sao?", Eve hỏi.
Mellis cười. "Tôi không chịu trách nhiệm về những gì tôi nói hay tôi làm. Tôi đang yêu đây"
Eve phá lên cười
"Tôi nói thật đấy. Cô là người xinh đẹp nhất mà tôi chưa hề được thấy trong đời"
"Tôi cũng đang nghĩ về anh giống như vậy"
Eve không cần biết anh chàng này có nhiều tiền hay không. nàng đã bị anh ta làm mê hoặc. Không phải chỉ là do dáng vẻ bên ngoài của anh ta mà thôi. Anh ta có một sức hút như nam châm, một thứ sức mạnh kích thích. Không một người đàn ông nào đã từng tác động đến nàng như vậy. "Anh là ai?"
"Nita đã giới thiệu rồi. George Mellis"
"Anh là ai?" Nàng lặp lại câu hỏi.
"À, cô muốn hỏi theo nghĩa triết học chứ gì? Cái tôi hiện thực? Chẳng có gì hay ho để mà nói cả. Tôi là người Hy Lạp. Gia đình tôi trồng cây ô liu và các thứ khác"
Đúng là cái tên Mellis ấy rồi. Các nhãn hiệu thực phẩm Mellis có thể thấy ở tất cả các cửa hàng tạp hóa và siêu thị khắp nước Mỹ.
"Anh có gia đình chưa?"
Anh cười. "Lúc nào cô cũng hay hỏi trực tiếp như thế à?"
"Không"
"Tôi chưa có vợ"
Câu trả lời này gây cho nàng một cảm giác sung sướng bất ngờ. Chỉ cần nhìn chàng, Eve đã cảm thấy muốn chiếm đoạt chàng và được chiếm đoạt.
"Tại sao anh bỏ bữa cơm tối?"
"Cô muốn biết sự thật à?"
"Phải"
"Đó là một vấn đề rất riêng tư"
Nàng chờ đợi.
"Lúc ấy tôi bận thuyết phục một cô gái đừng có tự tử". Anh ta nói với một vẻ thản nhiên như thể đó là một chuyện xảy ra thông thường.
"Tôi hy vọng anh đã thành công"
"Tạm thời vào lúc này. Tôi hy vọng cô không phải là loại người thích tự vẫn"
"Không. Tôi cũng hy vọng anh không phải loại người ấy"
George Mellis phá lên cười. "Anh yêu em", anh nói, "Thật sự anh yêu em". Anh cầm lấy cánh tay Eve. Sự động chạm này khiến nàng rùng mình.
*
**
Mellis ở luôn bên cạnh Eve tối hôm ấy, hoàn toàn chú tâm đến nàng và quên đi tất cả mọi người khác. Anh có những bàn tay dài, nhỏ nhắn, và luôn luôn làm một việc gì đó cho Eve: đem rượu đến cho nàng, châm thuốc là cho nàng, sờ vào người nàng một cách kín đáo. Sự gần gũi với chàng làm cho thân hình nàng như bốc lửa; nàng nóng lòng muốn được ở một mình với chàng.
Đến nửa đêm, khi khách khứa bắt đầu rút lui về phòng, George Mellis nói, "Phòng em ở đâu?"
"Ở cuối hàng lang phía bắc"
Anh ta gật đầu, đôi mắt có lông mi dài như xoáy vào mắt nàng.
Eve cởi áo quần, tắm rửa, rồi mặc một chiếc áo ngủ mới, mỏng màu đen, bó sát thân hình. Vào lúc một giờ sáng, có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Nàng vội vã mở cánh cửa. George Mellis bước vào
Anh đứng ở đó, đôi mắt đầy vẻ thán phục. "Em làm cho Vunus de Milo giống như một con mụ xấu xí".
"Em có lợi điểm hơn pho tượng ấy", Eve thầm thì, "Em có hai cánh tay"
Nàng choàng hai cánh tay xung quanh người Mellis, kéo anh ta sát lại người nàng. Nụ hôn của anh khiến một thứ gì đó trong người nàng nổ bùng lên. Môi anh áp sát với môi nàng. Nàng cảm thấy lưỡi chàng đang thăm dò trong miệng.
"Trời ơi!", Eve rên rỉ.
Mellis bắt đầu cởi chiếc áo vét ra với sự giúp đỡ của Eve. Chỉ trong một lát, anh cởi hết áo quần, hoàn toàn trần truồng trước mặt nàng. Vóc người anh thật là tuyệt hảo. Nàng chưa bao giờ thấy ai như vậy bao giờ...
"Nhanh lên", Eve thúc giục, "Hãy yêu em đi". Nàng tiến đến chiếc giường, thân thể nàng như bốc lửa.
Mellis ra lệnh "Quay lưng lại......"
Nàng ngước mắt nhìn lên anh ta. "Em.....em không..."
Y vả nàng một cái vào miệng. Nàng trố mắt nhìn, sửng sốt.
"Quay lưng lại"
"Không"
Y lại đánh thêm một cái nữa một cách tàn nhẫn.
...........
Y đập mạnh cánh tay ngang gáy của Eve, khiến nàng bất tỉnh
..............
Nàng mở miệng định thét lên thật to, nhưng kịp ngăn chặn lại ngay vì sợ y có thể làm điều gì ghê gớm đối với nàng.
Nàng van xin "Trời, tôi xin anh. Anh làm tôi đau đớn quá"
.............
"Trời!Lạy Chúa!", Nàng thì thào, "Ngưng lại ngay đi! Ngưng ngay cái trò ấy!"
......................
Điều cuối cùng mà Eve nhớ lại là tiếng lầm bầm hung dữ phát ra từ trong người y và dường như nổ lên trong tai nàng.
Khi tỉnh lại, mở mắt ra, nàng thấy George Mellis đang ngồi trên ghế, ăn mặc tề chỉnh, miệng phì phèo điếu thuốc lá. Y đi đến chiếc giường, vuốt ve trên trán nàng. Nàng co người lại để tránh cái sờ mó của y.
"Em cảm thấy như thế nào, em yêu qúy?"
Eve cố ngồi dậy, nhưng cơn đau thật là mãnh liệt. nàng cảm thấy như thân hình bị xé ra từng mảnh. "Đồ súc vật khốn kiếp........"Giọng nói của nàng nghe như tiếng thì thào rời rạc.
Y cười. "Anh như thế là đã hiền dịu với em lắm rồi đó"
Nàng nhìn y, có vẻ chưa tin
Y cười, nói tiếp "Đôi khi anh rất thô bạo". Y lại vuốt tóc nàng lần nữa. "Nhưng anh yêu em, vì vậy anh tử tế với em. Rồi em sẽ quen đi. Anh hứa với em như vậy"
Nếu nàng có một thứ vũ khí nào đó lúc bấy giờ, hẳn nàng đã giết hắn ta rồi. "Anh là một thằng loạn trí"
Nàng thấy cặp mắt hắn lóe lên, hai bàn tay hắn nắm chặt lại. Lúc ấy nàng cảm thấy kinh sợ vô cùng. Hắn là một thằng điên.
Nàng vội vã nói. "Tôi không có ý nói như vậy. Chỉ có điều là....là tôi chưa quen với kinh nghiệm như vậy trước kia. Xin anh để cho tôi ngủ bây giờ. Tôi xin anh"
George Mellis nhìn nàng chằm chằm một lúc, rồi dịu lại. Y đứng dây đi đến bàn trang điểm, nơi Eve để các nữ trang của nàng. Ở đó có một chiếc vòng bạch kim và một chuỗi kim cương đắt tiền. Hắn nhặt lấy chuỗi kim cương bỏ vào túi. "Anh sẽ giữ cái này làm kỷ niệm"
Eve quá sợ hãi, không dám mở miệng phản đối.
"Chúc em ngủ ngon nhé, em yêu quý". Y bước đến chiếc giường, cúi người xuống hôn lên môi Eve.
Nàng chờ cho đến khi hắn đã đi khỏi mới bò ra khỏi giường, thân thể như cháy rực vì đau đớn. Mỗi bước đi là một cơn đau khủng khiếp. Chỉ đến khi nàng khóa trái cửa phòng, lúc ấy nàng mới cảm thấy an toàn. Không chắc có bước nổi đến phòng tắm hay không, nàng ngã lăn xuống giường một lần nữa, chờ đợi cơn đau giảm bớt. Nàng không thể tin được nổi giận dữ của nàng lúc ấy lớn lao đến mức nào. Hắn đã làm tình với nàng như một con thú vật.....một cách kinh tởm và tàn nhẫn. Nàng tự hỏi không biết hắn ta đã làm những gì để cho cô ấy phải tự vẫn.
Khi Eve kéo lê được đến phòng tắm và nhìn vào trong gương, nàng bổng thất kinh. Mặt nàng bị bầm dập, mất cả màu sắc, ở những nơi hắn đánh đập, và một mắt nàng sưng vù lên. Nàng cho nước nóng chảy vào bồn tắm, rồi trèo vào trong đó như một con vật bị thương, để cho nước ấm làm dịu và trôi đi cơn đau nhức. Eve nằm ở đó thật lâu; cuối cùng, khi nước bắt đầu nguội đi, nàng ra khỏi bồn tắm, thử bước một vài bước. Cơn đau đã bớt đi nhưng vẫn còn nhức nhối lắm. Nàng nằm thao thức suốt cả đêm, lo sợ rằng hắn ta có thể trở lại.
*
**
Khi Eve thức dậy vào lúc rạng đông, nàng thấy các tấm khăn trãi giường đều vấy máu. Nàng sẽ bắt hắn ta trả giá đắt về việc này. Nàng bước vào phòng tắm, rất thận trọng, rồi lại cho nước nóng chảy vào bồn tắm. Mặt nàng lúc này sưng to hơn nữa, và các vết bầm rõ rệt hơn. Nàng nhúng một chiếc khăn vào nước lạnh, đắp lên má và mắt. Rồi nàng nằm trong bồn tắm, suy nghĩ về George Mellis . Có một cái gì đó khó hiểu trong hành vi của Mellis, không có liên hệ gì đến thói ác dâm của hắn. Đột nhiên nàng hiểu ra cái ấy là cái gì. Đó là chuỗi kim cương của nàng. Tại sao hắn lại lấy thứ đó đi?
*
**
Hai giờ sau, Eve xuống nhà dưới để ăn sáng với mọi người, cho dù nàng không cảm thấy đói. Nàng rất cần phải gặp Nita Ludwig
"Lạy Chúa! Mặt chị làm sao vậy?" Niata hỏi.
Eve cười buồn bã "Em thật là ngốc quá. Em thức dậy vào nửa đêm, định đi vệ sinh, thế nhưng em lại lười không chịu bật đèn lên. Em bước thẳng đến một trong các cánh cửa giả, rồi va vào đó"
"Chị có cần bác sĩ xem vết thương cho chị không?"
"Không có gì đâu", Eve trấn an Nita, "Chỉ là một vết bầm nhỏ thôi mà". Eve nhìn quanh quất, "George Mellis đâu rồi?"
"Anh ấy đang chơi quần vợt. Anh ấy là một tay chơi quần vợt số một đấy. Anh ấy nhờ nói với chị rằng anh ấy sẽ gặp chị vào bữa cơm trưa. Có vẻ như anh ấy thích chị thực sự".
"Chị hãy nói cho em biết về anh ta đi". Eve hỏi, làm ra vẻ tình cờ. "Gốc gác anh ta thế nào"
"George ấy à? Anh ấy xuất thân từ một gia đình Hy Lạp giàu có. Anh ta là con trai trưởng, và rất giàu có. Anh ấy làm việc ở một hãng chuyên làm môi giới ở New York, tên là Hanson and Hanson"
"Anh ta không làm công việc kinh doanh của gia đình hay sao?"
"Không. Anh ta ghét các cây ô liu. Dù sao với của cải của gia đình Mellis, anh ta chẳng cần phải làm việc. Em cho rằng anh ấy làm việc để khỏi ngồi không vào ban ngày thôi". Nàng cười và nói, "Đêm tối thì anh ta bận rộn lắm"
"Thật thế sao?"
"Chị yêu quý ạ, George Mellis là một anh chàng độc thân rất đắt giá. Các cô gái đều sẵn sàng hiến dâng cho anh ta. Ai cũng hy vọng trở thành bà Mellis cả. Thành thực mà nói, nếu như chồng em không có tính hay ghen, em cũng đã theo đuổi anh chàng Mellis ấy rồi. Anh ta là một anh chàng "ba mươi lăm" kỳ tài, phải không chị?"
"Phải, kỳ tài", Eve nói.
George bước vào sân thượng, nơi Eve đang ngồi một mình. Nàng cảm thấy nỗi sợ hãi như nhát dao đâm vào da thịt.
Hắn bước đến gần nàng và nói. "Chào Eve. Em khỏe chứ?". Mặt hắn tỏ ra vẻ lo lắng thục sự. Hắn sờ nhẹ lên má bầm của Eve. "Em yêu quý ạ, em xinh đẹp lắm". Hắn kéo một chiếc ghế, ngồi giạng hai chân trên đó, rồi chỉ về phía bể lóng lánh. "Em có thấy cảnh nào đẹp như vậy chưa?"
Y làm như thể câu chuyện đêm qua chưa hề bao giờ xảy ra. Nàng lắng nghe George Mellis trong khi y vẫn tiếp tục nói chuyện, và một lần nữa nàng cảm thấy sức hút mạnh như nam châm của con người này. Ngay cả sau cơn ác mộng nàng đã trãi qua, nàng vẫn cảm thấy điều đó. Anh ta giống như một vị thần Hy Lạp. Anh ấy là pho tượng trong bảo tàng. Một nhân vật trong dưỡng đường dành cho người điên.
"Anh phải trở về New York tối nay", Mellis nói, "Anh sẽ gọi điện thoại cho em ở đâu?"
"Tôi mới dọn nhà", Eve nói thật nhanh. "Chưa có số điện thoại. Khi nào có tôi sẽ gọi cho anh biết"
"Thế cũng được, em yêu quý ạ". Y nhoẻn miệng cười. "Đêm qua, em thực sự thích chứ?"
Eve không còn tin nổi tai mình nữa.
"Anh có nhiều thứ để dạy em, Eve ạ". Y thì thầm.
Và tôi cũng có nhiều thứ để dạy ông, ông Mellis ạ. Eve nhủ thầm.
*
**
Ngay khi trở về nhà, Eve gọi điện thoại cho Dorothy Hollister. Ở New York, nơi các phương tiện truyền thông thường dành một phần cho những câu chuyện đi đi về về của cái mà người ta gọi là "những người đẹp", Dorothy là một đầu nguồn thông tin cho những câu chuyện ấy. Bà đã có một người chồng thuộc hàng tai mắt trong xã hội, nhưng ông chồng đã ly dị bà để lấy một cô thư ký hai mươi mốt tuổi của ông ta. Dorothy đành phải đi làm việc, chọn một nghề thích hợp với tài năng của bà nhất. Bà trở thành một nhà báo chuyên viết về những chuyện ngồi lê đôi mách. Bởi vì bà quen biết nhiều người thuộc giới mà bà hay đề cập đến, và vì người ta cho bà là một người đáng tin cậy, nên ít người giấu diếm những điều bí mật đối với bà.
Nếu có một người nào có thể cho Eve biết về George Mellis thì người ấy ắt phải là Dorothy Hollister. Eve mời bà ta đến ăm cơm trưa ở La Pyramide. Hollister là một người đàn bà béo mập, với một khuôn mặt núc ních những mỡ, tóc nhuôm đỏ, một giọng nói khàn khàn và tiếng cười be be như lừa kêu. Người bà nặng trĩu nữ trang - tất cả là đồ giả.
Khi gọi các món ăn xong, Eve nói ra vẻ tình cờ. "Tôi ở Bahamas tuần trước. Nơi ấy thật là đẹp"
"Tôi biết cô ở đâu rồi", Dorothy nói "Tôi có danh sách các khách mời của Nita Ludwig ở đây. Cuộc đi chơi ấy vui lắm nhỉ?"
Eve nhún vai. "Tôi đã gặp nhiều bạn cũ. Tôi cũng gặp một người đàn ông rất đáng chú ý tên là...." Nàng ngưng lại, nhăn mặt ra dáng suy nghĩ - "tên là George gì gì đó. Hình như là Miller thì phải. Một người Hy Lạp"
Dorothy cười to lên một tiếng cười rất to vang lên suốt căn phòng. "Mellis, cô em ạ. George Mellis"
"Đúng rồi, Mellis. Bà quen anh ta à?"
"Tôi đã gặp anh ta rồi. Lúc ấy tôi tưởng mình sắp biến thành một cột mối. Lạy Chúa, anh ta trông thật là to lớn"
"Gốc gác anh ta thế nào?"
Dorothy nhìn quanh, rồi vươn người ra nói với vẻ bí mật. "Không ai biết điều này, nhưng cô phải giữ kín nhé. George Mellis là con chiên ghẻ trong gia đình. Gia đình anh ấy kinh doanh thực phẩm, và giàu có không sao tả xiết. Lẽ ra George sẽ nắm lấy cơ sở kinh doanh của gia đình, nhưng anh ta dính líu vào nhiều vụ lôi thôi với bọn trai, gái và những kẻ dâm dục, cho nên ông bố chán nản quá, phải cho anh ta xuống tàu rời khỏi xứ"
Eve như uống từng lời lẽ một.
"Tội nghiệp anh chàng ta bị bố mẹ đuổi đi mà không có một đồng xu trong túi, vì thế anh ta phải làm việc để tự nuôi sống"
Thì ra là thế mà anh ta lấy chuỗi kim cương của mình!
"Tất nhiên anh ta chẳng việc gì phải lo. Một ngày nào đó George sẽ lấy một cô vợ giàu". Bà ta nhìn qua phía Eve và hỏi "Cô có thích không, hở cô em xinh đẹp?"
"Không hẳn thế"
Thật ra Eve rất thích thú chuyện ấy. George Mellis sẽ là chiếc chìa khóa để mở ra kho của cải của nàng.
Sáng sớm hôm sau, nàng gọi điện thoại cho Mellis ở hãng môi giới, nơi anh ta làm việc. Y nhận ra ngay tiếng nói của Eve.
"Anh đang chờ đợi em gọi đến điên người đây, Eve ạ. Chúng ta sẽ ăn cơm tối với nhau tối nay, sau đó...."
"Không. Cơm trưa, ngày mai"
Mellis do dự, ngạc nhiên. "Được rồi, anh dự định sẽ ăn cơm trưa với một khách hàng, nhưng anh sẽ dời bữa ăn ấy sang ngày khác"
Eve không tin rằng đó là hắn ta. "Đến căn hộ của tôi", Eve nói. Nàng cho y địa chỉ. "Tôi sẽ gặp anh lúc mười hai giờ ba mươi"
"Anh sẽ đến đó". nàng nghe có vẻ khóai trá trong giọng nói của hắn ta.
*
**
Y ta đến trễ ba mươi phút, nhưng Eve nghĩ rằng đó là do thói quen của y. Đó không phải là một hành vi bất lịch sự cố ý, mà là thái độ thờ ơ, một sự tin tưởng rằng người ta sẽ luôn luôn chờ đợi mình. Những sự vui thích của y lúc nào cũng có sẵn ở đó cho y mỗi khi y chịu khó vươn tay ra để nắm lấy. Với vẻ hấp dẫn ghê gớm của y, tất cả thế giới đều thuộc về y. Chỉ trừ một điều duy nhất: Y nghèo. Đó là yếu điểm của y.
George Mellis nhìn quanh căn phòng bé nhỏ, đánh giá từng thứ một bằng cặp mắt thành thạo. "Trông rất vui tươi"
Y tiến đến gần Eve, dang hai cánh tay ra. "Anh nghĩ đến em từng phút, từng giây"
Nàng tránh ra xa. "Khoan đã. Tôi có điều muốn nói với anh"
Mắt y như xoáy vào mắt nàng. "Chúng ta sẽ nói sau"
"Nói ngay bây giờ". Nàng nói chậm rãi và rõ ràng từng tiếng một, "Nếu anh sờ vào người tôi, tôi sẽ giết anh"
Y nhìn Eve, môi cong lại cố nở nụ cười ngượng nghịu. "Trò đùa gì thế này?"
"Đây không phải là trò đùa, mà là chuyện nghiêm chỉnh. Tôi có một đề nghị làm ăn với anh"
Trên mặt y lộ vẻ bối rối, chưa hiểu. "Em gọi anh đến đây để bàn chuyện làm ăn"
"Đúng vậy. Tôi không biết anh kiếm được bao nhiêu tiền bằng cách lừa gạt các bà già ngu ngốc mua các chứng phiếu, các cổ phần, nhưng tôi chắc chắn rằng số tiền anh kiếm được không đủ cho anh tiêu xài.
Mặt y tối xầm vì giận dữ. "Em điên à? Gia đình anh.............."
"Gia đình anh giàu, nhưng anh thì không. Gia đình tôi giàu, nhưng tôi chẳng có gì. Cả anh và tôi đều như đang ngồi trên chiếc thuyền thủng đáy, anh yêu quý ạ. Tôi biết cách làm sao biến nó trở thành một chiếc du thuyền". nàng đứng tại chổ, nhìn vẻ tò mò của y đang dần dần lấn át cơn giận dữ.
"Em nên nói rõ cho anh biết em đang muốn nói chuyện gì"
"Đơn giản lắm. Tôi đã bị tước quyền thừa kế một tài sản rất lớn lao. Nhưng em gái Alexandra tôi thì không thế"
"Chuyện ấy thì có liên quan gì đến tôi?"
"Nếu anh lấy Alexandra, của cải ấy sẽ thuộc về anh - về hai chúng ta"
"Rất tiếc. Anh không bao giờ chịu đựng được ý tưởng bị ràng buộc với bất cứ người nào"
"Tình cờ mà vấn đề ấy không khó khăn gì cả trong trường hợp này. Em gái tôi lúc nào cũng dễ bị tai nạn".


Hết chương XXVI - muốn biết Eve Blackwell và George Mellis bàn mưu tính kế để chiếm quyền thừa kế công ty Kruger - Brent ra sao, xem chương XXVII sẽ rõ.
Chu Rờ Mo.


Mo
0
Chuột lắc ơi
Còn truyện nào của Sidney Seldon cần gõ, mình gõ tiếp cho.
Chú ý: Sidney Seldon hoặc James Chase mình mới có hứng thú gõ.
Mo
0
TAY CỰ PHÁCH (CHƯƠNG 8 - TẬP 1)

Đã đến lúc cho bật cái bẫy sập. Trong sáu tháng trước đây, Jamie McGregor đã mua đứt phần hùn của những người hợp tác với Van der Merwe trong tất cả mọi dịch vụ kinh doanh, khiến cho Jamie bây giờ hoàn toàn không chế các dịch vụ ấy. Nhưng mối ám ảnh của Jamie là làm chủ được các mỏ kim cương của Van der Merwe ở Namib. Anh đã phải trả cho các mỏ ấy một trăm lần lớn lao hơn thế bằng máu, bằng sự gan dạ, và suýt nữa bằng cả sinh mạng của anh. Anh đã sử dụng những viên kim cương mà anh và Banda đã lấy trộm được để xây dựng một đế quốc, và nhờ đó anh sẽ đè bẹp lão Van der Merwe. Nhiệm vụ này chưa hoàn tất. Bây giờ, Jamie sẵng sang thanh toán nó cho xong.
Van der Merwe mỗi lúc mỗi thêm nợ nần. Mọi người trong thị trấn đều từ chối không cho lão vay tiền, ngoại trừ ngân hàng mà Jamie đã kín đáo làm chủ. Chỉ thị hiện hành, mà anh ban cho viên quản lý ngân hang, là, “Hãy cho Salomon van der Merwe mọi thứ hắn cần”.
Cửa hàng bách hoá bây giờ dường như không mở cửa bao giờ. Van der Merwe bắt đầu uống rượu vào buổi sáng sớm, rồi đến trưa lão thường đi đến nhà bà Agnès, và đôi khi lão ở luôn đêm tại đấy.
Một buổi sáng nọ, Margaret đang đứng ở quầy hàng thịt chờ đợi mua gà theo lệnh của bà Owens thì nàng chợt thoáng thấy qua cửa sổ cha nàng vừa rời khỏi nhà thổ. Nàng khó mà nhận ra được ông già lôi thôi lếch thếch đang lê bước dọc theo đường phố. Chính mình đã gây cho ông cảnh ngộ này. Lạy Chúa, xin Người tha tội cho con, vì chính con đã gây nên nông nỗi này!
Salomon van der Merwe không có một chút ý tưởng nào về những gì đang xảy ra với lão. Lão biết rằng, bằng một cách nào đó, không phải lỗi do lão, cuộc đời của lão đang bị huỷ hoại. Chúa đã chọn lão - giống như xưa kia Người đã chọn Job(1) - để thử thách sức mạnh của đức tin của lão. Van der Merwe tin chắc rằng cuối cùng lão cũng sẽ chiến thắng được kẻ thù giấu mặt. Điều cần thiết đối với lão là thời gian và tiền bạc nhiều hơn nữa. Lão đã đưa ra làm bảo đảm cửa hang bách hoá của lão, phần hùn của lão tại sáu mỏ kim cương nhỏ, ngay cả con ngựa và chiếc xe ngựa cũa lão nữa. Cuối cùng, lão không còn gì nữa, ngoài mỏ kim cương ở Namib, và vào ngày lão đưa nốt mỏ này ra để ký quỹ thì Jamie chụp ngay lấy nó.
(1): Job: tên một nhân vật trong Cựu ước, đã từng chịu nhiều đau khổ nhưng vẫn không mất đức tin vào Thượng đế.

“Thu lại tất cả các giấy tờ của lão”, Jamie ra lệnh cho viên quản lý. “Cho lão ta hai mươi bốn tiếng đồng hồ để trả toàn thể số nợ, nếu không sẽ tịch thu cả tài sản”.
“Thưa ông McGregor, ông ta không thể nào kiếm ra được số tiền ấy. Ông ta…”.
“Hai mươi bốn tiếng đồng hồ”.
Vào đúng bốn giờ trưa hôm sau, viên phụ tá quản lý ngân hàng xuất hiện ở cửa hàng bách hoá cùng với viên cảnh sát trưởng và một lệnh tịch biên tất cả mọi tài sản của Salomon van der Merwe. Từ toà nhà trụ sở của anh ở bên kia đường, Jamie đứng nhìn Van der Merwe bị trục xuất khỏi cửa hiệu bách hoá. Lão đứng ở bên ngoài, mắt hấp háy dưới ánh nắng, không còn biết làm gì hay quay vào đâu để tìm sự giúp đỡ. Lão bị lột sạch mọi thứ. Cuộc trả thù của Jamie đã hoàn tất. Thế nhưng, Jamie tự hỏi, tại sao mình không có cảm giác chiến thắng? Anh chỉ thấy trong lòng trống rỗng. Kẻ mà anh huỷ hoại đã huỷ hoại anh trước tiên.
Khi Jamie bước vào nhà bà Agnès đêm hôm ấy, bà ta nói, “Anh có nghe tin chưa, Jamie? Salomon van der Merwe đã bắn vào đầu tự tử cách đây một giờ đồng hồ”.

Tang lễ được cử hành tại một nghĩa địa ảm đạm, lộng gió, bên ngoài thị trấn. Ngoài toán người lo việc chôn cất, chỉ có hai người tham dự: Margaret và McGregor. Margaret mặc chiếc áo dài đen không ra hình thù gì để che cái bụng lớn của nàng. Nàng trông xanh xao, ốm yếu. Jamie đứng cao to, sang trọng, kín đáo và xa vời. Cả hai đứng ở phía đối diện nhau bên cạnh huyệt, nhìn theo chiếc hòm bằng gỗ thông thô sơ dần dần được hạ xuống lòng đất. Những cụa đất được ném cồm cộp trên mặt hòm, nghe như tiếng kêu dội vào tai Margaret: Con đĩ !... con đĩ !....
Nàng nhìn Jamie qua cái huyệt. Hai cặp mắt gặp nhau. Cái nhìn của Jamie trông lạnh lung, trống rỗng, như thể nàng là một kẻ xa lạ. Margaret cảm thấy ghét anh ta ngay lúc ấy. Anh đứng ở đấy mà không có một cảm xúc nào cả, nhưng chính anh cũng tội lỗi giống như tôi. Chính chúng ta đã giết ông ấy, cả anh và tôi.
Dưới con mắt của Thượng đế, tôi là vợ anh. Nhưng chúng ta là những kẻ đồng loã trong tội ác. Nàng nhìn xuống cái huyệt chưa đắp kín, xem những xuổng đất cuối cùng phủ lên nắp hòm gỗ thong. “Hãy yên nghỉ”, nàng thì thầm, “Hãy yên nghỉ”.
Khi nàng ngước mắt nhìn lên, Jamie đã rời đi rồi.

Có hai ngôi nhà gỗ ở Klipdrift được dùng làm bệnh xá, nhưng chúng đều bẩn thỉu, mất vệ sinh, nên ở đó nhiều bệnh nhân bị chết hơn là được cứu sống. Trẻ được sinh ở nhà riêng. Khi ngày sinh của Margaret đã gần kề, bà Owens nhờ sự giúp đỡ của một bà mụ đỡ tên là Hannah. Cơn đau đẻ bắt đầu lúc ba giờ sáng.
“Bây giờ, cố rặn đi nhé, rồi cứ để nó tự nhiên như vậy, ra sao thì ra”.
Cơn đau đầu tiên đem đến một nụ cười trên môi Margaret. Nàng cho ra đời một đứa con trai của nàng, và nó sẽ có một cái tên. Nàng sẽ cố làm sao để Jamie McGregor phải công nhận đứa con này của anh ta. Con trai nàng sẽ không bị trừng phạt.
Cơn đau đẻ vẫn tiếp tục, giờ này qua giờ khác, và khi một số khách trọ bước vào phòng Margaret để xem thì bị đuổi ra ngay lập tức.
Bà Hannah nói với Margaret, “Đây là vấn đề riêng tư giữa cô, Thượng đế và thằng quỉ sứ đã gây cho cô sự rắc rối này”.
“Có chắc là con trai không?” Margaret hổn hển hỏi.
Bà Hannah lau trán Margaret bằng một cái khăn ướt. “Tôi sẽ cho cô biết ngay sau khi thăm dò ở bên trong. Bây giờ cố rặn đi. Thật mạnh vào. Thật mạnh, mạnh hơn nữa”.
Những cơn co giật bắt đầu xảy ra gần nhau hơn, cơn đau như xé truyền khắp thân hình. Lạy Chúa, chắc có gì không ổn rồi, Margaret nghĩ thầm.
“Cố gắng thêm nữa !”, bà Hannah nói. Bỗng tiếng nói của bà ta nghe có vẻ hoảng sợ, bà kêu lên, “Nó cuộn lại ở bên trong, tôi không thể nào lôi nó ra được!”.
Qua một lớp sương mù màu đỏ, Margaret thấy bà Hannah cúi xuống, vặn vẹo thân hình nàng, căn phòng bắt đầu mờ đi, rồi đột nhiên nàng không thấy đau nữa. Nàng đang bập bềnh trong không gian. Ánh sáng chói lọi loé lên ở cuối đường hầm, một người nào đó vẫy nàng lại gần. Đó là Jamie. “Anh đến đây, Maggie, em yêu quí. Em sắp cho anh một đứa con trai xinh đẹp”. Anh ấy đã trở về với nàng. Nàng không còn ghét anh ấy nữa. Lúc ấy nàng mới biết rằng nàng không hề bao giờ ghét anh ấy cả. Nàng nghe một tiếng nói, “Gần xong rồi”, tiếp theo đó là cơn đau như xé ruột gan khiến nàng phải thét to lên.
“Nào, nó sắp ra rồi đấy”, bà Hannah nói.
Một giây sau, nàng thấy như có một luồng nước ươn ướt tuôn ra giữa hai đùi, tiếp theo là tiếng kêu đắc thắng của bà Hannah. Bà giơ cao lên một khối đỏ hỏn và nói, “ Chào mừng cháu đến Klipdrift. Cô em yeu quí ạ, ô đã có một đứa con trai rồi đấy”.
Nàng đặt tên cho nó là Jamie.
Margaret biết rằng tin về đứa trẻ sẽ đến tai Jamie nhanh chóng. Nàng chờ đợi Jamie đến thăm hay cho người mời nàng đến. Thế nhưng, nhiều tuần lễ trôi qua, Margaret không nghe tin tức gì. Nàng nhắn lời cho Jamie. Người nàng nhờ đưa tin trở về ba mươi phút sau.
Margaret rất nóng long chờ đợi tin tức. “Em có gặp ông McGregor không?”
“Thưa bà, có ạ”.
“Thế em có chuyển lời nhắn của chị chứ?”
“Thưa bà, có ạ”.
“Thế ông ấy bảo sao?”, nàng hỏi.
Thằng bé có vẻ bối rối. “Ông ấy bảo… ông ấy bảo ông không có đứa con trai nào cả, bà Van der Merwe ạ”.
Nàng khoá chặt cửa lại, cùng với đứa bé nằm trong phòng suốt cả ngày, đêm, nhất định không ra ngoài. “Vào lúc này, cha con đang bực bội, con ạ. Ông ấy nghĩ rằng mẹ con đã làm điều gì xấu đối với ông ấy. Nhưng con là con trai của ông ấy, ông ấy sẽ đưa mẹ con mình về nhà ông, và sẽ yêu mến mẹ con ta. Rồi con sẽ thấy, con yêu quí ạ. Mọi sự sẽ tốt đẹp cả thôi”.
Đến buổi sáng, khi bà Owens bước vào, nàng ra mở cửa. Nàng có vẻ bình tĩnh một cách lạ thường.
“Cô thấy thế nào, Maggie?”
“Tôi cảm thấy khoẻ rồi, xin cám ơn bà”. Nàng mặc cho Jamie một trong bộ quần áo mới. “Tôi sắp sửa cho cháu đi ra ngoài bằng xe đẩy sáng hôm nay”.
Chiếc xe đẩy, món quà tặng của bà Agnès và các cô gái, là một chiếc xe rất đẹp. Nó làm bằng thứ sậy rất tốt, có đáy mây chắc, vững, tay cầm bằng gỗ uốn. Nó được bọc nệm gấm nhập cảng, với những đường viền nhung lụa, và có một cái dù cắm ở phía sau với diềm đăng ten xếp xếp.
Margaret đẩy chiếc xe xuống lề đường chật hẹp của đường Loop. Chốc chốc có một người lạ mặt dừng lại, mỉm cười với đứa bé, nhưng các bà thì đưa mắt nhìn sang chỗ khác hay đi sang bên kia lề đường để tránh Margaret.
Nhưng Margaret không chú ý đến họ. Nàng đang cố tìm một người. Mỗi khi thời tiết đẹp, Margaret cho thằng bé ăn mặc đẹp đẽ, rồi đưa nó ra ngoài trong chiếc xe đẩy. Vào cuối một tuần lễ, khi Margaret đã không gặp được Jamie một lần nào trên các đường phố, nàng nhận ra rằng chàng đã cố tình lẩn tránh nàng. Được rồi, nếu anh không muốn đến thăm con thì hắn sẽ đến tận nơi để gặp bố. Maggie quyết định như vậy.
Sáng hôm sau Margaret đến gặp bà Owens trong phòng khách, “Tôi sẽ đi chơi một thời gian ngắn, bà Owens ạ. Tôi sẽ trở về nhà trong một tuần lễ”.
“Cháu bé còn quá nhỏ, chưa đi xa được đâu, Maggie ạ”.
“Nó sẽ ở lại trong thị trấn này”.
Bà Owens nhăn mặt, “Cố muốn nói rằng nó ở đây à?”
“Không, bà Owens ạ. Không phải ở lại trong nhà này”.

Jamie McGregor đã xây dựng một ngôi nhà của anh trên một đỉnh đồi nhìn xuống Klipdrift. Đó là một ngôi nhà trệt thấp, mái xuôi, với hai chái lớn, nối với toà nhà chính bằng những mái hiên rộng. Xung quanh ngôi nhà có những bãi cỏ xanh, điểm thêm những cây to và một khu vườn hồng tươi tốt. Phía sau là nhà xe và nơi ăn ở riêng của gia nhân. Mọi công việc xếp đặt trong nhà đều giao cho bà Eugenia Talley đảm trách. Đó là một bà goá phụ trạc trung niên, có sáu đứa con đã lớn ở bên Anh.
Margaret đi đến nơi ấy, với đứa con trai bồng trên tay lúc mười giờ sáng, tức là vào giờ nàng biết rằng Jamie đang ở Văn phòng. Bà Talley mở cửa, nhìn Margaret và đứa bé với vẻ ngạc nhiên. Cũng như mọi người khác sống trong phạm vi một trăm dặm, bà Talley biết rõ họ là ai rồi.
“Tôi xin lỗi bà, ông McGregor không có ở nhà”, bà quản gia nói, định đóng cánh cửa lại.
Margaret ngăn bà ta lại. “Tôi không định đến gặp ông McGregor. Tôi chỉ đem cho ông ta đứa con trai của ông ấy”.
“Tôi e rằng tôi không biết chút gì về chuyện ấy cả. Bà….”
“Tôi sẽ đi vắng chừng một tuần lễ. Tôi sẽ trở lại đây xin lại đứa bé”. Nàng đưa đứa bé cho bà Talley. “Tên cháu là Jamie”.
Một vẻ kinh hãi thoáng hiện trên khuôn mặt bà Talley. “Bà không thể để nó ở lại đây được!. Ông McGregor sẽ… “
“Có hai cách lựa chọn, bà Talley ạ. Bà có thể hoặc đưa nó vào trong nhà, hoặc để mặc nó ở đây trên bục cửa này cũng được”.
Không nói thêm một lời nào, nàng dúi đứa bé vào cánh tay của bà Talley, rồi bước ra về.
“Khoan đã, bà không thể làm thế được. Trở lại đây! Bà… “.
Nhưng Margaret không quay mặt trở lại. Bà Talley đứng yên tại chỗ, bồng một cái gói bé nhỏ trong tay, suy nghĩ. Ôi, lạy Chúa! Ông McGregor sẽ nổi sùng lên cho mà coi!

Bà Talley chưa hề thấy Jamie trong một trạng thái giận dữ như vậy bao giờ. Anh hét lên, “Sao bà có thể ngu xuẩn đến như vậy? Bà chỉ việc đóng sầm cánh cửa trước mặt cô ấy!”.
“Nhưng cô ấy không cho tôi kịp làm cái gì cả, ông McGregor a. Cô ấy… “.
“Tôi không muốn đứa con của cô ấy ở trong nhà tôi !”
Trong cơn giận dữ, anh bước lên bước xuống, thỉnh thoảng dừng lại trước mặt người đàn bà không may ấy, và nói, “Tôi phải đuổi bà ra khỏi cửa vì vụ này”.
“Cô ấy sẽ trở lại đây trong một tuần lễ nữa để lấy lại đứa con. Tôi… “.
“Tôi không cần biết lúc nào thì cô ta trở lại đây”, Jamie hét lên. “Đem đứa bé này ra khỏi nơi này. Ngay bây giờ! Đem đi cho rảnh mắt tôi”.
“Ông bảo tôi làm thế nào bây giờ, ông McGregor?” Bà hỏi với một giọng cứng rắn.
“Thả nó ra ở một nơi nào đó trong thành phố. Chắc phải có một nơi nào đó để bà để lại nó chứ?”.
“Nơi nào?”
“Làm sao tôi biết nơi quỉ quái nào được?”.
Bà Talley nhìn cái gói bé nhỏ đang bồng trong tay. Tiếng la hét đã làm cho thằng bé bắt đầu khóc thét lên. “Không có nhà nuôi trẻ mồ côi nào ở Klipdrift”. Bà bồng đứa bé đưa qua đưa lại, nhưng nó lại càng la hét lớn hơn nữa. “Phải có người nào săn sóc nó”.
Jamie cào ngón tay lên tóc, nói với vẻ tuyệt vọng, “Mẹ kiếp, thôi được rồi. Bà đã rộng lượng nhận đứa bé ấy thì bà săn sóc cho nó”.
“Vâng, thưa ông”.
“Và bà ngăn chặn cái tiếng khóc của nó lại, kẻo tôi không sao chịu nổi. Nhớ điều này nhé, bà Talley. Tôi muốn nó khuất khỏi mắt tôi. Tôi không muốn biết rằng có nó trong nhà này. Rồi khi nào mẹ nó đến đây lấy nó trong tuần sau, tôi không muốn nhìn thấy cô ấy. Rõ cả chưa?”
Thằng bé lại bắt đầu khóc lớn hơn nữa.
“Tôi đã rõ rồi ạ, ông McGregor”. Rồi bà Talley hối hả rời khỏi phòng.
Jamie McGregor ngồi một mình trong căn phòng nhỏ, nhấm nháp rượu mạnh và hút điếu xì gà. Con mụ đàn bà ngu xuẩn. Nó tưởng rằng mình trong thấy thằng bé ấy là tim mình sẽ mềm đi, rồi mình sẽ nhảy xổ đến nó và nói, “Anh yêu em. Anh yêu đứa bé. Anh muốn cưới em”. Thế nhưng, anh đã không thèm nhìn đến thằng bé. Anh có liên qua gì đến nó đâu. Anh sinh nó ra đâu có phải vì tình yêu, cũng chẳng phải vì thèm muốn nữa. Nó được sinh ra từ một sự trả thù. Anh nhớ mãi vẻ mặt của lão Salomon ven der Merwe, khi anh báo cho lão biết rằng Margaret đã có mang. Đó là lúc bắt đầu. Cuối cùng là đất ném lên chiếc hòm của lão. Anh phải đi tìm Banda để nói cho anh ta biết rằng nhiệm vụ của hai người thế là đã xong.

Jamie cảm thấy nỗi trống rỗng trong lòng. Mình cần phải đặt ra những mục tiêu mới, anh thầm nghĩ. Anh đã trở nên giàu có ngoài sức tưởng tượng. Anh đã làm chủ hàng trăm mẫu đất mỏ. Anh mua đất ấy để khai thác kim cương có thể tìm thấy ở đó, nhưng cuối cùng anh làm chủ cả vàng, bạch kim, và năm sáu loại khoáng sản khác. Ngân hàng của anh nhận cầm cố nửa số tài sản ở Klipdrift, và đất chiếm hữu của anh trải rộng từ Namib đến Cape Town. Anh cảm thấy thoả mãn về điều này, nhưng như thế chia đủ. Anh đã mời cha mẹ anh đến ở với anh, nhưng họ không muốn rồi Tô cách lan. Các anh và chị của Jamie đều đã lập gia đình. Jamie gửi những số tiền lớn cho cha mẹ, và anh lấy thế làm sung sướng, nhưng cuộc đời anh lúc này quá bằng phẳng. Mới mấy năm trước đây, cuộc đời anh đã trải qua bao nhiêu thăng trầm, nhưng anh cảm thấy sinh động. Anh thấy mình sinh động khi anh và Banda điều khiển chiếc bè vượt qua những tảng đá ngầm ở Vùng Đất Cấm. Anh thấy mình sinh động khi bò ngang qua những bãi mìn, xuyên qua sa mạc cát. Jamie cảm tưởng dường như mình đã không còn sinh động nữa một thời gian lâu dài rồi. Anh dám thú nhận với chính mình rằng anh đang rất cô đơn.
Một lần nữa, anh với tay lấy bình rượu mạnh, và thấy nó đã cạn. Anh đã uống quá nhiều rượu hơn là anh nghĩ, hay là bà Talley đã vô ý không đổ rượu vào bình. Jamie đứng dậy khỏi chiếc ghế, nhặt ly rượu, đi đến phòng chứa thức ăn của bà quản gia, nơi cất rượu. Anh vừa mở chai ra thì nghe tiếng u ơ của một đứa trẻ con. Lại thằng bé ấy rồi! Chắc là bà Talley đã giữ nó lại trong phòng bà ta, xa nhà bếp. Bà đã tuân theo mệnh lệnh của Jamie một cách chặt chẽ. Anh không hề thấy thằng bé ấy trong hai ngày nó “xâm phạm gia cư” của anh. Bây giờ anh nghe cả tiếng bà Talley đang nói nựng với đứa trẻ.
“Cháu là một đứa bé xinh xắn lắm, phải thế không? Cháu là một thiên thần ấy mà. Đúng như vậy đó. Một thiên thần đây mà”.
Thằng bé lại u ơ với bà ta. Jamie bước đến căn phòng ngủ đang mở cửa của bà Talley, rồi nhìn vào bên trong. Không hiểu bà ta đã kiếm ra được ở đâu, một cái giường cũi, và thằng bé lại nằm trong đó. Bà Talley đang cúi người lên nó, bàn tay của nó quấn thật chặt ngón tay bà.
“Jamie ạ, cháu bé nhỏ mà khoẻ mạnh dữ à. Rồi cháu sẽ lớn lên và to lớn như là… là… “. Bà ngừng bặt lại câu nói, ngạc nhiên vì biết rằng ông chủ của bà đang đứng ở ngưỡng cửa.
“Ồ, thưa ông, ông cần tôi có việc gì ạ?”
“Không”. Anh bước đến chiếc giường cũi. “Tôi bị quấy rầy vì tiếng ồn ào ở đây”. Anh đưa mắt nhìn đứa bé lần đầu tiên. Thằng bé to lớn hơn anh tưởng. Thân hình hắn cân đối. Hắn có vẻ như đang tủm tỉm cười với anh.
“Xin lỗi ông McGregor. Thằng bé này thật ngoan và khoẻ mạnh. Ông hãy đưa ngón tay ra cho nó nắm mới thấy nó khoẻ mạnh như thế nào”.
Jamie quay mặt lại, rồi bước ra khỏi phòng, không nói một lời nào.
Jamie McGregor có một số nhân viên trên năm mươi người làm việc trong các doanh nghiệp khác nhau của anh. Không một nhân viên nào, từ thằng bé đưa thư cho đến nhân viên điều hành cao cấp, mà không biết lý do vì sao Công ty Hữu hạn của họ mang tên Kruger Brent, và lấy làm hãnh diện được làm việc cho McGregor. Anh vừa mới thâu nhận David Blackwell, một người con trai mới mười sáu tuổi, con của một trong cách đốc công của anh, một người Mỹ từ Oregon tới Nam Phi để tìm kim cương. Khi tiền bạc của Blackwell đã cạn, Jamie nhận ông Blackwell vào làm việc để trong coi các xưởng máy. Người con trai của ông đến làm việc cho công ty được một mùa hè thì Jamie nhận ra rằng David là một công nhân giỏi, nên anh giao cho anh ta một việc làm thường trực. David Blackwell thong minh, dễ mến và có nhiều sáng kiến. Jamie cũng biết rằng anh ta rất kín đáo, vì vậy Jamie giao cho anh ta làm công việc vặt đặc biệt này.
“David ạ, tôi muốn anh đi đến nhà trọ của bà Owens hộ tôi. Ở đó có một người đàn bà tên là Margaret van der Merwe”.
Nếu David Blackwell đã từng nghe tên ấy hay biết hoàn cảnh của nàng rồi thì anh cũng không biểu lộ ra bên ngoài. “Thưa ông, vâng ạ”.
“Anh chỉ được nói với cô ấy mà thôi. Cô ấy để lại đứa con cho bà quản gia tôi trông nom. Bảo cô ấy đến đây lấy nó và đưa nó ra khỏi nhà tôi ngay ngày hôm nay”.
“Vâng, thưa ông McGregor”.
Nửa giờ sau, David Blackwell trở lại. Jamie đang ngồi ở bàn viết, ngẩng đầu lên.
“Thưa ông, tôi e rằng tôi không làm được việc ông yêu cầu”.
Jamie đứng phắt dậy, “Tại sao? Công việc ấy dễ dàng quá mà”.
“Cô Van der Merwe không có ở nhà”.
“Thế thì anh đi tìm nó”.
“Cô ấy rời Klipdrift hai ngày rồi. Có lẽ cô ấy sẽ trở về trong vòng năm ngày nữa. Nếu ông muốn tôi điều tra thêm thì…”
“Không”. Đó là điều mà Jamie không muốn anh ta làm chút nào. “Không cần. Thế là đủ rồi. David ạ”.
“Thưa ông, vâng ạ”. Cậu bé rời khỏi văn phòng.
Mẹ kiếp cái con đàn bà ấy! Khi nào nó trở về nó sẽ phải ngạc nhiên. Nó sẽ phải lấy lại con nó.

Tối hôm ấy, Jamie ăn cơm ở nhà một mình. Anh đang uống rượu mạnh trong phòng làm việc thì bà Talley đi vào để bàn với anh một vấn đề thông thường. Đang nói chuyện nửa chừng, bà bỗng dừng lại lắng nghe, và nói, “Xin ông tha lỗi. Tôi vừa nghe tiếng Jamie khóc”. Nói xong bà vội vã chạy ra khỏi phòng.
Jamie đập mạnh chiếc ly xuống, làm rượu đổ tung toé. Cái thằng bé khốn khiếp! Ấy thế mà con mẹ nó dám cả gan đặt tên cho nó là Jamie. Hắn có giống một Jamie đâu. Hắn trông chẳng giống cái gì hết!
Mười phút sau, bà Talley quay trở lại phòng làm việc. Bà nhìn thấy rượu đổ tung toé. “Ông có muốn tôi rót thêm rượu nữa không ạ?”
“Cái ấy không cần thiết”. Jamie nói một cách lạnh lung. “Điều cần thiết là bà phải nhớ bà đang làm việc cho ai. Tôi không muốn bị quấy rầy bởi cái thằng con hoang ấy. Rõ chưa, bà Talley?”
“Thưa ông, vâng ạ”.
“Thằng bé ấy ra khỏi nhà này sớm chừng nào thì tốt hơn cho cả bà lẫn tôi chừng ấy. Hiểu chưa?”
Môi bà Talley mím chặt lại. “Thưa ông, vâng. Còn gì nữa không ạ?”
“Không”
Bà quay lại định đi ra.
“Này, bà Talley…”
“Vâng, thưa ông McGregor?”
“Bà bảo rằng nó đang khoc. Có phải nó ốm không?”
“Thưa ông, không ạ. Nó chỉ đái thôi. Cần phải thay tã cho nó”.
Jamie nhận thấy cái ý tưởng này thật đáng phẫn nộ. “Thôi, thế đủ rồi”.
Jamie hẳn đã phải giận dữ điên cuồng nếu anh biết rằng bọn đầy tớ trong nhà ngồi với nhau hàng giờ để bàn cãi với nhau về anhtrai đứa con trai. Họ đều đồng ý với nhau rằng ông chủ đã cư xử một cách vô lý, nhưng họ cũng biết rằng họ chỉ cần nhắc đến vấn đề này thôi cũng đủ bị đuổi ra khỏi nhà ngay tức khắc. Jamie McGregor không phải là người sẵn sang nghe lời khuyên của bất cứ ai.
Tối hôm sau, Jamie có một phiên họp bàn công việc cho đến tận khuya. Anh đã đầu tư vào một đường xe hoả mới. Chắc chắn, con đường này cũng chỉ nhỏ thôi, chạy dài từ khu mỏ ở sa mạc Namib đến De Aar, nối liền với con đường Cape Town – Kimberley, nhưng nhờ có nó mà việc chuyên chở vàng và kim cương đến hải cảng sẽ rẻ hơn nhiều. Con đường sắt Nam Phi đầu tiên đã được mở ra từ năm 1860, chạy từ Dumbar đến Point, và từ lúc ấy, nhiều con đường khác đã được thiết lập, từ Cape Town đến Wellington. Đường sắt sẽ là huyết mạch bằng thép cho người và hàng hoá lưu thong tư do xuyên qua trái tim của Nam Phi, và Jamie dự định góp phần vào đó. Nhưng đó chỉ là bước đầu trong các dự tính của anh. Sau đó sẽ là tàu thuỷ. Các tàu thuỷ của mình sẽ chuyên chở các khoáng sản xuyên qua đại dương.
Anh trở về nhà vào lúc nửa đêm, cởi quần áo, lên giường nằm ngủ. Anh đã nhờ một nhà trang trí từ London đến bày biện cho anh một căn phòng ngủ đàn ông rộng lớn, với một chiếc giường đồ sộ đã được chạm trổ ở Cape Town. Ở đó có một chiếc tủ kiểu Tây Ban Nha cổ xưa đặt ở trong góc phòng, và nhiều tủ áo trong đó chứa đựng năm mươi bộ quần áo và ba mươi chiếc giày. Jamie không chú ý đến cách ăn mặc, nhưng anh thấy cần phải có những bột quần áo ấy ở đó. Anh đã trải qua quá nhiều ngày và đêm ăn mặc rách rưới.
Vừa mới chợp mắt ngủ, anh chợt nghe một tiếng khóc. Anh ngồi nhổm dậy, lắng nghe. Không có gì cả. Đứa bé hay sao? Chắc là nó vừa ngã ra khỏi cái giường cũi. Jamie biết rằng bà Talley thường ngủ rất say. Thật là kinh khủng nếu có điều gì xảy ra với thằng bé ấy trong khi nó ở trong nhà anh. Như vậy, anh sẽ phải chịu trách nhiệm. Mẹ kiếp cái con mụ đàn bà ấy! Jamie nghĩ thầm.
Anh khoác chiếc áo choàng. xỏ đôi dép vào chân, rồi đi thẳng đến phòng bà Talley. Anh đặt tai trên cánh cửa đóng kín, nhưng không nghe gì cả. Lặng lẽ, Jamie đầy cánh cửa cho nó mở ra. Bà Talley đang ngủ say, vùi trong chăn, ngáy như sấm. Jamie bước đến cái giường cũi. Thằng bé đang nằm ngửa, cặp mắt mở thao láo. Jamie lại gần hơn nữa, nhìn xuống. Lạy Chúa, sao mà nó giống thế. Rõ ràng là nó có cái miệng và cằm của Jamie. Mắt của nó bây giờ màu xanh, nhưng trẻ con mới sinh nào mà lại chẳng có màu xanh. Nhìn qua, Jamie cũng có thể đoán ra rằng sau này mắt của nó sẽ là màu xám. Nó giơ hai bàn tay bé nhỏ quờ quạng không khí, phát ra những tiếng u ơ bé nhỏ và tủm tỉm cười với Jamie. Chà, thằng bé này thật can đảm, nằm ở đó mà không làm ồn ào, khóc thét lên như những đứa trẻ con khác. Anh ghé mắt nhìn gần hơn nữa. Đúng rồi, nó là một McGregor thật sự rồi.
Rụt rè, Jamie với tay xuống, chìa ngón tay ra. Thằng bé nắm chặt ngón tay với cả hai bàn tay, bóp thật chặt. Nó khoẻ như một con bò mộng, Jamie nghĩ thầm. Ngay lúc ấy, mặt thằng bé bỗng thờ ra, anh ngữi thấy mùi chua chua.
“Bà Talley !”
Bà chồm dậy trên giường, đầy vẻ hoảng sợ. “Cái… cái gì vậy?”
“Thằng bé đang cần bà đấy. Bà bắt tôi phải làm tất cả mọi thứ trong nhà này hay sao?”
Nói xong, Jamie oai vệ bước ra khỏi phòng.

“David, anh có biết chút gì về trẻ sơ sinh không?”
“Về phương diện nào, thưa ông?” David Blackwell hỏi.
“À, anh biết đấy chứ? Chẳng hạn như chúng thích chơi những thứ gì, hay đại khái như vậy”.
Cậu con trai người Mỹ này nói, “Tôi đoán rằng khi chúng còn rất nhỏ, chúng rất thích chơi lục lạc, thưa ông McGregor ạ”.
“Anh hãy đi mua cho tôi chừng một chục cái”.
“Thưa ông, vâng ạ”.
Không cần đặt ra những câu hỏi không cần thiết. Jamie muốn như vậy. David Blackwell rồi đây sẽ tiến xa.
Tối hôm ấy, Jamie về nhà với một cái gói nhỏ màu nâu, bà Talley nói, “Tôi muốn xin lỗi ông về việc tối hôm qua, thưa ông McGregor ạ. Tôi không biết vì sao mà tôi lai có thể ngủ say như thế được. Thằng bé ấy chắc đã khóc thét ghê gớm lắm cho nên ông mới nghe được đến tận phòng ông”.
“Bà khỏi bận tâm về chuyện ấy”, Jamie nói với vẻ rộng lượng. “Chừng nào có bà hoặc tôi nghe là tốt rồi”. Anh đưa gói đồ cho bà Talley. “Đưa cái này cho thằng bé ấy. Đó là mấy cái lục lạc để nó chơi. Làm tù nhân suốt ngày trong cái cũi ấy chắc cũng không thích thú gì lắm đối với thằng bé ấy”.
“Ồ, thưa ông. Nó không phải là tù nhân. Để tôi bồng nó ra… “
“Bà định bồng nó đi đâu?”
“Đi ra vườn thôi ạ. Ở đó, tôi có thể trông nom nó được”.
Jamie nhăn mặt. “Đêm hôm qua, tôi thấy hình như nó không được khoẻ”.
“Không khoẻ sao?”
“Không. Màu da của nó không được tốt lắm. Không nên để cho nó bị ốm trước khi mẹ nó đến đây nhận lại nó”.
“Vâng. Dĩ nhiên rồi”.
“Có lẽ tôi cần xem nó lại một lần nữa”.
“Thưa ông, vâng ạ. Tôi đưa nó lại đây hay sao?”
“Phải”
“Tôi sẽ làm ngay lập tức, thưa ông ạ”.
Ít phút sau, bà Talley trở lại, bồng đứa bé trên tay. Thằng bé đang cầm cái lục lạc màu xanh. “Tôi thấy da dẻ nó cũng tốt, chứ có hề gì đâu”.
“Ừ, có lẽ tôi lầm. Bà đưa nó cho tôi”.
Cẩn thận, bà đưa đứa bé ra cho Jamie. Anh bồng nó lên tay lần đầu tiên. Một cảm giác là lạ tuôn khắp người anh hoàn toàn do bất ngờ. Dường như thể bấy lâu nay anh đang mong mỏi giây phút này, sống cho giây phút này, mà anh không hề biết. Anh đang ôm trong vòng tay anh máu và da thịt của chính anh - đứa con trai của anh, Jamie McGregor con. Cần gì phải xây dựng một đế quốc, một triều đại bằng kim cương, vàng và đường sắt, nếu không có ai để anh truyền lại cho tất cả tài sản ấy. Mình thật là một thằng khờ! Jamie nghĩ thầm. Cho mãi đến lúc này, Jamie mới nhận ra được anh đang thiếu thốn những thứ gì. Nỗi thù hận đã làm anh mờ mắt. Nhìn xuống khuôn mặt xinh xắn, anh cảm thấy sự cứng rắn, ở một nơi nào đó sâu trong cốt lõi con người anh, vụt tan biến.
“Chuyển cái cũi của thằng Jamie vào trong buồng tôi, bà Talley”.

Ba ngày sau, khi Margaret xuất hiện trước cửa nhà Jamie, ba Talley nói, “ông McGregor hiện ở văn phòng, không có ở nhà, cô Van der Merwe ạ, nhưng ông ấy có dặn phải mời ông ấy về khi nào cô đến lấy thằng bé. Ông ấy muốn nói chuyện với cô”.
Margaret ngồi chờ đợi trong phòng khách, ôm bé Jamie trong cánh tay. Nàng nhớ con kinh khủng. Nhiều lần, trong suốt tuần lễ ấy, nàng hầu như đã mất cả chí cương quyết, chỉ muốn nhảy xổ về Klipdrift, vì lo sợ có chuyện gì xảy ra cho đứa bé; nó có thể bị ốm hay gặp một tai nạnh nào đó. Nhưng nàng tự buộc mình phải xa đứa trẻ, và kế hoạch này của nàng đã thành công. Bây giờ, cả ba người sẽ lại được đoàn tụ.
Lúc Jamie bước vào trong phòng khách, Margaret một lần nữa cảm thấy một nỗi xúc cảm quen thuộc như đang dâng tràn ngập khắp thân thể. Lạy Chúa! Nàng nghĩ thầm, mình yêu chàng quá.
“Chào cô, Maggie”.
Nàng mỉm cười, một nụ cười ấm áp, sung sướng. “Chào anh, Jamie”.
“Tôi cần có đứa con của tôi”.
Trái tim của Margaret như reo lên. “Cố nhiên, anh cần đứa con của anh, Jamie ạ. Em không bao giờ dám nghi ngờ điều ấy”.
“Tôi sẽ lo sao cho nó được nuôi nấng tử tế. Nó sẽ có được tất cả mọi lợi lộc mà tôi có thể đem lại cho nó, và dĩ nhiên, tôi cũng sẽ lo liệu sao cho cô cũng có cuộc sống đầy đủ”.
Margaret nhìn anh với vẻ bối rối. “Em… em không hiểu”.
“Tôi đã nói rằng tôi cần có đứa con của tôi”.
“Tôi đã tưởng rằng… tôi muốn nói… anh và tôi sẽ…”
“Không. Tôi chỉ cần thằng bé mà thôi”.
Margaret đột nhiên cảm thấy mình bị lăng nhục. “Tôi hiểu rồi. Vậy thì tôi sẽ không để cho anh giành nó khỏi tôi”.
Jamie quan sát nàng trong một lát. “Được lắm, chúng ta sẽ có thể tìm ra một giải pháp dung hoà. Cô sẽ ở lại đây với thằng bé Jamie. Cô có thể là… là vú nuôi của nó”. Anh nhìn thẳng vào mặt nàng. “Cô thực sự muốn gì nào?”
“Tôi muốn con trai tôi có một cái tên”, nàng nói một cách giận dữ, “tên của cha nó”.
“Được rồi, tôi sẽ nhận nó làm con nuôi”.
Margaret nhìn anh với vẻ khinh bỉ, “Nhận con tôi làm con nuôi à? Ồ không đâu. Ông sẽ không lấy được đứa con của tôi đâu. Tôi cảm thấy thương hại cho ông, ông McGregor vĩ đại: Dù với tiền bạc và thế lực của ông, ông chẳng có gì hết, ông quả là đáng thương thật!”
Jamie đứng sững, nhìn theo Margaret quay lưng lại rồi bước khỏi nhà, tay bồng thằng bé.
Sáng hôm sau, Margaret sửa soạn đồ đạc để lên đường sang Mỹ.

Jamie lúc nào cũng tự hào rằng mình là con người vẫn giữ được bình tĩnh dù có bị áp lực. Nhưng lúc này anh đi khắp nơi, la hét với tất cả mọi người anh thấy mặt. Văn phòng của anh lúc nào cũng ầm ĩ. Không có gì làm anh được hài lòng cả. Anh gầm thét, phàn nàn về tất cả mọi chuyện, không còn khả năng tự chủ được nữa. Anh đã mất ngủ luôn ba đêm. Anh vẫn không quên được câu chuyện giữa anh và Margaret vừa rồi. Con đàn bà khốn khiếp! Lẽ ra anh phải hiểu rằng cô ấy cố buộc anh phải lấy cô ta làm vợ. Thật là xảo quyệt, chẳng khác gì cha cô ấy! Anh vụng về trong cuộc điều đình ấy. Anh nói với cô ta anh sẽ chăn nom cho cô, nhưng anh đã nói không rõ rang. Dĩ nhiên rồi. Tiền! Lẽ ra anh nên tặng cho cô ta một món tiền. Một nghìn bảng Anh - mười nghìn bảng – và có thể hơn thế nữa.
“Tôi có nhiệm vụ tế nhị muốn giao cho anh” anh nói với David Blackwell.
“Thưa ông, vâng ạ”
“Tôi muốn anh nói chuyện với cô Van der Merwe và bảo với cô ấy rằng tôi sẽ cho cô ấy hai mươi nghìn bảng Anh. Cô ấy sẽ hiểu rằng tôi muốn có một sự trao đổi”. Jamie viết tấm ngân phiếu. Đã khá lâu rồi, anh đã hiểu được sự thu hút mãnh liệt của đồng tiền. “Đưa cái này cho cô ta”.
Mười lăm phút sau, David trở về, trả lại tấm ngân phiếu cho Jamie. Tấm giấy ấy đã bị xé toạc làm đôi. Jamie cảm thấy mặt mình đỏ bừng lên. “Cảm ơn, David. Thế là đủ rồi”.
Vậy ra Margaret muốn đòi tiền nhiều hơn nữa. Được lắm. Anh sẽ cho cô ta. Nhưng lần này thì anh sẽ tự tay giải quyết lấy…
Vào xế trưa hôm ấy, Jamie đi đến nhà trọ của bà Owens. “Tôi muốn gặp cô Van der Merwe”, Jamie nói.
“Tôi e rằng chuyện ấy khó thực hiện được”, bà Owens nói. “Cô ấy đang trên đường sang Mỹ”.
Jamie cảm thấy như mình bị đấm một cú mạnh vào bụng. “Không thể được! Cô ấy đi vào lúc nào?”
“Cô ấy cùng với thằng bé đã đáp chuyến xe đi Worcester vào lúc mười hai giờ trưa”.

Chuyến tàu đỗ ở nhà ga Worcester đông nghẹt hành khách. Các ghế ngồi và lối đi trong toa đầy cả hành khách đi Cape Town, nói chuyện với nhau ồn ào. Họ là những nhà buôn, những nhà nội trợ, những người bán hàng, người đi tìm mỏ, người “Kaffir”, binh lính và thuỷ thủ trở về lại nơi làm việc. Đa số những người ấy đều đi tàu hoả lần đầu tiên, nên không khí giữa các hành khách có vẻ như ngày hội. Margaret tìm được một chỗ ngồi gần cửa sổ, để cho Jamie khỏi bị đè bẹp bởi đám đông. Nàng ngồi ôm đứa bé trong lòng, không cần biết gì đến mọi sự xung quanh, và suy nghĩ đến một cuộc đời mới đang chờ đợi nàng trước mặt. Cuộc đời ấy có lẽ không dễ dàng gì. Dù đi đến đâu, nàng cũng là người đàn bà không chồng mà có con, một tội lỗi đối với xã hội. Nhưng nàng sẽ tìm một cách nào đó để đảm bảo cho con trai một cuộc sống đàng hoàng, tử tế. Nàng nghe người soát vé gọi to, “Mời hành khách lên xe!”
Nàng ngước mắt nhìn lên, chợt thấy Jamie đang đứng trước mặt. “Gom tất cả hành lý lại. Cô sẽ phải rời khỏi tàu ngay”, anh ra lệnh.
Anh ấy tưởng có thể mua được mình, nàng thầm nghĩ. “Thế lần này, ông định đề nghị bao nhiêu tiền?”
Jamie nhìn xuống đứa con trai, đang ngủ yên trên cánh tay Margaret. “Tôi đề nghị sẽ cưới cô”.



0
TAY C Ự PH ÁCH (CHƯƠNG 9)

Họ cưới nhau ba ngày sau trong một cuộc lễ ngắn, tổ chức riêng tư, với nhân chứng duy nhất là David Blackwell.
Trong lễ cuới này, Jamie McGregor thấy trong lòng tràn ngập những cảm xúc lẫn lộn. Anh là một con người quen khống chế, vận dụng kẻ khác, nhưng lúc này chính anh là kẻ bị vận dụng. Anh liếc mắt nhìn sang Margaret. Đứng bên cạnh anh, nàng trông khá xinh đẹp. Anh nhớ lại thái độ đam mê, buông lỏng của nàng, nhưng đó chỉ là một kỉ niệm, không hơn không kém, không nồng nhiệt hay cảm xúc. Anh đã sử dụng Margaret như một công cụ trả thù, nhưng nàng đã sinh cho anh một đứa con thừa kế.
Ông mục sư nói, “Bây giờ, ta tuyên bố các ngươi là vợ và chồng. Ngươi có thể hôn cô dâu đi”.
Jamie vươn người ra phía trước, hôn phớt qua trên má Margaret.
“Chúng ta về nhà nào”, Jamie nói. Con trai anh đang chờ anh.
Khi hai người về đến nhà, Jamie đưa Margaret đến một phòng ngủ ở một trong các chái nhà.
“Đây là phòng ngủ của bà”
“À, ra thế”
“Tôi sẽ thuê một người quản gia khác, và giao cho bà Talley trông nom Jamie. Nếu bà cần thứ gì cứ bảo David Blackwell”.
Margaret cảm thấy như bị dáng một cái đánh. Anh ấy coi nàng như một gia nhân. Nhưng điều đó không quan trọng. Con mình đã có một cái tên. Đối với mình như thế là đủ rồi.
Jamie không trở về nhà ăn cơm. Margaret ngồi đợi anh, nhưng cuối cùng phải ăn một mình. Đêm hôm ấy nàng nằm thao thức trên giường, lắng nghe từng tiếng động. Đến bốn giờ sáng, cuối cùng nàng ngủ lúc nào không hay. Ý nghĩ cuối cùng của nàng là tự hỏi không biết Jamie đã chon người nào trong số các cô gái ở nhà bà Agnès.

Nếu mối liên hệ giữa Margaret và Jamie không hề thay đổi sau ngày cưới thì mối tương quan giữa nàng và dân thị trấn Klipdrift đã trải qua một sự biến đổi kỳ lạ. Chỉ thoáng một cái, từ một kẻ bị ruồng bỏ, nàng trở thành một nhân vật có quyền ở Klipdrift. Đa số người dân trong thị trấn tuỳ thuộc bằng cách này hay cách khác vào Jamie McGregor và Công ty Hữu hạn Kruger Brent. Họ nghĩ rằng nếu Margaret van der Merwe đã được Jamie McGregor lựa chọn thì hẳn nàng cũng đáng được kính nể đối với họ. Bây giờ, mỗi khi Margaret bồng bé Jamie ra ngoài chơi thì nàng bắt gặp những nụ cười, nhưng lời chào hỏi vui vẻ. Các giấy mời bắt đầu tuôn đến. Nàng được mời tham dự những tiệc trà, những bữa ăn trưa và tối, giúp các hội từ thiện và buộc phải đứng đầu các uỷ ban công dân vụ. Khi nàng làm tóc theo một kiểu khác thường nào đó thì hàng chục các bà, các cô trong thị trấn đều cố bắt chước theo. Nàng mua một chiếc áo dài mới màu vàng, thế là những chiếc áo màu vàng đột nhiên trở thành phổ biến. Margaret cư xử đối với những cử chỉ xu nịnh của họ cũng giống như trước kia nàng đối xử với thái độ thù nghịch của họ, nghĩa là bằng một thái độ đoan trang, bình tĩnh.
Jamie chỉ trở về nhà để chơi với con trai. Thái độ của anh đối với Margaret vẫn xa vời, lễ độ. Mỗi buổi sáng vào lúc điểm tâm, nàng đóng vai trò một bà vợ hạnh phúc để che mắt các gia nhân, bất kể đến thái độ thờ ơ, lạnh lung của người đàn ông ngồi đối diện với nàng ở bàn ăn. Nhưng khi Jamie đã đi rồi và nàng có thể thoát ra để trở về phòng, nàng vẫn thường bị ướt đẫm mồ hôi. Nàng căm ghét chính bản thân mình. Lòng tự trọng của nàng để ở đâu? Ấy chỉ vì nàng biết nàng còn yêu Jamie. Mình sẽ luôn luôn yêu anh ấy. Lạy Chúa. Người hãy giúp đỡ cho con.

Jamie ở lại Cape Town trong ba ngày để lo toan công việc. Khi anh vừa ra khỏi khách sạn Hoàng gia, một người đánh xe mặc chế phục hỏi, “Thưa ông dùng xe chứ ạ?”
“Không”, Jamie nói, “Tôi đi bộ”.
“Banda nghĩ rằng có lẽ ông muốn đi xe”.
Jamie dừng lại, nhìn chằm chằm vào người ấy. “Banda?”
“Vâng, đúng vậy. Thưa ông McGregor”.
Jamie bước lên chiếc xe ngựa. Người đánh xe quất mạnh cây roi, họ bắt đầu lên đường. Jamie ngả người trên chiếc ghế, suy nghĩ về Banda, về lòng can đảm của anh ta và tình bạn giữa hai người. Trong hai năm qua, anh đã cố gắng nhiều lần tìm Banda, nhưng không có kết quả. Bây giờ anh đang lên đường để gặp người bạn cũ.
Người đánh xe bẻ quặt chiếc xe về phía bến tàu. Ngay lập tức, Jamie biết rằng họ đang đi đến đâu. Mười lăm phút sau, chiếc xe dừng lại trước nhà kho vắng vẻ, nơi Jamie và Banda đã có lần cùng bàn tính với nhau về cuộc phiêu lưu vào sa mạc Namib. Lúc ấy chúng mình là những thằng trai quá ư liều lĩnh, anh nghĩ thầm. Anh bước ra khỏi xe, tiến lại gần nhà kho. Banda đang chờ đợi anh ở đó. Anh ấy trông vẫn hệt như xưa kia, chỉ có khác bây giờ anh mặc một bộ “com-plê” chỉnh tề, với sơ mi và cà vạt.
Hai người đứng ở đó, lặng lẽ nhe răng cười với nhau, rồi họ ôm choàng lấy nhau.
“Trông anh có vẻ làm ăn thịnh vượng lắm nhỉ”, Jamie nói.
Banda gật đầu. “Tôi làm ăn cũng không đến nỗi tệ lắm. Tôi đã mua nông trại như tôi có lần nói với anh đấy. Tôi đã có vợ và hai đứa con trai. Tôi trồng lúa mạch và nuôi đà điểu”.
“Đà điểu?”
“Lông đà điểu đem lại rất nhiều tiền”.
“À, tôi muốn gặp gia đình anh, Banda ạ”.
Jamie nghĩ đến gia đình anh ở Tô Cách Lan, và anh cảm thấy rất nhớ nhà. Anh đã xa nhà được bốn năm rồi.
“Bấy lâu nay tôi vẫn tìm anh”.
“Tôi bận lắm, Jamie ạ”. Banda xích lại gần hơn. “Tôi cần phải gặp anh để báo trước cho anh một chuyện. Anh sắp sửa gặp rắc rối đấy”.
Jamie nhìn kỹ Banda. “Rắc rối về chuyện gì?”
“Tên phụ trách mỏ Namib – Hans Zimmermans – là một tên xấu. Bọn công nhân ghét hắn lắm. Họ đang bàn với nhau sẽ bỏ đi. Nếu họ làm như vậy, bọn bảo vệ sẽ cố ngăn chặn họ lại, và như thế sẽ có nổi loạn”.
Jamie vẫn nhìn Banda không rời mắt.
“Anh có còn nhớ tôi đã có lần tôi nói với anh về một người tên là John Tengo Javabu không?”
“Có. Anh ta là một lãnh tụ chính trị. Tôi có đọc những bài viết về anh ta. Anh ta đang quấy động, làm nổ ra một “donderstorm” (cơn bão táp)”.
“Tôi là một trong những người theo ông ta”.
Jamie gật đầu. “Tôi hiểu. Tôi sẽ làm tất cả những gì cần thiết”. Jamie hứa.
“Tốt lắm. Anh đã trở thành một trong những người có thế lực, Jamie ạ. Tôi mừng cho anh”.
“Cám ơn anh, Banda”.
“Anh lại có một đứa con trai rất kháu khỉnh nữa”.
Jamie không dấu nỗi ngạc nhiên. “Làm sao anh biết được điều ấy?”
“Tôi vẫn thích theo dõi các bạn bè”. Banda đứng dậy. “Tôi phải đi họp bây giờ đây, Jamie ạ. Tôi sẽ bảo với họ rằng mọi việc sẽ được giải quyết và sửa chữa ở Namib”.
“Phải. Tôi sẽ lo chuyện ấy”. Jamie bước theo người da đen to lớn ra đến cửa. “Khi nào chúng ta sẽ gặp nhau lại?”
Banda mỉm cười. “Tôi sẽ quanh quẩn bên anh mà. Anh không thể dứt khỏi tôi dễ dàng như vậy đâu”.
Nói xong, Banda bỏ đi.

Khi Jamie trở lại Klipdrift, anh cho gọi ngay David Blackwell đến. “Có vụ lộn xộn nào xảy ra ở Namib không, David?”
“Khôn, thưa ông McGregor”. Anh ta do dự một lát rồi nói tiếp, “Nhưng tôi có nghe đồn rằng có thể có lộn xộn ở đó”.
“Viên giám thị ở đó là Hans Zimmerman. Anh hãy điều tra xem có phải hắn đã ngược đãi công nhân hay không. Nếu đúng như vậy, anh hãy ngăn chặn nó ngay. Tôi muốn anh đích thân đến nơi ấy xem xét”.
“Tôi sẽ đi đến đó vào sáng mai”.

Khi David đến mỏ kim cương ở Namib, anh bỏ ra hai giờ đồng hồ nói chuyện bình tĩnh với các công nhân và bọn bảo vệ. Những gì anh nghe được đã khiến anh giận sục sôi lên trong lòng. Khi đã nắm vững được những gì cần biết, anh đến gặp Hans Zimmerman.
Hans Zimmerman la một tên khổng lồ Goliath. Hắn nặng trên một trăm kí, cao chừng hai thước. Hắn có một cái mặt heo lúc nào cũng đẫm mồ hôi, đôi mắt có những tia máu đỏ, nhưng hắn là một trong những người dễ lôi cuốn nhất mà David Blackwell chưa từng thấy. Hắn là một tên giám thị làm việc rất có hiệu quả cho công ty Kruger Brent. Hắn đang ở bàn viết trong một văn phòng nhỏ, thân hình phì nộn của hắn có vẻ làm cho căn phòng bé nhỏ hẳn lại. Ngay lúc ấy, David Blackwell bước vào.
Zimmerman đứng dậy, bắt tay David. “Rất hân hạnh được gặp ông, ông Blackwell ạ. Đáng lẽ ông nên cho chúng tôi biết ông sẽ đến, như vậy mới phải”.
David tin chắc rằng hắn đã được nghe tin về cuộc thăm viếng của anh rồi.
“Ông dùng huýt ki nhé?”.
“Không, cám ơn”.
Zimmerman tựa người vào lưng ghế, nhe răng cười. “Ông cần gì tôi vậy? Chúng tôi đã đào được khá nhiều kim cương, như vậy chắc ông chủ vừa lòng rồi chứ gì?”
Cả hai biết rằng việc sản xuất kim cương ở Namib đã tiến hành rất tốt. “Tôi bắt bọn Kaffir làm việc nhiều hơn bất cứ một ai khác trong công ty này”.
“Chúng tôi nghe được nhiều lời kêu ca về các điều kiện làm việc ở đây”, David nói.
Nụ cười tắt hẳn trên mặt Zimmerman. “Kêu ca như thế nào?”
“Họ bảo rằng công nhân ở đây bị đối xử tàn tệ, và… “
Zimmerman nhẩy chồm dậy, cử động với vẻ lạnh lẹ khác thường. Mặt hắn đỏ bừng lên vì giận dữ. “Chúng không phải là công nhân. Chúng là Kaffirs. Các ông ngồi chễm chệ ở trụ sở chính làm sao có thể… “
“Nghe tôi nói đây này”, David nói, “Không có… “
“Chính ông mới phải nghe tôi nói! Tôi sản xuất ra nhiều kim cương hơn bất kỳ ai khác trong công ty, nhưng ông biết tại sao không? Ấy là bởi vì tôi đã làm cho bọn chó đẻ ấy phải biết sợ Thượng đế”.
“Ở các mỏ khác”, David nói, “Chúng tôi trả năm mươi chín shillings một tháng và nuôi ăn ở. Ông chỉ trả cho công nhân ở đây năm mươi shillings mà thôi”.
“Vậy ra ông phàn nàn vì tôi đã làm lợi cho các ông. Điều đáng kể duy nhất là lợi nhuận”.
“Ông McGregor không đồng ý như vậy”. David đáp. “Hãy tăng lương cho họ”.
Zimmerman nói với vẻ cáu kỉnh. “Được rồi. Đó là tiền của ông chủ”.
“Tôi nghe nói có nhiều vụ đánh đập công nhân xảy ra ở đây”.
Zimmerman hứ một tiếng. “Lạy Chúa, bọn dân bản xứ có bao giờ biết đau đâu, thưa ông. Da chúng nó dày lắm, nên dù có quất roi túi bụi lên người, chúng cũng chẳng cảm thấy gì. Chỉ làm cho chúng sợ thôi”.
“Vậy thì chính ông đã làm cho ba công nhân sợ đến chết đó, ông Zimmerman ạ”.
Zimmerman nhún vai, “Ở xứ sở của chúng, chúng còn chết nhiều hơn”.
Thật là một con vật khát máu, David nghĩ thầm. Lại rất nguy hiểm nữa! Anh nhìn lên tên giám thị to lớn và nói, “Nếu có nhiều rắc rối thêm nữa ở đây, ông sẽ bị thay thế đấy”. Anh đứng phắt dậy, “Từ nay ông phải đối đãi với họ như những con người. Phải chấm dứt mọi sự trừng phạt ngay tức khắc. Tôi đã xem xét các nơi ăn ở của họ. Đó là những chuồng lợn. Ông phải quét dọn sạch sẽ ngay”.
Hans Zimmerman nhìn anh trừng trừng, cố nén cơn giận dữ. Cuối cùng hắn mới thốt ra lời. “Còn gì nữa không?”
“Còn. Tôi sẽ trở lại đây trong vòng ba tháng nữa. Nếu tôi không được hài lòng về những gì tôi thấy được, ông nên tìm cho ông một công việc nào đó tại một công ty khác. Chào ông.” David quay người lại, bước ra khỏi phòng.
Hans Zimmerman đứng tại chỗ một lúc lâu, cảm thấy nỗi tức giận sục sôi trong lòng. Bọn khùng điên! Bọn “uitlanders” (1). Zimmerman là một người Boer. Cha hắn cũng là người Boer. Đất đai này thuộc về họ, và Chúa đã sinh ra người da đen để phục vụ cho họ. Ví thử như Chúa muốn bọn chúng được đối xử như những con người thì Người đã không làm cho da chúng phải là màu đen. Jamie McGregor không hiểu được điều đó. Nhưng ai còn có thể mong đợi gì được ở một người “uitlander”, một kẻ yêu dân bản xứ? Hans Zimmerman biết rằng hắn phải cẩn thận hơn chút nữa từ rày về sau. Nhưng hắn sẽ tỏ cho bọn chúng biết ai là người co trách nhiệm ở Namib.
(1): unitlander: Bọn người nước ngoài.

Công ty Kruger Brent vẫn tiếp tục phát triển, và Jamie McGregor thường đi vắng luôn luôn. Anh mua một xưởng làm giấy ở Canada và một xưởng đóng tàu ở Australia. Khi có mặt ở nhà, anh chỉ chơi với con trai. Thằng bé mỗi ngày lại càng giống cha nó. Jamie cảm thấy hãnh diện quá chừng về đứa con trai anh. Anh muốn đem nó đi theo trong những cuộc hành trình lâu dài, nhưng Margaret không chịu để cho nó đi.
“Nó còn nhỏ quá, không thể đi xa được. Khi nào nó lớn hơn nữa, nó có thể đi với anh. Nếu anh muốn gần nó, anh có thể thăm nó ở đây”.
Con trai anh đã trải qua ngày kỉ niệm sinh nhật lần thứ nhất, rồi thứ hai mà Jamie không ngờ đến. Anh ngạc nhiên thấy thời gian đi quá nhanh. Lúc ấy là vào năm 1887…
Đối với Margaret, hai năm qua kéo dài lê thê. Mỗi tuần lễ một lần, Jamie mời khách khứa đến nhà ăn cơm, và trong những bữa ăn ấy, Margaret đóng vai một bà chủ nhà duyên dáng. Những người đàn ông khác cho rằng nàng là một người đàn bà thông minh, dí dỏm, và đều thích nói chuyện với nàng. Nàng biết nhiều người trong bọn họ thấy nàng rất hấp dẫn, nhưng cố nhiên họ không bao giờ dám tấn công công khai, vì nàng là vợ của Jamie McGregor.
Khi người khách cuối cùng đã ra về, Margaret hỏi chồng, “Anh thấy buổi tối vừa rồi có tốt đẹp không?”
Jamie vẫn đưa câu trả lời giống như mọi lần, “Tốt. Chúc bà ngủ ngon”, rồi bỏ đi để tạt qua thăm bé Jamie. Ít phút sau, Margaret nghe tiếng cửa trước đóng lại, khi Jamie rời khỏi nhà.
Đêm này qua đêm khác, Margaret thao thức nằm trên giường, nghĩ đến cuộc đời nàng. Nàng biết rằng nhiều người đàn bà trong thị trấn thèm muốn được như nàng. Điều này khiến nàng đau đớn, vì nàng biết rằng nàng chẳng có gì đáng thèm muốn, ao ước cả. Nàng sống cho đến lúc tàn cuộc đời trong một thứ trò chơi đố với một người chồng đối xử với nàng tệ hơn là một kẻ xa lạ. Giá như chàng để ý đến nàng thì không biết sẽ ra sao! Nàng tự hỏi không biết chàng sẽ làm gì, nếu một buổi sáng nào đó, vào giờ ăn điểm tâm, nàng nhấc bát cháo yến mạch, đặc biệt nhập từ cảng Tô cách lan, rồi dội lên cái đầu ngu xuẩn của anh ta. Nàng tưởng tượng thấy cái vẻ mặt của anh ta lúc ấy, và ý tưởng ngộ nghĩnh này khiến nàng bật cười lên, rồi tiếng cười ấy biến thành tiếng nức nở như xé ruột gan. Mình không muốn yêu anh ấy nữa. Mình không muốn. Mình sẽ ngăn chặn bằng cách nào đó, trước khi mình bị huỷ hoại…

Vào năm 1880, Klipdrift đã đạt đến mức sống mà Jamie vẫn hằng mong đợi. Chỉ trong bảy năm anh sống ở đấy, nó đã trở thành một thị trấn phát triển về đủ mọi mặt, với những người thăm dò mỏ tuôn đến đây từ mọi nơi trên thế giới. Cũng vẫn là câu chuyện xưa cũ. Họ đến đây bằng tàu hoả, xe ngựa hay đi bộ. Lúc mới đến, họ chẳng có gì cả, ngoài những bộ quần áo rách rưới mặc trên người. Họ cần có thực phẩm, đồ trang bị, nơi trú ngụ và tiền bạc làm vốn liếng. Jamie có sẵn ở đó để cung cấp cho họ mọi thứ. Anh đã có cổ phần của anh trong hàng chục mỏ kim cương và vàng, danh tiếng, tên tuổi của anh mỗi lúc mỗi tăng lên. Một buổi sáng nọ, anh đang tiếp một viên luật sư đại diện cho hang De Beers, một tổ hợp khổng lồ kiểm soát nhiều mỏ kim cương rất lớn ở Kimberley.
“Ông cần tôi có chuyện gì?”, Jamie hỏi.
“Tôi được tổ hợp gửi đến đây để đưa ra với ông một đề nghị, ông McGregor ạ. Hãng De Beers muốn mua hết tài sản của ông. Ông cho giá đi”.
Thật là những giây phút điên đầu. Jamie cười chế nhạo và nói. “Ông cứ đưa giá của các ông đi”.

David Blackwell trở thành mỗi lúc thêm quan trọng đối với Jamie. Anh trông thấy ở người Mỹ trẻ tuổi này tất cả hình ảnh của anh xưa kia. Đó là một chàng trai tính tình ngay thật, thông minh và trung thành. Jamie đã dung David làm thư kí riêng của anh, sau đó là phụ tá riêng, và cuối cùng, chàng trai hai mươi mốt tuổi ấy trở thành một Tổng giám đốc của anh.
Đối với David Blackwell, Jamie là một người cha nuôi. Khi cha ruột của David bị một cơn đau tim, chính Jamie đã xếp đặt cho ông ta vào bệnh viện, và trả mọi phí tổn thuốc thang, và khi ông ta qua đời, Jamie cũng là người lo toan tất cả mọi công việc chôn cất. Trong năm năm làm việc với hãng Kruger – Brent, David thấy thán phục Jamie hơn bất cứ một người nào khác anh đã từng quen biết. Anh biết rõ vần đề rắc rối giữa Jamie và Margaret, và rất lấy làm tiếc, bởi vì anh yêu mến cả hai người. Nhưng David tự nhủ, “Đó không phải là công việc của mình. Công việc của mình là giúp đỡ Jamie bằng mọi cách trong phạm vi khả năng của mình”.

Jamie bỏ ra mỗi lúc mỗi nhiều thì giờ hơn với đứa con trai của anh. Đứa bé ấy bây giờ đã năm tuổi, và sau lần đầu tiên Jamie đưa nó đi thăm mỏ, nó không nói về vấn đề nào khác ngoài chuyện ấy. Hai bố con củng đi cắm trại ngoài trời với nhau, và ngủ dưới một chiếc lều vải dưới bầu trời đầy sao. Jamie quen thuộc với bầu trời ở Tô cách lan, nơi các vì sao biết các vị trí đúng đắn của chúng trên vòm trời. Ở đây, tại Nam Phi này, các chòm sao như lẫn lộn cả. Vào tháng Giêng, sao Canopus(1) chiếu chói lọi trên đỉnh đầu; vào tháng Năm, sao Thập tự phương Nam gần lên đến tột đỉnh. Tháng Sáu là mùa Đông ở Nam Phi, và lúc ấy sao Bò cạp chiếu rạng rỡ trên bầu trời. Thật là rắc rối khó hiểu. Thế nhưng, Jamie vẫn có một cảm giác rất đặc biệt mỗi khi anh nằm trên mặt đất ấm áp, nhìn lên bầu trời không có thời gian, với đứa con trai ở bên cạnh, và biết rằng mình cũng là một thành phần của sự vĩnh cửu giống như vậy.
(1): Canopus: ngôi sao sáng nhất trên bầu trời phương Nam, trong chòm sao Argo.
Hai bố con thức dậy lúc bình minh, bắn các loại chim rừng để làm thức ăn. Bé Jamie có một con ngưa con riêng, và hai bố con cùng cưỡi ngựa dọc theo thảo nguyên, cẩn thận tránh những hố sâu chừng hai thước do những con gấu ăn kiến đào lên. Những hố này sâu đến nỗi cả người lẫn ngựa có thể lọt xuống đó, còn những hố nhỏ do loại mèo rừng đào lên.
Trong thảo nguyên cũng có thể gặp nguy hiểm. Trong một buổi đi chơi Jamie và con trai cắm trại ở một lòng sông, và suýt bị giết bởi một đàn linh dương di cư. Dấu hiệu đầu tiên báo trước mối nguy hiểm là một đám mây bụi lờ mờ ở chân trời. Những con thỏ, chó rừng, mèo rừng chạy vụt ngang qua, và những con rắn lớn vọt ra khỏi các bụi cây để tìm nơi ẩn nấp dưới các hốc đá. Jamie nhìn về phía chân trời một lần nữa. Đám mây bụi tiến lại gần hơn.
“Chúng ta hãy ra khỏi nơi này”, Jamie nói.
“Lều của chúng ta… “
“Để mặc nó ở đó !”.
Hai người vội vã nhảy lên ngựa, hướng về phía đỉnh đồi cao. Họ nghe tiếng chân của đàn linh dương đập rồn rập như tiếng trống, rồi thấy toán linh dương đi đầu, chạy theo một hành dài đến ít nhất là ba dặm. Có đến trên nửa triệu con, quét sạch tất cả mọi thứ trên đường đi của chúng. Cây bị xô ngã xuống, các bụi cây bị xé vụn ra, và tiếp theo sau đợt thuỷ triều tàn nhẫn ấy là xác hàng trăm con vật bé nhỏ. Thỏ, rắn, chó rừng và gà tây đều bị đè bẹp dưới chân của đàn linh dương khủng khiếp ấy. Không khí tràn ngập bụi mù và tiến gầm thét ran lên như sấm, và khi cảnh tượng này chấm dứt, Jamie ước lượng rằng nó kéo dài trên ba giờ đồng hồ.
Vào ngày sinh nhật thứ sáu của bé Jamie, cha nó nói, “Bố sẽ đem con đi Cape Town tuần sau để cho con thấy một thành phố thực sự nó như thế nào”.
“Mẹ có thể nào đi với chúng ta được không, bố?”, bé Jamie hỏi. “Mẹ không thích săn bắn, nhưng mẹ thích các thành phố”.
Cha nó xoa đầu nó và nói. “Mẹ con bận ở đây, con ạ. Chỉ có hai cha con mình đi thôi, được không?”
Thằng bé thắc mắc và lấy làm khó chịu vì mẹ nó và cha nó có vẻ xa cách nhau quá, nhưng lúc ấy nó chưa hiểu được vì sao.

Hai cha con thực hiện cuộc hành trình ấy bằng toa xe riêng của họ. Vào năm 1891, xe hoả đã trở thành một phương tiện giao thông vượt trội hơn cả ở Nam Phi, vì nó rẻ tiền, thuận tiện và nhanh chóng. Toa xe riêng mà Jamie đã đặt đóng để anh sử dụng là một toa xe hoả dài trên hai mươi ba mét, và có bốn phòng ngủ đóng ván, có thể chứa mười hai người, một phòng khách có thể sử dụng như phòng làm việc, một phòng ăn, một phòng tắm, và một cái bếp trang bị đầy đủ. Các phòng ngủ có giường đồng, đèn khí và những cửa sổ rộng.
“Tất cả hành khách ở đâu, hở bố?” Thằng bé hỏi.
Jamie cười to, “Chúng ta là tất cả hành khách rồi. Đây là chiếc tàu hoả của riêng chúng ta, con ạ”.
Bé Jamie nhìn qua khung cửa sổ hầu như suốt chặng đường, ngạc nhiên trước những khoảng đất vô tận chạy vun vút ngang qua trước mặt.
“Đây là đất của Chúa”, cha nó nói, “Người đã rải đầy ra ở đó các thứ khoáng sản quí giá cho chúng ta. Tất cả những thứ ấy đều nằm trong lòng đất, chờ đợi được phát hiện ra. Những gì đã tìm được cho đến nay chỉ mới là bước đầu thôi, Jamie ạ”.

Khi đến Cape Town, bé Jamie khiếp hãi trước những đám đông và toà nhà đồ sộ. Jamie dắt con đi thăm Công ty Chuyên chở Đường bể McGregor, rồi chỉ cho nó thấy hàng chục chiếc tàu đang bốc rỡ hàng ở bến tàu. “Con có thấy các chiếc tàu kia không? Chúng thuộc về cha con mình đấy”.

Khi trở về Klipdrift, bé Jamie nói huyên thuyên về những gì nó đã trông thấy. “Bố làm chủ cả thành phố!” thằng bé kêu lên. “Chắc mẹ phải thích lắm. Lần sau mẹ sẽ thấy”.
Margaret kéo con vào lòng, nói, “Phải, con yêu quí ạ”.
Jamie vắng nhà nhiều đêm. Margaret biết rằng anh đang ở tại nhà bà Agnès. Nàng có nghe nói anh đã mua một ngôi nhà cho một trong các cô gái ở đó để anh có thể thăm viếng cô ta một cách riêng tư. Nàng không có cách nào biết được điều đó có thực hay không. Margaret chỉ biết rằng, dù cô ấy là ai, nàng cũng muốn giết cô ta.

Để giữ cho tâm trí nàng được ôn hoà, lành mạnh, Margaret tự buộc mình phải chú tâm đến những hoạt động trong thị trấn. Nàng gây quĩ để xây dựng một ngôi nhà thờ mới, và khởi sự một chương trình giúp đỡ gia đình của những người thăm dò mỏ đang trong cơn túng quẫn. Nàng yêu cầu Jamie sử dụng một trong các toa xe của anh để chuyên chở miễn phí cho những người đi tìm mỏ trở về Cape Town sau khi đã cạn hết tiền bạc và hi vọng.
“Bà yêu cầu tôi ném tiền qua cửa sổ”, anh gầm lên. “Họ đi bộ đến đây thì cứ để họ đi bộ trở về như lúc mới đến”.
“Họ không có điều kiện để đi bộ nữa”, Margaret cãi lại. “Và nếu họ ở lại đây thì thị trấn sẽ nuôi ăn, nuôi mặc cho họ”.
“Thôi được rồi”, Jamie cuối cùng càu nhàu. “Nhưng đó là một ý tưởng điên rồ !”.
“Cám ơn, anh Jamie”.
Anh nhìn theo Margaret bước ra khỏi văn phòng, và bất đắc dĩ anh phải cảm thấy một chút hãnh diện nào đó về nàng. Với một kẻ nào đó, hẳn nàng sẽ là một người vợ rất tốt, Jamie nghĩ thầm.

Tên người đàn bà mà Jamie đã cho ở tại ngôi nhà riêng ấy là Maggie, một cô gái điếm xinh đẹp đã có lần ngồi bên cạnh Margaret vào buổi tặng quà cho đứa bé mới sinh. Thật là mỉa mai, Jamie nghĩ thầm trong bụng, cô gái ấy lại mang cùng tên với vợ anh (1). Hai người chẳng có gì giống nhau cả. Cô Maggie này là một cô gái tóc hoe, hai mươi mốt tuổi, với khuôn mặt khoẻ mạnh và thân hình nẩy nở - một con cọp cái lúc ân ái. Jamie đã trả cho bà Agnès rất hậu hĩnh để lấy cô gái này, và đã trả cho Maggie một số tiền trợ cấp rộng rãi. Jamie rất kín đáo khi anh đến thăm ngôi nhà nhỏ ấy. Những cuộc viếng thăm này hầu như luôn luôn vào ban đêm, và như vậy, anh tin chắc rằng không bị ai dòm ngó. Thật ra, có rất nhiều người dòm ngó anh, nhưng không một ai dám bàn tán về chuyện ấy. Đây là thị trấn của McGregor, nên anh có quyền làm bất cứ thứ gì anh muốn.
(1): Maggie là tên gọi tắt thân mật của Margaret, trong tiếng Anh.

Vào một buổi tối đặc biệt hôm ấy, Jamie không thấy vui thú gì lắm. Anh đã đi đến nơi này, trong lòng hí hửng, nhưng Maggie lại ở trong một tâm trạnh cáu kỉnh. Nàng nằm dài trên chiếc giường lớn, trong chiếc áo choàng màu hồng hở hang, “Tôi chán cái cảnh bị nhốt trong cái nhà khốn khiếp này rồi”, nàng nói. “Như thể tôi là một tên nô lệ hày một cái gì đó. Ít nhất ở nhà bà Agnès, lúc nào cũng có một cái gì đó thay đổi. Tại sao mỗi khi đi nơi này nơi kia anh lại không cho tôi đi theo?”
“Anh đã giải thích với em rồi mà, Maggie. Anh không thể…”
Nàng chổm dậy khỏi giường, đứng trước mặt anh ra vẻ thách thức, chiếc áo choàng mở tung ra. “Đồ phân ngựa! Anh đem con trai anh đi khắp mọi nơi. Tôi không được bằng con trai anh hay sao?”
“Không”, Jamie nói với một vẻ bình tĩnh sợ. “Cô không thể bằng con trai tôi được”. Anh bước đến quầy rượu, rót một ly rượu mạnh cho mình. Đây là ly thứ tư – anh uống nhiều hơn thường lệ.
“Tôi không ra cái quái gì đối với anh cả”, Maggie hét lên. “Tôi chỉ là một miếng mông đít mà thôi”. Nàng ngả đầu ra phía sau, cười chế nhạo, “Đúng là một anh chàng “Scotchman” vĩ đại và đạo đức !”.
“Scot - chứ không phải là “Scotchman” (1)”.
(1): Scot: người dân xứ Tô cách lan (Scotland). Scotchmand: cũng là người dân Tô cách lan, nhưng thường khi được dùng với ý lăng nhục.

“Vì Chúa, tôi xin anh đừng chỉ trích tôi nữa. Tất cả những gì tôi làm đều chẳng hay hớn gì cả. Thế anh tưởng anh là cái quái gì? Là bố của tôi ha?”
Jamie nghe thế đã quá đủ rồi. “Cô có thể trở về với bà Agnès sáng mai. Tôi sẽ báo cho bà ấy biết rằng cô sẽ trở về đó”. Anh nhặt lấy mũ, bước ra khỏi cửa.
“Anh không thể dứt bỏ tôi như vậy được, đồ chó đẻ”. Nàng đi theo anh, điên cuồng, giận dữ.
Jamie dừng lại ở cửa. “Tôi làm như thế thật đấy”. Nói xong, anh biến vào bóng tối.
Anh ngạc nhiên khi thấy mình bước đi loạng choạng. Trí óc anh rối mù. Có lẽ vì anh đã uống quá bốn ly rượu mạnh. Không hẳn thế. Anh nghĩ đến thân hình trần truồng của Maggie trên giường đêm hôm ấy. Nàng đã phô trương thân hình, đùa rỡn với anh, rồi co rụt lại. Nàng đùa với anh, mơn trớn anh, đưa cái lưỡi mềm của nàng lên khắp thân hình anh, làm cho người anh sục sôi lên. Thế rồi nàng bắt đầu chống lại anh, làm cho người anh nóng rực lên mà không được thoả mãn.
Về đến nhà, anh đi ngang qua hành lang trước nhà, và khi sắp sửa trở về phòng mình, anh đi ngang qua căn phòng đóng cửa kín của Margaret. Ở đó có đèn chiếu sáng từ dưới cánh cửa. Đột nhiên Jamie tưởng tượng lúc ấy Margaret đang nằm trên giường, mặc chiếc áo choàng mỏng dính, hay có lẽ không mặc gì cả. Anh nhớ đến thân hình đầy đặn của nàng quằn quại bên dưới anh dưới bóng cây bên bờ sông Orange. Hướng dẫn bởi chất rượu trong người, anh mở cửa phòng Maragret, rồi bước vào.
Nàng đang nằm đọc sách bên cạnh ngọn đèn dầu. Nàng ngẩng mặt lên, tỏ vẻ ngạc nhiên. “Jamie… có chuyện gì không hay chăng?”
“Không hay vì tôi muốn đến thăm bà vợ của tôi một chút hay sao?” Tiếng nói của anh lắp bắp.
Nàng mặc một chiếc áo mỏng dính, lộ rõ thân hình bên dưới tấm vải trong suốt. Lạy Chúa, nàng có một thân hình đẹp tuyệt trần. Anh bắt đầu cởi quần áo ra.
Margaret nhẩy chồm ra khỏi giường, cặp mắt mở to. “Anh định làm cái gì vậy?”
Jamie đá cánh cửa cho nó sập lại sau lưng, rồi bước đến gần nàng. Chỉ trong chốc lát, anh vật ngã nàng xuống giường, rồi nằm xuống bên cạnh. “Lạy Chúa, anh muốn… em, Maggie ạ”.
Trong lúc mơ mơ màng màng vì men rượu, anh không biết anh đang muốn cô Maggie nào. Nàng đã dẫy dụa dữ dội. Phải, đây là con mèo rừng bé nhỏ của anh. Anh cười ha hả khi anh đã chế ngự được các cánh tay và chân nàng đập lên người anh túi bụi. Nhưng rồi đột nhiên nàng chịu nhượng bộ, kéo anh lại gần và nói, “ôi, anh yêu quí, anh Jamie yêu quí của em. Em đang rất cần có anh”. Trong lúc ấy, Jamie thầm nghĩ. “Lẽ ra anh không nên đối xử tệ bạc với em như thế. Đến sáng mai, anh sẽ nói cho em biết rằng em không phải trở về nhà bà Agnès nữa đâu”.
Khi Margaret thức dậy vào sáng hôm sau, nàng thấy mình đang nằm một mình trên giường. Nàng vẫn còn cảm thấy thân hình khoẻ mạnh của Jamie bên trong người nàng, và nghe anh nói. “Lạy Chúa, anh muốn… em”, rồi nàng thấy trong lòng tràn ngập một niềm vui sướng cuồng loạn và thật hoàn toàn. Nàng vẫn xử sự đúng từ trước đến nay. Nàng yêu chàng thật sự. Bao nhiêu lâu chờ đợi, bao nhiêu nỗi đau khổ, cô đơn và nhục nhã, thế nhưng tất cả đều không vô ích.
Trong suốt thời gian còn lại của ngày hôm ấy, Margaret sống trong một trạng thái sung sướng, mê ly. Nàng tắm rửa, gội đầu, thay đổi ý định đến hàng chục lần chiếc áo nàng nên mặc để có thể làm vui lòng Jamie nhất. Nàng đuổi người nấu ăn đi nơi khác để nàng có thể tự tay chuẩn bị những món ăn Jamie ưa thích. Nàng xếp đặt lại bàn ăn không biết bao nhiêu lần mới hài lòng được về các ngọn nến và hoa bày biện trên đó. Nàng muốn rằng buổi tối hôm ấy thật hoàn hảo.
Jamie không về nhà ăn cơm, cũng không về nhà ngủ suốt đêm hôm ấy. Margaret ngồi trong thư phòng chờ đợi anh cho đến ba giờ sáng, rồi đi vào giường một mình.
Khi Jamie trở về nhà vào tối hôm sau, anh gật đầu lịch sự chào Margaret, rồi bước thẳng đến phòng con trai. Margaret đứng nhìn theo anh, sững sờ, choáng váng, rồi chậm rãi quay lại nhìn mình trong tấm gương soi. Tấm gương soi ấy bảo với nàng rằng chưa bao giờ nàng trông xinh đẹp như thế, nhưng khi nhìn gần hơn nữa, nàng không thể nào nhận ra được đôi mắt. Đó là những con mắt của một kẻ xa lạ.
0
TAY CỰ PHÁCH, CHƯƠNG VI
MS ạ, có hai chỗ ở gần cuối Culong đã đánh dấu??? do bản scan bị thiếu. MS kiểm tra và bổ sung lại giùm Culong với nhé.
Thanks

CHƯƠNG VI
Chiếc xe ngựa sang trọng lăn xuống đường phố Klipdrift bụi bặm, kéo bởi một cặp ngựa đẹp đẽ. Cầm dây cương là một người đàn ông mảnh khảnh nhưng trông khoẻ mạnh, với một mái tóc và chòm râu trắng như tuyết. Ông khách mặc một bộ quần áo màu xám may đúng thời trang và một chiếc áo sơ mi có diềm đăng ten xếp nếp, trên chiếc cà vạt đen có một cái ghim gắn kim cương. Ông đội một chiếc mũ chóp cao màu xám, và ở trên ngón tay nhỏ có một chiếc nhẫn gắn một viên kim cưong lớn lóng lánh. Ông có vẻ như một người khách lạ với thị trấn này nhưng thật ra không phải như vậy.
Klipdrift đã thay đổi rất nhiều từ ngày Jamie McGregor rời đi một năm trước đây. Lúc ấy là vào năm 1884, và Klipdrift đã từ một lều trại phát triển lên thành một thị trấn. Đường xe hoả đã được hoàn tất từ Capetown đến Hopetown với một nhánh rẽ chạy đến Klipdrift tạo nên một làn sóng di cư mới đến thị trấn này. Thị trấn đông đúc hơn là Jamie nhớ trước đây, nhưng dân chúng có vẻ khác lạ. Vẫn có nhiều người thăm dò kim cương, nhưng cũng có những người đàn ông ăn mặc chỉnh tề, những người đàn bà quần áo sang trọng đi ra từ các cửa hiệu. Klipdrift đã mang một bộ mặt đáng kính nể.
Jamie đi qua một tiệm khiêu vũ mới mở và chừng năm sáu quán rượu. Anh đánh xe ngang qua một nhà thờ mới xây, một tiệm thợ cạo và một khách sạn lớn mang tên Grand Hotel. Anh dừng trước một ngân hàng, xuống xe, lơ đãng quăng sợi dây cương ngựa cho một đứa bé da đen.
“Cho chúng nó uống nước”
Jamie đi vào ngân hàng và nói với viên quản lý. “Tôi muốn ký thác một trăm nghìn bảng Anh trong ngân hàng này của ông”.
Tin đồn loan đi rất nhanh, y như Jamie đã đoán trước, nên vào lúc anh rời ngân hàng đi tới quán rượu Sundowner thì anh đã thành trung tâm chú ý của mọi người.
Bên trong quán rượu vẫn không thay đổi, nó rất đông đúc và nhiều cặp mắt nhìn theo Jamie khi anh bước tới quầy rượu. Smith gật đầu chào kính cẩn, “Thưa ông muốn dùng gì ạ?”. Trên mặt tên chủ quán này không có nét gì tỏ ra hắn đã nhận ra Jamie.
“Whisky, thứ tốt nhất ấy”.
“Thưa ông, có ngay”, hắn rót rượu ra, “Chắc ông mới đến thị trấn này?”
“Phải”.
“Chắc ông chỉ ghé ngang qua đây thôi?”
“Không, tôi nghe nói nơi này là một thị trấn tốt cho những ai muốn đầu tư”
Mắt lão bán rượu sáng lên.” Ông không thể tìm ra một nơi nào tốt hơn. Một người với một trăm… một người nhiều tiền của có thể làm ăn có lợi cho mình. Thật ra, tôi cũng có thể giúp ích cho ông một phần nào, thưa ông ạ”.
“Thế hả? Giúp bằng cách nào?”
Smith vươn người về phía trước, nói bằng giọng bí mật. “Tôi biết người điều khiển thị trấn này. Ông ta là Chủ tịch hội đồng thị xã và đứng đầu Tiểu ban Công dân vụ. ông ta là nhân vật quan trọng nhất vùng này. Tên ông ta là Salomon Van der Merwe”.
Jamie uống một hớp rượu, “Chưa hề nghe thấy tên ấy bao giờ”.
“Ông ấy là chủ một cửa hàng bách hoá rất lớn bên kia đường. Ông ấy có thể giúp ông ký những hợp đồng rất có lợi. Gặp được ông ấy thì chẳng phí công phí của chút nào”.
Jamie lại uống thêm hợp rượu, “Bảo lão ấy lại đây gặp tôi”
Lão bán rượu liếc mắt nhìn viên kim cương lớn trên ngón tay của Jamie và viên kim cương trên cái ghim cà vạt, “Thưa ông, vâng, tôi có thể cho ông ấy biết tên ông được không?”
“Travis, Ian Travis”
“Vâng, ông Travis. Tôi chắc rằng ông Van der Merwe sẽ muốn gặp ông”. Lão rót thêm một ly rượu nữa. “Xin ông dùng ly này trong khi chờ đợi. Ly này do bản hiệu thết đãi”.
Jamie ngồi bên quầy rượu, nhấm nháp ly whisky, biết rằng mọi người trong quán đang nhìn anh. Nhiều người đã rời Klipdrift và trở nên giàu có nhưng không ai đến Klipdrift với của cải lớn lao như vậy. Đó là một cái gì rất mới mẻ trong kinh nghiệm của họ.
Mười lăm phút sau, lão bán rượu trở lại kèm theo Salomon Van der Merwe.
Van der Merwe tiến lại phía ông khách râu tóc bạc phơ, chìa tay ra mỉm cười: “Chào ông Travis, tôi là Salomon Van der Merwe”
“Ian Travis”
Jamie chờ một dấu hiệu thoáng qua chứng tỏ lão đã nhận ra một nét gì quen thuộc của anh. Không có gì cả. Nhưng làm sao có dấu hiệu như vậy được? Jamie nghĩ thầm. Không còn có nét gì còn lại của cậu con trai mười tám tuổi ngây thơ, lý tưởng trước kia nữa. Smith khúm núm đưa hai người đến một chiếc bàn lớn ở góc phòng.
Vừa mới ngồi xúông, Van der Merwe nói, “Tôi biết rằng ông đang tìm kiếm một nơi nào đó để đầu tư tại Klipdrift này, thưa ông Travis”.
“Có lẽ”
“Tôi có thể giúp ông phần nào. Chúng ta phải hết sức cẩn thận. Có nhiều kẻ bất lương xung quanh đây”.
Jamie nhìn lão, “Chắc chắn là phải có”
Thật là khó tưởng tượng nổi. Anh đang ngồi nói chuyện ở đây với con người đã từng lừa gạt anh đến nỗi mất tất cả của cải, rồi lại còn tìm cách thủ tiêu anh nữa. Mối hận thù Van der Merwe đã thiêu đốt anh trong suốt năm qua, nỗi khao khát trả thù là thứ duy nhất nâng đỡ anh, giúp cho anh được sống. Bây giờ đến lúc Van der Merwe phải cảm thấy sự trả thù ấy.
“Ông cho phép tôi hỏi câu này, thưa ông Travis, ông dự định sẽ đầu tư chừng bao nhiêu tiền?”
“Ồ, khoảng trăm nghìn bảng vào lúc đầu”, Jamie nói với vẻ lơ đãng. Anh nhìn thấy Van der Merwe liếm mép. “Sau đó có lẽ thêm chừng ba bốn trăm nghìn nữa”.
“Ờ… ờ… với số tiền lớn như vậy ông có thể làm ăn rất lớn, rất lớn. Cố nhiên là phải có sự hướng dẫn đúng đắn”. Lão vội vã nói thêm. “Ông có dự tính đầu tư vào việc gì chưa?”
“Tôi nghĩ rằng tôi còn phải xem có cơ hội làm ăn nào tốt không đã”
“Ông thật là khôn ngoan”, Van der Merwe gật đầu ra vẻ hiểu biết. “Có lẽ ông sẽ vui lòng đến dùng cơm với chúng tôi hôm nay và chúng ta sẽ bàn thêm về chuyện này? Con gái tôi nấu ăn rất giỏi. Thật là một hân hạnh lớn cho chúng tôi’.
Jamie mỉm cười, “Tôi rất vui lòng, ông Van der Merwe ạ”. Mày không biết là tao vui lòng như thế nào, Jamie nghĩ thầm trong bụng.
Câu chuyện thế là đã bắt đầu.
Cuộc hành trình từ mỏ kim cương Namib đến Capetown trước đây không xảy ra chuyện gì. Jamie và Banda đi bộ đến ngôi làng nhỏ để một y sĩ chữa trị cho cánh tay của Jamie, rồi sau đó họ đi nhờ xe la đến Capetown. Đó là chuyến đi lâu lắc và khó khăn nhưng hai người không kể gì đến những điều bất tiện. Đến Capetown, Jamie ở trong khách sạn Hoàng gia lộng lẫy, nằm trên đường Plent St. được đặt dưới sự bảo trợ của Đức ông Quận công Edinburgh. Anh được dẫn đến một dãy buồng của hoàng gia gọi là “Royal Suite”
“Tôi muốn anh gọi một thợ cạo giỏi nhất thành phố đến đây cho tôi”, Jamie nói với viên quản lý khách sạn, “Sau đó tôi cần một thợ may và thợ đóng giầy nữa”
“Thưa ngài có ngay”
Thật có tiền mua tiên cũng được, Jamie thầm nghĩ
Tắm ở Royal Suite này thật là tuyệt trần, Jamie ngả người trong bồn nước ấm, rũ sạch mọi mệt mỏi ra khỏi thân thể, trí óc anh miên man nghĩ đến những tuần lễ kinh khiếp vừa qua. Phải chăng từ ngày anh và Banda đóng chiếc bè đến nay chỉ mới mấy tuần lễ thôi? Thế mà anh tưởng chừng như đã nhiều năm rồi, Jamie thầm nghĩ đến chiếc bè đưa anh tới vùng đất cấm, rồi những con cá mập, những cơn sóng dữ, những tảng đá ngầm xé rách chiếc bè ra từng mảnh. Sương mù gọi là “mis”, những bãi mìn anh đã bò ngang qua, rồi con chó săn to lớn đè trên người anh…, những tiếng kêu ma quái, tắc nghẽ, vang lên trong đầu anh liên tục: Kruger… Brent… Kruger… Brent…
Nhưng trên hết tất cả mọi thứ anh nghĩ đến Banda, người bạn của anh.
Khi vừa đến Capetown, Jamie thúc giục, “Anh hãy ở lại với tôi”
Banda cười, nhe hàm răng trắng nhở rồi nói. “Sống với anh thì quá buồn chán, Jamie ạ. Tôi phải đi đến một nơi nào đó để tìm những thứ thích thú hơn”.
“Anh định sẽ làm gì?”
“Phải, nhờ có anh và nhờ có ý kiến của anh là làm ra chiếc bè vượt qua mỏm đá ngầm, tôi sẽ mua một nông trại, tìm kiếm một bà vợ và có một bày con”.
“Được rồi, chúng ta hãy đi tới tiệm kim cương, tôi sẽ chia lại cho anh nửa số kim cương phần của anh”.
“Không, tôi không muốn như vậy”, Banda nói
Jamie nhăn mặt lại, “Anh nói gì vậy? Nửa số kim cương ấy là của anh mà. Anh là triệu phú rồi.”
“Không, anh hãy nhìn màu da của tôi đi, Jamie ạ. Nếu tôi trở thành triệu phú thì tính mạng của tôi rẻ rúng lắm”.
“Anh có thể giấu một số kim cương đi. Anh có thể giấu…”
“Tôi chỉ cần đủ tiền để mua một mảnh đất làm nông trại và hai con bò để đổi lấy một bà vợ. Hai hay ba viên kim cương nhỏ là đủ để tôi có mọi thứ tôi muốn. Phần còn lại thuộc về anh.”
“Không thể như thế được, anh không thể cho tôi phần của anh được”
“Có thể được lắm chứ Jamie. Bởi vì anh sẽ cho tôi lão Salomon Van der Merwe”.
Jamie nhìn Banda một hồi lâu, “Tôi hứa”
“Vậy thì tạm biệt nhé, anh bạn của tôi”
Hai người nắm chặt tay nhau
“Chúng ta sẽ gặp lại nhau”, Banda nói, “Lần sau hãy nghĩ về một việc thực sự thích thú mà chúng ta cùng làm nhé”.
Banda ra đi với ba viên kim cương nhỏ cẩn thận nhét trong túi.
Jamie gửi một ngân phiếu hai mươi ngàn bảng Anh cho cha mẹ, mua một chiếc xe ngựa đẹp nhất và một đàn ngựa rồi quay trở lại Klipdrift.
Đã đến lúc anh phải trả lại mối thù
Tối hôm ấy, Jamie McGregor đi thẳng vào cửa hiệu của Van der Merwe, anh đột nhiên thấy lòng mình co thắt lại bởi một cảm giác rất khó chịu và mãnh liệt đến nỗi anh phải dừng lại một lúc để lấy tự chủ.
Van der Merwe hối hả đi ra từ bên trong cửa hiệu và khi nhận ra Jamie, mặt lão rạng lên bởi một nụ cười tươi, “Ông Travis, hân hạnh quá”
“Cám ơn, thưa ông… à, xin lỗi vì tôi không nhớ tên ông?”
“Van der Merwe, Salomon Van der Merwe. Tên Hà Lan bao giờ cũng khó nhớ. Cơm nước đã sẵn sàng rồi, Margaret!”. Lão gọi to lên khi dẫn Jamie vào căn phòng phía sau. Vẫn không có gì thay đổi cả. Margaret đang đến bên chiếc lò, nhìn xuống một chảo rán quay lưng lại phía hai người.
“Margaret, đây là ông khách bố đã nói với con, ông Travis”
Margaret quay lưng lại, “Xin chào ông”
Không thấy thoáng qua một dấu hiệu nào chứng tỏ nàng đã nhận ra anh.
“Rất hân hạnh được gặp cô”, Jamie gật đầu
Một khách hàng rung chuông, Van der Merwe nói “Xin lỗi, tôi sẽ trở lại ngay. Xin ông hãy tự nhiên, ông Travis ạ”. Lão vội vã ra đi.
Margaret mang một bát rau và bát thịt đến bàn ăn, rồi vội vã trở lại bếp lấy bánh mì ra khỏi lò. Jamie đứng ở đấy, yên lặng nhìn nàng. Margaret đã nảy nở như một đoá hoa trong năm nay, từ ngày anh gặp nàng. Nàng đã trở thành phụ nữ với một vẻ hấp dẫn âm ỉ mà trước đây không thấy có.
“Bố cô nói với tôi rằng cô nấu ăn rất giỏi”
Margaret đỏ mặt, “Tôi… tôi cũng mong được như thế, thưa ông”
“Lâu lắm rồi tôi mới được thưởng thức thức ăn nấu ở nhà. Tôi rất mong được một dịp như thế này”. Jamie lấy một đĩa bơ lớn từ tay Margaret đặt nó lên bàn giúp nàng. Margaret ngạc nhiên đến nỗi suýt làm rơi chiếc đĩa đang cầm trong tay. Nàng chưa hề nghe nói một người đàn ông nào giúp việc làm nhà cho một người đàn bà. Nàng ngước đôi mắt ngạc nhiên lên nhìn Jamie. Một cái mũi gẫy và một cái sẹo dài làm xấu đi một khuôn mặt lẽ ra rất đẹp trai. Mắt anh ta màu xám nhạt, ngời vẻ thông minh và sức mạnh nồng cháy. Mái tóc bạc cho thấy anh ta không còn trẻ nữa nhưng thấy ở anh ta một vẻ gì đó rất trẻ. Anh ấy có dáng người cao, khoẻ mạnh và… Margaret quay mặt đi chỗ khác, bối rối vì cái nhìn chằm chằm của chàng.
Van der Merwe hối hả quay lại phòng ăn, chùi hai bàn tay, “Tôi đã đóng cửa hiệu rồi, nào chúng ta hãy ngồi xuống, thưởng thức bữa ăn ngon lành này”.
Jamie được dành cho chiếc ghế danh dự ở bàn ăn. “Chúng ta đọc kinh nào”, Van der Merwe nói.
Họ khép mắt lại. Margaret lén lút mở mắt ra để có thể nhìn kỹ ông khách sang trọng, trong khi ông bố rầm rì đọc kinh. “Chúng con là những kẻ có tội dưới mắt Chúa và phải bị trừng phạt. Hãy cho chúng con sức mạnh để có thể chịu đựng được nỗi đau khổ trên thế gian này, để chúng con có thể hưởng được những thành quả tốt đẹp trên thiên đường khi nào Chúa gọi chúng con. Lạy Chúa, xin cám ơn người đã giúp những kẻ trong chúng con xứng đáng được hưởng sự giàu sang phú quý. Amen.”
Salomon Van der Merwe bắt đầu gắp thức ăn để mời khách. Phần ăn lão đưa ra mời Jamie thật là hậu hĩnh. Họ nói chuyện với nhau trong khi ăn. “Có phải đây là lần đầu tiên ông đi chơi tới vùng này không?”
“Đúng vậy”, Jamie đáp, “Lần đầu tiên”
“Tôi chắc ông không đem bà Travis đi theo”
“Không có ai là bà Travis cả. Tôi chưa tìm thấy người nào muốn lấy tôi cả”
Người đàn bà nào điên khùng mới từ chối lấy anh ta. Nàng cụp mắt xuống, sợ rằng ông khách sẽ đọc được ý nghĩ xấu xa của mình.
“Klipdrift là một thành phố có cơ hội làm ăn tốt, rất tốt, ông Travis ạ”
“Tôi muốn được thấy chứng minh đó”, anh đưa mắt nhìn sang Margaret. Nàng đỏ mặt”.
“Nếu ông không cho tôi là quá tò mò, ông Travis ạ, tôi muốn biết ông đã trở nên giàu có bằng cách nào vậy?”
Margaret bối rối vì câu hỏi quá trắng trợn của ông bố nhưng ông khách dường như không để ý đến điều đó.
“Tôi thừa hưởng gia tài của cha tôi”, Jamie trả lời một cách thoải mái.
“À, ra vậy. Chắc là ông đã có kinh nghiệm kinh doanh rồi chứ?”
“Tôi e rằng rất ít. Vì vậy tôi cần được hướng dẫn rất nhiều”
Mặt Van der Merwe sáng ngời lên. “Số phận đã run rủi cho chúng mình gặp nhau, ông Travis ạ. Tôi có một chỗ quen biết rất có lợi. Rất có lợi, thật đấy. Tôi có thể đảm bảo với ông rằng tôi sẽ làm tiền bạc của ông tăng lên gấp đôi, chỉ trong vòng ít tháng thôi”. Lão nhoài người về phía trước, vỗ nhẹ lên cánh tay Jamie. “Tôi có cảm tưởng hôm nay là một ngày trọng đại của hai chúng ta’.
Jamie chỉ tủm tỉm cười
“Chắc rằng ông đang ở khách sạn Grand Hotel?”
“Đúng vậy”
“Ở đó giá cắt cổ. Nhưng tôi nghĩ rằng với một người đầy đủ phương tiện như ông thì…” Lão nhìn Jamie cười rạng rỡ.
Jamie nói, “Tôi nghe nói miền quê xung quanh đây rất đẹp. Không biết ông có cho phép tôi yêu cầu ái nữ của ông đưa đi xem một vòng vào sáng mai được không?”
Margaret cảm tưởng như trái tim mình ngưng lại một giây.
Van der Merwe cau mày, “Tôi không biết, nhưng…”
Salomon Van der Merwe có một nguyên tắc sắt đá là “không bao giờ cho phép con gái mình đứng một mình với con gái lão. Thế nhưng, trong trường hợp ông Travis này thì lão nghĩ rằng dù có áp dụng một ngoại lệ thì cũng không có hại gì. Với dịp may hiếm có này, lão không muốn tỏ ra quá chật hẹp với khách. “Tôi có thể cho Margaret nghỉ làm việc tại cửa hàng trong một thời gian ngắn. Con sẽ đưa ông khách của chúng ta đi một vòng xung quanh đây nhé, Margaret?”
“Nếu bố muốn như vậy, bố ạ”, nàng nói khe khẽ.
“Thế thì thoả thuận cả nhé”, Jamie cười tủm tỉm, “Mười giờ sáng mai được không?”
Sau khi ông khách có dáng người cao, ăn mặc sang trọng rời khỏi nhà, Margaret dọn dẹp bàn ăn, rửa bát đĩa trong một trạng thái vô cùng bàng hoàng, xúc động. Chắc hẳn ông ấy nghĩ mình là một đưa ngu xuẩn. Nàng cố nhớ lại những gì nàng đã đóng góp vào câu chuyện vừa rồi. Không có gì cả. Nàng hoàn toàn câm như hến. Sao vậy nhỉ? Nàng đã tiếp bao nhiêu khách hàng đàn ông ở cửa hiệu mà có bao giờ tỏ ra là một đứa khờ dại, ngu xuẩn đâu. Dĩ nhiên họ không nhìn nàng giống như Ian Travis vừa rồi, “bọn đàn ông đều có một con quỷ dữ trong người, Margaret ạ. Ta sẽ không để cho bọn chúng làm hỏng vẻ ngây thơ, trong trắng của con đâu”. Giọng nói của bố nàng vang lên trong trí óc. Có thể nào như vậy không nhỉ? Tại sao nàng cảm thấy yếu đuối và run sợ khi người lạ mặt ấy nhìn nàng như vậy? Phải chăng là chàng làm hư hỏng sự trong trắng của nàng? Ý tưởng ấy làm toàn thân nàng run lên một cảm giác thú vị. Nàng nhìn xuống chiếc nĩa mà nàng đã lau đến ba lần, rồi ngồi xuống bàn. Nàng ước ao mẹ nàng còn sống vào lúc này.
Mẹ nàng chắc đã hiểu. Margaret yêu bố nàng nhưng đôi khi nàng có cảm giác khó chịu là nàng là tù nhân của ông. Nàng thắc mắc vì sao bố nàng không bao giờ cho phép một người đàn ông nào đến gần nàng cả. “Ta sẽ không bao giờ có chồng được”, Margaret tự nhủ, “Trừ khi nào bố chết”. Cảm thấy tội lỗi với những ý tưởng nổi loạn như vậy, nàng vội vã rời căn phòng, đi vào cửa hiệu nơi cha nàng ngồi sau chiếc bàn, tính toán sổ sách.
“Chúc bố ngủ ngon”
Van der Merwe tháo chiếc kính gọng vàng ra, chùi mắt thật sạch trước khi hôn con gái. Margaret không hiểu vì sao lúc ấy nàng lại dang ra xa.
Một mình trong một hốc nhà có che màn dùng làm phòng ngủ. Margaret nhìn mặt nàng trong chiếc gương soi nhỏ treo trên tường. Nàng không có ảo tưởng về vẻ đẹp của nàng. Nàng không đẹp mà chỉ trông hay hay. Mắt đẹp. Gò má cao. Dáng người trông được. Nàng kéo tấm gương soi lại gần hơn. Ian Travis đã thấy gì khi chàng nhìn nàng? Nàng bắt cầu cởi quần áo ra. Ian Travis đang đứng trong phòng, nhìn nàng, cặp mắt chàng như đốt cháy da thịt nàng. Nàng bước ra khỏi chiếc quần lót mutsolin và tháo chiếc coocxe, hoàn toàn trần truồng trước mặt chàng. Bàn tay nàng vuốt nhẹ lên đôi nhũ bộ căng phồng, cảm thấy các đầu vú rắn chắc dưới ngón tay. Các ngón tay nàng lướt qua bụng phẳng lỳ và bàn tay chàng siết chặt lấy nàng, thong thả đưa xuống phía dưới. Bây giờ chúng đã đặt giữa hai đùi nàng, nhẹ nhàng vuốt ve, sờ soạng, cọ xát mỗi lúc một nhanh hơn, mạnh hơn, cho đến khi nàng cảm thấy mình như bị mắc cạn giữa cơn lốc cảm giác điên cuồng. Cuối cùng nó nổ bùng ra trong người nàng, rồi nàng hổn hển gọi tên chàng và ngã lăn ra giường.
Họ cùng đi chung với nhau trên chiếc xe ngựa của Jamie. Anh ngạc nhiên một lần nữa trước những sự thay đổi ở nơi đây. Nơi mà trước kia chỉ là một bãi lều trại mênh mông thì bây giờ mọc lên những ngôi nhà bằng gỗ với mái lợp tôn hay tranh.
“Klipdrift có vẻ rất thịnh vượng”, Jamie nói trong khi họ đi dọc theo đường phố chính.
“Chắc là nó trông lạ mắt đối với người mới đến”, Margaret nói, nàng nghĩ thầm: thế mà bấy lâu nay mình vẫn ghét nơi đây.
Họ rời thị trấn, đến phía các vùng mỏ dọc theo con sông Vaal. Mùa mưa đã biến đồng quê thành một khu vườn lớn, đầy màu sắc, đầy những bụi cây và cây con um tùm, những loài cây không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Khi chiếc xe đi ngang qua một nhóm người thăm dò kim cương, Jamie hỏi: “Gần đây họ có tìm được viên kim cương nào lớn không?”
“Vâng, có một ít. Mỗi khi có một tin tức nào loan đi, hàng trăm người đào kim cương đổ xô đến. Đa số họ đều ra về, nghèo túng và thất vọng”, Margaret cảm thấy nàng cần phải cảnh cáo Jamie về sự nguy hiểm ở nơi này, “Cha em không muốn em nói điều này nhưng em nghĩ rằng đó là một việc làm kinh khủng, ông Travis ạ”
“Có lẽ đối với một số người thôi”, Jamie nói, “Một số người nào đó”
“Ông có định ở nơi đây lâu không?”
“Có”
Margaret cảm thấy như trái tim nàng reo lên, “Tốt”. Rồi nàng vội nói thêm, “Cha em chắc sẽ vui lòng lắm”
Họ đi lòng vòng suối buổi sáng, thỉnh thoảng Jamie dừng lại nói chuyện với những người thăm dò kim cương. Nhiều người nhận ra Margaret và nói chuyện rất kính cẩn. Nàng có một vẻ nồng nhiệt và thân mật mà nàng không biểu hiện ra vì sự có mặt của cha nàng.
Khi chiếc xe tiếp tục lên đường, Jamie nói, “Mọi người có vẻ quen biết cô”
Nàng đỏ mặt, “Ấy là bởi vì họ có công việc kinh doanh với cha em. Ông cung cấp những đồ trang bị cho đa số những người đi đào kim cương”
Jamie không bình luận gì. Anh đang rất quan tâm tới những gì trông thấy trước mắt. Đường xe hoả đã tạo nên sự thay đổi lớn lao. Một tổ hợp gọi là tổ hợp De Beers, gọi theo tên nông dân có thửa ruộng trên đó người ta đã tìm thấy viên kim cương đầu tiên, đã mua đứt tài sản của một địch thủ lớn nhất nhất tên là Barney Banato, và De Beers đang tập hợp lại hàng trăm đất khai thác nhỏ thành một tổ chức lớn. Vàng cũng được phát hiện gần đây, không xa Kimberley bao nhiêu, cùng với mănggan và kẽm, Jamie tin rằng đó mới chỉ là bắt đầu, và rồi đây Nam Phi sẽ trở thành một kho báu chứa đủ mọi thứ kim loại. Cơ hội làm ăn ở đây thật khó tin nổi đối với người biết nhìn xa trông rộng.
Khi Jamie và Margaret trở về nhà thì trời đã gần về chiều. Jamie cho xe dừng trước cửa hàng của Van der Merwe và nói, “Tôi rất hân hạnh nếu cô và cha cô cùng đến dùng cơm tối nay”.
Margaret đỏ bừng mặt. “Em sẽ nói với cha em. Em hy vọng là ông ấy sẽ nhận lời. Cảm ơn ông đã đem đến cho em một ngày thú vị, ông Travis ạ”
Nàng chạy thật nhanh vào nhà.
Ba người ngồi ăn trong một phòng ăn rộng của khách sạn Grand Hotel
Căn phòng đông nghẹt người, Van der Merwe lẩm bẩm, “Không hiểu được những người này kiếm tiền ở đâu ra mà đến ăn ở đây được?”
Jamie nhặt tờ thực đơn lên, đưa mắt nhìn qua một lượt. Một đĩa bít tết giá một bảng bốn shillings và một củ khoai tây giá bốn shillings, một chiếc bánh nhồi táo giá mười shillings.
“Chúng nó là bọn cướp của!”, Van der Merwe phàn nàn, “Chỉ ăn một bữa cơm ở đây người ta cũng bị vét sạch túi để vào nhà tế bần”.
Jamie tự hỏi không biết cần phải có cái gì mới đưa lão Van der Merwe vào nhà tế bần được. Anh quyết sẽ tìm ra. Họ gọi các món ăn. Jamie nhận thấy lão Van der Merwe kêu những món ăn đắt tiền nhất trên thực đơn. Margaret chỉ gọi một món súp trong. Nàng quá vui thích nên không ăn gì được. Nhìn hai bàn tay, nàng nhớ lại những gì làm trước đây và cảm thấy tội lỗi quá.
“Tôi có thể trả nổi bữa ăn này mà”, Jamie trêu nàng, “Cô có thể gọi bất cứ món gì cô thích”
Nàng đỏ mặt, “Cám ơn ông, nhưng em… em không đói lắm”
Van der Merwe để ý đến nét mặt đỏ bừng của con gái và nhìn thật nhanh từ Margaret sang Jamie, “Con gái tôi là một đứa con gái hiếm có, rất hiếm có, ông Travis ạ”
Jamie gật đầu, “Tôi hoàn toàn đồng ý với ông, ông Van der Merwe ạ”
Câu nói này làm cho Margaret cảm thấy sung sướng đến nỗi khi bữa cơm dọn ra nàng không ăn nổi đĩa súp. Hiệu quả Ian Travis tạo ra với nàng thật không thể tưởng tượng nổi. Nàng đọc được ẩn ý của anh trong từng lời nói, từng cử chỉ. Nếu anh cười với nàng, điều đó đồng nghĩa rằng anh yêu nàng nhiều lắm. Nếu chàng nhăn mặt, tức là chàng ghét nàng. Những cảm xúc của Margaret giống như một hàn thử biểu lên xuống không ngừng.
“Hôm nay ông có thấy gì hay không?”, Van der Merwe hỏi Jamie
“Không, chẳng có gì đặc biệt”, Jamie nói với vẻ thờ ơ.
Van der Merwe vươn người về phía trước, “Nhớ lời tôi nói đấy nhé. Thị trấn này rồi sẽ là một vùng phát triển nhanh nhất thế giới ông ạ. Người nào khôn ngoan mới đầu tư vào lúc này. Con đường xe hoả mới biến nơi này thành Capetown thứ hai đấy”.
“Tôi không biết”, Jamie nói với vẻ nghi ngờ, “Tôi đã nghe quá nhiều về những thành phố phát triển như sấm sét, giống như thành phố này, nhưng rồi bị vỡ nợ. Tôi không thích bị bỏ tiền vào những thành phố ma”.
“Chuyện ấy không thể xảy ra với Klipdrift được”, Van der Merwe cố trấn an, “Lúc nào họ cũng tìm ra thêm được nhiều kim cương, lại cả vàng nữa”
Jamie nhún vai, “Như thế được bao lâu”
“Ồ, chuyện ấy thì ai mà đoán trước được. Nhưng…”
“Đúng vậy”
“Không nên đưa ra những quyết định vội vã, ông Travis ạ”, Van der Merwe thúc giục, “Tôi không muốn ông bỏ phí những cơ hội lớn lao”
Jamie suy nghĩ một lát, “Có lẽ tôi hơi vội thật đấy. Margaret, ngày mai cô có thể đưa tôi đi xem lại một lần nữa được không?”
Van der Merwe mở mồm định phản đối nhưng lại ngậm miệng lại ngay. Lão nhó đến câu nói của Thoreson, viên chủ ngân hàng: “Ông ta đến đây, ký thác một trăm ngàn bảng Anh- bình tĩnh lại nào, Salomon, rồi ông ta sẽ còn ký thác thêm nhiều tiền hơn thế nữa”.
Lòng tham của Van der Merwe đã thắng thế, “Cố nhiên, nó có thể đi với ông”
Sáng hôm sau, Margaret mặc chiếc áo đẹp nhất, sẵn sàng gặp Jamie. Khi cha nàng bước vào trông thấy, mặt ông đỏ bừng lên, “Con muốn người ta nghĩ rằng con là người đàn bà truỵ lạc, trưng diện đẹp đẽ để lôi cuốn bọn đàn ông hay sao? Đây là công việc làm ăn, con có biết không? Cởi cái áo ấy ra, mặc quần áo làm việc vào”
“Nhưng, thưa bố…”
“Cứ làm như ta bảo”
Nàng không cãi lại nữa, “Vâng, thưa bố”
Lần này Jamie đánh xe về hướng đối diện. Khắp nơi đều có các dấu hịêu khích lệ về công cuộc phát triển và xây dựng mới. Jamie thầm nghĩ, nếu những sự khám phá kim loại này vẫn tiến triển tốt – mà điều này ta có đầy đủ lý do để tin tưởng - người ta kiếm nhiều tiền bằng cách mua bất động sản hơn là kim cương và vàng. Klipdrift cần ngân hàng, khách sạn, quán rượu, khách sạn, cửa hiệu, nhà điếm…. Danh sách này có thể dài vô tận, đó là những cơ hội làm ăn rất tốt.
Jamie biết rằng Margaret đang nhìn mình, “Có gì không hay chăng?”
“Ồ không”, nàng nói rồi quay nhanh đi chỗ khác.
Lúc này Jamie bắt đầu quan sát nàng kỹ hơn. Anh chú ý đến vẻ lộng lẫy toả ra từ con người nàng. Margaret cũng ý thức được vẻ kín đáo, trai tráng của chàng. Jamie đánh hơi được cảm xúc của nàng. Nàng là một phụ nữ không có dàn ông.
Đến trưa, Jamie đánh xe ra khỏi con đường cái, rẽ vào khu rừng gần con suối, rồi dừng lại dưới một cây “baobap” thật to. Anh đã bảo khách sạn gói cho anh thức ăn trưa. Margaret trải một tấm khăn vải trên đất, tháo gói thức ăn và bày mọi thứ ra: thịt cừu rô ti, thịt gà rán, cơm trộn nghệ tây vàng, mứt mộc qua và quýt, đào, bánh ngọt rắc hạnh nhân.
“Thật là một bữa tiệc lớn!”, Margaret kêu lên, “Em sợ rằng em không xứng đáng với những thứ này, ông Travis ạ”
“Em còn xứng đáng hơn thế nhiều”, Jamie trấn an
Margaret quay mặt đi chỗ khác, bận bịu xếp dọn các thức ăn.
Jamie đưa hai bàn tay ra đỡ mặt nàng, “Margaret, nhìn anh đây này”
“Ồ, em xin ông, em…”, nàng run rẩy
“Nhìn anh đây này”
Chậm rãi nàng ngước mặt lên nhìn vào mắt chàng.. Chàng kéo nàng vào trong cánh tay, ôm thật chặt, môi chàng tìm môi nàng. Chàng áp sát thân hình vào người nàng.
Sau một lát, nàng vùng vẫy thân hình ra khỏi tay chàng, lắc đầu và nói, “Ồ, không thể thế được. Chúng ta không nên làm như thế. Chúng ta sẽ xuống địa ngục mất thôi”
“Lên thiên đường chứ!”
“Em sợ”
“KHông có gì phải sợ cả. Em có thấy mắt anh đây không? Chúng nhìn thấy tận bên trong em. Em cũng biết anh thấy cái gì rồi, phải không? Em muốn anh ân ái với em. Anh sẽ làm như vậy. Có gì sợ đâu? Vì em thuộc về anh rồi mà. Em biết như vậy, phải không? Em thuộc về anh, Margaret ạ. Em nói như vậy đi. Em là của Ian. Nói đi. Em-là của-Ian”
“Em là của… Ian”
Môi chàng lại đặt lên môi nàng một lần nữa. Anh bắt đầu tháo những chiếc móc áo lót của nàng. Một lát sau, nàng đứng trần truồng trong cơn gió hây hây. Anh nhẹ nhàng thả thân hình nàng xuống đất. Sự chuyển tiếp run rẩy từ thời kỳ con gái sang thời kỳ thiếu phụ trở thành một kinh nghiệm thích thú, đê mê khiến Margaret cảm thấy mình sống động hơn bất cứ lúc nào trong đời. Mình sẽ nhớ đến giây phút này mãi mãi, nàng nghĩ thầm. Chiếc giường bằng lá cây, cơn gió hây hây ấm áp vuốt ve lên da trần, bóng cây baobap lốm đốm trên thân thể hai người. Họ lại ân ái với nhau. Lần này còn tuyệt diệu hơn nữa. KHông người đàn bà nào yêu ai bằng mình yêu người đàn ông này.
Khi hai người đã thoả mãn, Jamie ôm nàng trong vòng tay rắn chắc của chàng. Nàng ước ao sẽ được ở đây vĩnh viễn. Nàng ngước mắt lên nhìn chàng thì thầm, “Anh đang nghĩ gì vậy?”
Chàng cười, đáp lại cũng bằng tiếng thì thầm, “Anh nghĩ rằng anh đói bụng kinh khủng”
Nàng cười to lên. Cả hai ngồi dậy ăn cơm trưa dưới bóng cây. Sau đó họ cùng bơi với nhau rồi nằm phơi nắng cho khô. Jamie lại ân ái với nàng một lần nữa. Ước ao sao ngày hôm nay kéo dài không bao giờ chấm dứt.
Tối hôm đó, Jamie và Van der Merwe ngồi ở chiếc bàn trong quán Sundowner. “Ông nói đúng đấy”, Jamie nói, “Có khả năng ở đây lớn lao hơn tôi trước đây vẫn tưởng”
Van der Merwe cười rạng rỡ, “Tôi biết ông rất thông minh nên không thể nào không thấy điều đó”
“Vậy ông khuyên tôi nên làm công việc cụ thể gì?” Jamie hỏi
Van der Merwe liếc mắt xung quanh, hạ thấp giọng nói: “Mới ngày hôm nay, tôi được tin là người ta tìm thấy một viên kim cương thật lớn ở bắc Pniel. Hiện nay vẫn còn mười mỏ có thể xin quyền khai thác. Chúng ta sẽ chia nhau. Tôi bỏ ra năm mươi nghìn bảng để xin quyền khai thác cho năm nơi, ông bỏ ra số tiền tương đương cho năm nơi còn lại. Ở đó có rất nhiều kim cương. Chúng ta có thể kiếm hàng triệu bảng trong chốc lát. Ông nghĩ sao?”
Jamie biết chính xác anh nghĩ gì rồi. Van der Merwe sẽ giữ cho mình quyền khai thác những nơi có lợi, còn Jamie sẽ chịu phần còn lại. Hơn nữa, Jamie sẵn sàng đánh cuộc rằng Van der Merwe sẽ không bỏ ra một xu nào.
“Nghe có vẻ hay đấy”, Jamie nói, “Có bao nhiêu người thăm dò liên quan đến vụ này?”
“Chỉ có hai thôi”
”Tại sao phải tốn nhiều tiên như vậy?”, anh hỏi ra vẻ ngây thơ.
“À, đó là một câu hỏi thật thông minh”, lão vươn người về phía trước trong chiếc ghế, “Ông thấy đấy, họ biết giá trị của những nơi ấy, nhưng họ không có tiền để khai thác. Vì thế ông và tôi mới nhảy vào. Chúng ta cho họ một trăm nghìn bảng Anh và cho họ giữ hai mươi phần trăm các mỏ ấy”.
Lão cho xen những tiếng hai mươi phần trăm vào một cách lặng lẽ khiến người ta hầu như không để ý đến. Jamie chắc chắn rằng những người thăm dò kim cương ấy sẽ bị lừa và mất sạch cả kim cương lẫn tiền bạc. Tất cả sẽ tuôn vào túi Van der Merwe.
“Mình phải tiến hành gấp mới được”, Van der Merwe cảnh cáo, “Chừng nào tin này mà lọt ra ngoài thì…”
“Chúng ta không nên để mất cơ hội này”. Jamie thúc giục
Van der Merwe tủm tỉm cười, “Đừng có lo, tôi sẽ cho thảo ngay các hợp đồng ấy”
Tất nhiên là bằng tiếng Nam Phi, Jamie nghĩ thầm.
“Còn có nhiều vụ giao dịch nữa mà tôi thấy rất hay, anh bạn ạ”
Vì thấy rất cần phải làm cho người bạn kinh doanh của mình vui lòng, Van der Merwe không còn phản đối nữa mỗi khi Jamie đề nghị Margaret đưa anh đi thăm vùng quê. Mỗi ngày, Margaret lại càng say mê Jamie. Anh là điều cuối cùng nàng mơ tưởng đến mỗi khi ngủ vào ban đêm và là điều đầu tiên nàng nghĩ đến khi mở mắt ra vào buổi sáng. Margaret đã thả lỏng thứ dục tính có trong con người mà trước kia nàng không biết rằng nó tồn tại. Nó giống như thể nàng đột nhiên phát hiện ra rằng thân thể nàng có thể được dùng vào việc gì, và tất cả những thứ trước kia vẫn quen làm cho nàng cảm thấy thẹn thùng thì bây giờ chúng trở thành món quà tặng vẻ vang để đem niềm vui sướng cho Jamie. Và cho bản thân nàng. Tình yêu là một vùng đất mới tuyệt vời còn phải được khai thác. Một vùng đất dục tính gồm những thung lũng kín đáo, thích thú và những dòng sông ngọt ngào. Nàng không thể nào cảm thấy chán nó được.
Giữa dải đất mênh mông của vùng quên, thật dễ dàng tìm thấy được những nơi vắng vẻ để hai người có thê ân ái với nhau và mỗi lần như thế nàng bao giờ cũng cảm thấy thích thú như lần đầu.
Tội lỗi xưa cũ của cha nàng bắt đầu ám ảnh nàng. Salomon Van der Merwe là bậc đàn anh của Giáo hội Cải cách Hà Lan nên Margaret biết rằng nếu ông phát hiện ra những gì nàng đã làm, ông sẽ không bao giờ tha thứ cho nàng. Ngay cả trong cộng đồng thô lỗ vùng biên giới nơi họ đang sống, nơi mà người đàn ông có thể bạ đâu vui đấy, cũng không thể có sự thông cảm. Chỉ có hai loại đàn bà trên thế giới này - những cô gái tử tế và những con điếm - một người con gái tử tế không bao giờ cho người đàn ông sờ lên người trừ khi họ lấy nhau. Vậy nàng sẽ bị gán cho nhãn hiệu là con điếm. Thật là không công bằng chút nào, nàng nghĩ. Yêu và được yêu là những gì quá đẹp đẽ, không thể coi là xấu xa được. Những nỗi lo lắng gia tăng của Margaret cuối cùng buộc nàng phải nghĩ đến vấn đề hôn nhân.
Họ đang đi trên xe ngựa dọc theo sông Vaal, bỗng??????Ra là anh và em”, nàng nói, “Anh nghĩ thế nào về cuộc hôn nhân của chúng ta?”
Jamie cười to, “Anh rất tán thành về chuyện đấy, rất tán thành, Margaret ạ”
Nàng cùng cười với anh. Thật là những giây phút sung sướng nhất trên đời.
Vào một sáng chủ nhật, Salomon Van der Merwe mời Jamie đi cùng ông và Margaret đến nhà thờ. Nederduits Hervormde Kerk là một toà nhà đồ sộ, nguy nga, xây theo kiểu Gothic lai căng, với bục giảng ở một đầu và chiếc dương cầm to lớn ở đầu bên kia. Khi họ bước vào bên trong, Van der Merwe được chào đón rất kính cẩn.
“Tôi góp phần xây dựng nhà thờ này”, lão nói với Jamie bằng một giọng hãnh diện, “Tôi là trợ tế ở đây”
Buổi thuyết giảng hôm ấy nói về ngọn lửa địa ngục. Van der Merwe ngồi lắng nghe, tỏ vẻ vui sướng vô cùng, gật đầu liên tục, chấp nhận mọi lời nói của ông mục sư.
Jamie nghĩ thầm, lão là một người của Thượng Đế vào ngày Chủ nhật, nhưng vào ngày khác trong tuần, lão thuộc về quỷ Xa Tăng.
Van der Merwe đã chọn chỗ ngồi ngay giữa hai người trẻ nhưng Margaret vẫn ý thức được sự gần gũi với Jamie trong suốt buổi lễ. Nàng mỉm cười với chính mình, “Thật là may, ông mục sư ấy không biết rằng mình đang nghĩ gì”
Tối hôm ấy, Jamie đi đến quán rượu Sundowner, Smith??????
“Chào ông Travis, ông muốn dùng gì thưa ông? Vẫn như mọi ngày chứ?”
“Không. Tôi không uống rượu tối nay. Tôi muốn nói chuyện với anh. Trong phòng ở phía sau”
“Tôi xin sẵn sàng, ông Travis”, Smith đã ngửi thấy hơi tiền. Hắn quay về phía tên giúp việc, “Mày trông quầy rượu hộ tao”
Phòng phía sau quầy rượu là một căn phòng nhỏ nhưng kín đáo. Ở đó chỉ có một chiếc bàn với bốn ghế, giữa bàn là một cây đèn. Smith châm đèn.
“Ngồi xuống đi”, Jamie nói
Smith ngồi xuống ghế. “Vâng, thưa ông. Tôi có thể giúp gì cho ông?”
“Chính tôi đến đây để giúp anh mới đúng, Smith ạ”
Mắt Smith sáng lên, “Thật thế, thưa ông?”
“Phải”, Jamie rút ra một điếu xì gà châm lửa hút. “Tôi đã quyết định để anh sống”
Một vẻ nghi ngờ thoáng qua trên mặt Smith, “Tôi… tôi không hiểu, ông Travis”
“Không phải ông Travis đâu, Smith. Tên thật là McGregor, Jamie McGregor, nhớ chưa? Cách đây một năm, anh đã gài bẫy để giết tôi. Ở chuồng ngựa ấy. Thi hành nhiệm vụ cho Van der Merwe mà”
Lúc này mặt Smith nhăn lại, đột nhiên tỏ ra vẻ dè chừng. “Tôi không hiểu cái gì…”
“Câm mồm. Nghe tao nói đây này”, giọng của Jamie nghe như roi quất vào mặt.
Jamie có thể thấy đầu óc của Smith lúc này quay cuồng như thế nào. Hắn đang cố đối chiếu khuôn mặt của người tóc trắng trước mặt với khuôn mặt hăm hở của chàng trai một năm trước đây.
“Tao đang còn sống và tao giàu có - thừa tiền để thuê người đốt cái quán này ra tro và cả mày nữa ở trong đấy. Mấy lâu nay mày vẫn có thiện cảm với tao phải không, Smith?”
Smith sắp sửa chối cãi hắn không biết gì hết nhưng nhìn vào mặt của Jamie hắn trông thấy ngay sự nguy hiểm. Hắn thận trọng nói. “Vâng, thưa ông”
“Van der Merwe trả tiền cho mày để mày mang những người thăm dò kim cương đến cho hắn, để rồi họ bị hắn lừa gạt, mất tất cả mọi thứ họ kiếm được. Đó là một lối hợp tác kinh doanh nhỏ khá hay đấy. Hắn trả cho mày bao nhiêu tiền?”
Một phút im lặng. Smith bị kẹt giữa hai lực lượng mạnh mẽ. Hắn chưa biết nên nhảy về phía nào.
“Bao nhiêu?”
“Hai phần trăm”, hắn miễn cưỡng nói.
“Tao cho mày năm phần trăm. Từ nay trở đi, mỗi khi có người nào có vẻ muốn thăm dò kim cương đến đây, mày hãy đưa hắn đến cho tao. Tao sẽ tài trợ cho hắn. Chỉ có điều khác là hắn ta sẽ được phần của hắn một cách công bằng, và mày cũng được phần của mày. Mày thực sự tin rằng lão Van der Merwe sẽ trả cho mày hai phần trăm số tiền lão kiếm được sao? Mày là một thằng khùng”
Smith gật đầu, “Đúng thế, ông Travis… à ông McGregor ạ. Tôi hiểu”
Jamie đứng dậy. “Chưa hiểu hoàn toàn đâu”. Anh vươn người tới chiếc bàn. “Mày đang nghĩ tới việc đi lại nhà Van der Merwe và báo cáo lại với lão toàn bộ cuộc nói chuyện ngắn ngủi này chứ gì? Như vậy, mày có thể thu được cả tiền của tao lẫn tiền của lão. Chỉ có điều là… Smith ạ… “, giọng anh hạ thấp xuống nghe như tiếng thì thầm, “Nếu mày làm như vậy, mày sẽ chỉ còn là xác chết thôi”


0
Chương 36

Đối với bà Kate Blackwell, dường như bánh xe thời gian quay nhanh hơn, xô đẩy ngày tháng hối hả trôi qua, hòa lẫn mùa đông với mùa xuân, mùa hạ với mùa thu cho đến khi tất cả các mùa và năm tháng trộn lẫn vào nhau thành một. Lúc này bà đã ở vào những năm cuối của tuổi tám mươi rồi. Tám mươi mấy nhỉ? Đôi khi bà quên hẳn tuổi chính xác của bà. Bà có thể đương đầu với tuổi già, nhưng không thể nào chịu được ý nghĩ sẽ trở thành một bà già nhếch nhác, luộm thuộm. Vì vậy, bà ra sức chăm nom dáng vẻ bề ngoài của bà. Khi ngắm mình trong gương, bà thấy trước mặt bà một phụ nữ gọn gàng, dáng người thẳng thắn, kiêu hãnh, bất khuất.
Hàng ngày bà vẫn đến văn phòng, nhưng đó là một động tác, một mưu mẹo để ngăn ngừa cái chết. Bà tham dự tất cả các cuộc họp của ban giám đốc, nhưng mọi việc không còn rõ ràng, sáng tỏ như xưa kia nữa. Mọi người xung quanh bà có vẻ như nói quá nhanh. Điều khiến bà bực dọc, lo lắng nhất là trí óc có vẻ như muốn chơi khăm bà. Quá khứ và hiện tại cứ trộn lẫn với nhau. Thế giới của bà thu hẹp lại, mỗi lúc một nhỏ hơn.
Nếu có một sợi dây cứu mạng mà bà Kate nắm chặt lấy, một thứ động lực giúp cho bà tồn tại, ấy là niềm tin tưởng tha thiết rằng một ngày nào đó một người trong gia đình bà sẽ đảm trách công ty Gruger - Brent. Bà Kate không có ý định để cho những kẻ ở bên ngoài giằng lầy cái mà Jamie McGregor, Margaret, bà và David đã khổ sở, khó nhọc rất nhiều và rất lâu dài để gấy dựng lên. Eve, kẻ mà bà đã hai lần đặt vào biềt bao hi vọng, là một kẻ giết người. Hắn lại còn là một con người kỳ cục nữa, nhưng bà đã không cần phải trừng trị hắn. Bà đã gặp lại Eve một lần. Những gì mà hắn phải chịu đựng cũng đủ là một sự trừng phạt cho hằn rồi.
Một hôm, Eve thấy mặt mình trong gương, nàng đã định tự vẫn. Nàng đã uống cả một lọ thuốc ngủ, nhưng Keith Webster đã kịp bơm dạ dày cho nàng, rồi đưa nàng về nhà. Anh quanh quẩn bên nàng thường trực. Khi anh phải đi đến bệnh viện, anh giao cho các y tá canh chừng nàng ngày cũng như đêm.
"Xin anh cho tôi chết đi", Eve năn nỉ chồng. "Tôi van anh, Keith! Tôi không muốn sống như thế này".
"Từ nay em hoàn toàn thuộc về anh", Keith Webster nói. "Anh sẽ yêu em mãi mãi".
Hình ảnh khuôn mặt nàng như thế nào đã in khắc trong trí óc Eve. Nàng thuyết phục Keith đuổi các nữ y tá đi, vì nàng không muốn bất cứ một ai ở xung quanh nhìn thấy nàng, chõ mắt nhìn nàng chằm chằm.
Alexandra thỉnh thoảng gọi điện thoại đến nàng, nhưng Eve từ chối không muốn gặp. Tất cả mọi thứ được gửi đến đều phải đặt ngoài cửa để cho không một ai nhìn thấy được mặt nàng. Người duy nhất gặp nàng là Keith Webster. Rốt cuộc anh là người duy nhất còn lại vói nàng. Anh là cái móc nối của nàng với thế giới bên ngoài, và nàng cảm thấy kinh hãi với ý nghĩ rằng một ngày kia Keith Webster cũng sẽ bỏ rơi nàng, để lại nàng cô đơn với vẻ mặt xấu xí - cái vẻ xấu xí không thể nào chịu đựng nổi.
Mỗi buổi sáng vào lúc năm giờ, Keith Webster thức dậy, đi đến bệnh viện, còn Eve thì bao giờ cũng dậy trước anh để sửa soạn bữa ăn sáng. Đêm nào nàng cũng nấu cơm tối cho anh, và mỗi khi anh về nhà trễ, nàng cảm thấy lo lắng. Biết đâu anh ấy đã tìm thấy một người đàn bà nào khác? Biết đâu anh ấy không trở về với nàng nữa?
Khi nghe tiếng chìa khóa lách cách ở cửa, nàng chạy đến mở cửa, rồi ngã vào vòng tay anh, ôm anh thật chặt. Nàng không bao giờ gợi ý anh cùng ân ái với nàng vì lo sợ anh sẽ từ chối, nhưng khi anh thật sự ân ái với nàng thì nàng có cảm tưởng như anh đang ban ân huệ cho nàng.
Một lần, nàng rụt rè hỏi chồng, "Anh yêu quý, anh trừng phạt em như thế đã đủ chưa? Anh không thể nào sữa chữa lại khuôn mặt của em hay sao?"
Anh nhìn nàng, nói một cách hãnh diện, "Không bao giờ có thể sữa chữa lại được, em ạ".
Thời gian trôi qua, mỗi lúc Keith Webster mỗi trở nên đòi hỏi, độc đoán hơn, cho đến khi Eve hoàn toàn trở thành một tên nô lệ của anh, phục vụ mọi nhu cầu bất chợt của anh. Vẻ mặt xấu xí của nàng buộc nàng vào anh chặt chẽ hơn cả những dây xích bằng xích sắt.
Tất cả mọi người trong gia đình đều nhận được giấy mời cùng một ngày. Giấy mời viết : BÀ KATE BLACKWELL TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI QUÍ VỊ ĐẾN DỰ LỄ SINH NHẬT THỨ CHÍN MƯƠI CỦA BÀ Ở NGÔI NHÀ CEDAR HILL, DARK HARBOR, MAINE, NGÀY 24 THÁNG 9 NĂM 1982, HỒI TÁM GIỜ. ÁO VÉT VÀ NƠ ĐEN.
Khi Keith Webster đọc giấy mời, anh đưa mắt nhìn Eve và nói, "Chúng ta sẽ cùng đi".
"Ồ, không đâu. Em không thể đi được. Anh đi đi. Em sẽ..."
Anh nói, "Cả hai chúng ta đều sẽ đi cả".

Tony Blackwell đang vẽ trong vườn của dưỡng trí viện thì một người bạn đến gần anh. "Có một lá thư của anh này, Tony".
Tony mở phong bì ra, rồi với một nụ cười mơ hồ lóe lên trên mặt, anh nói, "Tôi cũng thích dự các lễ sinh nhật".

Peter Templeton nhìn tấm thiệp một hồi, rồi nói, "Anh không thể nào tin được rằng bà "con gái" già ấy đã chín mươi tuổi rồi. Thật là một người đàn bà kỳ lạ".
"Lạ thật, anh nhỉ". Alexandra đồng ý. Rồi nàng nói thêm với một giọng thâm trầm, "Có một điều rất là dễ thương, anh có biết là gì không? Ấy là thằng bé Robert của chúng ta cũng nhận được một thiệp mời, gửi riêng đến cho nó".
0
Tôi nhận gõ chương 18, 19, 20 nhe.
0
CL ơi, chương 26 có scan lại chưa bồ. Nếu không up lên được CL gửi vào email dotanquoc@yahoo.com mình gõ cho.[:-]
Mo
0
sumo xin tham gia với , sumo sẽ gõ từ chương 35 tới 37. Bước đầu tiền gõ ít ít thôi coi có đúng không , nếu có gì sai các bạn chỉ giùm sumo với nha
0
Cám ơn bạn dtquoc nha.
Mình còn cuốn "Bầu trời sụp sổ", nhưng sách ấy mình chưa scan, mà không dám scan vì là hàng mượn (scan sẽ hư mất sách). Bạn cố gắng chờ mình xoay sở vậy nhé [:D]. Trong lúc chờ đợi, bạn có thể gõ giúp 1 vài chương còn lại của "Tay cự phách" không? (chương 15, 16, 17 còn trống đó bạn.)
***
0
ticonuong type từ chương 15 đến 17
07061707
0
poiuy gõ chương 7,8,9
0
TAY CỰ PHÁCH, CHƯƠNG IV (PHẦN 2)

Thoạt tiên, nó giống như một trò chơi. Những giải pháp có thể là đúng cho một câu đố không thể giải đáp. Nhưng càng thảo luận thêm, nó lại càng trở nên thích thú. Cái mà hai người Jamie và Banda bắt đầu bằng một câu chuyện phiếm, dần dần mang hình dáng cụ thể của một chương trình hành động. Vì kim cương nằm ngay trên mặt cát nên chẳng cần có một đồ trang bị gì cả. Họ có thể đóng một chiếc bè, với một cánh buồm trên một bãi cát trống bốn mươi dặm về phía nam “vùng đất cấm” rồi thả bè cho nó xuôi về ban đêm, không ai thấy được. Không có bãi mìn dọc theo bờ bể, không có người canh gác, còn những đội tuần tra thì chỉ hoạt động ở sâu trong đất liền. Hai người sẽ có thể tự do đi rảo trên bãi biển, tha hồ nhặt kim cương tuỳ thích.
“Chúng ta có thể lên đường trước khi trời rạng sáng”, Jamie nói, “với một túi đầy kim cương của Van der Merwe”
“Nhưng bằng cách nào thoát ra?”
”Cũng bằng cách giống như mình đi vào. Chúng ta sẽ chèo chiếc bè ngang qua mỏm đá ngầm ra đến biển cả, dựng buồm lên, thế là tự do về đến nhà”.
Với những luận cứ đầy thuyết phục của Jamie, các mối nghi ngờ của Banda bắt đầu tan biến. Anh cố tìm ra những khe hở trong dự tính này nhưng mỗi lần anh đưa ra một sự phản đối nào, Jamie đều tìm cách giải đáp. Dự tính này có thể thực hiện được. Cái hay của nó là tính chất đơn giản và không phải bỏ ra đồng tiền nào. Chỉ cần có nhiều gan dạ.
“Cái mà chúng ta cần chỉ là cái túi rõ bự để nhét viên kim cương vào đấy”, Jamie nói. Vẻ nhiệt tình của anh thật là dễ lây.
Banda cười rạng rỡ, “Chúng ta hãy làm hai cái túi bự”.
Tuần lễ sau, họ thôi làm việc ở bến tàu, lên một chiếc xe la đi Port Nolloth, một ngôi làng bên bờ bể, bốn mươi dặm về phía nam khu vực cấm mà họ sẽ đi tới.
Đến Port Nolloth, họ xuống xe và nhìn xung quanh. Ngôi làng nhỏ và đơn sơ, gồm những căn nhà lụp xụp, tồi tàn, những túp lều bằng thiếc, ít cửa hiệu và bãi cát trắng xoá trải dài vô tận. Ở đó không có mỏm đá ngầm. Sóng vỗ nhẹ nhàng ở ven bờ. Thật là một nơi lý tưởng để thả chiếc bè của họ.
Không có một khách sạn nào, những ngôi chợ bé nhỏ ở đó cho Jamie thuê một căn phòng ở phía sau. Banda cũng tìm được một chiếc giường nằm trong khu vực người da đen trong làng.
“Chúng ta phải tìm được nơi đóng bè cho kín đáo”, Jamie nói với Banda, “Chúng mình không muốn ai đó báo với nhà chức trách”.
Trưa hôm ấy, hai người tìm thấy một nhà kho bỏ trống.
“Nơi đây thật là tốt”, Jamie nói, “Chúng ta hãy bắt tay ngay vào việc đóng bè”
“Chưa đâu”, Banda nói, “Khoan đã, hãy đi mua một chai whisky”
“Để làm gì?”
“Rồi anh sẽ thấy”
Sáng hôm sau, một viên cảnh sát địa phương đến thăm Jamie. Đó là một anh chàng to lớn, da mặt hồng hào, có cái mũi to lớn trên đó nổi lên những gân máu tố cáo rằng anh ta là một tay nghiện rượu nặng.
“Chào anh”, anh ta nói với Jamie, “Tôi nghe nói là có một ông khách mới đến nên tôi ghé lại đây thăm. Tôi là cảnh sát viên Mundy”
”Tôi là Ian Travis”, Jamie đáp
“Sắp đi lên phía Bắc, phải không Travis?”
“Không, phía Nam. Tôi và tên đầy tớ của tôi đang trên đường đến Capetown”.
“À, ra thế. Tôi trước kia cũng có ở Capetown, nó quá lớn, quá ồn ào”.
“Đúng vậy, ông xơi một ly rượu nhé, ông cảnh sát?”
“Tôi không bao giờ uống rượu trong khi làm phận sự”, cảnh sát viên Mundy dừng lại một lúc, trước khi đưa ra quyết định, “Nhưng chỉ một lần này thôi, tôi chắc có thể phá lệ”.
“Thế thì hay quá”, Jamie đem chai rượu whisky ra, trong lòng thán phục Banda có lẽ đã nghĩ ra trước điều này. Anh đổ chừng hai đốt ngón tay rượu vào trong chiếc ly bẩn và đưa cho viên cảnh sát
“Cám ơn anh, Travis. Thế ly anh đâu?”
“Tôi không thể uống được”, Jamie nói ra vẻ buồn bã, “Bệnh sốt rét. Vì vậy mà tôi phải đi Capetown để được bác sĩ chăm sóc. Tôi dừng lại đây ít ngày để nghỉ ngơi. ĐI đường thật khó nhọc”.
Cảnh sát viên Mundy nhìn anh dò xét, “Anh trông có vẻ mạnh khoẻ đấy chứ?”
“Ông có thấy cơn run cầm cập của tôi bắt đầu thì mới biết được”.
Viên cảnh sát uống cạn ly rượu. Jamie lại đổ đầy ly lần nữa.
“Cám ơn. Tôi xin lỗi nhé”, ông ta uống ly thứ hai luôn một hớp rồi đứng dậy. “Tôi cần phải đi ngay bây giờ. Anh nói anh và tên đầy tớ của anh sẽ tiếp tục lên đường trong một hai ngày tới, phải không?”
“Chừng nào tôi thấy khoẻ hơn chúng tôi sẽ đi ngay”
“Tôi sẽ trở lại đây hỏi han anh vào ngày thứ sáu”, viên cảnh sát nói
Đêm hôm ấy, Jamie và Banda bắt tay vào đóng bè trong nhà kho vắng vẻ.
“Banda, anh có đóng bè bao giờ chưa?”
“Nói thật với anh, anh McGregor. Tôi chưa đóng bè bao giờ”.
“Tôi cũng thế”. Cả hai nhìn nhau chằm chằm. “Có khó không nhỉ?”
Họ ăn cắp từ phía sau chợ hai thùng dầu rỗng bằng gỗ, mỗi chiếc có dung tích chừng hai trăm lít và đem về kho. Sau khi tập hợp chúng lại, họ đặt chúng cách quãng nhau thành một hình vuông. Ngày hôm sau, họ thu thập thêm bốn thùng gỗ rỗng, đặt mỗi chiếc trên mỗi thùng dầu.
Banda tỏ vẻ nghi ngờ, “nó chẳng giống một chiếc bè chút nào”
“Chúng mình chưa làm xong mà”, Jamie cố trấn an
Vì không sẵn những tấm ván nên họ phủ lên bề mặt bất cứ thứ gì có sẵn trong tay: những nhánh cây gỗ hồi, cành cây giẻ gai, lá cây “marula” thật lớn. Họ buộc tất cả mọi thứ lại bằng dây thừng dày, thắt nút lại một cách cẩn thận, chính xác.
Khi làm xong, Banda xem xét một lượt, “vẫn không giống một chiếc bè”.
“Khi nào mình dựng buồm lên, nó sẽ giống hơn” Jamie hứa.
Họ làm cột buồm bằng một cây gỗ vàng đã bị đổ, rồi nhặt hai cành cây dẹp dùng làm chèo.
“Bây giờ chỉ còn việc là giăng buồm đi thôi. Cần phải làm cho thật nhanh. Tôi muốn ra khỏi nơi này ngay tối nay. Lão cảnh sát sẽ trở lại nơi này vào ngày mai”.
Chính Banda đã tìm ra cái buồm. Anh trở về vào lúc trời tối, mang theo một tấm vải xanh lớn, “Anh nghĩ cái này thế nào, anh McGregor?”
“Tuyệt. Anh kiếm nó ở đâu ra vậy?”
Banda nhe răng cười, “Đừng có hỏi. Chúng mình đã gặp khá nhiều rắc rối rồi”.
Họ làm một cánh buồm với một cái sào căng buồm ở phía dưới và một cái trục căng buồm ở trên đỉnh. Cuối cùng, mọi thứ đều sẵn sàng.
‘Chúng ta sẽ lên đường lúc hai giờ sáng, khi dân làng đang còn ngủ”, Jamie bảo Banda, “Mình nên nghỉ ngơi cho đến lúc ấy’.
Nhưng không ai ngủ được cả. Mỗi người đều hồi hộp lo lắng về cuộc phiêu lưu họ sắp sửa thực hiện.
Vào lúc hai giờ sáng, hai người gặp nhau ở nhà kho. Cả hai đều cảm thấy háo hức nhưng không kém phần lo sợ, nhưng không ai nói ra. Họ sắp sửa thực hiện cuộc hành trình hoặc đưa họ đến sự giàu sang hoặc dẫn đến cái chết. Không có con đường nào ở giữa.
“Đến giờ rồi”, Jamie loan báo.
Hai người bước ra ngoài. Không có gì động đậy. Đêm thật yên tĩnh, với mặt nước mênh mông như một bức màn xanh trước mặt. Một vầng trăng bạc xuất hiện trên bầu trời cao. Tốt lắm, Jamie thầm nghĩ, sẽ không có nhiều ánh sáng lắm để họ có thể trông thấy mình. Thời khắc biểu của họ hơi phức tạp một chút vì họ phải rời khỏi ngôi làng vào lúc đêm để không ai biết và phải đến bãi bể kim cương tối hôm sau, như vậy họ có thể lẻn vào khu vực mỏ rồi trở ra bể an toàn trước khi rạng đông.
“Luông nước Benguela sẽ đưa chúng mình đến mỏ kim cương vào khoảng xế trưa”, Jamie nói, “nhưng mình không thể đi giứa ban ngày được, vì vậy chúng mình phải lánh ở một nơi nào đó ngoài bể trước khi trời tối”.
Banda gật đầu, “Mình có thể nấp ở một trong các hòn đảo nhỏ ngoài khơi”.
“Đảo gì?”
”Có chừng một chục đảo – Mercury, Ichabud, Plum, Pudding…”
Jamie nhìn Banda với vẻ lạ lùng, “Plum Pudding nghĩa là gì?”
“Còn có đảo Roast Beef nữa”
Jamie giở bản đồ nhàu nát ra xem xét, “Chẳng thấy có đảo nào trên bản đồ này cả”.
“Đó là những đảo phân chim. Người Anh thu hoạch phân chim để làm phân bón”
“Có ai sống trên đảo ấy không?”
“Không thể. Ở đó mùi hôi hám lắm. Có những nơi phân chim dày đến ba chục thước. Chính phủ dùng những tên đào ngũ và tù binh để nhặt phân chim. Một số người chết trên đảo, họ để mặc xác người chết tại đấy”.
“Mình sẽ nấp ở đấy”, Jamie đưa ra quyết định.
Lặng lẽ, hai người mở nhà kho và nhấc chiếc bè lên. Chiếc bè ấy nặng quá, không thể khiêng nổi. Cả hai cố gắng kéo mạnh, mồ hôi nhễ nhại nhưng vô hiệu.
“Chờ đấy”, Banda nói
Anh vội vã đi ra ngoài. Nửa giờ sau anh quay lại với một thanh gỗ tròn lớn. “Mình sử dụng cái này. Tôi sẽ nhấc một đầu lên, còn anh đẩy cái thanh gỗ này xuống phía dưới”.
Jamie ngạc nhiên về sức khoẻ của Banda khi anh này nhấc bổng một đầu chiếc bè lên. Jamie nhanh chóng chuồi thanh gỗ xuống phía dưới. Cả hai cùng ra sức nhấc cái đuôi bè lên, thế là nó được đặt nhẹ nhàng xuống khúc gỗ. Khi khúc gỗ đã lăn khỏi đuôi bè, họ lặp lại cách thức như lúc nãy. Thật là công việc gay go, khó nhọc. Lúc họ đi ra đến bãi bể, cả hai đều ướt đẫm mồ hôi. Công việc này chiếm nhiều thời giờ hơn Jamie tưởng. Lúc này đã gần rạng đông rồi. Họ phải đi xa trước khi dân làng phát hiện ra họ và báo cáo những gì họ đang làm. Lập tức Jamie lắp cánh buồm vào, kiểm tra lại thật kỹ để tin chắc rằng mọi thứ hoạt động tốt cả. Nhưng anh vẫn cảm thấy khó chịu vì hình như anh còn quên một thứ gì đó. Đột nhiên, anh nghĩ ra và cười to lên.
Banda ngạc nhiên nhìn anh, “Có gì vui vậy?”
“Trước kia khi đi tìm kim cương, tôi có một tấn đồ trang bị. Bây giờ tôi chỉ mang một cái địa bàn thôi. Có vẻ dễ dàng quá”.
Banda lặng lẽ nói, “Tôi không nghĩ rằng đó là vấn đề khó khăn của chúng ta, anh McGregor ạ”.
“Bây giờ có lẽ đến lúc anh gọi tôi là “Jamie” mà thôi”.
Banda lúc lắc đầu tỏ vẻ ngạc nhiên, “Anh đúng là một người từ xứ xa xôi đến đây”, Banda cười nhe hàng răng trắng ởn, “Cần quái gì, chúng nó có treo cổ tôi thì cũng chỉ treo được một lần thôi”, anh lẩm bẩm cái tên ấy trên môi rồi gọi to lên: “Jamie”
“Nào, chúng ta hãy đi lấy kim cương”
Họ đẩy chiếc bè ra khỏi cát, vào vùng nước cạn, rồi cả hai nhảy lên bè, bắt đầu chèo. Phải mất mấy phút đồng hồ họ mới điều chỉnh và quen được với cái nghiêng ngả, đi chệch hướng của chiếc bè này. Nó giống như một cái nút chai nổi bồng bềnh, nhưng nó sẽ hoạt động được. Chiếc bè đáp ứng một cách tốt đẹp, di chuyển theo hướng bắc với một giòng nước. Jamie kéo buồm lên, hướng ra biển cả. Lúc dân làng thức dậy, thì chiếc bè đã vượt quá chân trời.
“Chúng mình thành công rồi”, Jamie nói
Banda lắc đầu “Chưa hết đâu”. Anh thả tay xuống dòng nước lạnh Benguala. “Chỉ mới bắt đầu thôi”.
Họ vẫn tiếp tục đi, hướng về phía Bắc quá vịnh Alexander và cửa sông River, không thấy dấu hiệu đời sống nào cả ngoài những đàn sếu ở Cape đang bay về tổ và một đàn hồng hạc lớn hơn, nhiều màu sắc. Mặc dầu có những hộp thịt, gạo, trái cây và hai bình nước, họ quá hồi hộp lo lắng nên không ăn uống gì được. Jamie không để trí óc của anh suy nghĩ vẩn vơ đến những mối nguy hiểm trước mặt nhưng Banda thì không thể làm thế được. Anh đã sống ở nơi đó rồi. Anh đang nhớ đến những tên bảo vệ tàn nhẫn với súng, chó săn và bãi mìn có thể xé nát da thịt. Thế rồi anh tự hỏi tại sao anh lại nghe lời Jamie đi vào cuộc phiêu lưu điên khùng này. Anh đưa mắt nhìn người Tô Cách Lan và nghĩ thầm, “Hắn còn điên khùng hơn cả mình nữa. Mình có chết cũng vì đứa em gái nhỏ của mình. Còn hắn, hắn chết vì cái gì?”
Đến trưa, những con cá mập xông đến. Có chừng năm sáu con, vây của chúng xẻ nước tiến thật nhanh đến chiếc bè.
“Đó là những con cá mập vây đen ăn thịt người”, Banda nói.
Jamie nhìn các vây cá lướt đến gần chiếc bè, “Mình làm thế nào bây giờ?”
Banda nuốt nước bọt lo lắng, “Thật sự, Jamie ạ, đây là lần đầu tiên tôi gặp trường hợp như thế này”.
Lưng con cá mập huých vào chiếc bè khiến nó suýt lật nhào. Hai người nắm lấy cột buồm dùng làm nơi tựa. Jamie nhặt lấy một cái chèo đâm vào con cá mập. Chỉ nháy mắt sau đó, cái chèo bị con cá mập cắn thành hai nửa. Nhiều con cá mập bây giờ đi vòng quanh chiếc bè, bơi theo những vòng tròn, thân hình to lớn của chúng cọ sát vào chiếc bè bé nhỏ. Mỗi lần nó huých như thế, chiếc bè lại nghiêng theo một góc nguy hiểm. Nó có thể lật nhào bất cứ lúc nào.
“Mình cần phải trừ khử chúng đi nếu không chúng sẽ dìm mình xuống nước mất”
“Trừ khử chúng bằng cách nào kia chứ?”
“Đưa cho tôi một hộp thiếc đựng thịt”.
“Anh nói đùa đấy chứ? Một hộp thịt bò làm sao thoả mãn được chúng? Chúng muốn ăn thịt chúng mình kia”
Lại một cái xô đẩy mạnh nữa khiến cho cái bè nghiêng suýt lật nhào.
“Thịt bò!”, Jamie hét lên, “Lấy ngay đi”
Một giây đồng hồ sau, Banda đặt hộp thịt bò trong tay Jamie. Chiếc bè chòng chành hết sức nguy hiểm.
“Mở một nửa nắp hộp ấy ra, nhanh lên!”
Banda rút dao nhíp ra, mở nắp hộp thiếc ra một nửa. Jamie cầm lấy, dùng ngón tây sờ các cạnh bén nhọn của hộp kim khí.
“Giữ chặt lấy!”, Jamie kêu lên.
Anh quỳ xuống bên mạn bè, chờ đợi. Ngay tức thì một con cá mập xích lại gần bè, há cái mồm to lớn của nó, nhe ra cái hàm răng dài khủng khiếp. Jamie tấn công vào đôi mắt của nó. Với tất cả sức lực, anh vươn cả hai tay ra, dùng cạnh sắc nhọn của hộp thiếc đã bị cắt cào lên mắt con vật, làm nó rách toang ra. Con cá mập tung cả thân hình nó lên, làm cho chiếc bè dựng ngược lên trong một lát. Nước xung quanh đó đột nhiên nhuộm màu đỏ. Các con cá mập khác sáp lại con vật bị thương, làm thành một tiếng động rất lớn. Chúng quên hẳn chiếc bè, Jamie và Banda nhìn những con vật to lớn đang xé xác nạn nhân bất lực trong khi chiếc bè đi xa dần, xa dần, cho đến khi không còn bóng dáng con cá mập nào nữa.
Banda thở mạnh một cái, nói khe khẽ, “Một ngày kia tôi sẽ kể cho con cháu tôi nghe về chuyện này. Anh có nghĩ rằng chúng sẽ tin tôi không?”
Cả hai cười to lên cho đến khi nước mắt ràn rụa trên mặt.
Vào xế trưa hôm ấy, Jamie kiểm tra lại chiếc đồng hồ đeo tay của mình, “Chúng mình sẽ ở ngoài khơi bãi bể kim cương vào lúc nửa đêm. Mặt trời mọc vào lúc sáu giờ mười lăm. Như vậy mình có bốn giờ để nhặt kim cương và hai giờ để ra bể trở lại không ai trông thấy nữa. Bốn giờ có đủ không, Banda?”
“Một trăm người cũng không thể sống đủ lâu để tiêu cho hết số kim cương anh nhặt được trong bốn giờ đồng hồ trên bãi bể đấy”. Anh chỉ hy vọng sống đủ lâu để nhặt số kim cương ấy…
Hai người cứ thế rong buồm đi về hướng bắc trong thời gian còn lại của ngày hôm ấy, nhờ gió và thuỷ triều. Đến chiều tối, một hòn đảo nhỏ hiện ra lù lù trước mặt. Nó có chu vi không quá hai trăm mét. Khi họ lại gần, mùi cay sè của chất “ammonia” xông lên rất mạnh, khiến họ chảy nước mắt. Jamie hiểu vì sao không có ai ở nơi này. Mùi hôi thật là khó chịu nhưng đó là nơi an toàn nhất để nấp, chờ đợi cho đến khi trời tối hẳn. Jamie điều chỉnh cánh buồm khiến cho chiếc bè chạm phải bờ đá của hòn đảo thấp. Banda buộc chặt chiếc bè lại rồi cả hai bước lên bờ. Toàn thể hòn đảo như bị phủ đầy bởi hàng triệu con chim: sếu, bồ nông, chim cụt, hồng hạc. Bầu không khí dày đặc, ồn ào, rất khó thở. Đi được chừng một chục bước, họ dẫm lên một lớp phân chim cao đến tận bắp vế.
“Mình trở lại bè đi”, Jamie hổn hển nói.
Banda bước theo anh không nói một lời nào.
Họ vừa mới quay trở lại để đi trở về thì một đàn bồ nông cất cánh bay lên, để lộ ra một khoảng trống trên đất. Có ba xác người nằm đấy. Không biết họ đã chết bằng cách nào. Xác họ được giữ nguyên vẹn nhờ chất ammoniac trong không khí, và tóc họ đã trở thành màu đỏ sáng.
Một phút sau, Jamie và Banda trở lại bè, cho nó hướng ra biển khơi.
Họ cho bè đỗ ngoài khơi, hạ buồm xuống và chờ đợi.
“Mình ở lại đây cho đến khuya, rồi sẽ đi vào”
Cả hai ngồi bên nhau trong im lặng, mỗi người chuẩn bị cho những gì sắp tới theo lối riêng của mình. Mặt trời xuống thấp ở chân trời phía tây, nhuộm bầu trời sắp tàn bằng những màu sắc hung dữ của một nghệ sĩ điên khùng. Rồi đột nhiên, tất cả đều bị che phủ dưới một tấm mền đen tối.
Họ chờ đợi thêm hai giờ nữa, Jamie kéo buồm lên. Chiếc bè bắt đầu di chuyển về hướng đông đến bờ bể họ không nhìn thấy. Trên đầu, mây rẽ ra, để lọt ra ánh sáng trăng mờ nhạt, mỏng manh, tuôn xuống như nước. Chiếc bè tăng thêm tốc độ. Xa xa, hai người bắt đầu thấy bờ bể hiện ra lờ mờ như một vết bẩn. Gió mạnh hơn, thổi phần phật cánh buồm, đẩy chiếc bè vào bờ với tốc độ mỗi lúc một tăng dần. Chẳng mấy chốc họ nhận ra được hình nét lờ mờ của đất liền, giống như một bức tường thành bằng đá khổng lồ. Ngay từ một khoảng xa như vậy, họ cũng nhìn thấy sóng bể trắng xoá đập vào các mỏm đá, nổ lên như sấm. Từ xa, quang cảnh trông thật dễ sợ. Jamie tự hỏi không bíêt khi lại gần chúng sẽ khủng khiếp như thế nào.
Bất chợt, anh thì thầm với Banda, “Anh tin chắc rằng bãi bể không có người canh gác chứ?”
Banda không trả lời, anh lấy tay chỉ những mỏm đá trước mặt. Jamie hiểu anh ta muốn nói gì rồi. Các mỏm đá ấy nguy hiểm hơn bất cứ thứ bẫy sập nào con người có thể chế tạo ra. “Đó là những tên bảo vệ bờ bể đắc lực, không bao giờ lơi lỏng, không bao giờ ngủ. Chúng nằm đó đợi con mồi của chúng”. Được rồi, Jamie nghĩ thầm, chúng ta sẽ qua mặt chúng mày. Chúng ta sẽ nổi lên trên mình chúng mày”.
Chiếc bè đã đưa họ đi xa như vậy thì nó cũng sẽ đưa họ đi nốt quãng đường cuối cùng. Lúc này, bờ bể dường như đang chạy thi về phía họ. Họ bắt đầu cảm thấy những cái dồi lên dồi xuống dữ dội của những đợt sóng khổng lồ. Banda nắm chặt lấy cột buồm.
“Chúng mình đang đi khá nhanh”
“Đừng lo”, Jamie trấn an. “Khi nào đến gần hơn nữa, chúng mình sẽ hạ thấp buồm xuống, như vậy tốc độ sẽ giảm đi. Chúng mình sẽ lướt trên các mỏm đá ngầm dễ dàng”.
Gió và sóng tăng thêm sức mạnh, xô chiếc bè về phía các mỏm đá giết người. Jamie ước lượng nhanh chóng khoảng cách còn lại, quyết định rằng các đợt sóng sẽ đưa họ đến bờ mà không cần phải giương buồm. Anh vội vã hạ buồm xuống. Sức đẩy của gió vẫn không ngừng lại. Chiếc bè lúc này hoàn toàn bị kẹt trong những con sóng khổng lồ, không còn kiểm soát được nữa. Nó bị ném lên về phía trước từ đỉnh sóng này đến đỉnh sóng khác. Chiếc bè lắc lư dữ dội khiến cho hai người phải bám chắc vào nó bằng cả hai tay. Jamie đã nghĩ rằng đi vào bờ là việc làm khó khăn nhưng anh hoàn toàn không được chuẩn bị để đương đầu với những cơn hung dữ của xoáy nước sủi bọt trước mặt. Những mỏm đá hiện ra lù lù một cách rõ ràng đến ngạc nhiên. Họ có thể trông thấy những đợt sóng đổ xô đến, đập vào các tảng đá, nổ tung lên thành những giếng phun nước to lớn, giận dữ. Toàn thể sự thành công của dự tính tuỳ thuộc vào việc đưa chiếc bè nguyên vẹn qua những mỏm đá ngầm để họ có thể sử dụng nó mà thoát ra. Không có chiếc bè, họ coi như đã chết.
Lúc này họ đang hướng đến các mỏm đá ngầm do sức đẩy khủng khiếp của các cơn sóng. Tiếng gió gầm thét đinh tai nhức óc. Đột nhiên, chiếc bè bị nhấc bổng lên cao trong không khí bởi một đợt sóng to lớn, ném nó về phía các tảng đá.
“Giữ chặt lấy, Banda, chúng ta đang đi vào!”, Jamie kêu to lên.
Cơn sóng lớn hất chiếc bè như một que diêm, bắt đầu đưa nó về phía bờ bể, ngang qua các mỏm đá ngầm. Hai người cố bám lấy sự sống, vật lộn với các động tác nhảy chồm lên của các đợt sóng hung dữ đe doạ quăng họ xuống nước. Jamie đưa mắt thật nhanh, nhìn xuống nước, thoáng thấy các mỏm đá ngầm sắc như dao cạo ở bên dưới. Một lát nữa đây, anh sẽ cho bè vượt qua chúng, vào đến bờ an toàn.
Ngay lúc ấy, chiếc bè giật lên đột ngột, dữ dội, khi một mỏm đá ngầm vướng vào một trong bốn chiếc thùng bên dưới, dứt nó ra khỏi chiếc bè.. Chiếc bè chòng chành dữ dội, rồi một thùng khác cũng bị dứt ra như vậy, tiếp đến một thùng khác nữa. Gió và sóng nện, mỏm đá như đói khát, tất cả đang vờn chiếc bè như một cái đồ chơi, tung nó qua lại, xoay tròn nó trong không khí. Jamie và Banda cảm thấy miếng gỗ mỏng dưới chân như vỡ tan ra.
“Nhảy!”, Jamie thét lên
Anh nhảy qua một bên hông bè. Một cơn sóng khổng lồ nhặt anh lên, bắn anh tung về phía bãi bể với tốc độ một viên đạn đá. Anh bị mắc kẹt trong một thứ sức mạnh thiên nhiên ngoài sức tưởng tượng. Anh không thể kiểm soát được những gì đang diễn ra xung quanh. Anh là phần tử của sóng. Nó ở bên người anh, dưới anh và trong người anh. Thân thể anh như bị xoắn lại, quay cuồng, ngực như bị vỡ tung ra. Những ánh sáng lốm đốm bắt đầu hiện lên trong đầu anh. Jamie thầm nghĩ, mình sắp sửa chết chìm. Thế rồi thân thể anh bị ném tung lên cát. Jamie hổn hển thở, cố sức thở cho các buồng phổi của anh tràn ngập không khí trong lành của bể. Ngực và chân đều bị cào xước bởi cát, quần áo tả tơi. Chậm rãi, anh ngồi lên nhìn quanh quất để tìm Banda. Anh ta đang ngồi khom lưng, nôn oẹ cho ra hết nước bể. Jamie đứng dậy, loạng choạng bước đến gần anh ta:
“Anh không hề gì chứ?”
Banda gật đầu. Anh thở một cái thật sâu, rùng mình rồi nhìn lên Jamie, “Tôi không biết bơi”.
Jamie đỡ anh ta dậy. Cả hai quay người lại nhìn mỏm đá ngầm. Không thấy vết tích chiếc bè đâu cả. Nó đã bị tan ra thành mảng trong đại dương hung dữ. Cả hai bây giờ đã đi đến mỏ kim cương.
Không có cách nào thoát ra được.

0
ms oi. chương 7 nè. Không hiểu sao không upload được. poiuy copy rồi paste đây luon

TAY CỰ PHÁCH (chương 7 - Tập I)


Jamie đang mặc quần áo thì nghe có tiếng gõ rụt rè trên cánh cửa. Anh lắng nghe. Tiếng gõ lại được lặp lại lần nữa. Anh bước đến cánh cửa, mở ra. Margaret đang đứng ở đấy.
“Vào đi, Maggie,”, Jamie nói. “Có chuyện gì không hay hả?” Đây là lần đầu tiên nàng đến phòng khách sạn này. Nàng bước vào, nhưng bây giờ đâyl, đứng trước mặt Jamie, nàng thấy khó mở lời quá. Suốt đêm qua, nàng đã nằm thao thức, không biết nói như thế nào với Jamie về cái này. Nàng sợ rằng có thể anh không thể gặp mặt nàng nữa.
Nàng nhìn thẳng vào mắt anh. “Ian ạ, em sắp sửa có con”.
Mặt Jamie vẫn bình tĩnh như không, khiến Margaret lo sợ nàng đã mất anh thật rồi. Đột nhiên, nét mặt anh thay đổi, trở nên vui vẻ, làm cho tất cả nỗi nghi ngờ của nàng lập tức bị xóa sạch. Anh nắm chặt lấy tay nàng, và nói, “thật là tuyệt vời, Maggie ạ. Tuyệt vời! Em đã nói với cha em chưa?”
Margaret lùi lại, lộ vẻ lo sợ, “Ồ, không! Bố em…” Nàng bước đến chiếc ghế sofa kiểu Victoria bọc nhung xanh, rồi ngồi xuống. “Anh không hiểu bố em. Ông…, ông sẽ không bao giờ chịu hiểu”.
Jamie vội vã mặc chiếc áo sơ mi lên người. “Đi nào, chúng ta cùng đến đi đến đó để nói cho ông ấy biết”.
“Anh có tin chắc rằng mọi sự sẽ tốt đẹp không?”
“Anh chưa bao giờ tin chắc hơn trong cuộc đời anh”.

Salomon van der Merwe đang đo những thỏi thịt khô cho một người thăm dò kim cương thì Jamie cùng Margaret bước vào trong cửa hiệu. “À, Ian. Tôi sẽ đến với anh, chỉ một lát nữa thôi”. Lão vội vã tiếp người khách cho chóng xong, rồi đi đến gần Jamie. “Mọi việc tiến triển thế nào trong một ngày đẹp trời như hôm nay?”. Van der Merwe hỏi:
“Không thể nào tốt hơn được”, Jamie vui vẻ nói. “Cô Maggie của ông sắp có con rồi đấy”.
Một sự im lặng đột ngột bao trùm không khí. “Tôi… tôi không hiểu”. Van der Merwe lắp bắp nói.
“Đơn giản quá mà. Tôi đã làm cho cô ấy có mang đấy”.
Máu đỏ như đã tuôn ra hết khỏi khuôn mặt của Van der Merwe. Lão giận dữ nhìn từ mặt người này đến mặt người kia. “Có… có thật như vậy không?” Các cảm xúc như một vũng nước xoáy quay cuồng trong đầu Van der Merwe. Cơn sốc khủng khiếp trước cái tin cô ái nữ quí giá của lão đã bị mất trinh… đang mang bầu… Lão sẽ trở thành một trò cười cho cả thị trấn này. Nhưng Ian Travis là một anh chàng rất giàu có. Và nếu hai đứa ấy cưới nhau nhanh chóng thì…
Van der Merwe quay về phía Jamie, nói, “Dĩ nhiên. Anh sẽ cưới nó ngay lập tức”.
Jamie nhìn lão, làm ra vẻ ngạc nhiên, “Cưới? Ông mà chịu cho Maggie lấy một thằng bé ngu xuẩn đã để cho ông lường gạt đến khuynh gia bại sản hay sao?”
Đầu Van der Merwe quay cuồng như chong chóng. “Anh nói cái gì lạ vậy, Ian? Tôi có bao giờ…”
“Tên tôi không phải là Ian”, Jamie nói bằng một giọng gay gắt. “Tôi là Jamie McGregor. Ông không nhận ra sao?” Anh trông thấy vẻ ngơ ngác trên khuôn mặt Van der Merwe. “Không, cố nhiên là ông không nhận ra. Thằng bé ấy nó chết rồi. Ông giết nó mà. Nhưng tôi không phải là người ôm mãi một mối thù hằn, Van der Merwe ạ. Vì vậy, tôi tặng cho ông một món quà. Hạt giống của tôi nằm trong bụng con gái ông đấy”.
Jamie quay phắt lại, rồi bước ra ngoài, để lại hai bố con nhìn nhau, chưng hửng.
Margaret đã nghe hết trong cơn sững sờ, khó mà tin nổi. Anh ấy không thể nào có ý nghĩ như anh vừa nói ra. Anh ấy yêu mình. Anh ấy…
Salomon van der Merwe quay lại nhìn con gái, trong sự đau khổ và giận dữ khủng khiếp. “Mày là con đĩ!” ông hét lên. “Đồ đĩ! Cút ngay đi! Cút khỏi nơi này!”
Margaret đứng như trời trồng, không hiểu chút gì về sự việc ghê gớm đang xảy ra. Ian trách cứ nàng về một việc gì đó mà cha nàng đã làm. Ian nghĩ rằng nàng cũng đã tham dự vào một hành động xấu xa nào đó. “Jamir McGregor là ai? Ai…?”
“Đi đi” Van der Merwe vả một cái thật mạnh lên mặt nàng. “Tao không muốn thấy mặt mày nữa chừng nào tao còn sống”.
Margaret vẫn đứng chôn chân ở đó, tim nàng đập thình thình, miệng nàng há hốc cố lấy hơi thở. Mặt cha nàng giống như mặt một người điên dại. Nàng quay lưng, chạy ra khỏi cửa hiệu, không quay nhìn trở lại.
Salomin van der Merwe đứng tại chỗ nhìn nàng đi ra, với nỗi tuyệt vọng khủng khiếp trong long. Lão đã từng thấy những gì xảy ra với con gái của những người khác, đã tự làm ô danh mình. Chúng bị buộc phải đứng giữa nhà thờ, bị bêu riếu công khai, rồi khai trừ khỏi cộng đồng. Đó là sự trừng phạt đúng đắn, thích hợp và hoàn toàn thích đáng đối với chúng. Nhưng Margaret của lão đã được giáo dục theo khuôn phép và trong niềm kính sợ đức Chúa Trời. Làm thế nào mà nó có thể phản bội lão như vậy được? Van der Merwe mường tượng thấy cô con gái của lão thân thể trần truồng đang làm tình với anh chàng ấy, quằn quại trong cơn nóng sốt giống như những con vật, rồi lão cũng bắt đầu cảm thấy dục tình của lão rực lên.
Lão đặt tấm biển “Đóng cửa” trên cánh cửa trước cửa hiệu bách hoá, rồi nằm lăn trên giường, không còn có sức hay ý chí nào cử động nữa. Khi tin đồn này lan ra khắp thị trấn, lão sẽ trở thành đối tượng chế giễu. Người ta hoặc thương hại lão hoặc chê bai lão về sự hư hỏng của đứa con gái. Dù cách nào chăng nữa, lão cũng không thể nào chịu đựng nổi. Lão phải làm thế nào để có thể tin chắc rằng không một ai biết được chuyện này. Lão sẽ đưa cái con đĩ ấy đi nơi khác cho khuất mắt lão vĩnh viễn. Lão quì xuống và cầu nguyện: Lạy Chúa! Tại sao Chúa lại có thể đưa con vào cảnh ngộ này, con là đệ tử trung thành của Chúa? Tại sao Chúa đã bỏ rơi con? Lạy Chúa, xin hãy cho con ấy chết đi. Hãy để cho cả hai đứa ấy phải chết…

Quán rượu Sundowner vào buổi trưa hôm ấy đang đông nghẹt người thì Jamie bước vào. Anh đi thẳng đến quầy rượu, rồi quay mặt về phía đám đông. “Xin quý vị chú ý!”. Những cuộc nói chuyện ồn ào nhỏ dần rồi im bặt lại. “Nhà hang xin đãi một chầu rượu cho tất cả mọi người”.
“Có chuyện gì vậy?” Smit hỏi. “Lại mới tìm ra kim cương hay sao?”
Jamie cười to lên. “Cũng gần giống như vậy, anh bạn ạ. Cô con gái ông Salomon van der Merwe chưa chồng mà đã có mang! Ông Van der Merwe muốn tất cả quí vị giúp ông ta ăn mừng việc này!”.
Smit thì thào. “Lạy Chúa Giê su!”.
“Chúa Giê su không can dự gì vào chuyện này cả. Chỉ có Jamie McGregor thôi!”
Trong vòn một giờ đồng hồ, tất cả mọi ngừơi ở Klipdrift đều đã nghe tin. Ian Travis thực ra là Jamie McGregor, anh ta đã làm thế nào khiến cho cô con gái ông Van der Merwe mang bầu. Margaret van der Merwe đã lừa phỉnh cả thị trấn.
“Con bé ấy không có vẻ gì thuộc về loại đàn bà như thế cả, phải thế không?”
“Tẩm ngẩm tầm ngầm mà đâm chết voi đấy!”
“Không biết có bao nhiêu thằng đàn ông trong thị trấn này đã “đóng cọc vào trong cái trái mít” ấy nhỉ?”
“Con bé ấy có dáng người khá xinh. Tao cũng có thể đóng cái cọc của tao được chứ”.
“Sao mày không hỏi nó đi. Nó sẵng sang cho không mày đấy”
Rồi mọi người cườiphá lên.

Khi Salomon van der Merwe rời cửa hiệu trưa hôm ấy, lão đã tìm được cách thoả hiệp với nỗi tai hoạ khủng khiếp vừa xảy ra cho lão. Lão sẽ đưa Margaret đi CapeTown bằng chuyến xe ngựa sắp tới. Nàng sẽ cho ra đời đứa con hoang ở đấy, rồi không một ai ở Klipdrift này biết đến nỗi nhục nhã của lão nữa. Van der Merwe bước ra đường phố, ôm điều bí mật này trong long, một nụ cười gắn trên môi.
“Chào ông Van der Merwe. Tôi nghe nói ông có thể sẽ tích trữ them một số quần áo trẻ con nữa”.
“Chào ông Salomon. Nghe nói ông sắp có một đứa bé con giúp ông trông nom cửa hang”.
“Chào ông Salomon. Tôi nghe nói một nhà quan sát chim vừa mới phát hiện một loài chim mới gần con song Vaal. Vâng, thưa ông, đó là một con cò”.
Salomon quay lại, loạng choạng bước vào cửa hiệu như một người mù, rồi gài chốt cửa lại.

Ở quán Sundowner, Jamie đang nhấm nháp ly rượu huýt ki, lắng nghe những tiếng bàn tán xung quanh mình. Thật là một vụ tai tiếng lớn lao nhất chưa từng xảy ra ở Klipdrift và nỗi vui thích của người dân thị trấn về câu chuyện này thật lớn lao vô cùng. Jamie thầm nghĩ, ước mong sao Banda cũng có mặt ở đây để cùng chia vui với mình. Như vậy là đã trả thù lão Van der Merwe về những gì hắn đã làm hại em gái của Banda, làm hại Jamie và… bao nhiêu người khác nữa. Nhưng đó chỉ là một phần trong tất cả những gì Van der Merwe đã làm. Đó chỉ là bước đầu. Sự trả thù của Jamie chưa được hoàn toàn chừng nào mà Van der Merwe chưa bị hoàn toàn triệt hạ. Riêng đối với Margaret, anh không có chút thương hại nào. Nàng có dính líu vào vụ ấy. Nàng đã nói gì với anh khi hai người gặp nhau lần đầu tiên? Cô ấy đã nói, “Cha tôi có thể là người giúp được cậu. Ông ta biết tất cả mọi thứ”. Nàng cũng là một Van der Merwe, nên Jamie muốn triệt hạ cả hai.
Smit bước đến chỗ Jamie đang ngồi. “Tôi nói chuyện với ông một phút, được không?”
“Chuyện gì vậy?”
Smit đằng hắng giọng, nói một cách ngượng ngùng. “Tôi biết hai người thăm dò có mười nơi có thể khai thác gần Pniel. Họ tìm ra kim cương, nhưng không có tiền để sắm các thiết bị cần thiết để khai thác. Họ đang tìm một người hợp tác. Tôi nghĩ rằng ông có thể quan tâm đến cơ hội làm ăn này”.
Jamie nhìn hắn chằm chằm. “Đó là những ngừơi anh đã giới thiệu với Van der Merwe rồi, phải không?”
Smit gật đầu, ngạc nhiên. “Thưa ông, vâng. Nhưng tôi đã suy nghĩ lại về lời đề nghị của ông. Tôi muốn làm ăn với ông hơn”.
Jamie rút ra một điếu xì gà dài, mỏng. Smit vội vã châm lửa hộ anh. “Anh cứ tiếp tục nói đi”.
Smit làm theo y lời.

Vào lúc ban đầu, nghề mãi dâm ở Klipdrift được mở ra trên căn bản ngẫu nhiên. Gái mãi dâm phần nhiều là phụ nữ da đen, làm việc trong các nhà điếm tồi tàn trong các ngõ hẻm. Nhưng gái mãi dâm da trắng đầu tiên đến thị trấn này là những cô gái bán ba (bar) làm việc bán thời gian. Nhưng số kim cương tìm thấy được tăng lên và thị trấn làm ăn phát đạt, nhiều gái mãi dâm da trắng nữa xuất hiện.
Lúc này đã có hang chục nhà chứa ở vùng ven thị trấn Klipdrift. Đó là những căn nhà nhỏ bằng gỗ có mái lợp tôn. Một ngoại lệ duy nhất là nhà chứa của bà Agnès, một ngôi nhà hai tầng trông bề thế trên đường Bee, cách xa đường Loop, tức là đường phố nơi các bà vợ của những người dân thị trấn không bị khó chịu mỗi khi phải đi qua ổ truỵ lạc ấy. Ngôi nhà ấy được sự bảo trợ của các ông chồng của họ và của bất cứ khách lạ nào có tiền của đến thị trấn này. Đó là một nhà thổ đắt tiền, nhưng các cô gái ở đó đều trẻ và tự do, xứng đáng với đồng tiền bỏ ra. Các thức uống được dọn ra trong một phòng khách bày biện khá sang trọng, và bà Agnès đã đưa ra qui tắc rằng không bao giờ thúc giục hối hả và lừa bịp khách hang. Bản thân bà Agnès cũng là một người đàn bà vui vẻ, mập mạp, có mái tóc màu đỏ, vào khoảng trên ba mươi tuổi. Bà đã làm việc trong các nhà hang điếm ở London và đến Nam Phi vì nghe đồn rằng người ta dễ kiếm ra tiền trong một thị trấn vùng mỏ như Klipdrift. Bà đã dành dụm đủ tiền để mở một nhà điếm do bà làm chủ và công việc làm ăn phát đạt ngay từ lúc đầu.
Bà Agnès vẫn thường hãnh diện về khả năng hiểu biết đàn ông, thế nhưng Jamie McGregor là một nhân vật bí hiểm đối với bà. Anh vẫn đến đó luôn, tiêu tiền một cách thoải mái, và lúc nào cũng vui vẻ đối với các cô gái. Nhưng anh có vẻ kín đáo, xa vời, không ai dám động chạm. Đôi mắt anh là thứ mà bà Agnès cảm thấy hấp dẫn nhất. Chúng có vẻ mờ nhạt, lạnh lung, giống như những hồ ao không đáy. Không giống như các khách hàng khác, anh không bao giờ nói về mình hay về quá khứ của mình. Ít giờ trước đó, bà Agnès đã nghe nói rằng Jamie McGregor đã cố ý làm cho con gái của ông Van der Merwe mang bầu, rồi từ chối không cưới cô ta. Thật là “một thằng chó đẻ”, bà Agnès nghĩ thầm. Nhưng bà cũng phải công nhận rằng đó là một “thằng chó đẻ” đáng yêu. Lúc này bà nhìn theo Jamie trong khi anh bước xuống trên chiếc cầu thang trải thảm đỏ, lễ phép chào từ biệt trước khi ra về.

Khi Jamie trở về khách sạn thì Margaret đã đứng trong phòng anh, nhìn qua khung cửa sổ. Nàng quay lại khi Jamie bước vào.
“Chào anh Jamie”, Giọng nói của nàng hơi run run.
“Cô làm cái gì ở đây?”
“Em cần nói chuyện với anh”.
“Tôi chẳng có gì để nói cả”.
“Em hiểu vì sao anh làm như vậy. Anh ghét cha em”. Margaret tiến lại gần anh hơn nữa “Nhưng anh cần phải biết rằng dù ông ấy có làm điều gì với anh, em cũng chẳng hay biết gì cả. Em van xin anh hãy tin điều đó. Đừng ghét bỏ em. Em yêu anh quá nhiều”.
Jamie nhìn nàng lạnh lung. “Đó là vấn đề của riêng cô, phải thế không nào?”
“Xin anh đừng nhìn em như thế. Anh cũng yêu em…”
Anh không nghe những gì nàng nói. Trí óc anh đang trở về với cuộc hành trình khủng khiếp đến Paardspan, nơi anh suýt bỏ mạng… lúc anh di chuyển những tảng đá trên bờ song cho đến lúc sắp ngã quỵ xuống… rồi cuối cùng, như một phép lạ, anh tìm thấy kim cương và trao nó cho Van der Merwe, rồi nghe lão ta nói, “Cậu hiểu lầm rồi, bé con ạ. Tôi không cần kẻ nào hợp tác với tôi hết. Cậu làm việc cho tôi… Tôi cho cậu hai mươi bốn giờ đồng hồ để ra khỏi thị trấn này”. Thế rồi sau đó là trận đòn tàn nhẫn… Anh lại ngửi thấy mùi những con kên kên, cảm thấy những cái mỏ của chúng rỉa vào da thịt anh…
Anh nghe tiếng nói của Margaret như từ phía xa xa, “anh không nhớ sao? Em… là… của anh… em… yêu anh”.
Anh rùng mình một cái để thoát ra khỏi cơn mơ màng, nhìn vào mặt nàng. Tình yêu. Anh không còn có một ý tưởng nào về ý nghĩa của từ ấy. Van der Merwe đã đốt cháy tất cả mọi cảm xúc trong người anh, ngoài sự thù hận. Anh sống bằng thứ ấy. Nó là thứ thuốc tiên, là máu đỏ nuôi sống anh. Chính nó đã giúp cho anh được sống còn, khi anh chống chọi với đàn cá mập, vượt qua cách mỏm đá ngầm, và bò ngang qua bãi mìn ở mỏ kim cương trong sa mạc Namib. Các thi sĩ đã viết về tình yêu, các ca sĩ hát để ca ngợi tình yêu. Có lẽ nó là hiện thực, có lẽ nó tồn tại. Nhưng tình yêu là dành cho những người khác. Còn đối với Mcgregor thì không.

Không còn nơi nào cho Margaret tới nữa cả. Nàng yêu cha nàng. Nàng cần được sự tha thứ của ông, nhưng nàng biết rằng ông sẽ không bao giờ - không bao giờ có thể - tha thứ cho nàng được. Ông sẽ biến cuộc đời nàng thành một địa ngục trần gian. Nhưng nàng không còn lựa chọn nào nữa. Nàng cần đi đến gặp một người nào đó.
Margaret rời khách sạn, đi về phía cửa hiệu bách hoá của cha nàng. Nàng có cảm tưởng như mọi người đang nhìn nàng chằm chằm. Một số người tủm tỉm cười có vẻ bong gió. Nàng ngẩng đầu lên cao, tiếp tục bước đi. Đến cửa hiệu, nàng do dự một lúc, rồi bước hẳn vào bên trong. Cửa hiệu vắng vẻ. Cha nàng từ phía trong bước ra.
“Bố…”
“Mày à!”. Một vẻ khinh bỉ của ông ta trong giọng nói giống như một cái tát lên mặt nàng. Lão tiến lại gần, khiến nàng ngửi thất mùi uýt ki trong hơi thở của ông. “Tao muốn mày rời khỏi thành phố này. Ngay tối nay. Mày sẽ không bao giờ được lại gần nơi này nữa. Mày có nghe tao nói không? Không bao giờ!” Lão rút từ trong túi ra ít tờ giấy bạc ném lên trên sàn nhà. “Cầm lấy, rồi cút đi”.
“Con đang mang trong bụng đứa cháu ngoại của bố”.
“Mày đang mang đứa con của quỉ Xa tăng!” Lão tiến lại gần hơn nữa, hai bàn tay nắm chặt lại. “Mỗi khi người ta thấy mày đi khệnh khạng quanh đây như một con đĩ, họ sẽ nghĩ đến nỗi nhục nhã của tao. Khi mày đi rồi, người ta sẽ quên đi”.
Nàng nhìn ông bố một hồi lâu, rồi quay lại, loạng choạng bước ra khỏi cửa.
“Tiền, con đĩ kia!” Lão rống lên. “Mày quên tiền hay sao?”

Có một quán trọ rẻ tiền ở ven thị trấn, nên Margaret đi thẳng đến đó, đầu óc rối bời. Đến nơi, nàng hỏi thăm bà Owens, người chủ nhà. Bà Owens là một người đàn bà béo mập, nét mặt vui tươi, vào trạc ngũ tuần. Chồng bà đã đưa bà đến Klipdrift, rồi bỏ rơi bà ở đây. Một người đàn bà khác trong trường hợp ấy ắt hẳn đã ngã quỵ, nhưng bà Owens vẫn sống sót. Bà đã thấy nhiều người gặp khó khăn trong thị trấn này, nhưng không ai ở trong tình trạng khó khăn như cô gái mười bảy tuổi đang đứng trước mặt bà.
“Cô muốn gặp tôi sao?”
“Vâng, tôi không biết… không biết bà có một việc làm nào cho tôi ở đây không”.
“Việc làm à? Làm cái gì?”
“Bất cứ việc gì. Tôi nấu ăn khá. Có thể làm hầu bàn. Làm giường. Tôi… Tôi… “. Giọng nàng có vẻ tuyệt vọng. “Xin bà…” nàng năn nỉ. “Bất cứ việc gì cũng được!”.
Bà Owens nhìn cô gái đang đứng run rẩy trước mặt. Bà cảm thấy xúc động. “Chắc rằng tôi có thể dung thêm một người nữa. Bao giờ thì cô có thể bắt đầu được?” Bà cảm thấy nét mặt Margaret sáng lên, như vừa trút đi nỗi lo âu.
“Ngay bây giờ”.
“Tôi chỉ có thể trả cho cô…” Bà suy nghĩ về một con số nào đó, rồi nói tiếp, “một bảng, hai shillings và mười một xu, ngoài ăn và ở”.
“Như vậy cũng tốt rồi”, Margaret nói với vẻ biết ơn.

Lúc này Salomon van der Merwe ít khi xuất hiện trên các đường phố ở Klipdrift. Mỗi lúc khách hang của lão lại thấy tấm biển “Đóng cửa” treo lên thường xuyên hơn trên cửa ra vào hiệu bách hoá vào tất cả mọi giờ trong ngày. Một thời gian sau đó, họ mua bán ở nơi khác, chứ không còn đến đó nữa.
Nhưng Van der Merwe vẫn đi nhà thờ mỗi ngày Chủ Nhật. Lão đến đó không phải để đọc kinh mà để xin Chúa sửa chữa lại nỗi bất công đã chồng chất lên vai một đệ tử trung thành của Chúa. Những người khác trong giáo khu xưa nay vẫn kính trọng Salomon ven der Merwe, vì lão giàu có và có thế lực, nhưng vào lúc này, lão cảm thấy cái nhìn soi mói và những tiếng thì thầm sau lưng lão. Gia đình vẫn thường chiếm chiếc ghế bên cạnh lão bây giờ đã chuyển sang một chiếc ghế khác. Lão là một người dân giáo khu. Điều làm cho lão mất tinh thần hoàn toàn là bài giảng của vị mục sư trong đó ông ta đề cập một cách tinh ranh đến Exodus, Ezekiel, phối hợp với Leviticus(1). “Ta, Đức Chúa Trời của ngươi, là một vị Chúa hay ngờ vực, thường theo dõi nhưng điều tội lỗi của các bậc làm cha ảnh hưởng đến con cái. Vì vậy, hỡi con gái điếm kia, ngươi hãy nghe lời răn của Đức Chúa. Bởi vì chất nhơ bẩn của ngươi đã tuôn ra, thân thể trần truồng của ngươi đã được phô bày ra qua các hành động dâm ô với các nhân tình của ngươi… nên Chúa nói với Moses(2), “Đừng bán rẻ con gái ngươi, để biến nó thành một con đĩ; nếu không, e rằng trái đất này sẽ rơi vào ổ trụy lạc, và đầy rẫy tội ác xấu xa,…”
(1): Exodus: sách Cựu ước nói về cuộc khởi hành của người Do thái từ Ai Cập.
Ezekiel: sách Cựu ước nói về những lời tiên tri, nhà tiên tri Do thái Ezekiel sống vào thế kỷ VI trước công nguyên; Leviticus: sách Cựu ước nói về các giáo luật dành cho các tu sĩ Do thái.
(2): Moses: nhà lãnh đạo tôn giáo, nói trong Thánh kinh, đã đưa người Do thái thoát khỏi nô lệ ở Ai Cập để đi đến vùng Đất Hứa.

Sau Chủ nhật ấy, Van der Merwe không còn đặt chân đến nhà thờ lần nào nữa.

Trong khi việc kinh doanh của Van der Merwe bị suy sụp thì ngược lại công việc làm ăn của Jamie McGregor trở nên phát đạt. Chi phí của việc đào mỏ kim cương tăng lên vì người ta phải đào sâu hơn, và những người khai thác mỏ nhận thấy rằng họ không còn có thể sắm những trang bị tinh vi cần thiết. Tin đồn loan đi rất nhanh rằng Jamie McGregor có thề tài trợ cho việc khai thác để đổi lấy một phần thu hoạch trong các mỏ ấy, rồi đến khi nào cần thiết, Jamie sẽ trả tiền mua đứt tài sản những người hợp tác kinh doanh. Anh đầu tư vào bất động sản, doanh thương và vàng. Anh tỏ ra lương thiện và tỉ mỉ trong việc giao dịch, nên, khi tiếng tăm của anh lan rộng, nhiều người hơn nữa tìm đến anh để hợp tác làm ăn.
Có hai ngân hàng trong thành phố. Nhưng khi một trong hai ngân hàng ấy thất bại vì quản lý kém, Jamie mua lại ngân hàng ấy, đặt người của anh vào, nhưng tránh không đưa tên mình ra trong các vụ giao dịch.
Bất cứ vụ kinh doanh nào Jamie có nhúng tay vào đều trở nên phát đạt. Anh đã thành công và trở nên giàu có ngoài sự mơ ước của anh thời niên thiếu, nhưng điều đó không có ý nghĩa bao nhiêu đối với anh. Anh đo lường sự thành công của anh, căn cứ trên những sự thất bại của Salomon van der Merwe mà thôi. Cuộc trả thù của anh chỉ mới bắt đầu.
Thỉnh thoảng Jamie gặp Margaret trên đường phố. Nhưng anh không để ý đến nàng.
Jamie không hề biết những cuộc chạm trán tình cờ ấy ảnh hưởng như thế nào đến Margaret. Mỗi khi trông thấy bóng dáng anh, nàng cảm thấy như nghẹt thở, phải dừng lại một lúc để lấy lại tự chủ. Nàng vẫn yêu anh hoàn toàn và đầy đủ. Không có gì có thể làm thay đổi điều ấy được. Anh đã sử dụng thân xác nàng để trừng trị cha nàng, nhưng Margaret biết rằng đó là một con dao hai lưỡi. Chẳng bao lâu nữa nàng sẽ sinh đứa con của Jamie, và khi trông thấy đứa bé, máu và thịt của anh, anh sẽ cưới nàng và cho đứa bé ấy một cái tên. Margaret sẽ trở thành bà Jamie McGregor. Nàng không còn mong ước gì hơn thế nữa trên đời này. Mỗi đêm, trước khi đi ngủ, nàng sờ lên chiếc bụng căng phồng và thì thầm. “Đứa con trai của chúng ta”. Có lẽ thật là điên rồ nếu nàng nghĩ rằng nàng có thể ảnh hưởng đến giới tính của nó, nhưng nàng không muốn bỏ qua bất cứ khả năng nào. Đàn ông nào cũng muốn có con trai.
Khi bụng nàng căng phồng lên, nàng cảm thấy khiếp hãi hơn. Nàng ao ước được nói chuyện với một người nào đó. Nhưng các bà, các cô trong thị trấn đều không muốn nói chuyện với nàng. Tôn giáo của họ dạy cho họ biết trừng phạt chứ không biết tha thứ. Nàng chỉ có một mình, xung quanh là người xa lạ. Nàng bật khóc trong đêm tối, thương cho thân mình và cho đứa trẻ trong bụng.
Jamie McGregor đã mua một toà nhà hai tầng ngay tại trung tâm Klipdrift, và dung nơi này làm trụ sở chính cho tổ chức kinh doanh đang lớn mạnh của anh. Một hôm, Harry McMillan, viên kế toán trưởng của Jamie, họp bàn với anh.
“Chúng ta sẽ tập hợp các công ty của ông lại, nên cần phải có một cái tên cho tổ hợp. Ông có ý kiến nào về cái tên này không?”
“Để tôi nghĩ xem”.
Jamie suy nghĩ về vấn đề này. Trong trí óc anh, lúc nào cũng vang lên âm thanh của những tiếng kêu chọc thủng sương mù trên vùng đất kim cương trong sa mạc Namib. Vì vậy, anh biết chỉ có một cái tên anh muốn dung. Anh liền gọi viên kế toán trưởng đến, và nói, “Chúng ta sẽ gọi tên công ty mới này là Kruger Brent. Công ty Hữu hạn (1) Kruger Brent”.
(1): Công ty Hữu hạn: hay công ty Trách nhiệm hữu hạn (Limited Company, viết tắt là Ltd.), là công ty trong đó mỗi thành viên hợp tác kinh doanh, hay cổ đông viên (shareholder) có trách nhiệm được giới hạn theo số lượng đầu tư thực sự của mình vào việc kinh doanh.

Alvin Cory, viên quản lý ngân hàng của Jamie, một hôm đến thăm viếng anh. “Tôi đến là vì chuyện các món nợ của ông Van der Merwe. Trong quá khứ, việc cho ông ta vay tiền là một điều rủi ro có lợi, nhưng hoàn cảnh ông ta bây giờ đã thay đổi một cách quyết liệt, ông McGregor ạ. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên đòi các khoản cho vay về”.
“Không”.
Corry nhìn Jamie, ngạc nhiên. “Sáng nay, ông ta đến đây cố xin vay thêm tiền để…”
“Cứ cho ông ta vay. Hãy cho bất cứ thứ gì ông ta cần”.
Viên quản lý đứng dậy. “Tôi xin làm theo bất cứ điều gì ông bảo, ông Mcgregor ạ. Tôi sẽ bảo cho ông ấy rằng ông nói… “
“Không bảo ông ta gì hết. Chỉ việc đưa tiền cho lão ta thôi”.

Mỗi buổi sáng, Margaret thức dậy lúc năm giờ để nướng những miếng bánh mì lớn rất thơm tho và bánh bích qui bằng bột nhào chua. Khi các khách trọ lũ lượt kéo vào phòng ăn để dùng điểm tâm, nàng dọn ra cho họ các món ăn như cháo, thịt hun và trứng, bánh ngọt làm bằng kiều mạch, bánh cuốn ngọt, và những bình cà phê nóng hổi. Đa số khách trọ là những người thăm dò kim cương trên đường đến hay rời các nơi khai thác mỏ. Họ thường dừng lại Klipdrift khá lâu để nhờ đánh giá kim cương của họ, tắm rửa, uống rượu say mèm, và thăm viếng một trong các ổ điếm - thường là theo thứ tự như vậy. Họ phần đông là những người phiêu lưu ít học, thô lỗ.
Có một thứ qui luật không được viết trên giấy tờ là không được xâm phạm, quấy rầy những người đàn bà, con gái tử tế. Nếu người nào muốn thoả mãn dục tính, họ đi đến một nhà thổ. Thế nhưng Margaret ven der Merwe là một sự thử thách, vì nàng không thuộc vào hạng nào trong hai hạng ấy cả. Con gái tử tế mà còn độc thân thì không mang bầu như thế. Rồi người ta dự đoán rằng vì Maragret đã sa ngã một lần thì có lẽ cô ta sẽ sẵn sàng ăn nằm với bất cứ người nào khác. Họ chỉ cần yêu cầu một tiếng thôi là xong. Và họ làm như thế thật.
Một số người thì nói toạc móng heo ra và đòi hỏi om xòm. Một số khác thì liếc mắt nhìn lén lút. Margaret đối xử với tất cả những người ấy với một thái độ bình tĩnh đoan trang. Nhưng một đêm nọ, khi bà Owens chuẩn bị làm giường, bà nghe có tiếng la hét từ căn phòng của Margaret ở phía sau nhà. Bà mở tung cánh cửa, nhảy xổ vào. Một trong các khách trọ, một người thăm dò kim cương say rượu, đã xé toạc chiếc áo choàng của Margaret, đè nàng xuống giường.
Bà Owens chồm đến anh ta như một con cọp. Bà nhặt lấy một cái bàn là, đập túi bụi lên anh ta. Thân hình bà chỉ bằng nửa anh chàng kia, nhưng bà chẳng sợ gì. Tức giận tràn ngập, bà đánh anh chàng ấy đến bất tỉnh, rồi lôi xềnh xệch anh ta ngang qua hành lang, rồi vứt ra đường phố. Sau đó, bà quay lại, hối hả chạy trở lại phòng Margaret, Margaret đang chùi máu môi, vì bị anh chàng ấy cắn ở đó. Tay nàng run rẩy.
“Cô có hề gì không, Maggie?”
“Không, tôi chỉ… Xin cảm ơn bà Owens”.
Nước mắt nàng tự nhiên ứa lên. Trong một thị trấn mà ở đó rất ít người chịu nói chuyện với nàng, bây giờ mới có một người bày tỏ lòng thương cảm.
Bà Owens nhìn bụng căng phồng của Margaret, và suy nghĩ. Tội nghiệp cho đứa con gái mơ mộng. Jamie McGregor sẽ không bao giờ chịu cưới nó đâu.

Ngày ở cữ đã gần kề. Margaret dễ dàng thấy mệt mỏi, cử động cúi xuống, rồi đứng dậy lại, là một cố gắng khó nhọc đối với nàng. Niềm vui duy nhất của nàng là khi đứa bé trong bụng cựa quậy. Nàng và con trai nàng không hoàn toàn cô đơn trên cõi đời này. Nàng nói chuyện với nó, giờ này qua giờ khác, kể cho nó nghe những điều kỳ diệu mà cuộc đời sẽ dành cho nó.
Vào một buổi tối nọ, sau khi ăn cơm xong, một đứa bé da đen xuất hiện ở nhà trọ, đưa cho Margaret một lá thư niêm phong cẩn thận.
“Tôi được lệnh phải chờ đợi cô trả lời”, cậu bé nói với Margaret.
Margaret đọc lá thư, rồi đọc nó lại một lần nữa, rất chậm rãi. “Được”, nàng nói> “Tôi xin nhận lời”.

Ngày thứ sáu kế đó, vào lúc giữa trưa, Margaret đến trước cửa nhà chứa của bà Agnès. Một tấm biển trên cánh cửa ra vào ghi hai chữ “Đóng cửa”. Margaret gõ nhè nhẹ trên cánh cửa, không cần biết đến cái nhìn ngạc nhiên của khách qua đường. Nàng tự hỏi không biết nàng đến nơi này có phải là một hành động sai lầm chăng. Đó là quyết định khó khăn, và nàng đã nhận lời bởi vì cảm thấy mình quá cô đơn. Lá thư ấy viết:
Thưa cô Van der Merwe thân mến,
Thật ra tôi không có lien qua gì đến chuyện này, nhưng các cô gái của tôi ở đây đã bàn cãi với nhau về hoàn cảnh không may và bất công của cô. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một điều sỉ nhục đáng nguyền rủa. Nếu cô không cảm thấy bối rối, khó chịu, chúng tôi rất hân hạnh được cô chấp nhận đến dung một bữa cơm trưa với chúng tôi. Không biết ngày Thứ sáu này có tiện cho cô không?
Kính mến,
Bà Agnès
Margaret đang do dự không biết có nên bỏ đi hay không thì bà Agnès đã ra mở cửa.
Bà cầm lấy cánh tay Margaret và nói, “Đi vào đây, cô em. Chúng tôi sẽ làm cho cô quên đi cái nóng khủng khiếp này”.
Bà dấ Margaret vào phòng khách, bày biện sang trọnng với những chiếc bàn, ghế, sô-pha bọc nhung đỏ kiểi Victoria. Căn phòng này lại được trang hoàng bằng những ruy băng và giấy hoa, ngoài ra lại còn có – không biết họ lấy từ đâu ra – những quả bong bong màu sắc sặc sỡ. Nhiều tấm biển bằng bìa cứng, treo từ trần nhà, trên đó viết những dòng chữ vụng về: “Mừng cháu bé… Chắc chắn sẽ là một đứa con trai… Mừng sinh nhật cháu bé…”
Trong phòng có tám cô con gái, trong số các cô cùng làm cho bà Agnès, đủ mọi dáng vẻ, tuổi tác, màu sắc. Họ đều ăn mặc đàng hoàng cho dịp ăn mừng này, dưới sự bảo trợ của bà Agnès. Họ mặc chiếc áo dài đứng đắn và không hoá trang. Margaret ngạc nhiên thầm nghĩ, những cô gái này trông còn đứng đắn hơn đa số các bà vợ trong thị trấn này.
Margaret nhìn căn phòng đầy những cô gái điếm, không còn biết mình phải làm gì nữa. Một số khuôn mặt có vẻ quen thuộc. Margaret đã từng tiềp họ khi nàng còn làm việc tại cửa hàng bách hoá của cha nàng. Một số còn trẻ và rất xinh đẹp. Một số ít già hơn và mập mạp, với mái tóc rõ ràng đã được nhuộm. Nhưng tất cả đều có chung một đặc điểm: họ đều tỏ ra quan tâm đến nàng. Họ thân thiện, tử tế, nồng thắm, và muốn làm cho nàng được vui sướng.
Họ xoắn xít xung quanh Margaret với vẻ e thẹn, lúng túng, vì sợ nói điều gì hay làm điều gì khiến nàng phật ý. Dù dân thị trấn có nói gì về nàng, họ biết rằng nàng là một cô gái con nhà tử tế, và ý thức được sự khác biệt giữa họ với nàng. Họ lấy làm hân hạnh vì nàng đã nhận lời đến với họ, và họ quyết không làm điều gì khả dĩ phá hỏng không khí buổi tiệc dành cho nàng.
“Chúng tôi đã soạn sẵn một bữa com thật ngon mời cô, cô em yêu quí ạ.”, bà Agnès nói. “Chắc là cô đang đói”.
Họ dắt nàng đến phòng ăn, nơi một bàn tiệc đã được bầy sẵn, với một chai sâm banh ở chỗ ngồi của Margaret. Trong khi đi ngang qua hành lang, nàng đưa mắt nhìn những chiếc cầu thang dẫn đến các phòng ngủ ở tầng hai. Nàng biết Jamie đã từng đến nơi đó, và tự hỏi không biết chàng đã chọn cô nào trong các cô gái này. Có lẽ là tất cả. Rồi nàng quan sát họ thật kỹ để xem họ có những ưu điểm gì đối với Jamie mà nàng không có.
Bữa ăn trưa này trở thành một bữa tiệc, bắt đầu bằng món xúp nguội và xà lách, tiếp theo là món cá chép tươi, sau đó nữa là thịt cừu, thịt vịt với rau và khoai tây. Cuối cùng là bánh bích qui tẩm rượu, phó mát, trái cây và cà phê. Margaret ăn uống rất thật tình và vui thích vô cùng. Nàng ngồi ở đầu bàn, bên phải là bà Agnès, phía bên trái là Maggie, một cô gái tóc hoe xinh đẹp, có lẽ không quá mười sáu tuổi. Thoạt tiên cuộc nói chuyện có vẻ khoa trương, rỗng tếch, Các cô gái kể hàng chục câu chuyện vuui đùa, tục tĩu, nhưng đó không phải là những thứ họ biết Margaret đang muốn nghe. Vì vậy, họ bàn về thời tiết, về sự phát triển của Klipdrift và về tương lai của Nam Pho. Họ tỏ ra hiểu biết về chính trị kinh tế và về kim cương, vì đó là nhưng tin tức họ biết được qua các chuyên viên về những vấn đề ấy.
Có một lần, cô gái xinh đẹp tóc hoe, tên là Maggie nói, “Jamie vừa mới tìm ra được một mỏ kim cương mới ở… “. Cả căn phòng đột nhiên im bặt lại. Cô ta biết rằng mình bị hớ, liền lắp bắp nói tiếp, “Đó là ông chú tôi tên là Jamie. Ông ấy… ông ấy lấy người dì của tôi”.
Margaret ngạc nhiên vì một cảm giác ghen tuông tràn qua người nàng như một làn song. Bà Agnès vội vã xoay câu chuyện sang một vấn đề khác.
Khi bữa ăn chấm dứt, bà Agnès đứng dậy, nói, “Mình đi lối này, cô em yêu quí ạ”. Margaret và cô khác theo chân bà, đi vào một căn phòng thứ hai mà Margaret chưa hề thấy trước đó. Ở đó có hang chục món quà, tất cả đều gói ghém cẩn thận. Margaret không còn tin vào mắt mình nữa.
“Tôi… tôi không biết nói làm sao được bây giờ”.
“Cô cứ mở xem”, bà Agnès nói.
Ở đó có một chiếc nôi lắc lư, những chiếc giày nhỏ đan tay của trẻ con, áo trẻ con, mũ thêu, một chiếc áo choàng dài bằng len thêu. Có những chiếc giày trẻ con có đính khuy kiểu Pháp, có một tách bằng bạc có viền vàng của trẻ con, một cái lược và bàn chải với cán bằng bạc thuần chất. Có những cái ghim yếm bằng vàng thuần chất với các cạnh xâu hạt, một cái vòng bằng cao su cho trẻ con cắn, một con ngựa gỗ lắc lư sơn màu xám lốm đốm. Có những đồ chơi người lính, nhưng khối gỗ màu sắc chói lọi, và đẹp hơn hết tất cả là một chiếc áo dài trắng tinh để mặc vào ngày lễ đặt tên cho đứa bé.
Thật giống như ngày lễ Giáng sinh. Nó ngoài sức tưởng tượng của Margaret. Tất cả nỗi cô đơn bị đè nén, tất cả nỗi đau khổ trong quá khứ như nổ tung ra trong người nàng, khiến nàng bật khóc thổn thức.
Bà Agnès đặt cánh tay qua người nàng, và nói với các cô gái khác, “Đi ra ngoài kia”.
Họ lẳng lặng rời khỏi phòng. Bà Agnès dắt Margaret đến chiếc ghế dài, rồi ôm nàng ngồi ở đấy cho đến khi những tiếng nức nở dịu đi.
“Tôi… tôi xin lỗi”, Margaret lắp bắp nói. “Tôi… tôi không hiểu có cái gì như bao trùm lấy người tô… “.
“Không hề gì đâu, cô em thân mến ạ. Căn phòng này đã thấy quá nhiều vấn đề đến rồi lại đi. Cô có biết chúng tôi đã học được những gì không? Cuối cùng tất cả mọi thứ rồi sẽ được giải quyết cả thôi. Cô và cháu bé sẽ được sung sướng”.
“Cám ơn bà”, Margaret thì thào. Nàng đưa tay ra chỉ các món quà. “Tôi không biết cám ơn bà và các bạn như thế nào cho vừa”.
Bà Agnès bóp chặt bàn tay Margaret. “Đừng. Cô không biết các cô gái kia và tôi vui sướng như thế nào khi gom góp các thứ này. Chúng tôi không mấy khi được cơ hội làm một việc đại loại như thế này. Khi một người trong chúng tôi có mang, thật là một tấn bi kịch đáng nguyền rủa”. Bà vụt đưa tay lên miệng và nói, “Ồ, tôi xin lỗi”.
Margaret tủm tỉm cười, “tôi chỉ muốn bà biết cho rằng hôm này là một trong những ngày sung sướng nhất trong đời tôi”.
“Chúng tôi thực sự rất hân hạnh được cô đến thăm, cô ạ. Riêng tôi nghĩ, cô xứng đáng bằng tất cả những người đàn bà trong thị trấn này gộp lại. Những đồ chó đẻ khôn khiếp! Tôi có thể giết chúng nó vì chúng đã đối xử tệ bạc với cô. Và, nếu cô cho phép, tôi cũng xin nói rằng Jamie McGregor là một tên điên khùng đáng nguyền rủa”. Bà đứng thẳng dậy. “Đàn ông! Thế giới này chắc sẽ là một nơi thần tiên nếu không có những thằng chó đẻ như thế. Hay… có lẽ nó sẽ chẳng là thần tiên chút nào. Ai biết được?”
Margaret đã lấy lại được bình tĩnh. Nàng đứng dậy, cầm lấy tay bà Agnès. “Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được kỉ niệm này, chừng nào tôi còn sống. Một ngày nào đó, khi con trai tôi khôn lớn, tôi sẽ nói với nó về ngày hôm nay”.
Bà Agnès nhăn mặt lại. “Cô thực sự nghĩ như vậy sao?”
Margaret mỉm cười. “Vâng, thực sự nghĩ như vậy”.
Bà Agnès tiễn chân nàng ra cửa. “Tôi sẽ cho xe chở tất cả các thứ quà này đến nhà trọ của cô, và… chúc cô may mắn”.
“Cám ơn bà. Xin cám ơn bà lắm lắm”.
Rồi nàng ra về.
Bà Agnès đứng nhìn theo Margaret đang long ngóng bước xuống đường phố. Rồi bà quay về phía bên trong, nói thật to, “Thôi được rồi, các cô ạ. Chúng ta bắt đầu làm việc đi”.
Một giờ sau, ngôi nhà của bà Agnès được mở cửa để tiếp khách như thường lệ.
0
TAY CỰ PHÁCH, CHƯƠNG V

CHƯƠNG V
Sau lưng họ là đại dương giận dữ. Trước mặt là sa mạc không bị gián đoạn, trải dài từ bể đến chân núi xa xăm, lởm chởm, màu tím, của vách núi Richterveld, một thế giới của hẻm núi, thung lũng và chóp núi cong queo, sáng ngời dưới ánh trắng mờ. Ở chân rặng núi là thung lũng Henkessel, tức “Chiếc nồi nấu của phù thuỷ”, một bẫy gió trống trải. Đó là một phong cảnh hoang vắng, ban sơ, từ thuở bắt đầu của thời gian. Dấu hiệu duy nhất cho biết con người đã từng đặt chân lên nơi này là một tấm biển trên cát. Dưới ánh sáng trăng, họ đọc thấy mấy dòng chữ:
Verbode Gebied
Spergebied
Vùng đất cấm.
Không có lối thoát về phía bể. Hướng duy nhất còn mở ra cho hai người là sa mạc Namib.
“Chúng mình phải cố vượt qua sa mạc rồi phó mặc cho may rủi”, Jamie nói.
Banda lắc đầu, “Bọn bảo vệ sẽ bắn chúng ta ngay khi chúng vừa nhìn thấy, hoặc treo cổ chúng ta. Ngay cả khi chúng mình qua mặt được bọn bảo vệ, cũng không có cách nào vượt qua được bãi mìn. Chúng ta xem như đã chết rồi”. Không phải là Banda lo sợ cái chết, anh chỉ cam chịu số phận.
Jamie nhìn Banda và cảm thấy một niềm hối tiếc sâu xa. Anh đã đưa người da đen đến nỗi này nhưng Banda không hề phàn nàn một lần nào. Ngay cả lúc này, khi biết không có một lối thoát nào cả cho họ, anh cũng không thốt ra một lời trách cứ nào.
Jamie quay lại nhìn bức tường sóng giận dữ đập mạnh lên bờ, cho rằng chỉ có một phép lạ mới giúp được cho họ đi xa được như vậy. Lúc này là hai giờ sáng, chỉ còn bốn giờ nữa trời sẽ hửng sáng và bọn chúng sẽ phát hiện ra họ. Thế nhưng cả hai cho đến lúc này vẫn còn nguyên vẹn. Mình sẽ là một kẻ khốn khiếp nếu sẵn sàng bỏ cuộc lúc này, Jamie nghĩ thầm.
“Nào, chúng ta làm việc chứ, Banda?”
Banda chớp mắt một cái, hỏi: “Làm việc gì?”
“Chúng mình đến đây để tìm kim cương, phải thế không? Chúng mình hãy lấy đi”
Banda trố mắt nhìn người da trắng có cặp mắt man dại, tóc trắng dán chặt lên sọ và quần áo ướt đẫm, tả tơi, xung quanh đôi cẳng, “Anh nói gì vậy?”
“Anh bảo rằng bọn chúng thấy mình sẽ giết ngay. Vậy chúng có thể giết mình giữa lúc mình đang giàu có cũng như lúc mình nghèo khổ. Phép lạ đã đưa chúng mình đến đây thì phép lạ cũng có thể giúp chúng mình thoát ra. Nhưng nếu thoát ra được thì tôi nhất định không chịu đi tay không”.
“Anh khùng rồi”, Banda nói nhẹ nhàng.
“Nếu không thế thì chúng mình đã không có ở đây rồi”, Jamie nhắc nhở.
Banda nhún vai: “Mẹ kiếp! Mình có việc làm nào khác nữa đâu cho đến khi bọn chúng tìm ra mình?”
Jamie giật chiếc áo sơ mi rách tả tơi. Banda hiểu ngay và cũng bắt chước làm như vậy.
“Nào, những viên kim cương to bự mà anh vẫn nói đó, nằm ở chỗ nào?”
“Ở khắp mọi nơi”, Banda nói. Rồi anh nói thêm, “Cũng như bọn bảo vệ và chó săn vậy”.
“Chuyện ấy để lo sau. Khi nào chúng xuống bãi bể này?”
“Khi nào trời sáng”
Jamie suy nghĩ một lát, “Có nơi nào trên bãi bể này mà chúng không đến không? Một nơi nào đó để chúng mình nấp?”
“Không có nơi nào chúng không đến cả. Cũng chẳng có nơi nào có thể ẩn giấu, dù một con ruồi”.
Jamie vỗ vai Banda, “Thôi được, chúng ta đi nào”
Jamie nhìn theo Banda đang bò chậm chạp bằng cả tay và chân, dọc theo bãi bể, vừa bò vừa dùng ngón tay sàng cát. Không đầy hai phút sau, anh dừng lại, giơ một viên đá lên cao, “Tôi tìm thấy một viên!”
Jamie khom mình xuống cát và bắt đầu bò. Hai viên đá đầu tiên tìm được hơi nhỏ. Viên thứ ba to hơn, nặng đến mười lăm cà rá. Anh ngồi đó ngắm nghía một hồi. Thật khó tưởng tượng rằng của cải lớn lao như vậy lại có thể dễ dàng nhặt lên đến thế. Thế mà tất cả những thứ ấy lại thuộc về Salomon Van der Merwe và các người hợp tác của hắn. Jamie vẫn tiếp tục di chuyển.
Trong ba giờ tiếp theo đó, hai người đã thu thập được trên bốn mươi viên kim cương từ hai cà rá đến ba mươi cà rá. Bầu trời phía đông bắt đầu hửng sáng. Đây là thời gian Jamie dự định rời khỏi nơi này, nhảy lên bè, vượt qua các tảng đá ngầm và thoát trở về. Nhưng bây giờ nghĩ đến điều ấy cũng vô ích thôi.
“Trời sắp rạng đông rồi”, Jamie nói, “Chúng mình hãy tính xem còn có thể tìm được thêm bao nhiêu viên kim cương nữa?”
“Chúng ta sẽ không sống để xài bất cứ viên nào trong số này. Anh muốn chết giàu có, đúng không?”
“Tôi chẳng muốn chết chút nào”
Họ lại tiếp tục tìm kiếm, nhặt hết viên kim cương này đến viên kim cương khác, không suy nghĩ, tính toán gì hết, như thể bị ám ảnh bởi cơn điên loạn. Từng chồng kim cương của họ cứ lớn dần lên cho đến khi sáu mươi viên kim cương vô giá nằm gọn trong túi áo sơ mi tả tơi của họ.
“Anh có muốn tôi mang các thứ này không?”, Banda hỏi
“Không, cả hai chúng ta đều có thể…”, chợt Jamie nhận ra được Banda đang suy nghĩ gì. Kẻ nào bị bắt quả tang mang theo kim cương sẽ bị chết một cách chậm chạp và đau đớn hơn.
“Để tôi mang cho”, Jamie nói. Anh nhét tất cả kim cương vào trong mảnh vải còn lại của áo sơ mi rồi cẩn thận thắt nút lại. Chân trời lúc này sáng lờ mờ, phía đông bắt đầu nhuốm màu sắc của mặt trời đang lên.
Việc gì xảy ra tiếp theo nhỉ? Đó mới là vấn đề. Làm thế nào trả lời? Họ có thể sẽ đứng ở đó chờ chết, hay có thể đi vào trong vùng đất, hướng đến sa mạc và chết ở đó.
“Chúng ta đi nào”
Jamie và Banda bắt đầu chậm rãi bước đi sát bên nhau, xa bãi biển.
“Bãi mìn bắt đầu từ chỗ nào vậy?”
”Chừng một trăm thước, ở phía trước mặt”. Xa xa, họ nghe có tiếng chó sủa. “Tôi không nghĩ rằng chúng ta sắp sửa phải lo về bãi mìn. Đàn chó đang hướng về phía này. Ca làm việc buổi sáng sắp bắt đầu”.
“Chừng bao lâu nữa chúng sẽ đến đây?”
“Mười lăm phút, cũng có lẽ mười phút”
Lúc này đã gần sáng hẳn rồi. Các hình thù lờ mờ bây giờ đã trở thành những đụn cát và ngọn núi xa xăm. Không có nơi nào để mà ẩn nấp nữa”.
“Có bao nhiêu tên bảo vệ cho mỗi ca?”
Banda suy nghĩ một lát, “Chừng mười tên”
“Mười tên cũng không nhiều lắm cho một bãi bể rộng như thế này”.
“Một tên cũng đủ rồi. Chúng có súng và chó. bọn bảo vệ ấykhông phải là mù và chúng ta thì không có phép tàng hình”.
Tiếng chó sủa bây giờ gần hơn, Jamie nói, “Banda ạ, tôi rất hối hận. Lẽ ra tôi không nên đưa anh vào cảnh ngộ này”
“Không phải anh đâu”
Jamie hiểu anh muốn nói gì trong câu nói ấy
Rồi họ nghe tiếng nói lao xao ở phía xa
Jamie và Banda đi tới một đụn cát nhỏ “Hay là chúng mình vùi mình trong cát nhỉ?”
“Có người đã thử làm như vậy rồi. Lũ chó sẽ tìm ra chúng mình và xé toạc cổ họng chúng mình ra. Tôi muốn một cái chết nhanh chóng, tôi muốn bọn chúng tìm thấy tôi, rồi tôi bỏ chạy. Như vậy bọn chúng sẽ bắn tôi. Tôi… tôi không muốn đàn chó ấy thộp lấy tôi’.
Jamie nắm chặt lấy cánh tay Banda, “Chúng ta có thể chết nhưng không ngu dại gì mà đi tìm cái chết. Cứ để cho Thần Chết phải vất vả mới làm được nhiệm vụ của nó”.
Họ bắt đầu phân biệt được tiếng nói ở phía xa, “Đi nhanh lên, đồ khốn khiếp lười biếng…”, một tiếng nói thét lên, “Theo tao, đi thẳng nào… Chúng mày đã được ngủ một giấc ngon rồi… Bây giờ là lúc làm việc…”
Mặc dầu những lời lẽ can đảm như vậy, Jamie nhận thấy qua giọng nói hình như anh đang muốn rút lui. Anh quay đầu lại nhìn về phía bể một lần nữa. Phải chăng chết chìm còn dễ dàng hơn? Anh nhìn những tảng đá ngầm xé toang một cách giận dữ các đợt sóng xông đến như quỷ dữ, bỗng đột nhiên anh thấy một cái gì đó ở phía bên kia đợt sóng, anh không hiểu là cái gì. “Banda, xem kìa”
“Nó là “mis” (sương mù ở bể) đấy!”, Banda kêu lên, nó xảy ra mỗi tuần vài ba lần”
Trong khi hai người đang nói chuyện, sương mù kéo lại gần, giống như một bức màn xám giăng tận chân trời, xoá nhoà cả bầu trời.
Lúc này các tiếng nói nghe gần hơn, “Mẹ kiếp, cái sương mù này. Nó làm chậm công việc một lần nữa. Các ông chủ sẽ không thích như vậy…”
“Chúng mình gặp may rồi!”, Jamie nói, lúc này tiếng nói của anh nghe như thì thầm.
“May gì?”
“Sương mù đó! Chúng nó sẽ không thể trông thấy mình”
“Không có lợi ích gì đâu, sương mù sẽ tan ngay bây giờ. Khi nào nó tan, chúng mình sẽ vẫn đứng nguyên tại chỗ. Nếu bọn bảo vệ không đi xuyên qua được bãi mìn thì chúng mình cũng thế. Nếu anh cố vượt qua sa mạc trong sương mù thì không đầy mười thước anh đã bị nổ tung ra từng mảnh rồi. Anh đang cố tìm ra một phép lạ”.
“Đúng như vậy. Tôi đang chờ đợi một phép lạ”, Jamie nói
Trời tối sầm phía trên đầu. Sương mù lúc này lại gần hơn, bao trùm cả mặt bể, sắp sửa nuốt trùm cả bờ bể. Nó cứ lăn về phía hai người, trông có vẻ ma quái, hăm doạ nhưng Jamie cảm thấy hân hoan. Nó sẽ cứu chúng ta.
Một tiếng nói gọi to, “Này, hai đứa kia! Chúng mày đang làm quái quỷ gì ở đây thế?”
Jamie và Banda quay đầu lại, nhìn trên đỉnh một đụn cát, cách đó chừng trăm thước, một tên bảo vệ mặc đồng phục đang đứng, tay cầm một khẩu súng trường. Jamie quay nhìn trở lại bờ bể. Sương mù đang tiến lại gần rất nhanh.
“Hai đứa kia, lại đây!”, tên bảo vệ hét lên, tay đưa khẩu súng lên cao.
Jamie giơ hai tay lên, “Tôi bị trẹo chân”, anh nói to, “Không thể bước tới được”.
“Đứng yên tại đấy”, tên ấy ra lệnh, “Tao sẽ đến bắt chúng mày”. Hắn hạ súng xuống, sắp sửa tiến về phía họ. Nhìn thật nhanh về phía sau, họ thấy sương mù ra đến rìa bờ bể, và tiếp tục tiến vào rất nhanh.
“Chạy!”, Jamie thì thào. Anh quay lại, chạy như bay về phía bãi bể, Banda chạy theo sau.
“Đứng lại!”
Một giây đồng hồ sau, họ nghe thấy một tiếng nổ ròn, cát ở phía trước mặt tung toé. Họ vẫn tiếp tục chạy, chạy thật nhanh để đến gặp bức tường sương mù dày đặc. Lại có một tiếng nữa. Tiếp đó hai người đã đi vào trong bóng tối hoàn toàn. Sương mù đã xâm chiếm lấy họ, khiến họ cảm thấy lạnh lẽo, ngột ngạt. Họ thấy mình như bị vùi trong bông gòn, không còn trông thấy gì nữa.
Lúc này các tiếng nói dường như bị tắc nghẽn, xa vời, dội ra khỏi sương mù từ khắp mọi phía. Họ nghe tiếng gọi nhau.
“Kruger… Brent đây. Có nghe tôi nói không?”
“Tôi nghe, Kruger”
“Chúng nó có hai người”, tiếng nói thứ nhất kêu lên. “Một tên da trắng và một tên da đen. Chúng ở trên bãi biển. Cho người toả ra mọi phía! Cứ bắn đi để giết chết chúng nó!”
“Bám chặt vào người tôi”, Jamie thì thào
Banda nắm lấy vai Jamie, “Anh định đi đâu bây giờ?”
“Ra khỏi nơi này”
Jamie đưa địa bàn lên sát tận mắt. Anh chỉ thấy nó lờ mờ. Anh xoay địa bàn cho đến khi nó chỉ hướng đông, “Đi hướng này…”
“Khoan đã! Chúng mình không bước đi được. Dù không va phải tên bảo vệ nào, chúng mình cũng sẽ đạp phải mìn, làm nó nổ tung lên”.
“Lúc nãy anh nói rằng còn một trăm thước nữa mới tới bãi mìn. Vậy chúng ta phải rời bãi biển này ngay”
Hai người bắt đầu di chuyển về phía sa mạc, chậm rãi và đều đặn, như hai kẻ mù trong một vùng đất không hề biết. Jamie dùng bước chân để đo khoảng cách. Mỗi khi lỡ ngã xuống cát mềm, họ cố đứng dậy rồi tiếp tục đi. Đi được mấy bước, Jamie dừng lại dò địa bàn. Khi anh ước chừng đã đi được một trăm mét, anh dừng lại.
“Có lẽ bãi mìn bắt đầu từ chỗ này. Bọn chúng có đặt mìn theo một mô thức nào đó không? Anh có thể nghĩ ra một cách nào đó có thể giúp chúng ta được không?”
“Chỉ có cầu nguyện thôi”, Banda nói, chưa từng có ai lọt qua bãi mìn này cả, Jamie ạ. Mìn rải rác khắp mọi nơi, vùi dưới đất đến mười lăm phân. Chúng mình sẽ phải ở lại đây cho tới lúc tan sương mù rồi đầu hàng bọn chúng thôi”.
Jamie lắng nghe những tiếng nói như bị trùm trong bông gòn dội lại xung quanh hai người
“Kruger! Cứ tiếp xúc với nhau bằng tiếng nói nhé…”
“Đúng vậy, Brent…”
“Kruger…”
“Brent…”
Những tiếng nói như tách rời thể xác kêu gọi nhau qua sương mù tối như bưng. Trí óc Jamie hoạt động dữ dội, cố tìm ra mọi khả năng trốn thoát. Nếu dừng tại chỗ, họ sẽ bị giết tức khắc, ngay lúc bức màn sương mù kéo lên. Nếu cố gắng đi qua bãi mìn, họ sẽ bị nổ tan như xác pháo”
“Anh có thấy các bãi mìn ấy chưa?” Jamie thì thầm
“Tôi có giúp bọn chúng chôn một ít”
“Cái gì có thể làm chúng bật ngòi?”
“Trọng lượng của một người. Bất cứ thứ gì nặng trên bốn mươi ký có thể làm chúng nổ tung lên. Vì vậy chúng không giết các con chó”
Jamie thở mạnh một cái, “Banda, tôi có cách thoát khỏi nơi này. Có thể nó không có hiệu quả. Nhưng anh có dám chơi trò may rủi với tôi không?”
“”Lạy chúa tôi!”
“Anh đang nghĩ gì vậy?”
“Tôi nghĩ rằng mình có điên mới rời khỏi Capetown”
“Anh chịu theo tôi chứ?”, anh chỉ nhận ra lờ mờ khuôn mặt của Banda bên cạnh anh.
“Anh làm cho tôi không có bao nhiêu sự lựa chọn nữa, anh bạn ạ”
“Vậy thì chúng ta bắt đầu”
Jamie cẩn thận duỗi dài người ra nằm sát trên cát. Banda nhìn anh một lát, thở mạnh một cái rồi làm theo. Chậm rãi, hai người bắt đầu bò trên cát, hướng về phía bãi mìn”.
Jamie thì thầm căn dặn, “Khi cử động, nhớ đừng có tì mạnh tay và chân xuống cát nhé. Dùng toàn thể thân hình”.
Không có tiếng đáp lại. Banda đang tập trung mọi suy nghĩ làm thế nào để được sống còn.
Một khoảng chân không phủ kín màu xám làm họ không thể trông thấy được gì. Bất cứ lúc nào, họ cũng có thể va phải tên bảo vệ, một con chó hay một quả mìn. Jamie cố gạt tất cả thứ này ra khỏi đầu óc. Họ tiến đến rất chậm và đau đớn. Cả hai không mặc áo sơ mi, cát cào lên bụng trong khi họ cố nhích lên từng gang tấc. Jamie biết rằng hai người đang ở trong cảnh ngộ vô cùng bất lợi. Dù họ có vượt qua được sa mạc mà không bị bắn hoặc bom nổ tung từng mảnh, họ cũng sẽ bị ngăn chặn bởi hàng rào thép gai và những toán bảo vệ tháp canh ở chỗ ra vào. Không biết bao giờ sương mù mới tan. Nó có thể tan ra bất cứ lúc nào và họ sẽ bị lộ.
Họ vẫn tiếp tục bò, trườn người lên phía trước và không cần suy nghĩ gì nữa và quên hẳn thời gian. Từng phân trở thành từng tấc, rồi từng tấc trở thành từng thước, từng thước trở thành từng dặm. Họ không biết họ đã đi được bao xa, đầu cúi xuống đất, mắt, múi và tai dính đầy cát. Thở là một cố gắng khó nhọc.
Xa xa, tiếng nói của bọn bảo vệ vẫn vang lên đều đều, “Kruger, Brent… Kruger, Brent…”
Hai người dừng lại để nghỉ và cứ ít phút lại dò lại địa bàn, rồi tiếp tục tiến lên, lại tiếp tục bò, tưởng chừng như vô tận. Họ có khuynh hướng mãnh liệt muốn bò nhanh hơn thế nữa nhưng như vậy có nghĩa là phải tì mạnh xuống cát. Jamie tưởng tượng những mảnh kim khí nổ tung dưới người anh, xé toang cả bụng, anh bò chậm lại. Thỉnh thoảng lại nghe những tiếng khác xung quanh, những lời lẽ bị tắc nghẽn trong sương mù, không còn biết chúng từ đâu đến. Đó là một bãi sa mạc rất rộng, Jamie nghĩ thầm, trong lòng tràn đầy hy vọng. Mình sẽ không bị một người nào bắt gặp nữa.
Không biết từ nơi nào,một hình thù to lớn, lông lá nhảy chồm lên người anh. Nó xảy ra rất nhanh đến nỗi Jamie không kịp đề phòng. Anh cảm thấy hàm răng sắc nhọn của con chó giống Alsatian cắm sâu vào tay anh. Anh thả gói kim cương xuống, cố nạy hàm răng con chó cho nó mở rộng ra nhưng vì chỉ có một tay còn rảnh rang nên không thể làm thế được. Răng con chó lại cắm sâu hơn nữa, yên lặng, gây chết người. Jamie cảm thấy mình bắt đầu xỉu. Bỗng anh nghe thấy một tiếng thịch rồi tiếp theo một tiếng nữa, hàm răng con chó nhả ra, mắt nó mờ đi. Qua làn sương mù đau đớn, Jamie thấy Banda nện cả túi kim cương lên đầu con chó. Nó rên rỉ một lần rồi nằm yên.
“Anh không việc gì chứ?”, Banda thì thào với vẻ lo lắng.
Jamie không thốt được ra lời. Anh nằm im một lát, đợi cơn đau lui bớt. Banda xé một mảnh vải quần buộc chặt xung quanh cánh tay của Jamie để ngăn máu chảy.
“Chúng mình phải tiếp tục đi lên”, Banda nói, “Nếu có một con chó ở xung quanh đây thì chắc còn có nhiều con khác nữa”.
Jamie gật đầu. Chậm rãi, anh trườn về phía trước, chống lại những cơn đau nhói khủng khiếp ở cánh tay.
Anh không nhớ gì nữa về quãng đường còn lại. Anh nửa mê nửa tỉnh, giống như người máy. Một cái gì đó ở bên ngoài anh điều khiển các cử động. Các cánh tay đưa ra phía trước, kéo… Tay đưa ra trước, kéo… Tay đưa ra trước, kéo… Cơn đau kéo dài tưởng chừng vô tận. Lúc này Banda làm nhiệm vụ theo dõi địa bàn. Mỗi khi Jamie đi chệch hướng, Banda lại nhẹ nhàng xoay người anh lại. Xung quanh họ là bọn bảo vệ, chó săn, mìn; chỉ có sương mù bảo vệ họ an toàn. Họ vẫn tiếp tục bò lên để cứu lấy mạng sống, cho đến khi cả hai không còn sức để tiến thêm một chút nào nữa.
Họ lăn ra ngủ.
Khi Jamie mở mắt ra, anh thấy một cái gì đó đã thay đổi. Anh nằm trên cát, cố nhớ lại mình đang ở đâu. Anh trông thấy Banda đang ngủ cách đó cách đó chừng hai thước. Ký ức trở lại với anh dồn dập. Chiếc bè vỡ toang trên các mỏm đá ngầm, sương mù. Nhưng có một cái gì đó không hay vừa xảy ra. Anh chưa biết nó là cái gì. Dạ dày anh bỗng thắt lại. Anh thấy được Banda! Cái không hay chính là ở chỗ đấy. Sương mù đã tan rồi. Nhiều tiêng nói nổi lên gần đấy. Anh cố nhìn qua lớp sương mù đang tan dần. Hai người đã bò đến gần cổng ra vào mỏ kim cương. Ở đó có một cái tháp cao và hàng rào dây kẽm gai đúng như Banda đã nói. Một đám đông chừng sáu mươi người da đen đang ra khỏi bãi kim cương tiến về phía cổng. Họ đã làm xong ca và một nhóm khác đang đi vào. Jamie nhổm dậy, bò đến gần Banda và lay anh ta dậy. Banda ngồi dậy, lập tức tỉnh ngủ, anh đưa mắt về phía tháp canh và chiếc cổng ra vào.
“Mẹ kiếp! chúng mình có lẽ đã thành công rồi”, anh nói có vẻ như chưa tin hẳn.
“Chúng mình thành công thật rồi mà. Anh đưa kim cương đây cho tôi cầm”.
Banda đưa cho anh mảnh sơ mi gấp lại, “Anh định làm gì?”
“Cứ theo tôi”
“Bọn bảo vệ có súng đang đứng ở cổng”, Banda nói khe khẽ, “Chúng nó biết mình không phải là người ở đây”.
“Chính tôi đang trông chờ vào chuyện ấy đấy”, Jamie nói
Hai người tiến về phía những tên bảo vệ, len lỏi giữa những công nhân đang rời đi và sắp đến. Họ gọi nhau ơi ới, trao đổi cho nhau những tiếng huýt sáo vui vẻ.
“Chúng mày sắp sửa phải làm việc chết xác đó! Bọn tao vừa mới ngủ được một giấc thật ngon trong sương mù”
“Chúng mày làm thế nào mà rơi vào đúng chỗ sương mù ấy hả những thằng may mắn kia?”
“Chúa nghe lời chúng tao chứ không nghe lời chúng mày đâu. Chúng mày là những kẻ xấu”
Jamie và Banda đi đến cổng ra vào. Hai tên canh gác to lớn đứng ở bên trong dòm tất cả những người công nhân vừa đi ra vào một căn chòi bằng thiếc nhỏ, ở đó họ sẽ được lục soát kỹ càng. Chúng lột trần họ ra rồi rà soát từ trên xúông dưới, tất cả mọi lỗ trên thân hình. Jamie nắm chặt hơn nữa cái áo sơ mi rách tả tơi trong tay. Anh xô đẩy đi qua bãi công nhân và bước thẳng đến những tên bảo vệ, “Xin lỗi ông”, Jamie nói, “Tôi cần phải hỏi ai để xin một việc làm ở đây?”
Banda nhìn anh sợ chết điếng.
Tên bảo vệ quay lại nhìn Jamie, “Mày làm cái quỷ quái gì bên trong hàng rào này?”
“Chúng tôi đến đây xin việc. Tôi nghe nói ở đây có một chân bảo vệ còn trống. Tên đầy tớ của tôi đây cũng biết đào. Tôi nghĩ…”
Tên bảo vệ nhìn hai hình thù có vẻ bất hảo, ăn mặc rách rưới rồi hét lên, “Đi ra ngoài kia!”
“Chúng tôi không muốn ra”, Jamie ra vẻ phản đối, “Chúng tôi cần việc làm, người ta bảo với chúng tôi rằng…”
“Đây là khu vực cấm anh bạn ạ. Anh không thấy tấm biển hay sao? Thôi cút ngay đi, cả hai đứa bay!”, hắn chỉ một chiếc xe bò lớn đậu ở ngoài hàng rào, chở đầy công nhân vừa làm xong ca. “Chiếc xe bò ấy sẽ chở chúng mày đến Port Nolloth. Nếu muốn có việc làm, chúng mày phải xin ở văn phòng của Công ty ở đấy”.
“À, ra thế, xin cảm ơn ông rất nhiều”, Jamie nói. Anh ngoắc tay gọi Banda, cả hai cùng đi ngang qua công, trở về đời sống tự do.
Tên bảo vệ nhìn theo họ với cặp mắt giận dữ, “Thật là đồ ngu xuẩn!”
Mười phút sau, Jamie và Banda đã lên đường đi Port Nolloth. Họ mang theo số kim cương trị giá nửa triệu bảng Anh.
0
«« « 1 2 3 » »»