MƯỜI NGƯỜI DA ĐỎ
E. HEMINGWAY
LỜI GIỚI THIỆU CỦA DỊCH GỈA :
E.Hemingway (1899-1961), nhà văn Mỹ, có cuộc đời đầy phiêu lưu và biến động, kể cả việc trải qua bốn cuộc hôn nhân.
Tốt nghiệp trung học năm 1917, ông làm phóng viên rồi tài xế xe cứu thương trong Thế chiến thứ nhất, và sống ở châu Âu sau chiến tranh. Năm 1925 (26 tuổi) ông xuất bản tập truyện đầu tay (In Our Time - Trong thời đại chúng ta). Tiểu thuyết đầu tiên (The Sun Also Rises - Mặt trời vẫn mọc) được phát hành một năm sau đó với thành công rực rỡ.
Ông được coi là bậc thầy truyện ngắn với hàng loạt truyện và tuyển tập, nhưng theo nhiều nhà phê bình, tiểu thuyết A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí) mới là tác phẩm lớn, che khuất những sáng tác khác của ông. Ông du lịch sang Tây Ban Nha và kẹt ở đó trong cuộc nội chiến (1936-1939). Những năm tháng này được tái hiện trong nhiều truyện ngắn của ông, và nhất là tiểu thuyết For Whom the Bell Tolls (1940; Chuông nguyện hồn ai), cuốn sách bán chạy nhất của ông lúc sinh thời.
Trong thế chiến thứ hai, ông phục vụ trong đội tuần tra chống tàu ngầm ở vùng biển Cuba, rồi làm phóng viên chiến trường ở châu Âu. Sau thế chiến, ông về sống ở Cuba. Năm 1953, ông đoạt giải Pulitzer văn học với cuốn The Old Man and the Sea (xuất bản 1952; Ông già và biển cả) và năm sau, 1954, ông được trao giải Nobel văn chương. Năm 1960, cách mạng Cuba thành công, ông trở về Mỹ rồi tự sát ngày 2/7/1961 tại nhà riêng ở Ketchum, bang Idaho, để lại rất nhiều bản thảo mà cho đến nay vẫn chưa được san định và xuất bản hết. Phần lớn văn nghiệp đồ sộ của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Truyện ngắn Mười người da đỏ dưới đây được xuất bản lần đầu trong tập The Fifth Column and the First Forty-Nine Stories (1927, Kẻ nội thù và Bốn mươi chín truyện ngắn đầy tiên).
Sau cuộc lễ 4 tháng bảy, Nick từ thành phố trở về khá trễ trên cỗ xe lớn cùng Joe Garner và gia đình ông ta, dọc đường, họ gặp đến chín người da đỏ say rượu bí tỉ. Anh nhớ là có đến chín người vì Joe Garner, đánh xe trong bóng tối chập choạng, đã phải dừng ngựa, nhảy xuống đường để lôi một anh da đỏ ra khỏi lối mòn bánh xe chạy. Anh da đỏ ấy đã ngủ, mặt sấp xuống cát. Joe lôi anh ta vào bụi cây rồi leo lên xe.
“Vậy là chín đứa cả thảy”, ông Joe nói, “ấy là mới từ thành phố tới đây thôi đó”.
“Bọn da đỏ chúng nó…”, bà Garner nói.
Nick ngồi ở phía sau với hai con trai nhà Garner. Anh đang ngoái nhìn ra sau để thấy anh da đỏ nằm bên đường, chỗ ông Joe đã kéo anh ta vào.
“Phải Billy Tabeshaw không?”, Carl hỏi.
“Không phải.”
“Coi cái quần thấy giống Billy lắm mà.”
“Tụi da đỏ thì mặc độc một kiểu quần.”
“Em thì chẳng kịp thấy gì cả,” Frank nói, “Ba nhảy xuống rồi lên liền em đâu có kịp nhìn, em tưởng ba xuống giết một con rắn chứ.”
“Tối nay chắc có cả đống thằng da đỏ làm thịt rắn”, Joe Garner nói.
“Bọn da đỏ chúng nó”, bà Garner nói.
Họ cứ đi. Con đường tách khỏi lộ lớn và chạy lên vùng đồi. Bọn ngựa kéo rất mệt nên mấy cậu trai nhảy xuống đi bộ. Con đường lầy cát. Đến chỗ trường học trên đỉnh đồi, Nick ngoảnh nhìn xuống. Anh thấy những ngọn đèn của khu Petoskey, xa xa bên kia vịnh Little Traverse là ánh sáng của cảng Springs. Cả bọn lại lên xe.
“Đúng ra người ta phải rải ít đá cho khúc đường này", ông Joe Garner nói. Cỗ xe tiếp tục theo con đường chạy qua rừng cây. Joe và bà Garner ngồi sát vào nhau ở băng ghế trước. Nick ngồi giữa hai cậu trai. Con đường tới một quãng rừng thưa.
“Ngay chỗ này hồi trước ba cán trúng một con chồn hôi.”
“Đâu phải chỗ này, ở đàng kia kìa.”
“Cán trúng một con chồn thì chỗ này hay chỗ kia cũng vậy thôi”, ông Joe nói mà không ngoảnh lại.
“Tối qua tôi thấy hai con”, Nick nói.
“Ở đâu?”
“Đằng hồ. Tụi nó đi tìm xác cá dọc bờ.”
“Không chừng đó là gấu đuôi chồn đó”, Carl nói.
“Chồn hôi mà. Tôi biết con chồn chứ.”
“Anh phải biết thôi”, Carl nói. “Anh có cô bồ da đỏ mà.”
“Đừng ăn nói kiểu đó, Carl”, bà Garner nạt.
“Ồ, tụi nó cùng một mùi mà.”
Ông Joe bật cười.
“Đừng có cười, Joe”, bà Garner nói. “Tôi không thích thằng Carl ăn nói kiểu đó.”
“Cậu có cô bồ da đỏ hả, Nick?”, ông Joe hỏi.
“Đâu có.”
“Ảnh có đó ba,” Frank nói. “Bồ ảnh là Prudence Mitchell.”
“Đâu có phải.”
“Ngày nào ảnh cũng tới thăm cô đó.”
“Đâu có”, Nick ngồi giữa hai cậu trai trong bóng tối, thấy lòng nôn nao và sung sướng khi bị chọc ghẹo về chuyện Prudence Mitchell. “Cô đó đâu phải bồ tôi”, anh nói.
“Nghe ảnh nói kìa”, Carl tiếp. “Ngày nào con cũng gặp hai người với nhau.”
“Còn mày thì chẳng có được cô nào”, mẹ Carl nói, “dù là da đỏ.”
Carl nín thinh.
“Anh Carl đâu biết tán gái”, Frank nói.
“Mày im đi.”
“Không sao đâu,” ông Joe nói, "mấy cô đâu phải chỗ nào cũng có bồ được. Coi ba mày đây nè”.
“Phải, nói vậy nghe được đó”, bà Garner xích sát lại ông Joe khi xe dằn. “Chắc hồi đó ông có cả đống bồ bịch.”
“Con thì chắc ba không đời nào có bồ da đỏ.”
“Cậu đừng nghĩ như nó, Nick à”, Joe nói. “Ráng giữ lấy Prudie thì hơn.”
Bà vợ thì thầm gì đó với ông và ông cười phá lên.
“Ba cười gì đó?”, Frank hỏi.
“Đừng nói, ông Garner”, bà vợ cảnh cáo. Ông Joe lại cười.
“Nick có cô Prudence được đó”, Joe Garner tiếp. “Còn tôi đã có một bà tốt lắm rồi.”
“Nói vậy phải nghe được không”, bà Garner nói.
Bọn ngựa kéo xe nặng nhọc trên mặt cát. Ông Joe vút ngọn roi trong bóng đêm.
“Nào ráng lên chú mày. Mai còn kéo cực khổ hơn nhiều.”
Ngựa phóng nhanh xuống đồi, cỗ xe dằn xóc. Đến ngôi trại, mọi người xuống xe. Bà Garner mở cửa, vào trong rồi xách cây đèn trở ra. Carl và Nick chất đồ trên xe xuống. Frank ngồi đàng trước đánh xe vào nhà kho và tháo ngựa ra. Nick bước lên thềm mở cửa nhà bếp. Bà Garner đang nhen lửa. Bà rưới dầu vào củi rồi quay ra.
“Tôi về, bà Garner ạ”, Nick nói. “Cám ơn bà đã cho quá giang.”
“Ồ, có gì đâu, Nick.”
“Hôm nay thật vui.”
“Chúng tôi cũng thích đi với anh. Sao không ở lại ăn tối?”
“Tôi phải về thôi. Chắc ba tôi đang đợi.”
“Thôi được, anh về nhé. Nhắn thằng Carl lên đây giùm tôi được không?”
“Dạ.”
“Ngủ ngon, Nickie.”
“Chúc bà ngủ ngon.”
Nick bước ra sân, đi về phía nhà kho. Ông Joe và Frank đang vắt sữa.
“Chúc ngủ ngon”, Nick nói. “Hôm nay thật tuyệt.”
“Ngủ ngon nhé, Nick”, ông Joe kêu. “Không ở ăn tối hả?”
“Không được, ông ạ. Ông biểu Carl lên mẹ nó kêu nghe.”
“Được rồi, ngủ ngon nghe, Nickie.”
Nick đi chân trần theo lối mòn qua đồng cỏ phía dưới nhà kho. Lối đi êm và sương đẫm lạnh dưới chân anh. Anh leo qua hàng rào cuối đồng cỏ, xuống một khe suối, lội chân dưới bùn rồi lần ngược lên qua đám rừng sồi cho đến khi thấy ánh đèn của căn nhà gỗ. Anh leo qua rào rồi đi vòng ra trước. Qua cửa sổ, anh thấy ba anh ngồi ở bàn đọc cái gì đó bên cây đèn lớn. Nick mở cửa bước vào.
“À, Nickie”, ba anh hỏi. “Hôm nay vui không?”
“Đã lắm, ba à. Một ngày quốc khánh đã đời.”
“Con đói không?”
“Đói là cái chắc rồi.”
“Giày của con đâu rồi?”
“Con bỏ lại trên xe nhà Garner.”
“Vô bếp đi.”
Ba anh cầm đèn đi trước. Ông dừng lại mở nắp thùng nước đá. Nick đi luôn vào bếp. Ba anh mang ra một miếng gà ướp lạnh trên cái đĩa, một bình sữa và đặt chúng lên bàn trước mặt Nick. Ông để cây đèn xuống.
“Còn ít bánh nướng nữa, thế này đủ chưa?”
“Tốt lắm rồi ba à.”
Ba anh ngồi xuống chiếc ghế bên cái bàn phủ vải dầu. Bóng ông to đùng trên vách căn bếp.
“Trận cầu bên nào thắng?”
“Đội Petoskey. Tỉ số năm-ba.”
Ba anh ngồi nhìn anh ăn, rót cho anh một ly sữa. Nick uống và lấy khăn lau miệng. Ba anh thò tay lên kệ lấy bánh. Ông cắt cho Nick một miếng lớn.
“Cả ngày ba làm gì?”
“Sáng ba đi câu.”
“Câu được gì ba?”
“Toàn cá giổ.”
Ông ngồi nhìn Nick ăn miếng bánh.
“Còn chiều ba làm gì?”, Nick hỏi.
“Ba đi dạo trên khu trại người da đỏ.”
“Ba gặp ai không?”
“Tụi da đỏ xuống phố nhậu nhẹt hết.”
“Vậy ba không gặp ai hết trơn à?”
“Có gặp cô bạn của con đó, Prudie.”
“Ở đâu?”
“Trong rừng với thằng Frank Washburn. Tình cờ ba thấy. Tụi nó tha hồ với nhau.”
Ba anh không nhìn anh.
“Tụi nó làm gì?”
“Ba đâu có ở đó mà rình.”
“Ba cứ nói con nghe tụi nó làm gì đi.”
“Ba đâu có biết”, ba anh đáp. “Ba chỉ nghe tụi nó hú hí với nhau.”
“Sao ba biết là tụi nó?”
“Ba thấy mà.”
“Con tưởng hồi nãy ba nói ba không thấy.”
“Ba thấy chứ.”
“Cô ấy chơi với ai?”, Nick hỏi.
“Frank Washburn.”
“Tụi nó có… tụi nó có…”
“Tụi nó làm sao?”
“Tụi nó coi bộ vui lắm không?”
“Ba chắc có.”
Ba anh đứng dậy đi ra khỏi bếp. Khi ông trở lại thì Nick đang nhìn đăm đăm vào cái đĩa. Nãy giờ anh đã khóc.
“Ăn bánh nữa nghe?”, ba anh cầm dao lên để cắt bánh.
“Thôi ba”, Nick nói.
“Ráng ăn thêm miếng nữa đi.”
“Thôi. Con không muốn ăn nữa.”
Ba anh dọn bàn.
“Trong rừng tụi nó ở chỗ nào?”, Nick hỏi.
“Phía sau trại”, Nick cứ nhìn vào đĩa, ba anh tiếp. “Thôi con đi ngủ đi.”
“Dạ.”
Nick đi về phòng riêng, thay đồ và lên giường. Anh nghe tiếng ba anh đi loanh quanh trong phòng khách. Nick nằm trên giường úp mặt vào gối.
“Tim mình nát tan rồi”, anh nghĩ. “Nếu cứ như vầy thì tim mình chắc vỡ ra mất.”
Một lúc sau, anh nghe ba anh thổi đèn và vào phòng ngủ của ông. Anh nghe gió lùa qua đám cây bên ngoài và cảm thấy nó luồn qua cửa lành lạnh. Anh cứ nằm úp xuống gối mãi như thế, rồi lát sau anh không còn nghĩ về Prudence nữa và sau cùng anh thiếp đi. Nửa đêm anh chợt thức, nghe tiếng gió trong đám cây thông bên ngoài nhà và tiếng sóng lùa vào bờ hồ. Sớm hôm sau, gió thổi mạnh và sóng xô rất sâu vào bờ, còn anh thức giấc một lúc lâu sau rồi mới nhớ ra rằng trái tim mình đã tan nát.
PHẠM VIÊM PHƯƠNG dịch
E. HEMINGWAY
LỜI GIỚI THIỆU CỦA DỊCH GỈA :
E.Hemingway (1899-1961), nhà văn Mỹ, có cuộc đời đầy phiêu lưu và biến động, kể cả việc trải qua bốn cuộc hôn nhân.
Tốt nghiệp trung học năm 1917, ông làm phóng viên rồi tài xế xe cứu thương trong Thế chiến thứ nhất, và sống ở châu Âu sau chiến tranh. Năm 1925 (26 tuổi) ông xuất bản tập truyện đầu tay (In Our Time - Trong thời đại chúng ta). Tiểu thuyết đầu tiên (The Sun Also Rises - Mặt trời vẫn mọc) được phát hành một năm sau đó với thành công rực rỡ.
Ông được coi là bậc thầy truyện ngắn với hàng loạt truyện và tuyển tập, nhưng theo nhiều nhà phê bình, tiểu thuyết A Farewell to Arms (Giã từ vũ khí) mới là tác phẩm lớn, che khuất những sáng tác khác của ông. Ông du lịch sang Tây Ban Nha và kẹt ở đó trong cuộc nội chiến (1936-1939). Những năm tháng này được tái hiện trong nhiều truyện ngắn của ông, và nhất là tiểu thuyết For Whom the Bell Tolls (1940; Chuông nguyện hồn ai), cuốn sách bán chạy nhất của ông lúc sinh thời.
Trong thế chiến thứ hai, ông phục vụ trong đội tuần tra chống tàu ngầm ở vùng biển Cuba, rồi làm phóng viên chiến trường ở châu Âu. Sau thế chiến, ông về sống ở Cuba. Năm 1953, ông đoạt giải Pulitzer văn học với cuốn The Old Man and the Sea (xuất bản 1952; Ông già và biển cả) và năm sau, 1954, ông được trao giải Nobel văn chương. Năm 1960, cách mạng Cuba thành công, ông trở về Mỹ rồi tự sát ngày 2/7/1961 tại nhà riêng ở Ketchum, bang Idaho, để lại rất nhiều bản thảo mà cho đến nay vẫn chưa được san định và xuất bản hết. Phần lớn văn nghiệp đồ sộ của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Truyện ngắn Mười người da đỏ dưới đây được xuất bản lần đầu trong tập The Fifth Column and the First Forty-Nine Stories (1927, Kẻ nội thù và Bốn mươi chín truyện ngắn đầy tiên).
Sau cuộc lễ 4 tháng bảy, Nick từ thành phố trở về khá trễ trên cỗ xe lớn cùng Joe Garner và gia đình ông ta, dọc đường, họ gặp đến chín người da đỏ say rượu bí tỉ. Anh nhớ là có đến chín người vì Joe Garner, đánh xe trong bóng tối chập choạng, đã phải dừng ngựa, nhảy xuống đường để lôi một anh da đỏ ra khỏi lối mòn bánh xe chạy. Anh da đỏ ấy đã ngủ, mặt sấp xuống cát. Joe lôi anh ta vào bụi cây rồi leo lên xe.
“Vậy là chín đứa cả thảy”, ông Joe nói, “ấy là mới từ thành phố tới đây thôi đó”.
“Bọn da đỏ chúng nó…”, bà Garner nói.
Nick ngồi ở phía sau với hai con trai nhà Garner. Anh đang ngoái nhìn ra sau để thấy anh da đỏ nằm bên đường, chỗ ông Joe đã kéo anh ta vào.
“Phải Billy Tabeshaw không?”, Carl hỏi.
“Không phải.”
“Coi cái quần thấy giống Billy lắm mà.”
“Tụi da đỏ thì mặc độc một kiểu quần.”
“Em thì chẳng kịp thấy gì cả,” Frank nói, “Ba nhảy xuống rồi lên liền em đâu có kịp nhìn, em tưởng ba xuống giết một con rắn chứ.”
“Tối nay chắc có cả đống thằng da đỏ làm thịt rắn”, Joe Garner nói.
“Bọn da đỏ chúng nó”, bà Garner nói.
Họ cứ đi. Con đường tách khỏi lộ lớn và chạy lên vùng đồi. Bọn ngựa kéo rất mệt nên mấy cậu trai nhảy xuống đi bộ. Con đường lầy cát. Đến chỗ trường học trên đỉnh đồi, Nick ngoảnh nhìn xuống. Anh thấy những ngọn đèn của khu Petoskey, xa xa bên kia vịnh Little Traverse là ánh sáng của cảng Springs. Cả bọn lại lên xe.
“Đúng ra người ta phải rải ít đá cho khúc đường này", ông Joe Garner nói. Cỗ xe tiếp tục theo con đường chạy qua rừng cây. Joe và bà Garner ngồi sát vào nhau ở băng ghế trước. Nick ngồi giữa hai cậu trai. Con đường tới một quãng rừng thưa.
“Ngay chỗ này hồi trước ba cán trúng một con chồn hôi.”
“Đâu phải chỗ này, ở đàng kia kìa.”
“Cán trúng một con chồn thì chỗ này hay chỗ kia cũng vậy thôi”, ông Joe nói mà không ngoảnh lại.
“Tối qua tôi thấy hai con”, Nick nói.
“Ở đâu?”
“Đằng hồ. Tụi nó đi tìm xác cá dọc bờ.”
“Không chừng đó là gấu đuôi chồn đó”, Carl nói.
“Chồn hôi mà. Tôi biết con chồn chứ.”
“Anh phải biết thôi”, Carl nói. “Anh có cô bồ da đỏ mà.”
“Đừng ăn nói kiểu đó, Carl”, bà Garner nạt.
“Ồ, tụi nó cùng một mùi mà.”
Ông Joe bật cười.
“Đừng có cười, Joe”, bà Garner nói. “Tôi không thích thằng Carl ăn nói kiểu đó.”
“Cậu có cô bồ da đỏ hả, Nick?”, ông Joe hỏi.
“Đâu có.”
“Ảnh có đó ba,” Frank nói. “Bồ ảnh là Prudence Mitchell.”
“Đâu có phải.”
“Ngày nào ảnh cũng tới thăm cô đó.”
“Đâu có”, Nick ngồi giữa hai cậu trai trong bóng tối, thấy lòng nôn nao và sung sướng khi bị chọc ghẹo về chuyện Prudence Mitchell. “Cô đó đâu phải bồ tôi”, anh nói.
“Nghe ảnh nói kìa”, Carl tiếp. “Ngày nào con cũng gặp hai người với nhau.”
“Còn mày thì chẳng có được cô nào”, mẹ Carl nói, “dù là da đỏ.”
Carl nín thinh.
“Anh Carl đâu biết tán gái”, Frank nói.
“Mày im đi.”
“Không sao đâu,” ông Joe nói, "mấy cô đâu phải chỗ nào cũng có bồ được. Coi ba mày đây nè”.
“Phải, nói vậy nghe được đó”, bà Garner xích sát lại ông Joe khi xe dằn. “Chắc hồi đó ông có cả đống bồ bịch.”
“Con thì chắc ba không đời nào có bồ da đỏ.”
“Cậu đừng nghĩ như nó, Nick à”, Joe nói. “Ráng giữ lấy Prudie thì hơn.”
Bà vợ thì thầm gì đó với ông và ông cười phá lên.
“Ba cười gì đó?”, Frank hỏi.
“Đừng nói, ông Garner”, bà vợ cảnh cáo. Ông Joe lại cười.
“Nick có cô Prudence được đó”, Joe Garner tiếp. “Còn tôi đã có một bà tốt lắm rồi.”
“Nói vậy phải nghe được không”, bà Garner nói.
Bọn ngựa kéo xe nặng nhọc trên mặt cát. Ông Joe vút ngọn roi trong bóng đêm.
“Nào ráng lên chú mày. Mai còn kéo cực khổ hơn nhiều.”
Ngựa phóng nhanh xuống đồi, cỗ xe dằn xóc. Đến ngôi trại, mọi người xuống xe. Bà Garner mở cửa, vào trong rồi xách cây đèn trở ra. Carl và Nick chất đồ trên xe xuống. Frank ngồi đàng trước đánh xe vào nhà kho và tháo ngựa ra. Nick bước lên thềm mở cửa nhà bếp. Bà Garner đang nhen lửa. Bà rưới dầu vào củi rồi quay ra.
“Tôi về, bà Garner ạ”, Nick nói. “Cám ơn bà đã cho quá giang.”
“Ồ, có gì đâu, Nick.”
“Hôm nay thật vui.”
“Chúng tôi cũng thích đi với anh. Sao không ở lại ăn tối?”
“Tôi phải về thôi. Chắc ba tôi đang đợi.”
“Thôi được, anh về nhé. Nhắn thằng Carl lên đây giùm tôi được không?”
“Dạ.”
“Ngủ ngon, Nickie.”
“Chúc bà ngủ ngon.”
Nick bước ra sân, đi về phía nhà kho. Ông Joe và Frank đang vắt sữa.
“Chúc ngủ ngon”, Nick nói. “Hôm nay thật tuyệt.”
“Ngủ ngon nhé, Nick”, ông Joe kêu. “Không ở ăn tối hả?”
“Không được, ông ạ. Ông biểu Carl lên mẹ nó kêu nghe.”
“Được rồi, ngủ ngon nghe, Nickie.”
Nick đi chân trần theo lối mòn qua đồng cỏ phía dưới nhà kho. Lối đi êm và sương đẫm lạnh dưới chân anh. Anh leo qua hàng rào cuối đồng cỏ, xuống một khe suối, lội chân dưới bùn rồi lần ngược lên qua đám rừng sồi cho đến khi thấy ánh đèn của căn nhà gỗ. Anh leo qua rào rồi đi vòng ra trước. Qua cửa sổ, anh thấy ba anh ngồi ở bàn đọc cái gì đó bên cây đèn lớn. Nick mở cửa bước vào.
“À, Nickie”, ba anh hỏi. “Hôm nay vui không?”
“Đã lắm, ba à. Một ngày quốc khánh đã đời.”
“Con đói không?”
“Đói là cái chắc rồi.”
“Giày của con đâu rồi?”
“Con bỏ lại trên xe nhà Garner.”
“Vô bếp đi.”
Ba anh cầm đèn đi trước. Ông dừng lại mở nắp thùng nước đá. Nick đi luôn vào bếp. Ba anh mang ra một miếng gà ướp lạnh trên cái đĩa, một bình sữa và đặt chúng lên bàn trước mặt Nick. Ông để cây đèn xuống.
“Còn ít bánh nướng nữa, thế này đủ chưa?”
“Tốt lắm rồi ba à.”
Ba anh ngồi xuống chiếc ghế bên cái bàn phủ vải dầu. Bóng ông to đùng trên vách căn bếp.
“Trận cầu bên nào thắng?”
“Đội Petoskey. Tỉ số năm-ba.”
Ba anh ngồi nhìn anh ăn, rót cho anh một ly sữa. Nick uống và lấy khăn lau miệng. Ba anh thò tay lên kệ lấy bánh. Ông cắt cho Nick một miếng lớn.
“Cả ngày ba làm gì?”
“Sáng ba đi câu.”
“Câu được gì ba?”
“Toàn cá giổ.”
Ông ngồi nhìn Nick ăn miếng bánh.
“Còn chiều ba làm gì?”, Nick hỏi.
“Ba đi dạo trên khu trại người da đỏ.”
“Ba gặp ai không?”
“Tụi da đỏ xuống phố nhậu nhẹt hết.”
“Vậy ba không gặp ai hết trơn à?”
“Có gặp cô bạn của con đó, Prudie.”
“Ở đâu?”
“Trong rừng với thằng Frank Washburn. Tình cờ ba thấy. Tụi nó tha hồ với nhau.”
Ba anh không nhìn anh.
“Tụi nó làm gì?”
“Ba đâu có ở đó mà rình.”
“Ba cứ nói con nghe tụi nó làm gì đi.”
“Ba đâu có biết”, ba anh đáp. “Ba chỉ nghe tụi nó hú hí với nhau.”
“Sao ba biết là tụi nó?”
“Ba thấy mà.”
“Con tưởng hồi nãy ba nói ba không thấy.”
“Ba thấy chứ.”
“Cô ấy chơi với ai?”, Nick hỏi.
“Frank Washburn.”
“Tụi nó có… tụi nó có…”
“Tụi nó làm sao?”
“Tụi nó coi bộ vui lắm không?”
“Ba chắc có.”
Ba anh đứng dậy đi ra khỏi bếp. Khi ông trở lại thì Nick đang nhìn đăm đăm vào cái đĩa. Nãy giờ anh đã khóc.
“Ăn bánh nữa nghe?”, ba anh cầm dao lên để cắt bánh.
“Thôi ba”, Nick nói.
“Ráng ăn thêm miếng nữa đi.”
“Thôi. Con không muốn ăn nữa.”
Ba anh dọn bàn.
“Trong rừng tụi nó ở chỗ nào?”, Nick hỏi.
“Phía sau trại”, Nick cứ nhìn vào đĩa, ba anh tiếp. “Thôi con đi ngủ đi.”
“Dạ.”
Nick đi về phòng riêng, thay đồ và lên giường. Anh nghe tiếng ba anh đi loanh quanh trong phòng khách. Nick nằm trên giường úp mặt vào gối.
“Tim mình nát tan rồi”, anh nghĩ. “Nếu cứ như vầy thì tim mình chắc vỡ ra mất.”
Một lúc sau, anh nghe ba anh thổi đèn và vào phòng ngủ của ông. Anh nghe gió lùa qua đám cây bên ngoài và cảm thấy nó luồn qua cửa lành lạnh. Anh cứ nằm úp xuống gối mãi như thế, rồi lát sau anh không còn nghĩ về Prudence nữa và sau cùng anh thiếp đi. Nửa đêm anh chợt thức, nghe tiếng gió trong đám cây thông bên ngoài nhà và tiếng sóng lùa vào bờ hồ. Sớm hôm sau, gió thổi mạnh và sóng xô rất sâu vào bờ, còn anh thức giấc một lúc lâu sau rồi mới nhớ ra rằng trái tim mình đã tan nát.
PHẠM VIÊM PHƯƠNG dịch
Hồi tôi còn bé mẹ hay kể với tôi rằng những thiên thần có cánh thường hay ở trên thiên đàng.Nhưng ko phải như vậy đâu các bạn ạ! Vì nếu điều đó là thật??? Thì tại sao tôi vẫn còn ở đây???
