📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

BÀN TAY ÁNH SÁNG 🔒

38 trả lời, 16.770 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-09 11:29:38Huyền Băng>
Chương 13


HÀO QUANG VÀ MÔ HÌNH LUÂN XA CỦA CÁC CẤU TRÚC ĐẶC TÍNH CHỦ YẾU

Cấu trúc đặc tính là thuật ngữ mà nhiêù nhà tâm lý trị liệu thường dùng để mô tả một số loại thể chất và tâm lý của con người. Sau nhiêù quan sát và nghiên cứu, Wilhelm Reich kết luận rằng số đông những người được ông điều trị có thể xếp thành năm loại chính. Ông thấy những người có trải nghiệm tuổi thơ và quan hệ con cái/ bố mẹ giống nhau thì có thân thể như nhau. Ông cũng thấy những người có thân thể như nhau thì có động lực tâm lý cơ bản giống nhau. Các động lực này không những tùy htuộc vào loại quan hệ con cái/bố mẹ mà còn tùy thuộc vào tuổi của đứa trẻ khi nó bắt đâù trải nghiệm cuộc đời bị chấn thương mạnh đến nỗi trẻ bắt đâù ngăn chặn cảm nghĩ, do đó ngăn chặn dòng chảy năng lượng và phát triển hệ thống phòng vệ về sau sẽ trở thành quen thuộc đối với nó. Một chấn thường trải nghiệm trong dạ con sẽ bị ngăn chặn năng lượng và bị chống lại một cách khác hẳn so với một chấn thương trải nghiệm trong giai đoạn học nói, học ăn mặc hay trong giai đoạn phát triển cá tính. Điều này là tự nhiên thôi, bởi vì cá thể cũng như trường năng lượng của anh ta ở mỗi giai đoạn một khác (Xem Chương 8)

Trong phần này, tôi sẽ đưa ra một vài mô tả cơ bản của từng cấu trúc đặc tính, bao gồm nguyên nhân, các hình dạng thân thể cùng những dung mạo hào quang của chúng. Tôi cũng sẽ luận bàn về bản chất nhiệm vụ bản ngã cao cấp và nhiệm vụ cuộc đời riêng của mỗi cấu trúc trong khi nó được thực hiện. Bản ngã cao cấp và nhiệm vụ cuộc đời của mỗi người là duy nhất, nhưng một vài dạng tổng hợp có thể được tạo nên.

Bản ngã cao cấp của con người được coi như tia sáng siêu phàm bên trong hay bản thân Thượng đế bên trong mỗi cá thể, là nơi ta làm thành một với Thượng đế. Có một tia sáng siêu phàm torng mỗi tế bào của con người thể chất cũng như con người tâm linh của ta vốn chứa đựng ý thức siêu phàm bên trong đó.

Nhiệm vụ cuộc đời có hai hình thái. Trước tiên, ở mức cá nhân, có một nhiệm vụ cá nhân mang mục đích học hỏi để biểu thị các phần mới mẻ của đặc tính con người. Những phần nào của linh hồn không làm thành một với Thượng đế thì giúp tạo ra hoá thân đặc hiệu nhằm mục đích học hỏi phương thức làm thành một với tạo hóa mà vẫn giữ được cá tính. Nhiệm vụ trần gian là một quà tặng mà mỗi linh hồn đi vào cuộc đời thể chất này mang đến cho thế gian. Nhiều khi nó cũng tựa như nhiệm vụ cuộc đời trước đây đã đến một cách tự nhiên. Nghệ sĩ mang nghệ thuật, thầy thuốc mang tài chữa trị, nhạc sĩ mang âm nhạc, người mẹ mang dưỡng dục và yêu thương, v.v. Vào những lúc khác , con người phải phấn đấu qua nhiêù đôổ thay trong công việc, bước vào cái mà người đó cuối cùng có thể thực hiện trong nhiệm vụ cuộc đời của mình. Tài năng và sự trong sáng khi gánh vác nhiệm vụ cuộc đời tùy thuộc nhiều vào việc hoàn tất nhiệm vụ học hỏi cá nhân.

Thân thể con người là kết tinh của các trường năng lượng bao quanh trong thế giới thể chất, chúng vốn là một phần của mỗi con người . Những trường năng lượng này chứa đựng nhiệm vụ của mỗi linh hồn. Vậy có thể coi cấu trúc đặc tính như là kết tinh của những vấn đề cơ bản hoặc nhiệm vụ cá nhân mà con người đã chọn để hoá thân và giải quyết. Vấn đề nhiêm vụ được kết tinh trong thân thể và được giữ tại đó để cá thể dễ nhìn thấy mà tiến hành công việc. Bằng cách nghiên cứu cấu trúc đặc tính của mình vì nó liên quan đến thân thể, ta tìm ra được chìa khóa để tự chữa trị và tìm ra nhiệm vụ cá nhân cũng như nhiệm vụ trần gian của mình.

Căn bệnh cơ bản mà tôi thấy ở số đông người được tôi chữa từ trước tới nay là căm ghét bản thân . Theo tôi, căm ghét bản thân là căn bệnh bên trong cơ bản của mọi người, duy chỉ có điều sự căm ghét bản thân và sự không chấp nhận các biểu lộ của bản thân hiện ra như thế nào là tùy theo cấu trúc đặc tính khác nhau. Do chỗ ta hoạt động để hiểu thấu các động lực của mình ở mức hằng ngày, ta có thể học chấp nhận bản thân qua quá trình này. Ta có thể được sống nhiều năm bằng ý chí Thượng đế (Thượng đế trong ta), bằng sự thật và bằng yêu thương – đây là toàn bộ các bước đi của quá trình nhận thức bản thân, nhưng đến khi ta có yêu thương vô điều kiện thì ta vẫn chưa về đến nhà. điều này có nghĩa là khởi hành cùng với bản thân mình. Ta có thể yêu thương bản thân vô điều kiện được không, kể cả khi ta thấy những khiếm khuyết của mình? Ta có thể tha thứ cho bản thân được không, khi ta làm cho bừa bộn mọi thứ? Liệu ta có thể, sau khi làm bừa bộn mọi thứ, đứng thẳng lên và nói “Tốt, tọi sẽ học hỏi từ cái này này”. Tôi là con người của Thượng đế” “Tôi tự xếp mình lên ngang hàng với ánh sáng và vẫn đi qua bất cứ cái gì nó đòi hỏi, để tìm đường trở về với Thượng đế bên trong của mình và trở về nhà” Cứ thế, với ý nghĩa đó, ta hãy trở lại với các cấu trúc đặc tính, biết rằng việc đối thoại với những vấn đề sâu sắc hơn liên quan đến lý do tại sao mỗi chúng ta trước hết lại là một dạng hoặc một dạng phối hợp của cấu trúc đặc tính, chắc hẵn sẽ trải qua cả một đời người.

Công trình nghiên cứu mà BS AL Lowan và BS John Pierrakos cùng tiến hành đã xếp loại những diện mạo chủ yếu của cấu trục đặc tính ở các mức thể chất và nhân cách. Joihn Pierrakos thêm vào đó các diện mạo tâm linh và năng lượng. Ông thay đổi định nghĩa cáccấu trúc đặc tính bằng cách thêm chiều tâm linh của nhân loại vào những yếu tố đơn thuần sinh học và bệnh tật mà Reich đã phát triển. Góp phần vào công trình naỳ, Pierrakos liên hệ chức năng luân xa với các cấu trúc đặc tính. Tôi nâng cao thêm công trình nghiên cứu ấy và phát triển các mô hình hào quang chung của từng cấu trúc đặc tính, như được trình bày torng các hình 13-5 tới 13-8, và các hệ thống hòng vệ năng lượng trình bày trong Chương 12.

Các hình 13-1. 13-2 và 13-3 trình bày các bảng cho thấy những đặc tính chủ yếu của mỗi cấu trúc. Các bảng này được sưu tập nhờ lớp huấn luyện về năng lượng sinh học của BS Jim Cos năm 1972 và lớp huấn luyện về năng lượng nòng côt của BS John Pierrakos năm 1975 mà tôi đã được học. Tôi thêm phần thông tin trường năng lượng rút ra từ công trình nghiên cứu bản thân.

Cấu trúc tâm thần phân lập,

Cấu trúc đặc tính đâù tiên đầu tiên với nghĩa là điểm ngắt chủ yếu của dòng năng lượng sống xảy ra trước nhất) được mệnh danh là cấu trúc tâm thần phân lập. Trong trường hợp này, trải nghiệm chấn thương đầu tiên xảy ra trước khi đứa bé chào đời, lúc mới lọt lòng hoặc vài ba ngày sau khi sinh: Chán thương thường tập trung xung quanh một vài thái độ thù nghịch nhận trực tiếp từ bố hoặc mẹ. chẳng hạn sự tức giận của bố mẹ, bố mẹ không muốn có con hoặc chấn thương trong quá trình sinh nở chẳng hạn như người mẹ bị phân cách với con về mặt cảm xúc và đứa trẻ cảm thấy bị bỏ rơi. Phạm vi những sự kiện như vậy rất lớn, một sự phân cách mẹ con không đáng kể có thể gây chấn thương mạnh cho đứa trẻ nhưng lại không mảy may ảnh hưởng đến đứa khác. Điều này có liên quan đến bản chất của linh hồn nhập và nhiệm vụ mà nó chọn cho bản thân trong cả cuộc đời.

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-05 10:29:53Huyền Băng>
(tiếp theo)
Hình 13-1
NHỮNG DIỆN MẠO CHÍNH CỦA TỪNG CẤU TRÚC ĐẶC TÍNH
BẢN CHẤT NHÂN CÁCH



Hình 13-2
NHỮNG DIỆN MẠO CHÍNH CỦA TỪNG CẤU TRÚC ĐẶC TÍNH
HỘ THỐNG THỂ CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG



Hình 13
NHỮNG DIỆN MẠO CHÍNH CỦA TỪNG CẤU TRÚC ĐẶC TÍNH
QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN VỚI NHAU


📎 hinh13|hình132copy|hình133

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-09 11:45:51Huyền Băng>
Phòng vệ năng lượng tự nhiên dùng để chống lại chấn thương đó vào giai đoạn này của cuộc đời chỉ đơn giản là quay lui về thế giới tâm linh nơi linh hồn xuất phát. Phòng vệ được phát triển và sử dụng cho loại cấu trúc đặc tính này, cho đến khi người này dễ dàng rút lui vào một nơi nào đó “ở xa”, bên trong thế giới tâm linh (xem hình 12-3). Phòng vệ đó trở nên quen thuộc, và người này sử dụng nó trong bất cứ tình huống nào mình cảm thấy bị đe doạ. Để bù đắp cho phòng vệ của mình là bay đi xa, anh ta cố gắng giữ chặt bản thân lại ở mức nhân cách. Lỗi lầm căn bản của người naỳ là sợ - sợ mình không có quyền tồn tại. Trong khi tương tác với người khác, có thể là với thầy thuốc hay bạn bè, anh ta thường ăn nói bằng một ngôn ngữ đã phi nhân cách hoá, bằng những từ tuyệt đối và có khuynh hướng tri thức hoá. điều này chỉ dẫn đến thêm nhiều trải nghiệm tách mình ra khỏi cuộc đời và không thực sự tồn tại.

Khi người này tự mình đến xin chữa bệnh, lời than phiền ra mắt sẽ là nhiều nỗi sợ hãi và lo âu. Trong hoạt động chữa trị, lối thoát phải ở chỗ bệnh nhân cảm thấy mình tồn tại, anh ta phải cảm nhận sự hòa hợp, nhưng để sống sót anh ta tin rằng mình phải tách ra. Như vậy, anh ta có ý đồ tiêu cực là tách ra. Điêù đó tạo nên dâú nối kép “Tồn tại có nghĩa là chết” Để giải quyết vấn đề này trong điêù trị, anh ta cần tăng cường biến giới xác định con người thực của mình và cảm thấy được sức lực của mình trong thế giới thế chất.

Trong quá trình điều trị, sau khi bệnh nhân ngừng cố gắng tỏ ra cho thầy thuốc biết rằng mình là chàng trai dễ chịu, và bắt đâù hoạt động, lớp thứ nhất của nhân cách mà ta bắt gặp được sẽ là phần trách móc, đôi khi gọi là cái mặt nạ, nói: “Tôi sẽ bác bỏ anh trước khi anh bác bỏ tôi. “Sau khi tiến hành thao tác bới sâu vào nhân cách, các xúc cảm cơ bản, đôi khi được mệnh danh là bản nhã bậc thâấ hoặc bản ngã bóng ,sẽ nói: “Anh cũng không tồn tại” Sau đó, khi bắt đâù giải quyết vấn đề thì phần phát triển cao hơn của nhân cách. Đôi khi được mệnh danh là quyền lực bậc cao hay bản ngã cao cấp của nhân cách, nỗi bật lên và nói: “Tôi có thực” .

Những người có các đặc tính tâm thần phân lập có thể dễ dàng rời bỏ thân thể mình và làm như vậy hết sức đêù đặn. Ở mức thân thể, kết quả cho thấy một thân thể hiện ra như một kết hợp các mảnh không gắn chặt hoặc hợp nhất với nhau. Những người này thường cao và gầy, song một số trường hợp lại to béo. Sự căng thẳng bên trong có khuynh hướng thể hiện thành nhiêù quầng quanh thân thể. Các khớp thường là yêú, và thân thể thường ở trang thái mất phối hợp, tay và chân lạnh. Họ thường hoạt động quá mức và không liên kết với đất . Có một tắc nghẽn chủ yếu ở cổ, gần nền sọ, thường có màu xanh xám thẫm. thường có năng lượng vọt ra khỏi nền sọ. Nhiều khi có xoắn vặn trong cột sống, gây nên bởi thói quen vặn mình len lách để tránh thực tại vật chất khi người đó bay ra một phần khỏi thân thể. Cổ tay, mắt cá chân và vắp chân yếu ớt và thường không liên kết với đất. Một vai có thể to hơn vai kia (thậm chí khi người đó không chơi tennis). Nhiêù khi đâù nghoẹo về một bên , và ánh mắt nhìn mơ màng như thể một phần của người này nằ tận đâu đâu. Anh ta như vậy đấy. Có thể đôi khi anh ta nói chuyên “dễ bong ra từng mảnh”. Nhiều người trong số này bắt đầu thủ dân từ khi còn bé. Cho rằng con đường liên kết với sinh lực là qua bản năng sinh dục của họ. Điêù này giúp họ cảm thấy mình “đang tồn tại” trong khi họ không thể liên kết được với người khác ở xung quanh.

Cái mà người có đặc tính tâm thần phân lập tránh xa qua việc sử dụng hệ thống phòng vệ của mình là là nỗi khiếp sợ nội tâm, khiếp sợ bị hủy diệt. Cố nhiên anh ta không thể xử lý được điêù đó như đứa trẻ bởi vì anh ta hoàn toàn lệ thuộc vào những ai làm cho anh ta kinh hải hoặc những ai mà anh ta cảm thấy hoàn toàn bỏ rơi mình giữa giờ phút trọng đại khó khăn nhất là quá trình lọt lòng. Như một đứa trẻ, người có đặc tính tâm thần phân lập cản nhận sự thù nghịch trực tiếp của ít nhất là bố hoặc mẹ, những người mà anh ta dựa vào để sống sót. Trải nghiệm này khởi đâù cho nỗi khiếp sợ về sống còn của anh ta.



Người có đặc tính tâm thần phân lập có thể tìm được cách thoát khỏi nỗi khiếp sợ bị hủy diệt trong nội tâm mình khi mà anh ta, với tư cách người lớn, nhận ra rằng nỗi khiếp sợ của mình hiện tại có liên quan với cơn thịnh nộ nội tâm hơn là với cái gì khác. Cơn thịnh nộ bắt nguồn từ việc tiếp tục trải nghiệm thế giới như là một nơi lạnh lẽo, thù nghịch mào ở đó sự cô lập được áp đặt lên bất cứ người nào muốn sống sót. Một phần trong con người có đặc tính tâm thần phân lập hoàn toàn tin rằng điều đó là tính chất của thực tại vật chật. Bên dưới cơn thịnh nộ này là nỗi đau ghê gớm biết rằng cái mà anh ta cần là được người khác yêu thương, quan hệ đầm ấm và nuôi dưỡng nhiệt thành; nhưng nhiêù trường hợp anh ta đã không tạo nên được cái đó trong đời mình

Nỗi khiếp sợ của người này là ở chỗ cơn thinh nộ của chính anh ta thường làm cho anh ta thổi tung các mãnh vụn sẽ bay rắc vào vũ trụ. Chìa khóa cho người này là dần đần đối mặt với cơn thịnh nộ của bản thân mà không cần bay đi xa để phòng vệ. Nêú anh ta có thể đứng trên mặt đất và để cho nỗi khiếp sợ và cơn thịnh nộ đi ra ngoài, thì anh ta sẽ làm nhẹ bớt nỗi đau cũng như khát vọng được liên kết với người khác và sẽ tìm chỗ để cho lòng yêu thương bản thân đi vào. Yêu thương bản thân đòi hỏi thực hành. Tất cả chúng ta đều cần đến nó, không kẻ ta có thể thuộc loại kết hợp cấu trúcđặc tính nào. Yêu thương bản thân bắt nguồn từ chỗ sống theo cung cách nào đó để không tự phản bội. Nó bắt nguồn từ chỗ sống theo sự thật nội tại, cho dù sự thật đó là gì chăng nữa. Nó bắt nguồn từ chỗ không tự phản bội. Có thể thực hành nó qua các bài tập đơn giản về yêu thương bản thân đượcđề ra trong đợt chữa trị cuối cùng.

Trường năng lượng của cấu trúc tâm thần phân lập

Cấu trúc tâm thần phân lập được biểu thị chủ yếu bằng những điểm gián đoạn của trường năng lượng, tựa như những mất cân bằng và đứt gãy. Năng lượng chủ yếu của người này được giữ sâu trong cốt lõi của người đó và thường bị đông cứng lại cho đến khi liệu pháp và thao tác chữa trị được tiến hành để giải phóng nó. Hình 13-4 cho thấy ranh giới mõng manh và đứt đoạn của cơ thể etheric thuộc cấu trúc này cùngvới những chỗ rò năng lượng ở các khớp. Màu của nó thường là xanh rất nhạt. Vầng kế cận và các cơ thể tâm thần hiện ra, có lúc bị giữ chặt và đông cứng, có lúc chuyển động vòng quanh bừa bãi mà không có cân bằng năng lượng phải trái trước sau. Thường là trường sáng hơn với nhiều năng lượng hơn ở một nửa thân và ở phía sau đầu. Các cơ thể tâm linh của người cóđặc tính tâm thân2 phân lập thường khoẻ và sáng với những màu sắc chói lòa ở vầng hào quang thứ sáu hay cơ thể thượng giới. Hình thaí bầu dục hay vầng ketheric mẫu thường hiện ra rất sáng, với màu của bạc hơn là của vàng. Ranh giới của nó thường lan tỏa và không được bơm căng hoàn toàn, với hình quả trứng thu hẹp ở phía chân tại đây nhiêù lúc thấy ốm yếu.

Mất cân bằng hào quang, chủ yếu thấy được ở ba cơ thể bên dưới, lan tới các luân xa qua thao tác chữa trị; nhiêù luân xa xoay ngược chiều kim đồng hồ. Điều đó có nghĩa là chúng phân phát nhiêù năng lượng hơn là thu nhận vào. Luân xa bị nhiễu loạn tương ứng với những phẩm chất trongcấu trúc đặc tính đòi hỏi cải biến. những luân xa xoay thuận chiêù (khai mở) thường không cân đối, chứng tỏ rằng chúng cũng không hoạt động một cách cân bằng dù có “khai mở” chăng nữa. Năng lượng chảy quam ột phần của luân xa sẽ nhiều hơn ở phần kia. Mất cân bằng này thưởng xảy ra một bên; nghĩa là năng lượng chảy qua phía trái phía phải của luân xa có thể nhiều hơn phiá trái . Do vậy, người này thường có khuynh hướng trở nên hoạt bát hơn hoặcthậm chí có thể trở nên hung hăng hơn là dễ tiếp thu tại khu vực do mô tả ở Chương 10 bằng thuật ngữ “phân tách hoạt bát/ dễ tiếp thu” Một hình chéo hay elip ghi được bằng con lắc biêủ thị một luân xa mất cân đối xuất hiện trước mắt nhà thấu thị, như được trình bày trong Hình 13-4.

Các Luân xa thường khai mở là trung tâm sinh dục phía sau (luân xa 2), đám rối thái dương (luân xa 3), trán (luân xa 6) và đỉnh đầu (luân xa 7). Các trung tâm thứ saú và thứ bảy phối hợp với trí năng tâm thần và phi thể chất mà anh ta thường toàn tâm hướng tới trong cuộc đời mình. Người này cũng hoạt động thông qua ý chí (luân xa 2). Các dung mạo luân xa này biến thiên và thay đổi trong suốt công cuộc cải biến của con người, Khi cá thể khai mở sâu vào chiều thứ ba và cuộc sống thể chất thì càng có thêm luân xa khai mở. Nhiêù khi trung tâm sinh dục phía sau không khai mở lúc bắt đâù thao tác.

Phần dưới của Hình 13-4 cho thấy mức độ tương đối của năng lượng sáng hoạt động trong khu vực não. Sáng chói nhất, hoạt động mạnh nhất là vũng chẩm (vùng phía sau đầu), và kém nhất là vùng trán. hoạt động mạnh thứ nhì là con mắt thứ ba và vùng não thất ba, được liên kết với nhau bằng một nhịp câù sáng choí. rồi đến các thùy bên của não phối hợp với ngôn ngữ. Có những vùng não khá rộng hiện ra kém hoạt động.

Có thể thâý năng lượng thấp ở vùng trán biêủ lộ trong cái nhìn trống rỗng. “Không còn đấy”, thường gặp ở người có đặc tính tâm thầm phân lập. Anh ta thường hướng năng lượng của mình đi lên dọc theo cột sống và ra khỏi vùng chẩm (phía sau đâu) tạo nên một chỗ phình năng lượng về phía sau đầu. Đó là cách tránh né các tiếp cận tại-đây-và-bây-giờ trong bình diện thể chất.

Các hệ thống phòng vệ năng lượng được người có đặc tính tâm thần phân lập sửdụng chủ yêú là dạng con nhím, dạng rút lui và dạng ngay cạnh nó, như mộ tả ở Chương 12, Hình 12-3. Dĩ nhiên là người có bất cứ cấu trúc nào đêù có thể sử dụng các dạng phòng vệ khác nhau vào những thời điểm khác nhau.

Bản ngã cao cấp và nhiệm vụ cuộc đời của đặc tính tâm thần phân lập

Trong quá trình sinh trưởng của con người, điều quan trọng thường xuyên là phải hết sức trung thực đối với bản thân cũng như đối với những thiếu sót của bản thân để mà tác động lên nhằm cải biến chúng. Nhưng sẽ không có lợi cho sức khỏe nêú dừng lại quá lâu với những tiêu cực của bản thân. Luôn luôn phải cân bằng sự chú ý đến những phần cải biến đó, kèm theo quan tâm tìm ra bản hcất của bản ngã cao cấp, ủng hộ nó, đề cao nó và để cho nó tiến về phía trước. Sau rốt là sẽ tiến hành cải biến nào, phải không?

Những người thuộc đặc tính tâm thần phân lập hoặc có ít nhiều đặc tính này trong bản chất nhân cách của họ thường là những người rất tâm linh. Họ có cảm nhận sâu sắc về mục đích sâu xa của cuộc đời. Nhiều khi họ cố gắng tìm cách đưa thực tại tâm linh vào cuộc sống thế tục của những người xung quanh. Họ là những người rất sáng tạo có nhiêù tài năng và nhiêù ý đồ sáng tạo, có thể ví họ như một lâu đài dẹp có nhiều phòng, từng phòng được trang hoàng một cách trang nhã và phong phú theo một phong cách, một nền văn hóa và một thời đại riêng. Phòng nào cũng thanh lịch đúng cách của nó vì người có đặc tính tâm thần phân lập đã trải qua nhiều cuộc đời trong đó anh ta phát triễn một phạm vi rộng lớn các tài năng (những căn phòng được trang trí). Vấn đề là ở chỗ các căn phòng không có cửa thông nhau. để đi từ phòng nọ sang phòng kia, người có đặc tính tâm thần phân lập phải leo ra ngoài cửa sổ, xuống thang rôì lại theo thang bước lên cửa sổ mà vào phòng kế cận. Điêù này thật bất tiện. Người có đặc tính tâm thần phân lập cần hợp nhất bản chất của mình để tạo cửa thông thương giữa các căn phòng đẹp đẽ naà, như vậy anh ta mơi dễ dàng đi vào được tất cả các phần của bản chất mình.


Noí chung, người ta có thể nói rằng nhiệm vụ cá nhân của người có đặc tính tâm thần phân lập có liên quan đến việc đối phó với nỗi khiếp sợ và cơn thịnh nộ nội tâm vẫn ngăn cản anh ta cụ thể hóa những khả năng sáng tạo to lớn của mình. Hiện tại, nỗi khiếp sợ và cơn thịnh nộ giữ cho các phần của con người anh ta tách biệt ra, bởi vì anh ta sợ rằng mọi tài năng sáng tạocủa mình sẽ cùng ập đến mạnh mẽ. Nhiệm vụ anh ta cũng liên quan đến việc cụ thể hóa hay khắc hoạ tính tâm linh của anh ta trong thế giới vật chất. Có thể điều này được tiến hành qua sự sáng tạo của anh ta, chẳng hạn như viết văn, phát minh sáng chế, giúp đỡ mọi người, v.v. Nhưng những nhiệm vụ này rất riêng tư và không cần phải phổ biến ra.



Cấu trúc mồm miệng.





📎 13-4|13-5

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-19 10:14:20Huyền Băng>
Cấu trúc mồm miệng

Đặc tính mồm miệng được tạo ra khi sự phát triển bình thường bị ngưng lại trong suốt giai đoạn học nói. Nguyên nhân là sự bỏ rơi. Giữa tuổi thơ, anh ta trải nghiệm tình trạng mất mẹ bằng chết chóc, bệnh tật hoặc thoái bộ. Người mẹ ban phát cho con nhưng không đủ. Nhiều khi người mẹ "làm ra vẻ" ban phát - hoặc ban phát bất đắc dĩ. Đứa trẻ bù vào mất mát đó bằng cách trở nên "độc lập" quá sớm, nhiều khi bằng cách nói chuyện hoặc dạo chơi quá sớm trước tuổi. Như vậy, trẻ trở nên lẫn lộn về cảm thụ và sợ không dám đòi hỏi cái mà nó thực sự cần bởi vì từ sâu trong nội tâm nó đã chắc chắn là sẽ không được đáp ứng. Các cảm nghĩ về nhu cầu được chăm sóc dẫn đến tính lệ thuộc, khuynh hướng bám víu, lòng tham và tính hung hăng có mức độ. Đứa trẻ bù lại bằng một ứng xử độc lập, ứng xử này sẽ tan tành dưới tác dộng của stress. Tính dễ tiếp thu của nó sau đó trở thành tính tiêu cực hằn học, và tính hay gây gổ trở thành tính tham lam.

Người có cấu trúc mồm miệng về cơ bản là người bi tước đoạt, cảm thấy trống rổng và không muốn lãnh trách nhiệm. Thân thể thì không phát triển, bắp thịt dài, mỏng, nhẽo và suy sụp trong tình trạng ốm yếu. Người nầy không có vẽ người lớn và thành thực, ngực lép nhạt nhẽo, hơi thở nông, và có thể cặp mắt cứ hút lấy năng lượng của bạn. Về phương diện tâm lý động lực học, nhân cách này bám chặt và níu lấy người khác để chống lại nỗi sợ hãi bị bỏ rơi. Người này không thể sống một mình, trải nghiệm một nhu cầu cường điệu về nhiệt tình và sự ủng hộ của người khác. 'Anh ta tìm cách lấy những cái đó từ "bên ngoài " nhằm bù đáp cho cảm giác kinh khủng về nỗi trống trảI nội tâm. Anh ta nén những cảm nghĩ dữ dội; về khát vọng và gây gổ. Cơn thinh nộ của anh ta đối với sự bỏ rơi được kìm giữ. Anh ta sử dụng bản năng sinh dục để được tiếp xúc.

Người có cấu trúc mồm miệng đã trải nghiệm nhiều thất vọng trong đời, nhiều phen bị từ chối khi anh ta thử chìa tay ra. Do đó anh ta cay đắng thấy rằng mình có kiếm được cái gì chăng nữa cũng chẳng bao giờ đủ. Anh ta không thể thỏa mãn vì anh ta tìm cách thỏa mãn khát vọng nội tâm mà mình đã khước từ bằng cách bù lại bằng một cái gì đó. Ở mức nhân cách, anh ta đòi hối được cúc dục và đền đáp.Trong khi tương tác với người khác, anh ta thường phát biểu bằng những câu hỏi gián tiếp gợi ý sự chăm sóc của người khác. Nhưhg điều này không làm anh ta hài lòng bởi vì anh ta là người lớn chứ không phải trẻ con.

Lời than phiền ra mắt của anh ta khi bước vào điều trị là thụ động và mệt mỏi. Trong thao tác chữa bệnh, lối thoát là tìm ra được sự nuôi dưỡng trong cuộc đời. Nhưng để làm cho các nhu cầu của mình được đáp ứng, anh ta tin rằng mình có cơ phải chiu sự từ bỏ hoặc chịu sự giả vờ của người khác. Như vậy ý đồ tiêu cực của anh ta sẽ là “Tôi sẽ làm anh đưa cái đó cho tôi." hoặc”Tôi không cần đâu." Điều này lần lượt tạo nên một dấu nối kép 'Nếu tôi đòi hỏi thì không phải là yêu thương; nếu tôi không đòi hỏi thì tôi lại không được." Để giải quyết vấn đề nầy trong điều trị, anh ta cần tìm ra và thừa nhận các nhu cầu của mình và học cách sống cuộc đời của mình theo lối nào đó để các nhu cầu này được đáp ứng. Anh ta cần học cách dựa vào sức mình là chính.

Trong quá trình điều tri, lớp thứ nhất của nhân cách mà ta bắt gặp sẽ là cái mặt nạ. Nó nói' "Tôi không cần bạn." hoặc 'Tôi sẽ không đòi hỏi." .Sau khi tiến hành thao tác đào bới sâu hơn vào nhân cách thì bản ngã bậc thấp hoặc bản ngã bóng sẽ nói: "Hãy chăm sóc tôi." Sau đó, khi bắt đầu giải quyết thì bản ngã cao cấp của nhân cách hiện ra để nói: "Tôi thỏa mãn, no nê."

Trường năng lượng của cấu trúc mồm miệng.

Người có cấu trúc đặc tính mồm miệng (hình 13-5) có khuynh hướng có một trường năng lượng bị suy yếu phẳng lặng và yên tĩnh. Năng lượng chủ yếu khu trú ở đầu. Vầng etheric bị giữ sát mặt da và màu cũng nhạt. Cơ thể cảm xúc cũng bị giữ chặt, ít màu sắc và có đặc tính suy yếu toàn bộ. Cơ thể tâm thần sáng và thường có màu hơi văng. Các vầng bên trên của hào quang không thật sáng. Hình thái quả trứng ở ngoài cùng (vầng thứ bảy) không được bơm hoàn toàn, không sáng, có thêm một lớp sáng óng vàng ánh bạc thêm vào phần bên cạnh màu bạc, và suy yếu ở xung quanh vùng chân.

Các luân xa phần lớn có thể bị bịt hoặc mất năng lượng ở người có dạng đặc tính mồm miệng chưa được qua quá trình thao tác mấy. Chắc là anh ta thường hay có trung tâm đỉnh đầu và trán khai mở hơn cả, điều này giải thích tính trong sáng. tâm thần và tâm linh của anh ta. Nếu người này đã tiến hành thao tác phát triển của cá thể thì có thể anh ta có trung tâm tình dục phía trước cũng khai mở như vậy. Do đó anh ta quan tâm đến tình dục và có một số cảm nghĩ về tình dục.

Dung mạo hoạt động trong trường năng lượng của anh ta ở đầu được chỉ rõ ở cuối Hình 13-5. Điều đó cho thấy phần lớn năng lượng khu trú ở các thùy trán và thùy bên của não, và năng lượng thấp nhất ở phần sau của vùng chẩm. Do vậy mà người có đặc tính mồm miệng tập trung vào hoạt động trí óc và ngôn từ chứ không tập trung vào hoạt động thể chất.

Các cơ chế phòng vệ được người có đặc tính mồm miệng sử dụng chủ yếu là các dạng khước từ miệng, hút vào, và dạng mũi tên mồm có thể được dùng để gây chú ý hơn là kích động cơn thịnh nộ, nghĩa là không giống như phương thức mà những mũi tên mồm do ngườI có cấu trúc thống dâm sử dụng, như đã nói rõ trong chương 12.

Nhiệm vụ cuộc đời và bản ngã cao cấp
của cấu trúc mồm miệng.


Người có đặc tính mồm miệng cần học hỏi lòng tin cậy vào sự phong phú của vũ trụ và đảo ngược quá trình tước đoạt. Anh ta cần cho . Anh ta cần từ bỏ vai trò nạn nhân và thừa nhận cái anh ta có được. Anh ta cần đối mặt với nỗi sợ phải sống một mình, đi sâu vào khoảng trống bên trong và thấy nó sóng đôi với cuộc đời. Khi anh ta thừa nhận những nhu cầu của chính mình và dựa vào sức mình là chính thì bấy giờ anh ta sẽ có thể nói: « Tôi có cái đó." và để cho năng lượng nòng cốt khai mở và tuôn chảy.

Viễn tượng bên trong của người có đặc tính mồm miệng giống như một dụng cụ âm nhạc tinh tế, như một cây đàn vĩ-cầm Stradivarius. Anh ta cần chỉnh âm một cách chính xác cho nhạc cụ của mình và sáng tác bản giao hưởng của chính mình. Khi anh ta chơi giai điệu duy nhất của mình trong bản giao hưởng của cuộc đời thì anh ta sẽ được đền đáp. Khi bản ngã cao cấp được giải phóng, người có đặc tính mồm miệng có thể sử dụng tốt trí thông minh của mình vào công việc sáng tạo trong nghệ thuật và khoa học. Anh ta sẽ là một nhà giáo có thiên tính vì quan tâm đến nhiều việc đến thế, và có thể liên kết thường xuyên điều anh ta biết với yêu thương đi thẳng từ trái tim.

Cấu trúc thái nhân cách

Trong tuổi ấu thơ, người có cấu trúc thái nhân cách trải nghiệm sự quyến rũ kín đáo của bố (nếu là con gái) hoặc của mẹ (nếu là con trai) - khác giới. Người bố hay người mẹ này cần đến mọi điều ở trẻ. Người có cấu trúc thái nhân cách làm thành bộ ba cùng với bố mẹ và thấy khó mà nhận được sự ủng hộ của mẹ (nếu là con gái) hay cha bố (nếu là con trai) – cùng giới. Người nầy đứng về phía người khác giới, không thể có được cái mình cần, cảm thấy bị phản bội rồi bù lại theo lối vận động bố hoặc mẹ bằng mánh khóe.

Đáp lại tình thế đó, người này tìm cách kiểm soát người khác bằng bất cứ cách thức nào. Để làm việc ấy, người này phải chống chế, thậm chí nói dối nếu cần. Người này đòi hỏi sự ủng hộ và khuyến khích, nhưng trong khi tương tác với người khác lại thường hay áp đặt sự vận động ấy, như "Bố (mẹ) phải..." để gợi ý cho họ phục tùng mình. Cách ứng xử đó không thu hoạch được sự ủng hộ.

Trong diện mạo tiêu cực của mình, người có cấu trúc nói trên có xu hướng mãnh liệt vươn tới quyền lực và nhu cầu thống trị người khác. Người này có hai biện pháp để đạt tới quyền lực đó: bắt nạt và áp đảo hoặc đục khoét bằng quyến rũ. Nhiều khi giới tính của người nầy là thù nghịch với nhiêu ý nghĩ kỳ cục. Người đã đầu tư vào một bức tranh tưỏng tượng về bản thân và có những cảm nghĩ rõ rệt về sự hơn người của mình và khinh miệt kẻ khác, cái vẫn che đậy cho những cảm nghĩ sâu sắc về sự thấp kém của bản thân.

Lời than phiền ra mắt của anh ta lúc bước vào chữa bịnh là mình có những cảm giác thất bại. Người nầy muốn thăng cuộc. Nhưng được ủng hộ có nghĩa là đầu hàng, và người nầy tin rằng điều đó có nghĩa là thất bại. Như vậy ý đồ tiêu cực của người nầy là " Ý muốn của ta phải được thực hiện ». Cái đó tạo nên một dấu nối kép « Tôi phải đúng hoặc tôi chết ». Để giải quyết được vấn đề ấy trong điều trị, người nầy cần phải học tin cậy.

Trong quá trình điều trị, lớp thứ nhất của nhân cách mà ta bắt gặp thường là cái mặt nạ. Nó bảo : “Tôi đúng, bạn sai” . Sau khi đào bới sâu hơn vào nhân cách, bản ngã bậc thấp hay bản ngã bóng sẽ nói : «Tôi sẽ kiểm soát bạn». Khi bắt đầu quyết định thi bản ngã cao cấp của nhân cách hiện ra để bảo : “Tôi chịu thua”.

Nửa thân trên dường như nổ tung, và thiếu dòng chảy giữa nửa thân trên và nửa thân dưới. Vùng chậu của người nầy nạp thiếu năng lượng, lạnh và bị giữ chặt. Có căng thẳng nghiêm trọng ở vai, nền sọ và mắt ; chân yếu, và anh ta không có liên kết với đất. Người có cấu trúc thái nhân cách chống lại nỗi sợ hỏng việc và thất bại. Người nầy bị giằng xé giữa tình trạng lệ thuộc vào người khác và nhu cầu kiểm soát họ. Người nầy sợ bị kiểm soát và bị sử dụng, sợ bị đặt vào tư thế nạn nhân là điều sỉ nhục cho mình ghê gớm. Bản năng sinh dục được sử dụng vào trò chơi quyền lực ; niềm vui so với sự chinh phục chỉ là phụ. Người nầy tìm cách không biểu lộ nhu cầu bằng cách làm cho người khác cần đến mình.

Trường năng lượng của cấu trúc thái nhân cách.

Năng lượng chủ yếu khu trú ở nửa thân trên. Mức năng lượng của người nầy lúc đầu là hoạt động quá mức và sau đó suy sụp. Người có cấu trúc thái nhân cách (Hình 13-6) có một trường hào quang chung bị suy yếu ở đáy tại tất cả các mức hào quang và được tăng lực ở chóp ; vậy là hình quả trứng cũng bị vặn vẹo như thế. Vầng etheric kém dầy dặn về phía chân và nhìn chung có màu sắc xanh sậm hơn và tông màu khỏe hơn là phía sau. Cơ thể cảm xúc ở chóp cũng dầy dặn hơn. Cơ thể tâm thần nhô về phía trước thân thể hơn là phía sau, trong khi cơ thể cảm xúc có thể hiện ra có chỗ phình ở trung tâm ý chí khu trú giữa hai xương bả vai thường giản rộng. Ở nửa trên, các vầng hào quang bên trên cũng khỏe hơn và sáng hơn.

Dung mạo luân xa ở cấu trúc thái nhân cách thường cho thấy các trung tâm ý chí khai mở tại vai và nền cổ, với những trung tâm ý chí nằm giữa hai xương bả vai cực kỳ rộng và sử dụng quá mức, trung tâm trán và trung lâm đỉnh đầu khai mở, còn phần lớn các trung tâm khác, đặc biệt các trung tâm cảm giác, đều bị bít. Trung tâm sinh dục phía sau có thể khai mở một phần. Như vậy là người này chủ yếuhoạt dộng bằng năng lượng tâm thần và ý chí. Hoạt động năng lượng ở não mạnh và sáng sủa trong các thùy trán, giảm về phía sau đầu, rất yên tĩnh và thường có màu tối trong vùng chẩm. Điều đó cho thấy người này quan tâm chủ yếu đến mục tiêu trí tuệ chứ không quan tâm đến hoạt động thân thể nào khác hơn nhằm phục vụ cho ý chí năng động. Trí tuệ cũng được sử dụng để phục vụ ý chí. Vấn đề là ở chỗ: Từ các thùy trán hoạt động mạnh mẽ, người thái nhân cách thò những cái ngoắc năng lượng ra hướng vào đầu người khác để tóm lấy họ, theo dạng phòng vệ chộp lấy. Người nầy cũng tiến hành một số lần dạng khước từ miệng; cũng có thể nổi trận lôi đình giống như cơn thinh nộ sử dụng trong dạng phòng vệ cuồng loạn, nhưng trong một hình thái năng lượng được kiềm chế, được cân bằng, không mang tính chất hỗn loạn như vậy.

Nhiệm vụ cuộc đời và bản ngã cao cấp
của đặc tính thái nhân cách –


Người có đặc tính thái nhân cách cần tìm ra sự đầu hàng thực sự bằng cách xả dần và để cho nửa thân trên được thoải mái và xả dần khuynh hướng kiểm soát người khác, và bằng cách nhượng bộ con người sâu lắng bên trong cùng các xúc cảm tình dục của mình. Với cái đó,người này có thể thỏa mãn khát vọng được hiện hữu trong thực tại, tiếp xúc với bạn bè và cảm nghĩ như một con người. Viễn tượng bên trong của đặc tính thái nhân cách đầy những điều kỳ quặc phiêu lưu về danh dự. Tại đây, người chiến thắng là những ai có lẽ phải và trung thực nhất. Thế giới vẫn xoay quanh các giá trị cao quý được nâng lên bằng sự bền gan và lòng dũng cảm. Người này ao ước được mang điều ấy vào môi trường thể chất trong thế giới thực của mình bằng cách ấy. Một ngày nào đó người này sẽ làm được.

Khi những năng lượng bản ngã cao cấp của mình được giải thoát. người này rất trung thực và chính trực. Trí tuệ phát triển cao của người này có thể được sừ dụng vào việc giải quyết các bất đồng bằng cách giúp đỡ người khác tìm ra sự thật của họ. Qua tính trung thực của mình, người này có thể dìu dắt người khác trở nên trung thực. Người này có khả năng quản lý những dự án phức tạp và có trái tim lan
tràn ngập yêu thương.

Câú trúc thống dâm

Trong tuổi thơ, yêu thương mà nhân vật có cấu trúc thống dâm nhận được là yêu thương có điều kiện. Mẹ anh ta thống trị và xả thân - thậm chí cho cả việc điều khiển các chức năng ăn uống và bài tiết của con cái. Đứa trẻ đi đến chỗ cảm thấy có lỗi mỗi khi nó tự khẳng định hay thử tuyên bố quyền tự do của mình. Mọi cố gắng của nó nhầm chống lại sức ép kinh khủng đè lên nó đều bị dẹp tan; bấy giờ nó cảm thấy mắc bẫy, thất bại và chịu sỉ nhục.Phản ứng lại tình huống này, nó tự kìm nén cảm nghĩ và sáng tạo. Thực tế là nó tìm cách tự kìm nén mọi thứ. Điều này dẫn đến tức giận và căm ghét. Nó đòi hỏi được tự do, nhưng khi tương tác với người khác, nó sử dụng những từ ngữ lịch sự biểu lộ ra cùng với một nỗi chán ghét rằn ri nhầm lui kéo người khác một cách gián tiếp. Điều này làm cho người khác trêu chọc nó. Rồi việc trêu chọc cho phép nó giận dữ. Đứa trẻ cũng từng nổi giận rồi, nhưng lúc này nó được quyền biểu lộ việc đó. Thế là nó bị mắc vào một chu trình làm cho nó lệ thuộc.

Về mặt tiêu cực, người này là người đau khổ rên rỉ và oán trách, bề ngoài vẫn đễ phục tùng, nhưng không bao giờ cam chịu. Người nầy ngăn chặn bên trong mình các cảm nghĩ mạnh mẽ về tức giận, tích cực, thù nghịch, trịch thượng và sợ hãi mà anh ta sẽ cho nổ bùng vào cơn thịnh nộ. Hoặc có thể liệt dương và quan tâm nhiều đến sách báo khiêu dâm. Nếu là nữ thì chắc là không có cực khoái và cảm thấy tình dục của mình bẩn thỉu.

Lòi than phiền ra mắt của người này khi đến chữa bệnh là tình trạng căng thẳng. Anh ta muốn được giải thoát khỏi căng thăng, nhưng lại tin tưởng một cách vô thức rằng việc giải tỏa căng thẳng và thừa nhận cái nằm trong nội tâm sẽ dẫn đến quy phục và sỉ nhục. Do vậy mà ý đồ tiêu cực vô ý thức của anh ta là vẫn duy trì tình trạng bị tắc nghẽn và „yêu thương tính tiêu cực". Điều này dẫn đến một cái dấu nối kép " Nếu tôi nổi giận, tôi sẽ bị sỉ nhục. Nếu tôi không nổi giận. tôi sẽ bị sỉ nhục." Để giải quyết vấn đề này trong điều trị. anh ta cần trở nên quyết đoán, được tự do và khai mở mọi liên kết tâm linh của mình.
Trong quá trình điều trị, lớp thứ nhất của nhân cách bắt gặp là cái mặt nạ. nó bảo: " Tôi sẽ tự tử (tự gây thương tích) trước khi bạn giết tôi (gây thương tích cho tôi." Sau khi tiến hành một số thao tác điều trị nhằm thăm dò viễn tượng bên trong này thì bản ngã bậc thấp sẽ trở nên hữu thức. Nó bảo: "'Tôi sẽ chọc tức và khiêu khích bạn." Cuối cùng việc này giải thoát bản ngã cao cấp nó sẽ giải quyết tình huống với câu “Tôi tự do". Về thể chất, anh ta nặng và rắn chắc với các cơ bắp phát triển quá mức, cổ ngắn, thắt lưng ngắn. Căng thẳng nhiều ở cổ, hàm. họng và hẹp khung chậu ở phía dưới. Hai mông lạnh. Năng lượng của anh ta bị nghẹt trong khu vực họng. đầu thì nhô ra trước.

Về tâm lý động lực học, anh ta dằn mình lại và bị cấm chặt vào một bãi lầy trong đó anh ta rên rỉ, oán trách, kìm nén các cảm nghĩ và khiêu khích người khác. Nếu thành công trong việc khiêu khích, anh ta sẽ có lý do bào chữa cho sự nổi giận.Anh ta không có ý thức về việc khiêu khích của mình và nghĩ rằng anh ta đang cố gắng làm vui lòng

Trường năng lượng của cấu trúc thống dâm.

Năng lượng chủ yếu của người có cấu trúc nầy được hướng nội. Anh ta hoạt động quá mức và bên trong còn sôi sục nữa. Trường của cấu trúc thống dâm (hình 13-7) phồng lên toàn bộ. Cơ thể etheric dậm đặc, dày, thô và sậm lên theo các màu sám hơn là màu xanh. Cơ thể cảm xúc đều đặn, nhiều màu và được phân bố một cách rõ ràng đều đặn như cơ thể etheric. Cơ thể tâm thần rộng và sáng cả ở phần dưới. Trí tuệ, xúc cảm hợp nhất hơn. Cơ thể thượng giới sáng xung quanh toàn bộ thân thể với các màu hoa cà, hạt dẻ và xanh. Hình quả trứng phồng lên đều đặn và có muà óng vàng thẫm.Hình trứng hơi nặng nề về phía đáy và tạo nên một hình bầu dục hơn là hình trứng. Rià ngoài cùng của nó được xác định rõ rệt với một cái gì đó quá căng thẳng và dày cộm.

Những luân xa thường khai mở ở người thống dâm trước khi bắt đầu quá trình thao tác nòng cốt là trán, đám rối thái dương và có thể trung tâm tình dục phía sau khai mở một phần. Người nầy hoạt động trong các diện mạo tâm thần, cảm xúc và ý chí của nhân cách. Mô hình hoạt động năng lượng của não cho thấy hoạt động « ở vùng trán, vùng đỉnh và vùng não thất, với một số hoạt động này lan tới một khu vực trung tâm nhỏ ở chẩm đưọc bao quanh bởi một khu vực kém hoạt động hơn. Các hệ thống phòng vệ thường được ngưòi thống dâm sử dụng là các dạng có vòi, làm thinh nghiền ngẫm và mũi tên mồm.

Nhiệm vụ cuộc đời và bản ngã cao cấp của đặc tính thống dâm

Người có cấu trúc thống dâm cần giải phóng bản thân khỏi sỉ nhục bằng cách giải tỏa tính gây gổ của mình. Anh ta cần tích cực biểu lộ bản thân bằng bất cứ cách nào hợp với sở thích vào bất cứ lúc nào anh ta muốn.Viẽn tượng bên trong của đạc tính thống dâm tựa như bạc và vàng chạm lộng. Sức sáng tạo của anh ta tự nó biểu lộ bằng những phác thảo rối rắm tế nhị từng nét đặc biệt và thị hiếu riêng. Sắc thái nào cũng quan trọng. Khi anh ta bộc lộ tính sáng tạo phát triển cao này ra ngoài thì thế giới sẽ khiếp sợ.

Cấu trúc cứng nhắc

Trong tuổi thơ, người có cấu trúc đặc tính cứng nhắc trải nghiệm sự chối bỏ của bố (nếu là con gái) hoặc của mẹ (nếu là con trai). Đứa trẻ traỉ nghiệm việc này như là sự phản bội lại yêu thương, bởi vì đối với nó thì thú vui thể xác, bản năng sinh dục và yêu thương đều như nhau. Để bù lại sự chối bỏ đó, đứa trẻ quyết định làm chủ mọi cảm nghĩ có liên quannỗi đau, cơn thịnh nộ và những cảm nghĩ tốt đẹp bằng cách ngăn chúng lại. Đầu hàng là chuyện kinh hãi đối với người này vì điều đó có nghĩa là giải phóng những cảm nghĩ đó một lần nữa . Do vậy, ngườI nầy sẽ không trực tiếp với tới cái anh ta cần, mà sẽ khéo léo vận động để có được cái đó.Kiêu hãnh kết hợp với cảm nghĩ yêu thương.Sự chối bỏ tình dục làm tổn thương niềm kiêu hãnh của anh ta.

Về tâm lý động lực học, ngưới cứng ngắc ngan chặn cảm nghĩ và hành động để không tỏ ra xuẩn ngốc. Anh ta có khuynh hướng trần tục, với nhiều tham vọng và hung hăng do cạnh tranh. Anh ta bảo : « tôi là bề trên và tôi biết mọi chuyện. » Bên trong anh ta ẩn náu nỗi khiếp sợ bị phản bội : bằng mọi giá, anh ta không cho phép mình dễ bị tổn thương. Người nầy sợ bị tổn thương. Anh ta ngẩn cao đầu, ươn thẳng cột sống với niềm kiêu hãnh. Anh ta có trình độ cao về làm chủ ngoại hình và đồng nhất hóa mạnh mẽ với thực tạo thể chất. Tư thế của cái tôi cường tráng được sử dụng như một biện hộ cho việc cấm buông thả. Người này sợ những quá trình không tự nguyện xảy ra bên trong con người mà không được cái tôi xác định. Bản ngã nội tâm của cá thể bị ngăn tường tách biệt ra khỏi sự thổ lộ và thu nhận cảm nghĩ. Anh ta có tình dục kèm theo khinh miệt, chứ không có tình yêu.

Trong khi ngăn chặn cảm nghĩ, người này chỉ tạo thêm nhiều kiêu hãnh. Anh ta đòi hỏi các cảm nghĩ yêu thương và tình dục của người khác, nhưng khi anh ta tương tác với họ thì lại sử dụng những người có đủ điều kiện một cách quyến rũ để vẫn không cam kết gì hết. Điều này dẫn đến cạnh tranh, không dẫn đến tình yêu. Anh ta nằm trong một vòng luẩn quẩn không mang lại cái mà anh ta mong muốn. Lời than phiền ra mắt khi bước vào điều trị (nếu một lúc nào đó anh ta đến) là anh ta không thấy có cảm nghĩ, Anh ta muốn đầu hàng cảm nghĩ, nhưng lại tin rằng cảm nghĩ sẽ chỉ gây tổn thương, cứ thế ý đồ tiêu cực của anh ta là 'Tôi không đầu hàng đâu." Người này chọn tình dục hơn là tình yêu, nhưng cái đó không thỏa mãn anh ta. Điều này dẫn đến cái dấu nối kép "Lựa chọn nào cũng sai . Đầu hàng sẽ gây tổn thương; cứ cố thủ trong kiêu hãnh sẽ ngăn chặn cảm nghĩ. Để giải quyết vấn đề đó trong điều trị, người này can liên kết trái tim với bộ phận sinh dục.

Trong quá trình điều trị, cái mặt nạ sẽ bảo: « Vâng, nhưng mà...". Sau một thời gian, bản ngã bậc thấp hay bản ngã bóng sẽ đi vào trong ý thức, sẽ bảo: 'Tôi sẽ không yêu thương bạn." Sau đó, vì các cảm nghĩ bắt đầu tuôn chảy do kết quả của thao tắc chữa trị, bản ngã cao cấp sẽ giải quyết tình huống bằng cách tuyên bố: Tôi cam kết, tôi yêu thương. " Thân thể được cân đối lại một cách hài hòa, được nạp nhiều năng lượng và hợp nhất. Nó có thể có hai loại tắc nghẽn: tắc nghẽn áo giáp tấm tựa như một tấm kim loại trên thân thể, hoặc tắc nghẽn áo giáp lưới giống một bộ quần áo bằng mạng mắt lưới phủ lên thân thể. Khung chậu nghiêng ra sau và lạnh. . .

Trường năng lượng của cấu trúc cứng nhắc

Năng lượng chính được giữ lại ở ngoại vi và xa nòng cốt. Người có cấu trúc cứng nhắc (Hình 13-8) rất hoạt bát, có nét đặc biệt là cân bằng và hòa hợp, biểu hiện bằng một hào quang sáng chói khỏe khoắn trong phần lớn trường hợp được phân bố đều đặn trên khắp thân thể. Trường etheric mạnh mẽ, rộng và phẳng phiu, màu xám xanh và hơi thô. Cơ thể cảm xúc biểu lộ trạng thái cân bằng yên tĩnh và phân bố đều đặn.' Thường nó không nhiều màu sắc như ở các cấu trúc khác nếu người này không hoạt động để khai mở cảm nghĩ. Ở sau lưng, nó có thể rộng hơn vì tất cả các trung tâm ở lưng đều khai mở. Cơ thể tâm thần phát triển và sáng. Cơ thể thượng giới có thể không sáng lắm nếu người này không khai mở nhiều cho yêu thương vô điều kiện hoặc cho tâm linh của anh ta. Vầng nhân quả hay ketheric mẫu thì khỏe khoắn, đàn hồi, rất rõ nét và có màu sáng của vàng-bạc mà chủ yếu là màu óng vàng.

Những luân xa của đặc tính cứng nhắc, thường khai mở trước khi bắt đầu thao tác theo quy trình, là các luân xa ý chí và sinh dục ở phía sau, cùng các luân xa tâm thần. Như vậy, người này sống chủ yếu bằng tinh thần và ý chí. Đám rối thái dương và đỉnh đầu có thể khai mở hoặc không. Khi anh ta bắt đầu quá trình thao tác và khai mở cảm nghĩ thì các trung tâm cảm giác phía trước bất đầu khai mở. Mô hình hoạt động của não cho thấy nhiều hoạt động ở các phía bên và đoạn trung ương phía sau của não. Trong một số trường hợp, các thùy trán cũng hoạt động mạnh như vậy, tùy thuộc vào khu vực cuộc đời mà người này quyết định tập trung vào. Nếu trước đó là những mưu đồ trí tuệ thì về sau khu vực này cũng sẽ sáng chói và hoạt động; nếu không thì nó là khu vực sáng xếp loại thứ nhì. Nếu người này theo đuổi việc phát triển về nghệ thuật, như hội họa hay âm nhạc hoặc một hình thức sáng tạo khác, tôi thấy rằng: nếu họ hoạt động trong các quá trình đó, trưởng thành và thông tỏ hơn thì các mô hình hoạt động của não trở nên cân bằng hơn với hoạt động ở phía bên, ở vùng trán và chẩm. Các nhịp cầu bắt đầu được

xây dựng trực tiếp qua đầu để hình thành một chữ thập khi được quan sát từ chỏm đầu. Khi một người bắt đầu phát triển tâm linh của mình và có các trải nghiệm tâm linh, đây là nói trong khi thiền định, thì tôi thấy có thêm nhiều hoạt động phát triển trong vòng não trung ương. Các hệ thống phòng vệ năng lượng được người cứng nhắc sử dụng nhiều nhất là dạng phô trung quyền lực-ý chí, ngăn biên giới và đôi khi cả dạng cuồng l()ạn (Hình 12-3).

Nhiệm vụ cuộc đời và bản ngã cao cấp của đặc tính cứng nhắc

Người có đặc tính cứng nhắc cần khai mở các trung tâm cảm xúc, để cho cảm nghĩ tuôn chảy và được người khác nhìn thấy. Anh ta phải phân chia các cảm nghĩ của mình ra, dù đó là cảm nghĩ gì. Điều này cho phép các năng lượng chảy vào trong và chảy ra ngoài nòng cốt của con người và phóng thích tính duy nhất của bản ngã cao cấp.

Viễn tượng bên trong của đặc tính cứng nhắc chứa đựng phiêu lưu, đam mê và yêu thương. Có núi non để trèo, có chính nghĩa để bênh vực và có yêu thương để thi vị hóa. Như lcarus (nhân vật thần thoại Hy Lạp) - ND), anh ta sẽ bay tới mặt trời. Tựa Moses (nhân vật trong Kinh thánh - ND), anh ta sẽ dẫn dắt dân tộc mình tới Miền Đất Hứa. Anh ta sẽ truyền cảm hứng khởi cho người khác hàng yêu thương và đam mê đối với cuộc sống. Rồi anh ta sẽ là người lãnh đạo bẩm sinh trong phần lớn những nghề nghiệp mà anh ta mong ước. Anh ta sẽ có khả năng tiếp xúc sâu sắc với người khác và với vũ trụ.
Anh ta sẽ có khả năng vui chơi trong vũ trụ và được hưởng trọn vẹn cuộc đời.

Thật hữu ích khi bạn ghi nhớ được cấu trúc đặc tính chung của bệnh nhân qua việc tiến hành chữa trị. Ở cương vị thầy chữa của mình, điều này sẽ giúp bạn đi tới chỗ chữa trị riêng cho từng người và khiến cho việc chữa trị có hiệu quả nhất. Ngay như chuyện đưa việc chữa trị đến mức hiệu quả tối đa cũng đã là ích lợi lắm rồi.

Người có cấu trúc đặc tính tâm thần phân lập sẽ cần phải có các đường hiên giới xác định và tăng cường. Anh ta cũng sẽ cần phải có thực tại tâm linh xác định. Tri giác cao cấp giúp đỡ nhiều bằng cái đó Hào quang của người có đặc tính tâm thần phân lập cũng nạp đủ năng lượng, và anh ta cần được dạy cách tiến hành nạp. Cần chấm đứt những rè rỉ năng lượng.

Hào quang của đặc tính mồm miệng cần được nạp và các luân xa cần được khai mở. Biên giới cần được tăng cường. Người này cần được dạy cách cảm nhận thế nào là khai mở, có vậy thì mới học được cách giữ cho luân xa khai mở qua tập luyện và thiền định. Người có cấu trúc mồm miệng cần nhiều đụng chạm.
Người có cấu trúc thái nhân cách cần nạp năng lượng cho nửa dưới của trường hào quang, khai mở các luân xa phía dưới và học cách sống bằng trái tim nhiều hơn là bằng ý chí. Điều rất quan trọng là phải thật mềm mỏng với những vấn đục của người có cấu trúc thái nhân cách. Luân xa 2 phải được xử lý thận trọng, có hiểu biết và chấp nhận. Thấy chữa phải hết sức nhạy cảm và cẩn thận khi đụng chạm vào nửa dưới của thân thể. Người có trường năng lượng thống dâm cần phải học chuyển dịch và giải thoát toàn bộ năng lượng mà anh ta đã làm tắc nghẽn. Trước tiên là biên giới của anh ta phải được trọng . Đừng bao giờ đụng chạm không được phép. Thầv chữa càng làm tốt cho bản thân bao nhiêu thì càng chữa nhanh và tốt bấy nhiêu. Việc chữa trị luôn liên quang đến tính sáng tạo vốn giấu kín bên trong cần được mang ra hoặc bộc lộ.

Tường hào quang của đặc tính cứng nhắc cần được làm cho mềm dẽo lại. Người này cần phải khai mở luân xa tim và liên kết với yêu thương cùng các cảm nghĩ khác. Vầng thứ hai của hào quang cần được kích hoạt và hoạt động của nó cần được đưa vào ý thức. Việc này phải được thầy chữa tiến hành từ từ cho phép trải nghiệm các cảm nghĩ từng thời kỳ ngắn trong mỗi lần. Những năng lượng nòng cốt sâu hơn của nhân cách cần được vời tới bằng thao tác bàn tay. Điều quan trọng đối vời thầy chữa là chấp nhận nhân cách bằng cả tình thương yêu khi tay mình đặt lên thân thể.

Bên kia cấu trúc đặc tính

Vì mỗi người tự thao tác tâm lý động lực học, sinh lý học và tâm lý học lên bản thân mình, cho nên hào quang thay đổi. Hào quang trở nên cân bằng . Các luân xa ngày càng khai mở hơn. Các hình tượng và nhận thức sai về thực tại bên trong hệ thống niềm tin tiêu cực của ta đều tan biến và làm cho ta nhẹ nhõm hơn, ít trì trệ hơn và làm cho các rung động trong trường hào quang có tần số cao hơn. Trường hào quang trở nên đàn hồi hơn, lỏng hơn. Tính sáng tạo phong phí thêm vì hiệu lực của hệ thống chuyển hóa năng lượng tăng lên. Trưòng hào quang lan rộng và những thay đổi sâu sắc hơn bắt đầu diễn biến.

Nhiều người bắt đầu có một điềm sáng đẹp màu óng vàng ánh bạc ở giữa đầu phát triển thành một quả cầu ánh sáng chói lọi. Con người mở mang thì quả cầu này cũng thành to hơn và vượt ra ngoài thân thể. Dường như nó là cái nhân của hạt giống mang lại ánh cho cơ thể thượng giới và phát triển nó thành một hào quang sáng hơn và cao cấp hơn đang bắt đầu cảm nhận thực tại, do vậy mà tương tác với thực tại ở bên kia thế giới thể chất. Vị trí của ánh sáng này dường như nằm trong vùng rễ của luân xa đỉnh đầu và luân xa con mắt thứ ba, nơi mà tuyến uyên và tuyến trùng khu trú. Vì cơ thể tâm thần phát triển thành sáng hơn cho nên tính nhạy cảm đốí với thực tại ở bên kia thế giới thể chất cũng phát triển. Đường đời của con người thay đổi theo sự trao đổi dòng chảy năng lượng tự nhiên và sự cải biến với vũ trụ. Ta bắt đầu quan niệm bàn thân như là diện mạo duy nhất của vũ trụ, hợp nhất hoàn toàn vì tổng thể. Hệ thống năng lượng của ta được coi như là một hệ thống cải biến năng lượng có nhiệm vụ thu năng lượng từ môi trường. bẻ vụn ra. cải biến đi rồi tổng hợp lại và gửi vào vũ trụ trong trạng thái tâm linh cao hơn. Như thế, mỗi chúng ta là một hệ thống cải biến .sống động. Vì năng lượng mà chúng ta cải biến mang ý thức, cho nên chúng ta đang cải biến ý thức. Chúng ta đang thật sự tâm linh hóa vật chất.

Cấu trúc đặc tính và nhiệm vụ cuộc đời

Mỗi cấu trúc đặc tính là một mô hình của hệ thống cải biến bị hỏng. Thứ nhất là ta ngăn chặn năng lượng. Nó trở nên tắc nghẽn và trì trệ bên trong các hệ thống năng lượng của ta. Ta làm việc đó bằng cách sống theo những niềm tin tiêu cực. Ta thực sự đứng bên ngoài thực tại lâu lắm rồi vì ta sống và phản ứng lại vũ trụ như cái ta nghĩ chứ không phải như cái hiện hữu thật sự. Nhưng việc này không diễn ra lâu dài. Ta tạo ra nỗi đau trong cuộc dời mình bằng cách làm điều đó. Sớm muộn ta sẽ nghe được thông điệp nói rằng ta đang làm điều gì đó sai trái. Ta tự thay đổi bản thân và các hệ thống năng lượng của ta để làm dịu nỗi đau. Ta khai thông các hệ thống của mình và cải biến năng lương. Khi làm việc này, không những ta giúp thanh toán những niềm tin tiêu cực riêng tư mà còn tác động lên những niềm tin xung quanh ta theo hướng tích cực. Do vậy mà ta cải biến năng lượng.

Khi ta bắc đầu giải tỏa các tắc nghẽn là ta thực hiện nhiệm vụ cá nhân. Việc này phóng thích năng lượng của ta đến mức ta có thể thực hiện cái mà ta hằng ao ước trong đời: khát vọng sâu lắng ấp ủ từ thuở ấu thơ. ước mơ thầm kín. nhiệm vụ mà cả một đời ta mới thực hiện được. Cái mà bạn ước ao làm hơn bất cứ cái gì trong đời mình, đó là nhiệm vụ cuộc đời của bạn. Nó là cái mà bạn tới đây để thực hiện bằng cách xua tan các tắc nghẽn riêng tư, bạn lát nền cho con đường thực hiện khát vọng thiết tha nhất của bạn. Hãy để cho nỗi khát vọng đó dẫn dắt bạn. Hãy đi theo nó. Nó sẽ đem lại hạnh phúc cho bạn.

Bạn đã dành cho thân thể và trường năng lượng của bạn vai trò công cụ trong việc thực hiện nhiệm vụ cuộc đời của mình. Nó được tạo dựng nên bằng một kết hợp năng lượng-ý thức phù hợp nhất với cái mà bạn hóa thân xuống để thực hiện. Không một ai khác có kết hợp đó, và không một ai khác ao ước làm đúng y như cái mà bạn ao ước. Bạn là duy nhất. Khi bạn ngăn cản dòng chảy năng lượng trong hệ thống năng lượng đã do mình tạo ra cho nhiệm vụ của mình, thì bạn cũng ngăn cản luôn cả nhiệm vụ của bạn. Những mô hình chung của tắc nghẽn mà người ta thực hiện là các cấu trúc đặc tính và hệ thống phòng vệ.

Đó là tất cả những con đường mà bạn thường dùng để tách rời bản thân ra khỏi cái mà bạn tới đây để thực hiện ở mức nhiệm vụ trần gian. Đó cũng là những biểu hiện trực tiếp của cái bạn không biết về cuộc đời mà bạn tới đây để học hỏi. Vì vậy, bài học của bạn kết tinh vào trong thân thể và hệ thống năng lượng của bạn. Bạn đã xây nên và tạo hình phòng học của mình theo những chi tiết kỹ thuật của chính mình. Bạn sống trong đó.

Như bạn sẽ được biết, tắc nghẽn nặng lượng cuối cùng sẽ đẫn đến rối loạn thể chất. Ngược lại, những rối loạn đó có thể được định ra bởi cấu trúc đặc tính của bạn hoặc cung cách bạn ngăn chặn các năng lượng sáng tạo của mình. Do đó, bất kỳ bệnh tật nào của bạn cũng liên quan trực tiếp dẫn nhiệm vụ cuộc đời của bạn. Bệnh tật của bạn, qua hệ thống năng lượng của bạn, liên quan trực tiếp đến khát
vọng sâu sắc nhất của hạn. Cho nên tôi hỏi lại lần nữa rằng: Điều mà bạn mong ước thực hiện lâu nay trong đời bạn - hơn bất cứ điều gì khác trên thế giới - nó ỉà cái gì vậy? Hãy tìm ra cách dừng lại. Hãy thanh toán những tắc nghẽn đó. Hãy tiến hành điều mà bạn ao ước tiến hành, và bạn sẽ khỏe khoắn ra.

Bài tập phát hiện cấu trúc đặc tính của bạn

Bạn hãy soi gương. Thân thể của bạn trông giống loại thân thể nào ? Hãy đọc hết từng bảng và từng cấu trúc đặc tính. Sau đó hãy trả lời các câu hỏi 7- 10
.
Điểm lại Chương 13

1 . Hãy mô tả dung mạo chung trường năng lượng con người của mỗi một trong năm cấu trúc đặc tính chủ yếu.
2. Hãy mô tả những phẩm chất cao nhất của các cấu trúc đặc tính chủ yếu.
3. Theo hiện hình hào quang thì những khu vực nào của não hoạt động mạnh nhất
trong mỗi cấu trúc đặc tính khác nhau?

Để làm động não

4. Nhiệm vụ cuộc đời của mỗi cấu trúc đặc tính là gì ?
5. Cấu trú đặc tính liên quan đến nhiệm vụ cuộc đời như thế nào?
6. Bệnh tật liên quan đến nhiệm vụ cuộc đời của con người như thế nào?
7. Hãy liệt kê theo tỷ lệ từng cấu trúc đặc tính đã cấu tạo nên nhân cách/bản ngã của bạn. Ví-dụ:
50% tâm thần phân lập
20% mồm miệng
15% thái nhân cách
5% thống dâm
10% cứng nhắc


8. Hãy xem xét Hình 13-1. Hãy tìm những nét nhân cách của bạn cho từng mục được liệt kê.
9. Hãy xem xét kỹ Hình 13-2. Hãy tìm ra những nét thể chất và năng lượng của bạn
cho từng mục được liệt kê.
10. Hãy xem xét kỹ Hình 13-3. Hãy tìm ra cung cách liên hệ với người khác xuất phát từ cấu trúc đặc tính của bạn cho từng mục được liệt kê.
11. Từ những câu hỏi về ba mục trước, nhiệm vụ riêng tư của bạn có thể là gì? Nhiệm vụ trần gian của bạn?
12. Nếu bạn có những rối loạn thể chất nào đó thì hãy thuật lại theo câu hỏi 11 .
13. Bây giờ hãy thực hiện các mục 7- 12 cho từng bệnh nhân của bạn.
0
hình minh hoạ đoạn trên,




📎 136|137

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-20 14:15:05Huyền Băng>
CHƯƠNG 14
 
Nhập đề
 
NGUYÊN NHÂN BỊNH TẬT

Theo cách nhìn của nhà chữa trị, bệnh tật là hậu quả của mất cân bằng. Mất cân bằng là hậu quả của việc quên con người thật của mình. Quên con người thật của mình tạo ra những ý nghĩ và hành động dẫn đến một cách sống không lành mạnh, cuối cùng là bệnh tật. Bệnh tật tự bản thân nó là dấu hiệu chứng tỏ bạn mất cân bằng vì bạn đã quên mất con người thật của bạn. Nó là lời nhắn nhủ trực tiếp, không những nói với bạn về cung cách bạn mất cân bằng ra sao, mà còn chỉ cho bạn thấy những bưóc đi sẽ đưa bạn trở về với bản ngã thực và sức khỏe. Thông tin nầy rất đặc biệt nếu bạn biết cách đảm bảo việc đáo đạt nó.
   Như vậy, có thể hiểu bệnh tật như là bài học mà bạn tự rút ra được để giúp bạn nhớ lại con người thực của mình. Lập tức bạn sẽ nghĩ đến mọi thứ ngoại lệ của phát biểu nầy. Nhưng phần lớn các ngoại lệ đó sẽ hạn chế bạn vào một nhận thức thực tại chỉ gồm có cuộc đời đặc biệt nầy và chỉ là đời sống trong thân thể. Tuy nhiên, phạm vi của tôi là một phạm vi tiên nghiệm hơn. Những phát biểu trên đây có thể chỉ được hiểu theo một hướng tổng thể và lành mạnh nếu bạn đã tự mình chấp nhận là tồn tại ở bên kia các chiều vật lý của thời gian và không gian. Những phát biểu nầy có thể chỉ được cảm nhận như là yêu thương, nếu chúng cũng bao gồm cả bạn, coi bạn như là một phần của tổng thể, và do đó cũng là tổng thể. Chúng được xây dựng trên quan niệm cho rằng tính cá thể hóa và tính trọn vẹn đều như nhau. Theo cách diễn giải nầy thì điều đó có nghĩa là: tổng thể được cấu tạo từ các phần cá thể, và do đó các phần cá thể không chỉ là phần của tổng thể, mà trên thực tế là tổng thể, tựa như một toàn đồ.
Trong quá trình phát triển của bản thân tôi qua những năm tiến hành quan sát trường năng lượng với cương vị cố vấn có hai biến đổi chủ yếu xảy ra khiến cho phương thức làm việc của tôi với mọi người trở nên khác trước rất nhiều. Thứ nhất là trong những buổi chữa, tôi bắt đầu nhận được sự dìu dắt của các hướng đạo tâm linh về điều cần làm trong khi chữa trị, và tôi bắt đầu tìm kiếm cũng như đòi hỏi các thông tin đặc hiệu thuộc các mức hào quang khác nhau. Thứ hai là tôi bắt đầu phát triển cái mà tôi gọi là “thấu thị “; nghĩa là tôi có thể nhìn vào thân thể phần nào giống như một máy X quang. Thực hành của tôi đã chuyển dẩn từ lĩnh vực một cố vấn sang lĩnh vực một thầy chữa tâm linh.

Chữa trị lúc đầu trở thành phần mở rộng của liệu pháp, về sau thành nòng cốt trung tâm của mọi liệu pháp, bởi vì nó vươn tới tất cả mọi chiều của linh hồn và thể xác, vượt qua cái mà liệu pháp có khả năng làm. Công việc của tôi trở nên rõ ràng. Tơi chữa trị cho linh hồn, hay là tôi trở thành kênh dẫn giúp cho linh hồn nhớ lại nól à ai và tại đâu nó được dìu dắt trong những lúc nó quên và đi trệch đường mà rơi vào bịnh tật hoặc đau yếu. Đối với tôi, công việc nầy được hoàn thành rất tồt, đầy hứng khởi được trải nghiệm với những năng lượng cao và với các thiên thần tới tiến hành chữa trị. Đồng thời cũng là thách thức khi phải đương đầu với nỗi đau ghê gớm do bệnh tật mà người thầy chữa trải qua ở chừng mực nào đó nhằm mục đích chữa trị. Tôi đã để cho bản thân mình nhìn thấy những mất cân bằng kinh khủng của năng lượng và của linh hồn mà nhiều người phải sống trong đó. Nhân loại mang theo mình nỗi đau ghê gớm, nỗi cô đơn và khát vọng tự do. Công việc của thầy chữa là công việc của yêu thương. Thầy chữa đi sâu vào những vùng đau ấy của linh hồn và nhẹ nhàng đánh thức hy vọng. Thầy chữa nhẹ nhàng đánh thức hồi ức cổ xưa của linh hồn về chuyện nó là ai. Thầy chữa chạm vào tia sáng của Thượng đế trong mỗi tế bào của thân thể và nhẹ nhàng làm cho nó nhớ lại rằng nó vốn là Thượng đế, và đã là Thượng đế thì cùng với ý chí vũ trụ nó tuôn chảy vững vàng đến sức khoẻ và vẹn toàn.

Trong một vài chương tới, tôi sẽ luôn bàn về quá trình bệnh tật và quá trình chữa trị như đã được nhìn thấy từ quan điểm của các thầy dạy tâm linh. Tôi sẽ chia sẻ với bạn một vài trải nghiệm của mình về hướng dẫn tâm linh trong môi trường nghề nghiệp và luận bàn chi tiết về tri giác cao cấp, nó hoạt động ra sao và bằng cách nào bạn học được nó. Tôi cũng giới thiệu quan điểm của Heyoan về thực tại. Toàn bộ điều này rất quan trọng cần nắm vững để học hỏi các kỹ thuật chữa trị giới thiệu trong phần V.    
 



PHÂN LY THỰC TẠI

 
Như đã thấy trong Chương 4, ý tưởng cơ học Newton cho rằng vũ trụ gồm những khối kiến trúc riêng rẽ của vật chất đã trở nên lỗi thời vào đầu thế kỷ 20. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy chúng ta luôn liên kết với nhau. Chúng ta không phải là những con người riêng rẽ; chúng ta là những con người cá thể hóa. Chỉ có tập quán cũ kỹ theo kiểu Newton đưa chúng ta đến những khái niệm phân ly khỏi tổng thể. Điều đơn giản là những khái niệm đó không xác thực. Hãy để tôi trình bài với bạn một ví dụ có thể có trong việc giảI thích trách nhiệm vớI bản thân từ quan điểm phân ly.
Giả thử một cháu nhỏ bị nhiểm bịnh AIDS do chuyển máu chẳng  hạn. Nếu sư6 việc ấy được giải thích theo quan điểm phân ly thì người ta có thể bảo: “Chao ôi, nạn nhân khốn khổ “. Theo lối giải thích phổ biến về trách nhiệm với bản thân, người ta lại nói: “Ồ, nó gây ra cái đó thi lỗi tại nó “. Nhưng theo quan điểm toàn đồ, người ta sẽ bảo: “Ôi, bài học mà linh hồn và gia đình dũng cảm nầy chọn để học hỏi từ thực tại lớn lao hơn của họ thật gay cấn biết chừng nào Mình làm được điều gì tốt nhất để giúp họ ? Mình có thể yêu thương họ bằng cách nào đây? “. Bất cứ ai tiếp cận được cuộc đời bằng cách đó đều thấy không có gì trái ngược giữa trách nhiệm và yêu thương, mà có khác biệt lớn giữa trách nhiệm và trách mắng.
Quan điểm xuất phát từ cá thể hóa và toàn đồ hứa hẹn sự tôn trọng và thừa nhận bất cứ điều gì mà người khác trải nghiệm. Ngược lại, những lời phát biểu như: “Ồ, anh tạo ra ung thư của anh; tôi sẽ không làm điều gì như thế là do cách nhìn phân ly sinh ra, chứ không phải do cá thể hóa. Phân ly làm tăng lo sợ và cam chịu làm nạn nhân; lo sợ và cam chịu làm nạn nhân chỉ khuyến khích ảo tưởng của bất lực. Trách nhiệm và chấp nhận thì làm tăng sức mạnh, sức mạnh từ nội tâm, để tạo nên thực tại của bạn. Nếu với những sự vật hình thành một cách tự nhiên bạn có điều gì đó liên hệ một cách vô thức, thì với những sự vật được sáng tạo theo ý muốn của bạn, bạn có rất nhiều điều liên hệ. Ta hãy nhìn rõ ràng hơn vào quá trình quên lãng.

Cũng như trẻ em, chỉ có một phần nhỏ trải nghiệm nội tâm của ta là được những người  xung quanh ta xác minh. Điều nầy tạo nên một cuộc đấu tranh nội tại giữa bản năng bảo toàn và sự chứng thực của người khác. Cũng như trẻ em, ta cần nhiều chứng thực đang ở giai đoạn học hỏi và việc học hỏi dựa trên chứng thực của thế giới bên ngoài . Kết quả là hoặc ta tạo ra nhũng thế giới tưởng tượng bí mật, hoặc ta chối bỏ nhiều thứ trong thực tại nội tâm không được chứng thực và tìm cách tích lũy lại chờ xác minh sau. Một phương thức khác để lý giải quá trình này là ta chặn đứng các trải nghiệm của mình, dù chúng là hình ảnh, tư duy hảy cảm giác. Việc chặn đứng này ngăn ta lại bằng một bức tường các phần trải nghiệm đó, chí ít cũng trong một thời gian ngắn. Ta tự xây tường phân cách với bản thân ta. Đó là một cách diễn đạt khác của chuyện ta quên con người thực của ta. Trong các chương 9 và 10, ta đã xử lý rộng rãi các tắc nghẽn trong trường hào quang. Tác động của các tắc nghẽn này, xét trên quan điểm hào quang, lá phá vở dòng chảy năng lượng khoẻ khoắn khắp trường hào quang và cuối cùng gây nên bệnh tật. Chúng trở nên cái thường được gọi là chất linh hồn ứ đọng. Chúng là những "đốm màu"  năng lượng ý thức bị cắt rời khỏi phần lại của ta. Ta hãy nhìn vào quá trình này cách sử dụng ý tưởng Gestalt về bức tường.
Bất kể khi nào bạn trải nghiệm nỗi khó ở tức là bạn đang trải nghệm bức tường mà bạn đã dựng lên giữa phần hợp nhất lớn hơn tức là bạn và một phần của bản thân bạn. Bức tường đó dùng để ngăn chận cái phần của bản thân mà bạn không muốn cho đi vào trong trải  nghiệm của mình lúc bấy giờ. Theo thời gian, bức tường này phát triển vững chắc hơn. và nạn quên rằng đó là cái phần của bản thân đã bị ngăn lại thành bức tường, nghĩa là bạn đã tạo thêm nhiều quên lãng. Cái bị ngăn thành bức tường ấy bắt đầu hiện ra như một cái gì đó từ ngoài, và bức tường này hiện ra để ngăn chặn một vài ấn tượng khiếp đảm tứ bên ngoài đến. Những bức tường bên trong nầy được tạo nên qua nhiều niên kỷ trảI nghiệm của linh hồn. Chúng càng đứng vững lâu thì ta thấy chúng giữ cho một cái gì đó khác với bản ngã tách ra khỏi bản ngã. Chúng càng đứng vững lâu thì ta càng thấy chúng tạo được an toàn nhưng lại càng củng cố thêm trải nghiệm về phân ly.
 
Các bài tập thăm dò bức tường nội tâm của bạn
 
Để thăm dò các bức tường của mình, bạn có thể áp dụng bài tập sau đây. Hãy nhớ lại một tình huống đặc biệt khó chịu, cái bạn phải vật lộn hằng ngày hoặc cái mà bạn không giải quyết nổi trong quá khứ. Hãy bắt đầu trải nghiệm cảm giác do tình huống đó tạo nên, hãy hình dung nó trong đầu, hãy nghe những lời nói hoặc âm thanh phối hợp với tình huống này. hãy tìm nỗi sợ hãi chứa đựng trong trải nghiệm ấy. Sợ hải là cảm giác bị phân ly. do chỗ bạn có khả năng tự đưa bản thân mình trở lại trạng thái sợ hải đó cho nên bạn hãy bắt đầu cảm nhận bức tường sợ hãi. Hày sờ mó nó, nếm nó, nhìn nó, ngửi nó. Nó kết cấu thế nào, màu sắc ra sao? là ánh sáng hay bóng tối nhọn hay cứng? làm bằng gì ? Bạn hãy trở thành bức tường đó. Nó nghĩ gì, nói gì, nhìn thấy gì, sờ thấy gì? Cái phần ý thức ấy của bạn tin vào điều gì về thực tại?
Heyoan đẽ giảng giải bức tường này như sau:
“ Chúng ta thường quay trở lại với ý nghĩ  về bức tường ta đã tạo thành hình nhằm mục đích duy trì cái mà vào thời điểm tạo thành hình đó ta đã coi như một thế quân bình bên trong, nhưng hiện tại lại duy trì một thế mất quân bình bên ngoài, giống như một con dê hay ở các cửa cống tại đó một mức nước cao hơn mức kia. Ta cũng nhìn thấy như vậy bản thân mình đàng sau bức tường đó và một dòng chảy cuồn cuộn, một lực ép lớn của một vài hình thái bên ngoài, có mặt ta bên trong. Bức tường của bạn bấy giờ bù trừ cho cái mà bạn đang cảm thấy thiếu tại mức bên trong. Nói cách khác, có cái sức mạnh to lớn ấy nó đến với bạn và bạn nghĩ rằng mình kém thua nó. Rồi ta làm một bức tường để bảo vệ mình, giống như trong thờI trung cổ những bức tường thành bị dồn dập tấn công. Ta là người đang ở trong bức tường ấy, đầu tiên ta phải thăm dò bản chất bức tường bởi nó được tạo thành hình bằng bản thân ta. Nó được tạo thành hình bằng bản chất của ta và chứa đầy những tuyên bố, các tuyên bố về điều ta cần phải làm nhằm giữ được an toàn. Bây giờ, điểm tuyệt vời về tất cả chuyện nầy là bức tường đó được ta thành hình bằng bản chất của ta và chứa đựng sức mạnh bên trong. Sức mạnh đó có thể được  cải biến và được phân phối làm lại nền tản cho sức mạnh của bản ngã bên trong. Hoặc nó có thể được coi như là một cầu thang đi đi vào bản ngã bên trong mà ở đó sức mạnh này đã tồn tại. Đây là cách diễn đạt khác của vấn đề tùy theo ẩn dụ nào thích hợp với ta nhất. Và cứ thế ta ngồi sau bức tường an toàn này bởi vì ta là bức tường đó. Lúc bấy giờ nó là nhịp cầu ý thức giữa cái ta nói nhân danh bức tường và cái ta nói nhân danh con người ở bên trong đang được bức  tường bảo-vệ.”

Bài tập thanh toán bức tường của bạn.

Hãy duy trì đối thoại giữa bạn-bức tường và bạn-con người trong bức tường. Khi việc nầy hoàn tất, bấy giờ chúng tôi gợi ý vớI bạn hãy duy trì đối thoại như thế giữa bạn và cái ở bên kia bức tường., thậm chí giữa bức tường và cái phía bên kia, và hãy tiếp tục những đối thoại nầy cho đến khi tại đó có một dòng chảy bắt đầu xuyên qua bức tường ấy.

Lúc này bạn có thể nhìn thấy bức tường này một cách tượng trưng trên bình diện tâm lý động lực học. Bạn cũng có thể nhìn thấy nó nhân danh đại diện của bức tường giữa con người thực của bạn và người mà bạn nghĩ là mình, bởi vì bạn cũng là sức mạnh đó trên mặt khác của bức tường, dù nó ở trong bất cứ hình thái nào. Bạn có sức mạnh bên trong nó, chứ không phải sức mạnh bao trùm lên nó. Bức tường đại diện cho niềm tin vào sức mạnh bao trùm, sức mạnh của phân ly, là một trong những căn bịnh nặng nhất trên bình diện trái đất vào lúc này, bệnh sức mạnh bao trùm. Và như vậy, nếu bạn có thể tìm thấy được ẩn dụ này bên trong bạn và không có bạn, không chỉ ở mức tâm lý động lực học mà cả ở mức tâm linh và mức trần gian, thi bạn có thể sử dụng nó như một công cụ để thăm dò bản thân và trong hào quang.
Trong quá trình đi vào bên trong bức tuờng, trải nghiệm nó và làm cho nó sinh động, bạn cũng giải tỏa tắc nghẽn. Tắc nghẽn này nhìn thấy trong trường hào quang bắt đầu chuyển động và thôi phá vỡ dòng chảy tự nhiên của năng lượng.

Những tắc nghẽn này tồn tại ở tất cả các mức của hào quang. Chúng tác động lên nhau từ vầng hào quang này rồi tới vầng hào quang khác. Bây giờ ta hãy nhìn cung cách mà một tắc nghẽn trong một vầng của hào quang - dĩ nhiên thường được biểu hiệu trong thực tại của vầng đó , nghĩa là tư tưởng, niềm tin hay cảm giác - cuối cùng có thể gây bịnh cho thân thể.

Điểm lại chương 14
 
1.     Nguyên nhân bịnh tật là gì ?

Để làm động não
 
2.     Bản chất bức tường bên trong của bạn là gì ?
3.     Hãy duy trì đối thoại với bức tường của bạn. Bức tường của bạn nói gì ? Phần của bạn ngồi sau bức tường nói gì? Bức tường bảo vệ bạn chống cái gì? Bản chất sức mạnh của bạn mà bạn đã nhốt riêng trong bức tường của bạn là gì? Bạn có thể giải tỏa nó bằng cách nào?

Chương 15

 
TỪ TẮC NGHẼN ĐẾN BỊNH TẬT
 
Kích thước của năng lượng và ý thức.

Nhìn vào bản thân vói một viễn tượng khoáng đạt hơn trước đây, ta thấy rằng ta có nhiều hơn là chỉ có thân thể mình. Chúng ta gồm nhiều vầng năng lượng và ý thức chồng lên nhau. Có thể chúng ta cảm nhận được điều đó từ bên trong. Một miêu tả rõ rằng đồ thị về tự trải nghiệm cảm giác và tư tưởng được trình bày trong chương nầy.

Tia sáng siêu phàm bên trong của ta tồn tại ở một bình diện thực tại và ý thức tiên tiến cao hơn nhiều so với bình diện ý thức thông thường. Ý thức cao cấp nầy có thể tuôn chảy vào bằng thực hành. Một khi đã tìm ra nó thì nó không còn gây ngạc nhiên. Ai cũng có cảm giác: “Ôi, vâng  Tôi biết cái đó ngay từ đầu mà" Tia sáng siêu phàm của ta khôn ngoan tuyệt vời; ta có thể sử dụng nó để hướng dẫn cuộc sống thường ngày của ta, hướng dẫn sự trường thành và phát triển của ta.
Do chỗ hào quang là trung gian qua đó các thôi thúc sang tạo từ các thực tại cao cấp của ta bị dồn xuống mà đi vào thực tại thể chất, cho nên ta thường sử dụng hào quang để đưa ý thức của mình quay ngược lên (bằng rung động) qua các vần hào quang mà đi vào thục tại của bản ngã Thượng Đế. Để làm điều đó, ta cần biết một cách chính xác bằng cách nào mà những lời thôi thúc sáng tạo ấy được truyền đi từng vầng hào quang nọ sang vầng hào quang kia để đi vào thế giới thể chất nhằm giúp tạo nên trải nghiệm của ta về cuộc đời.
Thứ nhất, ta hãy xem xét lại lần nữa háo quang là cái gì. Hào quang còn hơn  một môi trường hay một một trường. Nó chính là bản thân cuộc đời. Mỗi vầng hào quang là một cơ thể, đúng là có thực, đang sống và hoạt động như thân thể chúng ta. MỗI cơ thể hào quang tồn tại trong thực tại hữu thức mà một phần nào giống và một phần nào đó không giống như thực tạI thể chất. Mỗi vầng, về một nghĩa nào đó, ở trong thế giới của chính nó, hơn nữa nhũng thế giới nầy liên kết với nhau và tồn tại chìm ngập trong cùng không gian nơi ta trải nghiệm thực tại thể chất của mình.

Hình 15-1 liệt kệ những bình diện thực tại nơi ta tồn tại, nó tương quan với từng vầng hay cơ thể hào quang được trình bày  trong Chương 7. Bình diện thể chất gồm có bốn mức: thân thể, etheric, cảm xúc và tâm thần. Bình diện tinh tú là nhịp cầu giữa bình diện tâm linh và bình diện thể chất, còn bình diện tâm linh thi ở trên nó vá có các cấp độ soi sáng nằm bên trong nó. Như đã nói ở chương 7, ta có ít nhất ba vầng trong các cơ thể tâm linh của mình - mức etheric mẫu, mức thương giới và mức etheric mẫu.

Sáng tạo hoặc biểu hiệu diễn ra khi một khái niệm hoặc một niềm tin được truyền từ nguồn của nó ở các mức bên trên xuống đi vào nhũng mức đậm đặc hơn của thực tại cho đến khi nó kết tinh trong thực tại thể chất. Ta sáng tạo theo các niềm tin của ta. Dĩ nhiên cái đang xảy ra ở các vùng bên dưới cũng tác động với các vùng bên trên. 




Nhằm mục đích tìm hiểu quá trình tạo nên sức khỏe hay bịnh tật, ta hãy nhìn lần nữa thật cẩn thận vào cung cách biểu hiệu của ý thức tại mỗi vầng của trường hào quang.
Hình 15-2 liệt kê cung cách biễu hiện của bản thân ý thức trên mỗi vầng háo quang và sự bày tỏ của ý thức đó. Ở mức thân thể, ý thức mang hình thái bản năng, các phản xạ tự-động và hoạt động tự động của các nội tạng. Ở đây ý thức tạo ra diễn đạt "Tôi tồn tại" . Ở mức etheric , ý thức biểu hiện trong nhũng giới hạn của các cảm giác như lạc thú thể chất hoặc nỗi đau thể chất. Những cảm giác khó chịu như lạnh và đói là những dấu hiệu đôi khi cần dùng để lấy lại cân bằng năng lượng của ta nhằm làm cho năng lượng lại tuôn chảy hài hòa. Ở mức cảm xúc, ý thức biẻu hiện bằng những xúc cảm cũng như phản ứng căn bản như sợ hãi, giận dữ và yêu thương. Phần lớn những xúc cảm nầy liên quan đến bản ngã. Ở mức tâm thần, ý thức biểu hiệu trong giới hạn của tư duy có lý trí. Đó là bình diện của óc phân tích tuyến tính.

Ở mức tinh tú, ý thức được trải nghiệm như những xúc cảm mạnh vượt ra khỏi bản ngã và những xúc cảm khác để bao gồm nhân loại. Bình diện tinh tú, một thế giới hoàn toàn khác là bình diện mà ở đó diễn ra cuộc hành trình tinh tú và, như được những người đã trải ngiệm nó mô tả, bình diện nầy khác bình diện thể chất về các mặt sau đây : các vật thể có hình thái lỏng ; ánh sáng do các vật thể bức xạ hơn là phản chiếu trước tiên từ các vật thể ; và để thực hiện hành trình đó, chỉ cần mỗi người tập trung vào nơi mình muốn đi và luôn tập trung chú ý vào vị-trí đó. Phương hướng thay đổi theo tiêu điểm đến mức nếu bạn thay đổi tiêu điểm là bạn thay đổi cả phương hướng của mình. Khả năng tập trung ở bình diện nầy rất quan trọng !

Những khác biệt và tương tự giữa hình diện thể chất và tinh tú sẽ không làm cho nhà vật-lý ngạc nhiên bởi vì những định luật chi phối bình diện tinh tú bao giờ cũng dựa trên quy luật tự nhiên chi phối một môi trường có chất mịn hơn,năng lượng cao hơn, rung động nhanh hơn.


 

Tất nhiên, những định luật nầy tương quan vớI những định luật mà ta biết trong thế-giới thể chất. Tôi đề-nghị hãy coi các định luật vật-lý của chúng ta về thực tế chỉ đơn giản là những trường hợp đặc biệt của các quy lật chung, các quy luật vũ trụ hằng chi phối toàn vũ-trụ.

Ở bình diện tâm linh, còn có một thế giới khác với thực tại riêng của nó, một thế giới mà theo tầm nhìn hạn hẹp của tôi, nó hơn hẳn thế giới của chúng ta: đẹp hơn nhiều, tràn đầy áng sáng và yêu thương hơn. Ở vần thứ năm, vầng etheric mẫu, ý thức tự nó biểu hiện như là một ý chí cao cấp mà với ta nó sẽ đưa sự vật vào hiện hữu nhờ khả năng định danh và định nghĩa các sự vật. Ở mức thượng giới, ý thức tự nó biểu hiện bằng những cảm nghĩ cao cấp như yêu thương tất cả, nghĩa là yêu thương vượt xa hơn đồng loại và bạn bè để đi tới chỗ yêu thương mọi cuộc đời. Ở mức thứ bảy, ý thức biểu hiện bằng những khái niệm hiểu biết và các hệ thống niềm tin. Đây là nơi mà xung lực sáng tạo sơ khởi bắt đầu từ hiểu biết của bạn hoàn toàn không phải hiểu biết tuyến tính, mà là hiểu biết hợp nhất.
Lực sáng tạo chủ yếu cơ bản được khởi xướng trong cơ thể tâm linh cao cấp nhất và sau đó chuyển dịch vào cơ thể tinh tú. Hoặc từ một quan điểm khác người ta có thể nói rằng vật chất và năng lượng mịn hơn trong các cơ thể tâm linh cảm ứng sự cộng hưởng họa âm trong cơ thể tinh tú, sau đó có cơ thể tinh tú cảm ứng sự cộng hưởng họa âm trong ba cơ thể hào quang bên dưới. Quá trình này tiếp tục trên suốt con đường đi xuống vào trong mức tần số của thân thể (hiện tượng cảm ứng họa âm là hiện tượng xảy ra khi bạn gõ vào một âm thoa và một âm thoa khác trong phòng sẽ vang lên. MỗI cơ thể hào quang biểu hiệu xung lực này trong giới hạn của thực tại hữu thức ở mức riêng của nó. Chẳng hạn một xung lực sáng tạo từ cơ thể tâm linh chuyển dịch vào trong cơ thể tinh tú sẽ biểu hiện trong giới hạn các cảm nghĩ khoáng đạt. Vì nó chuyển dịch vào trong các vầng tần số bên dưới, nó sẽ biểu hiện đầu tiên trong giới hạn của tư duy, sau đó là cảm nghĩ đặc thù rồi đến cảm giác thể chất, và thân thể sẽ tự động đáp lại qua hệ thần kinh tự trị . Nó sẽ chùng ra nếu đưọc một xung lực dương tính hoặc sẽ co lại nếu nhận được một xung lực âm tính.

Quá trình sáng tạo sức khỏe
 
Sức khỏe duy trì khi lực sáng tạo từ thực tại tâm linh con người hướng theo quy luật vũ trụ. Khi cơ thể etheric liên kết với thực tại tâm linh vĩ đại thì nó biểu thị hiểu biết siêu phàm của thực tại đó. Tuyên bố được tạo ra là « Tôi biết tôi làm thành một với Thượng Đế”.


Đó là trảI nghiệm của con ngưởi với tạo hoá, cùng lúc ấy nó lại được cá thể hoá. Sau đó, thực tại nầy cảm ứng đến cảm giác yêu thương vạn vật trong cơ thể thượng giới. Cảm giác làm thành một với Thượng Đế lần lượt tạo nên liên kết của ý chí cá thể trong mức etheric mẫu với Ý chí siêu phàm. Việc nầy lần lượt biểu hiệu trong mức tinh tú dưới dạng yêu thương nhân loại. Trải nghiệm yêu thương nhân loại nầy sẽ ảnh hưởng đến vầng tâm thần và thông tin các nhận thức thực tại trong cơ thể tâm thần. Rồi rung động trong cơ thể tâm thần này, tuân theo các định luật cảm ứng họa âm và cộng hưởng giao cảm, được truyền xuống để đi vào vật chất và năng lượng của cơ thể cảm xúc, cơ thể nầy sau đó tự biểu hiệu bằng các cảm nghĩ. Nếu nhận thức thực tại phù hợp với quy luật vũ trụ thì các cảm nghĩ sẽ hài hòa được con người chấp nhận , để cho tuôn chảy và không bị tắc nghẽn.


Sau đó, dòng chảy này được truyền xuống để đi vào cơ thể etheric, được cơ thể này đáp ứng một cách hài hòa tự nhiên. Kết quả là cơ thể có những cảm giác dễ chịu tăng cường chuyển hóa tự nhiên của năng lượng từ trường năng lượng vũ trụ đi vào. Năng lượng này cần thiết cho việc dinh dưỡng cơ thể etheric và duy trì cấu trúc cũng như chức năng của nó. Cân bằng tự nhiên của các năng lượng âm dương trong cơ thể etheric cũng được duy trì. Với cân bằng đó, tính nhạy cảm tự nhiên trong cơ thể, xuất phát từ dòng chảy cảm nghĩ tự nhiên, dẫn tới nhận thức phong phú thêm về các cảm giác của cơ thể, cảm giác này lần lượt dẫn tới việc tuân thủ chế độ ăn uống và luyện tập thích hợp. Cơ thể etheric khoẻ mạnh lại kích thích và duy trì một thân thể khoẻ mạnh trong đó các hệ thống hóa lý được giữ cân bằng và hoạt động bình thường. làm cho sức khỏe thể chất được bền vững. Trong hệ thống sức khoẻ, các năng lượng ở từng cơ thể được giữ cân bằng và trợ lực cho sự cân bằng trong các cơ thể khác.  Do đó sức khoẻ được duy trì , nghĩa là sức khoẻ thu hút thêm sức khoẻ
 

Các quá trình động của bệnh tật

Quá trình suy giảm tương tự hoạt động trong hệ thống bị bệnh (hình 15-4) Tuy nhiên, sau khi lực áng tạo chủ yếu chuyển dịch ra khỏi thực tại tâm linh con người thì nó trở nên méo mó rồi tác động ngược với quy luật vũ trụ. Méo mó này xảy ra khi xung lực sáng tạo chủ yếu chạm phải một tắc nghẽn năng lượng hoặc một méo mó trong hào quang. Xung lực chủ yếu vừa mới trở nên méo mó trên đường nó đi vào những vầng đậm đặc hơn của các cơ thể hào quang, thì nó tiếp tục tục bị méo mó khi truyền sang các lớp kế tiếp. Tôi đã nhìn thấy những méo mó chủ yếu nằm ở cao lên tận vầng thứ bảy của hào quang, tại đây chúng hiện ra với vết rách hay những vệt sám rối rắm. Những “méo mó tâm linh” này bao giờ cũng liên quan đến hệ thống niềm tin thu được trong cả cuộcđời này hoặc trong các cuộc đời khác, và vì vậy nguyên nhân là do nghiệp (căn). Tôi coi nghiệp (căn) chỉ đơn giản là trải nghiệm cuộc đời được tạo nên từ những hệ thóng niềm tin vốn đã được mang theo suốt cuộc đời này sang cộc đời tiếp theo cho đến khi chúng được thanh lọc và tái liên kết với thực tại vĩ đại.

Một vầng hào quang thứ bảy méo mó có liên quan đến một hệ thống niềm tin méo mó. Có thể lấy ví dụ như “Tôi tin rằng tôi hơn người Méo mó này tác động lên vầng thượng giới bằng cách ngăn chặn yêu thương thượng giới và làm cho nó méo mó. Bây giờ có thể người này thích được hơn người. Ánh sáng ở mức thượng giới có thể hiện ra rất yếu ớt. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến vầng thư năm của trường hào quang, và vầng này cũng sẽ méo mó. Người này cố gắng để hơn người . mức tinh tú sẽ đáp ứng lại mong ước được hơn người, điều sẽ gây nên tắc nghẽn hoặc những đốm màu tối của năng lượng ứ đọng trong cơ thể tinh tú. Cơ thể tâm thần sẽ đem lại cho người này ý nghĩ cho rằng anh ta hơn người, May mắn thay, không một ai lúc nào cũng tự lừa phỉnh được mình, sớm muộn rồi điều trái ngược cũng sẽ đi vào đầu óc anh ta. Nếu tôi không hơn được người thì tôi phải thua kém người. Một ngỏ cụt tâm thần được tạo nên trong người này, nó cũng là một méo mó trong cấu trúc của cơ thể tam thần. Có một sự phân tách của sinh lực thành hai luồng trực tiếp ngược chiều nhau, và người này rơi vào một tình trạng nhị phân. Một ví dụ khác về xung đột này là “Tôi không thể làm nổi việc đó”, ấy thế mà “Tôi làm được việc đó”. Do vậy ta có một  ngỏ cụt tâm thần được dựng lên trong cơ thể tâm thần. Ngõ cụt này biểu hệin bằng năng lượng và rung động. Nếu cá thể không thanh toán được ngõ cụt, nó có thể trở thành một hình thái tư tưởng phân ly và rơi vào vô thức. Điều này tác động lên cơ thể cảm xúc (qua rung động cảm ứng mô tả ở trên) và gây nên sợ hãi, bởi vì người này không thể giải quyết được vấn đề. Nỗi sợ hãi đó dựa trên tính hão huyền và không được người này chấp nhận. Do đó nó bị nghẽn và một thời gian sau cũng có thể trở thành vô thức. Vì không còn dòng chảy cảm nghĩ tự do như trước trong cơ thể cảm xúc, nơi mà thêm nhiều đốm màu tối của năng lượng ứ đọng hoặc năng lượng rất yếu sẽ xuất hiện, cho nên tình trạng gãy vỡ này sẽ bị dồn xuống để đi vào cơ thể etheric trong hình thái các vạch rối rắm hoặc bị rách của lực sáng. Do chỗ những vạch này là những đường l ực hoặc là cấu trúc kẻ ô trên đó các tế bào của thân thể sinh trưởng, cho nên vấn đề của cơ thể etheric sẽ được truyền vào thân thể và trở thành bệnh tật trong thân thể.
 

Trong ví dụ của ta (hình 15-4), nỗi sợ hãi đó có thể phá vỡ tầng etheric tại đám rối thái dương, gây nên trạng thái âm thịnh trong khu vực đó và nếu cá thể không đủ khả nănggiải quyết tình trạng khó xử đặc biệt đó. Tình trạng gãy vỡ này,nếu cứ để cho tiếp tục,  sẽ gây nên gãy vỡ về chuyển hóa năng lượng hóa học trong thân thể, làm cho các hệ thống của thân thể nên mất cân bằng và cuối cùng là mắc bịnh. Trong thí dụ của ta, âm thịnh tại đám rối thái dương có thể gây ra trạng thái tăng axit trong dạ dày (bao tử) vá cuối cùng gây ra các ổ loét.
Như vậy, trong hệ thống bị bịnh, năng lượng mất cân bằng tại các cơ thể bên trên được tuần tự truyền xuống đi vào các cơ thể bên dưới, cuối cùng gây nên bịnh tật trong cơ thể. Trong hệ thống bị bịnh, tính nhạy cảm đối với những cảm giác của cơ thể lúc nầy suy giảm và có thể dẫn đến mất nhạy cảm đối với nhu cầu của cơ thể, biểu hiệu qua chế độ ăn không thích hợp chẳng hạn, điều nầy có thể tạo ra một mạch feedback tiêu cực của nhiều năng lượng mất cân bằng hơn. Mỗi cơ thể bị phá vỡ hoặc mất cân bằng cũng có tác động phá vỡ đối với cơ thể ngay bên trên nó. Căn bịnh nầy có khuynh hướng tạo thêm căn bịnh khác.

Các quan sát bằng tri giác cao cấp của tôi cho thấy : Trên các vầng số chẵn của trường hào quang, bịnh tật mang hình thái các tắc nghẽn mô tả trước đây trong cuốn sách nầy- năng lượng màu tối nạp thiếu, nạp thừa hoặc bị bít. Trên các vầng cấu trúc của trường hào quang, bịnh tật mang hình thái biến dạng, gãy vỡ hoặc rối rắm. Có thể có những lỗ thủng trong cấu trúc kẻ ô ở bất cứ vầng số lẽ nào của hào quang. Thuốc men có tác động mạnh đến hào quang. Tôi đã nhìn thấy những hình thái năng lượng màu tối còn lại trong gan do thuốc men dùng chữa một số bịnh trước đó. Viêm gan để lại màu da cam trong gan nhiều năm sau khi bịnh được cho là chữa khỏi. Tôi đã nhìn thấy thuốc cản quang mà trước đó mười năm người ta bơm vào cột sống để chẩn đoán vết thương, mặc dầu đã dự kiến là sau một vài tháng sẽ được thân thể tải ra hết. Hoá trị liệu làm tắc nghẽn toàn bộ trường hào quang, đặc biệt là gan, lúc này có nặng lượng tựa như chất nhầy màu nâu hơi lục. Xạ trị liệu cọ sờn các vầng cấu trúc của trường hào quang như chiếc Bít tất ni lông bị đốt. Phẩu thuật gây nên những vết sẹo trong vầng hào quang thứ nhất và đôi khi suốt dọc đường đi tới vầng thứ bảy. Những vết sẹo, biến dạng và tắc nghẽn nầy có thể chữa khỏi bằng cách giúp đỡ thân thể tự chữa lấy ; nếu chúng vặn vẹo thì thân thể tự chữa trị khó khăn và mất nhiều thời gian hơn. Khi một cơ quan bị cắt bỏ, thì thường cơ quan etheric có thể được tái tạo và phục vụ cho việc giữ hài hòa trong các cơ thể hào quang bên trên thân thể. Tôi vẫn thường hình dung rằng một ngày nào đó, khi có thêm kiến thức về trường hào quang và về hóa sinh học, có thể sẽ có khả năng làm cho những cơ quan đã cắt bỏ mọc lại được.

Vì luân xa là những điểm nhận năng lượng vào tối đa cho nên chúng là những tiêu điểm cân bằng rất quan trọng bên trong hệ thống năng lượng. Luân xa mất cân bằng sẽ dẫn đến bịnh tật. Luân xa càng mất cân bằng thì bịnh tật càng nghiêm trọng.  Như đã trình bày trong chương 8, Hình 8-2, các luân xa hiện ra như những cuộn xoáy năng lượng  tạo nên bởi một số hình chóp xoắn ốc năng lượng nhỏ hơn. Luân xa người lớn có màn chắn bảo vệ bên trên. Trong một hệ thống lành mạnh, những hình chớp xoắn ốc nầy xoay tròn nhịp nhàng đồng bộ với những cái khác, thu hút năng lượng từ trường năng lượng vũ trụ vào trong các trung tâm của chúng để cho thân thể sử dụng. Mỗi hình chóp được « điều chỉnh » theo tần số đặc trưng mà cơ thể cần để hoạt động một cách lành mạnh. Nhưng trong một hệ thống bị bịnh, những cuộn xoáy nầy không hoạt động đồng bộ. Các hình chóp xoắn ốc năng lượng tạo nên các cuộn xoáy nầy có thể xoay nhanh hay chậm, xóc nảy lên hoặc không cân xứng. Đôi khi có thể quan sát thấy những đường gãy trong mô hình năng lượng. Một hình chóp xoắn ốc có thể xẹp hoàn toàn hoặc một phần, hay lộn ngượvc lại. Những rối loạn  này liên quan đến một số rối loạn chức năng hoặc bệnh lý của thân thể  trong khu vực đó. Ví dụ, ở một trường hợp rối loạn chức năng của não, Schafica  Karagulla nhận xét trong công trình đi sâu vào tính sáng tạo rằng một trong các cuộn xoáy nhỏ của luân xa đỉnh đầu thay vì đứng thẳng đã rũ xuống như thế nào đó mà bà đã tưởng nó bình thường. Ma trận bên trong não của người nầy cho thấy những « lỗ hổng » mà tại đó năng lượng phải nhảy qua. Cái « khoảng đánh lửa « ấy tương ứng với phần não đã đuợc phẫu thuật cắt bỏ trước đó. John Pierrakos trong công trình Trường hợp vỡ tim thuật lại rằng ông đã quan sát thấy rồi loạn trong luân xa tim ở những bịnh nhân bị chứng đau thắt ngực và bịnh ở động mạch vành tim. Các luân xa nầy, đáng lẽ gồm những cuộn xoáy xoay tít sáng chói, thì lại hiện ra bị tắc nghẽn bởi một chất lờ đờ màu tối.
 
 

Một số ví dụ đặc trưng trong các quan sát của tôi về những luân xa biến dạng được nêu lên trong Hình 15-5. Hình 15-5A cho thấy dung mạo của mọi thoát vị khe má tôi đã quan sát thấy. Luân xa đám rối thái dương có tám cuộn xoáy nhỏ hơn. Cuộn xoáy nhỏ khu trú ở nửa trái người, tại góc phần tư trên trái, trông tựa như một cái lò xo bật mạnh ra. Biến dạng nầy hiện ra trên suốt chặng đường đi ra tới vầng thứ bảy của hào quang. Hình 15-5B cho thấy đỉnh của một trong những cuộn xoáy nhỏ bị rứt ra. Tối đã chứng kiến hiện tượng nầy ở nhiều luân xa. Nó xuất hiện tại luân xa 1 sau khi bị một số chấn thương ở xương cụt. Nó xuất hiện tại luân xa đám rối thái dương sau khi xảy ra một chấn thương tâm lý nghiêm trọng. Nhiều lần nó xuất hiện như một chấn thương sau mổ tại luân xa nằm ở vùng tiến hành phẫu thuật. Hình 15-5C là một luân xa bị bít. Những người bị viêm họng đều có năng lượng tắc nghẽn màu tối tại luân xa tim. Ở ba ngưởi bị AIDS mà tôi quan sát được, luân xa 1 và luân xa 2 bị bít, và có trường hợp toàn bộ trường hào quang bị tắc nghẽn, kể cả vầng thứ bảy, tùy theo thời gian bịnh tiến triển. Một luân xa bị rách, như trình bày ở Hình 15-5D, xuất hiện trên các bịnh nhân ung thư mà tôi quan sát được. Một lần nữa, các dung mạo liệt kê ở đây đi tới được vầng thứ bảy. Một luân xa có thể bị rách, và ung thư có thể không hiện ra trong cơ thể cho đến hai năm sau hoặc hơn. Màn chắn được bảo vệ hoàn toàn bị rứt ra khỏi luân xa nầy. Ở những người bị thể ung thư nặng, tôi nhìn thấy vầng thứ bảy bị rách từ chân trên suốt chặn đường đi qua các luân xa 1,  2 và 3 và đi vào luân xa tim. Tác động  của vầng thứ bảy bị rách là làm thất thoát nhiều năng lượng qua trường hào quang. Thêm vào việc mất năng lượng, bịnh nhân còn là mục tiêu cho tất cả các loại ảnh hưởng bên ngoài làm tổn thương không chỉ về tâm lý mà còn cả về thể chất. Trường hào quang không có khả năng đẩy lùi sự đột nhập của những năng lượng không lành mạnh đối với hệ thống hấp thu. Hình 15-5E trình bày một ví dụ trong đó toàn bộ luân xa bị kéo sang một bên. Tôi thường hay gặp hiện tượng nầy tại luân xa 1, nơi mà người ta đã liên kết năng lượng của mình với đất chủ yếu qua một chân, trong khi chân kia bị yếu. Điều nầy thường phối hợp với tình trạng xương cụt trước đó đã bị ép sang một bên.
Bước đầu tôi cho rằng mỗi cuộn xoáy của luân xa cung cấp năng lượng cho một cơ quan đặc trưng. Tôi đã chú ý thấy  rằng mỗi lần có rối loạn ở tuyến tụy thì cũng có rối loạn tại một cuộn xoáy nào đó bên phiá trái của luân xa đám rối thái dương, ngay ở dưới cái có phối hợp với thoái vị khe, cỏn khi rối loạn xảy ra trong gan thì một cuộn xoáy khác trong  cùng luân xa bị tổn thương, cái nằm ở gần gan.

Hình 15-5F cho thấy một biến dạng xảy ra do sử dụng liệu pháp maratông quá mạnh. Sau một tuần điều trị theo nhóm cùng với cậu con nghiện ma túy, một bà trở về nhà với một cuộn xoáy bỏ ngỏ hình nêm. Nó nhợt nhạt, hầu như không xoay và không còn màn chắn bảo vệ. Từ khi tôi thấy ra vấn đề, một tuần sau khi thử nghiệm, tôi đã phục hồi được hào quang trước khi có thêm những thương tổn khác xảy ra. Giả thử trưóc đó tôi không làm như thế thì cuối cùng chắc chắn bà này đã có những vấn để ở gan, cơ quan liên quan đến cuộn xoáy bị suy yếu, hoặc là bà ta đã tự chữa trị bằng cách nào đó.

Có thêm nhiều dung mạo nữa có thể xảy ra. Như bạn có thể thấy, nhiều khi chỉ là những trường hợp lệch lạc cấu trúc đơn giản. Tôi đã nhìn thấy những luân xa rốt cuộc bị lộn trái từ trong ra ngoài, kích thước bị rộng ra hoặc thu hẹp lại rất dử. Tất cả cuối cùng đều dẫn đến bệnh tật và tất cả đều liên quan đến năng lượng ý thức hoặc biểu hiện hệ thống niềm tin và trải nghiệm của cá thể, như đã được luận bàn trên đây. Nói cách khác, bệnh tật ở vùng nào của trường hào quang thì sẽ tự biểu hiện ở mức ấy của ý thức. Mỗi biểu hiện là một hình thái nào đó của đau đớn, dù là thể chất, cảm xúc, tâm thần hay tâm linh. Đau đơn là cơ cấu gắn liền báo động cho ta chú ý có chuyện trục trặc để ta làm điều gì đó về chuyện này. Nếu ta không nghe bản thân trước , nếu ta cứ tiếp tục phớt lờ cái ta biết là mình muốn hoặc cần làm, thì cuối cùng bệnh tật sẽ giúp ta lắng nghe. Đau đớn dạy cho ta biết yêu cầu sự giúp đỡ và chữa trị, và vì thế nó là chìa khoá của việc giáo dục linh hồn.

Tập tìm ý nghĩa riêng của bệnh tật của bạn.

Câu hỏi chỉa khóa trong quá trình chữa trị rèn luyện là “Bệnh này đối với tôi có ý nghĩa gì? Nội dung thông điệp của thân thể gởi cho tôi? Tôi đã quên con người thực của mình như thế nào? Bệnh tật là câu trả lời đặc trưng cho câu hỏi: “Đau đớn này phục vụ tôi ra sao ?  

Ai cũng tạo ra bệnh tật ở chừng mực nào đó trong thân thể mình. Nếu bạn nhìn lại căn nguyên bạn sẽ thấy bao giờ bệnh tật cũng dựa trên chuyện ta quên con người thực của mình. Chừng nào mà ta còn tin rằng mình phải phân cách ra để cá thể hóa, thì ta còn tiếp tục tạo nên bệnh tật. Một lần nữa ta trở về điểm ta xuất phát - từ quan điểm toàn đồ về vũ trụ.

Điểm lại chương 15

1.      Mối quan hệ giữa bệnh tâm thể và hào quang là gì?
2.      Theo quan điểm trường năng lượng con người htì căn nguyên của mọi bệnh tật là gì?
3.      Hãy mô tả cung cách mà bệnh tật được tạo nên qua trường năng lượng của con người.

Để làm động não.

4.      Hãy dành một ít phút để chiêm nghiệm về cung cách mà quá trình bệnh tật có thể diễn ra trong thân thể bạn. Hãy mô tả nó.
5.      Những niềm tin của ta đã định hướng các trải nghiệm của ta như thế nào, và trường năng lượng con người của ta giữ vai trò gì trong việc sáng tạo này? 

 
📎 hinh151|hinh152|HInh154|Hinh 15-3|hịnh 15-5|Hinh 15-3|hịnh 15-5|Hinh 15-3

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-09 15:10:28Huyền Băng>
HÌNH 15-5,





_____________________

Đã đưa vào thư viện tới chương 15.
📎 hinh15-5|Hinh 15-3

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-09 10:22:02NuHiepDeThuong>
Đã đưa vào thư viện tới chương 15.

____________________

 

📎 Hinh153

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-09 22:15:36NuHiepDeThuong>
Chương 16
 
Quá trình chữa trị, Một quan điểm tổng quát
 
Cái mà thầy chữa phải cống hiến cho bệnh nhân và nghề y gồm ba thứ: một quan điểm khác biệt và rộng mở về nguyên nhân bệnh và điều trị bệnh ; con đường thu thập thông tin về mọi cuộc đời hay mọi tình huống y học mà các biện pháp khác không thể thu được; và thao tác trực tiếp lên bệnh nhân nhằm nâng cao các khả năng chữa trị của họ. Kết quả thần diệu ra sao không phải điều quan trọng, thực tế là thầy chữa cảm ứng bệnh nhân để họ tự chữa trị bằng những quá trình tự nhiên dù rằng đối với những ai không quen cách chữa trị này các quá trình đó vượt qua cái vẫn được coi là tự nhiên. Cơ thể của bạn và hệ thống năng lượng của bạn chuyển dịch tự nhiên theo chiều hướng có lợi tới sức khoẻ. Dĩ nhiên bác sĩ cũng làm việc theo những nguyên tắc đó. Nhưng với gánh nặng của nhiều trường hợp không liên quan đến riêng ai như vậy, và phải đối đầu thường xuyên với bệnh tật, nhiều bác sĩ dần dà đi tới chỗ điều trị từng tập hợp đặc trưng các triệu chứng, việc này đôi khi có thể không phải theo chiều hướng có lợi cho sức khoẻ. Đối với thầy chữa, sức khoẻ không có nghĩa chỉ là sức khoẻ trong thân thể mà cũng là cân bằng và hài hòa trong mọi phần của cuộc đời.
 
Quá trình chữa trị thực sự là một quá trình nhớ lại, nhớ lại con người thực của ta. Trong phạm vi hào quang, quá trình chữa trị là quá trình tái cân bằng năng lượng tại từng cơ thể. Khi toàn bộ năng lượng tại mỗi cơ thể được cân bằng thì sẽ có sức khoẻ. Linh hồn đã học được bài học đặc biệt này, vì vậy nó có chân lý vũ trụ.
 
Ngày nay có hai lối đi vào chữa tri. Một là chữa trị “bên trong?, thiết lập cân bằng và sức khoẻ tại mói mức của con người bằng cách tập trung và xử lý trực tiếp các diện mạo thể chất, cảm xúc, tâm thần và tâm linh của con người, theo cung cách mà con người tạo nên các hệ thống niềm tin và thực tại của mình. Hai là chữa trị “bên ngoài”, giúp tái lập cân bằng tại các vầng hào quang khác nhau, bao gồm các hệ thống thân thể, bằng cách dùng năng lượng được chắt lọc từ trường năng lượng vũ trụ.
 
Tôi gợi ý rằng chữa trị “bên trong” là quan trọng nhất, song các phương pháp chữa trị “bên ngoài” là cần thiết để bổ sung cho quá trình này.
 
Quá trình chữa trị bên trong
 
Quá trình chữa trị bên trong tiến hành việc tái cân bằng năng lượng tại từng cơ thể bằng đó tập trung vào biểu hiện của mất cân bằng được điều chỉnh nó và sửa chữa vầng hào quang thích hợp bằng thao tác bàn tay. Việc sắp xếp lại trong mỗi cơ thể giúp cho việc lập lại cân bằng trong các cơ thể khác.
 
Quá trình chữa trị bên trong, mệnh danh là chữa trị tổng phổ, được luận bàn với đầy đủ chi tiết tại Chương 22. Ở đây chúng tôi chỉ mô tả ngắn gọn.
 
Trong việc chữa trị mức ketheric mẫu, hệ thống niềm tin sai trái được đưa vào ý thức và được thử thách. Việc chữa trị được tiến hành tại vầng thứ bảy của trường hào quang. chữa trị chủ yếu là sửa chữa và tái cấu trúc cơ thể này tại bất kỳ chỗ nào cần đến.
Hình 16 – 1  

  
 
Việc sửa chữa vầng thứ bảy tự động làm cho vầng thứ sáu khai mở để có thêm yêu thương thượng giới.
 
Ở mức thượng giới, thầy chữa tham dự vào yêu thương thượng giới hay yêu thương vạn vật và chỉ đơn giản dẫn kênh cho nó đi tới bệnh nhân.
 
Ở mức etheric mẫu, cơ thể hào quang được sắp xếp lại bằng phẫu thuật tâm linh. Việc này có tác động đem ý chí lên xếp ngang hàng với Ý chí siêu phàm.
 
Ở mức tinh tú, việc chữa trị được tiến hành bằng thanh nạp và yêu thương. thầy chữa tham dự vào thực tại tình yêu thương nhân loại và dẫn kênh cho năng lượng đi tới bệnh nhân. Việc này cho phép mức tâm thần bắt đầu thư giãn và buông lỏng một vài hệ thống phòng vệ.
 
Ở vầng tâm thần, thầy chữa thử thách các quá trình tư duy sai trái đã tạo nên mất cân bằng tại mức này. Các quá trình tư duy đó dựa trên lô gích của đứa trẻ đã từng trải nghiệm chấn thương. Khi lớn lên và bắt đầu nhận thức được các quá trình đó thì người hày dễ dàng xem việc hiện hữu của chúng là có mục đích và người này có thể thay thế chúng bằng các quá trình tư duy chính chắn hơn.  Thầy chữa thao tác để tái cấu trúc vầng này của trường hào quang bằng cách giúp bệnh nhân hình dung ra những cách giải quyết mới cho các vấn đề cũ.
 
Ở vầng cảm xúc, bằng cách sử dụng kỹ thuật thanh nạp, thầy chữa giúp bệnh nhân dọn sạch những cảm nghĩ bị tắc nghẽn. Đôi khi trong suốt thời gian chữa trị bệnh nhân sống lại các chấn thương cũ và trải nghiệm toàn bộ cảm nghĩ bị tắc nghẽn. Nhiều khi các chấn thương được thầy chữa lấy đi mà bệnh nhân không nhận thức được chúng.
 
Ở vầng etheric, thầy chữa tiến hành sắp xếp ngay ngắn và sửa chữa để tái cấu trúc vầng này, lập lại cảm giác hạnh phúc và sức khoẻ.
 
Thao tác trực tiếp lên thân thể, các bài tập, các tư thế và lời nói được sử dụng để giải toả các tắc nghẽn thể chất, chẳng hạn như sức căng trong bắp thịt, béo phì hoặc ốm yếu.
 
Trong quá trình chữa trị tổng phổ, tất cả các cơ thể được thao tác cùng nhau. Quá trình này được tiến hành bằng những buổi chữa tiêng hay đôi khi theo nhóm có mặt thầy chữa. Trong quá trình này, sức khoẻ của thân thể thường xuất hiện cuối cùng, sau khi các cơ thể hào quang đã được cân bằng. Có thể chữa trị một buổi là khỏi, mà cũng có thể phải hàng năm trời.
 
Có thể bạn ngạc nhiên là bằng cách nào mà các thầy chữa làm được mọi thứ đó. Bởi vì họ có con đường thu thập một lượng thông tin khổng lồ bằng cách bành trướng ý thức.
 
Quá trình chữa trị bên ngoài
 
Để kích thích và thúc đẩy việc chữa trị căn bản đó, các phương pháp chữa trị bên ngoài được sử dụng (và trong nhiều trường hợp rất cần thiết) bởi vì cho đến khi hệ thống niềm tinh được điều chỉnh, ta không thể bỏ mặc những triệu chứng thể chất đã bị các hệ thống niềm tin sai trái làm lan rộng. Đôi khi cần thiết phải chỉ định chữa trị bên ngoài để cứu sống sinh mạng. tuy nhiên, nếu như chữa trị bên trong cũng không được tiến hành và hệ thống niềm tin sai trái không được thử thách thì bệnh tật sẽ lại ùa vào thân thể, thậm chí sau khi đã hết các triệu chứng hiện tại.
 
Với tiến bộ của thực hành y học tổng thể, nhiều phương pháp chữa trị đang được phát triển và chứng tỏ là đáng tin cậy. nhiều bác sĩ nhấn mạnh chế độ ăn uống, thức ăn bổ sung như vitamin và chất khoáng, các chương trình thể dục và dưỡng sinh để giữ cho con người được khoẻ mạnh. Các nhà chuyên nghiệp chăm sóc sức khoẻ thuộccác lĩnh vực vi lượng đồng căn, đánh bão lưng, châm cứu, vận động, xoa bóp và các thao tác khác .. đang hành nghề khắp nước giúp giữ gìn sức khoẻ. Người ta bắt đầu có ý thức hơn với các chương trình thể dục thích nghi đều đặn và kiểm tra sức khoẻ thường kỳ để ngăn chận bớt khó khăn có thể xảy ra trước khi nó trở nên trầm trọng. Chữa trị bằng thao tác bằng tay hiện đang được thực hành khắp nước dưới nhiều dạng. Người ta quan tâm đến kiểu chữa trị bằng phù phép shamanism và các hình thức chữa trị cổ truyền khác. Các nhà phẩu thuật tâm linh đều đặn viếng thăm xứ sở này và thao tác trên hàng trăm người. chúng ta đang trong một cuộc cách mạng về chăm sóc sức khoẻ. Vì sao vậy?  
 
Với sự ra đời của kỹ thuật hiện đại và sự vắng bóng người thầy thuốc gia đình, ngành y đã mất dần tính chất phục vụ từng người . Trước đây người thầy thuốc gia đình nhận trách nhiệm về sức khoẻ của từng người trong nhà, năm chắc lịch sử của gia tộc, có khi biết được nhiều thế hệ. Ngày nay các bác sĩ thậm chí không nhớ tên bệnh nhân vì có quá đông người đến chữa. Tình hình thay đổi đã làm cho nhiều khi một kỹ thuật diệu kỳ có thể cứu được nhiều sinh mạng, bác sĩ chắn hẳn không thể nhận trách nhiệm về sức khoẻ của từng bệnh nhân. Có nơi, vào lúc cần thiết thì trách nhiệm đó lại rơi trở lại vào chính người bệnh. Đó là cơ sở cho cuộc cách mạng về chăm sóc sức khoẻ. Lúc này, nhiều người muốn tự lãnh trách nhệim đối với sức khoẻ của mình hơn/ để làm cho thay đổi này được êm thấm, cách tốt nhất là hợp nhất các phương pháp hữu hiệu, có vậy việc chữa trị mới dần dà trở lại phục vụ từng người riêng rẽ, như một thời người ta đã làm trong lịch sử của chúng ta.
 
Thầy chữa và bác sĩ có thể cùng làm việc như thế nào
 
Nếu cả thầy chữa lẫn bác sĩ cũng làm việc thì có thể khai thác được thế mạnh của kỹ thuật tốt nhất và của mối quan tâm riêng vốn có đến từng người bệnh. Ta hãy xét xem việc đó sẽ diễn ra như thế nào.  
 
Thầy chữa có thể giúp cho bác sĩ về ba điều đã nêu ở phần mở đầu chương này, đó là: đưa ra một quan điểm rôộg hơn về mọi yếu tố gây bệnh; cung cấp thông tin những dử liệu mà các phương pháp chuẩn hiện tại không thu được hoặc không thu kịp trong một thời gian hạn định; và cung cấp thao tác bàn tay nhằm làm cân bằng hệ thống năng lượng của bệnh nhân, kích thích và thúc đẩy việc chữa trị. nhiều khi cố gắng cuối cùng này lại giúp bệnh nhân thu được sức khoẻ cần thiết cho việc cứu mạng. 
 
Trong thực hành lâm sàng, thầy chữa có thể làm việc trực tiếp cùng với bác sĩ và bệnh nhân bằng cách lập bệnh án đầu tiên để xác định vấn đề, đưa ra một cách nhìn tổng quát về mức độ mất cân bằng năng lượng (và do đó về mức độ trầm trọng của vấn đề), cung cấp một quan điểm rộng hơn về các yếu tố gây bệnh, và trao đổi với bệnh nhân về ý nghĩa của căn bệnh đối với đời sống của họ.
 
Các phương pháp chẩn đoán của thầy chữa sẽ được luận bàn trong các chương tới. Thầy chữa có thể nhận được những lời khuyên qua sử dụng tri giác cao cấp về chủng loại và số lượng thuốc men đặc hiệu cần thiết, các kỹ thuật chữa trị bổ sung, chế độ ăn uống, thức ăn bổ sungvà tập luyện. thầy chữa có thể theo dõi ca bệnh cùng với bác sĩ, và qua sử dụng tri giác cao cấp lại có thể đưa ra những lời khuyên về liều lượng thuốc và những nhu cầu bổ sung cần thay đổi hằng tuần, hằng ngày, thậm chí hằng giờ. Bằng cách đó, thầy chữa và bác sĩ có thể cùng nhau đạt được một trình độ “điều chỉnh chính xác” trong chăm sóc bệnh nhân mà trước đây không bao giờ hình dung nổi. Thầy chữa có thể quan sát trường năng lượng của bệnh nhân để cho biết thuốc men hoặc các phương pháp chữa trị khác đã tác động ra sao trên toàn thân bệnh nhân.
 
Tôi đã tiến hành một phần công việc này và thấy rất có hiệu quả. Tôi gặp Mietek Wirkus một nhà chữa trị cũng tiến hành việc này  ba năm nay cùng các bác sĩ tại một bệnh khoa trực thuộc Hội y học Izics ở Vacsava, Ba Lan, được đặc biệt tổ chức cho kiểu chữa trị này. Họ rất thành công và vẫn tiếp tục. Hồ sơ tại bêệh khoa này cho thấy thao tác bàn tay, gọi là phương pháp chữa bệnh bằng nhân điện (Bioenergotherapy, BET) , có hiệu quả nhất đối với các bệnh ở hệ thần kinh vàn hững hậu quả của chứng đau nửa đầu, trong chữa trị hen phế quản, tiểu dầm đêm, bệnh thần kinh, các bệnh tâm thể, loét dạ dày, một vài thể dị ứng, u nang buồng trứng, u lành, vô sinh, đau khớp và một số loại đau khác. Chữa bằng nhân điện giúp làm dịu đau do ung thư, giúp hạ bớt liều lượng các thuốc giảm đau hoặc an thần dùng cho bệnh nhân. Chữa điếc trẻ em cũng thu được kết quả tốt. Trong phần lớn trường hợp, các bác sĩ phát hiện ra rằng sua khi được chữa bằng nhân điện, bệnh nhân trở nên trầm tĩnh và thư giãn, hết đau hoặc đỡ đau, và bình phục nhanh hơn (đặc biệt sau phẫu thuật hoặc nhiễm khuẩn) . Trên đất nước Hoa Kỳ, nhiều thầy chữa bắt đầu làm việc cùng với bác sĩ. BS Dlores Krieger dạy thao tác bàn tay cho y tá ở Trung tâm y học New  York từ nhiều năm nay, và họ thực hành phương phaá này tại bệnh viện. Rosalyn Bruyere, giám đốc Trung tâm chữa trị bằng ánh sáng, Glendale, California, hướng dẫn cho nhiều bệnh viện thực hành chữa trị và tham gia một số công trình nghiên cứu nhằm xác định tính hiệu quả của thao tác bằng tay đối với nhiều loại bệnh khác nhau.
 
Một loại hình nghiên cứu khác có thể thực hiêệ bằng cách dùng tri giác cao cấp nhằm giúp các nhà nghêin cứu tìm ra nguyên nhân và chữa những lạoi bệnh tưởng chừng không chữa được, như ung thư chẳng hạn. Với tầm nhìn thấu thị, như sẽ được luận bàn trong chương tới, thầy chữa có thể quan sát được quá trình bệnh khi tiến hành thao tác bên trong cho bệnh nhân. Thật là một công cụ tuyệt vời hỗ trợ cho nghiên cứu!
 
Sử dụng tri giác cao cấp, thầy chữa có thể nói cho biết phương pháp nào trong số nhềiu phương pháp chữa trị toàn đồ là tốt nhất cho từng trường hợp qua quan sát tác động của nó trên hào quang của bệnh nâhn. Chữa trị sẽ cho kết quả nhanh hơn khi thầy chữa khuyên bảo bệnh nhân tập trung vào phương pháp hữu hiệu nấht đối với ho. Chẳng hạn, trong các quan sát của mình, tôi đã ghi nhận rằng các phương pháp hoặc thuốc thang khác nhau thì tác động lên các vầng hào quang khác nhau. Aubrey Westake torng tác phẩm của mình Mô hình sức khoẻ đã chỉ rõ vị nào trong phương thứôc Bach Flower chữa chị cho mức hào quang nào. Tôi đã quan sát thấy chất vi lượng đồng căn nào có hiệu lực cao bao nhiêu thì tác động mạnh lên cơ thể hào quang bấy nhiêu. Các chức có hiệu lực cao trên 1M tác động lên bốn vầng bên trên của trường hào quang, còn các chất có hiệu lực thấp hơn thì tác động lên các mức hào quang bên dưới. Vì các chất có hiệu lực cao kinh khủng cho nên bao giờ người ta cũng dạy cho những người thực hành trẻ tuổi trước tiên haã bắt đầu với những chất có hiệu lực thấp (cho các cơ thể có năng lượng thấp) sau đó mới đi lên các cơ thể bên trên sau khi tìm được phương thuốc chính xác. Trong quá trình thao tác bàn tay, thầy chữa có thể chọn cơ thể hào quang nào để tác động. Cũng đúng như vậy khi ta tự chữa trị bằng thiền định, trong trạng thái này, con người cóthể tác động lên tới tất cả các cơ thể hào quang. Bức xạ  học là phương pháp chưng cất năng lượng chữa trị từ trường năng lượng vũ trụ bằng cách sử dụng các máy móc để phát ra các “dải” hoặc “tần số”. Song song với cảm xạ học, bức xạ học truyền đi rộng rãi những năng lượng quanh trường năng lượng vũ trụ tới những bệnh nhân ở rất xa thầy thuốc. Một mẫu thử về huyết học hay một mẫu tóc lấy từ bệnh nhân thường được sử dụng làm anten. Nhà chữa trị bằng bức xạ học có thể chọn vầng hào quang nào mình sẽ thao tác lên.
 
Khoa đánh bão lưng chắc chắn vương tới được ba mức hào quang đầu tiên, cũng như dược thảo, vitamin, dược phẩm và phẩu thuật. Dĩ nhiên thao tác bàn tay, thiền định để chữa trị, hay chữa trị bằng ánh sáng, màu sắc, âm thanh hay tinh thể, tất cả đều vươn tới các mức bên trên của trường hào quang. Qua nghiên cứu, chúng ta có thể học được cách sử dụng các phương thức chữa trị này có kết quả tốt nhất.
 
Nhiều tác phẩm đã được viết về các loại chữa trị này. Tôi gợi ý một số cuốn sau đây để các bạn có thể tham khảo thêm: khoa học về vi lượng đồng căn của BS George Vithoulkas. Các chiều của Bức xạ học của BS David Tansely. Khoa đánh bão lưng, một phương thức hiện đại cho sức khoẻ của BS Julius Dontenfass, Châm cứu cổ truyền: định luật năm yếu tố của TS Dianne M.Connelly.
 
Nghề y trên xứ sở này đã tập trung chủ yếu vào thân thể và trở nên tinh thông trong lĩnh vực đó, nhất là đối với bệnh của các cơ quan đặc hiệu vàcủa các hệ thống cơ quan. Thuốc men và phẫu thuật là những phương pháp chính được sử dụng. Một trong những vấn đề chủ yếu của việc dùng thuốc men và phẩu để điều trị là các phản ứng phụ kinh khủng mà chúng thường gây nên. Thuốc men được kê đơn dựatheo sự hểu biết về hoạt động của thân thể, nhưng chúng cũng chứa đựng những năng lượng ở dạng cao cấp mà dĩ nhiên về sau sẽ tác động lên các cơ thể bên trên. Tác động của những thuốc này lên các cơ thể bên trên chưa được nghiên cứu trực tiếp khi thử nghiệm thuốc để chuẩn bị đưa ra sử dụng.
Nói đúng hơn, tác động của các năng lượng bậc cao này chỉ được nhìn thấy khi àm cuối cùng chúng bị dồn xuốngthân thể. Tôi đã nhì nthấy hậu quả của những htuốc nằm lại trong hào quang trên dưới mười năm sua khi sử dụng. Chẳng hạn, có một loại thuốc sử dụng một lần để chữa viên gan đã được coi như gây ra suy giảm miễn dịch sau đó năm năm. Một thuốc nhuộm màu đỏ bơm vào cột sống với mục đích thăm dò đã ngăn cản việc chữa trị ở các dây thần kinh tủy sống sau đó mười năm.
 
Tiến tới một hệ thống chữa trị toàn đồ
 
Tôi tin rằng các hệ thống chữa trị toàn đồ trong tương lai sẽ kết hợp cái kết cấu kinh khủng của kiến thức” phân tích” trong nghề y truyền thống với kiến thức “tổng hợp” về các hệ thống năng lượng của cơ thể bên trên. Các hệ thống chữa trị toàn đồ trong tương lai sẽ chẩn đoán và mô tả việc chữa trị cùng một lúc cho tất cả các cơ thể năng lượng và thân thể theo yêu cầu của bệnh nhân và hợp nhất các quá trình chữa trị bên trong với các quá trình chữa trị bên ngoài. Các bác sĩ, các nhà đánh bão lưng, vi lượng đồng căn, các thầy chữa, các nhà điều trị học, châm cứu, v.v… tất cả sẽ cùng nhau làm việc để giúp cho quá trình chữa bệnh. Bêệh nhân sẽ được coi như một linh hồn trên hành trình trở về lại bản ngã thực, bản ngã Thượng đế, và bệnh tật sẽ được coi như một trong các phương thức chỉ dẫn cho người hành hương đi đúng hướng.
 
Để làm việc này, ta cần sử dụng những phương pháp pâhn tích đã được nghề y phát triển để đào sâu vào những điều bí ẩn của các cơ thể bên trên, nhằm thu thập hiểu biết về hoạt động và cấu trúc của chúng. Ta cần những đồ ăn nghiên cứu chung trong đó các phương pháp chữa trị cho cơ thể bên trên được kiểm tra theo phép chữa đối chứng hiện hành mang tính khoa học của ngành ý, để thấy được các kết quả phối hợp. Thuốc men và các phương pháp vi lượng đồng căn - được sử dụng theo phép chữa đối chứng – cùng nhau tác động như thế nào? Những cái nào hài hòa với nhau hổ trợ và nâng cao việc chữa bệnh? Những cái nào đối kháng và không được dùng chung với nhau?
 
Ta phải tập trung vào việc tìm ra các phương pháp phát hiện để quan sát các cơ thể năng lượng. Vì cơ thể etheric gồm chất thô nhất, nó giống thân thể nhất và chắc hẳn là dễ phát hiện nhất, cho nên ta phải tập trung vào nó trước tiên. Ta sẽ có một công cụ ghê gớm biết mấy nếu ta tạo được một bức chân dung cấu trúc kẻ ô của cơ thể ehteric để chỉ ra được các cân bằng và mất cân bằng năng lượng. Với thông tin này và nghiên cứu thêm, bấy giờ chúng ta có thể tìm ra nhiều phương háp thực tiễn và hữu hiệu hơn để tái cân bằng năng lượng trong cơ thể etheric. Trong tương lai, ta có thể tiến lên khám phá những phương pháp áp dụng cho các cơ thể bên trên.
 
Có như vậy chúng ta mới chữa được tình trạng rối loạn trước khi nó bị dồn xuống thân thể dưới dạng bệnh tật thể chất.
 
Trước hết, tôi sẽ cố gắng dạy cho các nhà chuyên nghiệp chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt là các thầy thuốc, nhìn thấy được các trường hào quang, có vậy họ mới thấy được quá trình bệnh tật hoạt động bên trong thân thể của bệnh nhân. Nhiều bác sĩ đã đưa tay ra nhờ giúp đỡ. Họ gửi cho các thầy chữa những trường hợp gay go nhất của họ. Thường họ làm điều đó một cách vụng trộm. Đã đến lúc ra khỏi buồng riêng và làm việc công khai thành các nhóm chữa bệnh.
 
Với nhiều người được huấn luyện tốt và đủ trình độ thấy được các quá trình bên trong con người chỉ đơn giản bằng nhìn, thì xin hãy tưởng tượng xem họ sẽ đủ sức sức đưa các nghiên cứu ý học tiến xa như thế nào. Có thể tập trung nhêin cứu trên từng bệnh nhân cụ thể với những yêu cầu của họ, hơn là cứ nhấn mạnh vào việc quan sát các động vật trong phòng thí nghiêm. Khi người ta có khả năng đi thẳng vào (“đọc”) loại hình chữa trị mà bệnh nhân cần thì các chương trình sẽ được chỉ định ở mức riêng cho từng trường hợp chữa trị.
 
Heyoan đã tuyên bố rằng “chất liệu chính xác lấy với liều lượng chính xác tại thời điểm chính xác cho từng cá thể thì tác động như một chất liệu cải biến để tạo ra sức khoẻ một cách hữu hiệu nhất, ít phản ứng phụ nhất và trong thời gian nắn nhất có thể có. sức khoẻ ở đây không chỉ đơn thuần là sức khoẻ thể chất; nó là cân bằng trọn vẹn ở mọi mức.
 
Với một tiềm năng như vậy, bây giờ ta hãy nhìn vào nhiều phương thức khác nhau đảm bảo thông tin trên tất cả các mức của hào quang.
 
Điểm lại Chương 16
 

1.Hãy mô tả quá trình chữa trị bên trong.
2.Hãy mô tả quá trình chữa trị bên ngoài
3.Thuốc men tác động lên những mức nào của trường năng lượng con người?
4.Các tác động của y học được kiểm tra trong các thực hành thông thường về y học xảy ra trên những mức nào của trường năng lượng con người?
5.Hiệu lực của một phương thuốc vi lượng đồng căn có liên quan đến hào quang như thế nào?

     
    Để làm động não

    6. Những hiệu quả chủ yếu của sự hiểu biết quá trình bệnh tật qua trường … năng lượng con người trong thực hành y tế? Bao gồm ứng dụng, hoạt động tâm lý học, ý thức trách nhiệm và tự cảm nhận của bệnh nhân?
       
      7. Việc chữa trị qua trường hào quang có thể được hợp nhất vào các thủ tục y học thông thường như thế nào ? 
       

      ___________________________

      Đã đưa vào thư viện tới chương 16. 
      📎 hinh16

      Nhà tranh
      Trang nhạcThơ giao lưu
      Văn
      0
      «« « 1 2 » »»