Diễn Đàn » Trau Dồi Việt Ngữ

Ngẫm nghĩ ngạn ngữ

5 trả lời, 2.971 lượt xem — Trang 1 / 1
Ngẫm nghĩ ngạn ngữ

Q.N




Nói đến văn hoá dân gian, người ta thường nhắc tới các nhân tố của nó như ca dao, truyện cổ, dân ca, cách làm nghề thủ công, kiến trúc nhà ở... mà ít khi nhắc tới ngạn ngữ. Thậm chí trong văn học dân gian người ta cũng ít nhắc tới ngạn ngữ. Kỳ thực ngạn ngữ lại là kho "trí tuệ nhân dân", như nghĩa gốc của từ folklore mà các nhà nghiên cứu ngày nay hay dùng để chỉ văn hoá dân gian. Ngạn ngữ hay tục ngữ là văn chương mà không hẳn là văn chương, là tri thức mà không hoàn toàn là tri thức.


"Một vũng trâu nằm hơn năm làm mướn"


Nó là đúc kết kinh nghiệm về tự nhiên và xã hội, trong ứng xử của con người đối với tự nhiên, đối với con người. Vì truyền miệng nên nó phải rất gọn, rất cô đúc, trong một câu ngắn, thường có vần lưng để dễ thuộc, dễ đọc. Nhưng cũng có khi ngạn ngữ trải thành một câu lục bát, như câu lục bát sau đây:

Cây cao thì gió lọc lừa
Chi bằng cây thấp gió đưa dịu dàng

Tục ngữ đã mượn hình ảnh cây mà chính là để nói người, địa vị của con người. Như câu trên, nếu không tỉnh táo, rất dễ lầm với ca dao là loại bộc lộ tâm tình, tình cảm (như "Ta nhớ mình", "mình quên ta..."). Thực ra, nhận diện tục ngữ hay ngạn ngữ không quá khó, và tiêu chí nó chính là đúc kết của những kinh nghiệm.

Nhưng ngạn ngữ cũng không quá "thật thà", nhất là trên lĩnh vực xã hội. Chẳng hạn câu: "Con gái còn son không bằng tô don Vạn Tượng". Có người thắc mắc: Sao lại đem so sánh con người với một tô don? Đừng quên rằng ngạn ngữ cũng có "quyền" nói kiểu thậm xưng, nói nhấn. Nếu không nói nhấn ắt ấn tượng sẽ kém đi. Như câu trên, so sánh mà không so sánh. Ta có thể hình dung như một ai đó vừa xơi xong một tô don, còn hít hà vì vị cay của ớt, vị ngọt của don mà buộc miệng. Một câu dân gian khác cũng ở trạng thái rất "đã" như thế:

Nghèo nghèo nợ nợ
Cũng kiếm cho được con vợ bán don
Mai sau nó chết cũng còn cặp ui!

Có bao nhiêu quan hệ xã hội thì hình như cũng có bấy nhiêu ngạn ngữ. Chẳng hạn như quan hệ mẹ ghẻ - con chồng:


Mấy đời bánh đúc có xương...

Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng.

Chẳng hạn như đặc tính của quan:

Ban ngày quan lớn như thần
Ban đêm quan lớn tần mần như ma...
Ban ngày quan lớn như cha
Ban đêm quan lớn như là trẻ con...

Nói về nỗi khổ của người làm thuê thì có câu "Một vũng trâu nằm hơn năm làm mướn", nói về đặc tính các địa phương thì có câu "Quảng Ngãi đãi ra sạn", "Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, Bình Định hay lo, Thừa Thiên ních hết"...

Một khối lượng lớn ngạn ngữ nói về tự nhiên và mối quan hệ với tự nhiên, và rõ ràng với tự nhiên, con người có "hiền" hơn, thật thà hơn. Một thứ dự báo thời tiết như "Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa", "Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng bay vừa thì râm" vẫn đúng cho mọi thời. Nhiều câu ngạn ngữ khác cụ thể hơn về một địa phương nào đó. Chẳng hạn như các câu:

Đồng Thi Phổ thổ Ba Tơ
Cây Động Lá cá Suối Răn

Một số câu ngạn ngữ không hẳn là tự nhiên, cũng không hẳn xã hội, lại rất thú vị khi nó nói toác ra được nét tâm lý của con người. Chẳng hạn như các câu: Gái yêu bằng tai trai yêu bằng mắt; Gái một con trông mòn con mắt; Cây suông ba nhánh cũng suông; Gái khôn trai dễ lâu buồn cũng xiêu; Nhất chặt tre nhì ve gái; Nhất lé nhì lùn; Mũi diều hâu cái đầu lộn cứt; Những người con mắt lá răm / Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.

Tất nhiên, những đúc kết mang tính "Nhân tướng học" như trên cũng cần phải xem lại ở tính khoa học của nó.

Ngạn ngữ là văn chương nhưng không hẳn là văn chương. Nó nằm trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. Giả dụ một mai, con người chế tạo ra cái máy nào đó nói thay cho con người, con người chỉ việc ngồi chơi và yên lặng, thì lúc đó mới hết... ngạn ngữ. Đâu phải chỉ có những câu ngạn ngữ xưa truyền lại, thời bao cấp có rất nhiều ngạn ngữ mới xuất hiện, phản ánh rất nhiều mặt của xã hội mà sau đây chỉ xin trích một ít: Nhất cự ly nhì cường độ; Yêu nhiều thì ốm, ôm nhiều thì yếu; Tiền quý, quỳ tiến; Thủ kho to hơn thủ trưởng; Vào nhà thủ trưởng tưởng cái kho; Dốt chuyên tu ngu tại chức...

Có lẽ không chỉ riêng các nhà "hàn lâm học sĩ", các nhà lãnh đạo, quản lý cũng nên nghiên cứu về ngạn ngữ.


Q.N


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-13 02:02:03nguyenthoai>
.

Bán chỗ nằm , mua chỗ ngồi

Câu này cũng gần nghĩa với câu " Bán gia tài mua danh phận "
Ngày trước , ở nông thôn , người ta chuộng chỗ ngồi ở chốn
đình trung khi họp làng. Nhiều người bỏ tiền mua một chức
" Nhiêu " , chức " Xã " để có một chỗ ngồi , rồi lại phải khao vọng
tốn kém. Vì thế có người phải bán cả nhà , đất để có một danh vị hão.
" Chỗ nằm " tức là nơi nhà ở , " Chỗ ngồi " tức là góc chiếu nơi đình trung.

( theo Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh )
Đăng nhập để trả lời
0
.
Vung tay quá trán

Vung là động từ chỉ hoạt động nhanh , mạnh khi ném một vật
gì. Vung còn đi với các từ vung vãi , vung phí.
Quá là chỉ vượt quá hơn mức bình thường như thái quá , quá
trớn.
Thành ngữ này nói lên sự vung phí tiền của quá so với mức cần thiết
và có nhiều đặc điểm chung với thành ngữ " Ném tiền qua cửa sổ "
Song thành ngữ " Vung tay quá trán " có ý nghĩa và cách dùng rộng
hơn nghĩa là không chỉ nói về chi tiêu hoang phí mà còn nói về bất
kì sự chi dùng hoang phí nào

( trích Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh )
Đăng nhập để trả lời
0
.
Thông đồng bén giọt

Thành ngữ này có nghĩa là : công việc nào đó tiến hành trôi
chảy , không bị ách tắc. Đồng Giọt là 2 từ
xuất phát từ dụng cụ đo thời gian ngày xưa. Dụng cụ phổ biến
nhất là một vật chứa nước gọi là hồ , đúc bằng đồng.
Nước trong hồ sẽ theo một lỗ nhỏ rơi từng giọt xuống
một cái chậu hứng có cắm cọc , trên cọc có khắc vạch để xem
giờ. Chỗ nước nhỏ giọt thường trang trí hình đầu rồng đang há
mồm. Vì vậy tạo nên từ giọt rồng :

Giọt rồng canh đã điểm ba
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm
.( Truyện Kiều )

Ngày nay ta dùng từ đồng hồ cũng xuất phát từ dụng
cụ đo thời giờ ngày xưa.

( trích Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh )
Đăng nhập để trả lời
0
.
Trai tứ chiếng

Tứ chiếng tức là tứ trấn được đọc chệch đi. Đây là bốn
trấn ở chung quanh Kinh đô : Sơn Nam ( tức vùng Nam Định , Hà
Nam ) , Kinh Bắc ( vùng Bắc Ninh , Bắc Giang ) , Hải Dương ( vùng
Hải Dương , Hải Phòng ) , Sơn Tây ( vùng sơn Tây , Hà Đông )

Trai tứ chiếng chỉ những người đàn ông ở các nơi vào làm
ăn ở Kinh đô.

( trích Tiếng Việt lí thú Của Trình Mạnh )
Đăng nhập để trả lời
0
.
Sẩy đàn tan nghé

Thành ngữ này dùng để chỉ sự chia lìa , tan nát của một
gia đình hoặc một tập thể nào đó khi mất người đứng đầu.

Thành ngữ này bắt nguồn từ đời sống của bầy trâu rừng.
Bầy trâu bao giờ cũng có những con trâu đực đầu đàn để
chống chọi với thú dữ , bảo vệ cả đàn ( thường có trâu cái
và bầy nghé con ).Nếu mất trâu đầu đàn thì cả đàn sẽ tan
tác vì bị thú dữ ăn thịt dần.

Sẩy là từ cổ , có nghĩa là mất , chết.

Tục ngữ có câu :

Sẩy cha còn chú , Sẩy mẹ bú dì.

( trích Tiếng Việt lí thú của Trịnh Mạnh )
Đăng nhập để trả lời
0