📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

(url) Nhà văn Bà Tùng Long qua đời

4 trả lời, 3.901 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-22 22:14:03TTL>
Nhà văn Bà Tùng Long qua đời


TT- Nhà văn với bút danh quen thuộc Bà Tùng Long đã qua đời tại tư gia lúc 17g15 ngày 26-4 sau một thời gian dài lâm trọng bệnh.

Ra đi ở độ tuổi 92, Bà Tùng Long là một trong những người thuộc lớp nhà văn thành danh tại Sài Gòn trước 1975. Bà tên thật là Lê Thị Bạch Vân, sinh năm 1915 tại Đà Nẵng, lập nghiệp bằng nghề viết văn tại Sài Gòn và thành công ở thể loại tiểu thuyết tâm lý xã hội.

Bà chính là người đầu tiên lập ra mục “Gỡ rối tơ lòng” trên một số báo ở Sài Gòn trước 1975, tạo nên tiền lệ giải đáp thắc mắc về tâm lý, tình cảm của phụ nữ trên mặt báo Việt Nam.

Sự nghiệp sáng tác của bà gồm 60 tiểu thuyết (trong đó có 16 tiểu thuyết được tái bản sau 1975), chủ yếu đề cao vai trò của người phụ nữ trong cuộc sống, cổ xúy cho việc bình đẳng nam nữ, giáo dục việc xây dựng hôn nhân gia đình.

Các tác phẩm tiêu biểu như: Bóng người xưa, Người xưa đã về, Giang san nhà chồng, Mẹ chồng nàng dâu, Vợ lớn vợ bé, Duyên tình lạc bến, Hứa hẹn, Mưa dầm thấm đá, Đời con gái... Tác phẩm cuối đời của bà là tập hồi ký xuất bản năm 2003. Sách của bà đã được Công ty Phương Nam mua bản quyền từ năm 2004.

Tang lễ cử hành tại tư gia (6 Đinh Bộ Lĩnh, P.24, Q.Bình Thạnh, TP.HCM), lễ động quan vào lúc 7g ngày 29-4-2006 (mồng 2-4 âm lịch), linh cữu được đưa đi an táng tại nghĩa trang Trung Việt ái hữu (quận Thủ Đức).
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-26 04:40:01Viet duong nhan>
Vương Trùng Dương viết "Nhà văn nữ Bà Tùng Long đã từ trần vào chiều ngày 26 tháng 4 năm 2006 (29 tháng 3 năm Bính Tuất) tại Sài Gòn, Việt Nam, hưởng thọ 92 tuổi ...

Thiên chức nhà giáo, tâm hồn nhà văn:


Bà Tùng Long


Nhà văn nữ Bà Tùng Long đã từ trần vào chiều ngày 26 tháng 4 năm 2006 (29 tháng 3 năm Bính Tuất) tại Sài Gòn, Việt Nam, hưởng thọ 92 tuổi. Ngày 29 tháng Tư, bà yên nghỉ tại nghĩa trang Trung Việt ái hữu ở Thủ Đức. Bà là nhà giáo, nhà báo rồi trở thành nhà văn có nhiều tác phẩm nhất trong nữ giới.

Tình Yêu & Sự Nghiệp


Bà Tùng Long tên thật là Lê Thị Bạch Vân, sinh ngày 01 tháng 8 năm 1915 tại Đà Nẵng. Trên giấy tờ ghi sinh ngày 21 tháng 4 năm 1915 tại Hội An. Trong quyển Tâm Tình Với Nghệ Sĩ của nhà báo Lê Phương Chi, NXB Thanh Niên, 2001 cho biết:

“Sở dĩ có sự ghi sai ngày sinh của bà như vậy vì vì bấy giờ Đà Nẵng (tức Touranne) là thuộc địa của thực dân Pháp, nên thân phụ của bà không muốn con mình là dân xứ thuộc địa, mới về Hội An, quê Nội, làm giấy khai sinh cho con. Còn ngày tháng trong khai sinh ghi lộn xộn là vì lý do chính trị: Thân sinh của bà lúc đầu tùng sự trong một công ty ngoại quốc, có tham gia phong trào Duy Tân do nhà cách mạng Phan Thành Tài (cha của Phan Bá Lân và Phan Thuyết, sau nầy là giáo sư của các trường Trung học tư thục Chấn Thanh và Đạt Đức) dẫn đầu. Thân phụ của bà làm liên lạc viên cho phong trào. Khi phong trào tan vỡ, ông Phan Thành Tài bị thực dân Pháp bắt đưa lên đoạn lầu đài, và một số khác bị đày Côn Đảo.

Trước hiểm họa ấy, thân mẫu bà lánh về Hội An ẩn náu với mẹ chồng. Bấy giờ bà nội của bà cũng đã già yếu. Vì chữ hiếu, buộc lòng thân phụ bà phải thi vào Sở Douanes (Thương Chính). Đó là lý do cô bé Lê Thị Bạch Vân khai sinh ở Hội An và ghi lệch ngày chào đời ở Đà Nẵng”.

Bà học xong bậc Tiểu Học tại Đà Nẵng rồi ra học một năm Trung Học trường Đồng Khánh Huế.

Năm 1932, thân phụ bà, cụ Lê Tường, đổi vào Sở Douanes Sài Gòn, bà tiếp tục theo học Trung Học tại Collège Des Jeunes Filles Indigènes, gọi là Trường Áo Tím vì nữ sinh mặc đồng phục áo dài màu tím. Sau đổi thành Trường Gia Long và hiện nay là Trường Nguyễn Thị Minh Khai.

Tình yêu của bà trong tuổi thanh xuân cũng là cơ hội và môi trường để dấn thân vào nghề báo, nghiệp văn khi gặp gỡ nhà báo Hồng Tiêu.

Nhà báo Hồng Tiêu là em ruột của nhà báo Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, quê quán ở Quảng Ngãi. Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy (1902-1985) đã dấn thân vào nghề báo với tờ Công Luận (1916-1939), Đuốc Nhà Nam (1928-1937), Trung Lập (1924-1933)... Nhà báo Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận (1900-1968) sáng lập tờ Phụ Nữ Tân Văn vào năm 1929 và đình bản vào năm 1934, chủ nhiệm tờ Sài Gòn (Hồng Tiêu làm chủ bút), sau nầy đổi thành Sài Gòn Mới...

Cụ Lê Tường cũng cộng tác với tờ Nam Phong (1917-1934), Hữu Thanh (1921-1924)... vì vậy khi gặp nhà báo Hồng Tiêu, xem như bạn đồng nghiệp và “vong niên”, cùng hoạt động trong Hội Trung Việt Ái Hữu nên lúc đó nhà báo Hồng Tiêu “... Thường tới bàn thảo công việc với cha tôi, và hay gợi ý cho tôi viết báo, rồi giao tôi phụ trách Trang Phụ Nữ của báo Sài Gòn, lẽ dĩ nhiên là được cha cho phép và khuyến khích. Và sau đó cũng cha tôi tác hợp hôn nhân cho chúng tôi” (LPC- sđd).

Theo Lê Phương Chi: “Đúng ra, nguyên quán anh em ông Hồng Tiêu ở tỉnh Quảng Nam, nhưng cụ Tổ xưa kia làm quan ở Bình Thuận, Khi đau nặng, gia nhân đưa về ngang Quảng Ngãi, thì mãn phần tại đây. Cụ bà (là cô của tiến sĩ Phạm Liệu, một trong Ngũ Phụng Tề Phi xứ Quảng) là mẹ của anh em ông Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy sau nầy, ở lại nơi chôn ông cụ để cư tang đái hiếu. Và rồi nơi đây trở thành quê hương thứ hai của tộc họ Nguyễn Đức...”.

Ông Phạm Liệu (1872-1936), khi làm Án Sát Quảng Ngãi, là người phát giác đầu mối để thông báo cho tòa Khâm ra lệnh đàn áp cuộc khởi nghĩa Duy Tân tháng 5 năm 1916, trong khi đó thì thân phụ của bà tham gia trong phong trào Duy Tân. Nhiều nhân vật khởi nghĩa bị tử hình và hạ ngục. Cụ Lê Tường đã sát cánh cùng các cụ Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài, Lê Cơ, Lê Cảnh Hận, Lê Đình Dương, Lê Ngung... làm sao quên được nỗi đau khi dấn thân cho đại cuộc? Nhưng thân phụ bà đã cảm nhận vận nước cơ trời để tạo dựng bước đường mới cho tương lai cho con.

Năm 1935, bà kết hôn với nhà báo Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy.

Sinh hoạt trong nghề báo thời gian, khi tờ Phụ Nữ Tân Văn đình bản, bà thuê “manchette” tờ Tân Thời, làm chủ bút, chủ trương về vấn đề phụ nữ và đời sống, được sự hợp tác của các bạn học năm xưa đóng góp để có tiếng nói trong làng báo. Được thời gian, vì có sự rắc rối nên bà bỏ tờ báo đi dạy ở trường Tôn Thọ Tường và chỉ viết cho tờ Sài Gòn.

Năm 1936, bà hạ sinh người con gái đầu lòng là Nguyễn Thị Thanh Hương.

Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ, năm 1940 quân Nhật vào Đông Dương, sự thống trị của Pháp và sự xâm lăng của Nhật đã tạo nhiều bất ổn trong nội tình ở Việt Nam. Nhiều tổ chức đảng phái nổi dậy nhằm tạo cơ hội phục quốc nhưng rồi bị đàn áp, khủng bố... gây thêm tang tóc cho đất nước. “Năm 1944, Sài Gòn bị máy bay quân Đồng Minh thả bom” (LPS – sđd) mọi nguời tìm cách sơ tán, ông Hồng Tiêu bỏ công việc để trở lại Quảng Ngãi, tâm sự của ông được trang trải qua bài thơ Cố Hương:

“Qua sông ta gọi con đò
Lòng ta như nắm chỉ vò trong tay...
... Cố hương ơi! cố hương ơi!
Người con mặt mốc chân trời về đây
Tư bề lặng lẽ gió mây
Vô tình nước chảy mây bay một chiều!”.


Ông về tận vùng hẻo lánh ở Ba Gia, Đồng Ké thuộc xã Nghĩa Kỳ, quận Tư Nghĩa để nương náu. Sau đó, bà mang 3 đứa con thơ Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Nghi Xương và Nguyễn Đức Trạch để vợ chồng khổ cực có nhau. Nhận thấy dân quê còn mù chữ nên bà mở lớp trường, dạy học trong hoàn cảnh rất khó khăn, thiếu thốn mọi phương tiện. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, gia đình bà kẹt luôn ở đó nên bà tiếp tục dạy hoc.

Qua bốn năm dạy học, Ty Giáo Dục địa phương mời bà làm Liên Hiệu Trưởng các trường quanh vùng Nghĩa Kỳ. Nơi đây, bà sinh hạ thêm 3 người con trai là Nguyễn Đức Lập, Nguyễn Đức Thạch và Nguyễn Đức Thông. Sống ở làng quê với bao gian khổ và nghèo khó, tương lai đen tối nên quyết định ra đi. Năm 1951, bà dẫn 6 người con trốn về Hội An rồi lên tàu Demifère về lại Sài Gòn; trong chuyến tàu nầy có nhà thơ Bùi Giáng nên quen biết nhau từ đó.

Ông Nguyễn Đức Nhuận cùng Nguyễn Ngu Í giả điên để tránh sự dòm ngó của chính quyền địa phương rồi tìm đường vượt thoát, năm sau ông lên tàu nhưng chuyến đó đưa ra Côn Đảo, ông trở lại Đà Nẵng thì bị tai nạn xe cộ, gãy chân, bà lặn lội ra quê để đưa chồng về Sài Gòn.

Năm 1952, bà dạy Pháp văn và Việt văn tại các trường Les Lauries, Tân Thịnh, Đạt Đức... nhưng đồng lương không đủ sống nên bà viết “feuilleton” cho các nhật báo. Tên tuổi Bà Tùng Long được nổi danh từ đó.

Năm 1954 trở đi, bà cộng tác rất nhiều tờ báo, bà chuyên mục Gỡ Rối Tơ Lòng trên tờ Sài Gòn Mới và Tâm Tình Cởi Mở trên tờ Tiếng Vang. Bút hiệu Bà Tùng Long được độc giả ái mộ.

Trả lời cuộc phỏng vấn của Lê Phương Chi, Bà Tùng Long cho biết: “Tôi viết văn là chịu ảnh hưởng của cha từ khi tôi còn nhỏ... Còn tôi làm báo thì do chồng tôi khuyến khích”.

Về bút hiệu Bà Tùng Long, bà giải thích: “Các vị nho học của chúng ta có câu “Văn Tùng Long, Phong Tùng Hổ’ nghĩa là mây theo rồng, gió theo cọp... Tôi tên Vân cho nên lấy bút danh Tùng Long. Và khi ký bút danh này, tôi thấy không trùng với ai, cho nên tôi dùng luôn đến nay. Vì ký bút danh Tùng Long, tôi sợ độc giả hiểu lầm tôi là đàn ông, cho nên tôi thêm chữ Bà vào để phân biệt... Hồi còn trẻ bà Đạm Phương thường dùng danh từ Đạm Phương nữ sĩ, và bà Tương Phố cũng dùng bút danh Tương Phố nữ sĩ... Riêng tôi không dám tự hào là nữ sĩ, nên tôi không ký Tùng Long nữ sĩ...

Chẳng hạn như bà Staẽl và bà Maintenon bên Pháp, lúc nào cũng ký dưới bài báo và những cuốn sách của mình viết về các vấn đề giáo dục và phái nữ, là Madame Staẽl, Madame Maintenon. Rồi về sau văn học sử Pháp cũng ghi bút danh của các bà ấy với từ Madame đứng trước bút hiệu.

Còn tôi, trong các mục Gỡ Rối và Giải Đáp, tôi ký Bà Tùng Long là để gần gũi với phái nữ. Vả lại, như vậy các nữ độc giả sẽ tin cậy và dễ bộc lộ tâm tình hơn là chỉ ký Tùng Long, họ có thể nghĩ lầm tôi là phái nam thì họ sẽ ngần ngại khi muốn bộc lộ tâm tình”.

Vừa đi dạy, hướng dẫn đàn con học hành, vừa viết báo, viết tiểu thuyết có lúc 4, 5 “feuilleton” cho các nhật báo. Trong 2 thập niên, từ năm 1956 đến năm 1972, có khoảng 50 tác phẩm được ấn hành.

Bà là người rất khiêm nhượng, trong quyển Hồi Ký Bà Tùng Long, NXB Trẻ và Công ty Văn Hóa Phương Nam ấn hành năm 2002, nhân dịp mừng thọ bà bà 88 tuổi. Bà bày tỏ: “Tôi chưa bao giờ dám tự hào xưng mình là văn sĩ, nữ sĩ. Tôi chỉ nói tôi viết văn là để nuôi con, chỉ thế thôi”. Và, “Nghề dạy học luôn được tôi xem là nghề tay mặt, còn viết văn chỉ là nghề tay trái mà thôi”.

Trả lời ký giả Trần Quân báo Time ở Sài Gòn năm 1961, bà cho biết: “Tôi viết văn để nuôi con. Khi nào các con tôi, đứa lớn trưởng thành dìu dắt được đàn em của nó, bấy giờ tôi sẽ nghỉ viết”. Vì vậy, năm 1972, bà gác bút quy ẩn. Thời điểm đó, con gái út của bà là Nguyễn Thị Phương Chi, tốt nghiệp đại học. Bà đã giữ đúng lời hứa trước kia.

Đối với bà, như lời nhà văn Nguyễn Đức Lập, hiện cư ngụ tại Nam California, anh có kể lại rằng vào những ngày cuối đời, bà thường nói đùa rằng, bà đã viết nhiều, đủ các thể loại, nhưng tác phẩm mà bà ưng ý nhất là chín người con, 5 gái, 4 trai, mà cho đến nay thì không hao hớt người con nào, và đều nên người cả...

Bà có 9 người con: Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Nghi Xương, Nguyễn Đức Trạch, Nguyễn Đức Lập, Nguyễn Đức Thạch, Nguyễn Đức Thông, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Thanh Thái, Nguyễn Thị Phương Chi. Hiện nay có 5 người (3 gái, 2 trai ở Việt Nam), 3 người ở California và 1 người ở Tây Đức.

Tâm Hồn Nhà Văn


Qua các tác phẩm của bà trong thập niên 50 như: Lầu Tỉnh Mộng (1956), Tình Duyên (1956), Ngày Mai Tươi Sáng (1956), Aùi Tình & Danh Dự (1957), Chúa Tiền Chúa Bạc (1957), Còn Vương Tơ Lòng (1857), Giang San Nhà Chồng (1957), Hai Trẻ Đánh Giày (1957), Hoa Tỷ Muội (1957), Mẹ Chồng Nàng Dâu (1957), Nhị Lan (1957), Một Người Chị (1957), Tấm Lòng Bác Aùi (1957), Vợ Lớn Vợ Bé (1957), Tình Vạn Dặm (1958), Tình & Nghĩa (1958), Vợ Hiền (1958)...

Trong thập niên 60 như: Trên Đồi Thông (1963), Con Đường Hạnh Phúc (1963), Giòng Đời (1966), Ai Là Mẹ (1967), Bên Suối Chi Lan (1967), Biệt Thự Mỹ Khanh (1967), Chọn Đá Thử Vàng (1967), Duyên Lành (1967), Giữa Cơn Sóng Gió (1967), Một Bóng Người (1967), Những Phút Chia Ly (1967), Tình Câm (1967), Tờ Di Chúc (1967)...

Sự nghiệp sáng tác của bà khoảng 60 tác phẩm (trong đó có 16 tiểu thuyết được tái bản sau 1975).

Truyện của bà đưa ra những thao thức, trắc trở trong đời sống, hoàn cảnh nghiệt ngã... nhưng rồi kết cuộc cũng tạo được niềm cảm thông, tìm được lối thoát cho cuộc sống. Nhà văn đề cập về tâm lý xã hội có tính cách giáo dục, xây dựng hôn nhân gia đình, ca ngợi tình yêu, đề cao vai trò của nữ giới trong xã hội.

Trong chuyên mục Gỡ Rối Tơ Lòng và Tâm Tình Cởi Mở, bà cố gắng tìm phương cách giải đáp để hàn gắn vết thương và mang tính nhân bản trong đời sống. “Tôi không bao giờ khuyên các cặp ly dị. Mọi chuyện đều có thể hàn gắn. Trước khi đưa ra lời khuyên, tôi luôn tự đặt mình vào hoàn cảnh những người gặp rắc rối với tư cách là người chị, người bạn, người thân của họ...” (Trả lời cuộc phỏng vấn trên báo Lao Động, tháng 4 năm 2003)

Trong đời sống và công việc, bà cư xử với đồng nghiệp với tấm lòng và sự tử tế. Nhà văn Hoàng Hải Thủy qua thời gian cộng tác với tờ báo đã đề cập đến bà với những dòng trân quý.

Từ nhỏ, bà theo Tây học nhưng lúc nào bà cũng giữ được phong tục và truyền thống Á Đông, bà đem nếp sống đó đưa vào văn nghiệp.

Là nhà giáo, qua bao thập niên, học trò của bà vẫn tôn kính cô giáo đã tận tâm hướng dẫn. Bà cho biết: “Nghề dạy học luôn được tôi xem là nghề tay mặt, còn viết văn chỉ là nghề tay trái mà thôi”.

Trong sinh hoạt xã hội, vào đầu thập niên 60, bà giữ chức Tổng Thư Ký Hội Phụ Nữ Việt Nam, đăc cử Dân Biểu tỉnh Quảng Ngãi trước ngày cách mạng 1 tháng 11 năm 1963.

Sau 3 thập niên gác bút, Hồi Ký Bà Tùng Long vừa được NXB Trẻ và Công ty Văn hóa Phương Nam phát hành nhân dịp mừng thọ bà 88 tuổi.

Cuốn Hồi Ký của bà chưa nói hết những gì mà độc giả mong đợi vì hoàn cảnh xã hội và sự hệ lụy của con cái.

Tháng 4 năm 1975, con gái bà, làm việc ở MACV lo thủ tục để gia đình ra đi nhưng lúc đó có 2 người con trai còn kẹt ở chiến trường nên vợ chồng bà không nở ra đi. Cũng như bao bà mẹ khác, bà mang nỗi khổ đau khi những đứa con bị tù tội, vài tờ báo mời bà cộng tác trở lại nhưng bà từ chối.

Qua lời anh Nguyễn Đức Trạch, bà chỉ mong sao mẹ con được gần bên nhau nhưng thời cuộc đã làm cho gia đình phân ly nên bà mang nỗi buồn và chỉ tìm niềm vui với đàn cháu.

Nối nghiệp song thân, trong nước có Nguyễn Đức Thông với bút hiệu Nguyễn Đông Thức và ở hải ngoại có nhà văn Nguyễn Đức lập.


*

Mỗi buổi sáng, anh Nguyễn Đức Trạch, làm thơ với bút hiệu Trạch Gầm, cùng tôi ngồi uống café với nhau. Sáng thứ Tư, 26 tháng 4, vắng bóng anh, khi hỏi thăm, thân mẫu anh qua đời. Anh không về được để tiễn đưa người mẹ hiền về cõi thiên thu! Nỗi đau của anh cũng giống tôi nhưng anh ở cách xa vạn dặm còn tôi, trên cùng một mảnh đất mà không được nhìn nhau lần cuối! Anh gởi tôi bài thơ Lời Gởi Mẹ, 32 câu, xin trích 4 câu cuối:

“Bây giờ trong cõi hư vô ấy
Mẹ thảnh thơi rồi có phải không?
Giọt sầu mất nước giờ hóa đá
Mây nước quê hương cũng lạc dòng!”


Xin thắp nén hương lòng tưởng nhớ người quá cố!

Vương Trùng Dương

Nguồn : Vietbaoonline


Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
BÀ TÙNG LONG



Nhà văn nữ BÀ TÙNG LONG tên thật là Lê Thị Bạch Vân, sinh ngày 1-8-1915 tại Đà Nẵng, quê nội ở thị xã Hội An. Khi cha về Hội An khai sinh cho con, nhân viên hộ tịch ghi ngày 21-4-1915. Sở dĩ có sự ghi sai ngày sinh của bà như vậy vì bấy giờ Đà Nẵng (tức Touranne) là thuộc địa của thực dân Pháp, nên thân phụ của bà không muốn con mình là dân xứ thuộc địa, mới về Hội An, quê nội, làm giấy khai sinh cho con. Còn ngày tháng trong khai sinh ghi lộn xộn là vì lý do chính trị: Thân sinh của bà lúc đầu làm việc trong một công ty tư của ngoại quốc, có tham gia phong trào Duy Tân do nhà các mạng Phan Thành Tài (cha của Phan Bá Lân và Phan Thuyết, sau này là giáo sư các trường Trung học tư thục Chấn Thanh và Đạt Đức) dẫn đầu. Thân phụ bà làm liên lạc viên cho phong trào. Khi phong trào tan vỡ, ông Phan Thành Tài bị thực dân Pháp bắt đưa lên đoạn đầu đài, và một số khác bị đày Côn Đảo.

Trước hiểm họa ấy, thân mẫu bà lánh về Hội An ẩn náu với mẹ chồng. Bấy giờ bà nội của bà cũng đã già yếu. Vì chữ hiếu, buộc lòng thân phụ bà phải thi vào sở Douanes (Thương chánh – nay gọi là Hải quan). Đó là lý do cô bé Lê Thị Bạch Vân khai sinh ở Hội An và ghi lệch ngày chào đời ở Đà Nẵng.

Vừa rồi, ngày 1 tháng 8, các con của bà có tổ chức buổi tiệc họp mặt mừng mẹ tám mươi tuổi, ngày đó đúng là sinh nhật của bà.

Thời gian thân phụ và làm việc tại Sở Thương chánh Đà Nẵng, bà theo học hết bậc Tiểu học tại đây, rồi ra Huế học trường Trung học Đồng Khánh.

Năm 1932, thân phụ bà đổi vào Sở Douanes Sài Gòn thì bà học những năm cuối ban Trung học tại Collège Des Jeunes Filles Indigène (Nữ trung học Bản xứ), vì nữ sinh mặc đồng phục áo dài màu tím, cho nên người Sài Gòn quen gọi là trường Áo Tím. (Sau đổi lại là trường Gia Long, mãi cho đến sau ngày miền Nam giải phóng, trường đổi tên Trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai cho đến nay).
Bà đã viết cho Trang Phụ Nữ của báo Sài Thành (sau đổi tên là Sàigòn Mới) hồi còn ngồi ghế nhà trường. Ngoài bút danh Bà Tùng Long, bà còn ký Lê Thị Bạch Vân.

Riêng bút danh “Bà Tùng Long” bà đã ký trong mục Gỡ Rối Tơ Lòng cho nhật báo Sàigòn Mới, mục Tâm Tình Cởi Mở cho nhật báo Tiếng Vang, và trên bốn mươi đầu sách đã xuất bản, với mười mấy truyện dài đăng báo chưa in ra sách.

Nhà văn Bà Tùng Long đã đi vào văn đàn Việt Nam với sự ưu ái của độc giả nhiều lứa tuổi thời bấy giờ.

Năm 1935, Bà Tùng Long kết hôn với nhà báo Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy tại Sài Gòn. Nhà báo Hồng Tiêu là người Quảng Ngãi, chủ bút nhật báo Sài Thành bấy giờ, chuyên trách mục Tranh Xã Hội (Film du Jour), đả phá thói hư tật xấu xã hội đương thời, dưới bút danh Như Hoa.

Bấy giờ Bà Tùng Long thuê manchette (bảng hiệu) tờ báo Tân Thời, chuyên về vấn đề phụ nữ, vì lúc ấy báo Phụ Nữ Tân Văn đã đình bản. Khi biết bà chủ trương tờ Tân Thời, một số bạn bè cũ ở trường Gia Long, trường Pétrus Ký (Sài Gòn), trường Pellerin (Huế), đã góp sức cổ động cho báo. Nhờ báo Tân Thời chủ trương đề cập những vấn đề thiết thân của chị em trong giới phê bình dân, báo được nhiều độc giả ủng hộ. Bà lại qui tụ được nhiều bạn học cũ cộng tác. Người ở xa thì gởi bài về, những người ở quanh vùng Sài Gòn, Gia Định thì đến làm việc luôn tại tòa soạn. Những cây viết ấy phần đông tên tuổi còn xa lạ với độc giả, và cũng mới chân ướt chân ráo bước vào làng báo như bà. Nhưng về sau, sau năm 1952 bà ở Quảng Ngãi về lại Sài Gòn, thì bút danh Tùng Long của bà đã được “cầu chứng” trong làng văn làng báo; như Nguyễn Trọng Trí đã nổi danh là nhà thơ Hàn Mặc Tử đang dưỡng bệnh ở Qui Hòa; Nguyễn Đức Nhuận cũng là nhà thơ đã được ghi tên trong quyển Thi Nhân Hiện Đại của Hoài Thanh, Hoài Chân (Nguyễn Đức Nhuận này không phải Bút Trà Nguyễn Đức Nhuận, anh chồng Bà Tùng Long); và một người là Nam Quốc Cang, đã trở thành người hùng, hy sinh trong cuộc biểu tình chống Pháp của phong trào Trần Văn Ơn.

Nhắc đến nhà báo Nam Quốc Cang, bà nhớ kỷ niệm khi Nam Quốc Cang giữ mục Chuyện Hằng Tuần trên tờ tuần báo Tân Thời, nhà báo này viết; “Người Việt Nam chúng tôi chỉ có bốn quyền Tư do, đó là Tự do cờ bạc, Tự do rượu chè, Tự do hút sách và Tự do đĩ điếm”.

Thế là trong một buổi họp báo tại dinh Thống đốc Nam Kỳ (Thống đốc bấy giờ là ông Khrautemer), họ cho đọc bài ấy giữa cuộc họp báo, bấy giờ gồm có các ông Nguyễn Phan Long chủ nhiệm báo Việt Nam, Nguyễn Văn Sâm chủ nhiệm báo Đuốc Nhà Nam, Bút Trà chủ nhiệm báo Sài Thành, và bà Thụy An, vợ của Băng Dương, chủ nhiệm báo Đàn Bà. Vì tác giả Nam Quốc Cang vắng mặt, nên Bà Tùng Long đã lãnh đủ những lời chỉ trích ác liệt, nào là tác giả có tư tưởng đen tối, công kích chính phủ Pháp… Và Viên Thống đốc không quên kèm theo lời đe dọa, làm mọi người đều quay lại mỉm cười nhìn bà – chẳng biết mỉa mai hay thương hại – chắc họ nghĩ là bà mới bước vào làng báo, chưa biết sự lợi hại và nguy hiểm của lưỡi kéo kiểm duyệt!

Sau đó, người chủ cho thuê bảng hiệu báo, thấy báo bán chạy liền tìm cách lấy báo lại, mặc dù chưa hết giao kèo. Bấy giờ (1936) bà đang ốm nghén, và trong giao kèo thuê báo còn lỏng lẻo, lại nữa chủ báo cũng là người bên nhà chồng, nên bà bỏ luôn tờ báo, về nhà cụ thân sinh (đang ở Sài Gòn) để nghỉ ngơi chuẩn bị sinh con. Bà sinh con gái đầu lòng xong, sau đó vẫn đi dạy trường Tôn Thọ Tường và chỉ còn viết cho trang Phụ Nữ của nhật báo Sài Thành. Rồi năm 1949, Sài Gòn bị máy bay phe Đồng Minh thả bom, thân sinh của bà đổi xuống Sở Douanes tỉnh Trà Vinh; ông bà Bút Trà về Tân An tránh bom. Bà cũng bế con theo chồng về quê Quảng Ngãi.

Đúng ra, nguyên quán anh em ông Hồng Tiêu ở tỉnh Quảng Nam, nhưng cụ nội xưa kia làm quan ở Bình Thuận. Khi đau nặng, gia nhân đưa về ngang Quảng Ngãi thì mãn phần tại đây. Cụ bà (là cô của tiến sĩ Phạm Liệu, một trong Ngũ Phụng Tề Phi xứ Quảng) là mẹ của thân sinh anh em ông Bút Trà – Hồng Tiêu sau này, ở lại nơi chôn ông cụ để cư tang đái hiếu. Và rồi nơi đây trở thành quê hương thứ hai của tộc họ Nguyễn Đức…

Khi về Quảng Ngãi, tỉnh lỵ cũng bị bom quân đồng minh, vợ chồng bà lại chạy lên vùng Mỹ Thắng, Nghĩa Kỳ, nơi có thắng cảnh Thạch Bích Tà Dương, mỗi chiều về nắng chiếu vào vách núi tạo nên một vẻ đẹp kỳ ảo, là một trong những thắng tích của tỉnh Quảng Ngãi. Vì ở gần núi nên đêm về gió lùa lạnh thấu xương.

Rồi Cách Mạng tháng 8 bùng lên, bà kẹt luôn ở đấy. Bà xin mở trường Tiểu học lấy tên là Tân Dân, dạy những người lớn tuổi thất học, ban ngày làm việc đồng áng, tối về lớp học. Trong số đó có cán bộ hành chánh, đoàn thể đến học thêm ngoài giờ làm việc. Bà giúp một số anh chị em thi vào trường Trung học Bình dân Chợ Chùa tỉnh Quảng Ngãi.

Sau này, có vài người học trò cũ ở trường Tân Dân thuở ấy, đã là cán bộ cao cấp, nhân dịp vào Sài Gòn, đã tìm đến thăm bà. Gặp số học trò cũ, gợi bà nhớ lại những kỷ niệm thời chín năm kháng chiến chống Pháp…

Bấy giờ là thời điểm UBHC tỉnh Quảng Ngãi chủ trương tiêu thổ kháng chiến, lớp học ban ngày còn nhờ ánh sáng mặt trời, đến lớp đêm dạy anh chị em cán bộ, phải đốt đèn dầu mù u, mỗi lần lên lớp là phải có hai người học trò cầm đèn mù u đứng hai bên cho bà giảng bài. Bà không có sách để dạy môn Toán (Arithmétique) và Hình học (Géométrie), nên phải tự soạn chương trình và soạn những bài giảng Việt văn theo trí nhớ để dạy học (sau này gọi là giáo án).

Dạy học trong hoàn cảnh thiếu thốn như vậy được bốn năm (từ 1945 đến 1949), bà cũng đào tạo nhiều người được đưa vào trường Trung học Bình dân (Chợ Chùa – Quảng Ngãi), giúp anh chị em cán bộ trước kia thiếu điều kiện cắp sách đến trường, nay có thể tự học để nâng lên trình độ Trung học. Sau đó, Ty Giáo dục địa phương thấy bà dạy có hiệu quả, mời làm Liên hiệu trưởng coi thêm các trường học quanh vùng Nghĩa Kỳ.

Đến năm 1952, vì tình trạng khó khăn chung trong vùng kháng chiến, gia đình bà thiếu ăn, các con và đói chỉ vì lương tháng dạy học của bà vừa mua đủ hai mươi ngày gạo, cho dù bà lãnh thêu cờ, khăn, bao gối để kiếm thêm cũng không đủ tiền nuôi con. Giới chức địa phương thông cảm hoàn cảnh bà, chấp thuận cho bà dẫn con về vùng tạm chiến. Khi đó con trai út của bà, nay là nhà văn Nguyễn Đông Thức mới tám tháng tuổi. Bấy giờ bà vào Sài Gòn với các con, ông Hồng Tiêu ở lại.

Vào Sài Gòn, Bà Tùng Long vừa dạy học vừa viết báo để nuôi con. Bà nhận dạy Pháp văn cho các trường trung học Tân Thịnh, Đạt Đức, Les Lauriers… đồng thời viết truyện dài từng ngày (feuilleton) cho các nhật báo xuất bản ở Sài Gòn. Sau 1954, bà viết thêm cho các báo Đồng Nai, Tiếng Vang, Tiếng Chuông, và các tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Mới, Phụ Nữ Ngày Mai, Duy Tân, Đông Phương… Và bà chuyên trách mục Gỡ Rối Tơ Lòng trên báo Sàigòn Mới, và mục Tâm Tình Cởi Mở cho báo Tiếng Vang. Đặc biệt hai mục này bà có rất nhiều độc giả, nhất là độc giả trẻ rất ái mộ.

Thời ấy, những truyện dài của bà vừa kết thúc trên báo đã có nhà xuất bản thương lượng mua bản quyền để in sách. Từ năm 1956 đến 1958, bà đã cho xuất bản trên hai mươi đầu sách, rồi từ 1963 đến 1972 bà tiếp tục cho xuất bản trên hai mươi đầu sách nữa. Những đầu sách chúng tôi tra cứu được in kèm dưới đây vẫn còn thiếu. Vì sau 1975 sách báo thất lạc rất nhiều. Mấy năm gần đây bà cũng có cho tái bản mấy cuốn: Đời Con Gái, Hứa Hẹn, Tỉnh Giấc Tình Si, Tìm Về Bến Thương, Mười Hai Bến Nước… nhưng bà không được hài lòng vì nhà xuất bản in giấy xấu quá, thiếu thẩm mỹ.

Bà Tùng Long gác bút từ năm 1972, như bà đã trả lời cuộc phỏng vấn của ký giả Trần Quân báo TIME năm 1961: “Tôi viết văn để nuôi con. Khi nào các con tôi đứa lớn trưởng thành dìu dắt được đàn em nó, bấy giờ tôi sẽ nghỉ viết”.

Cho nên đến khi người con gái lớn của bà đỗ cử nhân Khoa học (hiện đang công tác tại Công ty Dệt Phong Phú) và mấy người con trai của bà cũng đỗ đạt, thành danh trong và ngoài nước, đã là giáo sư, luật sư… là bà toại nguyện.

Và bà cũng “gác bút quy ẩn” từ dạo đó…

Quá trình đi học:

- Học hết bậc tiểu học trường Tiểu học Đà Nẵng.

- Học một năm Trung học Đồng Khánh – Huế.

- Chuyển vào học năm 2è Année (Đệ nhị niên) trường Aùo Tím (Collège Des Jeunnes Filles Indigènes) – Sài Gòn.

Quá trình đi dạy:

- Dạy Pháp văn các trường Trung học Tân Thịnh, Đạt Đức, Les Lauriers ở Sài Gòn (1950 – 1954).

- Làm Hiệu trưởng, Liên hiệu trưởng các trường Tiểu học Bình dân Học hội ở Nghĩa Kỳ – Quảng Ngãi.

Quá trình hoạt động Văn học – Báo chí:

- Chủ bút Tuần báo Tân Thời (1935).

- Phụ trách mục Gỡ Rối Tơ Lòng trên nhật báo Sàigòn Mới.

- Phụ trách mục Tâm Tình Cởi Mở trên nhật báo Tiếng Vang (1962 – 1972).

- Thư ký tòa soạn tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn.

- Đã cộng tác với các tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Ngày Mai.

- Đã viết tiểu thuyết (feuilleton) cho các báo ở Sài Gòn từ năm 1954 – 1972.

- Đã có trên sáu mươi đầu sách được xuất bản từ năm 1956 đến 1972.

- Sau 1975 đã tái bản và in mới trên mười cuốn sách.

(Hiện nay tác phẩm của Bà tùng Long đã bị thất lạc trên năm mươi phần trăm).

Ý niệm của nhà văn Bà Tùng Long:

“Tôi vừa viết tiểu thuyết cho báo, vừa dạy con học, vừa thảo thực đơn cho con gái đi chợ. Viết văn đối với tôi đã trở thành chuyên nghiệp chớ không phải viết theo cảm hứng”.

“Tôi ngồi đâu cũng viết được và viết bất cứ lúc nào, khi có nhu cầu… Tôi thích viết loại bút Bic mực màu đen, viết trên giấy báo đã in một mặt.”

“Tôi viết văn để nuôi con. Khi các con tôi những đứa lớn trưởng thành, dìu dắt được các em chúng, bấy giờ tôi sẽ nghỉ viết.”

“Tôi làm báo chẳng những không bị gia đình rẻ rúng, mà còn được cha tôi khuyến khích và chồng tôi dìu dắt. Tôi tự xét mình, thấy trong hai mươi năm làm báo, tôi chưa hề “nói láo ăn tiền”…”

Trích " Hồi ký Bà Tùng Long" 2002



📎 BaTungLong
Đăng nhập để trả lời
0

 

Bà Tùng Long (1915-2006), tên thật Lê Thị Bạch Vân, là một nhà văn Việt Nam, nổi tiếng với các tiểu thuyết tâm lý xã hội ở miền Nam trước 1975. Bà cũng là người khới xướng mục "Gỡ rối tơ lòng" trên báo Sài Gòn Mới năm 1953".
Bà Tùng Long là vợ của nhà thơ, nhà báo Hồng Tiêu và là thân mẫu của nhà văn Nguyễn Đông Thức.


Bà Tùng Long sinh ngày 1 tháng 8 năm 1915 tại Đà Nẵng. Bà theo bậc tiểu học ở Đà Nẵng, tiếp đó học bậc trung học ở trường Đồng Khánh, Huế, và trường Gia Long, Sài Gòn. Năm 1935 bà thành hôn cùng nhà báo Hồng Tiêu Nguyễn Đức Huy.

Năm 1952, Bà Tùng Long dạy Pháp văn và Việt văn tại các trường Les Lauries, Tân Thịnh, Đạt Đức... Nhưng vì lương không đủ sống, bà bắt đầu viết truyện đăng từng kỳ cho một số nhật báo. Từ 1953, Bà Tùng Long khởi xướng mục Gỡ rối tơ lòng trên báo Sài Gòn Mới và giữ vị trí này trong nhiều năm, góp phần thu hút độc giả cho tờ báo. Ngoài ra bà còn cộng tác cùng các báo khác như Tiếng Vang, Miền Nam, Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai, Nhân Loại...

Với các tác phẩm đặc biệt thành công về mặt thương mại, Bà Tùng Long là một tác giả quen thuộc của miền Nam trước 1975. Vào thập niên 1960, vừa dạy học vừa viết báo, viết văn, thu nhập của Bà Tùng Long mỗi tháng tới gần 10 lượng vàng. Vào đầu thập niên 1960, bà giữ chức Tổng thư ký Hội Phụ Nữ Việt Nam Cộng hòa, đắc cử Dân biểu tỉnh Quảng Ngãi.

Về bút danh Bà Tùng Long, bà giải thích: "Các vị nho học của chúng ta có câu "Văn Tùng Long, Phong Tùng Hổ" nghĩa là mây theo rồng, gió theo cọp... Tôi tên Vân cho nên lấy bút danh Tùng Long. Và khi ký bút danh này, tôi thấy không trùng với ai, cho nên tôi dùng luôn đến nay. Vì ký bút danh Tùng Long, tôi sợ độc giả hiểu lầm tôi là đàn ông, cho nên tôi thêm chữ Bà vào để phân biệt."

Tổng cộng Bà Tùng Long có 50 đầu sách, trong đó 16 cuốn được tái bản sau 1975. Phần lớn các tiểu thuyết của bà đề cập đến thân phận người phụ nữ, ca ngợi tình yêu. Tác phẩm cuối đời của bà là tập hồi ký xuất bản năm 2003.

Năm 2004, tác phẩm của bà đã được công ty Phương Nam mua bản quyền.

Ngày 24 tháng 6 năm 2006, Bà Tùng Long mất tại nhà riêng, Thành phố Hồ Chí Minh hưởng thọ 90 tuổi.

 Một số tác phẩm

Và những tác phẩm đã có trong thư viện VNThuquan

* Bóng người xưa
  * Đời con gái
* Hồi ký Bà Tùng Long
* Một lần lầm lỡ
* Mẹ chồng nàng dâu
* Nẻo về tình yêu
  * Định mệnh
  * Ước nguyện ba sinh
*Duyên tình lạc bến
* Lầu tỉnh mộng
 

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0
Nữ sĩ Tùng Long xuất bản hồi ký





Bà Tùng Long.



Là một nhà văn nổi tiếng chuyên viết tiểu thuyết tâm lý xã hội ở miền Nam trước 1975, bà đã có 50 tiểu thuyết. Cuốn "Hồi ký bà Tùng Long" vừa được NXB Trẻ phát hành nhân dịp mừng thọ bà 88 tuổi.

Bà Tùng Long tên thật là Lê Thị Bạch Vân, sinh năm 1915 tại Đà Nẵng. Từ năm 1953 đến năm 1972, bà vừa đi dạy học, vừa viết báo, viết văn để nuôi dạy 9 người con. Bà tâm sự: “Tôi chưa bao giờ dám tự xưng là văn sĩ, nữ sĩ. Tôi chỉ nói tôi viết văn là để nuôi con”.

Vào những năm 60 của thế kỷ 20, bà Tùng Long vừa đi dạy vừa viết truyện đăng báo, mỗi tháng kiếm được gần chục lượng vàng. Có người ghen tức với thu nhập của bà đã chê tiểu thuyết tâm lý xã hội của bà là bình dân. Bà trả lời: “Một nhà văn Pháp tuyên bố: Nếu tôi có một ngai vàng thì tôi sẵn sàng đổi nó để tìm hiểu tâm lý phụ nữ. Như thế thì tôi, một phụ nữ tại sao lại không viết để nói lên tâm lý phụ nữ”.

Bà Tùng Long còn nổi tiếng là người khởi xướng mục Gỡ rối tơ lòng trên báo Sài Gòn Mới (1953) và giúp báo bán chạy. Sau năm 1975, nhiều báo cũng mời bà viết tiếp mục này với nhuận bút cao nhưng bà từ chối vì “thời nào có người nấy”. Nghề chính của bà vẫn là dạy học.


(Theo Người Lao Động)

Blog_vdn
Đăng nhập để trả lời
0