📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Vẫn chảy cùng Sêrêpôk - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền 🔒

11 trả lời, 1.441 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-17 04:50:36Chuột lắc>
Vẫn chảy cùng Sêrêpôk - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền

Cuối cùng ông Long cũng tìm được căn hộ muốn tìm trong một hẻm phố khá yên tĩnh giữa Hà Nội. Ấy là nhờ bác sĩ Hạnh, vốn là cô y tá nhí nhảnh và lắm chuyện của 25 năm về trước ở chiến trường Tây Nguyên, sốt sắng cho địa chỉ. Ngôi nhà nhỏ, khoảng sân chưa đầy mười mét vuông nhưng rõ là có bàn tay chăm sóc. Thoáng nhìn vào đã thấy ấm áp bởi màu sơn hài hòa giữa phần nề, phần mộc và kín đáo với mấy chậu cúc kim nở muộn. Cổng sắt khóa phía bên trong. Ông Long hắng giọng:

TRUYỆN đã được đưa vào thư viện. Cám ơn Tieuphuong_loihai đã góp sức cho thư quán
.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-17 04:17:22Chuột lắc>
Vĩ thanh từ trung du - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền

Bến xe thị tứ Sơn Phòng thật sự thay đổi, thay đổi đến ngỡ ngàng trong con mắt của Nhàn. Nhà cao tầng, hàng quán nhộn nhịp san sát chưa đủ để gây ấn tượng với anh bằng hình ảnh đội xe Toyota, Mercedes Benz 12 chỗ ngồi luân phiên vào bến xuất bến trong vòng mươi phút, làm cho Sơn Phòng giờ đây thật gần với trung tâm thành phố, dẫu không gian vẫn là 80 cây số đường chim bay. Bốn năm trước, khi Nhàn còn là anh giáo viên tăng cường miền núi, mỗi ngày chỉ có hai chuyến xe để nối thung lũng Sơn Phòng với thế giới bên ngoài. Và đó là hai chiếc “cam-nhông” chở lính trước 1975 được “chế độ” thành xe đò chở hành khách.
Nhưng từ Sơn Phòng lên đến chân núi Diều thì chưa có gì thay đổi trong lĩnh vực phương tiện giao thông. Vẫn là những chiếc Minsk có bộ vó những con ngựa nhà trời cao nghệu, bụi bặm. Nhàn trèo lên một chiếc đến phiên trong số xe thồ xếp thành dãy chờ khách. Anh bảo:
- Xóm Diều...
Gã xe thồ nhìn lại ông khách, kêu lên:
- Thầy Nhàn!
Lẽ thường là thế, trò dễ nhận ra thầy, chứ thầy không thể nhớ hết được học trò của mình. Bốn năm cũng đủ để biến Hải từ cậu học trò lớp 12 gầy nhom nhút nhát thành một gã xe thồ lực lưỡng, trông dữ dằn với bộ râu quai nón không chăm chút.
Trên tám cây số đường đất đỏ gồ ghề Nhàn ôm lưng Hải bằng vòng tay thân ái của thầy trò. Cảm giác đó thật lạ, thật khác với việc ôm lưng một anh tài thồ. Hai người thỏa sức kể lể, tâm sự về kỷ niệm, về những đổi thay trong đời sống của mỗi người, và về bạn bè trang lứa của Hải vốn cũng là học trò cũ của Nhàn. Nhàn giữ ý không hỏi câu nào về Duyên, “hấp lực” chính đã cuốn hút anh trở lại chân núi Diều trong chuyến đi không định trước này.
Nhàn bảo Hải tấp vào một quán bên đường, đầu xóm Diều. Hai thầy trò cụng ly côm cốp làm nụ cười cô gái bán bia rạng rỡ. Nếu Hải không trịnh trọng giới thiệu về Nhàn, cô không thể hình dung ra đấy là hai thầy trò. Hải phong sương trông có vẻ già hơn Nhàn. Và thật ra, Nhàn cũng hơn Hải chừng một, hai tuổi mà thôi. Khi cả hai đã ngà ngà, Nhàn nói với Hải rằng anh muốn một mình vào nhà bác Tốn, nơi anh từng ở trọ, gọi là gây bất ngờ. Hải đành chiều ý thầy giáo quay về bến xe Sơn Phòng.
Trong bóng hoàng hôn trung du, Nhàn lại bắt gặp cảm giác ngày đầu khăn gói đi nhận nhiệm sở. Anh thấy mình thật nhỏ bé giữa những đồi chè thoai thoải nối tiếp nhau đến tận chân trời. Ngôi nhà bác Tốn đã lên đèn. Đó là ánh sáng điện khí chứ không phải ánh sáng ngọn đèn măng-xông của bốn năm trước. Con chó con lao ra cổng sủa ăng ẳng. Bác Tốn khàn khàn hỏi vọng:
- Ai đến chơi thế?
Nhàn bất ngờ nhận ra giọng mình khác thường:
-Dạ cháu Nhàn đây...
Bác Tốn hối hả:
- Thầy giáo Nhàn! Bà nó, mở cổng...
Nhàn không còn nhận ra không gian cũ. Nếp tranh nghèo đã được thay thế bằng ngôi nhà ngói khang trang. Duyên đi vắng. Cô không biết Nhàn lặn lội lên chân núi Diều. Sau giây phút xúc động vì cuộc viếng thăm bất ngờ, bác Tốn bảo vợ:
- Bà cho chúng tôi ấm chè.
Bác Tốn tay vẫn nắm bàn tay Nhàn như muốn xác tín về sự trở lại của anh, hỏi đức ông chồng:
- Hay là dùng cơm xong hẵng uống chè?
Ông Tốn gắt:
- Đến cái đất này, phải làm một ấm chè đã rồi mới tính chuyện khác!
Nhàn chỉ cười vâng lệnh. Anh quá biết tính khí ông Tốn. Điều anh ngạc nhiên là quy trình ấm trà chẳng thay đổi tí nào giữa bao điều thay đổi chung quanh. Bà Tốn vẫn thận trọng mở túi ny-lông, vốc một nắm búp chè ưởi bỏ vào chảo đất nung, đặt lên lò than luôn đỏ sẵn, vẫn dùng chính năm đầu ngón tay đã cong queo chai cứng của bà để xáo chè, cảm nhận chính xác nhiệt độ cần thiết và phán đoán thời điểm nhấc chảo ra khỏi lò than để chè có hương vị tuyệt hảo, nghĩa là “đúng ý” của chồng, vẫn chiếc ấm men gan gà rạn chân chim có niên đại chế tác còn cao hơn tuổi đời chủ nhân và không bao giờ tiếp xúc với nước lạnh...
Thật kỳ diệu, chén trà cỏn con đã đánh bạt mùi chua của bia còn vướng trong cổ họng Nhàn. Nhân khi ông Tốn chống gậy đi sang phòng bên nghe điện thoại (lại là cái mới mẻ ở đây), Nhàn ân cần bảo bà Tốn:
- Bây giờ bác cũng cao tuổi rồi, giảm được việc nào hay việc nấy, mỗi lần sao vài cân chè để sẵn, thế có phải hơn không?
Bà hất chiếc cằm nay đã nhô cao bởi hai má hõm sâu về phía phòng bên, thì thào:
- Sao chè thế cho “lão quỷ sứ” quẳng ra đường hả thầy?
Nhàn bật cười. Ánh mắt và giọng nói người đàn bà thật âu yếm khi thốt lên ba tiếng “lão quỷ sứ”. Hai năm ở trong ngôi nhà này anh không lạ gì đức tính chịu đựng, chiều chồng của bà Tốn. Và Duyên, cô con gái của bà, học trò của anh, dường như cũng thừa hưởng tính nết dịu dàng, đảm đang của bà. Thời ấy vùng bán sơn địa này còn nghèo lắm, thịt cá là thứ xa xỉ, lâu lâu mới trông thấy trong bữa ăn. Vì vậy, Nhàn không thể nào quên những món đầy sáng tạo mà Duyên chế biến từ những vật phẩm hết sức dân dã, thu hoạch ngay trong vườn, ngoài suối. Hơn thế, anh biết vì cái gì mà Duyên chăm sóc cẩn thận bữa ăn cho anh đến thế. Mối quan hệ thầy trò đã là bức tường đạo đức không cho phép hai người thổ lộ tình yêu của họ. Cũng như nhiều học trò ở quê, Duyên chỉ kém Nhàn có 2 tuổi. Tình yêu càng sâu kín càng nồng nàn, bay bổng với trí tưởng thăng hoa không bờ bến của tuổi trẻ. Có những đêm khuya mưa rả rích, Duyên và Nhàn nằm thao thức lắng nghe âm thanh trở mình của nhau trên giường tre, tiếng thở dài khe khẽ của nhau qua bức phên nứa trát đất sét sưa sót, rồi lịm vào hảo mộng...Nhàn có ý định chờ cho Duyên tốt nghiệp cấp 3 mới “đặt vấn đề”. Nhưng rồi anh có lệnh thuyên chuyển về thành phố. Rồi anh gặp Nhung và yêu ngay. Bây giờ thì anh hiểu chính xác là mình mê đắm Nhung hơn là yêu. Thứ nhan sắc cháy bỏng, chủ động, thậm chí táo bạo của Nhung đã đốt cháy ngay anh giáo nhút nhát, hai năm kề cận bên Duyên mà chưa một lần dám chạm vào tay Duyên...Nhung thành thật khai báo rằng không biết nấu ăn, không biết giặt giũ, làm vợ rất kém. Nhàn bảo ngay là anh không cần các thứ ấy! Anh thầm nghĩ: càng nhiều thời gian để yêu nhau càng tốt! Nhưng ngọn lửa trong anh lụi tắt dần sau một năm sống chung với Nhung. Và cũng như khi gặp nhau, chính Nhung là người chủ động đặt vấn đề “đường ai nấy đi”. Hôm rồi, trong một đám cưới, qua một học trò cũ, Nhàn tình cờ nghe tin Duyên từ Sài Gòn về thăm cha mẹ và có ý định ở lại quê. Quan trọng hơn, vẫn nguồn tin trên, Duyên chưa lập gia đình. Thế là anh nôn nao chờ qua đêm để ngược lên chân núi Diều. Anh thèm một bữa ăn có bàn tay người phụ nữ đảm đang, vì yêu thương mình mà chế biến, mà bày biện...
Ông Tốn từ phòng bên quay lại, vui vẻ:
- Con Duyên nghe thằng Hải báo tin có thầy lên chơi, nó đóng cửa hàng chạy về ngay đó!
Nhàn cố giấu cái cảm giác xao xuyến biểu hiện quá rõ trên mặt bằng cách nhấp một ngụm chè. Bà Tốn:
- Ông tiếp thầy nhé, để tôi đi bắt con gà làm cơm...
Ông Tốn cắt:
- Khỏi. Khỏi nấu nướng gì cả. Con Duyên bảo nó mua hết dưới nhà hàng Sơn Phòng rồi!
Nhàn nuốt ực ngụm chè. Vị chát của chè hãm quá lâu làm tê tê đầu lưỡi anh.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-17 04:24:44Chuột lắc>
Buổi sáng - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền


Mười năm mới ngủ lại Đông Trường Sơn. Lần đầu tiên, khách sạn bên đường 9 này chưa hoàn thiện. Lần này thì nó xám cũ, vắng vẻ. Tôi chọn phòng đã ở. Việc đầu tiên sau khi thức giấc là mở cánh cửa thông ra lan-can phía tây. Có một chút hồi hộp đấy. Nơi ấy, mười năm trước, tôi đã ngỡ ngàng bởi đường bay một con sáo.
Còn nhớ cuộc rượu ở tạp chí Cửa Việt đến nửa đêm mới tàn. Các nhà văn “gửi” tôi cho Đông Trường Sơn, cách thị xã Đông Hà khoảng ba cây số. Ngủ mê muội đến sáu giờ sáng choàng tỉnh. Căn phòng chưa ngấm hơi người, thoảng mùi vôi vữa và quang dầu. Tôi mở cửa thông ra lan-can để hít thở. Đâu ngờ cũng là mở ra một không gian lô xô núi đồi bát ngát phía tây. Bất ngờ hơn, con chim nhỏ từ tán cây mít bay vọt lên chừng ngang lan-can tầng hai khách sạn, cách tôi có sải tay, thì dừng lại đập cánh rối rít, lơ lửng như thể chiếc trực thăng, được mấy giây rồi vụng về rơi xà xuống bãi cỏ. Một con sáo. Như chuỗi bất ngờ khéo sắp đặt, cô gái ẩn khuất dưới vòm lá bước ra, áo ngủ phong phanh và chân trần. Cô vồ chụp châu chấu, trượt dài trên cỏ đẫm sương, nằm đập chân cười khanh khách một mình. Con sáo nhảy lên tay cô chủ, rỉa ráy bữa sáng. Tôi nhận ra cô. Đêm qua tôi đã gặp cô ở khu massage của khách sạn. Nhưng đêm qua cô là một người khác. Tôi không thể hình dung chính cô có tiếng cười khanh khách trong trẻo như thế. Có lẽ vì cô tưởng chỉ có mình cô với con sáo trong sương sớm? Cô gái chân trần đi về góc cuối mặt sau khách sạn. Khu massage ở dưới tầng ngầm phía ấy. Trước khi biến mất xuống miệng hầm đen ngòm, cô vung tay cho con sáo bay bổng. Nó đập cánh rối rít vụng về rồi xà khuất vào cành lá nào đấy...
Tắm, thay áo, hút thuốc... Tôi làm mọi việc trong tâm trạng bần thần vì lỡ bắt gặp một cô gái trong một cô gái. Nhấc điện thoại, sau một chút ngập ngừng, tôi gọi lễ tân: “Cho hai suất điểm tâm tại phòng...”. Chưa nói hết thì cô lễ tân nhiệt tình cắt ngang với giọng ngạc nhiên: “Anh ở một mình mà?”. Phớt lờ, tôi tiếp: “Một cà phê đen và một cà phê sữa...Còn nữa...”. Lần này thì tôi sợ chính tôi cắt ngang, nói một hơi: “Và gọi cô em massage khi hôm lên đây!”. Sau tiếng cười rinh rích, lễ tân bình luận: “Làm chi sớm dữ rứa trời?”. Tôi cáu: “Có được không thì bảo?”. “Dạ được, 24/24 mà! Mà này, anh muốn gọi cô mô, tên chi?”. “Cô khi hôm ấy.”. “Chịu chết thôi, ai biết khi hôm ai massage cho ai, ở đây tới chục cô lận?”. Tôi tưởng mình cũng “chịu chết” thì nhớ sực: “Cô bé có con sáo ấy!”. Lễ tân cười: “Ghê hỉ, biết cả con sáo của người ta nữa trời nạ!”.
Tôi ngồi hút thuốc trước hai suất điểm tâm, cửa khép hờ, chờ đợi và hiểu mình muốn gì: tiếp xúc với con người thật của một con người... Tiếng gõ cửa dạn dĩ làm tôi thoáng khó chịu. Cô gái bước vào phòng là cô gái đêm qua tôi đã gặp. Một cô gái mà tôi không thể hình dung có tiếng cười khanh khách thơ trẻ. Lớp kén đã kịp bọc kín con tằm.
Trưa hôm ấy, khi băng qua quãng sân trống trãi trước khách sạn để đến bãi đỗ xe, tôi chợt trông thấy con sáo. Nó nhảy lò cò trên nhánh của một cây hoa sữa trồng cạnh lối xuống tầng ngầm khu massage. Tôi chậm rãi đến gần cây hoa sữa và hiểu vì sao con sáo có đường bay gấp gãy. Đôi cánh đã bị cắt ngắn.
° ° °
Tôi mở cánh cửa thông ra lan-can mặt sau khách sạn với chút hồi hộp. Phong cảnh không thay đổi bao nhiêu sau chừng ấy năm. Nhưng là buổi sáng mờ sương hoàn toàn yên tĩnh, không bóng người, bóng sáo.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-17 04:28:47Chuột lắc>
3 người sau cánh gà - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền


Chuyện xảy ra từ đầu thế kỷ 20, khi nghệ thuật tuồng còn là “ông hoàng” dưới ánh đèn sân khấu, trong cung đình cũng như dân gian. Tôi nay chép lại hầu bạn đọc vì ngẫm chuyện còn như mới.
° ° °
“Như ta đây đào lẳng Tiểu Phụng!”. Hát xằng một câu giáo đầu như thế rồi cười ngặt nghẽo một mình là người đàn bà trẻ nửa nằm nửa ngồi trong bồn tắm bốc hơi ấm. Tất nhiên là nàng khỏa thân trăm phần trăm. Mái tóc dài bối cao tựa vành khăn nhung đen và màu nâu chín sẫm của bồn tắm gỗ sồi như hợp sức tôn vẻ ngọc ngà cho làn da trắng sữa. Nàng dùng hai bàn tay nhỏ nhắn xoa nắn làm ấm thân mình, quên bẵng câu hát vui mới dứt, tâm tưởng chuồi dần vào góc ký ức mụ mị.
Hơn mười năm trước, khi nàng mười sáu tuổi, bầu San đã làm ấm cho nàng như thế. Không phải trong bồn gỗ sồi mà trên cỗ xe ngựa lỉnh kỉnh các thứ đạo cụ đỗ bên bến sông, nơi ông vừa kéo giật nàng khỏi vòng tay thủy thần. Lúc đã hồi tỉnh, nàng vờ nhắm nghiền đôi mắt, lịm đi vì xấu hổ, vì phát hiện luồng xung động mới mẻ của bản thân, rồi vì sợ đôi tay cháy bỏng kia dừng lại khi biết nàng có thể tự chăm sóc. Đó cũng là lần đầu tiên có bàn tay đàn ông chạm vào cơ thể nàng. Tất nhiên hai người sống chung sau đó, cho tới bây giờ. Công chúa Tiên Dung lấy cớ Chữ Đồng Tử lỡ trông thấy tấm thân lồ lộ của mình trong khi tắm mà buộc vua Hùng phải cho nên nghĩa tào khang. Nàng và bầu San thì không cần năn nỉ ai, cứ thế quấn riết lấy nhau, như sinh ra để làm như thế, như trầu với cau. Nhưng chỉ thế thôi, chỉ già nhân ngãi, dẫu trong con mắt của các thành viên gánh hát cũng như của người đời, nàng và bầu San khác gì vợ chồng. Nàng nghe đâu trong giây phút tử biệt sinh ly với người vợ yêu bầu San lỡ hát mấy câu thề độc mãi ở vậy nuôi con. Nhưng nàng không máy động tới chuyện ấy bao giờ.
Bàn tay của Tiểu Phụng dừng lâu ở vùng nhạy cảm. Gần một năm rồi bầu San thưa nhạt hứng thú làm ấm cho nàng, cả khi nàng kín đáo gợi ý. Mỗi năm, khoảng cách giữa ông và chiếc giường của nàng càng rộng. Nếu không kính trọng bầu San, chắc nàng đã rời bỏ đoàn hát mà đi tìm hơi ấm cho quãng thanh xuân bất kham của mình. Hơi ấm đó dường như đang vây quyện nàng, phát ra từ ánh mắt dài dại của kép trẻ Long Điền...
Tiếng trống chầu cáo thiên hạ đêm diễn sắp khai dội vào buồng tắm, kéo nàng ra khỏi sức hút của dòng miên tưởng buông thả.
° ° °
Long Điền ngồi vào bàn hóa trang, nhìn gương mặt mình trong gương soi dần biến dạng sau những nét tô vẽ đỏ đen, như nhìn thấy cả một cuộc chuyển lưu thân phận của mình, từ quá khứ đến hiện tại.
Một ngày năm năm trước, cỗ xe ngựa gánh hát rong dừng lại bên đình làng Hạ. Cuộc sống nhàn nhạt sau lũy tre xanh phút chốc rộn ràng với tiếng trống chầu. Người ta yêu ghét rõ ràng hơn, mạnh mẽ hơn sau mỗi tuồng tích. Riêng cậu chàng mồ côi mười lăm tuổi thì cái sân khấu nghèo nàn kia là một thế giới bao la, kỳ diệu, có sức cuốn hút chết người. Khi gánh hát nhổ rạp lên đường, chàng đã vượt qua nỗi sợ hãi, đến cầu xin ông bầu cho theo đoàn. Bầu San thương tình giao một chân coi sóc đạo cụ và khi rỗi dạy chàng hát múa. Chính ông đặt tên Long Điền cho chàng. Theo ông, cái tên quê kệch ở làng Hạ khó lòng là cái tên của một nghệ sĩ danh giá sau này. Rồi từng bước, chàng gian khổ thu dần khoảng cách để có thể vói chạm tới vị trí mơ ước dưới ánh đèn sân khấu. Từ làm quân chạy hiệu, đóng vai phụ đến thế vai chính khi bầu San ốm bất ngờ...Nhưng sự cố đánh dấu cái ngưỡng dấn thân vào tuổi trưởng thành của chàng chỉ là một cái rùng mình tệ hại. Chuyện xảy ra khi Tiểu Phụng vẫy chàng vào khoang cỗ xe ngựa, gọi là giúp nàng “bắt gió” sau trận mưa giông đầu hạ...Từ đó chàng như bị ma ám, ngày đêm tơ tưởng đến ánh nhìn say đắm của nàng, mùi thơm da thịt của nàng...Trước mắt mọi người, nhất là bầu San, chàng kìm giấu cảm xúc mới mẻ của mình. Hạnh phúc nhất là khi được thay bầu San đóng cặp với đào thương Tiểu Phụng. Lời hát, động tác ra bộ đều từ trái tim khao khát của chàng mà nên. Nhưng gần đây bầu San cố tình không xếp chàng đóng cặp với Tiểu Phụng nữa.
Chàng đã vẽ mặt xong. Mặt thằng hề. Trong gương, chàng bất giác trông thấy dòng nước mắt lăn dài trên má thằng hề. Đêm nay gánh hát bầu Sang được vinh dự diễn tại dinh phủ doãn, có đức hoàng thượng ngự lãm. Ngài cho biết muốn đích thân tuyển diễn viên bổ sung vào Thanh Bình thự, nhà hát cung đình. Với vai hề không hợp tính cách làm sao chàng lọt vào mắt xanh của hoàng thượng? Nhưng bầu San đã lạnh lùng phân vai như thế. Ông vẫn đóng cặp với đào thương Tiểu Phụng.
° ° °
Tiểu Phụng đã rời khỏi bồn tắm đi sang phòng hóa trang mà bầu San vẫn ngồi lặng sau tấm màn, nơi ông tình cờ đóng vai anh chồng nhìm trộm vợ khỏa thân, dẫu hai người không hẳn là vợ chồng. Đầu óc càng mê muội vẻ đẹp chín muồi của Tiểu Phụng, ông càng nhận ra khoảng trống rỗng lạnh băng không lấp nổi trong người. Tiếng trống chầu cáo thiên hạ đêm diễn tiếp tục dội vào, kéo bầu San bật dậy.
Vào phòng hóa trang, bầu San đến thẳng chỗ Long Điền. Từ phía sau, ông bảo: “Vẽ mặt lại đi, thay tôi đóng cặp với Tiểu Phụng đêm nay”. Gương mặt thằng hề trong gương đông cứng, chỉ có đôi môi mấp máy: “Thưa thầy...”. Tiểu Phụng đang tô chân mày cũng dừng lại, rúng động toàn thân, dẫu nàng không nhìn hai người đàn ông. Bầu Sang bỏ đi, cố giấu cảm xúc, làm ra vẻ bận rộn kiểm tra các thứ trước giờ khai diễn.
Lát sau, bên cánh gà, Tiểu Phụng và Long Điền chuẩn bị xuất bộ tiến ra sân khấu, bầu Sang lại gần, thì thầm: “Các người không được đắm đuối với nhau như trong xe ngựa đấy. Phải diễn đúng phép tắc nghệ thuật. Tuồng chứ không phải đời. Mắt hoàng thượng tinh tường không kém ta đâu! Thôi, ra đi, trống giục rồi kìa!”.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-17 04:30:39Chuột lắc>
Dòng sông - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền

Đám cưới. Vâng, phải nói “lại đám cưới” với một chùm dấu chấm than cảm thán mới thể hiện được hết ý nghĩ choáng mệt của anh khi cô thư ký cơ quan chuyển tận tay một lúc ba cái thiệp hồng. Mùa cưới ấy mà. Thu nhập mấy năm gần đây có khá hơn một tý nhờ cái cơ chế thị trường, không đến nỗi đau đầu vì phải nhịn chi tiêu cho những chiếc phong bì đám cưới “vượt chỉ tiêu kế hoạch”, nhưng anh vẫn khổ sở vì có nhiều đám cưới buộc phải có mặt, không thể gửi cái phong bì đến là xong nghĩa vụ. Vì thân tình, vì mối quan hệ xã hội.
Ở đất miền Trung này, dẫu hầu hết đám cưới chọn thời điểm tiến hành vào các tháng, các mùa mát mẻ trong năm thì vẫn không trốn được cái nóng, ngoại trừ những ngày mưa gió. Đã thế bây giờ người ta thường mời khách dự tiệc cưới từ 11 giờ trưa cho tiện tổ chức. Giữa buổi trưa, ngồi ăn uống nói cười chào hỏi với trăm con người quen và không quen trong bộ côm-lê, cà-vạt, không gọi đó là cực hình thì là gì? Nếu chỉ có thế anh vẫn chịu được. Bởi đám cưới đâu chỉ có thế. Phải có MC (trước đây gọi quản trò chính xác hơn), phải hát hò ầm ĩ mới ra đám cưới chứ. Anh gọi những thứ ấy là trò tra tấn! Mỗi thành phố nổi lên vài MC đám cưới chuyên nghiệp. Đi ăn cưới thế nào cũng gặp trong chừng ấy gương mặt, đến nhẵn. Đôi khi anh giận mình vì không biết từ lúc nào lại thuộc cả những câu giao đãi khuôn sáo, những bài hát “ruột” của các MC đám cưới! Đó là chưa nói đến những MC thích chọc cười quan khách bằng ngôn ngữ hài hước rẻ tiền, dung tục. Nhưng các tiết mục góp vui mới là món anh hãi nhất trong các đám cưới. Tất nhiên anh không khó tính đến mức vô lý là đòi hỏi “quần chúng” phải hát hay như ca sĩ. Tiếng hát ở đây mang ý nghĩa chia sẻ niềm vui hạnh phúc của tân lang-tân nương. Nhưng hầu như đó chỉ là cái cớ để các giọng hát đào tạo từ “lò” karaoké thể hiện mình trước “công chúng”, một loại công chúng chỉ được phép vỗ tay. Chậm vỗ tay thì đã có MC nhắc nhở! Chẳng hạn trong tiệc cưới hôm nay, anh đến trễ, vừa bước vào sảnh đã khó chịu trước hình ảnh một “lão già gân” vừa hát vừa nhún nhảy loi choi như cậu chàng vị thành niên lún phún râu mép. Và phải sau hai bài thì “lão Ngoan Đồng” này mới chịu trả micro cho MC. Tiệc cưới cũng là đất dụng võ cho những tay khoái tự biên tự diễn thơ. Thường là vè. Trong khi đó, dàn nhạc luôn chơi hết công suất dàn âm thanh. Như thể không ầm ĩ sôi động thì không xứng với đồng tiền thân chủ bỏ ra! Cộng tất cả lại, buổi tiệc cưới đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật tra tấn ngọt ngào...
Với kinh nghiệm như thế, trong bữa tiệc cưới hôm nay, anh cố tìm một bàn xa những chiếc loa và ngồi quay lưng với sân khấu. Nơi góc xa khuất đó của tiệc cưới, khi ngồi xuống, chạm phải vai một thiếu phụ ở bàn sau, anh lịch lãm quay sang xin lỗi. Hai tiếng xin lỗi ngắn gọn là thế mà nói không trôi, miệng cứ há hốc. Bất ngờ quá, xúc động quá cho cả hai người. Anh và Heves...Chưa bao giờ anh thấy hai chữ bất ngờ chính xác và đi tới tận cùng nghĩa lý như thế. Có nằm mơ anh cũng không thể mơ chuyện Heves đi ăn tiệc cưới ở cái thành phố nhỏ miền Trung Việt Nam, ngồi gần nhau đến mức phải xin lỗi vì chạm vào vai nhau!
Sáu năm trước, Heves còn là cô sinh viên khoa quan hệ quốc tế thực tập tại Bộ ngoại giao đảo quốc Bắc Síp, được phân công hướng dẫn anh, một khách mời từ Việt Nam đến dự hội nghị quốc tế về môi trường. Trong chuyến dã ngoại, Heves bảo: “Chuẩn bị đón khách Việt Nam, em đã vào thư viện tìm đọc về Việt Nam...Nhờ đó em biết rằng đất nước anh có rất nhiều dòng sông...Anh biết không, đất nước em lại chẳng có dòng sông nào...”. Kết thúc hội nghị là một dạ tiệc trong lâu đài cổ, có sân khấu lộ thiên. Chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ dân gian nổi tiếng Bắc Síp được xen kẽ với sự đóng góp ngẫu hứng của quan khách. Hầu hết là đọc thơ hoặc hát dân ca của dân tộc mình với phần thuyết minh ngắn gọn bằng tiếng Anh. Đến lượt, anh lên sân khấu, mắt chỉ nhìn vào mắt Heves, xao xuyến đọc mấy câu thơ chợt đến và ám ảnh anh từ sau chuyến dã ngoại với cô. Đại khái thế này nếu chuyển sang tiếng Việt:
Tôi đến từ quê hương những dòng sông
Tên gọi chúng rất gần và rất xa
Gọi từ sắc màu phù sa mang tải Hồng Hà
Từ dáng hình chín nhánh Cửu Long
Từ thoảng thơm chiều tím Hương Giang
Em bảo quê hương em không có dòng sông?
Dẫu thế tôi không tin là thế
Quê hương em có dòng sông đấy nhé
Tóc em dài với Cửu Long
Xanh cùng dòng Hương
Lồng lộng sóng sông Hồng...
Bây giờ, “dòng sông Bắc Síp” lại ở bên anh, tỏa mùi hương e ấp vào anh...Nhưng Heves đưa anh về thực tại. Rằng cô đến Việt Nam khảo sát tính khả thi một dự án nhân đạo của một tổ chức phi chính phủ. Và cô dâu của đám cưới hôm nay là thông dịch tiếng Anh của cô...Anh không muốn kể lể về mình với Heves như thói thường phải làm thế. Anh lên sân khấu mini, cướp micro từ tay gã MC, mắt chỉ nhìn vào mắt Heves, đọc thơ ngẫu hứng, bằng hai thứ tiếng, Việt và Anh. Và, ngay cả trong thời khắc thăng hoa nhất, anh vẫn ý thức: Trò tra tấn của anh “dã man” nhất trong tiệc cưới hôm nay!
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Trầu cau - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền


Châu ngồi lặng như thế đã lâu, sau khi tiễn bà con và láng giềng đến dự ngày giỗ đầu của chồng. Tránh chạm phải mắt Phan, cô nghiêng nhìn ra cửa sổ, dõi trông những cánh cò đáp xuống rồi bay lên đã nhiều vòng trên cánh đồng hẹp chạy dài tựa dòng sông giữa làng Cự Nẫm và khu rừng mới trồng sau năm 1975. Hoàng hôn phủ nhẹ lên gương mặt Châu lớp bụi sáng vàng dịu, giúp xóa đi phần nào vết trầm của thời gian hay ít ra nó cũng làm cho gương mặt cô phảng phất gương mặt cô gái Quảng Bình 18 tuổi cách đây 30 năm trong mắt Phan, vào cái lần đầu tiên hai người giáp mặt nhau trên bến sông, cũng trong ráng chiều hanh vàng thế này. Nhưng hôm ấy thay vì đàn cò trắng là lũ máy bay Mỹ đen xám gầm thét thay nhau bổ nhào cắt bom đánh chặn điểm đầu của con đường đổ quân vào miền Nam. Hai người cũng ngồi cách nhau có sải tay thế này trên chiếc xuồng tam bản chòng chành. Châu bặm môi quẫy chèo vượt sông, mạnh dạn nắm lấy tay Phan kéo xốc lên bờ, kéo tuột vào căn hầm gần đấy, dúi vào nhau chịu đựng trận bom tưởng chừng không bao giờ dứt…Thật ra cuộc không kích diễn ra chưa tới mười phút. Nhưng mãi đến lúc các cột khói bom đã hòa lẫn cùng sương trắng dưới ánh trăng khuya mơ mòng hai người mới rứt được nhau, rời khỏi căm hầm, tìm đường vào làng Cự Nẫm. Những gì đã thì thầm vào tai nhau, đã cho nhau, chỉ có cô dân quân Quảng Bình và anh bộ đội quê Thái Bình biết. Tờ mờ sáng, Phan tìm được đơn vị, lập tức lên đường vào Nam, vào chiến trường Khe Sanh, Quảng Trị. Hành trang của anh nặng thêm một lời hẹn ước trở lại Cự Nẫm.

Phan không muốn Châu nhìn mãi những cánh cò bay lên, đáp xuống. Anh cũng không muốn mình gặm nhấm mãi nỗi đau thời trai trẻ đúng vào lúc này. Sau tiếng đánh hắng khàn đục, Phan chậm rãi:

“Châu à, anh về đây…”

Người đàn bà hốt hoảng rời bỏ tư thế của kẻ trốn lánh bản thân, ngoảnh lại:

“Tối rồi, anh?”

“Ờ, đây xuống Đồng Hới có hai mươi cây số thôi mà, cậu xe thồ chờ anh ngoài quán nước cũng lâu lắm rồi, sớm mai anh đón xe về Hà Nội…”

Rồi như sợ không làm nổi điều vừa nói ra lời, Phan đứng lên, chống nạng bước đến bàn thờ vẫn nghi ngút khói nhang. Anh nhìn lên bức di ảnh. Gương mặt của anh từ trên bàn thờ đang nhìn trả lại anh. Ánh mắt cười cười, không vui-không buồn-không giận. Phan rưng rưng nước mắt thắp thêm một nén nhang cho chồng của Châu, cũng là cho đứa em trai sinh đôi của mình, Khoa.

Châu không tiễn. Khi tiếng nạng gỗ xa dần, ngừng hẳn, rồi tiếng xe honda rền rĩ vút đi, cô gục đầu vào song cửa, đôi vai rung bần bật rồi dịu dần, dịu dần, thật chậm...Bên ngoài, đàn cò bốc lên khỏi mặt ruộng lúa, đảo một vòng cuối trước khi sãi cánh bay hút về phía cánh rừng đã chìm trong làn sương trắng mỏng. Châu từ từ ngoảnh lại bàn thờ. Ánh mắt Khoa cười cười, không vui-không buồn-không giận...


° ° °

Năm ấy, Phan vào Nam, trong vòng sáu tháng chỉ gửi hai bức thư về Cự Nẫm rồi mất hút. Đôi khi Châu cũng ngạc nhiên về mình. Chung quanh cô nhiều đàn ông muốn kết thân nhưng cô lại không thể quên gương mặt một người chỉ thoáng qua đời mình, chỉ đi ngang qua Cự Nẫm một đêm. Thế rồi trong một lần tham gia chuyển quân qua sông Châu rơi vào luồng bom B52. Tuy sống sót nhưng cô bị truỵ thai và lãng trí, có lúc lên cơn như người điên dại. Hai năm sau, khi bệnh tình của Châu ngày càng nặng thì Phan đột ngột xuất hiện trước sân nhà. Cô lao ra “cắn xé” anh trước mặt mọi người cho hả nỗi nhớ, nỗi hận. Thực ra người đóù là Khoa, em sinh đôi của Phan, đang vào chiến trường miền Nam, và cũng sẽ ở lại Cự Nẫm một đêm trước khi nhập vào đường Trường Sơn. Ban đầu, Khoa chẳng hiểu gì, phát ngượng trước cơn điên của cô gái, muốn đẩy thoát. Nhưng khi nghe cô gái luôn miệng kêu khóc “Phan ơi, Phan ơi, sao anh nỡ bỏ lại em một mình...” thì hiểu ra. Chính Khoa cũng đang muốn tìm tin tức của người anh được xem là đã hy sinh tại Khe Sanh...Và Khoa đã im lặng, đã thay anh mình làm dịu nỗi đau của cô gái làng Cự Nẫm mà anh gọi là “làng một đêm”...Lần này, chiến tranh đã cho Khoa giữ được lời hẹn với Châu. Anh trở về với ba sự thực. Thứ nhất, anh là ai. Thứ hai, Phan đã hy sinh. Thứ ba, anh yêu Châu.Châu như hồi sinh, vượt qua bệnh tật một cách kỳ diệu. Nhưng sau năm 1975, sự thực thứ hai được cải chính: Phan chỉ bị thương, bị bắt làm tù binh.


° ° °

Châu nhìn thật sâu vào đôi mắt Khoa. Và cô nhận ra thật ra ánh mắt Khoa có gì khác với ánh mắt Phan. Bàn tay Châu khẽ vuốt ve gương mặt chồng sau lớp kính. Và chiếc khăn điều được cô nhẹ nhàng phủ lên bức di ảnh.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Trò chơi tháng giêng - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền


"Cắt!"

Anh ra lệnh có phần cao giọng hơn thường lệ. Ai tinh ý còn có thể nhận ra tâm trạng hưng phấn của anh trong âm sắc. Anh có quyền như thế sau một ngày làm việc tất bật, từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối. Lại là một ngày làm việc có hiệu quả. Anh tin rằng những thước phim về Huế của anh có cách nhìn riêng rất sâu. Đã lâu lắm anh mong có cơ hội về Huế làm phim, nơi đã sinh ra anh, ban phát cho anh trái tim mẫn cảm để nhìn nhận, để yêu mê cuộc sống và nghệ thuật...

Các diễn viên bắt đầu giải trang. Họ tỏ vẻ thân thiện với anh, như đã quên đi những lúc anh cáu gắt ầm ĩ vì họ không thể hiện được ý đồ của anh, bắt họ diễn nhiều "đúp" đến phát điên. Tốp quay phim và kỹ thuật uể oải thu dọn máy móc và mớ dây nhợ lùng nhùng dàn trải khắp mặt đất...Công chúng yêu nghệ thuật thứ bảy cũng dãn vòng vây chung quanh nhưng chưa buông tha. Họ không chú ý nhiều tới chuyện phim. Những cảnh quay phân cảnh đối với họ thật là rời rạc, không hấp dẫn. Họ thích coi diễn viên, lúc diễn cũng như lúc không diễn. Quay phim và cô diễn viên chính mời anh đi ăn tối. Lúc này anh thấy thèm phóng về khách sạn tắm táp bằng nước nóng hơn là ăn nhưng vẫn vui vẻ nhận lời. Anh đứng lên, rời khỏi chiếc ghế xếp dành cho đạo diễn đặt cạnh chân máy, đi về phía chiếc jeep mui trần. Vừa ngồi sau tay lái thì điện thoại di động reo.

"A-lô, tôi nghe đây."

Im lặng một giây. Anh đảo mắt nhìn qua số máy gọi đến. Không nằm trong bộ nhớ của anh.

"Ai đấy?"

Vẫn im lặng. Rồi một tiếng cười thật khẽ, tinh nghịch văng vẳng truyền đến, vừa rõ vừa mơ hồ. Tiếng cười của một cô gái. Anh không lạ gì những cuộc gọi không quen thuộc như thế. Đôi khi thấy bực mình. Nhưng tiếng cười khẽ vừa thoảng qua lại khiến anh bối rối. Không hiểu sao anh có cảm giác người kia như đang đọc được tâm trạng anh. Cô diễn viên ngồi bên cạnh liếc mắt sang:

"Bà xã à?"
"Không..."

Anh nói thế rồi toan cắt cuộc gọi. Đúng lúc đó anh nghe:

"Thì cứ bảo là bà xã đi, mất gì chứ?"

Anh bật cười:

"Ê, sao mỏng tai quá vậy?"

Và anh nhận ra người gọi có giọng Hà Nội. Kiểm tra nhanh trong số giọng nữ Hà thành quen biết. Không nhận ra. Đành phải nói một câu chuẩn nhưng kém:

"Xin lỗi, tôi đang nói chuyện với ai đây?"

Lại tiếng cười tinh nghịch:

"Cô diễn viên của ông có vẻ sốt ruột rồi đấy, em sẽ gọi sau. Mà này, ông bảo cô ta cất giấu bộ mặt cáu kỉnh xấu máu đói ấy đi nhá. Có phải là bà xã ông đâu chứ?"

Bên kia cắt máy gọn. Anh nhìn quanh. Cảm giác ban nãy là đúng. Người gọi cho anh hình như có mặt đâu đây, đang trông thấy anh. Nhưng anh không nhìn thấy phụ nữ nào chung quanh có vẻ như vừa dùng điện thoại di động. Anh khởi động chiếc jeep, phóng đi. Nhìn ngang, anh nhận ra vẻ mặt cô diễn viên "cáu kỉnh" thật. Làm hòa:

"Ê, quán Âm phủ nhé?"

Cô gái im lặng. Anh chàng quay phim vô tư:

"Ô kê, tùy sếp!"

Gần tám giờ tối mà quán còn đông, tìm một chỗ đỗ xe không dễ. Ba người ngồi vào bàn, anh bảo cô gái:

"Em "đi chợ" đi."

Cô gái tỏ ra ngoan hơn:

"Anh biết món gì ngon thì gọi cho em."

"Ô kê, nem nướng trước nhé."

Chuông điện thoại reo.

"A-lô, tôi nghe đây."

Lại tiếng cười khúc khích. Anh đảo mắt nhìn số gọi đến. Là nàng.

"Ông Huế ơi, Âm phủ, tên quán gì mà lạ thế. Ông giải thích cho em được không?"

Anh lặng một giây, đảo mắt nhìn quanh. Không một phụ nữ nào trong quán dùng điện thoại di động. Họ đang mãi ăn hoặc trò chuyện với người thân.

"Đừng sợ, quán Âm phủ nhưng không có ma đâu, em là người dương thế, bằng xương bằng thịt đây mà!"

"Cô quái lắm nhé!"

"Nhưng ông chưa giải thích cho em, sao lại đặt tên quán là Âm phủ?"

"Đi mà hỏi chủ quán!"

Tiếng cười khúc khích vang lên:

"Đừng cáu với em nhá. Em muốn biết thật đấy. Hôm qua em đã hỏi nhưng chủ quán có vẻ không am hiểu. Ông là gốc Huế, lại làm nghệ thuật, ông phải biết chứ?"

Anh thở ra, hắng giọng:

"...Hình như quán có từ đầu thế kỷ 20 kia. Chỉ mở vào buổi tối đón khách làng chơi và các kỹ nữ ăn khuya sau khi đàn hát. Khách làng chơi phần lớn là vương tôn công tử, quan lại, viên chức. Họ không muốn người khác trông thấy mình ngồi chung bàn với kỹ nữ...Chủ quán đặt mỗi bàn một ngọn đèn dầu, chỉnh bấc rất nhỏ, ngọn lửa chỉ bằng hạt đậu, đủ để trông thấy thức ăn trên bàn thôi. Tối hù như vậy nên mới gọi đùa là Âm phủ. Lâu dần thành tên. Tất nhiên là do khách làng chơi đặt chứ không phải chủ quán...E hèm, giờ thì cô cho phép tôi ăn tối rồi chứ?"

Tiếng cười văng vẳng, cắt. Cô diễn viên theo dõi cuộc gọi, khẽ lắc đầu:

"Chịu thua luôn!"

Về đến khách sạn Thuận Hóa, anh lại nhận cuộc gọi. Vẫn là nàng. Anh nói thật nhanh trước khi cắt:

"Tôi đi tắm đây!"

Nửa giờ sau, anh ngồi một mình trước ly rượu chát, hoàn toàn yên tĩnh, thư dãn. Căn phòng thật dịu với ánh đèn ngủ. Điện thoại reo. Màn hình nháy sáng màu ngọc bích. Anh liếc mắt nhìn số gọi hiển thị. Nàng. Anh không cầm máy. Tiếng chuông reo từng nhịp từng nhịp trong đêm vắng nghe sốt ruột. Đành phải nhặt lên. Vẫn tiếng cười Hà Nội:

"Tắm gì kỹ thế?"

"Xong lâu rồi, đang nhắp rượu đây."

"Sao không mời em? Ông sợ người ta thấy ngồi chung bàn với em thì dùng đèn dầu Âm phủ vậy?"

Anh bật cười.

"Này, mà ông từng ngồi chung bàn với em rồi đấy, có sao đâu?"

Anh nhíu mày:

"Không hiểu?"

"Nhớ lại xem nào. Bốn tháng trước, ở Hà Nội, bọn anh chả xin em ngồi chung bàn trong quán cà phê Thúy là gì?"

"A, ra là cô!"

"Gớm, bây giờ mới nhận người quen! Không ngờ trông thấy ông ở Huế, còn lưu số máy, em thực hiện lời hứa ấy mà. Thôi, khuya rồi, không dám quấy ông nữa. Chúc ngủ ngon. Bye..."

Máy cắt gọn, bất ngờ cũng như câu thoại cuối cùng. Anh đặt máy xuống bàn, nhấp ngụm rượu chát. Bây giờ anh đã nhớ ra...

Sáng hôm ấy anh và hai ông bạn vào quán cà phê Thúy trước khách sạn. Không còn bàn. Nhìn quanh thấy trong góc có bàn còn chỗ trống, tiến vào. Một vị khách duy nhất là cô gái. Hai ông bạn nhanh chân ngồi trước. Còn một ghế cho anh nhưng cô gái đã đặt túi xách và cố tình không nhường. Anh hỏi:

"Xin lỗi, đã có người?"

"Vâng, em chờ ông xã..."

Ba người đàn ông đều cho là cô gái nói đùa. Nhưng cô đã nhắc cặp đặt vào lòng:

"Cứ ngồi tạm vậy...Ông người Huế à? "

Anh gật đầu nói cám ơn rồi ngồi xuống, kín đáo ngắm cô gái Hà Nội đang nhẩn nha ăn cốm bày trên lá sen. Mấy ngón tay như lá lan vân vê cốm dẻo thơm thành từng viên nhỏ rồi nhón bỏ vào miệng. Đôi môi hồng hình như không tô son. Hai ông bạn của anh bắt đầu "tấn công" người đẹp, nào hỏi tên, nào xin số điện thoại di động...Cô không đáp lại yêu cầu nào nhưng vẫn bắt chuyện. Cuối cùng cô đề nghị một trò chơi:

"Cứ cho em danh thiếp đi...Biết đâu em sẽ gọi ai đấy..."

Hai ông bạn vui vẻ trao danh thiếp. Anh ngồi yên nhắp cà phê. Bàn tay lá lan chìa ra về phía anh:

"Của ông đâu?"

Anh chỉ mỉm cười, nhón viên cốm từ lá sen khẽ đặt vào tay cô. Đôi mắt cô thoáng ánh nhìn ngạc nhiên nhưng không nói gì, lặng lẽ ăn cốm. Một ông bạn hào hứng chép số của anh vào sổ ghi điện thoại của cô gái, gọi là "cùng hội cùng thuyền".

"Thế là ông xã em không đến được, ông gặp may đấy!"
Cô gái nói thế với anh trước khi rời quán cà phê. Và cô biến mất từ đấy. Không ai trong số "ba chàng ngự lâm" nhận được cú phone nào từ cô gái Hà thành...
Anh uống một hơi cạn ly rượu chát. Hình ảnh cô gái và câu chuyện bên bàn cà phê sao mà như vừa xảy ra. Anh bất giác xao xuyến nhìn xuống chiếc máy điện thoại di động. Gọi hay không? Nhìn đồng hồ. 11 giờ 30. Và anh quyết định gọi số lưu tự động trên máy. Một giọng nam Hà Nội trầm ấm cất lên:

"A-lô, tôi nghe..."

Anh im lặng, nhìn lại số gọi, đúng là của nàng. Có tiếng trao đổi văng vẳng truyền đến từ nơi xa xôi:

"Mình ơi, hình như thằng cha đạo diễn gọi lại cho mình đấy..."

Giọng nàng reo lên:

"Thế là em thắng mình rồi nhé...Đưa máy cho em..."
Anh tắt máy cái rụp, thừ người giây lát, rồi bật cười. Cười to đến chảy nước mắt. Bên ngoài, đêm tháng giêng của Huế quá yên tĩnh khiến anh giật mình bởi chính giọng cười lạ lẫm của mình.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Chương bốn ở Tokyo - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền



Tràng pháo tay đuổi theo bước chân Chương khi anh trở về chỗ ngồi dành cho các nhà văn dự hội thảo văn hóa châu Á. “Bài thuyết trình của ông ấn tượng lắm, xin chúc mừng...”. Ruu Hisori trao anh bó hoa cẩm chướng bọc giấy trong màu tím nhạt. Chương nói cám ơn. Ruu giải thích: “Của một thính giả nhờ chuyển đến ông...”. Nụ cười của cô giảng viên đại học quan hệ quốc tế Tokyo được phân công “kèm cặp” anh trong thời gian hội thảo cho biết cô cũng vui mừng, nỗi mừng riêng, vì cô vừa trút được gánh nặng trách nhiệm. Không có gì căng thẳng hoặc lúng túng xảy ra trong phần thảo luận vì Chương và Ruu đã tiên liệu các tình huống có thể xảy ra. Cô thừa biết anh là “con mồi” cho những nhà báo theo dõi hội thảo với những câu hỏi muôn thuở về “tự do sáng tác”, vì anh đến từ...Việt Nam.

Khi băng qua hoa viên để ra cổng nhà văn hoá quốc tế, Ruu hỏi: “Ngày mai ông về rồi, ông có người thân ở Tokyo không? Nếu muốn thăm viếng ai, tôi sẽ sắp xếp...”. Câu hỏi chân tình lại làm Chương bối rối hơn những câu hỏi mang tính chất vấn, thách thức chính trị trong hội trường. “Cám ơn, tôi tự lo được...Ruu đã vất vả vì tôi lắm rồi!”.

Ruu không nhận ra tâm trạng của Chương, hứng thú trở lại câu chuyện về hội thảo. Chương vừa nghe Ruu vừa nghĩ đến Diễm. Thực ra, khi nhận lời mời sang Tokyo, anh đã nghĩ ngay đến Diễm. Trong bốn ngày ở đây, sau những lúc bận rộn, anh càng nghĩ đến Diễm. Đã có lúc ngồi trong toa tàu điện ngầm hay dạo phố anh bần thần nhìn đám đông vô tâm lướt qua trước mắt với những câu hỏi: Liệu anh có tình cờ trông thấy Diễm? Nàng ra sao sau sáu năm làm dâu xứ Phù Tang? Nhưng lúc này anh không thể coi Diễm là người thân để nhờ Ruu dẫn đường đến thăm. Lòng Chương nhói đau khi tự xác định điều đó. Anh xoa dịu vết thương này bằng chính vết thương khác, bằng cách tự nhủ rằng anh không có địa chỉ của Diễm ở Tokyo...

Đi bên anh, Ruu tiếp tục câu chuyện. Cô nhận xét khá sắc sảo các bản thuyết trình của các nhà văn đến từ Hàn Quốc, Trung Quốc.... Bỗng Ruu chững lại: “Thính giả đã tặng hoa cho ông kìa!”. Chương nhìn theo hướng nhìn của Ruu. Diễm đứng đấy, dưới gốc tùng cổ thụ, mỉm cười nhìn anh. Nàng chờ ở đây khá lâu, trong thời gian anh dự tiệc nhẹ của ban tổ chức sau khi cuộc hội thảo kết thúc. Chương không ngờ mình có thể bình thản như thế, dù chỉ là bên ngoài: “Cám ơn... cẩm chướng!”. Diễm cũng thế. Nàng đã chủ động gặp anh kia mà. Dẫu sao Ruu cũng mơ hồ nhận ra mối quan hệ giữa hai người đồng hương này có điều gì phức tạp hơn là “thính giả” và nhà văn. Cô tế nhị tách khỏi họ sau những dặn dò về chương trình của Chương từ nay cho đến khi phải có mặt đúng giờ ở phi trường Hanedan.

Hai người đứng lặng hồi lâu dưới gốc tùng khi Ruu đi khuất. Mắt nhìn vào mắt, long lanh. Diễm lên tiếng trước: “Đi anh...”. Chương lắc đầu: “Hai đầu gối anh tự nhiên bủn rủn khi gặp em quá bất ngờ...Anh muốn biết chắc đây không phải là giấc mơ!”. Diễm bật cười trước kiểu nói đùa quen thuộc của Chương, cô trách: “Giá như truyện của anh viết như anh nói, anh sống thì thú vị biết mấy? Cứ viết toàn những chuyện chiến tranh nặng nề, khó đọc!”. Nhưng Chương là người rời khỏi gốc tùng trước. Và anh đi thật thong thả bên Diễm vì chỉ biết anh có thể sánh vai với nàng một cung đường khoảng vài chục mét, từ gốc tùng ra đến cổng chính nhà văn hóa quốc tế thôi. Sau đó điều gì sẽ xảy ra thì không biết và cũng không muốn “hư cấu”. Anh bồng bềnh chếnh choáng vì Diễm đẹp hơn nhiều so với hình ảnh lưu giữ trong ký ức. Tròn trĩnh. Trắng hồng. Mắt môi đa tình...

“Chương một” bắt đầu. Chương thầm nghĩ khi Diễm mở cửa ô tô cho anh bước vào. Xe chạy chầm chậm qua những đường phố lạ làm Chương thu người lại trong ghế da. Nhìn Diễm im lặng tập trung lái xe anh thấy mình vừa rất gần vừa rất xa với nàng trong một không gian chật hẹp của chiếc ô tô. Bài hát do một nam ca sĩ Nhật nào đó trình bày phát ra dìu dịu từ ổ đĩa CD càng cho anh cảm giác lạc lỏng. Chương cố thoát trạng thái bồn chồn bằng câu hỏi tầm thường mà anh đã không sử dụng khi gặp Diễm: “Làm sao em biết anh ở hội thảo?”. “Em đọc tin trên báo, choáng người khi thấy tên anh, đến bây giờ em vẫn không tin được!”. Sắc giọng của Diễm rung cảm và đuối dần ở cuối câu. Rồi lại im lặng.

Dẫu biết im lặng lúc này là phù hợp nhất nhưng Chương không thể chịu đựng. Anh phải mở ra “Chương hai”: “Tụi mình đi ăn tối nhé? Anh mới lĩnh nhuận bút. Nguyệt san Sekai trích đăng mấy chương tiểu thuyết của anh…”. Diễm nhìn sang anh, mỉm cười rạng rỡ: “Anh làm em nhớ lần đầu tiên tụi mình gặp nhau…”. Cả hai cùng cười về một kỷ niệm xảy ra vào đầu những năm 80, khi Diễm còn thực tập kế toán ở một nhà xuất bản ở Hà Nội. Trong bản kê nhuận bút cô lưu tâm đến một tập truyện đã hai năm chưa chi trả. Hỏi thì biên tập viên trả lời: “Sách xuất bản trước năm 1975 ở Sài Gòn, thấy nội dung tập truyện “tiến bộ”, cho tái bản trong series giới thiệu văn học yêu nước đô thị miền Nam, nhưng không liên lạc được với tác giả, hắn chết rủ trong tù hay vù sang Mỹ rồi cũng nên!”. Nhưng Diễm không quên được vụ này, chẳng phải vì công việc, mà vì thỉnh thoảng vẫn nghĩ ngợi vô cớ về những mảnh đời trong tập truyện “hữu danh vô chủ”… Cho tới một lần công đoàn nhà xuất bản tổ chức tham quan cố đô Huế, qua chuyện trò với các nhà văn là cộng tác viên của nhà xuất bản, thì tình cờ cô biết được tông tích tác giả. Diễm một mình tìm đến nhà nhà văn. Đó là một biệt thự gần như bỏ hoang bên bờ sông Hương. Rõ ràng chủ nhân là một gã “phá gia chi tử”, không đủ khả năng kinh tế giữ gìn nguyên trạng tài sản của cha ông để lại. Khi gặp Chương, Diễm nảy ra ý nghĩ tinh nghịch. Cô nói với Chương rằng đã nhiều năm muốn gặp gỡ nhà văn mình yêu thích sau khi đọc tập truyện xuất bản trước 1975 tại Sài Gòn và hôm nay mới toại nguyện…Hóa ra anh chàng chưa biết sách mình được tái bản đã hai năm! Diễm hoàn toàn im lặng về mục đích đi tìm nhà văn của mình. Chiếc phong bì đựng nhuận bút mà cô thay mặt nhà xuất bản tạm ứng bằng tiền túi của mình cũng tạm nằm yên trong túi xách. Sự xuất hiện một bạn đọc “tri kỷ”, lại là một cô gái Hà Nội trẻ trung xinh đẹp, làm Chương bối rối vì hạnh phúc quá lớn lao, lại ập đến như cơn bão không điềm báo. Khi Diễm đòi cụng ly với nhà văn, vì “vô tửu bất thành lễ”, Chương chiều ngay. Lục lọi một hồi, không còn ly nào, đành ra quán. Nhưng khi đến trước cửa một quán rượu, anh có phần lúng túng: “Diễm ơi, quán này bình dân nhưng “hay” lắm, mà tôi nói trước, mụ chủ quán…hỗn lắm đó!”. Rồi anh chép miệng: “Thời buổi…đạo đức suy đồi…!”. Diễm cười thầm. Làm ở nhà xuất bản, giao du với nhiều nhà văn, cô thừa biết chủ quán hỗn chỉ vì mấy ông ký sổ nợ dài bằng sớ Táo quân! Có điều, chỉ có Chương mới lo lắng như thế, chứ không như các ông văn sĩ Bắc hà xem đấy chỉ là “chuyện vặt”. Không nỡ để Chương ái ngại vì phải tiếp tục ký sổ trước mặt một “em” Hà Nội, Diễm nói thật là sách Chương đã được tái bản và mình có mang tiền nhuận bút đến cho anh. Lập tức, Chương đổi giọng: “Nhuận bút hả? Lâu lắm mới nghe hai tiếng hay như thế! Thế thì đi quán khác “hay” hơn, Diễm à!”. Anh chọn một nhà hàng sang trọng, chỉ ngồi nhấp rượu Tây nhập khẩu để ngắm Diễm vừa thưởng thức đặc sản Huế vừa nghe nhã nhạc cung đình. Tối đó Chương uống hết...cuốn sách! Tháng sau Chương đùng đùng ra Hà Nội tìm Diễm và ở lại với Diễm…Có lần Diễm đùa: “Em ăn phải một bữa cơm Huế nên phải nuôi cơm anh...một năm!”. Linh thật, đúng một sau Diễm lấy chồng.

Sau bữa ăn tối, hai người lại lên xe chạy lòng vòng. Diễm đỗ xe trong sân một chung cư: “Em ở đây, lên chơi một lát nhé?”. Chương ngoan ngoãn theo chân nàng, không biết là nên hay không nên gặp chồng Diễm. Anh nói một mình, có phần căng thẳng: “Chương ba”. Như đọc được suy nghĩ của Chương, Diễm nói khi đang ở trong thang máy: “Chồng em lại đi Việt Nam tuần trước. Bây giờ anh ấy giỏi tiếng Việt lắm, không cần em phiên dịch nữa”. Chương nhói lòng khi nhớ đến thành ngữ: muốn giỏi tiếng nước nào, cách hay nhất là hãy sống chung với một phụ nữ của nước đó.

Chương lần đầu tiên giống ngày xưa khi anh nghiêm giọng với Diễm vừa từ phòng ngủ bước ra phòng khách: “Bỏ thứ kimono luộm thuộm đó giùm. Còn bộ bà ba mô không?”. Diễm đỏ mặt nhưng cười thật hiền, ngoan ngoãn quay trở vào thay áo. Hai người ngồi bệt trên sàn, cách nhau bởi một cái bàn gỗ chân quỳ lùn tịt, uống cà phê và ôn chuyện cũ. Nhưng cả hai đều tránh “chuyện cũ” của hai người...Bỗng Chương nhận ra Diễm như thoát khỏi câu chuyện, lắng nghe một cái gì đó thật xa xôi. Nàng nhìn quanh, gương mặt thoáng vẻ bồn chồn. “Kia rồi!”, Diễm kêu lên mừng rỡ. Nàng đến góc phòng khách, nơi có hình elip âm xuống chừng năm phân rải sỏi trắng, trên đấy là một chậu đá đặt dưới vòi nước được ngụy trang rất khéo bằng khóm trúc xanh. Vòi nước bị tắc. Diễm quỳ mọp trên sàn mở vòi, thận trọng điều chỉnh để những giọt nước thong thả rơi xuống chậu đá với một khoảng cách như ý. Âm thanh tong tỏng ngân dài như phát ra từ một nhạc cụ tinh tế... Chương chợt hiểu ra, âm thanh ấy như một phần của không gian sống của Diễm và nàng đã bồn chồn khi thiếu vắng nó mà chưa rõ nguyên nhân...Sáu năm đã kịp hình thành một thói quen. Chương bỗng nhớ căn phòng chín mét vuông của Diễm ở Hà Nội mà anh từng sống bám gần một năm để viết tiểu thuyết. Cái vòi nước hoen gỉ chỉ cách giường ngủ có sải tay. Bao giờ Diễm cũng cẩn thận đặt cái chậu nhôm hứng sẵn vì chỉ cần siết không kỹ là nó giỏ giọt tong tỏng...Chương nhớ những đêm đông hai đứa rúc vào nhau ngủ, cứ đùn đẩy nhau nhiệm vụ siết lại cái vòi nước chết tiệt lì lợm làm reo giữa khuya vắng. Và bao giờ cũng thế, đã không đứa nào chịu ló ra khỏi chăn ấm. Chiến tranh bắt đầu cho đến khi chăn ấm cũng tuột xuống sàn...

Cắt ngang dòng hồi ức đang nhuốm màu xót xa, Chương bảo: “Khuya rồi, anh về đây...”. Từ góc phòng, Diễm vẫn quỳ mọp trên sàn chỉnh tốc độ vòi nước. Nàng nói gì đó nghe không rõ nhưng bằng chất giọng giận lẫy...Chương tự hỏi không biết có phải là “Chương bốn” đã bắt đầu không. Những giọt nước từ khóm trúc xanh đã đều đặn đếm nhịp thời gian như thể muốn nhắc nhở với Chương rằng Tokyo không phải là Hà Nội.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Chiếc lá Cruyang - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền


Con ong nâu bóng bay lạc vào văn phòng bộ lâm trường vắng ngắt cữ trưa hè, đôi cánh đập hết công suất trời cho như muốn át cả tiếng vù vù của chiếc quạt trần cũ kỹ, chững lại vài giây trước mặt Nai Thuyền, đủ cho cô liên tưởng đến một chiếc trực thăng apatchi thường xuất hiện trong các bản tin truyền hình chiến sự Iraq, rồi vụt thoát ra cửa sổ. Nai Thuyền nhìn đồng hồ, đã đến lúc hướng dẫn gã nhà báo đi thăm rừng theo phân công của giám đốc lâm trường. Bước vào phòng khách cạnh đấy, cô trông thấy anh chàng vừa đọc vừa ghi chép từ tập bản thảo của Quân mà cô cho mượn sáng nay. Nai Thuyền rùng mình với ý nghĩ giá như Quân ngồi đấy với những gì anh ấy đã viết ra chứ không phải là một người đàn ông xa lạ?

Gần mười năm trước, Nai Thuyền từ trường nội trú về Bản Sao, trời vừa sập tối. Leo nửa bậc thang, cô đã trông thấy một người đàn ông lạ ngồi giữa bếp, đọc dò những trang bản thảo vừa đánh máy xong. Đó là Quân. Sau mỗi chuyến đi khảo sát trong rừng sâu, anh quay về bản Sao, nơi đóng trạm tiền tiêu của viện nghiên cứu, lại đến bếp của già Cruyang Bok, cha của Nai Thuyền, trao cuốn sổ tay lấm lem bùn đất, thuê ông đánh máy. Hôm ấy, có Nai Thuyền về đột ngột, hai người đàn ông bỏ ngang cuộc rượu và câu chuyện phiếm cái cây con thú trong rừng. Khách vừa xuống khỏi thang một lát, cha con Cruyang Bok nổ ra cuộc tranh cãi đầy tính thời sự. Đây là kỳ nghỉ hè cuối bậc trung học, Nai Thuyền muốn cha xin việc cho cô ở tỉnh, tệ lắm là ở huyện, nhất định không quay về cái Bản Sao mùa đông nào cũng bị chia xé khỏi thế giới bên ngoài gần cả tháng trời vì nước sông Sao hung hãn dâng lên, cuốn phăng cây cầu gỗ. Ông Bok lắc đầu: “Khó lắm...”. Nai Thuyền dẫu môi: “Khó gì? Mấy ông ở ban tổ chức chính quyền tỉnh từng công tác với cha trong chiến tranh. Có ông còn được cha cứu mạng. Chẳng lẽ bây giờ xin một chỗ làm không được? Chưa nhờ sao biết khó?”. Ông Bok nhổ bãi nước bọt vào bếp lửa: “Khó là tao khó nè. Tao không thích làm chuyện đó!”. Nai Thuyền nuốt nước mắt, cắn môi câm nín, quay mặt vào vách. Ông Bok cũng im lặng, lóng ngóng cài giấy vào máy chữ, gõ lạch tạch cái bản thảo của Quân vừa giao cho. Nhưng cái bụng ông quặn thắt, không tập trung được, cái đầu ong ong với ý nghĩ: “Chao ơi, sao nó lì bướng giống con mẹ nó thế. Lấy vợ trẻ, nựng quá, hư. Gà trống nuôi con, chiều quá, hỏng!”. Ông Bok gỡ kính lão ra lau, nói trổng: “E hèm...Mình là người của núi rừng, sao cứ thích sống ở xuôi? Đi học cái chữ dưới xuôi là để trở về phục vụ bản làng chứ. Cán bộ kinh phần lớn đã về xuôi rồi, giờ đến lượt mày!”. Nói được, người nhẹ đi phần nào, ông đeo kính vào, tiếp tục gõ máy chữ, nhưng cơn ho giật trào lên, bẻ gập cái lưng gầy nhom. Nai Thuyền vội đến bên, vuốt ngực cho cha, như mắng trẻ con: “Ho còn đánh máy, bỏ đi!”. Ông già ngoan ngoãn nằm xuống bên bếp lửa, co quắp tấm thân trong cái chăn vừa được con gái đắp ủ. Nai Thuyền ngồi xịch vào bàn, nhìn chăm bẳm cái máy chữ của cha, người cô bỗng chùng xuống. Có lẽ không còn tìm đâu ra một chiếc máy chữ cổ lỗ cỡ này. Vỏ tróc nhẵn sơn, lạnh một màu xám thép. Những hàng khuy chữ bóng nhẫy, lõm đến mức đẻ ra được một hệ thống ký tự chưa từng có trên các nền văn minh nhân loại. Từ bé Nai Thuyền đã nằm lòng “bản trường ca” về chiếc máy chữ này. Nó là chiến lợi phẩm của chàng Bok thời trai trẻ chỉ huy du kích đánh đồn Tây trên đỉnh Savan. Không một ai trong đội du kích thuộc hết bản chữ cái, bèn gửi máy tặng ban tuyên giáo khu, được cái giấy khen viết tay. Từ chiến trường này đến chiến trường khác trên bát ngát cao nguyên, cái máy chữ “tham gia” trọn vẹn hai cuộc kháng chiến. Ông Bok ra Bắc học văn hóa bốn năm, hòa bình, quay về làm công tác mặt trận huyện, lại gặp nó. Trong thời gian đó, nếu ông thêm được cái vốn tiếng Việt thì nó cũng được thêm bộ dấu tiếng Việt. Nhưng không còn ai thèm mó tới nó nữa, cơ quan đã được trang bị nhiều máy chữ mới. Ngày nghỉ hưu, đơn vị tặng nó cho ông Bok làm vật lưu niệm. Nhờ chiếc máy chữ “tư nhân” duy nhất trong vùng, ông Bok có việc làm đều đều. Từ bản khai sinh đến giấy khai tử bà con đều thuê ông đánh máy. Nhưng nhiều lần ông than buồn. Nai Thuyền hỏi thì ông bảo: “Đấy, từ ngày tao xách nó khỏi bàn viết của thằng quan ba đồn Sanvan, nó chỉ biết đánh cái chữ “phấn khởi”, “hồ hởi”, “thắng lợi”...Còn bây giờ, mày thấy đó, bao nhiêu đơn từ của bà con đều qua nó để xuống huyện , xuống tỉnh, ra tận trung ương, mà có đến chín mươi phần trăm là “khiếu nại”, “tố cáo”, “kêu cứu”...Sao không buồn cho được!”. Còn tập bản thảo của người đàn ông kia? Nai Thuyền tò mò nhìn vào trang giấy ông Bok đánh nửa chừng rồi không rời mắt được, rồi cô “đọc” tiếp bằng cách đánh máy giúp cha, nhất cử lưỡng tiện. Âm thanh lọc cọc của chiếc máy chữ “cổ kính” dưới hai ngón tay vụng về của cô con gái rượu ru ông Bok vào giấc ngủ hạnh phúc hiếm hoi của người già.

Người đàn ông nói ngay khi Nai Thuyền bước vào phòng khách: “Cám ơn cô, tập tư liệu đã nuốt trắng giấc ngủ trưa mà tôi không hề biết. Một công trình khoa học tâm huyết, diễn đạt lại cực kỳ văn chương!”. Lòng nể phục và sự no mãn trong đôi mắt luôn “đói” thông tin của nhà báo làm Nai Thuyền ngây choáng như vừa ngậm cần rượu mới. Điều đó giúp cho chuyến đi thăm rừng có được cảm hứng đồng điệu, gần gũi. Nai Thuyền tự lái chiếc land-cruiser trên con đường bazan đỏ sẫm quanh co. Những cánh rừng xanh mở dần trước mắt cũng mở dần những trang kỷ niệm bâng khuâng. “Anh biết không, ban đầu, mình đánh máy bản thảo của Quân là để giúp cha đánh thuê, nghĩa là đánh máy như cái máy! Rồi thấm dần, thấy hay. Rồi mình biết yêu cái cây, con thú nơi mình sinh ra nhờ những trang viết về cái cây, con thú của Quân...Mình nguôi dần mong muốn được sống dưới xuôi. Rồi mình nhớ Quân mỗi khi anh ấy rời bản Sao đi rừng hoặc trở về Hà Nội. Rồi yêu nhau, lấy nhau. Đám cưới nghèo lắm. Nhà khoa học nước mình những năm ấy nghèo hơn mấy tay lên ngược buôn muối...”. Giọng Nai Thuyền đứt quãng khi cô điều khiển chiếc land-cruiser bò lên đỉnh dốc cao hoặc nghe như xa xôi lúc xe đang từ giữa rừng rậm phóng ra khoảng trống tạo bởi con sông lớn. Nhà báo ngọ ngoạy muốn nói một câu gì đấy thì Nai Thuyền hỏi đột ngột: “Thăm rừng của mình nhé?”. Anh ta gật đầu. Chiếc jeep vừa rẽ vào lối mòn một quãng đã nghe tiếng suối văng vẳng dẫn dụ. “Mình nhận khoán khu rừng này đấy”. Nhà báo nhìn quanh, lô nhô vô số gốc đại thụ còn lại sau cái chết của rừng già dưới bước chân đạo quân khai thác gỗ xen lẫn với rừng trồng mới lá chưa khép tán. “Phó giám đốc kỹ thuật lâm trường mà phải nhận lô rừng kém thế này?”. “Xin đấy”. “Nêu gương cho cán bộ hả?”. “Không. Mình cần nó, thế thôi”. Xe hết đường, hai người lội bộ. Chừng tàn điếu thuốc, nhà báo bất chợt trông thấy nóc nhà mồ đơn độc bên bờ suối. Hình khắc chim công và voi bằng gỗ quý dựng trước cổng đã nứt nẻ chằng chịt. Nai Thuyền khô khốc: “Quân đấy”. Nhà báo lúng túng trước điều không chờ đợi. Nai Thuyền nhìn theo làn khói nhang vừa đốt: “Lấy nhau được một năm, Quân ngả bệnh, chất độc màu da cam...”. Phải một lúc sau, cô mới có thể kể tiếp câu chuyện buồn: “Theo nguyện vọng của Quân, mình cất nhà mồ cho anh ấy ở đây, dưới tán rừng đẹp nhất bản Sao...Cũng theo lời Quân dặn dò trước khi vĩnh biệt, mình thi vào đại học Tây Nguyên, ngành lâm sinh...Tư liệu của Quân giúp mình rất nhiều khi làm nghiên cứu sinh ở Úc... Học xong về nước, về Bản Sao, mình chết lặng trước cánh rừng già đã biến mất, nhà mồ của Quân nằm trơ trụi giữa trăm nghìn gốc đại thụ, vết lưỡi cưa máy còn mới lắm...Đó chính là lý do mình nhận mảnh rừng này để chăm sóc...”.

Về đến văn phòng lâm trường trời đã sẩm tối. Trên hành lang, Nai Thuyền bảo: “Mai mình đi nhận giống sớm, không tiễn anh được”. Nhà báo cám ơn về tất cả những gì đã có được và nói rằng muốn liên lạc với Nai Thuyền sau này để viết một ký sự nhân vật về Quân. Cô mở ví trao danh thiếp. Anh ta đọc loáng qua, ngửng lên: “Thuyền ơi, họ Cruyang nghĩa là gì nhỉ?”. Nai Thuyền ngẩn ra một lát, đáp gọn: “Chiếc lá”. Khi còn lại một mình trong văn phòng, Nai Thuyền ngồi xịch xuống ghế, tay chạm vào bàn phím máy vi tính, màn hình vụt sáng làm cô giật thột. Thì ra quên tắt máy trước khi đưa khách đi thăm rừng. Con trỏ nhấp nháy mời gọi...Nai Thuyền bần thần gõ chậm rãi lên bàn phím: “Quân ơi, chiều nay em thăm anh, thăm rừng non của chúng mình, rừng quế. Ba em bảo người Bản Sao có câu lý hay: Người tốt sống thẳng như cau, sống thơm như quế. Anh là cây quế ngàn năm của em. Quân ơi, rừng của chúng mình đã trẩy lá, đã biết gọi gió, gọi nắng, gọi tên anh, tên em...Rừng sẽ đại ngàn, sẽ xoè tán xanh cùng em chở che anh mãi...Chiều nay có người hỏi họ em Cruyang nghĩa là gì. Em không biết. Nhớ anh, em bảo với người ta: Chiếc lá. Em là chiếc lá của anh...”.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-08 07:54:12Chuột lắc>
4 con chó - Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền


Chùm truyện của nhà văn Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền


Truyện này đã có trong thư viện rồi bạn Bốn con chó

------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Cho CL tò mò ngắt ngang truyện của bạn 1 chút nha.
Tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền này có liên quan gì đến con cháu vua Thiệu Trị không vậy? Theo CL biết thì:

Vua Thiệu Trị:
29 Hoàng Tử
01- An Phong Quận Vương
02- Đức Dục Tôn Anh Hoàng Đế (Vua Tự Đức)
......
25- Phú Lương Công Hường Diệu
...
29- Văn Lảng Quận Vương (Vua Hiệp Hoà)

Hường Diệu:Có các Hoàng nam là
1- Ưng Ngẫu
2- Ưng Tịch....
5- Ưng Hiệp

Ưng Tịch
1- Bửu Di (14/3 - 12/3)
.....
4- Bửu Thiết (c)

Bửu Di:
1- Vĩnh Luân....
11- Vĩnh Quyền &lt;===???

[:D] Tiểu Phương có thể bật mí cho CL biết nguồn truyện được không, để CL tìm hiểu đó mà, cám ơn nha!!!

Nguồn: http://www.nguyenphuoctoc.com
***
0
Chuột lắc mến!

Theo mình biết thì Nguyễn Phúc Vĩnh Quyền chẳng liên quan gì đến hoàng tộc nhà Nguyễn cả. nguồn thì mình đã trích ở trên rồi: www.nld.com.vn, trong đó có một số bài.

Một số bài khác mình sưu tầm được ở một số trang Web khác nhưng lâu rồi và nay thì chịu không nhớ được. thông cảm nhé!
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0