Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Sáng tác Hát nói, Phú, Văn tế.

25 trả lời, 1.210 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-08 11:12:43Ct.Ly>
Sáng tác Hát nói, Phú, Văn tế.


Đây là các thể thơ văn hầu như thất truyền. Trong tinh thần bảo tồn văn học nước nhà, Meta xin biên khảo một loạt bài về Hát nói, Phú, Văn tế để làm thế nào, từ chỗ chưa biết gì, tự các bạn có thể sáng tác được. Mỗi một thể loại, Meta đều có sáng tác 1 bài mẫu để bạn đọc tiện tham cứu. Riêng phú và văn tế, vì tính chất chặt chẽ của nó, mỗi một cặp câu đều đối với nhau, xin dùng dấu chấm phẩy (;) để phân chia 2 câu đi từng cặp. Ví dụ:
Hơn ba mươi tỉnh hội đồng; Dư sáu chục năm huệ dưỡng.
Hoặc:
Tiếng kêu oan, oan này bởi nước, hồn nhân dân biết dựa vào đâu; Thân liều thác, thác cũng vì vua, xương nghĩa sĩ chất đà nên đống.

Bắt đầu bằng Hát Nói trước nhé!

________________________________________-

Thưa các bạn

Nhận thấy trong văn học Việt Nam , bộ môn Hát nói càng ngày càng chìm vào quên lãng. Trước nguy cơ ấy tôi không ngại bỏ thì giờ sưu tầm, tham khảo để cùng các bạn ôn lại thể thơ Hát nói . Gọi là bộ môn thay vì gọi là thể thơ, tôi cũng có dụng ý. Ngày xưa bậc tao nhân mặc khách sáng tác những bài thơ Hát Nói lưu truyền cho tới ngày nay không chỉ để sáng tác vì nghệ thuật mà còn là thú tiêu khiển của kẻ thích chơi trống bỏi.
Kẻ hay chữ thời xưa thường luống tuổi, người hiển đạt cũng như kẻ sách đèn đều đã hoặc đang nhờ cậy vào sự đảm đang tần tảo của hiền nội. Dĩ nhiên dù 1 thời có sắc nước hương trời, thời gian và sự làm lụng vất vả cũng làm cho nhan sắc phai tàn, các cụ đành đi tìm của lạ. Bộ môn Hát nói ra đời từ hồi nào ta không biết chính xác, nhưng bắt nguồn từ duyên do đó.
Ta có thể ví Hát nói như Karaoke ôm bên VN. Cái này thì tôi rành lắm Bạn có thể đi cùng 1 hay 2 người bạn, người được gọi là quản lý sẽ dẫn bạn đến 1 phòng được thiết trí để nghe nhạc, nghĩa là kín và ấm cúng. Cũng vẫn người quản lý dẫn "các em "vô, số em tuỳ theo số khách. Lúc này bạn có thể yêu cầu quản lý cho đổi "em" khác nếu không vừa ý . Sau đó là tới màn uống bia. Bạn không biết uống bia ư? No problem ! Ly của bạn luôn đầy tràn, bạn không uống thì các em, lấy lý do thay đá mới cho lạnh hoặc đá làm loãng bia, đổ ly của bạn vào cái chậu dưới gầm bàn. Chai bia mới cứ khui soành soạch . Chẳng mấy chốc bạn cũng "cạn" 20 lon bia như chơi. Dĩ nhiên các em cũng uống cầm chừng chiều khách. Trong lúc ca hát bạn trả giá cho 1 đêm "chiến đấu". Thoả thuận , bạn có thể chấm dứt ca hát bất cứ lúc nào. Trả tiền bia, tiền tips cho các em lẫn quản lý ($5.00 1 người, kể cả tiền bia tổng cộng khoảng $100.00) rồi chia tay bạn bè, mỗi ông 1 em về khách sạn để "mở mang trí tuệ".
Các cụ xưa cũng thế. Chủ chứa khi có khách lo bắt gà làm thịt, có khi đích thân tiếp khách, có khi phải đi gọi nếu có vị khách khó tính đòi cho được "em" quen. Ăn nhậu, hút thuốc phiện, sáng tác tại chỗ hay đã sáng tác từ trước, đưa cho cô đầu hát. Phải có đàn đáy và trống bỏi. Trống bỏi là cái trống con nhỏ như trống lắc của thợ nhuộm, gõ kêu "tom tom" để giữ nhịp hay tỏ ý tán thưởng. Có câu : Già mà còn ham trống bỏi , chế diễu người già mà dê dẩm. Buồn ngủ thì mỗi cụ 1 em chui vào cái mùng giăng sẵn, tha hồ mà "tom chát". Văn học Việt Nam đã có nhiều áng thơ Hát nói được lưu truyền đến ngày nay, đều phát xuất từ những cuộc ăn chơi như thế. Xin xem phần đọc thêm để thưởng thức các bài Hát nói nức danh thời đó.
Cần giải thích thêm về luật bằng trắc nếu có bạn thắc mắc sao lại có luật lệ nhiêu khê đến thế. Các bạn hẳn rõ, thi ca từ Đường thi, cho đến Hát nói được sáng tác không phải để đọc mà là để ca ngâm. Thi luôn đi đôi với ca. Tiếng sáo sẽ lạc lõng lắm nếu 1 bài Đường thi lỏng lẻo niêm luật. Cũng như vậy, tiếng nhị sẽ ngang phè nếu bài Hát nói sai luật bằng trắc, nhịp trống sẽ ra sao nếu 2 câu thơ không đủ 7 chữ hay câu keo không là 6 chữ? Để dễ hiểu, tôi xin dẫn giải bằng tân nhạc. Tân nhạc khác cổ nhạc ở chỗ 1 bản nhạc phải được sáng tạo cả nhịp điệu, cung âm và cả lời nhạc nữa. Cổ nhạc thì nhịp điệu đã có sẵn, ta chỉ sáng tác lời thôi, ví dụ điệu cò lả, quan họ, trấn thủ lưu đồn, xàng xê, lưu thuỷ hành vân.Thử đọc câu :" Đời tôi cô đơn bao năm qua vẫn cô đơn". Nếu câu này được 1 nghệ sĩ cổ nhạc sáng tác, ông ta chỉ thay lời rồi chú thích : Hát theo điệu Người cô đơn là đủ. Tuy nhiên ông ta phải tôn trọng luật bằng trắc, nếu không đàn cũng sai và người ca cũng chẳng biết ca thế nào nữa. Ví dụ : "Đời tôi cô đơn bao năm qua vẫn đau khổ" thì ca thế nào, đờn làm sao? Cho nên luật bằng trắc và đủ mọi lề luật khác ra đời làm cho những kẻ ngang ngược như tôi phải lận đận lao đao vì nó. Tóm lại, luật là để giữ tấu tức âm điệu . Số chữ hạn chế trong câu là để giữ tiết tức là nhịp. Bây giờ bắt đầu phần đào sâu vào luật nhé.

I /- SỰ XUẤT HIỆN CỦA THỂ HÁT NÓI :

Hát nói xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ 18 nhưng phải đợi đến đầu thế kỷ thứ 19 mới có những tác phẩm lưu truyền đến nay như các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát ... Nguồn gốc của thể Hát nói trong văn chương Việt Nam được giải thích bằng những nguyên nhân và các sự việc sau đây :

1- Hát nói là sự phàm tục hoá những thể thánh ca. Trước khi có Hát nói, nói rộng ra là trước khi có những bài hát ả đào hay ca trù, ở nước ta đã có những bài hát cửa đền, cửa chùa, những bài thét nhạc (bài hát có âm nhạc phụ hoạ). Những thể ca trong các dịp tế lễ đó chuyển dần công dụng và được các tao nhân, mặc khách tổ chức ngay trong những cuộc giải trí riêng của họ . Các bài hát ả đào bắt đầu từ đó.

2- Hát nói là sự cụ thể hoá ảnh hưởng của học thuyết Lão - Trang. Xưa kia văn chương Việt Nam về nội dung phải gò bó trong những tư tưởng Khổng Mạnh, về hình thức phải đem theo những qui luật khắt khe, những lối diễn tả nhất định. Cuối thế kỷ thứ 18, do hoàn cảnh rối ren trong xã hội, học thuyết Lão - Trang có cơ hội bành trướng và Hát nói chính là sáng tạo của các nhà nho phóng khoáng, thích tự do, ở đấy họ có thể gửi gấm những tư tưởng, cảm xúc vượt ra ngoài khuôn phép với cách diễn đạt cởi mở, rộng rãi hơn.

3- Hát nói là biến thể của song thất lục bát. Các nhà viết sách thời xưa cho rằng Hát nói là một hình thức biến đổi cu/a thể ngâm Song thất lục bát: Trong hát nói có Mưỡu là những câu thơ lục bát, nhiều câu 7 chữ có vần bằng, vần trắc, có cước vận, yêu vận . Nhưng khi đã phát triển, Hát nói là một thể tài hỗn hợp gồm: thơ, phú, lục bát, song thất, tứ tự, nói lối ...

Trong lối Hát ả đào có nhiều loại như: Dâng hương, Giáo trống, Gủi thư, Thét nhạc thì Hát nói là lối thông dụng và có tính văn chương lý thú nhất.

II /- QUY TẮC CỦA MỘT BÀI HÁT NÓI :

a) Số câu. Hát nói có các loại :

- Đủ khổ gồm 3 khổ , mỗi khổ gồm 4 câu, riêng khổ cuối gồm 3 câu. Đây là thể chính thức của Hát nói. ( Xem thí dụ bài Vịnh Thuý Kiều ở sau).
- Bài Hát nói thiếu khổ dưới 11 câu, thường là chỉ có 7 câu .
-Bài Hát nói dôi khổ thì có khổ dôi ra thường chen vào giữa, số câu nhiều hơn 11 .

Trong bài Hát nói đủ khổ 11 câu được đặt tên như sau :

- Khổ đầu: Câu 1, 2 gọi là Lá đầu; câu 3,4 - Xuyên thưa .
- Khổ giữa: Câu 5, 6 gọi là Thơ; câu 7,8 - Xuyên mau .
- Khổ cuối: Câu 9 là Dồn, câu 10 là Xếp, câu 11 là Keo .

b) Số chữ trong một câu :

- Số chữ trong các câu của bài Hát nói là không nhất định , thường một câu có 7, 8 chữ, câu ngắn có 4, 5 chữ, câu dài 12 tới 18 chữ. Ví dụ:

Quân bất kiến Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi.
Làm chi cho mệt cuộc đời.

Nhưng 2 câu 5, 6 gọi là Thơ thì phải theo thể ngũ ngôn hoặc thất ngôn.

c) Vần:

Trong bài Hát nói dùng cả 2 vần, vần bằng và vần trắc. Nếu một câu Hát nói đổi từ vần bằng sang vần trắc hoặc ngược lại thì có yêu vận và cước vận, những câu mang yêu vận là những câu chẵn, trừ câu thứ sáu chỉ có cước vận mà thôi.
Theo luật thì trong mỗi khổ, cước vận của câu đầu và câu cuối phải dùng tiếng trắc, cước vận 2 câu giữa phải dùng tiếng bằng. Yêu vận câu thứ nhì dùng tiếng trắc, yêu vận câu thứ tư thì dùng tiếng bằng . Yêu vận gieo vào chữ cuối đoạn thứ nhì.

d) Luật bằng trắc :

Theo luật hiệp vận , cước vận của câu đầu trong mỗi khổ hợp với yêu vận của câu thứ hai, yêu vận của câu thứ hai hợp với yêu vận của câu thứ ba, cước vận của câu thứ ba hợp với yêu vận của câu thứ tư . Hợp đây xin được hiểu là cùng tiếng bằng hay trắc chứ không phải hợp là cùng vần . Những chữ thứ nhất, ba, năm trong mỗi câu Hát nói không cần theo đúng luật bằng trắc ( gọi là nhất tam ngũ bất luận). Ta có:

- Câu 1. t T b B t T
- Câu 2. b B t T b B
- Câu 3. b B t T b B
- Câu 4. t T b B t T

Trong đó không kể những chữ gác ra ngoài luật vì số chữ trong mỗi câu hát là không nhất định . Câu 6 chữ phải theo đúng luật kể trên. Còn những câu dài hơn 6 chữ thì muốn ứng dụng luật này phải chia làm 3 đoạn con, trong mỗi đoạn con, chữ cuối phải theo đúng luật bằng trắc. Những chữ gác ra ngoài không kể, được tuỳ ý sử dụng. Những câu ít hơn 6 chữ thì chia làm 2 đoạn mà đoạn thiếu là đoạn đầu không kể còn 2 đoạn sau thì phải theo đúng luật.

Thí dụ 1 . (Chia câu làm 3 đoạn con bằng dấu / )

Đài tước / mở toang / cơn tạo hoá ----------------------- t T b B 0 t T
Phím loan xe / trải mối / cương thường ---------------------0 b B t T b B
Ngán cho Kiều / khi lỡ bước / Sâm Thương ----------0 b B 0 t T b B
Cung đàn nguyệt / dây loan / còn mắc mãi ----------------0 t T b B 0 t T

Thí dụ 2 .

Tài tình / chi với -------------------------------------------------------- b B t T
Đau đớn thay / chút phận / hồng nhan ------------------- 0 b B t T b B
Mười lăm năm / đầy đoạ / cõi trần hoàn ----------- 0 b B t T 0 b B
Khôn trọn vẹn / chũ tình / chữ hiếu ----------------------- 0 t T b B t T

Thí dụ 3 .

Ta xét thêm bài Hát nói Vịnh Thuý Kiều ( tác giả khuyết danh thế kỷ 19 ) sau đây là bài đủ khổ với 11 câu :

VỊNH THUÝ KIỀU

Khổ đầu :

1- Cơ Trời dâu bể ------------------------------------------------ Lá đầu .
2- Khách hồng nhan xiết kể nỗi gian truân ------------ B
3- Mang tấm son đeo đuổi khách hồng quần ------- B - Xuyên thưa .
4- Lời vàng đá dám lỗi cùng non nước --------------- T

Khổ giữa :

5- Ngọc diện khởi ưng mai thuý quốc -------------------- T - Thơ .
6- Băng tâm tự khả đối Kim lang --------------------------- B
7- Mười lăm năm thương xót kẻ đôi phương --- B - Xuyên mau .
8- Ruột tằm bực đã đành nơi chín suối ----------- T

Khổ xếp :

9- Duyên tái ngộ bởi Trời đâu đem lại ------------- T - Câu dồn .
10- Lứa ba thu một mối rõ ràng ---------------------------- B - Câu xếp .
11- Mới hay con Tạo khôn lường ------------------------- B - Câu keo .

Ta thấy câu đầu không tính vần, các câu sau cứ 2 vần bằng lọt vào giữa khổ ( mỗi khổ 4 câu, khổ cuối 3 câu ), lại 2 câu trắc bắc cầu từ khổ này qua khổ kia và bài Hát nói tận cùng là 1 câu 6 chữ vần bằng . Toàn bài Hát nói trên đều dùng cước vận .

YÊU VẬN: Còn yêu vận thì không bó buộc ( NHẮC LẠI, KHÔNG BÓ BUỘC), có thể là bằng hoặc trắc, đặt ở vị trí không nhất định trong câu .

Thí dụ 4 .

CÔ ĐẦU TỰ THÁN

Mưỡu (ddầu, kép) :

1- Cùng chung một tiếng tơ đồng
2- Nào ai tích lục tham hồng là ai ?
3- Nghĩ đời mà ngán cho đời
4- Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa ?

Nói :

1- Yêu đào một đoá ----------------------------------------------- Lá đầu .
2- Bấy lâu nay nấn ná chốn Bình Khang -------------------- B .
3- Nghĩ tài tình nên trọng cũng nên thương ------------ B - Xuyên thưa .
4- Ngờ chi nữa mà khách qua đường hờ hững -- T .

5- Lầu bậc ngũ âm êm tưởng những ----------------- T - Thơ .
6- Chọn người tri kỷ khách hay chăng ------------------------ B .
7- Ấy những ai hẹn ngọc thề vàng -------------------------- B - Xuyên mau .
8- Duyên đằm thắm hoá bẽ bàng sao thế nhỉ ? -------- T .

9- Hàng thưa mối phải chăng xấu vía ? ---------------------- T - Dồn .
10- Ngụ tính tình ta kể một đôi câu ------------------------ B - Xếp .
11- Người buồn cảnh có vui đâu ! ------------------------- B - Keo .

Khuyết Danh .

Bài này có thêm 4 câu Mưỡu đầu (kép) . Hai câu lá đầu yêu vận ( vần lưng là trắc : đoá, ná ), 2 câu xuyên thưa yêu vận ( vần lưng là bằng : thương, đường. Các khổ sau cũng lập lại như thế). Ngoài ra, các câu khác vần có cước vận 2 câu bằng lại 2 câu trắc xen kẽ.

III /- THƠ VÀ MƯỠU TRONG BÀI HÁT NÓI :

a) THƠ:
Trong bài Hát nói bao giờ cũng có 2 câu thơ hoặc bằng chữ Hán mượn của người xưa hoặc do chính tác giả làm ra viết theo thể ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Trong bài Vịnh Thuý Kiều ở trên, 2 câu Thơ chữ Hán lấy ở bài Đề Từ của Phạm Quý Thích. Bài Cô đầu tự thán, 2 câu Thơ 5, 6 do tác giả (khuyết danh) tự làm ra. Vị trí thông thường của 2 câu Thơ là câu 5 và 6, tuy nhiên khi phá cách 2 câu Thơ này có thể đưa lên đầu bài hay đến 1 vị trí khác như trong bài Thuý Kiều lưu lạc ( xin xem PHẦN ĐỌC THÊM) thì 2 câu thơ ở vị trí câu 9 và 10 :
Đoạn tràng mông lý căn duyên liễu
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường

( Xin xem toàn bài Thuý Kiều lưu lạc ở cuối bài ).

b) MƯỠU :
Mưỡu (hay mão có nghĩa dạo đầu, introduction) là những câu thơ lục bát mượn trong ca dao hay thơ của người xưa hoặc do chính tác giả làm ra đặt ở đầu bài (gọi là Mưỡu đầu) hay cuối bài nhưng trước câu keo (gọi là Mưỡu hậu). Mưỡu có thể gồm 2 câu ( Mưỡu đơn) hay 4 câu (Mưỡu kép). Bài Vịnh Kiều của Nguyễn Công Trứ dưới đây dôi khổ (dài hơn 11 câu) và có Mưỡu hậu đơn :

VỊNH KIỀU

1- Đài tước mở toang cơn Tạo hoá
2- Phím loan xe trái mối cương thường
3- Ngán cho Kiều khi lỡ bước Sâm Thương
4- Cung đàn nguyệt dây loan còn mắc mãi

(4 câu dôi khổ):
Đêm thanh vắng gọi Vân ngồi dậy
Bức khăn là phong mở nguồn cơn
Đem lời thệ hải minh sơn
Non nước ấy cậy em gánh vác

5-Thơ rằng : Vì hiếu để tình nên chếch mác
6- Chưa duyên mà nợ khéo đa mang
7- Mảnh gương thề soi với khách văn chương
8- Mùi hương ngát cũng nhờ em rơi đến chị

9- Này con tạo ghét ghen chi lắm bấy ?
10- Cái hồng nhan gẫm lại cũng buồn cười (câu xếp)

(2 câu Mưỡu hậu đơn):
Ấy ai trâm quạt thề bồi
Thấu tình hay chẳng hỡi người Liêu Tây ?

11- Trăng già khéo quấy chi ai ? (câu keo)

Nguyễn Công Trứ

CHÚ Ý : Những câu Mưỡu có thể làm sai lạc qui tắc về cước vận đã trình bày ở trên , tuy nhiên, có điều bắt buộc phải theo là : Mưỡu hậu phải tiếp tục vần của câu xếp để chuyển vần sang câu keo ( cười, bồi, người, Tây, ai ở cuối bài) .
Như vậy, về hình thức, phần thi pháp cho biết những qui tắc rất rộng rãi của Hát nói: số câu, số chữ không hạn định ... Thí dụ bài Kỷ niệm cụ Tiên Điền của Nguyễn Đôn Phục ở PHẦN ĐỌC THÊM gồm 59 câu .


IV/- PHẦN ĐỌC THÊM :

Thí dụ bài hát nói dôi khổ (59 câu)

BÀI HÁT KỶ NIỆM CỤ TIÊN ĐIỀN

Hát mưỡu :

Mấy hàng cẩm tú văn chương
Yêu hoa dở khúc đoạn trường ngâm hoa
Chúng ta nay nguyện với trăng già
Còn non còn nước quốc hoa còn dài

Hát nói:

Bắc phương nhất đại giai nhân lục
Nam hải thiên thu quốc sĩ văn
Đau đớn thay là cuộc phong trần
Mà bạch diện với hồng nhan sao khéo khéo

Ngẫm kim cổ trong vòng thế đạo
Trai thờ vua chi khác gái thờ chồng
Tiếc cho ai nền băng tuyết chất phỉ phong
Cơn gia biến lạ lùng trêu cợt

Chàng với thiếp để mối tình thưa thớt
Mười lăm năm khôn xiết nỗi ba đào
Gớm thay cái số hoa đào
Nghề mụ Tú học sao cho được

Chùa chị Hoạn ngỡ phúc duyên chăng tội ác
Kiệu anh Từ thôi phú quí cũng phù vân
Thôi thôi đừng ngậm ngụi mãi cho thân
Đành chữ hiếu muôn phần trọn vẹn

Cuộc nhân thế vì bể dâu nên chuyện
Ai ơi xem lịch sử cụ Tiên Điền
Phấn vua Lê trang điểm đó là duyên
Tay chúa Trịnh cầm quyền thì cũng nợ

Quân Bắc viện , Đông đô khi vỡ lỡ
Lửa Tây Sơn, Nam luỹ lúc kinh hoàng
Mây Tràng thành xa cách mặt quân vương
Nghìn dặm những đoái thương chiều tuyệt tái

Chém kẻ gian tà gươm thụt lưỡi
Đền ơn quân phụ khối mang tình
Chốn lâm toàn lạc lối kẻ thư sinh
Âu cũng lấy đôi chữ trung trinh làm bổn phận

Khi trong nguyệt cung cầm ngơ ngẩn
Khi dưới hoa vơ vẩn nước cờ
Cảnh hoàng hôn khi thỏ ác lần lừa
Hồn cố quốc khi đỗ quyên thúc giục

Dở đến tập phong tình cổ lục
Khóc cho ai mà lại khóc cho ai
Thương ôi sắc nước hương trời
Thân trinh bạch cũng mai mà cũng tuyết

Cũng một lối tài tình oan nghiệt
Bút tài hoa nên điểm xuyết chuyện trăng hoa
Thác ra lời bạc mệnh xót xa
Mắng những thói buồn đơi xỏ lá

Nhắm mắt đánh nhau cùng tạo hoá
Nặng lời trao lại với non sông
Cuộc bể dâu trông thấy đã đau lòng
Tài thế nhỉ mà tai là thế nhỉ

Cho mới biết chữ hiếu, chữ trung là chữ quý
Kiếp phù sinh chi kể giấc chiêm bao
Ta khen người thục nữ chí cao
Mà tâm sự đấng văn hào ta phải nhớ

Điểm giọt máu chuốt nên vần quốc ngữ
Lúc canh khuya nghe gõ tiếng chuông vàng
So oán ân trong kiếp đoạn tràng
Bảo cho biết thiện căn là lạc quốc

Âm cực dương hồi, cơ duyên sau trước
Đem văn chương mà cảnh giác cho ta
Niệm nam mô ông Phật chùa nhà !

Nguyễn Đôn Phục

Một thí dụ về sự vô hạn định số chữ trong câu thơ Hát nói :(Câu 7, gọi là xuyên mau dài 24 chữ).

Giả Cách Điếc


Trong thiên hạ có người giả điếc,
Khéo ngơ ngơ ngác ngác ngỡ là ngây,
Chẳng ai ngờ sáng tai họ, điếc tai cày, (1)
Rở lối điếc, để sau này em út học

Toạ trung đàm tiếu nhan như mộc,
Dạ bán phan viên thủ tự hậu (2)
Khi vườn sau, khi ao trước, khi điếu thuốc, khi miếng trầu, khi chè chuyên năm bảy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu;(3)
Tỉnh một lúc, lâu lâu rồi lại điệc

Điếc như thế, ai không muốn điếc ?
Điếc như anh dễ bắt chước ru mà !
Hỏi anh, anh cứ ậm à.


o0o
(1) Con trâu hễ người đi cày bảo "họ" thì nó đứng lại ngay (ddược nghỉ), trong khi bảo "cày" thì nó lại cứ ỳ ra làm như chẳng nghe thấy gị
(2) Ngồi giữa đám nói cười thì mặt ngây như gỗ; Nửa đêm thì tay lần mò như con khị
(3)Đây là 1 tiêu biểu cho sự vô hạn định số chữ trong câu thơ hát nọi câu thứ 7 (xuyên mau)dài 24 chữ , chỉ cần chữ cuối theo vần câu thứ 6(thơ).

Một bài hát nói trào lộng.

Diễu thầy đồ Cổ Nhuế


Thầy đồ Cổ là người tài bộ
Quẩy cầm thư đi giáo thụ phủ Vĩnh Tường
Trước nha môn thiết một học đường
Dạy dăm đứa chi hồ dã giả

Nhân lúc đồ ngồi nhàn hạ
Ra hồ sen xem ả hái hoa
Ả hớ hênh ả để đồ ra
Đồ trông thấy đồ ngâm ngay tức khắc

Phong tiền lạn mạn hoa sinh sắc ! ( trước gió phất phơ hoa nẩy sắc )
Thuỷ diện vi mang bạng thổ thần ( một dòng thấp thoáng hến thè môi )
Đồ ngâm rồi đồ đứng tần ngần
Đồ nọ tưởng đồ kia thêm thắc mắc

Suốt năm canh , đồ nằm biếng nhắp ,
Những mơ màng đồ nọ tưởng đồ kia
Đồ đâu gặp gỡ làm chi ! ...

________________________________________________

Ứng dụng:
Cuối cùng là phần lý thú nhất của bài biên khảo. Nắm vững quy luật Hát nói rồi, chúng ta hãy ứng dụng vào trong thơ hiện đại. Đây là bài thơ của Tử Ngôn :


Trăng Giữa Tháng

Mảnh trăng nhỏ nằm nghiêng bên mành trúc
Giống giận hờn, như khúc nhạc thở than
Ngồi bên nhau cùng tơ tưởng mơ màng
Anh em đó, nửa vầng trăng giữa tháng .
Mảnh tình hờ em gác nặng vai anh
Kề môi hôn cho ấm đượm ân tình
Để nhung nhớ giết dần trăng giữa tháng
Và cô độc làm úa cánh môi xinh .
Chiều bên em nắng đang liếc mắt nhìn
Hoa hồng nở chẳng ai thèm, muốn hái
Chỉ có anh một vì sao xa mãi
Muốn ươm đầy nhuỵ ngọt của hoa em ...

Sau đây tôi xin hoán chuyển sang Hát nói :

Trăng Giữa Tháng

Mảnh trăng nhỏ nằm nghiêng bên mành trúc
Giống giận hờn, như khúc nhạc thở than
Ngồi bên nhau cùng tơ tưởng mơ màng
Anh em đó, nửa vầng trăng giữa tháng .

Vân lâu bán khai bích tà bạch (1)
Ngọc luân trát lộ thấp đoàn quang
Mảnh tình hờ em gác nặng vai chàng
Để nhung nhớ giết dần trăng giữa tháng .

Và cô độc làm cánh môi xinh khô hạn
Xót đời hoa chờ tay hái chẳng ai thèm
Chỉ tình anh ngọt nhuỵ em

Chú Thích :
(1) Tường bạc hững hờ cung mây hé
Vành ngọc ngộp sương bóng ướt đầm - Hai câu này không đòi hỏi phải là Hán Văn, Việt văn cũng được nhưng phải là thơ 7 chữ .

-----------------------------------------------


Anh Phạm Doanh, một nhà thơ và cũng là 1 nhà khảo cứu về văn học Việt Nam đã làm bài Tương tư theo thể Hát nói để đóng góp vào trong bài viết này :

Tương tư .

Hát Mưỡu :
Tương tư từng sợi đan dài
Giọt buồn đọng lại bờ vai muộn phiền
Về đi, về cố tìm quên
Chuyện tình mờ mịt trong miền cát bay

Hát Nói :
Mười năm đã chia tay ngày ấy
Mà bây giờ còn tấy vết thương
Ta và em mỗi đứa một con đường
Kỷ niệm cũ vấn vương hoài tâm tưởng

Ta lưu lạc đời vô định hướng
Em về đâu ? sung sướng, khổ đau ?
Có những đêm sau cơn rượu nát nhàu
Ta tuyệt vọng, ta ôm đầu, ta khóc

Rồi năm tháng chuyển màu trên mái tóc
Vùng rong rêu bám chặt cả tâm hồn
Ngoài kia trời lại mưa tuôn .


Phạm Doanh
______________

Và đây là một bài thơ lục bát của một bạn gốc Nha Trang được tôi chuyển sang thể Hát Nói :

NHA TRANG

Quê em cát trắng thuỳ dương
Dòng sông trôi nhẹ vấn vương chữ tình
Luỹ tre , xanh ngát bên dình
Thông reo với gió xinh xinh bầu trời
Biển xanh trao nhẹ lời mời
Hiền lành hiếu khách , lòng người miền Trung
Người di ,kẻ ở thuỷ chung
Lòng người xa xứ nhớ mong quê nhà .

Chuyển sang Hát Nói :

NHA TRANG

Biển xanh cát trắng
Đây quê em miền nắng thuận mưa hoà
Có dòng sông, dừa rũ bóng la đà
Khi gió thổi là ngàn thông vi vút tiếng

Ngang tàng Cầu Đá đâm toạc biển
Sừng sững Tháp Bà chọc thủng trời
Dừng chân đây nhé viễn khách ơi
Trong tiếng sóng thiết tha lời mời gọi

Dù vui chân đường sông hồ vạn lối
Thân tha phương nhưng tâm tại cố hương
Nha Trang quê cũ mến thương .

Meta


Bạn thấy chưa ? Bình cũ đựng rượu mới dù không thêm hương vị nhưng cũng mặn môi đặm lưỡi . Ý hiện đại lồng trong thể thơ cũ cũng mang lại ít nhiều mới lạ .
Ngày xuân muôn hoa khoe sắc màu, gió xuân hây hây, tình xuân phơi phới, ý xuân bàng bạc nơi nơi . Nắm vững quy luật về thể thơ Hát nói, ngần ngại gì bạn cùng tôi không lấy giấy bút, chẳng giấy hồng tiên, mực tàu lỉnh kỉnh, giấy trắng bút Bic cũng được, thảo vài câu Hát Nói gọi là đầu xuân khai bút . Không trà thì rượu, chẳng câu đối cũng vài bài Hát Nói mừng xuân .

Đời người xuân đến được bao lẩn
Không câu đối tết tủi lòng xuân
Khai bút dăm ba câu Hát nói
Nhớ người thiên cổ hỡi thế nhân


Metamorph.

Nếu các bạn chưa chán, vài ngày nữa Meta xin nói về Phú và Văn Tế. Dĩ nhiên Meta cũng sáng tác vài bài mẫu.

Đã mang vào thư viện
Đăng nhập để trả lời
0
Tên một số bài, voime7 biết tên thôi, chứ chưa có may mắn đọc bao giờ:
- Hàn Nho phong vị phú. Nguyễn Công Trứ (1778-1858)

- Đặng đức Siêu (1750-1810):
Văn tế ông bá Đa Lộc
Văn tế phò mã Chưởng hậu quân võ thánh và lễ bộ thượng thư Ngô Tùng Châu.
Đăng nhập để trả lời
0

Hàn nho phong vị phú

Chém cha cái khó !
Chém cha cái khó !
Khôn khéo mấy ai ?
Xấu xa một nó !
Lục cực bày hàng sáu, rành rành kinh huấn chẳng sai,
Vạn tội lấy làm đầu, ấy ấy ngạn ngôn hẳn có.

Kìa ai:
Bốn vách tường mo,
Ba gian nhà cỏ .
Đầu kèo mọt đục vẽ sao,
Trước cửa nhện giăng màn gió .
Phên trúc ngăn nửa bếp nửa buồng,
Ống nứa đựng đầu kê đầu đỗ.
Đầu giường tre, mối dũi quanh co,
Góc tường đất, giun đùn lố nhố.
Bóng nắng dọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô,
Hạt mưa soi hang chuột trong nhà , con mèo ngấp ngó .
Trong cũi, lợn nằm gặm máng, đói chẳng muốn kêu,
Đầu giàn, chuột cậy khua niêu, buồn thôi lại bỏ.
Ngày ba bữa, vỗ bụng rau bịch bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no,
Đêm năm canh, an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ.
Ấm trà góp lá bàng lá vối, pha mùi chát chát chua chua,
Miếng trầu têm vỏ mận vỏ dà, buồn miệng nhai nhai nhổ nhổ.
Áo vải thô nặng trịch, lạnh làm mền, nực làm gối, bốn mùa thay đổi bấy nhiêu,
Khăn lau giắt đỏ lòm, giải làm chiếu, vận làm quần, một bộ ăn chơi quá thú.
Đỡ mồ hôi, võng lác, quạt mo,
Chống hơi đất, dép da, guốc gỗ.
Miếng ăn sẵn cà non mướp luộc, ngon khéo là ngon,
Đồ chơi nhiều quạt sậy điếu tre, của đâu những của.
Đồ chuyên trà , ấm đất sứt vòi ,
Cuộc uống rượu , be sành chắp cổ .
Đồ cổ khí bức tranh treo trên vách, khói bay lem luốc, mầu thủy mạc lờ mờ,
Của tiểu đồng pho sách gác đầu giàn, gián nhấm lăm nhăm, dấu thổ châu đo đỏ.
Cỗ bài lá, ba đời cửa tướng, hàng văn sách mập mờ,
Bàn cờ săng, bảy kiếp nhà ma, chữ nhật chữ điền xiêu xó.
Lộc nhĩ điền lúa chất đầy rương,
Phương tịch cốc khoai vừa một rỏ.
Tiêu dụng lấy chi mà phao phóng, thường giữ ba cọc ba đồng,
Mùa màng dành để có bao nhiêu, chừng độ một chiêng một bó,
Mỏng lưng xem cũng không giầu,
Nhiều miệng lấy chi cho đủ .
Đến bữa chưa sẵn bữa, con trẻ khóc dường ong,
Qúa kỳ lại hẹn kỳ, nhà nợ kêu như ó .
Thuốc men rắp bòn chài gỡ bữa, song nghĩ câu ý dã, thế nào cho đáng giá lương y,
Thầy bà mong dối trá kiếm ăn, lại nghĩ chữ dũng như, phép chi được nổi danh pháp chủ.
Quẻ dã hạc toan nhờ lộc thánh, trút muối đổ biển, ta chẳng bõ bèn,
Huyệt chân long toan bán đất trời, ngôi mả táng cha, tìm còn chửa chỗ.
Buôn bán rắp theo nghề đỏ, song lạ mặt, chúng hòng rước gánh,mập mờ nên hàng chẳng có lời,
Bạc cờ toan gỡ con đen, chưa sẵn lưng, làng lại dành nơi, hỏi gạn mãi giạm không ra thổ.
Gâp khúc lươn, nên ít kẻ yêu vì,
Gương mắt ếch, biết vào đâu mượn mõ.
Đến lúc niên chung nguyệt qúy, lấy chi tiêu đồng nợ đồng công?
Gặp khi đường xẩy chân cùng, nên phải tới cửa này cửa nọ.
Thân thỉ to to nhỏ nhỏ, ta đã mỏi cẳng ngồi trì,
Dần dà nọ nọ kia kia, nó những vuốt râu làm bộ.
Thầy tớ sợ men tìm đến cửa, ngảnh mặt cúi đầu,
Chị em e vất lấm vào lưng, chìa môi nhọn mỏ.
Láng giềng ít kẻ tới nhà,
Thân thích chẳng ai nhìn họ.
Mất việc toan dở nghề cơ tắc, tủi con nhà mà hổ mặt anh em,
Túng đường mong quyết chí cùng tư, e phép nước chưa nên gan sừng sỏ.
Cùng con cháu thuở nói năng chuyện cũ, dường ngâm câu lạc đạo vong bần,
Gặp anh em khi bàn bạc sự đời, lại đọc chữ vi nhân bất phú.
Tất do thiên, âu phận ấy là thường,
Hữu kỳ đức, ắt trời kia chẳng phụ.
Tiếc tài cả phải phạn ngưu bản trúc, dấu xưa ông Phó ông Hề,
Cần nghiệp kho khi tạc bích tụ huỳnh, thuở trước chàng Khuông chàng Vũ.
Nơi thành hạ đeo cần câu cá, kìa kìa người quốc sĩ Hoài âm,
Chốn lý trung xách thớt chia phần, nọ nọ đấng mưu thần Dương võ.
Khó ai bằng Mãi Thần Mông Chính, cũng có khi ngựa cưỡi dù che,
Giàu ai bằng Vương Khải Thạch Sùng, cũng có hội tường xiêu ngói đổ .

Mới biết :
Khó bởi tại trời,
Giàu là cái số.
Dầu ai ruộng sâu trâu nái, đụn lúa kho tiền,
Cũng bất quá thủ tài chi lỗ.

Nguyễn Công Trứ (1778-1858)

Nguồn Dactrung
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 05:50:10Ngọc Lý>
.

Cám ơn Meta4954 đã bỏ công viết loạt bài này thật hay.

Ngọc Lý xin mang vào links đến vài bài Hát Nói cho các bạn cùng thưởng thức. Bài các bạn sẽ nghe khi nhập là bài "Giả Điếc" vì Meta4954 chọn bài này làm thí dụ. Xin các bạn tùy ý chọn các bài khác theo ý thích. Bài Hồng Hồng Tuyết Tuyết của Nguyễn Công Trứ rất nổi tiếng, cũng như bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, và nhiều bài khác nữa...




Mong được đọc thêm nhiều sáng tác về Hát Nói, Phú, khác của quý vị trên Diễn Đàn sáng tác theo hướng dẫn của Meta4954.

Ngọc Lý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 22:26:10Ngọc Lý>
.


Ngọc Lý mang thêm vào đây một bài phú nữa của Nguyễn Công Trứ.

Xin Meta4954 giảng hộ tại sao hai bài (Hàn Nho Phong Vị phú và Đường Công Danh) cùng gọi là "phú" mà khác nhau quá vậy?

Những điểm căn bản của một bài Phú là gì?

Cảm ơn Meta4954 rất nhiều.


Đường công danh
Nguyễn Công Trứ


    Cùng đạt có riêng chi mệnh số,
    Hành tàng nào hẹn với văn chương ?
    Đường công danh sau trước cũng là thường,
    Con tạo hoá phải rằng ghen ghét mãi ?
    Duyên ngư thuỷ còn dành cơ hội lại,
    Quyết tang bồng cho phỉ chí trượng phu.

    Trong trần ai, ai kém ai đâu ?
    Tài bộ thế, khoa danh, ờ, lại có!
    Thơ rằng "độc thư thiên bất phụ,
    Hữu chí sự cánh thành"
    Giang sơn đành có cậy trông mình,
    Mà vội mỉa anh hùng chi bấy nhẽ?

    Đã sinh ra ở trong phù thế,
    Nợ trần ai đành cũng tính xong.
    Nhắn lời nói với non sông:
    Giang sơn hầu dễ anh hùng mấy ai ?
    Thanh vân, trông đó mà coi.

____

Chú thích:
Cùng đạt: Lúc bế tắc lúc hanh thông.
Hành tàng: Lúc hoạt động giúp nước,lúc ẩn náu giấu mình.
Độc thư thiên bất phụ: Giời không phụ người đọc sách,tức người học giỏi thì trời giúp cho làm nên.
Hữu chí sự cánh thành: Người có chí thì làm nên.
Thanh vân: Đời người trôi nổi (như mây xanh)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-08 08:45:40meta4954>
Bài Đường công danh của Nguyễn Công Trứ thuộc thể thơ Hát nói chứ không phải phú. Sau bài trả lời này Meta sẽ viết về Phú và Văn tế với những bài tiêu biểu, lúc đó Ngọc Lý sẽ phân biệt Phú và Hát nói khác nhau ra sao. Xin phân tích bài hát nói Đường công danh.
Bài này giống như bài Vịnh Kiều đã đăng ở trên với 4 câu dôi khổ và 2 câu mưỡu hậu đơn.

Đường công danh.

1- Cùng đạt có riêng chi mệnh số, (Lá đầu, 2 câu 1 và 2)
2- Hành tàng nào hẹn với văn chương ?
3- Đường công danh sau trước cũng là thường, (Xuyên thưa, 2 câu 3 và 4)
4- Con tạo hoá phải rằng ghen ghét mãi ?

(4 câu dôi khổ)
Duyên ngư thuỷ còn dành cơ hội lại,
Quyết tang bồng cho phỉ chí trượng phu.
Trong trần ai, ai kém ai đâu ?
Tài bộ thế, khoa danh, ờ, lại có!

5- Thơ rằng "độc thư thiên bất phụ, (2 câu thơ, Hán hay Việt cũng được nhưng buộc ngũ ngôn hoặc thất ngôn)
6- Hữu chí sự cánh thành"
7- Giang sơn đành có cậy trông mình, (Xuyên mau, 2 câu 7 và 8)
8- Mà vội mỉa anh hùng chi bấy nhẽ?

9- Đã sinh ra ở trong phù thế, (Câu dồn)
10- Nợ trần ai đành cũng tính xong. (Câu xếp)

(2 câu mưỡu hậu đơn)
Nhắn lời nói với non sông:
Giang sơn hầu dễ anh hùng mấy ai ?

11- Thanh vân, trông đó mà coi. (Câu keo)


Nguyễn Công Trứ.

Tóm lại một bài hát nói có 11 câu căn bản, bắt buộc phải có. Các câu như mưỡu đầu, mưỡu hậu, thơ lục bát hay thơ đường không bắt buộc.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-08 06:38:02Ngọc Lý>
.

Cảm ơn Meta4954 đã giảng rõ.

Nhưng tại sao trong Thi Viện khi đăng bài Đường Công Danh lại đề thể Phú, như tại đây:

http://annonymous.online.fr/Thivien/viewpoem.php?ID=4895

Tương tự, "Bài Ca Ngất Ngưởng" của Nguyễn Công Trứ cũng được liệt theo thể "Phú":

http://annonymous.online.fr/Thivien/viewpoem.php?ID=1935

Như vậy là có sự nhầm lẫn hay có một lý do nào khác không?

[:(]
Đăng nhập để trả lời
0
Cả 2 bài Đường công danh và Bài ca ngất ngưỡng đều là hát nói. Tai hại quá! Nếu người ta không sửa sai ngay thì con em chúng ta rất hoang mang về sau. Đây cũng chính là lý do Meta phải viết về Phú và văn tế, mong rằng khi đọc xong chúng ta nhận ra ngay vì Phú, Văn tế rất khác hát nói.
Đăng nhập để trả lời
0
.

Vâng,

Cảm ơn Meta4954 đã xác định.

Như vậy chắc sau khi có bài viết rõ về Hát Nói, Phú, Văn Tế, xin Meta4954 phổ biến trên các diễn đàn văn học và nhất là gửi cho Thi Viện một bài, lưu ý họ sửa lại các điều sai lầm giữa Hát Nói và Phú.

Xin Meta cho biết thể "Phú" này có cùng một nghĩa trong chữ "Thi Phú" không?

Nếu đúng, thì có thể nào "Phú" có trước "Hát Nói" chăng? Và điều này có ảnh hưởng gì đến việc hai bài thơ trên được xếp vào thể "Phú"?

Ngọc Lý xin được nghe Meta4954 giảng tiếp tục về Phú để mong hiểu rõ hơn một chút.

[:(]

.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-13 07:48:52Thái Nhi>
Vậy thì Meta sẽ viết tiếp bài về Phú, Văn tế, cuối cùng là Lẩy Kiều. Có cách nào bỏ loạt bài này vào trong thư viện sách truyện được không? Trả lời câu hỏi có phải Hát nói thoát thai từ phú không, thì thưa không. Hát nói thoát thai từ song thất lục bát do các văn nhân thi sĩ thích ăn chơi hồi đầu thế kỷ 19 chế biến ra. Phú thì bắt nguồn và biến thể từ hát Sở Từ thời thượng cổ dùng để hát khi cúng tế hay nghi lễ triều đình. Hát nói và Phú hoàn toàn khác nhau.

Quy ước Meta: Từ bây giờ các bài phú, văn tế đều trình bày theo thể 2 câu đối nhau phân định bằng dấu chấm phẩy rồi mới xuống hàng. Ví dụ:
Mặt đâu tới lãnh bằng ngày nọ; Xác nào ra đầu thú hôm "nay".
-Đã thề nguyền hết sức đánh "Tây"; Đâu sợ chết cúi mình theo "giặc".
Luôn luôn mỗi xuống hàng là 1 cặp câu đối nhau.

Phú.

I - PHÚ

Chúng ta khi có trí khôn, phán đoán đầu tiên là phàm mọi sự việc trên đời chỉ gồm 2 giá trị là không và có . Lúc nằm nôi ta khóc đòi sữa . Khi nắm chắc bình sữa mẹ trao, ta nín khóc vì ta biết ta có . Giật bình sữa ra, ta khóc ngay vì ta mất, nói khác đi , vì ta không có . Lớn lên, sự việc không còn đơn giản nữa . Giữa không và có phải có 1 giá trị thứ ba nữa vì nó không hẳn là không mà cũng không hẳn là có . Một tù nhân cải tạo, suốt một ngày lao động khổ sai, chỉ được lưng chén cơm và chiều về thì nhịn đói . Nếu ta hỏi : Anh có được ăn cơm chưa ? Trả lời có cũng chẳng đúng mà trả lời không cũng chẳng đúng . Trong ngành sinh vật học có những sinh vật nằm chính giữa ranh giới của động và thực vật : Loài vi khuẩn có thể tổng hợp ánh sáng như thực vật để tạo dinh dưỡng tự nuôi cơ thể mà cũng vừa có khả năng dời chỗ bằng những chức năng chuyên trách về di chuyển . Có những loại nguyên sinh động vật tự di chuyển được nhưng cũng có diệp lục tố để tự tổng hợp quang học trong tiến trình tự dinh dưỡng . Lại có những loại động vật không có khả năng di chuyển như san hô, suốt đời nằm một chỗ . Lại có những loại nằm giữa sống và chết như vi trùng : Trong môi trường thích hợp, vi trùng có khả năng sinh sản như một sinh vật nhưng nếu không có điều kiện thuận lợi, vi trùng chỉ là 1 vật thể không sự sống ...

Trong văn học, ta thường phân loại những tác phẩm thành thơ và văn . Văn thì không có vần luật bằng trắc và thơ thì ngược lại . Đời sống mầu nhiệm ở sự muôn mầu muôn vẻ . Văn học cũng thế, thiên hình vạn trạng . Nếu chỉ có hai loại thơ và văn không thôi, hoá ra văn học đơn giản lắm sao ? Chúng ta cũng có những thể loại gọi là văn cũng không được mà gọi thơ cũng chẳng xong . Đó là Phú và Văn Tế .

Phạm Đan Quế trong tập biên khảo về lẩy Kiều định nghĩa như sau :

- Phú vốn là một thể văn vần bắt nguồn từ thơ cổ không bắt buộc phải có đối . Nếu thơ thiên về tả tình thì phú thiên về tả cảnh nhưng vì cách đặt câu của phú khác với thơ nên thành ra một thể riêng . Dần dần, phú bị chia làm hai thể rõ rệt :

a) Phú có thể theo lối xưa (trước thời nhà Đường) không hạn định dài ngắn, niêm, đới, thanh âm chí cốt để gieo vần là đủ . Lối này thường có Sở Từ( có dùng chữ hề), tứ tự, lưu thuỷ ...

Loại Phú cổ (trước nhà Đường) thiên về văn xuôi, không mẹo luật tương đối dễ . Meta xin lướt qua bằng 1 bài phú cổ có tên Đồng Tước Đài Phú của Khổng Minh Gia Cát Lượng :

Đồng tước đài phú .

Tòng minh hậu dĩ hi du hề
Đăng tầng đài dĩ ngu tình
Kiến Thái Phủ chi quảng khai hề
Quan Thánh đức chi sở dinh
Kiến cao môn chi tha nga hề
Phù song khuyết hồ Thái thanh
Lập trung thiên chi hoa quan hề
Liên phi các hồ Tây thành
Lâm Chương thuỷ chi trường lưu hề
Vọng viên quả chi tư vinh
Lập song đài ư tả hữu hề
Hữu Ngọc Long dữ Kim Phượng
Lãm Nhị Kiều ư đông nam hề
Lạc triêu tịch chi dữ cộng
Phủ Hoàng Đô chi hoành lệ hề
Khám vân hà chi phù động
Hân quần tài chi lai tuỵ hề
Hiệp Phi Hùng chi cát mộng
Ngưỡng xuân phong chi hoà mục hề
Thính bách điểu chi bi minh
Vân thiên tuyên kỳ ký lập hề
Gia nguyện đắc hồ song sinh
Dương nhân hoá vu vũ trụ hề
Tận túc cung vu Thượng kinh
Duy Hoàn, Văn Chi vi thịnh hề
Khởi túc phương hồ thánh minh
Hưu hỹ! Mỹ hỹ!
Huệ trạch viễn dương
Dực tá ngã hoàng gia hề
Ninh bỉ tứ phương
Đồng thiên địa chi qui lượng hề
Tề nhật nguyệt chi huy quang
Vĩnh quý tôn nhi vô cực hề
Đẳng quân thọ ư Đông hoàng
Ngự long kỳ dĩ yêu ngao hề
Hồi loan giá nhi chu chương
Ân hoá cập hồ tứ hải hề
Gia vật phụ nhi dân khang
Nguyện tư đài chi vĩnh cố hề
Lạc chung cổ nhi vị ương !

ooOoo

Trên đây là phú cổ trước thời nhà Đường . Ta thấy tuy rằng có vần nhưng số chữ trong câu không nhất định và nhất là đọc lên nghe rất ngang tai vì cũng chẳng có bằng trắc chi hết . Văn học Việt nam hiếm thấy loại phú này . Meta nhắc đến thể phú này để tiện tham khảo cho đầy đủ thôi . Xin phép miễn dịch Nôm vì không nằm trong mục đích bài này .

b) Phú Đường luật được các thi gia đời Đường về sau thường dùng . Phú Đường luật không những có vần mà phải có đối, đúng luật bằng trắc và theo một khuôn khổ nhất định . Đây là thể Phú thông dụng nhất tại Việt Nam ta .
Hãy tập trung vào việc nhận xét loại Phú Đường luật , qui tắc và mẹo luật của nó .

VẦN TRONG PHÚ ĐƯỜNG LUẬT : Có nhiều cách gieo vần như sau :
a) Độc vận : Toàn bài, từ đầu chí cuối chỉ dùng một vần . Xin tham khảo bài Gia Định thất thủ phú của cụ Phan Văn Trị , dùng độc vận ở cuối bài .
b) Liên vận : Bài phú có nhiều vần liên tiếp .
c) Hạn vận : Bài phú bắt buộc phải theo đúng thứ tự các chữ trong một câu cho sẵn để làm vần cho đủ, không được gieo vần khác vào .
d) Phóng vận : Vần nào cũng được .
Bài phú có nhiều đoạn, mỗi đoạn có nhiều liên, mỗi liên có hai vế đối nhau . Vần phải gieo vào cuối vế thứ nhì, tức là vần ở cuối liên .

CÁCH ĐẶT CÂU : Tuỳ theo số chữ và cấu tạo, ta có 5 lối :
a) Tứ tự : Mỗi vế có 4 chữ . Ví dụ :
Về Thuý Kiều : Tài sắc gồm hai, phong lưu rất mực .
Về Thúc Sinh : Thanh khí lẽ hằng, hoa khôi tiếng mộ .
b) Bát tự : Mỗi vế 8 chữ chia thành 2 đoạn bằng nhau . Ví dụ :
- Bàn vày điếm nước, hoạ đàn đường tơ; Bầu tiên rót rượu, câu thần nối thơ .
- Mà gầy như mai, mà buồn như cúc; mà chau đôi mày, mà vò chín khúc .
c) Song quan : Mỗi vế có từ 5 đến 9 chữ đi liền một mạch . Ví dụ :
- Cùng nhau vàng đá mấy lời; Dám tiếc tóc tơ một mối .
- Kiếp phong trần đã đến thế thì thôi; Nợ oanh yến phải lấy thân mà trả .
d) Cách cú : Mỗi vế chia thành hai đoạn dài ngắn khác nhau . Ví dụ :
- Chẳng ngờ gã Giám Sinh, phong tình là đứa; chung lưng con mụ Tú, buôn bán quanh năm .
- Kiếp má hồng toan trả Trời xanh, sực thấy mấy câu thần mộng; Doành nước biếc nổi cồn sóng bạc, thân thương đến khách tri âm .
e) Hạc tất (hay gối hạc) : Mỗi vế có từ 3 đoạn trở lên . Ví dụ :
- Trên tường gấm, ơn lòng quân tử, mơ quạt đổi trao; Dưới lầu son, vắng mặt tri âm, vò tơ bối rối .
- Giây phút tớ thầy chẳng tới, già Tú ơi, vùi dập sao nỡ đang tay; Khéo đâu như báo đến lời, Sở Khanh hỡi, nông nỗi nước này cũng lạ .

LUẬT BẰNG TRẮC :
a) Những chữ ở cuối mỗi vế phải theo luật bằng trắc là : Chữ cuối ở vế trên trắc thì chữ cuối ở vế dưới bằng hay ngược lại . Ví dụ :
- Thanh khí lẽ hằng (B); Hoa khôi tiếng mộ (T) .
- Ngày xuân mưa gió càng nồng(B); Đêm xuân đi về lắm độ (T).
- Trăm năm tính cuộc (B); Muôn sự tại Trời (B) .
- Cho thanh cao phần thanh cao mới được(T); Bắt phong trần cũng phong trần như ai (B) .
b) Trong một vế có nhiều đoạn nhỏ thì chữ cuối của mỗi đoạn nhỏ ở trước, gọi là chữ đậu câu, phải nghịch thanh với chữ cuối cùng của vế ấy . Nghĩa là chữ cuối của vế là bằng thì các chữ đậu câu (chữ cuối của các đoạn nhỏ) trong vế ấy phải là trắc hay ngược lại . Ví dụ :
- Được một vài phân (B), lan huệ một nhà sực nức (T); Có ba trăm lạng (T), yến oanh ngoài cửa xôn xao (B) .
- Chàng Thúc lấn ra (B), thở thở than than (B), tình ấy muôn cam chịu bạc (T); Tiểu thư chợt đến (T), cười cười nói nói (T), lạ cho cái giống nhà ghen (B) .

CÁCH BỐ CỤC MỘT BÀI PHÚ :
Nếu như trong bài thơ thất ngôn bát cú, bố cục gồm 4 phần là đề, thực, luận, kết thì trong một bài phú, cách sắp đặt các đoạn mạch gồm có 6 phần :
a) Lung : Trình bày tổng quát đầu bài .
b) Biện nguyên : Xác nhận đầu bài, nêu rõ nguyên uỷ gốc tích, giải thích rõ ý của đầu bài mà chuyển vào bài .
c) Thích thực: Mô tả hết ý nghĩa của đầu bài .
d) Phô diễn : Suy rộng ý của đầu bài .
e) Nghị luận : Phê phán, đánh giá, bàn bạc ý nghĩa của đầu bài .
g) Kết : Gói ghém chung ý tứ của đầu bài lại .

PHÂN TÍCH :
Như trên đã trình bày, bài phú có nhiều đoạn, mỗi đoạn có nhiều liên, mỗi liên có hai vế đối nhau . Để rõ ràng Meta xin phép không dùng cách chấm câu theo lối văn phạm thông thường là dấu phẩy dùng để ngắt đoạn mà ý vẫn còn tiếp nối sang đoạn sau, dấu chấm dùng để ngắt câu đã trọn ý . Meta đặt ra quy ước chấm câu như sau : Mỗi 1 đoạn trong vế cách nhau bằng dấu phẩy, mỗi vế cách nhau một dấu chấm phẩy và hai vế (tức một liên) thì xuống hàng . Nhắc lại hai vế trong một liên phải đối với nhau . Bằng cách này tuy có chỗ phi lý, chẳng hạn câu :
-Sao rằng gian, sao rằng nịnh, ai muốn hỏi hãy nhìn tiêu trên mả Nguỵ Khôi; Đâu là hoạ, đâu là tai , ai muốn hỏi nên xem bảng tại làng Đa Phước .
Đoạn "Sao rằng gian, sao rằng nịnh" và đoạn "Đâu là hoạ, đâu là tai" phải được đánh dấu hỏi mới hợp lý nhưng Meta chỉ đánh dấu phẩy để cho rõ nó là tiểu đoạn trong vế . Sau dấu chấm phẩy là bắt đầu vế sau, đến khi xuống hàng là hết một liên . Cách chấm câu này làm cho việc phân tích bài phú thêm rõ ràng. Xin đừng bắt lỗi chấm câu theo cách thông thường nhé.

Cũng nhằm việc làm cho rõ ràng, Meta xin đánh số mỗi liên để tiện việc tham khảo. Bài Meta chọn để phân tích là bài Cáo thị Cần Vương, tác giả không rõ. Sơ lược về bối cảnh lịch sử bài phú như sau:

Mùa xuân năm Kỷ Mùi 1859, thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lăng nước ta. Đồng bào lục tỉnh miền Nam đang sống an bình bỗng trở nên nghiêm trọng. Cuộc chiến tranh Việt Pháp diễn ra, triều đình phải ký kết nhường ba tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Định Tường cho Pháp. Theo tinh thần bản ký nhượng này, triều đình phải ngưng các cuộc nổi dậy đề kháng của các sĩ phu và dân chúng lại.
Tuy nhiên mặc cho lệnh triều đình, dân ta vẫn nổi lên chống lại. Bài cáo thị Cần Vương ra đời vào khoảng thời gian ấy với nội dung là kêu gọi lòng yêu nước trong nhân dân, nổi lên chống Pháp. Chúng ta chưa biết tác giả là ai, nhưng hẳn tác giả là một bậc sĩ phu miền Nam, kêu gọi đồng bào chiến đấu chống giặc Pháp xâm lược. Cùng với nhân dân và đi trước nhân dân, bậc sĩ phu nước ta đã góp phần lớn lao trong công cuộc chống ngoại xâm bền bỉ, liên tục nhiều ngàn năm. ...Hãy phân tích bài Cáo thị Cần Vương sau đây:

Cáo thị Cần Vương (Liên vận)

1 - Lời truyền cáo thị; Nói với sĩ phu.
2 - Nước Nam ta có mối xung thù; Cùng giặc Tây là loài di địch.
3 - Bởi chúng nó đem lòng bội nghịch; Khiến dân mình gặp thuở loạn ly.
4 - Chẳng qua là Trời bắt gian nguy; Cho nên nỗi nước nhiều tai nạn.
5 - Đường trị loạn sách xưa còn bản; Lẽ chánh tà đời trước treo gương.
6 - Làm người khôn nghĩ xét cho tường; Thà đứa dại lỗi đường cũng đáng.
7 - Nọ thủa Hung Nô đánh Hán, tướng mạnh như hùm, binh đông như cỏ, cướp ải Lang, dành ải Hổ, tới mãn tuồng Nô cũng về Nô ; Kìa khi Đột Quyết quấy Đường, xe đi chật đất, ngựa tế đầy đồng, phá trấn Bắc, đốt trấn Đông, chừng rã đám Đột hoàn lại Đột.
8 - Xa thơ mới hãy còn lộn một; Phong cương này há để chia ba.

Nay Tây cùng Ta :

9 - Muôn trùng non nước cách xa; Trăm việc ở ăn lạ thói.
10 - Tuy lắm tàu đồng ống khói; Dẫu nhiều súng thiếc đạn chì.
11 - Trải sáu tỉnh qua dẹp cõi biên thuỳ; Hơn trăm trận liền hao ngôi tướng soái.
12 - Đòi xin ba tỉnh , lời nào rằng phải; Bắt hoạ muôn dân, của mấy cho vừa.
13 - Ta hiệp lòng há nhịn thua ư; Mọi lấn chỗ sao đành để vậy.
14 - Ở đâu mà chẳng thấy phá miễu chùa, đào mồ mả, làm những việc bất nhân; Ở đâu mà chẳng thấy đốt nhà cửa, hãm vợ con, làm những điều vô đạo.

Hỡi ơi!

15 - Thành xiêu quách đổ bởi ai gây; Ruộng nát vườn tan do lũ ráo .
16 - Lồng lộng cao xanh, há nỡ để dân ta búng xáo; Mênh mông soi xét, lẽ nào cho chúng nó ăn chơi.
17 - Xưa nay ai mạnh qua Trời; Đâu đó vật đều có chủ.

Ngỏ nay :

18 - Nơi Thần Kinh ấy nơi thiên phú; Đức Kim Thượng là đức Thánh Tông.
19 - Hơn ba mươi tỉnh hội đồng; Dư sáu chục năm huệ dưỡng.
20 - Văn võ hiếm người làm tướng; Man di nhiều nước đến chầu.
21 - Nhớ xưa kia chúng đã cúi đầu; Đến nay lại tay nào trở mặt.

Ớ các tổng làng !

22 - Chớ thấy chín từng hoà nghị mà tấm lòng địch khái vội quên; Chớ rằng ba tỉnh trọn vong mà công cuộc báo cừu nỡ bỏ.
23 - Nhớ mới thuở rèn mác trường, đương nón gỗ, lên đường hăm hở ra oai.
24 - Há buổi nay chạy bạc nén, vén tiền trăm, vào cửa lom khom tạ nó.
25 - Mặt đâu tới lãnh bằng ngày nọ; Xác nào ra đầu thú hôm nay.
26 - Đã thề nguyền hết sức đánh Tây; Đâu sợ chết cúi mình theo giặc.
27 - Một đường cái há phân nam Bắc; Một tóc tơ nỡ nhuộm xanh vàng.
28 - Đừng cho thày Địch thở than; Chớ để họ Nhạc cay đắng.
29 - Ơn thuỷ thổ thảy đều mang nặng; Việc thần dân chớ khá lỗi nghì.
30 - Cố bảo nhau gắng giữ lòng bền; Đừng nghe chúng ra mà đầu thú.
31 - Chớ thấy Gò Công thất thủ, mà trở mặt hại nhau; Đừng rằng Bến nghér an cư, mà đành lòng theo mọi.
32 - Sao rằng gian, sao rằng nịnh, ai muốn hỏi hãy nhìn tiêu trên mả Nguỵ Khôi; Đâu là hoạ, đâu là tai , ai muốn hỏi nên xem bảng tại làng Đa Phước.
33 - Oan nhường ấy, tình nhường ấy, căm thù nhường ấy, tính sao trả được mới hài; Công bấy lâu, nghiệp bấy lâu, lao khổ bấy lâu, đâu nỡ bỏ đi sao phải.
34 - Dẫu có lỡ sát thời hãy tìm nơi sơn trại mà tụ tập anh hùng, sống vì Vua, thác vì Vua, dốc cùng lòng trước sau chẳng trái ; Dẫu có rủi sa cơ phải xuống dưới tuyền đài cũng phụng thờ hương khói, tên còn chép, họ còn chép, để nức danh thơm rọi sáng hoài.
35 - Chớ để xóm làng cho Bạch Quỷ vãng lai; Chớ để phần mộ cho Tây Dương phá hại.
36 - Khá ra tay mà vùa cột cái; Tua gắng sức chống đỡ tường xiêu.
37 - Để nghìn năm dằng dặc, vững đất Thuấn trời Nghiêu; Ngõ muôn kiếp miên miên, bền sự nghiệp thư son khoán sắt.
38 - Chữ đới thiên bất cộng, nghĩ căm căm ruột tím gan bầm; Câu giữ quốc đồng ưu, phải khăng khăng lòng ghi dạ tạc.

ooOoo

Bố cục :

Câu 1 - 4 là Lung , trình bày tổng quát đề bài.
Câu 5 - 8 là Biện nguyên, xác nhận đầu bài, nêu rõ nguyên uỷ gốc tích, giải thích rõ ý của đầu bài mà chuyển vào bài.
Câu 9 - 14 là thích thực: Mô tả hết ý nghĩa của đầu bài.
Câu 15 - 21 là phô diễn : Suy rộng ý của đầu bài.
Câu 22 - 36 là nghị luận : Phê phán, đánh giá, bàn bạc ý nghĩa của đầu bài.
Câu 37 - 38 Kết : Gói ghém chung ý tứ của đầu bài lại.

Gieo vần :

Ta thấy mỗi một câu (tức một liên, chia theo cách Meta) gồm hai vế đối với nhau chặt chẽ . Cách gieo vần thì chữ cuối một câu (gọi là chữ đậu câu ), nếu là vần trắc, sẽ bắt vần với chữ cuối , vần trắc của vế trước giữa câu kế. Chữ cuối câu kế là vần bằng, bắt với vần bằng chữ cuối vế trước của câu kế tiếp. Cứ như thế đến hết bài. Ví dụ:

-Mặt đâu tới lãnh bằng ngày nọ; Xác nào ra đầu thú hôm "nay".
-Đã thề nguyền hết sức đánh "Tây"; Đâu sợ chết cúi mình theo "giặc".
-Một đường cái há phân nam "Bắc"; Một tóc tơ nỡ nhuộm xanh "vàng".
-Đừng cho thày Địch thở "than"; Chớ để họ Nhạc cay đắng.

Chữ "vàng" ở cuối câu lại bắt vần bằng với chữ đậu câu của câu kế, chữ "than". Lối gieo vận này gọi là liên vận.

Phép đặt câu :

Câu 1 đặt câu theo lối tứ tự , mỗi vế 4 chữ.
Câu 2 - 6 đặt câu theo lối song quan, mỗi vế có từ 5 đến 9 chữ đi liền một mạch.
Câu 7 đặt câu theo lối hạc tất . Mỗi vế có từ 3 đoạn trở lên, dài ngắn khác nhau.
Câu 8 - 11 là song quan.
Câu 12 đặt câu theo lối bát tự, mỗi vế có 8 chữ chia thành hai đoạn bằng nhau , mỗi đoạn 4 chữ.
Câu 13 theo lối song quan.
Câu 14 hạc tất.
Câu 15 là song quan.
Câu 16 đặt theo lối cách cú , mỗi vế chia làm hai đoạn dài ngắn khác nhau.

Meta chỉ liệt kê từ câu 1 tơi câu 16 thôi. Tới đây hẳn bạn đọc phân biệt được phép đặt câu theo lối gì từ câu 17 cho đến hết bài rồi. Xin miễn nói thêm về lối đặt câu để tránh dài dòng.

ooOoo

Dẫu biết chép một bài phú nữa thì quá dài dòng, nhưng để bạn đọc biết về độc vận, Meta xin phép chép một bài nữa, dùng độc vận .

Phú Gia Định thất thủ ( độc vận)

Thương thay đất Gia định!
Tiếc thay đất Gia Định!
Vực hoá nên cồn; Đất bằng nổi sóng.
Tàu khói chạy mây tuôn sông mấy khúc, lờ lạt bến trâu ; Dây thép giăng nhấp nhoáng đất ngàn trùng, ngã xiêu thành Phụng.
Bờ cõi phân chia khác mặt, trông ra như quáng như mờ; Non sông dời đổi hoạ mi, tưởng tới dường mê dường mộng.
Lớp cũ tàn, lớp mới mọc, dọc ngang xe ngựa đất gò bằng; Dấu trước lấp, dấu sau bồi, tan nát chợ nhà Trời dậy sấm.
Inh ỏi súng rền kinh cửa Bắc, hãi hùng trăm họ dứt âu ca; Tò le kèn thổi tối Trời nam, man mác năm canh không tiếng trống.
Hào kiệt tìm phương lánh mặt, sa cơ gió hạc lúc hư kinh (1); Anh hùng kiếm chốn ẩn thân, sút thế nước cờ thêm lúng túng.
Từ Bến Thành trải qua Chợ Đũi loài tinh chiên (2) loạn xạ biết bao nhiêu; Nơi Chợ Lớn sấp đến Cầu Kho, quân mọi rợ lẫy lừng nên quá lắm.
Cầu Thị Nghè cùng nơi Chợ Quán, quân tham tàn đắc ý vênh râu; Chùa Cẩm Thảo trải tới Cây mai, Phật Bồ Tát chịu nghèo ôm bụng.
Nơi nơi nổi xóm mới nhà Tây; Chốn chốn lập đồn canh ụ súng.
Ngậm ngùi thay ba bốn làng Gò Vấp, cây cỏ khô , thân thế đều khô ; Bát ngát nhỉ mười tám thôn Vườn Trầu, hoa trái rụng, người đời cũng rụng.
Mấy dặm Gò Đen, Rạch Kiến, ngọn lửa thiêu sự nghiệp tan tành; Đòi nơi Rạch Giá, Gò Công, trận gió quét cửa nhà trống lỗng.
Tiếng kêu oan, oan này bởi nước, hồn nhân dân biết dựa vào đâu; Thân liều thác, thác cũng vì vua, xương nghĩa sĩ chất đà nên đống.
Sông núi đào, mồ xiêu mả lạc, thương thay người thác chẳng yên phần; Đường sá đắp, cửa nát nhà tan, cực bấy kẻ còn khôn nỗi sống.
Sau trước vầy đoàn bạch Quỷ, dân ta đòi bữa đòi suy; Đêm ngày ỏi tiếng Lang Sa, thế nó càng ngày càng lộng.
Cờ Thành Thang sao không thấy phất, bỏ liều con đỏ chông gai; Áo Võ Vương sao chẳng thấy gầy, nỡ để dân đen bùn lấm.
Đầu Trung nguyên tóc hỡi còn dài, ơn này nhờ có Bá, học Xuân Thu xin chớ kiếm Hoàn Công; Tay tả nhẵm3) áo kia khỏi mặc, việc ấy bởi vì ai, đọc Luận ngữ cớ sao chê Quản Trọng.
Bóng xế dậm ngàn mây man mác, nước non này ai thấy cũng buồn; Trời chiều chim chóc nhẩy lăng xăng, tình cảnh ấy lòng nào chẳng động.
Ta nay nhân cảm với cuộc đời, Vậy nên tả một vài ngẫu vận.

ooOoo

(1) Tức là nghe gió thổi, chim hạc kêu mà phập phồng lo sợ tưởng như giặc tràn đến nơi . Tích Bồ Kiên, vua nhà Tần trước khi bị quân nhà Tấn đuổi đánh, quân sĩ tới đâu nghe tiếng gió thổi, chim hạc kêu cũng giật mình tưởng quân nhà Tấn đã tới.
(2) Tinh chiên là hôi tanh . Chỉ bọn cướp nước.
(3) Tả nhẫm là khép vạt áo sang bên trái, tục mọi rợ. Khổng Tử nói : "Không có Quản Trọng thì chúng ta khép vạt áo sang bên trái hết ". Nghĩa là không có Quản Trọng thì phong hoá suy đồi, văn minh thành mọi rợ ngay.

Bài này dùng chỉ một vần "ộng" hay "ụng", âm trắc. Không cần bắt yêu vận với chữ cuối của vế trước ở giữa câu kế.
Tới đây chúng ta có thể sang phần Văn Tế, cuối cùng là Kiều Lẩy.
Đăng nhập để trả lời
0
.

Hay quá.
Cảm ơn Meta rất nhiều.
Loạt bài này viết thật công phu.

trích đoạn Meta4954

Hát nói thoát thai từ song thất lục bát do các văn nhân thi sĩ thích ăn chơi hồi đầu thế kỷ 19 chế biến ra. Phú thì bắt nguồn và biến thể từ hát Sở Từ thời thượng cổ dùng để hát khi cúng tế hay nghi lễ triều đình. Hát nói và Phú hoàn toàn khác nhau.



Vâng,
bây giờ thì Ngọc Lý bắt đầu phân biệt được rồi.

Soạn một bài Phú thật khó, không biết ngày hôm nay còn ai thích sáng tác Phú nữa không.

Mong sau loạt bài này của Meta4954, trong diễn đàn Việt Nam Thư quán có nhiều thi sĩ nổi hứng sáng tác Hát Nói và Phú thì hay biết mấy.

Meta4954 có sáng tác bài nào cho mọi người cùng thưởng thức không?

Ngọc Lý mong được đọc,

.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-08 10:06:33meta4954>
Meta4954 có sáng tác bài nào cho mọi người cùng thưởng thức không?


Dĩ nhiên là có.
Các bài của Meta luôn có phần ứng dụng, trong đó là các bài Meta sáng tác áp dụng những luật lệ vừa mổ xẻ. Cách viết của Meta không nhằm biên khảo mà là hướng dẫn sáng tác.
Nếu bình cũ đựng rượu mới thì cũng lạ. Hát nói hay phú mà chứa đựng ý thời đại như trai gái ve vãn nhau hay ca ngợi tình yêu như thơ hiện đại chắc cũng hay.
Đăng nhập để trả lời
0
.
Trích đoạn: meta4954

Meta4954 có sáng tác bài nào cho mọi người cùng thưởng thức không?


Dĩ nhiên là có.

Các bài của Meta luôn có phần ứng dụng, trong đó là các bài Meta sáng tác áp dụng những luật lệ vừa mổ xẻ. Cách viết của Meta không nhằm biên khảo mà là hướng dẫn sáng tác.



Vâng,
như thế thì thật là tuyệt.

Ngọc Lý mong được thưởng thức sáng tác của Meta và của các bạn tham dự trên diễn đàn Việt Nam Thư Quán.

Chỉ nghĩ khi được đọc các bài Hát Nói và Phú viết bằng tâm sự hôm nay, đã thấy thật hứng khởi.

Chúc Meta thật thành công trong việc khơi động nét văn học rất đặc thù này của thi ca Việt.

Mong các thi nhân của Việt Nam Thư quán hưởng ứng nồng nhiệt...

[:)]

Ngọc Lý

.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-13 07:51:37Thái Nhi>
Văn tế.

II - VĂN TẾ

1 - CÁC LỜI VĂN TẾ :
Theo sách Thọ Mai thì Văn Tế có nghĩa rất rộng bao gồm các loại văn dùng để tế thần thánh, tế người sống kẻ chết và cả chúc tụng nữa. Nhưng về sau Văn Tế chỉ dùng để tế người chết, kể lể tính nết, công đức kẻ quá cố và nỗi thương nhớ của người còn sống đối với người đã mãn phần. Văn Tế thường được làm theo nhiều hình thức như :
a) Văn xuôi.
b) Lối tán, mỗi câu 4 hay 5 chữ. Có vần, có đối hoặc không đối.
c) Lối Phú cổ thể (Sở từ, dùng chữ hề, đã nói ở trên) hoặc lưu thuỷ.
d) Lối Phú Đường luật.
e) Trong văn Nôm, Văn Tế còn có thể làm theo thể song thất lục bát ( Như văn tế Thập loại chúng sinh của Nguyễn Du.)
Tuy vậy ta có thể qui thành 2 loại : Thể tự do và thể phỏng theo phú Đường luật.

2 - VĂN TẾ PHỎNG THEO ĐƯỜNG PHÚ :
a) Qui tắc hiệp vần. Cách đặt câu và luật bằng trắc của bài Văn Tế theo đúng thể thức của Phú Đường luật đã trình bày trên. Ta có thể lấy bài Văn Tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của cụ Nguyễn Đình Chiểu làm tiêu biểu cho thể loại Văn Tế theo qui tắc Phú Đường luật sau đây :


Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc


-- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)


Hỡi ơi !
1 - Súng giặc đất rền; Lòng dân trời tỏ.
2 - Mười năm công vỡ ruộng, xưa ắt còn danh nổi như phao; Một trận nghĩa đánh Tây,thân tuy mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa !

3 - Côi cút làm ăn; Riêng lo nghèo khổ,
4 - Chưa quen cung ngựa đưa tới trường nhung;chỉn biết ruộng trâu ở theo làng hộ.
5 - Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn làm quen; Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
6 - Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như nắng hạn trông mưa; Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ .
7 - Đêm thấy bòng bong che trắng lớp, những muốn ăn gan; Ngày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn cổ.
8 - Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.
9 - Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10 - Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo giòng ở lính diễn binh; Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.
11 - Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố .
12 - Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bao ngòi; Trong tay dùng một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ.
13 - Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; Gươm đeo dùng một ngọn dao phay, cũng chém đặng đầu quan hai nọ.
14 - Chi nhọc quan Quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như khộng; Mặc kệ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
15 - Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mả tà, mả ái hồn kinh; Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.
16 - Những lăm lòng nghĩa sau dùng , đâu biết xác phàm vội bỏ; Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây.
17 - Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, xá đợi gươm hùm treo mô; Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng.
18 - Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm; Vốn không giữ thành, giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng

19 - Tấc đấc ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta; Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó ?
20 - Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương; Vì ai xui hào luỹ tan hoang, xiêu mưa ngà gió ?
21 - Sống làm chi theo quân tả đạo, quẳng vùa hương, xô bàn độc, nghĩ lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính mả tà, chia rượu ngọt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ .
22 - Thà thác mà đặng câu dịch khái, về sau tổ phụ cũng vinh; Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi !

23 - Chùa Lão Ngộ năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; Đồn Tây Dương một khắc đặng rửa hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước độ
24 - Đau đớn mấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, con bóng xế vật vờ trước ngõ.

Ôi !

25 - Một trận khói tan; Nghìn năm tiết rỡ.
26 - Binh tướng nó rày đóng sông Bến Nghé, còn làm cho bốn phía mây đen; Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.
27 - Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh cũng đều khen; Thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mộ.
28 - Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.
29 - Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ơi !
Có linh xin hưởng !

ooOoo

Bài này theo qui tắc Phú độc vận, dùng vần "ổ". Meta đã đánh số cho mỗi "liên", mời các bạn phân tích mỗi câu dùng lối Tứ tự bát tự, song quan, cách cú hay gối hạc nhé. Dễ thôi mà.

b) Bố cục bài Văn Tế : Chia làm 4 phần như sau :

1 - Phần mở bài, thường bắt đầu bằng câu than : "Than ôi", "Than rằng" hoặc "Thương ôi", "Hỡi ôi". Trước hết đặt một câu cách cú hoặc gối hạc rồi một câu song quan . (xin đọc lại phần giải thích gối hạc, song quan trong phần nói về Phú ở trên) .
2 - Phần kể về đức tính, công nghiệp của người chết, thường bắt đầu bằng mấy chữ "Nhớ cha xưa", "Nhớ linh xưa" ... Trước hết đặt vài câu tứ tự hoặc bát tự rồi đến những câu cách cú, song quan, gối hạc nhiều ít tuỳ ý .
3 - Phần than tiếc người đã khuất, thường bắt đầu bằng chữ :"Ôi" hoặc "Ôi thôi", "Ai tai" ... Cách đặt câu cũng như trên .
4 - Cuối cùng là phần tỏ tình thương nhớ của người đứng tế, thường bắt đầu bằng mấy chữ : "Con nay", "Bản chức nay", "Tôi với ông nay" ... Cuối phần này là 2 chữ :"Thượng hưởng" có nghĩa là mong ước hưởng cho dùng kết thúc bài Văn Tế .

3 - VĂN TẾ THỂ TỰ DO :
Đây là 1 bài tiêu biểu cho văn tế tự do, nghĩa là chẳng theo luật nào cả. Không đối, không bằng trắc, không giới hạn số chữ, số câu . Meta xin đơn cử bài Văn Tế Ngạc Nhi cho các bạn tường lãm.
Ngạc Nhi tức Francis Garnier, tên tướng thực dân Pháp, đem binh ra Hà Nội can thiệp vụ Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) không được nhà cầm quyền ta cho phép chở hàng lên Vân Nam bằng đường sông Hồng, để xâm chiếm Bắc Kỳ. Ngạc Nhi đánh thành Hà Nội, và sau đó bị liên quân Cờ Đen và nghĩa binh ta phục kích giết chết ở ô Cầu Giấy. Theo cụ Phạm Trung Hợp (tức Đồ Huyên) người làng Dũng Quyết, huyện Ý Yên tỉnh Nam Định là môn đệ cụ Mai Sơn Nguyễn Thượng Hiền, và đã từng tham gia phong trào Văn Thân kể lại thì bài Văn Tế Ngạc Nhi là của cụ Tam nguyên Nguyễn Khuyến, người làng Yên Đỗ, huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam. Sau khi ký hoà ước Việt Pháp các quan ta tại Hà Thành tổ chức lễ truy điệu Francis Garnier để lấy lòng người Pháp . Quan tổng đốc Hà Nội là Trần Đình Túc, người sợ Tây khét tiếng, cử cụ Nguyễn Khuyến làm một bài Văn Tế. Cụ đành nghe lời, vì đây là lệnh cửu trùng qua miệng quan tổng đốc.
Bài Văn Tế rất ngắn, nhưng rất lạ , nhất là thoát hẳn với các thể tài Văn Tế khác xưa nay, kể cả nội dung lẫn hình thức, và rất sát với thực tế, với những nét đặc biệt của một tên thực dân. Lời văn bình dị và mỉa mai, toàn bài không có một điển tích hay sáo ngữ nào.
Bảo rằng tế nhưng thực ra là chửi. Nhất là lại bảo "ăn no uống say" để rồi "nằm cho yên ổ" thì khác nào như bảo lũ chó chết. Meta chịu khó gõ cho các bạn xem, không phải Văn Tế nào cũng cầu kỳ rắc rối như đã kể trên đâu.

Văn Tế Ngạc-Nhi

Than ôi !

Một phút sa cơ
Ra người thiên cổ

Nhớ ông xưa:

Cái mắt ông xanh,
Cái da ông đỏ,
Cái tóc ông quăn,
Cái mũi ông lõ,
Đít ông cưỡi lừa,
Miệng ông huýt chó .
Lưng ông đeo súng lục liên,
Chân ông đi giầy có mỏ .
Ông ở bên Tây,
Ông sang đô hộ .
Đánh giặc Cờ Đen,
Để yên con đỏ .

Nào ngờ:


Nó bắt được ông,
Nó chặt mất sỏ .
Cái đầu ông đây
Cái mình ông đó .
Khốn nạn thân ông,
Đù cha mẹ nó !

Tôi :

Vâng lệnh quan trên,
Cúng ông một cỗ,
Này chuối một buồng
Này rượu một hũ,
Này xôi một mâm,
Này trứng một rổ,
Ông có linh thiêng,
Mời ông xơi hộ,
Ăn uống no say,
Nằm yên một chỗ .
Ối ông Ngạc Nhi ôi !
Nói càng thêm khổ .

Nguyễn Khuyến .


ooOoo

4 - PHẦN ỨNG DỤNG :

Thưa các bạn một bài biên khảo chỉ có sao chép, cắt xén tư liệu gộp lại thì không mấy giá trị mà cũng khó lãnh hội . Theo tôi, muốn viết một bài biên khảo, người viết ít nhất phải sáng tạo ra cách trình bày mới, dễ hiểu hơn, dẫn chứng nhiều thí dụ chính mình sáng tác, bởi bài sáng tác trong tiết đoạn đó có ý hướng làm sáng tỏ thêm vấn đề mình đang nói tới . Đọc một bài lượng giác học mà không nêu vài ứng dụng, lắm khi con trẻ chẳng biết sin, cosin ngoài việc làm bài tập chẳng biết dùng vào việc gì ngoài đời . Trong mọi biên khảo của tôi, sau khi trình bày tường tận vấn đề, đều có phần ứng dụng...

ooOoo




Đến đây tạm chấm dứt bài khảo luận về Phú và Văn Tế . Nhằm mục đích bảo tồn nền cổ học Việt Nam đang trên đường mai một, Meta cũng mong các bạn cầm bút, nhất là các nhà văn thơ hải ngoại, lâu lâu nên dùng loại văn này cho con cháu học hỏi. Mặc cho người đời mải mê chạy theo xa hoa phù phiếm thời mở cửa, khinh rẻ những giá trị cổ truyền, cái đạo đức, cái văn hóa thay đổi ngày càng thay đổi sao cho "tiến bộ". Đã có ngày chúng ta tiến bộ đến mức lôi cổ 2 đấng sinh thành ra mình ra đấu tố và xử tử, sẽ có ngày chúng ta thờ lạy những tên sâu dân mọt nước, tham nhũng, ăn cắp, hiếp dâm... là anh hùng dân tộc chỉ vì chúng ta quá "tiến bộ". Xin nhớ một điều, chính thể nào cũng mất đi nhưng tinh hoa dân tộc thì bền vững muôn đời theo sơn hà xã tắc. Đó là chân lý.

Kim Đao Metamorph .
Đăng nhập để trả lời
0
.

Thành thật cảm ơn Ban Điều Hành Việt Nam Thư Quán,
Quản Trị Viên Mục Bình Luận Văn Học,
và các thành viên đã bỏ phiếu cho đăng lại loạt bài này vào diễn đàn.

Thêm lần nữa, các bạn đã cho tôi thật nhiều tin tưởng.

Đặc biệt cảm ơn Thái Nhi, đã thêm vào ba dấu chấm... sau chữ phần ứng dụng... , hy vọng sẽ gợi ý cho các thi nhân trong thư quán thử viết các bài Hát Nói, Phú, Văn Tế... cho vui.

Đặc biệt hơn nữa, Thái Nhi đã thêm chữ "đấng" vào hai chữ "sinh thành", cho thấy chúng ta đã vượt qua được giai đoạn đáng tủi hổ, quên ơn cha nghĩa mẹ, đem đấu tố mẹ cha dày vò tiên tổ. Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo, đứa con nào nỡ đấu tố cha mẹ mà đi thờ kẻ lạ, thật đáng tủi hổ đau buồn cho giống nòi.

May mắn thay giai đoạn ấy đã được vượt qua.

Xin cảm ơn Thái Nhi lần nữa.

Mời các bạn, cùng thử viết vài bài Hát Nói, với âm điệu Việt. Đây thực ra là một hình thức Karaoke của các Cụ ngày xưa...

Ngọc Lý đề nghị chúng ta viết một bài thật trữ tình rồi mời đôi uyên ương Mercury & Quang Vũ thử trình diễn.


[:)]


Ngọc Lý

.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-13 12:18:33chameleon>
Cổ thi.

Trong diễn đàn Nhật ký online, http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=166014&mpage=4&key=𫃓, Mộc Hoa Lê viết:

" Dương Tử "


" Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông
" Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng
" Thịnh suy thành bại theo dòng nước
" Sừng sững cơ đồ bỗng tay không
" Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi
" Vốn đã quen gió mát trăng trong
" Một vò rượu nếp vui gặp gỡ
" Chuyện đời ta trong chén rượu nồng "

Meta có tặng Mộc Hoa Lê nguyên tác như sau:

Từ viết:
Cổn cổn Trường giang đông thệ thủy
Lãng hoa đào tận anh hùng
Thị phi thành bại: chuyển đầu không
Thanh sơn y cựu tại
Kỷ độ tịch dương hồng
Bạch phát ngư tiều giang chữ thượng
Quán khan thu nguyệt xuân phong
Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng
Cổ kim đa thiểu sự
Đô phó tiếu đàm trung

Sau đó, Mộc Hoa Lê PM cho Meta : "Ko được rồi, huynh phải dịch theo thể 7 chữ và Đường luật chứ."
Thực ra bài thơ này là cổ thi, có từ thời nhà Tấn sau khi Tư Mã Viêm thôn tính Đông Ngô thời Tam Quốc lập nên nhà Tấn (265-317). Ba trăm năm sau Lý Uyên diệt nhà Tùy mới có nhà Đường (618-907) và Đường thi ra đời. Vậy thì trước Đường thi người ta dùng thể thơ gì?
- Thưa họ dùng cổ thi.
Bài thơ của Mộc Hoa Lê nguyên là cổ thi. Sau đây là biên khảo về Cổ thi (sau đó sẽ tiếp tục với Lẩy Kiều, câu Đối là chấm dứt loạt biên khảo này.)

**********************************************

Nguyên thời Xuân Thu(722-481 trước Tây Lịch) nhà Chu dời về phương đông, các nhà vua suy nhược, chư hầu mặc tình xng hùng xưng bá, tranh giành đánh nhau không ngớt, trong nước rối loạn, đàn ông phải đi lính, đàn bà trẻ thơ chịu cảnh ly loạn vô cùng khốn khổ.
Đức Khổng Tử ở vào thời kỳ ấy viết cuốn Sử Ký nước Lỗ, kể lại lịch sử nước Lỗ từ đời Lỗ Ân Công năm đầu (tức năm 49 đời Chu Bình Vương đến Lỗ Ai Công năm thứ 14 tức năm 39 đời Chu Kính Vương) cộng lại được 242 năm, đặt tên Sử Ký ấy là sách Xuân Thu . Người đời sau gọi thời kỳ ấy là Xuân Thu .
Đầu nhà Chu số chư hầu hơn 1000, nhà Chu suy dần cho tới thời Xuân Thu chỉ còn hơn một phần mười, nghĩa là hơn 100 nhưng sử sách chỉ ghi có mấy nước là :

1- Tề ở đông nam huyện Xương Lạc tỉnh Sơn Đông ngày nay .
2- Sở thuộc huyện Giang Lăng tỉnh Hồ Bắc ngày nay .
3- Tấn thuộc huyện Giáng tỉnh Sơn Tây ngày nay .
4- Tần thuộc huyện Kỳ Sơn tỉnh Thiểm Tây ngày nay .
5- Lỗ thuộc huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông ngày nay .
6- Vệ thuộc huyện Kỳ tỉnh Hà Nam ngày nay .
7- Tống thuộc huyện Thương Khâu, tỉnh Hà Nam ngày nay .
8- Yên thuộc Đại Hưng đất Kinh Triệu ngày nay .
9- Trịnh thuộc huyện Tân Trịnh tỉnh Hà Nam ngày nay .
10- Tào thuộc huyện Định Đào tỉnh Sơn Đông ngày nay .
11- Trần thuộc huyện Hòai Dương tỉnh Hà Nam ngày nay .
12- Sái thuộc huyện Tân Sái tỉnh Hà Nam ngày nay.



Trong 12 nước mạnh kể trên thì có nước Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống lớn và mạnh hơn cả. Sau này có nước Việt (không phải VN) thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang và Ngô thuộc huyện Ngô, tỉnh Giang Tô ngày nay, dấy lên, cùng các chư hầu khác tung hoành.

Kinh Thi :
gồm những bài thi ca cổ nhất nước Tàu. Đời nhà Chu có đặt quan thái sử để lượm lặt các bài thơ ca trong dân gian, tất cả được hơn 3000 bài . Sau này ở nước Lỗ, đức Khổng Tử biên tập lại còn 300 bài lấy từ ca dao ở thôn quê và lễ nhạc triều đình, làm ra sách kinh Thi. Lời trong kinh Thi uyển chuyển hàm súc và tuy mộc mạc chân thật nhưng tươi đẹp . Kinh Thi đã ảnh hưởng nhiều đến giáo dục văn học nước Tàu từ đó đến nay.

Các bài kinh Thi:
Thất nguyệt của Bân Phong
Bào hữu khổ diệp, Bá hề, Bách Chu, Bắc môn, Bắc phong, Can mao, Cốc phong, Chung phong,Giản hỿ, Hà quảng, Hùng trĩ,Hữu hồ, Hoàn lan, Kích cổ, Kỳ úc, Khải phong, Khảo bàn, Lục y, Mang, Mao khâu, Mộc qua, Nhật nguyệt, Nhị tử thừ chu, Quân tử giai lão, Tang trung, Tái trì, Tân đài, Thạc nhân, Thức vị, Thử ly, Thuần chi bô bôn, Trúc can, Tuyền thủy, Tĩnh nữ, Tướng thử, Tường hữu từ, Yến yến, Đế đông của Bội Phong.
Cao cầu, Phỉ phong, Thấp hữu trường sở của Cối Phong.
Quan thư chương I - chương III, Cát đàm chương I - chương III, quyển nhĩ, Cưu mộc chương I - III, Chung tư, Đào yêu, Thố tư, Phù dĩ, Hán quảng chương I - III, Nhữ phần, Lân chi chỉ của Chu Nam.
Cát cú, Phạt đàn, Phần tứ nhu, Thạc thử, Thập mẫu chi gian, Trắc hộ, Viên hữu đào của ngụy Phong.
Sơn hữu xu của Tam Chương.
Hạ tuyền, hậu nhân, Phù du, Thi cưu của Tào Phong.
Chung nam, Hoàng điểu, Kiêm gia, Quyền dư, Tứ thiết, Thuần phong, Tiểu nhung, Vô y, Vị dương , Xa lân của Tần Phong.
Kê minh, Lô lân, Nam sơn, Phù điền, Tái khu, Tệ cẩu, Trử, Tuyền, Y ta, Đông phương chi nhật, Đông phương vị minh của Tề Phong .
Thước sào, Thái phiên, Thảo trùng, Thái tần, cam đường, Hành lộ, Cao dương, Ẩn kỳ lôi, Biểu hữu mai, Tiểu tinh, Giang hữu tự, Giã tử hữu khuân, Hà bỉ nùng hĩ, Trâu ngu của Thiệu Nam.
Hoành môn, Mộ môn, Nguyệt xuất, Phòng hữu thước sào, Trạch bi, Tru lâm, Uyển khâu, Đông môn chi phần, Đông môn chi dương, Đông môn chi trì của Trần Phong .
Thương trọng tử, Tri y, Cao cầu, Cát lũy, Dã hữu man thảo, Dương chi thủy, Giảo đồng, Hữu nữ đồng xa, Hữu thố, Khâu trung hữu ma, Khiên thường, Nữ viết kê minh, Phong, Phong vũ, Quân tử dương dương, Quân tử vu dịch, Sơn hữu phù tô, Tử khâm, Thanh nhân, Thác hỿ, Thái cát, Thái thúc vu điền, Thúc vu điền, Trân vĩ, Trung cốc hữu thôi, Tuân đại lộ, Xuất kỳ đồng môn, Đông môn chi thiện, Đại xa của Vương Phong.
Bảo vũ, Cao cầu, Cát sinh, Dương chi thủy, Hữu đệ chi đỗ, Sơn hữu xu, Tất suất, Thái linh, Thù mậu, Tiêu liêu, Vô y, Đệ đỗ của Đường Phong.
Xin vào : http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_Thi tham khảo thêm.

Sở Từ :
Nếu phương Bắc có kinh Thi thì ở phương Nam (Sở, Ngô, Việt) khí hậu ấm áp, đất đai màu mỡ, sinh họat dễ dàng nên nhân dân thiên về tình cảm, ảo tưởng . Về thi ca, phương Nam sản xuất lối Sở từ, có thể so sánh với kinh Thi phương Bắc. Sở từ là một loại văn xuôi có vần, trường thiên (không giới hạn số câu), có đối tuy không bắt buộc, nội dung lãng mạn . Hai văn nhân có tài về Sở từ là Khuất Nguyên, tác giả thiên Ly Tao lời rất bi thảm và Tống Ngọc (học trò Khuất Nguyên) người rất lãng mạn. Lọai thơ 7 chữ đời Đường gốc ở Sở từ và lối miêu tả bổng trầm có nhạc điệu của Tống Ngọc làm ra thể phú đời Hán. (Đổng Tước Đài)
Hết thời Xuân Thu là Chiến Quốc (403-256 trước tây Lịch) . Còn lại 7 nước. Họ Điền ở Tề, Hàn Kiến nước Hàn, Ngụy Tư nước Ngụy, Triệu Tịch nước Triệu . Bốn nước này sâu xé nước Tấn mà thành . Cùng với Yên, Sở, Tần tuy lấy nhà Chu làm chủ nhưng thực ra là những nước độc lập. Nhà Chu từ đời Võ Vương truyền đến lúc này được 37 đời vua, cộng 878 năm (1134-256 trước Tây Lịch).
Hãy luớt qua các triều đại trước khi nói đến nhà Đường với một nền thi ca văn học rực rỡ nhất nước tàu.
Nhà Tần thống nhất Trung Quốc (221-206 trước Tây Lịch).
Nhà Tiền Hán (206 trước Tây Lịch đến năm 8 sau Tây Lịch). Lúc này có thể phú và nhạc phủ.
Nhà Hậu Hán (25-219 sau tây Lịch) .Tức thời tam quốc.
Tư Mã Chiêu diệt nước Thục, con là Tư Mã Viêm diệt nhà Ngụy thống nhất đất nước lập nhà Tây Tấn (265-317) . Cuối đời Tây Tấn phía tây bắc nước tàu có 5 bộ lạc gọi là ngũ Hồ : Rợ Hung Nô, Rợ Yết (Mông Cổ), Rợ Tiên Ti (chủng tộc Mãn Châu), Rợ Chi và Rợ Khương (Tây Tạng). Thấy nhà Tấn suy yếu, 5 rợ ấy diệt nhà Tấn lập thành 16 nước. Lang Nha Vương Duệ tằng tôn Tư Mã ÿ dấy binh ở đông nam, lên ngôi hòang đế ở Kiến Khương (tức Nam Kinh ngày nay), ấy là vua Nguyên Đế nhà Đông Tấn (317-420).
Nam Triều(420-589) Có nhà Tống thuộc nam Triều, chỉ kéo dài 59 năm gồm 8 đời vua . Lúc này văn học vẫn gồm kinh Thi, Sở từ như trước. Tống từ sẽ nói đến sau khi nhà Đuờng diệt vong và nhà Tống lên thay vào năm 916.
Nhà Tùy (581-618). Sở dĩ nhà Tùy tuy lên ngôi nhưng chưa thống nhất đất nước. Vài năm sau, Tùy Văn Đế diệt Tống, Hậu Lương, Trần nhà Tống mới dứt .
Lý Uyên nhờ thế lực rợ Đột Quyếtđem binh vào Trường An dẹp nạn sứ quânlập nên nhà Đường . Lúc này Đường Thi đã thay thế Cổ Phong, Sở từ, Nhạc Phủ, Tống từ . Đời nhà Đường tuy có 100 năm nhưng là thời kỳ văn học rực rỡ nhất tiêu biểu cho thi ca văn học Trung Hoa . Có thể nói Sở từ, Tống từ nhạc phủ là các dạng phôi thai của Đường thi. Việt Nam ta chịu ảnh hưởng Đường thi nhiều hơn các thể phú, từ nói trên.

Một đoạn Sở từ tiêu biểu trong Ly Tao của Khuất Nguyên :

Dư ký tư lan chi cửu uyến
Hựu thụ huệ chi bách mẫu
Dịch:
Đất trồng lan có chín uyển
Đất trồng huệ có trăm mẫu

Chắc các bạn bắt đầu chán : Chờ mãi chẳng thấy những bài từ, phú, cổ phong, kinh Thi ... làm thí dụ . Đừng nóng . Vì quá nhiều nên cuối bài, Meta liệt kê danh sách các bài trên, yêu cầu bài nào Meta đăng bài đó, chứ không đăng hết được vì quá nhiều. Đặc biệt sẽ có phần ca Tống từ, Kinh Thi ... bằng audio files do Meta ca đàng hoàng.

Phú :
Phát sinh cuối đời Chiến Quốc . Xin tham khảo niên đại để thấy nó xuất hiện sau Sở từ và kinh Thi. Thịnh hành nhất vào đời nhà Hán , văn nhân nào cũng luyện nó . Cụ Metamorph có viết một bài riêng nói về phú và văn tế nhưng nó là loại phú sau đời Đường, có đối rất chặt chẽ và các lọai gieo vần khác nhau . Nếu yêu cầu thì Meta sẽ đăng tải loại phú Đuờng luật vào dịp khác . Việt Nam ta chỉ dùng loại phú Đường luật chứ không phải lọai phú sơ khai thời tiền Hán . Trở lại loại phú Hán sơ này, Tư Mã Tuơng Như nổi tiếng nhất về lối này . Nhưng phú chỉ vụ lời đẹp, đọc kêu chứ ít có sinh khí . Nói đơn giản, phú Hán sơ chính là Sở từ, khác ở chỗ Sở từ dùng để ca hát thì phú chỉ dùng để miêu tả.
Dưới đây là bài phú (hay Sở từ không ca) Đổng tước đài phú của Tào Thực:

Tòng minh hậu dĩ hi du hề
Đăng tầng đài dĩ ngu tình
Kiến Thái Phủ chi Quảng khai hề
Quan thánh đức chi sở dinh
Kiến cao môn chi tha nga hề
Phù song khuyết hồ thái thanh
Lập trung thiên chi hoa quan hề
Liên phi các hồ Tây thành
Lâm Chương thủy chi trường lưu hề
Vọng viên quả chi tư vinh
Lập song đài ư tả hữu hề
Hữu Ngọc Long dữ Kim Phượng
Liên nhị Kiều ư đông tây hề
Nhược trường không chi đế đống
Phủ Hoàng đô chi hoành lệ
Khám vân hà chi phù động
Hân quần tài chi lai tụy hề
Hiệp Phi Hùng chi cát mộng
Ngưỡng xuân phong chi hoà mục hề
Thính bách điểu chi bi minh
Vân thiên tuyên kỳ ký lập hề
Gia nguyện đắc hồ song sinh
Dương nhân hoá vu vũ trụ hề
Tận túc cung vu Thượng kinh
Duy Hoàn, Văn chi vi thịnh hề
Khởi túc phương hồ Thánh minh
Hưu hỷ! Mỹ hỷ
Huệ trạch viễn dương
Dực tá ngã Hoàng gia hề
Ninh bỉ tứ phương
Đồng thiên địa chi qui lượng hề
Tề nhật nguyệt chi huy quang
Vĩnh quý tôn nhi vô cực hề
Đẳng quân thọ ư Đông hoàng
Ngự long kỳ dĩ yêu ngao hề
Hồi loan giá chi chu chương
Ân hoá cập hồ tứ hải hề
Gia vật phụ nhi dân khang
Nguyện tư đài chi vĩnh cố hề
Lạc chung cổ nhi vị ương.

Đọc bài phú theo lối Sở từ này, ta thấy hầu hết câu văn xen kẽ 6, 7 chữ, ngoại trừ một vài chỗ 4 chữ. Như thế không có quy định số chữ trong câu cũng như số câu trong bài. Tuy nhiên ta thấy có gieo vần và hầu hết câu 7 chữ được thêm vào chữ : hề. Có lẽ là tiếng đệm trong Sở từ, cũng như ta hay thêm ý a, ối a trong bài ca làm giàu âm điệu.
Thế nhưng đã gọi là không niêm luật, tại sao bài : Lãng đào sa dưới đây cũng gọi là từ?

Lãng đào sa

Cửu khúc Hoàng Hà vạn lý sa
Lãng đào phong bá tự thiên nha
Như kim dục thượng vân hà khứ
Đồng đáo Khiên Ngưu Chức Nữ gia

Lưu Vũ Tích

Dịch Thơ
Chín khúc Hoàng Hà cát trắng phau
Gió rê sóng lọc hỏi từ đâu
Bằng nay muốn vút lên Vân Hán
Cùng tới ngay nhà của Nữ Ngâu

Theo bạn Lãng xẹt tử của Mai Hoa Trang thì Thi bắt nguồn từ âm nhạc (có thể hát được, ví dụ như kinh Thi). Nhưng vào cuối đời Đường thì thi đã không còn gắn với âm nhạc nữa. Do đó, từ phát triển như một thể loại có thể hát được, để thay thế cho thi.

Người Việt Nam ta có thói quen nhìn số chữ, luật bằng trắc, cách gieo vần mà phân biệt ra điệu từ này với điệu từ kia. Nhưng thực tế thì không phải thế. Một điệu từ tức là một điệu nhạc, và điền từ là viết lời cho điệu nhạc ấy, cũng giống như viết lời mới cho bài hát bây giờ vậy. Ví dụ như những bài trong Trúc chi từ cửu thủ của Lưu Vũ Tích, tuy cũng có vẻ hơi giống thơ thất ngôn luật thi, nhưng thực tế là những bài hát sáng tác theo điệu dân ca "Trúc chi" (ở Quỳ Châu hay Hồ Nam gì gì đó). Hay là "Đời tôi cô đơn nên hai tay tôi bế hai em..." cũng có thể coi là điền từ vậy .

Trở lại bài "Lãng đào sa" này, hình thức (tức là số chữ, số câu, luật bằng trắc, cách gieo vần...) thì giống y như một bài thất ngôn luật thi. Nhưng điều quan trọng là nó có thể hát lên theo điệu nhạc gọi là "Lãng đào sa" được, trong khi các bài thất luật khác thì không thể. Ví dụ như "Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau" thì ko thể hát lên theo điệu hát "Yêu nhau con mắt liếc qua, ghét nhau ném đã vỡ đầu nhau ra" được, dù về hình thức thơ thì y chang nhau .
Khi tại hạ nói rằng từ khúc không hát được nữa, thực tế ko hẳn là như vậy. Âm nhạc của những điệu từ thời xưa vẫn còn được lưu truyền đến ngày nay, và điền từ cũng giống như viết lời mới vậy thôi. Nhưng từ thời Bắc Tống đã có những từ nhân coi từ như một thể thơ chứ ko phải là lời hát để ca hát, họ chỉ còn quan tâm đến thanh luật, vần điệu của câu chữ chứ ko đặt nặng tính hát được. Về sau điều này càng trở thành khuynh hướng sáng tác của từ.
Đây là trang web có bài hát Lãng đào sa . &lt;http://cls.hs.yzu.edu.tw/shenhg/tz.htm&gt;

Lược qua quy luật về từ :
Trích tự điển văn học của Nguyễn Khắc Phi.
Một thể thơ cách luận của Trung Quốc xuất hiện vào đời Đường, phát triển mạnh ở đời Tống, có số chữ trong bài cố định, câu dài câu ngắn và phối hợp chặt chẽ với âm nhạc.

Từ ở thời kỳ đầu và thơ chưa có ranh giới rõ ràng, đến cuối đời Đường mới thành một thể loại độc lập mang đầy đủ những đặc điểm trên. Khác Nhạc phủ ở cách luật nghiêm ngặt, khác thơ Đường luật ở chỗ câu dài câu ngắn, khác thơ cổ phong tạp ngôn ở cách luật nghiêm ngặt và số chữ cố định. Đời Tống có khoảng 870 điệu từ với những biến thể của chúng. Tên điệu từ thoạt đầu có ý nghĩa và chính là đề tài của bài thơ như Dương liễu chi vịnh liễu, Lãng đào sa vịnh cát, Đạp ca từ tả múa... song về sau chỉ còn là tên gọi đơn thuần. Mỗi điệu có một từ phổ, phải tìm những chữ điền vào cho phù hợp yêu cầu về mặt thanh âm của công thức từ phổ, bởi vậy làm từ gọi là "điền từ". Điệu từ ngắn nhất là Trúc chi từ (14 chữ), dài nhất là Oanh đề từ (240 chữ). Những điệu tương đối dài thường chia làm hai đoạn, công thức có thể khác nhau hoặc hoàn toàn giống nhau (như Trường tương tư)... Số chữ trong câu có thể dài trên mười chữ, cũng có thể chỉ có một chữ (câu đầu trong Thương Ngô dao). Luật bằng trắc rất chặt chẽ, nhìn chung, không có lệ bất luận như ở thơ Đường luật. Một bài từ thường dùng nhiều vần. Vần có thể trắc hoặc bằng. Chỉ dùng vần bằng như Phá trận tử, Tấm viên xuân, Ức Giang Nam, Giá cô thiên...; chỉ dùng vần trắc như Hậu đình hoa, Mãn giang hồng, Niệm nô kiều, Thanh thương oán... Một số có thể dùng cả hai, nhưng chủ yếu vẫn thuộc loại vần bằng hoặc vần trắc. Chủ yếu gieo vần bằng như Cán khê sa, Lãng đào sa..., chủ yếu gieo vần trắc như Ức Tần nga, Như mộng lệnh... Có điệu dùng vần bằng trắc xen kẽ. Trình tự gieo vần ở từ rất đa dạng (vần liền, vần gián cách, vần ôm...): aa bb cc dd (Chiêu Quân oán), abba (Tây giang nguyệt), ababbb (Sa song hận), aaa bb ccc (Điều tiếu lệnh)...
Nhạc phủ : là bài ca có thể phổ vào nhạc được . Lưu ý, nói như thế là nhạc đã có sẵn, chỉ sáng tác lời sao cho phù hợp . Loại 5 chữ phỏng theo Kinh Thi, loại 7 chữ chịu ảnh hưởng Sở Từ . Trong nhạc phủ thơ đời Hán đã có nhiều bài miêu tả rõ ràng, có nghệ thuật và nhiều bài dân ca mộc mạc nhưng cảm động .
Đời Hán mạt nước nhà hỗn độn văn nhân không rảnh để đẽo gọt câu văn nữa nên thi ca chiếm địa vị của phú và lối tứ lục ra đời. Tào Tháo, và 2 con là Tào Thực Tào Phi là 3 tay xuất sắc trên thi đàn thời ấy. Thời Tam Quốc lối văn biền ngẫu bắt đầu thịnh hành. Văn biền ngẫu với lọai phú Hán sơ phối hợp thành loại phú thường thấy trong văn chương cổ Việt Nam.

Đường Thi :
Đời Đường là thời đại văn học thịnh không lúc nào bằng. Cũng giống như thời Chiến Quốc tịnh nhất về tư tưởng vậy. Ấy là nhờ hơn 100 năm thanh bình thời Đường sơ và nhiều vị vua trọng văn học hết sức khích lệ. Văn xuôi phát đạt và thơ thì phong phú vô cùng.
Đời Đường sơ lối biền ngẫu còn thịnh, văn học còn nhiễm tính cách hoa mỹ đời Lục Triều . Biền văn có bài Đằng Vương Các của Vương Bột, Điếu cổ chiến trường của Lý Hoa là những tác phẩm bất hủ . . . Đến đời thịnh Đường, các thi văn nhân gây ra phong trào phục hồi văn học mạnh mẽ đời Hán và bài xích phong trào ủy mị đời Tấn trở về sau. Trần Tử Ngang, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên rất có công trong việc phục cổ này. Châm ngôn Hàn Dũ là :Văn dĩ tải đạo. Thời này là thời hoàng kim của thơ. Không chỉ có nhiều thi sĩ, thi phẩm mà thơ lại hay, đẹp, đủ vẻ đủ lọai, đủ xu hướng, dủ các cảm xúc. Bây giờ thi sĩ được triều đình trọng vọng. Vua , quan, hoàng hậu, công chúa đón rước, không một người dân nào hơi biết chữ mà không thuộc một vài bài, vì thế nhân tài dễ phát triển. Còn nhớ Lý Bạch say rượu gối đầu lên bụng vua mà ngủ. Thi nhân có danh là Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích, Cao Thích, Vương Xương Linh, Sâm Tham, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Giả Đảo, Thôi Hộ . Đứng trên hết là Lý Bạch, ngôi sao bắc đẩu thi đàn, thiên tài tuyệt cao, xưa nay ai cũng công nhận là vị trích tiên . . Nhưng tới thời Vãn Đường, thời thế loạn lạc, phong hoá suy đồi, chủ nghĩa duy mỹ lãng mạn lại thịnh lên. Thời này ít thi nhân có tài, chỉ có Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn còn để lại những tuyệt tác cho đời sau. Nhà Đường chia ra làm 3 thời kỳ : Sơ điệp nhà Đường (618-713), Thời này chấm dứt bằng loạn An Lộc Sơn. Trung điệp nhà Đường (713-823) đến đời Túc Tông đánh dấu bằng gian thần chuyên quyền và mạt điệp nhà Đường (823-907) chấm dứt bằng loạn Hoàng Sào.
Thời Ngũ Đại (907-960) Các nhà Lương. Đường, Tấn, Hán, Chu gọi là ngũ đại cát cứ các nơi. Triệu Khuông Dẫn phế vua Cung Đế đoạt ngôi nhà hậu Chu, đánh dẹp các phiên trấn ngũ đại, lập nên nhà Bắc Tống (960-1126). Tống từ thịnh hành thời này.

Tống từ :
Đời Đường tuy là thời đại sáng tác cổ văn nhưng kỳ thực thể văn thông dụng là biền văn. Đến đời Tống cổ văn rất thịnh . Âu Dương Tu, Vương An Thạch, 3 cha con Tô Tuấn, Tô Thức, Tô Triệt và Tăng Củng đều là những tác giả danh tiếng . Sáu vị này cùng Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên đời Đường được gọi là bát đại gia . Biền văn đời Tống sinh động. Về Từ thì đời Tống lên đến tuyệt đỉnh vì thể này không bị niêm luật bó buộc lại dễ biểu tình đạt ý nên từ vua quan đến thứ dân ai cũng làm Từ; vả lại từ dùng để ca nên dễ phổ biến. Nam Tống, Bắc Tống đều có những danh tác nổi tiếng . Sở từ và Tống từ không có gì thay đổi vì tự bản chất chúng đã không cần niêm luật, chỉ có đối và gieo vần thôi. Sở dĩ có Sở từ và Tống từ gợi lên sự khác biệt là vì Sở từ bị Đường thi lấn át hết hơn 500 năm và chỉ được phục hồi và phát huy tột điểm vào đời Tống. Lưu ý niên đại từ Sở cho đến Đường cho đến Tống để thấy sau nhiều thế kỷ, việc phục hồi một thể thơ đáng đặt cho một tên gọi : Tống từ, tuy so với Sở từ chẳng có gì thay đổi. Lấy ví dụ sau này, lực lượng quốc gia đánh đổ Cộng Sản VN, trở lại rập khuôn thời Cộng Hoà ngày trước, tuy không khác nhưng mang một tên khác : Nền Cộng Hoà II chẳng hạn. Về thơ đời Tống so với đời Đường có thêm khuynh hướng mới khai thác cảnh giới. Thi nhân Đường khéo tả cảnh thì thi nhân Tống khéo tả tình; có nhiều sự việc đời Đường chưa nói đến thì đời Tống đem vào thợ Nhưng so sánh thơ Đường hàm súc hơn, ý vị hơn, thơ Tống thì tự do hơn và có khi dám dùng những tiếng thô tục.
Tống từ phát sinh cũng là do bối cảnh nước nhà thời ấy. Ban đầu phong trào duy mỹ của Ngũ Đại, Vãn Đường còn thịnh . Về sau, Tống bị Liêu, Kim áp bức, hạng thi nhân có chí khí đứng ra đề xướng phục cổ (Sở từ); bác bỏ cái tệ uỷ mị trong văn thơ để cứu vãn nước nhà . Âu Dương Tu là một trong những thi nhân đề xướng phong trào phục cổ ấy . Vương An Thạch, Tăng Củng, Tô Thức cũng tiếp theo phụ hoạ. Chu Đôn Di cũng chủ trương văn dĩ tải đạo . Nhờ đó phong trào phục cổ, tức nghệ thuật vị nhân sinh bắt đầu tái phát . Nói khác đi, Tống từ tái phát từ Sở từ.
Các bài Từ tham khảo : ( Lần nữa, muốn yêu cầu bài nào, Meta đăng bài đó chứ không đăng hết vì rất dài).
Hà diệp bôi, Ngô đồng ảnh, Vọng Giang Nam (khuyết Danh).
Lâm giang tiên, Điệp luyến hoa, Cán khê sa, Chích chích kim, Diệp nhân kiều, Phá trận tử, Sơn đình liễu, Thanh bình nhạc, Tương tư nhi lịnh, Điệp luyến hoa của Tô Đông Pha.
Giang thành tử của Âu Dương Quýnh.
Nam ca tử, Nguyễn lang qui, Sinh tra tử, Thái tang tử, Đạp sa hành, Điệp luyến hoa của Âu Dương Tu.
Canh lậu tử I, II, III, Mộng Giang Nam, Mỹ nhân từ I, II, III của Ôn Đình Quân.
Ức Giang Nam I, II, III, Dương liễu chi, Hoa phi hoa, Trường Tương Tư của Bạch Cư Dị.
Vọng Giang Nam của Cù Hựu.
Tố trung tình của Cố Quýnh.
Bốc toán tử, Giá cô thiên, Hảo sự cận, Thái tang tử của Chu Đôn Nho .
Giảm tự Mộc lan hoa của con gái Tưởng Hưng Tổ.
Chương đài liễu của Hàn Hoằng.
Giá cô thiên, Thanh ngọc oán, Đạp sa hành, Đảo luyện tử I, II, III, IV của Hạ Chú.
Thanh bình nhạc của Hoàng Cơ
Thanh bình nhạc của Hoàng Đình Kiên.
Đạp sa hành của Khấu Chuẩn.
Ức quy san kỳ I, II của Kiêm Minh Thân Vương.
Trường tương tư của Lâm Bô.
Lâm giang tiên của Lộc Kiền Ỷ.
Thoa đầu phượng của Lộc Du .
Ức tần nga, Bồ tát man của Lý Bạch .
Hoán khê sa kỳ I, II của Lý Cảnh .
Bồ tát man, Ngu mỹ nhân của Lý Dục .
Ô dạ đề, Hoán khê sa, Lãng đào sa, Ngọc xuân lâu, Ngu mỹ nhân, Phá trận tử, Tý dạ ca, Thanh bình điệu, Thái tang tử, Tương kiến hoan I, II, Vọng Giang Nam I, II, III, IV, Đảo luyện tử của Lý Hậu Chủ .
Bồ tát man kỳ I, II, III, Giá cô thiên, Giảm tự Mộc lan hoa, Hảo sự cận, Hoán khê sa kỳ II, III, IV, V, Lãng đào sa kỳ I, II, Mãn đình phương, Ngư gia ngạo, Nhất tiễn mai, Như mộng lệnh kỳ I, II, III, Niệm cô kiều, Oán vương tôn kỳ I, II, III, Phượng Hoàng đài thượng ức xuy tiêu, Sinh tra tử, Than phá Hoán khê sa, Thanh thanh mạn, Thiêm tự thái tang tử, Túy hoa âm, Vũ lăng xuân, Vĩnh ngộ lạc, Điểm giáng thần kỳ I, II của Lý Thanh Chiếu .
Trú dạ lạc ức biệt, Định phong ba của Liễu Vĩnh .
Trường tương tư của Lưu ÿ Nương .
Lãng đào sa của Lưu Vũ Tích .
Oanh đề tự của Ngô Văn Anh .
Mô ngư nhi của Nguyên Hiếu Vấn .
Giá cô thiên của Nhiếp Thắng Quỳnh .
Tửu tuyền tử I, II của Phan Lãng .
La phu diễm ca kỳ I, II, Thước đạp chi của Phùng Duyên Kỷ .
Ức tần nga của Phạm Thành Đại .
Ngự nhai hành, Ngư gia ngạo, Tô mạc già của Phạm Trọng Yêm.
Mô ngư nhi, Phá trận tử, Thanh bình lạc, Thanh bình nhạc, Xú nô nhi của Tân Khí Tật.
Bốc toán tử, Cán khê sa I, II, Giang thành tử I, II, Lâm giang tiên, Niệm nô kiều, Thiếu niên du, Thủy long ngâm, Thủa điệu ca đầu, Vọng Giang Nam, Vĩnh ngộ lạc, Định phong ba, Động tiên ca, Điệp luyến hoa của Tô Thức.
Mãn đình phương, Như mộng lệnh, Thước kiều tiên, Vọng hải triều, Đạp sa hành của Tần Quán.
Ngọc lâu xuân của Tống Tử Kinh.
Ngư ca kỳ I, II, III, IV, V của Tha Tha Thiên Hoàng.
Ngư ca phụng hoàng kỳ I, II, III của Thân Vương Tư Dã Trinh Chủ.
Ức tần nga, Cam châu, Niệm nô kiều, Tiểu đào hồng của Trình Cai.
Bồ tát man, Hoạ đường xuân của Triệu Trường Khanh .
Ngư ca tử, Canh lậu tử, Mộc lan hoa, Nhất tùng hoa, Thanh môn dẫn, Thiên tiên tử của Trương Tiên.
Điều tiếu lệnh của Vi Ứng Vật.
Ứng thiên trường, Nữ quan tử I, II của Vi Trang.
Điều tiếu lệnh của Vương Kiến.
Điểm giáng thần của Vương Vũ Xứng.
Chuyển ứng từ của Đới Thúc Luân.

Cổ phong : là loại thơ thất ngôn không hạn chế câu. Dưới đây là Trường hận Ca của Bạch Cư Dị :

Trường hận ca.

Hán hoàng vị sắc tư khuynh quốc
Ngự vũ đa niên cầu bất đắc
Dương gia hữu nữ sơ trưởng thành
Dưỡng tại thâm khuê nhân vị thức
Thiên sinh lệ chất nan tự khí
Nhất chiêu tuyển tại quân vương trắc
Hồi đầu nhất tiếu bách mị sinh
Lục cung phấn đại vô nhan sắc
Xuân hàn tứ dục Hoa Thanh trì
Ôn tuyền thủy hoạt tẩy ngưng chi
Thị nhi phù khởi kiều vô lực
Thủy thị tân thừa ân trạch thì
Vân mấn hoa nhan kim bộ dao
Phù dung trướng noãn độ xuân tiêu
Xuân tiêu khổ đoản nhật cao khởi
Tòng thử quân vương bất tảo triều
Thừa hoan thị yến vô nhàn hạ
Xuân tòng xuân du dạ chuyển dạ
Hậu cung giai lệ tam thiên nhân
Tam thiên sủng ái tại nhất nhân
Kim ốc trang thành kiều thị dạ
Ngọc lâu yến bãi túy hòa xuân
Tỷ muội huynh đệ giai liệt thổ
Khả liên quang thái sinh môn hộ
Toại linh thiên hạ phụ mẫu tâm
Bất trọng sinh nam trọng sinh nữ
Ly cung cao xứ nhập thanh vân
Tiên nhạc phong phiêu xứ xứ văn
Hoãn ca mạn vũ ngưng ty trúc
Tận nhật quân vương khan bất túc
Ngư Dương bề cổ động địa lai
Kinh phá Nghê thường vũ y khúc
Cửu trùng thành khuyết yên trần sinh
Thiên thặng vạn kỵ tây nam hành
Thúy hoa dao dao hành phục chỉ
Tây xuất đô môn bách dư lý
Lục quân bất phát vô nại hà
Uyển chuyển nga mi mã tiền tử
Hoa điền ủy địa vô nhân thu
Thúy kiều, kim tước, ngọc tao đầu
Quân vương yểm diện cứu bất đắc
Hồi khan huyết lệ tương hòa lưu
Hoàng ai tản mạn phong tiêu tác
Vân sạn oanh vu đăng Kiếm Các
Nga My sơn hạ thiểu nhân hành
Tinh kỳ vô quang nhật sắc bạc
Thục giang thủy bích Thục sơn thanh
Thánh chủ trieu triêu mộ mộ tình
Hành cung kiến nguyệt thương tâm sắc
Dạ vũ văn linh trường đoạn thanh
Thiên tuyền địa chuyển hồi long ngự
Đáo thử trừ trừ bất nhẫn khứ
Mã Ngôi pha hạ nê thổ trung
Bất kiến ngọc nhan không tử xứ
Quân thần tương cố tận triêm y
Đông vọng đô môn tín mã quy
Quy lai trì uyển giai y cựu
Thái Dịch phù dung Vỵ Ương liễu;
Phù dung như diện liễu như mi
Đối thử như hà bất lệ thùy
Xuân phong đào lý hoa khai nhật
Thu vũ ngô đồng diệp lạc thì
Tây cung nam nội đa thu thảo
Lạc diệp mãn giai hồng bất tảo
Lê viên đệ tử bạch phát tân
Tiêu phòng a giám thanh nga lão
Tịch điện huỳnh phi tứ tiễu nhiên
Cô đăng khiêu tận vị thành miên
Trì trì chung cổ sơ trường dạ
Cảnh cảnh tinh hà dục thự thiên
Uyên ương ngõa lãnh sương hoa trọng
Phỉ thủy khâm hàn thùy dữ cộng
Du du sinh tử biệt kinh niên
Hồn phách bất tằng lai nhập mộng
Lâm Cùng đạo sĩ Hồng Đô khách
Năng dĩ tinh thành trí hồn phách
Vị cảm quân vương triển chuyển tư
Toại giao phương sĩ ân cần mịch
Bài không ngự khí bôn như điện
Thăng thiên nhập địa cầu chi biến
Thượng cùng bích lạc hạ hoàng tuyền
Lưỡng xứ mang mang giai bất kiến
Hốt văn hải thượng hữu tiên sơn
Sơn tại hư vô phiếu diểu gian
Lâu các linh lung ngũ vân khởi
Kỳ trung xước ước đa tiên tử
Trung hữu nhất nhân tự Thái Chân
Tuyết phu hoa mạo sâm si thị
Kim khuyết tây sương khấu ngọc quynh
Chuyển giao Tiểu Ngọc báo Song Thành
Văn đạo Hán gia thiên tử sứ
Cửu hoa trướng lý mộng hồn kinh
Lãm y thôi chẩm khởi bồi hồi
Châu bạc ngân bình di lý khai
Vân kết bán thiên tân thụy giác
Hoa quan bất chỉnh há đường lai
Phong xuy tiên duệ phiêu phiêu cử
Do tự Nghê Thường vũ y vũ
Ngọc dung tịch mịch lệ lan can
Lê hoa nhất chi xuân đới vũ
Hàm tình ngưng thế tạ quân vương
Nhất biệt tâm dung lưỡng diểu mang!
Chiêu Dương điện lý ân ái tuyệt
Bồng Lai cung trung nhật nguyệt trường
Hồi đầu hạ vọng nhân hoàn xứ
Bất kiến Trường An kiến trần vụ
Duy tương cựu vật biểu thâm tình
Điến hạp kim hoa ký tương khứ
Thoa lưu nhất cổ, hạp nhất phiến
Thoa tích hoàng kim hạp phân điến
Đãn giao tâm tự kim điến kiên
Thiên thượng nhân gian hội tương kiến
Lâm biệt ân cần trung ký từ
Từ trung hữu thệ lưỡng tâm tri:
Thất nguyệt thất nhật Trường Sinh điện
Dạ bán vô nhân tư ngữ thì
"Tại thiên nguyện tác tỉ dực điểu
Tại địa nguyện vi liên lý chi"
Thiên trường địa cửu hữu thì tận
Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ

Bạch Cư Dị .

Tham khảo Thơ Đỗ Phủ của Phạm Doanh, Trung Quốc sử cương của Phan Khoang, nhà sách Đại Nam, các bài dẫn, ý kiến của Mai Hoa Trang và Google search .

_________________________________________

在 天 願 作 比 翼 鳥
在 地 願 為 連 翆 枿
天 長 地 久 有 時 盡
此 濨 綿 綿 無絕 期

Tại thiên nguyện tác tỉ dực điểu
Tại địa nguyện vi liên lý chi
Thiên trường địa cửu hữu thì tận
Thử hận miên miên vô tuyệt kỳ

Như chim liền cánh trời xanh
Như cây dưới đất liền cành với nhau
Đất trời đâu mãi bền lâu
Lòng này sao mãi hận sầu khôn nguôi.


Bạch Cư Metamorph
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-15 16:51:45Mộc Hoa Lê>
Ôi... MHL đã Pm cho Meta rồi đó. Ngày hôm nay MHL rất bận nên mở Pm mà chỉ kịp liếc qua đúng 1 giây, ko nhận mặt chữ, chỉ nhận số từ nên thấy ko đúng thể của bài ca kia, cũng bởi Meta viết ngay câu đầu là Meta dịch sang tiếng Hán.

Nghĩa của bài đó:

Trường giang về đông cuồn cuộn chảy
Cuốn trôi hết mọi anh hùng
Đúng sai được mất cũng là không
Non xanh trơ gan đứng
Mấy độ mặt trời hồng

Ngư tiều bạc tóc bên bến vắng
Trải xem gió mát trăng trong
Một bầu rượu đục buổi tương phùng
Luận bàn xưa nay chuyện
Trong cười nói ung dung.


MHL có một số bài thơ thể " từ ", lúc nào rảnh nhờ Meta dịch sang thơ tiếng Việt giúp nhá.


Về 2 câu:

" Non xanh nguyên vẻ cũ
" Bao độ ánh chiều hồng "


Một ngày nào đó MHL sẽ viết bài cảm thán trong nhật ký của mình. MHL nhớ lại hình ảnh Ngộ Không nằm dưới Ngũ Hành Sơn, có 1 trẻ chăn trâu thương tình thỉnh thoảng ghé qua chăm sóc, khi Ngộ Không được thả ra thì người đó đã già. Hic... Thật là núi xanh vẫn còn đó y vẻ cũ mà biết bao nhiêu chiều hoàng hôn đã tắt tại đây rồi. Con người mà, rồi sẽ có 1 ngày Mộc cô nương trẻ trung, xinh đẹp đã trở thành tóc bạc mà đứng than trách trước núi xanh.


" Môi son hé nở cánh đào tân
" Ngọc trắng hai hàng nhả ánh xuân
" Ðầu lưỡi đinh hương đường kiếm sắc
" Rắp tâm chém cổ kẻ gian thần. "
Đăng nhập để trả lời
0
Tại sao bộ môn "Hát nói, Phú Văn , Tế" lại chìm vào quên lãng?
Thiết nghĩ, có lẽ trong thời đại " viết để sống" ngày nay, Văn chương không còn bi gò bó bởi những niêm luật gắt gao chăng? Các thi sĩ trẻ đả viết thơ văn theo chính cảm xúc, tư tưởng và mục đích của chính mình , để rồi vượt qua những âm tiết cầu kì chăng?
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-14 09:59:43meta4954>
Có lẽ thế đấy bạn ạ. Tưởng tượng một hôm lòng tràn cảm xúc, bạn làm được một câu:

Trường giang cuồn cuộn chảy về đông

Đến câu thứ hai, bạn muốn mô tả cái thân phận nhỏ bé của một lữ khách, cô đơn đứng trên bờ, đối diện với cái mênh mông đất trời để ngầm mượn hình ảnh tương phản giữa con người và trời nước nói lên cái nhỏ bé của trái tim trước mối u hoài bao la không bờ bến, thì bạn đụng phải vô số niêm luật và đối. Thi hứng chắc tịt mất. Một câu có thể phù hợp phải là:

Cánh nhạn chao nghiêng rơi chốn bắc

Khó quá hả và còn khiên cưỡng nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-15 16:49:31Mộc Hoa Lê>
三國演義..............Tam Quốc diễn nghĩa
主題曲.................. Chủ đề khúc

滾滾長江東逝水.........................."Cổn cổn Trường giang đông thệ thủy
浪花淘盡英雄............................."Lãng hoa đào tận anh hùng
是非成敗轉頭空.........................."Thị phi thành bại: chuyển đầu không
青山依舊在................................"Thanh sơn y cựu tại
幾度夕陽紅................................"Kỷ độ tịch dương hồng
白髮漁樵江渚上.........................."Bạch phát ngư tiều giang chữ thượng
慣看秋月春風............................."Quán khan thu nguyệt xuân phong
一壺濁酒喜相逢.........................."Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng
古今多少事................................"Cổ kim đa thiểu sự
都付笑談中................................"Đô phó tiếu đàm trung"


王慎...............Vương Thận

Theo huynh Meta, tác giả Vương Thận sống vào thời Tấn (!?) [:D][:D][:D]


" Môi son hé nở cánh đào tân
" Ngọc trắng hai hàng nhả ánh xuân
" Ðầu lưỡi đinh hương đường kiếm sắc
" Rắp tâm chém cổ kẻ gian thần. "
Đăng nhập để trả lời
0
Mời các bạn nghe 2 ca khúc rất hay

http://sweetangel.dienanh.net/soundtrack/chinese/threekingdom2.wma

http://sweetangel.dienanh.net/soundtrack/chinese/threekingdom1.wma


历史的天空 - 毛阿敏
作曲:谷建芬
填词:王建
演唱:毛阿敏
暗淡了刀光剑影
远去了鼓角铮鸣
眼前飞扬着一个个
鲜活的面容
湮没了黄尘古道
荒芜了烽火边城
岁月啊你带不走
那一串串熟悉的姓名
兴亡谁人定啊
盛衰岂无凭啊
一页风云散啊
变幻了时空
聚散皆是缘哪
离合总关情啊
担当生前事啊
何计身后评
长江有意化作泪
长江有情起歌声
历史的天空闪烁几颗星
人间一股英雄气
在驰骋纵横

Huynh Meta đừng nói ca khúc sau này cũng là "cổ thi" thời Tấn nhé.[:D][:D][:D]

" Đã mờ rồi ánh kiếm, ánh đao
" Lùi xa rồi tiếng loa, tiếng trống
" Vẫn rõ ràng sống động
" Những gương mặt anh hùng... "


" Môi son hé nở cánh đào tân
" Ngọc trắng hai hàng nhả ánh xuân
" Ðầu lưỡi đinh hương đường kiếm sắc
" Rắp tâm chém cổ kẻ gian thần. "
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-15 22:19:49meta4954>
Bài thơ này đời nhà Minh hát theo điệu Lâm Giang Tiên (ông Tử Vi Lang nói là điệu Tây Giang Nguyệt). Ý Meta nói Tam Quốc có từ thời nhà Tấn, do Trần Thừa Tộ tức Trần Thọ viết. Đời Tống, Minh đều có thêm vào. Vương Thận viết thêm bài thơ này vào đời nhà Minh cùng với Lý Trác Ngô.
Xin lỗi những lẫn lộn.
Đăng nhập để trả lời
0
KIỀU LẨY


Đọc mãi, ngâm nga mãi truyện Kiều, người ta dần dần thuộc . Có nhiều người không hề biết chữ, nhất là các cụ bà ngày xưa, các anh lực điền, chỉ nghe lóm con cháu đọc mà vẫn thuộc truyện Kiều . Ngày xưa người ta có thói quen đọc lớn tiếng. Chính vì thế, trước mỗi tình huống trong đời sống, khi gặp điều gì phù hợp, người ta thường mượn vài câu Kiều cũng như đã từng mượn ca dao, tục ngữ để diễn đạt, phát biểu ý tưởng của mình . Vừa gọn , vừa vui lại có sức thuyết phục . Lời thánh hiền ai dám cãi . Lẩy Kiều từ dân gian, và từ duyên do đó khởi sinh .
Lẩy Kiều rất đơn giản, Chỉ có một luật là không được sửa đổi thơ nhưng được quyền ghép câu 1 với câu 200, câu 87 với câu 45 không cần theo thứ tự nào miễn sao cho có nghĩa thì thôi. Phức tạp hơn một chút thì người ta cắt xén câu lục bát thành ngũ ngôn, thất ngôn như:

Dám đem trần cấu dự vào bố
Mượn màu son phấn đánh lừa con

Nguyên văn :
Dám đem trần cấu dự vào bố kinh (câu 3104)
Mượn màu son phấn đánh lừa con đen (câu 1414)

Khen truyện Kiều là một áng văn bất hủ, một viên ngọc không tì vết, ta thường bảo :

- Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu.

Muốn nói truyện Kiều buồn , ta dùng câu :

- Rằng hay thì thật là hay
- Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào .

Người ta có thể lẩy Kiều bằng một câu lục, hoặc một câu bát như :

- Mừng thầm cờ đã đến tay
- Khen cho con mắt tinh đời
- Ra tuồng mèo mả gà đồng
- Mập mờ đánh lận con đen

Hoặc :

- Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao
- Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường
- Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa
- Chữ tài liền với chữ tai một vần

Giận cho cái vô liêm sỉ của ông già Nguyễn Cao Kỳ, người ta nói:

Bó thân về với triều đình,
Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu?
Áo xiêm ràng buộc lấy nhau,
Vào luồn ra cúi công hầu mà chi?

Cũng có thể lẩy Kiều bằng hai câu lục bát kế tiếp nhau :

- Mừng thầm cờ đã đến tay
Càng nhìn vẻ ngọc càng say khúc vàng
- Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già
- Ra tuồng mèo mả gà đồng
Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào
- Mập mờ đánh lận con đen
Bao nhiêu cũng bấy nhiêu tiền mất chi

Và :

- Tưởng bây giờ là bao giờ
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao
- Xưa nay trong đạo đàn bà
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đưo8`ng
- Dưới trần mấy mặt làng chơi
Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa
- Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần


Trong 3254 câu truyện Kiều, rất nhiều trường hợp ta có thể sử dụng để lẩy Kiều vào trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày . Đến khi lảy Kiều phát triển thành cắt ghép chữ trong câu (nhưng không được sửa đổi chữ) , ráp lại với nhau thì Lảy Kiều đã đạt được mức độ nghệ thuật vì phải sáng tạo, sao cho thoát hẳn ý truyện Kiều mà mô tả, hay diễn giảng những thứ không liên hệ gì đến Kiều hết . Ví dụ tả cái quạt, cái đèn cầy, cái mền ... Dưới đây là vài câu đố lảy Kiều :

Hỏi :
Truyện Kiều anh đã thuộc làu
Đố anh kể được hai câu hết Kiều
Đáp:
Trăm năm trong cõi người ta
Mua vui cũng được một và trống canh

Hỏi :
Truyện Kiều anh học đã thông
Đố anh kể được một câu năm người
Đáp :
Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

Còn một câu đố nữa :

Hỏi :
Truyện Kiều anh đã thuộc nhiều
Đố anh kể được truyện Kiều nghìn năm

Rất may là trong truyện Kiều có đúng mười lần chữ Trăm năm mà đã được cắt xén thành 22 câu nối va6`n được với nhau, trong đó có 20 câu gồm 10 lần lập lại chữ "trăm năm", cộng lại cả thảy là 1000 năm . Bài đó như sau :

"Trăm năm" trong cõi người ta
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Đã nguyền hai chữ đồng tâm
"Trăm năm" thề chẳng ôm cầm thuyền ai
Trót vì cầm đã bén dây
Chẳng "Trăm năm" cũng một ngày nước non
"Trăm năm" tính cuộc vuông tròn
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông
Tóc tơ căn vặn tấc lòng
"Trăm năm" tạc một chữ đo6`ng mới hay
Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay
Tiết "Trăm năm" nỡ mô,t ngày bỏ đi
Chỏ che đùm bọc thiếu gì
"Trăm năm" danh tiết cũng vì đêm nay
Rằng "Trăm năm" cũng từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi
Người đâu gặp gỡ làm chi
"Trăm năm" biết có duyên gì hay không
Lỡ làng nước đục bụi trong
"Trăm năm" giữ một tấm lòng với ai
Một nhà phúc lộc gồm hai
Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần

(Bài Truyện Kiều và Toán Học : "Con số 100", báo toán học và Tuổi Trẻ số 186 tháng 6 năm 1992 )
Trái với thơ Hồ Xuân Hương hoặc câu đố tục giảng thanh, truyện Kiều lại mang tính chất nói thanh giảng tục :

Kiều đi đái

Sè sè nấm đất bên đường
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Kim Trọng đi ỉa :

Khi tựa gối khi cúi đầu
Khi vò chín khúc khi chau đôi mày

Kiều có chửa :

Sớm đào tối mận lân la
Thất kinh nàng chửa biết là làm sao

CÂU ĐỐI TẬP KIỀU :

Dán vườn hoa :
- Dường gần rừng tía, dường xa bụi
- Khi xem hoa nở, khi chờ trăng

Dán cửa vườn:
- Sửa chốn thanh nhàn, có cây có đá sẵn
- Vui trông phong cảnh, khi thầy khi tớ xem

Mừng đám cưới :
- Gieo cầu đáng nơi, xuân lan thu cúc mặn mà cả
- Trao tơ phải lứa , trai tài gái sắc xuân đương vừa

Cháu khóc chú dượng:
- Giao loan chắp nối tơ thừa, một phút nào ngờ cô rước dượng
- Thu ba e nề sóng lệ, trăm tình nỡ để cháu nuôi con
(Cô chết trước, sau đó chồng cô cũng chết theo).

Viếng cụ Phan Chu Trinh :
- Cá chậu chim lồng chi bõ, gươm đàn nửa gánh . Chốc mười năm trời rộng bể khơi . Kể từ khi bước chân, trông vời cố quốc xiết bao, sẵn mối thương tâm, sau trước cười rằng tri kỷ mấy .
- Ve kêu vượn hót nào tày, tuyệt bút một thiên . Suốt năm canh mưa sầu gió thảm . Hãy còn nhiều nợ lắm, nặng mối oan gia sao đã, rớt thầm giọt lệ, xa xôi ai có thấu tình chăng .

Dán cửa vườn hoa nhà cô dâu :
- Tuyết điểm sương che, xuân lan thu cúc mặn mà cả
- Gió quang mây tạnh, thanh thiên bạch nhật rõ ràng .

Đề nhà cô dâu :
- Ngày xuân em hãy còn, còn non còn nước còn nhớ đến .
- Làng chơi ta phải biết, biết người biết mặt biết lòng sao .

THƠ VỊNH TẬP KIỀU :

Chiếc quạt giấy

Kiếp hồng nhan có mong manh
Liễu bồ mình giữ lấy mình cho hay
Nỗi lòng càng nghĩ càng cay
Nỗi đêm khép mở nỗi ngày riêng chung
Vì ai ngăn đón gió đông
Để lòng thì phụ tấm lòng với ai
Dẫu sao cũng ở tay người .

ooOoo

Cái máy hát

Chước đâu có chước lạ đời
Tay tiên một vẫy, đủ mười khúc ngâm
Giá đành tú khẩu cẩm tâm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

ooOoo

Cái nón

Trong khi ngộ biến tòng quyền
Nắng mưa đã biết mấy phen đổi dời
Công trình kể biết mấy mươi
Dẫu rằng xương trắng quê người quán đâu
Ai ai cũng đội trên đầu

ooOoo

Cái máng nước

Cúi đầu luồn xuống mái nhà
Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng
Một lòng chẳng quản mấy công
Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra
Trên vì nước dưới vì nhà

ooOoo

Chiếc chăn bông

Lửa hương chốc để lạnh lùng
Nào người tiếc lục tham hồng là ai
Gọi là đắp điếm lấy người
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm

ooOoo

Người đánh máy chữ

Tin nhạn vấn lá thơ bài
Cậy tay thầy thợ mượn người dò la
Tay tiên gió táp mưa sa
Một thiên tuyệt bút gọi là để sau

ooOoo

Thằng bồ nhìn

Nắng mưa thui thủi một thân
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng
Bốn bề bát ngát xa trông
Thuyền quyên ví biết anh hùng ra tay

ooOoo

Xe ô tô

Lạ gì một cốt một đồng
Khéo tay gặp gỡ cũng trong chuyến vần
Thênh thênh đường cái thanh vân
Một xe trong cõi hồng trần như bay

ooOoo

Máy bay

Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Hơn đời trí dũng nghiêng trời uy linh
Dầu lòng bể rộng thênh thênh
Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày
Ở đâu mà có trò này
Không dưng chi dễ mà bay đường trời

ooOoo

Cô gái soi gương

Một mình lặng ngắm bóng nga
Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng
Ngập ngừng thẹn lục e hồng
Hoa thơm phong nhị trăng vòng tròn gương

CÂU ĐỐ TẬP KIỀU :

Cái cân

Vâng lời khuyên giải thấp cao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn

ooOoo

Thợ nhuộm

Trót vì tay đã nhúng chàm
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời

ooOoo

Diều sáo

Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đinh ninh hai miệng một lời song song

ooOoo

Áo mưa

Mặc người mưa Sở mây Tần
Tuyết sương che chở cho thân cát đằng

ooOoo

Chó mực

Đêm ngày giữ mực giấu quanh
Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời

ooOoo

Cái gương

Cùng nhau trông mặt cả cười
Tình trong như đã mặt ngoài còn e

ooOoo

Cái máy nước

Trên vì nước dưới vì nhà
Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng
Nhìn càng lã chã giọt hồng
Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra

ooOoo

Người mù

Tưởng bây giờ là bao giờ
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao
Trông ra nào thấy đâu nào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không

ooOoo

Cuối cùng là bạn Tiffanyle của Hoa Sơn kiếm phái :

Ðèn cầy ... đêm ... black out - cúp điện :

Rõ ràng, trong ngọc trắng ngà
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài
Một mình âm ỉ canh chầy
Ðoạn trường cho hết kiếp này mới thôi

ooOoo

Ðòi nợ khéo:

Nhớ lời hẹn những bao giờ
Ðào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh
Xa xôi ai có thấu tình
Chúa xuân để tội 1 mình cho hoa

ooOoo

Đánh rắm :

Trông theo nào thấy đâu nào
Hương thừa nhường vẫn ra vào đâu đây

ooOoo

Có bầu :

Xin chàng liệu kíp lại nhà
Thất kinh nàng chửa ... biết là làm sao

ooOoo

Đái :

Sè sè ... nắm đất bên đường
Dàu dàu ngọn cỏ ..nửa vàng nửa xanh

Bạn Codon68 cũng thuộc Hoa Sơn kiếm phái :

Lòng dạ người "vợ trẻ ..."

Ðêm ngày lòng những dặn lòng
Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe
Rằng "tôi chút dạ "dầy" đàn bà
Sạch sành sanh vét cho dầy túi tham

ooOoo

Nàng "Kiều" flushing the toilet after task done --

Long lanh đáy nước in trời
Bốn bề xuân khoá một nàng ở trong
Sông hồ nửa khép cành mây
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình
Buồn trông ngọn nuớc mới sa
Tuyệt mù nào thấy "bóng hồng" vào ra


Tới đây Meta cùng các bạn đã đọc hết từ Hát Nói, Câu Đối, Phú, Văn Tế và lẩy Kiều vốn là những áng văn học Việt Nam ngày càng mai một . Hãy trân trọng lấy những gì chúng ta vừa lĩnh hội . Chúng ta đang sống ở xứ người mà mọi phương tiện học hỏi về văn hóa Việt rất hạn chế , dù rằng chúng ta đang sống trong thời đại thông tin . Văn minh tin học Âu Mỹ nào đoái hoài đến văn học Việt Nam chúng ta . Chúng ta không tham vọng học để trở nên học giả mà chúng ta gìn vàng giữ ngọc cho con cháu chúng ta vậy . Sau này lũ trẻ hải ngoại còn có cái mà hãnh diện.

Kim Đao Metamorph



Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-23 03:26:46meta4954>
Câu đối Tết.


Nhận lời anh Kim Bảng viết một bài với chủ đề Xuân mà không phải thể loại truyện ngắn, Meta cũng thấy ngài ngại làm sao ấy .

- Cứ việc gác cái truyện ngắn ấy đi . Số Xuân cần kíp hơn . Viết cho tôi xong số Xuân này thì tiếp tục viết tiếp truyện ấy cũng được .

Vừa mới thành hình một truyện ngắn với dàn dựng về tình tiết cũng như nhân vật công phu, Meta cụt hứng ngay khi anh Kim Bảng nói thế . Làm thế nào để viết một bài về số Xuân mà không phải là truyện ngắn hay thơ , là công việc Meta đã quen ? Về biên khảo có cần thiết không khi mỗi một mùa Xuân, thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng , tràng pháo, hạt dưa hồng, bánh mứt, câu đối, lì xì, các sòng bầu cua lề đường, hàng năm được nhắc đến, được mọi ấn phẩm Xuân xào đi nấu lại ? Làm thế nào tránh nhàm chán, nói mãi về những thứ mà chúng ta, những người hơn mấy mươi lần nhận hay cho phong bao lì xì , đều biết rõ ? Đề tài về con giáp tương đối đỡ nhàm chán vì cứ 12 năm ta mới phải lập lại những chuyện phiếm về 1 con giáp . Tỷ dụ, năm nay là năm Quý Mùi . Nói về con dê mà chúng ta đã đọc từ 12 năm trước kể cũng hãy còn thú vị . Nhưng khổ lắm, Meta đâu có rành về thập can, mỗi can mang ý nghĩa tử vi như thế nào ? Con dê ảnh hưởng ra sao với sự hanh thông, bỉ cực đối với mỗi cá nhân, với tiền đồ đất nước trong suốt năm mới . Mà cho dù nói về tất cả những đề tài ấy , ta cũng không thể sáng tác, chỉ biên khảo thôi . Vì chưng, bánh chưng mỗi năm vẫn gói như thế, công đoạn bổ củi, sắp vô nồi, canh củi lửa vẫn như thế . Pháo mỗi năm cũng vẫn nổ như thế, có thay đổi gì đâu mà sáng tác . Huống gì trong nước cũng như ngoài nước , tiếng pháo không còn đì đẹt mỗi độ Xuân về nữa . Người ta cấm .

Đến đây chắc bạn đọc đã thấy nản . "Thế thì còn chó gì nữa mà nói ". Không hẳn vậy . Là kẻ sống lâu năm nơi xứ người, Meta có dịp so sánh giữa hai nền văn hoá Đông và Tây . Luân lý cương thường Á Đông chúng ta thường hoằng dương công đức người trên trước . Ra đường phải vòng tay chào người lớn tuổi để tỏ ý kính trọng . Chúng ta có bàn thờ cúng giỗ ông bà, cha mẹ, tổ tiên không những trong ngày giỗ, đám cưới, ngày Tết mà trong mọi tôn giáo đều có ngày tưởng nhớ đến ông bà tổ tiên nữa . Đặc biệt đạo Phật có ngày lễ gọi là Bông Hồng Cài Áo, ngày của mẹ . Đạo Thiên Chúa có tháng Đức Mẹ, hay gọi là tháng hoa tôn sùng Đức Mẹ, tượng trưng 1 hiền mẫu .

Tây phương thì khác hẳn, họ lưu tâm đến thế hệ sau nhiều hơn chúng ta . Trong xã hội trẻ em được hưởng mọi quyền ưu tiên về mọi mặt từ luật pháp, tiện nghi xã hội , bình đẳng nhân phẩm ... Trẻ em thực sự có mọi quyền như người lớn, được bày tỏ và được tôn trọng ý kiến riêng chứ không "Ôi dào, trẻ con nói lăng nhăng biết đâu mà chiều " . Qua đường, trẻ em được quyền ngăn cản xe cộ , ngay cả khi xe đưa rước các em ngừng lại, mọi xe cộ bất luận xuôi hay ngược chiều, phải ngừng theo . Hàng năm ngân sách chi tiêu về giáo dục, về giải trí cho các em ở Tây Phương vượt trội con số khiêm nhừng của các nước Á Đông chúng ta, không phải tính theo con số mà là tính theo tỷ lệ mức chi phó đối với những chi tiêu khác . Có nước Á Đông nào có những cửa hàng đồ chơi với quy mô toàn thế giới như Toy R Us, những kỹ nghệ chế tạo đồ chơi khổng lồ như Mattel, Barbie, Nintendo, Play Station ... những chỗ như Disney World, Disney Land, Sea World hàng năm thu hút nhiều tỷ bạc . Qua đây chúng ta vui vẻ chấp nhận ngay . Đánh đổi nụ cười con trẻ trong 1 đất nước tương đối kiếm ra tiền dễ, chà credit card, ký check hay móc túi bao nhiêu cũng chả sao . Phải không ?

Vậy thì đừng cằn nhằn cử nhử nhàm chán nữa nhé ! Meta viết về Xuân mà mỗi năm ai trong chúng ta cũng đã từng đọc qua, không phải để các bạn thưởng thức . Viết cho con em chúng ta đọc để hiểu biết hương vị Tết ở quê hương, nơi chúng không được vinh hạnh sanh ở đấy, ăn được hạt cơm thấm đậm nhọc nhằn mà cũng thấm đậm tình, tình mẹ, tình quê và biết bao thứ tình khác không thấy có trên xứ này . Meta viết về thú chơi câu đối Tết của các cụ ngày xưa , cho các em đọc .



Xin lược sơ qua về phép làm câu đối, trước khi vào phần thưởng thức các câu đối trứ danh kim cổ .

Câu đối là những câu văn đi đôi với nhau . Câu đối gồm 2 câu gọi là vế . Khi tự mình làm cả 2 câu, ta gọi vế trên, vế dưới . Khi mình ra câu đối để thách đố người khác đối lại, ta gọi vế ra và vế đối .

Những câu đối ngắn từ 1 đến 3 chữ gọi là tiểu đối . Từ 4 đến 8 chữ gọi là đối thơ . Từ 9 chữ trở lên gọi là phú .

Về luật bằng trắc thì mỗi chữ tương xứng của 2 vế, chữ này bằng thì chữ kia trắc và ngược lại . Ví dụ :

-Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại ---------------- Vế trên .
-Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có 1 ngươi thôi -------- Vế dưới .

Ta thấy lẽ ra "cung" là bằng thì "rồng" là câu tương xứng ở vế dưới tại sao lại không là trắc ? Cũng vậy, "thiên" ở trên và "anh" ở dưới cùng vần bằng . sao vậy ? Xin thưa :Như chúng ta biết, Đường Thi là 1 thể thơ rất chú trọng đến đối , đặc biệt là 2 câu 3, 4 và 5, 6 . Theo phép đối hễ chữ trên bằng thì chữ dưới phải là trắc nhưng để tránh vấn đề câu nệ vào phép tắc quá sẽ mất tính thơ cho nên còn có luật :

Nhất tam ngũ bất luận .
Nhị tứ lục phân minh .

Nghĩa là chữ thứ 1,3 và 5 thì không cần luật bằng trắc chặt chẽ (có càng tốt, không có chả sao) nhưng chữ thứ 2,4 và 6 thì bắt buộc chữ trên bằng thì chữ dưới là trắc hoặc ngược lại, chữ trên trắc thì chữ dưới bằng . Câu dài hơn 6 chữ thì chỉ chữ chẵn là phải đối về bằng trắc thôi . Ấy là Đường Thi . Câu đối cũng dùng qui luật này . Coi lại câu trên, ta thấy : "kiếm" là chữ thứ 2, trắc, đối với "mây" chữ thứ 2, bằng ; "tay" đối với "hội", "hạ" đối với "hùng", "dồn" đối với "có" v.v... Rõ phần này rồi chứ ?

Ngoài luật bằng trắc, 1 câu đối còn phải "chỉnh" và "cân" nữa .

Chỉnh là đều nhau, bằng nhau . Danh từ phải đối với danh từ, đông từ phải đối với đông từ, tĩnh từ phải đối với tĩnh từ . Riêng tĩnh từ cũng có nhiều loại, chữ gợi hình phải đối với chữ gợi hình, ví dụ "xanh" phải đối với "đỏ", "cóc tía" phải đối với "trời xanh" ... chữ tượng thanh phải đối với chữ tượng thanh , ví dụ "róc rách" phải đối với "rì rào" ... Trạng từ như "lanh chanh" phải đối với trạng từ "chộn rộn" ... Đừng quên vừa đối từ vừa đối bằng trắc nhé .

Cân nghĩa là chữ nặng phải đối nặng, chữ nhẹ phải đối nhẹ cho xứng . Ví dụ : sắc đối với sắc . Vị đối với vị . Số đối với số . Chữ Hán đối với chữ Hán . Mùa đối với mùa . Thành ngữ đối với thành ngữ . Chuyên ngữ đối với chuyên ngữ (bính với ất, càn với khôn, sửu với hợi ...)

Tạm xong phần luật về câu đối . Bây giờ sang phần điểm qua các câu đối Tết của các danh sĩ xưa nay . Bbắt đầu là câu đối quen thuộc ai cũng biết .

- Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
- Nêu cao tràng pháo bánh chưng xanh

Tết Việt Nam luôn có thịt kho tàu, dưa hành muối chua , câu đối đỏ . Câu đối thì bất kể nhà sang hèn cũng phải có câu đối viết bằng giấy đỏ dán trước cửa hoặc 2 bên bàn thờ ông bà, vế trên dán hoặc treo bên trái, vế dưới bên phải . Trái với Việt ngữ thông thường, câu đối được viết dọc bất kể Hán hay Việt , Hán thì mỗi chữ 1 dòng rồi xuống hàng đến chữ khác, Việt thì một mẫu tự 1 hàng . Ngày xưa, mỗi làng phải chè xôi đến tận nhà ông đồ hoặc kẻ thạo chữ Nho để xin thày câu đối, sau này người ta viết sẵn mang ra chợ bán, ai ưng câu nào mua câu nấy, lắm khi chả cần biết đến ý nghĩa của nó . Thỉnh thoảng, ta lại thấy hình ảnh 1 ông đồ già, ngồi khom lưng trên chiếc chiếu bên lề đường, viết chữ Nho tại chỗ cho khách du xuân mua về, giống như hình ảnh ông đồ già trong bài thơ của Vũ Đình Liên, mà thuở nào xa xưa lắm, chúng ta ai cũng từng đọc . Xin các bạn đọc lại bài thơ này ở cuối bài viết này .

Vế dưới câu đối này, có người còn đọc :"Nêu cao, pháo nổ" thay vào 4 chữ :"Cây nêu, tràng pháo" . Đọc như thế không được chỉnh, vì cao là tĩnh từ, nổ là động từ mà đối với 2 danh từ mỡ, hành thì không được chỉnh .
Tuy nhiên phép làm câu đối thì nêu cao pháo nổ cũng được . Vì nếu như thế, thịt mỡ đối với dưa hành, nêu cao đối với pháo nổ . Phép đối chữ ngay trong 1 câu ta gọi là tiểu đối .

Trong nhiều câu đối Hán văn ta thường thấy loại tiểu đối ấy . Trường hợp này, vế trên không đối với vế dưới mà là các nhóm chữ trong câu , đối với nhau . Ví dụ nhé :

Ký phu

Phu thú biên quan, thiếp tại Ngô
Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu
Nhất hàng thư tín, thiên hàng lệ
Hàn đáo quân biên, y đáo vô

Nguyên tác của Trần Ngọc Lan, được Tương Như dịch như sau :

Chồng trấn Tây Cương, thiếp ở Đông
Gió tây lạnh thiếp, thiếp thương chồng
Một dòng thư gửi, nghìn giọt lệ
Rét đến bên chàng, áo đến không ?

Bài này nhóm chữ trước dấu phẩy đối với nhóm chũ sau dấu phẩy trong mỗi câu . Bạn hiểu thế nào là tiểu đối rồi chứ .

Bây giờ nếu mỗi câu đối lại cắt nghĩa , bình giải thì dài dòng quá . Câu đối trên chỉ nhằm mục đích giúp cho bạn biết về "chỉnh" và "cân" , là những yếu tố làm cho câu đối trở nên hay mà thôi . Sau đây là những câu đối Tết mà meta thiết tưởng không cần bình giải nữa, bạn đã biết rõ quy luật rồi .

Câu đối 2:

- Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
- Nhân tình trắng thế lại bôi vôi

Câu đối 3:

- Ai nấy dại vô cùng, pháo pháo, nêu nêu kinh những quỷ
- Ta nay nhàn bất trị, chè chè, rượu rượu sướng bằng tiên

Câu đối 4 :

- Thiên hạ dại vô cùng, pháo nổ đì đùng thêm mất chó
- Ông nay khôn bất trị, rượu say luý tuý lại nằm mèo

Câu đối 5:

-Tối ba mươi khép cửa càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỉ tới
- Sáng mồng một lỏng then tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào

Câu đối 6 :

- Chiều ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra khỏi cửa
- Sáng mồng một rượu say luý tuý, giang tay bồng ông phúc vào nhà

Câu đối 7:

- Bật cần nêu đem mới lại cho mau,già, trẻ, gái, giai đều sướng kiếp
- Đùng tiếng trúc đuổi cũ đi đã đáng, cỏ hoa, non, nước cũng mừng xuân

Câu đối 8:

- Không dưng xuân đến chơi nhà tớ
-Có nhẽ trời nào đóng cửa ai

Câu đối 9:

- Tối ba mươi nợ réo tít mù, ấy mới Tết
- Sáng mồng một rượu tràn quí tị, ái chà xuân

Câu đối 10 :

- Nợ có chết ai đâu đòi mà chi, giả mà chi, cha Tết
- Trời để sống lâu mãi tiền cũng có, bạc cũng có, mẹ đời

Câu đối 11 :

- Có là bao ! Ba vạn sáu ngàn ngày, được trăm bận Tết
- Ước gì nhỉ ! Một năm mười hai tháng, cả bốn mùa xuân

Câu đối 12 :

- Chiều ba mươi công nợ rối canh tân, ước những mười năm dồn lại một
- Sớm mồng một rượu chè tràn quí tị, trông cho ba bữa hoá ra mười

Câu đối 13 :

- Tết có gì cũng viết hoài viết soài, cũng chữ loài, rửng với họ ra điều học hiệc
- Xuân thì chơi nào câu đối câu điếc, , nào pháo phiếc, chán cho đời những sự Tết tung

Câu đối 14 :

- Xuân mới gọi là xuân : xuân thiều quang thục úc (1), xuân xướng mậu huyên hoà (2), ai chẳng mong xuân mãi để vui đời . Kìa xem nơi kia đinh, nơi nọ đáo, nơi ấy điếm đua cờ người, kéo hội, bắt chạch, gieo đu . Xuân năm ngoái vui lắm, năm nay lại vui ghê, muốn xuân mãi để nhẩn nha ngày tháng Bụt .
- Tuổi cũng thì là tuổi : tuổi phú quí vinh hoa, tuổi công danh sự nghiệp, ai chẳng muốn tuổi dài cho sướng kiếp . Nhưng mà ngày nay cờ, ngày mai bạc, ngày kia chè rượu, quay đất, bài phu, tổ tôm, sóc đĩa . Tuổi ngày trước dại vừa, ngày rày còn dại mãi, nhiều tuổi chi cho tổn ải nước non Trời .

(Phạm Thái)

(1) Thiều quang thục úc : bóng sáng đầm ấm .
(2) Xướng mậu huyên hoà : nảy nở ấm áp tốt tươi .

Câu đối 15 :

- Người ta năm Bính Dần, đầu tháng mười hai tiết tân xuân, trời ấy mũi hẳn to bằng súng . Như xuân thế một năm hầu dễ mấy , lạc thú kia nên náo nức mấy ai ơi ! Sợ con sồng sộc kíp theo chân (1), đua thanh sắc để nhắn nhe nơi thành thị . Hơn hớn lấy tính tình vui với cảnh, sống chơi dai cho khỏng khảnh dáng trần gian .
- Mình ta tuổi Đinh Dậu, năm nay ba chục chừng nhi lập (2), nghĩ mình đầu đã lớn tầy giành . Ví thân này nửa kiếp đã hầu qua , phù sinh ấy khéo buồn tênh thay mình nhỉ ! Giận cái long đong làm dở phận, không thanh danh cho lừng lẫy áng bang gia (3) . Khư khư ôm vinh nhục những căm Trời, chết chôn kỹ kẻo vẩn vơ hồn hoạn thế .

(Phạm Thái)

(1) Câu này do : cái già sồng sộc nó thì theo chân .
(2) Tam thập nhi lập là 30 tuổi thì lập gia đình . Luận ngữ cu/a Khổng Tử .
(3) Áng bang gia : nền nước nhà .



Câu đối Tết của chí sĩ Hà Sĩ Phu năm 1999 .(Kỷ mão sang Canh thìn)

Câu đối 1:

- Tết đã khép hai mươi thế Kỷ, dựng Nêu cao cho Quỷ kế lùi xa!
- Xuân còn mong một cuộc tân Canh, khai Bút thép mừng Nhân quyền tiến tới!

Câu đối 2:

- Nhân loại khép hai mươi thế Kỷ, mỗi Nụ xuân cũng thắp sáng Nhân quyền, thời Tin học: Địa cầu thu nhỏ lại!
- Nước nhà mong một cuộc tân Canh, ngàn Nêu tết cùng đẩy lùi Quỷ kế, buổi Thị trường: Nhân trí mở mang ra!

Câu đối 3:

- Hoà nhập chẳng hoà tan ý chí: giữ tự do, giữ độc lập tư duy, đem Trí tuệ đón thiên niên Kỷ mới!
- Đổi mới không đổi màu dân tộc: hãy trung thực, hãy khoan hoà ứng xử, mở Tấm lòng chào một cuộc Canh tân!

Câu đối 4 (dán trước ổ Quốc nạn):

- Mèo trắng mèo đen già hoá Cáo, Cáo trạng còn ghi!
- Rồng vàng rồng bạc khoái lên Tiên, Tiên nâu thì khổ!

Đây là vài câu đối của Metamorph, trong đó người ta đòi hỏi phải có chữ Hùng Vương và Lạc Việt :

Dâng nén nhang nhớ công đức Hùng Vương dựng nước
Nhỏ dòng châu khóc nỗi lòng Lạc Việt lưu đầy

Câu nữa cũng của Metamorph, theo thể lệ trên, nghĩa là phải có chữ Hùng Vương ở vế trên, Lạc Việt ở vế dưới, nhung với ý nghĩa khác, dùng thuật chơi chữ :

Sầu quốc phá bao năm, trĩu mắt "vương", lệ anh "hùng vương" vấn.
Hận gia vong bấy thuở, mỏi chân "lạc", bước con "việt lạc" loài.

Tất cả những câu đối trên không rõ xuất xứ . Câu đối 2 của Trần kế Xương, câu đối 4 của cụ Nguyễn Khuyến, câu 6 của Nguyễn Công Trứ . Còn thì Meta không rõ xuất xứ nên để trống . Bạn nào biết xin chỉ giáo . Mời các bạn, bút nghiên bày ra, thảo vài câu gọi là tìm lại thú vui thanh tao của các cụ ngày xưa . Đừng quên nhắp chút rượu cay tiễn đưa năm cũ, chào mừng xuân mới .

Kim Đao Metamorph .
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-15 08:59:58Ngọc Lý>
.

Nhân dịp bàn về Nguyễn Du, tập Kiều và lẩy Kiều, Ngọc Lý mời các bạn đọc lại loạt bài biên khảo rất giá trị này của KimDao Metamorph, viết về cách soạn Hát Nói, Phú, Văn Tế, Tập Kiều, Câu Đối, để chúng ta giữ gìn giá trị văn chương truyền thống Việt, trải bao dâu bể.

Trích đoạn: meta4954


Dâng nén nhang nhớ công đức Hùng Vương dựng nước
Nhỏ dòng châu khóc nỗi lòng Lạc Việt lưu đầy


Sầu quốc phá bao năm, trĩu mắt "vương", lệ anh "hùng vương" vấn.
Hận gia vong bấy thuở, mỏi chân "lạc", bước con "Việt lạc" loài.

Kim Đao Metamorph




Đồng thời, Ngọc Lý xin được chép lại vào đây một tác phẩm cũng rất nổi tiếng của Nguyễn Du, chan chứa tình người Việt, và nhất là trong những ngày tháng bảy của hiện tại, không khỏi làm chúng ta ngậm ngùi.

Mời tất cả các bạn hãy cùng thắp nén hương trầm, lắng lòng, đọc lại bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh này, mà hãy nhớ đến bao nhiêu kiếp người đã đau khổ triền miên trên đất nước chúng ta.

Hãy cùng nhau làm cho khác đi, và đừng để những sai lầm tiếp tục nữa.

Nguyễn Du

Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh


Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Não ngườI thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng...

Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh...
Thương thay thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

Hương lửa đã không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên...
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ độ về tây phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những lăm cất gámh non sông
Nói chi những buổi tranh hùng
Tưởngn khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở
Khôn đem mình làm đứa thất phu
Giàu sang càng nặng oán thù
Máu tươi lai láng xương khô rụng rời

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy mình cung quế Hằng Nga,
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy
Phận đã đành trâm gãy bìng rơi
Khi sao đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đau đớn nhẽ không hương không khói
Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.
Thương thay chân yếu tay mềm
Càng năm càng héo một đêm một dài.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay
Kinh luân găm một túi đầy
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh
Ngàn vàn khôn đổi được mình
Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
Cô hồn thất thểu dọc ngang
Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh?

Kìa những kẻ bài binh bố trận
Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió mưa sấm sét đùng đùng
Phơi thây trăm họ nên công một người.

Khi thất thế tên rơi đạn lạc
Bãi sa trường thịt nát máu rơi
Mênh mông góc bể chân trời
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn
Ruột rà khôngkẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
Của phù vân dẫu có như không
Sống thời tiền chảy bạc ròng
Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm
Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy
Dẫn mình vào thành thị lân la
Mấy thu lìa cửa lìa nhà
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

Dọc hàng qúan gặp tuần mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông
Gặp cơn giông tố giữa dòng
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán
Đòn gánh tre chín dạn hai vai
Gặp cơn mưa nắng giữa trời
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước khe cơm vắt gian nan
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành đạn lạc tên rơi
Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương thay cũng một kiếp người
Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi mình vào chiếu rách một manh
Nắm xương chôn rấp góc thành
Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bế xót xa
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối
Cũng có người sẩy cối sa cây
Có người leo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người hay đẻ không nuôi
Có người sa sẩy có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc là nương ngọn suối chân mây
Hoặc là điếm cỏ bóng cây
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

Hoặc là nương thần từ Phật tự
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không
Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

Sống đã chịu một bề thảm thiết
Ruột héo khô dạ rét căm căm
Dãi dầu trong mấy mươi năm
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi thôi bồng trẻ dắt già
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển pháp luân tam giới thập phương
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng:"Vạn cảnh giai không"
Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của có khi bát cháo nén nhang
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đây dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ
Phép thiên biến ít thành nhiều
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài


Nguồn: www.ttvnol.com
Được bạn: Thái Nhi đưa lên
vào ngày: 3 tháng 12 năm 2004


Hiện tại và tương lai đang ở trong tay chúng ta.
Sao cho trăm năm sau con cháu chúng ta không phải còn tiếp tục đọc bài Văn Tế này mà vẫn thấy quá đúng với thực tại. [:(]

Hãy đừng để sau này chính chúng ta phải tiếc hối và mang tội với tổ tiên dân tộc vì:

Ma đưa lối, quỷ đưa đường
Lại tìm những lối đoạn trường mà đi.



[:(]


Ngọc Lý

.
Đăng nhập để trả lời
0
Xin mang lại bài của Ngọc Lý chép vào đây, ngày 15/8/2006 hay Rằm Tháng Bảy năm Nhâm Tuất
-----

Nhân dịp bàn về Nguyễn Du, tập Kiều và lẩy Kiều, Ngọc Lý mời các bạn đọc lại loạt bài biên khảo rất giá trị này của KimDao Metamorph, viết về cách soạn Hát Nói, Phú, Văn Tế, Tập Kiều, Câu Đối, để chúng ta giữ gìn giá trị văn chương truyền thống Việt, trải bao dâu bể.

quote:

Trích đoạn: meta4954


Dâng nén nhang nhớ công đức Hùng Vương dựng nước
Nhỏ dòng châu khóc nỗi lòng Lạc Việt lưu đầy


Sầu quốc phá bao năm, trĩu mắt "vương", lệ anh "hùng vương" vấn.
Hận gia vong bấy thuở, mỏi chân "lạc", bước con "Việt lạc" loài.

Kim Đao Metamorph




Đồng thời, Ngọc Lý xin được chép lại vào đây một tác phẩm cũng rất nổi tiếng của Nguyễn Du, chan chứa tình người Việt, và nhất là trong những ngày tháng bảy của hiện tại, không khỏi làm chúng ta ngậm ngùi.

Mời tất cả các bạn hãy cùng thắp nén hương trầm, lắng lòng, đọc lại bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh này, mà hãy nhớ đến bao nhiêu kiếp người đã đau khổ triền miên trên đất nước chúng ta.

Hãy cùng nhau làm cho khác đi, và đừng để những sai lầm tiếp tục nữa.

Nguyễn Du

Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh


Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô
Não ngườI thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng...

Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh...
Thương thay thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người

Hương lửa đã không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên...
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hèn ai ngu!

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ độ về tây phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những lăm cất gámh non sông
Nói chi những buổi tranh hùng
Tưởngn khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở
Khôn đem mình làm đứa thất phu
Giàu sang càng nặng oán thù
Máu tươi lai láng xương khô rụng rời

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy mình cung quế Hằng Nga,
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy
Phận đã đành trâm gãy bìng rơi
Khi sao đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đau đớn nhẽ không hương không khói
Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.
Thương thay chân yếu tay mềm
Càng năm càng héo một đêm một dài.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay
Kinh luân găm một túi đầy
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh
Ngàn vàn khôn đổi được mình
Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
Cô hồn thất thểu dọc ngang
Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh?

Kìa những kẻ bài binh bố trận
Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió mưa sấm sét đùng đùng
Phơi thây trăm họ nên công một người.

Khi thất thế tên rơi đạn lạc
Bãi sa trường thịt nát máu rơi
Mênh mông góc bể chân trời
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn
Ruột rà khôngkẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
Của phù vân dẫu có như không
Sống thời tiền chảy bạc ròng
Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm
Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy
Dẫn mình vào thành thị lân la
Mấy thu lìa cửa lìa nhà
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

Dọc hàng qúan gặp tuần mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông
Gặp cơn giông tố giữa dòng
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán
Đòn gánh tre chín dạn hai vai
Gặp cơn mưa nắng giữa trời
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước khe cơm vắt gian nan
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành đạn lạc tên rơi
Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương thay cũng một kiếp người
Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi mình vào chiếu rách một manh
Nắm xương chôn rấp góc thành
Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bế xót xa
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối
Cũng có người sẩy cối sa cây
Có người leo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người hay đẻ không nuôi
Có người sa sẩy có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc là nương ngọn suối chân mây
Hoặc là điếm cỏ bóng cây
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ

Hoặc là nương thần từ Phật tự
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không
Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre

Sống đã chịu một bề thảm thiết
Ruột héo khô dạ rét căm căm
Dãi dầu trong mấy mươi năm
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi thôi bồng trẻ dắt già
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ độ u
Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển pháp luân tam giới thập phương
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng:"Vạn cảnh giai không"
Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của có khi bát cháo nén nhang
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đây dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ
Phép thiên biến ít thành nhiều
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài


Nguồn: www.ttvnol.com
Được bạn: Thái Nhi đưa lên
vào ngày: 3 tháng 12 năm 2004


Hiện tại và tương lai đang ở trong tay chúng ta.
Sao cho trăm năm sau con cháu chúng ta không phải còn tiếp tục đọc bài Văn Tế này mà vẫn thấy quá đúng với thực tại.

Hãy đừng để sau này chính chúng ta phải tiếc hối và mang tội với tổ tiên dân tộc vì:

Ma đưa lối, quỷ đưa đường
Lại tìm những lối đoạn trường mà đi.





Ngọc Lý

http://VoiceofVietnameseAmericans.blogspot.com
Đăng nhập để trả lời
0