📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

"Lần cuối tôi gặp mẹ" 🔒

4 trả lời, 1.090 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-05 03:49:02Chuột lắc>
Chào các bạn. Chi có cuốn "Lần cuối tôi gặp mẹ", đã gõ được vài chương. Gửi mọi người cùng xem nhé.
Nếu bạn nào có thời gian, ngồi đọc lại bản text giúp mình nhé. Chi chưa đọc lại text kiểm tra chính ta. Thanks.

Truyện sẽ được dời qua box Hiệu đính sau khi thuychi hoàn tất đăng bài
Thuỳ Chi
0
Arlene J Chai
Lần cuối tôi gặp mẹ
Người dịch Nguyễn Thanh Tâm

Tôi viết cuốn sách này vì đây là sự thật. Và tôi e rằng nó sẽ lại bị đánh mất hoặc che đậy như bốn mươi năm qua. Vì thế tôi đang cho nó được hiển hiện. Giấy trắng mực đen ghi lại chuyền đời rất thực. Mọi lời ghi ra trên giấy muốn nói lên một điều: “Nó đã thực sự xảy ra như vậy". Chứ không phải là những lời nói gió bay.
Tôi viết cuốn sách này để cuối cùng tôi có thể làm mẹ tôi được an nghỉ thảnh thơi. Vì mẹ vẫn đang tiếp tục sống trong tôi.
Tôi cũng viết cuốn sách này cũng vì Marla, con gái tôi, con bé vẫn thường nhìn tôi với đôi mắt băn khoăn. Ðây cũng là câu chuyện của nó nữa.
Tôi còn viết vì chồng tôi, anh Jaime. Có lẽ anh sẽ đọc được trong những trang sách này bức thông điệp từ biết bao năm câm lặng trong cuộc đời tôi.
Nhưng hơn hết, tôi viết để làm cho quá khứ trong tôi được bình yên vì ở đó vẫn còn nhiều điều đến giờ tôi vẫn chưa lý giải nổi. Chấp nhận quá khứ thì cuối cùng tôi sẽ bình tâm mà tiếp tục sống. Trước khi được biết về những gì tôi sẽ kể ra đây, tôi đã có một cuộc sống đầy những hoài nghi. Có lẽ bạn sẽ cảm nhận được cảm giác này, khi bạn bị bao bọc bởi một bức màn đen mà tất cả những gì bạn có thể nhìn được thế giới bên ngoài chỉ là ánh sáng lọt qua các lỗ kim châm bé tí xíu và bạn chờ đợi lúc tấm màn được vén lên để bạn có được câu trả lời cho tất cả.
Ðây là câu chuyện kể lại bằng cách nào tôi đã tìm thấy câu trả lời đó. Ðó là qua những câu chuyện của ba người phụ nữ. Xin đừng phán xét họ một cách khắc nghiệt vì họ chính là một phần của tôi. Biết đâu chính bạn cũng sẽ thấy một phần của mình trong họ. Suy cho cùng, phải chăng ai trong chúng ta cũng có một phần của mình trong cuộc đời người khác?

Thuỳ Chi
0
Caridad
“Tôi được mẹ gọi về”
Mẹ tôi chưa bao giờ viết thư cả. Thế nên hôm đó khi thư đến, tôi không nghĩ lại nhận được một lá thư của mẹ. Không có điều gì báo trước.
Cả buổi sáng hôm đó tôi loanh quanh chạy trốn khỏi đống bài vở ghi chép tối quá tại trường Ðại học TAFE. Tôi đang theo học kỳ thứ hai, khoá về du lịch, tôi hy vọng nó sẽ đưa tôi đến một công việc mới.
Khoảng mười một giờ tôi đã hết sạch việc để làm. Bên ngoài, những cái tời kẽo kẹt khi nó đung đưa trong gió, như cái chong chóng thời tiết khổng lồ bị kẹt trên một mái nhờ rộng lớn, bằng phẳng và rêu phong. Một cơn gió nam thổi mạnh tới và quần áo đang phơi bay tung lên điên cuồng, tạo nên những tiếng phần phật. Mới được một chốc từ lúc tôi đem phơi chúng, cẩn thận lồng mắc áo vào từng chiếc áo, kẹp những ống quần cho ngay ngắn khiến chúng đung đưa trông giống như một dãy người đứng chổng đầu xuống đất, chỉ có mỗi phần thân, còn cánh tay và đầu bị một bàn tay vô hình chặt bỏ. Tất cả đã gần khô rồi.
Dãy chậu cây cảnh xếp dọc sân đã được tưới tắm và chăm bón. Mạng nhện do vài con nhện miệt mài chăng tơ từ chiếc lá này sang lá khác như đăng ten đã bị quét sạch. Cả đến cái túi đựng khoai tây chiên mà thằng bé mũm mĩm nhà bên vứt qua hàng rào cũng đã được nhặt cho vào thùng rác trong bếp.
Ba chiếc cốc đã uống hết cà phê đặt trong bồn rửa bát và một chiếc thìa cà phê nằm dưới đáy mỗi chiếc cốc. Uống nốt một cốc cuối cùng và tôi tự hứa sẽ ngồi xuống học. Chồng giấy tờ được xếp ngay ngắn ở đầu kia của tủ bếp đang nhìn tôi trách móc. Tôi dốc nốt những giọt sữa cuối cùng trong hộp giấy ra. Không còn đủ sữa. Cốc nước vẫn giữ một mầu nâu sẫm. Tôi nhấp một ngụm. Rồi đổ phần còn lại vào bồn.
Dòng chữa Du lịch trên nước úc được tôi viết nắn nót ở trang đầu tiên. Tôi cúi xuống gần hơn xem mình đã viết từng chữa ra sao. Các chữ f, chữ p và chữ y không có đuôi. Các chữ b, I và t của tôi đều khép vòng hoàn chỉnh.
“Bạn là người sống nội tâm và hay giữ kẽ. Bạn còn thuộc loại người nhất định hoàn thành công việc nếu đã bắt đầu… Ðó là điều mà nét chữ của bạn thể hiện”, một người bạn học cũ thời đại học của tôi học đòi cách phán đoán về những điều thầm kín riêng tư kiểu như phân tích chữ viết đã nói với tôi như vậy khi trở về Manila. Giờ đây bắt đầu được là cả một vấn đề.
- Mẹ hay thôi quá khắt khe với bản thân đi. Mẹ mong chờ điều gì cơ chứ? Một phép lạ ư? Phải mất một thời gian thì mẹ mới quen lại việc học hành được. – Marla đã nói với tôi như vậy vào một đêm khi tôi chán nản trở về nhà và tuyên bố với nó rằng tôi sẽ thôi không học nữa.
Những ngày đó chính cô con gái mười tám tuổi đã giảng giải về sự kiên trì cho tôi. Một vài lời nó nói giống như những gì tôi đã nói với nó dạo nó ngồi trước chiếc piano bực bội với những ngónt ay không chịu chơi bản Czerny trôi chảy theo yêu cầu.
- Con ghét Kuhlau và Bartok, thật buồn tẻ! - đã có thời nó phàn nàn như vậy.
- Hãy kiên trì rồi con sẽ làm tốt được mà - tôi từng khuyên nó.
Còn bây giờ Marla lại đóng vai trò người mẹ. Mới đêm qua khi tôi từ trường TAFE trở về nó ra mở cửa, tạp dề mặc trên người, hôn tôi và nói: “Con đã nấu món mì ống bolognaise rồi. Mẹ đi tắm đi, con sẽ hâm nóng nó bằng lò vi sang cho mẹ”. Phần còn lại của tối hôm đó, tôi ngồi trong phòng khách, tóc vẫn còn ướt sau khi tắm, bát mì trên tay, nghe con gái chơi piano.
Marla đang học năm thứ nhất tại Nhạc viện. Tôi vẫn thấy khó mà hình dung con bé trong cái môi trường cổ điển ấy. Nó trông như một người lạ trong bộ dạng mới: một buổi sáng nó ra hiệu cắt tóc quen ở khu Paddington và về nhà với bộ tóc dài đẹp đẽ đã biến mất.
- Cắt phứt nó đi rồi mẹ ạ! – nó tuyên bố trong khi tôi trợn mắt nhìn mái óc của nó được tỉa ngắn cũn tới tận mang tai. Rồi liền sau đó các đồ màu xanh da trời, đỏ, vàng và xanh lá cây trong tủ áo của nó đề ra đi, nhường chỗ cho màu đen ảm đạ.
- Màu đen đầy ấn tượng – nó giải thích như vậy.
- Ðó là sự trưởng thành cùng những tuyên bố của nó - anh Jaime nhà tôi nhún vai nhượng bộ.
Khi Marla ngồi trước đàn piano, nó tạo nên một bức tranh về một người say nhạc rock đang chơi nhạc cổ điển. Hình ảnh ấy lại càng thêm mâu thuẫn bởi khuôn mặt Trung Quốc – Philippine và Tây Ban Nha của con bé. Cặp mắt phương Ðông, tựa mắt mèo, gò má cao và nước da màu ôliu của nó.
Tôi đã đọc ở đâu đó một câu nói rằng ta có thể thay đổi đường đời, lựa chọn tương laic ho ta. Nhưng sự khởi đầu của chúng ta sẽ còn lại mãi với chúng ta. Tôi sinh Marla ngày tôi và Jaime còn sống ở Philippine. Sau khi Marla được tám tuổi, chúng tôi đưa nó sang sống ở Sydney. Cũng giống như mọi người dân nhập cư, nơi chôn rau cắt rốn vẫn để lại dấu ấn nơi con tôi.
- Ðể rũ rối vấn đề – con bé thường nói – con không chỉ sinh ra ở Manila, được giáo dục ở trường dòng, nói tiếng Anh và tiếng Tagalog thêm tí tiếng Hoa, chửi thạo tiếng Tây Ban Nha, mà bây giờ con còn định cư ở úc nữa.
Một đứa trẻ pha tạp hỗn độn điên cuồng.
Du lịch trên nước úc. Tôi đã đọc cái nhan đề đến lần thứ một trăm rồi. Tôi nghe thấy tiếng lạch cạch ở hộp thư. Tôi không nhìn thấy người đưa thư đi đến. Cái tường gạch bao quanh vườn trước che khuất tầm nhìn ra phố. Nhưng hàng ngày khoảng từ mười hai giờ trưa đến hai giờ, người đưa thư lại đến. Tôi đứng lên, rất mừng đã tìm ra được cái cớ để rũ khỏi đống sách vở. Người đưa thư đã cho tôi lối thoát.
Khi tôi bước ra đường, ba thiếu niên tóc vuốt ngược lao sầm xuống phần đường đi bộ trên những tấm ván của chúng. Tôi thoáng nhìn thấy chúng qua khe giữa những thanh gỗ cửa vườn. Bên kia đường, con chó Tripod bị gẫy một chân ở nhà số ba mươi sáu đang từ vào cột điện trong khi chủ nó Big Tom kiên trì đứng đợi.
Cái thùng thư làm bang ngón tay tôi lúc tôi với tay vào để lôi ra đống thư từ dường như ngày nào cũng đến. Chiếc trên cùng có một ô giấy bang kính nhỏ. Một cái hoá đơn. Chiếc thứ hai viết chữ nhỏ li ti, gần như không đọc nổi, loằng ngoằng. Thư của Jessie rồi, tôi biết ngay.
Jessie – người rất ghét cái tên của mình – là cô bạn học thời niên thiếu của tôi hồi ở Manila hiện đang sống ở Michigan. Cô là bác sỹ thần kinh thực hành, còn kinh khủng hơn thời còn là cô gái có chiếc váy kiểu Bernadette một lần bị xé hết viền vì nó cao trên mắt cá và để lộ nhiều da thịt hơn mức các xơ cho là thích hợp với một cô gái trường dòng.
Jessie thường viết cho tôi nhiều hơn vào những tháng bệnh viện vắng bệnh nhân. “Dường như có mùa ốm mùa khoẻ. Mùa khoẻ là mùa rất tồi tệ cho việc làm ăn”.
Chiếc phong bì cuối cùng có dấu bưu điện từ Mabila nhưng không phải của Mia. Cô em họ Mia của tôi không viết thư. Nó thường đánh máy vi tính. “Em đã biết dùng máy vi tính rồi”, nó nói chuyện điện thoại với tôi, “em phải cố để đuổi kịp bọn trẻ”. Vì thế tôi biết rằng nét chữ nghiêng cứng cỏi ghi tên và địa chỉ của tôi kia nhất định không phải của nó.
Tò mò, tôi xé phong bì lôi ra một tờ giấy gấp tư, loại giấy viết thư màu xanh giống loại mà cha tôi vẫn thường dùng khi ông còn sống. Chỉ đến lúc này ở cuối thư thất có chữ ký “Mẹ”.
Thật lạ khi nhìn thấy bức thư với nét chữ không quen thuộc. Lạ lùng và thật buồn cười nếu người ta bảo tôi liên tưởng những vòng chấm của nét chữ kia với một khuôn mặt, như kiểu liên tưởng một khuôn mặt khi nhắc đến một cái tên thì tôi sẽ không thể làm được. Sau ngần ấy năm là bà con, cho đến giờ phút ấy, tôi chưa bao giờ nhìn thấy nét chữa của bà. Nếu chỉ có mỗi cách này để tôi nhận ra, phân biệt bà thì có lẽ bà đã biến mất khỏi cuộc sống của tôi rồi.
Mà thư có ra thư. Ðó là một lời nhắn ngắn gọn mang âm hưởng của một mệnh lệnh. Tôi dường như nghe thấy tiếng mẹ nói những từ ngữ đó. Vì chúng giống y như con người ba. Ngắn gọn. Súc tích. Ði thẳng vào vấn đề.
“Hãy về nhà, Caridad. Mẹ cần nói chuyện với con”, tất cả bức thư chỉ có vậy. Tôi được mẹ gọi về.
- Mẹ bị ốm a? – Tôi gọi điện hỏi Mia ở Manila
- Không … không, ốm gì đâu.
- Thế sao mẹ lại muốn chị về nhà thế nhỉ?
- Ôi, Caridad, chị biết người già là thế nào mà. Họ cần được giãi bày chia sẻ… thế nên chị cứ làm như mẹ bảo, được không?
- Chị không hiểu cái…
- Chị sẽ hiểu khi chị về nhà.
Mia biết nhiều hơn thế nhưng nó không nói gì cả. Tôi biết chắc như thế vì chúng tôi cực kỳ hiểu nhau. Khi tôi ba tuổi, Mia tám tuổi, chúng tôi đã cảm thấy giữa chúng tôi có một tình bạn sẽ đi cùng năm tháng. Thế rồi một buổi chiều điên rồ nọ, khi Mia qua nhà tôi chơi, chúng tôi đã lẻn vào trong phòng tắm, mở tủ thuốc, nơi cha tôi cất bộ đồ cạo râu. Chúng tôi lấy ra một lưỡi dao cạo, sau vài phút lấy hết cam đảm chúng tôi cắt ngón cái, bóp máu ra và ngoắc tay vào nhau cho máu hoà quyện với nhau. Ðể dòng máu hoà quyện cùng chảy trong huyết quản, chúng tôi thề sẽ mãi là bạn của nhau.
Mia là em họ tôi, con gái út của dì Emma. Dì Emma là em út của mẹ tôi. Trong sáu chị em thì Mia nhỏ nhất, nó không có chỗ trong những trò chơi và những cuộc trò chuyện của các anh chị ruột, trong khi tôi, đứa con độc nhất, rất mong có bạn. Chúng tôi thành hai đứa trẻ con chấy cắn đôi và vẫn cứ thế gắn bó bấy lâu.
Khi Jaime, Marla và tôi rời Manila, Mia và tôi vẫn liên lạc với nhau, viết cho nhau những bức thư dài, trao đổi hàng trăm bức ảnh, nói chuyện trên điện thoại lâu quá mức cho phép. Chính nó là người bền bỉ chuyển những lời nhắn của mẹ cho tôi vì nó vẫn thường gọi điện hỏi thăm tình hình mẹ tôi. Ðó không phải là một nhiệm vụ dễ thực hiện vì mẹ tôi luôn là người khó giao tiếp. Thế nên khi Mia nói: “Chị cứ làm như mẹ bảo” tôi liền đặt vé máy bay vì tôi hiểu nó biết việc tôi về nhà là hệ trọng.
Ðêm đó, khi nằm trên giường, một ý nghĩ len vào trong tâm trí tôi. Nếu mẹ vẫn khoẻ thì tôi được gọi về nhà vì một lý do khác chăng? Hay mẹ đã nghe ai nói? Hay mẹ đã biết rồi.

Jaime không còn ở đây nữa. Tôi còn chưa nói điều đó với mẹ và thậm chí cả với Mia. Bởi vì tôi không thể giải thích những điều mà thậm chí cả bản thân tôi cũng không hiểu nổi. Cứ mỗi khi tôi cố gắng tìm ra điểm khởi đầu của cái mớ bòng bong những điều đã nói và những việc đã làm, tôi đều bị mất mạch mối và thấy mình lại bó tay đầu hàng.
Ðôi lúc tôi nhớ tới cảnh một đôi vợ chồng trẻ tuổi cùng ngồi ăn tối trong bộ phim Citizen Kane. Lúc đầu họ ngồi bên nhau, chuyện trò vui vẻ suốt bữa ăn – bữa sáng. Rồi thời gian trôi qua, càng ngày họ càng tìm thấy ít điều để nói và càng ngồi xa nhau hơn. Cuối cùng thì mỗi người ngồi ở một đầu chiếc bàn dài, chàng thì đọc báo, còn nàng thì ăn trong im lặng.
Cô bạn Meg của tôi nói “Thì có gì mới nào?”
Meg nói với tôi rằng ngày nay có hơn ba mươi phần trăm các cuộc hôn nhân kết thúc bằng ly dị. Meg dẫn ra rất nhiều con số thống kê. Chúng tôi ngồi trên một chiếc ghế băng dài trên một bãi cỏ trông ra bãi biển Freshwater, nơi chúng tôi thường dạo chơi và bàn luận về cái được gọi là “tình trạng của chúng tôi”. Meg, cũng vậy, lại trở về một thân một mình.
Tôi giải thích với Meg là ở Manila ly dị không được chấp nhận.
- Chính những tập tục Thiên chúa giáo của các người làm cuộc sống thêm phức tạp – nó nói với tôi, rồi thêm – Chúng ta đã có đủ những cái phải đối phó rồi. Sao lại thêm cả tội lỗi làm gì? Meg luôn tin rằng những người Thiên chúa giáo bị răn đe bởi những điều tội lỗi khiến chúng tôi rất khó xử sự.
- Hãy thư giãn đi, cô bạn yêu quý. Nhìn mình đây này, mình đã là cự chiến binh của hai trận ly hôn rồi.
- Làm sao cậu vẫn cười được chứ? Tôi hỏi nó.
- Hỡi người – Meg trả lời, kéo dài cái giọng khàn khàn trong khi đưa tay vuốt ngược mái tóc nhuộm đỏ sẫm – người đàn bà là kẻ vẫn cười và tồn tại.
- Nghe được đấy.
- Lấy cắp từ một cuốn sách đấy.
Meg ngấu nghiến những cuốn sách tự hướng dẫn, giải đáp rồi chuyển cho tôi đọc sau khi nó đã đọc và đánh dấu bằng cái bút đánh dấu màu vàng. Một đêm tôi mở một cuốn ra và dòng chữ này đập vào mắt tôi: “Tiếng cười là khoảng cách ngắn nhất giữa hai người”.
Nó gợi tôi nhớ lại cái đêm Jaime đưa tôi đi kỷ niệm tháng đầu tiên chúng tôi cưới nhau. Anh đã đặt trước một bàn tại Madrid, một nhà hàng tại Manila mà cả hai đều yêu thích.
Chúng tôi ngồi bên một chiếc bàn thắp nến, cạnh đài phun nước, tiếng nước chảy róc tách tạo nên một bản nhạc riêng của nó. Trên bàn có một bình tròn rượu mạnh có một bông hang đỏ bồng bềnh trên nước. Một ca sĩ cùng một người đệm ghi ta đi quanh các bàn, tưới sự lãng mạn lên những đôi đang ăn tối, hát bài tình ca Tây Ban Nha Besame Mucho với một chất giọng sâu lắng.
Jaime cầm tay tôi và hỏi:
- Tại sao em lại lấy anh?
Không biết là anh có hỏi nghiêm túc hay không, tôi nói:
- Sự thật chứ?
- Chỉ sự thật thôi.
- Bởi vì anh đã làm cho em cười.
- Những câu trêu chọc của anh… em lấy anh vì những câu trêu chọc sao?
Phải mất hai mươi năm trời tôi mới nhận ra sự thật trong câu trả lời của mình. Giờ đây tôi tự hỏi mình cái câu hỏi mà tôi đã từng chế nhạo khi tôi nghe những người khác hỏi. Những tiếng cười đã đi đâu mất cả rồi? Sự sáo rỗng trong cái câu hỏi do những cặp vợ chồng cùng cảnh ngộ của những cuộc hôn nhân không bền vững đặt ra. Bởi tôi cảm thấy mình cũng đang chịu cảnh đó, tôi tự hỏi không biết có bao nhiêu cặp vợ chồng đang sống xa lòng như tôi và Jaime bây giờ. Nhưng dù con số có là bao nhiêu thì cũng không khiến tôi có chút nguôi ngoai. Người bất hạnh nào cũng nghĩ sự bất hạnh của mình là duy nhất.
- Mẹ con và bố cần một thời gian để suy ngẫm về mọi việc, Marla ạ, một thời gian sống xa nhau. Bố mẹ đã quyết định cách tốt nhất là bố nên đi đâu đó một thời gian. Bố đã thuê một căn hộ ở Neutral Bay, không quá xa bờ biển bắc, con có thể đến và ở lại bất cứ lúc nào con thích. Jaime đã giải thích như vậy cho Marla vào một ngày chủ nhật.
- Marla, bố mẹ đang cố gắng sắp xếp. Nhưng đôi khi thậm chí đến cả bố mẹ cũng không có được tất cả các câu trả lời, tất cả cùng một lúc. Tôi đã nói vậy.
Tôi nhớ mình đã tự hỏi không hiểu nó đang nghĩ gì khi nó ngồi đối diện với chúng tôi, lắng nghe nhưng chẳng nói một lời. Năm qua, Marla đã thay đổi. Thân hình con bé đã nảy nở những đường cong mềm mại, những ngượng ngùng, vẻ duyên dáng thiếu nữ mà trước đó chưa từng có. Liệu ở sự trưởng thành mà nó mới đạt tới này, nó có nhìn chúng tôi bằng đôi mắt thất vọng hay không?
Sau đó, trong phòng riêng, tôi nói với Jaime:
- Lẽ ra chúng ta nên tìm một thời điểm khác tốt hơn.
- Không , Caridad, sẽ chẳng có thời điểm nào tốt hơn đâu, chả có một thời điểm nào tốt để nói ra những chuyện như thế. Một tuần sau, vào cuối tuần, Jaime đi.
Tối đầu tiên ấy, tôi và Marla đi ăn tiệm. Rồi từ đó, chúng tôi ăn tối với nhau trong phòng xem tivi.
Khi được thư báo con bé trúng tuyển vào Nhạc viện tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Nó đem lại cho con bé cái gì đó để lấp vào khoảng trống mà người cha đã ra đi để lại. Nó đem lại cho cả ba chúng tôi một cái gì tốt đẹp để lại cùng chia sẻ với nhau.

- Bố mẹ đã để mất mục đích rồi – Marla đã tổng kết sự việc như thế với cái giọng y hệt như bố nó. Marla có rất nhiều nét giống bố. Tại sao cả hai không nói chuyện với nhau cho xong đi? Một đêm nó nói thế, vài tuần sau khi Jaime đi. Ðó là lần đầu tiên nó đả động tới chuyện của chúng tôi.
Tôi nhún vai.
- Mẹ nói xem mẹ cảm thấy thế nào hoặc mẹ nghĩ gì?
Tôi lại nhún vai.
Nó đứng dậy và ra khỏi phòng, mặt lộ rõ vẻ mất bình tĩnh.
Nhưng điều đó ở đây, trong tôi, những điều tôi đã từ chối nói ra, sẽ không nói ra, không thể nói và tôi quá sợ hãi để nói ra bởi vì tất cả sẽ chỉ là sai lầm. Những gì không được nói ra đã hoá đá cả rồi.
- Hãy nói chuyện với ai đó hoặc đến gặp bác sĩ chuyên khoa đi – Meg khuyên tôi. Nó đã bắt đầu thường xuyên đến bác sĩ.
- Không. Mình không muốn nói về cuộc sống riêng tư của mình với một ai đó xa lạ.
Meg nói:
- Cậu xem… những người cứ giữ kín đủ điều trong lòng mắc đủ thứ bệnh… mọi bức bách về tình cảm đều phải có lối thoát. Người hay giận dữ sẽ bị u nang, người ương ngạnh ngoan cố sẽ bị viêm khớp còn người bất mãn sẽ chết vì ung thư đấy.
- Cậu lôi từ sách nào ra vậy? Tôi ngắt lời Meg, thoáng thấy hối lỗi.
Nhưng Meg không chịu nhượng bộ:
- Phải rồi, ít nhất thì xin cậu hãy dừng ngay cái trò trốn mãi ở nhà. Ði học một cái gì đó mới mẻ, tạo một cuộc sống cho chính mình đi chứ.
Cuối cùng, sau vài tuần liên tục bị cô rầy la, tôi nhập học vào TAFE.
- Mẹ sẽ lại đi học – một chiều tôi thông báo cho Marla.
Con bé ngước lên một lát rồi nó nói:
- Tốt thôi – rồi lại cúi xuống đọc sách.
Nhưng bây giờ trường TAFE phải chờ đó vì tôi sẽ về nhà. Tôi được mẹ gọi về.

Máy bay cất cánh từ sân bay Sydney chậm mất hai mươi phút. Ðiển hình, tôi nghĩ. Ðó là chiếc máy bay của hàng không Phillipine. Ði về nhà chúng tôi từng đùa là PAL là viết tắt của Plane Always Late (Máy bay luôn chậm giờ) hoặc Parcel Always Lost (Hành lý luôn thất lạc). Chả có gì thay đổi cho lắm.
Về nhà. Sau mười năm sống ở Sydney, tôi vẫn thấy mình nói:
- Tôi đang về nhà.
- Nhà ở đâu? - Mọi người hỏi.
- Manila.
- Chị vẫn còn nghĩ đó là nhà mình a?
Tôi không biết đến khi nào mình sẽ thôi không nghĩ đó là nhà mình, xong tới giờ tôi vẫn cứ cho là thế. Tôi cho đó là thói quen của dân di cư, cái thói quen chúng tôi sẽ giữ suốt quãng đời còn lại.
Trong tâm trí mình, tôi có hai ngôi nhà. Manila, nơi giữ quá khứ của tôi. Và Sydney, nơi tôi và Jaime đến sống để có được những cơ hội tốt hưon và một chốn an toàn hơn để nuôi dạy con cái. Vì thế cho dù tôi đang về nhà nào thì tôi đều để lại phía sau một ngôi nhà khác. Một phần nào đó của tôi luôn bị thiếu vắng. Thiếu vắng những hình ảnh, hương vị của một ngôi nhà khi tôi vội vã về ngôi nhà kia. Dân di cư, tôi nghĩ, là những kẻ không bao giờ cảm thấy trọn vẹn, không bao giờ được hoàn toàn ở một chỗ. Cuộc sống của chúng tôi ở đâu cũng chỉ là những mảng tồn tại đứt đoạn mà thôi.
Lần trước tôi về nhà ở Manila để chôn cất cha tôi. Ông mất đột ngột ngay sau bữa ăn sáng trong chiếc ghế ông vẫn ưa ngồi, khi đang đọc báo Chủ nhật. Ông đã già nhưng tôi vẫn luôn nghĩ rằng về nhà là mình sẽ lại được gặp cha.
Bây giờ tất cả những gì tôi có về cha là hình ảnh trong trái tim và giọng nói của ông vang trong tâm tưởng. Và một thứ nữa. Một bức tranh. Món quà cha tặng khi tôi chuyển đi. Nó được treo trong phòng khách, phía trên lò sưởi, hai bên bầy cặp bình gốm. Bức tranh vẽ một nữa hoàng.
- Cha đã chọn nó vì ý nghĩa của nó. Nó là một bức trong một bộ – Cha tôi rất ngưỡng mộ người hoạ sĩ từ ngày ông xem cuộc triển lãm tranh đầu tiên của hoạ sĩ đó tại một gallery ở Makati vào những năm bảy mươi. Phong cách của hoạ sĩ này đã gây ấn tượng với ông và cha tôi luôn theo dõi sự nghiệp của ông ta qua năm tháng.
Bức tranh cha tặng tôi thuộc cuộc triển lãm đầu tiên. Cha đã nhờ một người bạn chuyên bán buôn các tác phẩm nghệ thuật để tìm mua được nó. Cha giải thích cho tôi rằng câu chuyện về bức tranh bắt đầu từ dòng sông chảy lên phương Bắc. Khi nước sông tràn đầy, người dân sống và canh tác hai bên bờ sông rất vui mừng vì dòng sông đã giúp cho mùa màng tươi tốt và cuộc sống dư dật. Ông cho rằng người hoạ sĩ đã tạo ra hình ảnh nữ hoàng như biểu tượng của sự phồn thịnh, người đem lại may mắn. Vì chừng nào bà còn trị vì thì cuộc sống sẽ luôn tốt đẹp.
- Hãy treo bức tranh này trong ngôi nhà mới của con – cha bảo tôi – bà sẽ ban nhiều phúc lành cho các con.
Bức tranh vẽ bằng sơn dầu. Màu sắc nhẹ nhàng, nền lam, và nó thu hút ta bởi hình ảnh gương mặt nữ hoàng đường bệ trong chiếc khăn chùm đầu đầy ấn tượng thể hiện bằng những nét bút đậm. Nó là của cha và của ngôi nhà cũ của tôi.
Ðể tôi kể cho bạn nghe về nơi tôi gọi là nhà mình. Ðó là căn nhà hai tầng uy nghi được xây trên một khu đất khổng lồ đến hai nghìn mét vuông tại vùng ngoại ô cũ Malate ở Manila mà cha tôi đã mua vào cuối những năm bốn mươi. Vào thời đó các khu đất vùng Malate và Ermita thuộc về những gia đình giàu có. Những nhà giàu có gốc. Các ngôi nhà có bãi cỏ rộng bao quanh, rào bằng các bức tường cao phủ dây leo và có cửa sắt lớn.
Khu của dân trung lưu và hạ lưu ở Santa Cruz, Pandâcn, Santa Ana, Tondo, San Miguel và một số thị trấn cũ thuộc Manila, cuộc sống khác hẳn. Những ngôi nhà nhỏ xây sát nhau. Trong các thị trấn đông đúc này, trẻ con chơi đùa trên lối đi, còn đàn bà thì tán chuyện trên các bậu cửa. Xe Jeep, xe buýt, ôto con, thậm chí cả xe ba bánh chen chúc trên đường phố, xả khói đen kịt vào không khí và bóp còi ầm ĩ trong khi chạy.
Nếu bạn cùng tôi đến nhà tôi ở Malate, cái đầu tiên khiến bạn lưu ý chính là cánh cửa sắt đen nặng nề kẽo kẹt rất to mỗi khi đóng mở. Qua cánh cửa là đến lối đi đổ bê tông vòng theo mé trước lối chính vào nhà. Ngôi nhà nằm sâu bên trong khu đất, cách đủ xa đường phố, có một hàng cây keo đứng sừng sững oai vệ như những người lính gác câm lặng dọc theo bức tường phía trước che khuất ngôi nhà. Không thể nào nhìn xuyên qua tán lá của những cái cây cao này. Cửa chính vào nhà rất đường bệ với hai cánh cửa chắc chắn bằng gỗ lim chạm trổ cân đối. Từ đây có thể thấy toàn bộ khu vườn phía trước, thảm cỏ Bermuda hình chữ nhật móc dày đặc bóp nghẹt những cỏ dại vì mẹ tôi rất ghét những thứ tự phát triển hoang dã vô chủ.
Mỗi khi nghĩ về ngôi nhà, tôi lại thấy cha đang đọc trong phòng làm việc và tôi ngửi thấy mùi da cũ của chiếc ghế quay của cha, phần lưng tựa đã in hằng dấu lưng cha từ bao lâu nên cái ghế vừa khít hoàn toàn với ông. Tôi lại thấy mẹ trong phòng ngủ ngồi cạnh cửa sổ nhìn xuống dưới lối đi, không bao giờ bỏ sót bất cứ việc gì xảy ra phía dưới. Tổ ấm của tôi là căn nhà cũ đó với những hương xưa, những góc cũ nơi cha mẹ sống mãi trong lòng tôi, nơi họ hồ hởi chạy ra khỏi phòng, đẩy tung cửa, lao ra đón mừng tôi về. Có điều giờ đây ngôi nhà cũ chỉ còn một goá phụ già nua.
Tôi cố gắng khoả lấp khoảng cách giữa hai mẹ con. Tôi viết cho bà những lá thư dài, ít nhất một tháng một lần, dường như biết bao nhiêu từ ngữ viết ra trên giấy ấy gộp lại có thể thay thế sự thiếu vắng của chính bản thân tôi.
Tôi kể cho mẹ cả những việc lớn và việc nhỏ. Tôi viết cho bnà cả về công việc nội trợ của tôi, về việc làm ăn của Jaime, về Marla, về việc học nhạc của con bé, về việc nó học lái xe, về tất cả những gì tôi có thể nghĩ ra. Bằng cách đó, mẹ vẫn sẽ là một phần trong cuộc sống của tôi, vì tôi là tất cả những gì còn lại với mẹ.
Trước kia tôi thường gọi điện cho mẹ, song bà không đồng ý. “Lãng phí tiền vào các cuộc gọi điện đường dài. Dĩ nhiên là mẹ khoẻ”. Mẹ tôi không bao giờ đánh mất bản tính căn cơ cho dù bà về làm dâu một gia đình giàu có. Vì thế tôi thôi gọi điện, chỉ gọi trong những dịp sinh nhật, Giáng sinh hoặc khi có cái gì thật đặc biệt xảy ra.
Nhưng tôi luôn giữ việc trao đổi thư từ một chiều. Tôi viết thư đều đặn, không chờ đợi thư trả lời, tôi vẫn viết vì biết là mẹ sẽ đọc hết tất cả những lá thư của tôi. Mia đã nói với tôi điều đó.
“Mẹ chị nói là cháu Marla làm bài thi rất tốt… Bà luôn khoe với mọi người là cháy gái của bà rất thông minh. Em bắt đầu có cảm giác là bà nghĩ là con bé Susan nhà em không được thông minh lắm!”
Và chính Mia là người viết thay cho mẹ, Mia thường thêm lời nhắn của mẹ vào các bức thư vốn đã rất dài của nó. Tái bút: Mẹ chị nói chị phải làm cái này. Tái bút: Mẹ chị bảo phải kể cho chị chuyện kia.
Nhưng tám tháng qua là tám tháng đầy lời dối trá. Tôi vẫn thư từ, mọi cái đều bình thường. Chừng nào tôi chưa phải đối diện với mẹ thì tôi vẫn có thể giả vờ được. Nhưng bây giừo chính mẹ đã viết cho tôi. Và tôi ngồi trong cái máy bay này đầu óc đầy những câu hỏi mà chỉ mẹ mới có thể trả lời. Mẹ luôn luôn không ưa những câu hỏi của tôi.

- Lúc nào cũng hỏi… Mẹ phải bảo con bao nhiêu lần là nghe thì tốt hơn nói hả. Nhưng con thì luôn nói… hỏi những điều ngớ ngẩn… để làm gì vậy?
- Vì con muốn biết – tôi vẫn thường trả lời như vậy.
Không phải lúc nào mẹ tôi cũng như vậy. Chỉ với những điều mẹ không bao giờ muốn đả động đến. Những điều về quá khứ. Tôi nghĩ có lẽ vì mẹ không thích nhớ tới chiến tranh. Có thể chiến tranh – thời quân Nhật chiếm đóng, như mọi người vẫn gọi, để lại nhiều hồi ức đau lòng mà mẹ chỉ muốn quên đi. Ðó hẳn là một thời kỳ nghiệt ngã vì tôi nhớ có lần cha bảo tôi: “Cầu trời cho con không bao giờ phải sống qua thời kỳ như thế”.
Vì thế tôi đã thôi hỏi mẹ về những năm tháng đó và cho là mình hiểu được sự do dự của mẹ khi phải nhớ đến nó. Nhưng tôi không chỉ muốn biết về chiến tranh thôi.
- Mẹ kể cho con nghe về cha mẹ trước khi có con đi. Mẹ kể chuyện về con khi con còn là em bé nữa. Mẹ kể cho con…
Một phần các câu hỏi là sự tò mò, còn một phần là vì tôi muốn hiểu được chút ít các câu chuyện tình cờ nghe được và những sự việc xảy ra hồi nhỏ. Song mẹ tôi từ chối đả động đến những việc này. Và vì thế tôi đã không hỏi me nữa. Sau đó tôi chuyển sang sống tại Sydney cam chịu có những điều không rõ. Anh Jaime thường bảo tôi: “Dù sao thì những điều đó có ảnh hưởng đến cái gì không nhỉ?”
- Xin lỗi quý khách, xin quý khách ngồi thẳng và thắt chặt dây an toàn. Máy bay chuẩn bị hạ cánh.
Tôi nhìn đồng hồ để kiểm tra thời gian.
- Chậm hai giờ so với giờ Sydney, đội phục vụ bay nói. Tôi chỉnh đồng hồ theo giờ địa phương và tựa vào cửa sổ, hy vọng nhìn được một thoáng cảnh thàng phố trong khi máy bay sắp hạ cánh. Lúc đầu một phần cảnh vật bị che khuất bởi một màn mây rồi dần dần rõ ra và những mái nhà của Manila trong chiều tà dần dần hiện rõ. Ðó đây, tôi thấy những tia sáng từ những dãy mái nhà lợp tôn phản chiếu những tia sáng cuối cùng của vầng dương bền bỉ vẫn đang quanh quẩn nơi chân trời, không muốn cho một ngày nữa qua đi.
Vài phút sau, máy bay đã hạ cánh, chạy trên đường băng và cuối cùng thì dừng hẳn. Tôi băn khoăn không biết đây có phải chính là đường băng mà nhà cách mạng Aquino bị lưu đầy từ Hoa Kỳ trở về và đã được đón chào bằng loạt đạn của một tên ám sát khi ông bước xuống từ chuyến bay 811 của Hàng không Trung Quốc. Hình ảnh cả thân hình ông đổ sập xuống nền đất, máu trài ra từ cổ vẫn còn thiêu đốt trong tâm trí tôi. “Như một cái đài phun nước”, đó là cách những người chứng kiến mô tả.
Tại căn nhà tôi ở Sydney thì vẫn an toàn khi sự cố xảy ra, nhưng khoảng cách không làm giảm chút nào cơn sốc, nỗi căm giận và sự bất lực mà tôi cảm thấy.
“Một tính toán chính trị sai lầm thô thiển”, Jaime đã nói vậy về biến cố ấy. Anh ấy đúng. Biến cố này làm bật ra một chuỗi các sự kiện cuối cùng dẫn tới đảo chính. Ba năm rưỡi sau, nó đã được đẩy tới đỉnh điểm là một cuộc cách mạng. Sức mạnh quần chúng.
Khi nó bắt đầu, tôi nhớ mình đã theo dõi tin tức qua tivi, chuyển từ đài SBS sang ABC từ kênh Bảy sang Chín rồi Mười với hi vọng sẽ nghe được một điều gì mới mẻ.
- Không giống như đang ở đây đâu – Mia nói hổn hển qua điện thoại- Em ở ngay đó, Caridad à, khi nó nổ ra – nó nói với một giọng mà trước đó tôi chưa từng nghe. Ðó gần như là một cảm giác ghen tị, một cảm giác là kẻ ngoài cuộc khi tôi nghe cô em họ kể cô đi trong đoàn diễu hành xuống đại lộ Epifanio de los Santos – một đại lộ dài tràn ngập ba triệu người biểu dương sức mạnh quần chúng.
Tất cả giàu nghèo, già trẻ, công chức, người bán rong, cha cố, bà xơ, gái điếm, các người hùng thể thao, siêu sao màn bạc và các chính khách nữa – tất cả bọn họ tụ họp lại trong cuộc cách mạng như ngày hội và chỉ có người dân Phillipine mới có thể tổ chức được để lật đổ chính thể Marcos đã thống trị hai mốt năm trời. Ðó là cuộc Cách mạng do nhà thờ Thiên chú giáo lãnh đạo. Và trong đó đầy các điều kỳ diệu, những câu chuyện kể về các bà xơ xông lên tuyến đầu, chặn những cỗ xe tăng bằng sức mạnh của những lời cầu nguyện.
Xong điều tôi nhớ nhất là câu chuyện kỳ lạ Mia kể cho tôi nghe: “Lúc đó bọn em nghĩ quân ta đã bị đánh bại. Chính chiếc trực thăng chiến đấu đã vây quanh doanh trại Crame nơi quân nổi dậy bị dồn vào. Nhưng thay vì tấn công, chúng hạ cánh, phi công nhảy ra, vẫy cờ trắng. Họ đã bỏ ngũ và gia nhập vào quân ta”.
Sau này, người phi công lái chiếc máy bay chiến đấu thứ mười lăm thuộc Lực lượng Không quân Phillipine đã kể lại hình ảnh kỳ lạ mà anh ta đã nhìn thấy. Khi từ trên máy bay nhìn xuống hàng triệu người tập trung phía dưới, trong một khoảng khắc có một chữ thập khổng lồ che phủ đám đông rồi biến mất. Chúa Trời đã đứng về phía nhân dân. Anh ta không thể bắn vào họ được.
“Ôi, Caridad ơi, chị có biết là em mong có chị ở đây khi cách mạng xảy ra biết nhường nào không. Và bây giờ cung điện Malacanang được mở cửa cho công chúng đấy. Lần sau chị về nhà em sẽ dẫn chị đến đó. Hãy về nhà sơm snhé”.
Bây giờ đã được gần hai tháng sau sự kiện đó, tôi đã ở nhà. Tôi băn khoăn không biết nơi đây có sự thay đổi hữu hình nào không. Trong lúc bước từ máy bay qua hàng lang nối đến sân bay, trong tôi dâng lên những tình cảm đầy mâu thuẫn – nỗi hồi hộp vì được về nhà trộn lẫn một cảm giác nao nao. Tôi sẽ sớm phải đương đầu với cái gọi là “Sự bố trí trật tự mới ở sân bay Manila”.
Trong chuyến về nhà lần trước, sân bay – dự án của Ðệ nhất Phu nhân Imelda Marcos tai tiếng - đã mang những dấu hiệu đầu tiên của sự mục ruỗng. Bóng đèn huỳnh quang thô kệch để chiếu sáng khu nội thất không thể làm nhẹ bớt sắc xám âm u của bê tông. Khi khánh thành, nó được ca ngợi là sân bay hiện đại nhất châu á. Giờ đây trông nó khá là đáng buồn, ít đượcq uan tâm ở một nước đang có nhiều vấn đề cấp bách đáng quan tâm hơn là tiện nghi cho khách du lịch. Tôi ước gì mình đang ở một chỗ nào khác.
Khi tới được bộ phận nhập cảnh, người tôi nóng bức, nhớp nháp mồ hôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy mình đang ở phía trên của hàng người xếp hàng trước quầy Balikbayan – quầy nhập cư dành riêng cho người hồi hương. Cái chữ đó nghĩa là “những người về nhà”. Thủ tục ở đó nhanh hơn.
Rồi thì hộ chiếu của tôi cũng được đóng dấu, tôi đi lấy hành lý. Một, hai, ba gói. Một… hai… ba món. Một vali và hai thùng đầy hoa quả tươi.
- Tất cả đây a? Nhân viên hải quan hỏi.
Tôi gật đầu.
- Chị có khai báo gì không?
Tôi lắc đầu.
- Tôi được phép mang hai thùng, đúng không?
Ðến lượt anh ta gật đầu. Trông anh ta có vẻ hơi thất vọng. Balikbayan được phép mang hai thùng hoa quả miễn thuế, và tôi luôn thực hiện đúng như vậy. Anh ta vẫy tay cho phép tôi qua.
Tôi đây xe hành lý qua cái cửa kính có chữa Exit, một luồng hơi nóng đón chào tôi cùng với hàng trăm giọng nói inh tai nhức óc. Ðám đông bên ngoài toà nhà chen lấn, xô đẩy để nhìn được về phía cửa ra vào, hy vọng nhì thấy người nhà hoặc bạn bè mà họ đi đón.
“Caridad, Caridad…” Tôi nghe thấy tên mình được gọi bằng một giọng quen thuộc. Quay lại, tôi nhìn thấy Mia đang vẫy tôi. Trông nó vẫn luôn như vậy! Một nàng tiên với mái tóc cắt ngắn, nó nổi bật trong chiếc áo sơ mi màu hoàng yến và chiếc quần xanh ánh bạc. Mia thường mặc những bộ có màu sắc rực rỡ để khăc phục sự thiếu hụt về chiều cao. Bây giờ nó đang đứng ở phía bên kia rào ngăn đường cho khách ra. Nó hét:
- Ðứng đợi ở đây nhé. Em sẽ lái xe ra đón chị. Tôi gật đầu, tự hỏi không biết phải đợi bao lâu vì các xe đỗ nối đuôi nhau, chờ người lên, và phía sau chúng là bao nhiêu xe nữa chờ các xe phía trước lăn bánh để chúng có thể tiến lên phía trước. Khu cho hành khách xuống đầy ứ xe đẩy chất đống hành lý và thùng chứa pasalubong – hoa quả, pho mát, socola, đồ hộp, tất cả các thứ cho bạn bè và người thân.
Khi tôi đợi Mia, có một bà sồn sồn hẳn là vừa đi Mỹ về qua, mồ hôi nhễ nhại trong chiếc áo khoác len mỏng màu đen, váy trong màu trắng, khăn quàng đỏ quấn quanh cổ. Một con chim cánh cụt Nam cực bị lạc xuống vùng nhiệt đới. Bà ta đẩy một cái xe quá tải. Bà ta đẩy quá cực nhọc. Giống như một phim quay chậm, chúng tôi nhìn cái xe từ từ nghiêng sang một bên. Một lô hộp xếp chồng chất lên nhau, một chiếc thùng ních chặt đồ va phải vỉa hè bê tông và vỡ tung ra. Tía lia nào táo, cam, các thanh socola hiệu Baby Ruth, hiệu Butterfinger và hiệu Hershey, hộp thịt bò muối, một hũ tảo bẹ, rơi… lăn… khắp vỉa hè, rồi lăn cả vào gầm những chiếc xe hơi đang chờ khách.
Một cuộc tranh giành điên cuồng xảy ra khi những người đứng xem luồn bò tìm đồ rơi. Phần lớn được trả lại cho người chủ đang bối rối cuống cuồng. Dù sao tôi cũng không ngạc nhiên nếu một hai đứa trẻ quyết định lận tí chút.
Hai mươi phút sau, Mia đi xe đến. Nó chạy lại ôm chầm lấy tôi, hôn vào hai má rồi vừa nhanh chóng lấy ngón cái chà mặt tôi để xoá vết son đỏ tươi nó để lại vừa nói:
- Em xin lỗi vì bắt chị phải chờ lâu nhưng Manolo không thể lấy x era được, có vài thằng cha ngớ ngẩn đỗ xe ngay sau anh ta. Lẽ ra em nên đứng đợi cùng chị nhưng em lại không nghĩ là lâu như thế.
- Anh vẫn còn ở đây hả Manolo – Tôi nói với người lái xe của Mia đang lúi húi chất đồ vào xe.
Anh ta trao cho tôi một nụ cười toe toét, nhe hàm răng món, rất hài lòng vì tôi vẫn nhớ anh ta.
- Anh ấy đã ở đây với bọn em… ô, đến giờ là hai mươi mốt năm rồi… từ hồi Rey và em cưới nhau, phải thế không anh Manolo?
Anh ta gật đầu và lại nhe lợi cười toe toét.
- Ôi lạy chúa, chị cảm thấy mình già mất rồi!
- Chị nói gì vậy, trông chị tuyệt lắm! Tất cả đống việc nhà sẽ phải theo ý chị đấy.
Tôi cười, bước lên xe. Tôi nhớ lại tất cả những lần viết thư cho Mia hồi ở Sydney năm đầu tiên để phàn nàn về các công việc tôi phải làm - Ðó là công việc của ba người giúp việc – trông tay chị bây giờ bợt bạt, nhầu nát lắm.
ở Manila, người giúp việc làm tất cả - nào nấu nướng, giặt giũ, là ủi, dọn dẹp nhà cửa, mọi thứ. Vườn tược thì dành cho người trông vườn. Giao thông công cộng là thứ xa lạ đối với tôi vì tài xế riêng của gia đình đưa tôi đi bất cứ nơi nào toi muốn.
Sydney hoàn toàn là những kinh nghiệm mưói – những điều tầm thường nhỏ bé. Lần đầu tiên nấu cơm, tôi đã làm cháy nồi. Mất hàng tháng trời tôi mới biết là cổ áo và tay áo. Học lái xe là thách thức lớn nhất - tính đến lúc chúng tôi sắm được một ngôi nhà cũ kỹ ọp ẹp mà tôi và Jaime phải mất bốn năm trời vào việc sửa chữa.
Hai năm đầu, tôi nhớ tiếc cuộc sống cũ. Sự sung túc tôi từng hưởng, vị súp Sinigang có hương thơm của hạt me, xoài xanh dầm mắm tép, cá khô và khoai tây ăn với trứng muối. Nhưng dần dần những khao khát đó lùi dần khi tôi khám phá được ngày càng nhiều điều đáng yêu về ngôi nhà mưói.
- Khi chị ở nhà thì chị sẽ không phải động một ngón tay. Bác Thelma sẽ coi sóc hết thảy – giọng nói của Mia đưa tôi về thực tại. Và, nghe thấy tên mẹ, cuối cùng tôi đã hỏi cái câu hỏi đã day dứt trong đầu tôi suốt mấy ngày nay:
- Vì sao chị lại ở đây?
- Vì bác muốn gặp chị… Không, chị đừng nhìn em như vậy, em đã nói với chị là bác không ốm mà!
- Thế thì tại sao?
- Như em đã nói đây, chị Caridad, người già đôi khi rất buồn cười, nên mọi người cũng đừng phiền lòng vì bác… Em thường nói với mọi người như thế đấy.
Thế nghĩa là mọi người thường nói chuyện về mẹ. Mia không nói gì thêm và tôi đành phải chờ đợi. Mẹ sẽ bảo cho tôi vào lúc nào mẹ muốn và theo cách của bà.
Trong khi xe lăn bánh, tôi nhìn quanh tìm những dấu hiệu của sự thay đổi.
- Quá sớm để nói một điều gì, chị Caridad ạ. Ta không thể một sớm, một chiều làm thay đổi chế độ quan liêu, tham nhũng. Thậm chí đến giờ vẫn còn quá nhiều xung đột nội bộ và những chuyện mập mờ. Vẫn là các chính trị gia đó thôi nhưng dưới những chiêu bài chính trị mới. Em không muốn lại là Cory. Mọi người đều quá kỳ vọng, những mong đợi phi thực tế, nên em e rằng họ sẽ thất vọng – Mia nói trong tiếng thở dài.
- ồ, bà ta đã cho em một điều kỳ diệu rồi đó.
- Ðúng… và em cho là thậm chí nếu bà ta có một số thành tựu thì đó cũng chỉ là bắt đầu thôi. Nhưng em vẫn không muốn đổi chỗ cho bà ấy.
Lại tắc đường rồi. Phía trước chúng tôi, tôi hình dung ra một loạt những đường giao thông huyết mạch nghẽn dí dị. Một chiếc xe tải bị hỏng, một đống đổ nát đèn giao thông vô dụng, lái xe chửi bới nhau, ra gan không chịu nhúc nhíc, không khí ở Mexico xa xôi đang ở giữa đám tắc đường ở Manila. Tôi tin rằng khí hậu nóng bức có ảnh hưởng ít nhiều đến tính tình dễ bốc máu của các anh tài xế Phillipine. Trong khi xe cộ bắt đầu nhúc nhích tí chút, tôi ngắm lũ trẻ bán rong những tràng hoa sampaguitas thơm lừng, những người đàn ông mặc áo phông sợi bông rách tả tơi theo sát chúng, bươn bả với những hộp thuốc lá, lao tới lao lui trong dòng xe cộ để bán vài điếu chỗ này, vài điếu chỗ kia; thỉnh thoảng có một người đàn bà bế một đứa bé hoặc một người mù có một thằng nhóc bụi đời dẫn lại đi qua nài xin một vài xu bố thí. Những lúc giao thông bùng nổ khi bỗng dưng tất cả mọi thứ chồm lên phía trước, những chiếc xe buýt chật cứng khách chạy đua trên đường tranh đường, tăng tốc, tôi cố thở bình thường và mong có được sự an toàn như lúc tắc đường.
- Chị yên tâm di – Mia nói, nhận they tay tôi đang bám chặt vào thành ghế – một hai ngày là chị sẽ quen với tất cả những cái này thôi mà.
Giao thông trở lại nhịp độ bình thường.
- Cái gì thế kia? Tôi hỏi, chỉ về phía khúc tường dài, quét vôi trắng ở bên kia đường. Một lối đi hình vòng cung, trẻ em chạy ra chạy vào. Tôi thoáng nhìn thấy những gì nằm ở phía sau nó.
- Một khu nhà ổ chuột… một xóm liều – Mia trả lời.
- Sao lại có bức tường cao bao quanh nó thế?
- à, em nghe nói, Ðệ nhất phu nhân –
- Cựu đệ nhất phu nhân – tôi sửa lại.
- ồ, đúng thế, thật khó mà nhớ rằng bà ta đã ra đi. Vâng, người ta kể rằng một hôm chiế Limousine của bà tay qua đây, bà ta thấy chốn đó trông chướng mắt đến thế nào. Bà ta không muốn có quá nhiều cảnh nghèo tong dơ dáy phơi bày, thế là bà cử một đội ngũ đông đảo nhân công đến. Chỉ vài ngay sau bức tường được dung lên. Phải rồi, đó là một sự cải thiện… nhưng chỉ trong con mắt của những kẻ nông cạn mà thôi.
Chốn này gợi tôi nhớ tới rất nhiều khu dân cư của Manila có tường vây cách biệt. Trừ phần bên trong bức tường, không có lấy một ngôi nhà nào đàng hoàng, them chí trông không ra cái nhà, không nói chi đến khu vệ sinh công cộng, hiển nhiên là không có gác cổng ban đêm bảo vệ cư dân và tài sản của họ khi họ ngủ.
Manila là một thành phố của những sự cực đoan. Những người nghèo thì rất nghèo còn người giàu thì rất giàu. Họ cùng song song tồn tại. Người giàu sống trong các ngôi nhà, toà ngang d•y dọc tại các khu dân cư với cái tên rất hay như Green Meadows, White Plains, Corinthian Plaza, Bel Air, San Lorenzo, Magallanes và công viên Forbes độc đáo, một khu đất mênh mông ở giữa chúng có cây cối phủ dầy là chỗ của câu lạc bộ Polo Manila. Những người nghèo cũng không cách xa đó là bao. Họ sống bằng số tiền ít ỏi, ở ngoại vi của những khu giàu có này. Một sự nhắc nhở thường xuyên cho những người giàu có rằng cuộc sống còn có mặt trái của nó.
Cạnh cảng là khách sạn Manila lịch sử, một khách sạn cổ uy nghi tráng lệ, nơi đây có căn phòng áp mái tong là chỗ cư trú của Ðại tướng Douglas Mac Arthur trước Chiến tranh thế giới thứ hai và là nơi yêu thích của Aldo Gucci, nơi ngày nay những người giàu có vẫn đến tiệc tùng, nhảy múa, là nơi các thương gia thường lui tới tổ choc các bữa ăn sáng sự vụ có liên quan tới các vụ làm ăn trị giá hàng triệu đôla. Dưới bang của những toà tháp hiện đại được xây dựng giữa những năm bảy mươi của khách sạn, bạn sẽ thấy khu nhà ổ chuột lớn nhất Manila, khu Tondo. Khu Tondo và các khu lân cận là nơi ở của dân nghèo thành phố. Chốn này chen chúc, chật ních và nhà cửa, nếu có thể gọi được là nhà, nằm san sát nhau, hầu hết không rộng hơn cỡ của một chiếc giường đơn. Trong các ngôi nhà chật chội này cả gia đình năm, sáu, thậm chí mười người cùng ngủ chung.
Khi còn học ở trường dòng, một hôm các xơ dẫn chúng tôi đến Tondo trong chuyến đi thực tế. Mục đích của nó là để mở mắt cho chúng tôi. Cho chúng tôi thấy những kẻ kém may mắn hơn chúng tôi sống ra sao và để tạo cho chúng tôi chút lòng trắc ẩn với họ, đồng thời trong quá trình đó chúng tôi cũng biết quý trọng hơn những gì mình có. Nhưng lòng trắc ẩn đã chẳng làm được gì nhiều để kéo gần lại thế giới của chúng tôi và của họ. Những cơ cấu quyết định sự giàu có và sự nghèi khổ đã ngự trị hàng bao thế kỷ.
Jaime giải thích điều đó rất đơn giản. Anh ấy nói:
- Ðịa vị kinh tế và xã hội ở đất nước này được quyết định chủ yếu bởi chủng tộc. Quý tộc Tây Ban Nha tất nhiên chiếm hàng đầu. Họ thống trị suốt ba trăm bảy mươi năm. Thế lực chính trị đã dẫn đến thế lực kinh tế. Và chớ quyên các thầy dòng Tây Ban Nha khôn khéo đã sử dụng tín ngưỡng để chinh phục quần chúng.
Sau đó là người Hoa xảo trá. Họ không có ảnh hưởng về chính trị. Người Tây Ban Nha đã nhận ra điều đó. Người Tây Ban Nha đối xử với người Hoa như những người hạ đẳng, còn tồi tệ hơn cả với người Phillipine. Người Hoa phải sống trong một khu đất riêng nhỏ nhoi nằm ngoài Intramuros, không khác gì khu Do thái. Người Phillipine cũng rất khinh thường người Hoa. Song tạo hoá luôn cân bằng mọi sự. Người Hoa là loại người sinh ra với sự nhạy bén về kinh doanh. Rất nhiều người trong họ khôn ngoan kết hôn với dân địa phương và con cái họ, Trung Quốc – Phillipine mestizos, được sự chấp nhận của xã hội Phillipine. Chẳng bao lâu, họ đã là chủ của các cửa hàng, nhà cửa, ngân hàng, xưởng máy. Có tài sản trong tay, dần dần họ giành được quyền lực.
SAu đó người Mỹ tới mang theo hệ thống giáo dục mà họ đã khôn khéo sử dụng để gây ảnh hưởng tới cách nghĩ của người Phillipine. Bỗng nhiên, người Phillipine nghĩ họ là người Mỹ. Chúng ta đã từ bỏ cái duy nhất chúng ta có là ý thức về bản thân mình. Thật là người ngớ ngẩn, lố bịch biết bao khi thậm chí chúng ta còn vận động để trở thàng bang thứ năm mốt của nước Mỹ! Rốt cuộc thì người Phillipine chính là người bị lấy đi nhiều nhất. Người Tây Ban Nha và Trung Quốc thì có tài sản và quyền lực chính trị nhưng người Phillipine thì không bao giờ có chút quyền lực nào ở ngay tại đất nước mình để mà vùng vẫy. Em đã bao giờ nhìn thấy một người Tây Ban Nha hay người Hoa sống trong một ngôi nhà lụp xụp chưa?
Tôi nhìn quanh, ngắm khuôn mặt của những người ăn mày và người bán rong trên đường phố tôi nhận ra Jaime đã nói đúng đến thế nào. Tất cả bọn họ đều là người Phillipine, không có một ngoại lệ nào.
Mặc dù sinh ra là một mestizos với sự pha trộn các dòng máu Tây Ban Nha, Trung Quốc và Phillipine, thâm tâm Jaime vẫn cho mình là người Phillipine. Nên anh thường thất vọng trước bản tính của người Phillipine.
- Chúng ta đã bị thống trị quá lâu nên không còn nhớ chúng ta là ai nữa. Chúng ta cho rằng đó là cách sống. Chúng ta trở nên quá chấp nhận, lãnh đạm trước sự áp bức.
Khi lực lượng Sức mạnh Quần chúng lật đổ chế độ Marcos, Jaime hét toáng lên:
- Caridad, dân mình mới thật kỳ lạ làm sao. Chúng ta đã quỳ gối trước sự thống trị thực dân trong hơn bốn trăm năm ròng, chịu đựng hàng trăm điều xỉ nhục, trong khi tất cả điều mà chúng ta cần để vùng lên giải phóng khỏi ách nô lệ này lại là sự nếm trải chế độ độc tài nội địa. Thế mà chúng ta cũng phải chịu dựng chế đọ này đến hai mươi mốt năm ròng!
Tôi băn khoăn không biết Jaime sẽ nghĩ gì nếu giờ này anh ở bên tôi. Nhưng rồi có lẽ chính bởi giao thông quá chậm chạp và dường như không bao giờ kết thúc đã bứt được anh khỏi tâm trí tôi. Phải mất gần một tiếng để đi một quãng đường có vài cây số từ sân bay về nhà tôi tại Malate. Cuối cùng thì Menalo cũng đã dừng trước cổng và bấm còi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi đã về đến nhà.

Một người giúp việc tôi không quen mặt chạy ra rồi mở cánh cổng sắt nặng chịch.
- Người mới a? Tôi hỏi.
- Mẹ chị không thích người giúp việc trước hoặc là người trước nữa. Bà nói rằng không ai được như Rosa.
- Thế Rosa đâu? Cô ấy đã bỏ đi rồi a?
- Em tưởng là đã viết thư kể cho chị nghe rồi cơ mà. Ðúng thế… hồi đầu năm nay cô ấy nói muốn về nhà làm ruộng ở Pangasian và sống quãng đời còn lại ở đó.
Rosa là người giúp việc được mẹ rất tin cậy. Cô ấy ở nhà tôi từ khi tôi còn bé và dù sao tôi cũng không hình dung được là cô lại không có ở đây. Rosa không bao giờ nản lòng trước lối cai quản của mẹ tôi. Cô ấy vẫn ở lại để chứng kiến nhiều người khác đến rồi đi khỏi ngôi nhà này, những khuôn mặt và tên tuổi mà toi chẳng còn nhớ nổi. Và dần dà, mẹ đã để cô cai quản khá nhiều việc trong nhà. Cô ấy nghiêm khác với những người giúp việc khác, thường để lộ ra vẻ chuyên quyền, nghiêm khắc lạnh lùng chẳng khác gì bà chủ. Bây giờ cô ấy đã đi rồi.
Tôi bước vào nhà, nơi thời gian đã dừng lại từ rất lâu rồi. Sala vẫn như ngày xưa. Cứ như hình ảnh trong một bức ảnh cũ đã ngả vàng. Vẫn những đồ đạc đó mà vẫn ở đúng những chỗ đó. Bộ sưu tầm tranh của cha tôi vẫn treo trên tường đúng chỗ ông đã treo từ biết bao lâu rồi. Cây tre cao vẫn trong chiếc chậu men to có hình con rang lượn quanh đặt ở góc nhà nơi nó được đặt lần đầu từ hơn một thập kỷ qua. Một số người muốn thay đổi mọi vật, di chuyển chúng ra chỗ này rồi chỗ kia. Nhưng mẹ tôi thì không thế. Mẹ thích mọi cái được giữ nguyên như cũ. Có điều giờ đây trông chúng cũ hơn. Chúng thêm tuổi tác, già đi cùng mẹ.
- Bà nói khi nào cô về tới thì cô lên thẳng phòng ngủ của bà - Người hầu gái trẻ nói.
- Rồi, em về đây. Gọi điện cho em sau rồi chúng ta sẽ lên vài chương trình - Mia nói và quay ra đi về.
- Thế em không lên gác cùng với chị a?
- Không, em biết chắc là bác Thelma muốn ngồi riêng với chị…
- Kinh khủng đến thế sao? - Tôi hỏi nửa đùa nửa thật.-
- Chị đừng có vớ vẩn.

Tôi theo người hầu gái lên phòng mình, nơi cô ta xếp mọi đồ đạc của tôi cạnh chiếc tủ com mốt Vigan cũ cạnh chân giường. Tôi sờ tay lên mặt tủ, cảm nhận chất gỗ, thấy nó mới cần có một lớp dầu bóng Ðan Mạch để lại có được vẻ choáng lộn ngày xưa đến thế nào. Cha tôi mua chiếc tủ này trong một chuyến công tác lên phía Bắc vì tôi luôn ao ước có một chiếc. Tôi mở cánh cửa để lộ hàng ngăn kéo để cất đồ trang sức. Tôi mở một ngăn ra và tìm thấy hai vỏ ốc tiền. Tôi cố nhớ lại xem mình đã nhặt chúng khi nào. Tôi lấy một cái vỏ ốc và áp vào tai. Ngày xưa, cha bảo tôi rằng nếu đặt vỏ ốc vào gần tai, tôi sẽ nghe được tiếng gọi của đại dương. Tôi có thể nghe thấy nhiều điều bí ẩn. Tôi lại cất vỏ ốc vào ngăn kéo và đóng tỷ lại rồi nhìn quanh phòng. Mọi thứ vẫn như xưa nhưng những chiếc rèm vải hoa đã phai màu và từ chỗ tôi đứng tôi nhìn thấy một chỗ rách để ánh sáng bên ngoài cửa sổ lọt vào. Ai đó đã bật đèn hành lang. Ngoài kia trời đã xẩm tối.
Tôi mở những cánh cửa dẫn ra hành lang. Chỉ vài phút trước khi tôi bước vào trong nhà, bầy trời bỗng toác ra, trút xuống một cơn mưa xối xả, rửa sạch hơi nóng trên các vỉa hè, làm tăng thêm cái mùi nồng nồng chua ngái bốc lên do nước mưa rơi xuống mặt đất đã thấm đẫm nắng trời. Tôi vẫn còn ngửi thấy cái mùi đó. Nhưng cơn mưa như trợt tạnh nhanh y như nó bắt đầu. Bây giờ dấu vết duy nhất của nó ngoài hơi nồng của đất là tiếng giọt nước rớt tí tách từ chiếc lá này xuống chiếc lá khác trên cây xoài già trồng bên nhà phía bên phòng tôi. Những tán lá dài, sum suê vươn cao tới gần mái nhà, bóng của nó trải dài như vòng tay rộng mở vươn tới phòng tôi để ôm lấy bức tường.
Tôi quay về phòng mình, chiếc điều hoà đang rền rĩ. Nó đã quá cũ kỹ và có lẽ không được dùng đến kể từ chuyến tôi về nhà lần trước. Căn phòng cũng chẳng mát hơn được là bao mà lại còn tiếng ồn của cái điều hoà. Nhưng dù gì thì cũng vẫn hơn ở ngoài kia. Không khí ẩm nóng làm da tôi ướt mồ hôi rồi. Trận mưa trút nước cũng chẳng giúp được là bao. Phải mất vài ngày để làm quen lại với cái nóng bức này.
Nhìn một lần cuối, tôi bước về phía cửa ra vào. Không có gì để trì hoãn thêm nữa. Mẹ đã biết tôi về đến nhà rồi. Thế nên tôi bước ra hành lang và đi về phía phòng mẹ. Căn phòng trông xuống lối chính vào nhà, từ cửa sổ hẳn mẹ đã nghe thấy tiếng xe ôtô đi trên đường vào và dừng lại trước cổng chính, rồi tiếng chúng tôi trò chuyện chắc vọng lên tận phòng mẹ.
Chiếc gương hình bầu dục cổ dọc hành lang phản chiếu hình tôi cũng như bao nhiêu lần trước kia. Chỉ có điều lần này, không phải là khuôn mặt của một đứa trẻ từ trong gương nhìn lại tôi mà là của một phụ nữ đã tứ tuần, tóc đã điểm muối tiêu, khuôn mặt đầy đặn hơn ngày trước với những nếp nhăn đã lộ rõ nơi khoé mắt. Tiếng bước chân của tôi không còn là tiếng dép khua lốp cốp của một đứa trẻ mà là bước đi của một người đã trải qua năm tháng, quay về mang theo cảm giác mất mát và mệt mỏi. Gót giầy của tôi báo hiệu tôi đáng đến, nó gõ lên ván sàn đánh bóng lát từ đỉnh cầu thang xuống đến hết sảnh. Cuối cùng đã đến cửa phòng mẹ, tôi vặn tay nắm và bước vào căn phòng, nơi giờ đây mẹ giam hãm cuộc đời mình.
Bạn đã bao giờ vào trong một nhà thờ khi đèn đóm tắt hết và một thứ duy nhất tỏa sáng là một hàng nến lung linh có những ngọn lửa tạo thành những dải khói xoắn đưa lời cầu nguyện lên cao xanh nơi nó sẽ được Chúa trời nghe thấy chưa? Cũng thứ ánh sáng và bóng tôi đó đang ngự trị trong căn phòng mẹ tôi.
Tôi đưa mắt tìm kiếm mẹ giữa bóng tối. Thứ ánh sáng duy nhất toả ra từ chiếc đèn cổ đế xà cừ đặt trên bàn cạnh giường mẹ, đổ bóng lờ mờ trên những bức tường phòng ngủ. Và nó cũng rải một quầng sáng dịu lên mẹ, nên tôi có thể nhìn thấy mẹ mặc dù mọi thứ trong phòng đều rất lờ mờ. Mẹ ngồi bên cửa sổ có những cái rèm dài bất động. Không một ngọn gió để lay động sự tĩnh lặng của chúng. Trong chiếc ghế bành ưa thích, mẹ đu đưa qua lại, tạo nên những tiếng kẽo kẹt lạc lõng trong sự im lặng của căn phòng.
Ðã hơn ba năm rồi tôi không nhìn thấy mẹ, từ khi chôn cất cha. Hồi đó, trong tang lễ, mẹ đứng thẳng như một cây cột, kiên quyết không để lộ một chút dấu hiệu nào của sự sầu bi. Chỉ trong một thời gian quá ngắn ngủi mà mẹ đã thay đổi quá nhiều. Giờ đây cả mái tóc mẹ đã muối tiêu… không, tất cả đã bạc trắng. Mẹ đã già hơn là tôi hằng nghĩ.
Chậm rãi tôi bước về phía mẹ, mong là đôi giầy của mình không phát ra những âm thanh chói tai.
- Mẹ, mẹ ơi… con đã về nhà rồi đây.
Mẹ từ từ quay lại, ánh sáng trên mái tóc mẹ tạo thành một vầng hào quang quanh đầu bà, làm nổi bật nhiều, rất nhiều những nếp nhăn trên gương mặt bà. Cứ mỗi nếp nhăn trên mặt chúng ta, là hậu quả của một lo phiền.
- A, Caridad, lại đây con.
- Mẹ… tôi gọi thêm một lần trong khi cúi xuống hôn vào đôi má nhăn nheo của mẹ. Làn da lạnh và nhẽo.
Mẹ nhấc tay lên và đặt một ngón lên môi tôi rồi nói:
- Không, Caridad, ta không phải là mẹ của con.

Thuỳ Chi
0
Chương III

Caridad
“Quá khứ phân định chúng tôi cũng nhiều như hiện tại.
Bởi vì tôi bị mất quá khứ, tôi không bao giờ cảm thấy mình trọn vẹn”

Những kỷ niệm đầu tiên của bạn là gì? Bạn còn nhớ những gì? Bạn muốn hỏi điều gì? Bạn muốn biết điều gì? Ðiều gì làm bạn cười và khóc? Niềm vui sướng và nỗi sợ hãi của bạn là gì? Bạn sống và chơi ở đâu? Bạn yêu ai ghét ai? Những giấc mơ của bạn là gì?
Người ta nói rằng chúng ta nhớ được mọi cái chúng ta đã từng nhìn, nghe thấy, ngửi, chạm vào và cảm nhận. Tất cả những trải nghiệm đó đều được khắc sâu ở một phần trong bộ não của chúng ta. Chẳng có gì bị đánh mất hoặc bị lãng quên. Mọi cái còn lại trong ta mãi mãi.
Họ cũng nói rằng thời gian không làm chúng ta xa cách những hồi ức đó. Rằng một số người có thể nhớ được những sự kiện xảy ra từ thời thơ ấu và một số người thậm chí còn xa hơn nữa, nhớ được cả âm thanh và cảm giác khi họ còn nằm trong bụng mẹ.
Tôi nhớ được nhiều thứ. Những hình thù và bóng tối chuyển động quanh tôi. những giọng nói lúc du dương, lúc vỗ về và đôi lúc thì giận dữ và buồn rầu. Và hơi ấm… cảm giác của một bàn tay chăm sóc, yêu thương, xoá đi cơn đau. Nhưng hơn hết, tôi nhớ những điều mà dù tôi còn chưa hiểu nổi nhưng sâu thẳm trong mình tôi hiểu nó mang chút sự thật. Ngày còn là đứa trẻ tôi đã hỏi về những điều đó nhưng đã bị từ chối không trả lời. Khi đã trưởng thành tôi lại hỏi nhưng tôi cảm thấy có lẽ câu trả lời sẽ gây ra đau đớn. Tôi đã thôi không hỏi nữa. Dù sao thì điều đó có gây vấn đề gì đâu, có chỉ là quá khứ mà thôi.
Nhưng nó lại là một vấn đề. Bởi gì quá khứ phân định chúng tôi cũng nhiều như hiện tại. Bởi vì không bao giờ biết được quá khứ, tôi không bao giờ chắc được tôi là ai. Bởi vì tôi bị mất quá khứ, và tôi không bao giờ cảm thấy mình trọn vẹn.
“Tại sao?” là từ trẻ con sớm học được trong cuộc đời. Ðó là từ tôi thường dùng khi còn bé. Và nó là từ mà tôi vẫn còn tiếp tục dùng sau khi phân flớn những đứa trẻ đã chuyển sang các từ khác.
Chính từ này đã tạo cảm giác trống trải. Bây gờ bạn hãy thử nói từ đó mà xem. “Tại sao?”” Bạn sẽ nhận ra lưỡi bạn không chạm vào đâu cả khi miệng bạn thốt ra tiếng đó. Cảm nhận khoảng cách, chõ trống trong miệng bạn mà nó tạo ra. Thinh không. Ðó chính là chỗ cần được lấp đầu. Nó thiếu một câu trả lời.
Tôi còn nhớ đã hỏi điều đó khi mới lên bốn tuổi. Hôm đó chúng tôi còn sống ở khu nhà cổ ở Santa Cruz. Hàng ngày, tôi thường ra ngoài và chơi với tụi trẻ xếp nhà trước hiên hè, xếp ghế thành các phòng ngủ tưởng tượn và bàn thành phòng tiếp khách. Rồi chúng tôi chơi trò trốn tìm trong ngôi nhà mà rất nhiều đồ đạc cũ bị bỏ ra và lãng quên. Chúng tôi còn chơi trò piko - nhảy lò cò trên lối đi, vạch dấu trên nền bằng những mẩu phấn trắng. Ném đá cuội để đánh dấu điểm rồi chúng tôi cứ thế nhảy lò cò, nhảy một chân rồi nhảy hai chân. Tôi vẫn còn cảm giác dải tóc dài vắt vẻo sau lưng cứ mỗi lần nhảy.
Ðôi khi chúng tôi chơi trò thách thức. Thách thức lớn nhất, đáng sợ nhất là ngồi ở dưới gốc cây đa mọc cạnh tường trước cửa nhà bếp. Có một hồn ma sống ở đó. Một bà già tóc bạc đôi khi để những người hầu nhìn thấy vào buổi đêm. Người ta nhìn thấy bà đi lại, không, mà dật dờ, chân bà không chạm mặt đất. Ðến đêm thì bà lại ra, một hình bóng mong manh, mỏng như không khí và trong suốt. Rúc rích lo sợ, một đứa trong bọn sẽ đi vào dưới bóng cây trong khi những đứa còn lại đếm xem đứng được bao lâu. Ðứa nào đứng được lâu hơn là đứa dũng cảm hơn.
Cái cây hiện ra cao lớn lù lù trong giấc mơ của tôi và một đêm bà già đó gọi tôi. Tôi tè dầm. Mẹ bảo tôi và các bạn không bao giờ được đến gần cái cây đó nữa bằng không mẹ sẽ bắt tôi ra đó một mình vào ban đêm và những người đầy tớ bị cấm không được kể những câu chuyện đồn thổi của họ nữa.
Hết giờ này đến giờ khác trôi qua, cả buổi sáng chúng tôi chơi đùa, cười vang, hò hét, đánh lộn và làm lành cho đến khi bị gọi về: “Về nhà ngay để ăn cơm trưa!”. Tiếng gọi đầu tiên thường chả đứa nào nghe thấy. Ngay sau đó sẽ là tiếng gọi thứ hai: “Về nhà ngay không thì cơm canh nguội hết bây giờ”. Lần này cũng bị chúng tôi lờ đi. Nhưng đến lần thứ ba thì chúng tôi luôn chạy vôi vì lần này như là một lời đe doạ: “Hãy về nhà ngay nếu không chiều nay sẽ không được đi chơi nữa”.
Ðược một lúc, sự im ắng ngự trị trên hè phố, chỉ nghe thấy tiếng xe cộ chạy qua. Thường được thêm một hai tiếng sau bữa trưa vì tất cả chúng tôi đều ngủ trưa. tôi không bao giờ thấy cần cái buổi ngủ trưa đó nhưng không thể tranh luận với mẹ tôi hoặc với yây vì họ rất nghiêm khắc với tôi.
Cũng vào một ngày như thế, có người đã gieo rắc hạt giống đầu tiên của sự nghi ngờ trong đầu óc tôi. Hôm ấy, trong lúc chúng tôi chơi bên ngoài, một chiếc jeepney dừng ở bên kia phố và dì Emma của tôi bước ra. Tôi nhớ là khi ấy tôi cảm thấy thất vọng vì gì không đem Mia theo.
Khi dì đi ngang qua phố, Teresa ở bên hàng xóm nói:
- Ðấy là mẹ của mày đấy, Caridad ạ.
Những đứa khác nhìn nhau cười khúc khích.
- Không, đấy không phải mẹ tao. Ðó là dì tao, tôi nói
- Ðấy là mẹ mày… đấy là mẹ của Caridad… mẹ của Caridad… Teresa vẫn tiếp tục lải nhải, chỉ im mồm khi dì Emma đến gần chúng tôi. Tôi nhìn sát vài dì nhưng không thấy dì và mẹ giống nhau mấy. Mặt dì tròn hơn, đôi mắt đen như tóc dì còn da thì như sữa.
Mặt mẹ tôi dài hơn và đôi mắt có thể nhìn thấu tâm can người ta, nước da màu nâu óng, tóc mẹ đôi khi như có ánh lửa chiếu vào.
- Caridad, mẹ cháu đâu? dì hỏi
- Trong kia, tôi nói, chỉ tay về phía nhà, trong phòng bếp.
Khi dì đi khỏi, tôi quay sang Teresa nói:
- Mày thấy chưa, tao đã bảo mày là đó không phải là mẹ tao mà.
Nhưng hình như nó thấy điều đó còn buồn cười hơn. Tôi ghét nó kể từ ngày đó và cũng kể từ ngày đó tôi đã bắt đầu thắc mắc “Tại sao?”
Tôi còn nhớ ngày sinh nhật lần thứ năm của mình, mẹ đã mời tất cả anh chị em họ, trẻ con hàng xóm đến để dự sinh nhật. Mẹ mặc cho tôi một chiếc váy hồng rất đẹp, modista may dành riêng cho tôi.
- Ngồi yên nào Caridad, mẹ không thể chải tóc cho con nếu con cứ tiếp tục cựa quậy như thế. Ðừng có gãi sồn sột như chấy giận trên người thế.
Tôi không thể chịu được, cái dải băng buộc trên váy làm tôi ngứa ngáy thế nên tôi cứ gãi xung quanh cổ và cổ tay ở chỗ viền của cái tay bồng. Trước đó, yaya của tôi đã rắc phấn khắp người để tôi không bị ngứa ngáy. Nhưng tôi cứ tiếp tục gãi và những chô trên da bị móng tay tôi cào lên bắt đầu hiện lên những vệt đỏ. Mẹ đập vào tay tôi khi tôi lại đưa tay lên gãi tiếp.
- Thôi đi và giữ yên cái đầu.
Tôi không thích chải đầu. Tóc tôi đã dầy lại xoăn, lại dài nữa và mỗi khi mẹ lấy lược chải vào, răng lược cứ dứt tóc tôi. Mẹ luôn giật nhẹ thôi nhưng tôi vẫn luôn bị đau.
- Ui da!
- Sắp xong rồi… Yên nào… Mẹ phải nói với con bao nhiêu lần là con người ta phải có khả năng giữ yên lặng hả, bởi vì chạy nháo nhào rồi dấp vào bờ rào, nhưng khi ta ngồi yên lặng thì may mắn sẽ ở lại với ta,
Mẹ vẫn thường nói với tôi những chuyện đại loại như vậy mỗi khi bà chải đầu cho tôi vào các buổi sáng. tôi chưa lần nào dám nói với bà rằng tôi không hiểu những điều bà nói. Bà lôi từ những ngóc ngách bí mật nào trong đầm bà ra đủ thứ chuyện. Bà nhào nặn chúng tuỳ vào từng việc bà muốn tôi làm. Ví dụ như buổi sáng nay là giữ yên lặng.
Mẹ cuối cùng đã gỡ xong mái tóc bòng bong của tôi. Nhưng thay vì tết chúng lại, bà lại chải tóc mái lên và thắt một chiếc nơ màu hồng lên đỉnh đầu. Phần còn lại, bà để nó buông xoã xuống vai tôi.
Yaya của tôi đứng cạnh xem mẹ tôi chải tóc lúc đó thốt lên:
- Parang prinsese! Trông cô như một cô công chúa!
Và ngắm mình trong gương tôi thấy đúng thế. Chiếc váy đăng ten màu hồng với chiếc nơ sa tanh xung quanh thắ lưng gây khó chịu nhưng trông lại rất đẹp.
Mẹ đã mua cho tôi một đôi giày màu trắng mới rất đẹp và tất đăng ten màu trắng hợp với bộ váy. Và trong bộ cánh đó, tôi đi xuống nhà dưới, vào sala để chụp ảnh.
- A, đây là cô bé sinh nhật hôm nay đây, chú thợ ảnh đang đợi tôi ở dưới nhà nói. Chú ấy là một người cao gầy và hơi còng còng, tôi nghĩ là do luôn phải cúi xuống để nhìn vào cái máy ảnh.
Chú đặt chiếc máy ảnh trên một chiếc giá ba chân và phủ một chiếc khăn đen qua đầu mỗi khi chụp hỉnh tôi. Cả ba chúng tôi cùng chụp vài kiểu - kiểu tôi đứng giữa bố mẹ, kiểu tôi với bố, kiểu tôi với mẹ và kiểu tôi một mình.
- Còn một kiểu ảnh nữa, lần này cho cháu được chọn chỗ cháu muốn chụp, chú nói.
- Ngoài kia có được không?
- Ðược thôi, không vấn đề gì cả.
Chú ấy chuyển máy ảnh ra vườn, đến chỗ tôi ưa thích, đó là một cái vòm được tạo bởi hai cây hoa giấy. Tôi rất thích chơi dưới vòm cây này vì tôi tưởng tượng ra nó là một cánh cổng dẫn đến một chốn màu nhiệm. Tôi vẫn còn giữ bức ảnh này, một cô bé với gương mặt tươi cười đứng dưới vòm hoa lá lung linh trong gió.
Khách khứa đến ngay sau đó. Tụi trẻ con cùng tuổi thường chơi với tôi. Nhưng người tôi chờ đợi là Mia.
Ðó là điều tôi nhớ nhất về ngày sinh nhật hôm đó. Ðó chính là điều luôn nổi lên trong tâm trí tôi, rõ ràng như cái ngày nó xảy ra.
Tôi nghe thấy mẹ nói:
- Emma, cuối cùng rồi em đã đến.
Dì Emma bước vào. Tôi rất mừng rõ vì thế có nghĩa là Mia cũng đã ở đây rồi, thế là tôi chạy ùa ra đón dì.
Tôi chạy vào phòng khách nơi có rất nhiều người đang tụ tập ở đó. Dì Emma mỉm cười với tôi và nói:
- Chúc mừng sinh nhật Caridad.
Dì cúi xuống khi thấy tôi kiễng chân lên để hôn dì. Ngay lúc đó tôi nghe thấy ai đó nói với một giọng rất ngạc nhiên:
- Dios mio, Emma ơi, con bé rất giống Ligaya nhà em.
- Không, nó không gióng, mẹ bật lại, giọng nghe có vẻ buồn và giận dữ. Tôi nhìn sang dì Emma và thấy dì cũng có vẻ buồn nhưng theo kiểu khác mẹ. Dì Emma trông có vẻ lúng túng, nhưng còn có một cái gì đó khác nữa… trông dì buồn, như là sắp khóc, trong khi trông mẹ lại tức giận. Mẹ không nói một lời bực dọc nào nhưng đôi mắt mẹ đã nói với tôi là mẹ đang tức giận. Trông mắt mẹ như thuỷ tinh, phát ra những tia sáng, cứ khi nào mắt mẹ như thế là tôi biết mẹ đang tức giận. Miệng mẹ trông như giận dữ nốt, đôi môi mím chặt thành một đường mỏng dính, thẳng băng.
- Con ra ngoài chơi với Mia và các bạn khác đi con… đi nào, mẹ ra lệnh và tôi biết là mẹ không muốn tôi ở đó. Tôi chạy ra ngoài tìm Mia.
Kể từ ngày đó, tôi thường tìm gặp cô em họ Ligaya, chị cả của Mia. Luôn mong gặp vì tôi muốn xem có phải tôi thực sự giống chị ta không. Nhưng Ligaya chưa bao giờ đến thăm chúng tôi. Tôi thường hay ngắm mình trong gương để phân ra các nét của mình. Mắt, mũi, miệng, khuôn mặt giống ai. Tôi giống mẹ mái tóc. Phần còn lại tôi nghĩ vừa giống bố vừa giống mẹ nên tôi tìm thấy những nét tương đồng với bố hoặc mẹ theo một kiểu nào đấy. Một sự pha trộn.

Tôi đang ở nhà Mia. Mẹ rất hiếm khi dẫn tôi đến đó.
- Dì Emma của con bận quá không có lúc mà tiếp khách đâu. Mà ở đó cũng không có chỗ để chơi đâu. Hãy đợi đến lần sau dì đến… mẹ sẽ bảo dì dẫn cả Mia đến.
Nhưng hôm đó lại khác. Mẹ bảo chúng tôi sẽ đến nhà dì Emma.
- Chúng ta không được đến muộn khi tất cả khách khứa đã đến đủ hết rồi… thế nên con ăn sáng nhanh lên Caridad.
Tôi không cần phải để nhắc nhở thêm lần nào nữa và tôi đã không phàn nàn khi mẹ bắt tôi thay váy dạ hội. Tôi không bận tâm đến sự khó chịu vì tôi sẽ được đến nhà Mia.
- Hôm nay là sinh nhật ai hả mẹ?
- Không phải sinh nhật mà là một buổi tiệc đính hôn.
- Nó là gì hả mẹ?
- Ô, con biết không… đó là bữa tiệc trước khi ra đi lấy chồng.
- Thế ai đi lấy chồng hả mẹ?
- Em họ Ligaya của con.
- Thế chị ấy sẽ lấy ai?
- Thôi, con đừng hỏi nữa… mặc cho xong vay áo đi.
Chúng tôi đến đã thấy sala chật ních những người. Nhà Mia không phải là một ngôi nhà lớn nên không thể chứa nổi nhiều người. Trong nhà rất nóng và chẳng còn một chỗ nào là không có người.
- Mia đâu ạ? Tôi hỏi nhưng không ai trả lời tôi cả. Mọi người đang mải nói chuyện.
Tôi tự đi vào phòng ăn chỗ mẹ đang nói chuyện với dì Emma.
- Mia ở đâu hả dì?
- Tìm ở ngoài ấy, Caridad.
Nhưng tôi không thấy Mia đâu cả. Tôi lại quay vào nhà. Có thể nó ở trên gác. Tôi chả nghĩ ngợi gì thêm, đi luôn lên gác. Tôi mới lên trên đó có vài lần. Trên đó là các phòng ngủ. Một phòng của dì Emma, một của hai anh Mia, Miguel và Paolo, một của Mia và các chị gái.
Phòng Mia là phòng ở giữa. Trong đó có hai cái giường lớn. Mia ngủ với Laura còn Ligaya ngủ với Celia. Tôi chưa bao giờ nói với Mia một điều - tôi rất ghen tị với nó về căn phòng này. Ðôi lúc tôi tưởng tượng mình ngủ trong một chiếc giường lớn như của nó cùng một ai đó bên cạnh để kể chuyện này chuyện kia hay chỉ nằm thôi không nói gì cả để cùng lắng nghe những điều thần bí được kể bằng một giọng nói lặng thầm do những làn gió nhẹ mang tới.
Dưới những chiếc giường đó là cả một thế giới khác lạ. Một lần chúng tôi đã cùng chơi dưới gầm giường giữa các thùng hộp được cất ở đó. Chúng tôi giả vờ đó là một cái hang ở trên núi, nơi chúng tôi sống trong nỗi sợ hãi, trốn bọn tulisan, những tên cướp đang rong ruổi khắp núi rừng, tìm các cô thiếu nữ, giống như trong các vở opera xà phòng mà các bà thợ giặt chiều nào cũng nghe từ cái đài oang oang ầm ĩ trong khi bà ta là ủi quần áo. Thế rồi tôi và Mia lăn lóc trên sàn nhà dưới gầm giường, lăn vào trong hang, không nhận thức được rằng chúng tôi còn gặp nhiều nguy hiểm hơn từ các bà mẹ giận dữ của chúng tôi lúc các bà tìm thấy chúng tôi bẩn thỉu nhớp nháp, váy áo dính đầy những bụi bẩn mà chổi không quét tới.
Ngày hôm đó không được chơi gì cả. Phòng của Mia chật ních người, Ligaya bận rộn chuẩn bị và Celia giúp chị ấy mặc váy. Mọi người cứ đi ra đi vào, nhiều người thậm chí tôi không thể nhận ra. Và tôi vẫn không nhìn thấy Mia đâu.
Tôi quay lưng đi và khi tiến về phía cầu thang, tôi nhận ra cửa phòng ngủ của dì Emma đang mở.
- Mia, Mia ơi, em ở trong đó à? Tôi tiến về phía căn phòng và nhìn vào bên trong. Ðó là một căn phòng đơn giản, nói về kích thước thì nhỏ bé, có một cái giường ở một bên và một cái bàn trang điểm kê sát tường, đối diện với cửa sổ. Nhưng chính cái bức ảnh đặt trên tủ búyp phê mới là thứ thu hút sự chú ý của tôi.
Khung ảnh đặt trên nóc tủ cao và dựa vào tường. Ðó là một cái khung ảnh sơn màu kem có mạ vàng và gỗ được trạm chổ uốn lượn trông như kem trang trí trên bánh ga tô. Trong khung là bức ảnh một người đàn ông. Ông ấy gầy và xanh, không trẻ cũng không già. Trông ông rất nghiêm trang trừ miệng có vẻ dịu dàng, dường như ông ấy đang chuẩn bị cười đúng lúc chụp, vì thế không kịp cười hẳn. Có thể vì vị trí của tôi, không dường như đôi mắt ông đang nhìn tôi và tôi tự hỏi ông đang sắp nói gì.
- Chị đang làm gì ở đây thế hả Caridad?
Quay lại, tôi thấy Ligaya đang đứng cạnh tôi. Chị ấy đã mặc xong váy áo và chuẩn bị đi xuống dưới nhà. Tôi nhớ trông chị rất xinh đẹp. Tôi luôn e dè chị vì chị đẹp và cũng còn vì chị luôn có vẻ quá già dặn và xa cách. Tôi là một đứa trẻ con rất muốn sự đồng tình của chị. Thế nên tôi ngần ngại trước khi hỏi chị. Ðầu tiên tôi nhìn vào người đàn ông trong bức ảnh rồi mới hỏi chị:
- Ai đấy hở em họ?
Ligaya đứng im lặng và cũng như tôi cũng nhìn chằm chằm và bức ảnh. Cả hai chúng tôi đứng đó bao lâu tôi không biết, cho đến khi chị trả lời:
- Ðó là bố.
- Bố của các em à?
- Ðó là bố, chị nhắc lại. Rồi chị đưa mắt ông ấy sang tôi, nhìn tôi một lúc trước khi nói:
- Em giống bố đôi mắt.
Rồi chị dịu dàng chạm tay vào má tôi. Một cái vuốt má nhẹ như tơ. Tôi không nhớ là chị đã từng vuốt tôi như thế bao giờ chưa. Tôi nhìn chị không hiểu gì cả.
- Ði nào, chị nói và cầm tay tôi, đã đến lúc em phải xuống dưới rồi… Mọi người đang đợi em còn Mia chắc là đang tìm chị họ đấy.
Chị âu yếm xoay người tôi lại và dẫn tôi ra khỏi phòng. Chị cầm tay tôi và dẫn tôi xuống cầu thang. Tôi còn muốn hỏi chị một câu hỏi khác nhưng sự phấn khích lúc đó làm tôi quên mất tôi định hỏi gì. Chỉ sau đó, đến khi đi ngủ tôi mới nhớ ra. Tôi đã muốn hỏi em họ tôi câu này:
- Có phải chị trông giống em họ không? Có đúng thế không?

- Một trăm bàn. Nó sẽ có một trăm bàn.
Cha tôi đã hứa sẽ tổ chức một trăm bàn tiệc cưới cho tôi ở tiệc cưới lauriat. Một đại tiệc cho một nghìn khách, mười người một bàn. Khi một cặp vợ chồng được mời thì cả con cái, có khi cả cháu họ cùng đi và dễ dàng chiếm trọn một bàn.
Cha mẹ tôi mất một thời gian để làm quen với việc cưới xin của tôi. Khi tôi mười tám tuổi thì tôi gặp Jaime qua một chị bạn. Chị ấy nói là có một người em họ rất giỏi toán và có thể giúp tôi môn thống kê. Lúc đó Jaime đã đi làm rồi, anh hơn tôi bốn tuổi nhưng đã đi làm gia sư để kiếm thêm tiền. Lúc đầu, anh đến một tuần một lần, trong hai tiếng đồng hồ, giải thích những thứ như phép thử T và phép thử F và sự khác nhau giữa trị số trung bình, trung bình thống kê và dạng số liệu rồi làm sao để tìm được phương sai chuẩn. Nhưng những buổi trao đổi đó nhanh chóng nhường chỗ cho những buổi trò chuyện dài về sách vở, phim ảnh, du lịch và nhiều các khác để rồi dẫn đến tình bạn và xa hơn nữa. Ngày Jaime từ chối nhận học phí chính là ngày cha tôi nhận ra thầy giáo của tôi đã trở thành người bạn đời của tôi.
Jaime chỉ một nửa là người Hoa, cha anh là người Tây Ban Nha - Philippine và gia đình anh cũng không được khá giả như gia đình tôi. Nhưng điều khiến cha mẹ do dự là chuyện tuổi tác của tôi. Tôi mới hai mươi tuổi và vừa tốt nghiệp thì Jaime cầu hôn. Nhưng Jaime không bị bất cứ điều gì làm nản chí:
- Cháu không phải là người đàn ông giàu có nhưng cháu là người chăm chỉ và cháu hứa với bác cháu sẽ chăm sóc Caridad thật cẩn thận. Anh đã nói với cha tôi như vậy khi xin cưới. Và trong khi đúng là Caridad còn trẻ thì việc các bác được thấy cô ấy thành gia lập thất yên ấm hạnh phúc trong khi các bác vẫn còn bên cô ấy chả hơn là các bác ngồi băn khoăn lo lắng không biết mình cô ấy có cuộc sống tốt không khi các bác đã ra đi hay sao?
Bố mẹ tôi đã ngoài sáu mươi và Jaime đã động đến nỗi sợ hãi mà họ không dám nói ra. Bố tôi nhượng bộ. Ngày giờ đã được chọn. Thế là hai mươi tuổi tôi đi lấy chồng và cha tổ chức cho tôi một trăm bàn tiệc cưới.
Trong buổi tiệc cưới, chúng tôi đi từ bàn này sang bàn khác, đi hết tất cả một trăm bàn, đi cùng chúng tôi là một người bạn của cha tôi đóng vai trò chủ hôn. Khách khứa nâng cốc mừng hạnh phúc của chúng tôi. Ðến các bàn, tôi chỉ nhấp trà, tránh mọi thứ có rượu. Thế nên với một đầu óc tỉnh táo tôi nhớ rằng ai đó đã nói khi chúng tôi đi qua một bàn:
- Con bé này… nó ra đời sau khi… nhưng nó lại là đứa may mắn… những đứa kia, bà biết không, phải chịu khổ cực trong nhiều năm ròng.
Tất cả những ký ức ấy được tôi đẩy vào một chỗ thầm kín trong đầu óc. Và chúng vẫn cứ tồn tại trong đó cho đến khi tốt phát hiện mình có mang.

- Mẹ ơi, tôi nói, bác sĩ Santos nói là nước tiểu của con thử dương tính. Em bé sẽ ra đời vào tháng bảy.
- Tốt lắm… ôi, tốt lắm. Mẹ reo lên, rất hài lòng. Bố và mẹ đang lo không biết bao giờ mới có cháu để mà cưng đây. Ðể mẹ gọi bố ra nghe điện thoại để chính con nói cho bố biết nhé.
Jaime và tôi cưới nhau gần mười lăm háng thì tôi mang thai. Tôi đã bắt đầu nghĩ rằng có lẽ có chuyện gì đó không ổn ở phía tôi vì Jaime thuộc một gia đình đông con còn tôi lại là con một, đứa con sinh khá muộn màng.
- Có khi con cũng như mẹ… mẹ cũng khó mang thai…
- Thật vớ vẩn, mẹ cắt lời tôi trước khi tôi nói hết câu. Không có vấn đề gì với con đâu.
Khi cái thai lớn dần, tôi bắt đầu nhớ mang máng những đoạn chưa được giải thích trong quá khứ. Chúng dần dần quay về trong nhận thức của tôi. Một đêm tôi kể những chuyện đó cho Jaime nghe.
- Em chỉ tưởng tượng ra thôi, anh nói và ôm lấy tôi.
Jaime vẫn thường nói tôi thích tưởng tượng ra những chuyện đau khổ không có thực. Nhưng có điều gì đó trong khi mang thai khiến ta nghĩ đến thời thơ ấu của mình. Tôi nghĩ đó là điều phải làm vì với tất cả những chuyện nhỏ bé trong viễn cảnh mà tôi hình dung ra - về đứa con của tôi lớn lên và hỏi về cuộc đời tôi, về những câu chuyện tuyệt vời mà lúc đó tôi sẽ kể - tất cả những hình dung đó đưa lại cho tôi cảm giác không trọn vẹn. Tôi không thể kể những câu chuyện đó vì tôi không biết tất cả các sự kiện. Tôi lại bắt đầu hỏi và tôi càng hỏi thì mẹ càng buồn.

- Tessa nói là con sẽ có một bé trai - Một hôm trong bữa ăn trưa tôi nói với mẹ.
- Tessa thì biết gì. Nhất định là con đang mang bầu một cô bé gái, mẹ nói, giọng tự tin vào bản thân. Tôi cảm thấy Jaime đang mỉm cười.
- Mẹ em không bao giờ sai lầm, y hệt như Ðức giáo hoàng, có lần anh đã đùa.
- Tessa thì biết gì, mẹ tiếp tục. Tròn, bụng con trông tròn có nghĩa là mang bầu con gái. Nếu bụng nhọn mới là thằng cu.
- Ðáng lẽ mẹ phải nói với chúng con sớm hơn, để chúng con còn sơn vôi phòng em bé màu hồng chứ - Jaime nói, còn tôi thì lườm anh qua bàn. Jaime rất thích chọc mẹ tôi dù luôn sợ mẹ phật lòng.
- Chúng con đã sơn phòng cháu màu trắng mẹ ạ, màu kem nhạt ấy, như vậy để hợp với cả con trai lẫn con gái, tôi giải thích.
- Basta. Nó là con gái, mẹ nói thêm lần nữa như sợ ai đó sẽ nói ngược lại. Cha tôi đang ăn ngẩng lên liếc nhìn, ánh mắt ông lấp lánh, còn Jaime thì nháy mắt với tôi nhưng tôi vờ không thấy.
- Hơn nữa, mẹ nói thêm, trông con có mang xinh hơn… chửa con gái thường là vậy… còn nếu là con trai thì da thường rám lại, cổ con và da tay của con phải sẫm màu hơn cơ.
Jaime nhìn cha và nói:
- Nếu thế thì con không nghĩ là con lại mong có con trai.
- ý mẹ muốn nói là trông mẹ rất xinh khi mang thai con phải không? Tôi nói trêu mẹ nhưng mẹ hiểu sai ý tôi.
- Lúc nào cũng hỏi… lúc nào cũng hỏi… để làm gì cơ chứ.

Người ta nói là trẻ con sinh vào thứ hai thì mặt sẽ xinh xắn nhưng không ai báo trước cho tôi là khi sinh một đứa trẻ thì khó khăn đến thế nào.
Nếu để đẻ thường thì Marla sẽ ra ngược. Nó là một đứa trẻ to. Mọi người bảo con so thế là không bình thường. Nó cứ bám chặt vào bụng không chịu ra. Dù có rặn, có đảy thế nào nó cũng không ra. Cuối cùng, sau mười hai tiếng đau đẻ, bác sĩ thương hại tôi. Lúc ấy tôi mệt đến nỗi không khóc nổi nữa. Tôi phải mổ đẻ. Vài 8 giờ 58 phút tối, Marla đã ra đời sau ca mổ đẻ. Nó nặng ba cân tám. Nó là một đứa bé rất xinh. Tuy nước da không trắng nhưng nó có khuôn mặt đẹp. Nhưng cái tập trung sự chú ý của mọi người chính là các ngón tay của con bé. Ðó là một đứa trẻ mới sinh có ngón tay dài nhất mà tôi từng thấy.
Cha mẹ tôi cùng Jaime ở trong phòng đợi, từ lo âu bồn chồn chuyển sang sự nhẹ nhõm và vui mừng. Mẹ tôi tươi cười rạng rỡ khi bước vào phòng thăm tôi còn cha tôi thì rơm rớm nước mắt. Cuối cùng, họ đã có đứa cháu gái để vui hưởng tuổi già. Chúng tôi đặt tên bé là Maria Larissa, gọi tắt là Marla.
Phòng phụ sản của tôi đầy hoa tươi. Bó hoa đàu tiên là của Jaime. Những bông hồng màu vàng tươi vì tôi thích màu vàng. Phòng nuôi Marla màu trắng ngày bây giờ được thêm một chút ánh vàng.
Mia đến ngay hôm sau có dì Emma đi cùng. Mẹ vừa đi được độ mươi phút thì họ đến. Họ mang theo một giỏ dâu tây từ Banguio và một hộp sữa đặc có đường nhỏ.
- Em nghĩ là bây giờ chị sẽ thích ăn dâu tây và có một chút sữa để nhúng dâu thế là em mang đến cho chị một ít. Mia biết mọi điểm yếu của tôi. Khi Mia đi tìm đĩa thì dì Emma ngồi cạnh giường tôi.
- Không ai ở đây với cháu hôm nay à, thế Thelma đâu?
- Mẹ cháu vừa ra ngoài mua vài thứ cho em bé. Ðể làm dì yên tâm, tôi nói thêm, Jaime phải đi làm nhưng anh ấy sẽ nghỉ làm chiều nay. Còn bố cháu ở văn phòng nhưng sẽ đến vào buổi tối.
- Em và mẹ ngắm em bé rồi, Caridad ạ, Mia bảo tôi khi nó quay lại. Nó đã cố gắng kiếm được một cái đĩa ở phòng y tá. Mẹ và em đã ghé qua phòng sơ sinh trước khi đến đây. Em bé xinh xắn quá.
- Lớn lên nó sẽ rất đẹp đấy Caridad ạ. Cháu và Jaime sẽ rất hài lòng, dì Emma nói với tôi trong khi dì lấy chiếc đĩa từ tay Mia và lấy vào quả dâu tây bỏ vào đĩa cho tôi.
- Ðây, cháu ăn luôn bây giờ đi. Tươi lắm đấy.
Tôi mỉm cười và đỡ lấy chiếc đĩa từ ay dì. Vừa ăn dâu tây tôi vừa nói với họ:
- Dì và em phải nghe anh Jaime nói cơ, nghe giọng điệu anh ấy nói về em bé thì hẳn mọi người sẽ nghĩ chỉ mỗi anh ấy chịu trách nhiệm và nghĩa vụ để ra được con bé bây giờ.
- Chuyện ấy thì quen tai rồi. Có lẽ các ông thì ông nào cũng thế, Mia châm biếm.
- Dì đã nhìn tay nó chưa? Ngón tay con bé dài ghê cơ.
- Ngón tay dài… Dì nhắc lại lời tôi, giọng lạc hẳn đi. Một lúc sau tôi thấy dì nói tiếp - Chú Alfonro nhà dì… cháu không biết ông ấy bao giờ… ông ấy nói là những người có ngón tay dài… là những người tài năng.
- Ôi, thế có nghĩa là con là một người cực kỳ bất tài, Mia nói và xoè cả hai bàn tay ngón ngắn ngủn ra.
Tất cả chúng tôi đều cười. Mia luôn coi mình là người nhỏ thó trong gia đình. Mọi thứ của nó đều bé. Nó chỉ cao có một mét năm ba. Mặc đồ cỡ số năm. Vòng eo sáu mươi tám. Và tay thì cũng bé nốt.
Chúng tôi trò chuyện thêm nửa tiếng nữa sau đó Mia đứng lên ra về.
- Em và mẹ phải về đây. Em phải đưa mẹ về nhà, sau đó còn chợ búa một tí nhưng em sẽ lại đến thăm chị. Chị còn nằm viện hai ngày nữa phải không?
Ðến lúc đó dì Emma lấy ra một gói nhỏ trong túi và vội vàng ấn vào tay tôi:
- Nó chẳng là gì cả… chỉ là một món quà nhỏ thôi… Dì muốn cháu giữ nó, Caridad ạ. Ðây là một thời điểm hệ trọng… lúc sinh đứa con đầu lòng.
Tôi giữ gói nhỏ trong tay, liếc nhìn dì rồi nhìn sang Mia đang đứng sau dì. Mia gật đầu ra hiệu cho tôi hãy mở gói quà ra. Bên trong là một dây chuyền mặt hình trái tim. Tôi nhận thấy nó không còn mới nữa. Tôi hiểu nó là của dì tôi.
- Nhưng dì Emma ơi, cháu không thể nhận nó được. Nó rất đẹp, nhưng cháu biết nó là của gì mà. Cháu muốn nói là… chẳng lẽ dì không muốn giữ nó để tặng cho con hoặc cháu dì ư?
- Không, không… dì muốn con hãy giữ nó.
Tôi nhận được ánh mắt của Mia trao cho tôi. Hãy nhận nó, đôi mắt Mia nói. Thế là tôi cảm ơn dì, nhận món quà một cách miễn cưỡng và lúng túng:
- Cháu sẽ giữ nó, cháu hứa sẽ giữ gìn nó cẩn thận. Cảm ơn dì…
Lúc đó dì siết tay tôi, bàn tay đang cầm chiếc dây chuyền. Dì nói:
- Nó chả đáng là bao, cháu hiểu không, vì thế không phải cho mẹ cháu biết, được chứ? Chỉ là một món quà rất nhỏ mà.
Tôi chưa bao giờ đeo nó. Nhưng tôi vẫn luôn giữ gìn rất cẩn thận. Chiếc dây chuyền mặt hình trái tim cũ đó được gói cẩn thận trong một tờ giấy lụa và cất trong một túi lụa đỏ để ở ngăn đồ gửi ngân hàng của tôi tại Wespac, phố Giorge, nơi tôi cất giữ hầu hết các đồ trang sức. Những đồ đắt tiền, thậm chí cả những đồ trang sức nhỏ chỉ có giá trị tình cảm cũng được cất giữ ở đó. Nói thực lòng, tôi đã quên bẵng cái dây chuyền đó. Cho đến một hôm tôi đến ngân hàng để lấy một món đồ trang sức để đeo vào dịp lễ, tôi nhìn thấy chiếc túi nhỏ và không thể nhớ mình đã cất gì trong đó. Tôi mở ra vì tò mò và đến lúc đó nhớ ra sự tồn tại của cái dây chuyền vàng mặt trái tim này. Lẽ ra lúc ấy tôi phải hỏi Mia về chuyện này. Với tôi, nó không hề gợi ra ý nghĩa rằng có lẽ nó hàm chứa một điều gì đó. Ðiều gì đó khác hơn là chỉ là một món quà của một bà dì quý cháu.

- Thế khi nào cháu lớn cháu sẽ làm gì? - cô Vida hỏi Marla.
- Nghệ sĩ dương cầm ạ.
Marla lúc đó đã tám tuổi và đã giành được giải thưởng thứ ba tại các cuộc thi độc tấu piano ở trường. Nó là thí sinh nhỏ nhất lọt vào vòng hai. Những đứa trẻ khác bằng tuổi con bé chỉ thi ở vòng một.
- Anh không biết là con bé lấy đâu ra cái tài năng đó - Jaime nói - không có ai trong gia đình anh có tai âm nhạc cả.
- Và em cũng chẳng bao giờ chơi được ra hồn. Ngày xưa mẹ cũng bảo em học nhưng em chả thấy hứng thú gì.
Cô Vida cười phá lên. Cô là em gái của cha tôi. Thỉnh thoảng cô vẫn đến thăm cha mẹ tôi.
- Phải rồi, cô còn nhớ ngày bé cháu chơi piano thế nào… walang pag-asa! Cháu không có chút triển vọng nào.
- Chắc đó là gen lạc có nguồn gốc từ thời các cụ tổ - Jaime nói.
- Không đâu, đó là gen từ họ hàng mẹ cháu đấy, Caridad ạ.
- Nhưng mẹ cháu có chơi đàn đâu ạ.
- Em họ của cháu chơi đấy, con gái lớn của dì Emma… tên nó là gì ấy nhỉ?
- Tên là Ligaya. Cháu không biết là chị Ligaya lại chơi đàn piano.
- Mọi người bảo là nó chơi rất hay. Marla giống Ligaya… mana hay Ligaya.
- Thế thì mọi cái rõ rồi nhé - Jaime kết luận - chả có gì kỳ lạ trong chuyện này.
- Ðúng vậy… chả có gì là kỳ lạ cả… cùng một gia đình cả mà - Cô Vida đáp lại.
- Cái gì không lạ cơ? - Mẹ hỏi khi bước vào sala, trên tay bê một cái khay bánh phết mứt lecbe còn nóng vừa ra lò. Marla rất thích món kém caramel.
- Lola ơi, bà Vida bảo cháu giống gì Ligaya. Có phải dì ấy chơi đàn piano rất giỏi phải không lola? Marla hỏi.
Trông mẹ đờ người ra. Mẹ vẫn tiếp tục tiến về phía chúng tôi rời dừng lại cạnh bàn, đặt khay bánh xuống, ngưưoì giúp việc đi ngay sau mẹ, bưng theo đĩa và dĩa. Tôi thấy mẹ lườm cô Vida.
- Có phải dì ấy thế không hả Lola?
- Dì ấy cái gì hả Marla?
- Dì Ligaya ấy… có phải dì Ligaya chơi piano rất hay không?
Mẹ gật đầu.
- Ðúng rồi, dì ấy chơi đàn rất giỏi, nhưng mà đã lâu lắm rồi. Nào, cháu thích miếng to bằng nào hả Marla?
Thế là mẹ kết thúc cuộc bàn luận về piano và Ligaya. Cô Vida và tôi chỉ trao đổi với nhau qua ánh mắt và giữ im lặng. Tôi không bao giờ hỏi mẹ về điều đó, vì nó như là phản bội mẹ. Còn cô Vida trông cũng đủ hối lỗi vì đã nói những điều ít ỏi mà cô biết. Mẹ vẫn thường nói:
- Lưỡi cô Vida luôn đi trước người, cô ấy không kiểm soát được lời ăn tiếng nói của mình.
- Cha con muốn con biết điều đó… Nhưng mẹ thì không.
Giọng mẹ đưa tôi từ những năm tháng xa xôi đó trở về hiện tại… trở về nơi đây, nơi tôi đang ngồi và lắng nghe.
- Tại sao lại là bây giờ hả mẹ? Tôi hỏi mẹ qua ánh mắt. Và dường như mẹ hiểu được câu hỏi của tôi, mẹ đáp:
- Vì bây giờ mẹ đã già rồi và một ngày kia mẹ sẽ mang theo cả sự thật đó đi với mẹ, con sẽ không bao giờ biết phần của mẹ trong sự thật đó… không biết được sự tình từ phía mẹ. Và nghe từ phía người khác… con có thể nghĩ là mẹ đã sai.
- Thế thì mẹ hãy kể cho con nghe từ đầu đi.
Bà lắc đầu. Từ đầu ư? Bà nói. Từ đầu không phải là phần của mẹ để mẹ được kể. Nó thuộc về em gái mẹ - dì Emma của con.
Thuỳ Chi
0
Chương II
Thelma
“Giờ đây tôi đã già rồi - tôi không còn sợ sự thật nữa”

Tôi đã gọi cho cả hai người và nói: “Ðã đến lúc phải nói ra sự thật rồi”.
Họ đều hỏi: “Tại sao vậy?” “Tại sao lại là bây giờ?” “Ðể làm gì cơ chứ?” “Ðã quá lâu rồi”. Họ tranh luận, họ trù trừ, nhưng tôi vẫn cương quyết.
Emma nói với tôi: “Hãy cứ để yên quá khứ như vậy”.
Em gái tôi bây giờ về già vẫn sợ hãi quá khư như nó đã sợ hãi tương lại ngày nó còn trẻ. Có phải là vì bây giờ nhìn lại, nó thấy rất nhiều sự lựa chọn khác mà hời ấy nó không thấy chăng? Những ngày xưa ấy Emma đã phải đi qua đại dương nhiều sóng gió. Mà nước, trồi lên dập xuống khôn nguôi, đen kịt và sâu thẳm, cái độ sâu thật khó mà lường. Emma, không thể nhìn nhận rõ ràng, đã quyết định trong nỗi sợ hãi. Nhưng cơn bão đã đi qua, đại dương trở lại hiền hoà. Nhìn lại ngày đó, liệu có có nghĩ có lẽ là có một cách nào khác không?
Còn người thứ hai tỏ ra quyết liệt và tức giận hơn: “Bà đã bắt chúng tôi phải giữ im lặng từ lâu lắm rồi và chúng tôi đã giữ, tại sao bây giờ bà lại đòi lôi nó ra? Chẳng lẽ việc chúng tôi giữ lời - rằng chúng tôi đã tuân theo các điều kiện do chính bà đặt ra còn chưa đủ sao?”
Ligaya không quên điều đó. Ðứa con gái đầu của Emma có trí nhớ dai dẳng. Và miệng lưỡi nó thì sắc như dao. Nó cho tôi là con người cứng nhắc và không kiên quyết nhưng tôi quan sát nó và thấy đôi môi cùng khuôn mặt nó, tất cả đều nghiệt ngã và cay độc. Tôi nghe mọi người bảo rằng nó đẹp. Nó là một người nhan sắc. Ðen tối và chua chát. Nó đã trở thành một người có tất cả những đặc điểm mà nó nghĩ rằng tôi có.
“Bà không thể giữ cái mà không thật sự là của bà”.
Tôi vẫn còn nhớ rõ từng lời nó nói, tôi hồi tưởng lại bao nhiêu điều khác cũng rõ ràng như thế.
Bạn đừng tin khi người ta bảo bạn rằng càng già đi thì càng nhớ kém đi. Vì tôi có thể nói cho bạn nghe cái câu đó nghiệm ra mới ít đúng đến thế nào. Giờ đây, tôi đã đi gần đến cuối cuộc đời mà thủa ban đầu vẫn còn nguyên trong tâm trí. Một vài điều tôi đã giấu kín vào đâu đó rồi tôi sẽ lại tìm thấy chúng. Và tôi thường ngạc nhiên tự hỏi, tại sao ngươi lại nghĩ về những điều đó? Cái gì khiến ngươi nhớ lại?
Ngay lúc này đây, nghe thấy tiếng xe hơi chạy trên con đường vào và dừng trước cổng, tôi nhớ lại bao lầm trước đây Raoul và tôi đã ngồi đây và chờ nó về nhà.
Rồi khi về đến nhà nó lại nói:
- Sao con lại bị đón về nhà lúc mới mười giờ? Ðến lúc ấy mới bắt đầu phần khiêu vũ. Và những cô gái khác thì ở lại cho đến mười hai giờ.
- Những cô gái mới mười bảy tuổi đầu không có việc gì để đến nửa đêm còn chưa về nhà - đó là câu trả lời cho Raoul. Chuyện đó đã xảy ra cách đây lâi lắm rồi nhưng giờ đây nó lại quay trở lại.
Nhưng điều tôi nhớ nhất chính là câu nói này: “Chúng ta phải nói cho nó biết sự thật khi nó đã trưởng thành”. Raoul đã nói với tôi như thế vào lúc tôi mới bế nó về nhà.
- Ðể làm gì?
- Bởi vì đó là sự thật về nó. Sự thật ấy thuộc về nó.
- Có lẽ để đến lúc thích hợp…
Tôi không bao giờ tìm được lúc nào thích hợp bởi vì tôi không bao giờ đủ dũng cảm để nói lên sự thật. Tôi đã sợ rằng nó sẽ bị tổn thương và chúng tôi có thể bị mất nó. Nhưng rồi cũng thế thôi, nó đã đi và không phải vì sự thật ấy mà nó đi.
- Caridad và con đang nghĩ đến việc sang định cư ở úc - Jaime tuyên bố trong bữa ăn trưa.
Từ khi rời nhà đi lấy chồng, Caridad rất đúng bổn phận về thăm và ở chơi với chúng tôi vào các ngày Chủ nhật. Lúc đầu chỉ có nó và Jaime, sau đó có thêm Marla khi nó sinh. Tôi và Raoul luôn mong đến Chủ nhật khi ngôi nhà tràn đầy tiếng cười và chuyện trò râm ran, còn những lúc ăn uống thì thật là bận rộn. Raoul thì thường trao đổi tin tức với Jaime.
- Tôi không đòi hỏi một đứa con trai tốt hơn nữa - Raoul thường nói với Jaime như vậy. Họ chia sẻ niềm say mê đọc sách và thường nồi trò chuyện rất lâu.
- Thằng bé có đầu óc tốt lại được cân bằng bởi khiếu hài hước… đúng là người dành cho Caridad, con bé nhiều khi hay quan trọng hoá vấn đề - một lần Raoul nhận xét.
Trong khi cánh đàn ông nói chuyện Marla thường ngủ trưa trong phòng ngủ của mẹ nó, còn Caridad thì ngồi trong bếp xem tôi chuẩn bị món merienda. Tôi thường làm bánh bột gạo, món mà Marla ăn không biết chán và đem ăn cùng với những thanh socola Tây Ban Nha dầy, đậm đà. Họ thường nhấm nháp từ từ và nói:
- Ăn ngon ghê nhưng mà béo quá.
Và tôi thì đáp lại:
- Ăn socola Tây Ban Nha một tuần một lần thì không sao cả.
Chúng thường ở lại đến tận tối, thường phải quãng sáu bảy giờ mới về. Raoul và tôi thường đứng vẫy tiễn chúng, còn bé Marla hì nhô đầu ra khỏi cửa sổ ôtô, hét lên “Chào Lola, chào Lolo”, biết rằng sẽ lại gặp chúng tôi vào tuần sau.
- Thế ở đây có gì không ổn? Manila có gì không ổn? - Raoul hỏi.
- Bố ơi, không có gì không ổn ở Manila cả. Chỉ là vì có nhu cầu lớn hơn về dân máy tính ở Sydney và bên đó tốt hơn cho Marla sau nàu.
Khi chúng lái xe đi vào Chủ nhật đó, Raoul đọc được suy nghĩ của tôi, ông nói: “Ðó chỉ là ý nghĩ thoáng qua thôi… rồi nó sẽ qua đi thôi”. Nhưng nó lại không qua đi. Mười tám tháng sau, mọi giấy tờ của chúng đã xong và chúng rời sang Sydney - úc.
- Ayy! Thelma ơi, em không được buồn phiền quá đâu đấy. Bây giờ nó đã khôn lớn rồi, đã là mẹ rồi, nó và Jaime có những mơ ước riêng. Chúng nó phải xây dựng cuộc sống như chúng mong muốn.
ở sân bay, chúng đã nói với tôi: Nghe thì có vẻ xa vậy thôi, mẹ ạ, nhưng thực ra chỉ mất có chín tiếng đồng hồ là tới nơi rồi, chỉ bằng nửa thời gian sang Mỹ thôi - Chúng con có thể rời Sydney vào buổi sáng và có mặt tại Manila vào lúc sáu giờ chiều cùng ngày. Cũng chẳng bao xa để bố mẹ đến nghỉ chơi.
- Marla này - Raoul nói, cần tay con bé - cháu không được quên tấy cả những cái cháu biết, cháu phải nhớ tiếng Tagalog của mình nhé, nhớ những từ tiếng Hoa cháu đã học, và đêm sbằng tiếng Tây Ban Nha, và không việc gì cháu phải nói tiếng Anh như người úc, bằng không thì lolo và lola tội nghiệp của cháu sẽ không thể hiểu được cháu nữa đâu.
Raoul và toi chưa bao giờ đến thăm chúng. Nhưng Caridad về nhà cùng Jaime và Marla. Cả thảy bốn lần trong mười năm qua. Những thời gian còn lại, chúng tôi tự bằng lòng với những bức thư, những cuộc điện thoại của nó và những bức ảnh nó gửi về. Chúng tôi thấy Marla lớn lên chỉ qua những bức ảnh. Tôi vẫn thường ngồi nghe Raoul đọc thư. Ðôi khi có cả thư của Marla nữa.
- Hãy viết thư cho lola của con đi - tôi có thể nghe thấy nó nói với con như vậy.
Từ hàng nghìn dặm xa, chúng tôi theo dõi chúng dọn nhà từ một căn hộ… - Cái mà ở Manila mình gọi là căn nhà tập thể, nó giải thích - đến một ngôi nhà ở chung cư… - như là accesoria - và cuối cùng đến một ngôi nhà thực sự… - ở đây người ta gọi là nhà riêng.
- Sao con lại mua cái nhà đó chứ? Nó sụp đến nơi rồi! - Tôi nói với nó khi nó gọi điện về hỏi xem chúng tôi đã nhận được lá thư kèm theo rất nhiều ảnh chưa. Tôi quá xấu hổ không dám đem cho ai xem.
Tôi còn nhớ Raoul đã giận dữ đến thế nào khi ông ấy nhìn thấy những bức ảnh đó.
- Nó là một đống đổ nát. Phải đem xe ủi đến ủi đi. Kết cấu không còn ra một cái gì. Chúng nó nghĩ gì thế không biết… Sao lại thế chứ, thằng Jaime phải hiểu biết hơn chứ! - Ông ấy nói.
ở bên trong còn tồi tệ hơn nữa. Các bức ảnh cho thấy ngôi nhà thật là cũ kỹ - cũ hơn cả những ngôi nhà ở Legarda, những ngôi nhà mà đến giờ vẫn còn đứng đó với những phần bằng gỗ đã trợt hết nước sơn. Nhưng ngôi nhà này thì mặc dầu có cửa sổ nhưng đã mục ruỗng, các ô kính rạn vỡ, tường thì vàng ố và trần nhà thì bóc ra từng mảng.
- Chỉ đi có một tí là đến nước, chỉ mất mười phút thôi - Marla rất hồi hộp. Con bé nói nó chỉ được những ba bãi biển - Freshwater ở bên trái, Queensclift và Bắc Steyne ở bên phải. Còn trần nhà thì có những hình đẹp lắm. Những cửa sổ để lấy ánh sáng cũ có thể để lại dùng được - Cái ánh sáng lọt qua cửa kính màu khiến cháu nhớ đến một cái nhà thờ nhỏ. Còn chúng tôi thì chả nhìn thấy gì đẹp đẽ ở ngôi nhà ấy cả.
Raoul hỏi theo lối thận trọng nhất mà ông ấy có thể:
- Thế Jaime làm ăn không được ổn à? Vì nếu cả hai đứa cần được giúp đỡ thì con chỉ cần nói một tiếng…
- Không… không đâu bố ạ, mọi cái đều tốt cả. ở đây không như ở Manila, nơi mọi người thích xây dựng một ngôi nhà mới hay mua một cái đã xây sẵn. Hầu hết mọi người ở đây đều tìm kiếm những chỗ đất cũ, vẫn còn giữ các nét gốc gác cổ xưa để xây dựng, cải tạo. Jaime và con đã quyết định là chúng con thích một ngôi nhà cổ. Nó sẽ rất tuyệt sau khi chúng con sửa sang lại.
- Tại sao các con lại không thuê một vài thợ mộc để làm việc đó cho các con? Sao các con lại phải tự mình làm lấy hả?
- Chúng con muốn thế, bố ạ. Chúng con không thấy phiền lòng vì điều đó. Thêm nữa, công xá không rẻ như ở Manila, vì thế nếu việc gì làm được là chúng con tự làm để dành tiền vào những việc quan trọng hơn.
- ở đây con có ba người giúp việc, một người lái xe và một người làm vườn. ở đó con buộc phải làm mọi việc. Chẳng lẽ con gọi thế là cuộc sống tốt đẹp hơn à?
Nhưng nó khăng khăng rằng mọi chuyện đều tốt đẹp. Nó bảo rằng nó rất hạnh phúc. ảnh vẫn đều đều được gửi về. Và từ từ, chúng tôi dõi theo nó biến đổi cái ngôi nhà cũ mèm xấu xí đó thành tổ ấm. Tôi đem những bức ảnh chụp nhà mới đó khoe với tất cả mọi người.
Sau một thời gian, tôi đã chấp nhận việc nó sẽ không trở về đây sống nữa. Raoul giữ các bức thư nó gửi về trong một cái hộp đúng theo trình tự thời gian, các bức ảnh được ông để trong những tập album - có ba quyển tất cả - chúng được đặt trên bàn uống nước trong sala dưới nhà. Còn rất nhiều các bức ảnh nữa trong ngăn kéo chiếc bàn cạnh giường ngủ của tôi. Vì Raoul không còn ở đây để cất ảnh vào album nữa. Ông ấy cũng đã bỏ tôi đi.

Ðiều đó xảy ra không một sự báo trước. Tôi giữ chiếc bát bằng hai tay. Một chiếc bát từ thời nhà Minh men trắng và xanh có vẽ bông hoa sen ở giữa. Ðó là chiếc bát rất cổ. Nó là của bà ngoại tôi đã mang từ Trung Quốc sang đây. Tôi đã xin mẹ chiếc bát này thậm chí trước khi đi lấy chồng và mang theo mình khi lấy Raoul.
Tôi đang đứng trong bếp với cái bát trong tay. Vừa mới đây nó là một cái bát nguyên vẹn, rồi chỉ trong chớp mắt, cái bát bị tách làm đôi. Nó tách ngay trước mắt tôi, dường như có một lưỡi dao sắc lia qua nó. Vết cắt rất gọn. Tôi nhìn xuống và thấy mỗi bàn tay cầm có một nửa cái bát. Lúc đó tôi biết chính xác cái điều vẫn còn chưa nói ra được thành lời trong đầu óc, nhưng tôi biết là có một điều gì đó rất xấu đã xảy ra. Cái gì từng là trọn vẹn thì giờ đây chỉ còn là một nửa.
Raoul đã đi vào sala. Chúng tôi vừa dùng xong bữa sáng. Ông ấy có thói quen mang báo vào đọc trong đó.
- Người ta luôn phải biết chuyện gì đang xảy ra. Ðiều đó rất quan trọng. Chỉ nhìn thấy mỗi cái chóp mũi thì là chưa đủ. Ông ấy vẫn thường nói với tôi và Caridad như vậy, và cả Marla nữa khi ông ấy tin rằng nó đã đủ lớn khôn để hiểu.
Vẫn như thường lệ, ông ấy ngồi đọc báo. Ông thường bắt đầu từ trang nhất, rồi lần lượt đọc các mặt sau. Ðọc cái gì ông ấy cũng đọc theo cách đó.
Ông ấy ngồi ở chỗ vẫn thường ngồi - cái góc ghế sofa cạnh cửa sổ vì chỗ này có nhiều ánh sáng. Cằm chúi xuống ngực. Tôi nghĩ là ông ấy ngủ gật nên khẽ chạm nhẹ vào vai để đánh thức ông dậy.
- Raoul… Raoul… sao ông không lên phòng ngủ? Ông ấy không tỉnh dậy. Ðến lúc ấy tôi mới biết là ông ấy có tật ngủ ngày. Tôi chạm vào cánh tay ông, chúng buông thõng. Tôi không gọi người giúp việc. Tôi ngồi đó nắm tay ông. Tôi đã nói với ông trong tâm thức, biết chắc là ông sẽ nghe thấy tôi. Tôi đã nói với ông rằng chúng tôi có một cuộc sống rất tốt đẹp bên nhau, rằng tôi rất biết ơn những năm tháng đã qua, rằng tôi sẽ rất nhớ ông. Tôi đã nói:
- Anh có lo lắng cho em không? Em cứng cỏi và em sẽ gắng chống chèo.
Tôi nói ông hãy yên lòng. Tôi nhấc tay ông ấy lên và khẽ hôn nó. Rồi tôi đứng lên và tháo cặp kính đọc sách của ông ấy - ông ấy vẫn đang đeo kính. Tôi gập kính lại cẩn thận. Sau đó, tôi lấy tờ báo đặt trên đùi ông ấy ra. Ông ấy ngồi đây cũng chưa được lâu khi chuyện đó xảy ra vì ông ấy mới giở được có một trang.
Người ta nói với tôi rằng ông bị đột quỵ.
- Không bị đau đớn… không phải chịu đựng gì cả… ông ấy là người may mắn,
Mọi người cứ nói với toi như thế trong lúc tôi túc trực bên thi hài.
Caridad bay về nhà cùng Jaime và Marla. Chúng về để chôn cấy ông ấy.
- Mẹ hãy đến sống với chúng con - Chúng nài nỉ tôi.
Tôi đã từ chối:
- Ðây là nhà của mẹ và mẹ muốn được chết ở đây chứ không phải ở nơi đất khách quê người. Ngoài ra, mẹ sẽ được chôn cất cạnh cha, có một chỗ đang chờ mẹ.
Ông ấy nằm trong khu Vườn tưởng nhớ trong khu Công viên Tưởng niệm Manila và tôi đã chôn cùng ông câu chuyện của ông, cái câu chuyện tôi không cho ông ấy kể ra.

Tôi đã ngồi cả ngày lẫn đêm trong căn phòng này, trên chiếc ghế này, đôi khi tôi ngồi cho đến lúc ngủ thiếp đi. Cái chuyển động bập bềnh xoa dịu tôi. Sự chuyển động ấy cũng như tâm trí tôi, chuyển từ hiện tại sang quá khứ rồi lại quay trở lại. Tôi ngày càng sống nhiều hơn trong quá khứ. Tôi chả có gì nhiều để làm với mọi người. Hiện tại chẳng có vai trò gì cả. Tôi chờ đến lúc của mình.
Vida, cô em gái của Raoul thỉnh thoảng ghé thăm tôi. Tôi mong cô ấy đừng đến thì hơn. Vida vẫn không thay đổi gì. Nhưng những điều khiến người ta vui thích ở một cô gái trẻ thì lại gây sự bực mình khi là một người đàn bà có tuổi. Cô ấy nói năng thiếu suy nghĩ và không biết nên dừng lúc nào. Thế nên tôi chỉ gật đầu, giả vờ như đang nghe.
Mia, cô cháu gái trẻ nhất của tôi đến thăm tôi một tuần một lần. Nó đến là vì Caridad. Tôi rất quý nó. Nó kéo tôi trở lại với thế giới này. Nó rất sinh động và giỏi gây cười. Nó nhắc tôi nhớ rằng mình vẫn còn đang sống. Ðôi khi nó còn đưa cả Emma đến. Em gái tôi cũng không còn khoẻ mạnh gì nữa. Mặc dù ít tuổi hơn tôi nhưng đôi chân cũng đã yếu dần theo năm tháng.
Hầu hết các ngày, dù rằng chỉ có một mình, tôi dành thời gian để suy ngẫm. Từ cái ngày cách đây ba năm khi chúng tôi chôn cất Raoul, tôi đã suy ngẫm rất lâu về sự thật và điều mà Raoul đã nói cách đây lâu lắm: “Sự thật ấy là về con bé. Sự thật ấy thuộc về nó”.
Nhưng sự thật là gì cơ chứ, tôi xin hỏi bạn. Ðối với mọi người nó có như nhau không? Có phải tất cả chúng ta khi nhìn vào một vấn đề thì mỗi người đều nhìn nhận nó một cách khác biệt ư? Phải chăng cái đúng với người này có thể sai với người khác? Phải chăng điều đó có nghĩa là không ai trong chúng ta nắm giữ toàn bộ sự thật vì sự thật chỉ có được khi chúng ta đều nói ra phần của chúng ta. Raoul, Emma, Ligaya và tôi nữa, mỗi chúng tôi đều chỉ nắm giữ một phần của sự thật.
Chỉ khi Raoul qua đời, một người giữ sự thật - một trong số bốn người chúng tôi, những người đã trải qua tất cả chuyện đó - đã không còn có thể kể được theo như những gì mình nhìn thấy và cảm nhận được bằng những lời lẽ của chính mình.
Tôi biết đôi chút về những người đã chết. Họ vẫn tiếp tục hiện hữu. Họ trở thành cát bụi và trở thành một phần của trái đất này và gió nâng họ lên. Họ ở trong chính bầu không khí chúng ta đang thở. Những lời nói của họ vẫn luôn trong tâm trí chúng ta, trở về mà không cần ta gọi. Chúng ta nghe thấy chúng cả khi tỉnh, cả trong mơ, lời nói của họ còn đầy uy lực và khẩn thiết hơn lần đầu chúng được thốt ra.
Raoul luôn thầm thì bên tái tôi “Hãy nói sự thật đi”, ông ấy nói với tôi từ thế giới bên kia.
Bây giờ tôi đã già rồi và tôi phải kể phần sự thật của tôi trước khi cả tôi nữa, trước khi tôi rời bỏ cuộc sống này. Ngoài ra, giờ đây tôi không còn thấy sợ nó nữa. Cuộc đời thật kỳ lạ, vì những điều chúng ta sợ hãi sẽ không còn đáng sợ nữa cùng thời gian. Nó giống như khi ta chạy miết, một lúc sau ngoảnh lại ta không thấy ai rượt đuổi theo mình nữa. Ta băn khoăn không biết từ trước tới nay ta luôn chạy trốn vì cái gì nữa. Nhiều nỗi sợ hãi do ta tưởng tượng ra lại chả có mấy tương đồng với những gì trong thực tế. Cuộc sống chúng ta sẽ tốt đẹp hơn nhiều biết bao nhiêu nếu như chúng ta hiểu điều đó khi ta còn trẻ. Lẽ ra chúng ta đã phải hành động khôn ngoan hơn đến nhường nào.
Rồi một ngày tôi đã quyết định không chạy trốn thêm nữa. Và thế là tôi gọi cả hai người đó. Và cùng với tôi, cả ba chúng tôi sẽ cùng kể ra để cho bức tranh được hoàn chỉnh và đúng đắn như chính thực của nó.

Nó đang ở nhà. Vì ngay sau khi gọi điện cho hai người kia, tôi đã viết thư cho nó, nhắn nó về nhà, tôi biết chắc là nó sẽ nghe theo. Nó luôn là đứa con ngoan của tôi.
Giờ đây nó đang ngồi trước tôi, lúng túng và hoang mang. Tôi nhìn thấy điều đó trong mắt nó, nó không biết tại sao nó lại ở đây và tại sao tôi lại gọi nó về. Tôi đã nói cho nó. Có thể lẽ ra tôi nên nói theo cách khác, mềm mại hơn, nhẹ nhàng hơn, ân cần hơn nhưng tôi đã nói théo cách duy nhất tôi biết:
- Không, Caridad, ta không phải là mẹ con.
Ðôi mắt nó nhìn tôi. Có một câu hỏi trong đó. Do không nói ra nhưng không phải tôi không nghe thấy. “Tại sao là bây giờ?”
Bởi vì tôi đã thôi không chạy trốn nữa. Lúc đó, tôi nói với nó:
- Con biết không, ở sâu, rất sâu, ở sâu thẳm trong con… ở đây, trong trái tim con, con vẫn luôn biết điều đó. Con vẫn luôn hỏi mà. Hay con không còn nhớ nữa.


Thuỳ Chi
0