Caridad
Tôi được mẹ gọi về
Mẹ tôi chưa bao giờ viết thư cả. Thế nên hôm đó khi thư đến, tôi không nghĩ lại nhận được một lá thư của mẹ. Không có điều gì báo trước.
Cả buổi sáng hôm đó tôi loanh quanh chạy trốn khỏi đống bài vở ghi chép tối quá tại trường Ðại học TAFE. Tôi đang theo học kỳ thứ hai, khoá về du lịch, tôi hy vọng nó sẽ đưa tôi đến một công việc mới.
Khoảng mười một giờ tôi đã hết sạch việc để làm. Bên ngoài, những cái tời kẽo kẹt khi nó đung đưa trong gió, như cái chong chóng thời tiết khổng lồ bị kẹt trên một mái nhờ rộng lớn, bằng phẳng và rêu phong. Một cơn gió nam thổi mạnh tới và quần áo đang phơi bay tung lên điên cuồng, tạo nên những tiếng phần phật. Mới được một chốc từ lúc tôi đem phơi chúng, cẩn thận lồng mắc áo vào từng chiếc áo, kẹp những ống quần cho ngay ngắn khiến chúng đung đưa trông giống như một dãy người đứng chổng đầu xuống đất, chỉ có mỗi phần thân, còn cánh tay và đầu bị một bàn tay vô hình chặt bỏ. Tất cả đã gần khô rồi.
Dãy chậu cây cảnh xếp dọc sân đã được tưới tắm và chăm bón. Mạng nhện do vài con nhện miệt mài chăng tơ từ chiếc lá này sang lá khác như đăng ten đã bị quét sạch. Cả đến cái túi đựng khoai tây chiên mà thằng bé mũm mĩm nhà bên vứt qua hàng rào cũng đã được nhặt cho vào thùng rác trong bếp.
Ba chiếc cốc đã uống hết cà phê đặt trong bồn rửa bát và một chiếc thìa cà phê nằm dưới đáy mỗi chiếc cốc. Uống nốt một cốc cuối cùng và tôi tự hứa sẽ ngồi xuống học. Chồng giấy tờ được xếp ngay ngắn ở đầu kia của tủ bếp đang nhìn tôi trách móc. Tôi dốc nốt những giọt sữa cuối cùng trong hộp giấy ra. Không còn đủ sữa. Cốc nước vẫn giữ một mầu nâu sẫm. Tôi nhấp một ngụm. Rồi đổ phần còn lại vào bồn.
Dòng chữa Du lịch trên nước úc được tôi viết nắn nót ở trang đầu tiên. Tôi cúi xuống gần hơn xem mình đã viết từng chữa ra sao. Các chữ f, chữ p và chữ y không có đuôi. Các chữ b, I và t của tôi đều khép vòng hoàn chỉnh.
Bạn là người sống nội tâm và hay giữ kẽ. Bạn còn thuộc loại người nhất định hoàn thành công việc nếu đã bắt đầu
Ðó là điều mà nét chữ của bạn thể hiện, một người bạn học cũ thời đại học của tôi học đòi cách phán đoán về những điều thầm kín riêng tư kiểu như phân tích chữ viết đã nói với tôi như vậy khi trở về Manila. Giờ đây bắt đầu được là cả một vấn đề.
- Mẹ hay thôi quá khắt khe với bản thân đi. Mẹ mong chờ điều gì cơ chứ? Một phép lạ ư? Phải mất một thời gian thì mẹ mới quen lại việc học hành được. Marla đã nói với tôi như vậy vào một đêm khi tôi chán nản trở về nhà và tuyên bố với nó rằng tôi sẽ thôi không học nữa.
Những ngày đó chính cô con gái mười tám tuổi đã giảng giải về sự kiên trì cho tôi. Một vài lời nó nói giống như những gì tôi đã nói với nó dạo nó ngồi trước chiếc piano bực bội với những ngónt ay không chịu chơi bản Czerny trôi chảy theo yêu cầu.
- Con ghét Kuhlau và Bartok, thật buồn tẻ! - đã có thời nó phàn nàn như vậy.
- Hãy kiên trì rồi con sẽ làm tốt được mà - tôi từng khuyên nó.
Còn bây giờ Marla lại đóng vai trò người mẹ. Mới đêm qua khi tôi từ trường TAFE trở về nó ra mở cửa, tạp dề mặc trên người, hôn tôi và nói: Con đã nấu món mì ống bolognaise rồi. Mẹ đi tắm đi, con sẽ hâm nóng nó bằng lò vi sang cho mẹ. Phần còn lại của tối hôm đó, tôi ngồi trong phòng khách, tóc vẫn còn ướt sau khi tắm, bát mì trên tay, nghe con gái chơi piano.
Marla đang học năm thứ nhất tại Nhạc viện. Tôi vẫn thấy khó mà hình dung con bé trong cái môi trường cổ điển ấy. Nó trông như một người lạ trong bộ dạng mới: một buổi sáng nó ra hiệu cắt tóc quen ở khu Paddington và về nhà với bộ tóc dài đẹp đẽ đã biến mất.
- Cắt phứt nó đi rồi mẹ ạ! nó tuyên bố trong khi tôi trợn mắt nhìn mái óc của nó được tỉa ngắn cũn tới tận mang tai. Rồi liền sau đó các đồ màu xanh da trời, đỏ, vàng và xanh lá cây trong tủ áo của nó đề ra đi, nhường chỗ cho màu đen ảm đạ.
- Màu đen đầy ấn tượng nó giải thích như vậy.
- Ðó là sự trưởng thành cùng những tuyên bố của nó - anh Jaime nhà tôi nhún vai nhượng bộ.
Khi Marla ngồi trước đàn piano, nó tạo nên một bức tranh về một người say nhạc rock đang chơi nhạc cổ điển. Hình ảnh ấy lại càng thêm mâu thuẫn bởi khuôn mặt Trung Quốc Philippine và Tây Ban Nha của con bé. Cặp mắt phương Ðông, tựa mắt mèo, gò má cao và nước da màu ôliu của nó.
Tôi đã đọc ở đâu đó một câu nói rằng ta có thể thay đổi đường đời, lựa chọn tương laic ho ta. Nhưng sự khởi đầu của chúng ta sẽ còn lại mãi với chúng ta. Tôi sinh Marla ngày tôi và Jaime còn sống ở Philippine. Sau khi Marla được tám tuổi, chúng tôi đưa nó sang sống ở Sydney. Cũng giống như mọi người dân nhập cư, nơi chôn rau cắt rốn vẫn để lại dấu ấn nơi con tôi.
- Ðể rũ rối vấn đề con bé thường nói con không chỉ sinh ra ở Manila, được giáo dục ở trường dòng, nói tiếng Anh và tiếng Tagalog thêm tí tiếng Hoa, chửi thạo tiếng Tây Ban Nha, mà bây giờ con còn định cư ở úc nữa.
Một đứa trẻ pha tạp hỗn độn điên cuồng.
Du lịch trên nước úc. Tôi đã đọc cái nhan đề đến lần thứ một trăm rồi. Tôi nghe thấy tiếng lạch cạch ở hộp thư. Tôi không nhìn thấy người đưa thư đi đến. Cái tường gạch bao quanh vườn trước che khuất tầm nhìn ra phố. Nhưng hàng ngày khoảng từ mười hai giờ trưa đến hai giờ, người đưa thư lại đến. Tôi đứng lên, rất mừng đã tìm ra được cái cớ để rũ khỏi đống sách vở. Người đưa thư đã cho tôi lối thoát.
Khi tôi bước ra đường, ba thiếu niên tóc vuốt ngược lao sầm xuống phần đường đi bộ trên những tấm ván của chúng. Tôi thoáng nhìn thấy chúng qua khe giữa những thanh gỗ cửa vườn. Bên kia đường, con chó Tripod bị gẫy một chân ở nhà số ba mươi sáu đang từ vào cột điện trong khi chủ nó Big Tom kiên trì đứng đợi.
Cái thùng thư làm bang ngón tay tôi lúc tôi với tay vào để lôi ra đống thư từ dường như ngày nào cũng đến. Chiếc trên cùng có một ô giấy bang kính nhỏ. Một cái hoá đơn. Chiếc thứ hai viết chữ nhỏ li ti, gần như không đọc nổi, loằng ngoằng. Thư của Jessie rồi, tôi biết ngay.
Jessie người rất ghét cái tên của mình là cô bạn học thời niên thiếu của tôi hồi ở Manila hiện đang sống ở Michigan. Cô là bác sỹ thần kinh thực hành, còn kinh khủng hơn thời còn là cô gái có chiếc váy kiểu Bernadette một lần bị xé hết viền vì nó cao trên mắt cá và để lộ nhiều da thịt hơn mức các xơ cho là thích hợp với một cô gái trường dòng.
Jessie thường viết cho tôi nhiều hơn vào những tháng bệnh viện vắng bệnh nhân. Dường như có mùa ốm mùa khoẻ. Mùa khoẻ là mùa rất tồi tệ cho việc làm ăn.
Chiếc phong bì cuối cùng có dấu bưu điện từ Mabila nhưng không phải của Mia. Cô em họ Mia của tôi không viết thư. Nó thường đánh máy vi tính. Em đã biết dùng máy vi tính rồi, nó nói chuyện điện thoại với tôi, em phải cố để đuổi kịp bọn trẻ. Vì thế tôi biết rằng nét chữ nghiêng cứng cỏi ghi tên và địa chỉ của tôi kia nhất định không phải của nó.
Tò mò, tôi xé phong bì lôi ra một tờ giấy gấp tư, loại giấy viết thư màu xanh giống loại mà cha tôi vẫn thường dùng khi ông còn sống. Chỉ đến lúc này ở cuối thư thất có chữ ký Mẹ.
Thật lạ khi nhìn thấy bức thư với nét chữ không quen thuộc. Lạ lùng và thật buồn cười nếu người ta bảo tôi liên tưởng những vòng chấm của nét chữ kia với một khuôn mặt, như kiểu liên tưởng một khuôn mặt khi nhắc đến một cái tên thì tôi sẽ không thể làm được. Sau ngần ấy năm là bà con, cho đến giờ phút ấy, tôi chưa bao giờ nhìn thấy nét chữa của bà. Nếu chỉ có mỗi cách này để tôi nhận ra, phân biệt bà thì có lẽ bà đã biến mất khỏi cuộc sống của tôi rồi.
Mà thư có ra thư. Ðó là một lời nhắn ngắn gọn mang âm hưởng của một mệnh lệnh. Tôi dường như nghe thấy tiếng mẹ nói những từ ngữ đó. Vì chúng giống y như con người ba. Ngắn gọn. Súc tích. Ði thẳng vào vấn đề.
Hãy về nhà, Caridad. Mẹ cần nói chuyện với con, tất cả bức thư chỉ có vậy. Tôi được mẹ gọi về.
- Mẹ bị ốm a? Tôi gọi điện hỏi Mia ở Manila
- Không
không, ốm gì đâu.
- Thế sao mẹ lại muốn chị về nhà thế nhỉ?
- Ôi, Caridad, chị biết người già là thế nào mà. Họ cần được giãi bày chia sẻ
thế nên chị cứ làm như mẹ bảo, được không?
- Chị không hiểu cái
- Chị sẽ hiểu khi chị về nhà.
Mia biết nhiều hơn thế nhưng nó không nói gì cả. Tôi biết chắc như thế vì chúng tôi cực kỳ hiểu nhau. Khi tôi ba tuổi, Mia tám tuổi, chúng tôi đã cảm thấy giữa chúng tôi có một tình bạn sẽ đi cùng năm tháng. Thế rồi một buổi chiều điên rồ nọ, khi Mia qua nhà tôi chơi, chúng tôi đã lẻn vào trong phòng tắm, mở tủ thuốc, nơi cha tôi cất bộ đồ cạo râu. Chúng tôi lấy ra một lưỡi dao cạo, sau vài phút lấy hết cam đảm chúng tôi cắt ngón cái, bóp máu ra và ngoắc tay vào nhau cho máu hoà quyện với nhau. Ðể dòng máu hoà quyện cùng chảy trong huyết quản, chúng tôi thề sẽ mãi là bạn của nhau.
Mia là em họ tôi, con gái út của dì Emma. Dì Emma là em út của mẹ tôi. Trong sáu chị em thì Mia nhỏ nhất, nó không có chỗ trong những trò chơi và những cuộc trò chuyện của các anh chị ruột, trong khi tôi, đứa con độc nhất, rất mong có bạn. Chúng tôi thành hai đứa trẻ con chấy cắn đôi và vẫn cứ thế gắn bó bấy lâu.
Khi Jaime, Marla và tôi rời Manila, Mia và tôi vẫn liên lạc với nhau, viết cho nhau những bức thư dài, trao đổi hàng trăm bức ảnh, nói chuyện trên điện thoại lâu quá mức cho phép. Chính nó là người bền bỉ chuyển những lời nhắn của mẹ cho tôi vì nó vẫn thường gọi điện hỏi thăm tình hình mẹ tôi. Ðó không phải là một nhiệm vụ dễ thực hiện vì mẹ tôi luôn là người khó giao tiếp. Thế nên khi Mia nói: Chị cứ làm như mẹ bảo tôi liền đặt vé máy bay vì tôi hiểu nó biết việc tôi về nhà là hệ trọng.
Ðêm đó, khi nằm trên giường, một ý nghĩ len vào trong tâm trí tôi. Nếu mẹ vẫn khoẻ thì tôi được gọi về nhà vì một lý do khác chăng? Hay mẹ đã nghe ai nói? Hay mẹ đã biết rồi.
Jaime không còn ở đây nữa. Tôi còn chưa nói điều đó với mẹ và thậm chí cả với Mia. Bởi vì tôi không thể giải thích những điều mà thậm chí cả bản thân tôi cũng không hiểu nổi. Cứ mỗi khi tôi cố gắng tìm ra điểm khởi đầu của cái mớ bòng bong những điều đã nói và những việc đã làm, tôi đều bị mất mạch mối và thấy mình lại bó tay đầu hàng.
Ðôi lúc tôi nhớ tới cảnh một đôi vợ chồng trẻ tuổi cùng ngồi ăn tối trong bộ phim Citizen Kane. Lúc đầu họ ngồi bên nhau, chuyện trò vui vẻ suốt bữa ăn bữa sáng. Rồi thời gian trôi qua, càng ngày họ càng tìm thấy ít điều để nói và càng ngồi xa nhau hơn. Cuối cùng thì mỗi người ngồi ở một đầu chiếc bàn dài, chàng thì đọc báo, còn nàng thì ăn trong im lặng.
Cô bạn Meg của tôi nói Thì có gì mới nào?
Meg nói với tôi rằng ngày nay có hơn ba mươi phần trăm các cuộc hôn nhân kết thúc bằng ly dị. Meg dẫn ra rất nhiều con số thống kê. Chúng tôi ngồi trên một chiếc ghế băng dài trên một bãi cỏ trông ra bãi biển Freshwater, nơi chúng tôi thường dạo chơi và bàn luận về cái được gọi là tình trạng của chúng tôi. Meg, cũng vậy, lại trở về một thân một mình.
Tôi giải thích với Meg là ở Manila ly dị không được chấp nhận.
- Chính những tập tục Thiên chúa giáo của các người làm cuộc sống thêm phức tạp nó nói với tôi, rồi thêm Chúng ta đã có đủ những cái phải đối phó rồi. Sao lại thêm cả tội lỗi làm gì? Meg luôn tin rằng những người Thiên chúa giáo bị răn đe bởi những điều tội lỗi khiến chúng tôi rất khó xử sự.
- Hãy thư giãn đi, cô bạn yêu quý. Nhìn mình đây này, mình đã là cự chiến binh của hai trận ly hôn rồi.
- Làm sao cậu vẫn cười được chứ? Tôi hỏi nó.
- Hỡi người Meg trả lời, kéo dài cái giọng khàn khàn trong khi đưa tay vuốt ngược mái tóc nhuộm đỏ sẫm người đàn bà là kẻ vẫn cười và tồn tại.
- Nghe được đấy.
- Lấy cắp từ một cuốn sách đấy.
Meg ngấu nghiến những cuốn sách tự hướng dẫn, giải đáp rồi chuyển cho tôi đọc sau khi nó đã đọc và đánh dấu bằng cái bút đánh dấu màu vàng. Một đêm tôi mở một cuốn ra và dòng chữ này đập vào mắt tôi: Tiếng cười là khoảng cách ngắn nhất giữa hai người.
Nó gợi tôi nhớ lại cái đêm Jaime đưa tôi đi kỷ niệm tháng đầu tiên chúng tôi cưới nhau. Anh đã đặt trước một bàn tại Madrid, một nhà hàng tại Manila mà cả hai đều yêu thích.
Chúng tôi ngồi bên một chiếc bàn thắp nến, cạnh đài phun nước, tiếng nước chảy róc tách tạo nên một bản nhạc riêng của nó. Trên bàn có một bình tròn rượu mạnh có một bông hang đỏ bồng bềnh trên nước. Một ca sĩ cùng một người đệm ghi ta đi quanh các bàn, tưới sự lãng mạn lên những đôi đang ăn tối, hát bài tình ca Tây Ban Nha Besame Mucho với một chất giọng sâu lắng.
Jaime cầm tay tôi và hỏi:
- Tại sao em lại lấy anh?
Không biết là anh có hỏi nghiêm túc hay không, tôi nói:
- Sự thật chứ?
- Chỉ sự thật thôi.
- Bởi vì anh đã làm cho em cười.
- Những câu trêu chọc của anh
em lấy anh vì những câu trêu chọc sao?
Phải mất hai mươi năm trời tôi mới nhận ra sự thật trong câu trả lời của mình. Giờ đây tôi tự hỏi mình cái câu hỏi mà tôi đã từng chế nhạo khi tôi nghe những người khác hỏi. Những tiếng cười đã đi đâu mất cả rồi? Sự sáo rỗng trong cái câu hỏi do những cặp vợ chồng cùng cảnh ngộ của những cuộc hôn nhân không bền vững đặt ra. Bởi tôi cảm thấy mình cũng đang chịu cảnh đó, tôi tự hỏi không biết có bao nhiêu cặp vợ chồng đang sống xa lòng như tôi và Jaime bây giờ. Nhưng dù con số có là bao nhiêu thì cũng không khiến tôi có chút nguôi ngoai. Người bất hạnh nào cũng nghĩ sự bất hạnh của mình là duy nhất.
- Mẹ con và bố cần một thời gian để suy ngẫm về mọi việc, Marla ạ, một thời gian sống xa nhau. Bố mẹ đã quyết định cách tốt nhất là bố nên đi đâu đó một thời gian. Bố đã thuê một căn hộ ở Neutral Bay, không quá xa bờ biển bắc, con có thể đến và ở lại bất cứ lúc nào con thích. Jaime đã giải thích như vậy cho Marla vào một ngày chủ nhật.
- Marla, bố mẹ đang cố gắng sắp xếp. Nhưng đôi khi thậm chí đến cả bố mẹ cũng không có được tất cả các câu trả lời, tất cả cùng một lúc. Tôi đã nói vậy.
Tôi nhớ mình đã tự hỏi không hiểu nó đang nghĩ gì khi nó ngồi đối diện với chúng tôi, lắng nghe nhưng chẳng nói một lời. Năm qua, Marla đã thay đổi. Thân hình con bé đã nảy nở những đường cong mềm mại, những ngượng ngùng, vẻ duyên dáng thiếu nữ mà trước đó chưa từng có. Liệu ở sự trưởng thành mà nó mới đạt tới này, nó có nhìn chúng tôi bằng đôi mắt thất vọng hay không?
Sau đó, trong phòng riêng, tôi nói với Jaime:
- Lẽ ra chúng ta nên tìm một thời điểm khác tốt hơn.
- Không , Caridad, sẽ chẳng có thời điểm nào tốt hơn đâu, chả có một thời điểm nào tốt để nói ra những chuyện như thế. Một tuần sau, vào cuối tuần, Jaime đi.
Tối đầu tiên ấy, tôi và Marla đi ăn tiệm. Rồi từ đó, chúng tôi ăn tối với nhau trong phòng xem tivi.
Khi được thư báo con bé trúng tuyển vào Nhạc viện tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Nó đem lại cho con bé cái gì đó để lấp vào khoảng trống mà người cha đã ra đi để lại. Nó đem lại cho cả ba chúng tôi một cái gì tốt đẹp để lại cùng chia sẻ với nhau.
- Bố mẹ đã để mất mục đích rồi Marla đã tổng kết sự việc như thế với cái giọng y hệt như bố nó. Marla có rất nhiều nét giống bố. Tại sao cả hai không nói chuyện với nhau cho xong đi? Một đêm nó nói thế, vài tuần sau khi Jaime đi. Ðó là lần đầu tiên nó đả động tới chuyện của chúng tôi.
Tôi nhún vai.
- Mẹ nói xem mẹ cảm thấy thế nào hoặc mẹ nghĩ gì?
Tôi lại nhún vai.
Nó đứng dậy và ra khỏi phòng, mặt lộ rõ vẻ mất bình tĩnh.
Nhưng điều đó ở đây, trong tôi, những điều tôi đã từ chối nói ra, sẽ không nói ra, không thể nói và tôi quá sợ hãi để nói ra bởi vì tất cả sẽ chỉ là sai lầm. Những gì không được nói ra đã hoá đá cả rồi.
- Hãy nói chuyện với ai đó hoặc đến gặp bác sĩ chuyên khoa đi Meg khuyên tôi. Nó đã bắt đầu thường xuyên đến bác sĩ.
- Không. Mình không muốn nói về cuộc sống riêng tư của mình với một ai đó xa lạ.
Meg nói:
- Cậu xem
những người cứ giữ kín đủ điều trong lòng mắc đủ thứ bệnh
mọi bức bách về tình cảm đều phải có lối thoát. Người hay giận dữ sẽ bị u nang, người ương ngạnh ngoan cố sẽ bị viêm khớp còn người bất mãn sẽ chết vì ung thư đấy.
- Cậu lôi từ sách nào ra vậy? Tôi ngắt lời Meg, thoáng thấy hối lỗi.
Nhưng Meg không chịu nhượng bộ:
- Phải rồi, ít nhất thì xin cậu hãy dừng ngay cái trò trốn mãi ở nhà. Ði học một cái gì đó mới mẻ, tạo một cuộc sống cho chính mình đi chứ.
Cuối cùng, sau vài tuần liên tục bị cô rầy la, tôi nhập học vào TAFE.
- Mẹ sẽ lại đi học một chiều tôi thông báo cho Marla.
Con bé ngước lên một lát rồi nó nói:
- Tốt thôi rồi lại cúi xuống đọc sách.
Nhưng bây giờ trường TAFE phải chờ đó vì tôi sẽ về nhà. Tôi được mẹ gọi về.
Máy bay cất cánh từ sân bay Sydney chậm mất hai mươi phút. Ðiển hình, tôi nghĩ. Ðó là chiếc máy bay của hàng không Phillipine. Ði về nhà chúng tôi từng đùa là PAL là viết tắt của Plane Always Late (Máy bay luôn chậm giờ) hoặc Parcel Always Lost (Hành lý luôn thất lạc). Chả có gì thay đổi cho lắm.
Về nhà. Sau mười năm sống ở Sydney, tôi vẫn thấy mình nói:
- Tôi đang về nhà.
- Nhà ở đâu? - Mọi người hỏi.
- Manila.
- Chị vẫn còn nghĩ đó là nhà mình a?
Tôi không biết đến khi nào mình sẽ thôi không nghĩ đó là nhà mình, xong tới giờ tôi vẫn cứ cho là thế. Tôi cho đó là thói quen của dân di cư, cái thói quen chúng tôi sẽ giữ suốt quãng đời còn lại.
Trong tâm trí mình, tôi có hai ngôi nhà. Manila, nơi giữ quá khứ của tôi. Và Sydney, nơi tôi và Jaime đến sống để có được những cơ hội tốt hưon và một chốn an toàn hơn để nuôi dạy con cái. Vì thế cho dù tôi đang về nhà nào thì tôi đều để lại phía sau một ngôi nhà khác. Một phần nào đó của tôi luôn bị thiếu vắng. Thiếu vắng những hình ảnh, hương vị của một ngôi nhà khi tôi vội vã về ngôi nhà kia. Dân di cư, tôi nghĩ, là những kẻ không bao giờ cảm thấy trọn vẹn, không bao giờ được hoàn toàn ở một chỗ. Cuộc sống của chúng tôi ở đâu cũng chỉ là những mảng tồn tại đứt đoạn mà thôi.
Lần trước tôi về nhà ở Manila để chôn cất cha tôi. Ông mất đột ngột ngay sau bữa ăn sáng trong chiếc ghế ông vẫn ưa ngồi, khi đang đọc báo Chủ nhật. Ông đã già nhưng tôi vẫn luôn nghĩ rằng về nhà là mình sẽ lại được gặp cha.
Bây giờ tất cả những gì tôi có về cha là hình ảnh trong trái tim và giọng nói của ông vang trong tâm tưởng. Và một thứ nữa. Một bức tranh. Món quà cha tặng khi tôi chuyển đi. Nó được treo trong phòng khách, phía trên lò sưởi, hai bên bầy cặp bình gốm. Bức tranh vẽ một nữa hoàng.
- Cha đã chọn nó vì ý nghĩa của nó. Nó là một bức trong một bộ Cha tôi rất ngưỡng mộ người hoạ sĩ từ ngày ông xem cuộc triển lãm tranh đầu tiên của hoạ sĩ đó tại một gallery ở Makati vào những năm bảy mươi. Phong cách của hoạ sĩ này đã gây ấn tượng với ông và cha tôi luôn theo dõi sự nghiệp của ông ta qua năm tháng.
Bức tranh cha tặng tôi thuộc cuộc triển lãm đầu tiên. Cha đã nhờ một người bạn chuyên bán buôn các tác phẩm nghệ thuật để tìm mua được nó. Cha giải thích cho tôi rằng câu chuyện về bức tranh bắt đầu từ dòng sông chảy lên phương Bắc. Khi nước sông tràn đầy, người dân sống và canh tác hai bên bờ sông rất vui mừng vì dòng sông đã giúp cho mùa màng tươi tốt và cuộc sống dư dật. Ông cho rằng người hoạ sĩ đã tạo ra hình ảnh nữ hoàng như biểu tượng của sự phồn thịnh, người đem lại may mắn. Vì chừng nào bà còn trị vì thì cuộc sống sẽ luôn tốt đẹp.
- Hãy treo bức tranh này trong ngôi nhà mới của con cha bảo tôi bà sẽ ban nhiều phúc lành cho các con.
Bức tranh vẽ bằng sơn dầu. Màu sắc nhẹ nhàng, nền lam, và nó thu hút ta bởi hình ảnh gương mặt nữ hoàng đường bệ trong chiếc khăn chùm đầu đầy ấn tượng thể hiện bằng những nét bút đậm. Nó là của cha và của ngôi nhà cũ của tôi.
Ðể tôi kể cho bạn nghe về nơi tôi gọi là nhà mình. Ðó là căn nhà hai tầng uy nghi được xây trên một khu đất khổng lồ đến hai nghìn mét vuông tại vùng ngoại ô cũ Malate ở Manila mà cha tôi đã mua vào cuối những năm bốn mươi. Vào thời đó các khu đất vùng Malate và Ermita thuộc về những gia đình giàu có. Những nhà giàu có gốc. Các ngôi nhà có bãi cỏ rộng bao quanh, rào bằng các bức tường cao phủ dây leo và có cửa sắt lớn.
Khu của dân trung lưu và hạ lưu ở Santa Cruz, Pandâcn, Santa Ana, Tondo, San Miguel và một số thị trấn cũ thuộc Manila, cuộc sống khác hẳn. Những ngôi nhà nhỏ xây sát nhau. Trong các thị trấn đông đúc này, trẻ con chơi đùa trên lối đi, còn đàn bà thì tán chuyện trên các bậu cửa. Xe Jeep, xe buýt, ôto con, thậm chí cả xe ba bánh chen chúc trên đường phố, xả khói đen kịt vào không khí và bóp còi ầm ĩ trong khi chạy.
Nếu bạn cùng tôi đến nhà tôi ở Malate, cái đầu tiên khiến bạn lưu ý chính là cánh cửa sắt đen nặng nề kẽo kẹt rất to mỗi khi đóng mở. Qua cánh cửa là đến lối đi đổ bê tông vòng theo mé trước lối chính vào nhà. Ngôi nhà nằm sâu bên trong khu đất, cách đủ xa đường phố, có một hàng cây keo đứng sừng sững oai vệ như những người lính gác câm lặng dọc theo bức tường phía trước che khuất ngôi nhà. Không thể nào nhìn xuyên qua tán lá của những cái cây cao này. Cửa chính vào nhà rất đường bệ với hai cánh cửa chắc chắn bằng gỗ lim chạm trổ cân đối. Từ đây có thể thấy toàn bộ khu vườn phía trước, thảm cỏ Bermuda hình chữ nhật móc dày đặc bóp nghẹt những cỏ dại vì mẹ tôi rất ghét những thứ tự phát triển hoang dã vô chủ.
Mỗi khi nghĩ về ngôi nhà, tôi lại thấy cha đang đọc trong phòng làm việc và tôi ngửi thấy mùi da cũ của chiếc ghế quay của cha, phần lưng tựa đã in hằng dấu lưng cha từ bao lâu nên cái ghế vừa khít hoàn toàn với ông. Tôi lại thấy mẹ trong phòng ngủ ngồi cạnh cửa sổ nhìn xuống dưới lối đi, không bao giờ bỏ sót bất cứ việc gì xảy ra phía dưới. Tổ ấm của tôi là căn nhà cũ đó với những hương xưa, những góc cũ nơi cha mẹ sống mãi trong lòng tôi, nơi họ hồ hởi chạy ra khỏi phòng, đẩy tung cửa, lao ra đón mừng tôi về. Có điều giờ đây ngôi nhà cũ chỉ còn một goá phụ già nua.
Tôi cố gắng khoả lấp khoảng cách giữa hai mẹ con. Tôi viết cho bà những lá thư dài, ít nhất một tháng một lần, dường như biết bao nhiêu từ ngữ viết ra trên giấy ấy gộp lại có thể thay thế sự thiếu vắng của chính bản thân tôi.
Tôi kể cho mẹ cả những việc lớn và việc nhỏ. Tôi viết cho bnà cả về công việc nội trợ của tôi, về việc làm ăn của Jaime, về Marla, về việc học nhạc của con bé, về việc nó học lái xe, về tất cả những gì tôi có thể nghĩ ra. Bằng cách đó, mẹ vẫn sẽ là một phần trong cuộc sống của tôi, vì tôi là tất cả những gì còn lại với mẹ.
Trước kia tôi thường gọi điện cho mẹ, song bà không đồng ý. Lãng phí tiền vào các cuộc gọi điện đường dài. Dĩ nhiên là mẹ khoẻ. Mẹ tôi không bao giờ đánh mất bản tính căn cơ cho dù bà về làm dâu một gia đình giàu có. Vì thế tôi thôi gọi điện, chỉ gọi trong những dịp sinh nhật, Giáng sinh hoặc khi có cái gì thật đặc biệt xảy ra.
Nhưng tôi luôn giữ việc trao đổi thư từ một chiều. Tôi viết thư đều đặn, không chờ đợi thư trả lời, tôi vẫn viết vì biết là mẹ sẽ đọc hết tất cả những lá thư của tôi. Mia đã nói với tôi điều đó.
Mẹ chị nói là cháu Marla làm bài thi rất tốt
Bà luôn khoe với mọi người là cháy gái của bà rất thông minh. Em bắt đầu có cảm giác là bà nghĩ là con bé Susan nhà em không được thông minh lắm!
Và chính Mia là người viết thay cho mẹ, Mia thường thêm lời nhắn của mẹ vào các bức thư vốn đã rất dài của nó. Tái bút: Mẹ chị nói chị phải làm cái này. Tái bút: Mẹ chị bảo phải kể cho chị chuyện kia.
Nhưng tám tháng qua là tám tháng đầy lời dối trá. Tôi vẫn thư từ, mọi cái đều bình thường. Chừng nào tôi chưa phải đối diện với mẹ thì tôi vẫn có thể giả vờ được. Nhưng bây giừo chính mẹ đã viết cho tôi. Và tôi ngồi trong cái máy bay này đầu óc đầy những câu hỏi mà chỉ mẹ mới có thể trả lời. Mẹ luôn luôn không ưa những câu hỏi của tôi.
- Lúc nào cũng hỏi
Mẹ phải bảo con bao nhiêu lần là nghe thì tốt hơn nói hả. Nhưng con thì luôn nói
hỏi những điều ngớ ngẩn
để làm gì vậy?
- Vì con muốn biết tôi vẫn thường trả lời như vậy.
Không phải lúc nào mẹ tôi cũng như vậy. Chỉ với những điều mẹ không bao giờ muốn đả động đến. Những điều về quá khứ. Tôi nghĩ có lẽ vì mẹ không thích nhớ tới chiến tranh. Có thể chiến tranh thời quân Nhật chiếm đóng, như mọi người vẫn gọi, để lại nhiều hồi ức đau lòng mà mẹ chỉ muốn quên đi. Ðó hẳn là một thời kỳ nghiệt ngã vì tôi nhớ có lần cha bảo tôi: Cầu trời cho con không bao giờ phải sống qua thời kỳ như thế.
Vì thế tôi đã thôi hỏi mẹ về những năm tháng đó và cho là mình hiểu được sự do dự của mẹ khi phải nhớ đến nó. Nhưng tôi không chỉ muốn biết về chiến tranh thôi.
- Mẹ kể cho con nghe về cha mẹ trước khi có con đi. Mẹ kể chuyện về con khi con còn là em bé nữa. Mẹ kể cho con
Một phần các câu hỏi là sự tò mò, còn một phần là vì tôi muốn hiểu được chút ít các câu chuyện tình cờ nghe được và những sự việc xảy ra hồi nhỏ. Song mẹ tôi từ chối đả động đến những việc này. Và vì thế tôi đã không hỏi me nữa. Sau đó tôi chuyển sang sống tại Sydney cam chịu có những điều không rõ. Anh Jaime thường bảo tôi: Dù sao thì những điều đó có ảnh hưởng đến cái gì không nhỉ?
- Xin lỗi quý khách, xin quý khách ngồi thẳng và thắt chặt dây an toàn. Máy bay chuẩn bị hạ cánh.
Tôi nhìn đồng hồ để kiểm tra thời gian.
- Chậm hai giờ so với giờ Sydney, đội phục vụ bay nói. Tôi chỉnh đồng hồ theo giờ địa phương và tựa vào cửa sổ, hy vọng nhìn được một thoáng cảnh thàng phố trong khi máy bay sắp hạ cánh. Lúc đầu một phần cảnh vật bị che khuất bởi một màn mây rồi dần dần rõ ra và những mái nhà của Manila trong chiều tà dần dần hiện rõ. Ðó đây, tôi thấy những tia sáng từ những dãy mái nhà lợp tôn phản chiếu những tia sáng cuối cùng của vầng dương bền bỉ vẫn đang quanh quẩn nơi chân trời, không muốn cho một ngày nữa qua đi.
Vài phút sau, máy bay đã hạ cánh, chạy trên đường băng và cuối cùng thì dừng hẳn. Tôi băn khoăn không biết đây có phải chính là đường băng mà nhà cách mạng Aquino bị lưu đầy từ Hoa Kỳ trở về và đã được đón chào bằng loạt đạn của một tên ám sát khi ông bước xuống từ chuyến bay 811 của Hàng không Trung Quốc. Hình ảnh cả thân hình ông đổ sập xuống nền đất, máu trài ra từ cổ vẫn còn thiêu đốt trong tâm trí tôi. Như một cái đài phun nước, đó là cách những người chứng kiến mô tả.
Tại căn nhà tôi ở Sydney thì vẫn an toàn khi sự cố xảy ra, nhưng khoảng cách không làm giảm chút nào cơn sốc, nỗi căm giận và sự bất lực mà tôi cảm thấy.
Một tính toán chính trị sai lầm thô thiển, Jaime đã nói vậy về biến cố ấy. Anh ấy đúng. Biến cố này làm bật ra một chuỗi các sự kiện cuối cùng dẫn tới đảo chính. Ba năm rưỡi sau, nó đã được đẩy tới đỉnh điểm là một cuộc cách mạng. Sức mạnh quần chúng.
Khi nó bắt đầu, tôi nhớ mình đã theo dõi tin tức qua tivi, chuyển từ đài SBS sang ABC từ kênh Bảy sang Chín rồi Mười với hi vọng sẽ nghe được một điều gì mới mẻ.
- Không giống như đang ở đây đâu Mia nói hổn hển qua điện thoại- Em ở ngay đó, Caridad à, khi nó nổ ra nó nói với một giọng mà trước đó tôi chưa từng nghe. Ðó gần như là một cảm giác ghen tị, một cảm giác là kẻ ngoài cuộc khi tôi nghe cô em họ kể cô đi trong đoàn diễu hành xuống đại lộ Epifanio de los Santos một đại lộ dài tràn ngập ba triệu người biểu dương sức mạnh quần chúng.
Tất cả giàu nghèo, già trẻ, công chức, người bán rong, cha cố, bà xơ, gái điếm, các người hùng thể thao, siêu sao màn bạc và các chính khách nữa tất cả bọn họ tụ họp lại trong cuộc cách mạng như ngày hội và chỉ có người dân Phillipine mới có thể tổ chức được để lật đổ chính thể Marcos đã thống trị hai mốt năm trời. Ðó là cuộc Cách mạng do nhà thờ Thiên chú giáo lãnh đạo. Và trong đó đầy các điều kỳ diệu, những câu chuyện kể về các bà xơ xông lên tuyến đầu, chặn những cỗ xe tăng bằng sức mạnh của những lời cầu nguyện.
Xong điều tôi nhớ nhất là câu chuyện kỳ lạ Mia kể cho tôi nghe: Lúc đó bọn em nghĩ quân ta đã bị đánh bại. Chính chiếc trực thăng chiến đấu đã vây quanh doanh trại Crame nơi quân nổi dậy bị dồn vào. Nhưng thay vì tấn công, chúng hạ cánh, phi công nhảy ra, vẫy cờ trắng. Họ đã bỏ ngũ và gia nhập vào quân ta.
Sau này, người phi công lái chiếc máy bay chiến đấu thứ mười lăm thuộc Lực lượng Không quân Phillipine đã kể lại hình ảnh kỳ lạ mà anh ta đã nhìn thấy. Khi từ trên máy bay nhìn xuống hàng triệu người tập trung phía dưới, trong một khoảng khắc có một chữ thập khổng lồ che phủ đám đông rồi biến mất. Chúa Trời đã đứng về phía nhân dân. Anh ta không thể bắn vào họ được.
Ôi, Caridad ơi, chị có biết là em mong có chị ở đây khi cách mạng xảy ra biết nhường nào không. Và bây giờ cung điện Malacanang được mở cửa cho công chúng đấy. Lần sau chị về nhà em sẽ dẫn chị đến đó. Hãy về nhà sơm snhé.
Bây giờ đã được gần hai tháng sau sự kiện đó, tôi đã ở nhà. Tôi băn khoăn không biết nơi đây có sự thay đổi hữu hình nào không. Trong lúc bước từ máy bay qua hàng lang nối đến sân bay, trong tôi dâng lên những tình cảm đầy mâu thuẫn nỗi hồi hộp vì được về nhà trộn lẫn một cảm giác nao nao. Tôi sẽ sớm phải đương đầu với cái gọi là Sự bố trí trật tự mới ở sân bay Manila”.
Trong chuyến về nhà lần trước, sân bay dự án của Ðệ nhất Phu nhân Imelda Marcos tai tiếng - đã mang những dấu hiệu đầu tiên của sự mục ruỗng. Bóng đèn huỳnh quang thô kệch để chiếu sáng khu nội thất không thể làm nhẹ bớt sắc xám âm u của bê tông. Khi khánh thành, nó được ca ngợi là sân bay hiện đại nhất châu á. Giờ đây trông nó khá là đáng buồn, ít đượcq uan tâm ở một nước đang có nhiều vấn đề cấp bách đáng quan tâm hơn là tiện nghi cho khách du lịch. Tôi ước gì mình đang ở một chỗ nào khác.
Khi tới được bộ phận nhập cảnh, người tôi nóng bức, nhớp nháp mồ hôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy mình đang ở phía trên của hàng người xếp hàng trước quầy Balikbayan quầy nhập cư dành riêng cho người hồi hương. Cái chữ đó nghĩa là những người về nhà. Thủ tục ở đó nhanh hơn.
Rồi thì hộ chiếu của tôi cũng được đóng dấu, tôi đi lấy hành lý. Một, hai, ba gói. Một
hai
ba món. Một vali và hai thùng đầy hoa quả tươi.
- Tất cả đây a? Nhân viên hải quan hỏi.
Tôi gật đầu.
- Chị có khai báo gì không?
Tôi lắc đầu.
- Tôi được phép mang hai thùng, đúng không?
Ðến lượt anh ta gật đầu. Trông anh ta có vẻ hơi thất vọng. Balikbayan được phép mang hai thùng hoa quả miễn thuế, và tôi luôn thực hiện đúng như vậy. Anh ta vẫy tay cho phép tôi qua.
Tôi đây xe hành lý qua cái cửa kính có chữa Exit, một luồng hơi nóng đón chào tôi cùng với hàng trăm giọng nói inh tai nhức óc. Ðám đông bên ngoài toà nhà chen lấn, xô đẩy để nhìn được về phía cửa ra vào, hy vọng nhì thấy người nhà hoặc bạn bè mà họ đi đón.
Caridad, Caridad
Tôi nghe thấy tên mình được gọi bằng một giọng quen thuộc. Quay lại, tôi nhìn thấy Mia đang vẫy tôi. Trông nó vẫn luôn như vậy! Một nàng tiên với mái tóc cắt ngắn, nó nổi bật trong chiếc áo sơ mi màu hoàng yến và chiếc quần xanh ánh bạc. Mia thường mặc những bộ có màu sắc rực rỡ để khăc phục sự thiếu hụt về chiều cao. Bây giờ nó đang đứng ở phía bên kia rào ngăn đường cho khách ra. Nó hét:
- Ðứng đợi ở đây nhé. Em sẽ lái xe ra đón chị. Tôi gật đầu, tự hỏi không biết phải đợi bao lâu vì các xe đỗ nối đuôi nhau, chờ người lên, và phía sau chúng là bao nhiêu xe nữa chờ các xe phía trước lăn bánh để chúng có thể tiến lên phía trước. Khu cho hành khách xuống đầy ứ xe đẩy chất đống hành lý và thùng chứa pasalubong hoa quả, pho mát, socola, đồ hộp, tất cả các thứ cho bạn bè và người thân.
Khi tôi đợi Mia, có một bà sồn sồn hẳn là vừa đi Mỹ về qua, mồ hôi nhễ nhại trong chiếc áo khoác len mỏng màu đen, váy trong màu trắng, khăn quàng đỏ quấn quanh cổ. Một con chim cánh cụt Nam cực bị lạc xuống vùng nhiệt đới. Bà ta đẩy một cái xe quá tải. Bà ta đẩy quá cực nhọc. Giống như một phim quay chậm, chúng tôi nhìn cái xe từ từ nghiêng sang một bên. Một lô hộp xếp chồng chất lên nhau, một chiếc thùng ních chặt đồ va phải vỉa hè bê tông và vỡ tung ra. Tía lia nào táo, cam, các thanh socola hiệu Baby Ruth, hiệu Butterfinger và hiệu Hershey, hộp thịt bò muối, một hũ tảo bẹ, rơi
lăn
khắp vỉa hè, rồi lăn cả vào gầm những chiếc xe hơi đang chờ khách.
Một cuộc tranh giành điên cuồng xảy ra khi những người đứng xem luồn bò tìm đồ rơi. Phần lớn được trả lại cho người chủ đang bối rối cuống cuồng. Dù sao tôi cũng không ngạc nhiên nếu một hai đứa trẻ quyết định lận tí chút.
Hai mươi phút sau, Mia đi xe đến. Nó chạy lại ôm chầm lấy tôi, hôn vào hai má rồi vừa nhanh chóng lấy ngón cái chà mặt tôi để xoá vết son đỏ tươi nó để lại vừa nói:
- Em xin lỗi vì bắt chị phải chờ lâu nhưng Manolo không thể lấy x era được, có vài thằng cha ngớ ngẩn đỗ xe ngay sau anh ta. Lẽ ra em nên đứng đợi cùng chị nhưng em lại không nghĩ là lâu như thế.
- Anh vẫn còn ở đây hả Manolo Tôi nói với người lái xe của Mia đang lúi húi chất đồ vào xe.
Anh ta trao cho tôi một nụ cười toe toét, nhe hàm răng món, rất hài lòng vì tôi vẫn nhớ anh ta.
- Anh ấy đã ở đây với bọn em
ô, đến giờ là hai mươi mốt năm rồi
từ hồi Rey và em cưới nhau, phải thế không anh Manolo?
Anh ta gật đầu và lại nhe lợi cười toe toét.
- Ôi lạy chúa, chị cảm thấy mình già mất rồi!
- Chị nói gì vậy, trông chị tuyệt lắm! Tất cả đống việc nhà sẽ phải theo ý chị đấy.
Tôi cười, bước lên xe. Tôi nhớ lại tất cả những lần viết thư cho Mia hồi ở Sydney năm đầu tiên để phàn nàn về các công việc tôi phải làm - Ðó là công việc của ba người giúp việc trông tay chị bây giờ bợt bạt, nhầu nát lắm.
ở Manila, người giúp việc làm tất cả - nào nấu nướng, giặt giũ, là ủi, dọn dẹp nhà cửa, mọi thứ. Vườn tược thì dành cho người trông vườn. Giao thông công cộng là thứ xa lạ đối với tôi vì tài xế riêng của gia đình đưa tôi đi bất cứ nơi nào toi muốn.
Sydney hoàn toàn là những kinh nghiệm mưói những điều tầm thường nhỏ bé. Lần đầu tiên nấu cơm, tôi đã làm cháy nồi. Mất hàng tháng trời tôi mới biết là cổ áo và tay áo. Học lái xe là thách thức lớn nhất - tính đến lúc chúng tôi sắm được một ngôi nhà cũ kỹ ọp ẹp mà tôi và Jaime phải mất bốn năm trời vào việc sửa chữa.
Hai năm đầu, tôi nhớ tiếc cuộc sống cũ. Sự sung túc tôi từng hưởng, vị súp Sinigang có hương thơm của hạt me, xoài xanh dầm mắm tép, cá khô và khoai tây ăn với trứng muối. Nhưng dần dần những khao khát đó lùi dần khi tôi khám phá được ngày càng nhiều điều đáng yêu về ngôi nhà mưói.
- Khi chị ở nhà thì chị sẽ không phải động một ngón tay. Bác Thelma sẽ coi sóc hết thảy giọng nói của Mia đưa tôi về thực tại. Và, nghe thấy tên mẹ, cuối cùng tôi đã hỏi cái câu hỏi đã day dứt trong đầu tôi suốt mấy ngày nay:
- Vì sao chị lại ở đây?
- Vì bác muốn gặp chị
Không, chị đừng nhìn em như vậy, em đã nói với chị là bác không ốm mà!
- Thế thì tại sao?
- Như em đã nói đây, chị Caridad, người già đôi khi rất buồn cười, nên mọi người cũng đừng phiền lòng vì bác
Em thường nói với mọi người như thế đấy.
Thế nghĩa là mọi người thường nói chuyện về mẹ. Mia không nói gì thêm và tôi đành phải chờ đợi. Mẹ sẽ bảo cho tôi vào lúc nào mẹ muốn và theo cách của bà.
Trong khi xe lăn bánh, tôi nhìn quanh tìm những dấu hiệu của sự thay đổi.
- Quá sớm để nói một điều gì, chị Caridad ạ. Ta không thể một sớm, một chiều làm thay đổi chế độ quan liêu, tham nhũng. Thậm chí đến giờ vẫn còn quá nhiều xung đột nội bộ và những chuyện mập mờ. Vẫn là các chính trị gia đó thôi nhưng dưới những chiêu bài chính trị mới. Em không muốn lại là Cory. Mọi người đều quá kỳ vọng, những mong đợi phi thực tế, nên em e rằng họ sẽ thất vọng Mia nói trong tiếng thở dài.
- ồ, bà ta đã cho em một điều kỳ diệu rồi đó.
- Ðúng
và em cho là thậm chí nếu bà ta có một số thành tựu thì đó cũng chỉ là bắt đầu thôi. Nhưng em vẫn không muốn đổi chỗ cho bà ấy.
Lại tắc đường rồi. Phía trước chúng tôi, tôi hình dung ra một loạt những đường giao thông huyết mạch nghẽn dí dị. Một chiếc xe tải bị hỏng, một đống đổ nát đèn giao thông vô dụng, lái xe chửi bới nhau, ra gan không chịu nhúc nhíc, không khí ở Mexico xa xôi đang ở giữa đám tắc đường ở Manila. Tôi tin rằng khí hậu nóng bức có ảnh hưởng ít nhiều đến tính tình dễ bốc máu của các anh tài xế Phillipine. Trong khi xe cộ bắt đầu nhúc nhích tí chút, tôi ngắm lũ trẻ bán rong những tràng hoa sampaguitas thơm lừng, những người đàn ông mặc áo phông sợi bông rách tả tơi theo sát chúng, bươn bả với những hộp thuốc lá, lao tới lao lui trong dòng xe cộ để bán vài điếu chỗ này, vài điếu chỗ kia; thỉnh thoảng có một người đàn bà bế một đứa bé hoặc một người mù có một thằng nhóc bụi đời dẫn lại đi qua nài xin một vài xu bố thí. Những lúc giao thông bùng nổ khi bỗng dưng tất cả mọi thứ chồm lên phía trước, những chiếc xe buýt chật cứng khách chạy đua trên đường tranh đường, tăng tốc, tôi cố thở bình thường và mong có được sự an toàn như lúc tắc đường.
- Chị yên tâm di Mia nói, nhận they tay tôi đang bám chặt vào thành ghế một hai ngày là chị sẽ quen với tất cả những cái này thôi mà.
Giao thông trở lại nhịp độ bình thường.
- Cái gì thế kia? Tôi hỏi, chỉ về phía khúc tường dài, quét vôi trắng ở bên kia đường. Một lối đi hình vòng cung, trẻ em chạy ra chạy vào. Tôi thoáng nhìn thấy những gì nằm ở phía sau nó.
- Một khu nhà ổ chuột
một xóm liều Mia trả lời.
- Sao lại có bức tường cao bao quanh nó thế?
- à, em nghe nói, Ðệ nhất phu nhân
- Cựu đệ nhất phu nhân tôi sửa lại.
- ồ, đúng thế, thật khó mà nhớ rằng bà ta đã ra đi. Vâng, người ta kể rằng một hôm chiế Limousine của bà tay qua đây, bà ta thấy chốn đó trông chướng mắt đến thế nào. Bà ta không muốn có quá nhiều cảnh nghèo tong dơ dáy phơi bày, thế là bà cử một đội ngũ đông đảo nhân công đến. Chỉ vài ngay sau bức tường được dung lên. Phải rồi, đó là một sự cải thiện
nhưng chỉ trong con mắt của những kẻ nông cạn mà thôi.
Chốn này gợi tôi nhớ tới rất nhiều khu dân cư của Manila có tường vây cách biệt. Trừ phần bên trong bức tường, không có lấy một ngôi nhà nào đàng hoàng, them chí trông không ra cái nhà, không nói chi đến khu vệ sinh công cộng, hiển nhiên là không có gác cổng ban đêm bảo vệ cư dân và tài sản của họ khi họ ngủ.
Manila là một thành phố của những sự cực đoan. Những người nghèo thì rất nghèo còn người giàu thì rất giàu. Họ cùng song song tồn tại. Người giàu sống trong các ngôi nhà, toà ngang dy dọc tại các khu dân cư với cái tên rất hay như Green Meadows, White Plains, Corinthian Plaza, Bel Air, San Lorenzo, Magallanes và công viên Forbes độc đáo, một khu đất mênh mông ở giữa chúng có cây cối phủ dầy là chỗ của câu lạc bộ Polo Manila. Những người nghèo cũng không cách xa đó là bao. Họ sống bằng số tiền ít ỏi, ở ngoại vi của những khu giàu có này. Một sự nhắc nhở thường xuyên cho những người giàu có rằng cuộc sống còn có mặt trái của nó.
Cạnh cảng là khách sạn Manila lịch sử, một khách sạn cổ uy nghi tráng lệ, nơi đây có căn phòng áp mái tong là chỗ cư trú của Ðại tướng Douglas Mac Arthur trước Chiến tranh thế giới thứ hai và là nơi yêu thích của Aldo Gucci, nơi ngày nay những người giàu có vẫn đến tiệc tùng, nhảy múa, là nơi các thương gia thường lui tới tổ choc các bữa ăn sáng sự vụ có liên quan tới các vụ làm ăn trị giá hàng triệu đôla. Dưới bang của những toà tháp hiện đại được xây dựng giữa những năm bảy mươi của khách sạn, bạn sẽ thấy khu nhà ổ chuột lớn nhất Manila, khu Tondo. Khu Tondo và các khu lân cận là nơi ở của dân nghèo thành phố. Chốn này chen chúc, chật ních và nhà cửa, nếu có thể gọi được là nhà, nằm san sát nhau, hầu hết không rộng hơn cỡ của một chiếc giường đơn. Trong các ngôi nhà chật chội này cả gia đình năm, sáu, thậm chí mười người cùng ngủ chung.
Khi còn học ở trường dòng, một hôm các xơ dẫn chúng tôi đến Tondo trong chuyến đi thực tế. Mục đích của nó là để mở mắt cho chúng tôi. Cho chúng tôi thấy những kẻ kém may mắn hơn chúng tôi sống ra sao và để tạo cho chúng tôi chút lòng trắc ẩn với họ, đồng thời trong quá trình đó chúng tôi cũng biết quý trọng hơn những gì mình có. Nhưng lòng trắc ẩn đã chẳng làm được gì nhiều để kéo gần lại thế giới của chúng tôi và của họ. Những cơ cấu quyết định sự giàu có và sự nghèi khổ đã ngự trị hàng bao thế kỷ.
Jaime giải thích điều đó rất đơn giản. Anh ấy nói:
- Ðịa vị kinh tế và xã hội ở đất nước này được quyết định chủ yếu bởi chủng tộc. Quý tộc Tây Ban Nha tất nhiên chiếm hàng đầu. Họ thống trị suốt ba trăm bảy mươi năm. Thế lực chính trị đã dẫn đến thế lực kinh tế. Và chớ quyên các thầy dòng Tây Ban Nha khôn khéo đã sử dụng tín ngưỡng để chinh phục quần chúng.
Sau đó là người Hoa xảo trá. Họ không có ảnh hưởng về chính trị. Người Tây Ban Nha đã nhận ra điều đó. Người Tây Ban Nha đối xử với người Hoa như những người hạ đẳng, còn tồi tệ hơn cả với người Phillipine. Người Hoa phải sống trong một khu đất riêng nhỏ nhoi nằm ngoài Intramuros, không khác gì khu Do thái. Người Phillipine cũng rất khinh thường người Hoa. Song tạo hoá luôn cân bằng mọi sự. Người Hoa là loại người sinh ra với sự nhạy bén về kinh doanh. Rất nhiều người trong họ khôn ngoan kết hôn với dân địa phương và con cái họ, Trung Quốc Phillipine mestizos, được sự chấp nhận của xã hội Phillipine. Chẳng bao lâu, họ đã là chủ của các cửa hàng, nhà cửa, ngân hàng, xưởng máy. Có tài sản trong tay, dần dần họ giành được quyền lực.
SAu đó người Mỹ tới mang theo hệ thống giáo dục mà họ đã khôn khéo sử dụng để gây ảnh hưởng tới cách nghĩ của người Phillipine. Bỗng nhiên, người Phillipine nghĩ họ là người Mỹ. Chúng ta đã từ bỏ cái duy nhất chúng ta có là ý thức về bản thân mình. Thật là người ngớ ngẩn, lố bịch biết bao khi thậm chí chúng ta còn vận động để trở thàng bang thứ năm mốt của nước Mỹ! Rốt cuộc thì người Phillipine chính là người bị lấy đi nhiều nhất. Người Tây Ban Nha và Trung Quốc thì có tài sản và quyền lực chính trị nhưng người Phillipine thì không bao giờ có chút quyền lực nào ở ngay tại đất nước mình để mà vùng vẫy. Em đã bao giờ nhìn thấy một người Tây Ban Nha hay người Hoa sống trong một ngôi nhà lụp xụp chưa?
Tôi nhìn quanh, ngắm khuôn mặt của những người ăn mày và người bán rong trên đường phố tôi nhận ra Jaime đã nói đúng đến thế nào. Tất cả bọn họ đều là người Phillipine, không có một ngoại lệ nào.
Mặc dù sinh ra là một mestizos với sự pha trộn các dòng máu Tây Ban Nha, Trung Quốc và Phillipine, thâm tâm Jaime vẫn cho mình là người Phillipine. Nên anh thường thất vọng trước bản tính của người Phillipine.
- Chúng ta đã bị thống trị quá lâu nên không còn nhớ chúng ta là ai nữa. Chúng ta cho rằng đó là cách sống. Chúng ta trở nên quá chấp nhận, lãnh đạm trước sự áp bức.
Khi lực lượng Sức mạnh Quần chúng lật đổ chế độ Marcos, Jaime hét toáng lên:
- Caridad, dân mình mới thật kỳ lạ làm sao. Chúng ta đã quỳ gối trước sự thống trị thực dân trong hơn bốn trăm năm ròng, chịu đựng hàng trăm điều xỉ nhục, trong khi tất cả điều mà chúng ta cần để vùng lên giải phóng khỏi ách nô lệ này lại là sự nếm trải chế độ độc tài nội địa. Thế mà chúng ta cũng phải chịu dựng chế đọ này đến hai mươi mốt năm ròng!
Tôi băn khoăn không biết Jaime sẽ nghĩ gì nếu giờ này anh ở bên tôi. Nhưng rồi có lẽ chính bởi giao thông quá chậm chạp và dường như không bao giờ kết thúc đã bứt được anh khỏi tâm trí tôi. Phải mất gần một tiếng để đi một quãng đường có vài cây số từ sân bay về nhà tôi tại Malate. Cuối cùng thì Menalo cũng đã dừng trước cổng và bấm còi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Tôi đã về đến nhà.
Một người giúp việc tôi không quen mặt chạy ra rồi mở cánh cổng sắt nặng chịch.
- Người mới a? Tôi hỏi.
- Mẹ chị không thích người giúp việc trước hoặc là người trước nữa. Bà nói rằng không ai được như Rosa.
- Thế Rosa đâu? Cô ấy đã bỏ đi rồi a?
- Em tưởng là đã viết thư kể cho chị nghe rồi cơ mà. Ðúng thế
hồi đầu năm nay cô ấy nói muốn về nhà làm ruộng ở Pangasian và sống quãng đời còn lại ở đó.
Rosa là người giúp việc được mẹ rất tin cậy. Cô ấy ở nhà tôi từ khi tôi còn bé và dù sao tôi cũng không hình dung được là cô lại không có ở đây. Rosa không bao giờ nản lòng trước lối cai quản của mẹ tôi. Cô ấy vẫn ở lại để chứng kiến nhiều người khác đến rồi đi khỏi ngôi nhà này, những khuôn mặt và tên tuổi mà toi chẳng còn nhớ nổi. Và dần dà, mẹ đã để cô cai quản khá nhiều việc trong nhà. Cô ấy nghiêm khác với những người giúp việc khác, thường để lộ ra vẻ chuyên quyền, nghiêm khắc lạnh lùng chẳng khác gì bà chủ. Bây giờ cô ấy đã đi rồi.
Tôi bước vào nhà, nơi thời gian đã dừng lại từ rất lâu rồi. Sala vẫn như ngày xưa. Cứ như hình ảnh trong một bức ảnh cũ đã ngả vàng. Vẫn những đồ đạc đó mà vẫn ở đúng những chỗ đó. Bộ sưu tầm tranh của cha tôi vẫn treo trên tường đúng chỗ ông đã treo từ biết bao lâu rồi. Cây tre cao vẫn trong chiếc chậu men to có hình con rang lượn quanh đặt ở góc nhà nơi nó được đặt lần đầu từ hơn một thập kỷ qua. Một số người muốn thay đổi mọi vật, di chuyển chúng ra chỗ này rồi chỗ kia. Nhưng mẹ tôi thì không thế. Mẹ thích mọi cái được giữ nguyên như cũ. Có điều giờ đây trông chúng cũ hơn. Chúng thêm tuổi tác, già đi cùng mẹ.
- Bà nói khi nào cô về tới thì cô lên thẳng phòng ngủ của bà - Người hầu gái trẻ nói.
- Rồi, em về đây. Gọi điện cho em sau rồi chúng ta sẽ lên vài chương trình - Mia nói và quay ra đi về.
- Thế em không lên gác cùng với chị a?
- Không, em biết chắc là bác Thelma muốn ngồi riêng với chị…
- Kinh khủng đến thế sao? - Tôi hỏi nửa đùa nửa thật.-
- Chị đừng có vớ vẩn.
Tôi theo người hầu gái lên phòng mình, nơi cô ta xếp mọi đồ đạc của tôi cạnh chiếc tủ com mốt Vigan cũ cạnh chân giường. Tôi sờ tay lên mặt tủ, cảm nhận chất gỗ, thấy nó mới cần có một lớp dầu bóng Ðan Mạch để lại có được vẻ choáng lộn ngày xưa đến thế nào. Cha tôi mua chiếc tủ này trong một chuyến công tác lên phía Bắc vì tôi luôn ao ước có một chiếc. Tôi mở cánh cửa để lộ hàng ngăn kéo để cất đồ trang sức. Tôi mở một ngăn ra và tìm thấy hai vỏ ốc tiền. Tôi cố nhớ lại xem mình đã nhặt chúng khi nào. Tôi lấy một cái vỏ ốc và áp vào tai. Ngày xưa, cha bảo tôi rằng nếu đặt vỏ ốc vào gần tai, tôi sẽ nghe được tiếng gọi của đại dương. Tôi có thể nghe thấy nhiều điều bí ẩn. Tôi lại cất vỏ ốc vào ngăn kéo và đóng tỷ lại rồi nhìn quanh phòng. Mọi thứ vẫn như xưa nhưng những chiếc rèm vải hoa đã phai màu và từ chỗ tôi đứng tôi nhìn thấy một chỗ rách để ánh sáng bên ngoài cửa sổ lọt vào. Ai đó đã bật đèn hành lang. Ngoài kia trời đã xẩm tối.
Tôi mở những cánh cửa dẫn ra hành lang. Chỉ vài phút trước khi tôi bước vào trong nhà, bầy trời bỗng toác ra, trút xuống một cơn mưa xối xả, rửa sạch hơi nóng trên các vỉa hè, làm tăng thêm cái mùi nồng nồng chua ngái bốc lên do nước mưa rơi xuống mặt đất đã thấm đẫm nắng trời. Tôi vẫn còn ngửi thấy cái mùi đó. Nhưng cơn mưa như trợt tạnh nhanh y như nó bắt đầu. Bây giờ dấu vết duy nhất của nó ngoài hơi nồng của đất là tiếng giọt nước rớt tí tách từ chiếc lá này xuống chiếc lá khác trên cây xoài già trồng bên nhà phía bên phòng tôi. Những tán lá dài, sum suê vươn cao tới gần mái nhà, bóng của nó trải dài như vòng tay rộng mở vươn tới phòng tôi để ôm lấy bức tường.
Tôi quay về phòng mình, chiếc điều hoà đang rền rĩ. Nó đã quá cũ kỹ và có lẽ không được dùng đến kể từ chuyến tôi về nhà lần trước. Căn phòng cũng chẳng mát hơn được là bao mà lại còn tiếng ồn của cái điều hoà. Nhưng dù gì thì cũng vẫn hơn ở ngoài kia. Không khí ẩm nóng làm da tôi ướt mồ hôi rồi. Trận mưa trút nước cũng chẳng giúp được là bao. Phải mất vài ngày để làm quen lại với cái nóng bức này.
Nhìn một lần cuối, tôi bước về phía cửa ra vào. Không có gì để trì hoãn thêm nữa. Mẹ đã biết tôi về đến nhà rồi. Thế nên tôi bước ra hành lang và đi về phía phòng mẹ. Căn phòng trông xuống lối chính vào nhà, từ cửa sổ hẳn mẹ đã nghe thấy tiếng xe ôtô đi trên đường vào và dừng lại trước cổng chính, rồi tiếng chúng tôi trò chuyện chắc vọng lên tận phòng mẹ.
Chiếc gương hình bầu dục cổ dọc hành lang phản chiếu hình tôi cũng như bao nhiêu lần trước kia. Chỉ có điều lần này, không phải là khuôn mặt của một đứa trẻ từ trong gương nhìn lại tôi mà là của một phụ nữ đã tứ tuần, tóc đã điểm muối tiêu, khuôn mặt đầy đặn hơn ngày trước với những nếp nhăn đã lộ rõ nơi khoé mắt. Tiếng bước chân của tôi không còn là tiếng dép khua lốp cốp của một đứa trẻ mà là bước đi của một người đã trải qua năm tháng, quay về mang theo cảm giác mất mát và mệt mỏi. Gót giầy của tôi báo hiệu tôi đáng đến, nó gõ lên ván sàn đánh bóng lát từ đỉnh cầu thang xuống đến hết sảnh. Cuối cùng đã đến cửa phòng mẹ, tôi vặn tay nắm và bước vào căn phòng, nơi giờ đây mẹ giam hãm cuộc đời mình.
Bạn đã bao giờ vào trong một nhà thờ khi đèn đóm tắt hết và một thứ duy nhất tỏa sáng là một hàng nến lung linh có những ngọn lửa tạo thành những dải khói xoắn đưa lời cầu nguyện lên cao xanh nơi nó sẽ được Chúa trời nghe thấy chưa? Cũng thứ ánh sáng và bóng tôi đó đang ngự trị trong căn phòng mẹ tôi.
Tôi đưa mắt tìm kiếm mẹ giữa bóng tối. Thứ ánh sáng duy nhất toả ra từ chiếc đèn cổ đế xà cừ đặt trên bàn cạnh giường mẹ, đổ bóng lờ mờ trên những bức tường phòng ngủ. Và nó cũng rải một quầng sáng dịu lên mẹ, nên tôi có thể nhìn thấy mẹ mặc dù mọi thứ trong phòng đều rất lờ mờ. Mẹ ngồi bên cửa sổ có những cái rèm dài bất động. Không một ngọn gió để lay động sự tĩnh lặng của chúng. Trong chiếc ghế bành ưa thích, mẹ đu đưa qua lại, tạo nên những tiếng kẽo kẹt lạc lõng trong sự im lặng của căn phòng.
Ðã hơn ba năm rồi tôi không nhìn thấy mẹ, từ khi chôn cất cha. Hồi đó, trong tang lễ, mẹ đứng thẳng như một cây cột, kiên quyết không để lộ một chút dấu hiệu nào của sự sầu bi. Chỉ trong một thời gian quá ngắn ngủi mà mẹ đã thay đổi quá nhiều. Giờ đây cả mái tóc mẹ đã muối tiêu
không, tất cả đã bạc trắng. Mẹ đã già hơn là tôi hằng nghĩ.
Chậm rãi tôi bước về phía mẹ, mong là đôi giầy của mình không phát ra những âm thanh chói tai.
- Mẹ, mẹ ơi… con đã về nhà rồi đây.
Mẹ từ từ quay lại, ánh sáng trên mái tóc mẹ tạo thành một vầng hào quang quanh đầu bà, làm nổi bật nhiều, rất nhiều những nếp nhăn trên gương mặt bà. Cứ mỗi nếp nhăn trên mặt chúng ta, là hậu quả của một lo phiền.
- A, Caridad, lại đây con.
- Mẹ… tôi gọi thêm một lần trong khi cúi xuống hôn vào đôi má nhăn nheo của mẹ. Làn da lạnh và nhẽo.
Mẹ nhấc tay lên và đặt một ngón lên môi tôi rồi nói:
- Không, Caridad, ta không phải là mẹ của con.
Thuỳ Chi
★
★
★
★
★
0