📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chùm truyện ngắn của Ngô Tự Lập 🔒

14 trả lời, 1.063 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-04 11:30:35tieuphuong_loihai>
Ngôi sao trên đỉnh dốc Mù Chang


Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại




(Tặng anh Huỳnh )

Cả làng Hoạch không một ai biết rằng đêm ấy thằng Hùng, con trai bà Hai Vách đã trở về.

Lúc ấy gà vừa gáy canh tư.

Bà Hai Vách nhận ra tiếng bước chân thằng Hùng khi nó vừa tới chân đồi. Những bước chân bây giờ mạnh mẽ khiến đất đồi rung lên từng đợt nhưng vẫn láu ta láu táu như xưa, hệt như lúc nó mới tập đi chập chững trong tay bà.

Bà nhào dậy, vặn to ngọn đèn dầu hoả rồi lập cập ra mở cửa.

Đã bao đêm bà chờ đợi giây phút này, mặc dù bốn năm trước bà nhận giấy báo tử của nó. Bấy giờ cả xóm kéo sang chia buồn, an ủi. Với bản tính nhút nhát, bà không nói gì, chỉ cảm ơn mọi người, nhưng sau đó dứt khoát không nhận tiền tử tuất. Làm sao thằng Hùng của bà đã chết được cơ chứ. Nó còn trẻ lắm, khoẻ lắm, ai cũng khen là hiếu thảo. Nó sẽ trở về cho mà xem. Bà biết nó nhất định sẽ trở về.

Nó sẽ trở về để sớm bật dậy, vươn vai như một con gà trống choai chưa đủ lông cánh, xách hai thùng nước chạy một mạch từ dưới chân đồi lên. Nó cày giỏi, gặt giỏi, đường cày thẳng băng mà ngọt. Buổi chiều nó vác búa đi đánh gốc bạch đàn làm củi và không bao giờ quên kiếm đoạn rễ chay cho mẹ nhai trầu.

Chẳng hiểu sao bà lại tin rằng thằng Hùng sẽ trở về vào ban đêm. Vì thế ban đêm bà rất ít ngủ. Bà thắp ngọn đèn dầu, để sẵn trên bàn thờ, dưới tấm ảnh chồng. ở đấy bao giờ cũng có một cặp bánh chưng. Thằng Hùng thích ăn đồ nếp. Hồi còn ở nhà có lần ngày Tết nó chén hết bay một chiếc bánh đại. Cái miệng nó nhai nhoay nhoáy, trông mà phát thèm. Bà còn dành sẵn vại gạo nếp trong nhà. Lo là lo thằng bé về bất thần, chứ còn bà thì cần gì, vài lát sắn mèo trừ bữa cũng xong. Dầu, gạo nếp và đỗ xanh ngốn hết phần lớn số tiền bán hoa quả trong vườn.

Bốn năm nay, bà Hai Vách không nhớ đã bao lần gói bánh chưng để thay cho cặp bánh cũ đã mốc meo trên bàn thờ.

Bốn năm nay ngọn đèn dầu chong chong thức đợi.

Nhà bà Hai Vách nằm trên đỉnh dốc Mù Chang. Dân trong vùng đã quen đêm đêm từ dưới chân dốc nhìn lên thấy ngôi sao nhỏ nhấp nháy cô đơn nhưng ấm áp. Người ta xót xa mà nói: “Tội nghiệp bà già. Anh ấy làm sao còn trở về được nữa!”.

- Anh ấy làm sao còn trở về được nữa! - Chiều tối hôm đó dân làng lại nói với nhau như thế. Họ không thể ngờ được rằng niềm tin của bà mẹ già đã đúng.

Hùng hiện ra trước cửa. Thằng Hùng đây, thằng tí nhau của bà đây. Nó mặc bộ quân phục màu cỏ úa, ba lô trên vai, chiếc mũ có ngôi sao lấp lánh, cao quá, chững chạc quá, đúng như bà tưởng tượng.

Hai mẹ con ôm lấy nhau mà khóc thoả thê.

“Nó đã đói ngấu rồi còn gì!”. Bà Hai Vách bóc bánh rồi ngồi ngắm con ăn. Tổ cha nó, cái miệng nhoay nhoáy, trông mà phát thèm!

Lúc bấy giờ trời đã gần sáng, dân làng Hoạch đang ngon giấc. Đêm hôm đó cũng như mãi mãi sau này không ai biết rằng thằng Hùng đã trở về.

Hai mẹ con bà Hai Vách không bao giờ còn xa nhau nữa, ngôi sao nhỏ cũng thôi nhấp nháy đêm đêm trên đỉnh dốc Mù Chang.

Hôm sau dân làng đưa bà đi bằng một chiếc xe tang.

Lễ mai táng vừa xong thì trời đổ mưa. Dân làng ngạc nhiên: điều đó chứng tỏ họ vừa tiễn biệt một con người hạnh phúc.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-04 11:41:00tieuphuong_loihai>
Hoá thân

Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại



Tặng thầy Phạm Hoà
Nhớ Aderbaidjan - tuổi trẻ của tôi
(NTL)




Tôi ngờ câu chuyện sau đây chỉ là huyền thoại, nhưng nghĩ rằng trong đó có những điều người xưa muốn gửi gắm tới chúng ta, thấy nên kể lại đầu đuôi cho các bạn cùng nghe.

Hôm đó giấc mơ của mẹ con bà San đã trở thành hiện thực. Họ chia tay với chiếc buồng tắm cũ nhà Chánh Tảo, chuyển số đồ đạc ít ỏi và xoàng xĩnh của mình về túp lều vừa mới được dựng lên trên sông bằng những đồng tiền mồ hôi nước mắt, dành dụm gần hai chục năm trời - Bà giặt thuê, còn Cảo, anh con trai lực lưỡng, làm thợ bạn lò rèn từ năm mười sáu tuổi. Bà San giết gà cúng thổ công và làm cơm mừng nhà mới. Bữa cơm ấm cúng và ngon lành có cả hành cuốn tôm và đậu phụ nhồi. Khách có ba người - dì Bao nấu bếp nhà Chánh Tảo và hai anh thợ rèn - đều chất phác, xởi lởi, tốt bụng, hết lòng vui mừng cho chủ nhà nhưng không thể ngồi lâu. Sau mấy chầu nước chè họ xin phép ra về, giữ sức cho ngày làm lụng cực nhọc hôm sau.
Anh thợ rèn dễ ngủ, lại có chút men, vừa đặt lưng đã ngáy pho pho như kéo gỗ. Bà San dọn dẹp xong cũng đi nằm nhưng không sao ngủ được, phần vì cùng với niềm vui hạnh phúc, dòng hồi ức đắng cay - bấy nay bị chìm đi trong cuộc sống lam lũ, thấp thỏm lo âu - dồn đến cuồn cuộn trong lòng, phần vì nghe gió bên ngoài nổi lên khác lạ, rồi mưa xối ầm ầm như tháo cống.

Gần sáng, đột nhiên gió ngừng. Bà San bừng tỉnh, thấy đầu óc tỉnh táo lạ thường, chợt hiểu rằng mình đã đến đoạn chót cuộc hành hương khổ ải trên trần thế, bèn gọi Cảo, quyết định nói cho con trai điều bấy nay vẫn canh cánh không yên.

Anh thợ rèn cúi khuôn mặt gồ ghề, đen sạm hơi than xuống giường. Giọng bà San yếu ớt, ăn năn, dường như sám hối. Lần đầu tiên trong đời Cảo biết mình có một người em sinh đôi. Hơn hai chục năm về trước người đàn bà trẻ bị ruồng rẫy, không chốn nương thân, đã phải rứt ruột bán một trong hai đứa con còn đỏ hỏn cho khách qua đường ở Sơn Hạ lấy ba đồng bạc. Với ba đồng bạc ấy bà đã duy trì sự sống của mình và đứa con còn lại bằng những bát cháo bột ngô loãng, còn đến ngày thứ chín, ngày đặt tên cho trẻ theo phong tục, mua một con gà trống nhỏ, cắt tiết, rỏ chín giọt xuống cái đĩa đựng chín hạt thóc rang để trời chứng kiến. Từ lúc đó có một người tên là Cảo tồn tại trên đời.

- Người ta đem nó đi vào ngày thứ bảy - Giọng bà San run rẩy, thì thầm như cầu nguyện - Ai sẽ làm lễ đặt tên cho nó? Ai sẽ vỗ về cho nó ngủ? Người ta có đánh đập nó không? - Bà ngước cặp mắt mờ đục, đẫm lệ nhìn Cảo - Con ơi, con dù sao cũng có một mái nhà... Còn em con, giờ không biết sống chết nơi nào. Con hãy cố làm lụng, dành dụm rồi đi tìm nó về, anh em đùm bọc nuôi nhau thì dưới suối vàng mẹ cũng được mát lòng mát dạ.

Những lời cuối cùng của mẹ khắc sâu vào tâm khảm anh thợ rèn. Sau khi chôn cất mẹ trong nghĩa địa làng, giữa những nấm mồ cô quạnh và rầu rĩ khác, Cảo lao vào làm lụng quần quật như một con ngựa thồ. Anh hàng ngày dậy từ khi bóng tối còn dày đặc trên những bụi đơn lúp xúp dọc triền sông, chèo thuyền chở hàng giao cho dân buôn đồ sắt ngoài chợ huyện, trở về còn kịp đến lò rèn. Suốt ngày quai búa, tối đến Cảo đi thả lờ, kéo lưới, đôi khi kiêm cả chèo đò ngang cho khách lỡ độ đường. Làm thì như thế nhưng ăn uống thì rặt một món cháo bột ngô. Cảo không uống rượu, luôn tránh xa đàn bà và những hội cờ bạc, vốn có sức quyến rũ không thể cưỡng lại được đối với đàn ông ở những vùng hẻo lánh như thế này.

Năm ba mươi sáu tuổi, khi đã tích cóp được một khoản tiền kha khá, Cảo gọi một anh bạn thợ rèn đến nhà, đưa cho mấy đồng bạc, nhờ trông hộ túp lều rồi xuống thuyền chèo đi. Đến bến Gát, Cảo bán chiếc thuyền, đi bộ về Sơn Thượng, từ đó đến Sơn Hạ chỉ còn nửa ngày đường.
Sơn Hạ là vùng bán sơn địa, thiên nhiên giàu có và phóng túng. Vài đỉnh núi thấp nhô lên giữa những đồi gò trùng điệp, những thung lũng xanh tươi trù phú. Mặc dù bị thôi thúc bởi mục đích của mình, thỉnh thoảng Cảo vẫn phải đứng sững lại, thích thú nhìn đàn bò đuổi nhau chạy lô xô vàng cả sườn đồi. Dân cư ở đây hào phóng và hiếu khách, mời anh uống sữa tươi, ăn bánh ngô nhân đậu ngựa, cho anh ngủ nhờ trong những đống cỏ khô ấm cúng, nhưng không ai hay biết gì về người em trai xấu số của anh.

Sau đó Cảo tới miền Đông, nơi các bộ lạc xưa kia còn để lại vô số miếu thờ hình lục lăng xây bằng đá xám, bây giờ biến thành quán rượu của dân đào quặng từ dưới xuôi lên. Những người thợ mỏ đen như nặn bằng than, ngồi quây vòng trước quán, trên cán cuốc chim, chia cho anh rượu ngô và cá mòi muối, nhưng khi nghe anh hỏi đều nhất loạt lắc đầu. Một hôm Cảo đang lê bước một cách khó nhọc trên con đường lầy lội ở Két thì nghe tiếng xe ngựa dừng lại ở ngay bên cạnh, rồi một ông già bé nhỏ, râu tóc bạc phơ nhảy xuống, xô lại ôm chầm lấy anh.
- ối trời ơi, ông lớn đó ư? Ông lớn còn sống ư? - Ông già kêu lên mừng rỡ và hôn tới tấp vào đôi tay đen đúa của Cảo - Tay ông lớn đã trở nên chai sạn thế này sao? Ông lớn hẳn đã phải chịu nhiều khổ ải. Nhưng ông lớn trở về được là may mắn lắm rồi. Bấy lâu nay ông lớn sống ở đâu?

Ông già vừa nói vừa khóc nấc lên như trẻ nhỏ, nước mắt nước mũi đầm đìa trên hai gò má nhăn nheo, vàng như nặn bằng sáp. Không đợi Cảo trả lời, ông túm lấy tay anh mà lôi lên chiếc xe ngựa chở đầy vải vóc, thực phẩm khô và đủ thứ đồ dùng lặt vặt khác, quất roi vun vút như động rồ. Con ngựa bực tức giật mạnh. Chiếc xe chồm chồm lăn bánh trên đường lát đá.
“Ông già nhầm mình với ai đó” - Cảo bối rối nghĩ thầm. Trong lúc đó ông già, phần do quá xúc động, phần do bản tính, liến thoắng kể lể về những điều xảy ra trong gia đình Banca nào đó. Dần dần Cảo lờ mờ hiểu rằng đó chính là người đầy tớ của em trai mình. Cậu em may mắn trở thành con nuôi một điền chủ giàu có tên là Banca, được đặt tên là Sanca và khi bố mẹ nuôi chết đi, thừa hưởng khoản gia tài kếch xù (về sau Cảo biết gồm khu đồng cỏ rộng hai trăm mẫu, đàn bò gần ba trăm con, một khu rừng lớn, khu nhà ở xây dựng kiên cố, hết sức cầu kỳ và vô số của cải, vàng bạc). Sanca đã có vợ và hai con nhưng vẫn ham mê du ngoạn và thích phiêu lưu. Bảy năm trước anh ta mua một chiếc thuyền buồm ở Két, đem theo đầy tớ và con chó nhỏ, cùng mấy người thủy thủ ra khơi rồi biệt tích luôn. Gia đình vợ con hết sức lo buồn, mấy năm liền cho người đi tìm kiếm chẳng thấy tăm hơi, đã hết hy vọng, đều nghĩ rằng Sanca đã chết.
- Ai nấy sẽ mừng đến phát điên lên cho mà xem! Ông lớn đã trở về, thật may mắn quá! Suốt bảy năm qua ông lớn ở đâu?

Câu hỏi của ông già khiến một ý nghĩ nảy ra trong óc Cảo. Anh trả lời rằng mình bị đắm thuyền, dạt lên một hòn đảo, ngất đi vì va đầu vào đá, sau đó được dân chài cứu chữa rồi sống ở đó bằng nghề thợ rèn.
- Đảo xa xôi, tiền bạc không có, ngày đêm khắc khoải nhớ nhà mà không sao về được. May mà cách đây hai tháng có một chiếc tàu tình cờ ghé vào đảo mua nước ngọt đồng ý chở tôi vào đất liền.

Người đầy tớ già lắng nghe câu chuyện bịa đặt của Cảo với vẻ xúc động sâu sắc và chân thành, đến nỗi chính anh cũng phải mủi lòng.

Chiếc xe dừng lại giữa sân, trước một ngôi nhà lớn với những cửa sổ hình bầu dục, xung quanh có lan can gỗ sơn màu gạch non, mái lợp gỗ phiến. Ông già tụt xuống nền đá ong, tất tả chạy dọc hàng thìu lựu lúc lỉu những quả, gọi toáng lên đến lạc giọng. Mọi người đổ ra, sững sờ, không ai dám tin vào mắt mình. Người phụ nữ trẻ đánh rơi hộp đồ thêu xuống thềm, luýnh quýnh chạy tới, lao vào vòng tay anh, khóc tức tưởi trong niềm vui sướng bất ngờ không sao kìm giữ được. Theo sau mẹ, hai đứa trẻ, một trai một gái, mặc những bộ quần áo bằng vải thổ cẩm sặc sỡ, vừa hét “Ba ơi”, vừa lăn xả vào chân Cảo.

Trên đường đi Cảo tự nhận là Sanca chỉ với ý định tìm hiểu đầu đuôi câu chuyện, nhưng bây giờ anh cảm thấy mình đã hóa thành Sanca thực sự. Họ ôm nhau mà khóc thỏa thuê giữa vòng vây của những người đầy tớ cũng đang đầm đìa nước mắt.

Niềm vui đối với gia đình Banca không có bờ bến. Người ta đốt những bánh pháo dài từ ngọn thông xuống đất. Suốt ba ngày liền khói từ lò quay thịt bốc lên như cháy nhà. Mùi mỡ thơm lừng khiến lũ chó cuống cuồng chạy sục khắp mọi chỗ, đuôi rối rít và mắt long lanh sáng. Rượu ngô nếp đổ đầy những thùng gỗ lớn. Lễ tạ ơn tổ chức trên một bãi cỏ rộng. Những ông bà già mặc áo lễ bằng vải thổ cẩm, đeo vòng bạc, vừa đồng thanh hát bài “Chín khúc lòng thành” ngợi ca trời đất, vừa nối nhau đi vòng quanh và rót rượu vào đống lửa đốt bằng nhựa cây.

Trong bữa tiệc, có đôi lúc, khi nâng ly rượu lên môi, Cảo bỗng khựng lại, thoáng ăn năn. Nhưng anh hiểu rằng mình đã đi quá xa rồi, sau đó gạt mọi băn khoăn với ý nghĩ rằng không nên làm tiêu tan niềm hạnh phúc của người đàn bà và hai đứa trẻ tội nghiệp. Hơn nữa, đằng nào thằng em trai cũng đã chết rồi. (Ngoài ra cũng phải nói rằng rượu đã đóng góp vai trò của nó).

Ngày tháng trôi qua đối với Cảo như một giấc mơ tuyệt đẹp và kỳ lạ. Anh thợ rèn lao vào tận hưởng khám phá sự nhàn rỗi, no đủ, quyền uy cùng với sắc đẹp của người đàn bà kiều diễm mới hai mươi tám tuổi. Quả thực, sự lúng túng trong mọi việc cũng như tính tình và lời ăn tiếng nói thô lỗ của Cảo khiến gia nhân bỡ ngỡ. Vợ Sanca ngạc nhiên thấy chồng đã quên nhiều kỷ niệm trong những năm chung sống. Nhưng tất cả điều đó đều dễ dàng giải thích: Việc ông lớn bị đắm tàu và va đầu vào đá trước kia vẫn còn để lại di chứng, hơn nữa bảy năm làm thợ rèn trên đảo là một thời gian không nhỏ khiến người ta có thể quên mất nhiều thói quen.

Tuy nhiên sự bỡ ngỡ ấy bị niềm vui đoàn tụ át đi, rồi sau đó, cũng giống như mọi thứ trên đời, dần biến mất cùng với thời gian. Bản thân Cảo cũng nhanh chóng thay đổi, đường bệ hơn, giọng nói nghe đã bớt cục cằn. Trong mắt gia nhân ông chủ lại tỏ ra tốt bụng, đáng kính và tháo vát, có phần còn hơn cả ngày xưa - có lẽ nhờ ảnh hưởng của tuổi tác và những năm tháng bôn ba ở xứ người. Ông chủ đã từ bỏ thói quen du ngoạn, chăm chú vào công việc làm ăn. Chẳng bao lâu khu đồng cỏ của gia đình đã mở rộng ra tới bốn trăm mẫu, đàn bò đông gấp rưỡi. Cộng với những khoản thu khác, lợi tức hàng năm tăng gấp hai lần.

Nhưng với riêng Cảo thì công việc làm ăn phát đạt chẳng hề đem lại mảy may sung sướng. Cuộc sống mới bắt đầu có sức quyến rũ ghê gớm vì lạ lẫm, dần dần trở nên nặng nề. “Tất cả rồi sẽ quen đi!” - Anh thợ rèn thầm nhủ, nhưng vẫn bứt rứt không yên. Một nỗi buồn xen lẫn khao khát mỗi ngày một lớn lên trong tim không sao lí giải được.

Một hôm, Cảo đang rầu rĩ thơ thẩn dọc hàng thìu lựu trước nhà thì trông thấy mấy anh chăn ngựa từ nhà kho bước ra, tay xách những chiếc búa lớn, chắc định sửa lại ngôi chuồng. Cảo không còn kìm được mình nữa. Mắt sáng lên như gã nghiện trông thấy bàn đèn anh nhảy bổ tới, giằng lấy một chiếc búa, hùng hục quai vào chiếc cối đá khiến nó vỡ tan trước vẻ kinh hãi của mấy anh chăn ngựa. Nhưng chỉ được vài chục nhát Cảo đã rã rời chân tay, mồ hôi toát ra như tắm. Anh ném chiếc búa xuống đất, quay vào nhà.

Cơn đói cồn cào làm Cảo hoa cả mắt. Anh thét đầy tớ dọn bàn, chửi rủa ầm ĩ đến nỗi họ vội vã cuống cả chân tay. Món đầu tiên vừa dọn ra Cảo vồ ngay lấy. Anh nhai ngốn ngấu, vét sạch những bát thịt lớn, dùng cả hai tay mà bốc, mấy lần đầy tờ phải dọn thêm thức ăn. Nhưng thật kì lạ, Cảo càng ăn cơn đói càng dữ dội. Ruột gan anh như bị ai cào cấu.

Tình trạng này kéo dài đến mấy tuần liền, rồi đột nhiên Cảo hiểu rằng mình không còn tồn tại. Khi Cảo ăn, hoá ra đó là Sanca ăn. Khi anh nói thì đó là Sanca nói. Đêm nằm ôm ấp người đàn bà, Cảo sôi sục ghen tuông với Sanca. Rất nhiều lần, khi những người giàu có trong vùng mời Sanca đến dự tiệc, khi đám đầy tớ kính cẩn chào Sanca, Cảo cố tự nhủ rằng đó là họ chào anh, rằng Sanca chính là anh - Cảo hoàn toàn có thể đổi tên thành Sanca lắm chứ! Dù vậy, nỗi buồn bực, bứt rứt cứ bám riết lấy anh. Cảo không ăn nữa, gầy rộc đi, tính khí trở nên nóng nảy dễ sợ.
- Bệnh cũ của ông lớn lại tái phát! - Gia nhân thì thào với nhau như vậy.
Không khí lo âu nặng trĩu đè nặng lên gia đình. Những thầy lang nổi tiếng trong vùng được mời đến, nói rằng ông lớn phải tạm lánh đàn bà, chỉ dẫn dọn phòng riêng cho người bệnh, cắt cử đầy tớ chăm nom cẩn thận, kể đủ loại đơn thuốc, nhưng vẫn không xoay chuyển được tình thế. Thầy cúng khuyên làm lễ trừ tà. Đêm đêm lửa nhựa cây bốc cao, bập bùng cháy quanh những cọc sắt lớn đỏ rực, trên đó những con bò tơ bị đốt thành than. Tiếng đọc thần chú ngân nga trong bóng đêm huyền ảo, nghe thảm thiết và rùng rợn.

Cảo trông thấy ngọn lửa và tiếng đọc thần chú vào nửa đêm, bèn vùng vậy, sai đầy tớ lấy một bộ quần áo vải thô, thay vào, bỗng nhiên sùi bọt mép, vật vã trong cơn co giật. Thầy lang cấm đám đầy tớ không được làm kinh động, ngồi trong phòng với bệnh nhân suốt đêm nhưng cũng bó tay. Sáng ra Cảo cho gọi vợ con Sanca đến, kể lại đầu đuôi sự việc.

Như thế nghĩa là bệnh trạng của ông lớn đã trầm trọng lắm rồi. Tiếng khóc như ri. Gia cảnh thật bi thương, chẳng khác gì đám tang. Người ta càng cuống cuồng đi tìm thầy thuốc, vào tận núi Mai Lĩnh mời những ông lang thổ dân, chữa bệnh bằng thuốc gia truyền. Đêm đêm, càng nhiều súc vật chết thiêu trên cọc sắt. Nhưng tất cả đều vô ích. Còn bệnh nhân, với đôi tay thợ rèn lực lưỡng, gạt phăng thầy lang, ném những bát thuốc chưng sắc công phu qua cửa sổ.
- Tôi không ốm đau gì hết! - Cảo hét lên tuyệt vọng, mắt đỏ ngầu giận dữ, gặp vật gì cũng vớ lấy mà quai như quai búa. Anh đập đầu vào đá, ra sức thề thốt rằng tất cả những điều mình kể đều là sự thật, anh là anh trai sinh đôi của Sanca, rằng tất cả chỉ là nhầm lẫn. Những hành động ấy càng chứng tỏ ảnh hưởng trầm trọng của tai nạn năm xưa.

Cảo gần như phát điên, nhất là sau mấy lần trốn đi không thành và bị giữ chặt trong một căn phòng lớn có gia nhân canh gác cẩn thận. Nhưng ở đời ai mà tránh khỏi có lúc sơ hở. Một buổi sáng gia nhân vào phòng thì thấy ông lớn đã biến mất, không đem theo gì ngoài bộ quần áo vải thô nhuộm chàm của anh chăn ngựa.

° ° °

Kết cục đời Cảo chỉ có anh thợ rèn được thuê trông nhà biết. Cảo trở về túp lều cũ, tiều tuỵ như một cái thây ma. Anh ta kêu lên rằng chỉ thèm quai búa một bữa cho thoả thích, nhưng nhịn đói đã mấy năm trời, nấu một nồi cháo bột ngô lớn, húp xì xụp và chết vì bội thực, không kịp đến lò rèn.

Bắc Ninh 25/10/1990
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Tội lỗi đầu tiên của Thánh Mah Gahn


Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại



Tôi viết những dòng này trong lúc đầu óc hoàn toàn minh mẫn, không phải vì khiêm tốn hay muốn giáo huấn điều gì, mà chỉ như một lời tâm sự. Trong mấy thập kỷ qua nhân dân yêu mến và tin cậy, có lúc đến mức sùng bái, tôi lấy làm xúc động nhưng tự thấy mình còn chưa xứng đáng. Tôi cũng hiểu rằng những tình cảm ấy không phải đơn thuần dành cho cá nhân tôi, mà là dành cho một biểu tượng của dân tộc. Nhân dân cần có một biểu tượng cho sự nghiệp vĩ đại của mình, và nếu không có tôi, chắc chắn một người khác sẽ trở thành biểu tượng. Vì thế, Thánh Mah Gahn và tôi thật ra chỉ đơn thuần là một sự trùng hợp về danh xưng, hoặc một sự lựa chọn của lịch sử mà thôi.
Niềm tự hào của tôi là được gắn cuộc đời mình với sự nghiệp chung của nhân dân. Tôi cũng là một con người, có lúc hay lúc dở, có lúc đúng đắn có lúc sai lầm, nay điểm lại thấy mình đã làm tất cả những gì có thể làm được. Về điểm này tôi không có gì ân hận.
Tuy nhiên, phải nói thật rằng buổi đầu không phải tôi đã ý thức được ngay những việc cần làm. Tôi rời nhà ra đi vì một lý do khác, một lý do có thể nói là khá tầm thường nhưng đối với tôi thì vô cùng đau xót. Trong suốt cuộc đời mình tôi thầm nhủ đó là một tội lỗi. Nhưng cũng chính nó đã khiến tôi thức tỉnh về mục đích của cuộc đời mình.
Những cuốn sách viết về tôi thường ít nhiều có tô vẽ thêm nhưng các sự kiện và ngày tháng thì cơ bản là chính xác. Tôi là con thứ hai trong một gia đình có bốn con. Cha mẹ tôi làm nghề buôn bán nhỏ, tuy có khả năng cho các con ăn học nhưng không lúc nào chắc chắn. Bốn chị em tôi mỗi khi đi học về đều phải giúp mẹ làm thảm bẹ ngô. Bẹ ngô sau khi thước nhỏ, phun nước sấy diêm sinh cho mềm và trắng, được chúng tôi bện thành những sợi dài, bó thành từng bó một trăm mét. Hàng tháng lái buôn đến chở đến xưởng làm thảm, nghe nói rồi chở đi đến tận nước Anh. Tay chân chúng tôi lúc nào cũng trắng bợt, phải quấn rẻ cho đỡ đau. Chị gái tôi bỏ học sớm, theo nghề mẹ nhưng không căn cơ nên cũng luôn nghèo túng, hai em trai đi lính chết trong chiến tranh. Trong gia đình tôi là đứa trẻ hiền lành, chăm chỉ và được coi là hiếu thảo nhất. Vì luôn luôn là học sinh giỏi nhất trường tiểu học thị trấn, tôi trở thành niềm tự hào và hy vọng của cha tôi. Tôi còn nhớ, cứ chiều thứ bảy, trong lúc chị và hai em đang bện thảm, ông lại gọi tôi vào phòng làm việc, lấy xuống quyển "Tứ Kinh" bìa bọc vải đã sờn.
- Ngày trước, cứ chiều thứ bảy, ông lại giảng "Thập Kinh" cho bố" - Ông nói, giống như một thói quen hơn là nói với tôi.
Năm mười hai tuổi, tôi được gửi ra học ngoài thị xã.
Những gì xảy đến với tôi sau đó khó ai có thể nào lường trước được. Năm mười bốn tuổi, đang học tôi được bố đột ngột gọi về. Hoá ra ông gọi về lấy vợ. Thời bấy giờ, người ta cưới vợ gả chồng cho con từ rất sớm, có khi từ lúc mới lên năm sáu tuổi. Tôi không hề có khái niệm gì về cuộc sống gia đình, cũng chưa hề có hiểu biết gì về quan hệ nam nữ, những mẹ tôi dỗ dành, nếu đồng ý bà sẽ mua cho đôi giày nhung đỏ. Tôi đồng ý chỉ vì muốn có đôi giày.
Nhưng ngay sau đêm tân hôn, tôi bỗng hiểu rằng mình là người may mắn. Đêm đó tôi hiểu ra sự quyến rũ lớn nhất và vẻ đẹp kỳ diệu nhất mà tạo hoá ban tặng con người. Vợ tôi kém tôi một tuổi. Da nàng trắng như một thứ men sứ tinh xảo nhất, đôi vú với hai núm nhỏ lấp ló dưới mái tóc mềm chảy xuống ngực. Giữa cặp đùi dài, mịn màng nhưng săn chắc, âm hộ nàng lồ lộ dưới đám lông mịn, xanh nõn như rêu. Nó làm trí não tôi rối bời, nó trói chặt tôi vào căn phòng nơi từng góc giường mảnh chăn đều hoá thành những đam mê huyền diệu.
Một đêm khuya, khi nàng đã ngủ, tôi rón rén ngồi dậy, khe khẽ vén tấm chăn mỏng và bỗng thấy âm hộ nàng giống như một con mắt lớn với đôi mi dày dịu dàng đang thiếp ngủ. Khi tôi khẽ nâng hai chân nàng lên, một khoảng tối sâu thẳm mộng mị mở ra dưới đám rêu xanh và trên một mi mắt phớt hồng tôi phát hiện một nốt ruồi xinh xắn đen như hạt cải. Ngay lúc đó nàng giật mình tỉnh dậy. Sự thẹn thùng của nàng càng làm cho tôi ngây ngất. Tôi ôm ghì lấy nàng, gỡ bàn tay nhỏ xinh của nàng, đặt môi mình vào cái hạt cải nhỏ. Những giọt nước mắt nóng bỏng sánh như mật tràn ra. Ôi, con mắt lớn của nàng, ôi đám rêu xanh, tôi khao khát vùi mặt mình vào đó cho đến khi đất trời biến thành cát bụi.
Nửa tháng sau ngày cưới, tôi trở lại trường nhưng đã thay đổi hoàn toàn. Tôi không còn thiết vui đùa với chúng bạn, không còn tâm trí để học hành và cũng chẳng nhớ mình để ở đâu đôi giày đỏ. Trong đầu óc tôi chỉ còn quay cuồng những hình ảnh trong phòng the. Bàn ghế hoá thành giường ngủ, mọi chạc cây đều hoá những cặp đùi run rẩy trong hoan lạc. Nỗi ám ảnh dục tình khiến tôi nhiều lúc phải cấu chặt lấy cạnh bàn mà rên rỉ. Đầu óc tôi khi đó đã bị đầu độc đến nỗi mọi người đàn bà xuất hiện trước mặt tôi đều hoá thành loã lồ. Tôi phải cố gắng lắm mới không lao vào ôm ghì lấy họ mà cắn xé, hôn hít. Đôi lúc tôi thở hồng hộc như một con thú dữ. Cuộc sống của tôi trở thành một cuộc vật lộn tuyệt vọng. Một lần, trong một cơn khát, tôi lấy cớ gì đó, ra khỏi lớp, nhày lên xe trạm về thẳng nhà và lao ngay vào phòng, bế xốc vợ lên giường như bế một đứa trẻ. Chỉ sau khi thoả nguyện, tôi mới nhớ đến chào cha mẹ.
Cha tôi không hề nói một lời, nhưng chuyện ấy làm cho tôi vô cùng xấu hổ và ân hận, tự hứa sẽ không bao giờ lặp lại.
Bước ngoặt trong cuộc đời tôi xảy ra năm tôi mười tám tuổi. Tôi vừa nhận bằng tốt nghiệp trung học thì cha tôi ốm nặng. Tôi về đến nhà thì ông đã được đưa vào nhà thương thị trấn. Cả gia đình ngồi ngoài phòng đợi, trừ vợ tôi lúc đó có thai đã được bảy tháng. Mọi người oà khóc khiến tôi cũng không cầm được nước mắt. Sau khi mặc chiếc áo blu trắng, tôi được dẫn vào một căn phòng hẹp tường đã long lở hết sơn thay cho ông cậu đang ngồi túc trực bệnh giường bệnh.
Nhà thương thửa ấy rất nghèo nàn. Cha tôi nằm bất động, khuôn mặt gầy trắng bợt và cả bộ râu trắng thân thuộc đều gần như lẫn vào tấm chăn vải trắng. "Cha ơi!" - tôi gọi thì thầm. Nước mắt ràn rụa, tôi khẽ nắm lấy tay ông, nhưng một chị hộ lý bước vào, nhắc tôi để yên cho ông nghỉ. "Anh là con trai trưởng phải không. Mấy hôm nay cụ chỉ nhắc tên anh..." Tôi quay phắt và bàng hoàng cả người. Trong thoáng chốc, tôi thấy nàng đang đứng trước mặt, hoàn toàn khỏa thân. Phải một lúc lâu sau tôi mới ra khỏi cơn mộng mị.
Đêm hôm đó gia đình tôi ở lại nhaf thương. Chúng tôi phân công nhau, phụ nữ ở ngoài, còn nam giới mỗi người trực bên cha tôi hai tiếng. Phiên trực của tôi bắt đầu lúc nửa đêm. Đó là một đêm nóng bức khác thường. Không khí ngột ngạt càng trở nên không chịu nổi bởi mùi ete và thuốc sát trùng. Cha tôi vẫn không tỉnh. Bác sĩ nói rằng ông có thể ra đi bất cứ lúc nào. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu đầu giường và cố cầm tờ báo lên đọc. Nhưng giữa những dòng chữ lung linh mờ ảo, tôi không thể nhìn thấy gì hình ảnh nàng trần truồng trên chiếc đi văng tôi vẫn bế nàng lên. Trong thâm tâm tôi vẫn có một mặc cảm khi nghĩ về nàng. Tôi thấy mình có lỗi, bởi thực ra tôi không sao nhớ được khuôn mặt nàng. Rất nhiều lần tôi cố gắng hình dung, nhưng chỉ thấy âm hộ nàng hiện ra giữa cặp đùi dài. Từ dưới cái bụng căng tròn xanh tái của nàng, con mắt lớn ấy, con mắt với đôi mi dày mọng ướt và dịu dàng ấy, với khoảng tối mộng mị mời mọc từ dưới đám rêu xanh khiến tôi lên cơn sốt, thực ra đã nhìn thấu tâm can tôi.
Vừa hết phiên trực, tôi lao ra khỏi phòng. Giữa đêm khuya tôi chạy về nhà, giật tung phòng ngủ và lao vào một trận cuồng hoan. Tôi không thể nhớ được gì trong cái đêm tội lỗi ấy ngoài tiếng rên rỉ của vợ và tiếng đấm cửa vọng đến từ đâu đó xa xăm. Khi tôi mở ra ra thì trời đã gần sáng. Sự im lặng kỳ lạ khiến tôi chột dạ, vội và trở lại nhà thương. Những tiếng khóc xé lòng vang dậy khi tôi chạy vào cổng. Cha tôi đã tắt thở.
Không gì có thể diễn tả được nỗi đau đớn và ân hận của tôi lúc đó. Nhưng nỗi đau của tôi còn nhân lên khi hôm sau vợ tôi bị sảy thai. Những tai biến phẫu thuật khiến nàng không bao giờ còn có con được nữa. Năm sau, rời nhà ra đi, tôi nói với vợ một câu mà lúc đó chính tôi cũng chưa hiểu hết: "Em ạ, còn bao nhiêu là đau khổ trên đời, chúng mình thật là tội lỗi".
Thấm thoắt đã năm chục năm trôi qua, vợ tôi cũng đã mất hơn chục năm rồi. Tất nhiên không thể nói rằng vì nó mà tôi ra đi, nhưng quả thực trong suốt đời tôi đó là một nỗi ám ảnh. Lúc này nói ra được, lòng tôi cũng vợi được phần nào. Tôi vô cùng cám ơn vợ tôi, cả quãng đời còn lại cô ấy là niềm tin lớn nhất của tôi. Lúc này, ở cõi vĩnh hằng, cầu xin vong linh cha tha thứ cho con.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Vĩnh biệt đảo hoang


Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại



Tiếng hú mơ hồ làm nàng choàng dậy. Trong hang nhập nhoạng tối. Trên phiến đá, ngọn đèn mỡ cá đang cháy tí tách và bốc lên mùi khen khét dễ chịu. ánh sáng vàng vọt của nó yếu ớt, chỉ đủ hắt lên những giọt nước bám trên vách hang đen nhẫy, khiến chúng trở nên óng ánh và linh đọng, gợi nhớ đến những giọt mồ hôi lấm tấm trên tảng vai vạm vỡ để trần. Đôi mắt nàng rực sáng như lân tinh và ráo hoảnh. Chúng không bao giờ ngủ, kể cả khi nàng ngủ, bởi vì nàng ngủ mà rất thính - cách ngủ theo bản năng tự vệ của tổ tiên loài người mà nền văn minh đã xoá mất từ lâu.

Nàng dỏng tai nghe và rất đỗi ngạc nhiên nghe tiếng hú của cha mình. Tiếng hú là phương tiện giao tiếp của hai cha con, vì thế nàng hiểu từng sắc thái của nó chẳng khác gì chúng ta hiểu các ngôn từ. Nhưng chưa bao giờ nàng nghe cha hú gọi mình như thế. Trên cái nền là tiếng rì rầm của sóng, tiếng ù ù của gió, tiếng tí tách của ngọn đèn và cả tiếng trái tim nàng đang đập dồn thình thịch, những tiếng hú vang lên gấp gáp, lo âu nhưng lại run rẩy một nỗi vui mừng khôn xiết. Đó không phải là tiếng hú dài, trầm đục, ông vẫn thường ngày gọi nàng đi bắt cá, không phải những âm thanh thong thả như bước chân trên cát giục đi nhặt trứng rùa, cũng không phải những hồi réo rắt gọi đi gùi nước ngọt. Nó làm nàng nhớ lại một lần, lâu lắm rồi, khi nàng còn nhỏ, cha nàng đã hú gọi nàng đi cứu một chú cá voi con mắc cạn. Phải, bây giờ tiếng hú của ông cũng đầy lo âu và run rẩy yêu thương. Hay là lại có một chú cá voi mắc cạn nữa chăng? - Nàng tự hỏi nhưng lại lắc đầu. Không phải, tiếng hú lần này nghe lạ lắm. Nàng nhận thấy qua những âm thanh ấy nỗi xúc động mãnh liệt của cha và linh cảm rằng trong cuộc sống của cha con nàng đang xảy ra một điều gì đó vô cùng lớn lao, vô cùng mới mẻ.

Nàng với trên vách hang một chiếc áo rét tự tạo hình thù kì dị. Đó là một tấm da cá đã được sấy và hun khói, bên trong dùng keo rong biển dán lót một lớp rêu khô, mềm và ấm. Nàng chui đầu qua cái lỗ lớn khoét làm cổ áo, buộc sợi dây da ngang bụng rồi lao rút ra cửa hàng, thân hình trẻ trung uyển chuyển như một con cá nhồng hoa.

Cơn dông tố đêm qua dường như càng làm cho mùa đông thêm khắc nghiệt. Bầu trời cau có càng thấp hơn với những đám mây xám xịt nặng như chì. Mặt biển cũng xám xịt, căng đầy và sôi sục. Những đợt sóng ngầu bọt sầm sập dồn tới, xô vào bãi cát ẩm ướt, đây đó ngổn ngang những vỏ sò và đủ loại rác rưởi đại dương. Nàng thoăn thoắt nhảy qua những tảng đá màu gan cá, hướng về phía tiếng hú, nơi mặt trời đang nhô lên sau lớp mây dày, trông như một quầng sáng nhợt nhạt. Những tia nắng hiếm hoi ửng hồng lên trên khuôn mặt và bờ vai rám nắng lộ ra nơi cổ áo. Gió lạnh hun hút thổi làm làn tóc rối tung bay.

Vượt qua mỏm đá phất phơ dăm ba chòm cỏ dại đã chết khô, nàng đứng sững lại vì kinh ngạc.
Trên bãi cát, triều rút vừa phơi ra một chiếc xuồng hình cá heo, màu đen thẫm (nhưng nàng không biết, bởi chưa nhìn thấy bao giờ). Bên cạnh chiếc xuồng, cha nàng đang quỳ gối, dùng đôi tay to lớn, xương xẩu của mình xoa bóp cho một người lạ mặc chiếc quần đen rách đến gối và chiếc áo vằn cũng rách tả tơi. Người lạ nằm bất động, đôi mắt nhắm nghiền như đã chết, mặt ông ta tóp lại, râu quai nón lởm chởm và da trắng bợt vì ngâm nước lâu ngày.
- ú... u... - Nàng kêu lên, không còn tin ở mắt mình. Lại có thêm một cha nữa sao? Ông ta ở đâu ra vậy?
Cha nàng ngẩng lên và trỏ tay ra biển, phía mặt trời mọc, để trả lời tiếng hú của nàng. Nàng nhìn theo tay ông nhưng chẳng thấy gì, chẳng hiểu gì. Bấy lâu nay thế giới của nàng chỉ là một hòn đảo nhỏ chơi vơi giữa bốn bề sóng gió. Đảo trần trụi, chỉ có rêu với vài loại cỏ dại nảy mầm, xanh tốt và đơm hoa trong mấy tháng mùa xuân. Nàng không hề biết (và cũng chẳng cần gì phải biết) rằng có những nơi khác đẹp hơn với trăm ngàn cây cỏ tốt tươi. Xung quanh nàng là đại dương vô tận và đối với nàng cũng là một sinh vật biết thở hít, biết yêu thương và căm giận. Đại dương tính tình hay thay đổi, lúc dữ dội, khi hiền từ, nhưng giầu có và hào phóng, ban cho nàng thức ăn, ru cho nàng ngủ, tắm hồng thân thể, tắm hồng cả cuộc đời nàng. Bạn bè của nàng là những đàn cá tung tăng vô tư lự, những con rùa cần mẫn, những đàn chim nhiều không kể xiết từ chân trời xa bay về cùng với mùa xuân, đậu đầy trên các mỏm đá, cất tiếng kêu vang động và khoan khoái giũ những đôi cánh mỏng manh đã rã rời sau chặng đường xa... Loài người đối với nàng chỉ gồm có nàng và cha nàng. Thực ra, ngay cả khái niệm “cha” ở nàng cũng không giống cách hiểu của chúng ta. Khái niệm ấy tự hình thành trong trí óc nàng từ lúc nào chính nàng cũng không hề biết.

Khi lần đầu tiên mở mắt và cảm nhận cái chói lọi của thế giới, nàng đã thấy mình trong một đôi tay thô ráp. Đôi bàn tay ấy đã bón cho nàng ăn, vuốt ve và đùa rỡn để làm nàng cười lên khanh khách rồi ngủ thiếp đi trong những âm thanh ngọng nghịu. Thứ ngôn ngữ méo mó nhưng trìu mến ấy đã tưới mát tuổi thơ nàng chẳng khác gì tiếng mẹ ru ngọt ngào tưới mát tuổi thơ của mỗi chúng ta. Cũng có lúc đôi bàn tay ấy chẳng có gì để bón cho nàng và nàng mút những ngón tay xù xì, đen đúa cho dịu đi cơn đói cồn cào. Đôi lần, trong giấc mơ, có những giọt nước mắt nóng hổi rơi xuống mặt nàng. Nàng tỉnh dậy và nhìn thấy những giọt nước ứa ra từ một đôi mắt buồn nhưng kiêu hãnh. Khi đó, cũng như khi chập chững những bước đầu tiên nhờ sự nâng đỡ của đôi bàn tay ấy, và cả sau này nữa, khi đã lớn, lon ton theo ông đi nhặt trứng rùa, bắt cá, gùi nước ngọt bằng bao da cá hay cắt cỏ làm chất đốt dự trữ cho mùa đông rét mướt, chưa bao giờ nàng gọi ông bằng một từ nào cụ thể. Đối với nàng, ông là một sinh vật gần gũi, khoẻ mạnh, và tài giỏi. Nàng đã quen được ông yêu thương, dạy bảo và che chở. Nàng gắn bó với ông bằng một tình cảm đặc biệt, còn hơn cả máu thịt, dường như ông chính là một phần của cuộc đời nàng.

Chưa bao giờ nàng tự hỏi về mình, chưa bao giờ nàng biết rằng mình có mẹ. Cha nàng không hề nói cho nàng - ông không nói được. Một vết sẹo khủng khiếp cắt ngang lưỡi ông đã tước mất của ông (và của nàng) cái khả năng kì diệu ấy, nó cũng khép luôn bức màn bí mật về cuộc đời ông.

Ông là ai? Một tên tướng cướp bị cầm tù? Một người anh hùng lâm nạn? Hay một kẻ cuồng tín muốn cứu rỗi linh hồn bằng cách đoạ đầy thân thể? Những ai còn hiểu tục lệ của thổ dân Sơn Hạ có thể đoán ra Nếu trông thấy vết sẹo hình chữ “X” phồng rộp trên vầng trán to bè đầy những vết nhăn của ông.

Thổ dân ở đó đến nay vẫn còn sống trong tình trạng mông muội, họp thành từng bộ lạc dưới quyền cai quản khắc nghiệt của những tù trưởng được coi như thánh sống. Con cái của các tù trưởng cũng được coi như thần thánh. Dĩ nhiên thần thánh chỉ có thể kết duyên với thần thánh mà thôi. Tuy vậy thỉnh thoảng cũng xảy ra những hành vi phạm thượng: có những con quỷ nhập vào bọn thợ săn, thợ rèn hay đám dân đánh cá. Chúng dùng bùa ma mê hoặc các vị thánh con, khiến họ say mê chúng, thậm chí có con với chúng. Trong những trường hợp ấy người ta lùng bắt kẻ bị quỷ ám, tức là cái lốt của con quỷ, dùng con dấu bằng sắt nung đóng lên trán một chữ “X” - chữ viết tắt một từ thổ ngữ, nghĩa là con quỷ - sau đó cắt lưỡi rồi đày ra đảo hoang cùng đứa con tội lỗi và một ít đồ dùng. Những ông già thổ dân vuốt bộ râu trắng như cước, giải thích bằng những từ ấy đã từ lâu chẳng còn ai dùng, rằng cách ấy tốt hơn là đem hành hình, vì nó sẽ làm gương cho những con quỷ khác. Các hòn đảo được chọn với mục đích ấy không được có cây cối - để quỷ không thể đóng thuyền vượt biển. Tuy nhiên việc đề phòng như vậy là thừa. Những kẻ bị quỷ ám đều tự nguyện ở lại nơi đày ải suốt đời, một phần vị họ ý thức được tội lỗi của mình, phần khác họ chẳng biết đi đâu - khắp nơi quỷ đều bị người ta xua đuổi.

Nếu sự phỏng đoán ấy mà đúng thì cha con nàng chính là hai con quỷ. Có điều nàng không hề hay biết, không nghi ngờ về chuyện đó, vẫn sống hồn nhiên, hoà sự sống của mình vào sự sống của hòn đảo. Bằng một sợi dây vô hình nhưng bền chặt, nàng gắn bó với thế giới xung quanh và mơ hồ cảm thấy sức mạnh kì diệu của nó, quy luật vĩnh hằng của nó tàng ẩn đâu đó sâu xa trong chính bản thân nàng.

Sức mạnh ấy, quy luật ấy là gì, nàng chưa hiểu, chưa nắm bắt được, nhưng càng ngày càng cảm thấy rõ hơn là nó đang cựa quậy, đang chảy trong huyết quản, đang lớn lên và sinh sôi nảy nở trong tâm hồn nàng. Có lúc nàng dừng lại trên bãi biển, tay vẫn cầm quả trứng rùa, mắt nhìn ra xa, xa mãi, ngược những con sóng bạc đầu đến tận chân trời, nơi trời biển gặp nhau, và tự hỏi: “Có phải ở nơi ấy không”?

Có phải nơi ấy không?

Đôi chân đưa nàng men theo bờ cát. Sóng xô vào rồi lại tản ra. Câu trả lời cũng giống như con sóng, dường như đang chơi một trò chơi ú tim kì lạ trong tâm trí nàng.

Cho đến một hôm, nàng xách ống ra sau hang lấy nước. Tiếng chim hót vui vẻ, lạ lẫm làm nàng ngạc nhiên dừng lại. Ô kìa, mùa xuân đến tự khi nào. Nắng đang rộn ràng trên những ngọn cỏ non xanh mướt, trên những nụ hoa nhỏ xíu rung rinh và trên cả những ngọn sóng trắng muốt như sương sớm. Nước biển trong vắt. Cá từng đôi, từng đôi đùa rỡn, chốc chốc lại tung mình lên khỏi mặt nước, phơi những vảy vàng lóng lánh, những cườm vây ửng hồng vào độ ái ân. Nàng đặt ống nước xuống cỏ, chợt thấy lòng xao xuyến, tim đập rộn rã và hai má ửng hồng. Một giai điệu vui vẻ đâu đây làm nàng mỉm cười, một hương thơm dịu dàng khiến nàng ngây ngất. Nàng ngã vật ra bãi cỏ, dang chân tay nhìn lên bầu trời xanh cao vút và mặt trời chói lọi. Một đôi chim mê mải rơi cả xuống chân nàng. Đột nhiên nàng vùng dậy, nâng ống nước lên và chạy như bay về hang.

Cha nàng đánh rơi con dao nhỏ, thứ báu vật mà ông hết sức nâng niu và chỉ đem ra mài mỗi năm một lần vào độ đầu xuân. Khuôn mặt rạng rỡ, đôi mắt long lanh và nụ cười khao khát trên môi đang hướng về ông với vẻ đẹp lộng lẫy và thanh khiết của bông hoa vừa hé nở khiến ông bàng hoàng. Ông hiểu điều gì đã đến với nàng. Nó đã từ lâu bắt ông không nguôi dằn vặt và sợ hãi, chỉ biết rằng không thể nào lẩn tránh. Ông cố quên đi, nhưng nỗi dằn vặt ấy cứ lớn dần cùng với thời gian, cùng thân thể và sắc đẹp của giọt máu mà ông yêu thương hơn chính bản thân mình. Và bây giờ, điều ấy cuối cùng đã đến. Nó hiện ra với sức sống cuồng say, rạo rực trong thân thể trẻ trung đang run rẩy trước mắt ông. Hơn nữa, ông cảm thấy nó ở ngay chính bản thân mình. Sắc đẹp của nàng hay mùa xuân sinh sôi đã truyền vào tim ông cái sức mạnh kì diệu kia, cái quy luật vĩnh hằng kia, để đến lượt mình, chúng lại đánh thức người đàn ông trong cái thân thể không còn trẻ trung ấy. Trong lòng ông bâng khuâng những cảm xúc tưởng chừng đã lãng quên.

Ngay cả lúc đó đầu óc ông vẫn hoàn toàn minh mẫn, mà một đầu óc minh mẫn chẳng bao giờ cho phép con người phá vỡ sự ràng buộc của luân lí, nhất là sự ràng buộc hoàn toàn tự nguyện. Dĩ nhiên, trên hòn đảo hoang vu này chẳng có luân lí, cũng như chẳng có một thứ quy luật gì ràng buộc, một khi đã không có xã hội loài người. Nhưng những thứ luân lí và luật lệ ấy lại tồn tại trong con người ông, chúng đã hoà vào máu tim ông. Không, không bao giờ ông lại trở thành một kẻ loạn luân. Không một sức mạnh nào bắt ông bước xuống vũng bùn nhơ bẩn ấy.

Thế những khuôn mặt rạng rỡ kia, cặp mắt long lanh đắm đuối và đôi môi khao khát kia - chúng có quyền của chúng. Chúng đòi hỏi những quyền ấy và đâu có chịu trói buộc bởi những thứ luân lí đang trói buộc ông. Hai bàn tay thô kệch của ông run rẩy ấp lên lồng ngực không còn vạm vỡ đang phập phồng trong cơn xúc động. Ông biết mình, biết rằng chẳng có sức mạnh nào thắng nổi ông, nhưng ông còn biết rằng vì tình thương ông sẽ làm tất cả. Và đó chính là điều khiến ông dằn vặt và sợ hãi.

Ông từ từ tiến gần nàng, đôi tay đặt lên vai nàng, còn trí não minh mẫn gầm thét rằng ông đang bước xuống bùn. Ông nghĩ gì lúc đó? Dĩ nhiên không thể nghĩ đến những bông sen đẹp nhất nở trên đống bùn nhơ.

Nàng thấy đôi tay nóng bỏng mơn man, thiêu đốt da thịt mình, thấy hơi thở gấp gáp, nồng say và thấy mình bồng bềnh trên sóng. Cả vũ trụ bỗng chốc nhẹ tênh.
Đó là lúc nàng tìm được câu trả lời. Đó là lúc nàng nắm bắt được cái sức mạnh diệu kì, cái quy luật vĩnh hằng kia.

Quan hệ giữa cha con nàng đã thay đổi hẳn và bản thân nàng cũng trải qua một bước ngoặt lớn lao. Nàng hân hoan khám phá ra cái bí mật lớn lao của cuộc sống, say sưa tận hưởng nó và tưởng như cả vũ trụ đã mở ra trọn vẹn trong tầm mắt mình.

Chính vì thế mà nàng không thể hiểu được sự xuất hiện của người đàn ông lạ mặt kia. Những câu hỏi nối nhau liên tiếp trong tâm trí nàng khi hai cha con hì hục đưa người lạ mặt về hang. Họ đặt anh ta vào một ổ cỏ khô bên bếp lửa. Hơi ấm cùng việc xoa bóp đã tỏ ra hiệu nghiệm. Lát sau người lạ từ từ mở mắt. Nhưng anh ta còn yếu lắm, chẳng nhận biết được gì. Nàng đem đến cái bát đất nung dày cục mịch đựng canh cá nóng và chiếc thìa nhỏ bằng xương cá.

Bát canh làm người lạ tỉnh hẳn. Anh ta chớp chớp mắt và mấp máy môi, phát ra những âm thanh yếu ớt, lạ tai. Nàng chẳng hiểu gì cả, chỉ tròn mắt ngạc nhiên và ú ớ bằng thứ ngôn ngữ đặc biệt của mình. Cha nàng ghé tai nghe nhưng cũng không hiểu nốt - đó không phải là thứ tiếng thổ dân mà ông còn nhớ lõm bõm.

Mãi sau họ mới đoán được ý muốn của người lạ và vòng tay đỡ anh ta ngồi dậy dựa lưng vào vách đá. Anh ta gật đầu cảm ơn bằng những tiếng ngọng nghịu (đối với cha con nàng anh ta cũng ngọng). Ba người ngọng cố nói chuyện với nhau hồi lâu, nhưng càng nói càng không hiểu. Người lạ bèn dùng ngón tay vẽ những hình thù gì đó ngoằn ngoèo lên bàn tay cha nàng. Anh ta viết, có lẽ thế. Nhưng cả thứ chữ ấy cũng vô tích sự. Sự thất vọng đến kinh hoàng làm người lạ cố chồm dậy. Anh ta muốn vùng chạy nhưng vì yếu sức nên ngã vật xuống, nhắm nghiền mắt lại và thở hổn hển hồi lâu.

Anh ta ngủ một giấc dài nhưng luôn mê sảng gần như liên tục hai ngày đêm. Cả lúc uống những thìa cháo cá từ tay nàng bón anh ta vẫn ở trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh. Suốt thời gian ấy nàng ngồi chong chong bên người ốm.

Thật kì lạ, công việc ấy chẳng những không làm nàng mệt mỏi, mà trái lại nó chỉ khiến nàng thêm tỉnh táo và vui sướng. Thì ra ngoài nhu cầu được yêu thương thì yêu thương và chăm sóc cho đồng loại cũng là một thứ bản năng của sinh vật. Bản năng ấy đã khiến nàng say mê và tiếp thêm sức lực cho nàng. Còn cha nàng thì biến đi đâu đó suốt cả ngày, chỉ trở về hang khi trời đã tối, đem theo mấy con cá tươi hết sức hiếm hoi trong mùa đông rét mướt như thế này. Ông lầm lũi mổ cá, cho vào chiếc nồi đất rồi bắc lên bếp lửa. ánh lửa chập chờn hắt lên khuôn mặt gầy và vầng trán to bè, soi rõ những vết nhăn chằng chịt và vết sẹo phồng rộp. Ông đã già - nàng ngạc nhiên tại sao lúc này nàng mới để ý đến điều đó, bất giác ngoảnh lại nhìn người lạ. Khả năng bình phục của anh ta thật kì diệu. Khuôn mặt tuy vẫn gầy nhưng không còn hốc hác, để lộ ra những nét trẻ trung mà cương nghị. Nàng nhìn đôi tay trần rắn chắc của anh ta trên lồng ngực vạm vỡ và nhận thấy da dẻ anh ta đã có sắc hồng.

Người lạ mở mắt và chăm chú nhìn nàng. Cái nhìn mạnh mẽ và sâu thẳm, vẻ thất vọng hôm trước chẳng còn để lại dấu tích gì. Nàng cũng nhìn vào đôi mắt ấy và thích thú thấy mình nhỏ xíu đang khanh khách cười trong đó. Một cảm xúc mới lạ chợt ùa đến trong lòng nàng khiến tim nàng xao xuyến.

Lúc ấy cha nàng đứng dậy. Chẳng có ai biết rằng mặt ông đầm đìa nước mắt - những giọt nước mắt vui mừng và đau khổ ghen tuông.

Sức khoẻ của người lạ khá hẳn, không cần phải túc trực nữa, nhưng một sức hút huyền bí nào đó cứ chốc chốc lại kéo nàng đến bên đống lửa. Có lẽ đó là do bản năng chăm lo cho đồng loại, cũng có lẽ đơn giản vì nàng muốn lại thấy mình trong đôi mắt kia.
Có lúc nàng giật mình nhớ ra mình đã ngồi thừ hồi lâu nghĩ đến khuôn mặt gầy rắn rỏi và tấm thân cường tráng trẻ trung.

Có lúc nàng nhận ra mình xách ống về hang mà vẫn chưa kín nước. Tiếng chim lại thánh thót trong lòng nàng, giai điệu vui tươi lại du dương bên tai nàng và hương thơm dịu dàng lại làm nàng ngây ngất. Nàng ngờ mùa xuân đã trở về và chạy ra bãi biển. Nhưng không, mùa đông vẫn còn đang ngự trị với vẻ cau có của bầu trời xám xịt nặng như chì và mặt biển sôi réo, giận dữ xô những đợt sóng ngầu bọt vào bãi cát. Chẳng có bóng dáng một con chim, một con cá nào. Cỏ non chưa mọc. Hòn đảo im lìm, trơ trọi với những tảng đá đen ngòm, bóng nhẫy như lưng hải cẩu.


° ° °

Một mình trong hang, người thủy thủ vừa gượng dậy đã nghĩ ngay đến chiếc xuồng. Anh lao ra cửa hang, nhưng gió lạnh hất anh trở lại. Trong ánh sáng mờ đục của ngọn đèn mỡ cá, anh tìm thấy trên tường mấy chiếc áo bằng da cá như của người đàn ông thường mặc, bèn khoác lên người. Chiếc áo dài đến đầu gối, khá ấm tuy có mùi khăm khẳm khó chịu.

Gió mạnh nên anh không thể đi nhanh được. Vừa chệnh choạng trên những mô đá lởm chởm anh vừa đưa mắt nhìn lên sườn đảo với dãy núi thấp gù gù như lưng lạc đà. Vẻ trơ trọi, hoang vắng của hòn đảo giữa thiên nhiên dữ dội khiến lòng anh ghê sợ và rầu rĩ. Càng đi cảm giác ấy càng tăng lên và đôi lúc anh có cảm giác mình như sắp phát điên.

Hòn đảo quá nhỏ bé và chỉ lát sau anh đã đi hết một vòng quanh đảo. Và đúng vào lúc gần như tuyệt vọng thì anh bỗng trông thấy chiếc xuồng của mình trên một doi cát chạy dài ra biển. Anh băng tới, ngã khuỵu bên chiếc xuồng. Những chủ nhân của hòn đảo đã kéo nó lên bờ và lấp cát vào trong lòng nó. Làm như thế để khi trời dông tố cát sẽ thấm nước, kết thành một khối, giữ cho chiếc xuồng khỏi bị sóng biển cuốn đi.

Nước mắt giàn giụa, người thủy thủ cúi xuống hôn tới tấp lên chiếc xuồng.

Nó sẽ cứu anh, sẽ giúp anh trở về với đất liền và xã hội loài người. Anh hối hả bới cát ra khỏi xuồng. Anh phải mau mau rời khỏi nơi này. Những chủ nhân của hòn đảo đã cứu sống anh, đã đối xử với anh rất tốt. Anh biết ơn họ, nhưng cuộc sống cầm tù ở đây đối với anh quả là một cơn ác mộng. Cuộc sống cô đơn và tật nguyền khủng khiếp của họ đè nặng lên trái tim anh. Anh thấy thương xót họ. Mặc dù không hiểu cảnh ngộ nào đã xô đẩy họ đến đây, nhưng anh linh cảm rằng họ là những con người cao thượng. Chỉ có những người cao thượng mới có cái nhìn kiêu hãnh mà anh bắt gặp trong đôi mắt mệt mỏi vì đau khổ của người đàn ông và đôi mắt ngây thơ trong sáng của cô gái. Vẻ đẹp thanh khiết của nàng khiến lòng anh xao xuyến ngay từ phút đầu thấy nàng, khi anh cảm nhận hơi thở, ánh mắt và hớp những ngụm cháo nóng từ tay nàng bón. Thậm chí anh đã dám phạm thượng cả tới Thượng đế khi oán trách Người về những nỗi bất công mà Người đã bắt nàng phải chịu. Nhiều lúc anh băn khoăn về quan hệ giữa nàng với người đàn ông. Họ là hai vợ chồng hay hai cha con? Anh muốn hỏi (và chắc là có thể hỏi được bằng cách này hay cách khác) nhưng không dám, sợ lại chạm vào một vết thương nào đó vẫn còn nhức nhối trong trái tim ông. Một lần anh đã ra hiệu đề nghị họ cùng trở lại đất liền. Ông hiểu nhưng tối sầm mặt lại, lặng lẽ đứng dậy, bỏ đi. Điều gì giữ chân họ lại? Anh không dám hỏi nữa, nhưng anh, anh phải đi, chỉ cầu mong cho chiếc xuồng còn lành lặn.
Thật may mắn, chiếc xuồng không bị hư hại mấy - nó chỉ bị sóng lật úp rồi ném lên vào bờ. Người thuỷ thủ bắt tay ngay vào việc sửa chữa chiếc xuồng. Hai cha con cũng xúm vào giúp anh, cho anh mượn rìu và dao, những đồ vật quý nhất trong gia tài của họ. Để củng cố mấy miếng ván bên mạn thuyền, người đàn ông cho anh một bộ xương cá đen như bồ hóng - đó là những chiếc đinh tuyệt vời. Ông còn tặng cho anh chiếc túi đựng nước ngọt bằng da cá và rất nhiều cá muối. Việc ra đi phải đợi đến mùa xuân, khi thời tiết tốt, lúc đó còn có thể đem theo vô số trứng rùa.

Càng gần đến mùa xuân, thời gian càng như trôi chậm lại. Sáng nào người thủy thủ cũng dậy thật sớm, không khoác áo, chạy ra cửa hang, hy vọng gặp những luồng gió ấm. Nhưng mùa đông vẫn ngoan cố, dai dẳng, trời vẫn xám đen, nặng trĩu, biển mỗi ngày một thêm sôi sục và gió vẫn không ngừng rên rỉ.

Cô gái cũng dậy sớm, cũng phấp phỏng chờ đợi. Nàng chưa có khái niệm về sự mất mát, chia li, nhưng bằng bản năng nàng linh cảm thấy nó như một điều gì khủng khiếp. Nàng chờ đợi điều đó, còn trong lòng nàng mùa xuân mỗi ngày một thêm rộn rã. Đôi mắt nàng nồng cháy đến nỗi người thủy thủ không dám nhìn vào đó.

- Không, mình không thể là con người phụ bạc! - Anh buột miệng kêu lên và cầu mong cho mùa xuân chóng đến.


° ° °

Và mùa xuân cuối cùng đã đến.

Những chủ nhân của hòn đảo tiễn anh trên bãi cát, nơi họ đã cứu anh. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh ôm hôn những ân nhân của mình. Nước mắt đầm đìa, anh đẩy thuyền ra khỏi bãi. Cha nàng cũng khóc khi nắm tay nàng nhìn theo chiếc thuyền nhỏ nhoi đang mờ dần, mờ dần rồi biến mất phía chân trời.

Riêng cô gái không khóc. Đến tận lúc ấy nàng vẫn chưa có được ý niệm rõ rệt về sự chia li. Khi cha đã về hang, nàng vẫn đứng lại trên bãi biển. Xung quanh nàng tất cả đều quen thuộc. Mùa xuân đang rộn rã với tiếng chim thánh thót, nắng lung linh trên những ngọn cỏ non, trên những nụ hoa chúm chím và những ngọn sóng trắng muốt như sương. Cá từng đôi, từng đôi đùa giỡn và những con chim say đắm lại rơi xuống chân nàng. Nàng nhìn ra xa, xa mãi, ngược những con sóng bạc đầu, đến tận chân trời, nơi trời biển gặp nhau và chợt nghĩ rằng anh ấy đang nằm trong hang, trên đống cỏ khô bên bếp lửa. Nàng bèn chạy như bay về hang và đứng sững trước đống cỏ khô trơ trọi. Bếp lửa đã nguội tanh. Nàng chạm tay vào đống cỏ, cảm thấy chúng như còn ấm hơi người, rồi đột nhiên lao ra bãi biển. Nàng chạy vào, chạy ra mãi như thế cho đến lúc mệt nhoài, ngã khuỵu xuống mép nước. Nàng nhắm mắt lại và bỗng lại thấy hiện lên đôi mắt kì lạ kia. Tim nàng như bốc lửa. Nàng vùng dậy, lảo đảo chạy theo mép nước như đang trong cơn mê sảng.

Nàng chẳng còn nghe thấy giai điệu vui tươi, chẳng còn cảm thấy hương thơm ngây ngất. Mùa xuân đã tắt trong lòng nàng. Đôi mắt kia đã đốt cháy đi tất cả.

Chiều buông xuống khi nàng thẫn thờ theo cha trở về hang. Nàng nằm xuống đống cỏ khô quen thuộc, bên tấm thân quen thuộc, nhưng không còn nhận ra mình. Bàn tay thô ráp giá lạnh như băng, tấm thân khô nhăn nheo làm nàng ghê sợ.

Nàng vùng dậy, lao ra bãi biển.

Mặt trăng vừa nhô lên. Biển lóng lánh căng ngực ra chào đón.

Nàng lao mình xuống nước, bơi đi, bơi mãi đến không cùng.

Hà Nội, tháng 1 năm 1990
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Socrate


Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại




Dưới mặt trời thiêu đốt, mặt Anytus (1) đỏ bừng vì giận dữ. Ông nói với đám đông đang chen chúc trên quảng trường.
- Cái tên Socrate ấy, tê du thử du thực chuyên lừa đảo núp trong cái áo thụng và những lời lẽ ba hoa về đạo đức, kẻ ngông cuồng nhất trong kẻ ngông cuồng, kẻ độc ác nhất trong kẻ độc ác, cái tên Socrate ấy, hắn sẽ phải chết. Hắn là nhà triết học ư - với những câu hỏi dai như đỉa đói của hắn? Hắn là ái quốc ư - với hành động phản loạn của hắn? Các vị đây, có ai là người không biết hắn là cái trán hói vì rượu, cái mặt to tròn bủng vì mỡ, đôi mắt như mắt cú. Có trời mà biết hắn làm gì để sống. Hắn hoá mạ thần linh bằng cái thân hình bẩn thỉu, hắn đầu độc tuổi trẻ bằng những ngôn từ phù thuỷ. Lũ đồ đệ trẻ tuổi và nhẹ dạ của hắn luôn mồm tụng niệm theo hắn rằng cuộc đời không có bàn luận về triết lý là cuộc đời không đáng sống. Thử hỏi, ai đã tìm cách lung lạc tinh thần dân chúng? Chính hắn! Ai đã xúi giục đám thanh niên tổ chức diễn thuyết trên đường phố? Ai đã khuyến khích tên trưởng giả Alcibiade nổi loạn? Cũng chính hắn! Đến thánh thần hắn cũng không tha. Các ngài hãy tưởng tượng xem, một buổi sáng đẹp trời, thằng con trai yêu quí của ngài, thằng con trai mà trước đó chỉ biết học hành và ngoan ngoãn vâng lời, đột nhiên kéo bạn bè về lật đổ bệ thờ. Tôi đoán chắc với các ngài rằng nó đã ăn phải bả của tên triết gia nửa mùa ấy. Kết quả là nền dân chủ bị phá vỡ, tôn giáo bị xoá mòn, xã hội lâm vào cảnh hỗn độn, như các vị đã thấy. Vâng tất cả mọi tội lỗi đều do hắn mà ra. Cho nên tôi nhắc lại, thưa các ngài, vì chính nghĩa và sự công bằng, tên Socrate ấy sẽ phải chết!
Trong đám đông có nhiều người là học trò của Socrate thuộc đủ mọi thành phần và đến từ khắp mọi nơi. Trước khi theo Socrate, họ đã học được nhiều điều bổ ích ở những nhà triết học tiền bối. Họ nghĩ Socrate cũng như Thalès và Héraclite, hay như Parménnide và Zénon. Nhưng hoá ra ông là người khác hẳn. Một lần, nhân đề cập đến Pythagore, Socrate nói với họ:
- Đi tìm bản thể và khám phá những định lý của thế giới bên ngoài, đó là những nỗ lực đáng khen. Nhưng đi tìm bản thể và những định lý của thế giới bên trong mỗi con người còn đáng khen hơn gấp ngàn lần. Bởi chẳng có cây cỏ, trăng sao, sông núi nào sánh được với con người.
Ông nói tiếp:
- Triết lý bắt đầu từ khi người ta biết hoài nghi. Người ta hay nhắc đến hai chữ công bằng. Nhưng công bằng là gì? Và liệu có thể đem hai chữ ấy để giải quyết vấn đề sống chết của đồng loại hay không?
Bây giờ người ta dùng chính hai chữ ấy để bắt ông phải chết, vì thế đám học trò của ông không sao cầm được nước mắt. Những người học trò này về sau đã cố gắng tìm cách cứu Socrate (1) và ông ta đã đồng ý làm ngơ cho Socrate trốn đi. Nhưng Socrate từ chối việc cầu xin đám đông tha tội. "Các con chỉ chôn cái thể xác của thày!" - Ông nói vậy với những học trò gần gũi. Ông vẫn khinh thường phán quyết của đám đông.
Trong đám người có mặt trên quảng trường hôm đó có cả Xanphippe. Bà đứng không vững nữa, đôi vai từng chịu đựng những cú đánh dữ dội nhất của cuộc đời giờ co nhúm lại. Nét mặt thật là buồn thảm nhưng bà không khóc. Với lối suy luận đàn bà. Xanphippe tin rằng chỉ có bà hiểu rõ khí phách của ông. Thực ra, Socrate không phải là một người chồng mẫu mực, nếu như không nói là vô trách nhiệm. Chính Xanphippe cũng có lần gọi ông là một kẻ du thủ du thực mà suốt đời chẳng bao giờ giúp vợ con được lấy một mẩu bánh hay một đồng xu nhỏ. Nhưng Xanphippe hiểu hơn ai hết rằng bà không bao giờ có thể yêu ai khác ngoài ông. Một tình yêu dai dẳng và có lẽ là vô căn cứ. Bà thích đàm đạo với ông. Xanphippe nhớ những buổi trưa trong mảnh vườn nghèo nàn nhưng râm mát. Socrate trở về từ quán rượu hay từ một gốc cây dưới một ngôi đền nào đó. Xanphippe vá lại một trong những chiếc áo thụng của Socrate, và ông bắt đầu với những câu hỏi nhiều khi làm cho bà rối trí. Thực tình, bà cũng không hiểu rõ lắm những điều ông nói. Có lẽ bà chỉ say mê âm điệu của chúng, hoặc bà chỉ say mê giọng nói của ông, một giọng nói trầm trầm, hơi đục vì rượu nhưng ấm áp gây nghiện.
Xanphipe ngước nhìn vẻ mặt đắc thắng của Anytus, lòng đau thắt lại với ý nghĩ rằng rồi đây bà sẽ không bao giờ còn được nghe giọng nói thân yêu ấy nữa.
- Ôi, tôi chỉ biết một điều, đó là tôi không biết gì hết!
Hình như bà đã bất giác thốt lên thành lời, chính là lời Socrate.
Xanphippe nhớ một buổi sáng mùa đông u ám chừng bảy tám năm về trước. Socrate trở về trước khi tia nắng đầu tiên rọi sáng ô cửa sổ phía đông, nơi ông đặt chiếc bàn đọc sách bằng gỗ thông đỏ đã chuyển sang màu nâu xỉn. Ba ngày đêm liền Socrate không về nhà. Nhưng điều đó không có gì đáng ngạc nhiên, ông vẫn thường vắng nhà như vậy. Những cuộc đàm đạo không bao giờ dứt cuốn ông và lũ đồ đệ như những cơn gió cuốn lá khô rong ruổi khắp mọi nẻo đường, chỉ đôi khi dừng chân trên những quảng trường, trước những đền đài hay trong quán rượu. Không gì lôi cuốn tâm trí ông hơn là những triết lý. Với chiếc áo choàng thụng thịnh, ông bước đi khoan thai dưới những hàng cây cao vút, những đền thờ nguy nga đang phô trương quyền lực của thần linh và nền dân chủ.
Lần ấy cũng những triết lý giữ cho Socrate và đám học trò tại quán cơm kiêm quán ăn của lão gù. Không ai biết tên thật của lão gù. Lão lúc nào cũng khư khư một cây gậy gỗ đã lên nước bóng loáng. Nghe nói lão còn có tài chữa bệnh.
Trong đám học trò chỉ có Platon vắng mặt vì một lý do vặt vãnh nào đó kông đáng nói. Sự vắng mặt này về sau gây ra một sự hiểu lầm nho nhỏ.
Không một ai, kể cả Socrate nhớ rõ họ nói những gì, nhưng cuộc tranh luận đã kéo dài hai ngày hai đêm liền. Đêm thứ ba, khoảng nửa đêm, có ai đó đấm mạnh vào cái thùng rượu rỗng. Lão gù sực tỉnh cuống quýt cho người đi mua thêm rượu. Nhiều người còn quả quyết rằng số rượu mua thêm là rượu giả, bời vì sau đó ai nấy lần lượt lăn ra ngủ, còn Socrate, tuy không ngủ, cũng ở trong trạng thái mơ màng.
Gần sáng, lão gù đánh thức Socrate dậy, đám học trò dậy theo ông. Ông chủ quán nghếch cổ lên trông như một con rùa gầy, yêu cầu thanh toán. Như thường lệ, đám học trò chia nhau trả tiền. Nhưng lão gù nói với Socrate:
- Thưa ông Socrate kính mến! Đêm qua ông đã gọi thêm của chủ quán chúng tôi một con gà quay.
Thật chưa bao giờ có một chuyện kỳ quặc như vậy xảy ra với Socrate. Tửu lượng của ông khiến cho nhiều người kinh ngạc. Ông chưa bao giờ từ chối những cốc rượu được mời nhưng cũng tự hào là không bao giờ để cho mình rơi vào cảnh say sưa. Khi uống rượu ông thường ăn rất ít, hơn nữa, gà quay cũng không phải là món uống ưa thích.
- ồ không, xin chớ có đùa, thưa ông! - Socrate nói - Tôi có say đâu.
- Vâng nhưng điều đó chẳng liên quan gì đến chúng tôi - Lão gù lạnh nhạt trả lời.
- Ông mua gà của quán chúng tôi, vậy thì hãy cho chúng tôi xin nhận một số tiền không nhiều hơn không kém hơn so với giá của nó!
Socrate cảm thấy hết sức bối rối.
- Hay là ông không có tiền? - Lão gù lại hỏi.
Đúng là Socrate không có xu nào trong túi. Nhưng đó không phải là điều quan trọng. Trong đám học trò của ông có rất nhiều người giàu có, họ sẵn sàng trả giúp ông, nếu như món nợ là có thực.
Đám học trò nhìn nhau. Lão gù nổi tiếng là một tay xảo quyệt, điều đó ai cũng biết.
Lão gù mỉm cười đầy ý nghĩa:
- Vậy là ông không có tiền. Nhưng ông có thật lòng tin rằng ông đã không gọi con gà quay của tôi trong lúc say rượu không?
- Tôi tin, tôi tin chắc vào điều đó! - Socrate gần như kêu lên.
Lão gù vẫn tiếp tục nụ cười của hắn:
- Vậy thì, thưa ông Socrate, xin ông hãy cứ tin như vậy! Vì niềm tin ấy, ông sẽ không phải trả tiền con gà quay ấy nữa đâu.
Cả Socrate, cả đám học trò của ông đều không hiểu nụ cười của lão chủ quán. Không ai nói một lời, họ ra khỏi quán như những người thất trận.
Vẻ bối rối của Socrate đập vào mắt Xanphippe. Đó là lần đầu tiên ông không còn giữ được vẻ ung dung, thư thái. Bà nhớ rằng từ giọng ông thoang thoảng phả ra hơi rượu. Đáp lại những câu hỏi của bà, ông nói:
- Tôi chỉ biết một điều, đó là tôi chẳng biết gì hết!
Socrate bị xử phải uống thuốc độc. Những giây phút cuối cùng của đời ông được Platon kể lại vô cùng cảm động trong cuốn Phédon:
- Chúng tôi ngồi đợi ở ngoài, lòng buồn vô hạn. Ông cũng như cha, bây giờ ông chết, chúng tôi không khác gì những kẻ mồ côi. Giờ mặt trời lặn đã gần kề. Khi ông trở ra, ông lại ngồi với chúng tôi, chuyện trò rất ít. Chẳng bao lâu, người giữ ngục đi vào, đến gần ông và nói như sau: "Ông thật là người cao quý nhất, hiền lành nhất trên đời. Chắc ông sẽ không căm ghét tôi giống như những kẻ vẫn thường chửi bới, mắng nhiếc tôi khi tôi tuân theo lệnh trên, đem thuốc độc vào đây cho họ uống. Xin ông hiểu cho rằng tôi với ông không thù hằn gì. Chúc ông can đảm chịu đựng". Nói xong người giữ ngục oà khóc và ôm mặt đi ra ngoài.
Socrate đáp với theo: "Tôi sẽ làm như lời ông nói và xin chúc ông mọi sự tốt lành". Quay về phía chúng tôi, Socrate nói: "Người đó rất tốt với thày. Nhưng Criton ơi, hãy đem chén thuôc vào đây!". Criton nói: "Thưa sư phụ, mặt trời hãy còn trên đỉnh núi. Nhiều kẻ đợi trời tối mới uống và trước khi uống họ còn có quyền ăn uống no say!". Socrate đáp: "Những kẻ ấy làm rất phải, vì họ có lợi trong sự chần chừ, nhưng ta không thấy có lợi gì khi uống chén thuốc độc chậm hơn một chút. Hãy làm như ta nói và xin đừng từ chối!".
Lát sau, người giữ ngục cầm chén thuốc đi vào. "Uống xong ông nên đi dạo một lúc, khi nào cảm thấy nặng ở hai chân thì nằm xuống, thuốc sẽ ngấm dần đến tim" - Ông ta nói rồi đưa chén thuốc cho Socrate. Socrate nhận lấy một cách vô cùng nhã nhặn: "Tôi có cần để dành một phần chén thuốc để dâng cúng thần linh không?". Khi người cai ngục nói rằng ông ta chỉ chế thuốc vừa đủ, Socrate bèn vui vẻ nâng chén lên môi.
Từ trước đến giờ chúng tôi cố nén đau buồn, nhưng khi thấy ông uống cạn chén thuốc, chúng tôi không cầm lòng được nữa. Nước mắt tuôn trào, tôi ôm mặt khóc. Không phải là tôi khóc ông, mà chính là tôi khóc tôi từ nay vĩnh biệt tôn sư...
Platon kể tiếp:
Socrate đi dạo một hồi cho đến khi cảm thấy nặng ở chân, rồi nằm xuống đúng theo lời dặn. Người giữ ngục quan sát tay chân ông, đè mạnh xuống hai bàn chân và hỏi: "Ông có cảm thấy gì không?". "Không". - Ông đáp. Người ấy lại di dần lên phía trên, vừa đè vừa hỏi thuốc ngấm đến tim là xong".
Khi lạnh đến thắt lưng, Socrate bỏ miếng vải che mặt và nói:
- Criton, ta nợ Asclepius (1) một con gà, con nhớ trả (2)!
Platon đã ghi lại chính xác câu nói cuối cùng của Socrate?


(1) Aselepius: Con trai của Apollon với một cô gái người trần, được thần nhân mã dạy chữa bệnh và săn bắn. Aselepius bị thần Deus giết chết vì đám chữa cả cho người chết sống lại và người ta thường cúng gà trống cho ông. Biểu tượng của ông là cây gậy và con rắn.

(2) Chúng tôi dịch câu nói nổi tiếng này của Socrate qua bản tiếng Pháp: "Criton, nous un coq à Esculape. Payez, cettedette, ne soyez pas négligents". Xem Platondette. Phédon, GF-Flammarion, Paris, 1991, trang 309.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Bình xăng phổ thông đầu phiếu

Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại



Mỗi khi đám hàng xóm rách chuyện của tôi, với một khoái cảm kỳ lạ của đàn ông thành thị, vừa rung đùi vừa giễu Trí là dở hơi, thông thái rởm hay ếch ngồi đáy giếng, còn Trí thì ngước nhìn tôi như nhìn kẻ đồng minh cuối cùng, tôi lại cảm thấy tội tội. Nhưng dù có muốn tôi cũng biết phải bênh vực được Trí thế nào. Trí óc tôi ngắn, nó phản bội tôi, tôi lại phản bội Trí.
Đám đàn ông trong xóm gồm có tôi, Hùng "thịt lợn" làm nghề mổ lợn, Hải Kều bộ đội về hưu nay gác cổng nhà tang lễ, Ba Trạc cũng bộ đội về hưu nay làm đồ sắt, Đông, Thái "lốp" buôn lốp, Đông "Gioăng" không ai biết làm gì và cậu Biền trượt đại học giờ làm nghề thợ mộc. Sang nhất là Hùng, mạnh mồm nhất cũng là Hùng: "Này ông Trí ạ. Ông nên bán quách cái đống giấy lộn đi cho đỡ chuột. Ông mà nghiên cứu được thì có mà..." Có mà thế nào, họ không nói ra, nhưng Trí cứng họng.
Nói vậy chứ anh em trong xóm cũng quý nhau, nói như vậy được cái thật lòng.
Một hôm, Trí mời tôi đến nhà, cho tôi xem giá sách. Toàn những quyển sách dày như cục gạch, cả mới lẫn cũ.
- Tác phẩm của tôi đấy - Trí nói, tôi nghe giọng Trí có phần cay đắng.
Tôi choáng người. Những quyển sách này, thực tình, chỉ một quyển cả đời tôi cũng không đọc hết. Nhưng khi nghe tôi thuật lại, mấy ông hàng xóm gạt đi: "Ui dào, thời buổi này, tiền là in được tất. Gì mà chả in được. Ông có tác phẩm nhớn nào đưa đây, tôi in cho, còn dày bằng mấy ấy chứ!". Đến lượt tôi cứng họng.
Những chuyện xảy ra với Trí, tôi chẳng biết nói thế nào. Tôi nhớ, một lần cả xóm tụ tập nhân dịp Hùng "Thịt lợn" mới mua được chiếc TV Liên Xô vỏ đỏ. Trí góp lời:
- Trên thế giới bây giờ người ta phần lớn dùng T.V màu, thậm chí có điều khiển từ xa, chứ không còn phải bấm tay như thế này nữa rồi các bác ạ".
Chủ nhà cụt hứng, đốp ngay:
- Vâng nhà em "nạc hậu", chỉ dùng đồ thải, đâu dám dùng đồ hiện đại cho hại điện!
Đám Hải Kều, Ba Trạc, Đông "Gioăng", Thái "lốp" cũng ùa vào:
- Đời thửa nhà ai TV lại không cần nút bấm. Thế thì điều chỉnh làm sao?
- Em cũng chưa nghe ai nói - Đông "Gioăng" có vẻ tư lự.
Cậu Biền thợ mộc nháy nháy mắt làm ra vẻ trịnh trọng:
- Có chứ. Chắc là bác Trí có nhân điện!
Không thể địch với chừng ấy cái mồm, Trí lắc đầu, nhìn tôi cầu cứu, nhưng tôi cúi đầu, giả vờ không để ý.
Một buổi tối, cũng vào lúc cả xóm tụ tập vì chuyện gì chẳng rõ, Thái "lốp" mang đâu về một tờ "Hà Nội Mới", đọc oang oang.
- Thấy chưa, tôi đã nói là có loại T.V điều khiển từ xa, vậy mà ông Trí cứ khăng khăng là không.
- Đấy, ông Trí nhé, có phải cứ chúi mũi vào đống sách vở là được đâu!
Tôi khuyên ông nhé, cứ bán quách cái đống giấy lộn của ông đi cho đỡ chuột, mà cô ấy lại được vài buổi đi chợ.
Trí định phản bác lại nhưng Hải Kều, Ba Trạc, Đông "Gioăng", Hùng "Thịt lợn" và cậu Biền đều cười ồ lên vui vẻ:
- Thôi bác ạ, chính bác nhớ nhầm. Chúng tôi đã bảo bác là Tây nó giỏi lắm, nó làm cả TV điều khiển từ xa, nhưng bác không chịu tin. Chẳng lẽ chừng này con người lại đổ thừa cho bác!
Tôi vô cùng hoang mang. Trong cái trí nhớ mù mịt của mình, tôi nhớ hình như Trí là người nói đúng. Nhưng suy nghĩ một lát, tôi lại có cảm giác ngược lại: "Ừ, chẳng nhẽ chừng ấy con người đều nhớ nhầm?" Thế là tôi đánh trống lảng:
- Thôi, thôi, có gì quan trọng đâu mà các bác!
Những chuyện như thế xảy ra rất nhiều lần, khi thì với chuyện đi giày - Trí nói đi giày là nóng hay không nóng? - khi thì với chuyện mì chính - Trí nói ăn mì chính có hại hay không có hại? - và thậm chí cả chuyện tránh thai đẻ đái - Trí nói thắt ống dẫn tinh sau này nối lại được hay không nối lại được? - khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Linh cảm mách bảo tôi rằng con người đọc chừng ấy quyển sách chắc phải là người hiểu biết, nhưng mặt khác tôi lại tin vào đa số. Nhiều cái đầu phải hơn một cái đầu chứ. Thiểu số phục tùng đa số, chẳng phải chúng ta đều được học như thế đó hay sao? Thế là tôi nảy ra ý định kiểm tra.
Ở đời, anh cứ cần cái gì thì y như rằng chẳng thấy nó đâu. Bát phở chẳng hạn. Ở cái đất Hà Nội này nhìn đâu chả thấy hàng phở. Thế mà cứ lúc nào anh định anh phở là đi rạc cẳng chẳng thấy một hàng! Cái ý định kiểm tra của tôi cũng vậy. Chờ mãi mà chẳng có dịp nào.
Đầu những năm 1980, loại xe Cub màu ốc bươu được dân buôn theo tàu Vốt cô đem về Việt Nam. Đèn tròn long lanh, đề phát nào ăn phát ấy, chạy từ Hà Nội xuống Hải Phòng chưa hết hai lít, ngay lập tức nó đánh bạt anh "Mô kích" vè vè của đám lưu học sinh Đông Đức. Hết tối này đến tối khác cả xóm ngồi bàn về nó và bao giờ đề tài cũng chuyển sang sự ngợi ca người Nhật trước khi kết tục bằng chuyện tiếu lâm. "Mẹ kiếp, máy êm hơn máy đàn bà một con!". Với cánh đàn ông, dù là đàn ông trong cái ngõ tồi tàn của chúng tôi, chiếc xe màu ốc bươu ấy vẫn trở thành niềm mơ ước cháy bỏng.
Thế nhưng Trí tương ngay một câu:
- Này, nhưng tôi thấy cái bình xăng hơi dở. Theo tôi, đáng lẽ họ phải biến cả phần dưới yên thành bình xăng, như thế vừa chứa được nhiều xăng, vừa đẹp dáng. Chứ cái anh Cub này, bình xăng đã bé lại thù lù một cục, thô lắm.
Như thường lệ, Trí chưa kịp dứt lời, những tiếng phản bác đã ồ lên:
- Cái gì, ông đùa đấy à? Đầu óc người Nhật chứ có phải cứt đâu!"
Hải Kều nói, Ba Trạc nói, Đông "Gioăng" nói, Thái "lốp" nói, Hùng và cậu Biền cũng nói.
Riêng tôi không nói. Tôi mừng như bắt được vàng. "Bình xăng dưới yên, bình xăng dưới yên" - tôi nhủ thầm trong bụng - "Trí nói bình xăng dưới yên. Lần này mình phải ghi nhớ thật kỹ". Lần này tôi sẽ không ba phải nữa. Lần này tôi sẽ đóng vai trò phân xử đúng sai. Cả Trí lẫn đám đàn ông trong xóm đều không hề biết kế hoạch của tôi.
Sau đó còn nhiều cuộc tranh cãi khác, nhưng tôi không chú ý đến nữa. Tôi biết mình đầu óc ngắn, không thể nhớ nhiều. Tập trung vào nhớ câu nói của Trí đã đủ mệt rồi.
Nhà Trí ở đầu ngõ, hôm nào đi làm về tôi cũng đạp xe chậm lại, ngoái nhìn cái cửa gỗ sơn xanh đã bạc phếch của anh và đọc thầm trong bụng: "Bình xăng ở dưới yên. Trí nói bình xăng ở dưới yên". Có những hôm Trí đang làm gì đó trong nhà, trông thấy tôi, anh đẩy cửa ra:
- Có gì mà tươi thế!
- Tươi chứ, tươi chứ! - Tôi nói lấp lửng, vừa buồn cười vừa cảm thấy thú vị với cái bí mật nho nhỏ của mình. Và tôi còn nghĩ thầm "Tôi đang bảo vệ ông đây, ông có biết không!"
Câu chuyện này kết thúc sau đó khoảng ba năm. Cuối những năm 1980, những chiếc Suzuki 100 đầu tiên xuất hiện và tiếp theo là loại Honda Dream đầy kiêu hãnh. Lại Hùng, anh hàng thịt tốt số, dắt về con "Dream" đầu tiên của xóm. So với nó, cái anh Cub ngày xưa mới thảm hại làm sao!
Đám đàn ông lại có cớ tụ tập. Khi tiệc rượu đang tràn cung mây, Trí đứng lên nói với một giọng nhỏ nhẹ, đầy tự tin. Anh vẫn chưa quên cuộc tranh cãi.
- Các ông thấy chưa, mấy năm trước tôi đã nói rằng phải làm bình xăng chạy dài suốt yên xe, đúng không.
- Cái gì, ông nói thế nào ấy chứ. Chính chúng tôi, chính mồm tôi đây này, tôi nói rằng thế nào người Nhật họ cũng cải tiến nữa, năm nào họ cũng cải tiến, họ sẽ biến toàn bộ phần dưới yên thành bình xăng, vừa chứa được nhiều xăng vừa đẹp dáng. Mà họ chẳng chịu dừng ở đấy đâu, họ còn cải tiến nữa! Còn ông thì cứ khăng khăng là xe Cub đã đẹp rồi, sửa thế nào được. Có anh em đây làm chứng.
Đông "Gioăng" hùa theo:
- Tôi còn nhớ khi đó tôi nói sẵng với ông, rằng đầu óc người Nhật có phải cứt đâu! Ông nhớ không? Thế nào ông Lập, sao ông toàn chơi cái kiểu ngậm miệng ăn tiền thế là thế nào?
- Tôi nhớ, tôi nhớ. Ông Trí ông ấy nói rằng bình xăng ở dưới yên...
- Con khỉ! Thì ai bảo bình xăng ở trên yên! - Hùng "Thịt lợn" mở khoá đánh tách rồi ngửa các yên xe còn bọc nguyên ni lông - Bình xăng chẳng ở dưới yên thì ở dưới cái lồn mẹ thằng ăn mày à! Nói thế mà cũng nói!
Tôi đắng cả miệng, chẳng biết nói sao.
Cũng may, Đông Gioăng đã sốt ruột:
- Thằng Hùng đúng. Thằng nào có xe, có rượu, thằng ấy nói đúng, xong chưa!
- Đúng! - Tất cả đồng thanh.
Hải "Kều" vuốt ve cái mặt đồng hồ, suýt xoa:
- Đã quá các bố ạ. Ông Hùng là nhất đấy!
- Nào cạn chén. Trăm phần trăm nhé! - Tất cả đều hồ hởi.
Tôi cũng cạn chén và tặc lưỡi. Thôi, kệ xác. Ừ, chẳng lẽ chừng ấy cái đầu đều nhầm cả...
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-04 11:42:17tieuphuong_loihai>
Món quà

Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại



Bờ lởm chởm đá. Chiếc cầu cảng bằng gỗ, nơi chúng tôi buộc tàu, đã mục ruỗng và sụp đổ phần lớn vì bỏ hoang quá lâu. Những đỉnh núi thấp trơ trọi trông như những cái trán hói. Con đường đá bị núi xô ra sát biển, vùng vẫy tuyệt vọng, cố bám vào những mỏm đá ong lỗ chỗ màu gan gà. Qua khỏi một đỉnh dốc bị kẹp giữa hai sườn núi, tôi trông thấy trước mặt khoảnh rừng dương thưa thớt đã chết khô. Sau đó con đường chia làm hai ngả. Tôi quên nói rằng bấy giờ hai bàn chân tôi vẫn còn lành lặn. Tôi rẽ phải, đi khá lâu và tới một thung lũng bằng phẳng, có vẻ đã từng là một cánh đồng nho nhưng bây giờ chỉ còn lại những bụi gai cằn cỗi cao chưa tới đầu gối. Phong cảnh trông hoang vu, mặc dù trước mắt đã hiện ra một xóm nhỏ với những ngôi nhà bằng đá xám.

Ở rìa làng một ông già đang nửa nằm nửa ngồi, lưng tựa vào gốc cây dương cụt ngọn bên đường. Hôm đó trời nóng như hun nhưng ông vẫn mặc chiếc quần dạ xám, chiếc áo vét tông đen bẩn thỉu, đã sờn. Mái tóc thưa, bộ râu dài trắng như cước. Cặp mắt đang đờ đẫn nhìn ra cánh đồng bỗng toát lên vẻ cuồng tín và thánh thiên thường thấy ở những người ả Rập. Thật khó đoán tuổi ông, nhưng chắc chắn không thể dưới bảy mươi. Dưới chân ông có một chiếc cặp da cũ, căng phồng. Cây đàn balalaica khiến ta nghĩ rằng ông là người Nga, còn cái miệng há hốc rõ ràng đang thèm rượu.

Thật đúng lúc, tôi đang cắp nách một chai “Lúa mới”.
- Con là một thằng bé tốt bụng - Mắt ông già vụt sáng lên khi đỡ chai rượu từ tay tôi.
Ông thọc tay vào túi áo, lôi ra một cái cốc gỗ cáu bẩn, kéo vạt áo lau kĩ lưỡng rồi đặt xuống đất, cạnh chai rượu.
Con là một thằng bé tốt bụng - Ông già nhắc lại và thọc tay vào túi bên kia, lần này lôi ra một con cá khô to bằng bàn tay đã bị xé một bên lườn. Ông nâng con cá lên ngang mặt bằng cả hai tay, vẻ trịnh trọng như sắp sửa làm một trò ảo thuật, rồi âu yếm hôn chụt vào môi nó.

Tôi dán mắt vào từng động tác của ông già như bị thôi miên. Ông già dùng răng mở nút chai.
- A hà, thứ chất lỏng hạnh phúc làm sao! - Ông già vừa xuýt xoa vừa nuốt nước bọt thèm thuồng như một đứa trẻ.
Chúng tôi lần lượt uống bằng một chiếc cốc. Câu chuyện giữa hai người đàn ông chỉ thực cởi mở khi rượu đã bắt đầu ngấm. Ông già nói:
- Đi biển ư? Không phải công việc của con! Xưa nay đó vẫn là công việc mạt hạng, chỉ thích hợp với bọn vô công rồi nghề hoặc những kẻ ngông cuồng muốn phất lên nhanh chóng mà thôi.

Khi đó tôi còn trẻ tuổi nhưng đã là một thuyền trưởng lừng danh nên không thể đồng ý với ông. Tôi tranh cãi rất hăng. Đó là thái độ của người đuối lí. Còn ông già thì thủng thẳng từng câu một như muốn kéo dài thời gian. Có thể vì ông lo ngại thấy chai rượu đang vơi đi nhanh chóng. Ông lấy chiếc bong bóng ra khỏi bụng con cá, móc diêm, đánh lửa mà nướng. Ông làm nhẩn nha và hết sức say mê, thỉnh thoảng lại xuýt xoa khi bị lửa xém vào tay. Mỡ cá cháy tanh tách, toả ra mùi thơm quyến rũ.
- Thưa cụ, đây là cá gì? - Tôi quên khuấy chuyện tranh cãi vừa rồi.
Ông già không đáp ngay, chìa cho tôi nửa chiếc bong bóng cá ám khói.
- Ta không nhớ, mà cũng không cần nhớ. Chà chà, ngon tuyệt, đúng vậy không con?

Không thể không đồng ý với ông. Thứ cá này thịt trắng, dai, thơm và ngọt không kém gì mực khô.

Mặt trời ngả dần về phía tây. Khi đã dốc cạn đến giọt rượu cuối cùng, ông già quẳng cái chai không xuống đất, tỉ mỉ nhặt những vụn cá rơi trên áo, cẩn thận nhét chiếc cốc gỗ vào túi rồi nói:
- Thượng Đế đã an bài tất cả, chẳng hạn Người sinh ra con là một thằng bé tốt bụng. Cám ơn con! - Ông già mở chiếc cặp nãy giờ vẫn nằm lăn lóc, lấy ra một đôi giày cũ màu đen - Ta muốn tặng con một món quà. Đôi giày này một nhà tiên tri người Hy Lạp đã tặng cụ tổ dòng họ ta, dòng họ Nôgoe đã từng vinh quang và đông đúc, nhưng than ôi, giờ chỉ còn sót lại mình ta. Ta trao nó lại cho con.

Tôi thử cấu vào tay mình. Khi biết chắc rằng không phải đang nằm mơ, tôi đỡ lấy đôi giày.

Đôi giày quả thực đã rất cũ nhưng hãy còn lành lặn. Nó được đóng bằng một thứ da thô, rất dày, vẫn phẳng phất mùi da sống, có lẽ người ta đã thuộc nó theo một phương pháp cổ xưa nay đã thất truyền. Lúc đó ánh mặt trời chiếu chênh chếch vào đôi giày. Một làn bụi ngũ sắc bốc lên nghi ngút. Lần đầu tiên trong đời tôi được biết thế nào là bụi thời gian.

Cảm giác bồi hồi xen lẫn sợ hãi khó hiểu ập đến khi tôi lật đế giày. Trên gót sắt đã mòn vẹt có những hình khắc kì lạ và dòng chữ ngoằn ngoèo bí ẩn. Tôi ngước mắt, định hỏi ông già xem đó là thứ chữ gì. Nhưng, thật là kinh ngạc, ông già đã biến mất.

Đường trở về tàu lạ và dài. Tôi ngờ mình bị lạc. Đến ngã ba, một người đuổi theo:
- Anh bán giầy phải không? Tôi cần mua một đôi.
Rồi không đợi tôi lắc đầu, anh ta nói tiếp:
- Anh đừng từ chối. Tôi sẽ trả anh với giá gấp ba. Khổ quá, đã bốn năm nay không một ông lái buôn nào đem giày đến bán. Tàu bè cũng chẳng ghé vào. Có lẽ người ta đã lãng quên vùng đất này rồi. - Anh ta chỉ đôi giày há mõm, khâu chằng chịt bằng thứ chỉ gai to màu xám dưới chân - Đôi giày này tôi đã phải sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu lần rồi. Chung quy chỉ tại trận hạn hán khủng khiếp đã hủy hoại cánh đồng nho màu mỡ của chúng tôi.

Vất vả lắm tôi mới thoát khỏi sự nài nỉ của anh ta nhưng đến rừng dương lại gặp một người khác. Ông này chống gậy, lưng gù, tóc xoã ngang vai, khuôn mặt tròn vàng bủng. Chiếc áo của ông ta may bằng lụa Trung Quốc, dài tới đầu gối và thắt bao lưng cũng may bằng lụa. Trên cổ ông ta lủng lẳng mấy sợi dây chuyền vàng.
- Tôi chính là Lapốc, - Ông ta nhấn mạnh một cách trịnh trọng, đến nỗi tuy không biết Lapốc là ai, tôi cũng hiểu rằng ông ta rất được kính nể ở đây. - Ngài có thể bán lại cho tôi đôi giày của cụ Enten hay không?
Tôi đoán Enten là tên cụ già ban nãy. Còn Lapốc khi nhận được lời từ chối của tôi, chỉ nhã nhặn nghiêng mình:
- Rất tiếc, tôi có thể trả ngài hai trăm ngàn, thậm chí hơn thế nữa. Tiền bạc đối với tôi không quan trọng. - Ông ta vỗ tay vào bao lưng và tôi nghe những tiếng va chạm của vàng.
Hai trăm ngàn - đó là món tiền mà tôi nai lưng ra làm trong năm năm trời cũng không dành dụm nổi. Nhưng món quà của cụ Enten không đơn thuần chỉ là một đôi giày. Tôi chào ông ta rồi đi tiếp.

Lên đến đỉnh dốc, chợt nghe tiếng chó sủa, tôi ngoái lại. Từ trong rừng dương một con chó vằn cao lớn như con bê đang lao đến, lưỡi thè lè đỏ hỏn, theo sau là năm sáu người đàn ông lực lưỡng, tay cầm gậy gộc, mặt hùng hổ, vẻ đầy kích động. Tôi không hiểu nguyên cớ nhưng cứ vùng chạy xuống dốc, hướng ra bờ biển. Vì không ngoảnh lại nên tôi chẳng biết họ có đuổi theo hay không. Lên tàu, tôi lập tức ra lệnh rời biển.

Tôi không hề kể cho ai nghe về chuyện đôi giày nhưng nó trở thành thứ bảo bối của tôi. Thời gian đầu tôi để nó ở nhà. Nhưng một đêm đang ở giữa biển tôi bỗng mơ thấy cụ Enten chui ra từ chiếc giày, trừng mắt nhìn tôi trách móc. Biết ngay là có chuyện chẳng lành, tàu vừa cập bến tôi về nhà bằng chuyến xe đầu tiên. Vợ con tôi bấy giờ chưa bỏ đi. Tôi được biết rằng lũ trẻ cắn vụn đôi giày ra làm đồ chơi. Sau chuyện đó tôi đem đôi giày xuống tàu, gói ghém cẩn thận bằng vải mưa rồi cất kĩ trong tủ.

Những chuyến đi triền miên đã khiến tôi mất sạch vợ con, gia sản. Tuy vậy, tôi vẫn còn giữ được sức khoẻ và đôi giày cho đến năm 1985, khi bị đắm tàu trên đường từ Ba Gà về Tùng Quảng. Anh em ai còn ai mất tôi không rõ. Riêng tôi may mắn bám vào được một mảnh ván, dạt lên Hòn Hạc. Vật duy nhất mà tôi mang theo là món quà của ông lão Enten.

Hòn Hạc cách đất liền chừng sáu bảy ngày chèo tay. Tôi đắn đo mãi rồi quyết định bán đôi giày, mua một chiếc thuyền tốt, các loại thực phẩm và đồ dùng cần thiết để vượt biển. Dự định này hoá ra không thể thực hiện được. Dân Hòn Hạc quen đi chân trần, chẳng ai mua giày làm gì. Mãi sau có người mách tôi đến gặp ông Ba Sa. Ông này là lính thuộc địa cũ, từng đi đánh nhau tận châu Phi, bị thương vào đầu, giờ thỉnh thoảng lại lên cơn động kinh. Ông Ba Sa khen đôi giày còn tốt.

Chúng tôi thoả thuận xong, ông Ba Sa gọi con trai vào, sai cất đôi giày lên gác rồi giao nó nhiệm vụ chèo thuyền chở tôi vào đất liền. Tiền ăn uống trên thuyền khi vào đất liền tôi sẽ thanh toán nốt.
Sau chuyến đó tôi ốm một trận hơn bốn tháng trời và bị liệt cả hai chân cho đến ngày nay.

Hải Phòng 28/07/1990
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Hoa vông vang

Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại



Ủ con xong, Y Sao chạy ra trước cửa. Nàng chống tấm liếp đan bằng những cây sậy chẻ tư, vịn tay vào hàng song gỗ xù xì và phóng tầm mắt ra xa.

Mùa xuân đã về. Gió đông nam ào ạt thổi, cuốn đi làn sương mỏng cuối cùng còn lởn vởn giữa những hòn đảo đá mầu xám sẫm. Những căn nhà treo lơ lửng như tổ chim trên các sườn đá suốt mùa đông giữ vẻ mặt già nua, rầu rĩ, bây giờ như bừng tỉnh, khe khẽ rung rinh.

Biển bình yên, lấm tấm những vệt sóng trắng. Hàng trăm chiếc thuyền độc mộc đang hối hả ra đi. Những chiếc buồm nâu khe khẽ lắc lư như giữ nhịp. Hải âu bay từng đàn, vòng đi vòng lại và mừng rỡ cất lên những tiếng kêu lanh lảnh.

Nhưng Y Sao không nhìn thấy những chiếc thuyền ấy. Nàng chăm chú dõi theo một chấm đen xa tắp, đang mờ dần, sắp sửa hoà lẫn với chân trời. Đó chính là chiếc thuyền của Nô, chồng nàng, cha thằng Y Páo. Bao giờ cũng vậy, làm gì cũng vậy, Nô luôn luôn bỏ xa tất cả những người đàn ông khác.

Y Sao đứng vậy rất lâu, trong lòng bị giằng xé bởi hai thứ tình cảm hoàn toàn trái ngược - vừa kiêu hãnh, vừa căm ghét Nô.

Nô là con trai duy nhất của Cả Then, một trong bốn thủ lĩnh phong trào kháng chiến của người Ducơmi ngày trước, khi những chiếc tàu hơi nước đầu tiên xuất hiện ở Tùng Quảng. Ông Cả Then về sau bị Tây bắt đem treo cổ vì định dùng cỏ khô tẩm nhựa cây đốt chiếc tàu chiến của chúng neo ở Vụng Giải. Nô thừa hưởng sức vóc cường tráng của cha, sự khéo léo của mẹ, lòng dũng cảm của người Ducơmi và tính cách ngang tàng của biển cả. Mười lăm tuổi Nô đã một mình bơi vào đất liền, mười sáu tuổi trở thành tài công nghiêng ngửa với bạn chài. Hai lần gã bị cá mập tấn công mà không chết.

Đàn ông Ducơmi lấy vợ rất sớm, nhưng đến hai mươi tuổi Nô vẫn ở một mình. Nô tự mình nấu ăn, tự mình vá lưới, chỉ có cá đánh được thì phải thuê người muối. Đám đàn bà nhìn Nô thèm thuồng. Chiều chiều, khi thuyền về, lũ gái trẻ đứng trên nhà treo nhìn xuống, run lên khi thấy tấm lưng trần vạm vỡ của Nô. Nhưng chúng chỉ dám ước ao thôi, bởi vì đàn bà Ducơmi không mấy khi ra khỏi nhà, ngay cả lúc muối cá cũng phải bịt khăn kín mặt. Chuyện chồng con đều do mối lái. Đứa nào không có ai đến hỏi thì đành chịu ở vậy đến già, suốt đời ăn bằng bát của bố, mặc váy của mẹ.

Năm hai mươi mốt tuổi, nhân một chuyến chở cá muối vào bờ đổi gạo, khi các bạn say sưa với những cốc rượu rẻ tiền, Nô giắt con dao vào thắt lưng, ra khỏi quán, nhằm hướng núi mà đi. Đi đâu, Nô không chủ định trước, nhưng cứ đi, cho biết.

Con đường băng qua rừng, len lỏi giữa những bụi gai chi chít, hẹp dần rồi đột ngột bị chặn đứng lại bởi một dòng suối nhỏ. Dòng nước hung dữ chảy ầm ầm, bắn toé lên những tảng đá lớn mọc đầy rêu.

Nô dừng lại, ngập ngừng giây lát rồi men theo bờ suối, đi tiếp. Một lúc sau Nô trông thấy phía xa xa thấp thoáng những ngôi nhà thấp lợp cỏ tranh, tường chình đất màu gan cá nhám. Bãi cỏ rộng trước bản được rào kỹ bằng phên nứa. Nô trông thấy la liệt những nong lớn phơi đầy ngô răng ngựa. Trong bản vắng tanh, chỉ có những đàn lợn nằm lim dim dưới hàng xoan dại.
Đột nhiên Nô nghe thấy tiếng hát từ dưới suối vẳng lên:

Ơi hoa vông vang
Nở bên bờ suối
Có nhớ mẹ nhớ cha
Có nhớ bản xa?
Sau bản mùa đông đã tàn
Trước bản mùa xuân đã tới...
Nô lần theo bờ đá, lại gần, nấp trong bụi rậm nhìn ra. Bờ suối chỗ ấy thoai thoải, phủ đầy đá cuội. Trên những tảng đá bằng phẳng lớn như cái chiếu, lũ con gái đang giặt váy áo, vừa làm vừa hát và cười đùa rúc rích.

Nô ngây cả người, chưa bao giờ gã được nghe những tiếng cười đùa ròn rã vui vẻ đến thế. Tiếng hát trong vắt như nước suối. Những bắp chân trần lồ lộ trước mắt Nô, tròn trịa, nõn nà, khác hẳn chân đàn bà miền biển đen đúa và thô kệch. Nô cảm thấy từng đường gân thớ thịt trong người run rẩy. Gã chồm ra khỏi bụi cây, bế bổng cô gái đang hát lên đôi tay lực lưỡng của mình, vùng chạy.

Đám con gái kinh hãi bỏ chạy tán loạn. Cô gái trên tay Nô gần như ngất xỉu.

Nô chạy được một quãng thì nghe những tiếng hú khủng khiếp kéo dài phía sau lưng. Cô gái lập tức bừng tỉnh và cố nhổm dậy. Khi trông thấy cha đang lảo đảo đuổi theo với một con dao quắm trong tay, nàng kêu lên đau đớn, ra sức giẫy giụa một cách tuyệt vọng.

Ông già như hoá dại, mắt long lên sòng sọc, nhưng làm sao mà lại được với sức Nô. Gã chạy một mạch đến tận chỗ rẽ vào con đường mòn mới dừng lại nghỉ.

Y Sao trở thành vợ Nô từ đó.
+
Thấm thoắt đã hơn một năm. Trong hơn một năm đó Y Sao không hề ra khỏi căn nhà treo chật chội của Nô. Nô chiều chuộng nàng hết mức theo cách của người miền biển, quấn quít với nàng bằng thứ tình cảm mãnh liệt và bền chặt, nửa trân trọng, nửa trung thành. Y Sao sinh cho Nô một đứa con trai khoẻ mạnh và cứng cáp, chắc chắn cũng sẽ trở thành một tài công dũng mãnh như cha.

Dân chài vùng này không đi biển trong suốt mấy tháng mùa đông, khi sương mù dày đặc phủ kín quần đảo và những cơn gió bắc lạnh buốt không ngừng rên rỉ, đuổi bầy cá xuống mãi tận miền Nam. Hàng năm vụ cá bắt đầu sau Tết, cùng với mưa bụi và những đợt gió đông nam ẩm ướt. Dân chài ra khơi từ sáng tinh mơ và trở về khi mặt trời đã lặn. Cá đựng trong những lồ đầy ắp được kéo lên nhà bằng dây chão. Đám đàn bà, trẻ con thức đêm mổ cá và muối vào những chiếc chum lớn.

Vụ cá năm nay bội thu. Cá nhiều đến nỗi dân chài phải mua thêm đồ chứa, còn đám đàn bà thì chong đèn muối cá suốt đêm.

Y Sao cũng học được cách muối cá. Hơn một năm qua nàng quen dần với tiếng ì ầm triền miên của sóng, với tính cách dữ dội của dân miền biển và cả những bữa ăn không có lấy một cọng rau tươi. Việc bận bịu với đứa con cũng giúp nàng khuây khoả. Có lẽ nàng chẳng còn gì để phàn nàn nữa, chỉ việc hân hoan trong sự ghen tị của lũ con gái làng chài.
+
Chiếc thuyền của Nô đã khuất từ lâu, đoàn thuyền đi sau cũng chỉ còn là những chấm đen nhỏ xíu. Y Sao trở vào nhà. Nàng nhóm bếp, bắc lên một chiếc niêu nhỏ để nấu cháo cho thằng Y Páo rồi ngồi thừ ra, với những ý nghĩ buồn rầu.

Đột nhiên nàng nghe thấy tiếng hát từ xa văng vẳng:
Ơi hoa vông vang
Nở bên bờ suối
Có nhớ mẹ nhớ cha
Có nhớ bản xa?
Sau bản mùa đông đã tàn
Trước bản mùa xuân đang tới...
Y Sao đánh rơi chiếc thìa gỗ xuống tro bếp. Nàng nhận ra tiếng các bạn nàng đang hát. Y Sao bỗng nhớ đến bờ suối với những bông hoa vông vang nở đầy bên vách đá, nơi nàng cùng lũ con gái thường ra tắm giặt, nhớ ngôi nhà tường đất, mái lợp cỏ tranh của cha mẹ nàng. Trời ơi, nhớ quá đi mất thôi! Y Sao nhổm dậy. Nhưng nàng bỗng nghe thấy tiếng cựa mình của thằng Y Páo. Bàn tay nhỏ xíu của nó quờ quạng kiếm tìm hơi ấm. Y Sao vội vàng chạy đến bên giường, ôm chặt con vào lòng.

Nàng dỗ dành nó một lúc lâu, sau đó lại ngồi xuống bên bếp lửa. Nhưng tiếng hát kia cứ văng vẳng bên tai. Y Sao không chịu đựng được nữa. Nàng đi ra cửa, chống liếp và kêu lên mừng rỡ. Dưới chân đảo cha nàng đang đứng trên một chiếc thuyền con, râu bạc trắng, tay cầm con dao quắm, vừa khóc vừa gọi nàng:
- Cha ơi! - Y Sao nức nở lao đến cầu thang, thoăn thoắt chèo xuống.
Đúng lúc đó thằng Y Páo bật khóc. Y Sao sững lại lưng chừng, hết nhìn lên lại nhìn xuống chân đảo. Cha nàng đang đợi nàng dưới kia. Y Sao muốn bay xuống, dụi đầu vào lồng ngực già nua, yếu ớt của cha và cùng ông trở về ngôi nhà tuổi thơ ruột thịt. Nhưng tiếng khóc ngằn ngặt của con bóp nghẹt trái tim nàng. Y Sao khóc:
- Cha ơi! Con nhớ cha mẹ lắm, nhớ bản làng lắm. Nhưng con không thể để thằng Y Páo bé bỏng của con ở lại đây côi cút. Cha ơi! Cha tha lỗi cho con!

Nàng trèo lên và tưới vào khuôn mặt của thằng Y Páo bằng những giọt nước mắt nóng hổi.
+
Hôm đó, nửa đêm Nô mới trở về. Những mẻ lưới may mắn khiến gã càng đánh càng ham. Nô buộc chiếc thuyền to gấp rưỡi bình thường của mình dưới chân đảo rồi cả hai vợ chồng hì hục chuyển cá lên.

Họ lặng lẽ làm việc. Nhưng có một lúc Nô nhìn vào cặp mắt đỏ hoe của vợ, gặng hỏi:
- Y Sao à, làm sao mà khóc?
- Thằng Y Páo khóc quá, tôi dỗ mãi không được, cũng khóc theo.
Nô khẽ lắc đầu, không hỏi nữa, nhưng hôm sau bỏ buổi cá. Y Sao cũng không nói gì. Đối với Y Sao, Nô vẫn là người xa lạ, mặc dù nàng biết rằng chẳng có người chồng nào tốt hơn Nô.
Bấy giờ Y Sao đang quạt lửa nướng cá trong bếp, còn Nô sửa lại đôi mái chèo. Tiếng mỡ cá nhỏ xèo xèo xuống bếp than hồng nghe vui vui và mùi thơm bốc lên sực nức. Bỗng nhiên Y Sao vùng dậy, chạy ra cửa. Nô nghe tiếng vợ nói:
- Ôi! Anh Pa Lí! Em nhớ anh lắm! Em nhớ cha mẹ, nhớ bản lắm. Anh đợi em một lát, cho em về với anh!

Pa Lí là tên người yêu ngày trước của Y Sao. Nô chợt hiểu. Gã quẳng mái chèo, chồm dậy, lao tới, ôm chặt lấy nàng. Y Sao vùng vẫy như một con thú dữ. Với một sức mạnh khủng khiếp, chẳng hiểu từ đâu, nàng gạt Nô ngã lăn ra đất và chạy ra cầu thang.

Tiếng đứa trẻ khóc thảm thiết vang đến tai nàng. Nhưng Y Sao không dừng lại.
- Con ơi! Hãy tha thứ cho mẹ! - nàng kêu lên qua làn nước mắt.

Trong nháy mắt nàng đã xuống tới chân đảo. Nhưng Y Sao không thể tìm thấy Pa Lí và con thuyền của chàng. Nàng đã bị biển cả lừa dối. Xung quanh nàng chỉ có những con sóng đang cười lên man rợ.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Bức tường cuối cùng


Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại




I.

Hắn đứng dé chân chèo, dòng mồ hôi đùng đục lẫn cát trên lưng ròng ròng chảy. Đôi mắt hắn từ bảy năm rồi đã hết nhìn thấy dòng mồ hôi đùng đục ấy. Nhưng bỗng hôm nay hắn lại nhìn thấy. Dưới nắng, dòng mồ hôi lấp lánh cầu vồng bảy sắc. Đôi tay sau ngần ấy năm trời vẫn chưa hết mảnh dẻ. Kiểu tay học trò. Dù đã đen cháy. Dù vết sẹo hôm cứu thằng Lộ bị đổ cây giờ phồng lên, tím đỏ màu cà dái dê. Những lớp nhựa cây chồng lên nhau, loang lổ như bản đồ địa hình.

Hắn nhìn những vết nhựa cây, mơ hồ nghĩ đến một thứ nhựa khác. Khô. Cứng. Đông lại trong mạch máu, trong tim hắn. Thứ nhựa không thể mô tả được, dù hắn cảm nhận rất rõ. Như người ta cảm nhận nỗi đau. Như người ta cảm nhận nỗi hận thù.

Nhưng đó không phải là hận thù, cũng không phải nỗi buồn hay tuyệt vọng. Có lẽ đó là sự vô cảm. Hắn nhìn, cũng như nhìn dòng mồ hôi trên cánh tay. Nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu. Đôi tay hắn đã trở thành một thứ công cụ, giống như chiếu rìu trên tay hắn. Chiếc rìu Thượng đuôi cá chép, thép xanh biếc.

Thật ra hắn đâu có lựa chọn. Hắn đâu có quyền lựa chọn. Cả chiếc rìu, cả chỗ nằm, cả cái bát men sứt miệng. Hắn đâu có chọn để đến đây. Nói vắn tắt, hắn chẳng hề có quyền chọn thứ gì. Cái rìu là thứ may mắn. Điều may mắn duy nhất của hắn từ bảy năm nay.

Bảy năm, chính hắn cũng đã trở thành một thứ công cụ.

Như một thứ công cụ, hắn bổ những nhát rìu ngắn, thành thục, chắc nịch. Đã có nhiều lần hắn chủ tâm đếm số nhát rìu. Lần nào cũng bỏ cuộc. Nếu hắn có đồng hồ, có lẽ hắn đã đếm số nhát rìu trong một giờ, rồi nhân lên. Nhưng hắn không có đồng hồ. Mà đầu óc hắn luôn có vấn đề. Hồi đầu hắn còn đau khổ, còn dằn vặt. Về sau hắn lại đâm đãng trí. Như lúc này cũng thế...

Trên đầu, mặt trời hừng hực như đổ lửa.
Rừng huyết đàn lưa thưa, trải dài ven bãi cát.
Bãi cát chạy dài đến chân trời.

Bảy năm trước, người ta chở bọn hắn đến đây bằng một chiếc tàu gỗ ba buồm.


II.

Nửa tháng trời lăn lóc trong cái hầm tàu sặc sụa mùi thuốc trừ sâu, mùi rượu, mùi da súc vật lẫn với mùi thức ăn nôn tởm lợm. Cả bọn, không thằng nào không say sóng. Sau này nhớ lại, hắn còn thấy kinh hoàng. Hắn tin rằng ai chưa từng say sóng không thể hiểu hết thế nào là đau khổ.

Nóc hầm tàu làm bằng sắt tây đã mọt rỉ tơi tả, mỗi cú tàu lắc, rỉ sắt đổ xuống đầu như mưa rào. Bọn hắn trải chiếu ngay trên sàn nhớp nháp. Nhiều thằng nôn ngay ra sàn tàu. Hắn cũng nôn. Đầu tiên nôn thức ăn, rồi nôn ra mật xanh mật vàng, cuối cùng chỉ nôn khan. Nhưng rất lạ, khi đã nôn hết, khi toàn thân đã hoàn toàn rã rời, hắn bỗng thấy tỉnh táo. Lúc đó hắn vẫn còn nhiều dằn vặt lắm. Hắn nằm dựa lưng vào cái phao bọt biển, lòng ngổn ngang nhìn những thân thể người ngổn ngang. Trong bóng tối hầm tàu nhập nhoạng, trong tiếng rỉ sắt rào rào đổ xuống.

Những người đồng cảnh với hắn kia, họ từ đâu đến? Vì lý do gì? Họ có biết họ sẽ đi đâu không? Hay cũng như hắn, họ bị dẫn lên tàu như một một con cừu. Không, hắn không tin như thế. Hắn không biết điều gì đang xảy ra với hắn, nhưng hắn biết chắc chắn trường hợp của hắn là một sự nhầm lẫn. Sự nhầm lẫn từ đâu? Hắn không biết. Nhưng hắn tin chắc rồi người ta sẽ hiểu ra. Họ sẽ phải xin lỗi hắn. Người ta thậm chí sẽ phải bồi thường cho hắn. Nhưng những người kia, chẳng lẽ cũng lại là nhầm lẫn. Làm sao người ta có thể nhầm lẫn với chừng ấy con người?

Có thể cha hắn sẽ tìm ra manh mối. Có thể ông đã tìm ra manh mối? Người ta đã nói gì với ông?

Hắn nhớ hôm cuối cùng gặp cha. Nói đúng hơn là lần cuối cùng trông thấy ông. Hắn đứng trong hàng rào, bên cạnh là người quản giáo. Qua những mắt lưới hình lục lăng, hắn nhìn thấy ông từ xa. Vừa đi ông vừa nhớn nhác tìm. Chưa bao giờ hắn thấy ông như thế. Ông cuống quít một phần vì ông chỉ có mười phút để gặp con, nhưng có lẽ một phần vì sợ tình cha con làm ông quên mất câu dặn dò ông chuẩn bị sẵn từ nhà. Ông sợ không kịp nói điều mình muốn nói.

Họ đã nói gì với ông? Họ đã nói gì về hắn? Lòng hắn quặn lại. Tóc ông lơ thơ, xoã trắng xuống trán. Không phải vầng trán rộng và thanh thản mà hắn quen thuộc từ khi chứ nói sõi. Trông ông già sọm đi đến mười lăm tuổi.

"Con cố gắng hối cải. Đừng bao giờ cãi lại các anh quản lý..."

Hắn nghẹn đắng trong cổ. Hắn đã mong chờ ông cháy bỏng đến như thế nào. Hắn mong chờ ông đến không phải để nghe những lời đó. "Con không làm gì nên tội..."- Hắn gào lên như thế.

Người quản giáo dường như đã lường trước, tóm ngay lấy cổ hắn, đẩy vào phía trong. Hắn giãy rụa tuyệt vọng. Vô ích. Hắn chỉ nghe văng vẳng những lời cha hắn nghẹn ngào: "Con ơi, cố gắng hối cải...Các anh ấy khoan hồng..."


III.

Mấy chục con người như bừng tỉnh trước rừng huyết đàn mơn mởn, phủ kín bờ cát, chạy sát tới bờ biển. Bọn hắn cũng chạy lên bãi biển. Tiếng lá rền rĩ trong gió cát. Tiếng rền rĩ không bao giờ ngừng, nghe như tiếng trẻ con khóc, buồn dứt thịt. Lúc đó hắn chợt nghĩ như thế. Bây giờ, khi hắn tin đó thực sự là tiếng khóc thì đã quá muộn, tiếng khóc đã trở thành ký ức xa xôi. Bây giờ trên đảo chỉ còn trơ lại những cái gốc đen đủi nhô lên trên cát trắng.

Người ta dẫn bọn hắn đến một cái trại làm bằng gỗ huyết đàn, mái lợp phên nứa. Mỗi người một cái chõng cũng bằng gỗ huyết đàn. Hai cái giá dài chạy dọc vách, được ngăn ra từng khoang. Hắn đặt những đồ đạc cá nhân lên đó.

Một đống rìu trước trại. Bọn hắn xếp hàng, lần lượt lên nhận. Số phận run rủi cho hắn cây rìu Thượng. Chính hắn khi ấy cũng không biết rằng ở đây cây rìu tốt là một báu vật. Nhờ nó, hắn sẽ đỡ bao nhiêu công sức.

Buổi sáng, bọn hắn dậy trước khi mặt trời mọc, tập trung ăn trước trại, uống nước lá trong một cái chảo lớn rồi xách rìu ra đi.

Huyết đàn là thứ cây thân trắng như bạch dương, vỏ trắng mịn như da thịt đàn bà. Hắn không sao quên được nhát rìu đầu tiên. Gỗ huyết đàn mềm và ẩm ướt, thớ đỏ au như thớ thịt. Nhựa cây cũng đỏ, vì thế gọi là huyết đàn. Hắn giật bắn cả người khi thân cây non tơ rùng mình nghiêng xuống...

Bấy giờ hắn vẫn còn hy vọng. Hắn phản đối, nài nỉ, cầu xin. Hắn khóc. Hắn chỉ còn thiếu quỳ mọp xuống để mà giải thích. Còn họ thì lắc đầu. Họ xua tay, chỉ về phía rừng huyết đàn. "Hãy lao động. Chỉ có lao động mới làm con người trở nên cao thượng" - Tay đội trưởng nói vậy, có lẽ đã một nghìn lần. Chưa bao giờ hắn trông thấy một khuôn mặt hiền từ một cách bất động như thế. Giọng trầm trầm, mắt chớp chớp chân thành và xúc động, anh ta buồn bã lắc đầu.

-Không phải thế! Các anh nhầm rồi! Không phải thế! - Hắn gào lên, nước mắt ràn rụa trên mặt, có lẽ cũng đã một nghìn lần.

- Không phải thế! Các anh nhầm rồi! Không phải thế!

Họ lại lắc đầu. Không ai đáp lại.

Một hôm, đột nhiên hắn hiểu ra. Người đội trưởng ấy có quyền nghe, nhưng anh ta không có quyền hiểu. Ai có quyền hiểu? Chẳng có ai cả. Chẳng ai có quyền hiểu gì hết. Chính hắn cũng không hiểu điều đang xảy ra với mình. Cũng như những người đang chặt gỗ với hắn kia, họ không hiểu điều gì đang xảy ra với họ. Ai hiểu? Ai hiểu? Chỉ có những con sóng lừng lững trườn lên bãi cát.

"Hãy lao động. Chỉ có lao động mới làm con người trở nên cao thượng" - Những tiếng ấy vang lên ong ong trong tai hắn.

Đã bảy năm nay, từ sáng sớm khu rừng đã vang lên tiếng rìu cắc bụp, cắc bụp. Những tiếng rìu chắc nịch, thành thục và vô cảm. Như tiếng rìu của hắn. Những đường rìu loang loáng. Những bộ mặt đen hốc hác. Những cái gáy cạo trọc.

Bảy năm nay bọn hắn dậy trước khi mặt trời mọc. Sau những cái xua tay của họ, hắn vác rìu ra đi. Chiếc rìu Thượng sắc như nước, cán đen bóng như sừng.


IV.

Cũng như hắn, những cây huyết đàn tội nghiệp kia có tội tình gì?

Hôm đầu tiên, sau nhát rìu đầu tiên ấy, hắn thấy chóng mặt. Rồi đột nhiên đau bụng. Một cơn đau bụng quằn quại khiến hắn phải ngồi phịch xuống đất mà thở hổn hển hồi lâu. Khi cơn đau dịu đi, hắn ôm quần đi lên đỉnh đồi.

Dãy nhà tiêu nằm bên kia đồi, hắn phải vòng qua cái chòi trên đỉnh. Hắn quằn quại lê lên đó. Tiếng chó sủa vang. Lũ chó săn được nhốt trong chòi. Chó Lu, sau này hắn biết thế.

Có thể cái chòi đã từng là một ngôi nhà, nhưng mái đã bị gió bão cuốn đi từ bao giờ không ai biết nữa, chỉ còn lại bốn bức tường xây bằng đá hộc. Ông đầu bếp ngày hai lần lên đó, đem cho lũ chó săn những thức ăn thừa và thứ cháo loãng nấu bằng vỏ sắn. Gọi là chó săn, thực ra đó chỉ là một thứ chó Lu đần độn, chân và đuôi ngắn, mõm như mõm lợn. Và người ta cũng nuôi chúng như một thứ lợn thịt. Thỉnh thoảng, sau khi bốc xong một chuyến gỗ lên tàu, hoặc vào những ngày mưa bão không đi làm được, hoặc những khi tay đội trưởng nổi hứng, người ta giết một con chó và say sưa đến tận chiều.

Dãy nhà tiêu đắp bằng đất đỏ, vách cũng làm bằng cành huyết đàn. Gió biển thổi vào ù ù, ném cát ràn rạt vào mông. Hắn ngồi mới được vài phút thì giật bắn người. Một con rắn lớn rơi bịch ngay trước mặt. Một con rắn hổ mang. Hắn cảm thấy toàn thân lạnh toát. Hắn nghẹt thở, bất giác lùi lại, lùi mãi, ép mạnh đến nỗi những cành huyết đàn trên vách hằn sâu vào lưng. Mười phút. Mười lăm phút, hoặc có thể hơn. Hắn đứng lom khom, hai tay bám vào hai cành cây khô, mắt không một giây rời khỏi con vật. Hai mang bành ra như bàn tay người lớn, con vật ngẩng đầu nhìn hắn như muốn tìm hiểu một vật gì kỳ lạ. Không tiến lên, nó cũng chẳng hề có ý định bỏ đi. Khe khẽ lắc lư cái đầu kỳ dị với đôi mắt nhỏ xíu, nó như đang ngẫm nghĩ về một điều gì xa xôi. Hắn buột miệng thì thầm "Rắn ơi, tao có tội tình gì đâu".

Thật kinh ngạc, cái đầu con rắn dựng lại. Hình như nó hiểu ra một điều gì đó. Nó nhìn hắn một hồi lâu rồi nhẹ nhàng trườn đi lúc nào không biết.

Từ hôm đó, đi đâu hắn cũng mang theo chiếc rìu.

Hôm đó, hắn nghĩ mình gặp may. Nhưng về sau, hắn lại nghĩ thực sự con rắn kia đã hiểu. Có khi đó chính là rắn thần. Có lẽ thần không hài lòng khi con người đến tàn phá vương quốc của người. Hắn tự nhủ sẽ không chặt thêm một cây nào nữa. Những cây huyết đàn kia có tội gì? Cũng như hắn, hắn có tội tình gì?

Nhưng hắn đã không thể nào thoát nổi sợi dây xích vô hình, một sợi xích dài vô tận. Sợi dây xích của nỗi sợ. Của sự hèn nhát. Của thói quen. Và của cả niềm hy vọng. Ngày nào bọn hắn cũng dậy cùng tiếng kẻng đầu tiên vang lên từ phía nhà bếp. Ăn sáng. Uống nước trong cái chảo. Rồi đi. Những bước chân chuệnh choạng vì thiếu ngủ.

Chiếc rìu Thượng loang loáng bổ xuống, những nhát rìu ngắn, ngày càng thành thục, chắc nịch. Ngọn núi gỗ trước trại mỗi ngày cao thêm một chút, cho đến khi được bốc xuống tàu, rồi lại cao dần như núi...

Từ lâu hắn không còn phản đối. Không còn nài nỉ. Không còn cầu xin. Thậm chí không còn nhớ nữa. "Hãy lao động. Chỉ có lao động mới làm con người trở nên cao thượng" - Tay đội trưởng vẫn lặp đi lặp lại bằng cái giọng trầm trầm quen thuộc, nhưng hắn không còn nghe nữa. Hắn nhìn những gốc huyết đàn đen đủi nhô lên trên cát trắng.

Bãi cát rộng mênh mông, chạy dài ven bờ biển.

Biển rộng vô cùng.


V.

Cổ khô và bỏng rát. Hắn nhổ một bãi nước bọt vào lòng bàn tay. Bãi nước bột trắng đục, rơi lả lả như vôi bột.

Hắn nhặt một chiếc vỏ ốc, ném về phía biển. Nó quay tròn, quay tròn rồi rơi xuống cát, không tiếng động. Những con sóng vẫn lầm lì trườn lên bãi. Dưới chân hắn, cái rìu nằm chỏng trơ.

Đột nhiên hắn cảm thấy một sự im lặng kỳ lạ. Không còn tiếng sóng vỗ, không còn những tiếng rìu. Không còn tiếng gió thổi. Không còn bất kỳ tiếng động nào.
Trong những giây đầu tiên, hắn không kịp hiểu điều gì đã xảy ra. Và có lẽ hắn cũng không bao giờ hiểu được. Thậm chí hắn cũng không kịp sợ hãi. Hắn chỉ cảm thấy kinh ngạc, hoặc đúng hơn, một cảm giác gần giống như là kinh ngạc. Hình như hắn vừa kêu lên, nhưng hắn không nghe thấy tiếng mình. Hình như hắn gọi to một ai đó, nhưng chính hắn cũng không biết mình vừa gọi ai. Tiếng kêu mất hút trước khi ra khỏi miệng hắn, tan biến vào thinh không, không vọng lại bất cứ một dư âm gì. Xung quanh là một bầu im lặng tuyệt đối. Một sự im lặng tuyệt đối mà chưa từng có ai trên đời này được biết. Không còn tiếng sóng vỗ, không còn những tiếng rìu. Không còn tiếng gió thổi. Không còn bất kỳ tiếng động nào.

Đến lúc ấy, một cơn sợ hãi mới choàng lấy hắn. Chân tay bủn rủn, hắn gần như khuỵu xuống. Một ý nghĩ khủng khiếp vụt đến trong đầu: hay là hắn đã chết? Hắn đã chết? Trời ơi, hắn đã chết thật rồi. Hắn đã chết! Hắn đã chết. Chắc chắn là hắn đã chết. Bầu im lặng rùng rợn kia chính là bầu im lặng trong mồ!

Trong cơn hoảng loạn, hắn nhìn ra xa. Thật kỳ lạ, hắn vẫn nhìn thấy rõ mồn một tất cả mọi thứ xung quanh: cánh rừng, bãi biển, con đường mòn dẫn về cửa trại và đi ngược lên sườn đồi. Hắn vẫn hình dung thấy những đường rìu loang loáng, những bộ mặt gầy đen, những cái gáy cạo trọc. Hắn vẫn trông thấy dòng nhựa đỏ như máu ràn rụa trên lớp vỏ huyết đàn.


VI.

Vậy sự im lặng kỳ lạ này nghĩa là gì?

Hắn vùng dậy. Hắn chạy. Hay đúng là hắn đã chết thật rồi? Hắn chạy mà cảm thấy đất dưới chân đang sụt lở. Đôi chân không còn nghe theo ý hắn. Hắn chạy. Chạy mãi. Hoá ra hắn chạy đến với những đường rìu. Từ xa, hắn nhận ra cái dáng nhỏ thó của thằng Lộ.

Những khuôn mặt bám đầy bụi than, tóc bết lại vì mồ hôi, những khuôn mặt người chưa từng gần gũi, nhưng thảy đều quen thuộc đối với hắn, đang trắng bợt ra dưới nắng chiều và gió cát. Cả khuôn mặt thằng Lộ cũng vậy. Thằng Lộ trở thành bạn hắn, thằng bạn duy nhất của hắn, từ khi hắn cứu nó khỏi một thân cây đang từ từ đổ xuống. ở cái trại này không ai cởi mở với ai. Thế nhưng sau đận ấy, Lộ cũng kể cho hắn đôi điều. Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ thời chưa biết mặc quần, Lộ lớn lên bằng thịt chuột đồng. "Nhưng vì sao mày phải đến đây?" Cả nó cũng chẳng biết.

-Lộ, mày có nghe không, tao nói...- Hắn cố sức để gào lên như vậy.

Thằng Lộ đã không nghe thấy gì. Nó thản nhiên quay đi, đến ngồi trên một gốc huyết đàn. Khuôn mặt nó từ từ quay, lặng lẽ như quay một chiếc bản lề. Như thể nó đã điếc đặc. Hoặc không còn hiểu được tiếng người.

- Không phải thế! Không phải thế!

Những tiếng gầm thét không sao thoát được ra khỏi miệng. Hắn nhảy xổ đến, tóm lấy cổ thằng Lộ làm nó giật bắn người. Hắn đấm, đá, hắn cào cấu như điên như dại, còn thằng Lộ lúng túng chống đỡ. Nó hoa chân múa tay như một con rối, nhưng miệng vẫn không hề mấp máy. Và hắn cũng không nghe tiếng thét của chính mình. Hắn hoàn toàn không còn cảm giác về âm thanh. Mọi âm thành đều đã biến mất, như thể hắn đã không còn tồn tại.

Nắng đã tắt. Bầu không khí đầy hơi nước đã bắt đầu mờ đục, nhưng bầu trời thì vẫn còn trong vắt, cái trong vắt vô cùng vô tận, cái trong vắt đến rợn người.

Hắn ngã phịch xuống đất. Chưa bao giờ hắn thấy trời xa đến thế. Hắn chưa bao giờ tin vào Chúa Trời, nhưng bây giờ cầu mong có một Đấng linh thiêng toàn năng. Chúa Trời, liệu Chúa Trời có nghe những tiếng kêu khốn khổ của hắn hay không?


VII.

Đột nhiên, hắn nhớ đến tay đội trưởng. Hắn muốn nghe thấy giọng nói của anh ta, cái giọng trầm trầm và xúc động mà mới đầu hắn đặt biết bao hy vọng. "Hãy lao động. Chỉ có lao động mới làm con người trở nên cao thượng". Hắn biết rằng bấy nay anh ta vẫn còn nhắc đi nhắc lại câu nói ấy, tuy đã lâu lắm hắn không còn để ý.

Hắn ngồi bệt trước cửa trại, ngay trên đống gỗ mà chờ. Thực ra thì hắn có thể chạy tắt qua cánh rừng để đến gặp anh ta, nhưng hắn không còn đủ sức. Mà có đủ sức, hắn cũng không còn đủ can đảm. Hắn muốn òa khóc, nhưng nước mắt không sao ứa ra được. Những giọt nước mắt đã lâu không lắm không còn chảy trên gò má hắn. Những giọt nước mắt cuối cùng đã rơi, đã khô, đã thấm sâu vào cát dưới đống gỗ cao như núi. Đống gỗ chính tay hắn chặt.

Rừng huyết đàn ngày trước tiến sát đến chân đồi sau trại, trùm lên những tảng đá trắng tinh. Trại ngày trước lút trong vòm lá. Bây giờ trước trại, tiếp theo núi gỗ là một bãi trống rộng mênh mông. Đống gỗ cũng tỏa ra mùi nhựa huyết đàn, thứ mùi tanh tưởi như mùi cá chết.

Hắn cảm thấy cái bóng của tay đội trưởng từ trước khi anh ta xuất hiện chỗ ngoặt của con đường rừng. Anh ta đã già, bây giờ hắn mới nhận ra điều đó. Lưng anh ta còng hẳn xuống. Cánh tay cầm rìu của anh ta đã nặng nề, gần như thõng xuống. Theo sau anh ta là thằng Tòng, thằng Bảo rồi đến những người khác. Họ đi lầm lũi thành hàng một, chậm chạp, ủ dột. Không thấy thằng Lộ đâu.

Trong lòng hắn bỗng lại trào lên một niềm hy vọng vô căn cứ, dù hai hàm răng run lên từng đợt. Hắn mơ hồ chờ đợi một điều gì đó, có thể là một sự thay đổi trên khuôn mặt anh ta - dù sao thì anh ta cũng là một con người. ít nhất, anh ta cũng có thể nói câu nói muôn thưở, với cái giọng trầm trầm, với cái xua tay buồn bã.

Họ đi đến cạnh núi gỗ thì dừng lại. Hắn chợt nhớ đã là cuối tháng. Ngày mai tàu sẽ đến bốc hàng.

Không còn chịu đựng nổi nữa, hắn lao xuống khỏi đống gỗ. Hắn vấp, hắn ngã rồi lại vùng lên, lại chạy. Những thân gỗ lăn xuống phía sau lưng. Hắn lao đến trước mặt đám người. Bãi cát mênh mông đã hóa thành đỏ rực trong ánh hoàng hôn cháy đỏ. Cả khuôn mặt hắn cũng đỏ.

Nhưng hắn bất giác lùi lại như thể người ta lùi lại trước một con rắn độc. Tất cả các khuôn mặt đều bất động. Thằng Tòng, thằng Bảo. Những không mặt như đúc bằng đá.

Người đội trưởng nhẹ nhàng gỡ tay hắn. Cả đoàn người đi qua trước mặt.


VIII.

Hắn nhổm dậy khi trời đã tối. Phải một lúc lâu sau hắn mới biết phải làm gì. Dưới ánh trăng, hắn chạy về trại. Vẫn bầu im lặng rùng rợn. Hắn thắp lên một ngọn nến và đứng sững giữa những chiếc chõng. Hai mươi bảy chiếc cả thảy. Những chiếc màn nâu nhầu nát, loang lổ, tanh tanh mùi nhựa cây và mồ hôi, giờ lẫn vào bóng đêm, chỉ mờ mờ lay động trong ánh sáng chập chờn đỏ quạch của thứ nến rẻ tiền. Những chiếc rìu lớn chất đống ngay dưới chân. Hắn đặt cây nến lên một khúc gỗ, xách rìu, từ từ tiến lại. Chẳng rõ sự kinh tởm hay lòng căm thù khiến máu trong người hắn sôi lên. Bằng tất cả sức lực của mình, hắn bổ một nhát vào chiếc thùng cứu hoả. Nước phọt ra như xối. Những con người đã hoá đá kia, hắn phải cho chúng một bài học, hắn phải cho chúng biết rằng im lặng cũng là một tội ác, và tội ác phải được trả bằng tội ác.

Chỉ bằng một cú nhảy hắn đã đến sát chiếc chõng gần nhất. Lúc vung tay lên, hắn chợt nhận ra thằng Lộ và chỉ một khoảnh khắc đó cũng đủ cho thằng Lộ thoát chết. Lưỡi rìu chặt đứt thành chõng khiến nó đổ sập xuống rồi cắm ngập vào nền đất. Hắn lay mạnh, nhổ chiếc rìu lên. Thằng Lộ văng ra khỏi chiếc chõng, toàn thân mềm như bún, nằm sóng soài trên nền đất. Đầu ngẹo sang một bên, miệng sùi bọt, nó vẫn tiếp tục ngủ.

Tới lúc này thì hắn hoá điên thực sự. Vừa gào thét không thành tiếng, hắn vừa lồng lộn chạy khắp trại như một con thú bị thương. Hắn nhảy thoăn thoắt qua những súc gỗ, dẫm vào vũng nước lênh láng từ chiếc thùng cứu hoả, đạp lên những chiếc chõng, đạp lên cả những thân người đang mê mệt ngủ.

Một chiếc chõng hiện ra ngay trước mặt. Hắn vung rìu lên và nó đổ sập xuống! Một chiếc chõng nữa. Một chiếc nữa. Những cái màn rách toạc. Chẳng mấy chốc, cả cái trại tan hoang như sau một trận đánh.


IX.

Hắn đứng hồi lâu trong cái trại ngổn ngang đổ nát. Mặt trăng đã lặn, nhưng ánh sao mờ mờ cũng đủ để hắn nhận ra những thân người dọc ngang đủ kiểu. Họ vẫn ngủ như chết. Ngoài cửa sổ là con đường mòn dẫn lên đỉnh đồi. Đột nhiên hắn sực nhớ đến cái trại chó trên đỉnh đồi.

Hắn không biết mình đã ra khỏi trại như thế nào. Dưới bầu trời đầy sao, con đường mòn lấp lánh sáng. Hắn đi như chạy, tay vẫn không rời chiếc rìu. Đó không còn là thói quen đơn thuần, mà đã trở thành một cách tự cân bằng.

Chẳng mấy chốc hắn đã lên đến đỉnh đồi. Gió lồng lộng thổi, ném từng đám cát vào mặt, nhưng bốn phía vẫn im phăng phắc. Hắn bỗng cảm thấy lo ngại. Hắn dừng lại mấy giây, nhưng rồi cũng lấy hết sức can đảm để bước vào qua cái cửa vòm.

Đúng như hắn lo ngại, lũ chó không còn ở đó. Chỉ có mùi phân chó bốc lên nồng nặc. Chúng biến đi đâu?

Hắn quẳng cái rìu xuống đất rồi từ từ tiến lại gần bức tường cho đến khi mặt hắn chạm vào đá lạnh. Cái đầu của con rắn hổ mang hiện râ, lắc lư nhìn hắn.

Chính hắn cũng không biết mình đã nói gì với bức tường, nhưng đột nhiên hắn cảm thấy nó khe khẽ cựa mình. Hắn không còn dám tin vào những giác quan của mình nữa. Ngay lúc đó có tiếng đá đang nứt ra khô khốc. Đấy là thứ âm thanh đầu tiên hắn lại nghe thấy. Tiếp theo là một tiếng động long trời lở đất: Bức tường đổ xuống và trước mặt hắn hiện ra một khoảng trời nước bao la lấp lánh sao.

Hắn quay sang bên cạnh và tiếng thì thầm của hắn lại làm bức tường thứ hai đổ xuống. Khoảng trời rộng ra hơn nữa. Những vì sao nhiều hơn và sáng hơn cả trong những cơn mơ.

Nhưng khi bức tường thứ ba đổ xuống thì hắn hoảng sợ. Hắn đang đứng giữa đỉnh đồi, trên đầu là trời sao, ba phía cũng là trời sao nhấp nhánh. Chỉ còn lại bức tường cuối cùng.


X.

Hắn vùng chạy. Nhưng chỉ được mấy bước, hắn lại nghe mặt đất rung lên.

Phía sau lưng, bức tường cuối cùng đã đổ.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Bảng chữ cái


Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại



Có lẽ tôi đã ngủ rất lâu trước khi bị lay dậy một cách dữ dội. Tôi cố nằm thêm, mặc dù đó không phải là thói quen của một người lính cũ. Thường thì tôi bật dậy ngay. Trước khi tôi vào lính, cha tôi, một đại tá từng trải ba cuộc chiến tranh, nhưng cũng là một nhà tư tưởng - một nhà tư tưởng căm ghét ngôn từ kiểu Socrates - chỉ dặn mỗi một câu: "Hãy chồm dậy ngay tiếng còi báo động đầu tiên!". Lời dạy của ông tôi làm theo trong suốt thời gian tại ngũ và cả khi giải ngũ. Nhưng có những lúc ta không làm chủ được mình. Tôi thấy mình đau ê ẩm và phải một lúc khá lâu sau tôi mới chậm chạp mở mắt.
Đột nhiên tôi linh cảm thấy điều gì đó :
- Ai?
Một người đàn ông ngồi yên trên ghế từ bao giờ, ung dung như ông ta vẫn ngồi yên như thế từ lâu lắm, trên chiếc ghế đẩu đã tróc sơn mà ngày trước cha tôi vẫn ngồi khi đàm đạo với tôi. Tay ông ta thu thu vật gì đó màu xám trên đầu gối. Tiếng quát thất thanh của tôi cũng hoàn toàn không làm ông ta bối rối.
- Thế nào, tỉnh chưa? Xin lỗi vì đã đánh thức anh...
- Không, không có gì - tôi nói theo thói quen, mặc dù trong bụng vừa bực bội vừa đầy nghi ngại.
"Ai nhỉ" - Tôi tự hỏi và lúc đó mới nhận ra rằng mình đang ở trong thư viện. Tôi muốn nói cái thư viện cá nhân trên tầng xép với rất nhiều sách quý cha tôi để lại và tôi đã bỏ ra cả tháng trời để kiểm kê và sắp xếp. "Đó là một thư viện trật tự và chuyên nghiệp nhất Hà Nội" tôi vẫn hãnh diện tuyên bố với bạn bè như thế - Thú thực, đôi lúc tôi cũng nói vống số lượng của nó lên với một niềm tin ngây thơ rằng con số sẽ chứng minh cho sự uyên bác của chủ.
Thực ra ông ta vào nhà tôi không phải là điều khó khăn. Nhà tôi luôn mở cửa và cũng không có hàng rào. Tôi căm ghét các loại hàng rào. Tôi từng sống với người Ducơmi và tôi đem về đây quan niệm sống cao thượng của họ. Trong ngôn ngữ của họ không có từ hàng rào. "Nhà tôi nhỏ nhưng không có hàng rào. Bạn hãy đến, rồi hãy đi, như gió". Tôi có câu thơ như thế. Hành lang giữa nhà tôi nằm theo hướng đông-tây, trừ một khoảng thời gian ngắn ngủi giữa trưa, ánh nắng có thể rọi vào chói lọi.
"Ai nhỉ?" Tôi lại tự hỏi và kín đáo liếc nhìn ông già trong lúc ra kéo rèm cửa sổ.
Mặt ông ta rất dài, gầy, tóc thưa thớt, râu bạc trắng, mệt mỏi nhưng chẳng có vẻ gì là độc ác. Bộ pijama rất cũ, ố vàng, trông như may bằng những mảnh giấy xé ra từ một cuốn sách cũ.
Không gian hoàn toàn im ắng, bên ngoài trời tối đen như mực. Tôi ngước nhìn đồng hồ, nhưng nó đã chết từ bao giờ chẳng rõ.
Tôi quay lại, chưa kịp hỏi thì ông già đã nói:
- Anh mời tôi đến mói chuyện về bản thảo cuốn từ điển Việt-Bồ-La...
Ông ta nói và chìa cái gói trên đầu gối. Thì ra đó là tập bản thảo. Ông lật trang bìa, lấy ra một lá thư.
Cả nét chữ lẫn chữ ký đúng là của tôi, nhưng tôi không sao đọc nổi. Sao mình lại viết một cái giấy mời cẩu thả đến thế này nhỉ? Tôi cảm thấy ngượng ngùng. Mình đã gửi thư này từ bao giờ? Và quyển từ điển Việt-Bồ-La nào? Một ý nghĩ hài hước thoáng trong đầu: "Chẳng lẽ ông ta là Alexandre de Rodes?".
Nhưng tôi trấn tĩnh được ngay.
-À, cháu nhớ rồi - Tôi nói dối - xin lỗi, cháu đang ngái ngủ. Bác uống trà nhé...
Tôi pha trà thật nhẩn nha, cố kéo dài thời gian. Ông già nói:
-Nhưng xin lỗi anh, hôm nay tôi muốn bàn chuyện khác, tuy cũng ít nhiều liên quan đến cuốn từ điển. Anh cho phép chứ? Tôi xin trình bày ngắn gọn...
- Vâng, xin mời bác...
- Thế này, liệu chúng ta có thể bỏ trình tự hiện nay của bảng chữ cái đi không?
- ?
- Anh biết rõ đấy, có rất nhiều điều tai hại, hay thậm chí nhiều tai họa, chỉ vì bảng chữ cái bắt đầu bằng chữ A.
- Cái gì? Thay đổi trật tự bảng chữ cái?
- Đúng thế.
- Nhưng bác đang làm từ điển cơ mà?
- Từ điển có bắt buộc phải bắt đầu từ chữ A hay không? Và, từ điển chỉ là chuyện nhỏ...
- Chắc bác muốn nói đến chuyện tranh cãi về chữ E trong sách "Tiếng Việt" lớp 1 chứ gì? - Tôi cắt lời - Thú thật với bác, cháu ớn đến tận cổ chuyện chữ E chữ A ấy rồi.
Tôi đứng phắt dậy xổ ra một tràng đầy phẫn uất:
- Các ông bà tham gia cuộc tranh cãi ấy hoàn toàn nhầm lẫn giữa trật tự của bảng chữ cái với việc dạy chữ nào trước. Dạy chữ E, D hay X trước thì có ảnh hưởng gì đến bảng chữ cái nào!
- Anh không hiểu ý tôi. Chính tôi cũng ớn đến cổ cuộc cãi vã đó. Tôi muốn kiến nghị việc khác hẳn. Tôi muốn thay đổi trật tự bản chữ cái. Nói đúng hơn, tôi muốn có một bảng chữ cái dân chủ hơn.
Tôi hoàn toàn không hiểu ông ta nói gì.
- Thế này nhé - ông ta nói - Nếu trong một đất nước mà anh làm vua cứ làm vua mãi, anh đi cày cứ đi cày mãi, thì có thể gọi là dân chủ được hay không?
- Xin lỗi, cháu không muốn nói chuyện chính trị.
- Không, đây không phải là chuyện chính trị. Đây là vấn đề dân chủ của các con chữ.
- Lại còn vấn đề đó nữa!
- Chứ sao. Tại sao chúng ta cứ phải trói buộc sự vật vào một trật tự nào đó. Tại sao...
- Thôi được rồi - Tôi tìm cớ hoãn binh - Mời bác uống trà đã. Chuyện đâu có đó.
Ông già vui vẻ đồng ý, hình như cũng định tìm cách nào đó giải thích rõ hơn.
Trong lúc chúng tôi uống trà, tôi hết nhìn ông lại nhìn cái thư viện được sắp xếp ngăn nắp của mình.
- Thưa bác, bây giờ cháu xin hỏi. Nếu không sắp xếp theo trật tự ABC thì cuốn từ điển Việt-Bồ-La bác định làm thế nào?
- Làm thế nào đâu phải là điều khó. Làm thế nào là câu hỏi tiếp theo của câu hỏi làm gì. Vậy chúng ta làm gì? Chúng ta phải thay đổi trật tự bảng chữ cái, hay nói đúng hơn là không được giữ một trật tự cố định của bảng chữ cái. Điều đó vô cùng quan trọng nếu chúng ta ý thức được tác hại của việc cố định một trật tự của bảng chữ cái...
Một lần nữa tôi lại nhìn lên những giá sách. Chẳng hiểu tại sao lúc đó tôi bỗng nổi đoá.
- Nói thật với bác nhé, cháu không thấy có gì là tác hại trong việc bảng chữ cái có một trật tự xác định. Ngược lại là đằng khác. Không có nó thì làm sao có tất cả những thứ này? - Tôi chạy đến giá sách và lôi xuống cơ man nào là từ điển, bách khoa toàn thư, danh bạ điện thoại, danh sách hội đồng hương...- Làm sao, bác làm sao với tất cả những thứ này? Bác hãy gọi tên một tác giả đi, cháu sẽ lấy xuống trong chớp mắt!
Ông già ngừng lại, nhưng hoàn toàn không thất vọng. Đợi đến khi tôi ngừng, ông mới khẽ khàng:
- Anh ngồi xuống đi, tôi hỏi nhé. Anh ngày xưa đi tàu, có biết Tùng Quảng không?
Lúc đó tôi mới nhận ra sự bất nhã của mình, bèn ngượng nghịu ngồi xuống.
- Bác người Tùng Quảng à?
- Không, tôi người Sơn Hạ nhưng tôi có một kỷ niệm ở đó, thời Cả Then, chắc anh không biết.
Tôi có nghe nói nhiều đến tên Cả Then, nhưng chỉ biết đại khái ông là thủ lĩnh khởi nghĩa đánh Tây, bị bắt và giết một cách dã man. Nhưng những cái tên quen thuộc khiến chúng tôi trở nên thân tình hơn.
- Hồi đó tôi mới hai mươi bảy tuổi, - ông già nói - đang học trường Sư phạm, nhưng đã tấp tểnh viết văn, làm báo và ngay từ hồi đó đã viết dở cuốn từ điển Việt-Bồ-La này. Năm ấy, sau khi nghĩa quân Cả Then định dùng cỏ khô tẩm nhựa thông đốt tàu Tây bị lộ, Tây cho người lùng sục dữ lắm. Cả Then về sau cũng bị Tây bắt, đem treo cổ. Đêm hôm đó, chúng tôi vừa lên giường thì nghe ồn ào rồi lính tráng ở đâu ập đến, dựng dậy. Vừa bừng tỉnh thì những cái báng súng đã thúc vào lưng đau điếng kèm theo những tiếng quát nạt, sừng sộ. "Thằng Cả Then đâu? Thằng Cả Then đâu, khai ra không chết cả nút". Người ta trói cánh khuỷu đám đàn ông lại, sắp thành hàng giữa sân, còn đám đàn bà thì đuổi cả vào nhà bếp, khoá trái cửa. "Thằng Cả Then đâu?" - Họ dí đèn vào mặt từng người. Chúng tôi run như cầy sấy, sợ đến vãi đái. Một anh sinh viên năm thứ nhất, chúng tôi gọi là dân"tò he", đứng cạnh khóc lóc, van lạy như mưa. Nhưng chúng tôi nào có biết mô tê gì mà khai. Đánh đập chửi bới một hồi, họ lôi chúng tôi vào nhà ăn, chỗ đám đàn bà đang chúi vào một góc vì sợ hãi. Trên chiếc bàn đặt đèn bão, cuộn dây thừng và khẩu súng trường lấp lánh lưỡi lê, một người đàn ông to lớn giọng khàn khàn tuyên bố đếm đến mười, nếu không khai chỗ ẩn náu của Cả Then thì sẽ lôi từng người ra chém, "xem gan chúng mày to đến đâu".
Những thời khắc sau đó căng thẳng và kéo dài như vô tận. Tim tôi đập thình thịch. Nhưng những tiếng đếm ngược khô khốc cuối cùng cũng chấm dứt. Người ta hạ lệnh đem danh sách cùng một thanh kiếm sáng loáng ra, đặt lên bàn cạnh khẩu súng và cuộn dây thừng. Người đầu tiên bị gọi tên là tôi. Chưa kịp định thần, tôi đã bị hai thanh niên lực lưỡng tóm chặt lấy tay, đẩy mạnh ra trước chiếc bàn đặt đèn bão.
Tôi muốn kêu nhưng cổ nghẹn lại. Nỗi uất hận dâng lên trong ngực. Rồi một cảm giác mát lạnh lướt qua sau gáy rất nhanh trước đầu tôi rơi xuống đất và tiếng đám đàn bà rú lên.
Đúng lúc đó cả nhà ăn nhốn nháo. "Bắt được rồi, bắt được rồi". Hoá ra người ta đã bắt được Cả Then trốn trong hiệu đánh giày ở ngay đầu phố.
- Vậy tên bác là...
- "Cái tên không quan trọng...", anh có một câu thơ như vậy đúng không? Quan trọng là từ đó tôi đành bỏ dở cuốn từ điển...Nếu như tên tôi không bắt đầu bằng chữ A...
Chẳng người làm thơ nào không xúc động khi có người thuộc thơ mình.
- Vâng, bây giờ thì cháu hiểu rồi...
- Thì tôi cũng chỉ cần có thế. Thống nhất được với nhau rồi, chúng ta sẽ có cách.
- Vâng, đúng là không thể xem thường được
- Đúng thế, không thể xem thường được.
Ông già nói thế rồi đứng dậy.
- Dù sao thì cũng muộn rồi. Tôi để lại cuốn từ điển anh xem nhé. Lần sau ta sẽ bàn cụ thể.
Tôi đưa ông già xuống cầu thang. Ông đi rất nhanh.
- Anh khá lắm. Tuổi trẻ phải thế. Cũng như tôi ngày trước. "Nhà tôi nhỏ nhưng không có hàng rào. Bạn hãy đến, rồi hãy đi, như gió". Có phải thơ anh không nhỉ?
Chẳng người làm thơ nào không xúc động khi có người thuộc thơ mình.
Tôi mở cửa cho ông già và rùng mình vì lạnh. Mãi lúc đó tôi mới chợt nhớ rằng ông già đã chết.
"Không thể như thế được" - Tôi tự nhủ và chạy lên tầng mái.
Cuốn từ điển vẫn nằm đó nhưng đã cũ đến mức không còn đọc được chữ nào.
Trên bìa chỉ có một vết xám đen. Hình như là vết máu.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Mộng du


Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại



Buổi tối bắt đầu không có gì đặc biệt. Sau bữa cơm tối, tôi uống trà, đọc báo, xem ti vi mươi phút rồi mắc màn đi ngủ. Nửa đêm có ai đó gõ vào cửa sổ. Tôi choàng dậy. Hoá ra là ánh trăng. Tôi sực nhớ đã ngày mười bốn. ánh trăng khiến tôi nảy ra ý định đi chơi. Hồi nhỏ tôi và lũ bạn cùng xóm vẫn có thói quen chơi trăng như thế: mấy thằng bấm nhau giữa đêm khuya, rón rén như những con mèo để khỏi bị người lớn biết, ra khỏi nhà rồi ù chạy lên đồi.
Bây giờ tôi cũng đi rón rén, nhưng hoàn toàn do cảm hứng tuổi thơ đang trở về tràn ngập trong lòng. Tôi bước xuống thềm. Lá vàng vụng đầy trên sân xôn xao lay động như một đàn cá bị lưới quây vào bãi cát. Hai hàng râm bụt dường như dài hơn bình thường. Lối cổng lát gạch cũng rắc đầy lá rụng.

Tôi ra khỏi làng lúc nào không biết, sau đó qua một chiếc cầu nhỏ, rẽ phải rẽ trái vài lần rồi băng qua một khu rừng rậm rạp. Bình nguyên đột ngột hiện ra với những bông hoa dại nhỏ li ti và tiếng chim lóng lánh như thủy nguyên. Xung quanh không một bóng người. ánh sáng rực rỡ đến nỗi tôi không biết đó là một đêm trăng hay một ngày nắng đẹp. Con đường đất gập ghềnh chạy hun hút giữa hai bờ cỏ may màu xám nhạt vẫn còn ướt đẫm sương.

Bỗng tôi đứng sững trước một ngôi nhà khá lớn, tường gạch đất nung, không trát, mái ngói phủ đầy rêu. Bên trái ngôi nhà là khu lán rộng rãi, lợp bằng phên nứa, bên trong có một chiếc máy xay, một chiếc xe đẩy nhiều ngăn mà ở thành phố người ta dùng để bán sách báo và rất nhiều nông cụ. Chiếc máy xay và chiếc xe đẩy đều cũ kĩ, han rỉ đến mức chắc chắn không thể dùng làm gì khác ngoài việc bán cho hàng sắt vụn. Phía sau nhà nhô lên mấy đống cỏ khô. Không có cây cối gì. Ngôi nhà trơ trụi nổi bật lên trên cánh đồng xanh biếc và thoáng đãng.
Chủ nhân chừng bốn mươi tuổi, cao lớn, cởi trần. Hình như ông ta vừa đi làm đồng về, quần xắn móng lợn, trán vẫn còn lấm tấm mồ hôi. Trong lúc chào hỏi làm quen tôi không khỏi ngạc nhiên về diện mạo của ông ta. Thật khó đoán chủ nhà thuộc hạng người nào. Bộ ngực nở, đôi vai rộng gân guốc, hai bắp tay cuồn cuộn và những ngón chân trần bám chắc xuống đất rõ ràng là của dân làm ruộng. Nhưng cặp kính trắng, cái trán hói và cách ăn nói nhẹ nhàng, lịch thiệp lại khiến ta nghĩ rằng ông là người có học. Ông ta bắt tay tôi, tự giới thiệu rồi mời vào nhà. Cái tên ông ta trúc trắc, nghe lạ tai chỉ lát sau tôi đã quên khuấy đi mất. Hỏi lại thì thật là bất tiện.

Phòng khách rộng rãi, bày biện sơ sài kiểu nông thôn xưa. Qua cửa sổ tôi nhìn thấy cỗ máy xay và chiếc xe bán sách bán báo ban nãy.

Chủ nhà tỏ ra là một người xởi lởi và hiếu khách. Ông rót nước ra hai chiếc bát xứ men rạn, giới thiệu đó là loại chè xanh đặc sản của vùng này. Khi nhận thấy tôi chăm chú nhìn ra cửa sổ, ông nói;
- Những di vật ấy là đồ nghề làm ăn của cha mẹ tôi ngày trước. Cụ ông là thợ xay, cụ bà bán sách báo. Họ là những người tốt bụng nhưng đáng thương. Cả hai suốt đời cần cù, tằn tiện và cố hướng cho tôi nối nghiệp mình. Hồi nhỏ tôi thường được mẹ đem ra thị xã để làm quen với nghề bán sách báo. Mười lăm tuổi tôi đứng ra trông coi xưởng máy xay hơn một năm trời. Những công việc đó tôi đảm đương một cách dễ dàng nhưng chẳng bao giờ cảm thấy thích thú. Tôi muốn viết sách và trồng lúa, những công việc thực sự sáng tạo - Ông mỉm cười một cách tự hào - Cho đến khi tạ thế, hai cụ đã không thể bẻ gãy được chí hướng của tôi!

Cốc nước đắng ngắt, tôi ngờ không phải nước chè.

Ông chủ mời tôi sang phòng bên. Đó là một căn phòng nhỏ nhưng sáng sủa. Ô cửa sổ rất rộng mở ra cánh đồng. Một tủ sách lớn choán hết bức tường phía tây, các ngăn xếp đầy những cuốn sách dày bìa đen. Giữa phòng kê một chiếc bàn nhỏ, một chiếc ghế tựa. Trên bàn la liệt sách vở.

Tôi lại gần giá sách, rút một cuốn, lật xem. Cuốn sách được viết bằng một thứ chữ kì dị và khó hiểu.
- Đó là những tác phẩm của tôi - Chủ nhân nói, không giấu vẻ hài lòng.
- Đấy là thứ tiếng gì? - Tôi hỏi.
- Tiếng Khuông Cơ - Ông ta giải thích - Đó là một dân tộc đã bị tuyệt diệt. Bây giờ ngoài tôi ra không ai hiểu thứ tiếng này. Năm tôi mười chín tuổi, một ông già mắc bệnh bướu cổ, người cuối cùng của dân tộc ấy đã dạy tôi. Ông ấy chết lâu rồi.
Tôi ngạc nhiên:
- Vậy ông viết những sách này để làm gì?
Mặt ông ta đỏ lên. Hình như ông ta bắt đầu bực dọc, nhưng sau đó bình tĩnh lại, nói với giọng độ lượng:
- Rõ ràng ông không hiểu gì về nghệ thuật. Tất nhiên tôi viết sách không phải để vứt đi. Đối tượng phục vụ của nghệ thuật bao giờ cũng phải là con người. Nó làm cho con người trở nên người hơn.
- Nếu vậy ông phải viết làm sao để cho mọi người hiểu được chứ? Tại sao ông không viết bằng tiếng Việt?
- Tôi không biết viết bằng tiếng Việt, cũng giống như không biết nói tiếng Khuông Cơ.
- Ông thử dịch ra tiếng Việt? - Tôi rụt rè nói sau một hồi ngẫm nghĩ.
- Dịch cũng chỉ là viết lại mà thôi. Nếu dịch được thì tôi đã viết bằng tiếng Việt.
- Thế tên những cuốn sách này là gì? - Tôi cố hỏi một lần nữa.
- Tôi không biết tiếng Việt gọi là gì. Muốn đọc nó cần phải biết tiếng Khuông Cơ.
Chúng tôi cùng im lặng. Lát sau, để không khí khỏi trở nên gượng gạo, tôi quay sang hỏi chủ nhà về nghề nông. Dễ nhận thấy đó cũng là sở thích của ông ta.
- Ông xem, vụ này nhất định tôi sẽ bội thu - Ông ta vừa nói vừa hào hứng chỉ tay qua cửa sổ - Lúa rất tốt. Hy vọng nó sẽ bù đắp lại công sức tôi bỏ ra trong suốt mười năm qua.
Tôi sửng sốt nhận thấy loại thực vật mọc um tùm trên cánh đồng hoàn toàn không phải là lúa. Lúc này tôi mới để ý rằng đó chính là thứ cỏ gai chất thành những đống cao phía sau nhà.
Trong lúc đó chủ nhà vẫn say sưa kể:
Trong mười năm qua tôi đã gieo cấy hai mươi lần cả thảy. Tôi đã làm lụng như bị khổ sai, chỉ trừ lúc ngồi vào bàn viết. Tôi đã bỏ ra rất nhiều tiền của để mua giống, phân bón và nông cụ, nhưng sản phẩm thu được chỉ là thứ cỏ gai vô tích sự. Thứ cỏ đáng nguyền rủa ấy đốt không cháy nên đến dùng làm củi cũng không được. Nhưng ông thấy đấy, lần này tôi sẽ thành công.

Chúng tôi lại cùng im lặng.

Lần này người nói trước là ông ta.
- Tất cả những gì tôi làm đều dành cho con người. Đó là mục đích tồn tại của tôi. ít ai hiểu được điều ấy. Cha mẹ tôi cũng không hiểu. Họ để lại cho tôi một món tiền lớn và nghĩ rằng tôi sẽ hạnh phúc với cuộc sống đầy đủ và nhàn hạ.

Ông ngừng nói và chúng tôi cùng đi thăm đồng. Chúng tôi không nói chuyện gì thêm nữa, hoặc là có nói nhưng tôi không nhớ. Hình ảnh những cuốn sách bí ẩn và đống cỏ gai choán hết tâm trí tôi, đến nỗi ngay cả việc mình đã trở về ra sao tôi cũng không biết nữa.

Hải Phòng tháng 7 năm 1990
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Chiếc cầu nối hai thế giới


Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại



Thế giới này cái sản phẩm ngoài ý muốn chẳng rõ của Chúa Trời, của các nhà triết học hay của các văn nghệ sĩ, nói cho công bằng, không phải lúc nào cũng què quặt hay bệnh hoạn . Lão không bao giờ nói thế . Lão thậm chí phản đối điều đó, và nếu cần còn có thể đưa ra nhiều ví dụ để phản bác .

Mụ vợ lão vẫn nói, tiền không quan trọng, quan trọng là số lượng tiền . Lão nói, con số không quan trọng, quan trọng là tính chất của chúng . Ở con người chẳng hạn . Khiếm khuyết nói sau, rõ ràng loài sinh vật này có khá nhiều điểm hợp lý: họ có một đôi mắt, một đôi tay, một đôi chân . Chẳng cần tranh cãi, chỉ cần hình dung những con người có một hoặc ba mắt, một hoặc ba tay !.....

Ở loài vật cũng vậy . Chim có đôi cánh . Mọi con mèo không riêng con Mướp xấu số đều có hai đôi chân . Cua có bốn đôi chân, còn rết thì .... Về rết, thú thật là lão không rành lắm, nhưng như lão đã nói, con số không phải là điều quan trọng .

Quan trọng là tính chất của nó . "Đôi ta như đũa có đôi" - Bà ngoại lão hồi trước vẫn thường hát như vậy . Bà bảo chim muông cũng chẳng khác con người . Những người già nói gì cũng đúng, có lẽ vì họ ít ngủ, ít ngủ nên nghĩ nhiều, nghĩ nhiều thì chín . Nhưng cũng có thể đơn giản vì người già thì không còn có thể nói theo ý người đương thời được nữa .

Lão nảy ra ý nghĩ ấy trong những đêm lênh đênh trên sông nước và đã mất ngủ rất nhiều . Không ai hiểu dòng sông hơn những người thuỷ thủ . Về dòng sông, lão nói, dòng sông cũng là một điều hợp lý . Hãy thử tưởng tượng, dòng sông chỉ có một bờ!....


° ° °

"Dù sao thì trái đất cũng lỡ quay rồi" - Tibet Léo Newman chỉ là một thằng điên không hơn không kém, nhưng trong trường hợp này thì ông ta có lý .

Trái đất đã lỡ quay này hoàn toàn không thể coi là hoàn thiện .

Chứ không ư ? Thử hỏi tại sao lại cứ phải có lúc mưa lúc nắng, rồi lại núi lửa, bão lụt, rồi thì còn cả El Nĩno với Đại hồng thuỷ ? Thử hỏi, những sinh vật đáng yêu như con Mướp, với đôi chân mềm, đôi mắt ướt và tiếng kêu mượt như nhung, lại phải chết ?

Mụ vợ lão không bao giờ có thể hiểu được điều đó, cả trước và sau khi mụ bổ con dao rựa oan nghiệt vào cái đốm trắng trên trán con Mướp . Lúc đó lão đang cúi rạp người cạnh đó, đang nghĩ về những dòng sông .

"Con người là sinh vật hoàn thiện nhất, một kiệt tác của Tạo Hoá" - Mụ lải nhải như thế, giọng của mấy gã giáo sư đại học nửa mùa chuyên phân loại gà Tây, gà Ta, gà Đông Cảo, gà Lơ Go và gà mái .

Hoàn thiện ? Thử hỏi có giống nào giết nhau nhiều hơn giống người ? Có giống nào ngu xuẩn đến mức tưởng rằng hạnh phúc là những khối sắt thở hồng hộc, hay những trại giam lỏng bằng bê tông cốt thép ?

Và chẳng cần xa xôi, cứ lấy ngay cái thân thể hoàn thiện của mụ ra mà xét . Tại sao cái khoản ấy phải "chành ra ba góc" mà không phải là đôi góc ? Và tại sao cái ấy chỉ có một mà không thể có được đủ đôi, như đôi tay đôi mắt chẳng hạn ?


° ° °

Gần chục năm rồi mụ ta sống ở tầng dưới, trong cái thế giới hoàn mỹ đã ố vàng và sứt mẻ của mụ . Lão không hề đuổi mụ, và chắc chắn có đuổi thì cũng không thể đuổi được . Thực chất thì chính là cái chết của con Mướp, hoặc đúng hơn hồn ma của nó, đã làm điều đó . Mụ chạy xuống cầu thang, cái cầu thang què quặt, chạy xuống để rồi không bao giờ chạy lên nữa . Lão nghe tiếng mụ hét: "Trời ơi oan nghiệt, tôi nhầm, đáng lẽ tôi phải chém vào củ chuối ."

Củ chuối dĩ nhiên là cái đầu lão .

Thế giới của lão ở lại tầng hai, dĩ nhiên cũng ố vàng và sứt mẻ như thế giới của mụ . Nhưng bản chất vấn đề thì khác hẳn . Tibet Léo Newman nói rằng cái khác của thế giới là do cái khác của những cách thức chúng ta cảm nhận thế giới, là do cái khác của những cách thức chúng ta cảm nhận thế giới mà ra . Mụ vợ lão tưởng rằng thế giới của mụ là hoàn thiện, còn lão, lão biết rằng cả thế giới của mụ lẫn lão đều méo mó .

Hai thế giới nối với nhau, nhưng thực chất là cách nhau bởi chiếc cầu thang què quặt lão vừa nói ở trên . Què quặt là do điều đó không đơn thuần vì nó không có lan can, vôi vữa tróc lở, mà vì bản chất của nó là què quặt . Lão biết rõ điều đó . Đã gần ba ngàn sáu trăm ngày, mỗi ngày đôi bận lão xuống rồi lên những bật thang xây bằng gạch non lõm xuống như lòng thuyền . Mùa mưa nước đọng đầy những lòng thuyền và lão thấy khuôn mặt nhăn nheo của mình lẫn giữa bồng bềnh mây trắng .

Có tất cả mười đôi rưỡi khuôn mặt nhăn nheo như thế . Ngày nào lão cũng đếm và ngày nào lão cũng nhận được những con số không đổi ấy . (Lão tin chắc rằng không phải ai cũng biết cầu thang nhà mình có bao nhiêu bậc .)

Tại sao lại là mười ba đôi rưỡi ? Tại sao không phải là mười hay mười một đôi ? Đó rõ ràng là một ví dụ khác về sự què quặt .

Liệu có khi nào sự què quặt ấy thay đổi được không ? Nếu có, thế giới này sẽ bớt què quặt đi một chút, cũng tức là hoàn thiện hơn một chút . Điều đó có nghĩa là đến một ngày nào đó sẽ có một đôi mặt trời, một đôi mặt trăng, và biết đâu có cả một đôi cái thằng là lão này nữa .

Dù sao cũng là người biết chờ đợi, lão nói bởi lão đã từng là thuỷ thủ . Muốn biết chờ đợi phải biết phán đoán . Rất nhiều người nói rằng biển chỉ có một đôi bờ . Lão nói với họ: Cứ đi rồi biết, nhưng chẳng có ai đi cả, vì thế chẳng ai biết rằng biển cả cũng chỉ là một dòng sông lớn, cũng phải có hai bờ . Vấn đề là phải biết chờ cho đến khi tàu cập bến .

Lão chợt nhớ đến chuyện đếm trứng của Enten . Gã dở hơi, chỉ biết đếm đôi, có một đôi gà mái đẻ và hàng ngày ra đếm trứng . Nếu số trứng chẵn gã hài lòng . Nếu lẻ gã cho rằng bị mất trộm và suốt ngày chửi tên trộm vô hình . Hôm sau số trứng lại chẵn, gã cười khà khà: Tên vô lại không chịu đựng nổi những lời độc địa đã phải đem trứng trả lại .

Dân phố huyện, nghe lão kể chuyện này, chắc chắn chẳng có ai rút ra bài học nào bổ ích . Họ phá lên cười . Lão hỏi họ: "Các ông có bao giờ nghe nói đến đường xoáy chôn ốc của Gót không ?" Họ càng cười . Chắc họ cho rằng lão cũng dở ngươi như gã đếm trứng trong truyện của Enten .

Dĩ nhiên lão chẳng phí công tranh luận với họ, vì có tranh luận cũng vô ích mà thôi . Tàu có đi thì mới tới bến, còn họ, không đi thì sẽ chẳng bao giờ biết rằng biển cũng có đôi bờ .

Không tranh luận nhưng lão chờ đợi . Chỉ những người nắm được quy luật mới biết chờ đợi . Lão đã nói ngay từ đầu, con số không quan trọng, quan trọng là tính chất của nó . Chuyện chẵn lẻ cần phải được hiểu như một thứ biểu tượng: Cái tốt và cái xấu, cái hoàn thiện và cái què quặt không ngừng thay đổi nhau, dường như phủ nhận nhau, nhưng lại kế tục nhau . Số trứng tăng lên, sự vật cũng cao dần như thế .


° ° °

Nhưng thế nào là tốt, thế nào là xấu ? Trong chuyện đếm trứng hoặc đếm bậc cầu thang, câu trả lời không khó lắm, tuy nhiên có những trường hợp khác phức tạp hơn nhiều .

Từ trên cao lão nhìn thấy mụ vợ mang chiếc gầu tôn rúm ró đi ra . Cái giếng ngày xưa hai đứa cùng đào, sau khi trồng một vườn mít, nay là cái duy nhất chung của hai thế giới . Vườn mít sum sê đến mức từ trên cao lão không nhìn thấy cái giếng . Nhưng lão vẫn thấy mụ vợ lão thấp thoáng, liêu xiêu cũng mỏng manh như một chiếc lá . Mụ đã thấp xuống, đã teo đi, có lẽ chỉ còn một nửa . Nhìn mụ chính lão cũng phải băn khoăn: Liệu hai thế giới có tốt hơn một thế giới không ?

Liệu hai thế giới có tốt hơn một thế giới không ?

Lão nhìn mụ, nhìn mãi, nhìn mãi, và, thật kinh ngạc, trước mặt lão mụ teo nhỏ hẳn, biến thành một trong vô số những chiếc lá xanh vàng lẫn lộn vung vãi trên sân .
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Thợ đào đá truyền kiếp


Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại



Lão phải đào cho kỳ cùng, phải làm rõ thực hư - bấy lâu nay lão nằm mơ hay tỉnh?

Hố nhỏ đã thành hố lớn, rồi thành ao cạn, còn xung quanh đất cao dần lên mãi, chất ngất lưng chừng trời.

Nhưng dù có cao nữa, tới tận đỉnh trời, thì lão cũng phải đào cho kỳ cùng, phải làm rõ thực hư - bấy lâu nay lão nằm mơ hay tỉnh?

Nếu tỉnh thì mọi chuyện xảy ra lâu lắm rồi, từ khi lão mới ngoài ba mươi, nhà lão chưa bị bão cuốn đi, còn chỗ này là cây ổi dại, cao ngang đầu người, quả sần sùi như bị mụn cơm, thỉnh thoảng lão buồn tay hái về chấm muối, ăn chát xít.

Đàn ông ngoài ba mươi tuổi chưa có vợ coi như dở hơi. Lão không có tiền cưới vợ, nhưng đào đá ong khoẻ nhất vùng. Lão tưởng chiếc thó (1) có thể làm được tất cả, vì thế vẫn thường tơ tưởng đến cái lúm đồng tiền sâu như tổ cùng cùng (2) trên má cô Bống, con gái ông Cả Lễ.

Trong làng người ta hay đem lão ra làm trò cười. Nhưng lão chẳng thấy có gì đáng cười. ừ thì lão quanh năm sù sụ đôi giày lính (bấy giờ còn chưa há mõm). Nhưng đâu phải cứ đi giầy là nóng. Cha lão cũng suốt đời đi đôi giày ấy - ông cướp được của Tây hồi theo nghĩa quân Đề Thám. Đôi giày khiến lão lúc nào cũng nhớ đến cha. Rồi cả chuyện lão ở trần cũng vậy. Nghề đào đá ong có khác gì đánh vật, suốt ngày mồ hôi mồ kê như tắm, quần áo dài chỉ tổ vướng. Vả lại, tiền công mỗi ngày mỗi hạ, đến hai bữa cơm độn sắn khô với mắm tép còn chưa đủ, nói gì đến áo với chả quần.

Ngôi nhà lá một gian hai chái, nằm tách biệt bên kia sườn đồi. Lão nấu cơm trong nhà, uống nước mưa bằng gáo dừa, lót ổ rơm thay chõng. Không biết ngày trước do làm nghề đào đá nên cha lão dựng nhà ở đây hay do tình cờ ở gần vỉa đá mà làm nghề ấy. Năm lên mười, mẹ mất, lão cũng bắt đầu cầm cán thó.

Lão không có bạn, nhưng trong làng cũng không ai ghét lão. Thỉnh thoảng lại có người ra tìm, nhờ làm giúp những công việc nặng, tỉ như đầm nền nhà, sửa chuồng lợn... Lão ngắc ngắc cái đầu. Như thế nghĩa là đồng ý, và vui lắm. Công xá khỏi phải lo, một bữa cơm rượu là xong. Dân làng cũng nghèo, thường chỉ có rượu với lạc rang. Lão không thuộc hạng bợm rượu, bất quá vài chén con. Nhưng lão thích cảnh khề khà trên chiếu, chân xếp bằng tròn, nghĩa là giống những người đàn ông khác. Không nói với ai, nhưng nếu lâu lâu không thấy người ra lão lại bồn chồn, có ý chờ.

Hôm sửa chuồng bò cho nhà Cả Lễ, lão gặp may. Con gà mái mơ tưởng mất trộm (bà Cả Lễ đã chống nạnh đứng chửi độc suốt một buổi chiều) hoá ra bị rù chết ngoài bờ tre, kiến bâu đầy, chuột khoét cả hai mắt. Cả đời lão mới được ăn thịt gà một lần, hồi cha mất. Thịt lợn cũng chỉ ngày Tết mới dám mua nửa cân bạc nhạc gọi là. Con mái mơ đã già, dai ngoách, nhưng uống rượu hoá lại hợp. Chỉ có thằng Túc lăn ra sân, khóc vào vạo đến sưng cả mắt. Cô Bống từ dưới bếp te tái chạy lên dỗ em, cho nó cái chân lỗ chỗ những tổ mò. Đó chính là lần đầu tiên lão trông thấy cái lúm đồng tiền trên má cô Bống.

Vỉa đá lộ thiên, cách bờ suối không xa. Lão xếp đá thành kiêu, cạnh đoạn hào do cha để lại. Con đường mòn men theo bờ suối. Về phía hạ lưu, xuống dốc Cổn, nghe nói rồi còn đi xa nữa, ra tận biển. Bấy giờ còn Phượng Sò. Lão già chột mắt, giọng the thé, quanh năm bẳn gắt như mắm tôm. Cứ hai ngày một lần, lão lộc cộc đánh xe bò lên - chiếc xe cũng rệu rã và sặc mùi rượu như chính lão - chở đá đi bán cho phu mỏ.

Một hôm lão nghe tiếng thằng Túc. Vẫn tiếng khóc hôm con gà mái mơ của nó bị vặt lông. Hoá ra nó đi tìm bê lạc. Lão vừa trông thấy con bê ấy lởn vởn đâu đây. Con bê tuyệt đẹp, mũi hếch, xoáy trên mông mượt như một khóm vậy nà. (3)

Lão bất giác nhớ đến vị ngọt của thịt gà. Lão bảo:

- Túc, mày có thích ăn bánh đa khoai không?

- Bánh đa khoai như của bà Song bán ngoài gốc đa ấy à?

- ừ, dưng mà to hơn, có nhiều vừng nữa. Mày thích thì xuống suối mà lấy, chỗ hòn đá trắng kia kìa.

Mắt thằng Túc vụt ráo hoảnh. Nó quên bẵng con bê lạc, chạy biến xuống chân đồi.

Dĩ nhiên làm gì có bánh đa khoai dưới đó.

Con bê đang nép mình dưới gốc ổi dại. Khi lão túm lấy tai nó, nó tỏ vẻ mừng rỡ, cọ cọ khóm vậy nà vào đầu gối lão. Nó vẫn chưa biết sợ. Lão vung chiếc thó lên. Thậm chí không nghe cả tiếng xương sọ vỡ. Con bê ngã vật xuống đất, bốn chân từ từ duỗi ra. Cặp mắt ốc nhồi đau đáu nhìn lão như kinh ngạc.

- Chú Tảo, sao giết bê của cháu!

Tiếng kêu thảng thốt của thằng Túc khiến lão giật mình. Hai tay giật bắn, lão từ từ đứng dậy. Không biết mặt lão lúc đó ra sao, nhưng thằng Túc vụt nín bặt rồi bất ngờ vùng chạy. Lão như bừng tỉnh. “Nó là em cô Bống” - Lão chỉ kịp nghĩ vậy. Lão chộp lấy chiếc thó, đuổi theo. Thằng Túc không chạy nổi. Nó bò, tay chân cào cấu như bị bóng đè. Cái gáy nó bé tẹo, loe toe những sợi tóc vàng cháy vì phơi nắng.

Trời ơi! Con quỷ nào đã khiến lão trở nên độc ác và khát máu? Đến tận bây giờ lão vẫn không sao quên được hình ảnh thằng Túc nằm sóng soài trên mặt đất, chân tay doãi ra, chẳng khác nào một con chim non bị ném từ cành cao xuống. Máu rỉ ra hai bên mang tai. Chỉ một nhát cán thó đã là quá thừa với nó.

Lão bế thằng Túc lên tay. Người nó mềm và ấm, có cảm tưởng đang ôm một con chó cún. Bây giờ thì chính lão bị bóng đè. Bập bỗng như đi trên mây, lão leo ngược sườn đồi, bới đất, chôn thằng Túc dưới gốc ổi.

Lão không quên xoá sạch dấu vết trước khi xuống suối. Nước lạnh làm người ta bình tĩnh lại. Cỏ và cành khô không thiếu. Lão nhóm lửa ngay cạnh cây ổi. Con bê vẫn đau đáu nhìn. Hai nhát thó sùn sụt vào mông nó, giữa khóm vậy nà, lóc ra tảng thịt còn nóng hổi, đỏ lòm, ròng ròng máu. Lão róc một cành ổi làm xiên.

Khói bốc lên nghi ngút. Dĩ nhiên lão không biết rằng đó vẫn là thứ khói lửa mà tổ tiên đã nhóm hàng nghìn năm về trước, khi rừng nguyên sinh còn trải ra bạt ngàn hai bên bờ dòng Nhị Hà đỏ ngầu như máu.

Trong sương mù, không gian dần dần ngả sang màu lam xám. A ha, nước miếng tứa ra đầy miệng. Lần đầu tiên lão được nếm thịt bò. Lão vẫn nhớ đó là một tảng thịt. Hai hàm răng to khoẻ đầy bựa cắm ngập vào lớp cơ nhùn nhũn vừa kịp ám khói.

Ngay lập tức lão nôn ộc ra như người say rượu. Mùi gì gây rợn xông lên không sao chịu nổi. Lão ngồi phịch xuống đất. Xung quanh lênh láng mật xanh mật vàng. Lão cảm thấy người lạnh toát, nhơm nhớp, ruột gan lộn tùng phèo. Bên kia đồi trời hoàn toàn lặng gió. Chẳng hiểu sương hay một cột khói im lìm?

Đột nhiên lão rùng mình, lão sực nghĩ đến mùi thịt người. Trong làng người ta thường lưu truyền câu chuyện rùng rợn về ai đó chuyên bắt trẻ con về nấu cháo. Những ý nghĩ khủng khiếp nối nhau. Lão khạc nhổ, oẹ khan, cảm thấy vị mặn của máu tứa ra trong cổ họng. Chính lão cũng không nhớ mình đã kéo xác con bê xuống suối như thế nào. Điều chắc chắn là lão đã quên không cởi giầy. Nước suối lầy nhầy, đen thẫm. Lão dìm con bê xuống giữa tảng đá phủ đầy rêu trơn nhẫy.

Đêm ập xuống rất nhanh cùng với một trận mưa dữ dội. Đúng là trời còn thương lão.

Nửa đêm, trong tiếng mưa rơi, lão nghe tiếng người ồn ào đi tìm thằng Túc. Rõ cả tiếng khóc thút thít của cô Bống con nhà Cả Lễ. Nhà lão không có cửa, đám người cầm đuốc kéo vào nhà, nước rỏ tong tong xuống nền đất.

- Tôi chẳng nhìn thấy thằng Túc, cũng chẳng thấy con bê nào sất! - Lão giả đò ngái ngủ.

May mà không ai để ý đến chân lão đang run bần bật. Không một ai nghi ngờ. Tiếng chân người lép nhép xa dần - họ đi về phía dốc Cổn. Phải hai ngày sau lão Phượng Sò đánh xe lên lấy đá ong mới trông thấy xác con bê trôi mãi xuống hạ lưu, gần tới Thiệu Bàn.

Nhưng lão vẫn không thể yên tâm. Lúc nào đám người cũng có thể bất thần quay lại. Mùi gây thì vẫn không hề giảm bớt, mặc dù sườn đồi đã được mưa gột sạch. Nhiều khi bất giác, lão hoảng hốt quay lại đằng sau. Lão run lên mỗi lần nhìn thấy từ đằng xa thấp thoáng bóng người.

Cuối cùng, lão hiểu rằng mùi gây bốc lên từ gốc ổi. Đúng là mùi thịt người. Dưới đó thằng Túc đang thối rữa. Lão không còn dám vặt ổi về chấm muối nữa. Lão lấy đất đồi đắp lên. Công việc thoạt đầu giống như người ta vun gốc, nhưng rồi ụ đất cao dần, lút cả ngọn cây.

Đến nước ấy thì dân làng đều phải nghĩ rằng lão hoá điên. Người ta bắt đầu đem lão ra làm ngoáo ộp doạ trẻ con. Không ai nhờ lão sửa chuồng bò nữa, chỉ còn Phượng Sò chột mắt là dám đến gần lão mà thôi. Lão quên hẳn lối vào làng. Ban ngày đào đá ong, ban đêm lão lại hì hục vác đất đắp gò. Công việc giống như món cháo lú giúp lão quên đi tất cả (cũng có thể chính thời gian mới là món cháo lú, nhưng đồng thời lại tạo dựng thói quen?)

Không biết tự bao giờ tóc lão đã kịp bạc trắng. Đôi giày rách hẳn, lão đặt lên bàn thờ. (Giá như ngày trước dân làng lại tha hồ đàm tiếu). Tay bắt đầu run, nhưng lão vẫn không thể rời cán thó. Mỗi bữa lão vẫn cố ăn hết ba lưng cơm độn sắn. Phượng Sò chết lâu rồi. Thằng Bản thay cha hai tuần một lần đánh xe lên lấy đá.

Đất đồi cằn cỗi nhưng bát ngát. Lão trồng thêm sắn quanh lều, tự thái lát, phơi trên bãi cỏ. Chiều, lão xuống suối bắt cá. Cá suối nhiều vô kể, bơi từng đàn lấp lánh. Lão lần vào các hốc đá ven bờ. Thỉnh thoảng lão may mắn vớ được một con cá ba gai đã mù cả hai mắt vì già yếu, da trắng nhợt như ngâm nước vôi, đang thoi thóp những ngày tháng cuối cùng.

Lão vẫn không ngừng việc đắp gò. Và lão vẫn nhớ cái tổ cùng cùng trên má cô Bống nhà Cả Lẽ. Một hôm lão quanh co hỏi qua thằng Bản. Nó ngẩn người rồi phá lên cười:

- Cô Bống ấy à? Sắp xuống lỗ rồi. Kia kìa, cháu nội cô ấy đấy!

Lão ngẩng lên và đánh rơi chiếc thó. Trước mắt lão là thằng Túc. Nó đang vào vạo khóc. Vẫn mái tóc loe hoe cháy nắng. Hóa ra nó đi tìm bê lạc.

Lão định nói rằng chẳng nhìn thấy con bê nào sất, nhưng bỗng nhìn thấy máu phun ra lênh láng dưới chân. Một ngón chân cái bị lưỡi thó chặt đứt, chỉ còn lại mẩu da lủng lẳng. Lão vội vàng lê vào rệ cỏ, bứt lá rịt vào vết thương. Bấy giờ lão mới lại nhớ đến thằng Túc. Nhưng nó đã không còn ở đó.

Lần đầu tiên trong đời lão ốm. Trong người gai gai ớn lạnh, lão về nhà sớm, nấu cháo, nhưng miệng đắng ngắt, không sao nuốt nổi. Bên tai không ngừng văng vẳng tiếng khóc của thằng Túc. Mà có phải thằng Túc thật không? Chẳng lẽ nó từ dưới đất chui lên?

Lão ngồi phắt dậy. Hay tất cả chỉ là một giấc mơ, còn thằng Túc bây giờ đang ngồi gặm chân gà? Thế thì may cho lão quá! Ngày mai lão lại có thể vào làng, có thể nhìn thấy cái lúm đồng tiền trên má cô Bống. Biết đâu, sẽ có người nhờ đắp nền nhà. Lão lại được ngồi xếp bằng trên chiếu, khề khà uống rượu với cánh đàn ông.

ý nghĩ ấy khiến lão khoẻ ra. Lão nằm xuống định bụng chờ đến sáng sẽ ra đào gò đất. Cầu trời, đừng có thằng Túc nào dưới đó. Nếu quả thật, tất cả chỉ là một giấc mơ thì lão lại sống y như cũ.

Nhưng lão không thể chờ đến sáng. Chưa bao giờ lão cảm thấy đêm dài như vậy. ổ rơm hình như có rệp. Lão ngồi dậy tìm thó, lần mò ra gò đất.

Mặt trời lên cao lão mới dừng tay. Bụng cồn cào vì đói. Lão quay về lều, ăn qua loa mấy củ khoai sống. Buổi trưa, lão nảy ra một sáng kiến. Lão đem cả thúng khoai và vại nước xuống hố, ăn uống tại chỗ rồi lại bắt tay ngay vào việc.

Hố nhỏ đã thành hố lớn, rồi thành ao cạn, còn xung quanh - đất cao chất ngất lưng chừng trời.

Chiều ngày thứ năm, lão tìm thấy một bộ rễ cây đã mục. Đất bên dưới xôm xốp, lấm tấm trắng như rắc muối. Chẳng có thằng Túc, chẳng có gì ở đó. “Vậy là thằng Túc còn sống!” - Lão mừng rỡ khóc rống lên như trẻ nhỏ.

Đột nhiên lão sực nhớ đến một điều hệ trọng. Lão chặt một mẩu rễ cây, đưa lên mũi ngửi. Rễ cây đã mục, không thể biết có phải là rễ ổi hay không. Vẻ hân hoan trên mặt lão vụt tắt. Lão thẫn thờ một hồi lâu. Rồi lão lại vồ lấy thó. Chiếc thó chưa bao giờ phản bội. Nó sẽ giúp lão đào đến tận cùng. Lão phải làm rõ thực hư, bấy lâu lão nằm mê hay tỉnh?



(1) Thó: dụng cụ đào đá ong.

(2) Cùng cùng: một loài côn trùng làm tổ dưới đất.

(3) Vậy nà: một loại rong nước ngọt.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Lửa trong lòng biển



Ngô Tự Lập

Truyện Ngắn
ĐM: Tiểu Phương Lợi Hại




Kính tặng anh Trần Văn Tú và anh Nguyễn Văn Tiếu




Khi còn là thuyền trưởng chiếc “Sông Lai” cổ lỗ tôi thường qua Tùng Quảng, vùng biển hiểm trở với muôn vàn đảo đá chen chúc như bàn chông, nổi tiếng nhờ phong cảnh hùng vĩ, món ngán(1) chần tái và nhất là những vụ đắm tàu bí ẩn.

Lần ấy chúng tôi vừa ra khỏi lạch Tỉnh thì có thuyền vẫy. Chuyện không lạ, chúng tôi vẫn thường cho dân đào ngán đi nhờ như thế, có khi lẵng nhẵng kéo nhau cả chục chiếc thuyền. Tôi cho tàu chạy chậm lại. Chủ thuyền người cao lớn, mũ trùm kín đầu, khoác áo bađơsuy xám, bằng động tác nhanh nhẹn và khéo léo ném dây sang. Tôi nhìn kĩ, hoá ra đó là một ông già râu bạc như cước. Ông lão khẽ gật đầu, cảm ơn tôi bằng giọng ồm ồm chậm rãi, đầy uy lực, ngồi xuống mũi thuyền, móc thuốc lào ra hút. Thoáng trông đủ biết đó là loại thuốc vùng Sơn Hạ: sợi thái rối, đóng thành bánh, mầu đen sạm vì phơi sương. Cách hút thuốc của ông cũng thật lạ: ông nắm tay trái lại thay điếu, nhét thuốc vào khe hở do ngón tay út tạo ra, tay phải bật diêm, vừa châm thuốc vừa che gió. Vẻ kì dị của ông già kích thích trong tôi máu mê văn nghệ, lại đang trong cảnh sông nước triền miên buồn chán cần người bù khú, tôi khẩn khoản mời ông lên tàu làm chút rượu cho ấm bụng.

Ông già không khách khí, vẫn với động tác nhanh nhẹn như thanh niên, bám cọc bích trèo lên. Rượu Vân đốt thử ngùn ngụt cháy trên bàn. Ông già cởi mũ. Tôi giật mình: đầu ông trọc lốc. Một vết sẹo bóng như xác rắn chạy dài tới gần mang tai. Da mặt ông sẫm màu đồng hun - cái màu có được, theo lời ông, nhờ cá sống, rượu và nước biển.

Nếu như biển cả làm cho con người cứng cáp và phóng khoáng thì rượu lại khiến người ta trở nên vui vẻ và chân thành. Ông già hỏi tôi:
- Chú là thuyền trưởng hả? Hà, trẻ quá nhỉ, còn dư sức lắm. Chú sẽ gắn bó suốt cuộc đời với biển chứ?
Tôi lúng túng không biết trả lời như thế nào. Cảnh sông nước triền miên đã làm tôi ngán ngẩm. Biển cả tàn bạo và tráo trở đã làm tôi mệt nhoài. Bao nhiêu toan tính của tôi đã tan nát như con thuyền nan dưới làn sóng dữ và tôi cũng chưa biết cuộc đời mình còn bồng bềnh trôi nổi tới những đâu.

Dường như đoán được suy nghĩ của tôi, ông lão uống ực một hơi hết bát rượu thứ hai rồi vừa đặt bát xuống bàn vừa nói oang oang:
- ồ! Lão cũng đã từng làm thuyền trưởng, nhưng chưa bao giờ là một thuyền trưởng thực thụ. Hầy! - Đù mẹ biển bạc... biển bội bạc...
Rồi như người trút bầu tâm sự, bằng giọng nói trầm vang của sóng, giờ lại mạch lạc thêm nhờ rượu, ông kể cho tôi nghe những gian truân của một đời sông nước, cứ muốn dứt ra mà cứ bị cuốn vào, mãi đến nay, gần tám mươi tuổi đầu, vẫn chưa thoát nổi mái chèo. Ông lão kể một cách thản nhiên, thậm chí thú vị nữa, tưởng chừng đối với ông chẳng có gì đặc biệt, tất cả cứ phải tuần tự xảy ra như thế, chẳng khác gì bát rượu trên tay ông cứ hết lại đầy.
+
Lão vốn quê ở Két, cái thị trấn ngã ba sông đen đúa, bẩn thỉu nhưng lại được dân sông nước coi như thiên đàng vì nhan nhản tiệm hút, sòng bạc, và những nhà chứa rẻ tiền. Từ nhỏ lão đã thích giao du với những chàng thuỷ thủ ngang tàng và vui nhộn, cùng họ nốc rượu rồi khật khưỡng trên những đường phố lầy bùn và phân súc vật, trêu ghẹo mấy cô hàng xén bằng những lời ca tục tĩu không đầu không cuối hay tham gia những cuộc đánh lộn chẳng hiểu do đâu. Máu giang hồ thấm dần và huyết quản. Năm mười tám tuổi, cái tuổi bồng bột, kiêu ngạo và đầy tham vọng, lão bỏ nhà, theo một chiếc tàu kéo xuống Hòn Chông, thương cảng sầm uất nhất Tùng Quảng thời đó, những tưởng sẽ kiếm chác được vận may giữa đám dân đói khát và những tay anh chị tứ chiếng đổ về.

Cả tuần lang thang, đấm đá nhau giữa chợ chẳng được tích sự gì. Ngày thứ tám, lão đang ôm một ả bán ngán chần trong quán rượu thì vợ chồng tỉnh trưởng đi xem hát về qua. Hình như hôm đó có vở mới, dân tình bàn tán nghe chừng xôn xao lắm. Nhưng lão chẳng bao giờ quan tâm đến bọn phường chèo nhí nhố ấy. Bỗng đâu một gã ăn mày vô phúc mò ra, vai đeo cái bị nặng trĩu những thức ăn nhớp nháp, thiu thối. Từ cái đầu lở loét, nhung nhúc dòi bọ của nó nồng nặc bốc lên mùi cóc chết. Bà vợ quan tỉnh trưởng kinh tởm quá, rú lên rồi nôn thốc nôn tháo xuống vỉa hè.
- Thằng mọi hỗn láo! - Tay tỉnh trưởng gầm lên giận dữ, quật ba toong như bổ củi xuống đầu thằng ăn mày khốn nạn, bắt nó phải sực hết bãi cháo chó mà bà tỉnh trưởng vừa trút xuống kia.
Lão thản nhiên ngồi xem, nhưng khi thằng ăn mày gục mặt xuống đống thức ăn nhầy nhụa ấy thì, mẹ kiếp, máu trong người sôi lên sùng sục. Lão đứng phắt dậy, nhằm vào quai hàm gã tỉnh trưởng. Nhưng một cú đấm chẳng hiểu từ đâu đã nhanh hơn. Chỉ nghe đánh “hự” một tiếng đã thấy đầu quan tỉnh trưởng ngập ngụa dưới bùn. Cái thân hình phì nộn của hắn bùng nhùng trong đống vải bẩn thỉu mà mới đấy là một bộ comlê sang trọng. Lão chưa kịp bàng hoàng thì đã bị một bàn tay cứng như thép lôi tuột vào ngõ hẻm. Lúc ấy mới nghe còi cảnh sát lanh lảnh rúc lên phía sau lưng.

Cú đấm hoá ra là của thuyền trưởng Các, trùm cướp biển thời ấy, người mà ai nghe tên cũng phải giật mình kinh sợ. Trước đó lão cũng đã từng nghe nhiều lời truyền tụng về ông ta và vẫn thầm mong hội ngộ.

Ông Các là người Ducơmi, một bộ tộc vốn từ lâu cư trú ở Tùng Quảng. Họ làm nhà lơ lửng như tổ chim trên vách đá, dưới những mỏm đá chìa ra, để tránh gió mưa và sống bằng nghề đánh cá. Hàng năm, vụ cá bắt đầu khi những cơn gió ào ạt thổi về, báo hiệu mùa hè đã đến. Những người đàn ông Ducơmi hối hả lướt sóng chèo đi trên những con thuyền độc mộc, chỉ để lại những ông bà già cùng đám đàn bà với bầy trẻ nhỏ. Họ rong ruổi theo gió mùa, đuổi theo đàn cá xuống mãi tận miền Nam và chỉ trở về Tùng Quảng khi mùa xuân tới, khi nắng ấm trở về tràn trề trên những đảo đá trần trụi màu xanh thẫm khiến đàn cá vui vẻ quẫy mình trên sóng bạc và con người rạng rỡ niềm vui đoàn tụ.

Năm ấy Các mới 19 tuổi nhưng đã là một tài công lão luyện. Gã thanh niên cao lớn khác người bơi lặn như rái cá, dám một mình đánh nhau với cả bầy cá mập ấy vừa cưới vợ. Gã như điên như cuồng vì tình yêu của cô vợ xinh tươi và suốt mùa xuân vùi đầu trong hoan lạc.
Vụ cá năm ấy dường như đến sớm hơn thường lệ. Một buổi sáng tỉnh dậy, đầu vẫn gối trên đùi bông cúc biển của mình, Các bàng hoàng nhìn xuống nước: những đám mây trắng xốp tinh khôi đang nối nhau vùn vụt về nam. Các bạn chài hối hả sửa soạn đồ nghề nhưng gã vẫn chùng chình không dứt nổi. Mãi đến khi những trận mưa rào sầm sập đổ xuống, Các mới vội vã đuổi theo các thuyền bạn đã từ lâu khuất bóng phía chân trời.

Vụ cá tồi tệ với những mẻ chài đen đủi. Các trở nên cáu kỉnh. Một hôm, chợt nghe lòng buồn rớm máu, gã một mình vượt sóng trở về. Đêm biển động. Gió gào rú thê lương. Các buộc thuyền dưới chân đảo, trong ánh chớp nhìn lên và phút chốc rụng rời: nhà gã cháy tự bao giờ, trên vách đá chỉ còn lại đoạn xích rủ xuống lòng thòng như sợi dây treo cổ. Hỏi ra mới biết chuyện do tay Chánh Mỹ, kẻ vốn có thâm thù với cha Các và từ lâu thèm khát vẻ đẹp hoang sơ của Vi - “Bông cúc biển”. Chánh Mỹ vu cho nhà Các làm hội kín, đang đêm sai lính đến đốt nhà, bắt cả đêm đi. Cha Các bị đập vỡ trán bằng mái chèo, rồi quăng thây xuống biển. Đầu Các giờ cũng được treo giải một món tiền to. Vợ Các không chịu nhục, lừa cơ bỏ trốn vào rừng. Đêm đó trong núi chó sói tru nhộn nhịp khác thường. Sáng ra, người ta bổ đi tìm nhưng không thấy xác.

Các nghe xong lặng lẽ biến đi. ít lâu sau Chánh Mỹ bị giết ngay trong nhà riêng được canh phòng cẩn mật. Cũng từ đó trên biển xuất hiện chiếc tàu “Hoa cúc biển” chạy nhanh như gió. Nó cùng với cái tên Các gây nên nỗi kinh hoàng cho đám chủ thuyền giầu có và những con tàu đầy ắp hàng hoá vẫn thường xuyên qua lại trong vùng.


° ° °

Ông già ngừng kể và tôi cũng phải lên đài chỉ huy kiểm tra công việc trước khi tàu chuyển hướng. Sắp đến Tùng Quảng. Đã thấy đảo đá lô nhô giăng kín chân trời. Gió thổi lồng lộng, thanh bình. Lũ hải âu chao mình trên sóng, cất tiếng kêu lanh lảnh tạm biệt những chiếc thuyền độc mộc đang nối đuôi nhau hối hả ra đi.
Khi tôi trở lại ông già vẫn ngồi im như cũ. Hai bàn tay to lớn, sần sùi như phủ một lớp vảy sừng đặt chồng lên nhau trên bàn. Tôi rót rượu cho ông, và sau đó còn rót thêm hai ba lần nữa trước khi ông kể tiếp.
+
- Lão theo thuyền trưởng Các luồn ra sau chợ cảng. Một chú bé trắng trẻo, có khuôn mặt thanh niên tú, dễ thương (mà sau này lão biết bị câm) đã chờ sẵn trên một chiếc thuyền câu. Lão khi ấy chưa thạo nhưng cũng vớ mái chèo, hăm hở chèo đi.

Cuộc đời thủy thủ nhọc nhằn đầy nguy hiểm nhưng phóng khoáng hợp với bản tính của lão. Lão quen dần với sóng gió, với những đêm thức trắng và cả vị tanh lợm của máu cá tươi uống thay nước ngọt. Chẳng bao lâu lão đã trở thành một con sói biển, biết nhìn màu nước đoán thời tiết, bấm tay tính thủy triều, trông sao trời đi trong đêm tối. Sự nhanh nhẹn và liều lĩnh giúp lão qua mặt hết thảy bọn mạch lô(1) trên tàu, được thuyền trưởng Các coi như cánh tay phải, thỉnh thoảng đứng ra điều hành “công việc” thay ông.

Lúc ấy lão đã thầm mơ tưởng đến một con tàu khác, con tàu của chính mình.
Đám mạch lô chấp nhận địa vị của lão một cách tự nguyện - luật giang hồ tuy tàn nhẫn nhưng cũng hết sức công bằng. Bọn người ô hợp sống với nhau lạnh lùng, không một lời thổ lộ, tất cả giống nhau ở sự tàn bạo thú vật. Chỉ có hai thứ được họ tuân theo, đó là luật giang hồ - một thứ tôn giáo đối với họ - và thuyền trưởng Các.

Thực ra, trái với những lời đồn đại, ông Các có khuôn mặt nhân hậu. Đôi khi lão bắt gặp trong mắt ông ta điều gì đó giống như sự dằn vặt - cái không hề có trong mắt đám mạch lô tàn bạo kia. Ông rất ít nói, dù những lời ông nói ra đều đúng lúc và đầy sức thuyết phục. Chẳng biết có phải nhằm tạo ra một khoảng cách cần thiết với bọn mạch lô hay không mà phòng ông - có hai lớp cửa - lúc nào cũng im ỉm đóng và ngoài ông với Han, chú bé câm, không ai được đặt chân vào.

Hai năm liền tụi lão gặp may, thắng liên tiếp, thu được vô số khối tiền bạc và hàng hoá. Nhưng rồi hết tai hoạ này đến tai hoạ khác ập đến, quả như người nói là “vô đơn chí”. Một chiều u ám giáp Tết, “Hoa cúc biển” đang trên đường về Hòn Gạc thì vấp phải hai thằng phregát(1).
Loạt đại bác đầu tiên trúng ngay boong thượng, nơi thuyền trưởng Các đang đứng, hất ông cùng cả dãy lan can xuống biển. “Hoa cúc biển” chống trả trong cơn tuyệt vọng. Mãi gần sáng, lợi dụng đêm tối, sau khi bảy thằng mạch lô bỏ mạng, tụi lão mới cứu được ông Các và chạy thoát về Vụng Giải.

Tàu chưa kịp thả neo thì nghe tiếng ồn ào khác lạ. Có ai đó rú lên thảm thiết. Lão chạy lên núi, thấy thằng Ban chột cởi trần trùng trục, ngực phơi ra vạm vỡ như ức bò đực, một tay cầm dao, tay kia cầm một cái xác đàn bà ném vù qua mạn. Thì ra đó là một con mụ đào ngán bị đắm thuyền dạt vào từ khi nào chẳng rõ. Khi biết gặp phải tàu cướp biển mụ ta sợ quá, nằm co quắp trốn sau ụ tời neo. Thằng Ban chột ném con dao đẫm máu xuống sàn. Đám mạch lô trở nên hoảng loạn.
(Bạn đọc dù không am hiểu chắc cũng biết rằng dân biển có rất nhiều điều kiêng kị. Biển cả với những tai hoạ khủng khiếp luôn luôn rình rập đã biến họ thành những người mê tín đến độ mù quáng. Người dân biển nào cũng có thể kể cho bạn nghe vô khối tai nạn khủng khiếp chỉ vì tàu ra đi vào ngày lẻ hoặc vì ai đó trên tàu đã liều mạng ăn thịt chó, vịt, mực hay sò. Tuy nhiên khủng khiếp nhất là sự xuất hiện của đàn bà, con gái trên tàu.

- Lão đã nghiệm, quả không sai - những người đi biển lão luyện khẳng định sau khi kể những tai nạn mà chính mình được chứng kiến - không phải vô cớ mà khi đặt tên cho mười hai chòm sao trên Hoàng Đạo các cụ xưa đã chọn tên Trinh nữ cùng với tên những con dã thú).

Lúc bấy giờ đi là tự sát. Nhưng vết thương của ông Các bị sưng tấy vì ngậm nước quá lâu, không cho phép nán lại. ở đây luật giang hồ khắc nghiệt - hay cao thượng? - đã đưa ra lời phán quyết: hãy mang thây mày làm mồi cho cá mập nhưng không được bỏ bạn bè trong cơn hoạn nạn. “Bông cúc biển” nhổ neo lặng lẽ. Ai nấy u sầu, canh cánh linh cảm đến việc chẳng lành.
Quả nhiên, gần trưa phía chân trời xuất hiện một đám mây lạ đang lớn lên nhanh chóng. Phút chốc trời tối sầm lại. Gió đổi hướng và giật liên hồi, cuốn lên không trung những cột nước trắng xoá khổng lồ hình nón. Biển quằn quại như một con quái vật. Con tầu nghiêng ngả trong những đợt sóng hung hãn đang ầm ầm xô tới.

Chú bé Han liêu xiêu bám vào tấm vải dùng băng bó cho thuyền trưởng Các thay gạc. Đúng lúc đó, một con sóng cao như trái núi dềnh lên và chồm về phía mũi tầu. Một tiếng “rắc” khủng khiếp, tưởng như con tầu nát vụn ra từng mảnh. Đồ đạc đổ vỡ loảng xoảng. Những thùng gỗ giằng đứt dây buộc, nước tràn vào lênh láng.
- Han! - Đám mạch lô cùng kêu lên thất thanh khi ngọn sóng tràn qua. Lần đầu tiên lão nghe họ kêu lên như thế - Những tiếng kêu thương cảm của con người.

Qua đám bụi nước còn trắng xoá, boong tầu hiện ra thật ghê rợn: sàn gỗ nứt toác, cột buồm bị bẻ gẫy đôi. Han bị cuốn phăng xuống biển cùng cả dẫy lan can. Dòng nước ngầu bọt chảy xiết giữa hai vách đảo, cuồn cuộn xô vào bãi đá nhô lên lởm chởm như răng cá mập phía trái tầu. Thật may mắn, Han bám được vào một mỏm đá. Lúc đó lão đang đứng trên đài chỉ huy. Một tia chớp loé lên, soi rõ khuôn mặt chú bé câm trắng bệch đi vì khiếp sợ. Hình như Han kêu lên những tiếng gì đó. Nhưng tiếng kêu bị chìm đi trong giông tố.

- Dừng máy! Hết lái trái! Chuẩn bị dụng cụ cứu sinh! - Lão gào lên dù biết rằng làm như vậy là vô cùng nguy hiểm: vòng sang trái con tầu sẽ bị ném vào bãi đá khủng khiếp kia.
Nhưng một cánh tay lạnh ngắt bỗng gạt phăng lão sang bên canh. Đó là thuyền trưởng Các. Lão ngước nhìn và bỗng sởn gai ốc: mặt ông đen thẫm như xác chết, mắt trong veo, long lanh tia sáng của tử thần.

Lão sửng sốt, không tin ở tai mình nữa. Thì ra trước cái chết con người ta mới bộc lộ hết chân tướng. Đám mạch lô làm như điếc. Con tầu khựng lại, bắt đầu vòng sang trái - lần đầu tiên mệnh lệnh của thuyền trưởng tỏ ra kém hiệu lực.
Đôi mắt ông Các như hai hòn than cháy đỏ.
- Hết lái phải! Hai máy tiến! - Không phải ông Các ra lệnh nữa, lần này là tiếng gầm của quỷ sứ, dường như vọng lên từ âm cung, ghê gợn đến nỗi con tầu bất thần chồm lên phía trước và ngoặt gấp sang phải. Lão ngoái lại nhìn và thấy tim mình thắt lại: Han vẫn bám trên mỏm đá, cái sinh linh nhỏ nhoi ấy đang vật lộn trong cơn tuyệt vọng với bàn tay gớm ghiếc của thuỷ thần. Mãi về sau này hình ảnh ấy còn ám ảnh lão không nguôi.

Con tầu vừa lách vào khe núi thì phía sau, nơi nó vừa đi khỏi, một trái núi nữa lại mọc lên, lần này cao gấp bội, rồi đột ngột đổ xuống như một dòng thác. Thật khủng khiếp, so với nó con tầu chỉ là hạt cát mà thôi.

Han biến mất trong dòng nước hung hãn ấy. Loại sóng này về sau lão còn phải chạm trán nhiều lần. Dân Tùng Quảng gọi chúng là “Rồng biển”. “Rồng biển” xuất hiện đột ngột ở những nơi đảo ken sát nhau thành luồng hẹp, với sức công phá ghê gớm và tan đi cũng chỉ trong chốc lát.

Hôm ấy thoát nạn nhưng bọn lão không ai tỏ ra vui mừng. Đám mạch lô xô cả đến cửa phòng thuyền trưởng trong sự im lặng nặng nề, đe doạ. Sự đổ vỡ lớn lao đã gây ra sau những vầng trán thấp bướng bỉnh kia một cơn giông tố còn dữ dội gấp vạn lần cơn giông tố của tự nhiên. Không, không phải do cái chết của Han.

Đám mạch lô đã quá chai sạn rồi nên cái chết - dù là của chú bé đáng thương như Han đi nữa - cũng chẳng làm họ bận tâm nhiều. Cái chính là họ đã phạm vào một điều ghê tởm nhất: Đã bỏ mặc anh em trong cơn hoạn nạn, đã lẩn tránh nghĩa vụ thiêng liêng và cao cả mà mỗi mạch lô chân chính đều khắc sâu vào tim óc từ lúc run run nâng bát rượu máu trên tay. Và chính thuyền trưởng Các, chính thần tượng lâu nay của họ đã đưa họ đến chỗ nhục nhã ấy. Chẳng còn gì hết. Khi cả hai điều ràng buộc đã đứt tung, họ chỉ còn là những con thú không hơn không kém.
Tiếng gót sắt đạp vào cánh cửa.

Ông Các đột ngột bước ra. Đám mạch lô rùng mình lùi lại khi trông thấy khuôn mặt xác chết và cặp mắt trong veo. Cái xác chậm chạp cử động, toả ra một luồng tử khí lạnh lẽo và cất tiếng, giọng ngân nga như tiếng chuông vọng về từ đâu đó xa xăm:
- Các anh em, ta có lỗi với anh em... Hãy tha thứ cho ta... Còn hôm nay ta đã hành động chỉ vì anh em... ta không muốn anh em phải chết.
Cái xác đột ngột dừng lại như tắc nghẹn. Đám mạch lô nhổ nước bọt - van xin là điều hoàn toàn xa lạ đối với họ. Những bàn tay bất giác nắm chặt chuôi dao.
- Anh em, hãy buông dao ra, điều đó không cần thiết nữa đâu! - Cái xác tiếp tục nói: - Đằng nào ta cũng đã chết rồi. Ta không còn tồn tại nữa từ khi Han rơi xuống nước. Ôi, sự sống của ta. Nó đã tắt trong dòng nước xoáy. Vi ơi! “Bông cúc biển” của anh...
Ông Các nói rồi gieo mình xuống nước.

Mãi đến lúc đó lão mới biết rằng Han chính là người vợ của ông.


° ° °

- Lão đã từ bỏ nghề đi biển chính từ lúc đó, khi ước mơ trở thành thuyền trưởng đã thành hiện thực, khi lão đã có một con tàu của riêng mình! - Ông lão nói với tôi khi trở xuống thuyền.
Đã đến Tùng quảng. Tôi chào ông già và tháo dây. Chiếc thuyền tụt lại, nhỏ dần rồi lẫn vào màu xanh của núi.


------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0
Ngô Tự Lập viết rất nhiều nhưng tôi chỉ có được bấy nhiêu thôi, trên thư viện có 02 bài nữa, mong bạn nào có thì post thêm nha.
------Chợ buồn đi bán những vui.-------
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em ???
0