📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn trên các báo 🔒

18 trả lời, 4.909 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 20:18:19Ct.Ly>
Đánh máy: Sao Băng

1. Nguồn: Báo Nhân Dân

Cha và con và… tàu bay


Lần đầu được đi máy bay - với con là dịp khám phá thế giới bên ngoài, còn với cha lại là sự trải nghiệm những cảm giác trong chính con người mình. Nhưng dường như ở đâu đó,

Đã mang vào thư viện
Thân thương
Sống để ăn ^-^
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 20:20:42Ct.Ly>
Cá hóa rồng


Là một tiến sĩ nông nghiệp, nhưng Y phải tự thừa nhận rằng Y chẳng biết gì về chuyện đất đai. Ngay như căn nhà mà gia đình Y đang ở, nếu ngày ấy vợ Y không quyết, thì cho đến

Đã mang vào thư viện
Sống để ăn ^-^
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 20:23:31Ct.Ly>
Nỗi ám ảnh của một người con


Anh bảo tôi kể về những thủ thuật làm giàu ư? Ðiều ấy phỏng có lợi ích cho ai. Hơn thế trong việc kinh doanh, tôi lại chẳng có kinh nghiệm gì đáng kể cho người đời học hỏi cả.

Đã mang vào thư viện
Sống để ăn ^-^
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-25 19:24:55Ct.Ly>
Ký ức mùa hạ


Hoa nằm viện, sốt liên tục, cái nóng dồn lên vầng trán dồ, cái lạnh dồn xuống đôi chân,

Đã mang vào thư viện

Cảm ơn Sao băng nhiều

Thương
Sống để ăn ^-^
0
Chuyện tình của Sức – Son


Gió về. Núi Bặn rùng mình. Lá mỡ, bồ đề lật ngửa nhấp nhánh như quét nhũ vào sườn núi. Từ chân núi gió ào đến thổi bạt lão Hén dúi dụi vào bụi đùm đũm mọc ven đường.
Trước mắt lão, cậu con trai tên Sức đang dìm trong nước bốc từng bốc bùn đắp vạ vào luống khoai nước mọc mấp mé với mặt hồ. Tôm cá va vào người nhảy tanh tách quanh người Sức. Tôm cá động làm cho cậu ta không để ý thấy con ma men đang ngồi trên bờ hồ. Những tiếng gọi dính vào nhau, lão phải cố dứt ra mới rõ lời: "Sức à, Sức à! Nhờ tý".
Sức nhìn lên. Biết ngay lão nghiện lại ra quấy quả mình, ngán ngẩm định mặc kệ nhưng không biết sức mạnh vô hình nào lôi Sức lại gần lão. Chìm nửa người trong hồ nên khi di chuyển nhìn cậu ta như trôi trong nước. "Bác nhờ gì?". Lão Hén nói ngay với giọng bập bều kẻo sợ Sức hỏi chiếu lệ rồi bỏ đi mất: "Tao bán cái Son cho mày mà". "Bác nói dở rồi, tôi không nghe bác". Người Sức lại trôi xa về chỗ cũ. Tuy thế, cậu ta vẫn nghe rõ câu than thở của lão Hén cùng với những tiếng lộp bộp của hai bàn tay đập đập xuống đất: "Khổ quá, tao muốn gả nó cho mày đấy. Nói lừa thì ma xó, ma chài quất chết tao thôi. Mày không tin tao à?". "Tôi chỉ tin bác uống rượu nhiều thôi". "Mày sợ đứa con gái tao chê mặt mày xấu xí à? Tao khắc bắt nó yêu mày mà". "Bác có bắt nổi bác bỏ rượu không".
Lão Hén tán gia bại sản vì nghiện rượu và đề đóm. Nếp nhà sàn cha ông để lại to như cái đình người Kinh toàn gỗ khoai làm cọc, cùn, rẩu, duông...(*) bằng gỗ xẻ đinh lim, sến, táu đến vang, pạt...(*) cũng xẻ ra từ gỗ sồi vàng tâm đều bị lão bán để uống rượu và chơi số đề. Vợ con khổ vì lão, Ðinh Thị Son, 23 tuổi, con cả lão đẹp chói lọi cả mường Tằn, đỗ hai trường đại học phải ở nhà nuôi rượu lão và ế chồng vì cả mường không ai muốn dây với lão. Sức ngửa mặt lên bảo: "Mặt tôi xấu mặc tôi, không cần bác bán con gái cho mà". Lão Hén vội chữa câu nói hớ để nịnh nọt: "Không phải thế, tao thấy mặt mày cũng đẹp chứ không đến nỗi xấu mà".
Nhưng Sức biết mặt mình xấu. Xấu đến ma chê quỷ hờn. Phải gan như con hùm, con gấu Sức mới dám treo bốn cái gương to ở bốn góc lều để ngày ngày tập nhìn thẳng vào cái bộ mặt xấu xí của mình. Xấu đến mức chính Sức cũng phải ghê sợ nhắm mắt lại. Vì biết mình xấu nên Sức mới xin ra ở một mình ngoài núi Bặn. Dạo ấy, núi Bặn nhẵn như chùi. Mất rừng làm cho suối khô, đồng cạn.
Sức đào hào, đắp bờ, rào bằng cây mây, cây song bịt hết các lõng lên núi. Trâu bò không lên phá phách cho cỏ mọc, cây mọc. Thế rồi cỏ cây cũng lên thành rừng.
Rừng tái sinh, rừng trồng đua nhau mọc làm núi Bặn xanh lại. Khe suối từ trong rừng ngày đêm róc rách chảy ra đến đầu Ðát thì nhập lại đổ rào rào thành thác nước trắng xóa. Ðồng Hù từ khi có nước được dân làng cày cuốc để trồng lúa. Từ hai vụ lúa nay thêm vụ màu cuối đông. Hồ cá năm héc-ta này do công sức tiền của bố con Sức bỏ ra. Sức thu cá, còn nước thì cho dân làng bơm lên đồng cao mùa cạn. Bây giờ Sức đã thành tỷ phú lấy ích lợi công việc làm vui, anh cố gắng tránh xa mọi người để họ đỡ sợ vì phải nhìn thấy mặt mình. Anh quay lên giục lão Hén: "Bác về đi, tôi không mua con gái bác đâu". "Mày cho vay ít tiền, tao hứa sẽ gả nó cho mà". Nhưng Sức kệ, cứ công việc mà làm, mặc cho lão ngồi đấy rồi nằm luôn xuống đấy mà ngáy.
* * *

Chủ tịch xã dẫn tốp nhà báo ra gặp Sức. Họ đeo vác cả máy quay phim chụp ảnh. Sức ra máng nước lần rửa chân tay và bảo chủ tịch xã: "Anh đưa khách lên lều đi".
Ở bốn góc nhà Sức đều treo bốn cái gương lớn. Ngay ở cầu thang vào anh ta treo cái gương to nhất cao bằng đầu để thấy rõ từ chân lên đầu. Anh nhà báo truyền hình hỏi: "Anh treo lắm gương thế?". "Ðể tập nhìn vào cái mặt mình mà". Phóng viên định chĩa ống kính để quay phim Sức. Cậu ta xua tay quay mặt đi: "Không được mà, mặt tôi xấu lên ti vi thì phản tuyên truyền chứ". "Nhưng anh làm được việc lớn, tư tưởng anh đẹp kia mà". "Các anh chỉ được quay phim chụp ảnh đằng sau lưng tôi thôi". Quả nhiên, trong cuộc phỏng vấn người ta chỉ nhìn vào sau lưng chủ nhân. Chủ tịch xã hỏi: "Cậu làm con rể ông Hén thật đấy à? Nhất cậu đấy, có con vợ đẹp". "Sao anh hỏi thế". "Thấy bảo có ông mối đem lễ đến nòm nhỏ (**) rồi mà". "Họ bịa ra để giễu tôi thôi". "Nhưng cậu có thích nó không?". "Thích cũng không được thì không thích đâu". Lúc xuống móng chủ tịch xã sờ vào giữa háng của Sức vừa bóp vừa nói: "Ðược đấy, cứ ngỡ cậu không có". Sức cười nhưng nhìn như mếu, nói: "Cái anh chủ tịch này".
***

Lão Hén ngồi bệt xuống nền nhà hầm hố rác rưởi nhoe nhoét từng bãi cứt gà, cứt chó. Lão dựa lưng vào vách nứa, bẻ dần phên vách tước đóm hút thuốc lào vặt. Mắt lão ướt nhoèn. Lão giụi mắt, chửi con gái: "Tiên sư con mế đẻ ra mày, xinh đẹp mà ru rú trong xó mường này thì nên cơm cháo gì? Bảo theo chúng nó đi ca-ve lắm tiền không đi". Son vừa quét nhà vừa cãi: "Bố bảo tôi đi ca-ve bán trôn nuôi miệng à?". "Ðồ hèn, thấy chúng nó làm ăn lắm tiền ghen tức vu vạ người ta à?". Lão Hén quen thói chửi vợ con lải nhải, Son nghe quen tai bỏ mặc không buồn cãi lại. Chỉ vì thương mế và lũ em lít nhít cô phải ngày ngày đầu tắt mặt tối làm giúp mế nuôi đàn em khỏi thất học. Nhưng nuôi chúng học phổ thông còn được, nay mai lên đại học coi chừng lại như mình thi đỗ mà phải bỏ. Ðã mấy lần bị bố đuổi bắt đi làm ăn theo người ta nhưng may lần nào cô cũng kịp trốn về nếu không đã bị bán qua biên giới và vào nhà chứa ở một khu nghỉ mát bãi biển, mà đã vào đấy thì tã đời không ra nổi...
Ðứa em gái Son hớt hải từ đâu chạy về khoe: "Cả nhà ơi, con đỗ đại học rồi".
Tin vui làm Son nhíu mày buồn rượi thở dài. Su ôm lấy vai Son hỏi: "Chị không mừng cho em ư?". Son lắc đầu: "Chị chỉ thương em thôi. Nhà mình nghèo thế này lấy gì nuôi em học đây". Lão Hén đập điếu ục vào vách văng cả nước và sái thuốc ra ngoài: "Học hành gì, đi làm ca-ve mà lấy tiền". Bà Hén từ dưới bếp gọi hai con xuống bảo: "Chuyện quan trọng chớ nói với bố mà hỏng việc". Son nói: "Tôi tủi thân vì có ông bố". "Ðừng trách ông ấy". Mẹ Son nói: "Ông ấy ngỡ ca-ve là nghề cao quý mà. Còn việc cái Su có được đi học không, phải trông vào chị Son mày thôi". Son chập mặt lại, hỏi: "Mế bảo tôi đi làm ca-ve lấy tiền nuôi nó à?". "Không, chỉ cốt mày ưng làm con dâu ông Sức Lực thì khắc có tiền. Họ khắc đưa cho dăm chục triệu". "Bố, mế bán tôi cho tay Sức mà lấy tiền. Tôi thà chết còn hơn". "Nhà ấy những bốn năm con trai toàn đi làm ở nước ngoài. Ðứa nào cũng giàu. Cả thằng Sức làm trang trại cũng giàu thế kia mà". Ðứa em gái cũng ôm lấy cổ chị, nói: "Chị ừ hộ em đi. Học về em khắc đền ơn chị". Son cắn chặt đôi môi một lúc mới nói theo kiểu nói dỗi, nói liều: "Thôi được, tôi lấy thằng nào cũng được".
Một chú em ra đập cả bảo Sức: "Tôi ra coi lều hộ, anh về mà cưới vợ đi". "Tao lấy vợ à, đứa nào thèm lấy tao?". Cái Son con ông Hén mà, anh đang sướng rơn còn vờ vịt à?". Lòng Sức chộn rộn nửa lo nửa mừng. Anh ta đoán đây là việc mua bán ép uổng. Mím chặt môi rồi anh ta nói: "Tao xấu thì xấu thật nhưng không thèm phải đi lừa nó đâu". "Anh nói vớ vẩn rồi, nó tự nguyện mà. Anh về xem".
Sức về nhà được người ta xúm vào cắt tóc, cạo râu, tắm rửa, mặc quần áo mới để chuẩn bị đón cuộc động phòng. Không muốn làm trò cười cho thiên hạ, Sức vào phòng mình ngồi. Căn phòng được trang hoàng lộng lẫy, rực rỡ các mầu trắng, đỏ và rảy nước hoa nức mũi. Ðể giết thì giờ, Sức lôi chồng báo ra bàn ngồi đọc.
Nhụ nhọa tối, Son được dẫn vào "buồng hạnh phúc". Cửa buồng được ai đó đóng sập lại, cài chốt bên ngoài. Son sững người giật lùi hai bước khi thấy tấm lưng bè và chiều nghiêng của khuôn mặt vẹo vọ, lẹm cằm, mồm vâu và đuôi mu mắt phồng lên như trái táo tàu của Sức. Dù đã tính trước nhưng cô vẫn bị bạt vía, người run như cầy sóc bị sấy. Lúc sau, cô nắm chặt tay, mím chặt môi giống như hô khẩu hiệu để củng cố tinh thần. Giờ đây, cô không còn đường lui nữa. Em gái đã cầm tiền đi nhập trường. Cô đành chịu thiệt để cứu em, cứu cả nhà. Có oán trách gì thì cũng đã muộn rồi. Coi như đời mình bỏ đi. Dù sao cũng được cái tiếng lấy chồng chứ không phải đi ca-ve. Tuy vậy, nghĩ đến sắp phải động phòng với Sức, phải ôm Sức cô đã ngán tận xương sống! Nhưng biết làm sao nữa. Thà cứ nhắm mắt cho xong chuyện đi. Càng nhanh càng tốt để coi như đã qua một tai họa. Nghĩ thế, cô bèn nhắm mắt lại cởi phăng hết váy áo chín tầng. Tụt hết cả đồ lót rồi vạch mùng leo vội vào giường nằm úp mặt vào tường chờ đợi trong sự phấp phỏng ghê sợ. Cô vừa muốn nhanh chóng thoát nạn lại vừa lo Sức mò lên giường. Chờ đợi trong lo sợ dăm ba phút mà cô có cảm giác đã trải qua mấy tiếng đồng hồ đến mức không chịu nổi cô phải gắt lên: "Anh còn ngồi ỳ ra đấy để đày đọa tôi à?".
Sức nhìn lại, giật mình thấy đống vải áo xù xù dưới nền gạch. Rồi tấm thân lõa lồ trắng lốp của Son đập vào mắt Sức. Anh ta giật nảy người sắp ngã, người run như sắp bị cắt tiết, mắt nhắm nghiền lại. Sau một lúc tĩnh tâm lại, Sức bèn vơ đống quần áo dưới nền nhà vứt vào giường trong khi phải quặt cổ quay mặt đi hướng khác và nói: "Mặc quần áo vào đi. Cô khinh tôi nhiều thế à?".
Son co người khép chặt hai đùi và hai bàn tay bưng lấy ngực. Bao nỗi phấp phỏng lo sợ trút đi hết. Cô vơ vội quần áo ấp vào người. Thấy Sức tắt đèn tuýp cho căn phòng tối bớt lại rồi anh ta tiếp tục chúi đầu vào cái đèn bàn chăm chú đọc báo thì cô yên tâm mặc quần áo vào. Cô chỉ còn thấy mệt mỏi rã rời. Rồi cô thiếp đi lúc nào không biết. Mãi khi bật thức vẫn thấy Sức đang chăm chú đọc báo. Cái quạt máy được chĩa thốc vào giường từ lúc nào, còn anh ta chịu ngồi bức, mồ hôi mồ kê nhễ nhại rớt từ cằm xuống tờ báo lộp độp. Son ngồi dậy thò cổ ra khỏi màn, nói: "Anh vào giường nằm ngủ cho mát để tôi ngồi thay cho?". Sức che tờ báo lên mặt, nói: "Cứ ngủ đi. Mai tớ lại ra ngủ ngoài trại rừng. Cậu không phải ngủ chung với tớ đâu mà sợ".
***

Son xách cặp lồng cơm canh và phích nước ra cho Sức. Cô thấy Sức mặc quần đùi, áo may ô đang bốc bùn vạ vào luống đất ven bờ trồng khoai nước. Mặt hồ bị cá quẫy răn reo. Cái bóng của Sức dưới đáy ao cứ uốn éo đứt khúc chắp nối liên miên. "Lên nghỉ ăn cơm đã anh Sức này". Son gọi. Sức quay mặt đi, nói: "Cứ để trong lều rồi về đi, kẻo trông thấy tớ lại sợ, về không ăn được cơm".
Son không sợ, đi thẳng vào nhà. Cái nhà sàn nhỏ dựng nép vào ven rừng mỡ. Tuy tạm bợ, nhưng nền thướng được Sức nền cơ bằng vôi bột nhẵn thín như nền xi-măng. Quần áo cũng được Sức ngoắc gọn gàng trên những cái mắc áo tự tạo bằng gốc cây ngoằn ngoèo như những cái gạc hươu buộc gắn vào vách gỗ. Leo lên sàn cô thấy cái giường đôi kê liền cái bàn to để đầy sách báo. Son lật từng cuốn ra xem thấy toàn sách kỹ thuật về chăn nuôi cá và ươm trồng cây lấy gỗ. Cạnh sách là các chồng báo Tiền phong, Văn nghệ, Gia đình và Xã hội. Son lấy ra xem tờ báo Tiền phong số mới nhất.
Lúc sau với quần áo chỉnh tề, Sức đi lên nhà, đi nghiêng cố quay mặt ra hướng khác. Anh ta lấy cặp lồng cơm canh ra đầu nhà ngồi ăn dưới bóng mát của rừng mỡ. Son nhìn qua kẽ vách, hỏi: "Anh vẫn mua báo thường xuyên à?". "Ừ, thích thì cứ mang về nhà mà đọc".
Hôm nào Son cũng hai bữa xách cơm ra cho Sức. Không bao giờ Sức chịu đến gần Son. Tính anh ta không muốn làm khổ người khác. Son biết ý, hỏi: "Anh sợ tôi hay sao mà cứ tránh mặt thế?".
Một hôm Son có ý trêu Sức bằng cách mặc một cái váy đen ngắn và áo khoét rộng cổ để hở ra hai cặp đùi và hai cánh tay trắng nhễ nhại. Cô khẽ khàng xách cặp lồng cơm đến sát sau lưng Sức mới lên tiếng: "Nghỉ ăn cơm anh à". Sức nhìn lên giật mình suýt ngã ngửa. Con dao trên tay anh ta rơi xuống đất. Vẻ trắng ngần mỡ màng tươi trẻ của Son làm anh ta mất bình tĩnh run lên bần bật. Sợ nhìn lâu không chịu được sẽ hành động dại dột bị coi thường nên anh ta vội quay mặt đi. Hai tai đỏ như phải phát. Sức nói, giọng hơi gắt: "Cậu cứ để đấy. Về đi". Son cười, đặt cặp lồng cơm xuống đất túm cánh tay Sức, lôi lại bảo: "Anh Sức, anh ghét em thật ư?" Sức nhắm bên mắt lành xua tay nói: "Có cậu đang ghét tớ thì có". "Bận gì mà em ghét anh. Ai cũng bảo anh hiền khô lại làm kinh tế giỏi, được lên báo, lên ti vi liên tục".
Sức ngồi quay lưng về phía Son. Vừa ăn anh ta vừa nhìn lên khu rừng mỡ lợp xanh um sườn núi. Sức nói: "Nhờ cậu mai thuê người đốn tỉa bớt gỗ kẻo cây dày quá chậm lớn kia kìa". "Người ta bán hết rừng từ lâu, sao anh vẫn giữ?". "Bán lỗ vốn tớ không bán. Tớ dong cho gỗ to, nay mai mua máy thuê thợ lập xưởng mộc tại đây. Tớ sẽ khai thác dần để sản xuất thành hàng hóa, ăn từ gốc đến ngọn mới có lãi lớn". "Thấy bảo mỗi năm anh thu lãi ở hồ cá hơn trăm triệu kia à?".
Sức chép miệng: "Tớ có nhiều dự định lắm nhưng chưa có người tin tưởng giúp việc. Lũ em tớ đổ xô ra nước ngoài làm thuê, chả đứa nào muốn ở nhà làm ăn với tớ. Giá trong số chúng nó có đứa học thông minh như cậu. Học xong về quản lý giúp tớ thì nhất".
Son chẹp miệng, nói: "Nhưng mà em nghèo, không có tiền ăn học".
Vẻ suy tư, Sức chậm rãi, nói: "Nếu cậu chịu hợp tác lâu dài thì tớ có thể đầu tư cho mà đi học. Nhưng học xong phải về hợp tác làm kinh tế với tớ".
Son đứng bật dậy, đến trước mặt Sức nói: "Nào ngoéo tay".
Sức vội quay mặt đi, xua xua cái thìa lên trời, nói: "Không ngoắc tay mà phải viết giao kèo, có dấu xác nhận của ủy ban hẳn hoi".
Ðể bố mẹ chồng tin, Son chuyển hết đồ thô ra lán để cùng ăn, cùng ở và làm việc với Sức. Không muốn ép uổng Son trong chuyện chăn gối, Sức vẫn chủ động nằm ở cái giường khác.
Thế rồi, Sức mua cái xe máy cho Son ngày ngày xuống thị xã học lớp đại học kinh tế tại chức ở Trung tâm giáo dục thường xuyên. Tan học, Son về ngay, không thích giao du vì cô không muốn Sức phải bận tâm về mình. Càng ngày cô càng gắn bó với Sức. Cô nhận thấy mình không thể sống thiếu Sức. Ðêm đêm thấy Sức trằn trọc, cô cũng không ngủ được. Có lúc không đừng được cô hỏi: "Khó ngủ hả anh? Hay là sang đây nằm em quạt cho".
Có tiếng lịch kịch và hơi thở gấp. Rồi lại im lặng. Lúc sau mới thấy giọng nói đứt quãng của Sức cất lên: "Ðừng, cậu phải... phải tốt nghiệp đại học đã".
Một hôm, Sức đưa cho Son cục tiền, bảo: "Cậu đưa cho gia đình đem trả nợ cho bố mẹ tớ đi". "Không, Son xua tay. Họ đã lừa bán em cho nhà anh thì họ cũng lừa số tiền này thôi, không chịu trả nợ đâu". "Thế thì cậu trực tiếp đem trả mà". "Không. Phải để mắc nợ em em mới chịu khó học hành".
Một hôm, Sức bắt lên con cá mè năm cân bảo Son mang về biếu bố mẹ vợ nhưng Son chối: "Ðừng anh ơi. Cho ăn quen mui, họ lại ra xin, em xấu hổ lắm".
Hai người bây giờ đã thực sự tin tưởng ở nhau và sống quấn quýt cùng nhau hơn.
Một buổi trưa, Sức đang chăm chú đọc báo. Son buông sách bút xuống bàn, kéo vội gấu áo lót lên tận vai, nghiêng mảng lưng trần trắng nhẫy ra trước mặt Sức, nói: "Gãi hộ em cái anh".
Sức bỗng giật mình đứng dậy. Ðã quay mặt đi nhưng không nén được, Sức lại phải quay lại nhìn. Sức xấu hổ đỏ mặt về hành vi nhìn trộm của mình. Anh ta nhắm mắt lại, lùi xa vài bước. Những vết sẹo trên mặt Sức đỏ như hoa mở co kéo xô lệch vào nhau. Một lần nữa Sức quay mặt lại, đang định sờ vào người Son lại rụt tay vào. Sự day dứt làm hai hàm răng của Sức cắn chặt lấy môi dưới. Anh ta cố kiềm chế. Vì không tin vào khả năng kiềm chế của mình nên anh ta phải hét to: "Không. Cậu đi đi. Cậu đừng giễu cợt tớ nữa. Tớ cũng là thằng người, có phải gỗ đá đâu mà đùa". Sức vừa nói vừa đấm thùm thụp vào cột nhà. Anh ta muốn đấm vỡ tay cho thật đau để quên đi cảm xúc đang sục sôi trong lòng. Máu anh ta đang sôi. Lòng tự trọng đang bóp nghẹt trái tim anh ta. Anh ta vừa muốn được yêu lại không muốn người khác phải hy sinh coi thường đùa giỡn mình. Sống chung nên Son hiểu lòng Sức. Cô từ hàm ơn mà kính trọng mà yêu mến. Một tình yêu bị giằng xé, kiềm chế đến mức phải trỗi dậy. Cô nhảy chồm đến. Hai tay bưng hai má Sức, vặn khuôn mặt anh ta thẳng lại, đối diện với mặt mình. Son nói với đôi môi bập bều như muốn khóc: "Anh nhìn thẳng vào mắt em đây này... anh đã tin em chưa?".
Son bèn áp môi vào mặt Sức hôn chùn chụt một cái rồi ôm chập lấy Sức. Hai tay Sức thõng xuống, mặt anh ta thần ra. Những cánh hoa tròn lại nở đỏ trên mặt Sức. Hai tay Sức quờ quạo trên lưng vợ. Rồi như mê man, anh ta ôm ghì lấy Son, ôm chặt đến khó gỡ ra nổi. Sức hít lấy hít để lên đầu, lên tóc, hai má, cổ và đôi vai tròn của vợ. Lần đầu tiên anh ta hiểu thế nào là tình yêu.

(*) Dầm, xà, quá giang đến giát sàn... gọi theo người Mường.
(**) Ăn hỏi.

Tác giả: Nguyễn Hữu Nhàn
Sống để ăn ^-^
0
Thách đấu


Vài ba năm một lần, chọn tiết cuối thu, chẳng nhân dịp gì, chẳng vì một cái chuyện gì cả, tôi lên đường về thăm làng Mơ. Vì sao lại phải cuối thu tự tôi cũng không biết nữa, nhưng mà cứ thế thôi, thường là ngay sau ngày đầu tiên gió heo may. Xưa đạp xe, giờ thì xe máy nhằm hướng mặt trời sẽ lặn. Qua Nhổn, qua Phùng, qua núi Sài Sơn, qua đồng Bưng Cấn, rồi ngược xa lên nữa phía Ba Vì.
Đã ba chục năm hơn rồi còn gì, và dù mỗi năm mỗi chút đổi khác nhưng mà nhìn chung thì vẫn vậy, đất trời vẫn thế, con đường, dòng sông, đồng ruộng. Loáng thoáng những mới mẻ nào đó ở phố huyện song chẳng bao lăm. Trường cấp ba mái ngói đã thay cho mái gianh, nhưng cảnh trường vẫn đơn sơ như thế. Những hàng xoan mà chính tay chúng tôi đã đốn xuống để lát nóc hầm nay lại thấy mọc bao quanh sân. Xế cổng trường vẫn là đầm sen thuở nọ. Đường liên huyện vòng qua bên kia đầm gặp ngã ba Đồng Rạng với lối nhỏ rẽ phải mà tất nhiên là cũng không có gì thay đổi chạy về làng Mơ của tôi. Làng Mơ trên đồi Giàng. Gần trăm bậc tam cấp xẻ vào vách đồi đá ong dẫn lối lên đình. Dưới chân đồi phía bên cổng đình trông xuống là đồng bằng trải rộng. Vào những buổi chiều tà, nhất là những buổi chiều thu, sương mù dâng cuồn cuộn dẫu làm lu mất tầm nhìn nhưng lại khiến cho đồng bằng dường như càng rộng ra hơn, và sau sương, những làng Ạch, làng Chàng, làng Ngọt bọc kín trong các lũy tre hiện lên mờ mờ nom như những chiếc thuyền buồm cổ xưa đang từ từ trôi trên biển chiều. Ở đây, khi ráng chiều còn chưa lụi hẳn sau Ba Vì, đằng đông, phía trời Hà Nội bởi quầng sáng đèn điện mà dường đã bình minh. Từ đây về Hà Nội đường cái quan thì xa nhưng đường chim bay thì gần. Bom nổ trong lòng thành phố, sóng nổ tức thì thúc dội về làm rùng mình mặt đất dưới chân tôi. Bao nhiêu bom nổ bấy nhiêu cột khói, hồi ấy từ trên làng Mơ đồi Giàng này tôi nghe thấy và đếm thấy rõ mồn một.
Gia đình tôi hồi ấy chia hai ngả. Chị gái và em trai theo mẹ sơ tán lên Thái Nguyên, còn tôi theo cơ quan cha về làng Mơ. Ở nơi sơ tán chẳng bao lâu thì cha tôi được điều sang Đông Âu làm việc, thành ra nguyên ngôi nhà gạch ba gian địa phương bố trí cho riêng ông thuộc cả về tôi. Cha mẹ thuận tình để tôi được một mình ở lại làng Mơ. Đã năm cuối cấp, tôi không muốn phải chuyển trường, với lại mười tám tuổi đầu rồi thừa sức lo thân. Mà thật ra nào có phải lo gì. Mức sống con nhà cán bộ "bìa A Tôn Đản" dẫu chẳng ê hề thừa mứa nhưng dư đủ để cho tôi ngày ngày ngoài sự học hành chỉ phải gánh thêm mỗi một việc là rong chơi.
Êm ấm và sáng tươi biết là nhường nào quãng đời ấy. Không chịu thiếu thốn, không một chút vất vả nhọc nhằn, hoàn toàn vô tư lự, tôi dễ dàng ưa thích đời sống nông thôn. Cảnh vật miền quê được ghép vào tâm trí tôi y như được trang trí trong những truyện ngắn thời ấy viết về đề tài nông nghiệp. Đồng lúa, lũy tre, dòng kênh, bãi dâu, dế mèn, bươm bướm, tiếng sáo diều, tiếng gà gáy, tiếng kẻng hợp tác, tổ chim sẻ, hang chuột đồng, khoai luộc, ngô nướng, ngó sen... Lao động, hát ca, không một giọt mồ hôi nước mắt.
Thậm chí chiến tranh cũng mang gương mặt tươi vui giúp làm rộn rã thêm lên những tháng ngày bình yên của tôi hồi đó. Hồi đó cứ vài ba hôm lại được thấy một trận không chiến trên lưng trời, rồi cứ vài ba hôm lại một tên Mỹ vọt khỏi máy bay đeo dù sa xuống sông, xuống ruộng. Dân quân thúc kẻng gọi cả làng đi bắt giặc lái. Tiếng hò reo vang dậy. Mặc dù tiếng gầm hú của các loại ma Mỹ nhiều lúc nghe dựng cả tóc gáy, nhưng tôi chẳng đời nào chịu hèn nhát chui hầm, luôn luôn tôi liều lĩnh chạy lên đỉnh đồi Giàng để thỏa thích xem cho tường tận hết tầm mắt toàn cảnh những cuộc giao tranh hùng tráng trên trời xanh giữa máy bay và máy bay, giữa máy bay và cao xạ.
Hồi ấy giá mà học hành kha khá hơn một chút thì tôi đã thật sự là thoải mái mọi nhẽ. Nhưng cũng y tình trạng của tất cả những năm học trước đó, suốt năm lớp Mười tôi đội sổ hầu hết các môn. Đại số, hình học, lượng giác, văn, sử, tiếng Nga, vật lý... tất tật, không tài nào tôi kham nổi, tôi không hiểu cái gì hết. Tự mình mà phát nản mình. Có điều là tôi chẳng bận lòng. Bằng vào vị thế gia đình mình thì gì chứ cái sự vào được đại học, nếu thiết tha, đối với tôi chẳng quá khó. Nhưng tôi cũng chẳng thiết. Đang được tự do một mình một cõi, cứ ung dung mà hưởng chứ tội gì phải âu lo nghĩ ngợi mệt đầu. Vả lại, dẫu học hành bết bát tôi vẫn cứ là trai Hà Thành độc đắc trong lớp. Không thơm cũng thể hoa nhài, ngoại trừ điểm số các bài kiểm tra còn thì tất cả các phương diện khác tôi ăn đứt mọi người. Mặc kệ học lực thế nào, tôi tin chắc trong mắt mọi người tôi chẳng hề là cái thứ lẹt đẹt, trái lại. Đám học trò chốn quê lẽ tất nhiên không thể nào lại không phục tôi, không thể nào lại không mến chuộng con người tôi. Chẳng hạn như là bọn con gái. Chẳng hạn như là Duyên.
Phải nói là vừa thoạt gặp, Duyên đã cảm tôi. Mới sơ tán về, nhập học vài hôm, tôi đã gần như là giằng được Duyên ra khỏi những bạn học đã nhiều năm rồi của cô. Cứ vậy nghiễm nhiên chẳng cần phải có cử chỉ gì, kể cả sự tử tế làm quen, tôi đã nhanh chóng chiếm lĩnh tình thân mến của cô gái xinh nhất trường, xinh nhất cả trong vòng vài mươi dặm quanh đây nữa.
Bây giờ điểm lại quả tình tôi cũng không thể nhớ hết được những nét hấp dẫn của mình hồi đó. Nhưng tôi nhớ tất cả những chiều chuộng Duyên đã dành cho tôi. Khác với thời nay, học trò hồi đó, nhất là ở quê, rất ngại và rất tránh cái chuyện bạn bè trai gái chỉ hai đứa, vậy mà Duyên đã dễ dàng chịu cho tôi tự nhiên như không ra mặt sóng đôi với mình. Tôi thì tất nhiên chẳng xá gì ai. Ngay ngày đầu vào lớp là chọn ngay chỗ ngồi cạnh Duyên. Dọc đường đi học, tan trường cũng vậy, luôn luôn tôi và Duyên. Trong lớp, ngồi sánh vai, tôi thoải mái quay cóp bài kiểm tra của Duyên. Bài tập về nhà, Duyên cũng cáng gần như tất cả cho tôi. Khi ốm phải nghỉ hoặc khi trốn học, tôi cậy Duyên ghi chép bài vở. Những hôm lao động, phải việc nặng là tôi ngầm nhờ Duyên. Đời tôi, trước đấy cũng như về sau này, không hề có được một người bạn nào thân thiết và tận tình cho bằng Duyên hồi ấy.
***

Hồi ấy ở làng Mơ, nếu không kể tôi là dân Hà Nội sơ tán về thì chỉ được mỗi Duyên học nổi lên cấp Ba. Ở đây hồi ấy lên được cấp Ba là cả một sự không vừa bởi lẽ làng Mơ vốn không phải đất học. Trong làng, con trai con gái gia cảnh dù thuận lợi thế nào cố lắm cũng chỉ nổi cái bằng lớp Bảy là tốt rồi. Vậy mà Duyên thậm chí về sau đã vào đến đại học, thậm chí sang học hành đỗ đạt tận bên Đông Đức. Có thể nói rằng ở Duyên mọi sự đều không như là lẽ ra cô phải như thế.
Có thể ngày nay đã khác rồi chứ còn thời đó tại miền quê tôi sơ tán, vẻ đẹp thiên nhiên không nuôi dưỡng vẻ đẹp của con người. Vất vả lam lũ, thiếu ăn đứt bữa từ nhỏ, từ nhỏ đã phải quần quật làm lụng, quanh năm suốt tháng đầu tắt mặt tối, tóc cháy da sém, các cô gái trong vùng hầu hết kém nhan sắc. Một mái tóc mượt mà, một gương mặt ưa nhìn, một nước da sáng đều là lạ lùng. Đến như Duyên thì đã thành ra là một sự quá đáng, một điều trớ trêu. Còn hơn cả trớ trêu nữa, bởi nỗi xinh xắn như thế mà cô lại là con gái bếp Vệ, một con cóc già gớm guốc, xấu xí thô lậu không ai bì nổi. Chẳng những vậy, ông bố của Duyên còn là phần tử xỏ nhầm giày đi lính cho Tây thời tạm chiếm. Cải tạo trở về lão ta vẫn tiếp tục làm cho lý lịch của con gái thêm nặng căn bởi cái tội nhất quyết không chịu vào hợp tác. Trong khắp cả hai xóm của làng Mơ hồi ấy chỉ duy nhất hai bố con bếp Vệ là hộ cá thể.
Nhà, lão cũng cất riêng ra một xó. Hồi ấy hai xóm làng Mơ đều ở cả về phía đông đồi, độc có mỗi mình nhà của bố con bếp Vệ, chẳng thuộc xóm nào, nằm lẻ loi bên mạn tây lưng đồi. Nhà ba gian, sơ sài, mái tranh vách đất. Quanh nhà không rào giậu cũng chẳng vườn tược gì, chỉ hai cây cau cạnh giếng, một cây ổi ở đầu hồi. Nhà cửa nom tuyềnh toàng như vậy nhưng bếp Vệ là kẻ kiếm được, có của ăn của để. Ngôi nhà của lão bề ngoài có vẻ như là bị xa lánh, thực ra rất được thiên hạ ái mộ, bởi vì đây là quán cuốc lủi độc nhất của cả vùng. Cuốc lủi, song bếp Vệ nấu lậu công nhiên. Muốn uống chơi một cút hay muốn cho say nhè một giỗ cả chục mâm cứ dò đến lò bếp Vệ. Thường thì người ta xách chai đến mua về, nhưng cũng có thể tùy hứng lần đến ngồi nhâm nhi trốn đời suốt ngày ở gian giữa túp nhà tranh. Chỉ có điều tuyệt đối không được gây ồn làm ảnh hưởng đến cô con gái của chủ quán đang miệt mài đèn sách ở gian trong.
Cái sự lão Vệ cấm cung con gái là một trong những đầu đề để đàm tiếu của dân làng. Từ ngày lên thấu tới cấp Ba, Duyên được bố tha hết việc nhà, không phải làm lụng gì hết, chỉ học. Học chí chết, học tối ngày. Hồi ấy bởi vì chốn quê chưa được lốm đốm ánh điện như bây giờ nên ngọn đèn dầu ở bàn học của con gái rượu bếp Vệ nơi góc tây đồi Giàng luôn luôn một mình một chấm sáng vò võ rọi rất sâu vào canh khuya, thiên hạ có thể nom thấy được từ rất xa, ngay cả trong những đêm dài trời mưa. Tội nghiệp cô gái. Chăm chỉ cỡ cô ta quá thể là đáng thương. Dân làng kháo rằng bếp Vệ bắt con gái còng lưng học, học đến không ngóc đầu lên được như thế là cốt để sau này có thể thay mặt lão ngóc đầu lên. Đến nỗi những sinh hoạt ngoại khóa của trường của lớp, trừ phi không thể không tham gia, còn thì Duyên đều bị bố bắt phải bỏ. Bạn bè cả trai lẫn gái ở lớp đều bị ông bố của cô làm cho không dám bén mảng đến tìm cô ở nhà. Chỉ duy có tôi là lão không làm dữ, và chỉ khi bạn bè với tôi thì Duyên mới phần nào được nới lỏng lồng cũi.
Không hiểu vì sao mà được như thế tôi cũng chả cần biết. Sáng sớm tôi vòng qua bên kia đồi đón Duyên cùng đến lớp. Buổi trưa đưa cô về. Bếp Vệ thế nào cũng phải nhất thiết rước tôi vào nhà, tử tế mời mọc cho bằng được tôi nếm chơi một món nhắm nào đó lão vừa nấu. Với toàn thể thiên hạ lão đều mày tao, với tôi, lão gọi cậu. Bẩm cậu. Lão còn thân tình, rất đỗi tin cậy chịu cho tôi chiều chiều đón Duyên qua "nhà riêng" của tôi để học nhóm.
Dĩ nhiên vẫn chủ yếu là Duyên phải học. Tôi thì chẳng cố, có cố cũng chẳng vào. Nhưng mà tôi rất thích được ngồi ôn bài vở với Duyên, hai đứa bên nhau trong căn nhà vắng.
***

Dạo đầu, mới sơ tán về, buổi sáng đi học, tôi cùng Duyên theo lối tắt qua đồng Rạng, ngang cổng làng Ngọt gặp Hưởng, ba đứa cùng nhau đến lớp. Sang học kỳ hai lớp Mười, được cha gửi từ bên Tây về cho một chiếc xe đạp Mifa cực điệu, ngất ngưởng tôi diện lên chạy sáng choé con đường quê. Tôi có xe, Hưởng từ đấy một mình đi con đường nhỏ qua đồng lúa. Tôi thì lai Duyên theo đường huyện, vòng vèo, xa hơn, những ngày mưa không đoạn nào bị lầy lội, ngày nắng được bóng cây che. Chỉ có hai đứa với nhau thôi cực kỳ dễ chịu mà lại luôn luôn là chúng tôi đến lớp trước Hưởng.
Hưởng "gà nòi". Hưởng "thiên tài nhà quê". Cả hai biệt danh ấy đều là tôi đầu têu gán cho niềm tự hào của lớp. Không chỉ của lớp, Hưởng còn là của toàn trường, của cả huyện nữa. Đỗ đầu thi toán giỏi trong tỉnh, Hưởng lên thi ở cấp toàn miền Bắc và cũng đoạt giải, nhì hay ba gì đó. Song tay trạng nguyên này là đứa tôi ghét đặc. Giỏi thì làm cái gì chứ. Giỏi nhất lớp nhưng cũng khó coi nhất lớp. Thấp bé đen đúa, còm nhom. Quanh năm tứ thời chân đất, quần áo có lẽ chỉ độc một bộ, vá chằng. Đến lớp mà như đi cày. Mà cũng đúng thế, Hưởng chính cống một anh thợ cày, tan trường là xuống ruộng, con trâu đi trước cái cày theo sau. Là bí thư chi đoàn nhưng rất kém đường nói năng, lời lẽ đã vụng về lại nặng trịch cái giọng làng Ngọt không giống ai.
Tuy nhiên, sau này ngẫm lại, tôi phải tự thừa nhận rằng thái độ của mình hồi ấy coi thường Hưởng chẳng qua là vì tức tối, mình dốt hắn giỏi.
Nói gì đi nữa, những điểm năm của Hưởng vẫn đã khiến tôi rát mặt. Không hiểu bằng cái tài thánh nào, thời gian đâu ra mà giữa chồng chất bao nhiêu công việc đồng áng phải cáng, hắn vẫn hết sức chỉn chu bài vở, trăm thứ bà giằn kiểm tra với thi cử hắn vẫn luôn điểm cao nhất lớp. Khi còn bộ ba trên đường đi học với nhau tôi đã bực mình không chịu được cái lối của Hưởng chỉ cứ mãi hoài có mỗi chuyện học với chuyện điểm, ôn bài với truy bài. Chịu mãi rồi cũng có hôm không chịu được. "Đã bao giờ mày thấy cái ổ điện chưa mà cứ luôn mồm ôm với lại oát thế hả?", tôi nhạo. Và cục cằn làm hắn chưng hửng: “Mày giỏi kệ mày. Tao với Duyên cũng đã ôn bài cả chiều qua, làu làu rồi, thừa hiểu rồi, quái gì mà phải cần mày làm thầy".
Thú thực là ngay buổi đầu tiên đi với Duyên đến trường, qua cổng làng Ngọt gặp Hưởng nhập vào đi cùng, tôi đã lập tức thấy khó chịu. Tôi thích là thích Duyên chứ nào thiết cái thứ mà cô ta gọi là "bộ ba chúng mình". Mà Hưởng cũng vậy, tôi nghĩ, tuy bằng mặt nhưng trong bụng ắt hẳn hắn không khoái gì tự dưng có thêm thằng tôi xen vào. Trước khi có tôi xen vào, trên đường đi học ngang qua cánh đồng này, chỉ có Duyên và Hưởng. Hai đứa đã đi cùng nhau như thế từ ngày mới vào cấp Hai, đã hằng bao nhiêu năm rồi, đã thành cái lệ của hai đứa, phải nói là khăng khít. Tuy nhiên tôi nhanh chóng nhận thấy là thật ra cũng không phải khăng khít gì lắm. Đôi bạn quá trái nhau. Không chỉ ả cao anh thấp ả trắng nõn anh gầy gò đen xịt mà tính nết cũng cọc cạch.
Duyên tâm tính vô tư, hồn nhiên, nhẹ nhõm. Cứ ra khỏi nhà, xa khỏi ánh mắt của ông thân sinh hung tợn là cô hơn hớn lên ngay, vui vẻ ríu rít nói cười đủ chuyện. Còn Hưởng thì cứ hễ sự trò chuyện mà lạc ra khỏi hai đề tài làm bài với làm ruộng là hết ý, là ngậm hột thị. Với tôi đã đành, với Duyên hắn cũng chỉ biết ấp úng với lại cười trừ. Khi vào trong lớp, tuy ít lời nhưng Hưởng không phải đứa lầm lỳ, cũng như mọi đứa bạn khác thôi, nói năng chuyện trò, chơi đùa, cãi lộn. Song cứ ở bên Duyên là hắn tự dưng vừa như người lớn hẳn lên lại như nhãi ranh hẳn đi. Lời lẽ lúc rụt rè lúc cứng như gỗ, cử chỉ lụng vụng, lóng ngóng. Tôi thấy rõ là hắn sợ cô bạn của mình luôn luôn e mất lòng, chẳng bao giờ làm trái và nói trái ý cô. Có thể nói là trong nội bộ của bộ ba chúng tôi, cô nàng thì hết mực chiều tôi, còn anh chàng thì hết mực chiều cô nàng.
Đến cái hôm được tôi thông báo rằng kể từ sáng mai đừng đợi nhau nữa, "mày cứ đường đồng này mà đi, tao lai Duyên nên phải đường cái đi vòng". Hưởng không nói gì cả. Dĩ nhiên là hắn không vui rồi, tôi biết nhưng bởi Duyên vui vẻ tán thành ý tôi tách hội ra như thế cho thuận đường, đỡ sức và đỡ thời gian, đúng hay không thì cũng như mọi khi cô muốn thế nào hắn phải chiều thế nấy.
Vả lại có gì là trọng đại. Ban đầu trong lớp mọi người có bàn ra tán vào chút ít, chỉ trỏ, trêu chọc này nọ, nhưng cũng chỉ thế thôi, ai mà để ý mãi. Duyên thì rõ là rất thích đi học bằng xe đạp. Mất đi cái nếp quen thuộc ngày ngày có Hưởng trên đường tới trường đã không làm cho cô phải băn khoăn một tẹo nào. Tôi thì tất nhiên là cũng không hơi đâu mà áy náy. Dù không thể không tự thừa nhận rằng mình đã cố tình chơi trội Hưởng, nhưng còn quan hệ của hắn với Duyên, tôi tự thấy là mình đã chẳng hề ác ý chọc gậy bánh xe. Mà sự thực là thế. Không lẽ chỉ vì mấy cây số tôi đưa Duyên tạm tách ra mà hắn phải lấy làm điều để mà nặng nề với nhau, đúng không?
Thế nhưng Hưởng lại đã lấy làm điều. Bề ngoài hắn vẫn vậy, nghiêm túc học hành, nhiệt tình công tác lớp công tác Đoàn, với bạn bè không ít lời hơn không nhiều lời hơn, không vui hơn buồn hơn. Nhưng tôi thừa biết là hắn buồn. Duyên và mọi người không để ý nên không thấy, còn tôi thì tôi để ý. Âm thầm hắn ức tôi, hắn giận Duyên. Không có biểu hiện nào để bảo rằng như thế cả, nhưng tôi tin chắc là như thế. Đôi khi cũng muốn có một cử chỉ nào đấy để làm lành song không biết nên cử chỉ thế nào cho phải, với lại tôi nghĩ mình có làm cái gì đâu mà phải làm lành. Tôi thấy Hưởng không quân tử. Tôi nghĩ thằng này vặt tính. Đã vậy, tùy thôi, với tôi những lấn bấn cỡ thế này chỉ cái phẩy tay.
Mùa xuân năm ấy lạnh lẽo và mưa phùn lê thê như thể tiết thu mưa dầm. Trên các ngả đường tới trường ngang qua những cánh đồng khúc thì trơn như đổ mỡ khúc đen xì bùn lầy. Trước giờ vào lớp, thầy cô, bạn bè hầu như ai cũng bị ngấm mưa và ngấm lạnh ướt át, thâm tái, nhiều người túi dết với quần áo lấm lem vì trượt ngã. Nhưng mà mùa hè năm ấy lại như về sớm hơn lệ thường. Tháng Tư, đã gió nồm lộng thổi. Nắng vàng ruộm, trời trong xanh. Buổi sáng đến trường, tôi đạp xe lai Duyên, trưa về Duyên chở tôi. Buổi chiều đều đặn học nhóm hai đứa ở nhà tôi. Cửa sổ rộng mở trông xuống dốc đồi và trông ra mênh mông đồng bằng bát ngát.
Tiết trời tuyệt diệu và niềm vui lâng lâng cứ đủng đỉnh cùng tôi thong dong ngày qua ngày, từ lúc rạng mai cho tới tận khi mặt trời lặn hẳn.
***

Nhưng rồi một buổi chiều như là bỗng dưng sực nhớ ra, Duyên bảo: "Ôn tập nước rút thế này thì phải học nhóm với Hưởng chứ, không thì chết, không vững kiến thức mà thi đâu”. Đến hôm đấy chúng tôi đã học được gần chót chương trình, chỉ còn phải tới trường nốt một tuần nữa là sẽ nghỉ để ôn thi. "Thôi, từ chiều mai đừng học ở đây nữa, chúng mình đi xe đạp xuống dưới Ngọt học ở nhà Hưởng nhé", cứ như không, Duyên bảo với tôi thế, dễ dãi, nhẹ nhõm. "chúng mình phải chịu khó xuống đấy với Hưởng, chứ còn rủ nó lên đây học cùng, chẳng may bố mà biết thì chết".
Hồi ấy không có thi tuyển vào đại học, chỉ có kỳ thi tốt nghiệp phổ thông, và các đề thi hàng năm cũng không dữ dằn ghê khiếp vượt quá sức người như thời nay. Dù vậy thân phận học trò thì vẫn cứ thấy sợ khi kỳ thi tới gần, ngay cả đến thằng tôi cũng biết nhờn, cũng tự nhủ sẽ dốc sức ra ôn luyện. Mà với Duyên vấn đề không chỉ là thi đỗ, cô còn quyết đỗ cao, điểm ưu cả bốn môn, bởi như thế thì mới hy vọng át đi được phần nào cái lý lịch tối sầm. Cho nên lúc bình thường có thể không cần đến Hưởng lắm, nhưng đã tới giai đoạn nước rút, rà duyệt và củng cố lại kiến thức một lần chót, Hưởng trở nên cần thiết hơn bao giờ. Có Hưởng ôn tập cùng, có Hưởng kề bên giúp đỡ, sẽ vững tâm được, sẽ chắc ăn hơn. Tôi hiểu suy nghĩ của Duyên. Nhưng tôi thấy bực mình. "Đây đếch cần sát cánh với cái thằng chuyên đời học gạo ấy?", tức tối tôi gạt phắt đề nghị của Duyên. "Đấy muốn dựa dẫm nó, nhờ vả nó thì đấy cứ việc, nhưng cuốc bộ mà đến nhà nó nhá, chứ chẳng ai xe cộ đâu mà hầu, đừng có hòng!"
Phút chốc, một lời như vậy, chúng tôi từ nhau.
Trong tuần lễ cuối cùng ấy của niên khóa, Duyên lại lối cũ đi ngang đồng rộng, qua làng Ngọt gặp Hưởng, cùng nhau tới lớp. Tôi một mình sáng đi trưa về đạp xe. Buổi chiều, Duyên chịu khó cất công đi xa xuống dưới làng Ngọt để học nhóm với Hưởng.
Được vài hôm thì bếp Vệ nhận ra sự việc. Lão sang nhà tôi. Ở trần, đầm đìa mồ hôi, nồng nặc hơi men. "Bẩm cậu. Vậy ra con Duyên nó không bên này với cậu?". Tôi nói chúng tôi đã tách nhóm, bây giờ Duyên chuyển xuống học nhóm dưới làng Ngọt. "Ra là cái con mất nết ấy nó dối bố nó! Học dưới Ngọt, tức thị là nó học với thằng con nhà Hào, có phải?". Bộ mặt thô sần đỏ bầm, lão vằn mắt lên, giọng rượu khàn đặc: "Thằng con nhà đó tôi đã mấy bận đe thẳng mặt rồi rằng khôn hồn chớ có mà tơ tưởng con Duyên nhà tao. Không có là tao thiến! Không có là tao chặt đầu, như là hồi nọ Tây nó chặt đầu thằng bố!". Lão nói là ngay bây giờ sẽ đi lùng hai đứa, trừng trị thằng đó và tắp lự lôi con đó về. Chẳng muốn can lão làm cái gì, mà không hiểu sao tự dưng tôi lại can: "Ông cứ kệ cho hai đứa nó học với nhau đến khi thi xong đã. Thằng Hưởng nó học giỏi lắm cho nên cái Duyên nó mới cần học cùng với thằng Hưởng". Đã phừng phừng hơi men và đang khùng lên cáu giận, lão già cựu ngụy quân vẫn lập tức nghe thấu được ra cái lẽ phải đầy khôn ngoan của tôi.
Vậy là nhờ tôi, Duyên và Hưởng hai đứa đã may mắn thoát nạn. Rõ là tôi đã rất tử tế. Vậy mà... Càng nghĩ tôi càng uất. Càng cốt ra không thèm lưu ý gì đến hai đứa tôi càng thấy căm. Một mình lầm lũi, buồn giận không để đâu cho hết. Ngày lại ngày lòng nặng ghen tức, chẳng biết trút vào đâu, học không vào được.
Nhưng rốt rồi cũng có được một cơ hội để tôi hả cơn.
Hôm ấy, buổi học sau cùng trước khi nghỉ ôn thi, chi đoàn tổ chức đăng ký tình nguyện Ba sẵn sàng. Bí thư Hưởng thay mặt toàn chi đoàn thảo một quyết tâm thư chung gửi lên đoàn cấp trên. Nội dung bức quyết tâm thư mới thảo ấy được đọc lên để mọi người góp ý kiến bổ sung. Đại khái là quyết tâm sau khi tốt nghiệp sẽ sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, nhận bất cứ nhiệm vụ gì, dù khó khăn gian khổ thế nào cũng không quản ngại...
"Nhưng tại sao lại phải nhấn mạnh: sau khi tốt nghiệp?", tôi lập tức lên tiếng khi Hưởng vừa đọc dứt.
"Thì thế chứ sao... Gì thì cũng phải tốt nghiệp xong đã chứ?"
"Thế mà dám gọi là sẵn sàng à?", tôi độp ngay. "Đã gọi là sẵn sàng tức là phải ngay bây giờ, ngay lúc này làm ngay!"
Hưởng lúng túng: “Thì đúng thế... việc trước mắt, việc chúng mình phải làm ngay là thi cho tốt chứ còn gì?”
Tôi cười vào mặt hắn: "Thôi đi. Sẵn sàng là sẵn sàng chiến đấu chứ lại sẵn sàng thi! Mày nói khôn thế. Mày thừa biết là hiện nay đang đợt tuyển quân mà. Trong lớp này, chỉ mày với tao đã mười tám. Thế nên mày có dám làm như tao ngay sáng mai lên huyện đội nộp đơn tình nguyện không? Có dám không? Không thì im đi, đừng có mạnh mồm sẵn với lại chẳng sàng!”. Tôi hả hê nhìn bao quát cả lớp, nhìn thẳng mặt Duyên, và nhìn chằm chằm Hưởng. "Thế nào?". Ráo riết, tôi gặng. "Thế nào mày, Hưởng?"
"Cũng được... ", Hưởng đáp, bối rối, cực kỳ thiếu cả quyết. "Được thôi...".
Đến giờ, đã bao năm qua rồi, tôi không sao còn nhớ được tỷ mỉ chữ nghĩa của lá đơn tình nguyện nhập ngũ mà tôi đã viết chiều hôm ấy, song chắc chắn là tôi đã viết ra toàn những dòng lửa cháy, những câu văn dài sục sôi tâm huyết. Có thể nói là từ lâu trước đó tôi đã xác định rồi, tôi đã tự biết rằng đằng nào mình cũng sẽ tình nguyện nhập ngũ, sẽ trở thành phi công tiêm kích, trở thành sĩ quan tên lửa trở thành thuyền trưởng tàu phóng lôi. Đã định bụng như thế, lại thêm lời thách đấu, tôi càng quyết lòng hơn bao giờ hết. Cha mẹ đều ở xa, tôi không ngần ngại mạo chữ để viết những lời như đinh đóng cột khẳng định sự đồng thuận của gia đình.
Sáng hôm sau, y hẹn với Hưởng, tôi đạp xe lên huyện. Chẳng thấy mặt Hưởng đâu. Thằng hèn, tôi nghĩ, và càng thêm cả quyết, tôi mạnh mẽ bước vào trụ sở Huyện đội với lá đơn tình nguyện trên tay. Nào ngờ lời thách đấu của tôi hôm trước đã đến tai nhà trường và cơ quan cha tôi, họ nhanh chóng thông báo với ban tuyển quân để ngăn cản tôi. Thành ra chẳng những không chấp nhận đơn, cán bộ tuyển quân lại còn cạo tôi nữa. Ra trận đánh Mỹ không phải là cái chuyện để các cậu mang ra thách đố sĩ diện của nhau. Cậu tình nguyện nhưng phải gia đình đồng ý mới được. Đây là cậu mạo chữ ký bố mẹ. Còn cậu Hưởng cậu ấy con một, lại gia đình liệt sĩ nên càng phải được gia đình bằng lòng. Vậy mà bà mẹ cậu ấy vừa mới tới lúc sáng sớm đây này, khóc quá là khóc. Cho nên các cậu thôi ngay đi. Xạc tôi một trận, ông sĩ quan lại hạ giọng khuyên: "Gì chứ đánh Mỹ thì chả đi đâu mà vội, chả đi đâu mà sợ mất phần. Cứ chờ đợi, sẽ tới lượt. Trong khi chờ thì gắng mà học cho tốt với lại bạn bè với nhau cho tử tế”.
Bị từ chối, nhưng tôi chẳng buồn gì chuyện đó. Thay cho chí anh hùng không được toại nguyện tôi đã có niềm đắc thắng lớn lao do đã hoàn toàn trên điểm Hưởng về phẩm giá. Đáng tiếc là cả lớp đã nghỉ học nên tôi chưa có ngay được cái hả hê giữa ba quân thiên hạ chỉ tay vạch mặt con người hắn, kẻ phải cậy đến nước mắt bà mẹ để rũ bỏ ý thức danh dự. Tôi thực sự nóng lòng lòng mong ngóng ngày thi, ngày hắn phải cùng tôi mặt đối mặt...
Ngày ấy đã tới, cuối tháng Năm. Tôi xăm xăm đạp xe đến trường, hăng hái mạnh bạo có lẽ hơn hẳn tất cả các thí sinh khác. Song, tôi đã không có ngay được cơ hội thanh toán nợ nần danh dự. Phần vì theo chữ cái tên riêng chúng tôi không được bố trí vào cùng một lán, phần vì hai ngày bốn môn, căng thẳng, nhọc mệt, âu lo, chẳng ai còn tâm trí đâu nữa mà nghĩ lan ra nhưng chuyện bên ngoài bài thi.
Dĩ nhiên, học hành như tôi thì thi cử quái gì. Hai ngày, cả bốn môn, đều cắn bút, đều gần như là để giấy trắng nộp bài. Nhưng thực tình tôi cóc cần.
Buổi chiều, u uất, chán chường, mệt nhoài sau môn thi cuối cùng, vừa ra khỏi cổng trường, tôi trông thấy Duyên và Hưởng bên đầm sen. Duyên ngồi trên bờ. Hưởng đang từ dưới đầm lội lên, trên tay một ôm gần chục bông sen hồng. Vứt xe đạp bên vệ đường, tôi chạy cắt bờ ruộng, lao xộc tới chỗ hai đứa. Không nhìn Duyên, hùng hổ tôi túm ngực áo Hưởng:
"Thế nào thằng thiên tài nhà quê? Mày gạo sống gạo chết bấy lâu chỉ để về sau được cày trên bàn giấy, thoát phận kéo cày dưới ruộng, đúng không? Vậy sao còn mạnh mồm tình nguyện với lại sẵn sàng? Mày hèn, mày trốn lủi không dám cùng tao lên huyện đội thì mặc cha mày, nhưng sao mày lại còn ton hót để cản đường tao?"
- Không phải thế! - Duyên kêu lên, chạy tới giằng tay tôi - Hai người thách thức nhau ngay trước lớp chứ có phải thầm thì kín đáo gì đâu mà bảo là ton hót với cản đường cơ chứ?
- Im mồm! - Tôi xô mạnh, đẩy Duyên ngã ngồi xuống. Bó sen đổ xuống, vung tóe ra. Hưởng nhào đến. Chỉ đợi có thế, tôi đấm móc hàm hắn. Hưởng nhà nghèo phải học chậm một năm, còn tôi bị lưu ban một lần hồi cấp hai, nên lớp Mười mà cả hai đều đã mười tám tuổi.
Song, tôi khỏe hơn Hưởng là cái chắc. Tôi nện hắn ngã dụi, rồi nhảy tới, đè sáu chục ký lô lực lưỡng lên tấm thân nhỏ con gầy guộc của Hưởng, đấm tới tấp, không thương tiếc, nhằm giữa mặt.
"Thằng bần tiện, thằng hèn, thằng công tử bột đáng khinh...", tôi nghe thấy thế, hình như Duyên đã gào lên như thế. Nhưng khi các bạn học và những người qua đường xúm tới gỡ chúng tôi ra, loạng choạng đứng dậy ôm cái mặt mình bị Hưởng đấm rách môi vỡ mũi nhìn quanh, thì tôi đã chẳng còn trông thấy Duyên đâu nữa. Tôi đây lại là thằng hèn ư? Có phải lời rủa xả của cô ta là nhằm vào tôi không? Thằng đáng khinh, thằng bần tiện?
***
Cả lớp chỉ mình tôi trượt vỏ chuối. Hưởng thì cố nhiên điểm thi đầu bảng khối Mười của cả tỉnh. Nhưng mà tôi đã tuyệt nhiên cạn sạch lòng ghen tỵ. Chẳng hiểu là do đâu. Như thể là cuộc ẩu đả bên bờ đầm sen đã nặn hết ra khỏi tôi những giọt độc của thứ tình cảm bần tiện ấy. Lẳng lặng tôi rời khỏi làng Mơ, chẳng chào ai. Gia đình bố trí để tôi lên khu sơ tán của mẹ, chờ kỳ thi năm sau...
Kỳ thi năm sau may mắn trót lọt, mặc dù điểm số chỉ nhàng nhàng, tôi được sang Liên Xô du học. Tốt nghiệp về nước vừa vặn ngày Toàn thắng. Tôi dạy đại học vài năm rồi lại sang Nga học nghiên cứu sinh, làm luận án phó tiến sĩ. Rồi nữa, luận án tiến sĩ. Bây giờ thì cuộc đời tôi đã thật hoàn hảo, tuy nhiên theo một ngả có thể nói là hoàn toàn khác với chí lớn anh hùng thời trai trẻ học trò.
Hồi ấy Duyên cũng đã đỗ kỳ thi tốt nghiệp phổ thông với điểm số chắc là rất cao. Song, cao đến mấy thì cũng thật khó hiểu cái sự người ta chấp thuận để cho cô ôm một cái gốc gác, một cái lý lịch tệ hại như vậy bước chân vào đại học. Lại còn là đại học nước ngoài.
Sau bảy năm lưu học ở Đông Đức, Duyên về làm việc ở Hà Nội. Và thế nào mà cũng cùng dạy một trường với tôi, chỉ khác khoa. Gặp nhau cũng mừng, cũng chút bối rối, nhưng nói chung thì tôi không thấy trỗi lên một tình cảm đặc biệt gì. Đến khi nhận thiệp mời dự đám cưới của Duyên với một giáo sư ở cùng khoa với tôi, thì cũng như với mọi đám cưới bạn bè khác, tôi cũng chẳng mấy bận lòng.
Thành ra, thật khó cắt nghĩa niềm lưu luyến của tôi với làng Mơ. Tuổi trẻ đã nguội đi từ lâu, lòng dạ uể oải, trái tim buồn ngủ, nhưng hình như vẫn có gì đó trong tôi chưa lụi hẳn. Vài năm một lần, cuối thu, tôi về làng. Có khi cũng chẳng vào thăm nhà ai. Chỉ leo trăm bậc tam cấp đồi Giàng, lên đình ngắm cảnh đồng bằng mờ trong sương thu.
Nhưng bao giờ trước khi ra về tôi cũng vào thăm nghĩa trang liệt sĩ của xã ở bên mạn đông đồi Giàng. Gần hết các bạn trai cùng lớp Mười với tôi hồi ấy yên nghỉ tại nghĩa trang này. Hầu hết hy sinh ở mặt trận phương Nam. Nghe nói nhiều người chỉ là tên tuổi trên bia mộ thế thôi chứ hài cốt chưa được tìm thấy hoặc là gia đình chưa có điều kiện vào Nam đón về. Mộ của Hưởng là như vậy, chỉ tên trên bia mộ, hài cốt chưa tìm thấy. Tôi không hỏi, mà cũng không biết hỏi ai xem nguyên do thế nào mà hồi ấy sau khi học xong lớp Mười, Hưởng vẫn đã vào bộ đội.
Tất nhiên không phải là tôi hoàn toàn không hiểu. Vào những năm tháng anh hùng ấy chúng ta ai cũng chí lớn như ai, nhưng rồi ra mỗi người lại bước đi trên những ngả đường tuyệt đối khác xa nhau. Cái đó người ta vẫn gọi là số phận, là định mệnh. Đời tôi chẳng hạn, chỉ chút nữa thôi đã hướng khác rồi. Có thể là tôi đã vào bộ đội, đã lâm trận, trực tiếp chiến đấu ở hàng đầu. Đáng lẽ tôi đã là một con người nào đó, vậy mà tôi lại là tôi như bây giờ đây. Sự đời là thế, không có gì là khó hiểu, dù vậy, thú thực tôi vẫn không hoàn toàn hiểu nổi vì sao lại thế.

Tác giả: bảo Ninh
Sống để ăn ^-^
0
Chim gâu đôi


“Chàng gâu ra sức vươn cao cổ gù cù-cù-cù-cù-cù..., chắc là những lời tâm tình yêu thương của loài gâu, đến nỗi nàng gâu cứ nghiêng đầu, ghẹ lưng vào sườn chàng gâu vẻ sung sướng. Một lúc, chàng gâu tung cánh liệng sát xuống triền sông hoa cải, nàng gâu sau giây phút ngỡ ngàng cũng tung cánh liệng theo.”
Sớm mai, Sóng vác cuốc ra đồng. Anh đi giữa miên man hoa cải vàng rực cả triền sông. Bỗng anh khựng lại, nghe trong không gian bao la, một giọng chim gâu gù gù cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù...
- Trời ơi! - Sóng thốt lên - Cái giọng gáy “thổ đồng” của con gâu này đốt cháy khát khao cả đời ta.
Sóng buông rơi chiếc cuốc, nhón chân trần, mê mẩn đi theo những âm thanh như được nảy ra từ một khúc nhạc guitar gồm toàn những nốt mì-là-rề, nghe ấm mềm, gợi cảm và quyến rũ. Gần tới bờ tre, Sóng quỳ xuống ruộng, đưa bàn tay che nắng, nhìn mãi lên lùm cây, thấy đôi gâu đang đậu sát nhau. Chàng gâu ra sức vươn cao cổ gù cù-cù-cù-cù-cù..., chắc là những lời tâm tình yêu thương của loài gâu, đến nỗi nàng gâu cứ nghiêng đầu, ghẹ lưng vào sườn chàng gâu vẻ sung sướng. Một lúc, chàng gâu tung cánh liệng sát xuống triền sông hoa cải, nàng gâu sau giây phút ngỡ ngàng cũng tung cánh liệng theo. Rồi cả hai vút lên bầu trời, sóng đôi bay sang phía Bách Lẫm. Sóng đứng ngơ ngẩn nhìn theo, miệng lẩm bẩm: “Thế là nó dụ dỗ con bé đi sang mãi bên Phúc Ninh rồi!” Sóng đi như chạy về nhà, vừa hối hả buộc bộ lưới bẫy và lồng chim mồi vào chiếc xe đạp cũ rỉ, vừa gọi rối rít:
- Cô Mơ, cô Mơ ơi!
- Cái khỉ gì mà cuống lên thế? Mơ chạy ra sát bờ rào nhà Sóng, ngó sang.
- Trông cái Tý hộ tôi, nhớ!
- Chim mới chả...! - Mơ lườm qua hàng rào, giơ hai tay còn dính đầy bùn, giọng khó chịu - Lại mò theo cái con chim mái lẳng lơ ấy chứ gì.
- Rồi tôi sẽ cho cô con gâu đực! - Sóng cố tảng lờ những câu châm chọc của Mơ.
- Người ta chả thèm!
Nghe thế, Sóng cũng không nói gì. Ðã nhiều lần nghe cái giọng châm chọc, hờn dỗi của Mơ, thành quen. Anh ngẩng nhìn Mơ, cười hì hì như người có lỗi, rồi chụp chiếc mũ vải lên đầu, liệng xe ra ngõ. Anh mải miết đạp xe vào cảng Hương Lý, đi tàu thủy sang Cảm Nhân, lại đạp xe, vác xe trèo đèo vòng xuống Phúc Ninh. Mùa này, những tràn ruộng bậc thang Phúc Ninh chảy tràn ra tận mép hồ nước, lúa xanh lẫn với nước xanh, rừng xanh. Những cây cọ xúm xít bên nhau, ưỡn mình xòe quạt phe phẩy gió, vẻ như đang rì rầm nhỏ to chuyện bản làng. Mấy bờ tre giăng giăng quanh dãy nhà sàn, ngọn uốn cong xuống, thỉnh thoảng lại tớn lên mỗi khi gió hồ thổi vào.
Sóng dựa xe đạp vào gốc cây cọ, mắt nhìn hút lên bờ tre, nghiêng đầu lắng nghe. Chẳng thấy tiếng chim gâu gáy! Chợt, những tiếng cười giòn tan phía sau bờ tre, tiếng cười hồn nhiên trong trẻo không lẫn vào đâu được, là tiếng cười của Xoan. Sóng dò dẫm đi sát vào hàng rào tre, nhìn qua kẽ lá thấy Xoan đang cầm chiếc ống bằng nước giội lên đầu người đàn ông lưng trần, vừa giội Xoan vừa cười sung sướng. Chao ôi, Xoan của anh đấy, vẫn cái dáng thon thả, mái tóc xanh mượt, mắt đen láy với tràng mày lá liễu, đôi môi tươi thắm. Xoan trẻ trung, xinh đẹp, hồn nhiên lắm. Cô ào vào cuộc đời anh như một cơn gió, rồi lại bứt khỏi cuộc đời anh như một cơn gió, không chút gợn lòng. Xoan chê anh quá hiền lành, không biết làm giàu. Cũng bởi yêu quý làng quê, đồng đất Giới Phiên này, nên sau khi tốt nghiệp trung cấp nông nghiệp, anh không xin đi công tác mà hăm hở về quê, cày sâu cuốc bẫm. Anh vận dụng những kiến thức đã học được về nghề canh nông để cấy lúa cao sản, trồng và chăm sóc ngô Bioseed, nuôi bò lai Sind, ươm cá giống. Lại còn làm cái nghề bẫy chim ngói, chim gâu, có khi bỏ nhà cả chục ngày theo dấu một con gâu có giọng gáy mê hồn... Một nắng hai sương, cuộc sống gia đình ngày một khá giả. Thế mà, Xoan bỏ anh, bỏ lại cái Tý hơn bốn tuổi, để theo một gã đàn ông vừa thô vừa già, hơn Xoan những mười bảy tuổi. Xoan hám chiếc Suzuki mới khửng, phi như bay và vàng bạc xúng xính quanh cổ, quanh các ngón tay của gã. Mà, gã giàu thật, bởi vận may trong các cuộc đào đãi đá ruby ở Tân Hương. Rồi gã phởn lên, ăn chơi, cờ bạc... lại mất hết, lại quay về với cái bản Siêng Cò của làng Phúc Ninh nghèo nhưng bình yên, ấm hơi người. Gã trở thành con sâu rượu còm nhom, tóc râu bù xù, quanh quẩn với cái nghề thả rọ tôm ven hồ. Thế mà, Xoan vẫn cứ trẻ trung, xinh đẹp, cười giòn như không! Sóng thầm nghĩ, cái người không biết xấu hổ, không biết khổ, không biết buồn như thế thì có đáng giận, đáng thương không nhỉ? Sóng nắm chặt bàn tay, không biết đó là cành rào gai, bàn tay Sóng bật máu chảy từng giọt xuống mặt đất đỏ lịm.
Ðêm, Sóng nghỉ lại nhà bạn ở cuối bản Siêng Cò, một đêm đầy mộng mị. Hôm sau, hôm sau nữa, Sóng giăng bẫy trên trảng cỏ xanh rì, ngay sát bờ tre gai, nhưng bặt bóng chim. Sóng đoán chừng đôi gâu đã dừng ở Văn Phú, làng Ðát hay Mỹ Gia? Ngày thứ tư, khi mặt trời ngự trên đỉnh núi Mèn, nắng vàng tỏa mênh mông mặt hồ Thác Bà thì Sóng nghe tiếng gù văng vẳng đằng xa: Cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... Trái tim Sóng đập rộn lên. Anh tung con chim mồi lên cành cây, còn con chim mồi ở dưới đất cứ nghển cổ Cù-cù-cù-cù-cù... Một lúc, đôi gâu như từ trên trời lao xuống, liệng mấy vòng quanh tràn ruộng bậc thang, quanh bản Siêng Cò, rồi đậu vào ngọn cây trám đầu bản. Sóng bắt đầu sốt ruột, mặc dù anh biết thế nào đôi gâu cũng xuống chỗ chim mồi. Vì tháng Ba, mùa tình yêu gâu chỉ cặp đôi, gâu trống sẽ ghen với các chàng gâu si tình có vẻ như định phá đám. Phải một lúc lâu nữa, đôi gâu vọt khỏi ngọn cây trám, liệng sà quanh chỗ con chim mồi, ý chừng xem mặt đối thủ dám xâm chiếm lãnh địa, định phá đám cuộc chơi của mình. Sóng nín thở, cố nép mình trong lùm cành lá mong móng, đợi... Và, rụp! Sóng giật giây, hai cánh lưới úp xuống. Nhưng một con đã kịp vẫy cánh vọt khỏi vòng khép của hai cánh lưới ma quỷ. Sóng nhào lại, lẩy bẩy gỡ con gâu cho vào lồng, xong, mắt cứ đăm đắm nhìn theo bóng con gâu thoát nạn, đơn côi bay tít lên trời xanh.
NẮNG rực lên. Sóng vật chiếc xe đạp xuống giữa sân, đưa cánh tay áo lau mồ hôi đang lã chã hai bên hàm bạnh xám nắng, rồi uể oải treo lồng chim lên cành cây hồng. Mơ dắt cái Tý chạy từ trong bếp ra, hỏi giễu:
- Chắc không gặp cái con mái lẳng lơ nên mới về nhanh thế, hử?
- Tôi gặp may thì có! - Sóng tránh cái nhìn thẳng mặt của Mơ.
- Xem nào...
Mơ vén mấy cành lá che chiếc lồng chim. Mắt cô sáng lên khi nhìn thấy con gâu to, mầu lông xám nâu, mượt mà. Ðột nhiên một con gâu từ đâu nhao xuống. Nó có vẻ cuống, cứ bay nhoáng nhoàng quanh nóc nhà, có lúc sát sạt chiếc lồng có con gâu vừa bắt về. Bỗng con gâu trong lồng cất tiếng cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... từng chập, cái giọng gáy “thổ đồng” ấm mềm, gợi cảm và quyến rũ khiến Mơ lặng người. Như tỉnh giấc mơ, chợt hiểu ra cái điều sâu thẳm từ tiếng gáy của con gâu đực bị nhốt trong lồng kia, Mơ cầm tay Sóng, bảo:
- Anh thả con gâu ra!
- Tôi đã hứa cho cô!
Sóng đứng ì ra đấy, đưa tay vò vò mái tóc rậm, vẻ khó xử. Cái Tý cứ quấn lấy chân bố, miệng bi bô. Không đợi Sóng, Mơ tự ý mở cửa lồng, con gâu bay vụt ra, nhào theo con gâu mái. Ðôi gâu liệng qua liệng lại mấy vòng như có ý cảm ơn người giải cứu, rồi bay vào lùm tre ngoài ngõ. Sóng nhìn theo đôi gâu, nói buông:
- Tối nay cô Mơ sang đây ngủ với cái Tý, nhá?
- Nỡm...
Chẳng nhận lời, cũng không ra từ chối, Mơ ôm cái Tý vào trong nhà. Hai cô cháu ngả xuống chiếc võng. Ngoài giếng, Sóng vừa kéo gầu nước giội lên đầu, thoảng nghe lời ru: “À ơi, Ba đồng một mớ trầu cau, Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không, Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá cắn câu...” Ô, Sóng ngạc nhiên nghĩ, cái cô Mơ không xinh đẹp như Xoan mà sao có giọng hát ru ngọt ngào, êm ái đến thế, lại tốt nết nữa chứ. Thế mà (lại thế mà), tay Thỏa bỏ cô ấy đi theo gái vào tận Ðác Lắc sống với nhau. Cuộc đời này sao hạnh phúc hiếm hoi làm vậy. Ðể rồi xem, chim sẽ xổ lồng có ngày... Sóng giội nước ào ào như cáu giận chính mình. Lúc lâu, không nghe thấy tiếng hát ru nữa. Sóng vén mành bước vào nhà. Anh giật thót người, trái tim bỗng đập lồng lên. Trước mắt anh là Mơ ôm cái Tý nằm ngủ ngon lành... Sóng nhón chân đi ra, thầm nói trong lòng: “Con bé thèm mẹ quá rồi!” Sóng bước xuống sân. Trưa tròn bóng. Từ trong lùm tre lao xao ngoài ngõ, tiếng con gâu đực gáy cù-cù-cù-cù-cù... Cù-cù-cù-cù-cù... nghe thật nao lòng. Ôi, loài chim khi có đôi, sao nó hạnh phúc thế! Sóng nghĩ, trong giấc ngủ của Mơ thế nào cũng có giọng “thổ đồng” cù-cù-cù-cù-cù... của con gâu đực nơi đồng đất Giới Phiên tươi tốt.

Tác giả Hoàng Thế Sinh
Sống để ăn ^-^
0
Trưởng tộc đời thứ tám


Nhiên nhận thư từ quê gởi lên, nét chữ còn tươi roi rói: "Anh hai về gấp! Cha công bố di chúc!". Dòng chữ xinh xinh của cô em gái như nhát dao sắc nhọn đâm thấu tim anh. Bản di chúc mà cha anh công bố với gia đình, dòng họ sẽ là bản tuyên án lạnh lùng chôn vùi tài năng của Nhiên trên con đường xán lạn.
Cách đây vài hôm, Nhiên thử việc ở một công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Giám đốc công ty là một người Anh. Sau khi kiểm tra trình độ ngoại ngữ, tin học, quản trị kinh doanh của Nhiên, ông ta thốt lên: "Very good!".
Ðêm ấy, thả bộ dọc bến cảng, trong ánh sáng vàng tái, mỏng như sương, đôi mắt của người yêu đen nhánh như hai hạt nhãn nhúng nước: "Anh biết không? Sếp em đánh giá rất cao về anh. Ông là người kiệm lời khen, sống thực dụng. Hơn chục người thử việc, ông ta mới gật đầu chỉ một lần. Sếp sát hạch người, OK hay không tùy khả năng thực tế, chứ không cần bằng cấp".
Nhìn đôi môi của Hạnh mọng như quả cà chua chín, miền nhạy cảm trong Nhiên cựa quậy: "Còn cô bé, sát hạch anh xong chưa? Anh mỏi mòn rồi đó!". Ðang đi, bất chợt Hạnh kéo Nhiên dừng lại, áp gò má non tơ vào ngực người yêu, cười rinh rích: "Xong lâu rồi ! Chỉ sợ có cô nào đó ở dưới quê đang đỏ mắt...". Có lẽ, trên thế gian này chẳng có loại hương thơm nào ngọt, mềm, sâu, quyến rũ như da thịt và mái tóc người con gái. Nhiên như gã say thuốc lào và câu nói của Hạnh: "Chỉ sợ có cô nào đó ở dưới quê..." như gáo nước lạnh dội vào mặt anh. Nhiên đang đùa với bom nổ chậm.
Năm ngoái, Nhiên về quê giỗ họ. Mãn cuộc, ông bác ruột Nhiên mời anh ở lại. Ngồi giữa chiếc chiếu hoa trải trên nền nhà thờ họ Văn là ông bác ruột, trưởng tộc họ Văn. Ngồi hai bên là cha Nhiên và các vị chức sắc trong họ. Chủ tự trưởng tộc họ Văn cao lênh khênh, dáng đi như dấy phẩy, tiếng nói rểnh rảng như loa sắt: "Trong cuộc họp họ hôm nay có các vị: Chủ tịch huyện, trưởng phòng huyện, giám đốc sở... là con cháu họ Văn. Ðã là con cháu của họ Văn thì phải biết giữ gìn tôn ti, trật tự của họ...".
Sau lời khai mào như kiểm tra tư cách đại biểu của ông trưởng tộc, các vị quan chức Nhà nước chịu phép, ngồi im thin thít. Nhiên thầm nhủ: "Gớm chưa! Quan chức Nhà nước, ngoài đời bao người trọng vọng, vậy mà chẳng dám hó hé trước ông trưởng tộc mới qua bình dân học vụ làng!".
Ông trưởng tộc cao giọng: "Tôi nay đã già cả, không thể tiếp tục thờ phụng ông bà. Tiếc rằng tôi không có con trai. Còn em tôi đau yếu triền miên, không thể đảm đương trọng trách tộc họ giao phó. Ðời thứ tám họ Văn, chỉ có cháu Nhiên là người có thứ bậc cao nhất, tánh tình điềm đạm, chín chắn. Nhờ hồng phúc ông bà, cháu Nhiên đã tốt nghiệp Ðại học quản trị kinh doanh. Quản trị kinh doanh thời kinh tế thị trường cháu còn làm được tuốt, sá gì quản trị tộc họ. Chủ tịch huyện là con cháu họ Văn, hãy nhận cháu Nhiên về làm việc ở huyện để có điều kiện hương khói ông bà! Các vị đừng sợ người ta đàm tiếu. Loại con ông cháu cha mà dốt nát, ăn hại mới đáng ngại, chứ con cháu họ Văn này, tài năng, đức độ, ra gánh vác việc Nhà nước tốt, phải không các cụ?". Cử tọa gật gù hưởng ứng. Ông hưng phấn, quay sang Nhiên, bắn một hơi như cơn lốc: "Cháu về quê làm việc, rồi chọn một cô vợ thật xinh đẹp, giỏi giang. Gái quê thùy mị, chịu thương chịu khó, đừng lấy gái thị thành đỏng đảnh, kiêu kỳ, không biết thờ chồng trọn đạo". Nhiên như con cá nằm trên thớt, chờ đầu bếp sờ nắn, ngắm nghía trước khi đánh vảy, mổ ruột. Oái oăm thay, cha anh lại như người dâng dao cho đao phủ: "Bác trưởng tộc! Em đã chọn vợ cho thằng Nhiên rồi. Con bé này tên là Thắm - con của cụ Bảy xóm dưới". Trưởng tộc họ Văn khoái chí tự đét vào đùi mình, bật cười hả hả: "Quá tốt rồi còn gì !". Nhiên mặt héo như tàu lá chuối sau trận bão, bụng bảo dạ: "Cứ tạm nín lặng theo tục họ, lệ làng là tốt nhất !".
Lòng Hạnh ngập tràn vui sướng, lặng im, nép sát vào Nhiên. Im lặng cũng là thứ ngôn ngữ của tình yêu, nào ngờ Nhiên đang ôm cô mà trong dạ rối bời. Anh đang nghĩ về Thắm. Cô gái cùng xóm thân hình đuồn đuỗn với bước đi bậm bịch, cái nhìn lúng liếng. Loại gái quê tợn mồm và mắn đẻ phải biết! Hôm về quê ăn Tết, buổi sáng sương dâng mờ mặt sông, Nhiên đủng đỉnh chắp hai tay ra sau lưng đi về phía bến chơi, chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào, Thắm lù lù hiện ra, đầu đội rổ hến, quần áo sũng nước, tốp táp, rống riết vào da thịt phô bầu ngực mẩy mang, căng nức và cặp đùi săn như cây chò chỉ. Lúc ấy, Nhiên vừa có cảm giác thinh thích một chút hoang dại lại ghê ghê một chút trụi trần. Nhưng Thắm không hề nhếch nhác, bất cần như Nhiên từng nghĩ. Cô bé nhìn Nhiên, xấu hổ đến mức chôn chân một chỗ.
Chuyện Nhiên bị người bác ruột chiếu tướng, cắt đặt làm trưởng tộc cứ như tảng đá đặt giữa đường làng. Mỗi lần nghĩ đến, Nhiên sống lại với bao kỷ niệm thời thơ ấu. Ngày còn bé, Nhiên thường lẽo đẽo theo trưởng tộc đến thắp nhang nhà thờ họ Văn, ngôi nhà mái lợp ngói âm dương rêu phong dính liền với dãy nhà phía Ðông và dãy nhà phía Tây. Một bên dành để tiếp khách, một bên dành để nấu nướng mỗi khi giỗ họ. Từ đây, khói bếp làm cay mắt những cô thôn nữ họ Văn bay lên quyện thành khói lam, báo hiệu sự sống yên bình. Cũng từ nơi đây ra rả tiếng nói cười của những mẹ, chị thuộc các dòng họ khác nhau về làm dâu họ Văn. Lọt thỏm vào giữa hai dãy nhà Ðông - Tây là ngôi nhà thờ chính điện, lúc nào cũng ngút ngát mùi trầm. Trên bàn thờ có chiếc lọng mầu vàng thêu kim tuyến óng ánh, chung quanh tua tủa những bụi chỉ ren xinh xắn che khuất một phần chiếc khám thờ mầu đỏ khắc rồng phụng, đựng gia phả, là linh hồn của họ Văn. Người nào mà được vác lọng ra mộ thủy tổ ở bãi đất soi ven sông làm lễ rước ông bà về là cảm thấy vinh hạnh vô cùng!
Ðêm hè, nhà thờ họ võng vãnh muỗi bay, bác trưởng tộc dùng chiếc quạt nan đập muỗi chanh chách cho Nhiên ngủ. Không có người nối dõi, ông thương yêu Nhiên như con đẻ. Mỗi lần đi dự hội làng, cúng thanh minh, ăn giỗ, bao giờ ông cũng lùm lùm mang về vài cái bánh ít, vài trái chuối, có khi cục xôi xáo thịt gà thơm ngậy. Ngày đông, gió rít lục ục trên cây đa trước sân. Thi thoảng trong nhà thờ họ có tiếng mọt gặm cây gồn gột và có cả những con mối mềm oặt, ngo ngoe bò dưới chân cột nhà thờ. Khi ấy nét mặt bác trưởng tộc hằn lên sự lo lắng. Nhà thờ họ Văn già đi theo tuổi người trưởng tộc, vẫn sừng sững mỗi năm chờ ngày giỗ họ, mặc kệ ông trưởng tộc già nua với nét mặt rúm ró như tờ giấy vò, đôi chân khuỳnh khoàng, liêu xiêu như chực ngã bất cứ lúc nào.
Năm Nhiên lên phố học, bác trưởng tộc dúi vào tay mấy tờ giấy bạc cũ hem: "Bác để dành được bao nhiêu đó. Cố gắng học thành tài để lại tiếng thơm cho dòng họ, con nhé!". Gánh nặng họ hàng làm anh choáng váng. Từ chối là chống lại gia đình. Từ bao đời nay, quê Nhiên có cái lệ đã ăn sâu vào máu thịt: ai làm trái di chúc của cha mẹ sẽ bị lên án đời đời, kiếp kiếp. Mà xóm làng đàm tiếu còn đáng sợ hơn pháp luật. Quê Nhiên từng có những cô gái chửa hoang, bỏ nhà đi biệt xứ, bị dòng họ xăm xỉa gia đình đã đành, mà còn bị các vị hào cựu rỉa rói, mỗi lần cúng làng, họp xóm. Con gái quê Nhiên không ai dám bước ra khỏi xóm mươi ngày, bởi dẫu có lý do chính đáng vẫn bị người người rình rập, nhà nhà dòm ngó. Vài câu xầm xì, đàm tiếu vu vơ, vón lại thành bản án vô hình là điêu đứng cả một đời. Con trai làng Nhiên đen trùi trũi, lưng bè như tấm thớt, bước đi huệch hoạc như đau hạch, nổi tiếng cục bộ nhất vùng. Bù lại, đám con gái da trắng phau phau như hoa nhài, hoa bưởi, tóc dài nhóng nhánh đen như dòng suối nhung chảy khắp làng. Con trai làng bên mê đắm con gái làng Nhiên đành ôm sầu, nấu nhớ. Ðã có kẻ liều mạng cởi áo, lội sông sang bị những trận đòn hội đồng thừa sống thiếu chết. Hồi Nhiên còn học trường làng, có một cô gái tên là Na (con cụ Nết làm nghề tráng bánh) xinh như mộng, phải lòng một chàng trai xóm vạn chài, thường hẹn hò, tự tình ở bến sông. Một hôm, đám thanh niên xóm Nhiên rình mò, bắt chàng trai trấn nước suýt chết. Ðôi trai gái phá lệ làng trốn lên thành phố chung sống. Sau này trở nên giàu có, ngày trở về, chàng trai bỏ tiền bắc chiếc cầu gỗ qua sông làm quà cho dân làng. Từ đấy mới bỏ được cái lệ truyền đời "Trâu ta ăn cỏ đồng ta / Ðồng ta hết cỏ mới qua đồng người".
Lần này em gái Nhiên gởi thư cho Nhiên về nghe cha công bố di chúc, anh thừa hiểu đó là bản án đã tuyên và miễn kháng cáo. Lệ làng là thế. Làm trưởng tộc, nhắm mắt lấy đại cô Thắm, cô Na, cô Nụ... nào đó cho yên phận một đời ư? Nhiên muốn đưa tay nâng gương mặt đẹp như đức mẹ của Hạnh hôn nồng nàn, say đắm rồi nói hết mọi điều, van xin Hạnh tha thứ. Nhưng anh không đủ can đảm. Nhìn Nhiên, Hạnh chỉ đoán đúng một phần. Cô vít đầu Nhiên xuống, đặt nụ hôn đắm đuối. Nhiên ấp úng, Hạnh cắt ngang: "Ðừng anh! Ðừng nói gì cả! Em thích nép vào anh và im lặng. Rồi đây anh sẽ về phòng kinh doanh với em. Chúng mình sẽ thưa với ba mẹ cưới nhau rồi mua nhà thành phố". Nhiên nghe Hạnh vẽ ước mơ bằng bọt biển mà thấy xót xa. Ngày mai, anh sẽ thành một ông cụ non chuyên hương khói cho ông bà, chăm lo họ tộc. Hạnh sẽ đau khổ biết nhường nào! Nàng yêu Nhiên, song liệu nàng có đủ dũng khí chịu đựng những buổi tối nhà quê râm ran tiếng ếch, nhái, ễnh ương buồn nẫu ruột? Có phải con gái thành phố đỏng đa đỏng đảnh, không biết chiều chồng? Làm con, Nhiên không thể sống cho riêng mình.
Ðêm cuối cùng ở thành phố cảng, mắt Nhiên cứ thao láo. Tấm vé ghế mềm tàu Thống Nhất S4 ghi: 4 giờ 15 phút tàu rời ga. Nhiên sẽ ra đi âm thầm như cái ngày anh lọc cọc mang hành lý vào ký túc xá trường đại học. Ðúng 3 giờ 40 phút, Nhiên choàng dậy. Nhìn tấm kiếng treo trong toa-lét, hiện lên vẻ mặt bơ phờ, đôi mắt trũng sâu, tóc râu nhuộm nhoạm, anh cười một mình: "Nhiên ơi ! Mày chỉ là thằng con nít, lo nghĩ chi nhiều cho chóng già!". Bà chủ nhà trọ co ro trong chiếc áo ngủ, ra mở cổng, cười với anh mà ánh mắt không giấu nổi sự ái ngại: "Bao giờ trở lại đây công tác, chị sẵn sàng dành cho em một phòng xịn nhất, biết không?". Lòng Nhiên bỗng thấy ấm lại: "Chị gởi giúp em lá thư này cho cô bạn gái em. Ngày mai thế nào cô ấy cũng đến".
Nhiên về đến ngõ, cô em gái reo lên như đứa trẻ mừng mẹ về chợ: "Ôi ! Anh hai về, cha ơi !". Cô bé đấm vào lưng Nhiên cười khúc khích, còn một tay giành lấy chiếc va-li: "Người thành phố sang như Tây. Có cô Thùy xóm trên muốn coi mắt anh đấy!". Nhiên cười khòng khọc: "Mắt anh bị lồi, bị lét hay sao coi? Hôm nay giỗ mẹ, sao không mời luôn cô Thắm? Cô bé ấy cha chọn cho anh rồi đó". Em gái Nhiên cười rung rúc: "Dở hơi ! Cha nói, bà ấy mập ũn, ăn nói chễnh chãng, sợ anh chê không chịu về làng. Anh này, cái cô mặc áo hồng, da trắng, tóc dài đứng bên cha là cô Thùy đó". Nhiên buột miệng: "Trời đất! Người đâu mà xinh thế? Sao anh không biết?". Cô bé thì thào: "Thôi đi ! Ðừng bình phẩm nữa, người ta nghe thì chết".
Nhiên đĩnh đạc vào nhà: "Cháu chào bác hai, chào các chú, các anh chị !". Bác trưởng tộc liu khiu đứng dậy, gương mặt bừng sáng, ánh mắt long lanh: "Nhiên về rồi hả con? Mồ tổ mày! Ðúng là con cháu họ Văn, nói không sai lời !". Nhìn cái dáng gầy rộp của bác trưởng tộc, Nhiên bỗng rưng rưng: "Thưa bác! Con mới về!". Từ lúc còn thơ dại đến giờ, chưa một lần Nhiên giận bác, kể cả cái lần họp họ, bác cột gánh nặng họ hàng lên cổ anh, buộc anh phải giã từ sự nghiệp nơi phồn hoa đô hội. Cha Nhiên cười mãn nguyện, nụ cười hiếm hoi của một đời cày sâu cuốc bẫm: "Thằng hai đi tắm rửa cho khỏe khoắn rồi ngồi cỗ luôn thể".
Ra thềm giếng, Nhiên đã thấy Thùy xách nước bằng sào. Chiếc cần vọt cao lểu khểu buộc cái đỏi bằng dây thuối thắt con rít, đít cần vọt là cục sắt oằn nặng khiến Thùy thao tác lúng túng. Nhiên thấy tội nghiệp bèn nhỏ nhẻ: "Em để anh xách cho". Thùy tránh sang một bên, vén làn tóc mây trên trán, cười như gió thoảng: "Anh Nhiên ở thành phố lâu ngày mà xách nước gàu sào còn thuần ghê!". Nhiên cười: "Tại anh không muốn em chê là công tử bột nên ráng chút xíu". Nhiên đổ nước cho Thùy rửa tay, nhìn Thùy cổ cao ba ngấn, phía sau ót trắng mỡ màng, có những sợi tóc lưa thưa... Khi ánh mắt hai người chạm nhau, người đẹp thẹn thùng cúi mặt làm Nhiên quên mất cô Thắm hoang dã ở bến sông và cô Hạnh diễm kiều đêm bến cảng hôm nào. Cô em gái Nhiên thật đáo để, sau tấm phên tre dán mắt theo dõi hai người không sót một chi tiết, liền gọi cha lên nhà trên thì thầm: "Cá cắn câu rồi cha ơi ! Cưới chị Thùy cho anh Nhiên đi cha!". Ông cụ cốc vào trán con gái rượu, cười se sẽ: "Còn cô, cũng lo bề gia thất đi là vừa". Cô bé cười rúc rích: "Con lấy chồng cha ở với ai ?".
Gia đình Nhiên thuần túy nông dân, mỗi lần cha Nhiên nghe ai gọi xấc, đại loại: "Ðồ dân nhà quê", "thứ nông dân rặt", "ăn nói quê mùa..." là ông lại dứ dứ chiếc roi cày trong tay, mím môi, qua kẽ răng bật ra tiếng rít: "Mẹ cha nó! Mới dính chút bụi thị thành, dẫm tí nước đái góc phố đã đổi giọng èo ẽo, làm dáng trí thức! Gộp mấy đời nhà nó lại, lột ngược ống quần lên xem ống chân gột hết phèn chưa? Mà hổng có phèn ấy à? Mấy đời nhà nó có mà chết toi...". Vào đời, Nhiên luôn bị ám ảnh bởi hai chữ nông dân. Lúc yên bình, người ta dè bỉu: "Ba anh nông dân bảo thủ, thụ động, quê kệch...". Nhưng khi sóng gió, thì hạng người quê kệch, bảo thủ ấy bỗng trở thành chỗ dựa vững chắc... Cha cho Nhiên ăn học là để người đời hiểu họ Văn này cũng ham học như ai. Một cử nhân kinh tế về huyện, thậm chí về xã công tác, vừa lo việc nước, vừa trọn việc nhà, chẳng hổ danh với tiên linh ông bà và làng xóm là số dách.
Ngày làm lễ bàn giao chức trưởng tộc, mờ sáng, các cụ đời thứ tám (ngang vai với Nhiên) khăn áo chỉnh tề kéo về nhà thờ họ. Ông trưởng tộc tự tay mình mặc chiếc áo dài vải gấm mầu đỏ thêu chữ nho xanh, đội khăn đóng cho Nhiên. Một già một trẻ nhúm chặt nén nhang trên tay khấn vái ông bà giữa tiếng kèn trống inh ỏi. Ông thầy lễ quỳ mọp xuống chiếu, hai tay giăng cao tờ sớ mầu vàng chi chít chữ nho, giọng giần giật, bi ai, đoạn giằn mạnh hai đồng xu xuống cái đĩa đặt trong chiếc khay khảm xà cừ, mắt sáng lên mãn nguyện. Thế là thủy tổ họ Văn đã tin tưởng vào người chủ tự trẻ tuổi, nói tiếng Anh như gió, tính chuyện kinh doanh xoèn xoẹt như đan bồ cót.
Lúc Nhiên bước ra thềm nhà họ, đã thấy Thùy đứng dưới gốc đa, đôi mắt nhìn Nhiên tròn xoe, tinh nghịch, vừa vui sướng, vừa lạ lẫm. Nhiên xăm xăm bước tới: "Thùy xem anh có giống ông cụ không?". Người đẹp xóm trên đế một câu: "Giống cụ, nhưng đẹp trai !". Nhiên oải người nhớ hôm công bố di chúc: "Nhiên thừa hưởng toàn bộ nhà cửa, ruộng vườn và làm trưởng tộc họ Văn". Anh thấy đầu óc rỗng không. Thôi thì chôn chặt một đời ở con sông, bến nước. May mà di chúc còn một câu: "Thằng hai có quyền chọn vợ theo ý thích...". Nhiên hiểu, Hạnh không bao giờ xa rời thành phố hoa lệ với cái chức phó phòng kinh doanh để về sống nơi muỗi ca, đỉa múa. Một tuần trôi qua, Nhiên chưa nhận được một cú phone nào của Hạnh, kể cả mẩu nhắn tin ngắn ngủn. Anh sẽ phải chọn một. Cô Thắm tròn lẳn như đòn bánh tét, sau này sanh con lủn củn, ai coi ? Chỉ có gương mặt có ma lực. Cô Thùy đẹp người sau này về làm vợ, biết có mẫu mực để họ mạc noi theo? Nhiên ơi ! Mày chỉ là thằng con nít hơi đâu lo nghĩ chi nhiều chóng già!
Cha Nhiên nhắc đi nhắc lại: "Ngày mai lúc 9 giờ, con đưa cha sang nhà cô Thùy dạm ngõ. Cha muốn lúc cha còn sống được bồng bế cháu". Nhiên không biết nên vui hay nên buồn, lòng dạ nhạt nhẽo, vô vị. Nhớ câu: "Anh đi đáo địa thiên tôn / Anh về anh bứng bụi môn sau hè", sao mà nghiệm thế. Cô em gái hết chạy lên sửa khăn áo cho cha, lại chạy xuống thúc giục anh thao thiết: "Anh hai! Nhanh lên! Gần tới 9 giờ rồi!". Nhiên cười méo xệu: "Ðến lượt cô, không biết anh hai có chu đáo như thế này không?". Cô bé nổi cáu: "Người ta lo muốn chết, còn đứng đó giỡn!".
Bước ra sân, anh không còn tin vào mắt mình: Hạnh lù lù hiện ra nào xách, nào va-li, kèm theo tiếng cười lanh lảnh: "Ơi! Con người bạc bẽo kia ơi ! Ðừng tưởng dân thành phố không dám về làm dâu nơi thôn dã! Chuyến này em ở luôn đây làm bà trưởng tộc cho coi!". Cha và em gái Nhiên đứng ngây ra như pho tượng, còn Nhiên lao tới như tên bắn.

Tác giả: Trần Quốc Cường
Sống để ăn ^-^
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 05:01:30Chuột lắc>
2. Nguồn: báo Quân đội nhân dân:
Đánh máy: Sao Băng

Nhổ cỏ trong lòng
Truyện ngắn của Lưu Quốc Phương (T.Q)


Tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm đã gần một năm, tôi vẫn chưa được phân phối công tác. Cứ ngồi lỳ ở nhà chờ đợi không ổn, tôi quyết định hãy đến Phủ Châu tìm việc làm.
Có một bạn học ở Phủ Châu, ngay chiều hôm ấy tôi đã dừng chân ở nhà bạn. Ban ngày tới mọi nơi tìm việc. Song, mấy ngày liền, tôi vẫn chưa tìm được việc làm. Những ngày ấy tôi rất chán nản, bức bối ấm ức trong lòng. Tình hình của bạn cũng chẳng khác gì tôi, chưa được phân phối công tác, tự tìm việc cũng không được. Thế là, cậu ta cũng suốt ngày bực bội bất mãn với xã hội.
Nhà bạn tôi ở ven sông Phủ Hà, bên cạnh có một bờ đê, chúng tôi buồn bã trong lòng, bèn cùng nhau lên đê nhằm giải tỏa tâm lý. Đi trên đê có rất nhiều người, nam nữ già trẻ đều có, những người ấy cũng giống chúng tôi, bụng dạ đầy bất mãn, bực dọc.
Vừa đi đến gần, chúng tôi đã nghe thấy họ đang nói đến chuyện tiêu cực thối nát, nói đạo đức xã hội xuống cấp. Điều ấy hợp với tâm tư của chúng tôi nên chúng tôi cũng hòa nhập vào hàng ngũ của họ, tha hồ tiến hành "phê phán nghiêm khắc" hiện thực xã hội.
Con đê này rất dài và cũng rất rộng. Thường có những xe ô tô chở cát đi lại trên đê. Những chuyến xe ấy đi qua, bụi đất bay lên tứ tung, không tài nào tránh được, làm cho người ta mất hứng, càu nhàu. Chân đê lại có một bãi sông rất rộng. Trên bãi sông mọc đầy những loại cỏ dại: ngải cứu, bồ công anh, thương nhĩ thảo, thứ cỏ dại nào cũng có. Những giống cỏ này sinh trưởng rất mạnh. Cả cái bãi sông rộng mênh mông vì cỏ dại mọc đầy, nên chẳng có người qua được, chỉ có bươm bướm, chuồn chuồn bay lượn trong đó.
Một hôm, bọn người dạo trên đê lại nói đến những chuyện tiêu cực thối nát. Bỗng có một người chỉ tay xuống bãi sông, nói:
- Những hiện tượng hư hỏng tiêu cực hiện nay giống như đám cỏ dại kia, không tài nào nhổ được.
Chúng tôi đều nói chêm vào:
- Đúng thế! Tiêu cực hư hỏng giống như đám cỏ dại kia, nhổ không được!
Có một ông già, liếc nhìn chúng tôi một cái, nói:
- Các bạn có nhổ đâu, làm sao mà biết nhổ không được!
Chúng tôi trừng mắt nhìn ông ta.
Sau đó, tôi còn nhiều lần gặp ông ta, rồi có một lần chúng tôi và ông nói chuyện với nhau. Ông già hỏi han tình hình của chúng tôi, tôi nói với cụ rằng: tôi đã tốt nghiệp gần một năm, mà vẫn chưa được nhận công tác. Tôi cũng nói cho cụ biết: tôi vào thành phố tìm việc rất lâu rồi mà chưa tìm được việc làm. Nói đến đây, tôi đã bắt đầu bực tức bất mãn, tôi nói hiện tại xã hội vô cùng thối nát, vì không biết đi cửa sau, tôi không được phân phối công tác, còn những người có ô dù, đã được phân công đến các đơn vị béo bở. Cuối cùng, tôi cũng chỉ xuống đám cỏ dại um tùm trên bãi sông, nói với ông:
- Xã hội này mọc đầy cỏ dại, có nhổ cũng không nhổ được!
Ông già ngồi bên cạnh im lặng nghe, cuối cùng ông thở dài.
Một hôm khác, tôi lại nhìn thấy ông già, ông đi đến gần tôi, bảo tôi:
- Tôi muốn thuê anh làm việc, anh có làm không?
Tôi nói:
- Tôi vào thành phố để tìm việc làm thuê mà!
Ông già nói:
- Anh giúp tôi nhổ đám cỏ dại ở bãi sông này nhé! Mỗi ngày tôi trả hai mươi đồng (tương đương 40.000 đồng Việt Nam-ND). Anh có làm không?
Tôi lập tức đồng ý.
Ngày hôm sau, tôi bắt đầu làm thuê cho ông-nhổ đám cỏ dại ấy. Ông già cũng cùng tôi nhổ cỏ. Chúng tôi chỉ nhổ những cỏ dại mọc cao. Những loại cỏ ấy vừa nhổ đi, đã lộ ra thảm cỏ bên dưới mềm mại, xanh rờn. Đám cỏ dại được nhổ đi, bãi sông bèn phẳng phiu lại, trông đẹp mắt.
Thỉnh thoảng có người đi qua, thấy chúng tôi nhổ những cỏ ngải cứu, bồ công anh và thương nhĩ thảo, họ bèn hỏi chúng tôi:
- Các vị nhổ cỏ đó để làm gì?
Cũng có người nói:
- Các vị nhổ cỏ ấy để làm thuốc ư?
Tôi cứ gật đầu. Ông già không gật đầu, chỉ cười. Tôi cứ ngỡ ông già thuê tôi nhổ cỏ ấy để làm thảo dược. Ngải cứu là thuốc, bồ công anh là thuốc, thương nhĩ thảo cũng là thuốc. Những điều này, tôi biết. Nhưng tôi đã nghĩ sai. Sau ba ngày, những loại cỏ ấy trên bãi sông đã nhổ xong, ông già trả tiền công cho tôi, nhưng không thu những loại thảo dược ấy mang về. Sau khi biết ông già nhổ cỏ không phải để làm thuốc, tôi đã hiểu ra một phần nào. Tôi đòi trả lại tiền cho ông nhưng ông không chịu nhận. Ông ôn hòa nói:
- Chàng trai trẻ ơi! Nói thực với cháu, thuê cháu làm công việc này, ông chỉ muốn cháu học được một điều mới mẻ, cỏ dại nhiều như thế, chẳng đã nhổ được đó sao? Cũng như vậy, xã hội của chúng ta cũng mọc những loại cỏ ấy, song cũng nhổ được như thế. Chỉ cần nhổ cỏ trong lòng mình, thì những loại cỏ dại trong mắt cháu cũng sẽ ít đi!
Tôi đã hiểu ra, tôi hơi cảm động, hỏi ông:
- Tại sao ông lại làm như vậy?
- Bởi vì tôi cũng đã từng trải qua một thời tuổi trẻ mà! - Ông già bình thản nói.
Đó là một lần làm thuê đặc biệt của tôi, tôi cứ nhớ mãi. Đến nay, tôi vẫn thường xuyên đi qua bờ sông ấy, trên bãi sông ấy đã không còn cỏ dại, mà là một thảm cỏ xanh rộng phẳng lì. Đứng ở đó, tôi vẫn thường nghĩ xem trong lòng tôi còn có mọc những cây cỏ dại không.
Thực ra, trong lòng mỗi người, dù nhiều hay ít đều có mọc những cây cỏ đó, chỉ có điều xem bạn có nhổ nó đi hay không mà thôi.

VŨ PHONG TẠO (dịch)
***
0
Đánh máy: Sao bang

Mua địa ngục
Truyện ngắn của Thái Duy


Bính làm nghề vẽ. Vợ anh, Hồng, làm nghề gõ đầu trẻ. Họ có hai con gái sàn sàn nhau, đều xinh đẹp và lễ phép. Đây là đang nói thời họ còn nghèo.
Cả nhà có cái xe đạp cọc cạch phải nhường Bính "chạy" mối làm ăn. Hồi đó kiếm tiền khó lắm. Thiết kế nhãn các loại hàng giả là công việc của Bính. Hồng đi dạy học cách 10km bằng xe buýt, trưa tranh thủ đan rồi chiều về dán nhãn thuê cho cửa hàng tiêu thụ nước giải khát giả, đúng những cái nhãn mà chồng chị vẽ.
Đêm về họ quây quần bên bữa cơm đạm bạc, nghe nhờ tiếng ti-vi hàng xóm. Khi hai cô con gái ngủ ngon lành, vợ lau nhà, dọn đồ, chồng trực bên vòi để hứng nước. Rồi cả hai vợ chồng hì hục giặt giũ. Nghèo nên vất vả. Nhưng cũng có cái vui. Một món quà nhỏ cho con hay vợ chồng kỷ niệm nhau, thật sự quý giá bởi nó là biểu hiện của tình yêu thương, là sự chắt chiu công sức. Thi thoảng xúng xính, chiều chiều Bính cho con ra phố ăn kem và đón mẹ đi làm về.
Mọi thứ đều có vận hạn, muốn cưỡng lại chẳng được, kể cả bỗng dưng, vào thời cải cách, nghề của Bính và Hồng đâm ra có giá. Có giá vì nó sang mà lại hái ra tiền. Các biệt thự mọc lên như nấm, cần trang trí nội thất, các cuộc triển lãm; ngành in ấn xuất bản, rồi cả vàng mã, tiền âm phủ đều rất cần họa sĩ trang trí. Và quả là thu nhập còn nhanh hơn cả vẽ thẳng những đồng tiền. Hồng cũng lao vào dạy thêm, viết báo, làm công trình nghiên cứu, đều cho thu nhập những món khiến chị ngỡ ngàng. Người ta bảo "nghèo thì lâu, giàu thì chóng" cấm có sai. Tiền vào từ 2, 3 cửa, tiêu hằng ngày trở thành chẳng thấm tháp gì. Họ quyết định nâng gia đình mình lên mức trung lưu của thành phố.
Thoạt đầu là chiếc JVC 14 inch bò từ cửa hiệu về. Nửa tháng đầu, Bính chỉ có mỗi việc là bấm bấm, tắt tắt chiếc điều khiển từ xa. Bọn trẻ con dán mắt vào màn hình, quên cả học.
Ít lâu sau, Hồng đi làm về chở thẳng chiếc Sony hai cửa, có "vớt" để đêm nghe nhạc không phải lật mặt băng. Bính thấy vậy cũng bí mật nhờ "cửu vạn" khênh từ hàng điện lạnh chiếc Saratôp ba chấm. Từ nay về sau không phải đi mua đá nữa. Đã có tủ lạnh thì cũng phải có hôm ăn "đồ nguội". Cái mốt quý phái hiện thời là ăn đồ nguội. Công việc nấu nướng chểnh mảng dần. Rồi rất tự nhiên, không có đồ nguội thì vợ chồng con cái vẫn thích bê từ tiệm về, đỡ mất thời gian.
Các tiện nghi đầy dần lên. Nhưng kỳ lạ, càng nhiều tiện nghi càng thấy thiếu. Quen xem ti-vi không thể thiếu cái đầu video, có những thứ đó, phải sắm ngay chiếc tủ tường, rồi nệm, rồi bàn ghế, quần áo, váy vóc, nồi cơm điện, máy giặt, điện thoại… Thứ gì cũng cần ngang nhau. Cơn say đồ vật khiến cả nhà không lúc nào yên. Cuối cùng họ cũng có tất. Và đây là đang kể về thời họ giàu có. Buổi sáng, chả có việc gì, còn nửa tiếng nữa thì đi làm họ mới dậy. Mọi thứ trút ra đó, mỗi người tìm một nơi ăn sáng thích hợp để điểm tâm. Buổi trưa hai tiểu thư đi trường về, trước hết hãy bật băng xem, nghe, loạn xị ngậu rồi lục tủ lạnh xơi đồ ăn nấu sẵn. Buổi tối, khác thời trước, Bính còn la cà quán bia. Hồng chưa vội về nhà mà sà vào các cửa hiệu sắm váy và đồ nữ trang. Sau đó, thế nào cũng xơi tạm một thứ gì bổ béo. Tối mịt Bính trở về (tất nhiên bằng xe máy) bụng đã lưng lửng, Hồng cũng "ngang dạ", còn hai cô con gái thì không phải ăn cơm càng tốt.
Đã chẳng thiết ăn thì cũng chẳng ai muốn mó tay vào các việc vặt. Có máy hút bụi nhưng nếu Bính không sờ vào thì nó cũng ngập trong bụi luôn. Có máy giặt nhưng quần áo vẫn chất đống. Tủ lạnh hôi rình vì để thức ăn mà không lau rửa. Đã thế có khi hàng tuần chẳng được cùng nhau ăn một bữa cơm. Cái tình cứ lạt, cứ lạnh, cứ xa dần vì giữa họ có quá nhiều đồ vật.
Một buổi chiều, Bính đi làm về thấy hai cô con gái đang ngồi xem phim "tình cảm", cấu chí nhau cười rinh rích. Sàn nhà ngập lên toàn giấy vụn, bụi và vỏ đồ hộp; mở tủ lạnh ra thì mùi hôi của thức ăn thiu sực lên; một đống quần áo bẩn với cả chậu bát đĩa mấy ngày không rửa như đang chờ anh. Bếp nước lạnh tanh. Vô cùng chán ngán, Bính ngồi phịch xuống giường và bỗng thét lên vì chiếc trâm cài đầu của vợ cắm vào đít. Đúng lúc ấy Hồng ào vào đóng ngay cửa lại thử váy và giày để tối kịp đi học nhảy. Điên tiết Bính gầm lên:
- Giàu mà thế này thì thà cứ nghèo còn hơn. Thật là mua địa ngục về nhà.
***
0
Những khoảnh khắc đời người
Truyện ngắn của Phạm Thành Chung

Thuở thiếu thời, thỉnh thoảng mẹ tôi lại sai tôi sang hàng xóm “xin lửa”. Tôi cầm trên tay cây đèn Hoa Kỳ nhỏ xíu, chạy lút cút sang nhà bà Đào, thập thò ngoài ngõ nhìn vào sân, thấy bà đang ngồi giần gạo, liền tới bên: Mẹ cháu bảo cháu sang bà xin tí lửa. Bà Đào kéo tôi vào góc nhà, moi trong cái túi thắt lưng cũ kỹ mãi mới tòi ra cái máy lửa. Cái máy lửa! Đó là điều kỳ diệu đối với trí tưởng tượng của tôi. Bà mở nắp thận trọng, khum tay, bật từng nhát chắc nịch. Nhưng không phải lần nào ngọn lửa cũng hiện ra ngay. Có lần bà bật đến mỏi tay mà chỉ thấy lửa lóe lên yếu ớt. Bà lấy kim băng gại gại cái bấc, rồi tháo nắp sau, phồng má thổi, rồi lại thận trọng bật những nhát chắc nịch, ngọn lửa vàng kè, khói cay giàn nước mắt. Bà bảo hết rầu (quê tôi gọi dầu hỏa là dầu lửa).
Tôi lớn lên bằng thứ ánh sáng đèn dầu đỏ quạch quê mùa ấy. Thầy tôi là một “bác khóa”, thường thì thầy bảo tôi đi ngủ sớm, sáng mai, khi con chích chòe lửa hót trên ngọn cây thị trước nhà thì thầy gọi dậy học bài. Học bài lúc đói, không học lúc no. Ngọn đèn dầu của tôi để trên cái mâm giống như chõng tre nhỏ làm bàn, tôi trùm chăn học. Thầy tôi cũng khoác cái chăn chiên ngồi trên giường, thõng chân xuống đất, trước mặt là cái cánh cửa được kê lên hai cái niễng để làm bàn. Thầy tôi vẽ cuốn thư, vẽ tranh “Anh hùng tương ngộ”; “Tam anh chiến Lã Bố”; “Tứ quý”; “Tứ bình”; “Cuốn thư” ; “Câu đối”... Ai đặt gì vẽ nấy. Vừa vẽ vừa trông tôi học. Tôi học bài gì đều phải đọc to lên để thầy cùng nghe, trừ khi làm toán. Cái ngòi bút tre, cái lọ mực tím, trang vở giấy kẻ và bóng thầy tôi ngồi im phăng phắc trước ngọn đèn dầu vẽ những bức tranh thuốc nước từ trong truyện cổ tích xưa, từ trong huyền thoại dân gian. Tuổi thơ tôi lớn lên bằng những chiều đông mưa phùn gió bấc, bọn trẻ trâu rủ nhau nhặt củi ven sông rồi đốt lửa vừa để cho ấm, vừa để nướng khoai, nướng chuối, nướng cá, nướng cua. Các thứ “nướng” ấy đều tình cờ bắt được nơi ruộng đồng. Thế rồi chiến tranh, thế hệ tôi rời những ngọn lửa chân đê vào lính. Đêm trước ngày ra đi, mẹ tôi ngồi chò chõ bên bếp lửa. Sáng ra, trong hành trang của con trai mẹ có gói xôi ám khói và mấy con cá rô nướng cũng ám khói. Chúng tôi được luyện quân trên đỉnh Yên Tử, chung quanh doanh trại, đêm đêm những đốm lửa linh thiêng trong các ngôi chùa cùng tiếng mõ gõ nhịp đều đều, tiếng tụng kinh cầu nguyện cho đất nước sớm thanh bình tạo nên sức mạnh thầm kín nuôi dưỡng tâm hồn những người lính trẻ. Và “đêm hạ sơn” của chúng tôi mới trọng đại làm sao! Những đốm lửa đuốc dân bản đứng dọc theo bìa suối, thấp thoáng hiện lên những gương mặt, những ánh mắt lấp lánh ánh lửa tiễn đưa... Và, ánh lửa lân tinh trên trốc ba lô đồng đội đưa chân chúng tôi trên đỉnh Trường Sơn. Đốm lửa đèn tín hiệu của má Năm trong ấp chiến lược báo cho các con Giải Phóng biết đêm nay có địch. Đám cháy khổng lồ mùa đốt rẫy, lửa bắt nắng hanh, bốc ngợp trời; bếp lửa nhà sàn, các bá, các mí đêm đêm chờ cánh lính bắc đường về sưởi ấm lòng chiến sĩ sau mỗi lần đánh đồn, rừng lửa đuốc ngờm ngợp núi đồi và thảo nguyên ngày phá ấp. Ngọn lửa dịu dàng khi em ngực trần vỗ kloongput hát những bài dân ca sâu thăm thẳm tình người, tay nắm tay, bắp vế kề bắp vế, nhảy múa điệu dân vũ bốc lửa theo men rượu cần. Đêm lửa rừng mừng nhà rông mới, bụng trai làng gái làng có lửa quên gian khổ khó khăn. Mắt nàng H’Bia Đá bốc lửa cùng chàng KơSorTít quay tròn bên bếp than hồng, mắt người già người trẻ trong nhà rông cũng đều rực lên ánh lửa tình yêu. Lửa từ thuở cha ông tìm ra nơi hốc đá bìa nương còn truyền tụng đến tận bây giờ; những điệu múa, những bài hát mềm như lửa. Lửa làm nên sức sống và niềm hân hoan của người lao động. Tôi giờ đây đã hai thứ tóc, đêm đêm vẫn miệt mài với công việc của mình, lòng luôn khắc khoải hướng về đốm lửa chân đê, đốm lửa tuổi thơ “xin được” của nhà bà Đào, người hàng xóm luôn dè sẻn nhưng tốt bụng vô cùng. Tôi vẫn thường thấy bóng mẹ tôi trong bếp đun nồi cám lợn, rồi mẹ cời than trấu rấm bếp ủ cái nồi cám to vật ấy cho mẹ con con lợn sề lúc nào cũng hau háu đòi ăn, rít lên rộn cả chiều. Đôi lúc tôi lại thấy bóng thầy tôi ngồi im phăng phắc trong đêm, trước mặt người là ngọn đèn nhòe nhoẹt khuya, bất chợt bốc lên, thầy tôi vung bút múa trên tấm vải căng trước mặt, tạo nên những tuyệt tác mà chỉ có cái trong lành của hồn quê nơi thôn dã mới tạo ra được vẻ đẹp huyền bí nhưng cũng gần gũi xiết bao với một đời người. Vâng, với một đời người, vì tuổi tôi bây giờ cũng trạc tuổi thầy tôi hồi ấy, vậy mà những khoảnh khắc tưởng như bình thường thuở thiếu thời đã theo tôi cho mãi đến bây giờ, tưởng như mới hôm qua hôm kia, mới vừa đấy thôi, thầy tôi, mẹ tôi đang ngồi trên chõng tre ngoài hiên, bên ngọn đèn dầu bàn đi tính lại một chuyện gì đó, hình như chuyện con trâu nhà anh Tám mới đẻ và hình như chú Phong con bà Đào vừa được đơn vị cho ghé thăm nhà…
***
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-07 20:41:26Ct.Ly>
Người cha
Truyện ngắn của Bjornstjerne Bjornson(NOBEL 1903)


Nhân vật chính của câu chuyện này là Thord Orerass, người đàn ông giàu có và có thế lực nhất trong xứ đạo. Một hôm, ông ta xuất hiện trong phòng cha xứ, dáng người cao, điệu

Đã mang vào thư viện
Cảm ơn Sao Bang đã góp sức cho thư viện VNTQ
Chúc vui
***
0
truyện Trưởng tộc đời thứ 8 sao xẹt lấy trên Báo Nhân dân, tác giả là Trần Quốc Cưỡng chứ ko phải là Trần Quốc Cường,
Sống để ăn ^-^
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-01 04:35:05sao bang>
3. Nguồn Báo Văn Nghệ:

Máu của lá


Tác giả: Phạm Minh Phong


Đã quá nhiều người tôi quen đi vào cõi vĩnh hằng vì ung thư. Trộm nghĩ đến những con sâu nhỏ màu xanh đang quằn quại giãy chết trong rừng chất độc dioxin hay dưới bình phun vô-fa-tốc mà ruột gan quặn thắt buồn nôn. Con người hơn gì những con sâu đó?
Quân đẹp quá! Bốn mươi hai tuổi, khuôn mặt với nước da hơi tái viền bộ râu quai nón ửng xanh, đôi mắt sâu thẳm đen láy như thấu hiểu tất cả. Tiến sĩ y khoa. Chưa vợ. Và ung thư dạ dày di căn.
Không dám nhìn Quân, tôi hướng vào cành lá thiên tuế đang thấp dần về đất trong chậu cảnh. Thiên tuế nhọc nhằn lắm mới ra nổi một lá.
Đang rủa thầm sao bệnh viện lại nỡ để cho con bệnh biết mình sắp chết mà quên rằng chính Quân là một trong những thầy thuốc giỏi của viện.
Quân mỉm cười nhìn tôi vẻ bất cần:
- Với tớ tất cả đã rõ ràng. Gọi cậu đến không phải để than vãn. Vài tháng nay, tớ đã cố dọ dẫm đồng hành với thần chết.
Nhấp ngụm chè sen, Quân ngửa cổ nuốt từ từ như thể cố nghiệm ra điều gì đó rồi bâng quơ:
- Cậu có biết trẻ con sợ ma chúng biểu hiện thế nào cho qua cơn sợ hãi? Đầu tiên nhắm chặt mắt lại, gào lên, gào chán bắt đầu mở he hé... nhắm tít rồi lại mở ra... Cố mở to dần và cuối cùng mở hẳn.Tớ cũng vậy, cơn hoảng loạn qua rồi. Chết trẻ thế này có lẽ lại hay, được nhiều người tiếc. Cậu đi đưa ma tớ chứ?
Quân lại cười nhạt. Nhưng mắt rưng rưng nhìn lên bầu trời xanh ngắt.
Tôi quay đi, lau vội nước mắt làm nhoè kính. Rồi đây nắp quan tài sẽ ập xuống dưới sức nện của chiếc búa đinh. Có lẽ nó sẽ nghẹn lại khi phải nuốt chửng một người đàn ông tuấn tú như anh!
Bỗng Quân bật dậy, căng mắt nhìn ra.
- Cậu có thấy không? Kìa, cô ấy đấy... Mình gọi cậu đến đây là vì việc này....
Phút chốc, vẻ đau đớn của con báo bị trọng thương biến mất. Đôi hàng mi anh lưng chừng khép và hơi run rẩy. Chỉ khi chờ người yêu hay một điều gì linh thiêng lắm người ta mới có được vẻ xao xuyến ấy.
Tôi nhìn theo hướng Quân nhìn, tưởng đến bóng yêu kiều của một thiếu nữ sẽ hiện ra đầu con đường nắng nhợt.Vài giây sau một chấm nhỏ hình xoan thoáng hiện. Cô xê dịch chậm chạp trên lề đường đối diện tiến đến gần.
Đó là một cô gái nhỏ xíu chỉ cao khoảng hơn một mét. Ngực lép. Đôi mắt tròn mở rưng rưng, làn môi trên hằn một vết sẹo trắng kéo miệng hơi xệch về bên trái . Chắc là sẹo vá môi, tôi đồ vậy. Ngược với môi trên, môi dưới cô mọng đỏ hơi lõm giữa như núm đồng tiền nhỏ thoáng qua, chia thành đôi cánh hoa tươi nũng nịu. Chiếc làn trên tay cô là thứ làn đi chợ các bà nội trợ thường dùng từ những năm sáu mươi. Dáng đi khập khiễng của cô khiến người ta dễ liên tưởng đến bóng con chim sâu đang nhảy chon von trên đường, mỏ quắp chiếc lá làm lệch người. Chợt bóng cô khuất sau dãy tường gấp khúc. Tôi ngóng ra xa. Người mà Quân chờ hẳn là một người đẹp, tôi nghĩ thế. Bỗng Quân rút từ trong túi ra một bì thư, mở đưa cho tôi:
- Này, nhìn đâu thế? Xem đi. Cậu đọc qua rồi sẽ hiểu.
Ngoài bì thư đề “Gửi anh M”, nét chữ không đều đặn, hẳn người viết là người mơ mộng.
Tôi thoáng giât mình:
- Cậu đọc trộm thư ai vậy?
- Của tớ, thư tình đấy! Đã bảo cứ đọc đi rồi sẽ biết.
Trang giấy lấm tấm xanh, những đoạn nhạt màu có lẽ do nước mắt.
“Anh yêu!
Bẵng đi bốn tháng ròng không nhận được thư anh. Dường như em sắp chết. Chị Huyền em bảo thư thất lạc là thường, nhưng em vẫn lo anh sẽ tan ra như một làn khói!
Anh ơi! Thượng Đế đã say rượu khi nặn ra em. Hồi mười ba tuổi em suýt uống cạn bát nước lá Trúc Đào. Đó là lần đầu tiên em nhìn thấy toàn thân mình hiện mồn một lên tấm gương lớn bố mới mua về. Bố em nói, em đã nhồi quá nhiều tiểu thuyết vào đầu, như thế không tốt. Không những thế, em là một tác phẩm làm hổ danh người. Mỗi lúc khách đến nhà em thường tìm cách lánh mặt để làm vừa lòng bố. Rồi lúc thi vào đại học đạt điểm ưu nhưng không một trường nào nhận vì lỗi hình thể. Em đã cầu cho mình hoá điên. Người điên hạnh phúc vì họ luôn trôi mông lung trong thế giới huyền ảo. Và tất cả như đều là những con búp bê dễ thương trong vòng tay họ. Họ chẳng nhận ra ngay cả chính mình. Thường thường em chắp tay cầu cho mình được chết - Người chết là người có được hạnh phúc thứ hai sau người điên. Tại sao Thượng Đế nỡ đặt bộ óc vào đầu một đứa con gái mà ngài đã nặn ra trong cơn say?
Thế là em ở nhà với bếp núc, những con mèo và một gian nhà tiểu thuyết sưu tầm được. Người yêu đầu tiên của em là ông Rôchetxtơ trong bộ Jên Êrơ. Đêm đêm, đôi khi em thấy Rôchetxtơ cúi xuống mỉm cười, mở vạt áo choàng sẫm màu nhẹ nhàng nhốt em vào và đi ra ngoài trời trăng. Nhưng em chợt nhận ra ông quá to lớn so với khổ người của mình. Em rụt đầu. Như thấu hiểu mọi lẽ Rôchetxtơ dừng lại, ông nhìn em thương hại, nói: “Này cô bé xấu xí yêu quý, em muốn ta nhỏ lại phải không?”. Em gật đầu hàm ơn! Nhưng có tiếng máy bay sầm sập. Tiếng còi báo động. Bom xé. Nhà đổ. Trẻ khóc... Rôchetxtơ đặt em xuống lao vào lửa. Hồi sau, khi những con Diều Hâu thép thoả cơn tàn khốc bỏ đi, lửa tắt, người ta khiêng ông ra, đôi mắt chỉ còn là hai hố trống ngòm đen thui. Rôchetxtơ đã chết! “ngay cả trong mơ trời cũng cắt xén của em. Thương Đế không cho em hưởng trọn giấc mơ nào”. Em khóc với anh Hưng em. Anh Hưng lặng lẽ vuốt tóc em. Những trò chơi trẻ con mà anh ấy miệt mài bày đặt làm cho em vui không còn, kể từ ngày anh ấy đi chiến trường B.
Một tháng sau em nhận được bức thư của người con trai ký tên “M”. Thư anh? Nhiều khi em tự hỏi, anh thật hay chỉ là hư ảo, tại sao anh giấu tên và cả một bức ảnh chân dung em cũng không được nhận? Em muốn tìm anh. Sẽ được nếu em cố tình. Nhưng em lại sợ, dù chỉ một lần thôi em tìm gặp thì những lá thư sẽ không bao giờ đến với em nữa, như lời anh đã viết. Vì thế, chính em cũng sợ phải gặp anh. Em tự dặn mình hãy bằng lòng với những trang thư. Ba năm nay em đeo lá thư đầu tiên của anh trước ngực, trong chiếc túi nhỏ sau lần áo lót....
Anh ơi! Có biết em còn muốn tự dối lòng mình hơn nữa, để không nghĩ đến một ngày sẽ chẳng còn thư. Nghĩa là chẳng còn anh và thế là cũng chẳng còn em trên cõi đời này!
Giấy báo tử của anh Hưng – Người yêu quý em nhất trên đời. Rồi bặt thư anh. Em đã nói dường như em sắp chết. Mẹ nhận được tin anh Hưng, xuất huyết não nằm liệt giường, cả ngày mở mắt chong chong thảng thốt nhìn em cười như nhìn một người lạ ngoài hành tinh. Bố bị huyết áp biến chứng đi lại nhiều khi phải nhờ em dìu. Chị Huyền em vừa gặp một gã sở khanh. Em cho rằng những người tốt thường không gặp may? Vì thế em lo cho anh. Cuối cùng Bồ Tát cũng rủ lòng từ bi trước lời khẩn cầu, sau anh Hưng hy sinh bốn tháng em lại nhận được thư anh mặc dù giọng điệu và nét chữ hơi khác. Anh bảo vừa bị thương khi làm công tác bí mật nên không viết thư được. Em cũng mong là như vậy, thế giới ngoài kia toàn là bí mật và điều bí mật lớn nhất đối với em là anh.
Anh ơi! Em vẫn còn sống chừng nào còn thư anh...”
Lá thư dài như những trang tiểu thuyết và cuốn hút như có ma lực. Hơn cả những dòng chữ là một vẻ thiêng, tôi rụt tay về rồi lại chạm thật nhẹ mấy đầu ngón lên trang giấy nghĩ đến một thánh đường màu trắng. Trên đó, một trái tim nhỏ xíu đang thoi thóp đập.
- Thư cô ấy đây ư?
- Phải
- Lẽ nào cậu... Cậu yêu cô ấy?
- Không yêu. Không đời nào. Nhưng...
- Thế... Tại sao?
- Cậu đoán được tớ là tác giả của những bức thư gửi cho cô ấy! Đúng không? Nhưng chỉ đúng một nửa...
Quân ngả người sát chiếc lá thiên tuế vừa đổ xuống uốn cong thành hình chiếc lược vàng, mơ màng kể cho tôi nghe câu chuyện rất khó tin mà xưa nay tôi tưởng chỉ gặp trong tiểu thuyết lãng mạn.
“Đã hơn mười năm trôi qua mà mỗi lần nhớ lại, ruột gan tớ như bị ai đó nắm chặt lấy, xoắn tít...
Năm 1974 tớ ở chiến trường Buôn Mê Thuột, cùng đơn vị với Hưng. Hưng là hoạ sĩ nhập ngũ trước. Cả ngày cậu ta chỉ nói vài câu, mắt cứ lơ mơ buồn, đêm đêm thường trùm chăn viết thư dưới ánh đèn pin lập loè lúc tắt lúc bật như ma trơi. Đồn rằng cậu ta có người yêu đẹp ở Hà Nội, sợ mất nên cứ phải giữ bằng thư. Cậu từng là lính biết rồi đấy, trong chiến tranh người ta thường buộc mình vào người khác. Tự bóp nát tim hòng che giấu những tình cảm tự do nhất và hy vọng, nhờ thế khả dĩ chịu đựng được những hoàn cảnh quái gở. Cho nên, dù Hưng gan lì trong các trận đánh vẫn bị liệt vào hàng có dấu hiệu yếu đuối, cần kèm sát đề phòng đào ngũ.
Trận ấy tớ đi bên Hưng. Tiếng súng đã thưa thớt. Chiều sậm tái buồn đứt tuột,đã kết thúc một trận đánh mà cả hai bên gần như chỉ vờn nhau để thăm dò. Tớ vốn là lính mới nên đi lại trong rừng quá chật vật, cứ tụt lại đằng sau. Hưng dừng lại chờ. Không lê nổi chân nữa, tớ ngồi xuống một tảng đá.
- Khát khô cả họng. Đứt hơi mất Hưng ạ!
Hưng nhìn quanh, đá cũng nẫu buồn ong ong. Những thân cây trút lá nâu sẫm đan chằng chịt như mê trận của quỷ sứ. Không tìm đâu ra nước. Hưng cúi xuống, dò dẫm trên dòng suối khô nứt nẻ. Hồi sau, anh khẽ reo sung sướng vồ lấy một vật bẩn bẩn tròn tròn bằng đầu ngón chân cái đưa cho tớ.
- Đập ra rồi mút đi. Đỡ khát đấy!
Tớ ghê tởm nhìn, mặc dù cổ họng như đang bị cào xé. Hưng đón lấy khéo léo đập tan. Lòng bàn tay anh lầy nhầy một thứ đen đen mông mốc.Nhìn kĩ, hoá ra là một cái ruột ốc còn cựa quậy.
- Có lẽ đây là chú ốc duy nhất còn sót lại của rừng này, số cậu may thật. Nuốt đi! Hưng nghiêm nét mặt nhìn tớ thương cảm. Oẹ khan mấy tiếng, nhưng khát quá tớ nhắm mắt đón lấy vật bẩn thỉu đó cho vào mồm nuốt chửng rồi lấy tay bưng kín miệng, nước mắt nước mũi cứ trào ra. Cùng với cảm giác ghê ghê tanh nồng là cơn dịu mát lan toả từ đầu lưỡi đến dạ dày khiến tớ tỉnh hẳn. Mở mắt ra, tớ thấy “Quả táo Adam” nơi cổ Hưng giật giật mấy hồi có vẻ thèm thuồng. Hoá ra anh còn khát hơn cả tớ.
- Sâm của Trường Sơn đấy. Đừng ghê!
Tớ nhăn mặt khổ sở nhìn anh hàm ơn! Cả hai cùng phá lên cười. Mặt Hưng sáng ngời như trẻ thơ. Anh nhặt bên chân một quả trứng nhỏ trắng xanh tung sang:
- Trứng rắn đấy. Hồi bé mình và cái Cúc - Tên em gái Hưng - bị một phen hú vía. Nhặt được quả trứng như thế này, hai anh em thay nhau ấp trong tủ quần áo. Cái Cúc cứ đinh ninh đó là trứng Tiên. Đủ tháng đủ ngày nở ra một con vật loằng ngoằng đánh võng trong tủ...
Bỗng một tiếng “bục” khẽ. Hưng đưa tay ôm ngực và cứ thế thấp dần, thấp dần không một tiếng kêu, gục xuống. Khoảng trắng của bàn tay anh bị nuốt dần thành quầng máu sủi bọt. Im lặng đến rùng rợn.
Tớ kinh hoàng thét lên bỏ chạy. Được vài mươi bước vấp dúi dụi vào một bụi cây mới sực tỉnh, hộc tốc chạy trở lại, ào tới đỡ Hưng lên tay rối rít lay gọi... Một lát, Hưng mới khó nhọc mở mắt. Cơn đau làm nước mắt trào ra, nhễu xuống ướt đẫm cả chân tóc.
- Mình thấy nóng rẫy trong ngực. Chết mất!
Tớ băng cho Hưng nhưng máu cứ lâm lì thấm ướt hết lần băng này đến lần băng khác. Một viên đạn lạc đã găm vào bả vai anh. Tớ chỉ còn biết đặt anh lên đùi, lật đật làm động tác vuốt nửa bên ngực lành còn lại trong vô vọng. Máu vẫn rỉ rả chảy xuống đùi, thoáng chốc tớ đã ngồi trong vũng máu.
Những lời cuối cùng, Hưng chỉ kể về cô em gái tật nguyền tên Cúc. Khi đó mới biết những đêm anh cặm cụi viết thư trong ánh đèn ma trơi ấy là viết cho em Cúc.
- Mình chết!... Thiếu thư... Con bé sẽ chết mất! Ngày ấy, mình giằng bát nước lá Trúc Đào trên tay nó... Rồi nghĩ ra những bưc thư của chàng trai ẩn danh và nó đã tin. Chắc nó muốn tin, nó đã nhồi vào đầu biết bao điều phi lí... Nó đang tự dối lòng, nhưng biết làm sao? Mắt con bé rưng rưng. Nó cần những lời yêu đương ngọt ngào như cần nước... Bây giờ... chàng trai ẩn danh ấy... là mình... chết. Những bức thư...chết và em gái mình...!
Mắt Hưng lạc đi trong cơn đau. Anh oằn người, cào nắm đất lẫn sỏi bỏ vào miệng. Một viên sỏi vỡ “cốc” nghe khô khốc lạnh người giữa hai hàm răng nghiến chặt. Anh ngước lên nhìn tớ, ánh mắt như cầu khẩn, miệng mấp máy toan nói nhưng cổ anh đã ngật ra. Cái nhìn đau đáu tạc lại trên khuôn mặt trắng nhợt tựa thạch cao...
Cậu có tin không? Tớ gào lên, lu loa như mụ đàn bà xúi quẩy ngoài chợ. Một mình trong rừng với cái xác trên đùi, thân cây đen ngòm như những bộ xương sắp nhảy bổ vào xiết cổ. Tất cả được hiện mờ mờ dưới ánh trăng non nhạt nhẽo hắt xuống đất qua sàng cành cây ma quái. Qua cơn, tớ dùng lưỡi lê hì hục đào đến kiệt sức mới được cái hố nông choèn. Lấp đất xong và nằm qua đêm bên mộ, khi ấy không còn sợ nữa. Tớ nằm ngẫm ra những câu triết lí dở hơi về sự đau xót của kiếp phù sinh. Tảng sáng tớ lết về với hai chiếc ba lô và hai khẩu súng, mọi người đổ xô tới định băng bó vì thấy người tớ bê bết máu và nồng nặc mùi người chết. Một tuần sau, tớ dở ba lô Hưng xem bức thư cuối cùng anh chưa kịp gửi cho Cúc, bì thư hai lớp. Lớp trong đề: “Thương gửi em Kim Cúc”. Lớp ngoài đề: “Gửi chị Thanh Huyền - Báo Phụ Nữ - 47 Hàng Chuối – Hà Nội.” Có lẽ đó là người chuyển thư cho em Cúc bằng những lời nói dối hợp lí nhất. Tớ chép đi chép lại thư này để bắt chước nét chữ và giọng điệu văn chương ngọt ngào mơ mộng ăn sâu vào đầu. Vài tháng sau, khi đã nhập tâm, tớ bắt đầu sắm vai người con trai mang danh “M” gửi thư cho em Cúc.
Nhìn chung, gần như là một gánh nặng. Trước đây tớ tưởng chừng những câu chuyện đại loại thế này chỉ đọc được trong sách vở. Có ngờ đâu rằng, sau này mình lại là nhân vật chính trong câu chuyện tưởng huyễn hoặc như vậy. Xưa nay tớ vốn là thằng lười học văn và viết thư nên đánh vật với những con chữ kiểu thế toát cả mồ hôi. Nhưng luôn nhớ đến ánh mắt cầu khẩn trong cơn hấp hối của Hưng và thấy ham sống hơn bao giờ hết. Đến lá thư thứ mười ba, chiến tranh kết thúc, tớ trở ra Hà Nội, lần đến nhà Hưng chuyển di vật của người đã khuất. Trông thấy em Cúc, điều đầu tiên là tớ thầm oán trời đất sao nỡ thổi vào cái vỏ tật nguyền một lương tri, một tâm hồn thật lãng mạn? Từ đó, thi thoảng tớ ghé qua nhà Hưng với tư cách là đồng đội của anh trai Cúc.
Những lá thư vẫn được gửi đi. Hình ảnh cô bé đáng thương cứ lặng lẽ hiện lên trang giấy. Tớ liên tưởng đến hình bóng chàng Trương Chi xưa thấp thoáng trong đáy chén bạch đằng. Từ lúc nào không biết, tớ trở thành hai. Một tớ trong tiểu thuyết tình lãng mạn đóng vai chàng trai ẩn danh viết cho cô bé tật nguyền những lời văn cóp từ những cuốn tiểu thuyết tình ba xu, về một tình yêu mơ mộng không bao giờ có kết cục. Một tớ gần như yêu cô gái vô hình tên Cúc. Nàng ẩn hiện chơi vơi, mặt che khuất bởi một màn voan trắng, chấp chới trên viền là đôi mắt mơ màng mở rưng rưng và bên trong là đôi cánh môi dưới thắm nồng nũng nịu. Nàng như sương, như mật, như Đức Mẹ!
Thế là tớ ôm ấp một tình yêu không thật. Nực cười làm sao, kẻ đi gieo ảo ảnh cho người khác lại tự ấp ủ ảnh ảo ấy cho chính mình. Rồi công việc cứ cuốn đi, hết luận án phó tiến sĩ đến tiến sĩ, những ca bệnh hối hả, các cuộc hội chẩn, hội thảo liên miên... Không biết bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Và lẽ ra tớ đã kịp cưới một cô vợ đẹp nếu như không luôn cảm thấy bên cạnh ảnh ảo kia, bất cứ cô gái nào cũng trở nên dung tục dẫu biết mọi sự so sánh đều khập khiễng...”
Quân đưa tay vuốt mái tóc muối tiêu, một sợi bạc vô tình giắt vào kẽ tay. Anh nhìn nó giây lâu chợt ứa nước mắt.
- Thế mà nay, tớ cũng sắp chết, cũng vắn số như anh trai Cúc. May chăng là có nhiều thời gian hơn để tìm người thay thế, tìm người có đủ lương tri để kéo dài một công việc kỳ dị, nhẫn nại thêu dệt cuộc tình mơ mộng không để cho mình. Việc đó gần như việc làm của một nhà văn và một người điên. Người đó không ai khác chính là cậu!
Tôi hoảng hốt!
- Tại sao? Tớ đã có vợ. Bất tiện lắm!
- Không cãi. Quân lạnh lùng. Chọn cậu vì cậu từng là một người lính. Cuộc chiến vừa qua đã biến chúng ta thành những người kỳ lạ, có thể là quái dị so với lối suy diễn thông tục hiện thời, hơi trái với tự nhiên và khó tin... Song, đó là sự thật và sẽ là một trong những điểm sáng của những câu chuyện cổ buồn mà đời sau kể về cuộc chiến vĩ đại vừa qua của những người lính.
- Nhưng.....
- Thôi đi ! Không nhưng nhị gì hết. Đây là lời khẩn cầu của một người sắp chết! Cậu hiểu không?
Quân thui thủi đứng lên không cho tôi tiễn. Và tôi không ngờ cả cuộc chiến tranh lại thường tái hiện trong tôi qua những giấc mơ. Cả đất nước rùng rùng ra trận, chân đi dép lốp, tay cầm súng, ngực đeo những lá thư, những trang văn, trang thơ bay cùng những lá thư thất lạc và không thất lạc, có người nhận và không còn người nhận. Tất cả cứ bay đầy trời, nhiều hơn cả sao, cả lá rụng. Trong đó tôi thấy mình rất rõ. Vàng bưng, đang chạy, đưa một phong thư lên miệng ngậm trước khi ngã xuống.
Những ngày tiếp sau Quân vàng võ tiều tuỵ, xẹp nhanh như một trái cây héo. Tôi thường bắt gặp anh nằm trên giường ôm bụng lăn lộn, miệng thở ra máu tươi. Lúc được yên ổn một chút anh đọc đi đọc lại những Lá thư gửi cho em Cúc.
Một ngày nắng đẹp, gió heo may và hoa cúc ngập tràn phố phường, ngày không ai nỡ nghĩ đến cái chết. Thế mà Quân ra đi. Tôi đẩy cửa vào thăm anh như thường lệ. Quân đã nằm như ngủ trên giường, cánh cửa chớp nhìn ra đường được kéo lên, nắng hiu hắt chiếu vào xác người đàn ông vạm vỡ xấu số. Quân đã chết! Một cái chết được biết và chuẩn bị trước. Mấy dòng nguệch ngoạc trong cuốn vở mở sẵn trên bàn có lẽ anh giành cho tôi:
“Thời sinh viên hai đứa thường đọc cho nhau nghe Chiếc lá cuối cùng. Có hiểu Chiếc lá cuối cùng đối với người sắp chết có ý nghĩa thế nào không? Tớ không có chiếc lá đó Tú ạ.
Hãy đặt trên bậu cửa nhà em Cúc Chiếc lá cuối cùng Tú nhé!”
Vĩnh biệt bạn thân yêu!”
Tôi mụ mị ra đường, vẫy một chiếc xích lô đi báo tang. Phố phường đặc ngầu tiếng chửi thề. Ngã tư xôn xao chợ ven đường nhốn nháo: Một tên cướp vừa giật chiếc hoa tai của người đàn bà áo trắng, máu loang lổ cả bờ vai. Tưởng rằng chỉ trong chiến tranh mới có máu? Cổng toà án, một cụ già có lẽ thua kiện ngồi bệt bên lề đường, bưng mặt: “Công lí ơi! Cứu tôi! Công lí đâu rồi, trời có mắt không?”. Cách đó không xa, một người đàn ông hồng hào phốp pháp liếc xéo sang, kín đáo cười khẩy trước khi chui hẳn vào chiếc xe con phóng vút, vứt lại đàng sau một cuộn bụi mù mịt. Một thầy tu chân trần niệm nam mô hành khất. Trước cổng nhà thờ vị linh mục đang làm dấu rửa tội cho mọi người. Trong dòng đó, ngày mai sẽ có chiếc xe tang của Quân hoà vào dòng người mê sảng nặng mùi tục luỵ.
Đám tang Quân tôi không trông thấy Cúc. Nhưng khi đám người theo xe tang về hết, tôi ngoái lại, hình như có một bóng chim sâu chon von thấp thoáng sau lùm lá đỏ nơi bia mộ giữa làn khói nhang quặn quẹo. Tôi cứ cảm thấy cái màu đỏ lá cây ấy chập chờn và tôi đồ rằng đó là ảo ảnh.
Sống để ăn ^-^
0
Thạc sĩ bằng ưu


Tác giả: Vũ Đức Nghĩa

Kể từ hôm Đài truyền hình mở chuyên mục “Chuyện lạ có thật”, ông giám đốc Sở tôi cứ nhắng cả lên. Buổi họp báo, giao ban đầu tuần, ông phát động: “Mỗi người đều phải có trách nhiệm tìm ra cho được ít nhất một chuyện lạ trong ngành hoặc trong Sở chúng ta”. Mọi người toát mồ hôi. Không biết trong ngành, trong Sở chúng tôi thế nào, nhưng rõ ràng, nhờ Đài truyền hình, chúng ta mới biết, ở ngay đất nước mình, ở ngay bên cạnh mình, những người sống quanh ta cũng có bao nhiêu tài năng, bao nhiêu chuyện lạ.
Tuy vậy, sau cái lệnh của Giám đốc, ai cũng tỏ ra ái ngại, vì nếu không tìm ra cho được một chuyện lạ thì… rất có thể bị mất điểm thi đua, mới lại, làng người ta, xã người ta, ngành người ta có niềm tự hào về chuyện lạ, ngành mình không có, cũng kỳ.
Trong lúc mọi người đang băn khoăn, thì… cái tay Trọng liền giơ tay phát biểu. Hắn nói một thôi một hồi về những “Chuyện lạ có thật” mà hắn đã xem, rồi tuyên bố:
- Không biết, những chuyện chưa được xem lạ đến cỡ nào, chứ những chuyện đã chiếu trên ti vi thì ở quê tôi có mà đầy, thằng bé năm tuổi đã biết nói tiếng Anh vanh vách, cô học trò đang học lớp ba đã dạy chị lớp mười giải phương trình có mũ… Vậy thì tại sao Sở ta lại không, Ngành ta lại không, chúng ta không chỉ giới thiệu những chuyện lạ Việt Nam mà phải giới thiệu cho thế giới biết những kỷ lục Guiness.
Mọi người thở phào nhẹ nhõm, nhưng trong lòng vẫn lo ngay ngáy, hắn mà không tìm ra chuyện lạ thì có mà chết, rồi sẽ đến lượt mình, tìm đâu ra chuyện lạ có thật!?
- Anh có yêu cầu gì không - ông giám đốc gật gù nhìn Trọng khuyến khích.
- Cám ơn, nếu được sự trợ giúp, tôi xin giám đốc Sở chọn cho một ban giám khảo, bởi vì, có ban giám khảo sẽ tránh cho tôi cái tiếng cảm tình cá nhân, giới thiệu người không đủ tiêu chuẩn.
- Okê - giám đốc Sở vui vẻ đồng tình.
Chẳng biết lớ ngớ thế nào, tôi cũng được Giám đốc Sở đưa vào Ban giám khảo. Và một điều bất ngờ… ngay chiều hôm ấy – nghĩa là chưa đến một ngày sau cuộc họp, tôi đã được triệu lên văn phòng, cùng với ban giám khảo, xét chuyện lạ thứ nhất.
- Xin hân hạnh giới thiệu: Nhân vật thứ nhất, cũng là chuyện lạ thứ nhất – Trọng tỏ ra thận trọng khác với cái vẻ bất cần thường ngày của hắn – người này khả dĩ vươn tới tầm cỡ ấy là do quyết tâm cao của chính anh ta, nhưng một phần cũng là nhờ có sự giao thoa của hai tư tưởng lớn.
Trọng nói khá tỉ mỉ về ứng cử viên có thể giới thiệu về chuyện lạ có thật và sau đó sẽ đưa lên hàng kỷ lục Guiness.
Người này thì tôi biết.
… Vào cuối mùa hè năm 1985. Một thanh niên, dáng người thanh lịch, gương mặt sáng, đôi mắt màu nâu, thông minh, nhưng có vẻ buồn – anh ta đến cơ quan tôi rụt rè đưa tập hồ sơ xin việc. Bấy giờ, tôi là nhân viên phòng tổ chức, chuyên tiếp nhận hồ sơ và hẹn ngày trả lời kết quả. Buổi xét duyệt hồ sơ, tôi cũng hân hạnh được mời ngồi dự, rồi suốt cả một quá trình hàng chục năm cùng làm việc với nhau, nên những chuyện mà Trọng nói về anh ta, quả thật có thể xem như một kỷ lục(?).
… Hôm ấy, ông Giám đốc Công ty cầm tập lý lịch xem đi xem lại nhiều lần rồi nói:
- Thành tích học tập của anh này khá, có thể thu nhận được, nhưng phòng tổ chức cần phải xác minh cho rõ, xem động cơ vào đây làm việc của anh ta, tại sao một sinh viên y khoa tốt nghiệp loại giỏi lại không làm việc trong các bệnh viện đa khoa? Lại xin vào Công ty vệ sinh, môi trường? Nếu phát hiện anh ta có ý đồ xấu, vào cơ quan chúng ta chỉ là để thăng quan tiến chức, tranh giành địa vị thì… ở dưới ấy các ông cứ trả lời… đủ, không còn biên chế.
Bấy giờ đi xin việc là một chuyện khó khăn. Cả nước đang bước vào một cuộc lột da đau đớn; người ta bắt đầu nói đến cải cách hành chính, tiêu chuẩn hoá cán bộ. Những viên chức không có bằng cấp lo ngay ngáy đã đành; những người có bằng cấp cũng phấp pha phấp phỏng, bởi họ thường bị coi là một hiểm hoạ - hiểm hoạ của người không có bằng cấp! Trưởng phòng tổ chức cơ quan tôi là một người nhạy cảm, ông ta rất thương thủ trưởng vì ông này chẳng có một miếng bằng làm thuốc! Nhưng… ông cũng tỏ ra mến anh sinh viên mới ra trường, nên khi tiếp cận làm hợp đồng lao động cho anh này, trưởng phòng tổ chức chủ động phủ đầu ngay:
- Tôi hỏi thật, cậu cũng đi gõ cửa mấy cơ quan rồi phải không?
- Dà… ạ… sao… ông biết?
Người cán bộ có thâm niên nghề tổ chức chỉ cần nghe bấy nhiêu và xem qua hồ sơ là đủ hiểu cái nguyên do chàng thanh niên đến đây xin việc, nhưng ông cũng phải nói cái điều cần nói:
- Một số cơ quan ngần ngại không muốn tiếp nhận cậu vì… trong lý lịch thời sinh viên của cậu có vấn đề quan hệ nam nữ không lành mạnh(!). ở đây chúng tôi không chấp, nhưng tôi nói trước, vào đây để làm chuyên môn nghiệp vụ thì được, còn muốn nhòm ngó chức này ghế nọ thì…
Chàng sinh viên sợ hãi, vội thanh minh:
- Không ạ. Em chưa nghĩ tới chuyện ấy, em chỉ mong có việc làm – anh chàng rơm rớm nước mắt – không lẽ năm, sáu năm học hành bây giờ lại tiếp tục về ăn bám mẹ!
- Ai mà biết được, khi ngồi ấm chỗ người ta mới bắt đầu sinh chuyện – trưởng phòng tổ chức dằn mặt – ở đây đã xảy ra chuyện ấy rồi; tay Trịnh, nhân viên bảo vệ lúc đầu cũng năn nỉ xin cho được một chân gác cổng, nhưng vừa làm được vài tháng, không biết hắn lấy đâu ra cái bằng đại học tại chức chuyên ngành Luật, thế là một hai đòi bố trí công việc, chỗ ngồi cho phù hợp khả năng, nguyện vọng, làm rối tung rối mù cả lên…
- Không ạ, em xin thề – chàng sinh viên đột ngột cắt ngang lời trưởng phòng tổ chức.
Đã nói đến thề, một tiếng nói có giá trị như được thế chấp bằng vàng, nhưng vẻ mặt ông này vẫn chưa yên tâm, chàng sinh viên buộc phải chứng tỏ thiện chí của mình, anh ta lấy từ trong cặp một tờ giấy trắng đặt lên bàn rồi hý hoáy viết. Xong. Anh chàng cầm cả hai tay đưa cho ông trưởng phòng tổ chức. Ông ta cười phá lên:
- Cam kết! Cậu cam kết là không bao giờ nghĩ đến chức quyền? Tốt. Nhưng cậu phải viết thêm một dòng – một dòng mà bất cứ ai, và đi xin việc ở đâu cũng phải ghi lòng tạc dạ: Cam đoan xin nhận bất cứ công việc gì mà cấp trên giao.
- Vâng. Em viết ngay bây giờ, em xin thề ngay cả trong giấc ngủ cũng không bao giờ được mơ đến chuyện ngồi vào ghế lãnh đạo, dù chỉ là ngồi chơi, ngồi thử, và sẵn sàng nhận bất cứ việc gì khi tổ chức phân công.
- Tốt – trưởng phòng tổ chức tỏ ý hài lòng.
Chuyện ấy tưởng chỉ là hậu quả ấu trĩ của một thời, hoặc, có thể hắn phải làm như vậy để được vào làm việc, ai ngờ gần hai mươi năm nay hắn vẫn trung thành với lời cam kết, giữ nguyên lời hứa: hắn chỉ làm công tác chuyên môn; hắn đã có những công trình nghiên cứu đáng giá về quy hoạch xử lý rác thải, hệ thống tiêu thoát nước trong mùa mưa lũ, chống ô nhiễm môi trường khu dân cư tập trung đông người. Các công trình đều được ứng dụng và đem lại hiệu quả thiết thực trong đời sống của nhân dân thành phố. Dĩ nhiên, người có công chẳng bao giờ bị cuộc đời phụ bạc; cấp trên đã nhiều lần gợi ý, đề bạt hắn nhưng trước sau hắn cũng không nhận bất cứ một chức vụ nào. Từ đó đến nay đã bốn đời giám đốc, đã bao nhiêu thăng trầm, thay đổi, anh ta vẫn thế. Và, dĩ nhiên, đó là người có kỷ lục thâm niên – nhân viên lâu nhất.
- Còn… Nhân vật thứ hai – Trọng có vẻ lưỡng lự – xin ban giám khảo chờ cho vài tuần nữa, bây giờ chưa đủ độ chín, vì người này còn thiếu một cái bằng: cái bằng thứ Mười. Khi đã có cái ấy, chúng ta xét cũng chưa muộn.
Không ngờ, cái gã Trọng mà ai cũng nghĩ hắn chỉ là anh công chức quèn, làm công ăn lương, sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về, bất cần, vô cảm, đến khi hữu sự mới biết. Đúng là đường dài mới biết ngựa hay! Y hiểu rõ từng con người như vậy thì không phải kẻ vô tình mà ngược lại, đây là một người tâm huyết, chẳng qua, ta chưa biết xài người đấy thôi.
Nhân vật thứ hai, Trọng định giới thiệu vào chương trình “Chuyện lạ Việt Nam” và ứng cử viên cho kỷ lục Guiness, dù hắn chưa nói tên nhưng ai cũng đoãn được: đó chính là nhân viên gác cổng có tên Bùi Hữu Trịnh, đã được ông trưởng phòng tổ chức đưa ra như một bằng chứng để răn đe khi cậu sinh viên y khoa vác đơn đến đây xin việc gần hai chục năm về trước.
Hồi ấy, sau khi tiếp nhận anh sinh viên y khoa vào làm gác cổng, anh gác cổng đã được bố trí vào chỗ ngồi hợp lý – nghĩa là anh nhân viên bảo vệ có bằng cử nhân Luật lên giữ cương vị giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân về các vấn đề vệ sinh, môi trường, lệ phí thu gom rác thải v.v… Chẳng biết anh này giải quyết thế nào mà đơn thư khiếu nại, tố cáo ngày càng nhiều; có thư tố cáo chính bản thân người cầm cân nảy mực về hiện tượng hối lộ, cửa quyền, rồi cả chuyện không minh bạch về việc thanh lý các hợp đồng xây dựng đường ống tiêu thoát nước v.v… Ban giám đốc bấy giờ cũng láng máng cảm thấy giữa vị trí và cung cách của anh này có điều gì không ổn nên quyết định luân chuyển anh ta xuống công trường xử lý rác thải. Nhưng, chỉ sau một đêm, tức là sau khi Trịnh nhận được thông báo cho luân chuyển thì ngay sáng hôm sau, từ trên Uỷ ban thành phố đã có một cú điện thoại xuống Công ty. Không biết người từ trên thành phố là ai và nói những gì nhưng quyết định luân chuyển Bùi Hữu Trịnh lập tức bị huỷ bỏ. Cũng may, lúc ấy đã là thời của bằng cấp, ban giám đốc Công ty liền gợi ý cho Trịnh đi học lớp cử nhân chính trị. Trịnh vui vẻ nhận lời ngay.
Ba năm, trở về, Trịnh trình diện cùng với hai tấm bằng đỏ chót: bằng cử nhân chính trị và bằng C ngoại ngữ. Vào những năm cuối thập kỷ tám mươi, quả thật ở công ty vệ sinh, ba cái bằng của Trịnh chưa thể phát huy tác dụng. Lúc đầu, phòng tổ chức đề xuất phân công Trịnh về phòng quản lý trật tự đô thị, nhưng Trịnh có lý do chính đáng “viêm xoang mãn tính” không quen ra nắng; sau, đưa về phòng kế hoạch, ông trưởng phòng này từ chối quyết liệt, mà thực bụng Trịnh cũng không thích làm kế hoạch. Trịnh mấy lần đã nói toẹt ra rằng: học ngoại ngữ, chính trị là để nói chuyện, thuyết trình, giao tiếp…
Trịnh có năng khiếu làm việc giữa đám đông và nói những lời hoa mỹ, lẽ ra phải phân công Trịnh đến công tác tại Công ty Hội chợ hoặc tổ chức những buổi liên hoan, đình đám… Nhưng Sở tôi lại rất ít liên hoan và không có chức năng quản lý Hội chợ! Không nỡ để Trịnh ngồi chơi xơi nước, Ban giám đốc đành phân công Trịnh ngồi tạm ở phòng tiếp dân.
Từ ngày Trịnh làm việc ở phòng tiếp dân, đơn thư khiếu nại lại rộ lên. Lần này nhiều nhất là những lá thư nói về tư cách và Văn hoá của người giao tiếp. Ông giám đốc gọi tôi lên phòng làm việc, ông bảo tôi đọc một vài lá thư và thở dài:
- Cậu xem có lớp học nào thì cho tôi biết ngay.
- Chà… à. Hoan hô tinh thần hiếu học của đồng chí giám đốc.
Tôi thật sự ngạc nhiên nên không kiềm chế được lời bỗ bã. Còn ông giám đốc, mặt vẫn buồn rười rượi. Ông bảo:
- Tôi già rồi, sắp về hưu còn đi học làm gì, tôi nói là nói cái tay Trịnh ấy, có lớp nào cho anh ta đi học tiếp. Đấy, ông xem, để anh ta ở nhà chỉ rối thêm!
Tôi lần lượt xem hết các đơn thư và góp ý:
- Thưa đồng chí giám đốc, thực ra, anh này có một số nhược điểm có thể làm cho nhiều người khó chịu, nhưng để đánh giá một con người, chúng ta cần phải có thời gian. Trong những đơn thư này tôi ngờ có cả những lá nặc danh do chính người của cơ quan viết ra, vì đố kỵ, ghen ghét, lúc này mà có được ba cái bằng cử nhân cũng nhiều người tức lắm chứ.
- Thôi được, việc này tôi giao cho cậu.
Được thủ trưởng tin tưởng, tôi cũng thử làm một cuộc vi hành. Sáng hôm sau, tôi xuống phòng tiếp dân. Tôi đến với tư cách một người đồng nghiệp rỗi việc vào tán gẫu với bạn bè. Thấy tôi xuất hiện ngoài cửa, Trịnh cất lời chào sang sảng:
- Hê-lô! Xin mời, xin mời, hôm nay rồng đến nhà tôm…
Đã quá quen với những lời móc ngoéo của Trịnh nên tôi không chấp. Tuy vậy, tôi cũng hơi khó chịu khi Trịnh lấy tay phẩy phẩy như xua muỗi:
- Khoan, khoan… trước khi vào phải cởi giày ra chứ. Nói chung cởi giày trước khi vào nhà là phạm trù của văn hoá.
Quả thật, tôi đã hơi nóng mũi và đã toan phản ứng, cơ quan không có quy định cởi giày khi bước vào phòng làm việc, tại sao Trịnh lại tạo ra một cái luật lệ riêng. Nhưng thôi, nếu việc cởi giày đã thuộc phạm trù của văn hoá thì mình phải tôn trọng, ở đây mà đấu lý với Trịnh rất có thể mình sẽ bị nhồi thêm một bàn thua trông thấy, tốt nhất là nhập gia tùy tục, tháo giày ra cho rồi!
Vừa lúc ấy, một người khách từ ngoài cửa, rón rén bước vào.
- Good morning, sir; Hello! My name’s Bui Hưu Trinh – Trịnh sổ ra một tràng tiếng Anh nghe rất điệu.
Vị khách giật bắn người bước giật lùi về phía sau, miệng líu lại nói lời xin lỗi!
Tôi vội vàng chạy lại hỏi xem ông ta đến tìm ai. Ông ta bảo đến Công ty vệ sinh trình bày về cái đống rác ở ngã tư Vườn Mít.
- Thế thì bác đến đúng chỗ rồi đấy ạ - tôi gật đầu xác nhận.
Người đàn ông ngớ người ra một lát, rồi sợ mình nghe nhầm, ông ta hỏi lại:
- Anh nói đây là Công ty vệ sinh? Tôi không gõ nhầm cửa đấy chứ?
- Đúng thế.
Chợt hiểu ra tại sao người đàn ông lại luống cuống như vậy, tôi nhẹ nhàng giảng giải:
- Bác thông cảm, lúc này cả đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập, cán bộ công nhân viên phải tập cho nhân dân làm quen với giao tiếp bằng ngoại ngữ. Đây còn là cái “mốt” bác ạ. Lần sau đến đây, bác cứ mua cuốn “Tiếng Anh cấp tốc”. Học thuộc bấy nhiêu từ cũng đỡ run khi bước vào công sở.
- Dà… dạ - người đàn ông khẽ “dạ”, miệng mếu xệch như muốn khóc.
Tuy vậy, trước khi giải quyết về vụ cái đống rác, ông ta vẫn phải nghe bài học không thể thiếu về phạm trù văn hoá. Đúng thế. Trịnh nhắc nhở người đàn ông:
- Lần sau ông đến các cơ quan Nhà nước, việc đầu tiên là phải gõ cửa, sau đó là việc tháo giày để bên ngoài. Nói chung đó là những thao tác thuộc phạm trù văn hoá.
Tôi có cảm giác như ông ta không còn thiết tha gì đến chuyện khiếu kiện, sẵn sàng chấp nhận cái đống rác kia để đánh đổi việc thoát cho nhanh khỏi bài học về những phạm trù, nên vừa nộp đơn xong, ông ta vội đứng lên, ngả nón, chào, rồi bước nhanh ra cửa, đi như chạy!
Trịnh nhìn tôi, nhướng mắt, cười khoái trá:
- Ông thấy không, nghệ thuật giao tiếp là phải “uýnh” đòn phủ đầu, uy hiếp, đưa đối phương vào thế bị động, lúng túng, tiến thoái lưỡng nan, kiềng mặt, hoặc ít ra lần sau không dám đến nữa. Mặt khác, cũng phải cho thiên hạ biết: chúng ta – là - những – người – có – trình - độ.
Trịnh nói đúng, nghệ thuật giao tiếp kiểu “uýnh” phủ đầu ít nhiều đã làm cho nhiều người e ngại. Đa số anh em trong cơ quan đều đã nếm mùi phủ đầu của Trịnh; ngay cả giám đốc sở cũng vài lần bị Trịnh chơi cho một vố! Giám đốc Sở sau này là một nhà thơ. Ông thường thức rất khuya làm thơ, kẻ nhạc, nên sự thật, ông cũng thường đi muộn. Hôm ấy đã hơn bảy giờ ông mới vào công sở. Hình như ông đang có việc gì vội lắm, khi đi ngang qua phòng tiếp dân, Trịnh tươi cười ngoắc lại:
- Ê… Anh Công.
Ông này sững lại.
Trịnh đưa tay xem đồng hồ, rồi nửa đùa nửa thật:
- Anh đi muộn mười phút đấy nhé!
Nhà thơ giận đỏ mặt. Nhưng, làm gì được nhau, vì… Trịnh nói đúng!
Tất cả mọi người, từ quan tới lính tuy không ai nói ra, nhưng ai cũng sợ Trịnh, bởi vì, ai cũng biết, mỗi người đều có cái gót của Asin! Thế nào cũng có lúc Trịnh tìm được chỗ hiểm, anh ta bắn cho một mũi tên độc thì… không chết cũng bị thương! Khôn ngoan nhất là lánh “Tránh voi chẳng xấu mặt nào” hoặc, thực hiện một phương án tối ưu: “Ta không đụng tới mi thì mi cũng đừng đụng tới ta”.
Giám đốc Sở cũng chọn một phương án tuyệt hảo: cho Trịnh đi học. Thật may mắn cho cả hai, bởi vì, niềm khao khát của Trịnh là những tấm bằng, anh ta luôn săn tìm các thông tin về những cuộc chiêu sinh, bất kể là lớp học nào, và mỗi lần Trịnh đệ đơn xin đi học, tất cả các giám đốc Sở đã từng ngự trị nơi đây đều duyệt ngay tấp lự.
Từ ấy đến nay, đã mấy đời giám đốc, ông giám đốc nhà thơ cũng đã về hưu, không biết họ có bàn giao cho nhau cái việc “Duyệt” cho Trịnh đi học hay không, nhưng con đường thăng tiến của anh thật vô cùng ngoạn mục – gần hai mươi năm – mỗi năm anh chỉ có mặt tại Sở khoảng mười lăm ngày vào dịp nghỉ hè, mỗi tháng anh chỉ ghé qua Sở một ngày để lĩnh lương, còn tất cả là ở nhà và ở trường, lý do chính đáng, thuyết phục cho việc vắng mặt suốt mười mấy năm qua là chín tấm bằng, tấm nào cũng hạng ưu, đỏ chót. Cũng có người xấu mồm xấu miệng nói ra, nói vào, rằng, toàn bằng dỏm, bằng giả, bằng phong bì, bằng nhậu chứ làm gì có một người chẳng làm được việc nào nên thân lại sắm được nhiều bằng đến thế?
Để có sự công bằng, tôi xin thú thật: Tôi không thích Trịnh nhưng trong lòng cũng thầm bái phục – dù Trịnh có làm cách nào, nhưng anh đã có trong tay ngần ấy tấm bằng, toàn là bằng cử nhân, đại học thì quả là một điều đáng nể.
Sáng nay, Trịnh đến trình diện cơ quan với tấm bằng Thạc sĩ loại ưu và gương mặt cực kỳ mãn nguyện. Đây là người đầu tiên của Sở tôi có tấm bằng Thạc sĩ. Lẽ ra, cơ quan phải nghỉ việc một ngày để làm lễ đón chào tân khoa cho phải đạo – như ngày xưa dân làng chào đón tân trạng nguyên vinh quy bái tổ. Nhưng, thật đáng buồn, họ coi việc đỗ đạt của Trịnh là chuyện quá bình thường; một vài người thấy Trịnh chỉ khẽ gật đầu, mỉm cười, chào cho có lệ; còn đa số vẫn dán mắt vào máy tính hoặc tờ nhật báo. Không thể chấp nhận cái cảnh thờ ơ lạnh nhạt của số đông đối với người đồng nghiệp vừa vinh quang trở về, tôi dứt khoát đứng lên chúc mừng Trịnh và thay mặt anh em Phòng điều hành mời Trịnh một bữa điểm tâm và một chầu cà-phê sáng. Chúng tôi hàn huyên về việc học hành, những chuyện vui buồn của cơ quan; ngày Trịnh đi học đơn vị còn là một công ty nay đã phát triển thành cơ quan cấp Sở… Trịnh nói rất nhiều về chuyện cải cách hành chính, hệ điều hành của một Chính phủ điện tử, anh luôn than thở về chuyện lãnh đạo không ít cơ quan đến giờ này vẫn chưa có bằng thạc sĩ! Và, một chuyện làm anh rất quan tâm, đó là ông phó giám đốc Sở mới về hưu. Tôi lờ mờ đoán được tình cảm của anh nên ướm hỏi:
- Anh với anh Nguyên trước đây chắc là bạn học cùng trường?
Trịnh lắc đầu lạnh nhạt:
- Không! Tôi nghĩ là ông ta đã về hưu đúng lúc, cũng nên nhường ghế cho lớp trẻ, những người có bằng cấp, bằng cấp là một trong những thành tố thuộc phạm trù văn hoá, không có bằng cấp thì không làm ăn gì được…
Bấy giờ tôi mới hiểu ý Trịnh, tôi thông báo để anh yên tâm, chiếc ghế của anh Nguyên vẫn còn bỏ trống, hình như cấp trên cũng có ý định…
- Dĩ nhiên – Trịnh hào hứng hẳn lên – lãnh đạo thành phố rất sáng suốt, muốn xây dựng một Chính phủ điện tử thì phải bổ nhiệm những người có bằng cấp.
Chúng tôi rời quán khi ánh nắng mùa hè đã xiên qua những chùm bông bằng lăng thưa thớt, chiếu thẳng vào sau lưng, bỏng rát. Để buổi ra mắt của Trịnh thêm phần long trọng, tôi cùng đi với anh lên lầu 3 – nơi Giám đốc Sở làm việc.
Vừa bước vào phòng Giám đốc, chưa kịp bắt tay, Trịnh phê bình ngay:
- Ô… ồ thế này thì không thể tiến lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá được rồi! Tiết kiệm điện, hay là máy điều hoà nhiệt độ bị hư?
Ông Giám đốc mỉm cười độ lượng:
- Các cậu thông cảm, mình không được khoẻ, rất sợ máy lạnh. Nhưng… hôm nay đón tân thạc sĩ, tôi xin chiều, nào… Ông giám đốc cầm chiếc remote đưa tận tay cho Trịnh: nào, ông cứ việc bấm hết số đi cho mát, hôm nay ta phá lệ một chút không sao.
Và để chứng minh bệnh sổ mũi kinh niên là có thật, ông liền móc túi lấy ra chiếc khăn mu-xoa ướt nhẹp, rồi xì, xịt liên tiếp ba, bốn cái!
Thạc sĩ cầm remonte bấm liền mấy phát, máy điều hoà nhiệt độ nhận được tín hiệu kêu tít… tít. Tôi đóng cửa lại, rồi cùng ngồi tán chuyện cho vui.
Từ lúc mở máy điều hoà nhiệt độ, không khí trong phòng bỗng trở nên ngột ngạt và nóng nực không sao chịu nổi, ông thạc sĩ xem lại remonte và cười khỉnh:
- Cái máy lạnh của anh.. coi chừng đồ dỏm, tôi đã nhấn hết cỡ… lên đến… hai mươi bảy độ mà vẫn nóng…
Bị bất ngờ, tôi không kịp giữ gìn ý tứ, đưa tay giật phắt chiếc remonte trong tay ngài thạc sĩ: quả nhiên, ngài đã nhấn cái điều khiển lên tới… hai mươi bảy độ… hèn chi(!). Tôi kinh ngạc… kêu lên như người phải bỏng:
- Chết rồi má ơi!
Ông giám đốc hoảng hốt nhìn về phía tôi lo lắng:
- Cậu làm sao thế?
May phước, vừa lúc ấy, có một con ruồi – một con ruồi ngớ ngẩn bay thẳng về phía tôi như tên bắn, và tôi giơ tay chộp được. Khi ông giám đốc hỏi: “Chuyện gì mà cậu la thất thanh lên vậy?”. Tôi liền xoè tay ra, trong đó có con ruồi! Suýt nữa thì tôi buộc phải nói ra cái điều đã làm tôi kinh ngạc: “Ông thạc sĩ có cái bằng hạng ưu, đỏ chót: chưa – tốt – nghiệp – trung – học – phổ – thông, Trời ạ!”.

(Báo Văn Nghệ)




Sống để ăn ^-^
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-01 04:35:53sao bang>
Người đàn ông sau cánh cửa xanh


Tác giả: Ngô Tự Lập

Vì sự hèn hạ của chính mình mà tôi khóc
Mỗi khi đám hàng xóm rách chuyện của tôi, với một khoái cảm kỳ lạ của đàn ông thành thị, vừa rung đùi vừa giễu Trí là dở hơi, thông thái rởm hay ếch ngồi đáy giếng, còn Trí thì ngước nhìn tôi như kẻ đồng minh cuối cùng, tôi lại cảm thấy tội tội. Nhưng dù có muốn tôi cũng không biết phải bênh vực Trí thế nào. Trí óc tôi ngắn, nó phản bội tôi, tôi lại phản bội Trí.
Đám đàn ông trong xóm gồm có tôi, Hùng “thịt lợn” làm nghề mổ lợn, Hải Kều bộ đội về hưu nay gác cổng nhà tang lễ, Ba Trạc cũng bộ đội về hưu nay làm đồ sắt, Thái “lốp” buôn lốp, Đông “Gioăng” không ai biết làm gì và cậu Biền trượt đại học giờ làm nghề thợ mộc.
Sang nhất là Hùng, mạnh mồm nhất cũng là Hùng. Câu cửa miệng của anh ta là: “Này ông Trí ạ. Ông nên bán quách cái đống giấy lộn đi cho đỡ chuột. Ông mà nghiên cứu được thì có mà…”
Có mà thế nào, họ không nói ra, nhưng Trí cứng họng.
Nói vậy chứ anh em trong xóm cũng quý nhau. Miệng xà tâm phật, tiền bạc chẳng có cho nhau nhưng được cái thật lòng.
Một hôm, Trí mời tôi đến nhà, cho tôi xem giá sách. Toàn những quyển sách dày như cục gạch, cả mới lẫn cũ.
- Tác phẩm của tôi đấy – Trí nói, tôi nghe giọng Trí có phần cay đắng.
Tôi choáng người. Những quyển sách này, thực tình, chỉ một quyển cả đời tôi cũng không đọc hết. Nhưng khi nghe tôi thuật lại, mấy ông hàng xóm gạt đi: “Ui dào, thời buổi này, có tiền là in được tất. Gì mà chả in được. Ông có tác phẩm nhớn nào đưa đây, tôi in cho, còn dày bằng mấy ấy chứ!”. Đến lượt tôi cứng họng.
Những chuyện xảy ra với Trí, tôi chẳng biết nói thế nào. Tôi nhớ, một lần cả xóm tụ tập nhân dịp Hùng “Thịt lợn” mua được chiếc T.V Liên Xô vỏ đỏ. Trí góp lời:
- Trên thế giới bây giờ người ta phần lớn dùng T.V màu, thậm chí có điều khiển từ xa, chứ không còn phải bấm tay như thế này nữa rồi các bác ạ.
Chủ nhà cụt hứng, đốp ngay:
- Vâng nhà em “nạc hậu”, chỉ dùng đồ thải, đâu dám dùng đồ hiện đại cho hại điện!
Đám Hải Kều, Ba Trạc, Đông “Gioăng”, Thái “lốp” cũng ùa vào:
- Đời thủa nhà ai T.V, lại không cần nút bấm. Thế thì điều chỉnh làm sao?
- Em cũng chưa nghe ai nói - Đông “Gioăng” có vẻ tư lự.
Cậu Biền thợ mộc nháy nháy mắt làm ra vẻ trịnh trọng:
- Có chứ. Chắc là nhà bác Trí có nhân điện!
Không thể địch với chừng ấy cái mồm, Trí lắc đầu, nhìn tôi cầu cứu, nhưng tôi cúi đầu, giả vờ không để ý.
Một buổi tối, cũng vào lúc cả xóm tụ tập vì chuyện gì chẳng rõ, Thái “lốp” mang đâu về một tờ Hà Nội Mới, đọc oang oang.
- Thấy chưa, tôi đã nói là có loại T.V. điều khiển từ xa, vậy mà ông Trí cứ khăng khăng là không.
- Đấy, ông Trí nhé, có phải cứ chúi mũi vào đống sách vở là được đâu!
- Tôi khuyên ông nhé, cứ bán quách cái đống giấy lộn của ông đi cho đỡ chuột, mà cô ấy lại được vài buổi đi chợ.
Trí định phản bác lại nhưng Hải Kều, Ba Trạc, Đông “Gioăng”, Hùng “Thịt lợn” và cậu Biền đều cười ồ lên vui vẻ:
- Thôi bác ạ, chính bác nhớ nhầm. Chúng tôi đã bảo bác là Tây nó giỏi lắm, nó làm cả T.V điều khiển từ xa, nhưng bác không chịu tin. Chẳng lẽ chừng này con người lại đổ thừa cho bác!
Tôi vô cùng hoang mang. Trong cái trí nhớ mù mịt của mình, tôi nhớ hình như Trí là người nói đúng. Nhưng suy nghĩ một lát, tôi lại có cảm giác ngược lại: “ừ, chẳng nhẽ chừng ấy con người đều nhớ nhầm?” Thế là tôi đánh trống lảng:
- Thôi, thôi, có gì quan trọng đâu mà các bác!
Những chuyện như thế xảy ra rất nhiều lần, khi thì với chuyện đi giày (Trí nói đi giày là nóng hay không nóng?), khi thì với chuyện mì chính (Trí nói ăn mì chính có hại hay không có hại?), và thậm chí cả chuyện tránh thai, đẻ đái (Trí nói thắt ống dẫn tinh sau này nối lại được hay không nối lại được?), khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Linh cảm mách bảo tôi rằng con người đọc chừng ấy quyển sách chắc phải là người hiểu biết, nhưng mặt khác tôi lại tin vào đa số. Nhiều cái đầu phải hơn một cái đầu chứ. Thiểu số phục tùng đa số, chẳng phải chúng ta đều được học như thế đó hay sao? Thế là tôi nảy ra ý định kiểm tra.
ở đời, anh cứ cần cái gì thì y như rằng chẳng thấy nó đâu. Bát phở chẳng hạn. ở cái đất Hà Nội này nhìn đâu chả thấy hàng phở. Thế mà cứ lúc nào anh định ăn phở là đi rạc cẳng chẳng thấy một hàng! Cái ý định kiểm tra của tôi cũng vậy. Chờ mãi mà chẳng có dịp nào.
Đầu những năm Tám mươi của thế kỷ trước, loại xe Cúp màu ốc bươu được dân buôn theo tàu Vốt cô đem về Việt Nam. Đèn tròn long lanh, đạp phát nào ăn phát ấy, chạy từ Hà Nội xuống Hải Phòng chưa hết hai lít, ngay lập tức nó đánh bạt anh Mô kích vè vè của đám lưu học sinh Đông Đức. Hết tối này đến tối khác cả xóm ngồi bàn về nó và bao giờ cái đề tài cũng chuyển sang sự ngợi ca người Nhật trước khi kết thúc bằng chuyện tiếu lâm.
- Mẹ kiếp, máy êm hơn máy đàn bà một con!
Với cánh đàn ông, dù là đàn ông trong cái ngõ tồi tàn của chúng tôi, chiếc xe màu ốc bươu ấy vẫn trở thành niềm mơ ước cháy bỏng.
Thế nhưng Trí tương ngay một câu:
- Này, nhưng tôi thấy cái bình xăng hơi dở. Theo tôi, đáng lẽ họ phải biến cả phần dưới yên thành bình xăng, như thế vừa chứa được nhiều xăng, vừa đẹp dáng. Chứ cái anh Cúp này, bình xăng đã bé lại thù lù một cục, cộng thêm hai cái đèn xi nhan như hai nắm đấm, thô lắm.
Như thường lệ, Trí chưa kịp dứt lời, những tiếng phản bác đã ồ lên:
- Cái gì, ông đùa đấy à? Đầu óc người Nhật chứ có phải cứt đâu!
Hải Kều nói, Ba Trạc nói, Đông “Gioăng” nói, Thái “lốp” nói, Hùng và cậu Biền cũng nói.
Riêng tôi không nói. Tôi mừng như bắt được vàng. “Bình xăng dưới yên, bình xăng dưới yên” – tôi nhủ thầm trong bụng – “Trí nói bình xăng dưới yên. Lần này mình phải ghi nhớ thật kỹ”. Lần này tôi sẽ không ba phải nữa. Lần này tôi sẽ đóng vai trò phân xử đúng sai. Cả Trí lẫn đám đàn ông trong xóm đều không hề biết kế hoạch của tôi.
Sau đó còn nhiều cuộc tranh cãi khác, nhưng tôi kiên quyết không chú ý đến nữa. Tôi biết mình đầu óc ngắn, không thể nhớ nhiều. Tập trung vào câu nói của Trí đã đủ mệt rồi.
Nhà Trí ở đầu ngõ, hôm nào đi làm về tôi cũng đạp xe chậm lại, ngoái nhìn cái cửa gỗ sơn xanh đã bạc phếch của anh và đọc thầm trong bụng: “Bình xăng ở dưới yên. Trí nói bình xăng ở dưới yên”.
Có những hôm Trí đang làm gì đó trong nhà, trông thấy tôi, anh đẩy cửa ra:
- Có gì mà tươi thế!
- Tươi chứ, tươi chứ! – Tôi nói lấp lửng, vừa buồn cười vừa cảm thấy thú vị với cái bí mật nhỏ nhỏ của mình. Và tôi còn nghĩ thầm “Tôi đang bảo vệ ông đây, ông có biết không!”
Câu chuyện kết thúc một cách ngớ ngẩn, sau đó khoảng ba năm.
Cuối những năm 1980, những chiếc Su 100 đầu tiên xuất hiện và tiếp theo là loại Rim hai đầy kiêu hãnh. Lại Hùng, anh hàng thịt tốt số, dắt về con Rim đầu tiên của xóm. So với nó, cái anh Cúp ngày xưa mới thảm hại làm sao!
Đám đàn ông lại có cớ tụ tập. Khi tiệc rượu đang tràn cung mây, Trí đứng lên nói với một giọng nhỏ nhẹ, đầy tự tin. Anh vẫn chưa quên cuộc tranh cãi.
- Các ông thấy chưa, mấy năm trước tôi đã nói rằng phải làm bình xăng chạy dài suốt yên xe, đúng không.
- Cái gì, ông nói thế nào ấy chứ. Chính chúng tôi, chính mồm tôi đây này, tôi nói rằng thế nào người Nhật họ cũng cải tiến nữa, năm nào họ cũng cải tiến, họ sẽ biến toàn bộ phần dưới yên thành bình xăng, vừa chứa được nhiều xăng vừa đẹp dáng. Mà họ chẳng chịu dừng ở đấy đâu, họ còn cải tiến nữa! Còn ông thì cứ khăng khăng là con Cúp đã đẹp lắm rồi, sửa thế nào được. Có anh em đây làm chứng.
Đông “Gioăng” hùa theo:
- Tôi còn nhớ khi đó tôi nói sẵng với ông, rằng đầu óc người Nhật có phải cứt đâu! Ông nhớ không? Thế nào ông Ban? Sao ông toàn chơi cái kiểu ngậm miệng ăn tiền thế là thế nào?
- Tôi nhớ, tôi nhớ. Ông Trí ông ấy nói rằng bình xăng ở dưới yên…
- Con khỉ! Thì ai bảo bình xăng ở trên yên! – Hùng “Thịt lợn” mở khoá đánh tách rồi ngửa cái yên xe còn bọc nguyên ni lông – Bình xăng chẳng ở dưới yên thì ở dưới cái rốn mẹ thằng ăn mày à! Nói thế mà cũng nói!
Tôi đắng cả miệng, chẳng biết nói sao.
Cũng may, Đông “Gioăng” đã sốt ruột:
- Thằng Hùng đúng. Thằng nào có xe, có rượu, thằng ấy nói đúng, xong chưa!
- Đúng! – Tất cả đồng thanh.
Hải “Kều” vuốt ve cái mặt đồng hồ, xuýt xoa:
- Đã quá các bố ạ. Bố Hùng là nhất đấy!
- Nào cạn chén. Trăm phần trăm nhé! – Tất cả đều hồ hởi.
Tôi cũng cạn chén và tặc lưỡi.
Chiều hôm sau, đi làm về, tôi lại nhìn thấy Trí đứng sau cái cánh cửa gỗ sơn xanh đã bạc phếch của anh nhưng giả vờ không biết.
- Thôi, kệ xác. Ừ, chẳng lẽ chừng ấy cái đầu đều nhầm cả…


Sống để ăn ^-^
0
Giữa hai bờ xôi mật


Truyện ngắn của Lý Biên Cương


Nhà văn N.K, người Hiệp đã yêu quý từ lâu, gửi thư mãi Thành phố Hồ Chí Minh ra: “Sắp tới mình ra Hà Nội họp, muốn tới chỗ ông chơi. Ông tìm cho mình gặp mấy nhà doanh nghiệp ăn nên làm ra. Mình muốn hỏi chuyện thẳng họ, biết đâu có thể viết về họ”.
Hiệp cười. Tưởng gì, muốn gặp mấy “nhà tỷ phú” thời mới nào có khó. Vùng này mấy năm nay nhan nhản các ông chủ, bà chủ đứng đầu hàng tỉnh, có vị vươn sang địa phương bạn, có vị mò mẫm tung hàng tận châu Mỹ, châu Âu. Hiệp vội vã viết thư mời nhà văn. Kể ông này cũng nhiễu sự. Dễ trong đó không còn ai chắc? Nhưng để thay đổi chỗ ở, thay đổi con người, hẳn cảm xúc cũng dễ đến hơn. Cũ người thì mới ta!
Hiệp bị viêm khớp, phải đi bệnh viện Trung ương. Người lái chiếc xe con là bạn con rể Hiệp, hai đứa cùng học phổ thông, cùng vào đại học, giờ mỗi đứa mỗi nghề. Nghe tin bố bạn ốm nặng, cậu chàng đánh hẳn chiếc xe mới tinh về đón: “Thưa bố, bố phải đi xe này mới đảm bảo bệnh tình. Con sẽ lái chậm, tránh mọi ổ gà, đưa bố đến phòng khám trước giờ làm việc”. Chàng ta nói liến thoắng, rồi cười phá, sợi tóc hớt cua rung rung trên đầu, che đi bộ mặt gầy gò xương xẩu. Hiệp cười nụ. Đúng giọng anh chàng “xế”. Chuyện nổ ngô rang, từ lúc lên xe đến dọc đường dài. Như lâu lắm mới gặp lại. Như lạc nhau mấy mươi năm, nay được dịp hàn huyên. Cậu con rể Hiệp cũng ồn ào chuyện. Xem chừng hai ông bạn này khó dứt nổi tâm sự.
- Này anh, ta giới thiệu tên tuổi nhau đi chứ?
- Xin vâng. – Anh chàng vòng vội tay lái tránh một vũng nước. – Con tên Luân, Nguyễn Kim Luân. Ông thì con rõ từ rất lâu, khỏi phải nói thêm. Dạo này ông nghỉ hưu hay còn làm việc?
- Tôi hưu dăm năm nay rồi. Cái bệnh khớp quái ác, nó sưng tấy đầu gối, sưng tấy mắt cá chân, đau buốt đêm ngày, không đi lại được. Lắm lúc đau quá, ôm chân trên giường, đầu óc tỉnh queo muốn chết lắm!
- Ấy chớ, bố không được quyền nghĩ thế. Bố phải sống vài chục năm nữa cho chúng con nhờ.
- Tôi còn làm được việc gì, các anh bảo nhờ. Bận chân các anh thì có. Đúng đau gì khổ nấy. Các anh đau khớp đâu mà biết.
- Chúng con chưa đau khớp nhưng đau thứ khác, thưa bố đau tiền. Suốt ngày con chỉ quẩn quanh mỗi chữ tiền. Ngày nào không kiếm được mươi, mười lăm triệu là bồn chồn, tất cả sẽ treo niêu.
- Anh lái xe này, kiếm sao nổi số tiền to ấy? Chả nhẽ buôn đô-la, buôn vàng?
Chàng Luân tủm tỉm cười, tiếp tục tăng ga. Chiếc xe lướt nhẹ, mặt đường nhựa. Cậu con rể Hiệp vội đỡ lời bạn:
- Thưa bố, con quên giới thiệu. Cậu Luân đây là giám đốc một Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng công nghiệp lớn. Chiếc xe này là chiếc thứ năm cậu ấy mua và tự lái lấy. Đơn vị cậu ấy đóng giữa thủ đô, có bốn ngôi nhà cao tầng, trong tay vốn lưu động cũng vài chục tỷ.
Hiệp giật mình. Anh chàng này là một giám đốc, lại giám đốc tấm món? Ông đảo mắt nhìn Luân lần nữa, xem cung cách anh chàng đúng mác ấy không? Ông lặng người, ít chuyện. Ông ngượng. Xưa nay ông vẫn nghĩ, giám đốc một doanh nghiệp phải anh chàng cỡ khác. Ông đã viết một truyện, anh chàng giám đốc của ông là một cán bộ trung lưu, đến đâu cũng com lê cà vạt, cũng bụng phệ lặc lè, cũng đèo thêm cô thư ký trẻ. Bao nhiêu chuyện xảy ra cũng từ cô thư ký này. Những chữ ký khống lấy trộm vật tư, những chữ ký rút tiền ngân hàng chia nhau, những chữ ký kèm theo những chiếc hôn. Bà vợ ông ta mò mẫm tìm ra khách sạn ông trú. Bà bắt quả tang chồng cùng “con đĩ” ngay trên giường. Ông viết và được đăng trang nhất một tờ văn nghệ. Con rể ông đọc, nó vốn giáo viên chịu khó đọc văn chương, rụt rè: “Bố viết thế này, mấy ông giám đốc đọc được chỉ thiếu nước độn thổ. Hình như, con nói hình như thôi, các cây bút bây giờ thành kiến nặng với mấy nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Trang viết rứa, điện ảnh rứa, sân khấu cũng rứa. Thấy mặt họ xuất hiện thì y như tiêu tiền chùa như xé vải, là thêm cô thư ký trẻ khuynh đảo, là mắt la mày lém. Chẳng rõ họ đang làm ăn những gì ngoài chuyện chơi bời, tiệc tùng xả láng, bồ bịch lăng nhăng, bỏ bễ gia đình vợ con”. Ông Hiệp tự ái: “Dễ tôi viết không đúng. Anh thử lượn ngoài phố, đến các khách sạn, các tiệm ăn, các khu vui vầy xem. Những người bình dân, thu nhập thấp như cánh tôi, cả đời sống không thể bén mảng tới. Họ uống rượu ngoại như uống nước lã, một chai John Walker cũng triệu trên triệu dưới. Mấy con nhóc tháp tùng thì ỏn ẻn ngồi đứng, ngứa cả mắt. Đạo đức xem chừng đang đảo điên, lộn tùng phèo hết”. Cậu con rể nhìn bố vợ, chống chế: “Con đâu nói bố viết sai. Con muốn nói bố viết chưa đầy đủ. Bố hãy tới mấy vị trời phú nọ xem tận mắt cung cách họ làm lụng lẫn thực sống. Nếu vị nào cũng na ná như các bố viết thì đất nước mình chỉ một nước chết. Đồng tiền lúc này làm ra đâu dễ, đổ mồ hôi lẫn sôi nước mắt, còn đổ cả máu nữa”. Ông Hiệp lim dim mắt. Chiếc xe bon khá nhẹ mà các gối khớp vẫn cọ nhau đau nhói. Luân vẫn nhịp nhàng vòng lái, đường cái năm nay hầu như bê tông hoá, xe băng vài chục cây số giờ nhẹ như không. Hai bên đường dày kín nhà mới cất hoặc đang xây dở, ngổn ngang gạch đá vôi vữa. Đất nước vào công nghiệp hoá, tiến độ xây dựng ồ ạt nom nhỡn tiền. Trên đỉnh một nhà đang cất nóc, mấy cô gái chuyền các xô vữa nói cười thật sự vui vẻ tươi tắn.
- Này, anh Luân ạ, anh đọc báo có rõ cụm chung cư nhà Thanh Xuân bị rút bớt mấy chục cột thép. Chúng thật gan, giám sát và thi công thông đồng nhau. Chúng bít kín các lỗ bê tông giữa các cột, cốt, tránh bên chủ kiểm tra.
- Dạ, con đọc rồi. Bởi thế hơn chục đứa phải vào nhà pha bóc lịch. Bởi thế những nhà chung cư khác mang vạ, xây xong không có người hỏi mua, đành im ỉm khoá. Người mua mặc cả liệu phòng ở trụ nổi năm mươi năm không. Người bán tắc cổ, không thể trả lời. Trong kéo ra, ngoài đẩy vào, đầu Ngô mình Sở, chẳng còn ra sao.
- Theo anh, phải vì mất đoàn kết, chia chác không công minh nên tố nhau, chuyện vỡ lở ra?
- Cũng một phần. Cái này bên công an họ biết kỹ, họ tung trinh sát ngay từ ngày đầu xây dựng. Nhưng theo con, đây còn là miếng đòn hiểm với người lãnh đạo cao hơn. Chính con cự lại đồng chí phụ trách. Đồng chí ấy bảo: “Công trình này là chủ trương của cấp uỷ dành cho người có thu nhập thấp, các cơ sở phải đúng lịch xây dựng”. Con nói: “Công trình xây xong, địa phương cất cho ai ở là quyền địa phương. Riêng quỹ vốn mới đáng phải nói. Không thể vì cái mác dành cho hộ thu nhập thấp mà rút bớt tiền các hạng mục. Nhà ở lâu dài, phải đâu cái lều cái quán mà bảo cất thế nào cũng xong”.
- Theo anh, không thể có ăn cắp vật tư trong chuyện này?
- Có chứ, vậy mới phải tù, mới treo niêu. Trong xây dựng không có chuyện làm nhà chỉ dành riêng người thu nhập thấp. Tất cả đều phải đúng quy trình kỹ thuật, đúng đồng tiền bỏ ra. Phân phối tất khác. Chiểu theo chính sách, hộ nghèo không đủ tiền mua thì chính quyền sẽ cân đối ngân quỹ bù trừ.
- Công ty anh hiện đang có bao nhiêu người?
Cậu con rể Hiệp nhanh nhảu:
- Công ty Luân là một công ty lớn, làm ăn hợp đồng với cả nước. Bộ phận kỹ thuật gồm hai lăm kỹ sư và kiến trúc sư, phần lớn thạo nghề. Thợ sản xuất gồm năm trăm người.
Luân đảo tay lái, giòn giã tiếp:
- Học xong đại học, con vào làm Nhà nước dăm năm. Dọc đường công tác, thấy bao nhiêu bất hợp lý không chịu được, con xin nghỉ việc. Mình vốn người làm lụng, chân tay thừa thãi thì không yên, cô vợ lại mặt mũi xưng xỉa cằn nhằn, con liền bổ đi làm tư. Con chạy tiền, chạy giấy tờ xin lập công ty. Mình mình bươn chải, đánh đông dẹp bắc, gây dựng dần mới được như ngày nay.
- “Ngày nay” gồm những nghĩa gì”?
Cậu con rể lại xắng xở:
- Nghĩa là Hà Nội có bốn ngôi nhà cao tầng dành cho sản xuất. Hải Dương, Hải Phòng đảm đương mấy chung cư. Quảng Ninh xây xong khu nuôi hải sản Bãi Cháy và khu cảng lẻ Cái Lân. Đà Nẵng bắt tay xây khu du lịch sông Hàn. Cả Đà Lạt, cả Thành phố Hồ Chí Minh…
- Thưa bố, con suốt ngày xa vợ con, suốt ngày quần với chiếc xe độc diễn này. Giao dịch cũng nó, chỉ huy cũng nó, thậm chí ăn chơi cũng nó. Mồ hôi mồ kê lúc nào cũng đẫm lưng. Bố tin không, con vừa vào thăm một anh bạn tù, thằng này mải vui ở đất nước người mất tăm nửa tháng trời, về nước bị thằng phó xốc cho một đòn nốc ao. Con hỏi nó cung cách gây dựng đơn vị, nó bảo: “Dùng đứa có tài thì tốt, nhưng phải nhớ đứa có tài lại phải có tâm, cái tâm suốt đời máu thịt với nghề nghiệp. Hãy xem chung quanh mình đứa tài nhan nhản, nhưng tâm dạ thì nhạt nhoét, chúng làm việc như cái máy, đứa nào chỉ biết đứa ấy”. Công ty con đang vào vòng làm ăn. Từ cái khâu tuyển người, con em bạn thân, con em con ông cháu cha vẫn nhận, nhưng nếu thử vài lần không nổi thì chuyển ngay lao động khác. Lao động chân tay cũng phải sớm thạo nghề, không dễ lơ mơ. Trong một công ty không thể còn kiểu người làm giả ăn thật, bỏ phứa từng công đoạn quy trình. Kìa, chỗ đầu cầu kia có một quán nước. Ta nghỉ mươi phút làm một hụm trà nhỉ? Con giờ hư đốn, sáng không ăn cũng xong nhưng không thể bỏ trà. Cái giống trà chỉ uống buổi sáng là sướng nhất, thú vị nhất.
Xe dừng, cô chủ quán trẻ măng đon đả mời khác. Hiệp ngỡ ngàng trước cảnh tượng đổi mới. Ngày nào qua đây còn phải sang phà, nạn chờ phả khổ quá đi đầy, phà chở ba bốn xe, dòng xe chờ dài hàng cây số. Con sông vẫn nhỏ như xưa, cây cầu đồ sộ bắc ngang nên sông càng như nhỏ hơn. Năm ba con đò bé bỏng lững thững cập bờ, chở người sang phố đi chợ quang gánh lổng chổng. Hiệp đảo mắt dọc cầu. Sớm, xe qua lại ít, cầu khá quang quẻ sạch sẽ. Dễ mấy năm ông mới đảo tới đây, trước có việc đi Hà Nội ông thường tắt đường khác, xa nhưng khỏi cảnh đợi phà đò.
Anh chàng Luân và cậu con rể vồn vã rót nước trà ra chén. Nom mã chúng thao tác, biết chẳng đứa nào chơi nghiện, không có dáng khoan thai của người ẩm trà sành điệu. Luân cung kính dâng ông chén trà bốc khói, miệng không ngớt động viên: “Ông khỏi lo nhỡ giờ. Con đã bấm rồi, kịp về Hà Nội ta làm bát phở Thìn. Riêng món phở thì thủ đô mình đặc sản. Không chỉ phở Thìn Bờ Hồ. Mà còn phở Bát Đàn, phở Ngô Quyền, phở Lý Quốc Sư… Con sẽ dẫn bố đến nơi nào bố thích. Nghe nói hồi chống Mỹ, bố suýt ăn bom tại bến phà này?”.
Ông Hiệp khẽ gật đầu. Cái hồi ấy xa lắc xa lơ, gần bốn chục năm rồi. Ông qua dây, một tràng bom xé rát tai nổ ngay đầu bến. May, ông chỉ bị đất bờ sông vùi, khi tỉnh lại thấy mình nằm trong bệnh viện dã chiến sơ tán đầu núi. Trong cái rủi hái được cái may. Tại đây ông gặp một cô nhân viên y tế. Cô này nền nã, chịu thương chịu khó chăm nom ông. Hai người yêu nhau, cưới nhau, sinh được cô con gái lớn. Vợ của anh chàng giáo viên văn đang xì xoạp uống trà cùng anh bạn Luân kia. Chóng quá!
Xe tiếp tục lên đường. Cây cầu rộng mượt, nhanh chóng lùi xa. Luân vi vu huýt sáo miệng, nom bề ngoài không thể đoán anh chàng đang ấp ủ nhiều mưu tính. Con chim lông đen kít đậu dọc đường, hốt hoảng tránh xe, bay vội lên cao.
- Ngày hôm nay, anh định làm những gì? – Hiệp hỏi tò mò thêm.
Luân thản nhiên:
- Đưa bố vào bệnh viên xong, con xin phép quay ngay về tỉnh lúa dưới kia. Trưa nay con phải họp với các cơ quan đương chức để ký biên bản quyết định. Này cậu - Luân ngoái sang phía con rể Hiệp - còn nhớ thằng Quân không? Cái thằng học cùng cánh ta, giờ làm phó cho công ty mình. Phân công hắn điều hành một hạng mục lớn, ký với bên Nam Dương. Hắn diễn ra cái trò y bên Thanh Xuân, rút bớt các cột cốt thép, ăn trộm vật tư. Trưa nay sẽ chính thức kết luận và mình sẽ thay mặt công ty ký vào.
Con rể Hiệp kêu to sau xe:
- Thằng cha sao quá liều? Nó không nghĩ đến hậu quả công trình, không nghĩ cái ngày phải đút tay vào còng số tám?
- Nghĩ chứ, nhưng đồng tiền bẩn thỉu thúc lưng nó. Nó đang bị tạm giam chờ xét xử. Ông ơi, thằng Quân này thực sự một thằng tài năng. Con tuyển nó không chỉ bạn, còn bởi cái tài của riêng nó. Đọc bản thiết kế nó thảo, nhận ra ngay sở ngón một kỹ thuật viên chuyên nghiệp, rành mạch, đâu đấy, không chê được từ chi tiết nhỏ. Giữa kiến thức nhà trường, với thực tế thi công cách nhau thật xa. Nhà trường chỉ dạy ta kiến thức chung nhất, nhưng cũng cũ nhất. Còn thực tế cuộc sống mài rũa ta hiểu biết mọi chuyện cụ thể và luôn mới mẻ. Con đọc mẫu thiết kế Quân gửi, bụng bảo dạ thằng này được, nó không sách vở, nó đầy sáng tạo. Được nó cộng tác thì công ty ắt vào cầu, việc tất nở rộ.
- Vậy mà…, ông Hiệp toan nói hết ý nhưng vội ngừng. Ông muốn nghe Luân thổ lộ.
Luân thở dài:
- Con người ta chẳng biết đến đâu là dừng. Quân cũng rứa. Công ty Nam Dương là một đơn vị hùng mạnh. Bọn con cậy cục mãi mới thầu phụ được mấy công trình trọng tâm. Quân phụ trách điều hành một hạng mục. Nó chỉ huy đêm ngày tại chỗ. Tưởng yên, đâu ngờ nó loạn, xén đứt mất bốn cột thép. Công an người ta thoại tới con. Họ mời trưa nay giám đốc về Nam Dương nghe kết luận điều tra.
- Trời đất, sao anh không bảo trước, lại bận tâm về bệnh tật lão già này?
- Chuyện nhỏ. Đưa bố đi viện cũng là một việc trong ngày. Bố khỏi nghĩ ngợi. Chúng con phận làm con, hiếu thảo với bố mẹ lúc nào, tốt cho chúng con lúc ấy. Bởi chúng con rất bận. Mà bố mẹ mỗi tuổi mỗi già, người già như chuối chín cây, nay còn, mai rụng. Vợ bỏ, vợ mất có thể còn kiếm vợ khác. Bố mẹ không may lâm nạn, hỏi tìm đâu bố mẹ trở lại?
Hiệp nghếch tai, bắt đầu chú ý những lời Luân. Càng nói càng nhận ra sức nghĩ, sức làm của chàng ta. Nó đánh bật hình bóng người giám đốc xưa cũ trong đầu óc ông lâu này. Nó lay động những ý nghĩ trái chiều ông vẫn thường ấp ủ. Xem chừng Luân còn giấu nhiều tâm trạng trong cái vỏ xuềnh xoàng, ăn mặc giản dị, không chút cầu kỳ, thậm chí có thể gọi buông tuồng. Anh chàng Quân nào đó đang lâm nạn tày trời. Anh ta đang trông chờ vị thủ lĩnh cứu độ. Vị thủ lĩnh vẫn lặng lẽ xoay vòng vô lăng, vẫn thủ thỉ chuyện trò với ông bố bạn mình, vẫn coi cái việc đang xảy tới kia là tất yếu.
- Con không sốt ruột – Luân tiếp - chỉ tiếc một điều mình công phu rèn cặp mà vẫn tuột khỏi tay, kết quả của việc thiếu ý chí ở một con người. Bây giờ người học cao khá nhiều, nhưng người dốc tâm đeo đuổi cả đời vì sự nghiệp, mất ăn mất ngủ vì nó, coi sự nghiệp như một lẽ sống khắc khoải, hỏi được mấy. Nhà trường dạy dỗ nhưng chẳng nổi bao nhiêu, vốn dĩ lọt thỏm như muối bỏ biển. Lại quá xưa cũ. Học trò ra trường thường ngơ ngơ ngác ngác trước những chuyện cuộc sống đầy rẫy phức tạp. Bình chân như vại, khỏi nói, đẻ ra một lớp người sáng cắp ô đi, tối cắp ô về. Thảng hoặc mới thật sự chạm trán vài vị tâm huyết nghiệp nghề, thiếu nghèo nhưng vẫn bám chặt với cái đích mình theo đuổi, càng gian nan càng sáng chói tấm gương. Nói vậy đúng không cậu? Luân hất đầu phía cậu con rể Hiệp. Nghề nào cũng có thể gặp được số người dốc lòng như thế. Như nghề dạy học của cậu, giữa khối đông đảo thầy giáo, cô giáo ngày ngày chỉ đứng lớp đúng giờ, chẳng hé chút nào sáng tạo thì riêng cậu vẫn lặng thầm vượt lên. Đâu phải thi đua. Đâu muốn chơi trội. Bởi từ đấy gói trọn niềm vui nỗi đau của chính cậu. Người tuy ở xa nhưng vẫn dõi mắt theo sát cậu. Nếu không, hẳn cậu không còn bạn mình. Nhiều đêm thao thức, mình vẫn thường cắn môi lẩm nhẩm. Trong khoảnh khắc ngỡ vô tận, cảm giác cô đơn mạnh mẽ ập tới, mình đang sống với ai đây, làm từng ấy việc liệu đã mấy người cảm thấu? Nỗi cô đơn cứ đeo đẳng bám sát, đồng tiền thu về phỏng mấy ích, vợ con đề huề đã hẳn mặn mòi hạnh phúc? Trên đời đầy nỗi quạnh hiu sẵn sàng ập tới mình ư?
Ông Hiệp cầm chiếc gậy chống đặt bên, nhìn nhanh Luân. Con người này đổi khác dần trong mắt ông. Đã lâu la gì, mới từ mờ sáng đến giờ, ông từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác.
- Trưa nay, anh phải xa bố con chúng tôi thật sao?
- Vâng, thưa bố, con sẽ phóng xe bảy tám chục cây số giờ. Con sẽ tới đúng hạn phía địa phương yêu cầu. Con không ký thì mọi tội lỗi Quân vẫn có thể mờ mờ tỏ tỏ. Con ký rồi, tất Quân sẽ bị xử tội tù.
- Anh cũng nên nhớ Quân còn là bạn anh, cả một gia đình trông mong vào trí lực nó.
- Thế con mới phải ký. Con ký xong, nó chính thức thụ án thì con cũng chính thức cùng nó ngồi tù. Người ta sẽ không tha con, bởi con là giám đốc, liên đới chịu trách nhiệm. Cái cơ ngơi con vun xới bao năm rồi sẽ theo nhau bay biến bởi tai hoạ này. Nhà cửa dễ bị niêm phong. Tài khoản ngân hàng sẽ bị khoá. Thiên hạ được một phen ồn ĩ chê bai, thêu dệt. Biết nói sao đây, mình làm mình chịu tiếng đời.
- Có nghĩa công ty anh chỉ tồn tại từ giờ đến trưa nay thôi? Hay anh quan trọng hoá vấn đề để tôi hiểu rõ công việc anh hơn?
- Không, con nói đúng thế, bố khỏi lo. Rồi con sẽ có cách vực lại công ty. Cua máy cáy đào. Thiên hạ vốn nhiều quân tử sẵn sàng giơ tay cứu độ người bị nạn.
Xe dừng cổng bệnh viên đúng chín giờ sáng. Luân dìu ông Hiệp vào tiền sảnh phòng khám, trong khi cậu con rể líu tíu lo phần nộp các thủ tục. Luân xin phép chia tay, nét mặt tươi tỉnh, không chút âu lo. Chiếc xe con nhả một đợt khói mỏng, vù phóng về phía cuối đường Giải Phóng, mất hút giữa khối đông người và xe qua lại.
Ông Hiệp thẫn thờ nhớ anh chàng Luân. Bức thư nhà văn N.K từ Thành phố Hồ Chí Minh chợt hiện về. Ra ông này chuyển hướng viết từ rất lâu, vươn xa trước nếp nghĩ ông đến gần chục năm, ông thì vẫn mò mẫm theo lối cũ. Mình lạc hậu thật rồi, ít ra cũng lạc hậu trước bạn bè đồng nghiệp. Cuộc sống thì vẫn đó, ồ ạt qua mặt, đông đúc và cuộn chảy như dòng sông mùa này băng nước cuốn trôi, dòng sông quê ông, cũng của riêng Luân, của tất cả mọi người, giữa hai bờ xôi mật.

(Báo Văn Nghệ)


Sống để ăn ^-^
0
Thung Vang


Truyện ngắn của Bùi Huy Vọng

Gần chục năm nay rừng mường Sến đã xanh trở lại, ấy là nhờ có Nhà nước triển khai dự án phủ xanh đất trống, đồi trọc, dự án đem lại nhiều thứ lợi cho người dân, người trồng rừng được cấp gạo ăn, được cấp cho cây giống. Khu rừng trong thung Vang, thung lũng phía sau mường Sến được chia lô cho các hộ dân khoanh nuôi, bảo vệ, hàng năm chủ rừng được Nhà nước chu cấp tiền. Có rừng, thú lại về, tiếng chim muông ríu rít vang lên từ khi đất trời còn mờ tỏ trong làn sương sớm cho đến tận chiều hôm. Đêm đêm tiếng chim Đốk-clộc, tiếng tắc kè kêu râm ran. Cánh đồng mường Sến nhờ có rừng nên nước suối không bao giờ cạn, dọc theo suối người mường Sến đắp bai đưa nước lên mương, máng dẫn ra ruộng đồng. Nhờ đủ nước nên cộng với sự chăm bón của con người nên lúa đồng mường Sến tốt bời bời. Mùa hè ở mường Sến dường như mát mẻ hơn các mường khác, bởi màu xanh của rừng, có những cơn gió rì rào từ trong rừng, trong thung Vang thổi ra mát rười rượi.
Trong thung Vang độ này xuất hiện dấu chân hoẵng, ai cũng nói là có một con, thực hư vậy thôi chứ ở mường này chỉ có lão Sầm là biết tỏ. Lão là tay thợ săn lão luyện, các tay chủ quán đặc sản dưới phố huyện cả trên thị xã tôn lão như một chuyên gia siêu hạng, tài nghệ trong việc đánh bẫy bắt sống thú rừng. Lão thông thuộc rừng xung quanh mường Sến như lòng bàn tay. Trong thung Vang còn bao nhiêu con cầy, con sóc, nhìn dấu chân thú đi trên đất, lão biết ngay là có mấy con, to hay nhỏ… Những năm trước lão chuyên cung cấp nai, hoẵng, cầy hương, nói chung là thú rừng cho các quán hàng đặc sản, cho bọn chuyên buôn bán động vật trái phép. Nhà lão vốn có bí quyết truyền đời nghề chế tên nỏ tẩm độc. Mũi tên độc của lão bắn ra chỉ cần xước ra là con vật không chạy được quá mười bước, kể cả đó là con hổ. Tên độc của lão có cái hay là cực độc giết chết thú rừng, song người ăn thịt thú lại không bị làm sao cả, nó chỉ độc ở một đời. Thú đã chết làm sao có giá đắt như thú còn đang sống, do đó lão ít khi săn bắt thú bằng tên độc, lão chuyển sang làm các loại bẫy. Lũ khách hàng của lão rất khoái, những con thú sa vào tay lão thường chỉ bị thương chứ ít khi có con chết. Chúng có các thực khách lắm tiền, nhìn thấy các con vật bị nhốt trong cũi sắt, họ sẵn sàng trả giá gấp năm, gấp mười lần giá bọn chủ mua từ lão Sầm.
Càng về sau nghề săn, bẫy thú của lão Sầm càng sa sút bởi rừng bị phá đi để lấy đất làm nương, rẫy, thú rừng không còn chỗ để ở, thêm vào nữa Nhà nước cấm ngặt nghèo việc săn bắn thú rừng trái phép, lão cũng sợ, nếu sơ sểnh để bị bắt dễ đi tù như chơi. Lão biết trước mọi người về sự xuất hiện của hoẵng, xem dấu chân lão biết phải có hai con hoẵng, chứ không phải một con đang ở rừng thung Vang. Lão biết, từ xa xưa tổ tông nhà lão và cả dân mường Sến này có một lời thề nguyền kiêng kị không săn bắt, không ăn thịt hoẵng, lão bỏ ngoài tai, không quan tâm đến lời thề nguyền ấy, lão biết đôi con hoẵng trong rừng thung Vang là một gói tiền biết đi. Lão bí mật giấu vợ, giấu con chuẩn bị bẫy vào rừng thung Vang đi đặt.
Làng mường Sến ở lưng núi cao là nơi đón gió, đón mưa cho cả dải vùng ba xã rẻo cao. Gió ở mường khác chỉ nhẹ nhàng rung lá, ở mường Sến gió đã ào ào thổi thốc tháo. ở mường khác có mưa phùn song ở mường Sến mưa đã nặng hạt. Người trong mường còn truyền đời kể lại từ thuở xa xưa có những cơn lốc thổi nhấc hẳn một bụi tre từ trong mường quăng ra tận ngoài ruộng lúa phía trước mường, gió lốc còn thổi lăn cả cối đá ra ngoài ngõ. Người mường Sến thời nay chưa thấy việc đó, những ngày đất núi trơ trụi chưa chồng lại rừng, gió lốc, mưa lở đất, đá là chuyện thường thấy. Những trận mưa to, gió lớn, sấm sét chớp loé vang rền, đá lăn, núi lở ầm ầm như thiên binh đánh trận trong thung Vang, nước suối sủi bọt ngầu bùn đất như máu núi chảy ào ra, tràn lên làm lấp ruộng, vùi lúa, vùi hoa màu, thiệt hại khôn xiết. Nắng là của trời, mưa gió là việc thiên nhiên, song người mường Sến rất quan tâm, nhà nào cũng mua đài để nghe, mấy năm nay có điện về mường nên cả xóm lại mua ti-vi để xem, nghe tin tức, song quan trọng hơn cả là để nghe dự báo thời tiết.
Lúa tháng năm đang chín rộm ngoài đồng, người mường Sến đang thu hoạch ngô ngoài bãi, xong rồi mới quay sang gặt lúa. Trời cao xanh lồng lộng, nắng chói chang như giúp người mường Sến phơi ngô mau khô, cho cây lúa thêm vàng bông. Mế Hừm cùng cái Hon, đứa cháu nội đang ngồi tẽ ngô trên cửa voóng nhà sàn, ngoài kia ánh nắng chiều tà màu vàng nghệ còn như cố muốn vương đọng lưu luyến trên những ngọn cây cau, cây tre đang lay lay cành lá trước gió. Trên trời cao một vài đám mây vàng rộm như màu mỡ gà nhàn nhã, lững lờ trôi, tiếng mõ trâu lốc cốc, rộn rã dồn cùng bước chân rầm rập đi về mường. Bỗng từ trên núi cao trong thung Vang có tiếng kêu:
- U… u… oác… oác…
Tiếng kêu dài, vang động cả khung trời chiều yên ả.
Mế Hừm buông bắp ngô đang tẽ dở, kêu lên:
- Chết rồi, trời sắp mưa, kéo gió về mường Sến ta rồi…
Cái Hon ngơ ngác hỏi bà nội:
- Sao Mế biết?(1)
Mế Hừm bảo cháu nội:
- Ngày mai cháu tạm dừng việc ôn học một, hai buổi để ra đồng với bố, mẹ cháu mau gặt lúa chuyển về nhà. Cứ để chậm khéo mà có làm, không có ăn, mưa, gió, quăng quật lúa hỏng rụng hết hạt.
Cái Hon vẫn chưa hiểu sao bà nội nó lại nói vậy, nó gặng hỏi, mế Hừm như sực nhớ ra:
- Cháu không nghe thấy tiếng kêu lúc nãy à, đó là tiếng hoẵng kêu báo cho mường ta đấy. Thật đúng là phúc ấm tổ tiên để lại, có rừng hoẵng lại về. Từ lâu rồi, người mường Sến ta có lời thề nguyền với loại hoẵng, hễ có tiếng hoẵng kêu là trời đang mưa sẽ tạnh, đang nắng trời sẽ chuyển sang mưa to, gió lớn đấy cháu ạ.
Cái Hon hồ nghi, nó không tin, mới buổi trưa nay đài báo khu vực phía Tây Bắc Bộ có mưa giông vài nơi. Mà phía Tây Bắc Bộ có hàng nghìn, hàng vạn mường như mường Sến này chỉ có mưa giông vài nơi, chắc gì đã đúng vào mường Sến.
Song lời thề nguyền của người mường Sến xưa đối với con hoẵng, đã kích thích trí tò mò của Hon. Chiều ý cháu nội, mế Hừm kể lại truyền thuyết cho cháu nghe:
- Ngày xưa, từ lâu lắm rồi, khi ấy làng mường Sến còn ở dưới mường Bưa Bằng dưới chân núi. Trong một năm trời đại hạn, có người thợ săn trong mường đi chăng bẫy, nghe nói người đó là tổ tiên, dòng họ nhà lão Sầm bây giờ. Một con hoẵng chẳng may sa vào bẫy nó tìm mọi cách mà không sao thoát ra được. Thương con đực, con cái không nỡ bỏ bạn tình, nó cứ quẩn quanh canh chừng. Sáng tinh mơ, người thợ săn vào rừng thăm bẫy, thấy cảnh trên, anh ta cả mừng, lắp tên, giương ná nhằm con cái bắn. Mũi tên đi không trúng đích, cả đôi hoẵng hoảng hốt vội van xin người thợ săn đừng giết mình, đổi lại nó sẽ báo cho người thợ săn biết thiên cơ việc trời đất sắp xảy ra, nó có thể cứu sống cả làng mường Sến khỏi một cái tai hoạ đang sắp ập tới.
Nghĩ đến dân Mường, đến tai hoạ, người thợ săn buông ná, tháo tên, hỏi vợ chồng nhà hoẵng có tai hoạ gì sắp xảy ra. Con hoẵng cho biết trời sắp nổi cơn đại mưa, đại gió làm trận lụt lớn để phạt loài người nhân gian phá rừng, giết hại vô tội vạ các loài thú dưới gầm trời. Việc đó chắc chắn sẽ xảy ra, khi nào thì hoẵng chưa biết, song có tin hoẵng sẽ báo tin ngay cho con người. Người thợ săn đồng ý thả cả đôi con hoẵng, đôi bên cùng lập lời thề nguyền:
- Từ nay về sau người Mường Sến sẽ không săn bắt, không ăn thịt hoẵng, đổi lại hễ trời sắp mưa, sắp nắng hoẵng phải kêu báo cho con người biết.
Ba tháng sau vào một ngay trời quang, nắng nóng, bỗng từ trên ngọn đồi phía sau mường Sến có tiếng hoẵng kêu rống riết. Biết là tai hoạ sắp xảy ra, người thợ săn vội báo cho cả mường Sến biết. Các nhà vội bế con, gồng gánh thóc lúa, dắt trâu bò leo ngược lên núi. Mưa bắt đầu ập tới, những hạt mưa to như quả ổi, hạt nhỏ cũng bằng ngón chân cái. ầm ầm, ào ào từ không trung trút xuống. Nước dâng lên trắng xoá nhấn chìm hết rừng rú, nương rẫy, các mái nhà sàn ở mường Bưa Bằng. Thây người, thây súc vật chết nổi lềnh bềnh, trôi dạt khắp mọi nơi. Nước dâng quá ngọn cây cổ thụ trong rừng vậy mà nước vẫn chưa ngừng dâng, mưa vẫn tuôn. Sau ba ngày, ba đêm người mường Sến dắt díu nhau chạy lũ đến tận lên núi cao là làng mường Sến bây giờ nước cũng đã ngấp nghé theo bước chân, thật may là trời ngừng mưa nên nước không dâng lên được nữa. Người mường Sến thoát chết là ơn nhờ có con hoẵng báo trước. Từ đó cả mường tuân thủ lời nguyền, cư trú trên vùng đất mới, họ dành hẳn thung lũng phía sau mường cho hoẵng về sinh sống, tất cả mọi người cùng canh chừng cấm các thợ săn ở mường khác đến săn, bắn hoẵng. Về sau hoẵng nhiều lên thành lũ, thành đàn và thung lũng hoang tự nhiên có tên là thung Vang. Rừng với hoẵng với người làm bạn với nhau, dựa vào nhau để tồn tại bao đời qua... Chỉ mới gần đây khi rừng bị phá đi nhiều, bọn săn bắn có cả người trong mường tiếp tay, chúng đánh bẫy, săn bắn không run tay tiêu diệt hoẵng, số sống sót cũng đành phải bỏ thung Vang đi vào rừng sâu mong hòng thoát chết, thung Vang không còn hoẵng nữa, hơn chục năm nay tai ương do mưa, gió gây ra liên tiếp giáng xuống mường Sến ta. Nay rừng đã được trồng, được bảo vệ, hoẵng đã lại về trong thung Vang, lại báo trước cho dân mường biết trước mưa gió để phòng tránh, thật là phúc đức, người mường ta cũng nên lập giữ lại, tuân theo lời thề nguyền.
Giọng mế Hừm lâm râm như tự nói với chính mình, đưa đứa cháu nội vào không gian truyền thuyết thực hư, huyền mặc. Đầu óc non nớt của Hon cũng cảm nhận được sự vọng tâm thành tín của bà nội đối với chuyện xưa.
- Cháu là người đang sắp trở thành người có học, hãy nên lắng nghe, tìm trong các câu chuyện xưa của người mường ta, không phải mọi thứ đều là mê tín, là của đáng vứt đi hết đâu, người xưa đã phải chiêm nghiệm, thậm chí phải trả giá rất đau đớn mới đúc rút được những kinh nghiệm, những bài học những tri thức truyền đời. Có thể bây giờ cháu chưa tin, nhưng cũng nhanh thôi, hai, ba hôm nữa cháu sẽ thấy ngay.
Đêm hôm đó con hoẵng còn kêu vài lần nữa. Dường như trong mường Sến vẫn còn nhiều người nhớ tới lời nguyền xưa, hôm hơn nửa số nhà trong mường quay sang đi gặt lúa. Tối hôm qua đài vẫn báo khu Tây Bắc có mưa rào và giông vài nơi, “trong cơn dông đề phòng có gió lốc và mưa đá”. Nửa mường còn lại vẫn bằng chân như vại, họ chê cười những nhà đi gặt lúa là mê tín, u muội tinvào truyền thuyết xưa.
Ngày hôm sau nữa trời vẫn nắng chang chang, trời xanh đến loá mắt, nắng như đổ lửa xuống đồng, không khí ngột ngạt, trời im gió không một lá cây ve vẩy. Qua giờ ngọ đột nhiên mây ùn ùn kéo đến, gió âm u gầm gào, rất nhanh trời bắt đầu mưa, những hạt mưa đá to như những hạt sỏi vãi lung tung trắng xoá cả đường đi, chúng như những viên đạn bắn phá không thương tiếc xuống cánh đồng lúa, những hạt đá to xuyên thủng mái nhà tranh, những tàu lá chuối chẳng mấy chốc đã tả tơi rách tươm. Cả không gian vang lên tiếng lộp độp, rào rào của những hạt nước đá khi rơi vào vật cứng, lá cây mặt đất tạo nên thứ âm thanh vui tai, tàn nhẫn của sự phá hoại, của tai hoạ. Sau hơn mươi phút mưa đá là mưa nước, từng dợn mưa ào ào lạnh buốt cuốn theo chiều gió táp lên như kẻ trợ lực cuốn đổ cây cối, hất tung những phên tranh, viên ngói, cuốn đi cả những vách nứa, nong nia trong các nhà sàn.
Thiệt hại lớn quá, các nhà không chịu gặt lúa lúc này mới hối tiếc không nghe theo lời hoẵng kêu.
Từ khi có hoẵng về thung Vang, việc cày cấy, làm mùa của mường Sến như thuận lợi hơn. Người vùng cao nơi đón mưa, đón gió tránh được những cơn thịnh nộ, những cơn giông tố dữ dội của thiên nhiên.
Gần năm tháng nay lão Sầm mất ăn, mất ngủ vì đôi hoẵng. Lão cười khẩy trong bụng khi nghe có người nói lời tạ ơn con hoẵng, với lão, lão chỉ cám ơn khi đôi con hoẵng sa vào bẫy. Lão rủa thầm người mường Sến ngu si, mê tín đủ điều. Nhất là các mụ già ngu độn, lắm điều, suốt đời chưa dám đi đâu khỏi làng mường Sến quá hai ngày. Với các mụ này từ hốc cây, tổ mối, mỏm đá, cái gì cũng thiêng, có thần thánh, ma quái trú trong đó. Đến cả đài, báo, ti-vi của Nhà nước cũng chỉ dám nói là “dự báo thời tiết…” chứ đâu dám nói chắc đinh là báo thời tiết đâu, ấy thế mà còn nhiều khi sai be, sai bét ra đấy, đang báo nắng thì trời mưa, báo lạnh thì trời nóng đó thôi. Hoẵng là giống vật hoang sinh ra trong rừng chỉ để cho hổ, cho con người săn, bắt về làm thịt, chứ làm sao báo được thời tiết, rõ là vơ vẩn… Lão đoán hai con chắc đã bị con người săn đuổi, chết hụt nhiều lần nên chúng rất nhạy, bao nhiêu cạm bẫy lão chăng mà chưa làm sao bắt được. Kể ra lão công cốc cũng là do người mường Sến đi rừng gặp cạm, bẫy lão chăng, người ta đập, phá huỷ nó không thương tiếc. Lão đã nhận tiền đặt cọc của một tay chủ quán dưới phố huyện, thời hạn giao hàng đã qua, vậy mà lão chưa thể nào bắt được đôi con hoẵng, nhiều lần lão định dùng đến mũi tên có tẩm thuốc độc, song chủ quán không muốn nhận hàng chết, chúng chỉ muốn con vật còn sống.
Hết mùa mưa đã chuyển sang mùa khô, rét, qua tết sang giêng, đến tháng ba trời vẫn không có một cơn mưa to, suối thung Vang cạn không, chỉ còn lại một vũng nước nhỏ trên đầu nguồn. Trời đất thật lạ, đã nhiều năm qua chưa bao giờ suối thung Vang lại cạn đến thế. Lão Sầm mừng thầm, lão biết cơ hội đã đến, trên thế gian này chẳng có con vật nào là không cần nước, lần này đến cả ếch, ngoé, rắn, rết cũng phải tìm đến vũng nước, chứ đừng nói gì loài to xác như con hoẵng kia. Để tránh bị phá đến buổi chiều hôm lão vào rừng đặt bẫy, mờ sáng tinh sương lão lại vào rừng tháo bẫy cất giấu đi.
Điều lão mong đợi cũng đã đến, hôm ấy buổi sáng tháng ba khô hạn, một đêm đã qua vậy mà trên các ngọn cỏ, lá cây không có một giọt sương đọng, lá cây khô lạo xạo rụng phủ một lớp dày trên mặt đất thung Vang. Từng bước chân đi lão phải cẩn thận xem xét, bởi dưới lớp lá khô thường có ốc sên, rắn rết trú ẩn, bước chân lão nhẹ hơn tiếng gió, chỉ có những thợ săn lão luyện mới đi được như vậy vậy.
Con hoẵng mắc loại bẫy theo kiểu cần câu, dây câu làm bằng dây thép phanh xe đạp có buộc thòng lọng, cần câu được làm bằng gốc cây sống to bằng bắp chân, chân sau hoẵng mắc vào thòng lọng bị chiếc cần nhấc bổng lên khỏi mặt đất chừng hai gang tay. Sợi dây thép xiết chặt, cứa đứt lớp da, máu chảy ra đem thẫm, lũ ruồi nhặng bu kín quanh vết thương, nó hoảng loạn chạy vòng quanh cố giãy hòng thoát thân song càng giãy, sợi dây thép càng xiết chặt hơn. Chờ tang tảng sáng, từ xa lão đã nghe tiếng thở phì phì, tiếng bước chân đạp lá khô loạn xạ, lòng lão muốn hét lên, vậy là đã có bạc triệu cầm tay.
Lão Sầm bình tĩnh quan sát, tay lắp mũi tên độc giương ná, có thể còn có con thứ hai còn ở quanh đó. Lão để ý lựa thế, người mường đúc rút một kinh nghiệm “Lòi bàng, Vang hẽo”. Lợn lòi trong cơn bí quẫn sẵn sàng xông thẳng vào kẻ thù, còn giống hoẵng có móng guốc chân sau sắc như lưỡi dao cạo cứa đứt cả cây gỗ chứ đừng nói đến da thịt người. Khi vào hiểm nguy, hoẵng sẵn sàng chạy thẳng tới kẻ thù xiếtm óng guốc vào bất cứ chỗ nào trên cơ thể đối thủ để thoát thân. Đúng như lão Sầm dự đoán con hoẵng thứ hai đang ở trong đám bụi rậm cách chỗ lão đứng chưa đầy mười bước chân, lão tự khen mình có bước đi đến con thú cũng không nhận ra được. Phải bắn thôi, nhanh lên để còn kịp gọi lũ con cháu vào khênh về, nếu trời sáng quá không kịp khênh về, đành phải đem giấu đến tối mới chuyển đi. Thôi thì một con sống, một con chết vậy, kể ra cũng hơi tiếc.
Pựt... mũi tên lao vút đi trúng đích, con hoẵng bị bất ngờ nó xông thẳng tới nơi phát ra tiếng ná, bất đắc dĩ lão Sầm phải nhảy vội vào đám bụi bên cạnh, con hoẵng ào ào rẽ cây, rẽ lá đi xuôi, cùng lúc ấy lão Sầm nghe như có cành gai đâm buốt nhói ở bên trên cổ chân, lão rùng mình ngoảnh lại, một con rắn cạp nong đang trườn nhẹ ra xa.
“Chết rồi…”, lão kêu lên, tay rút dao chặt dây cung ná vội buộc thít chặt bên trên bắp chân để ga-rô không cho máu độc chảy lên tim, lão dần bủn rủn chân, tay, mắt quáng lên chỉ kịp ngoáy mũi dao vào vết rắn cắn cho máu độc chảy ra, lão ngất lịm đi.
Cả mường Sến nhộn nhạo, người ta oán lão Sầm, thương cho con hoẵng bị trúng tên độc chết ngay dưới thung lũng, con hoẵng mắc bẫy được thả ra. Lão Sầm được đưa đi cấp cứu dưới bệnh viện, chậm chút nữa tính mạng lão khó mà cứu được, bên chân bị rắn cắn phải tháo khớp bỏ đi. Lão đau nhất là cả mường không ai thốt ra được một câu thương xót, thông cảm cùng lão, đã thế có người còn lửng lơ, ngụ ý, nói kháy: “ở đời, ai ưa cái gì, tìm, sẽ gặp cái đó”. Vừa đau, vừa bực song nghĩ lại lão vẫn thấy mình thật còn may mắn, phúc lớn, số dày, nếu không có hai người trong mường đi rừng sớm phát hiện ra, hẳn lão đã chết trong rừng.
Sau hơn hai tháng nằm viện, đúng hôm lão Sầm xuất viện ra về trời nổi cơn giông tố. Đang giữa buổi chiều mà mây đen phủ kín trên không trung, trời tối sầm tựa lúc chạng vạng chiều hôm, sấm ra, chớp giật, mưa gió dữ dội. Trong vườn nhà lão Sầm cây cối gãy đổ ầm ầm. Lão còn đang mệt, miệng rên hừ hừ, bỗng một cơn gió xô lệch ngôi nhà sàn vững chãi, hai đứa cháu đang tuổi thanh niên vội đứa cõng, đứa đỡ, đưa lão chạy ra khỏi nhà, vừa lúc đó gió bẻ vặn ngôi nhà răng rắc một hồi mới hất đổ tung, tiếng bát đĩa vỡ, cây gãy, tiếng ngói vỡ hoà lẫn tiếng lũ gà đang trú mưa dưới gầm sàn, tất cả hoà vào nhau huyên náo loạn xạ. Thật may là lũ đàn bà, trẻ con vốn tính nhát gan ngày thường gió hơi mạnh đã bỏ nhà ra trú ở hốc đá sau nhà, nên không có ai trong nhà nữa. Lão Sầm run bần bật, miệng lão rầm rầm:
- Con là kẻ có tội đã vi phạm lời thề nguyền, xin tổ tiên tha tội…
Cơn lốc kinh hoàng đó đã cuốn đổ, làm tốc mái, du xiêu niều nhà trong mường Sến, có điều lạ là nhà lão Sầm thuộc loại vững chãi nhất mường, nay đổ gãy tan hoang. Ngay trong cơn mưa gió quăng quật mọi người sực nhớ ra, giá đôi con hoẵng được yên lành hẳn nó đã kêu, báo trước cho dân mường biết để chuẩn bị chằng, chống nhà cửa. Biết đến bao giờ thung Vang mới có hoẵng trở về. Chẳng biết làm sao cho bõ tức, bõ bực, những câu chửi ngấm ngầm đâu đâu cũng nhằm vào lão Sầm, có đứa chẳng sợ gì cứ lớn tiếng chửi đổng:
- Mả bố lão Sầm giết chết hoẵng, làm hại, làm khổ cả làng, cả mường…

(1) Mế: Mẹ
Sống để ăn ^-^
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-25 22:49:44Ct.Ly>
Nữ văn phòng


Tác giả: Vũ Thị Thanh

(Tặng em T.T)




Đã mang vào thư viện

Cảm ơn Sao Băng đã đóng góp cho thư viện

Chúc vui
Sống để ăn ^-^
0