📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Ngã ba - Nguyễn Thị Việt Nga 🔒

12 trả lời, 2.827 lượt xem — Trang 1 / 1
Truyện: Ngã Ba
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Nga
Thể loại: Truyện vừa
Đây là tác phẩm được giả tư trong cuộc thi "Văn học tuổi hai mươi"
0
Phần I


Anh kể thêm về quê anh, về gia đình anh đi! Để mấy hôm nữa về đó em đỡ thấy bỡ ngỡ.
Không biết đây là lần thứ mấy trong buổi tối, Nguyệt ngước mắt nài nỉ Khanh. Anh chỉ khẽ vòng tay qua vai cô, giọng trầm trầm, nửa dửng dưng!

- Có gì mà kể, em! Nói trước, anh sợ em…ngán, không muốn về. Anh nói rồi thôi, quê anh nghèo lắm.
Nguyệt xịu mặt. Khanh ngắt ngang lời cô, giọng có twowi vui hơn chút ít.

- Thôi nào! Sốt ruột gì cơ chứ, còn có gần một tuần nữa chúng mình về rồi. Chắc chắn mẹ anh vui lắm. Nghe anh kể, mẹ cứ bảo có em về làm dâu rồi chết cũng được.

Nguyệt khúc khích cười:
- Anh lại kể xấu em với mẹ chứ gì?

Rồi cô thảng thốt:
- Em chưa xin phép bố mẹ, tuần sau chúng mình đi rồi. Lỡ bố mẹ không đồng ý cho em đi…

Khanh bật cười:
- Chờ em có mà đến tết tây. Cứ nước đến chân rồi mới nhảy. Hôm trước anh đã hỏi ướm ý các cụ rồi, hỏi cả anh Quân nữa, mọi người không phản đối đâu. Thậm chí, anh Quân còn bảo…

- Anh ấy bảo sao?
Khanh ngập ngừng:
-
Rằng “Tụi mày yêu nhau bao năm rồi, sao giờ mới tính chuyện cho Nguyệt về ra mắt. Lẽ ra phải tiến hành từ lâu rồi kia”
Nguyệt giật tay Khanh, giận dỗi:
- Đấy nhé, không phải mình em nghĩ thế. Anh thì lại cứ chần chừ. Hay là…
-Hay là sao?

Nguyệt ngồi im, đầu hơi cúi, mái tóc mềm xoã trên vai, vài sợi tóc bay sang má Khanh buồn buồn. Không hiểu Nguyệt đang nghĩ gì? Chắc cô đang lo đến chuyện về quê “ra mắt” gia đình và họ mạc nhà anh. Khanh chợt thấy nhớ nhà, nhớ mẹ cồn cào. Mẹ anh mới ngoài năm mươi tuổi, mà mái tóc đã bạc tới một phần hai. Mỗi lần anh về nghỉ, kể chuyện Nguyệt bà lại giục: “sao con không đưa con bé về chơi? Đã yêu thương nhau, còn ngại ngần nỗi gì? ” Cũng có lần hỏi xong, bà lại ngồi lặng đi hồi lâu, rồi mắt rơm rớm nước: “Nhà mình nghèo thế này, quê mình khổ cực thế này, biết người ta có ưng không? Người thành phố sướng từ trong trứng sướng ra…”. Khanh chỉ biết xót xa nhìn mẹ. Chắc hẳn trong óc bà, người thành phố là những gì cao quý lắm. Cả làng anh chỉ có nhà ông Vị có con làm ngoài thành phố. Thi thoảng vợ chồng con cái họ về chơi, làng lại xôn xao lên. Người thành phố khác xa với người làng anh. Lũ trẻ con cứ lằng nhằng bám theo những “người thành phố” nhà ông Vị. Chúng ước mơ những bộ quần áo đẹp, mái tóc không cháy nắng và nước da trắng như hai đứa cháu gái ông Vị. Những người lớn lại trầm trồ vì nỗi con dâu ông Vị đi đôi giày gót cao và nhọn hoắt thế mà không ngã, rồi sao cổ và tay cô ta đeo nhiều vàng đến thế, ngay cả đứa con gái út mới tí tuổi đầu cũng đã được đeo vàng. Có lần mẹ còn nửa đùa nửa thật bảo anh: “Con cố học thành tài, ra được thành phố, đón mẹ ra. Ở thành phố một ngày là mẹ cũng mãn nguyện rồi”. Ngày đó, Khanh đã “vâng” thật hồn nhiên. Anh còn nhớ mình từng cao giọng nói với lũ bạn cùng làng rằng: “Tao sẽ học lên đại học, tao sẽ ra thành phố ở”. Có đứa đã tròn xoe mắt phục lăn. Thậm chí thằng cu Mít còn mon men bảo:”Ra thành phố rồi, anh mua cho em cái ô tô nhựa nhé”. Khanh hào phóng hứa với tất cả lũ bạn. Sau này, ước mơ ra thành phố học đại học thôi thúc anh cả trong bữa ăn, giấc ngủ. Anh là đứa con đầu tiên của làng đỗ vào đại học, bõ công bao tháng ngày vượt sông đi học đầy khổ cực, hiểm nguy. Hôm anh đi, mẹ khóc nấc lên. Bà khóc vì sung sướng nhiều hơn vì sắp phải xa con. Từ ngày Khanh vào đại học, mẹ anh trở thành tấm gương cho các bà mẹ ở làng, anh trở thành tấm gương cho lũ trẻ các nhà. Sắp đủ 4 năm từ ngày anh xách túi ra đi làng vẫn chưa có thêm một sinh viên nào. Ngay lũ em anh, ba đứa thì đã hai đứa bỏ học giữa chừng. Hôm vừa rồi, thằng cu Chiến út ít viết thư lên bảo: “Em muốn nghỉ học lắm rồi. Mỗi lần trời mưa, đi học cực lắm. Có hôm đò suýt bị lật, sách vở rớt hết xuống sông”. Đọc thư em trong góc lớp mà Khanh rơi nước mắt. Anh cũng chẳng dám khuyên nó câu nào. Biết đôi vai gầy của mẹ có còn cáng đáng được nữa không? Cái Nụ mười bảy tuổi đã nhấp nhổm lấy chồng. Mơ ước lớn nhất của nó là được một lần mặc váy cưới, giống như các cô dâu trên phim ảnh. Có lần Khanh chót hứa: “Bao giờ đi làm, anh sẽ gắng dành dụm đủ tiền cho mày thuê váy cưới trên thị xã về”. Tưởng con bé vui, ai dè nó trề môi ngấm nguýt: “Chờ anh đi làm có mà em thành gái già à?”, mặc dù đến lúc Khanh ra trường, nó cũng vừa đủ tuổi để có thể đăng ký kết hôn. Vừa tết năm ngoái, dành dụm được ít tiền, con bé rủ lũ bạn gái cùng làng ra thị xã chụp ảnh. Nó xúng xính trong váy cưới, áo dài, quệt tí son phấn, tóc xoã ra, gài bông hoa giả, thế mà đem ảnh về làng khoe, đố ai nhận ra. Cái Nụ treo ngay ảnh lên tường, bị mẹ anh chửi cho như tát nước vào mặt. Bà bảo: “Con gái con đứa, đú đởn vừa vừa thôi, ảnh uôm cải nỗi gì. Không cất đi, tao xé ra thì đừng có trách”. Nụ khóc ti tỉ, gỡ xuống. Đợi lúc nguôi nguôi, mẹ anh mới tỉ tê: “ Nhà nghèo thì giữ lấy nếp nghèo. Con đừng đua đòi kẻo xóm giềng cười chê. Con gái mà mang tiếng đua đòi thì nhà nào rám rước. Với lại, chúng mày chưa chồng mà dám mặc áo cưới để chụp ảnh, nó bó duyên có mà chết già”. Nghe ra, cái Nụ thôi không hậm hực, nhưng thỉnh thoảng, nó vẫn lén lấy mấy tấm ảnh ra ngắm với vẻ háo hức, say mê. Có lẽ điều nó mơ ước nhất là được trở nên xinh đẹp và sang trọng như trong ảnh…

Đưa Nguyệt về nhà, Khanh quay trở lại ký túc xá. Cả phòng đã ngủ. Cửa khép hờ. Khanh đưa tay tìm công tắc điện. Bị chói mắt, thằng Hải giường trên trở mình quay mặt vào tường, càu nhàu bằng giọng Nghệ An đặc sệt: “ Mi đi mô mà về muộn thế?”. Phòng có sứa đứa, hôm nay chủ nhật, chúng nó đi đâu hết, còn mỗi thằng Hải ở nhà. Khanh tống xe vào góc phòng, tắt điện. Nhưng lên giường rồi mà mãi anh không ngủ được. Tiếng thằng Hải giường trên ngáy như sấm, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ báo thức trên bàn càng làm anh thêm trằn trọc. Nhưng hơn cả là anh nghĩ đến mẹ, đến Nguyệt. Nay mai đưa Nguyệt về thăm, chắc mẹ anh phải suýt xoa: “Sao con bé xinh đến thế”. Hàng xóm nhà anh chắc sẽ sang chật nhà để xem mặt “cô con dâu thành phố nhà bà Vọng”. Rồi người ta sẽ khen anh giỏi, sẽ ngay lập tức có người lấy anh làm gương cho con cái một lần nữa. Lũ thanh niên trong làng sẽ nhìn anh và Nguyệt mà nuôi mơ ước. Còn cha anh nữa, dưới suối vàng hẳn người cũng mát lòng. Mẹ cứ kể đi kể lại rằng trước lúc nhắm mắt cha anh cứ dặn đi dặn lại là bà hãy cố nuôi các con ăn học cho dù khổ sở đến đâu. Ông còn bảo bà hãy thương các con, đừng có sang ngang lần nữa. Người thiên hạ, họ chẳng yêu thương con mình đâu…Mỗi lần nhắc đến chuyện này, mẹ anh lại cười, dù mắt ầng ậng nước: “Rõ là ông ấy dở chết. Chứ tao đã ngoài bốn mươi, lại một đống con, có đồng rồ mà đi bước nữa”. Năm bố Khanh mất, thằng cu Chiến mới lên bốn, cái Nụ lên bảy còn cái Khánh lên mười. Thế mà đã mười năm trôi qua. Mười năm ấy, Khanh không nguôi mơ ước về một cuộc sống khá giả hơn, đỡ cực nhọc, vất vả hơn cuộc sống ở làng. Năm kia, cái Khánh lấy chồng. Chồng nó là một cậu thợ xây làng An Hạ bên kia sông. Hôm đưa dâu, mẹ cứ đứng bên này sông khóc sụt sùi. Xóm giềng an ủi: “Con gái lớn phải đi lấy chồng chứ! Giữ nó ở nhà với mình cả đời được à?Rồi bà sẽ nguôi thôi”, thì mẹ anh lại bảo: “Tôi khóc vì mừng đấy chứ!”. Mà mừng thật. Cái Khánh thoát được khỏi làng Giữa là một may mắn cho đời nó. Còn ở trong làng là còn trong cái vòng luẩn quẩn khổ cực, đói nghèo…Rồi Khanh lại nghĩ ngay đến Nguyệt, không hiểu Nguyệt sẽ nghĩ gì khi đặt chân lên mảnh đất làng anh? Không hiểu hình ảnh anh trong mắt Nguyệt có thay đổi không khi cô về thăm làng Giữa? Cũng có lần Khanh bộc bạch nỗi lo lắng ấy với Trung, Trung chỉ gạt phắt đi mà rằng: “Mày cạn nghĩ hơn cả đàn bà. Nguyệt không phải người như thế. Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội cơ mà! Huống hồ là cái sông cỏn con quê mày. Suy cho cùng, mày ra trường có về quê ở đâu mà lo”. Biết thế, nhưng Khanh vẫn không nguôi thấp thỏm. Anh vừa sốt ruột vừa thấy ngại ngần, lo lắng. Chẳng hiểu Nguyệt có rõ tâm trạng của anh lúc này?

Càng nghĩ lan man càng thấy khó ngủ. Khanh muốn dậy viết bài, nhưng lại ngại ánh đèn đánh thức Hải. Từ ngày nhận việc làm thêm ở một toà báo trong thành phố, Khanh luôn là người thức khuya nhất phòng. Có tuần bài vở ngập đầu, anh phải thức trắng đêm. Gặp nhau, Nguyệt cứ xót xa bảo: “Anh tham công tiếc việc vừa vừa thôi”, còn tụi trong phòng mệnh danh anh là kẻ “cày khỏe hơn trâu”. Khanh đang nuôi hy vọng sau khi tốt nghiệp, được nhận về báo này. Ông Tổng biên tập là đồng hương với anh, cứ xuýt xoa khen: “Dân làng Giữa mà bứt lên đi học được như cháu là giỏi lắm, có chí lắm”. Qua hơn một năm cộng tác, Khanh đã chiếm được cảm tình của rất nhiều người trong toà soạn. Con đường đời trước mặt anh đang đỡ gập ghềnh, heo hút hơn.

*
* *


0
Nguyệt bần thần ngồi trước đống áo quần. Theo kế hoạch, cô sẽ về chơi nhà Khanh ba ngày. Chỉ có ba ngày thôi, nhưng cô đã trăn trở từ mấy hôm nay rằng sẽ ăn mặc thế nào, mua những quà gì cho mọi người. Khanh bảo: “Làng Giữa của anh là một trong những làng nghèo nhất miền bắc Việt Nam”. Nguyệt trề môi không tin. Khanh lại buồn buồn: “Anh không nói dối em đâu, thật đấy”, làm cô lại phải vui vẻ. “Thì em tin, nhưng nghèo hay giàu thì ảnh hưởng gì mà anh bận tâm nhiều thế.”. Qua lời kể của Khanh, Nguyệt gắng hình dung ra quê anh. Làng Giữa thực ra chỉ là một doi đất được bồi trong sự giao thoa của bốn dòng sông: sông Cầu – sông Thương – sông Lục Nam – sông Đuống, để rồi từ đó lại tách ra hai con sông nữa là sông Kinh Thầy và sông Thái Bình. Khanh cũng đã từng mở bản đồ, chỉ cho Nguyệt quãng Lục Đầu Giang quê anh. Làng Giữa như một ốc đảo mênh mông sông nước, rộng chừng ba cây số vuông.Vào mùa mưa bão, nước sông dâng cao, làng anh bị cô lập hoàn toàn. Năm nào nước cả, tháng bảy, tháng tám âm lịch nước dâng ngập đến ngang nhà, còn năm nước thấp, ngoài sân cũng lõm bõm ngang mắt cá. Người dân làng Giữa toàn sống chung với nước. Phương tiện duy nhất để ra khỏi làng là những chiếc thuyền nan mỏng mảnh. Khanh còn kể làng anh có những cụ già cả một đời chưa hề sang đến bên kia sông, chỉ quẩn quanh trong làng, mở mắt ra là thấy bốn bề sông nước. Nghe Khanh kể, Nguyệt lại thêm háo hức. Từ nhỏ, cô ít khi được đi xa. Đến lúc mẹ bị bệnh, phải nằm một chỗ, cô càng hay quẩn quanh bên mẹ. Bao nhiêu lần lớp tổ chức tham quan du lịch là bấy nhiêu lần Nguyệt vắng mặt. Cô không muốn xa mẹ, không muốn để mẹ buồn vì thiếu sự chăm sóc của mình, dù chỉ một ngày. Bao nhiêu lần bố và anh Quân đòi thuê người giúp việc, Nguyệt đều gạt đi, tự nhận về mình phần chăm sóc mẹ. Anh Quân nhăn mũi bảo: “Mày có chăm mẹ được cả đời không? Còn phải đi lấy chồng nữa chứ! Dễ thường mày khiêng mẹ theo? Cứ làm như ngoài mày ra thì không ai đủ tiêu chuẩn phục vụ mẹ?”. Nguyệt nửa đùa nửa thật bảo “Có cứ. Bao giờ anh lấy vợ, em sẽ trao trả chị dâu nghĩa vụ ấy”. Ai ngờ anh Quân xị mặt: “Có đứa nào nó dám lấy tao khi biết mẹ như thế? Thời nay, con dâu phải hầu mẹ chồng chỉ là điều không tưởng”. Nguyệt nghẹn họng nhìn anh. Có những lúc cô cảm thấy anh Quân xa lạ với mình, cứ như thể không phải anh em ruột. Là phó phòng kinh doanh của Công ty vật tư, anh sống bận rộn và lạnh lùng, như tể tất cả các mối quan hệ chỉ là đối tác, bạn hàng. Không hôm nào anh có mặt ở nhà lúc ban ngày. Có khi suốt cả tuần anh cũng chẳng đảo qua phòng thăm mẹ một lần, đợi Nguyệt phải nói như van, anh mới vội vã lao vào bên mẹ, hỏi han vài câu nhạt thếch rồi đi. Cùng một nhà, nhưng mẹ ở tầng trên, anh Quân tầng dưới, cứ khoảng mười giờ đêm anh về lại cầm điện thoại nhấn chuông ầm ĩ lên phòng mẹ, chỉ hỏi: “Mẹ ngủ chưa?”. Sau Nguyệt bảo: “Vào giờ mẹ ngủ, anh lại gọi điện thoại, toàn làm mẹ mất giấc ngủ thôi. Từ mai gọi sớm hơn đi”. Anh thủng thẳng “Sớm hơn thì tao đã về nhà đâu. Gọi di động để mà đốt tiền à?” Thế là từ hôm sau, thói quen gọi điện thoại của anh lên phòng mẹ chấm dứt. Lạ là mẹ cứ bồn chồn chờ và vẫn không ngủ được. Mười một giờ đêm Nguyệt ngồi học bài, vẫn thấy mẹ nhắc nhỏm: “Sao anh con về muộn thế?”. Cô bỏ sách, vào giường xao lưng cho mẹ, thủ thỉ: “Anh ấy về lâu rồi, nhưng không gọi điện, vì con bảo đừng làm mẹ thức giấc”. Mẹ thở dài, buồn buồn: “Mẹ có ngủ được đâu, không có tiếng chuông điện thoại của nó lại thấy thiêu thiếu…”. Nguyệt ứa nước mắt vì thương mẹ. Bên mẹ chỉ còn có cô. Bố cũng đi biền biệt suốt ngày đêm. Ở nhà, bố là bố nhưng đến cơ quan bố là Giám đốc, là sếp của anh Quân. Bởi thế, anh luôn luôn đứng về phía bố và tìm mọi cách để bênh vực bố. Nguyệt nhớ có lần cô đã khóc lặng người đi khi nghe tin bố có người đàn bà khác, một kẻ chỉ hơn cô chừng dăm tuổi. Nguyệt tìm đến anh Quân, anh lại ráo hoảnh: “Biết rồi. Có gì mà em ầm ĩ lên thế?”. Cô há hốc miệng, nhìn anh trừng trừng. Anh Quân vẫn thản nhiên: “Thì em cứ nghĩ xem, môi trường công việc của bố thế. Cũng chỉ qua đường gió thoảng thôi chứ có đá vàng son sắt gì đâu. Mà…mẹ bệnh tật nằm đấy sáu, bảy năm rồi. Em lớn rồi nên anh mới nói điều này, bố cũng là con người, là đàn ông chứ có phải gỗ đá gì cho cam. Anh em mình, và cả mẹ nữa cũng nên thông cảm cho bố”. Nguyệt không thể thông cảm theo kiểu tỉnh bơ của anh Quân, cô khóc vùi đến mấy ngày, thấy trong mình có sự đổ vỡ kinh khủng. Mẹ đoán ra ngay. Bà cứ vỗ về cô: “Mẹ chấp nhận được, con đừng nghĩ nhiều quá. Suy cho cùng mẹ chỉ là gánh nặng. Bố con và các con phải thiệt thòi nhiều”. Nói xong bà cũng khóc. Bệnh viêm đa khớp dạng cấp đang ngày ngày rút tỉa sức lực của bà. Hai bàn tay bà đang bị teo, co quắp, biến dạng. Dường như bố cũng sợ, mỗi khi vào thăm mẹ, ông chỉ kéo ghế ngồi đối diện, như thể họ chỉ là hàng xóm chứ không phải vợ chồng. Cũng không ít lần Nguyệt gay gắt chất vấn: “Sao bố ít quan tâm đến mẹ thế?”. Ông chỉ khẽ lắc đầu, bảo: “Bố vẫn ít quan tâm đấy thôi. Có điều mẹ con cần yên tĩnh để nghĩ ngơi. Bố chưa để mẹ con thiếu thứ gì”. Cô trách bố thờ ơ với mẹ, thời gian chỉ giành cho công việc thì ông lại cười: “Con phải ở vào địa vị của bố, dù chỉ một ngày thôi, thì con sẽ thấy được bố phải chịu một áp lực lớn thế nào từ phía công việc”. Bao giờ Nguyệt cũng phải thua trước những cuộc luận đàm như thế. Dần dần cô buộc phải chấp nhận và quen dần với cách sống của bố và anh Quân. Gia đình có bốn người mà chia làm hai mảng. Cô thấy sợ khi nghĩ về mai sau. Đến lúc cô không bên mẹ được nữa, thì ai sẽ là người thay thế, khi bố và anh Quân chỉ như hai khách lạ giữa nhà mình. Nhưng rồi cô lại hoảng hơn khi linh cảm mẹ như một ngọn đền sắp tắt…Có những hôm trở trời, mẹ nghiến răng chịu đau mà không nói. Những tiếng rên cố nén luôn luôn xát muối vào lòng Nguyệt. Bố và anh Quân chẳng biết đấy là đâu. Nghĩa vụ của bố đối với mẹ chỉ là thỉnh thoảng dẫn về nhà một ông bác sĩ mới và những tờ đơn thuốc thay đổi xoành xoạch. Mẹ uống thuốc nhiều hơn ăn cơm. Nghĩa vụ của bố đối với nguyệt hàng tháng đưa tiền cho cô trang trải mọi thứ. Anh Quân cứ bảo: “Sướng nhất mày, cứ tiêu vô tư. Đầy đứa là sinh viên phải cong đuôi lên đi làm thêm”. Rồi nhân chuyện làm thêm, anh lại ngoái sang nói về Khanh, khen Khanh nhanh nhẹn, thông minh: “Mầy lấy nó là quá tốt rồi. Tụi tỉnh lẻ chăm chỉ lắm. Đừng có vớ mấy thằng công tử bột thủ đô, về hầu nó không xong”. Có lúc anh còn cười hơ hớ bảo: “Kể ra có thằng em rể là nhà báo cũng lợi phết. Bọn kinh doanh như anh chỉ sợ nhất mấy bố công an, nhì là mấy bố nhà báo”. Nguyệt chán, chẳng buồn tranh luận thêm với anh. Hơi tí anh Quân lại bảo cô là “ếch ngồi đáy giếng”, rồi “công chúa trong tủ kính”, chỉ biết ngơ ngơ với sách vở, không hiểu gì về thực tế cuộc đời. Anh còn cao giọng dạy dỗ: “Đời nó tàn nhẫn, khốc liệt lắm em ạ. May mà bên mày còn có thằng Khanh tháo vát đấy. Giá nó đừng học báo chí mà học kinh tế thì thế nào bố cũng kéo về cơ quan, đỡ lo khâu xin vịêc khi ra trường”.

Thấy Nguyệt cứ thừ người nghĩ ngợi, mẹ khẽ khàng “Sắp đồ xong chưa con? Sao ngẩn người ra thế?”. Cô giật mình: “Con thấy…lo lắm”, “Lo gì? Mà lần đầu tiên về nhà người ta, cái gì cũng phải chu đáo, ý tứ con nhé. Con đừng để lại ấn tượng gì xấu”. Nguyệt bỏ đống quần áo đang xếp dở, sà sang bên giường mẹ, và xót xa khi nhận thấy chân tay mẹ ngày càng teo đi. Tự nhiên cô buột miệng: “Mẹ này, nếu mai này…con lấy chồng, thì mẹ cũng phải ở với con luôn nhé”. Mắt mẹ vui vui: “Chưa gì đã lo xa. Ở với ai mà chẳng được. Hôm trước thằng Khanh bảo khi nào ra trường xin việc xong sẽ đưa mẹ nó lên bàn chuyện cưới xin”. Nguyệt nguẩy người: “Còn lâu…Chưa gì đã…”Cô thấy rộn lên một niềm vui khó tả. Khanh từng bảo hai đứa ra trường xong sẽ cưới ngay. Còn nhớ hôm sinh nhật Nguyệt, trước mặt cả nhà, bố cô tuyên bố khi nào Khanh và Nguyệt cưới nhau, ông sẽ mua cho hẳn một căn nhà giữa trung tâm thành phố. Ai dè sau đó Khanh buồn buồn bảo: “Anh biết bố em rất ủng hộ chúng mình. Nhưng anh không muốn người khác nghĩ anh là kẻ cơ hội, bám lấy em để lợi dụng”. Nguyệt mắng anh là cả nghĩ, hay lo vớ vẩn, nhưng thực trong thâm tâm cô hiểu và tôn trọng lòng tự trọng của Khanh. Anh luôn muốn vươn lên bằng chính khả năng của mình, luôn muốn xây đắp cuộc sống bằng đôi tay của chính mình. Có phải cô yêu anh tha thiết cũng vì điều đó không?
0
Xoa bóp cho mẹ một lát, thấy mỏi mỏi tay, Nguyệt ngừng lại. Nhưng rồi nghĩ thế nào, cô lại lấy hai tay véo véo nhè nhẹ dọc hai bên ống chân mẹ. Bắp chân của bà bây giờ chỉ còn da nhũng nhẽo. Vừa véo, Nguyệt vừa lo lắng hỏi: “Mẹ có thấy đau không?”, mẹ gật đầu: “Có! Con đừng lo”. Nguyệt sợ nhất là chân tay mẹ mất cảm giác. Bà nằm liệt giường đã lâu. Cô luôn nỗ lực giúp mẹ vận động, nhưng mỗi lần cố gượng đứng lên, các khớp xương của mẹ lại đau nhức. Có những hôm trời rét, các khớp xương nơi chân tay mẹ sưng tím bầm, mẹ chỉ còn biết nghiến răng, cố bật ra tiếng kêu rên, sợ Nguyệt nằm bên cạnh khóc. Những lúc như thế, Nguyệt chợt nhận thấy hai mẹ con cô đơn và bơ vơ biết bao. Bơ vơ trong chính ngôi nhà của mình thì thật là đáng sợ…Thấy mẹ cứ đăm đăm nhìn ra khung cửa sổ, Nguyệt đề nghị: “Hay con đưa mẹ xuống đường dạo một lát nhé?”. Mẹ lắc đầu: “Không! Mẹ chưa muốn đi hôm nay. Mà hình như con có hẹn Khanh đi đâu đó chiều nay?”. “Anh ấy rủ con ra bãi giữa sông Hồng để viết bài gì đấy. Nhưng con đưa mẹ đi dạo cũng được, anh ấy sẽ đi một mình”. Mẹ vẫn nhìn ra cửa sổ: “Con cứ đi đi, đừng lỡ hẹn. Năm giờ rồi đấy”. Nguyệt uể oải đứng lên. Mỗi tuần hai ba lần cô đưa mẹ xuống đường đi dạo bằng chiếc xe lăn dành cho người tàn tật. Bố đã gọi thợ đến thiết kế lại cầu thang từ tầng 1 dẫn lên phòng mẹ và Nguyệt theo kiểu đặc biệt, để có thể dễ dàng đẩy xe lăn lên xuống. Cũng có hôm mẹ muốn Nguyệt đỡ để bà bước dò từng bậc bằng chân, nhưng chỉ được vài bậc, mẹ đã đứng lại thở hổn hển, mặt tái đi vì đau. Nguyệt hay đưa mẹ ra khuôn viên của một cơ quan gần nhà chơi. Đi dạo về, có hôm mẹ vui, có hôm bà lại buồn bã hỏi: “Thế là vĩnh viễn không bao giờ mẹ được tự đi, không bao giờ mẹ được ra khỏi cái khoảnh nhà con con này”. Nguyệt không biết an ủi thế nào cho đỡ buồn, mọi câu nói vui đều trở nên nhạt thếch. Cô chỉ tự nhủ gắng chăm sóc mẹ thật chu đáo để bù vào phần thiệt thòi mà bà gánh phải. Khanh cũng xót xa bảo: “Nếu làm được gì cho mẹ bớt buồn, thì em cũng phải gắng làm, dù khó khăn đến mấy. Có tự đặt mình vào hoàn cảnh của mẹ bây giờ, chúng mình mới thấy thật là khủng khiếp”. Nguyệt còn lẩn thẩn hỏi: “Giả sử sau này cưới nhau rồi, em bị bệnh như mẹ, thì anh…”. Khanh hốt hoảng cắt lời cô “Em đừng cớ vớ vẩn, chỉ nói linh tinh. Mà anh nhắc lại lần nữa nhé, viêm đa khớp không phải bệnh di truyền, cũng không lây truyền”. Nguyệt vẫn ương bướng: “Thế dù em bị bệnh gì đi chăng nữa, anh có…”Cô định bảo: “Anh có đối xử như bố bây giờ không” nhưng rồi lại im bặt. Khanh lặng lẽ ôm xiết lấy cô, lát sau mới thủ thủi: “Anh không nghĩ là em vẫn nghi ngờ tình yêu của anh đâu. Lần sau chớ có dại mà nói thế nữa”.

Nguyệt vừa chuẩn bị xong thì Khanh đến. Cô khoác túi, chào mẹ rồi chạy ào xuống nhà. “Mình để xe đạp lại, đi xe máy nhé, cho nó nhanh!”. Khanh nheo mắt: “Thế em có vác xe máy từ trên cầu xuống bãi được không?”. Nguyệt cười: “Không vác được thì khiêng”.

Cô đóng cửa rồi ngoan ngoãn ngồi lên dóng ngang xe Khanh. Cô chúa ghét chiếc xe này, mỗi lần đi đâu cùng Khanh, phải leo lên cái dóng khung ngang đằng trước, Nguyệt lại càu nhàu: “Ngồi đây em cứ thấy nó làm sao ấy”. Khanh ranh mãnh: “Anh lại rất thích, vì được gần em hơn”. Hơi thở của anh sát bên má Nguyệt, có lúc anh còn cúi xuống cắn nhẹ lên vành tai cô. Cái Huyền bạn cùng lớp với Nguyệt bảo: “Nhìn tụi mày rong ruổi trên xe đạp đẹp đôi lắm, cứ như sẵn sàng chở nhau đi đến cùng trời cuối đất luôn ấy”. Khanh cũng thích đưa Nguyệt đi chơi bằng xe đạp, chỉ khi nào đi đâu thật xa rất vội anh mới lấy xe máy của cô. Anh quý chiếc xe đạp ngộ nghĩnh của mình còn bởi một lẽ nó là đồ vật anh mua bằng tháng lương làm thêm đầu tiên. Anh từng bảo Nguyệt “Kể cả khi đi làm, dư tiền mua xe máy, anh cũng sẽ vẫn giữ chiếc xe đạp này…” Nguyệt chun mũi: “Để làm gì?”. “Để khi nào rảnh rỗi, anh lại chở em đi chơi, như thời chúng mình đang yêu nhau thế này này”. Nguyệt cười khúc khích: “Ừ, bao giờ già không đạp được xe, anh mang bán đấu giá, thế nào cũng được khối tiền. Đồ cổ mà”. Đến giữa cầu Long Biên, khanh dừng xe, hít một hơi dài: “Em có ngửi thấy mùi gì không? ”. Nguyệt nghi hoặc nhìn anh, rồi cố hít lấy, hít để, cuối cùng cô lắc đầu: “Không, chẳng thấy mùi gì cả”. Bỗng dưng Khanh trở nên mơ màng. Anh cứ nhìn hút mắt xuống màu xanh dưới bãi sông, giọng như đang kể chuyện cổ tích: “Anh thấy mùi phù sa, thấy mùi cây cối…Quen thuộc lắm Nguyệt ạ, y hệt như ở quê anh”. Nguyệt giật áo Khanh: “Thế mà anh cứ bảo em lãng mạn, anh còn lãng mạn gấp mấy lần. Thôi, mình xuống đi”. Khanh vẫn ngồi im trên xe, một chân chống lên thanh sắt lan can cầu. Nguyệt đứng bên cạnh, tư lự theo. Cô chợt thấy mình bé nhỏ trước mênh mông nước trời thế này. Đã đi qua cầu Long Biên nhiều lần, nhưng chưa bao giờ Nguyệt dừng lại ngắm cảnh như hôm nay. Lúc này cô mới ngỡ nàng nhận ra cảnh bên bãi sông Hồng thật đẹp. Cầu Chương Dương phía bên kia đang hối hả xe cộ, còn phía dưới bãi sông là một màu xanh lặng lẽ, yên bình. Dòng sông bị chia làm hai nhánh bởi bãi bồi ở giữa, chảy rất hiền hoà. Thấp thoáng trong bãi ngô mươn mướt là những chiếc lều dựng tạm. Phía xa có một vài người đang lúi húi. Gió cứ lồng lộng thổi. Bất chợt, Nguyệt giật áo Khanh: “Anh này, thế đến mùa nước lớn, bãi này bị ngập cả chứ nhỉ? Em nớ có lần nước lên gần đến sàn cầu, suýt tràn qua đê vào thành phố”. Khanh gật đầu, giọng trở nên xa xôi: “Anh sợ nhất những mùa mưa bão, lũ lụt. Làng anh hầu như năm nào cũng bị dìm trong nước. Dân bãi sông Hồng này chỉ trồng cấy ở đây, còn họ có nhà ở nơi khác. Làng anh sống quanh năm ở giữa sông, lũ lụt cũng đành chịu”. Biết mình lại động đến nỗi trăn trở của Khanh, Nguyệt kéo tay anh: “Mình xuống thôi, không lại tối bây giờ, lỡ hết việc của anh”. Khanh để Nguyệt xuống trước rồi anh thận trọng vác xe đạp, dò từng bậc thang gỗ xuống sau. Đặt chân lên nền cát dưới bãi, Nguyệt cười khanh khách: “Lún quá anh ạ. Em không thể đi được”, rồi cô bỏ giày, xách ở tay, bước tung tăng. Khanh khoá xe, chạy theo. Nguyệt trêu: “Anh không sợ mất con chiến mã trứ danh à”, “Không. Bãi này không có kẻ cắp đâu. Mà giả sử có thì nó cũng không nỡ lấy xe của anh”. Chỉ chạy ba bước, Khanh đã đuổi kịp Nguyệt. Anh nắm tay cô, trỏ vạt đất trước mặt: “Em biết cây gì kia không?”. Nguyệt lắc đầu: “Không. Cây gì lạ thế? Em chỉ biết đây là ngô, kia là khoai, còn kia là cây đỗ”. Khanh nheo mắt: “Tiểu thư cũng biết nhiều đấy chứ. Rồi em sẽ biết cây này là cây gì ngay”. Anh đưa tay, bứt vài chiếc lá, vò nát rồi đưa lại gần Nguyệt: “Thơm không! Em đoán ra chưa?”. Nguyệt reo to: “Bạc hà, cây bạc hà hả anh?”. “Đúng đấy”. “Lạ nhỉ, chưa bao giờ em được nhìn thấy cây này. Cứ tưởng nó có ở tận đâu, hoá ra người ta trồng ngay đây”. Cô hân hoan nhìn bãi bạc hà xanh mênh mông trước mặt, rồi bắt chước Khanh, bứt vài là vò nát. Nguyệt thận trọng cho một mẩu vaò miệng nhấm thử, rồi lè lưỡi. “Đắng lắm”. Khanh bật cười: “Dĩ nhiên là đắng. Nó có phải món kẹo bạc hà em thường ăn đâu. Phía kia có người, mình đến đấy đi”. Khanh sải những bước dài, khiến Nguyệt gần như phải chạy theo mới kịp. Những bước chân của anh có vẻ như rất quen thuộc với đất cát nơi đây. Nhìn Khanh hào hứng, Nguyệt cũng vui lấy. Cô hổn hển hỏi: “Ở đây có gì mà anh bảo đi viết bài?”. “Có nhiều chứ em. Anh định viết bài về cuộc sống của người dân đất bãi. Nhìn trù phú thế này nhưng gieo neo lắm em ạ!”. “Thế sao anh không viết bài về quê anh đi?”. Đang hào hứng đi, Khanh bỗng khựng lại. Anh quay nhìn Nguyệt, ánh mắt như đang anh lên điều gì khắc khoải. “Anh sẽ viết, phải viết, nhưng không phải bây giờ. Bao nhiêu lần anh thử viết nhưng đều thấy chưa đạt. Anh vẫn còn mắc nợ làng Giữa nhiều…”Nguyệt lại kéo tay Khanh chạy: “Nhanh lên, sắp tối rôi”. “Em có vào cùng anh không?”. Nguyệt ngần ngừ suy nghĩ rồi lắc đầu. Khanh không phản đối. Anh chỉ dặn thêm: “Em đừng đi đâu xa. Bến bãi mênh mông thế này cũng dễ lạc lắm. Anh chỉ vào đây khoảng nửa tiếng thôi”. Nguyệt gật đầu, tay vẫn xách giày. Cô dò dẫm một cách thận trọng ra phía mép nước. Một người đàn bà và một đứa trẻ chừng mười ba tuổi đang làm cỏ đỗ, ngẩng lên nhìn cô, vẻ dò hỏi ngạc nhiên. Nguyệt cười làm quen: “Hoa màu đây là của nhà chị trồng à?”. Người phụ nữ cũng đáp lại bằng nụ cười thân thiện: “Cô đi đâu ra đây thế?”. “Em đi chơi thôi”. “Ở đây thì có gì mà chơi?”. “Có chứ chị! Em thấy cảnh ở đây đẹp lắm. Nhà em ở ngay trong nội thành, nhưng chưa bao giờ em ra chỗ này cả”. Người phụ nữ lại cười: “Dân đồng bãi như chúng tôi khổ lắm, làm lấm mũi suốt cả ngày, còn hơi đâu mà thấy cảnh đẹp hay xấu.”. Nguyệt thả giày xuống cát, cúi xuống nhổ vu vơ mấy cây cỏ cao nghêu. Chị ta xua tay lia lịa: “Đừng, cô cẩn thận, kẻo đứt tay, cỏ này sắc lắm đây”. “Nó là cỏ gì đấy chị?”. “Tôi chịu. Cỏ dại thì có ai biết tên hở cô. Mà sao nó mọc nhanh thế không biết. Vừa làm sạch tuần trước, tuần này đã vươn nghều ngào cả”. Nguyệt lại tò mò hỏi cho có chuyện: “Thế cả bãi rộng này đều là của nhà chị à?”. “Làm gì có. Nhà tôi chỉ được có khoảnh này thôi. Mà tôi cũng mới làm ở đây được dăm vụ”. “Đất phù sa thế này, chắc năng suất lắm chị nhỉ?”. Người phụ nữ chợt buồn buồn: “Kể ra thì cũng tàm tạm, nhưng chả ăn thua gì cô ạ. Lo từ lúc trồng cây tới lúc thu hoạch. Có năm sắp bán được rồi thì nước về sớm, chỉ một đêm là ngập băng, may người còn chạy kịp. Công cả vụ thành công cốc. Có năm nhà tôi mất trộm sạch, hai sào đỗ với bốn sào ngô. Chúng nó chặt đến tận gốc, ôm cả cây đi. Như thế thì còn thu với chả hoạch cái nỗi gì”. “Thế mà chị vẫn làm à?”. Người đàn bà lại nhìn Nguyệt vẻ ngạc nhiên: “Thì cô bảo biết làm sao được! Dân nông nghiệp không bám lấy đất, lấy đồng mà sống thì còn biết vơ víu vào đâu? May ra thì ông giời thương, không may thì mất trắng. Mất hôm nay, ngày mai lại phải làm lại từ đầu”. Nguyệt im lặng, không hỏi gì thêm. Cô ái ngại nhìn gương mặt đỏ bừng, lã chã mồ của cô bé đang nhổ cỏ. Bàn tay xỏ trong chiếc găng vải quá khổ của cô bé vẫn thoăn thoắt túm từng gốc cỏ, lôi bật lên rồi quăng ra góc luống. Chị phụ nữ vẫn tiếp tục kể lể như thể thèm nói chuyện đã lâu: “Người nhà nước như các cô sướng thật đấy. Mưa không đến mặt, nắng không đến đầu. Vừa nhiều tiền vừa chẳng vất vả đến thân”. Nguyệt phì cười: “Sao chị đoán em là người nhà nước. Mà người nhà nước cũng phải đi làm chứ ai người ta trả lương cho kẻ đi chơi?”. “Sao tôi lại phải đoán. Chân tay, da dẻ cô cứ trắng nõn ra thế kia, biết gì đến lao động sức vóc. Các cô cứ bảo người nhà nước cũng phải làm vất vả chứ, vất vả thế cũng đã sướng bằng vạn nhà nông chúng tôi rồi”. Nguyệt lại bật cười! Cô vui lấy với tính cách cởi mở, hồn hậu của chị phụ nữ. Nhưng chưa kịp tiếp tục câu chuyện thì cô đã nghe thấy Khanh gọi đằng kia. Anh cuộn tròn cuốn vở lên miệng làm loa: “Nguyệt ơi, mình về thôi”. Nguyệt nhặt giày, vội chào chị phụ nữ để chạy lại phía Khanh. Anh giơ lên mấy bắp ngô non được buộc túm lại với nhau một cách vụng về: “Anh có cái này đây”. Nguyệt tròn mắt: “Anh trộm à?”. Khanh phá lên cười, tiếng cười của anh vang trong gió, rồi lẫn trong tiếng xạc xào của lá ngô: “Ai mà dám ăn trộm. Bác Luân cho anh đấy!”. “Bác luân nào?”. “Chủ nhân của túp lều kia. Ngô này nướng thì tuyệt lắm”. Hai đứa đi song song bên nhau. Ánh hoàng hôn hắt xuống sông đỏ rực. Nguyệt đưa tay tháo tung bím tóc để gió đưa tóc bay xấp xoã. Cô thấy sảng khoái kỳ lạ. Gần đến chỗ để xe, bỗng nhiên Khanh dừng lại: “Mình ngồi lại đây chơi một lát nữa đi. Cảnh đang đẹp thế này kia mà!”. Anh ôm choàng lấy vai Nguyệt, dụi dụi cằm lên mái tóc cô.

0
Nguyệt đi đi lại lại trong phòng anh Quân, sốt ruột. Chín giờ đêm anh mới về, lại còn kề cà tắm táp rõ lâu. Đến lúc lòng kiên nhẫn của Nguyệt sắp cạn thì anh ra, tóc tai ướt rượt, mặt mũi tươi tắn hẳn. Nguyệt cau có: “Lâu thế! Ngày mai em…”. “Biết rồi, khổ lắm. Cứ nói đi nói lại mãi. Mai mày về quê thằng Khanh chơi mấy ngày chứ gì?”. “Vâng, nhưng anh nhớ chăm mẹ cẩn thận đấy!”. Anh Quân trố mắt “Cái gì? Tao phải nghỉ làm ở nhà với mẹ chắc?”. Nguyệt thả người xuống ghế chán nản: “Em đi ba ngày. Anh không trông mẹ thì ai trông?”. Anh Quân giậm chân bình bịch: “Mày nói hay nhỉ? Công việc cơ quan chứ có phải lũ sinh viên chúng mày đi học, muốn nghỉ ngày nào cũng được đâu.” “Nhưng sắp tới là 30/04, 1/5 được nghỉ cơ mà?”. Anh Quân bĩu môi: “Đơn vị sản xuất kinh doanh nghỉ ngày nào đói ngày ấy. Anh không có ngày nghỉ, ngày lễ nào hết. Mày tính thế nào thì tính. Mà mẹ thì sao phải trông nhỉ? Anh sẽ mua sẵn đồ ăn…”. Nguyệt giận run người khi nghe giọng điệu dửng dưng của anh. Cô ngồi im, lát sau mới lạnh lùng bảo: “Mọi chuyện em đã nhờ chị Lan nhà bác Viễn…”. Anh Quân hớn hở kêu to: “Thế mà tao không nghĩ ra. Cứ gọi cổ bà Làn sang đây mấy ngày. Cháu chăm dì là đúng quá rồi còn gì”. Nguyệt khó chịu nhìn vẻ mặt đang hớn hở của ông anh. Rồi co xót xa hỏi: “Có thật là anh chẳng lúc nào nghĩ đến mẹ không hả anh Quân?”. Anh Quân trừng mắt nạt: “Chỉ có vớ vẩn. Sao lại không? Dễ thường tao cứ phải gào toáng lên cho cả thiên hạ cùng biết hay sao”. “Nhưng em thấy anh chẳng quan tâm xem mẹ sống thế nào, mẹ cần gì. Chưa bao giờ anh ngồi tâm sự với mẹ, nhắc mẹ uống thuốc hay mua cho mẹ một tô phở cả”. “ơ hay, đấy là vịêc của con gái, của mày, hiểu chưa? Thời đại này phải sống thoang thoáng đi một tí, chứ cứ quanh ra quanh vào, ru rú ở nhà với nhau thì chết đói cả”. Rồi anh đột ngột hỏi Nguyệt: “Có cần tiền nữa không? Lần đầu tiên về nhà người ta cứ mua thật nhiều quà vào. Mà lũ trẻ con ở quê chỉ thích ăn kẹo thôi”. Nguyệt chán nản đứng lên: “Em vẫn còn tiền. Anh nhớ chưa, mấy ngày em đi,anh phải về nhà sớm hơn rồi vào nói chuyện với mẹ một lát cho mẹ đỡ buồn”. Anh Quân lẩm bẩm: “Mai sau tao vớ được bà mẹ vợ như mày thì cũng tiêu đời luôn. Về ngủ đi”. Ra đến cửa phòng, Nguyệt còn quay vào hỏi nhỏ: “Hôm nay, bố đi đầu mà đến giờ vẫn chưa về anh nhỉ?”. Anh Quân phẩy tay: “Mày quan tâm làm gì. Bố bận lắm”. Nguyệt bước ra khỏi phòng, sập cửa hơi mạnh tay. Cô không lên phòng với mẹ, mà còn đứng ở góc cầu thang nhìn đăm đăm qua ô cửa kính xuống đường. Phố xá về đêm càng trở nên tấp nập nhộn nhịp, bởi ánh đèn. Đèn cao áp, đèn xe, đèn biển hiệu nhấp nháy xanh đỏ. Không hiểu sao lúc nào đường phố cũng đông nghẹt những người. Chẳng biết họ đang đi đâu, về đâu? Có ai như anh Quân và bố cô không. Coi mái nhà chỉ là nơi trú chân tạm qua đêm. Nhiều đêm, cả bố và anh Quân đều không về. Bao nhiêu năm như thế rồi, nhưng Nguyệt vẫn chưa quen được với cách sống của anh và bố. Thấy cô buồn, mẹ cứ an ủi: “Ai có việc của người nấy, bận rộn cả. Con đừng giận bố, giận anh”. Dường như trong đầu óc, trong trái tim của bố và anh Quân luôn luôn đầy ắp những dự định, kế hoạch, tính toán, không có chút nào trách nhiệm dành cho gia đình. Nói cho chính xác, mọi trách nhiệm của bố với anh Quân đều được quy kết thành tiền. Hôm nay tự dưng Nguyệt muốn bố về, muốn được nói chuyện với ông. Đã từ lâu cô không tâm sự với bố. Có việc hệ trọng, cô hỏi ý kiến, hoặc ông “ừ” hoặc bảo “con hỏi mẹ với anh Quân xem”. Cử chỉ quan tâm nhất của bố với cô là dịp hè năm ngoái ông bảo: “Nguyệt có muốn đi tham quan Trung Quốc mười ngày không? Bố cho đi”. Cuối cùng cô mới vỡ lẽ chuyến đi ấy hoàn toàn không có bố. Ông bảo: “Tiêu chuẩn cơ quan, con cứ đi kẻo thiệt. Bố có việc khác ở nhà”. Nguyệt không đi với lý do phải ở nhà với mẹ. Bố cô cũng chỉ “ừ nhỉ” nhẹ tênh.

Chuông đồng hồ điểm 12 giờ, bố vẫn chưa về và bây giờ thì Nguyệt tin là bố sẽ không về. Chẳng biết những đêm vắng nhà thế này, bố ở đâu? Trước đây nguyệt rất ghét tiếng chuông đồng hồ, nhưng từ ngày mẹ bị bệnh phải nằm một chỗ, chiếc đồng hồ nào trong nhà cũng đi lắp chuông, để mẹ biết thời gian. Mỗi lần đồng hồ gõ chuông trong đêm, mẹ lại khắc khoải: “Muộn thế rồi, không biết thằng Quân đã về chưa? Khổ, làm ngày làm đêm”. Có lần Nguyệt hỏi mẹ: “Ngày xưa bố và mẹ có yêu nhau không?”. Mẹ lặng người đi, không trả lời. Mãi sau mẹ mới bảo: “Cũng tại mẹ, bệnh tật đầy người, chỉ là gánh nặng cho bố con, cho các con…”. Cô không biết tìm lời nào an ủi mẹ. Mỗi khi trời chuyển mùa, Nguyệt thường ứa nước mắt nhìn mẹ chống chọi với cơn đau. Mặt mẹ tái đi, đôi môi mím chặt run lên bần bật. Có đêm Nguyệt khóc, chạy sang đập cửa phòng anh Quân, vì mẹ đau quá, anh hối hả bảo: “Để tao gọi xe cấp cứu” cô lại gạt đi lầm lũi về phòng. Bệnh viêm đa khớp của mẹ có vào nằm việc cũng như không bởi đã thành mãn tính. Cô chỉ muốn anh Quân sang phòng mẹ, an ủi, có mặt bên mẹ, để mẹ bớt đi cảm giác đau đớn. Thỉnh thoảng, bố cũng hỏi về bệnh tình của mẹ, nhưng với giọng điệu rất đỗi dửng dưng. Cô từng hỏi mẹ: “Mẹ đừng giận con, nhưng tại sao mẹ lại chịu đựng được khi phải sống với người thờ ơ như bố?”. Mẹ lại thở dài: “ông ấy phải chịu đựng mẹ đấy chứ!”.


Mỏi chân, Nguyệt quay vào phòng. Có vẻ như mẹ đã ngủ. Lúc ngủ, nhìn nét mặt bà thật yên tĩnh. Hồi nhỏ Nguyệt ở phòng riêng, nhưng từ khi mẹ bị bệnh, cô chuyển luôn lên ở cùng mẹ, bố lại tách ra ở riêng. Họ chỉ còn là vợ chồng trên giấy tờ pháp lý. Bố cứ mải mê kiếm tiền, mải mê lo việc cơ quan, củng cố cái ghế giám đốc và nâng đỡ anh Quân, bỏ quên mẹ với những cơn đau vật vã, bỏ quên cô con gái đa cảm trong nỗi buồn triền miên. Khanh biết điều ấy nên thường xuyên an ủi, động viện Nguyệt. Cô biết ơn anh rất nhiều bởi điều ấy. Nhiều lúc Nguyệt cứ nghĩ nếu không có anh chẳng biết mình sẽ dựa vào đâu trong những lúc chơi vơi. Điều cô sợ nhất là sau này lấy nhau, Khanh lại trở nên giống bố. Cô đã đọc được trong Khanh một quyết tâm cháy bỏng là phải kiếm cho mình một vị trí giữa thành phố ồn ào, sôi động và giàu có này. Dù yêu làng Giữa của anh đến cồn cào, nhưng anh thú nhận rằng sẽ không trở lại làng sống tiếp cuộc sống của bố mẹ anh ngày trước. Khanh bảo anh sợ sự đói nghèo. Đói nghèo sẽ dẫn con người đến tăm tối và ngu dốt. Cuộc sống lúc ấy chỉ còn là địa ngục. Nguyệt thấy bất an khi Khanh cứ lao vào kiếm tiền và kiếm cơ hội xin việc sau khi ra trường ngay từ lúc còn là sinh viên dù cô tự an ủi rằng anh là con người năng động, rằng anh phải tự xoay xở để sống và học tập.
0
Xuống xe ôm, Nguyệt ngồi thở dốc, nét mặt bơ phờ. Khanh mở ba lô, lấy chai nước lọc đưa cho cô, nhưng cô lắc đầu. Anh ngồi xuống bên cạnh ái ngại: “Em mệt lắm à? Mình ngồi nghỉ một lát đợi đò sang đã”. Nguyệt cố cười cho Khanh yên tâm. “Làng anh kia kìa, nhìn thấy chưa?”. Nguyệt nhìn theo tay Khanh chỉ, làng Giữa hiện lên rõ lắm, cô thấy cả lũ trẻ đang nô đùa trên bến đò. Gió đưa được cả tiếng trẻ cười vang vang vẳng sang. Tự nhiên cô sôi nổi hẳn lên: “Hay thật đấy, bốn bề là sông nước, nhìn trù phú thế kia mà anh cứ bảo làng anh nghèo lắm, buồn lắm!”. Khanh chỉ cười nhẹ: “Rồi em sẽ thấy tất cả…”. Trên chỗ đợi đò có thêm vài người nữa. Khanh mau mắn chào tất cả. Mọi người cũng hồ hởi: “Ơ thằng Khanh, về thăm nhà hở cháu?”. “Gớm, đi học trên thủ đô có khác, trắng trẻo đẹp trai ra bao nhiêu, mày không chào trước thì tao không nhận ra”. Mọi người lại dồn mắt nhìn Nguyệt như dò hỏi. Ljạm hãnh diện giới thiệu: “Đây là Nguyệt, bạn gái cháu…”. Nguyệt bẽn lẽn chào mọi người. Bác già nhất trong bọn cười rổn rảng: “Đem người yêu về giới thiệu đấy hử? Phen này nhà bà Vọng phải làm cỗ khao làng thôi”. Nguyệt đỏ mặt. Rồi mọi người thi nhau hỏi chuyện Khanh về học hành, về cuộc sống, và cả về chuyện “Thế các cháu sắp cưới nhau chưa?”. Câu chuyện đang hồi rôm rả thì đò sang. Nguyệt ái ngại nhìn chiếc đò mỏng mảnh mà chở tới hơn chục người, nước sông mấp mé mạn đò. Đợi những người dưới đò lên hết, Khanh kéo tay Nguyệt: “Xuống thôi em”. Anh giành phần xách túi hộ Nguyệt mà cô vẫn cứ ngần ngừ. Mọi người đã xuống hết đò. Bác lái chuẩn bị rút sào, ngoảnh lên: “Sợ chứ gì? Không sao đâu.Chắc lần đầu đi đò”. Mọi người ơi ới giục giã. Khanh xuống đò một cách thành thạo, để hai túi xách căng phồng xuống rồi chìa tay: “Em cứ xuống đây, anh đỡ”. Mọi người cười ồ trước cử chỉ ân cần nhưng có vẻ hơi kịch của anh. Nguyệt nóng ran hai má. Cô bỏ giày, lấy hết can đảm trèo xuống đò. Khanh xếp chỗ cho cô ngồi giữa, an ủi: “Sang bên kia ngay ấy mà, nhanh lắm. Em cứ nhìn lên trời, đừng nhìn xuống nước”. Nguyệt buộc miệng: “Em không biết bơi”. Cả đò lại cười ồ. Khanh cũng cười: “Em yên tâm, anh bơi giỏi nhất làng đấy. Nếu mà…”. Bác lái đò đã kịp thời cau mặt, mắng: “Đi đò mà cứ nói chuyện tầm bậy tầm bạ”. Ra gần giữa sông, đò hơi chao sang phải, Nguyệt hốt hoảng: “Ối kìa..nó nghiêng…”. Bác lái đò gắt: “Cô cứ ngồi yên đấy”. Bà già ngồi cạnh Nguyệt rút bã trầu đỏ loét trong miệng ra quăng xuống sông rồi quay sang cô chậm rãi: “Cứ ngồi im con ạ. Càng hoảng, đò càng chòng chành”. Nguyệt nhắm mắt, không dám nhìn trời hay nhìn nước, trống ngực đập thình thnhf. Lát sau thấy Khanh bật cười bảo: “Đến nơi rồi, em mở mắt ra đi”. Nguyệt mới thôi nhắm tịt mắt. Đúng là sang bên làng Giữa rồi, lũ trẻ đang chơi thấy khách lạ bèn bu lại xem. Đứa nào đó reo to: “Anh Khanh nhà thằng Chiến! Anh Khanh nhà thằng Chiến về chúng mày ơi”. Khanh loat hoay giúp Nguyệt lên bờ. Cô thở phào khi chân chạm đất. Bà già ngồi cạnh Nguyệt ban nãy chép miệng: “Rõ khổ, có đi đò một đoạn thôi mà mặt mũi tái dại thế kia”. Người ta râm ran chào nhau rồi đi về các ngõ. Nguyệt với Khanh ngồi lại trên bến một lát giữa vòng vây của tụi trẻ con hiếu kỳ. Lúc này Nguyệt mới thấy hồi hộp. Sắp đến nhà Khanh rồi. KHông hiểu mẹ và các em anh đón tiếp cô thế nào? Đúng lúc Nguyệt định giục Khanh đứng lên thì có một thằng bé chạy hối hả từ trong làng ra, vừa chạy vừa hổn hển gọi: “Anh Khanh…Anh Khanh ơi!”. Nguyệt hơi ngỡ ngàng. Khanh kể cu Chiến đã mười bốn tuổi, nhưng cậu bé này trông chỉ như mới lên mười. Đến trước mặt Nguyệt, cu cậu sững lại, cười nhe cả hàm răng vừa sún vừa sâu: “Em chào chị”. Khanh vuốt tóc em: “Chị Nguyệt mà anh vẫn kể đấy!”. Cu Chiến láu táu: “Em biết rồi, người yêu anh chứ gì? Chị ơi, em xách túi cho”. Nguyêệ can: “Cứ để đấy cho chị. Nặng thế kia, em xách cho khổ ra”. Thằng Chiến lại nhanh nhảu: “Chị đi đường có mệt lắm không? Chắc chị chưa quen đi xa?”. Nguyệt ngạc nhiên bởi sự cởi mở và nhanh miệng của thằng bé. Trong óc cô hình dung về cu Chiến khác cơ. Qua một con ngõ nhỏ ngoằn nghoèo đến trước một còm có ba mái nhà, thằng Chiến quay lại láu lỉnh: “Em đố chị Nguyệt nhà nào là nhà mình?”. Nó nói “nhà mình” nhẹ tênh như thế Nguyệt đã thực sự trở thành chị dâu. Cô thấy vui vui, nhưng lại lúng túng trước câu hỏi của Chiến. Khanh mắng em: “Chỉ được cái nhiều chuyện thôi. Chị ấy biết đâu mà đoán”. Chiến nheo mắt, tinh nghịch: “Thế mà đoán được mới tài chứ?”. Nguyệt chỉ đại vào ngôi nhà phía bên phải: “Kia phải không?”, chẳng ngờ cu Chiến reo to: “Đúng rồi, anh Khanh thấy chưa?”. Rồi nó hớn hở đi trước. Khanh nhìn Nguyệt tình tứ, nói nhỏ: “Đúng là em tài thật. Con dâu về nhà chồng có khác”. Nguyệt không nói gì, kỳ thực cô đang hồi hộp và căng thẳng. Ai sẽ hiện ra trong khung cửa kia? Mẹ Khanh hay cái Nụ? Cô sẽ phải nói những gì? Thằng Chiến nhảy chân sáo ra, liến láu: “Anh chị cứ vào nhà nghỉ đi, mẹ với chị Nụ còn gặt ngoài đồng, tối mịt mới về cơ. Tối nay em nấu canh cua rau đay nhé. Em sang bà ngoại xin mấy chùm hoa lý nấu cho thơm đây”. Nỗi hồi hộp trong Nguyệt vơi đi một chút khi biết hiện giờ khoong ai có nhà. Cô bước qua bậc cửa, đặt chân lên nền nhà bằng đất nện mát lạnh, bỡ ngỡ nhìn xung quanh. Ngôi nhà nhỏ hai gian ngoài, một gian buồng xây bằng gạch xỉ, lợp ngói đỏ không trát, không quét vôi nên tường có màu xám xịt. Chính giữa nhà là bàn thờ đặt trên nóc chiếc hòm gian to, chắc dùng đựng thóc. Phía ngoài hòm thóc là bộ bàn ghế, bàn vuông, ghế đẩu kê ngay ngắn. Hai bên là hai chiếc giường đôi. Đồ đạc gian ngoài chỉ có thế. Khanh vứt túi ở góc nhà quay sang Nguyệt: “Em ngồi đi, cho đỡ mỏi”. Nguyệt thận trọng ngồi xuống mép giường. Khanh mở túi xách, lấy ra gói bánh, trịnh trọng đặt lên bàn thờ, rút ba cây hương và tìm bật lửa. Nhìn dáng Khanh thành kính đứng trước bàn thờ, Nguyệt thấy mắt mình ươn ướt. Cô đứng lên, tha thẩn bước ra sân. Đất nhà Khanh khá rộng, ngoài khoảnh sân còn có một mảnh vườn trước cửa, trồng đủ loại cây: cam, bưởi, ổi, táo nhưng chẳng theo một quy hoạch nào. Có vẻ cây cối được trồng theo sự ngẫu hứng của chủ nhân, tiện đâu trồng đấy, vớ cây nào trồng cây nấy. Phía bên trái nhà là giếng khơi, bếp và chuồng lợn. Hai con lợn thấy tiếng chân người bèn hực lên, bắc chân vào gióng chuồng, nhoài người rít lên thảm thiết như thể bị bỏ đói cả thế kỷ này. Mùi phân lợn bốc lên nồng nặc. Nguyệt bước đến đâu, từng đàn ruồi à à bay lên đến đó. Góc sân là một đống lúa mới cắt xếp gọn gàng, Nguyệt đang định bước ra “khám phá” phía sau nhà thì Khanh ra, tay ve vẩy chiếc khăn mặt: “Em rửa mặt đi cho tỉnh táo. Măm giờ rồi đấy. Thằng Chiến không về mà nấu cơm, còn chạy đâu không biết”. Nhìn vẻ mặt tần ngần của Nguyệt anh hỏi nhỏ: “Nhà quê khác xa thành phố phải không em?”. Chẳng hiểu câu hỏi của Khanh có hàm ý gì không, Nguyệt không trả lời mà nói lảng: “Em hết say xe rồi đấy, chỉ còn hơi hơi nhức đầu thôi”.

Lúc Nguyệt vừa đi “tham quan” hết vườn trước, vườn sau thì thằng Chiến chạy về. Một tay nó xách tòn ten cái giỏ bê bết bùn, một tay cầm bọc lá chuối gói mấy chùm hoa lý. Vừa nhìn thấy Nguyệt, thằng bé đon đả: “mự bảo em về nấu cơm sớm. Mự với chị Nụ cắt cố đám lúa, mai gánh soắm cũng được. Chị nghỉ ngơi đã đỡ mệt chưa?”. Nguyệt cười thân thiện: “Chị hết mệt rồi, để chị giúp em nấu cơm”. thằng bé chối đây đẩy: “Thôi, chị mặc em, có nồi cơm với nồi canh, em đun một nhoáng là xong ấy mà!”. Thấy tiếng thằng Chiến, mấy con lợn càng đòi ăn dữ. Thằng bé ra chuồng lợn, mắng sa sả rồi vào bếp, lễ mễ bê ra một xoong cám tướng, đen sì. Nó lúi húi pha cám đổ vào máng cho lợn ăn. Nguyệt đứng xem những con lợn háu ăn xốc tồm tộp, cám bắn tung cả ra ngoài máng, nhưng chỉ được chừng một phút cô lại bỏ lên sân vì không chịu được mùi phân lợn. Thằng Chiến cắp rá thóc ra sân rồi lại quay vào lẩm bẩm: “Quên, không phải cho gà ăn. Nó rỉa đống thóc cả ngày rồi còn gì”. Thấy thằng bé xách rổ, Khanh bảo: “Có việc gì anh làm giúp cho”. “Em đi hái rau đây, anh thích thì quét nhà, quét sân cho em với”. Nguyệt dành cái chổi rơm từ tay Khanh: “để em làm cho”, nhưng vừa đưa được vài nhát, cô đã thấy mỏi lưng. Rất hiểu người yêu, Khanh lại giằng lấy chổi: “Thôi, để anh quét cho. Em quét chưa quen, đau lưng lắm. Lát nữa em ra nhặt rau với thằng Chiến”.
0
Vừa ngồi nhặt rau, thằng Chiến vừa bô bô trò chuyện ra dáng người lớn lắm. Nó hỏi han đủ điều, chu đáo và mạch lạc, từ chuyện: “Hai bác có khoẻ không hả chị? Nhà chị có mấy anh chị em ạ” đến chuyện “Hà Nội chắc rộng và đẹp lắm chị nhỉ? Ở đó có sông không? Thế ống Hồng mà chị kể nó có màu hồng thật không? Có rộng bằng sông này quê em không?”. Khanh ngồi cạnh cười tủm tỉm: “Mày hỏi vừa htôi để chị ấy còn có sức trả lời nữa chứ”. Đến lúc Nguyệt theo Chiến vào bếp thì nó cứ quầy quậy đuổi ra: “Chị đừng vào, nóng lắm. Đun rơm ra bụi thế này, chị lại bẩn hết đầu tóc, quần áo”. Nguyệt nằng nặc: “Kệ chị, chị chưa được đun bếp rơm bao giờ cả”. Cuối cùng thằng bé đành nhượng bộ. Nó đưa cho Nguyệt một que tre đen nhẻm: “Đây là cái que cời. Để em nhóm bếp cho chị đã”. Rơm khô, lửa bén bùng bùng. Nguyệt lúng túng không lùa kịp rơm vào bếp, có lúc bếp tắt ngóm, có lúc rơm ụn lên nhiều quá, khói mù mịt. Thằng Chiến luôn miệng hướng dẫn: “Chị phải cho rơm đều tay. Chị tãi rơm thế này này, đừng để dồn vào, nó khó cháy mà khói lắm. Đấy, quen rồi thì chị thấy cũng dễ thôi”. Bỗng nó quay sang hỏi: “Thế nhà chị đun bằng bếp gì? Bếp than à?”. Thằng bé thắc mắc:”Bếp ga là bếp gì? Nó như thế nào hả chị?”. Không biết giải thích thế nào cho nó hiểu, Nguyệt đành miêu tả quấy quá: “Em xem những chương trình dạy nấu ăn trên ti vi không? Cái bếp người ta dùng ở đấy là bếp ga”. Thằng bé gật gù: “Thế thì em biết rồi. Bếp đấy không hề có khói mà lửa xanh ơi là xanh. Những cái bếp trong ti vi đẹp nhỉ, chị nhỉ. Tuần trước em xem chương trình nấu ăn thấy cái chị Thảo Vân “gặp nhau cuối tuần” cũng dạy nấu nướng. Người ta chỉ điêu chị nhỉ, người nổi tiếng thế thì việc gì phải nấu ăn. Có khi họ toàn ăn ngoài hàng”. Nguyệt liên tục bật cười vì lời nói chuyện ngộ nghĩnh của thằng Chiến, càng lúc càng thấy quý mến và gần gũi nó. Cô mất đi cảm giác e ngại, âu lo lúc đầu. Đang thao thao chuyện trò, thằng Chiến chợt ngó ra phía đồng, reo toáng: “Mẹ về! Mẹ đi gặt về rồi đấy chị Nguyệt!”. Nguyệt lại trở nên luống cuống. Cô những muốn ngồi lì trong bếp, nhưng rồi lại nhanh nhẹn đứng lên, ra sân “Cháu chào bác”, rõ to. Khanh đã dặn là người quê rất mến những ai mau mồm mau miệng. Trong ngõ, ngoài làng gặp ai em cứ chào đại đi, chào to vào, không như ở thành phố nhà nào biết nhà nấy, người nào biết người nấy. Mẹ Khanh ngả nón, hồ hởi: “Ừ, Nguyệt hả, về lâu chưa cháu? Bác phải cắt cố đám lúa sớm, giờ mới xong. Cứ chất đống ngoài ruộng, mai gánh sớm cho mát”. Nguyệt tò mò: “Thế không sợ mất à bác?”. “Mất thế nào được cháu. Ai người ta lấy”. Khanh bước ra chào mẹ rồi hỏi: “Cái Nụ chưa về hở mẹ?”. “Nó rẽ vào bà Hoan, mua vài quả trứng vịt. Ăn cá khô mãi cũng xót ruột. Nguyệt ơi, vào nhà ngồi nghỉ đi cháu!”. Nguyệt thấy yên tâm. Mẹ Khanh cũng xởi lởi và có vẻ dễ tính. Bà ngồi ngay xuống thềm nhà, ngả nón quạt lia lịa, gương mặt đen sạm đầm đìa mồ hôi, ống quần vẫn vo xoắn lên tận bẹn và đôi chân trắng một lớp bùn đã khô. Vài vảy bùn còn bong rụng xuống đất. Đúng là mẹ Khanh già trước tuổi thật. Hai cánh tay bà đã lốm đốm đồi mồi. Mái tóc bà cũng đã bạc nhiều phía trên đỉnh đầu,còn đuổi tóc lại hung hung như râu ngô. Khanh cứ ra ra vào vào cuống quýt làm mẹ anh phì cười: “Thì ngồi xuống đấy đã nào, có gì mà anh phải quanh ra, quanh vào lắm thế?”. Vừa quạt, mẹ Khanh vừa hỏi chuyện Nguyệt, thỉnh thoảng bà còn quạt với cho cô vài nhát. vẫn là những câu hỏi vừa nãy của cu Chiến: “Bố mẹ ở trên đó có khoẻ không cháu? A, bác nghe thằng Khanh kể mẹ cháu bị viêm khớp hở? Cơ khổ! Cái bệnh ấy là tai quái, oái oăm lắm đấy! Bác đây cũng cứ bị đau hai cái khớp đầu gối. Hôm nào giở giời là y như rằng đầu gối sưng đẫn lên, lê chân không nổi nữa…”. Thằng Chiến đã nấu cơm xong, tót lên thềm ngồi chầu chuyện, tí lại cướp lời mẹ, trả lời hộ Nguyệt, còn Khanh cứ nhìn Nguyệt tủm tỉm cười, như muốn bảo: Thấy chưa, anh đã nói là mẹ anh hiền lắm mà. Em hết ngại rồi chứ? Chuyện một lát, mẹ Khanh đứng lên, vặn lưng răng rắc: “Thằng Chiến cám bã xong rồi chứ? Mà cái con ranh Nụ đi mua có mấy quả trứng đến giờ vẫn chưa thấy về là ra thế nào?”. Vừa lúc ấy Nụ về. Cô gái mười bảy tuổi có nước da nâu bánh mật, vóc người khoẻ khoắn, nở nang và búi tóc cuộn tới tận đỉnh đầu cười bẽn lẽn chào Nguyệt rồi vội vã mang mấy quả trứng xuống bếp. Nguyệt xuống theo, làm quen: “Nụ vừa đi gặt về à?” Nụ lí nhí: “Em về từ lúc nãy, cùng mẹ nhưng phải rẽ qua nhà anh Phóng”. Có vẻ tính Nụ hơi nhát và trầm, không được bạo dạn và mau mắn như cu Chiến. Thấy Nguyệt ngồi cạnh bếp, Nụ lại giục: “Chị cứ lên nhà đi, ngồi ở đây bẩn hết quần áo, mà nóng bức lắm”. “Kệ chị, chị em mình nói chuyện với nhau một lát”. Gọi là nói chuyện nhưng cứ Nguyệt hỏi câu nào Nụ mới khẽ khàng trả lời câu ấy. Đến lúc không nghĩ ra câu gì để hỏi nữa, Nguyệt mới lên trên nhà. Trời nhá nhem tối. Thằng Chiến bưng mâm bát ra. Mẹ Khanh ấn bát đũa vào tay Nguyệt: “Ăn tự nhiên cháu ạ. Cơm rau dưa, chắc là khó nuốt. Nhà có cả đàn gà kia, nhưng chiều nay chẳng có người làm”. Qua giây phút ngại ngùng ban đầu, Nguyệt bắt đầu tự nhiên. Thằng Chiến liên tục gắp thức ăn dúi vào bát cho cô, làm Nguyệt giãy nảy: “Kệ chị, để chị tự gắp”. Nụ ngồi đối diện Nguyệt, thong thả ăn, không góp chuyện. Trời tối rất nhanh, trăng nhô ra giữa đám mây trắng đục. Khanh thắc mắc: “Sao mẹ không mắc một bóng điện ra hè cho sáng sân?”. “Thì có ai làm đâu. Mẹ biết đằng nào mà điện mới đóm. Hay anh xem mai có rỗi rãi thì mắc giúp mẹ”. Ăn xong, Nụ nhanh nhẹn dọn mâm bát, Nguyệt toan giúp thì mẹ Khanh kéo tay: “Cứ để cho em nó cháu ạ. Lên nhà uống nước đi. Cháu đi đường xa chắc là còn mệt”. Nguyệt loay hoay mở túi xách, lấy quà cho mọi người. Hộp màu vẽ cho cu Chiến, tấm vải đẹp cho mẹ Khanh. Cu Chiến sung sướng hét ầm lên: “Đẹp quá! Tận hai mươi màu. Phen này thằng béo biết tay em”. Khanh ngạc nhiên: “Cái gì? Béo nào?”. “Thằng Phước béo con bà Loan bên kia sông ấy. Nó có hộp màu, có bảy màu thôi mà cứ sĩ diện. Hôm nọ cô giáo cho vẽ quả cà chua, em mượn nó mà nó không cho. Em tức mình tô luôn màu xanh”. Rồi nó cười hì hì: Cô giáo chấm điểm hỏi: “Tại sao em lại tô màu xanh”, em trả lời rằng: “Vì quả cà chua của em chưa kịp chín”. Thế mà cô cũng cho tám điểm. Thằng béo tô đỏ chon chót mà được có sau thôi. Tại nó vẽ xấu quá, quả cà chua mà trông cứ như củ khoai tây méo”. Cả nhà cười ồ. Nụ rửa bát xong, đứng ở giữa nhà lau tay vào ống quần. Nguyệt lục túi, tìm chiếc kẹp tóc có nơ hoa màu hồng rất điệu đưa cho Nụ: “Chị mua tặng em này!”. Mắt Nụ sáng lên mừng rỡ còn mẹ Khanh cứ xuýt xoa: “Chết chết, cháu cẩn thận quá, về chơi với bác là quý hoá lắm rồi, quà cáp làm gì cho tốn tiền ra. Mà cái con Nụ đến đoảng, không xin chị à?”. Khanh ra giếng tắm, dội nước ào ào. Mẹ anh ngồi chải đầu bên Nguyệt tỉ tê trò chuyện, chuyện mùa màng, trồng cấy, chuyện thời tiết rồi chuyện làng chuyện xã. Thằng Chiến ngồi hóng, chốc chốc lại chêm vào một câu. Bị mẹ mắng “Không đi học bài đi hở?”. Nó năn nỉ: “Hôm nay chị Nguyệt về chơi, mẹ cho con nghhỉ đi. Mà con cũng hết bài rồi, sắp nghỉ hè mà mẹ”. Rồi nó nhặt cái lược dưới ghế, đề nghị: “Chị Nguyệt ơi, chị cứ ngồi thế nhá, để em chải tóc cho chị”. Nguyệt bất ngờ, lặng người đi một thoáng. Thằng bé cứ nhẹ nhàng đưa từng nhát lược trên tóc cô, thủ thỉ: “Tóc chị mềm nhỉ, chẳng bù cho tóc chị Nụ, cứng quèo quèo như rễ tre ấy”. Nguyệt cảm động ngồi im. Chưa bao giờ anh Quân có cử chỉ chăm sóc yêu thương cô tương tự vậy.


Nguyệt cựa mình, mở mắt. Phải mất một lúc định thần, cô mới kịp nhớ ra mình đang ở nhà Khanh. Ngoài sân, trời đã mờ mờ sáng. Nguyệt nhìn sang bên cạnh, không thấy mẹ Khanh đâu, chắc bà đã dậy từ lâu. Cô chợt thấy xấu hổ, khi mình dậy muộn hơn, dù lúc này vẫn còn rất sớm. Cửa nhà mở toang, tiếng lợn rít đòi ăn đã ầm ĩ dưới chuồng. Nguyệt lại thoảng thấy mùi phân lợn, mùi cám nồng đưa lên. Cô quờ chân tìm dép ra sân. Lửa dưới bếp bập bùng, bóng thằng Chiến nhảy múa trên vách tường. Nó vừa đun nồi cám to tướng, vừa xúc cơm ăn. Thấy Nguyệt bước xuống, thằng Chiến ngạc nhiên: “Chị dậy làm gì sớm thế”. “Thôi! Chị chẳng ngủ được nữa đâu. Sao em cũng dậy sớm thế?”. Thằng Chiến đặt bát cơm xuống nền bếp, nhìn Nguyệt âu lo: “Chị lạ nhà, không ngủ được à? Ngày nào em chẳng dậy từ bốn rưỡi, nấu xong nồi cám là đến giờ đi học”. “Thế mấy giờ phải đi học?”. “Sáu giờ. Bảy giờ mới vào lớp, nhưng tụi em phải qua đò nên đi sớm hơn. Đến trường muộn, cô giáo không cho vào lớp. Cám sôi rồi”. Thằng bé mở vung nồi cám một cách chật vật, vì lửa cháy bùng bùng, cái vung lại to và nặng. Nguyệt ái ngại: “Để chị giúp cho”. “Thôi, em làm quen rồi, ngày nào em chả nấu cám. Chị đứng xa ra, em cho cám vào nồi, nó bắn lên là bỏng đấy. Bỏng cám rát lắm chị ạ”. Nhin thằng Chiến đánh vật với nồi cám to tướng. Nguyệt thấy mình thật lóng ngóng và vô tích sự. Cô quay trở ra sân giếng, lại thấy Chiến gọi to: “Chị Nguyệt ơi, tí nữa em múc nước cho chị rửa mặt. Giếng này sâu, chị không quen là không múc được đâu”. Đúng là Nguyệt không quen thật. Từ nhỏ, cô chỉ quen dùng nước máy. Tối hôm qua Khanh dạy mãi cô vẫn không múc được gầu nước cho ra hồn, cái dây gầu cứ nhùng nhằng, nhùng nhằng. Trời sáng hơn. Thằng Chiến nấu cám xong lại hối hả chạy ra múc nước giục: “Chị rửa mặt đi cho tỉnh táo”. Nguyệt đùa: “Chiến này, em chu đáo như là con gái ấy, lẽ ra em phải là con gái mới đúng. Giá mà chị có đứa em như em…”. Thằng bé phồng má, nuốt vội miếng cơm cuối cùng, bô bô: “Thì chị lấy anh Khanh, em chẳng là em chị thì gì”. Nguyệt xấu hổ: “Anh ấy nói đùa đấy”. “Nói đùa? Thế là chị chê anh em rồi”. Nguyệt lảng chuyện “Anh Khanh vẫn đang ngủ hả? Thế mẹ em với chị Nụ đâu rồi?”. “Mẹ và chị Nụ đi gánh lúa. Tranh thủ làm sớm cho mát chị ạ”. Đến giờ Nguyệt mới để ý thấy một đống lúa mới xếp ở góc sân. Cô ngạc nhiên bởi mọi người đi làm sớm quá. Mọi hôm ở nhà, đúng sáu giờ Nguyệt mới dậy. Cô lo đồ ăn sáng cho hai mẹ con rồi đến trường vẫn còn sớm chán. Đêm qua mẹ Khanh đi nằm lúc rất khuya, sáng nay lại ra đồng thật sớm, không hiểu bà ngủ lúc nào? Nguyệt đi tha thẩn trong sân. Trong nhà chắc thằng Chiến đang sắp sách vở đi học. Mười bốn tuổi nhưng nó mới học lớp năm. Khanh bảo trẻ con làng Giữa ít đứa học đúng tuổi, vì sáu tuổi còn nhỏ quá, không thể tự đi đò sang bên kia sông học được. Chính Khanh ngày xưa cũng đi học muộn hai năm. Làng Giữa nhiều trẻ con nhưng số được đi học chỉ chiếm khoảng một phần ba. Chuyện vượt sông đến lớp không những làm lũ trẻ chán học mà ngay cả các bậc phụ huynh cũng thấy ngại ngần. Nguyệt thắc mắc: “Sao không mở một vài lớp tiểu học ngay bên làng Giữa cho tụi trẻ đỡ phải qua sống?”. Khanh cười: “Ai dám sang làng Giữa dạy cơ chứ? Tụi thanh niên của làng đứa nào học lên được trung cấp, cao đẳng. Có mỗi anh vào đại học thì lại chọn trường báo chí. Làng Giữa lênh đênh giữa sống nên thiệt thòi nhiều quá. Thiệt nhất là lũ trẻ con, học hành thất thường. Mà không học được thì làm sao khá lên nổi…”. Bây giờ ngồi đây, chứng kiển cảnh thằng Chiến tất bật chuẩn bị đi học cho kịp giờ, Nguyệt lại thấy lòng xót xa. Bé nhỏ như nó mà đã năm năm lênh đênh qua đò đi học. Con chữ đến được với làng Giữa này thật gian lao, khó nhọc. Hôm qua, mới ngồi đò một lát, cô đã sợ run người. Vậy mà tụi trẻ ở đây, ngày nào cũng phải hai lượt đi về. Để lên được đại học, không biết Khanh đã vượt sống mấy nghìn lần? Mấy chục nghìn lần? Vừa đặt chân đến làng Giữa hôm qua, nhưng cô bắt đầu cảm nhận được nỗi vất vả của cuộc sống nơi đây. Thảo nào Khanh cứ bảo: “Em về rồi khắc biết. Anh chẳng muốn giới thiệu trước đâu”.
0
Thằng Chiến ôm cặp ra sân, nhìn nó tươi tắn hẳn trong bộ quần xanh áo trắng đồng phục. Nó dặn Nguyệt: “Lát nữa mẹ về, chị bảo mẹ là có nồi cơm nếp em nấu, vùi trong bếp ấy. Em chẳng biết chị có thích ăn cơm nếp lạc không. Chị cố ăn, chị nhé! Em đi học đây”.Nguyệt vụt đứng dậy: “Cho chị ra bến đò cùng em với. Chị muốn xem các em đi đò đi học như thế nào?”. “Nhưng chị nhớ đường về nhà nhé! ”. Càng ngày Nguyệt càng thấy gần gũi và quý thằng Chiến bởi sự lễ phép, nhanh nhảu và chu đáo của nó. Thảo nào Khanh thỉnh thoảng lại than: “Anh nhớ nhà, nhớ thằng Chiến quá! Anh hợp nó nhất nhà đấy. Cái Khánh đanh đá, cái Nụ thì lầm lì, chỉ có thằng Chiến thân với anh nhất”. Khanh còn kể ngày anh mới đi học đại học, thằng Chiến ở nhà khóc ti tỉ suốt một tuần. Những lần anh về thăm nhà, lúc trở lại trường, nó cứ nhắc mẹ chuẩn bị cho anh từ cái tăm đến viên thuốc cảm. Lúc chưa gặp Chiến, nghe Khanh kể, Nguyệt thấy thèm có một người thân như Chiến vô cùng. Tự dưng cô cứ nghĩ đến mối quan hệ giữa mình với anh Quân. Là anh em ruột mà xa lạ vô cùng. Có những khi cả tuần cô chẳng nhìn thấy anh. Sống cùng một nhà mà toàn gặp nhau qua điện thoại. Có lần anh Quân đi công tác Thái Lan một tuần, lúc về chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào anh lại nhớ mua quà cho cô. Quà là chiếc kẹp tóc đính ngọc trai và một bộ váy lấp lánh kim sa như váy diễn tuồng. Dạo ấy, Nguyệt mới cắt tóc chừng một tháng, kẹp tóc của anh Quân thành ế. Còn bộ váy, cô cố ních cũng không thể vừa. Nó là váy cho tụi trẻ chừng mười lăm, mười bảy thì đúng hơn. Anh Quân cứ trố mắt: “Hoá ra mày lứon phết rồi đấy nhỉ?”. Dù sao Nguyệt vẫn vui vì anh nhớ mua quà. Bố đi đây, đi đó nhiều nhưng tuyệt nhiên chẳng bao giờ mua quà cho ai. Ông lý luận: “Ở Hà Nội này cái gì chả sẵn. Cứ có tiền là mua được hết. Việc gì cứ phải lỉnh kỉnh khuân vác tận đâu về cho mệt xác”. Ngày trước, trước mỗi đợt đi công tác xa và dài ngày, bao giờ bố cũng thông báo cho Nguyệt và mẹ, nhưng bây giờ thì không. Nếu không bấm điện thoại, Nguyệt không thể biết bố đang ở đâu. Nhiều lúc ông cũng tắt máy, gọi mãi mà không thể liên lạc được. Chỉ khổ cho mẹ quanh năm suốt tháng nằm như dán lấy cái giường. Giá như bố ruồng rẫy, từ bỏ mẹ có lẽ còn dễ chịu hơn cái kiểu sống dửng dưng lạnh nhạt này.

Từ nhà ra đến bến đò, Nguyệt có một phát hiện thú vị: “Chiến ơi, sao làng mình chỉ xây nhà bằng độc một loại gạch xỉ, mà chẳng nhà ai trát tường, quét vôi thế?”. Thằng Chiến giải thích: “Làng mình năm nào chả ngập nước. Nhà mà quét vôi, trát tường, nước vào nó ngấm thì cũng bở hết xuống. Ở đây chỉ xây nhà bằng xi măng thôi, không xây bằng vữa bình thường đâu”. “Thế khi nước ngập, các em có đi học được không?”, “Không chị ạ, nước lớn thế, ai dám chở đò. Có năm nghỉ đến cả tháng”. Rồi nó quay sang Nguyệt, cười láu lỉnh: “Chị đọc truyện Sơn Tinh Thủy Tinh chưa? Em chỉ ước mình có phép như Sơn Tinh ấy, em sẽ hoá cho làng Giữa cao lên, thật cao, để không bao giờ ngập nước nữa. Hay là em sẽ dời làng về phía bên kia sông, đỡ phải qua đò”. Rồi trầm ngâm một lát như ông cụ, nó lại bảo: “Giá như làng mình có riêng một trường học nhỉ?”. Thằng bé không để ý đến nét mặt ưu tư của Nguyệt, cứ nhảy lung tung từ chuyện nọ sang chuyện kia. Đến bến đò, đã thấy một tốp học sinh chừng mười đứa đứng chuyện trò râm ran. Một chuyến đò đang lênh đênh giữa dòng sang sông. Chắc thấy Nguyệt lạ nên đang trò chuyện sôi nổ, lũ trẻ ngừng bặt, giương mắt nhìn. Thằng Chiến hãnh diện khoe bô bô: “Chị Nguyệt, người yêu anh Khanh tao đấy!”. Nguyệt làm quen với chúng. Chỉ có mấy đứa nghe chừng bạo dạn nhất đám bắt chuyện, còn lại cả lũ cứ đứng nhìn cô với ánh mắt nhìn thật lạ. Đò sang, lũ trẻ ríu rít ào xướng, thậm chí còn đùn đẩy nhau, Nguyệt hơi xấu hổ khi nghĩ lại chiều qua mình đã lẩy bẩy, đã hốt hoảng thế nào lúc bước chân xuống đò. Thằng Chiến giơ tay lên vẫy vẫy: “Chị Nguyệt ơi, chị về di!”. Nguyệt cứ đứng tần ngần nhìn theo con đò mỏng mảnh đang xa dần. Nước sông phía giữa dòng chảy xiết thế kia, trên thuyền lại toàn lũ học sinh tiểu học…Cứ mỗi ngày hai lần qua sông đến trường như thế trách chi mà trẻ em làng Giữa này đến hai phần ba bỏ học. Khanh còn bảo nhiều đứa còn chưa khi nào biết mặt con chữ là gì. Một làng nằm ngay đồng bằng Bắc Bộ, cách Hà Nội chưa đầy 100km mà heo hút, xa xôi đến vậy. Khanh còn đùa rằng làng anh không có tên trên bất cứ tấm bản đồ nào. Có khi cùng xã mà nhiều người không đặt chân lên làng Giữa bao giờ. Ngày xưa, làng Giữa mới chỉ đơn thuần là bãi giữa, không cư dân, lau lách, cỏ dại um tùm, rắn rết chuột bọ nhiều vô số. Thế rồi có hai cha con nhà nọ cùng đường, phải dắt díu nhau vượt sông sang tá túc. Dần dần, người nọ rủ người kia, bãi Giữa đông dần và thành ra làng Giữa bây giờ. Nằm giữa ngã sáu sông, được phù sa bồi đắp, đất đai làng Giữa tốt thật, cây cối cứ cắm xuống là lớn lên vùn vụt, chẳng phải phân gio, nhưng oái ăm là doi đất làng này quá thấp so với mực nước sông, cứ đến tầm tháng bảy, tháng tám âm lịch sông dập dềnh mưa lũ, làng lại ngập. Hoa màu cũng theo đó mà chết hết. Những ngày nước ngập là những ngày làng Giữa thực sự bị cách ly với thế giới bên ngoài. Con sông trở nên rộng hơn, sóng lớn, nước cuồn cuộn, hối hả. Năm nào làng cũng có người chết đuối, cho dù lũ trẻ chừng sáu bảy tuổi đã bơi lội thành thạo như rái cá. Cái khổ nữa của người dân làng Giữa là sự giao lưu, trao đổi. Chợ họp ở làng bên kia sông, cần mua tí thức ăn tươi, người dân cũng phải tất tả qua đò. Mỗi sáng sớm, trên bến đò làng Giữa cũng có một cái chợ tự phát họp chừng nửa tiếng. Không có chợ nào đơn sơ, tạm bợ như thế. Chẳng có một mái lều, một sạp hàng tử tế. Đồ bán chỉ là con tép, mớ rau, quả trứng gà. Nhà ai có gì thì mang bán nấy. Bán xong rồi về. Không một hàng quà bánh, thịt thà. Không có cả hàng xén, hàng khô. Người làng Giữa nuôi được con lợn muốn mang bán cũng khó khăn. Chẳng hàng thịt nào muốn qua đò sang sông để mua con lợn, thành thử lợn làng này bao giờ cũng phải bán rẻ hơn rất nhiều. Ngày trước cũng có người trong làng thử làm nghề mổ lợn, cung cấp thịt cho chính làng mình, nhưng vừa mổ được con lợn đầu tiên đã ngao ngán giải nghệ. Lý do rất đơn giản. Thế nên con lợn bảy mươi cân phanh ra, đến hết ngày mới chỉ bản được một phần ba. Thế là chủ thịt hối hả đi đò sang bên kia sông bán tống bán tháo. Người ta lại ngờ rằng lợn dịch bệnh chết toi, nhất quyết không mua, sợ lây cho lợn ở nhà. Năm ngoái làng Giữa còn có một cái chết thương tâm vô cùng. Có một chị lấy chồng đến dăm năm chẳng thấy có con. Cầu cúng mãi hết đền gần đến chùa xa, chị mới có thai. Cả nhà mừng. Cả họ mừng. Thậm chí cả làng Giữa mừng cho chị. Đến hôm chuyển dạ, chị vật vã hơn một ngày giời. Xưa nay phụ nữ làng Giữa toàn sinh con ở nhà. Cả làng có hai bà đỡ rất mát tay. Bác Tình và bà Mí. Bà Mí năm nay đã bảy mươi mà vẫn đỡ đẻ thành thạo lắm. Bác Tình là con gái bà, sắp sửa năm mươi. Có ca đẻ khó, phải cả bác tình và bà Mí túc trực hàng ngày. Đến lượt nhà chị hiếm con nọ, sau hơn một ngày, bà Mí bất lực lắc đầu bảo: “Thai ngang, không thể xoay được, chỉ ra mỗi bàn tay”. Thế là mọi người hối hả đưa chị xuống thuyền, sang trạm xá bên kia sông. Ra đến giữa sông, chắc vì đau quá, chị quằn quại, giẫy đạp, thuyền nghiêng rồi lật. May mà hôm ấy ai cũng biết bơi. NHưng đến khi mấy người kéo được chị vào bờ thị chị đã không còn sống. Đứa con chưa được chào đời, chẳng ai biết được nó là trai hay gái. Đám tang chị, cả làng Giữa rơi nước mắt. Bà Mí với bác Tình tuyên bố từ nay “giải nghệ” không đỡ đẻ nữa. Đám phụ nữ trong làng lại đến khóc lóc: “Bà mà không đỡ, thì chúng cháu chỉ còn nước theo nhau mà chết hết cả mẹ lẫn con”. Thế là bà lại làm. Hằng năm làng Giữa lại có thêm biết bao đứa trẻ ra đời, không ít đứa được đẻ rơi nơi bến sông, bờ ruộng. Mọi kế hoạch, chính sách của nhà nước dường như chưa về được đến đây nên nhà nào cũng đông con lít nhít. Nhà ít nhất cũng ba đứa còn nhà nhiều thì năm, sáu, thậm chí bảy con. Nguyệt đã kinh ngạc biết bao nhiêu khi thấy những cô gái trẻ chừng ba mươi, ba hai tuổi đã là mẹ của bốn, năm đứa trẻ sàn sàn nhau như trứng gà, trứng vịt. Có những cô bé mới mười bảy, mười tám tuổi đã vác bụng bầu õng ẹo. Mự Khanh than thở về Nụ: “Rồi cũng đến ế mất thôi. Đoảng lắm”, dù con bé mới tròn mười bảy. Khánh, chị gái của Nụ lấy chồng bên kia sông đã có con gái gần một tuổi. Người làng Giữa cứ khen anh em nhà Khanh tốt số. Với họ, ai ngoi ra khỏi làng Giữa cũng đều là may mắn cả.

Ba ngày chơi ở quê Khanh, Nguyệt đã kịp đi khắp làng. Làng Giữa bé tẹo, chỉ đi một lát là hết các ngõ. Dân số của làng đông, nhưng phiêu bạt các nơi cũng nhiều, toàn làm thuê làm mướn, bán sức lao động mà ăn. Con gái nhỉnh lên một chút thì quang gồng quang gánh khắp chợ gần, chợ xa, gặp ai yêu thương là lấy. Con trai ngược mạn Cao Bằng, Hà Giang làm cửu vạn nơi biên giới hay gần hơn là sang Quảng Ninh đội than làm thuê. Một số nữa bươn bả vào tận trong Nam làm công nhân cho các công ty liên doanh, nghe đâu lương tháng cao lắm, nhưng cứ đi người nào là mất hút người ấy, chẳng thấy quay về thăm làng xưa xóm cũ, thăm doi đất lênh đênh giữa bốn bề sông nước. Một số thanh niên chẳng đi được đến dâu thì hối hả lập gia đình, hối hả sinh con đẻ cái. Cánh đồng làng Giữa chớm vào mùa gặt, lúa cặht ruộng, chen bờ. Khanh bảo vụ mùa năm nao làng cũng bội thu, còn vụ chiêm lại hết sức phập phù. Đất tốt nhưng ít nên người dân không thể giàu lên được. Cả làng có đưa đầy mươi cái ti vi. Xe máy tuyệt nhiên không, còn xe đạp cũng rất hiếm hoi. Người làng Giữa có đi đâu xa mà cần xe cộ. Ai có xe đạp toàn phải gửi phía bên kia sông. Chính vì nằm giữa mênh mông nước, nên làng Giữa chẳng bao giờ mất cắp. Người trong làng không lấy của nhau.Tài sản chìm nổi của nhà ai có những gì, dân làng có thể kể ra vanh vách. Ngoài đồng ruộng, dân làng còn có thêm hai nghề phụ là đánh cá và nấu rượu. Ngày xưa, sông như của riêng làng Giữa nên cá còn sẵn lắm. Dần dần đất chật người đông, cái gì cũng trở nên quý, hiếm. Bây giờ kiếm con tép, con tôm cũng khó, nói gì đến cá ta, cá ngon. Còn nấu rượu thì đến một phần hai dân làng thành thạo lắm. Rượu làng Giữa được đổ buôn cho khắp huyện, khắp tỉnh, không chừng còn sang cả nhiều tỉnh bạn. Rượu mang thêm chút thu nhập cho túi tiền ốm yếu kinh niên của mỗi gia đình, nhưng lại khiến đám thanh niên làng Giữa thêm phần hư hỏng. Ở đây, lũ con trai choai choai mười sáu, mười bảy đã nốc rượu như điên. Cứ rượu vào lại gây gổ đánh nhau. Trung bình cứ vài ba tối làng lại có một vụ. Nhẹ thì chửi nhau mấy câu rồi thôi. Nặng hơn nữa là thượng cẳng chân, hạ cẳng tay. Đánh nhau mấy hôm nay chán, mai gặp nhau lại cười hì hì xin lửa hút thuốc lá, để rồi ngày kia lại lao vào nhau như hai con trâu chiến. Ở nhà có mấy hôm mà Khanh đã phải đi can hai vụ đánh nhau. Người làng bảo: “Chỉ có cháu có ăn có học ra nói chúng nó mới nghe”. Khanh can xong, về cứ thở dài: “Rồi mai mình di, chúng nó lại đánh nhau như thế”. Cái Nụ nói đùa: “Buổi tối buồn quá, đánh nhau một tí cho vui ấy mà”. thằng Chiến thì nghiêm trang bảo: “Bao giờ lớn, em nhất định không đánh nhau đâu”. Cái Nụ nguýt dài: “Thế hôm nọ, đứa nào vật nhau với thằng Hiển ở bến đò?”. “Thì bây giờ là trẻ con, đánh nhau cũng được chứ sao”. Thằng bé ngượng ngùng chống chế.

0
Tối cuối cùng ở nhà, Khanh rủ Nguyệt ra bến đò chơi. Trăng trung tuần vằng vặc sáng, dát vàng lấp lánh lên mặt sông. Từng gợn sóng như những vảy vàng đang lao xao nhảy. Mặt sông mênh mông hơn. Gió thổi mát rười rượi. Hai con đò đang nằm ngủ dưới trăng. Cảnh đẹp như trong tranh, Nguyệt kê dép ngồi ngay bậc gạch bến đò. Tự dưng cô cứ thấy bồi hồi khi nghĩ đến việc mình sắp phải xa làng Giữa. Rồi cô lại tự cười mình lẩn thẩn. Nào có phải quê hương, bản quán gì cho cam…Nhưng quả thật mấy ngày ở đây Nguyệt thấy gần gũi như được sống giữa một gia đình lớn với tình cảm ấm áp vô cùng. từ nhỏ cô đã sống trong sự hối hả của thành phố, giữa những mối quanhệ xóm giềng lỏng lẻo, nên về đây Nguyệt thấy ngạc nhiên vô cùng khi thấy người ta bưng cho nhau bát canh, khúc cá, xin nhau từ cái tăm, sợi chỉ, tí nước mắm, củ gưngf. Ở quê Khanh, Nguyệt nhớ mẹ và nghĩ về bố, về anh Quân nhiều hơn. Chắc mẹ rất buồn khi cô đi vắng, dù đã có chị Lan bên cạnh. Những lúc rỗi, Nguyệt thường kể chuyện cho mẹ nghe, có thể chỉ toàn những chuyện không đầu không cuối, nhưng nhờ đó thời gian đỡ nặng nề hơn, mẹ đỡ buồn hơn. Anh Quân cứ bảo: “Mày đến lẩn thẩn mất thôi. Mẹ ốm đã đành. Còn mày, thanh niên hai môt hai hai tuổi mà cứ giam mình quanh quẩn mãi trong bốn bức tường”. Nguyệt không muốn tranh luận với anh Quân về bất cứ chuyện gì, chỉ bởi một lẽ cô và anh không hiểu nhau và sống quá khác nhau. Còn gì buồn hơn chuyện những người ruột thịt sống chung một mái nhà lại không thể hiểu nhau? Anh Quân cứ cho rằng đã là con trai thì không bao giờ sướt mướt vớ vẩn. Có vẻ anh quan niệm mọi loại tình cảm đều sướt mướt. Con người “hiện đại” như anh chỉ biết lao vào kiếm tiền và củng cố địa vị, quyền lực của mình. Đã có lần Nguyệt hỏi: “Anh cứ quyết tâm phấn đấu đạt được mọi điều mong muốn là tiền bạc và chức vụ. Nhưng suy cho cùng, khi có được tất cả những cái đó rồi anh sẽ dùng chúng để làm gì?”. Anh Quân lại trố mắt, buông một câu quen thuộc: “Kheo mày dở hơi thật rồi đấy. Học cho lắm vào. Tao nói thật, lũ con sư phạm chúng mày, nhất lại là khoa văn như mày, đứa nào cũng có tí man man”. Nguyệt không hơi đâu mà giận anh. Hình như anh Quân bận rộn đến nỗi không có thời gian để yêu và lấy vợ. Ba mươi rồi anh vẫn dửng dưng như không, mặc kệ mọi giục giã sốt ruột của mẹ. Nguyệt thấy sợ cho cách nhìn đời tỉnh táo và đầy tính toán nơi anh. Bạn gái thì anh Quân có nhiều, nhưng tựu trung anh chia làm hai loại. Loại một là những cô hám tiền của, chức tước và cả “nhan sắc” của anh, loại hai là những cô chẳng biết cưới về để làm gì. Vì theo anh, công việc hiện tại của họ chẳng ra gì. Cái “chẳng ra gì này” Nguyệt ngầm hiểu là không hái ra tiền.

Khanh ngồi cạnh Nguyệt, nhìn đăm đăm sang phía bên kia sông. Bên đó có vài ba quán hàng điện sáng trưng. Ban ngày quán đó bán nước chè, kẹo lạc, thuốc lào và cả nước giải khát cho khách qua đò dừng chân, còn ban đêm quán cho thuê máy hát Karaoke. Bây giờ phong trào hát Karaoke lùi tà thành phố về các làng quê. Bọn thanh niên khoái trò này, dù phải dè sản không biết bao nhiêu ngày mới đủ tiền hát vài tiếng đồng hồ. Quán Karaoke bên kia sông tối nào cũng chật ních. Người có tiền hát thì ít, người xúm đến xem và cổ vũ thì nhiều…Đêmm thanh, giọng hát ngang phè, sai bét nhạc, có lúc còn ngắc ngứ theo gió, vang vang trên mặt sông. Bất giác Khanh thở dài: “Em thấy không từ đây sang bên kia sông có một đoạn thôi, nhưng anh thấy nó có một khoảng cách thật khủng khiếp”. Nguyệt chủ động nắm tay Khanh: “Khoảng cách gì?”. “Khoảng cách trong cuộc sống ấy mà. Cùng là người dân, nhưng làng Giữa bao giờ cũng lam lũ hơn, thiệt thòi hơn…”. Không hiểu sao Nguyệt rất sợ nhưng lúc Khanh buồn như thế này. Cô cố tìm lời an ủi mà không ra. Khanh buồn như thế này. Cô cố tìm lời an ủi mà không ra. Khanh lại thở dài lần nữa: “Lần nào về quê, anh cũng thấy day dứt lắm…”. “Anh day dứt gì?”. “Chẳng rõ nữa. Có thể là do anh chẳng làm gì cho quê, cho những người thân, cụ thể là mẹ, là thằng Chiến, cái Nụ và cả cái Khanh nữa…Anh muốn tất cả đều khác đi, bớt khổ hơn, nhưng “lực bất tòng tâm”. Anh biết rõ rằng mình chẳng làm gì được. Bây giờ, anh đang loay hoay lo cho bản thân mà không xong”. Tự nhiên, Nguyệt cũng rơi vào mối tơ vò của Khanh. Cô lại nghĩ “Ừ nhỉ, nếu mình cũng là người con làng Giữa như Khanh, mình cũng có giúp được gì đâu…Sống cho mình đã khó…”. Nhưng rồi lập tức, một ý nghĩ vụt qua rất nhanh trong đầu: “Không giúp được là thế nào…Mình sẽ trở thành cô giáo, sẽ về đây dạy học, ít ra là lũ trẻ con đỡ vất vả hơn khi tới lớp vì không phải vượt sông, làng Giữa sẽ có ít người mù chữ hơn”. Nghĩ đến đây, Nguyệt chợt thấy run người. Cô thổ lộ cùng Khanh. Anh ôm xiết Nguyệt vào lòng, xúc động: “Em đã là con dâu làng Giữa rồi đấy. Anh yêu em. Em trong sáng nhân hậu và đáng yêu lắm, em có biết không?”. Nhưng rồi anh lại buồn ngay sau đó: “Dù sao đấy mới chỉ là giả sử thôi. Anh sẽ không quay về đây, anh sẽ lập nghiệp ở nơi xa. Thật đau lòng khi phải thú nhận rằng mình cố trốn chạy quê hương, em có hiểu anh không hả Nguyệt?”. Khanh càng nói càng xúc động, anh như sắp khóc. Nguyệt ngồi gọn trong vòng tay anh, ngước mắt nhìn trăng đang vằng vặc giữa bầu trời. Chính cô cũng chẳng hiểu mình đang suy nghĩ gì. Rồi cô lại dõi đăm đăm ra mặt sông. Giữa sóng nước nhấp nhô, bến đò này, và cả làng Giữa như đang trôi trôi. Rồi cô lại dõi đăm đăm ra mặt sông. Giữa sóng nước nhấp nhô, bến đò này, cả làng Giữa như đang trôi trôi. Bờ bên kia vẫn cứ vời vợi xa. Hai con đò mỏng manh neo lại bên này bị sóng đánh chốc chốc lại khẽ chồm lên như một thoáng giật mình.

Buổi sáng Nguyệt và Khanh lên trường, thằng Chiến dậy rất sớm. Nó tranh phần thổi cơm với mẹ, bị đuổi ra khỏi bếp, thằng bé lên nhà, quanh quẩn bên chỗ Nguyệt đang sắp xếp đồ đạc. Bất ngờ nó đề nghị: “Em với chị đi chơi một tí đi”. Nguyệt ngạc nhiên: “Sao lại đi chơi lúc này?”, nhưng rồi cô cũng gật đầu đồng ý, chủ ý là chiều thằng bé. Khanh đứng ở cửa nhìn hai chị em dắt nhau đi. Thằng Chiến cứ thủ thỉ đủ thứ chuyện linh tinh. Nguyệt thấy rất rõ là nó đang quyến luyến, không muốn xa mình. Đi một đoạn, nó lại đột ngột đòi về bảo: “Cho chị đỡ mỏi chân”. Về đến cổng thằng bé kéo Nguyệt dừng lại, thì thào: “Bao giờ chị lại về?”. “Chị chưa biết, có lẽ phải sau khi tốt nghiệp”. Thằng Chiến lo lắng: “Khi chị với anh Khanh cưới nhau rồi, chắc chị chẳng về đây nữa đâu”. “Có chứ, thỉnh thoảng anh chị sẽ về chơi”. Thằng Chiến tỏ ra thất vọng rõ rệt: “Chỉ về chơi thôi á? “. Rồi đột ngột, nó móc trong túi quần ra một vật gì nho nhỏ: “Em kỷ niệm chị này!”. Nguyệt giơ tay lên, cố nhìn trong ánh sáng nhợt nhạt của đầu ngày: “Cái gì đây?”. “Cái xe bọ xít chị ạ”. “Sao lại xe bọ xít? Để làm gì cơ?”. “Chắc ngày bé chị không được chơi bọ xít với lại chơi ve rồi. Thế này nhé, chị bắt con bọ xít hay con ve, gắn bụng nó vào cục nhựa đường trên xe đây này, rồi chị vẩy khẽ, nó sẽ vỗ chánh, chị đặt xe xuống đất, nó sẽ chạy bon bon như ô tô”. Giờ Nguyệt đã nhìn rõ chiếc xe bé xíu, có đủ bốn bánh hẳn hoi. Côháo hức: “Hay nhỉ, em tự làm đấy à? ”.”Vâng. Em xin mãi mới được một vỏ lon bia. Chúng em toàn làm xe bằng bìa thôi, cơ mà bằng vỏ lon bia nó chạy mới bon. Bây giờ bắt đầu có ve rồi đấy. Nếu chị ở đây, em sẽ cho chị xem hội đua xe bọ xít của chúng em. Mà ở Hà nội có ve, có bọ xít không hả chị?”. Nguyệt cẩn thận ấp chiếc xe bé xíu vào giữa lòng bàn tay: “Có chứ! Chị cám ơn em, chị sẽ giữ gìn nó cẩn thận”. Thằng Chiến giao hẹn thêm: “Chị phải gắn ve, gắn bọ xít vào cho nó chạy mới thích cơ”. Trao xong quà, thằng bé có vẻ nhẹ nhõm. Nó chạy vụt vào nhà, còn Nguyệt bâng khuâng bước. Không hiểu sao cô lại mang tâm trạng của kẻ sắp đi xa gia đình.

0
***

Trung kéo Khanh vào quán cà phê sinh viên ngay cổng trường, bô bô: “Lâu lắm khồng ngồi với nhau. Mày vứt mớ công việc, hy sinh buổi tối này đi! Tao mới nghe Nguyệt nói mày có tin gì vui”. Khanh chột dạ, nhìn sâu vào mắt Trung: “Mày gặp Nguyệt à?”. “Ừ, gặp qua điện thoại. Con cháu tao có bài văn khó quá, nó nhờ, tao biết thế nào mà trả lời, bèn nhờ cô giáo Nguyệt”. Khanh thở phào nhẹ nhõm. Anh cứ giật mình thon thót mỗikhi nghe tin Trung gặp riêng Nguyệt, dù Trung và anh là hai thằng bạn khá thân. Chẳng hiểu sao Khanh luôn sợ Nguyệt quay sang Trung. Dù đã khổi sở tự thừa nhận là mình nhỏ nhen mà anh vẫn không dứt được nỗi lo ấy. Như hiểu thấu tâm trạng của Khanh, Trung ấn anh xuống ghế, cười hì hì: “Tao biết thừa mày vừa nghĩ cái gì. Cảnh cáo lần cuối cùng đấy. từ mai cấm nghĩ xấu cho bạn bè”. Lhanh cười xoà. Khi cà phê được mang ra Trung thận trọng nhấp từng ngụm nhỏ, rồi cũng thận trọng buông từng tiếng “Tao thấy lạ cho mày, ngần ấy thời gian mà vẫn chưa hiểu hết người yêu. Dễ thường mày tưởng Nguyệt là hạng con gái ai cũng có thể yêu được, thay người yêu như thay áo chắc?”. Khanh tếu táo: “Không, nhưng tao sợ tài chinh phục của mày. Bao nhiêu em chết dí vì mày rồi. Chẳng có em bỏ cả người yêu chạy theo là gì?”. Trung lại phá lên cười: “Vớ vẩn, chắc tại một lần tao nói đùa, nên mày lo đến tận bây giờ. Mà thôi, không vòng vo nữa, mày được nhận vào toà soạn ấy thật rồi à? Khao đi! …”. Khanh lưỡng lự: “Chẳng biết nữa…nhưng cũng có triển vọng. Hôm trước ông tổng biên tập bảo ao cứ chuẩn bị hồ sơ nộp vào, khi nào có bằng tốt nghiệp thì bổ sung sau. Tháng bảy này sẽ có đợt thi tuyển phóng viên. Phải thi nữa cơ, biết mình có đỗ không?”. Trung lạc quan: “Đỗ là cái chắc, mày cày cụt công tác với báo ấy mấy năm rồi, số nào chẳng có bài. Phải thế nào ông tổng biên tập mới giục làm hồ sơ. Mà giử sử chưa được thì cứ xin hợp đồng. Dân báo chí, đứa nào chẳng hợp đồng bầm dập rồi mới được yên ổn. Tuần trước về quê ổn chứ hả? Tao thấy Nguyệt vui vẻ lắm!”. Khanh gật đầu. Chính anh cũng không ngờ chuyến ra mắt của Nguyệt tốt đẹp thế. Mọi người trong quê đều quý Nguyệt, nhất là thằng Chiến và mẹ anh. Những lúc Nguyệt theo bọn trẻ con đi chơi khắp làng, mẹ gọi Khanh vào nhà thủ thỉ: “Con bé ngoan nết lắm…Âu cũng là cái phúc nhà ta. Con liệu mà đối xử. Còn chuyện công việc, cứ gắng lo. Mẹ chẳng giúp được gì. Thôi thì: “Cha mẹ giàu con có, cha mẹ khó con không”. Thấy mẹ ngậm ngùi, anh phải gạt đi: “Con tự lo được mà, mẹ không phải suy nghĩ gì cả. Mấy năm học rồi, con vẫn tự bươn chải đấy thối!”. Mẹ anh lại đổi sầu làm vui: “Cứ xin việc xong xuôi đi, rồi cưới nhau là vừa. Mẹ cũng đang tính đến chuyện phải ra ngoài đó, xin phép bố mẹ con Nguyệt cho con đi lại. Ở làng mình là phải có người lớn nói chuyện với nhau trước rồi lũ trẻ chúng mày mới được yêu đương. Nhưng đây xa xôi quá…”. “ÔI, mẹ lo gì. Chúng con phải đi làm ổn định đã. AI lại vừa ra trường đã cưới xin”. Nhưng mẹ cứ nằng nặc: “Ừ thì cưới trong năm nay là được rồi. Mự cứ lo cho đứa nào là yên lòng phần đứa ấy. Mày lấy vợ xong, lại còn phải tính cho con cái Nụ lấy chồng thôi, tính tuổi các cụ là mười tám rồi. Có thằng Thông con bà hàn ở xóm dưới…”. Mẹ lại bắt đầu chuõoi lo toan tính toán dằng dặc. Nhìn mái tóc xơ xác bạc đến một nửa của mẹ, Khanh cứ thấy cay cay nơi khoé mắt. Anh là con trai cả, hai lăm, hai bảy tuổi đầu mà vẫn chưa làm được gì cho mẹ, chưa làm được gì cho bản thân. Thấy Khanh cứ thần mặt nghĩ ngợi, Trung vỗ vai anh đánh bộp: “Mày ngẩn tò te gì thế?Nghĩ đến chuyện lấy vợ à? Bao giờ mày với Nguyệt cưới?”. “Còn lâu chưa tốt nghiệp thì tính sao được”. “Thì cũng tháng năm rồi, cuối tháng sáu ra trường. Tháng tám tụi mày cưới luôn đi!”. Khanh lắc đầu quầy quậy: “Không dễ thế đâu. Giá như tao ổn định như mày, thì tất cả đơn giản hơn”. Trung quen Khanh từ năm học thứ nhất, trong một lần đi cắm trại ở công viên. Thế mà thành thân nhau được. Một đứa học báo chí, một đứa học Bách khoa điện tử, chỗ ở lại cách nhau cả chục cây số mà tuần nào cũng ngoi ngóp đến tìm nhau. Gia đình Trung ở ngay Hà Nội, có cửa hàng kinh doanh máy tính rất to, thành thử Trung vừa học, vừa tha hồ thực hành. Trung là con một, hai chị gái đã lấy chồng, nhà lại giàu có nên không mảy may phải toan tính chuyện tiền nong như Khanh. Khanh pảhi đi làm thêm ngay từ năm thứ nhất. Mới đầu là làm gia sư – cái nghề phổ thông nhất của giới sinh viên Hà Nội, lúc bấy giờ. Cũng không có gì đáng phàn nàn, học sinh ngoan, tuy rằng hơi dốt, phụ huynh tôn trọng và trả tiền lương rất đúng hạn. Thế nhưng Khanh vẫn thấy không thích công việc ấy. Nó có vẻ tù túng, gò bó. Vả lại mấy đồng tiền lương gia sư không thể đủ cho anh trang trải, chi tiêu cho toàn bộ những nhu cầu tối thiểu của một sinh viên. Hôm lên trường nhập học, mẹ anh phải bán tất cả lợn gà và non nửa hòm thóc, lấy tiền cho anh mang theo. Lúc xuống bến đò, mẹ còn ngập ngừng luồn tay vào túi áo, lôi ra mấy đồng tiền lẻ dúi thêm…Ngay từ giây phút ấy Khanh đã thấy trách nhiệm của mình. Anh không thể để mẹ chạy ngược chạy xuôi lo tiền mãi được. Ngay chuyện để Khanh đi thi và học đại học cũng la quyết định táo bạo đến liều lĩnh của hai mẹ con. Làng Giữa chưa khi nào có người học hành đỗ đạt, nên chẳng ai biết nuôi một đứa con học đại học tốn kém thế nào. Ở làng anh, cứ nói phải tiêu đến tiền trăm, người ta đã khủng khiếp lắm rồi. Quê gần nhưng quanh năm Khanh chỉ về nhà đúng vào dịp tết, năm nào may lắm thì hè có mấy ngày anh trở về làng Giữa. Khanh còn mải kiếm tiền. Thôi làm gia sư, anhlặn lội với đủ thứ việc, từ phục vụ quán cơm, quán cà phê đến thuê xích lô đạp, rồi cả khuân hàng ở chợ Long Biên. Sinh viên đi làm thêm nhiều, nhưng sinh viên báo chí trường anh thì chỉ có anh lặn lộn với những nghề như thế. Chen chân chốn này đa phần là con nhà giàu, là các công tử, tiểu thư. Có những lúc, quá mỏi mết trong cuộc mưu sinh, Khanh định mặc kệ, định buông xuôi tất cả. Học hành mà làm gì khi trong tay chỉ là con số không to tướng. Nhưng cứ nghĩ đến việc phải trở về làng Giữa sống cuộc sống giống ông bà, bố mẹ ngày xưa, là anh thấy sợ. Khanh còn nhớ như in những năm nước lớn, ngập đến trên lưng nhà, cả làng phải bắc gỗ lên xà nhà ngồi ngóng nước rút, ngay lúc ngủ cũng phải cảnh giác kẻo rơi xuống nước. Không làm cách nào nấu cơm được mà ăn. Dân làng Giữa có thứ lương thực dự trữ trong mùa lũ rất độc đáo. Đó là khoai khô. Đến mùa khoai cả làng nhộn nhịp hẳn lên. Khoai dỡ về được rửa sạch rồi đem luộc, sau đó thái lát phơi khô, tống vào chum vại, đậy thật kín, đưa lên gác trên xà nhà. Nước lũ lên, cả làng chỉ sống bằng thứ khoai khô ấy. Trẻ con bé tí cũng được mẹ nhai mớm cho. Ông già bà lão không nhai được thứ khoai khô và rắn ấy thì múc nước để ngâm, đến khi nào khoai mềm ra là nhấm từng chút, từng chút một. Cứ nhấm nháp như thế cũng no bụng. Những đợt nước ngập lâu, cả làng cồn cào ruột gan vì khoai. Người ta còn bốc cả gạô sống nhai cho đỡ xót ruột. Nước rút, niềm hạnh phúc nhất với mọi người là nhóm lửa, nấu nồi cơm nóng (đồ đung cũng phải được gác lên gác bếp dự trữ) ăn với giềng củ tán nhỏ trộn muối rang. Nhà ai may mắn thì kiếm được vài con tép, con cá. Mùi cơm nóng ngào ngạt đánh thức những cái dạ dày đã quá mệt mỏi vì khoai khô. Những năm ấy, bưng bát cơm đầu tiên sau ngày nước rút, Khanh có cảm giác rằng không thứ cao lương mỹ vị gì sánh nổi. Đến khi nồi cơm hết nhẵn vẫn thấy ngon, thấy thèm. Mùa lũ, người làng Giữa sợ nhất là những cái chết. Chết giữa mũa lũ đúng là đại hoạ cho gia đình, cho cả dân làng. Nước trắng băng tứ phía, không có chỗ nào chôn. Người chết nằm chung với người sống. Mãi sau này, người làng mới nghĩ ra chuyện là sẵn chòi để quan tài thâậ cao giữa bãi tha ma, nếu có ai chẳng may qua đời khi nước lớn, quan tài cứ cheo leo giữa mênh mông như thế, đợi nước rút rồi chôn. Thỉnh thoảng trong đêm yên tĩnh, chỉ có tiếng gió lùa xao xác dọc hànhlang lụt tối hun hút ở làng, có tiếng khóc hờ thê thảm, có tiếng nước vỗ long bong, tiếng ếch nhái rên rỉ. Anh đã phải cố gắng mọi cách để ra khỏi luỹ tre làng, để vượt sông sang phía bờ bên kia. Lũ con gái, con trai trong làng lớn lên cũng vậy, chúng đi tứ phía để kiếm ăn. Năm nào hạn hán, nước sông không dâng, dân làng lại thấy đó là may mắn, mặc dù ở khắp nơi đang mong mưa. Khi Khanh kể những điều này cho Trung nghe, Trung cứ trố mắt ngạc nhiên như nghe được một câu đầy tính nghi ngờ: “Thế mà cũng sống được á?”. Trung chỉ quen kết nối máy tính, tìm kiếm những điều hiện đại của thế giới hliện đại nên không thể tin ngay rằng trong thế kỷ này lại có nơi như làng Giữa của Khanh. Có lần Trung còn sôi nổi bảo: “Thế sao làng mày không xây nhà tầng để ở. Khi nước lên, cứ leo ráo lên tầng hai là yên chuyện”. Khanh cười mà như mếu: “mày tưởng có thể xây nhà tầng bằng lá tre chắc?”. Ở quê anh, cái nhà là tài sản lớn nhất của mỗi gia đình. Người ta chi chút cả đời, chỉ mong sau này dựng được một nếp nhà. Thế mà cũng có gia đình từ đời nọ qua đời kia chỉ có mái nhà tranh, qua mỗi kỳ lũ lụt lại gần như phải dựng lại từ đầu. Xây nhà, người làng Giữa phải kỳ cụi sang bên kia sông mua vật liệu, chở từng chuyến, từng chuyến đò một. Có nhà chỉ đủ tiền xây mỗi cái khung nhà, mái phỉa lợp rạ, cửa trống hoác vì không có cánh, gió lùa thông thống tứ mùa. Trung bảo: “Nghe mày kể chuyện làng, tao cũng thấy sợ, sống ở đấy thì chết mất. Mày đi là đúng lắm”. Rồi nó cứ háo hức hẹn hò một ngày nào đó về làng Giữa chơi cho biết, về để kiểm nghiệm lại những lời kể của Khanh xem có đúng không. Rồi nó cứháo hứchẹn hò một ngày nào đó về làng Giữa chơi cho biết, về để kiểm nghiệm lại những lời kể của Khanh xem có đúng không. Khanh toàn về nhà dịp tết, mà dịp ấy có ai bỏ nhà mà đi lang thang chơi bời đâu. Cuối cùng Trung đành hẹn: “Nhất định khi nào mày với Nguyệt cưới nhau, tao phải theo về thăm làng Giữa. Nghe cái tên làng mày đã thấy ngộ rồi, không có làng đầu, làng cuối mà lại có làng Giữa mới hay”.

Rời quán cà phê, Trung rủ khanh đi chơi lòng vòng. Khanh lưỡng lự rồi gật đầu. Còn gần một tháng nữa anh phải thi tốt nghiệp, nhưng bài vở cũng đã hòm hòm. Thời gian này tụi sinh viên năm cuối đang dốc sức chạy đôn chạy đáo lo công việc. Chẳng đứa nào muốn về quê. Nghề gì về quê cũng chán, nghề báo về quê còn chán hơn. Các anh chị những khoá trước, có người tốt nghiệp sáu bảy năm rồi vẫn cứ lang thang ở đất Hà Nội, sống bằng mấy đồng nhuận bút còm ,,ngày ngày gõ cửa các toà soạn và mặt cứ hếch lên đi tìm mẩu rao vặt tuyển phóng viên. Tụi sinh viên báo chí ra trường, đứa nào cũng lập gia đình muộn, hơn ba mươi, gần bốn mươi có khi vẫn một mình một bóng đi về. Kẻ có việc ổn định thì mải miết đêm ngày đi đi, viết viết, kẻ còn long đông thì không dám đèo bòng. Trong những đêm thức khuya tán gẫu, tụi phòng Khanh cứ mơ sang Mỹ: “Ở đó nhà báo sướng cực kỳ, được coi trọng lắm co. Mà họ rất lắm nhà báo, sao không có ai thất nghiệp”. Mấy tăhngf hứng lên còn rủ nhau ra hẳn một tờ báo riêng, cũng hí hửng nghĩ tên, hoạch định mọi kế hoạch tỉ mỉ, chi tiết như thể ngay tuần sau báo sẽ ra. Rồi lại còn vẽ phác thảo luôn đầu báo, để rồi chỉ sáng hôm sau, tờ phác thảo ấy đã nằm gọn ỏn trong bồ rác của nhà vệ sinh. Có những lúc nghĩ đến chuyện không xin được việc làm, Khanh thấy lo đến tái người.
Chở Khanh đi vòng vèo một hồi, Trung đề nghị: “Có ghé nhà Nguyệt không?”. Khanh lắc đầu . Anh mới gặp Nguyệt hôm qua. Anh biết giờ này cô đang bận viịu với bản tóm tắt luận văn. Đầu tháng sáu Nguyệt bảo vệ. Trung lại bảo: “Thế cứ đi lang thang nhé. Thất thểu nhìn thiên hạ thế này cũng hay ra phết, mày nhỉ. Biết đâu mày lại nảy ra bài báo nữa, kiểu như: Thanh niên Hà Nội đi chơi tối thế nào chẳng hạn. Nhà báo chúng mày thì móc đâu chẳng ra chuyện để viết”. Trung đi thật chậm. Khanh lơ đãng nhìn dòng người xe cộ đông đúc đang hối hả, bất chợt anh thở dài: “Không biết ra trường rồi, tao với mày còn dịp nào đi với nhau theo kiểu rồ rồ này không?”. “Gớm, mày tưởng mày ra trường là bị đày biệt xứ luôn hay sao mà không có dịp?”. “Không!Nhưng lúc ấy còn có bao nhiêu việc. Lại còn gia đình vợ con mỗi đưqá. Có lúc tao thấy sợ cuộc sống hối hả quá!”. Trung gật gù “Ừ! Đã chấp nhận bươn chải, chạnh trnah để vươn lên là phải chấp nhận cuộc sống hối hả thôi. Màu xem mấy bố già về hưu ngồi chơi xơi nước có sướng không? Hay mày thích sống như thế?”. Khanh phì cười: “Không thể tưởng tượng nổi rằng sẽ có lúc tụi mình già lụ khụ”. “Và chết nữa chứ”. Động đến chuyện chết chóc, tự dưng Khanh không còn hứng thú tán dóc. Anh giụ Trung cho mình về trường.
0
***

Nguyệt vui mừng và hồi hộp bốc phòng bì. Thư của cu Chiến em Khanh. Hôm đi, cô ghi lại địa chỉ, dặn dò: “Thỉnh thoảng viết thư cho chị nhé. Em cứ ghi địa chỉ này ngoài phong bì là thư đến tay chị. Mà phải nhớ dán tem”. Nguyệt cho Chiến cả tiền mua tem. Thằng bé sung sướng reo: “Hay qua, chúng em đang học đến văn viết thứ đấy. Hôm trước cô giáo cho em bảy điểm bài viết thư”. Không ngờ hôm nay thư của Chiến đã đến tay Nguyệt. Chữ thằng Chiến xấu, vừa to cộ như con gà cồ, vừa đổ nghiêng đổ ngả, lại sai chính tử be bét. Nó hồn nhiên kể: “Mẹ bảo mấy hôm nữa phải mua thêm đôi nợn về nuôi cho anh chị nàm đám cưới”. Rồi suốt bốn trang vở học trò thằng Chiến thông báo đủ tin tức của làng Giữa, từ việc nhà bác Mít mới chặt cây xoan đóng giường đến cái Loan lớn tướng còn đái dầm, bị mẹ đánh cho sưng cả đít. Vừa đọc, Nguyệt vừa cười thầm, có đoạn không nén được, cô phải cười thành tiếng. Thăqngf Chiến cứ làm như Nguyệt đã kịp quen biết cả làng Giữa. Cuối thư nó không quên nhắc đến cái xe bọ xít. Nó bảo bây giờ bọn trẻ con trong làng đã bắt được ve rồi. Chỉ mấy hôm nữa là tha hồ chơi. Nguyệt nhìn sang chiếc xe bọ xít thằng Chiến tặng đang để ở góc bàn. Hôm đầu tiên nhìn thấy nó, mẹ cũng ngạc nhiên hỏi: “Con có cái gì đấy?”. Nguyệt đưa cho bà: “Đố mẹ đấy”. Ngắm nghía một lát mẹ bảo: “Chắc nhặt được ở đâu à?”. “Không, thằng Chiến em anh Khanh cho con đấy. Nó tự làm…”. Mẹ Nguyệt không nói gì thêm, nhưng nhìn con gái say mê ngắm nghía thứ đồ chơi trẻ con nhà quê tự tạo một cách vụng về ấy, bà hiểu Nguyệt rất quý thằng Chiến. Cô bảo: “Với Chiến, cái xe này là cả gia tài đấy mẹ ạ”. Mẹ Nguyệt vui lây cùng con gái.

***

Nguyệt đọc lại bản tóm tắt luận văn lần nữa, vẫn thấy trong lòng hồi hộp không yên. Tám giờ sáng mai cô bảo vệ. Dù đã chuẩn bị thật kỹ càng, cô vẫn thấy chưa yên tâm lắm. Nguyệt cứ ngồi vẽ ra biết bao tình huống mà hội đồng phản biện có thể đưa ra để tự trả lời. Thấy Nguyệt lo lắng quá, mẹ cô cũng không ngủ được dù cố gắng nhắm mắt. Thấy mẹ chốc chốc lại mở choàng mắt nhìn về phía mình, Nguyệt áy náy: “Con để đứn sáng quá, mẹ không ngủ được à? ”. “Không phải thế, mẹ thấy con lo lắng nên…”. Nguyệt gấp sách sà đến bên giường: “Đây có, con chỉ muốn chuẩn bị cho kỹ hơn thôi. Các thầy ở tổ lý luận văn học của con khó tính lắm. Ở tổ khác bao giờ điểm luận văn cũng cao hơn tổ lý luận. Họ được mười thì tụi ký luận chỉ có chín thôi. Thầy hướng dẫn con với thầy phản biện chính lại luôn bất đồng quan điểm mới khó lựa”. Rồi cô tặc lưỡi “Mà thôi, mặc kệ, không nghĩ đến luận văn nữa. Mai tám giờ bảo vệ nhưng con vẫn phải đến sớm, không biết tụi trong ký túc đã lo cắt chữa, rồi mua hoa chu đáo chưa. Các thầy tổ lý luận khó tính lắm mẹ ạ”. “Thế thì con đi ngủ đi. Mười một giờ rồi còn sớm sủa nỗi gì nữa”. Nguyệt buông màn, nhẹ nhàng nằm xuống bên mẹ. Mẹ cô rất muốn vuốt tóc con gái như ngày xưa, nhưng bà không thể điều khiển nổi đôi tay đã bắt đầu co quắp của mình. Bà chỉ biết xót xa thở dài nhè nhẹ. Có nằm liệt một chỗ thế ngày mới thấy mình bé nhỏ và yếu đuối biết bao. Có những lúc bà thấy cạn hết nghị lực sống, thấy thời gian còn lại của cuộc đời mới thừa thãi, vô vị và tẻ nhạt biết bao. Bà gắng gượng chỉ vì Nguyệt. Con bé yêu mẹ bằng thứ tình yêu xả thân, sẵn sàng hy sinh mọi thứ thuộc về mình để bù đắp cho mẹ. Bà còn biết Nguyệt không chỉ đối với mẹ như thế, mà với bất cứ người nào cô cũng sống hết mình. Nhưng trong sâu thẳm linh cảm của người mẹ, bà run sợ trong ý nghĩ rồi đời con mình sẽ khổ. Những người chỉ biết quên mình như Nguyệt có khi lại phải khoác trăm nghìn cay đắng day dứt thiệt thòi.
Nguyệt nhắm mắt mà không ngủ được. Tự nhiên cô cứ có cảm giác âu lo. Không hẳn là lo chuyện sáng mai bảo vệ luậnv ăn thế nào. Chưa bao giờ cô rơi vào tâm trạng bồn chồn thế này. Nguyệt muốn trò chuyện cùng mẹ cho nhẹ lòng như cô sợ làm mất giấc ngủ của mẹ, đành thôi. Cô lại nghĩ đến Khanh, đến làng Giữa bé nhỏ và lam lũ của anh. Gương mặt từng người trong gia đình Khanh lần lượt hiện lên trong óc Nguyệt. Cô nhớ nhất là thằng Chiến. Nhớ từ nước da đen cháy của nó đến vóc dáng còi còi, hàm răng sâu đến một phần ba. Cô nhớ cả giọng điệu láu táu và vui nhộn của thằng bé. Bên thằng Chiến, chẳng ai cảm thấy buồn….Đang miên man suy nghĩ, Nguyệt chợt giật mình bởi tiếng chuông điện thoại réo vang. Nguyệt cầm máy, còn nghe mẹ lẩm bẩm: “Ai gọi thế không biết”. Cô ngạc nhiên khi thấy đầu máy bên kia là Khanh: “Nguyệt hả? Anh đây!”. Cô bật lên: “Sao anh gọi khuya thế?”. Khanh hối hả: “Chiều hôm nay ảnh phải đi có chút việc bận. Vừa về thì tụi trong phòng anh bảo anh có điện thoại từ lúc 4 giờ chiều ở quê gọi ra. Tụi nó bảo mọi người nhắn anh phải về ngay, bằng mọi giá”, Nguyệt bàng hoàng “Có chuyện gì nhỉ? ”. “Anh về đây - giọng Khanh trở nên run run – anh chỉ sợ có chuyện gì chẳng lành. Mai em bảo vệ tốt nhé!”. Nguyệt vội vã: “Khoan đã, anh về bằng gì? Khuya rồi. Hay là…””Không, anh thấy lo lắn lắm. Anh đi xe máy với thằng Trung. Nó đang đến rồi. Thôi nhé!”.Trong máy chỉ còn những tiếng “tút,,,tút…” dài. Nguyệt sững sờ…Mẹ cô cũng hốt hoảng: “Thằng Khanh gọi à? Có chuyện gì đấy con?”. “Con không biết, anh ấy nhận được điện báo phải về quê ngay. Anh ấy đi luôn bây giờ…”. Nghe giọng Nguyệt lạc hẳn đi, mẹ cô vội an ủi: “Chắc có vấn đề gì quan trọng, nhưng không lo con ạ. Có khi là chuyện vui cũng nên”. “Con không nghĩ thế…Hay là…có ai bị làm sao?”. “Bậy nào, con đừng nghĩ linh tinh. Thôi, đi ngủ đi. Đằng nào cũng không thẻ biết ngay được. Chờ nó lên đã”. nguyệt thấy chân cứ rủn ra, khuỵu xuống. Cô ngồi ngay xuống đất, vẫn chưa hết bàng hoàng. Khanh và Trung về làng Giữa ngay bây giờ. Đi xe máy có nhanh chắc cũng gần hai tiếng đồng hồ. Mà đò nào người ta còn thức để chở cả hai qua sông? Càng nghĩ, Nguyệt càng thấy rối bời. Nhận ra mẹ đang lo lắng cho mình, cô lại gắng leo lên giường nừm cạnh mẹ, ruột gan như có lửa đốt bên trong.
Lần thứ hai trong đời Nguyệt biết thế nào là thức trắng đêm vì âu lo và hốt hoảng. Lần thứ nhất là khi mẹ cô bắt đầu phải nằm liệt giường sau trận ốm dài, không đi lại được. Tưởng mình không qua khỏi, bà gọi chồng con đến dặn dò mọi chuyện. Nguyệt khóc như mưa như gió. Đến khi không còn nước mắt, cô chỉ nấc lên tức tưởi. Suốt cả đêm nằm bên mẹ Nguyệt không tài nào chợp mắt. Cô chỉ khư khư nắm lấy bàn tay mẹ như thể sợ mình buông ra, mẹ sẽ đột ngột biến đi…Lần này đầu óc cô quay cuồng, mụ mị trong biết bao tình huống giả thiết. Đến khi đồng hồ báo thức réo chuông, Nguyệt bật dậy thật nhanh. Cô tưởng lầm đó là chuông điện thoại. Khi định thần lại, Nguyệt thở dài thất vọng. Đầu óc cô cứ ong ong, trống rỗng, chân bước đi thập thõm như trên mây. Có một đêm không ngủ mà người cứ nưh người đi mượn của ai, hốc mắt trũng sâu. Mẹ không biết Nguyệt thức trắng đêm qua. Cô vào buồng tắm, rửa mắt rất lâu, trang điểm kỹ lưỡng mà vẫn lộ ra vẻ mặt bơ phờ và quầng mắt mỏi mệt hốc hác.

0
Gửi xe xong, Nguyệt hối hả lên giảng đường. Đúng tám giờ, các thầy trong tổ lý luận văn học đến. Mấy đứan lăng xăng hét nhau pha nước. Vừa cầm cái phích ra đến cả lớp. Nguyệt đã khựng ngay lại. Trung lao từ cầu thang lên, mặt bơ phờ. Nguyệt cuống quýt hỏi đồn: “Anh Khanh đâu hả anh Trung? Sao lên sớm thế? Có việc gì không? ”. Trung tự lưng vào tường thở hổn hển một lúc. Nguyệt giậm chân sốt ruột: “Sao hả anh?”. Giọng Trung đầy âu lo: “Em bảo vệ chưa?”. “Chưa. Bây giờ các thầy mới đến, chắc phải mười lăm phút nữa. Thế…”. Trung xua tay: “Em đừng hỏi bất cứ câu gì, để anh thở đã. Em bảo vệ thứ mấy?”. “Thứ năm”. Trung trợn mắt “Xin đổi lên thứ nhất đi, xong rồi anh em mình còn phải đi”. Nguyệt lờ mờ đoán ra chuyện gì đó bất ổn. Cô thoáng tái mặt đi:”Vâng, nhưng anh phải…”. “Không nhưng gì cả. Nghe anh đi. Nửa tiếng nữa anh quay lại”. Trung lại lao xuống cầu thang như chạy trốn. Nguyệt suýt khóc. Cô cứ thấy bủng rủn cả chân tay trong một linh cảm chẳng lành. Khanh đâu? Sao Trung đến đây có một mình? Rồi còn đòi chở cô đi đâu nữa….Thấy nguyệt cứ đứng trân trân ở cửa lớp, Lan Anh chạy ra: “Sao không xuống lấy nước đi. Phải pha ấm trà”. Nguyệt dúi cho Lanh Anh cái phích, chẳng nói thêm câu gì. Lan Anh le te xách đi. Dãy hànhlang nhộn nhịp. Hôm nay có tới ba tổ cùng bảo vệ. Bao nhiêu anh chàng tay ôm hoa, mặt ngơ ngác, ngó nghiêng. Chắc đến để cổ vũ và chúc mừng bạn gái. Nguyệt đánh bạo đến chỗ thầy tổ trưởng: “Em xin lỗi thầy, thầy có thể cho em bảo vệ đầu tiên được không ạ? ”. Thầy Hùng lấy ngón tay trỏ nâng cặp kính lên nhìn Nguyệt rồi lại nhìn vào tờ danh sách trước mặt: “Nguyệt hả? Sao phải xin bảo vệ đầu?”. Nguyệt nói như sắp khóc: “Thưa thầy…gia đình em…hôm nay có việc, bảo vệ xong em phải về ngay”. Thầy Hùng nhìn lại vẻ mặt đang nhợt đi của Nguyệt: “Chuyện buồn hay sao mà lo lắng thế? Thôi được. Nhưng phải tuyệt đối bình tĩnh đấy. Tôi cho bắt đầu ngay bây giờ”. Đến lúc này Nguyệt mới thực sự cảm thấy cuống. Bao nhiêu chữ nghĩa bay biến sạch. Cô lập cập mở cặp lấy bản tóm tắt.
Trình bày và trả lời câu hỏi xong, Nguyệt hấp tấp đi như chạy từ bục xuống dưới, cổ chỉ kịp dặn lại Lan Anh: “Lúc nào xong, nhớ đi điểm cho tao. Tao xin phép thầy Hùng rồi”. Trung chờ ngay cửa. Nguyệt vừa ra, anh đã cầm tay cô lôi tuốt xuống cầu thang. Trung dừng lại ở chân cầu thang tầng 1, nhìn thẳng vào mắt Nguyệt: “Bình tĩnh nhé!”. Nguyệt đã thấy choáng thật sự: “Anh nói đi!”. “Thằng Chiến nhà Khanh đã…”. Nguyệt giật nảy người, lạc giọng. “Thằng Chiến sao cơ?”. Giọng Trung cũng nghẹn lại: “Đò đắm…Tám đứa tất cả, toàn tụi học sinh…”

***

Chưa bao giờ Nguyệt chứng kiến một đám tang lớn và thảm khốc đến thế. Cả làng Giữa trắng khăn tang và dậy tiếng khóc. Tám chiếc quan tài sơn đỏ chót được đưa ra đồng cùng một lúc. Tám bà mẹ rũ rượi ngất lên ngất xuống và các ông bố ngồi như đá tảng trước hiên nhà. Tục lệ ở đây bố mẹ không được đi đưa tang con cái. Mỗi quan tài có duy nhất một vòng hoa, những vòng hoa trắng đến lạnh người, đến xót lòng. Nguyệt về làng Giữa trong tâm trạng hoảng loạn vô cùng. Suốt dọc đường về cô chỉ nghĩ đến thằng Chiến, đến chiếc xe bọ xít ngộ nghĩnh của nó cùng lời hẹn: “Bao giờ được nghỉ hè, chị về đây! Em sẽ cho chị xem chúng em đua xe. Vui cực kỳ”. Khi xe dừng ở bên này soong, Nguyệt không đủ can đảm bước lên đò. Cô cứ run lên bần bật. Có vẻ Trung cũng hơi sờ sợ. Gửi xe máy xong, anh cố trấn an Nguyệt bằng giọng run run: “Cố lên em, Khanh nó đang rất cần em”. Làng Giữa đông đúc hơn moi ngày bởi có nhiều người bên kia sông đến thăm viếng những gia đình có con bị nạn. Đã hai ngày nay trẻ con làng Giữa nghỉ học. Và tất cả các bậc cha mẹ đều nói như dao chém đá, rằng họ quyết không cho con mình sang sông đi học nữa. Nhà Khanh cũng đông nghẹt những người. Nguyệt nhận ra tiếng khóc thất thanh của cái Nụ từ ngoài cổng. Mẹ anh rũ rượi như một tàu lá héo. Khanh nhìn Nguyệt, rồi lại nhìn lên tấm ảnh thằng Chiến, ứa nước mắt…Nguyệt nhận ra đó là tấm ảnh của Chiến chụp hôm tết, tay đeo đồng hồ mượn của anh, đầu đội mũ lưỡi trai lệch, cười khoe cả hàm răng vừa sún vừa sâu. Lần trước cô về, thằng bé đã lôi tấm ảnh này ra khoe. Thế mà bây giờ nó thành ảnh thờ. Đến lúc đưa thằng Chiến ra đồng, Nguyệt không kìm được, cô bật khóc nức nở. Trung đi bên cạnh, dúi cho cô một chiếc khăn mùi xoa cũng đã ướt một góc. Tám đám tang đi cùng một lúc. Không kèn trống, chỉ có những tiếng khóc thất thanh rồi nghẹn lại, nấc lên tức tưởi. Từ nhà ra nghĩa địa của làng, Nguyệt không nhìn thấy Khanh. Chỉ đến lúc nghe tiếng hô hạ huyệt , mới thấy Khanh oà lên ngay bên cạnh. Trung đỡ Khanh, mắt rơm rớm nước. Nguyệt không dám len vào vòng trong để chứng kiến giấy phút vĩnh biệt tê tái ấy. Tiếng khóc của cái Nụ xát muối vào lòng mọi người: “ơi em ơi là em ơi. Thế là em bỏ chị, bỏ anh, bỏ mẹ thật rồi…”Không thể hiểu Nụ lấy đâu hơi sức mà khóc to đến thế. từ lúc về, Nguyệt thấy Nụ khóc suốt, vừa khóc vừa kể lể, rồi lại gào lên đau đớn. Hạ huyệt xong mọi người tản về dần. Nguyệt, Trung, Khanh và Nụ ngồi sát cạnh nấm đất vừa đắp, mùi cỏ tươi bị xới vẫn còn ngai ngái. Nụ thôi gào lên mà chỉ sụt sùi nho nhỏ. Khói hương nghẹn lại quẩn quanh. Không thể tin đươc rằng Chiến đang nằm đây, dưới lớp đất dày và vĩnh viễn lặng câm, vĩnh viễn không bao giờ mọi người còn được nhìn thấy nó. Cho đến tận lúc này Nguyệt vẫn chưa hết bàng hoàng…Bốn người lặng im, không ai nói với ai câu nào. Chỉ đến khi nằng nhạt, mọi người về hết, Trung mới đứng lên: “Thôi, muộn rồi, về đi….”. Nguyệt đưa mắt nhìn khắp nghĩa đại.Tám ngôi mộ trẻ con liền nhau. Tám vòng hoa trắng đến rưng rưng…Cả lũ lầm lụi đi. Tự nhiên Nguyệt thấy lạnh người. Đây là lần đầu tiên cô đi đưa tang. Vẫn biết đời người có sinh có tử, mà sao lúc đối mặt với sự chia lìa vĩnh viễn thế này, trong lòng vẫn thấy đau đớn và hốt hoảng đến thế. Lần đầu tiên Nguyệt thật sự thấm thía sự ghê sợ của cái chết.
Đêm, làng Giữa nghẹn trong khói hương và những tiếng khóc nỉ non. Nguyệt sợ, sợ từ tiếng đọng nhỏ nhất đến ngọn gió mang mùi hương trầm đâu đó. Nụ trải giữa sân, Nguyệt cố thu người ngồi giữa mà vẫn mang cảm giác ớn lạnh. Không hiểu sao cô không thể dứt khỏi những ám ảnh về thằng Chiến. Có lẽ nào nó vĩnh viễn không còn. Tối tăm thế này, nó nằm lại ngoài đồng, dưới đất sâu. Chỉ nghĩ đến thế thôi, Nguyệt đã muốn khóc oà. Mẹ Khanh không ăn tối, nằm khóc lặng lẽ trong màn từ chiều. Khanh ngồi bó gối, bất động. Một lát sau, Nụ cũng bỏ vào nhà. Nguyệt rất muốn nói một câu gì đó để phá vỡ sự im lặng nặng nề này, nhưng lại không thể cất lời. Mãi sau, Trung là người lên tiếng đầu tiêng: “Thế…hôm ấy, sóng to quá, hay sao?”. Khanh vẫn không nói gì. Nguyệt có cảm giác nét mặt anh càng đanh lại. Cái Nụ lại ra, sà vào chiếu sụt sùi. “Sóng cũng vẫn thế thôi, nhưng chẳng hiểu thế nào. Có tám đứa…thì cả tám đứa….Nghe người ta bảo…tại mấy đứa trẻ con tranh nhau cái gì đấy ở trên thuyền, rồi chúng nó xô đẩy nhau, thuyền mới lật”. Nguyệt rời rạc hỏi: “Tụi nó…không…biết bơi à?”. “Biết chị ạ. Chỉ có mấy đứa lớp hai bé quá, không biết bơi. Nhưng, đò lật bất ngờ, lại giữa sông…Bác Năm lái đò kể, thằng Chiến…Thằng Chiến…”. Nụ lại bật khóc: “Nó bơi được một đoạn rồi đấy chứ….nhưng lại quay ra để cứu tụi kia…Rồi tất cả…”. Trung hỏi như hụt hơi: “Thế đứa bé nhất học lớp mấy?”. “Con chị Vinh, mới lớp một. Hồi đầu năm học, chị ấy cứ bảo chưa cho đi học, chờ nó khoảng bảy, tám tuổi lớn hơn hãy đi, nhưng anh ấy cứ bắt con đi học đúng tuổi”. Không ai nói gì thêm. Trong những lúc thế này, mọi lời an ủi động viên đều trở nên thừa. Nguyệt tìm tay Khanh, nắm chặt như xẻ chia. Suốt từ chiều tới giờ, anh chẳng nói câu nào. Trung cứ cúi mặt, mâm mê mãi mảnh gạch vụn vừa nhặt được. Nguyệt vẫn có cảm giác Chiến còn quanh đâu đây, nó sắp sửa chạy ào ra, nói đủ thứ chuyện không biết mệt.
Trước khi trở lại trường, Nguyệt, Khanh, Trung ra mộ thằng Chiến thắp hương. Trời đổi mưa như trút nước, đường làng trơn trượt, Nguyệt cố bấm ngón chân suýt ngã. Không thể thắp hương vì mưa to quá, ba đứa đứng cúi đầu lặng lẽ một lát rồi quay về. Nguyệt nhìn vào mắt Khanh, thấy được nỗi đau, thấy được sự mỏi mệt, thấy được cả những chán nản ngập tràn. Nụ đi đón ba anh em ở ngang đường, giục: “Các anh chị về ăn cơm rồi đi kẻo muộn: Trời này không tạnh được đâu”. Khanh quay sang Trung bảo: “Mày cứ về trước đi”, rồi kéo Nguyệt ra phía bờ sông. Hai đứa lùng nhùng trong hai chiếc áo mưa trắng xoá, rồi nhìn sang Nguyệt: “Từ bé tí, anh đã bơi trên sông này…Nó thân thuộc với anh biết bao. Đi xa anh nhớ làng Giữa, nhớ dòng sông cồn cào. Thế mà bây giờ…”. Thấy Khanh im lặng, Nguyệt lại ngước mắt nhìn anh chờ đợi. “Thế mà bây giờ…Anh chỉ muốn đi, đi thật xa và không bao giờ ngoảnh lại…”. Nguyệt thấy sờ sợ khi nhìn vào mắt Khanh. Dường như đôi mắt ấy đang trút hết mọi đau đớn lên dòng sông. Cô kéo tay Khanh: “Về anh, không moi người lại phải chờ”. Khanh vẫn đứng như đá tảng: “Anh qúy thằng Chiến nhất nhà. Không phải vì nó là con út đâu. Còn nhỏ, nhưng nó biết điều nhất”. “Vâng, em hiểu. Mình về thôi”. Nguyệt giục thêm mấy bận nữa, Khanh mới rời chỗ. Từng bước chân anh như trĩu nặng hơn. Nguyệt ngoảnh lại nhìn dòng sông. Mưa vẫn giăng trắng xoá. Phía bờ bên kia, con đò nhỏ đang chuẩn bị rời bến. Biết bao giờ làng Giữa mới có môộ cây cầu? Bắc cầu qua khúc sông rộng và chảy xiết này đâu phải đơn giản. Bao đời nay người dân ở đây ra khỏi làng, hoà nhập với cộng đồng chỉ bằng con đò nhỏ. Khanh đã từng kể với Nguyệt rằng làng anh năm nào cũng có người chết đuối, nhưng phải đến bây giờ Nguyệt mới thấy điều đó khủng khiếp đến thế nào.
0
***

Nhìn gương mặt héo hắt nhưng cố làm ra vẻ tưôi tỉnh của mẹ, Nguyệt thấy xót lòng. Cô hỏi lạc cả giọng: “Mẹ nghĩ thế thật à? ”. “Ừ! Mẹ muốn nói trước với con bởi con lớn rồi. Chỉ ít ngày nữa, con sẽ đi làm. Bây giờ mẹ…”. “Thế nguyên nhân nào khiến mẹ đi đến quyết định ly hôn? Từ trước tới nay bố mẹ vẫn…”. Trước sự nôn nóng có phần hơi thấi quá của con gái, mẹ Nguyệt vẫn kiên trì: “Nguyên nhân cũng chẳng có gì to tát. Chỉ là…bố mẹ không hợp nhau. Mà đã không hợp nhau thì có sống với nhau cũng chỉ là tự hành hạ mình, chỉ là người nọ làm khổ người kia thôi con ạ”. Nói xong, bà kín đáo thở dài. Đã từ lâu, nguyệt biết cuộc sống của bố mẹ mình không còn hạnh phúc. Họ sống cạnh nhau chỉ như hai người hàng xóm, thậm chí có khi còn xa lạ hơn. Nhưng cô chưa nghĩ đến mộot ngày bố mẹ ly hôn. Mà người chủ động ở đây là mẹ. Từ trước đến nay, mẹ luôn bênh vực bố trước cô. Bà cứ tự nhận mình là gánh nặng của chồng, khiến chồng phỉa khổ. Nguyệt đã tưởng mẹ cứ âm thầm thế sống hết đời, ai ngờ…Hay có chuyện gì mới xảy ra giữa hia người mà cô không được biết? Thấy nguyệt cứ lặng im, mẹ cô lại lựa lời: “Bố mẹ không oán giận gì nhau cả. Con và anh Quân đều đã lớn, có thể hiểu và thông cảm cho bố mẹ”. Nguyệt quay sang nhìn mẹ thật lâu: “Con xin lỗi, nhưng cón cứ có cảm giác mẹ chưa nói hết cùng con. Sao thế hả mẹ?”. Đến lúc này thì mẹ không còn vơ tươi tỉnh được nữa. Bà ngoảnh mặt vào tường. Nguyệt nhận thấy đôi vai mẹ thoáng rung rung. Cô ngồi xuống mép giường, bóp chân cho mẹ, thủ thỉ: “Con là con gái, lại lớn rồ, sao mẹ không thể nói hết với con? Mẹ khôgn có chuyện gì, bố mẹ ly hôn thì vô lý quá. Cũng chẳng toà án nào người ta giải quyết đâu”. Mẹ khóc: “Từ lâu, mẹ gắng chịu, để chờ con trưởng thành. Cũng từ lâu cái nhà này chỉ như quán trọ của bố con thôi”. Nguyệt bàng hoàng: “Thế là sao hở mẹ?”. “Bố con có người đàn bà khác rồi. Đã sau năm nay…Mẹ chỉ xin ông ấy đợi đến lúc con ra trường. Chứ mự…Mẹ có cần gì đâu, sống thêm được ngày nào, biết ngày ấy. Bệnh này, có nói trước được điều gì…”. Nguyệt hoảng hốt: “mẹ đừng nói thế! Sáu năm rồi? Sao mẹ giấu con? tại sao anh Quân im lặng?”. “Suy cho cùng, tất cả là tại mẹ”. Lại điệp khúc “Tại mẹ” lần thứ bao nhiêu chẳng rõ. Lần nào nhắc đến bố, mẹ cũng vơ hết tội lỗi về phía mình. Nguyệt thõng hai tay, bất lực. Dẫu đã biết cuộc sống chung giữa bố và mẹ từ lâu chỉ là gượng ép, từ lâu không còn một chút hạnh phúc vợ chồng. Nguyệt cũng chưa hề nghĩ đến ngày hai người ly hôn. Nguyệt khóc. Cô không thể nghĩ được điều gì sáng suốt, chỉ thấy đầu óc lùng bùng, rối bời. Mẹ cô cũng lặng im. Dường như bà chỉ nghĩ không lời nào có thể an ủi được con gái lúc này. Bà còn cảm thấy mình có lỗi với con, có lỗi trong sự đổ vỡ. Sáu năm chờ đợi để đi đến quyết định ly hôn, quả là một thời gian đằng đẵng và khủng khiếp. Ngay lúc này đây, nhìn con gái khóc, bà mới chợt ý thức được rất rõ ràng tất cả dáng tuột khỏi tay mình vĩnh viễn. Cả cuộc sống này nữa, đến bao giờ thì tuốt khỏi tay bà?

Nguyệt gọi điện, nằng nặc bắt anh Quân về vì “Có chuyện quan trọng”. Anh cứ gặng: “Mẹ sao à?” Cô nói “không” nhưng lại khóc nghẹn ngào. Cuối cùng anh Quân cũng vê thật. Ngó qua phògn mẹ một lát, anh trở ra, hất hàm hỏi Nguyệt khi cô đang ngồi nghiêm trang nơi phòng khách: “Có chuyện gì thế? Đang bận chết người”. Nguyệt không nhìn anh, nói như ra lệnh: “Anh ngồi xuống đây, để em nói chuyên”. “Chuyện gì?”. Đợi anh Quân ngồi xuống, không kìm được, Nguyệt lại ứa nước mắt, bệu bạo: “Bố mẹ…bố mẹ viết đơn ly hôn rồi”. Cô không thể ngờ anh Quân thản nhiên đến thế. Anh hỏi một câu dửng dưng: “Ai nói mà em biết?”. “mẹ nói”. “Thế à?”. Không thể chịu thêm thái độ của anh Quân, Nguyệt gần như hét lên: “Anh có còn là con của mẹ nữa hay không? Sao anh sống lạnh lùng, phi lý thế?”. Anh Quân thoáng ngạc nhiên trước sự phẫn nộ đột ngột của cô. Dường như anh định nói điều gì đó, xong lại thôi. Phải một lát sau, đoán Nguyệt đã nguôi nguôi, anh mới chậm rãi nhấn từng tiếng một: “Không ở được với nhau nữa bố mẹ chia tay là hơn. Đỡ được cái cnảh người nọ làm khổ ngươờ kia. Em lớn rồi mà không hiểu điều ấy hay sao?”. Nguyệt ngẩng phắt lên, mắt vẫn chan chứa nước: “Không đúng. Anh chỉ bênh bố, về hùa với bố thôi. Bố có người đàn bà khác từ lâu rồi, anh biết mà im lặng. Chỉ có em là không biết…” “Em biết để làm gì? Em bảo anh bênh bố, thế bố mình có điều gì sai?”. Nguyệt cay đắng “Không sai? Em không thể ngờ rằng anh lại cho sự phản bội, không chung thuỷ là không sai. Cả anh với bố đều …tàn nhẫn”. Càng nói, Nguyệt càng khóc to hơn. Cô nức nở như trẻ bị đòn oan. Anh Quân lôi thuốc lá ra hút, trán cau cau. Mãi sau, anh đột ngột dụi tắt thuốc, sửa lại dáng ngồi nghiêm chỉnh rồi nhìn thẳng vào mắt Nguệyt: “Anh biết, em sợ sự đổ vỡ. Nhưng duy trì mãi cảnh này thì được cái gì? Có phải là một gia đình không? Thà cứ để bố chia tay, ít ra thì một trong hai người còn thấy thoải mái hơn. Em cứ nghĩ kỹ mà xem”. Nguyệt thấy mình không thể đủ kiên nhân xngồi nói chuyện với anh Quân. Cô vùng đứng lên, đi vào phía trong. Không còn một chút hy vọng nào cho cô bấu víu. Ai cũng nghĩ việc bố mẹ ly hôn là hoàn toàn hợp lý, kể cả mẹ. Chỉ còn Khanh chưa biết, mà biết rồi, anh sẽ nói sao? Sau đám tang thằng Chiến, Khanh như một con người khác, lầm lì và hay nóng nảy bất thường. Nguyệt thấy sợ. Khanh bây giờ cứ như một ngọn núi lửa đang âm ỉ. Có những khi anh cứ ngồi lặng câm rất lâu, mắt nhìn vào cõi mông lung nào đó. Trung dặn: “Em phải bên cạnh nó thường xuyên, phải khuyên giải nhiều vào. cứ như thế này, khéo nó trầm cảm mất”.

0