Phần I
Anh kể thêm về quê anh, về gia đình anh đi! Để mấy hôm nữa về đó em đỡ thấy bỡ ngỡ.
Không biết đây là lần thứ mấy trong buổi tối, Nguyệt ngước mắt nài nỉ Khanh. Anh chỉ khẽ vòng tay qua vai cô, giọng trầm trầm, nửa dửng dưng!
- Có gì mà kể, em! Nói trước, anh sợ em…ngán, không muốn về. Anh nói rồi thôi, quê anh nghèo lắm.
Nguyệt xịu mặt. Khanh ngắt ngang lời cô, giọng có twowi vui hơn chút ít.
- Thôi nào! Sốt ruột gì cơ chứ, còn có gần một tuần nữa chúng mình về rồi. Chắc chắn mẹ anh vui lắm. Nghe anh kể, mẹ cứ bảo có em về làm dâu rồi chết cũng được.
Nguyệt khúc khích cười:
- Anh lại kể xấu em với mẹ chứ gì?
Rồi cô thảng thốt:
- Em chưa xin phép bố mẹ, tuần sau chúng mình đi rồi. Lỡ bố mẹ không đồng ý cho em đi…
Khanh bật cười:
- Chờ em có mà đến tết tây. Cứ nước đến chân rồi mới nhảy. Hôm trước anh đã hỏi ướm ý các cụ rồi, hỏi cả anh Quân nữa, mọi người không phản đối đâu. Thậm chí, anh Quân còn bảo…
- Anh ấy bảo sao?
Khanh ngập ngừng:
-
Rằng “Tụi mày yêu nhau bao năm rồi, sao giờ mới tính chuyện cho Nguyệt về ra mắt. Lẽ ra phải tiến hành từ lâu rồi kia”
Nguyệt giật tay Khanh, giận dỗi:
- Đấy nhé, không phải mình em nghĩ thế. Anh thì lại cứ chần chừ. Hay là…
-Hay là sao?
Nguyệt ngồi im, đầu hơi cúi, mái tóc mềm xoã trên vai, vài sợi tóc bay sang má Khanh buồn buồn. Không hiểu Nguyệt đang nghĩ gì? Chắc cô đang lo đến chuyện về quê “ra mắt” gia đình và họ mạc nhà anh. Khanh chợt thấy nhớ nhà, nhớ mẹ cồn cào. Mẹ anh mới ngoài năm mươi tuổi, mà mái tóc đã bạc tới một phần hai. Mỗi lần anh về nghỉ, kể chuyện Nguyệt bà lại giục: “sao con không đưa con bé về chơi? Đã yêu thương nhau, còn ngại ngần nỗi gì? ” Cũng có lần hỏi xong, bà lại ngồi lặng đi hồi lâu, rồi mắt rơm rớm nước: “Nhà mình nghèo thế này, quê mình khổ cực thế này, biết người ta có ưng không? Người thành phố sướng từ trong trứng sướng ra…”. Khanh chỉ biết xót xa nhìn mẹ. Chắc hẳn trong óc bà, người thành phố là những gì cao quý lắm. Cả làng anh chỉ có nhà ông Vị có con làm ngoài thành phố. Thi thoảng vợ chồng con cái họ về chơi, làng lại xôn xao lên. Người thành phố khác xa với người làng anh. Lũ trẻ con cứ lằng nhằng bám theo những “người thành phố” nhà ông Vị. Chúng ước mơ những bộ quần áo đẹp, mái tóc không cháy nắng và nước da trắng như hai đứa cháu gái ông Vị. Những người lớn lại trầm trồ vì nỗi con dâu ông Vị đi đôi giày gót cao và nhọn hoắt thế mà không ngã, rồi sao cổ và tay cô ta đeo nhiều vàng đến thế, ngay cả đứa con gái út mới tí tuổi đầu cũng đã được đeo vàng. Có lần mẹ còn nửa đùa nửa thật bảo anh: “Con cố học thành tài, ra được thành phố, đón mẹ ra. Ở thành phố một ngày là mẹ cũng mãn nguyện rồi”. Ngày đó, Khanh đã “vâng” thật hồn nhiên. Anh còn nhớ mình từng cao giọng nói với lũ bạn cùng làng rằng: “Tao sẽ học lên đại học, tao sẽ ra thành phố ở”. Có đứa đã tròn xoe mắt phục lăn. Thậm chí thằng cu Mít còn mon men bảo:”Ra thành phố rồi, anh mua cho em cái ô tô nhựa nhé”. Khanh hào phóng hứa với tất cả lũ bạn. Sau này, ước mơ ra thành phố học đại học thôi thúc anh cả trong bữa ăn, giấc ngủ. Anh là đứa con đầu tiên của làng đỗ vào đại học, bõ công bao tháng ngày vượt sông đi học đầy khổ cực, hiểm nguy. Hôm anh đi, mẹ khóc nấc lên. Bà khóc vì sung sướng nhiều hơn vì sắp phải xa con. Từ ngày Khanh vào đại học, mẹ anh trở thành tấm gương cho các bà mẹ ở làng, anh trở thành tấm gương cho lũ trẻ các nhà. Sắp đủ 4 năm từ ngày anh xách túi ra đi làng vẫn chưa có thêm một sinh viên nào. Ngay lũ em anh, ba đứa thì đã hai đứa bỏ học giữa chừng. Hôm vừa rồi, thằng cu Chiến út ít viết thư lên bảo: “Em muốn nghỉ học lắm rồi. Mỗi lần trời mưa, đi học cực lắm. Có hôm đò suýt bị lật, sách vở rớt hết xuống sông”. Đọc thư em trong góc lớp mà Khanh rơi nước mắt. Anh cũng chẳng dám khuyên nó câu nào. Biết đôi vai gầy của mẹ có còn cáng đáng được nữa không? Cái Nụ mười bảy tuổi đã nhấp nhổm lấy chồng. Mơ ước lớn nhất của nó là được một lần mặc váy cưới, giống như các cô dâu trên phim ảnh. Có lần Khanh chót hứa: “Bao giờ đi làm, anh sẽ gắng dành dụm đủ tiền cho mày thuê váy cưới trên thị xã về”. Tưởng con bé vui, ai dè nó trề môi ngấm nguýt: “Chờ anh đi làm có mà em thành gái già à?”, mặc dù đến lúc Khanh ra trường, nó cũng vừa đủ tuổi để có thể đăng ký kết hôn. Vừa tết năm ngoái, dành dụm được ít tiền, con bé rủ lũ bạn gái cùng làng ra thị xã chụp ảnh. Nó xúng xính trong váy cưới, áo dài, quệt tí son phấn, tóc xoã ra, gài bông hoa giả, thế mà đem ảnh về làng khoe, đố ai nhận ra. Cái Nụ treo ngay ảnh lên tường, bị mẹ anh chửi cho như tát nước vào mặt. Bà bảo: “Con gái con đứa, đú đởn vừa vừa thôi, ảnh uôm cải nỗi gì. Không cất đi, tao xé ra thì đừng có trách”. Nụ khóc ti tỉ, gỡ xuống. Đợi lúc nguôi nguôi, mẹ anh mới tỉ tê: “ Nhà nghèo thì giữ lấy nếp nghèo. Con đừng đua đòi kẻo xóm giềng cười chê. Con gái mà mang tiếng đua đòi thì nhà nào rám rước. Với lại, chúng mày chưa chồng mà dám mặc áo cưới để chụp ảnh, nó bó duyên có mà chết già”. Nghe ra, cái Nụ thôi không hậm hực, nhưng thỉnh thoảng, nó vẫn lén lấy mấy tấm ảnh ra ngắm với vẻ háo hức, say mê. Có lẽ điều nó mơ ước nhất là được trở nên xinh đẹp và sang trọng như trong ảnh…
Đưa Nguyệt về nhà, Khanh quay trở lại ký túc xá. Cả phòng đã ngủ. Cửa khép hờ. Khanh đưa tay tìm công tắc điện. Bị chói mắt, thằng Hải giường trên trở mình quay mặt vào tường, càu nhàu bằng giọng Nghệ An đặc sệt: “ Mi đi mô mà về muộn thế?”. Phòng có sứa đứa, hôm nay chủ nhật, chúng nó đi đâu hết, còn mỗi thằng Hải ở nhà. Khanh tống xe vào góc phòng, tắt điện. Nhưng lên giường rồi mà mãi anh không ngủ được. Tiếng thằng Hải giường trên ngáy như sấm, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ báo thức trên bàn càng làm anh thêm trằn trọc. Nhưng hơn cả là anh nghĩ đến mẹ, đến Nguyệt. Nay mai đưa Nguyệt về thăm, chắc mẹ anh phải suýt xoa: “Sao con bé xinh đến thế”. Hàng xóm nhà anh chắc sẽ sang chật nhà để xem mặt “cô con dâu thành phố nhà bà Vọng”. Rồi người ta sẽ khen anh giỏi, sẽ ngay lập tức có người lấy anh làm gương cho con cái một lần nữa. Lũ thanh niên trong làng sẽ nhìn anh và Nguyệt mà nuôi mơ ước. Còn cha anh nữa, dưới suối vàng hẳn người cũng mát lòng. Mẹ cứ kể đi kể lại rằng trước lúc nhắm mắt cha anh cứ dặn đi dặn lại là bà hãy cố nuôi các con ăn học cho dù khổ sở đến đâu. Ông còn bảo bà hãy thương các con, đừng có sang ngang lần nữa. Người thiên hạ, họ chẳng yêu thương con mình đâu…Mỗi lần nhắc đến chuyện này, mẹ anh lại cười, dù mắt ầng ậng nước: “Rõ là ông ấy dở chết. Chứ tao đã ngoài bốn mươi, lại một đống con, có đồng rồ mà đi bước nữa”. Năm bố Khanh mất, thằng cu Chiến mới lên bốn, cái Nụ lên bảy còn cái Khánh lên mười. Thế mà đã mười năm trôi qua. Mười năm ấy, Khanh không nguôi mơ ước về một cuộc sống khá giả hơn, đỡ cực nhọc, vất vả hơn cuộc sống ở làng. Năm kia, cái Khánh lấy chồng. Chồng nó là một cậu thợ xây làng An Hạ bên kia sông. Hôm đưa dâu, mẹ cứ đứng bên này sông khóc sụt sùi. Xóm giềng an ủi: “Con gái lớn phải đi lấy chồng chứ! Giữ nó ở nhà với mình cả đời được à?Rồi bà sẽ nguôi thôi”, thì mẹ anh lại bảo: “Tôi khóc vì mừng đấy chứ!”. Mà mừng thật. Cái Khánh thoát được khỏi làng Giữa là một may mắn cho đời nó. Còn ở trong làng là còn trong cái vòng luẩn quẩn khổ cực, đói nghèo…Rồi Khanh lại nghĩ ngay đến Nguyệt, không hiểu Nguyệt sẽ nghĩ gì khi đặt chân lên mảnh đất làng anh? Không hiểu hình ảnh anh trong mắt Nguyệt có thay đổi không khi cô về thăm làng Giữa? Cũng có lần Khanh bộc bạch nỗi lo lắng ấy với Trung, Trung chỉ gạt phắt đi mà rằng: “Mày cạn nghĩ hơn cả đàn bà. Nguyệt không phải người như thế. Yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội cơ mà! Huống hồ là cái sông cỏn con quê mày. Suy cho cùng, mày ra trường có về quê ở đâu mà lo”. Biết thế, nhưng Khanh vẫn không nguôi thấp thỏm. Anh vừa sốt ruột vừa thấy ngại ngần, lo lắng. Chẳng hiểu Nguyệt có rõ tâm trạng của anh lúc này?
Càng nghĩ lan man càng thấy khó ngủ. Khanh muốn dậy viết bài, nhưng lại ngại ánh đèn đánh thức Hải. Từ ngày nhận việc làm thêm ở một toà báo trong thành phố, Khanh luôn là người thức khuya nhất phòng. Có tuần bài vở ngập đầu, anh phải thức trắng đêm. Gặp nhau, Nguyệt cứ xót xa bảo: “Anh tham công tiếc việc vừa vừa thôi”, còn tụi trong phòng mệnh danh anh là kẻ “cày khỏe hơn trâu”. Khanh đang nuôi hy vọng sau khi tốt nghiệp, được nhận về báo này. Ông Tổng biên tập là đồng hương với anh, cứ xuýt xoa khen: “Dân làng Giữa mà bứt lên đi học được như cháu là giỏi lắm, có chí lắm”. Qua hơn một năm cộng tác, Khanh đã chiếm được cảm tình của rất nhiều người trong toà soạn. Con đường đời trước mặt anh đang đỡ gập ghềnh, heo hút hơn.
*
* *