ĐEO NHẪN CÓ PHẢI CHỈ VÌ MUỐN LÀM ĐẸP ?
Trên Thế Giới hiện nay, nhẫn là vật trang sức được lưu hành rộng rãi nhất. Nhưng ngoài tác dụng trang sức ra, chiếc nhẫn lại có nhiều ý nghĩa tượng trưng khác.
Trong thời cổ đại Trung Quốc, phi tần của các đế vương lúc bình thường đeo nhẫn bằng bạc ở tay phải, nhưng đến khi có mang (thai) thì đeo nhẫn bằng vàng ở tay trái. Vì chiếc nhẫn có ý nghĩa cấm kỵ, cấm giới, cho nên nó mới có tên là “giới chỉ”.
Ở phương Tây, nói chung người ta cho rằng cái nhẫn bắt đầu có từ thời Ai Cập cổ đại. Trong thời kỳ này, trên ngón tay của các vương tôn quý tộc đều có đeo nhẫn dát ngọc quý có hình một con bọ cánh cứng. Theo truyền thuyết thì loại nhẫn này có tác dụng trừ tà ma, yêu quái, bảo vệ cho người đeo nó.
Sau khi thói quen này được truyền tới châu Âu thì ý nghĩa đầu tiên của việc đeo nhẫn cũng thay đổi và chiếc nhẫn được gán cho những ý nghĩa tượng trưng khác.
Dưới thời cổ La Mã đã từng có quy định chỉ có các nhân vật quý tộc mới được đeo nhẫn bằng vàng, còn người dân thường chỉ được đeo nhẫn bằng sắt. Trên các mặt nhẫn thường có khắc tên họ, thân phận, lời chúc tục, còn nhẫn của các nhà quý tộc lại thường là những con dấu dùng để đóng dấu, ký tên trên các văn kiện.
Đến thời kỳ trung cổ ở Châu Âu, giáo hội cơ đốc dùng nhẫn để chỉ rõ cấp bậc trong tôn giáo của nhân viên nhà thờ. Chẳng hạn: Giáo Hoàng đeo nhẫn có hình thánh Pie kéo lưới, chiếc nhẫn cũng dùng làm con dấu để đóng dấu trên các văn kiện và sau khi Giáo Hoàng chết đi thì phải tiêu huỷ.
Ở các Hồng Y Giáo Chủ thì ngón giữa của bàn tay phải tượng trưng cho “Thánh Linh” có đeo một chiếc nhẫn bằng ngọc quý. Các giáo chủ, tu viện trưởng đeo nhẫn bằng thạch anh màu tía, các linh mục đeo nhẫn bằng vàng trên ngón trỏ tượng trưng cho “Đức Chúa Con”
Ở các nước Phương Tây, ngoài việc tượng trưng cho thân phận, địa vị của người đeo nhẫn, nhẫn còn có tác dụng chủ yếu nữa là xác định quan hệ hôn nhân. Con trai, con gái chỉ cần trao đổi chiếc nhẫn có khắc tên, lời chúc phúc rồi đeo trên ngón vô danh bàn tay trái (ngón áp út), thế là hai bên gắn bó tâm linh với nhau đến khi tóc bạc răng long.
Phong tục này đã lưu truyền lâu đời ở Châu Âu đến nỗi ngón tay vô danh (áp út) đã trở thành “ngón tay hôn nhân”.
Bất luận là đám cưới có được cử hành theo nghi thức tôn giáo hay không? nhưng cho đến nay trong các đám cưới, người Châu Âu và Châu Mỹ vẫn trao đổi nhẫn cưới một cách phổ biến và coi đó là điều tượng trưng cho hôn nhân.
CHỈ SỐ IQ KHÔNG PHẢI LÀ THƯỚC ĐO TRÍ THÔNG MINH
Nhiều thiên tài toán học có thể nhanh chóng tìm ra mối liên hệ logic giữa các dãy số dài dằng dặc chỉ trong vòng vài dây nhưng lại loay hoay cả giờ đồng hồ trước một cái vòi nước đã vặn chặt mà vẫn rỉ nước...
Anh ta cũng không thể cảm nhận được ý nghĩa thực thụ của một câu thơ, thậm chí không thể tìm ra được một lời nào để an ủi một người bạn trong cơn hoạn nạn. Nhưng anh ta vẫn là một thiên tài với trí thông minh khác thường.
Do đó, trí thông minh là một khái niệm vô cùng phức tạp, không thể chỉ kiểm chứng thông qua một vài câu hỏi phức tạp. Trên thực tế, những bài trắc nghiệm chỉ số IQ chỉ có tác dụng kiểm tra khả năng tư duy logic và óc phân tích của mỗi người chứ không thể cho phép đánh giá một cách đầy đủ mức độ thông minh của người đó.
Mỗi con người là một thực thể kết hợp nhiều dạng biểu hiện khác nhau của trí thông minh mà tuỳ từng cá nhân sẽ có khả năng về mặt này nổi trội hơn mặt khác. Nói cách khác, trí thông minh của con người không chỉ là khả năng tư duy về logic mà còn có thể là khả năng thể hiện những cử chỉ, động tác điêu luyện của một vũ công, khả năng diễn đạt ngôn ngữ xuất thần của một nhà văn, nhà thơ hay khả năng hiểu thấu tâm tư hoặc nỗi lòng của một người nào đó. Tương tự như vậy, một nhạc công điêu luyện cũng là một người rất thông minh trong việc cảm thụ âm nhạc hay một nhà hàng hải cũng được coi là người có trí thông minh tuyệt vời trong việc xác định phương hướng.
Cũng giống như cơ bắp, trí óc cũng cần được nuôi dưỡng và rèn luyện thường xuyên để nâng cao hiệu quả. Tuy nhiên, rèn luyện và nâng cao trí thông minh không có nghĩa là cố gắng nhập tâm hàng mớ các dãy số hay ký tự phức tạp như các danh bạ điện thoại hay số biển đăng ký của các xe qua lại trên đường. Đó có thể chỉ đơn giản là việc đọc một cuốn sách, chơi một ván cờ, hay thậm chí tham gia một số hoạt động chân tay có đòi hỏi óc quan sát. Nhưng tốt hơn hết là nên thử học cách chơi một thứ gì đó hoàn toàn mới mẻ, chẳng hạn tập chơi một môn thể thao, học một ngoại ngữ, học vẽ hay tập chơi cờ. Những thử thách mới như vậy đối với bộ não sẽ giúp chất xám tạo ra những mối liên kết mới giữa các nơron và tránh được hiện tượng sơ cứng.
ÔNG GIÀ NOEL TRONG TRUYỀN THUYẾT LÀ AI ?
Ngày 25 tháng 12 mỗi năm là ngày lễ Noel. Hôm ấy ông già Noel sẽ tặng quà cho các cháu nhỏ, đó là sự việc thích thú nhất đối với các cháu nhỏ trong lễ Noel.
Ông già Noel trong truyền thuyết là một ông già có dáng vẻ rất nhân từ phúc hậu. Chiếc mũ đỏ, bộ râu dài trắng như tuyết, trên mình mặc một chiếc áo khoác có cổ lông trắng, lưng thắt chiếc dây lưng bằng da đen, chân đi đôi ủng. Hàng năm, cứ đến đêm trước Noel là ông đi trên một chiếc xe trượt tuyết có các chú hươu kéo từ phương Bắc tới, rồi vào từng nhà qua các ống khói để đem quà Noel bỏ vào trong bít tất của các cháu nhỏ.
Người ta nói rằng ông già Noel là hoá thân của thánh Nicola ở thành Mila, Thổ Nhĩ Kỳ.
Khi còn trẻ thánh Nicola đã dùng những món tiền lớn được bố mẹ để lại mang đi giúp đỡ người nghèo khổ. Ở quê ông có một cụ già có ba cô con gái, vì gia đình bần hàn không có tiền làm lễ cưới, cho nên cả ba cô đều không thể đi lấy chồng được. Sau khi biết chuyện này, thánh Nicola quyết định giúp đỡ 3 cô gái. Vào một đêm trời tối đen như mực, thánh Nicola lén tới nhà cụ già, leo lên mái nhà, tới ống khói và ném một túi tiền vàng nhỏ xuống, túi tiền rơi ngay vào chiếc bít tất dài mà các cô gái treo trên vách bếp lò. Sau khi có được tiền, ba cô gái đã có thể lấy chồng và có cuộc sống hạnh phúc.
Câu chuyện này đã được lưu truyền và về sau cứ đến lễ Noel, trước khi đi ngủ các cháu nhỏ không quên đặt bít tất của mình bên cạnh giường để cụ già Noel bỏ vào đó cho mình.
TRUNG QUỐC CÓ BAO NHIÊU HOÀNG ĐẾ ?
Mọi người đều biết rằng những kẻ thống trị ở ngôi cao nhất trong xã hội phong kiến Trung Quốc được gọi là “hoàng đế”. Danh hiệu này là do Tần Thuỷ Hoàng Doanh Chính sử dụng lần đầu.
Năm 221 trước Công nguyên, Doanh Chính lần đầu tiên thống nhất được toàn cõi Trung Quốc. Để nêu cao thành tích công lao này của mình, ông ta đã quy định danh hiệu của mình và “Thuỷ hoàng đế”.
Và danh hiệu này đã liên tiếp được dùng, bắt đầu từ Doanh Chính cho tới vị Hoàng đế cuối cùng bị cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 lật đổ là Phổ Nghi thuộc triều đại nhà Thanh, qua thời gian 2132 năm, cộng có 494 hoàng đế, trong số đó có 73 người không thực sự lên ngôi mà chỉ được truy tôn là hoàng đế sau khi đã qua đời.
Trong số các hoàng đế nói trên, Càn Long đời Thanh có tuổi thọ cao nhất, ông đã sống tới 89 tuổi. Thấp hơn Càn Long một bậc là nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên đời Đường. Bà sống tới 82 tuổi. Hoàng đế Càn Long ở ngôi 60 năm, kém một năm so với ông nội là Khang Hy là người có thời gian trị vì dài nhất, đó là vì Càn Long muốn nói lên lòng tôn kính đối với Khang Hy, biểu thị bản thân mình không dám vượt quá công đức của ông nội, vì thế sau khi ở ngôi 60 năm, Càn Long đã nhường ngôi của mình cho con là hoàng đế Gia Khánh, còn mình thì làm Thái Thượng Hoàng.
Trong các số hoàng đế, người có thời gian ngồi trên ngôi ngắn nhất là Hoàn Nhan Thừa Lân, hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Kim, từ lúc lên ngôi cho đến lúc bị giết không tới nửa ngày.
Trước Doanh Chính, Trung Quốc còn có rất nhiều kẻ thống trị tối cao. Chẳng hạn như trong thời cổ đại xa xưa có Ngũ Đế, trong số đó có đế Nghiêu và đế Thuấn. Sau đó nhà Hạ có 17 kẻ thống trị, nhà Thương có 30, họ đều có danh mà không có hiệu. Đến đời nhà Chu, các kẻ thống trị xưng vương, đời Tây Chu có 12 vương, đời Đồng Chu có 24 vương, đến đời Tần trước Tần Thuỷ Hoàng còn có ba vương là ông, cha của ông ta.
Ngoài ra, qua các thời kỳ danh hiệu hoàng đế cũng không như nhau, từ đời Hán đến đời Tuỳ, hoàng đế phần nhiều xưng là đế, dưới các triều Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh lại phần xưng nhiều là “Tông”
THIỆP CHÚC TẾT BẮT ĐẦU CÓ TỪ BAO GIỜ ?
Ở Trung Quốc thời xưa, thiệp chúc Tết cũng được gọi là “Thích”, là “Thiếp”, cũng có khi gọi là “Môn trạng”
Thiệp xuất hiện sớm nhất dưới triều nhà Tống. Thời đó rất thịnh hành việc hàng năm gửi thiệp chúc Tết. Tương truyền hoạ sĩ của triều đình Nam Tống là Lý Tung có vẽ bức Tuế Chiêu đồ (Bức tranh sáng đầu năm), trên đó vẽ cả nhà chủ nhân đang đón tiếp khách khứa trong viện, khi đó các gia nhân trong căn nhà bên cạnh nhận những tờ thiếp giấy đỏ để mừng năm mới. Trên các tờ thiếp màu đỏ ấy người ta ghi họ tên của mình gửi tới bạn bè để tỏ ý chúc mừng. Vì loại thiếp này là nhờ người khác mang đi cho nên gọi là “phi thiếp”.
Ngày 25 tháng 12 là tết Noel, tức là ngày chúa Jesus, người sáng lập ra đạo Cơ Đốc ra đời. Ở nhiều nước Châu Âu và Châu Mỹ, nơi đạo Cơ Đốc được thịnh hành, lễ Noel cũng như ngày Tết đầu năm của các nước Châu Á là ngày lễ quan trọng trong cả năm. Để tiện cho việc chúc mừng, năm 1843, quốc vương Anh đã nhờ một họa sĩ thiết kế tấm thiếp mừng Noel đầu tiên, từ đó về sau bắt đầu từ một tháng trước ngày Noel người ta đã gửi cho nhau thiếp mừng.
Năm 1911 sau cách mạng Tân Hợi, Trung Quốc tính năm theo Công Nguyên, bắt đầu coi trọng ngày Tết Nguyên Đán, vì thế cho nên việc ăn mừng năm mới cũng theo năm mới dương lịch, thiếp chúc mừng năm mới cũng bắt đầu có từ ngày ấy.
TẠI SAO KHUY ÁO CỦA NGƯỜI ĐÀN ÔNG THÌ Ở BÊN PHẢI CÒN CỦA ĐÀN BÀ THÌ Ở BÊN TRÁI ?
Nếu có hai bộ quần áo với màu sắc và kiểu dáng giống hệt nhau đặt cùng chỗ, vậy làm sao có thể phân biệt chiếc nào là của Nam, chiếc nào là của Nữ ?
Có lẽ điều mà nhiều người đầu tiên nghĩ đến là cần phải xem quần áo to hay nhỏ (dài, ngắn, rộng, hẹp...) và nếu nghĩ như thế thì chiếc lớn sẽ là của nam, chiếc nhỏ sẽ là của nữ.
Tất nhiên các cách như thế để phân biệt phục trang của đàn ông và đàn bà thì cũng có lý lẽ nhất định, song những người trong nghề sẽ dứt khoát chỉ xem vị trí các khuyết áo. Nếu là áo của đàn ông thì khuyết áo sẽ ở tà áo bên trái, còn khuy áo ở tà áo bên phải. Còn áo của đàn bà thì ngược lại, khuyết áo sẽ ở bên phải và khuy áo ở bên trái.
Ở các nước phương Tây các khuy áo đầu tiên đã xuất hiện như những vật trang sức. Đến khoảng thế kỷ XIII, các chi tiết trang sức ấy mới trở thành những khuy áo thực sự và có mặt trên trang phục của nam giới cũng như của nữ giới.
Theo truyền thuyết thì cánh đàn ông trong các gia đình quý tộc ở thời kỳ Trung thế kỷ, bên lưng họ phải đeo kiếm, khi khuy áo đính ở bên phải, còn tà áo ở bên trái không có gì, nếu dùng tay phải thì có thể rút kiếm ra ở bên trái mà không vướng víu gì, ngoài ra ở Châu Âu mùa đông rất lạnh, muốn bảo vệ bàn tay phải cầm kiếm không bị lạnh giá, thì nếu khuyết áo ở bên tay trái, tai phải sẽ có thể thọc vào trong tà áo để giữ được ấm áp.
Còn chuyện khuyết áo của phụ nữ ở bên phải, đó là do phụ nữ trong xã hội thượng lưu thời bấy giờ, những khi mặc áo họ phải có đầy tớ gái giúp việc. Để thuận tiện cho người đầy tớ gái có thể đứng đối diện với chủ mà dùng tay phải để cài khuy áo, khuy áo tất nhiên phải đính trên tà áo bên trái, còn khuyết áo bên tà áo phải.
Ngoài ra khi phụ nữ cho con bú, nói chung họ thường dùng tay bên phải khoẻ và thuận hơn để ôm con, nếu khuy áo ở tà áo bên trái thì dùng tay trái dễ cởi áo hơn.
Do các mục đích trên đã hình thành kiểu bố trí khuy áo trên áo của đàn ông và đàn bà có sự khác biệt một cách mặc định như vậy.
VÌ SAO CHÓ NGỦ GIẤU MÕM, MÈO NGỦ CÀI TAI ?
Tư thế ngủ của chó và mèo hoàn toàn khác nhau. Nếu chó thích dấu mõm xuống dưới chân trước, thì mèo ta lại bận bịu cài tai xuống chi trước. Điều này có ích gì với chúng ?
Động vật dùng các cơ quan cảm giác như mắt, tai, mũi để nhận biết sự thay đổi của môi trường xung quanh. Đối với sự thay đổi khác nhau, chúng sinh ra các phản ứng khác nhau.
Khứu giác của chó vô cùng nhạy cảm. Trong cuộc sống hàng ngày, chó dùng mũi để phân biệt một số đồ vật, phán đoán tình hình của kẻ địch và phân biệt đường đi. Đối với nó, cái mũi hay cơ quan khứu giác là đặc biệt quý, nên lúc ngủ nó giấu mõm và mũi để cảnh giới động tĩnh xung quanh, một khi có tình huống gì đó, dùng ngay mũi để phân biệt hoặc sủa dữ dội để thị uy.
Mèo lại có thính giác đặc biệt nhạy cảm. Hàng ngày, nó dùng tai để nhận biết sự thay đổi ở môi trường xung quanh. Khi bắt chuột, mèo cần đến đôi tai để thăm dò nơi ở của con mồi. Đối với nó, tai lại là vật quý giá nhất. Cho nên lúc ngủ, nó mới giữ tai như “giữ ấn tín” vậy. Tai cài vào chân trước, một mặt gìn giữ tai, mặt khác tai dán trên mặt đất, khi có âm thanh gì đó, nó có biện pháp hành động ngay.
Tuy nhiên, lúc thời tiết nắng ấm hay trong môi trường quá quen thuộc, mèo và chó cũng chẳng cảnh giác cho lắm, chúng ngủ khì trong tư thế duỗi dài thoải mái như thường.
>>> Mẹo vặt: Khi mèo nhà bạn ăn vụng, bạn muốn lấy thức ăn trong miệng nó việc đơn giản là chỉ việc “thổi vào tai nó” là nó lập tức thả thức ăn ra ngay, còn nếu bạn cố gắng làm bằng một biện pháp khác thì … cũng không phải là dễ đâu…
★
★
★
★
★
0