📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

CHUNG VÔ DIỆM- Tô Chẩn (tập 1 từ hồi thứ 30-->hồi..) 🔒

16 trả lời, 3.576 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-18 12:30:15Ct.Ly>
hồi thứ ba mươi
TRẦU BÌNH QUAN, ĐIỀN THƯỜNG BÁO CẤP
CHIÊU DƯƠNG ĐIỆN, VÔ DIỆM HƯNG SƯ


Lúc này cha con Trang Bạo đem mấy ngàn binh tàn suốt đêm chạy về Trâu Bình quan, thông tin ấy, quân giữ ải hay tin gấp, bèn báo với chủ soái là Điền Thường rằng:
- Đức Hưng quan đà thất thủ, Trang Bạo dẫn tàn binh đem về đã tói ngoài xin soái gia toan liệu.
Điền Thường nghe báo cả kinh, lật đật truyền quân mở ải rước Trang Bạo vào, cha con Trang Bạo thấy Điền Thường thì khóc rống một hồi rồi nói rằng:
- Bất tài đã bị thất qua, còn tướng Hứa Long, Lưu Nguyên với hai đứa con cũng đều tử trận, binh Yên nhân cường mã tráng nên tôi cự địch không nổi, nếu thiên tuế có mưu chi xin định liệu.
Điền Thường ngẫm nghĩ hồi lâu rồi truyền quân dọn dẹp hậu dịnh rước cha con Trang Bạo vào nghỉ ngơi. Còn Tôn nguyên soái chiếm được Đức Hưng quan, an dưỡng sĩ tốt đã hơn nửa tháng. Hai vợ chồng mới thương nghị với nhau để giao thành cho Cao Khôi với hai quân sư của người là Vương Văn và Châu Chí đồn thủ nơi ấy. Rồi đó kiểm điểm quân mã, đội ngũ chỉnh tề phát ba tiếng pháo kéo hết binh đi tới ải khác. Khi đi được ít ngày, có quân thám tử báo rằng:
- Ải trước mặt đó là Trâu Bình quan, xin soái gia hạ lệnh.
Tôn nguyên soái liền truyền cho quân đồn dinh, cách thành năm chục dặm hạ trại.
Đã mấy ngày Điền Thường đều có hội tề chư tướng lại thương nghị, mà chưa ai tính ra được kế nào, xảy thấy quân kỳ bài vào báo:
- Binh Yên đã tới cách thành năm chục dặm, binh ròng tướng mạnh ước có hơn năm mươi muôn.
Điền Thường nghe thưa thất vía liền truyền lệnh hội tướng sĩ các nơi về mà lo toan công thủ. Khi ấy có một vị tham tướng bước ra nói rằng:
- Tôi nghe phò mã Tôn Tháo có tài thao lược, thiệt là một vị anh hùng đại tướng, chớ chẳng phải như người tầm thường, lại thêm Yên Đơn công chúa thông minh pháp lực, và hai con trai của người cũng võ nghệ cao cường, còn dõng quán tam quân, thủ hạ lương tướng không biết bao nhiêu, binh oai rất tinh nhuệ, mình khó nổi cự đương. Bây giờ phải bế thành mà kiên thủ và tuần phòng cho cẩn thận, trên thành thì chứa những đồ cây, đá, còn bốn phía đều phải đặt pháo đài, nếu có muốn làm hỗn thì cũng không làm chi nổi. Rồi đó tả cáo cấp biểu văn, sai người về trào xin cứu viện, như có Chung nương nương tới đây thì có lo chi bắt không được Yên Đơn công chúa.
Điền Thường nghe nói hồi lâu ngẫm nghĩ gật đầu khen phải, bèn ngó lại người ấy thì là Quản Hòa, con trai của tướng quốc Quản Trọng, là một người tài năng mưu trí trong nước Tề, kiêm chức tham mưu của Điền Thường. Điền Thường nghe theo lời của Quản Hòa liền hỏi các tướng:
- Có ai dám vì ta mà đem bổn tấu về trào cầu cứu chăng?
Hỏi vừa dứt lời thì có một viên tiểu tướng xin lãnh mạng, Điền Thường xem lại thì ra em mình là Điền Năng, thì cười và nói rằng:
- Nay bào đệ vì nhà khó mà ra công nên chẳng nài sự khổ nải cùng anh, vậy chớ nên mê sa tửu điếm trà đình mà trễ nải việc quốc gia đại sự.
Nói rồi truyền đem văn phòng tứ bảo ra, viết một đạo biểu chương giao cho Điền Năng và thưởng cho ba chung mỹ tửu. Điền Năng lãnh lấy biểu văn, cầm thương lên ngựa chỉ thẳng kinh thành lướt dặm, đi thẳng mấy ngày đã tới nơi, Điền Năng vào trước dịch đình đợi lệnh. Nhằm lúc Tuyên Vương lâm trào, quan Huỳnh môn vào tâu rằng:
- Nay có chủ soái Trâu Bình quan sai em là Điền Năng về dâng biểu chương.
Tuyên Vương hạ chỉ cho vào. Điền Năng đến trước Kim điện triều bái hung hô:
- Chẳng hay vương điệt về trào có chuyện gì cần kíp không?
Điền Năng liền quì dâng biểu chương lên. Tuyên Vương giở tờ biểu xem thấy các việc, nổi giận mắng rằng:
- Căm giận thay loài xủ phụ, làm cho bình địa khởi phong ba, nay Yên bang dấy động can qua, biết mưu kế chi cho cô gia ngự định, lương tướng đã thiếu người chấp kích, cần vương ai bổng tịch hồng nhung, Đức Hưng quan thất thủ thế cùng Trâu Bình quan anh hung bị khốn!
Yến Anh nghe mấy lời của Tuyên Vương than trách Chung quốc mẫu thì vội vàng toán quẻ âm dương đánh tay ra biết hết các việc liền bước tới tâu rằng:
- Xin bệ hạ hãy an dưỡng mình rồng, Chung quốc mẫu chẳng phải người thường đâu, vốn thiệt là Mão Đoan tinh trên trời giáng thế, nước Tề ta có người xuống thiệt phước lớn vô hồi! Dầu cho Yên bang có bá vạn hùng binh di nữa, không đủ lo đâu, xin bệ hạ đừng buồn trách!
Tuyên vương nghe mấy lời thì phán rằng:
- Đã biết Chung nương là người trí dõng, lại thêm pháp lực cao cường, tuy vậy mà một rồng không lấy nước đặng muôn sông, độc lực khó cự đặng vạn chúng. Nay trẫm hạ một tờ long chỉ giao tiên sinh tấn triệu Chiêu Dương.
Yến Anh lãnh chỉ, thẳng vào nội cung thông báo cho nội giám hay. Quan nội giám vào tâu với Chung quốc mẫu. Quốc mẫu nghe có thánh chỉ, vội vàng đi ra nghênh tiếp để trên hương án cúi đầu làm lễ. Yến Anh đọc chiếu xong rồi nương nương mới hỏi:
- Chẳng hay thánh thượng tuyên triệu ai gia có việc chi lành hay là dữ?
Yến Anh tâu rằng:
- Bởi bên Yên sai hai vợ chồng phò mã Tôn Tháo thống lãnh 50 vạn hùng quân đã đến chiếm đoạt Đức Hưng quan rồi, còn Trâu Bình quan nay đang bị khốn nữa. Mới đây Điền Thường có sai em về dâng biểu chương, xin chúa thượng bái tướng xuất sư, vì vậy cho nên thiên tử sai ngu thần đến thỉnh ý nương nương.
Chung nương nương truyền quân nội giám sắm sửa phụng liễn, đi theo Yến thừa tướng vào trào. Tới nơi Chung nương nương vừa muốn làm lễ triều kiến thì Tuyên vương đã bước xuống Kim Loan điện cầm tay nghinh tiếp Chung nương nương mà dắt lên điện, rồi nói rằng:
- Nay Yên bang khi dễ nước ta, sai Tôn Tháo với công chúa Yên Đơn đem quân xâm phạt, vì vậy Cô vương đã lưỡng sách, ngự thê tua khá hết lòng, điểm hùng binh trực khứ giao phong, xin ngự thê phải ra công việc nước.
Chung nương nương tâu:
- Thần thiếp nhắm Yên bang không bao nhiêu chiến tướng mà dám khi thượng quốc vô nhân, phen này thiếp quyết bắt cho đặng Yên Đơn, thâu bờ cõi Dịch Châu giao giới, xin thánh hoàng đừng ngại, để mặc thiếp lo đương.
Vừa đang khi nghị luận lại thấy quan Huỳnh môn vào tâu rằng:
- Gần hoàng thành đây chừng 20 dặm, có một cái đầm, kêu là Hắc Long Đàm, mới có một yêu quái sanh ra, phái hại sinh linh dữ lắm! Hương dân đến cáo cấp, xin thánh thượng lo toan.
Tuyên vương nghe tâu cả kinh, nói rằng:
- Chẳng biết cô gia bạc đức hay sao? Cho nên trong nước đã dấy động đao binh lại thêm yêu tinh xuất hiện.
Chung nương nương tâu:
- Xin cho thiếp tới đó xem thử loài yêu quái ra thể nào?
Nói rồi truyền quân nội giám dẫn phụng liễn tới. Chung nương nương bái biệt Tuyên vương bước ào phụng liễn, đi ra Ngọ môn, hương dân dẫn đường chẳng bao lâu thì đã tới Long Đàm. Khi tới nơi mặt trời vừa gác núi, ngó thấy một vừng trăng tỏ, soi nơi dòng nước và mấy khóm sao người, rọi đáy sông sâu. Chung nương truyền quân nội giám đồn binh,cơm nước xong rồi, ở đó mà đợi.
Qua tới canh ba, Chung nương nương thấy giữa đầm sóng nổi, gió đến thổi ầm ầm có một con yêu quái dưới nước nhảy tuốt lên nhăn nanh trổ vuốt, chạy tới đụng Chung nương nương. Nương nương nạt lớn rằng:
- Đồ nghiệt súc, sao chẳng kịp hiện nguyên hình, còn muốn ta động thủ hay sao?
Con quái ấy chẳng nói chi, cứ việc xốc tới cắn Chung Vô Diệm. Hai đàng đánh nhau hơn trăm hiệp, chưa phân thắng thua. Chung nương nương liệu bề dùng sức mà đánh không thắng yêu quái được, liền niệm chú di sơn, kêu hết Lục đinh Lục giáp và bốn vị thổ thần, đều tới thỉnh lịnh. Giây phút bỗng thấy có một tòa núi ở thinh không rớt xuống chụp, đè lấy con yêu quái. Nương nương bèn tế Khổn yêu thằng lên, trói chặt con yêu quái lại, vùng vẫy chi cũng không nổi, bèn gật đầu ba bốn cái. Nương nương biết ý con quái ấy đã hàng phục mình rồi, nên mới tới gần xem lại, quả thấy một con thiên lý mã, trên đầu có hai sừng, hai mắt như sao băng, mình cao 9 thước, lưng dài 1 trượng dư, dưới bụng có 36 cái vảy, châu thân có 24 cái xoáy. Chung nương nương thấy vậy cả mừng, mới nghĩ rằng: Chẳng phải là đồ yêu quái chi, quả là trời giúp cho mình một con thần cu, dùng để chinh chiến.
Rồi việc ấy kế trời hừng đông. Chung nương nương truyền lệnh vỗ an dân xã và cấpcho tiền bạc, lại truyền nội giám sửa sang phụng liễn, trở về trào. Khi đi đặng một đỗi đường, bỗng có một trận gió nổi qua khác thường. Nương nướng ngó một hồi lâu, thấy có một ông đạo nhân đầu bạc phơi phới đi chăm chỉ đến trước mặt mà nói rằng:
- Nàng này sao lại dám bắt ngựa của ta vậy?
Chung nương đáp:
- Con ngựa này tôi mới thâu phục đặng nơi Hắc Long đàm, có phải ngựa nào của ông mà nói.
Ông đạo cả giận nói:
- Con này thiệt lão khẩu, để ta đem đồ điều kiều khấu nó cho mà coi.
Nói rồi liền kêu đạo đồng đem ra một bộ đồ ngựa, đủ các món bát bửu linh lung, rất nên xinh đạp, rồi khiến đạo đồng tra yên mang lạc lên cho con ngựa, thì không sai chút nào, ông già ấy bèn hỏi Chung nương nương rằng:
- Nàng còn nói ngựa này của nàng nữa thôi?
Chung nương nương cười mà đáp rằng:
- Ông là người xuất gia đầu phật, mà còn dùng ngựa làm gì? Vậy xin ông bán lại cho tôi, thì tôi rất cảm tạ.
Đạo nhân nói:
- Ngựa này đắt lắm, nêú muốn thì phải cho ta được một trăm tòa đền, bằng không thì cũng một trăm muôn lượng vàng thì ta mới bán.
Chung nương nương đáp:
- Ông muốn bao nhiêu cũng được, nhưng tôi nhân lúc đi đường, tiền bạc không có đem theo, xin đạo trưởng hãy chịu phiền đi với tôi tới kinh thành thì tôi sẽ hườn như ý.
Đạo nhân y lời, liền biểu đạo đồng giao ngựa lại cho Chung nương nương, lại đưa cho một cây roi san hô nữa, Chung nương nương ngó lại thì không thấy hai thầy trò đạo nhân nữa. Đương khi suy nghĩ, bỗng có một trận gió thổi qua, thấy có một tờ giấy trên không rớt xuống. Nương nương truyền quân nội giám lượm lấy mà xem, thì có bốn câu thơ như vầy:
Ngựa hay đời ít có,
Yên khấu đủ mọi đồ.
Của Lê San lão mẫu,
Sai ta xuống ban cho.
Chung nương nương xem hết bài thơ thì cả mừng, liền đứng giữa thinh không tạ ơn lão mẫu. (nguyên bà Lê San lão mẫu sai con tiên thú xuống tại Hắc Long đàm giả làm yêu quái, để cho nương nương tới đó thâu phục đem về mà dùng, phòng khi bình định giang san, lại sai Thái Bạch Kim tinh hóa ra ông già đón bên đường cho những đồ yên khấu)
Rồi đó Chung Vô Diệm cưỡi ngựa đi thẳng về tới kinh thành ào ngay Kim Loan điện, Tuyên vương vội vàng xuống ngai ra mừng rỡ tiếp rước hỏi rằng:
- Chẳng hay ngự thể tới đó, có thâu trừ đặng loài yêu quái chăng?
Chung nương nương tâu:
- Không phải loài yêu quái, vốn nó thiệt là một con thiên lý mã của tiên gia.
Nói như vậy rồi đem sự việc đầu đuôi đi phục con ngựa ấy, mà đọc lại một hồi và dắt Tuyên vương ra coi con Long cu. Tuyên vương liền đi với Chung nương nương cùng các quan triều thần ra xem tỏ rõ, thì ai cũng cho là việc phước, nên mới thâu phục được con thiên lý mã. Tuyên vương xem rồi, trở về đền liền truyền nội thị dọn yến hạ công. Đương lúc yến ẩm vui say lại thấy quan Huỳnh môn vào tâu rằng:
- Nay có chủ soái Điền Thường, sai người về dâng biểu cáo cấp.
Tuyên vương liền truyền nội giám dâng lên, mở ra xem hồi lâu, rồi nói với Chung nương nương rằng:
- Trâu Bình quan bị vây gấp lắm, tuớng soái đánh cự không lại biết làm sao bây giờ?
Chung nương nương tâu:
- Xin chúa thượng chớ khá lo phiền để thần thiếp dẫn chư tướng đến quan ải tỏ sự thiệt hư, nếu binh Yên bang không khứng, muốn khởi bá vạn hùng sư đi nữa cũng chẳng nao núng.
Lúc ấy thừa tướng Yến Anh ra tâu rằng:
- Nay nương nương lãn soái ấn, đi chinh phạt Yên bang, thì việc chẳng phải tầm thường, xin bệ hạ ra lệnh khiến đắp một cái tướng đài tại cửa Đông môn, rồi bệ hạ đến đó đăng đàn bái tướng mà đảo khẩn với thiên địa quỉ thần, phong nương nương lên làm đại nguyên soái, như vậy mới dẹp nước Yên đặng trọn.
Tuyên vương khen phải, liền giáng chỉ cho ngự lâm quân ra phía Đông môn coi lập tướng đài. Ngự lâm quân vân chỉ, đốc quân sĩ làm chẳng bao lâu đã hoàn thành tướng đài đồ sộ. Quan huỳnh môn về phục chỉ lại. Tuyên vương và Chung nương nương đồng lên long xa thẳng tới cửa Ngọ Môn, bá quan văn võ, đều tựu đến triều bái tung hô quốc mẫu. Tuyên vương với Chung nương nương lên đài làm lễ đảo khấu xong rồi, Yến Anh liền quì dâng những đồ bửu kiếm, lịnh tiễn, và ngọc ấn. Tuyên vương liền tiếp lấy đưa cho nương nương và chúc rằng:
- Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công.
Chung nương nương thâu thập các món và tạ ơn Tuyên vương, rồi dắt nhau xuống đài. Kế đó Chung nương nương thẳng tới giáo trường kiểm điểm hai mươi muôn binh mã, đội ngũ chỉnh tề đao binh rực rỡ, phong cho Điền Năng làm chức tiên hành, con gái Quản Trọng là Quản Thoại Hoa làm chức nội vệ tiên phong và hai ngàn quân ngự lâm để theo hầu hạ.
Qua ngày sau, Tuyên vương ngự đến Chiêu Dương cung truyền lệnh cho nội thị dọn yến mà tiễn biệt Chung Vô Diệm. Quân dọn xong rồi dâng lên, Tuyên vương rót ba ly rượu mời nương nương mà nói rằng:
- Ly thứ nhất, xin ngự thê hãy vì nước Tề, lo vững an xã tắc, cầu cho bình được nước Yên, thì đặng danh vang bốn biển; ly thứ nhì, phần Tôn Tháo là một người võ nghệ cao và và Yên Đơn công chúa pháp thuật cũng tinh thông, ngư thê cũng tiên pháp chân truyền chẳng thua gì, nhưng mà phải cẩn thận đề phòng; ly thứ ba, vợ chồng tuy là phân cách, binh gia thắng bại cũng sự thường, ải Trâu Bình quan như bình định đặng Yên bang, thì khá kíp ban sư, kẻo cô gia hoài vọng.
Nương nương tiếp lấy ba ly rượu rồi ta ơn quân vương và tâu rằng:
- Xin thánh thượng hãy nghỉ an nơi chín bệ, chớ có ưu phiền mà hao tổn vóc rồng; ải Trâu Bình để mặc thiếp phá xông, bắt cho được Yên Đơn mới an lòng đành dạ.
Chung nương nương lại tâu với thiên tử xin phong cho Đao Khải và Vương Đào làm chức tiên phong; Thanh Long và Thanh Hổ coi tả quân; Trần Quế và Vương Tiên coi hữu quân; Tiêu Bá và An Kỳ coi tiền quân; còn Lưu Võ coi hữu quân và kiêm vận lương thảo. Thiên tử nhậm lời tấu.
Yến tiệc xong rồi, nương nương bái biệt thiên tử dẫn binh ra phát pháo mở cửa đông môn thành kéo thẳng ra Trâu Bình quan ải.
Nói về chúa soái Trâu Bình quan là Điền Thường bị quân Yên công thành rất gấp, nên hết lòng trông cứu binh đến mà không thấy nên còn đương thương nghị với Trang Bạo lo kế thủ thành, bỗng thấy kỳ bài vào báo rằng:
- Chung quốc mẫu lãnh ấn nguyên nhung kéo binh đi gần tới thành, xin soái gia toan liệu.
Điền Thường cả mừng, bèn dẫn chúng tướng bày khai đội ngũ mở cửa thành trong đánh ra ngoài đánh vô, quân Yên vỡ loạn, Chung nương nương dẹp trống đường rồi vào soái phủ. Điền Thường, Trang Bạo và chúng tướng làm lễ triều kiến quốc mẫu xong xuôi, nương nương truyền lệnh cho ba quân vào thành an nghỉ.

o0o
0
CHUNG VÔ DIỆM

Dịch: Tô Chẩn


HỒI THỨ BA MƯƠI HAI

THIỂM LÔI CHÙY, QUỐC MẪU VONG MẠNG
TÚY VÂN SƠN, CÔNG CHÚA BỊ CẦM

Rạng ngày, Công chúa thấy dinh trại bị cháy mất phân nửa, còn chồng con lại bị bắt hết rồi không biết kế chi mà tính. Hồi lâu nghĩ ra một kế, bèn kêu Cao Kim Định tới bảo rằng:
- Con phải dẫn ba viên đại tướng Tề mà trả và nói với Chung quốc mẫu xin đổi cha con ra.
Kim Định lãnh mạng dẫn ba tướng thẳng qua dinh Tề. Còn Chung quốc mẫu khi độn thổ về tới dinh, thấy nội thành không hề phi sơ chi hết, bèn kiểm điểm tướng sĩ thì mất hết ba viên. Chung quốc mẫu còn đang ngồi lo liệu, bỗng thấy quân kỳ bài vào báo:
- Bên dinh Yên sai một viên nữ tướng sang dinh Tề có sự cơ mật.
Quốc mẫu cả mừng bèn truyền lệnh cho vào. Kim Định vô đến dinh ra mắt Chung quốc mẫu rồi tâu rằng:
- Yên Đơn công chúa sai tôi đem ba vị đại thần qua mà xin đổi Tôn phò mã với Tôn Hổ, xin Quốc mẫu định đoạt.
Chung quốc mẫu cả mừng, liền truyền thả Tôn phò mã với Tôn Hổ ra, hai cho con Tôn Tháo liền từ biệt Chung quốc mẫu đi với Kim Định trở về dinh mình. Công chúa nghe tin chồng con đã về, lật đật chạy ra nghinh tiếp.
Qua ngày sau Công chúa đòi Kim Định vào dạy hết mấy câu thần chú rồi đưa cây thần chùy cho và dặn rằng:
- Cây chùy này lợi hại lắm, con hãy đem nó theo mai phục nơi bên rừng, chờ cho mẹ dẫn dụ đặng con Chung Vô Diệm vào thì con hãy liệng cây chùy này lên và đọc thần chú mà hại nó mới xong.
Kim Định lãnh mạng. Công chúa liền nai nịt lên ngựa, phát ba tiếng pháo thẳng tới dinh Tề khiêu chiến. Quân kỳ bài vào cho Chung quốc mẫu hay, Quốc mẫu nhớ lại ngày trước Thánh mẫu có nói ngày nay là ngày tai họa mình tới. Nhưng vậy mà số trời đã định, sống thác có kỳ, chạy đâu cho khỏi. Nói như vậy, song cũng cầm đao lên ngựa nhưng sắc mặt có ý buồn rầu. Chung quốc mẫu khi ấy khiến Quản Thoại Hoa dẫn ba nghìn quân cung tiễn ra lược trận, rồi phát pháo đề binh, mở cửa thành xông ra đối chiến. Yên Đơn công chúa khi thấy Chung quốc mẫu thì chào rằng:
- Quốc mẫu bình an hé, tôi đợi ở đây đã lâu.
Chung quốc mẫu cười và nói rằng:
- Sao công chúa thuận theo lòng trời, đặng cho khỏi tàn hại sinh linh, chớ để cho đến thế đáo đầu rồi công chúa dầu có ăn năn thì đã muộn.
Công chúa nghe bấy nhiều thì cả giận, bèn nói rằng:
- Ta quyết ngày nay ra giao chiến, bắt cho đặng nàng mới đành dạ.
Nói rồi hơi cây kim sóc đâm đầu, Quốc mẫu đưa đao ra đỡ. Hai nàng đánh vùi với nhau có hơn hai trăm hiệp, mà chưa phân thắng bại, công chúa đã sắp đặt mưu kế trước xong rồi, nên đến chừng đó đâm bậy một sóc rồi quày ngựa chạy mù như gió, Quốc mẫu cũng giục ngựa đuổi theo, chạy vừa tới rừng tòng rậm rạp, Cao Kim Định xem thấy lấy cây chùy liệng lên và niệm bảy lần chân ngôn, còn Chung quốc mẫu cũng hở cơ, trước mặt ngó theo Yên Đơn công chúa, sau lưng nào biết có tiểu nhân, đến khi thấy hào quang sáng lòa đã gần đánh xuống thì mới độn thổ, mà không kịp nên bị cân thần chùy đánh trúng sau lưng, té nhào xuống ngựa chết liền. Công chúa liền nhảy ngựa lại,vừa muốn ra tay, thì bị ba ngàn quân cung tiễn của Quản Thoại Hoa bắn ra một lượt nên công chúa lại gần không được, quân Tề áp tới cướp thây Chung quốc mẫu đem về dinh. Khi ấy chúng tướng Tề đều nhóm lại kêu khóc vang trời dậy đất mà cũng không thấy tỉnh lại nằm dài thiêm thiếp thả hồn chơi tiên cảnh, còn xác hãy còn thoi thóp thôi.
Lúc này Lê San Thánh mẫu đang ngồi trong Tử tiêu cung, bỗng thấy trận gió thổi qua liền đánh tay xủ quẻ thì biết Mão đoan tinh đã bị Yên Đơn công chúa đánh nhằm một chùy, hồn gần lìa xác, bèn lật đật kêu sáu vị tiên cô dạy lấy thuốc linh đơn, và các món bửu bối, đằng vân theo với mình xuống Trâu bình quan mà cứu Chung Vô Diệm. Khi Thánh mẫu cưỡi hạc đằng vân vừa tới dinh thì nàng Trần Tam Thơ đã sa mây xuống trước và kêu Tề tướng bảo ra nghênh tiếp. Thánh mẫu và sáu vị tiên cô nhập thành rồi, thẳng vào hậu dinh, xem thấy Chung quốc mẫu còn nằm thiêm thiếp như người chết chưa chôn thì Thánh mẫu rơi lụy mà nói rằng:
- Cuộc đời phù sanh như thế, danh lợi mà chi, nếu không có sư phụ đến đây thì tánh mạng con đâu còn dương thế.
Nói rồi truyền quân lấy nước giếng mài một hườn linh đơn, cạy răng Chung quốc mẫu đổ vào, lại lấy ra một hườn nữa mài mà thoa nơi chỗ bị thương, giây phút Chung quốc mẫu tỉnh hồn, mở mắt ra xem thấy Thánh mẫu và sáu vị tiên cô bèn lật đật trổi dậy, xuống quỳ lạy tạ ơn cứu tử. Thánh mẫu đỡ dậy và nói rằng:
- Đồ đệ hãy bảo trọng thân thể, ấy là tai nạn của con, phải bị như vậy. Ngày mai đây là ngày hai mươi ba, Yên Đơn hãy còn dẫn binh tới đốt dinh của con nữa, vậy thì đồ đệ chia quân ra an dinh chỗ khác một nửa, còn một nửa thì mai phục bốn phía mà thủ thành, còn bao nhiêu dinh trại kia thì bỏ không, để mặc tình cho nó đốt,sư phụ đã có tiên pháp mà thâu phục nó.
Nói rồi liền kêu Trần Tam Thơ dặn rằng:
- Ngày mai ngươi hãy dời bốn tòa thiên sơn này mà vây khốn Yên Đơn lại, còn Hứa Hùynh Tiên giữ cái Tịnh thủy lưu ly, niệm sáu chữ chân ngôn mà thâu phép Hỏa long, Hồng Tiên Nữ cầm cây lão vân tiên đừng cho Yên Đơn đằng vân trốn thoát, Công Tôn Tiên dùng cái Phá hồng kiểng đừng cho Yên Đơn độn thổ mất đi, Hồng Duyên Tiên lấy Khổn tiên thằng mà bắt Yên Đơn cho đặng, còn Vương Thanh Tiêu lãnh cây tru tiên kiếm mà chém Yên Đơn, như chém nó không đứt đầu thì thôi, đừng là hại nó nữa. Các lời ta đã dặn ân cần, chúng bây ở lại mà giúp Đại thơ cho thành công và thâu phục Yên Đơn đặng rồi thì phải mau mau trở về động.
Sáu vị tiên cô vâng lệnh, Thánh mẫu lại dặn Mão đoan tinh rằng:
- Rồi đây, bên Sở dấy động binh đao, Thập sát tinh quân nó có dùng mũi tên độc, đồ đệ hãy ghi vào dạ mà giữ mình đừng quên lời thầy dặn.
Chung quốc mẫu cúi đầu lạy tạ. Thánh mẫu liền cưỡi hạc đằng vân bay về động. Chung quốc mẫu khi ấy sai Điền Năng lên núi Túy Vân, sửa sang lại một chỗ cho thanh tịnh cũng như kiểu Bồng lai rước sau vị tiên cô lên đó mà an trú.
Nói về Yên Đơn công chúa đến ngày hai mươi ba nhóm chúng tướng lại, phân cắt việc giao binh, khi ấy Phò mã với Tôn Hổ lãnh mười muôn kéo qua dinh Tề phía hữa, Tôn Long và Kim Định cũng lãnh mười muôn binh dẫn tới dinh tả, còn công chúa bổn thân cũng dắt một đạo binh kéo tới tiền dinh. Khi ba đạo binh đến nơi, công chúa liền niệm chân ngôn, đưa Hồ lô lên, năm trăm con Hỏa long bay ra, thẳng và dinh Tề đốt tứ phía, lửa dậy hừng trời, khói lên đen ngắt, mà không thấy binh Tề động tịnh chi hết. Công chúa liền giục binh áp tới đánh vào trung dinh cũng không thấy ai, thình lình bỗng nghe súng nổ vang trời, quân reo ỏi đất mà cũng không thấy người đâu, Công chúa bèn cả nghi mà nghĩ rằng: Nếu vậy thì Chung Vô Diệm đã chết rồi nên Tề tướng sợ ta phóng hỏa mới kéo binh lên trốn nơi núi Tùy Vân mà lánh nạn đây; vậy để ta lên đó thử coi, mới tỏ căn do dường cho biết. Nghĩ rồi bèn thâu phép liền giục ngựa thẳng tới núi Túy Vân.
Khi công chúa đi được một đỗi bỗng thấy có tướng Tề ấp ra vây phủ, bên tả thì Điền Thường, bên hữu thì Thanh Hổ, trước mặt thì Vương Hữu, sau lừng thì Quản Thoại Hoa. Công chúa một mình tả xông hữu đột đánh với bốn tướng giây lâu, bốn tướng đều quảy ngựa bỏ chạy, công chúa giục ngựa đuổi theo bỗng thấy trước mặt có hai lá cờ đỏ giăng ngang, thì bốn tướng và hốn túy Vân đều mất hết, công chúa khi ấy vừa muốn quày ngựa tháo lui, lại sau lưng cũng thấy một hòn nui khác, chận bít đường. Công chúa đang khi ngẩn ngơ, giây phút bốn phía núi non muôn trượng bao giăng thế chẳng khác như người sa vào đáy giếng, công chúa lấy làm lạ, chẳng biết núi ở đâu sanh ra muôn trùng cao vót, bèn kín miệng niệm chân ngôn muốn đằng vân mà bay lên thì mình nặng như đeo đá bay lên không nổi, bèn niệm chú độn thổ thì đất cứng tựa sắt không lỗ mà chui vào đâu. Công chúa đứng tư tưởng hồi lâu bèn sa nước mắt kêu chồng mà than khóc rằng:
- Phò mã ôi! Thiếp chẳng dè trong một phút hai ngã rẽ phân, thiếp chẳng thoát đặng chốn này, vậy chàng nếu có bình an xin hay dắt con thơ về nước, mà phò hộ cho cha già, kẻo hiu quạnh.
Than khóc rồi, lại vái cúng trời phật xin phò trì, như phen này dầu có biệt ly nguyện kiếp sau tái ngộ.Chung quốc mẫu khi ấy ở trên đỉnh núi, nghe hết mấy lời của công chúa than thở liền niệm chú hô thần, đòi Thổ địa tới, bảo phải làm như vậy như vậy… Thổ thần vâng lệnh hóa ra một tên mục đồng, chăn giữ một bầy trâu, vừa đi vừa hát nghêu ngao trên đỉnh núi. Công chúa nghe vẳng tiếng người liền kêu xin cứu mạng. Mục đồng đứng trên hòn đá lớn hỏi rằng:
- Ai đó, ai đó? Có phải loài yêu quái muốn bắt trâu ta chăng?
Công chúa đáp:
- Tôi vốn thiệt người lành, chẳng phải yêu quái, tên tôi là Yên Đơn công chúa vì theo giặc Tề, nên lạc nẻo nơi mới tới đây, xin người ra ân cứu tử; chừng tôi mà về nước đặng rồi, tâu cùng vương phụ phong cho đó làm chức Trị điện tướng quân.
Mục đồng nói:
- Không dám đâu, tôi vốn thiệt Tề bang dân thứ, có lẽ nếu đi cứu tử cho cừu nhân, tôi e sau vua Tề hay đặng căn duyên ắt bị tru di tam tộc, ấy là Trị điện tướng quân đâu chưa thấy chức mà tai ương trước mặt đã mạng vong.
Công chúa nói:
- Khuyên đó hãy giúp công chớ đem lòng nghi ngại, nếu chừng ta đặng về quan ải, thì ta cho kẻ đến rước gã về cung, dẫu Tề vương có tai mắt đi chăng nữa cũng không hay không thấy.
Nói về khi mục đồng nghe công chúa Yên Đơn năn nỉ các điều thì đáp rằng:
- Rất tốt! Rất tốt! Nhưng mà xin người bỏ hết thương mã đi và nương lấy mối dây này, mới đặng toàn thân trọng. Vả lạ bốn phía núi cao vọi vọi mà một tôi làm sao cứu đặng cả người cả ngựa.
Công chúa nghe nói thì thương tiếc con ngựa vô hồi, bèn rơi lụy than thở với ngựa rằng:
- Ngựa ôi! Hai mươi năm dư mi vì ta, mà phải lìa mi tại chốn này, mi có biết chăng?
Nói rồi khóc òa với con ngựa! Kế đó mục đồng ở trên thôi thúc nói rằng:
- Nếu người chẳng khứng bỏ con ngựa hay thì ta kíp đi chăn bầy trâu hoang của ta kẻo mất hết.
Công chúa nghe nói cực chẳng đã mới lìa con ngựa ra, mục đồng xem thấy thả dây thòng xuống, công chúa nắm lấy mối dây cột vào lưng rồi mục đồng ra sức rút lên đến nơi, tức thì lại hóa ra một bầy khỉ miệng lớn, con mắt đỏ lông lá dài lượt thượt chạy lại áp cắn sợi dây mà dành xé. Công chúa khi ấy ngó lại thì đã mất mục đồng, còn bầy khỉ ở đâu tựu tới đương nhe răng múa mỏ. Công chúa thấy vậy là tâm thần bải hoải, mặt mày ủ ê, nước mắt ra dầm dề, thoạt đâu Chung quốc mẫu giục con thần cu chạy tới, chào ra hỏi rằng:
- Công chúa mạnh giỏi hé? Vậy chớ công chúa làm gì mà ở chốn non xanh một mình vậy? Công chú có biết ta là ai chăng?
Công chúa nghe hỏi liền lau nước mắt mà ngó lên, thấy Chung Vô Diệm, bèn hỏi lại rằng:
- Chung xủ phụ! Nàng còn sống đó hay sao? Hay là nàng làm ma mà nhát ta vậy?
Chung quốc mẫu đáp:
- Tôi có chết đâu. Nay tôi quyết tới đây lấy đầu nàng, đem về dâng Tề chúa.
Nói rồi kêu Hồng Duyên tiên, khiến liệng sợi dây Khổn thiên thằng lên, bỗng thấy hào quang chiếu rạng tức thì có thần Huỳnh cân lực sĩ áp đến bắt công chúa mà trói lại. Rồi đó mấy tòa thần sơn cũng biến mất, Quản Thoại Hoa bèn lượm lấy thương, ngựa của công chúa, rồi dắt công chúa thẳng đến Lư Bồng sơn hầu lệnh. Lúc ấy sáu vị tiên cô thảy đều mừng tiếp, Chung quốc mẫu nói với công chúa rằng:
- Ta đã bao phen khuyên nàng thâu binh về nước mà nàng không chịu nghe lời, nàng tại tế Hỏa long mà đốt dinh trai ha tai phen, lại dụng thần chùy một lần mà sát tử ta nữa, nay nàng đã vào tay ta rồi quyết chém lấy đầu cho biết mặt.
Chung quốc mẫu nói thì nói vậy, song nháy các tướng biểu dụ công chúa hàng đầu mà công chúa cũng chẳng nghe, cứ nằng nằng mộ thác mà thôi. Chung quốc mẫu nổi giận truyền quân dắt xuống Lư Bồng, giao cây Tru tiên kiếm cho Quản Thoại Hoa xử quyết, Thoại Hoa vâng lệnh dẫn Yên Đơn xuống dưới đất bằng chém ba gươm đầu cũng không văng, lại thấy có một đạo hồng quang hộ thể rất lạ thường, Quản Thoại Hoa thấy vậy, bèn dẫn trở lại về phục chỉ. Khi ấy tiên cô là Trần Tam Thơ bước tới nói với Chung quốc mẫu rằng:
- Vì Yên Đơn lục giáp hoài thai, quả là một vị Đại la tiên giáng thế, sự ấy rất quan hệ, ngày sau thiệt là Tề quốc đồng lương, ít lời tỏ thiệt cho Nương nương hay, hãy ta tính kế lo phương hòa hiệp.
My company: www.procard.com.vn
0
CHUNG VÔ DIỆM

Dịch: Tô Chẩn


HỒI THỨ BA MƯƠI BA

CHUNG QUỐC MẪU CHỈ BỤNG LÀM SUI
YÊN CÔNG CHÚA KHÓC CHA CHẾT GIẤC

Chung quốc mẫu khi nghe mấy lời Trần Tam Thơ nói, vội vã bước xuống mở trói cho công chúa, rồi rước lên Lư bồng mà xin lỗi. Sáu vị Tiên cô cũng đều tựu lại ra mắt công chúa và khuyên giải giây lâu, công chúa mới chịu, tám người đồng ngồi chuyện vãn với nhua. Chung quốc mẫu hỏi:
- Chẳng hay công chúa hoài thai đã đặng mấy tháng?
Công chúa đáp:
- Kể từ ngày hoài dương đã được bảy năm tròn.
Chung quốc mẫu nghe vậy liền đánh tay bấm quẻ, thì biết rằng trời phò hộ Tề bang ngày sau công chúa sanh được một trai đặt tên là Tôn Tẩn người đã tinh thông pháp lực lại cốt cách thần tiên, giúp Tề vương đồ sộ vững bền, tài thao lược danh vang lục quốc. Bây giờ ta phải tính trước, giao lời hứa về sau mới đặng. Nghĩ rồi bèn nói với công chúa rằng:
- Sự cừu hận đành bỏ biệt, nghĩa chị em gắn chặt keo sơn, ngày sau dầu chị sanh đặng ái kiều, tôi sẽ rước qua Tề làm Chiêu Dương hoàng hậu còn nếu sanh ra công tử cũng phải cho qua tá trợ Tề vương, xin chị hãy bằng lòng đặng cho em vui dạ.
Công chúa nghe mấy lời Chung hậu nói thiết cố liền đứng thưa rằng:
- Nương nương đã có bụng muốn tôi nỡ đâu cãi lời.
Chung hậu cả mừng liền truyền quân đặt bàn hương án ra giữa trời van vái, hai người thề nguyện xong rồi, dắt tay vãn Lư bồng bày tiệc chay ra mà trò chuyện với sau vị Tiên cô. Khi ấy Chung hậu lại có đưa cho công chúa một hột ngọc bạch bích làm tin rồi tám vị ân cần chuyện vãn.
Đây nói về Tôn nguyên soái, to, Tôn Long và Kim Định khi dẫn binh đánh vào dinh Tề, đốt phá tan hoang mà không thấy một ai ở đó, mấy cha con đương đi kiếm địch dáo dác, giây lâu binh Tề ở đâu không biết ào ra dẫy đầy bốn phía, Kim Định liền niệm chú hô phong, cát bay mịt mù, binh Tế thấy vậy thất kinh, mở vây chạy càn, đạp nhau chết thôi liều yếu. Mấy cha con Tôn Tháo thừa thắng rượt theo hơn mấy dặm xa mà không thấy công chúa bèn ngó tới phía trước nữa, thấy có một tòa núi nguy nga hiểm trùng, Tề binh đem nhau chạy lên đó. Tôn nguyên soái rất nghĩ cho công chúa vì một mình một ngựa mà vào nơi hiểm địa, e chắc khó lòng bèn giục ngựa chạy rượt theo lên đến giữa núi thì bị binh Tề đón đánh chẳng cho lên.
Lúc ấy Chung quốc mẫu, Yên Đơn công chúa và sáu vị Tiên cô đương ngồi đàm luận, bỗng có quân kỳ bài lên báo rằng:
- Có một đạo binh Yên dẫn đầu ba viên đại tướng, áp đánh giết binh Tề, đã theo lên đến nửa triền núi rồi, xin Nương nương định đoạt.
Chung hậu nghe báo thì cười và nói rằng:
- Nếu vậy đạo binh này chắc của Tôn nguyên soái đi kiếm Thơ thơ đây, vậy để cho em ra đó nghinh tiếp người vào dinh đàm luận.
Công nghe nói liền đứng dậy đáp rằng:
- Lang quân tôi tánh tình nóng nảy lắm, nếu gặp Nưong nương e sanh sự bất hòa, vậy xin để cho tôi ra rước, đặng phân trần điều hơn sự thiệt đã.
Chung hậu y lời, công chúa lên ngựa xuống núi, cha con Tôn Tháo gặp mặt thì mừng rỡ vô hồi hỏi đâu đuôi tự sự. Công chúa nghe hỏi thì rơi lụy rồi thuật lại hết từ khi đánh vào dinh Tề cho tới lục bị bắt dẫn ra chém làm sao đều thuật hết, rồi phân rằng:
- Nhưng vậy mà may, đã kết nghĩa chị em, tình đồng như cột nhục.
Cha con Tôn Tháo và Cao Kim Định nghe nói cả kinh, muốn một trận tử sanh, đặng trả thù cho công chúa. Công chúa nói:
- Không sao đâu! Ta từ nhỏ tầm sư học đạo, đến mười tám tuổi hạ san, đã từng nhiều trận gian nan mà chưa thấy ai như Chung Vô Diệm, đã thần quảng đại, lại pháp lực cao cường, chúng ta chẳng phải tay địch thủ đâu, đừng làm vơ mà mang họa. Vả lại đã kết nghĩa làm cốt nhục, thề nguyện với đất trời rồi, nếu ai nói sai lời, thời chẳng khỏi tử về đao kiếm.
Tôn Long, Tôn Hổ nghe mẹ nói thì hầm hầm nổi giận, Kim Định cũng dạ bất bình, quyết một trận giao chinh, cho rõ tài cao thấp. Tôn Tháo nói:
- Mấy con đừng khua mõ, đem sự chết tới mình. Cha nghĩ lại. Pháp lực như mẹ con kia mà còn không làm lại huống chi là mấy con. Thần chùy đánh nó không chết. Hỏa long đốt nó trơ trơ, võ nghệ rất đỗi như cha đây cũng bị cầm hai lượt, nay mẹ con cũng bị bắt nữa, lại đã có giao kết với người rồi, phần trong mình mẹ con có thai nghén, sự gái trai cũng chưa hay, đến nay thức thời vụ như vầy mới gọi là hào kiệt. Bây giờ cuộc oán thù đã hòa hiệp làm ái ân, trước là hai nước giao lân, sau lại muôn dân an lạc.
Đang khi bàn luận, bông nghe lạc ngựa xa xa, phút chốc thấy một viên nữ tướng mặc bạch giáp, tay cầm cây Cang đao, mình cưỡi con đào hoa mã, anh em Tôn Long vừa muốn đưa thương ra đánh, Công chúa trợn mắt và nói rằng:
- Chúng không được động thủ, người ấy là một vị tiên phong của Chung quốc mẫu sai ra, tên là Quản Thoại Hoa đó.
- Tôi vâng ý của Chung nương nương tới thỉnh phò mã với công chúa cùng hai vị công tử lên thảo dinh đàm luận.
Tôn nguyên soái y lời, Thoại Hoa trở về phục chỉ. Chung hậu bèn nói với sáu vị tiên rằng:
- Tiên phàm khác tục, vậy xin mời sau vị ra sau Lư bồng an nghỉ.
Sáu vị tiên cô đáp:
- Nay đại sự đã thành rồi, chị em tôi xin phản hồi động, như có gì bất trắc nữa, thì chị em tôi sẽ xuống giúp cho.
Chung hậu cầm lại không đặng, sáu vị Tiên cô đằng vân bay về Lê San điện. Kế đó Chung hậu truyền quân bày khay đội ngũ ra nghinh tiếp Yên binh, Tôn phò mã và công chúa xuống ngựa đáp lễ, rồi đồng vào dinh phân ngôi chủ khách mà ngồi. Chung hậu đỡ công chúa dậy mà rằng:
- Một ngày đã kết nghĩa chị em, sách có câu Thuần xỷ chi hạng, xin chị chớ nghi nan em giúp cho mười muôn binh mà trước để báo thù cho vương bá, sau là phục cực giang san. Yên ban mà vững đặt âu vàng, thời Tề quốc cũng bền chung.
Công chúa cúi đầu từ tạ, Nương nương giải ra về, cha con Tôn phò mã và công chúa cũng đã huề, đưa Quốc mẫu ra khỏi dinh rồi mới trở lại.
My company: www.procard.com.vn
0
CHUNG VÔ DIỆM

Dịch: Tô Chẩn


HỒI THỨ BA MƯƠI BỐN

NƠI TRƯỜNG ĐÌNH, TUYÊN VƯƠNG RƯỚC VỢ
TRIỆT LONG SAN, TIẾT CÔN PHẢN VUA

Khi hai vợ chồng phò mã đưa Chung hậu về ải rồi, trở vào dinh, kiểm binh mã, và truyền lệnh quày hiếu cư tang, áo trắng, cờ trắng tướng sĩ một lòng chờ binh Tề qua thì nhổ dinh về nước.
Khi Chung hậu từ biệt hai vợ chồng phò mã trở về dinh, liền tra điểm mươi muôn binh ròng và lựa tam viên tướng giỏi, sai qua giúp cho công chúa. Phò mã bèn kiểm duỵêt họ tên binh tướng của Tề, biên vào sổ sách xong rồi liền truyền lệnh nhổ trại phát pháo thẳng tiến tới Đức Hưng quan, hiệp với Cao Khôi kéo trở về nước.
Nói về Chung hậu nghe bên dinh Yên phát pháo, thì đã biết công chúa hồi binh rồi, bèn truyền chỉ cho tam quân mình, sửa soạn ban sư và giao các việc cho Điền Thường và Điền Năn coi giữ quan ải. Chung hậu sắp đặt sau trước xong rồi, khiến phát pháo khi thành, chỉ thẳng Lâm trí mà trở lại. Lúc này vua Tuyên vương lâm trào, có quan Huỳnh môn vào tâu rằng:
- Nay Chung mẫu hậu đắc thắng, đã ban sư hồi trào, cách vương thành chẳng có xa, xin Thánh hoàng định đoạt.
Tuyên vương nghe tâu có ý buồn, bèn nghĩ thầm rằng: Ta tưởng sai con xủ phụ ra binh chuyến này đã nạp mạng cho hai vợ chồng Tôn Tháo rồi, không dè nay nó lại bình đặng Yên bang, làm cho ta tấc dạ bàng hoàng, chẳng biết kế chi mà toan liệu. Bụng đang suy nghĩ, thấy Yến thừa tướng bước tới tâu rằng:
- Chung quốc mẫu dẹp an Yên tặc, có công lao bình định giang san, xin Thánh hoàng ngự giá thân nghinh nơi Đình dịch, như vậy mới vui lòng kẻ xông tên đục pháo, đặng phò tá Tề bang cho đồ sộ vững bền, xin Thánh thượng đi theo ngu thần sở tấu.
Tuyên vương nghe phải cả đẹp bèn truyền cho văn võ bá quan, sắm sửa long xa phụng tán, phát hai mươi bốn tiếng pháo dẫn nhau ra cửa Tây môn, đi chừng mười dặm, đến nhà trường đình trú lại mà đợi.
Chung hậu nghe tin Tề vương thân nghinh thì nghĩ thầm rằng: Hôn quân này thiệt khéo làm bộ, lúc trước ta suất sư thì đăng đàn bái tướng, ngày nay ban sư lại ngự giá thân nghinh, ngoài mặt thì làm bộ đa tình, mà trong ruột dường như dao cắt. Chung hậu vừa đi vừa nghĩ, chẳng bao lâu tới Dịch đình, khi ấy Tề vương liền truyền cho văn võ, sắp ra hai hàng mà tiếp rước. Chung hậu vừa tới xuống ngựa tâu rằng:
- Thần thiếp giáp trụ nơi mình, không đặng trọn lễ, xin Thánh hoàng tha tội.
Tề vương làm tuồng hơn hở, bước lại cầm tay Chung hậu mà rằng:
- Trẫm với ngự thê cách mặt đã lâu nay gặp nhau đây, thiệt đã thỏa tình hoài vọng.
Nói rồi liền dắt tay vào nhà trạm mà đãi trà, bá quan đều hầu chực hai bên, Tề vương mới hỏi Chung hậu rằng:
- Chẳng biết ngự thê xuất trận binh phục Yên ra thế nào?
Chung hậu bèn tâu hết, từ khi binh mới tới Trâu Bình quan cho đến khi bình định giao hòa và kết hôn nhân cho vua nghe. Tề vương cả mừng nói rằng:
- Trẫm có ngự thê thiệt là giang san rất có phước!
Trò chuyện rồi truyền quan bày tiệc hạ công, yến ẩm xong xuôi mới ngự giá về thành, văn võ triều bái xong rồi, Tề vương bèn truyền chỉ khao thưởng tam quân, cứ theo thứ mà thăng thưởng. Chung hậu lại thuật sự Yên bang, Tấn Anh soáng ngôi. Và có cho Yên Đơn công chúa mượn mười muôn binh, nay lại xin Tuyên vương hạ chỉ cho chủ soái Trâu Bình quan phát thêm mười muôn binh nữa, thẳng qua Dịch châu mà giúp cho công chúa, Tề vương nhậm lời tâu, giáng chỉ sai đi liền, rồi bãi chầu.
Nói về lúc Tề vương lui chầu bèn đi thẳng qua Chiêu Dương cung trò chuyện với Chung hậu, chẳng hay ngày vắn tình dài, bỗng chốc đầy trời sao sáng. Chung hậu khiến cung nga bày yến, dâng rượu cho Tề vương ít chén giải muộn. Tề vương khi ấy ngẫm nghĩ tới đó rất ưu phiền, bụng thì giận mà miệng chẳng dám nói ra, mới nghĩ rằng: Dân gian còn một chồng đôi vợ huống ta không năm thiếp bảy thê, thảm thương thay thứ hậu Cao phi. Còn Chánh hậu thời như yêu quỷ, ngó thấy mặt đà rầu rĩ, có lẽ đâu thân thỉ nài hoài, dầu nó muốn động xuân tình mà ép trước nài mai, thì ta phải dằn hỏa dục một hai từ chối, bây giờ biết tính làm sao cho khỏi, đêm nay e mắc kế con này.
Chung hậu xem mặt Tề vương có sắc buồn cũng đã biết ý, bèn than thầm rằng: Vì Thánh mẫu sai ta bình liệt quốc mà tủi cho thân bạc phận vô duyên, đêm nay thấy Tề vương bụng đã bất yên, chắc có sự ưu phiền chi đó, vậy để ta nói một hai lời chọc nó, coi ý tứ đó thế nào? Nghĩ rồi bèn kêu cung giám mà hỏi rằng:
- Bây giờ canh mấy vậy?
Cung giám tâu:
- Thưa, đã quá canh hai.
Chung hậu bèn truyền nội giám dâng rượu, rồi nói rằng:
- Đêm nay Thiên tử ngủ tại Chiêu Dương, vậy bây hãy sửa sang nệm gối.
Tề vương nghe nói hỡi ôi, mới sanh ra một kế, cười với Chung hậu mà nói rằng:
- Đêm nay trẫm muốn ở lại đây mà bồi bạn với ngự thê, song hiềm vì ngự thê chinh chiến mới về hãy còn mệt mỏi lắm! Vả lại, sự ái ân chồng vợ cho thiếu chi ngày, vậy để hôm nay cho ngự thê an dưỡng tâm thần, rồi sau sẽ vầy duyên cũng chẳng muộn.
Chung hậu nghe nói muốn tức cười và nghĩ thầm rằng:
Lão hôn quân thiệt là nhiều chuyện, trong lòng đã chết điếng mà kiếm điều nói phỉnh cũng hay. Thôi thôi, ta cũng bớt tay, để cho lão đi đâu đi cho rảnh.
Nghĩ rồi liền truyền quân nội thị sửa xoạn xe giá, đưa vua về cung. Tề vương nghe nói hết sức vui mừng thoát đặng khỏi dường như chim khỏi rập. Lúc ấy Tề vương lại giả bộ cầm tay Chung hậu mà dục dặc một cách trìu mến vô hồi! Chung hậu cũng tạ ơn và tâu rằng:
- Xin Thánh thượng chớ có đem lòng lưu luyến, hãy còn nhều ân ái về sau.
Tuyên vương gật đầu, bước lên long xa, đi qua Đông cung mà nghỉ an giấc điệp.
Qua bữa sau Tuyên vương lâm trào, văn võ bá quan triều bái xong rồi, quan Bình bộ thượng thư bèn quỳ tâu rằng:
- Nay có đảng thảo khấu ở núi Triệt Long sơn, tên là Tiết Côn, đánh phá cõi bờ, đòi mượn lương thảo rất nhiều, quan địa phương không cho và ngăn chống chẳng lại, mời cử sở về xin binh cần kíp.
Tuyên vương nghe tâu cả buồn, bèn nghĩ rằng quốc vận nước Tề đã gần suy sụp, cho nên mới sanh ra sự binh đao hoài, mới bình phục đặng Yên bang, nay lại Tiết Công tạo phản. Nó thiệt là thằng hảo hớn, chiếm nũi Triệt Long có mười mấy năm dư, cứ thường năm cho lương thực hoài, hao tổn của triều đình biết bao nhiêu vàng bạc, như vậy mà nó còn đành lòng làm ác, làm cho sĩ tốt chết oan. Nghĩ như vậy bèn hỏi các quan rằng:
- Trong ban võ bá có ai dám lãnh ấn Nguyên nhung đi trừ an giặc cỏ?
Hỏi luôn ba tiếng mà bá quan đều nín thinh, Tuyên vương cả giận phán rằng:
- Lời thánh xưa có câu: Vua xem tôi như thủ túc, tôi vua như phúc tâm, nay trẫm có sự rầu, mà bá quan không ai giùm giúp đặng chút nào hết, như vậy thiệt là bọn túi cơm giá áo, chẳng có ai xích đởm trung tâm, lúc thái bình thời nhờ quốc lộc quân ân, cơn bát loạn thảy đều co đầu rút cổ.
Yến Anh khi ấy bước ra tâu rằng:
- Xin Thánh hoàng bớt oai thạnh nộ, ngu thần tiến cử một người, trừ hung đồ như trở bàn tay, giết thảo khấu không đầy nháy mắt.
Tuyên vương hỏi:
- Vậy chớ tiên sinh tiến cử ai?
Yến Anh tâu:
- Xét trong Tề trào lương tướng ít người sánh kịp Tiết Côn, tôi nghĩ lại đường đường một vị quốc vương đâu há nhịn thua thẳng thảo khấu, nếu chẳng có tay Chung vương hậu, thì ít ai trừ đặng Tiết Kế Nguyên, xin vời vương hậu tới điện tiền đặng lo toan việc nước.
Tuyên vương nghe nói chau mày và nói rằng:
- Trẫm tưởng khanh bảo tấu ai, không dè là Chung Vô Diệm nữa. Mới đây có một chuyện khó nỗi nói ra vì bởi hôm qua trẫm với Chiêu Dương hạ tiệc, thấy Quốc hậu lòng càng tư thiết, nên trẫm phải kiếm việc tháo lui, sợ e lòng gã chẳng vui thời ta khó mở môi nói chuyện. Vả lại nó mới binh phục Yên bang, công lớn ban sư về chưa được mấy ngày dễ đâu nó chịu khó nhọc vậy hoài, sợ uổng tiếng tiên sinh bảo tấu.
Yến Anh lại tâu nữa rằng:
- Vương hậu là một vì tinh tú, chẳng phải như các ả ca nhi, xin Thánh hoàng giáng chỉ, cho hạ thần vào yết kiến Chiêu Dương.
Tuyên vương y tấu, liền viết chiếu giao cho Thừa tướng cầm đi. Khi Yến Anh tới Chiêu Dương cung, nội giám vào tâu cho Chung hậu hay. Chung hậu lật đật bước ra nghinh tiếp thánh chỉ. Rồi đi bộ với Yến Thừa tướng, thẳng tới Kim loan điện, triều bái Thiên tử. Tuyên vương vội vã xuống ngai rước Chung hậu, vợ chồng đồng ngồi nơi kim ỷ, khi ấy Chung hậu tâu rằng:
- Chẳng hay Thánh thượng cho đòi thần hậu có việc chi, hay quốc gia đại sự chi?
Tuyên vương giả cười mà nói rằng:
- Vương hâu ôi! Cô gia tài sơ học thiển, phước bạc ngôi giàu, lại trong triều không có kẻ lương thần mà ngoài nước nhiều tay nghịch đảng, còn ngự thê đã thần thông quảng đại lại thêm võ nghệ cao cường mới đây phục đặng Yên Đơn, bốn biển thảy đều nghe tiếng. Nay cô gia có một chuyện, vì Tiết Côn nó làm phản nơi Triệt Long, dầu ngự thê mà chẳng có tưởng tình xin hãy thương lấy Tề bang lê thứ.
Chung hậu nghe nói cười thầm và nghĩ rằng: lão hôn quân này thiệt nhiều lời! Lúc thái bình chê ta là yêu quỷ, tới khi có việc đòi ra năn nỉ ỷ ôi! Thôi thà để va làm đứa vô tình, đâu có lẽ mình làm thinh mà ngó vậy. Nghĩ rồi bèn tâu rằng:
- Tiết Côn là một thảo khấu, có sá chi mà làm mệt dạ Thánh hoàng, dầu nó có tám cánh bảy đầu, cũng chẳng đủ chi lo sợ.
Tuyên vương thấy chịu cả mừng bèn hỏi:
- Như ngự thê lãnh ấn thì muốn dùng bao nhiêu binh?
Chung hậu tâu:
- Đồ ăn cướp trong rừng, dùng ba ngàn binh là đủ.
Tuyên vương rất đẹp. Chung hậu từ tạ về cung, vua cũng truyền bãi trào ai về dinh nấy.
Rạng ngày, Chung hậu nai nịt lên ngựa, thẳng tới trước giáo trường, kiểm điểm ba ngàn nhơn mã, khiến phát pháo, mở cửa thành kéo binh ra. Tuyên vương cũng ngự giá tống hành và văn võ bá quan thảy đều đón đưa đủ mặt. Tuyên vương lúc ấy cầm tay Chung hậu mà nói rằng:
- Trầm cầu cho ngự thê mau dẹp an giặc cỏ kẻo trẫm ở nhà đêm ngày hòai vọng.
Chung hậu tạ ơn vua rồi tức thì chỉnh khai đội ngũ, thẳng dặm tới đất Ba Châu (thuộc về tỉnh thành Tức Mặc). Khi binh kéo đi chẳng đặng mấy ngày, bỗng đâu gần tới chốn. Quân kỳ bài khi quay trở lại báo rằng:
- Núi Triệt Long trước mặt, cách đây chừng năm dặm, xin Nương nương phát lạc.
Chung hậu nghe báo liền giục ngựa đến xem địa thế, rồi kiếm một hòn núi khác thiệt cao, mà dồn binh ra làm hai đạo, một nửa ở trên núi để coi thế giặc, còn một nửa đóng dưới triền để phòng khi cướp dinh. Đồn trú xong, Chung hậu thăng trướng, binh tướng đứng đều hai bên. Chung hậu nói rằng:
- Có tướng nào dám tới sơn trại mà khiêu chiến chăng?
Điêu Khải ra lãnh mạng. Chung hậu mới dặn rằng:
- Thằng sơn tặc này chẳng phải tay tầm thường, như tướng quân có giao chinh, phải đề phòng cho cẩn thận.
Điêu Khải dạ dạ lui ra, dẫn theo năm trăm binh, tới trước sơn trại xỉ mạ bọn lâu la mà khiêu khích.
Nói về chủ trại núi Triệt Long sơn là Tiết Côn, tự là Kế Nguyên, đang ngồi nơi Tụ nghĩa đường đàm đạo thì thấy quân lâu la vào báo:
- Tề vương sai Chung Vô Diệm tới đánh, xin trại chủ liệu bề, kẻo tướng Tề lờn dể.
Tiết Côn nghe báo nổi giận hết lớn rằng:
- Tề vương cớ sao lỗi hứa thường năm ta mượn lưong tiền, bây giờ làm sao lại ở đảo điên, cất binh mã băng miền xâm phạm? Thề bất dung nghịch tặc, quyết nhất trận thư hùng.
Nói rồi nai nịt cầm thương lên ngựa, bên tả mang cung, bên hữu đai tên, phát pháo mở cửa trại, dắt lâu la xuống núi. Hai đàng xáp trận xưng hỏi họ tên. Tiết Côn nói:
- Làm trai như ta trong liệt quốc anh hùng ai mà chẳng nghe danh, nước Tề khi dễ lắm, hứa mỗi năm đưa nạp kim ngân giờ lai sanh lòng bội bạc, hôm nay ta mà không lấy được đầu ngươi quyết không về sơn trại.
Điêu Khải nghe nói cả giận, mắng rằng:
- Đồ sơn tặc, mầy đừng khoe giỏi mà lầm phải ta, cứ thường năm xâm phạm nước nhà nên Thiên tử sai Nương nương hưng binh vấn tội, chết bêu đầu đã tới, mầy còn khua mỏ nổ gì?
Tiết Côn nghe nói phừng phừng lửa dậy, hươi thương chạy lại đâm nhau. Điêu Khải đưa đao ra đỡ. Đánh hơn ba mươi hiệp, Điêu Khải đuối sức quày ngựa chạy dài. Tiết Côn giục quân đuổi theo đâm trúng Điêu Khải một thương nhào xuống chết tốt. Tiết Côn khi ấy thừa thế đuổi giết binh Tề vỡ chạy tứ tán, bèn thẳng tới dinh Tề nói với quân tuần rằng:
- Bây hãy vào nói với Chung Vô Diệm rằng, có Đại vương ở núi Triệt Long đã tơi, xin mời Quốc mẫu ra nói chuyện, bằng không ta sẽ đốt dinh trại, một tấc cỏ cũng chẳng còn.
Quân Tề đem lời ấy vào tâu cho Chung hậu hay, Chung hậu nổi giận lôi đình, bèn hỏi các tướng.
- Có ai dám ra bắt sơn tặc ấy mà trả thù cho Điêu tướng quân không?
Hỏi vừa dứt lời, có một tướng ứng thính xin đi. Chung hậu xem lại là Vương Bao, chức hàm Hữu tiện tướng quân. Chung hậu nói:
- Vương tướng quân có xuất trận thì phải đề phòng lắm mới được.
Vưong Bao vâng lệnh, phát ba tiếng pháo mở cửa dinh xông ra. Tiết Côn xem thấy tướng Tề mình mặc huỳnh giáp, đầu đội huỳnh khôi, cưỡi ngựa Thanh tòng mã, tay cầm trường thương bèn hét lên một tiếng mà hỏi rằng:
- Tướng Tề tên gọi la gì, hãy nói mau mà chịu chết?
Vưong Bao đáp:
- Tề Tuyên vương giá tiền, Chung nương nương huy hạ, Hữu tiện tướng quân, tên Vưong Bao là ta, nay ta ra trận quyết giết cho đặng người mà trả thù cho Điêu Khải.
Tiết Côn nổi giận hươi thương đâm đùa. Vưong Bao bèn cản đánh, hai tướng giáp trận hơn bốn chục hiệp có dư. Vưong Bao biết ý đề phòng. Tiết Côn đâm bậy một thương rồi quay ngựa mà chạy. Vưong Bao nói:
- Hết khoe tài thần võ, còn đâu khua mỏ anh hùng, mới một trận giao phong đã cong lưng chạy miết.
Vừa nói vừa quất ngựa rượt theo, Tiết Côn trông thấy mừng thầm, bèn lấy ra một phép kêu là Bá luyện thần chùy ném lên trên không mà nói rằng:
- Bớ tướng Tề hãy coi thần chùy của ta đây.
Vưong Bao nghe nói, ngửa mặt lên xem, thấy ngay một đạo hào quang nhắm ngay đầu mình sa xuống. Vưong Bao hồn bất phụ thể, kế bị thần chùy đánh trúng sau lưng ngã nhào xuống ngựa. Tiết Côn lướt tới cắt đầu rồi tới trước dinh Tề mà khiêu chiến nữa. Quân kỳ bài vào tâu cùng Chung hậu rõ. Chung hậu vội vã nai nịt cầm đao lên ngựa và dẫn theo tám viên tướng cạnh cùng năm trăm quân ngựa lâm đồng xông ra trận.
Tiết Côn xem thấy nữ tướng cầm binh, hình dung cổ quái, thì biết là Chung Vô Diệm bèn nói:
- Bớ con nữ tướng kia. Có phải mà là Chung xủ phụ chăng? Như mày vậy có bao âm khí lực mà dám thượng trận thi tài, ta bảo cho hay, hãy mau trở về xách giỏ hái dâu cho an phận, chớ như ta đây mười hai nước thảy đều chạy mặt, khuyên mày đừng kể chắc mà chết chẳng toàn thây.
Chung hậu nghe thấy nổi giận nhưng xem thấy tướng giặc tuổi chừng hai tám, mà sức mạnh muôn người, mặt trắng môi hồng, mày thanh mắt lộ, thì có ý khen thầm, đánh tay bẩm quẻ, mới hay là Đông đẩu tinh quân giáng thế, nên quyết dằn lòng khuyến dụ, về phò tá Tề bang, quả thật là một vị anh hùng lương đống. Nghĩ rồi mới kêu Tiết Côn mà nói rằng:
- Bớ thằng giặc cỏ chớ phạm oai trời, tài lực chi mà mỗi năm theo đòi lương thảo, nhưng nay thiên đình đã đáo, kịp mau phục tội quy hàng, chớ nên ỷ thế dọc ngang thì ta không dung thứ.
Tiết Côn hầm hầm giận dữ, cầm thương giục ngựa tới đâm ngay. Chung hậu cũng lẹ tay đưa đao ra đỡ, hai đàng hổn chiến có dư trăm hiệp ngoài. Chung hậu cứ khen tài, Tiết Côn cũng khen thầm Chung hậu. Hèn chi bốn biển vang danh nay mới rõ tài nữ tướng, vậy quyết ý dụng tình, lập mưu trá bại.
Khi Tiết Côn lập kế xong, đâm bậy một thương giục giục ngựa chạy nai. Chung hậu mới nghĩ rằng: Thằng này tài lực hơn chúng, thương pháp như thần, sao lại chạy ngang, chắc có kế gian, nên dùng mưu trá bại, như ai đây sợ hại chớ ta đây chẳng nao. Nghĩ rồi liền giục ngựa đuổi nhào, chạy theo vừa gần tới, Tiết Côn xem thấy có ý mừng thầm, bèn lấy cây thần chùy liện lên trên không, hào quan túa ra sáng giới. Chung hậu xem thấy cả cười, lấy tay chỉ phép mà nói rằng:
- Thần chùy sao không trở lại mà đánh Tiết Côn?
Khi ấy phép thần chùy liền quay trở lại. Tiết Côn thấy phép mình sao chẳng linh nghiệm, muốn đánh lại mình, tức thì đọc chú thâu chùy vào hồ lô, rồi hươi thương lướt đánh. Chung hậu cũng đưa đao ngăn đỡ, hai đàn đánh vùi một trận nữa, trống gióng vang trời, quân reo dậy đất, đánh hơn ba trăm hiệp dư mà sức cũng cầm đồng. Chung hậu vừa đánh vừa nghĩ thầm rằng: Tiết Côn là tướng tài, nếu dùng sức mà đánh hoài tới năm sau năm cũng chưa bình phục được nó, chi bằng dùng tiên phục mà giết phứt nó đi mớ xong chuyện. Nghĩ như vậy rồi lại nghĩ rằng: Vì nó là một vị tinh tú giáng sanh, đặng làm thượng tướng cho nước Trần, nước Lương và nước Tề mình, nếu nghịch thiên đạo mà giết nó đi thì uổng lắm! Thôi để kiếm kế khác thâu phục hắn mới xong, để ngày sau dùng giúp tay chân cho đỡ.
My company: www.procard.com.vn
0
CHUNG VÔ DIỆM

Dịch: Tô Chẩn


HỒI THỨ BA MƯƠI LĂM

CHUNG HẬU KHUYÊN QUY THUẬN
TIẾT CÔN TÚNG THẾ GIẢ HÀNG

Nghĩ rồi hai tay làm bộ run rẩy, chém bậy một đao, quày ngựa chạy mùa như gió. Tiết Côn tưởng Chung hậu đuối sức chạy thiệt, bèn giục ngựa rượt theo. Nguyên con thần mã của Chung hậu chậy đã hay, mà con Bát ngọc mã của chúng Tiết Côn chạy cũng giỏi. Chung hậu nghe tiếng lạc ngựa gần tới, liền lấy dây Khổn tiên thằng liệng lên trên không và niệm chú lầm thầm, giây phút có mây trắng chớp bủa tứ giăng. Tiết Côn không biết là vật gì, kế chân tay đều bị trói, vật nhào xuống ngựa cả mình đều mê sảng. Chung hậu khi ấy lướt tới cầm đao kề ngang cổ Tiết Côn kêu và hỏi rằng:
- Sơn tặc còn khoe tài ỷ sức nữa thôi?
Giây phút Tiết Côn tỉnh lại mở mắt ra thấy Chung hậu thì nói rằng:
- Bớ con xủ phụ! Kẻ trượng phu ở đời làm cho minh minh bạch bạch, sống cũng không mừng, chết cũng chẳng sợ, nay mày đã dùng yêu thuật mà bắt tao, có giết thì giết đi, chớ để làm gì mà đợi đó.
Chung hậu nói:
- Mạng mi sống chết trong tay ta, nếu mi muốn chết thì một đao đã rồi đời, song ta e người còn oán trách, thôi, ngươi phải cải tà quy chánh theo ta cùng đầu phục vua Tề, trước là ấm tử phong thê, sau lại lưu phương thiên tử, chẳng hơn là ở miền sơn trại, cứ làm ăn cướp cả đời mà tốt gì?
Tiết Côn nghe nói hội ý gật đầu bèn nói rằng:
- Xin thủng thẳng để cho ta còn nghĩ lại rồi phân trần.
Chung hậu khi ấy bèn đứng giang ra một bên, bốn tên đầu mục và bọn lâu la ngó thấy chủ trại mình bị trói thảy đều hoảng kinh áp ra một lượt mà vây đánh Chung hậu. Quân Ngự lâm bên Tề cũng xốc vào trợ lực, hai đàng đương lúc hỗn chiến, quân lâu la thừa thế đến giựt Tiết Côn mà đem về trại. Còn Chung hậu mắc rượt theo bốn tên đầu mục, chừng trở lại thì không thấy Tiết Côn bèn thâu binh về dinh an nghỉ.
Nói về quân lâu la khi khiệng đặt Tiết Côn đem về sơn trại, xúm lấy dao cắt dây trói, cắt cứa giây lâu đâu cũng còn ý đó. Tiết Côn mới nói với bốn tên đầu mục rằng:
- Ta vẫn nghe muốn phá đổ yêu pháp thì phải dùng máu chó mực mới đặng xong.
Quân lâu la vâng lệnh lật đật đi kiếm chó mực cắt cổ lấy máu trâu phết cùng mình, rất đỗi hôi tanh, mà mở cũng không đặng. khi bọn lâu la đã hết phương cứu giải, bèn mắng chửi Chung hậu om sòm, kế thấy trời đã hoàng hôn, quân lâu la dọn bày một tiệc rượu. Tiết Côn mới uống vào đặng vài chén, bống thấy nhức ngứa cùng mình, ngồi đã không yên mà nằm cũng không an chỗ. Tiết Côn đành sanh ra một chước dặn dò đầu mục chờ đến sáng mai, sắp đặt hai ngàn người trong mình giấu những đồ bính khí, kéo xuống dinh Tề năn nỉ cầu xin giải thoát tiên thằng, phải y kế thi hành, chớ có sợ lâu. Còn Chung hậu khi thâu binh về dinh đã được môt đêm, rạng ngày thăng trường, phân cắt tam quân như vầy: Tam viên dõng tướng mỗi người lãnh một ngàn binh, mai phục bốn hướng, chờ có hiệu pháo, áp ra vây đánh cùng cường đồ, lại truyền quân giữ gìn dinh cho nghiêm ngặt, hễ có sơn tặc tới thì chỉ cho một mình Tiết Côn vào ra mắt thôi. Còn như ở ngoài thấy quân giặc động tịnh thế nào, thì phát pháo cho mau và đồng lực trừ loài Tiết khấu.
Các tướng đều vâng lệnh cúi đầu, ai lo theo bổn phận nấy. Xếp đặt sau trước vừa xong, quả thấy Triệt Long tặc kéo xuống một tốp lâu la, tay cầm cờ đầu hàng, lướt tới dinh Tề quỳ mọp. Quân giữ dinh vào tâu lại. Chung nương nương truyền chỉ cho vào. Tiết Côn cả mừng lấy làm đắc kế. Kế đó bốn tên đầu mục đỡ Tiết Côn vào trướng Huỳnh la trường quỳ xuông tâu rằng:
- Sơn tặc là Tiết Côn xin cải tà quy chánh, muôn trông vào Quốc mẫu, xin khoan giải tiên thằng.
Chung hậu đã biết kế trá hàng, thấy mặt Tiết Côn liền cười chúm chím và kêu Tiết Côn nói rằng:
- Nếu mi dốc long quy thuận, phải thế thốt làm sao ta mới tin.
Tiết Côn túng thế phải nói dối rằng:
- Muôn tâu Quốc mẫu như ngày sau tôi có trở lòng phản trắc, thì chạy vào trong tòng lâm lãnh mang tai.
Chung quốc mẫu nghe thì đã rõ lừa dối, nhưng nghĩ mình tinh thông pháp thuật, dầu Tiết Côn có trăm lòng phản nghịch đi chăng nữa thì cũng không nao núng. Nghĩ rồi bèn niệm châm ngôn, mở tiên thằng cho Tiết Côn. Tiết Côn đặng thong thả cả mừng, đứng dậy ngó bốn bên không ai, thì miệng kêu mắng xủ phụ om sòm, còn chân thì bước lìa ra khỏi cửa. Kế sẵn có quân lâu la tiếp ứng, liền cầm thương lên ngựa đánh trước. Chung hậu cũng lên ngựa hươi đao rượt theo, đuổi Tiết Côn ra khỏi cửa dinh, bọn lâu la áp lại phủ vây tứ phía. Chung hậu một mình tả xung hữu đột, thoát ra trùng vây, quân giữ dinh thấy vậy mới hay, phát pháo lên làm lệnh, bốn hướng phục binh áp đánh, giết quân lâu la thây nằm đầy đất, máu chảy đỏ bờ. Tiết Côn liệu thế khó đương cự, bèn đánh phá một huyết lộ mà chạy. Khi Tiết Côn chạy khỏi được chừng mười dặm, day đầu ngó lại, thấy đạo binh mình còn hai trăm lâu la theo sau. Đang lúc than thở bỗng thấy Chung hậu cưỡi ngựa đến đón trước đầu. Tiết Côn thất kinh đánh nhau hơn ba trăm hiệp. Chung hậu bèn trá bại, quất ngựa buông cương, Tiết Côn tưởng thiệt, có lòng mừng, liền giục ngựa rượt theo. Chung hậu thình lình động niệm chân ngôn, hóa ra một rừng tòng rất ư là u nhã, chim kêu vượn hú, gió thổi thông reo. Tiết Côn ngó thấy Chung hậu vào rừng ấy thì cũng rượt theo khi đến chỗ rậm kia Chung hậu liền biến mất, Tiết Côn ngẩn ngơ giữa rừng, bỗng thấy hai bên có hai cây tòng ngã xuống một lượt đè mình chặt cứng.
Tiết Côn khi ấy la ré om sòn, rồi mới nghĩ rằng: Người sanh hết nết trăm thì thì chết hết trăm tật, có nguời chết chém chết đâm, có kẻ chết trói chết bệnh, nhưng cũng được chữ sanh thuận tử an, còn ta nay chết nơi tòng lâm này, thiệt là tức tối lắm! Nghĩ rồi lại khóc, phút đâu trận gió thổi qua, đá bay cây ngã, trong rừng nhảy ra một con cọp, nhăn răng múa vuốt, làm bộ rất dữ dằn, dường như muốn tới ăn thịt Tiết Côn vậy. Khi ấy Tiết Côn nói:
- Bớ con nghiệt xúc, như mạng ta tới số rồi thì tới ăn đi, chẳng nên nhảy nhót làm gì cho ta kinh hãi.
Nói vừa dứt lời xảy nghe nhạc chuông ngựa kêu vang, giấy phút Chung hậu đã đến trước mặt kêu và hỏi rằng:
- Sơn tặc, sao ngươi còn nằm đó, không lên ngựa đánh với ta ít trăm hiệp nữa chơi?
Tiết Côn nghe hỏi đáp rằng:
- Ta nay bị khốn nơi cội tòng, cử động không nổi, như đó chẳng có dung tình, chém giết chi mặc lòng, chớ có nói nhiều lời xóc óc.
Chung hậu cười và nói rằng:
- Cũng bởi mi nói liều nên mạng họa khi không. Mi thề: Như sau này có phản lòng, thời bị cây tòng đè chết, quỷ thần đã phán xét, mi khó lẽ dối trời, như bây giờ mi có nghe lời thì phải chân tâm quy phục.
Tiết Côn nói:
- Muôn ơn Quốc mẫu rộng lượng tha thứ, tôi chẳng dám sai ngoa, quyết một lòng ưng thuận.
Chung hậu nói:
- Không được buông trôi, phải thề chắc lời mới đặng.
Tiết Côn nói:
- Xin quỷ thần chứng giám, cầu trời Phật chứng trị, nếu sau lòng tôi có sai đi, phải bị chết trầm nơi đáy biển.
Chung hậu đã hả dạ, nhưng phải thứ tha bèn biểu Tiết Côn nhắm mắt chớ có mở ra, rồi niệm ít câu chú lầm thầm, lúc thì núi tòng biến mất, Tiết Côn mở mắt ra xem, thấy một khoảng đồng trống đất bằng, không thấy có một cây tòng nào hết, thương mã cũng y nguyên. Tiết Côn bèn nghĩ thêm rằng: Như vậy con xủ phụ dùng yêu thuật mà làm khốn hại mình, chớ chẳng phải tòng lâm, cũng không phải mãnh hổ nào tới đây. Thiệt lòng ta không phục quyết sanh tử một phen này. Nghĩ rồi lại cầm thương múa đánh. Chung hậu nói rằng:
- Phen này là hai lượt, mi thề dối với ta, gớm thay phản phúc lòng tà, giận bây mang lòng phản nghịch.
Chung hậu nói rồi lướt đánh. Tiết Côn đưa thương ngăn trở, dánh hơn hai mươi hiệp, Chung hậu giả thua nữa, giục ngựa chạy vòng ra phía sau núi, Tiết Côn thấy vậy cười ngất nói rằng:
- Nhục huyền hổ khấu, đố chạy đâu cho khỏi tay ta, Triệt Long vốn chỗ núi nhà, xủ phụ hẳn đã tới số.
Tiết Côn lấy làm đắc kế, buông ngựa đuổi theo. Chung hậu liền niệm lục giáp linh thần, tức thì đất bằng hóa ra biển lớn, trước mắt nước dồi sóng dợn, đầy tai đánh bủa ầm ầm, nào hay Chung hậu lập tâm, để cho Tiết Côn đuổi theo. Khi Chung hậu tới nới bãi biển, giả buông lời kêu réo chân trời, Tiết Côn giục ngựa đến nơi, nghe hết mấy lời than của Chung hậu. Chung hậu khi ấy giả liều mình nhảy xuống nước người và ngựa nổi linh đinh, Tiết Côn cũng quyết chẳng dung tình, cũng nhảy ào xuống sông cầm cho đặng, Chung hậu thấy Tiết Côn đã nhào xuông biển, mới nổi lên mặt nước kêu hỏi rằng:
- Bớ thằng sơn tặc mày quyết bắt cho được ta hay sao?
Nói rồi đánh ngựa một roi, chạy lên khỏi mặt biển, miệng thời hô niệm thần chú, đòi Thổ địa ở Triệt Long sơn bảo hóa ra một ông đạo già, chèo thuyền đi câu giữa biển.
Tiết Côn thấy Chung hậu đã mất, thì nổi giận căm gan, ngặt vì hết kế liệu toan nên phải cắn răng mà chịu. Tiết Côn đang lúc nguy cấp, lại bị nước dầm sóng bủa, may đâu xem thấy có ngư ông. Tiết Côn hết sức mừng lòng, cả tiếng kêu xin cứu mạng. Ngư ông nghe kêu bèn chèo thuyền bay tới hỏi rằng:
- Chẳng hay tướng quân tên họ là chi vì làm sao mà bị chìm nổi giữa biển này, xin người hãy bảy tỏ khúc nội, thì tôi mới chịu.
Tiết Côn đáp rằng:
- Chẳng giấu chi lão phu, tôi thiệt là Tiết Côn trại chủ, ở núi Triệt Long vì đánh với Tề quân, lầm tay Chung Vô Diệm, hóa ra sóng biển toan hại tôi, may có ông đi qua đây xin người ra ân cứu giúp, rồi bạc tiền sẽ thù tạ, cho chẳng thiếu chi.
Ngư ông nói:
- Việc cứu này rất dễ, tướng quân chớ lo chi, hiềm vì thuyền nhỏ như mo, chở cả ngựa cả người không đặng, xin đó đừng quản ngại, bỏ ngựa lại mới xong.
Tiết Côn nói:
- Ngựa này trong đời ít có, tên kêu là Bát sơn ngọc, sức đi ngàn dặm trong một giờ, lâu nay trăm trận đều nhờ có nó, như bây giờ mà bỏ lại thì thiệt thương tiếc vô hồi.
Ngư ông nói:
- Nếu tướng quân không chịu bỏ ngựa, ta đâu dễ để hại tới ta sao?
Nói rồi quay thuyền chèo đi, Tiết Côn kêu la lắm, mới trở lại. Tiết Côn khi ấy cực chẳng đã phải để con ngựa lại biển sâu, rồi lội leo lên thuyền ngó chừng con ngựa, thấy nhào lên hụp xuống thì nát ruột héo gan! Còn ngư ông chèo đi một đỗi mới đòi tiền mướn. Tiết Côn đáp răng:
- Tôi chẳng phải khách thương mà sẵn có tiền bỏ túi, để chúng tôi về sơn trại bao nhiêu tôi sẽ đền ơn.
Ngư ông nói:
- Như tướng quân không có tiền bây giờ thì phải thế đồ thế đạc, bằng không điều ấy, ắt phải xuống khỏi thuyền, chứ ngồi một mình cũng không đặng.
Tiết Côn nói:
- Ngư ông sao bức tôi cho thái quá, thiệt trong mình chẳng có vật chi còn những thương giáp bộ tùy đề phòng khi hoạn nạn mà thôi.
Ngư ông cả giận mà nói rằng:
- Mày là đồ nghịch đảng, sao không biết trả ân, bạc tiền chẳng có một phân, thương giáp cũng không chịu thế, thôi xuống phứt cho khỏi thuyền, để thuyền không lão đi kiếm cá.
Tiết Côn thái quá nổi nóng một khi rút gươm ra toan chém. Ngư ông thấy vậy nhảy xuống biển tức thì. Khi ấy Tiết Côn xem ngó tứ bề thấy mênh mông trời biển. Giây lát ngư ông lại nổi lên, mắng chửi Tiết Côn om sòm, rồi hụp lên hụp xuống ba bốn lần, chìm đi mất. Thình lình rời nổi dông tố, sóng dập thuyền hư, Tiết Côn lật đật cỡi đồ xiêm giáp ra mà xảm trét, nhưng mà bị sóng lớn quá, xảm mấy cũng không rồi, nước vô đầy thuyền ngập sạp. Tiết Côn hết sức phải thôi, vịn lấy thuyền mà rồi than thở. Khi ấy Tiết Côn van vái chín phương Trời mươi phương Phật và cầu cùng chư vị thánh thần, xin cho biển lặng sóng êm, thoát khỏi mồm tôm miệng cá, trở về núi làm chay khánh hạ, cùng lập đền đài bái tụng thần ân. Đương khi van vái xa gần, bỗng nghe tiếng đồng la nổi chập. Tiết Côn bèn ngó lại, thấy có chiếc quan thuyền chèo gần tới, có treo cặp lồng đèn vẽ phuợng, rõ ràng một chiếc thuyền rồng, quân gia hầu hạ rất đông, khi tới sắp bày tề chỉnh. Tiết Côn cả mừng, kêu mà nói rằng:
- Bớ thuyền quan gia! Xin tới đây cứu mạng.
Quân thủy thủ nghe kêu bèn chèo thuyền ghé lại cho Tiết Côn bước qua, rồi hỏi rằng:
- Ngươi hà cớ gì lại bị ở đây mà kêu cứu mạng? Bộ thằng này mặt phản hãy quỳ tới gần đây, để ta tâu với nương nương hay, còn ngài dậy lẽ nào cho biết.
Tiết Côn khi đó quỳ lạy trước mũi thuyền, chờ cho quân vào phi báo. Giây phút cung nga hai bên đứng dẹp, bước ra một vị phu nhân kêu hỏi rằng:
- Bớ thằng kia! Làm gì mà cúi đầu như vậy?
Tiết Côn nghe kêu hỏi bèn ngửa mặt ngó lên thấy diện mạo một vị phu nhân dữ dằn, thì đã biết là Chung quốc mẫu, miệng tuy há mà chẳng ra lời, mắt nhìn sững, lặng thinh không nháy. Chung hậu khi ấy kêu và nói rằng:
- Bớ Tiết Kế Nguyên! Mi tới đây có việc gì? Sao không trở về sơn trại?
Tiết Côn nghe nói tức giận ứa gan, mà chẳng dám trổ hình cứ cúi đầu giả lạy lia lại mà thưa rằng:
- Trăm lay Quốc mẫu, xin mở lượng hải hà thứ tha cho tiểu bối, tôi cam chịu tội, muôn thác đã dư.
Chung hậu nói:
- Mày là thằng phản phúc, nếu cứu mày cũng đã uổng công, mày mà ra đặng khỏ vòng thì cứ việc giở theo thói cũ.
Tiết Côn khi ấy thề thốt hết lời.
- Như ngày sau có đổi dời, muôn kiếp trầm luân nơi đáy biển.
Chung hậu cũng biết Tiết Côn còn phản nữa, nhưng vì quan dĩ đắc, nhất tướng nan cầu, nên phải dằn lòng làm cho Tiết Côn tâm phục. Suy nghĩ xong rồi, bèn kêu Tiết Côn mà nói rằng:
- Như mày đã chánh tâm quy thuận thì ta sẽ cứu nể tàn sanh, vậy phải nhắm mắt chờ xem, để ai gia tác pháp.
Tiết Côn vâng mạng nhắm mắt lại rồi. Chung hậu tay cầm cây bửu kiếm niệm châm ngôn liền thấy một khoảng đồng bằng, chẳng có sông biển chi hết. Tiết Côn mở mắt ngó cùng, thấy ngựa còn ăn cỏ trên núi, khôi giáp đều treo bên rừng nhỏng nhảnh, còn mình thì ngồi trong quách nhỏ ở tại nơi gò mã đất. Tiết Côn khi ấy đứng dậy giả cúi đầu lạy tạ ơn, rồi đi lấy thương mà mặc vào xong xuôi, bèn đứng ngậm ngùi suy nghĩ một hồi, rồi nhảy lên ngựa cầm thương giục tới, cả kêu xủ phụ mà hỏi rằng:
- Sao ngươi dùng thuật hại ta?
Chung hậu thậy vậy thì cười và nói:
- Ta biết mày là đổ phản nghịch, tha giết mi đã mấy lần sao mi chẳng biết ăn năn, mà cải tà quy chánh?
Tiết Côn nói:
- Như ngươi muốn ta quy thuận thì chờ kiếp khác sẽ hay, chừng nào vua Thập diện diêm vương biểu ta thời mới chịu, chớ bây giờ ở trên dương thế ta đâu phục Tề bang.
Chung hậu cả giận, hươi đao đâm tới. Tiết Côn cũng múa côn đâm nhầu, lại đánh hơn ba trăm hiệp dư nữa. Chung hậu cũng bỏ chạy. Tiết Côn dừng ngựa lại nghĩ rằng: Con xủ phụ trá bại, toan làm khốn hại mình, chẳng theo nó làm gì, vậy phải trở về lo kế khác.
My company: www.procard.com.vn
0
CHUNG VÔ DIỆM

Dịch: Tô Chẩn


HỒI THỨ BỐN MƯƠI

XEM CẨM NANG, LÃO VƯƠNG THI KẾ
TIN NGỌC DỤ, LIÊM SOÁI DỜI BINH

Khi Thanh Hổ tử trận, binh Tề vỡ chạy tứ tán. Lão vương ở trên địch lầu xem thấy, té xỉu xuống ngai, tưởng cũng chết luôn, bá quan xúm lại cứ hồi lâu mới tỉnh, bèn thở ra một tiếng rồi khóc òa, là bởi thương tiếc Thanh Hổ trung lương, còn căm giận Tề vương say mê tửu sắc, mới nghĩ rằng: “Nay Tề vương nó ở Đàm Thành cho vui sướng, để cho ta lo lắng một mình, nếu như Liêm Pha nó đánh phá không tha, chắc lão già này xẻ thịt”. Đương lúc ngồi suy nghĩ chẳng biết tính kế chi, sực nhớ lại Yến Anh ra đi có để lại một phong giản thiếp và dặn khi nào có việc sẽ mở ra coi, nay công việc đã hẹp hòi, truyền nội thần vào bì các lấy giản thiếp đem xem. Nội thần vâng lệnh lấy xem thấy bài thơ như vầy:
Vì ai gây hoạn. Giang sơn chẳng thái bình.
Thành Lâm Tri bị khốn, Liêm Pha giỏi dùng binh.
Thanh Hổ đã tới số. Bá quan chớ hãi kinh.
Thành trì nên cố thủ. Chẳng cùng nó giao chinh.
Cẩm nang này để lại. Chữ nghĩa đủ phân minh.
Vua Tề đi tị nạn. Bá tánh khỏi tai tinh.
Lão vương coi rồi mới nghĩ rằng: Quân sư là người suy đoán âm dương giỏi lắm, nay biểu ta như vầy ta phải theo ý mợi đặng. Nghĩ rồi liền truyền cho văn võ hộ giá ra đứng trên cửa thành, kêu Liêm Pha nguyên soái tới nói chuyện. Liêm Pha nghe tiếng trên thành kêu mình bèn ngửa mặt ngó lên thấy một người đã có tuổi, râu lại năm chòm diện mạo rất phương phi, đầu đội mão kim quang, mình mặc áo cẩm bào oai nghi lẫm lẫm bèn hỏi rằng:
- Người ở trên thành tên gọi là gi, kêu ta có việc chi xin nói?
Lão vương đáp rằng:
- Ta là Vương thúc của Tề vương, quyền coi việc chánh nước, vì Tuyên vương lánh nạn tới Đàm Thành, như Nguyên soái có vây hãm Lâm Tri thì cũng tốn công mệt sức, một lời lão nói chắc, chẳng phải đứa tiểu nhân, khuyên đó hãy dời quân, tới Đàm Thành thì biết.
Liêm Pha nói:
- Như Lão vương nói thiệt, thì bổn soái cũng nghe, nếu tới Đàm Thành không có Tuyên vương bổn soái ắt không phương dung thứ.
Lão vương thề thốt hết lời. Liêm Pha hết lòng mừng rỡ! Hồi sau truyền lệnh triệt binh chỉ Đàm Thành tấn phát. Quân Triệu đi không mấy ngày thì tới Đàm Thành, Liêm Pha truyền lệnh an dinh, rồi sai bốn con mình đi bốn cửa thành vây chặt, chẳng cho một người lọt ra khỏi vòng, nếu ai sơ lậu thì phải xử theo quân lệnh. (Ấy là binh pháp của Liêm Pha nghiêm minh dầu cho cha con cũng không vị tình, nên người ta gọi là: Liêm Pha phụ tử binh). Bởi cớ ấy cho nên quân sĩ nhất tâm, đánh đâu thắng đó. Bốn người con vânh lệnh, chia binh đánh bốn cửa, còn Liêm Pha thì ở trong dinh làm ứng viện.
Lúc ấy Tuyên vương ở nơi hành cung, xảy thấy quan Tổng binh ở Đàm Thành vào tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ, nước Triệu sai Liêm Pha tới đánh Lâm Tri, nay lại dời binh tới đánh Đàm Thành, xin bệ hạ định đoạt.
Tuyên vương nghe tấu cả kinh, liền dắt tay Yến Anh và bá quan lên địch lầu mà xem thế giặc. Thấy binh Triệu nhân cường mã tráng, đội ngũ chỉnh tề, vây chặt Đàm Thành một mảy lông chẳng lọt. Vua tôi đều lo sợ hãi hùng, rồi sau đó liền dẫn nhau xuống địch lầu hết. Qua ngày hôm sau Liêm Pha khiến Liêm Cang dẫm tám viên chiến tướng và năm trăm dũng sĩ tới cửa thành phía Tây mà hạ chiến thơ, Liêm Cang vâng mạng, tới kêu tướng giữ trong thành biểu rằng:
- Phải vào thông báo cho vua Tề hay, mau bó tay chịu trói và đem Chung xủ phụ ra đây, bằng không thì khó toàn tánh mạng.
Tướng giữ thành đem lời ấy vào tâu lại. Tuyên vương lấy làm buồn rầu, không biết sai ai đánh lui binh Triệu, vừa lúc ấy có một tướng bước ra tâu rằng:
- Ngu thân xin ra trận chém tướng lập công.
Tuyên vương coi lại là cháu mình tên Điền Bưu làm chức Đàm Thành Tổng trấn. Tuyên vương bèn dặn rằng:
- Ngự điệt có ra binh, phải đề phòng cho lắm mới đặng.
Điền Bưu cúi đầu vâng mạng, phát pháo mở cửa thành xông ra. Liêm Cang xem thấy rõ hỏi rằng:
- Tướng ra đó tên họ là gì?
Điền Bưu đáp:
- Ta là ngự điệt Tuyên vương làm Tổng trấn tên là Điền Bưu, mày mau xuống ngựa đầu hàng kẻo nhọc công ta ra sức.
Liêm Cang nói:
- Sự chết đã treo sau gót, mà còn múa miệng khua môi, ta quyết chẳng dung tay, đâm mày cho đổ ruột.
Nói rồi hươi đao tới đâm đùa. Điền Bưu cũng đưa thương ra đỡ, đánh hơn năm chục hiệp. Điền Bưu cả thua quày ngựa chạy dài. Liêm Cang giục ngựa chạy theo, đâm Điền Bưu té nhào xuống ngựa chết tốt. Liêm Cang vừa muốn cắt lấy đầu, kế bị quân Tề áp ra một lượt, giật thây Điền Bưu đem về thành phi báo. Liêm Cang thừa thắng giục binh tới khiêu chiến nữa, Tuyên vương khi ấy mới hỏi Yến Anh rằng:
- Nay ngự điệt đã tử trận rồi, còn có ai dám ra cự địch chăng?
Hỏi vừa dứt tiếng, xảy có một viên tướng chiến bước ra lãnh mạng. Tuyên vương xem lại người ấy làm chức Phó đô, tên An Thế Kỳ. Tuyên vương bèn cho đi. Thế Kỳ cúi đầu vâng dạ lui ra, cầm đao lên ngựa, phát pháo mở cửa xông ra trận. Liêm Cang xem thấy tướng Tề đầu đội mão vàng, mình mặc hồng bào kim giáp, râu dài mặt đen, tay cầm đại đao, mới hỏi rằng:
- Tướng kia tên họ là gì, mau xưng ra mà chịu chết.
Thế Kỳ đáp:
- Ta làm chức Phó đô, An Thế Kỳ là tên, mỗ quyết ra đây bắt thằng tiểu súc trả thù cho Điền Bưu.
Liêm Cang cả giận, hươi thương đâm đùa. Thế Kỳ cũng đưa đao ra rước đánh, hơn năm chục hiệp mà chưa định hơn thua, Liêm Cang liền sanh ra một kế, đâm bậy một thương quất ngựa chạy dài, Thế Kỳ tưởng thiệt, cũng giục ngựa đuổi theo, gần tới phía Tây môn trận của binh Triệu, Liêm Cang chỉ lén một cái, ngàn cân hỏa pháo liền bắn ra một lượt như mưa, An Thế Kỳ vừa người vừa ngựa đều tan xác, quân Triệu thừa thế đánh giết binh Tề, đuổi về tới cửa thành. Quân kỳ bài vào phi báo cho vua hay, Tuyên vương khóc lóc một hồi, thương tiếc Thế Kỳ là một người gan đồng dạ sắt, vì nước bỏ mình nơi chốn sa trường, chết một cách thảm thiết như vậy! Đương lúc than vắn thở dài, bỗng thấy một tướng tên Tiêu Bá bước ra tâu rằng:
- Xin chúa thượng đừng sợ, hao tổn mình rồng, tôi tuy bất tài cũng xin liều mình ra đền nợ nước.
Tuyên vương chuẩn tấu. Tiêu Bá tạ ơn cầm kích lên ngựa, dẫn theo một trăm tướng và năm trăm dũng sĩ phát pháo mở cửa thành xông ra. Liêm Cang xem thấy tướng Tề, đầu đội kim khôi, mình mặc lục bào huỳnh giáp, mặt như tô phấn, môi tợ thoa son, tướng mạo đường đường, oai phong lẫm lẫm, bèn hỏi lớn rằng:
- Tướng Tề tên họ là chi, nói đi kẻo chết oan mạng?
Tiêu Bá đáp:
- Ta tên Tiêu Bá, làm chức Chưởng quân môn, còn mi sao dám dùng hỏa pháo ám hại tướng ta, quyết giết ngươi phen này mới đành lòng dạ.
Nói rồi liền hươi cây phương thiên kích ra đỡ, hai đàng đánh nhau hơn năm chục hiệp, sức cũng cầm đồng. Liêm Cang liền sanh ra một kế, tay trái thì cầm thương đỡ gật, còn tay mặt rút cây roi sắt ở sau lưng ra, đánh cây kích của Tiêu Bá một cái, gãy làm hai đoạn, Tiêu Bá tay không, chẳng có vật chi mà ngăn đỡ, lại bị Liêm Cang đánh bồi một roi nữa bể đầu, té nhào xuống ngựa chết tốt. Quân kỳ bài chạy vào phi báo, Tuyên vương chết điếng không biết tính làm sao, bèn hỏi chư tướng rằng:
- Chúng khanh có mưu kế chi hay, lui binh Triệu mà bảo hộ giang sơn chăng?
Nói vừa dứt lời có một tướng bước ra tâu rằng:
- Ngu thần xin lãnh mạng, bệ hạ chớ lo âu.
Tuyên vương nói:
- Như tướng nào có giao phong phải cho cẩn thận, chớ thằng nhỏ đó, thiệt là lợi hại vô cùng, dòng dõi của Liêm Hùng vẫn thiệt con nhà tướng.
Triệu Hựu tâu:
- Xin bệ hạ hãy bảo trọng long thể, để ngu thần bắt thằng nhỏ ấy mà báo cừu.
Nói rồi nai nịt, cầm đao lên ngựa dẫn theo năm trăm quân tâm phúc, phát pháo xông ra, hỏi rằng:
- Bớ thằng nhỏ kia! Mày biết ta là ai không? Ta nay làm chức Tổng binh, trấn thủ tại Đàm Thành, tên là Triệu Hựu, dân chúng thảy đều kính, sao ngươi chưa xuống ngựa nạp mình kẻo nhọc ta ra sức.
Liêm Cang thấy tướng Tề, đầu đội kim khôi, mình mặc liên hườn giáp, tay cầm đại đao, rất mạnh mẽ, mới đáp rằng:
- Ngươi đừng có phách để ta đưa về âm phủ cho rồi.
Triệu Hựu cả giận, hươi đao chém đùa, Liêm Cang cũng hươi thương rước đánh hơn một trăm hiệp, chưa định hơn thua. Liêm Cang dùng kế trá bại mà chạy qua phía đông, là chỗ giáo đội của Triệu binh mai phục, Triệu Hựu vô ý cứ theo đuổi hoài, vừa gần tới nơi quân pháo thủ bắn ra một lượt. Triệu Hựu bị đạn mà chết. Liêm Cang bèn quày ngựa trở lại, đánh giết binh Tề, rượt tới dưới thành khiêu chiến nữa. Quân kỳ bài đem việc ấy vào tâu cho vua hay. Tuyên vương thất kinh, té xỉu xuống đất, các quan đỡ dậy kêu cứu một hồi mới tỉnh, bèn thở ra mà rằng:
- Cũng vì trẫm say mê tửu sắc nên làm cho trong nước chẳng an, có ai mà phục đặng Liêm Cang thì trẫm sẽ chia hai bờ cõi.
Điền Năng khi ấy tâu rằng:
- Xin vương thúc hãy yên lòng ngu thần phen này xuất trận.
Tuyên vương nói:
- Như ngự diệt mà có xuất chiến thì trước hết phải đề phòng, như cháu phục nó chẳng xong, thì chú lại thêm lòng phiền muộn.
Điền Năng cúi đầu vâng mạng lui ra, cầm thương lên ngựa xông lướt trận đồ, tới kêu Liêm Cang mà rằng:
- Bớ Liêm Cang! Mày đừng khoe tài giỏi, trận này biết ai dở ai hay, mau xuống ngựa bó tay, nếu nghịch mạng ta phân thây muôn đoạn.
Liêm Cang nổi giận chẳng kịp hỏi tên, liền hươi thương đâm nhầu. Điền Năng cũng đưa thương rước đánh, một rồng một cọp chẳng ai thua ai. Tuyên vương ở trên vọng địch lầu xem thấy, Điền Năng thương pháp chẳng kém gì bèn khiến quân gióng trống mà trợ thế. Khi ấy Điền Năng đang giao trận say máu ngà, bỗng thấy tiếng trống giục trên thành thì đã biết ý, tinh thần càng thêm mạnh mẽ, đánh nhau hơn ba trăm hiệp mà thắng bại chưa phân. Liêm Cang tính kế trá bại, đặng dẫn dụ Điền Năng vào trong pháo đội, cho nên đâm bậy một thương rồi quày ngựa bỏ chạy qua phía tây. Điền Năng giục ngựa đuổi theo. Liêm Cang đã có ý mừng thầm, không dè Điền Năng đuổi được nửa đường sực nhớ bốn tướng trước bị chết, liền lui ngựa trở lại, thâu binh vào thành. Liêm Cang thấy Điền Năng trở vào thành rồi, cũng quày ngựa trở về thuật lai hết các chuyện đánh với tướng Tề năm trận, giết đặng bốn người cho cha nghe. Liêm nguyên soái mười phần vui đẹp, liền truyền dọn tiệc hạ công ăn mừng việc thắng trận.
Tiệc rồi sai Liêm Cang tới thành mà khiêu chiến nữa, quân kỳ bài vào cho vua hay. Tuyên vương nói với bá quan rằng:
- Họa phước vô môn, duy nhân tự triệu, ấy vì trẫm mê hoa đắm tửu, đức mỏng ngôi cao, cho nên bữa ăn tiết Trung thu lại đem lửa đốt Chánh hậu, nếu như Chiêu Dương còn sống, thời nước Tề không đến nỗi này, còn Tiết Côn nó lại giẫn lẫy về Sơn Lăng mà giữ coi mồ mã, nếu nó đang còn phò tá, thời Liêm Cang đâu dám xưng hùng. Bây giờ phải viết một bức thơ biểu hàng, trói trẫm lại cho Liêm Pha phân xử, như vậy mới khỏi hại cho nội thành dân thứ, chư khanh hãy tính lẽ nào?
Yến Anh tâu rằng:
- Nếu bệ hạ bó tay mà hàng Triệu, thì giang sơn bỏ thác cho ai? Bây giờ phải treo miễn chiến bài, sẽ chờ ngày toan liệu.
Tuyên vương bất đắc dĩ cũng phải nghe theo, liền truyền lệnh cho quan Chánh ty, đem miến chiến bài ra treo ngoài cửa. Liêm Cang ngó thấy, liền trở về thưa cho phụ thân hay. Kế đó Liêm Pha sai quân về Hàng Đan báo tiệp.
Từ khi Tuyên vương treo miễn chiến bài rồi, bèn khiến quân sĩ trí thủ những đồ hỏa pháo, hõa tiễn gìn giữ thành trì, còn Liêm Pha cứ sai tướng tới công phá hoài, phá cũng không nổi.
Ngày tháng thoi đưa, từ bữa dẫn binh tới đánh Tề nay đã bàn ba tháng. Ngày kia vua tôi Tề vương đang ngồi bàn luận, bỗng cơ quan thủ thành vào tấu rằng:
- Nay trong kho lương tiền đã hết, dân hờn quân giận, kẻ khóc người than, quân sĩ đều ngã lòng sợ khi giữ thành không nổi nữa.
Tuyên vương nghe tấu ngửa mặt kêu trời hai hàng lụy ứa và nó chẳng ra lời, kế thấy quân kỳ bài vào báo nữa rằng:
- Liêm Pha đốc quân công thành rất gấp, xin bệ hạ toan định mưu chi đối địch.
Tuyên vương nghe báo ngơ ngẩn, giây lát kêu Yến Anh hỏi rằng:
- Tiên sinh ơi, nay trẫm bị vây tại đây, hầu gần ba tháng lương tiền đã hết, cứu binh cũng không, như vậy quốc phá thân nguy, nhơ danh muôn thuở, thôi chi bằng trẫm tự vẫn cho rồi, còn giang san còn mất phú thác cho trời, sống chịu nhục với người, chẳng hơn chết cho an phận.
Yến Anh tâu:
- Tôi chẳng oán Liêm Pha vây khốn, chỉ trách vì bệ hạ chẳng minh mà thôi, tôi đã can đừng sủng nạp Yến Bình, ắt có việc chiến tranh họa hoạn mà bệ hạ chẳng nghe, nay bệ hạ đòi tự vẫn, nếu vua chết thì tôi sống ở lại thờ ai? Còn bây giờ ngặt vì Trương phi còn ở lại tây cung, tôi e bệ hạ muốn chết mà chết không đặng, cũng bởi gây nên thù oán đem lãnh cung đốt ra tro, nếu như Chánh cung sống đến bây giờ thời bệ hạ cứ say mê tửu sắc.
Tuyên vương nói:
- Tiên sinh ơi, dầu tiên sinh với triều thần chẳng nói gì thì trẫm cũng đã biết rồi, vì trẫm hôn quân thâu công chúa thật tưởng làm vợ chồng, nay biết hối ngộ thì đã chẳng kịp, như tiên sinh có kế gì lương sách, quả nhân cũng phải vâng theo.
Yến Anh tâu:
- Bây giờ xin bệ hạ tha tội, thì ngu thần mới dám tỏ phân, có một vị cứu tinh, cha con Liêm Pha phải sợ, đã huy lui binh Triệu lại thêm tá trợ Tề bang làm cho xã tắc vững an ngàn danh thơm muôn thuở sử sách.
Tuyên vương nghe nói cả mừng, liền đứng dậy cầm tay Yến Anh mà rằng:
- Tiên sinh ôi, người cứu tinh đó tên là gì, bây giờ ở đâu, xin nói cho trẫm biết?
Yến Anh tâu:
- Tôi đêm xem tinh thượng, thấy Chung nuông nương còn sống ở dương trần. Như nuong nương chịu xuất thân, mới hay lui binh Triệu đặng.
Tuyên vương nghe nói lắc đầu mà rằng:
- Có khi tiên sinh sợ cha con Liêm Pha lợi hại nên phát bệnh điên cuồng hay sao? Chớ lúc trước trẫm đốt Chánh cũng đã cháy rụi. Chung hậu và cung nga đều chết hết rồi, có lẽ đâu đã thác mà sống lại bao giờ, thây xác thấy sờ sờ. Điền Công hãy còn giữ mả.
Yến Anh nghe vui nói cười và tâu rằng:
- Số là bệ hạ chưa thấy rõ pháp lực. Chung hậu tá hỏa liền bay về làng Pháp Mã, cung nga đều sống cả, chẳng hề chết một người, còn những thi hài là đồ bàn ghế, thiệt Chung hậu còn sống trên dương thế, như chẳng tin sai quan tới đó sẽ hay trước là cầu cứu người, sau nữa tỏ bày chân giả.
My company: www.procard.com.vn
0
CHUNG VÔ DIỆM

Dịch: Tô Chẩn


HỒI THỨ BỐN MƯƠI MỐT

GẠT LIÊM PHA, YẾN ANH LÀM KẾ
CỨU ĐÀM THÀNH, CHUNG HẬU DỤNG MƯU

Khi Tuyên vương nghe Yến Anh nói chắc chắn, trong bụng mừng khấp khởi, như người tỉnh giấc chiêm bao, bèn hỏi rằng:
- Trong triều thần có ai dám đột xuất trùng vi, tới Pháp mã thôn cầu cứu chăng?
Hỏi luôn ba bốn tiến mà chẳng thấy một ai trả lời. Yến Anh tâu rằng:
- Bây giờ muốn đi cầu cứu Quốc mẫu chỉ có ngu thần đi mới xong, nếu bệ hạ có sai ai thì cũng uổng công vô ích.
Tuyên vương nghe tâu mới nghĩ thầm rằng: Thằng lùn này thiệt gian xảo, chắc nó sợ chết đói trong này nên gạt ta ở lại dây để đi cho có chuyện. Nghĩ rồi bèn nói rằng:
- Tiên sinh ôi! Quả nhân mà có Thừa tướng cũng như người có tay chân, nay tiên sinh đi thì trẫm biết cùng ai lo việc nước?
Yến Anh tâu:
- Ngu thần có lòng phản bội, thời tử vu vạn nhẫn thiên đao, lời thề chừng có thiên cao, bây giờ muốn ra khỏi trùng vây thì phải dùng khổ nhục kế, xin bệ hạ đánh đòn tôi bốn chục, đuổi ra cho khỏi Đàm Thành, để tôi trá hàng Liêm Pha, chừng đó sẽ kiếm cớ nhi động.
Tuyên vương nói:
- Quả nhân thà cam chịu chết, chẳng nỡ nào mà đánh tiên sinh.
Yến Anh tâu:
- Xin bệ hạ đừng chấp nệ như vậy phải dung quyền biến nhứt thời, dầu ngu thần có tan xương nát thịt, cũng chẳng quản chi, miễn cho đặng vững an xã tắc.
Tuyên vương nghe Yến Anh nói hết lời, cực chẳng đã mới sai quân nội thị đè Yến Anh xuống đánh bốn chục hèo, thương hại cho người ngay vì nước, phải liều mình cho thịt nát da bay! Tuyên vương thấy vậy ruột đau từng đoạn, thương trung mắc nạn khi không. Đánh rồi, Yến Anh đứng dậy, máu chảy ròng ròng, Tuyên vương lại truyền cho nội thị đem văn phòng tứ bửu ra, viết một đạo ân chiếu mà giao cho Yến Anh, vua tôi đàm đạo xong rồi tới thẳng tây môn, quân giữ thành đã hay các việc, bèn thả điếu kiều cho Yến Anh xuống. Khi Yến Anh ra khỏi thành, nhắm ngay dinh Triệu mà đi tới, vừa đi vừa than khóc cùng mắng chửi om sòm lại trách Tề vương ăn ở bất nhân, đánh đến nỗi tan da nát thịt, đi chừng nào rên la chừng ấy. Khi đó quân Triệu đi tuần, nghe có tiếng người văng vẳng tới bắt đem về dinh.
Nói về Liêm Pha nguyên soái, từ khi vây hãm Đàm Thành tới nay đã gần ba tháng mà phá cũng chưa nổi. Bữa kia đêm khuya, cha con đang ngồi toan tính kế, xảy thấy quân vào tấu rằng:
- Nay tiểu quân đi tuần, bắt được một người gian tế, muốn làm thích khách, xin soái gia phát lạc.
Liêm Pha truyền lệnh dẫn vào, chúng quân bắt Yến Anh tới quỳ mọp dưới đất bẩm rằng:
- Tôi vốn thiệt là Yến Bình Trọng, làm quân sư cho Tuyên vương, vì vua tôi tửu sắc bất lương nên tôi phải đi đầu nước khác, xin soái gia ra ơn thâu dụng, tài tiểu nhân cảm đức vô cùng.
Liêm Pha nghĩ rằng: Yến Anh là người nhậm độn rất hay, mười hai nước thảy đều nghe tiếng, nay nó thấy Đàm Thành bị khốn nên kiếm chước mà thoát thân, tới đây nói dối với ta, đặng dòm hành quân đây. Nghĩ rồi bèn vỗ án mắng rằng:
- Yến Anh, sao ngươi lớn mật, dám tới đây mà dòm ngó dinh ta, đao phủ quân! Dẫn nó ra chém đầu, bêu trước quân môn làm lệnh.
Quân đao phủ áp lại núm tóc Yến Anh tức thì, Yến Anh lại quỳ mà kêu oan rằng:
- Dám bẩm nguyên soái, lời xưa có câu: Chim lành kiếm cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ. Lại có câu: Vua chẳng ngay thì tôi đi đầu nước khác, số là nguyên soái chưa rõ, để tiểu nhân phân lại cho tỏ tường. Vốn Tề vương là một đấng hôn quân, đêm này say mê tửu sác, tôi đã gián can năm bảy lượt mà Tề vương chẳng khứng nghe lời tới nay mà bị khốn trong Đàm Thành, tôi một hai tâu với vua, viết hàng biểu đem ra khỏi sự sanh dân đồ thán. Vua lại lấy ân làm oán, đánh tôi bốn chục roi, xin nguyên soái nghiệm lại mà coi, da thịt nát như tương bấy, vì cớ vậy đang lúc đêm hôn tối tăm, tôi leo thành mà trốn tới đây, xin soái gia xét sự gian nguy dẫu tiểu nhân có thác cũng cam nhắm mắt.
Liêm Pha nghe nói bán tín bán nghi, liền nói nhỏ với Liêm Cang rằng:
- Thằng lùn này xảo quyệt lắm, con phải tra xét cho kỹ càng, coi trong mình nó có việc gì cơ mật chăng?
Liêm Cang vâng lệnh lục hết trong quần áo chẳng thấy vật chi. (Nguyên lúc Yến Anh đi, Tuyên vương có viết một đạo ấn chiếu giao cho Yến Anh. Yến Anh là một người diệu toán như thần, trước khi đi đã xé tràng áo mà giấu vào trong, rồi may lại như cũ, nên bây giờ Liêm Cang lục xét khắp cùng mà không thấy vật chi hết). Liêm Cang khi ấy cũng hỏi rằng:
- Yến tiên sinh là một cựu thần lương đống của Tuyên vương, có lẽ nào lại bỏ Tề mà qua đầu Triệu, chắc có cớ gì đó, hãy nói thiệt thì bổn soái sẽ tha cho.
Yến Anh đáp rằng:
- Đạo làm tôi dễ đâu chẳng biết, dầu sống thác cũng giữ một lòng phải lo vì nước hết trung lẽ đâu đi đầu hàng địch quốc, ngặt vì Tuyên vương tham dâm háo sắc, đốt lãnh cung mà giết Chánh hậu, binh đao bốn phía tưng bừng, quân dân thảy đều đem lòng sầu oán, nay Đàm Thành bị nạn tôi khuyên hàng mà lại chẳng chịu nghe. Giang sơn thổ võ Đông Tề chẳng sớm muộn cũng về tay người khác, xin nguyên soái ra lòng thương xót cho tiểu nhân đỡ vọt cầm roi kiếp này.
Yến Anh nói rồi khóc rống lên một hồi. Liêm Pha cũng động lòng tưởng thật mới nói:
- Như vậy Tuyên vương thiệt là vô đạo, làm cho khuất hại tôi ngay, phen này ta quyết ra tay, bắt cho được mới đành lòng dạ.
Nói rồi đứng dậy, xuống đỡ Yến Anh và mời ngồi, Liêm Cang khi ấy can rằng:
- Dám thưa phụ thân, thằng hoải tặc này lắm mưu thần chước quỷ. Nó đi trá hàng chứ chẳng phải chơi, nếu phụ thân tin lời, ắt giang sơn Triệu về tay nó.
Yến Anh nghe nói, mắt ngó lườm lườm và làm bộ ngẩn ngơ như điếc. Liêm Pha trợn mặt nạt con và nói rằng:
- Mày là đồ con nít, dám khi dễ hiền thần.
Mắng rồi liền day lại nói với Yến Anh rằng:
- Xin đại nhân miến chấp, đồ tiểu tử vô tri.
Yến Anh cũng làm bộ cúi đầu cảm tạ, rồi hai người ngồi trò chuyện với nhau kết thành anh em sinh tử, một lòng phò vui Triệu vững bền. Chuyện trò rồi truyền quân đặt bày hương án hai người đều thề nguyện với đất trời như sau có ai sai lời, thời lâm nguy hiểm chết một cách cực khổ (việc này Yến Anh thề dối, nên quỷ thần có biên chép rành rành, rồi sau đến đất Giang Nam bị lời thề ấy mà chết).
Khi hai người trích huyết giao thệ xong rồi. Yến Anh mới nói với Liêm Pha rằng:
- Như ngày nay nguyên soái muốn đánh phá Đàm Thành thì việc dễ như trở bàn tay, ngặt vì trong thành binh mã còn hơn mười vạn, lương thảo đồn trữ còn dùng được một năm, bây giờ tôi có một kế rất hay, không biết nguyên soái có bằng lòng chăng?
Liêm Pha nói:
- Đã làm anh em sinh tử rồi, như có kế nào cao minh, thì tiểu đệ cũng xin thính dụng.
Yến Anh nói:
- Nay lão Vương thúc là Điền Dưỡng, đang làm Nhiếp chính tại Lâm Tri, nếu soái gia để cho tôi đi, nói gạt lão rằng Đàm Thành đã phá, vua tôi đều bị chết rồi, còn một mình tôi trốn khỏi ra đây. Nói như vậy làm cho lão không biết ngõ nào, chừng đó tôi sẽ khuyên hàng Triệu quốc, như Lâm Tri lão đã quy phục, thời Đàm Thành cũng đã ở trong tay, tức là khỏi mệt nhọc tam quân, sau nữa mới tỏ lòng tiểu nhân chân giả.
Liêm Pha cả đẹp! Liền truyền quân lấy ra một lệnh tiễn, đưa cho Yến Anh, lại cho thêm hai chục lạng bạc, để làm tiền lộ phí. Yến Anh tiếp lấy tạ ơn, rồi nói với Liêm Pha rằng:
- Hôm nay tôi bị đòn nên chân không đi nổi, như có con ngựa nào xấu xí xin cho tôi mượn đỡ một con, đặng tôi đi cho mau, kẻo chậm trễ ắt cơ quan tiết lậu.
Liêm Pha hối quân lựa một con ngựa chạy thật giỏi, giao cho Yến Anh rồi hai đàng từ biệt. Yến Anh lên ngựa ra khỏi vòng binh vì có lệnh tiễn cầm tay, nên không ai ngăn trở, chẳng khác chi cáo ra khỏi lưới, chim đặng sổ lòng, đi đặng được một đỗi thì trời đã gần sáng. Khi Yến Anh ra khỏi rồi, trọng bụng mừng rỡ vô cùng. Quyết thẳng tới Sơn Lăng thông tin cho Điền Côn hay các việc.
Chẳng bao lâu đã tới nơi, bèn khiến quân vào nói với Điện hạ rằng:
- Có quân sư Yến Anh tới viếng.
Quân vào bẩm lại cho Điền Côn hay. Điền Côn lật đật chay ra nghinh tiếp, mừng rỡ vô cùng. Điền Côn hỏi rằng:
- Tôi nghe binh Triệu vây khốn Đàm Thành, vậy chớ quân sư tới đây có việc chi cơ mật chăng?
Yến Anh làm bộ khóc lóc mà đáp rằng:
- Đàm Thành bị vây gần ba tháng, không biết chết sống ngày nào, nay thiên tử viết một bức chiếu văn, sai tôi tới cầu cứu Chung quốc mẫu.
Điền Côn nói:
- Chung quốc mẫu đâu còn mà quân sư đi cầu cứu?
- Chung hậu thần thông biến hóa, pháp lực cao cường bữa lửa cháy chánh lãnh cung, thì thây hài đó thảy đều là đồ bàn ghế, còn Chung hậu người làm phép hỏa độn mà đi, bây giờ còn ở Thương Sơn, như điện hạ không tin sai quân mở quan tài thì rõ.
Điền Côn tức mình liền truyền quân bươi hòm lên mà coi lại, thì thấy quả tinh những là tro bụi trong hòm, chẳng có thi hài chi hết. Điền Côn cả mừng, truyền quân mở tiệc thưởng tài quân sư, rồi lại nói rằng:
- Như vương mẫu tôi còn nơi làng Pháp Mã, thì tôi ở đây chờ đợi ít lâu sẽ hưng binh về Đàm Thành mà cứu phụ vương tôi, xin quân sư tua khá hết lòng, kính lời dạy Nữ vương muôn tuổi.
Tiệc rồi, Yến Anh từ giã Điền Côn mà lên ngựa.
Đây nhắc về Chung hậu đương lúc ngồi tại hoa viên, bỗng thấy trận gió thổi tới, thì trong bụng đã xốn xang khó chịu, bèn đánh tay bấm một quẻ, thời đã biết Tuyên vương bị khốn gần ba tháng trời, nay người đã gần mòn hơi, nên sai Yến Anh tới đây cầu khẩn. Biết như vậy rồi liền bước vào trung đường thật hết mọi việc cho cha mẹ nghe, và dặn dò đừng tiếp rước vương sứ, phải làm như vậy... như vậy... Chung viên ngoại và phu nhân gật đầu y kế chờ Yến Anh tới thì sẽ thi hành.
Nói về Liêm Pha khi thả Yến Anh đi rồi, thì ngày đêm trông đợi tin tức Lâm Tri, mà chẳng thấy gì hết. Vừa lúc suy nghĩ xa gần, bỗng thấy quân thám thính vào báo rằng:
- Yến Anh chẳng có về Lâm Tri hổn hải mà cứ thẳng đường tới thông tin với Điền Côn nay lại đi Pháp Mã thôn, cầu cứu Chung Vô Diệm, chúng tôi rõ tin Vô Diệm còn sống, mai danh hương ngụ quê nhà, cúi đầu dưới trướng phân qua, hư thiệt xin soái gia tỏ xét.
Liêm Pha nghe báo hởi ôi! Liêm Cang vỗ ngực kêu trời mà thưa rằng:
- Con đã hết lời can gián mà phụ thân quyết một không nghe, thằng lùn nó dùng khổ nhục kế trá hàng, thoát khỏi trong vòng tên đá, như vậy chẳng khác nào tha hùm về núi, bọn ta e chết có ngày.
Liêm Pha khi ấy mới biết lầm tay giặc, bèn than thở khôn cùng, cha con bàn luận rất hãi hùng rồi truyền quân nỗ lực áp đến Đàm Thành công phá.
Đây nói về Yến Anh từ khi giã biệt Điền Côn, một mình một ngựa đêm nghỉ ngày đi, đã tới làng Pháp Mã mà hỏi thăm nhà Chung viên ngoại dắt ngựa vào cột nơi cội dương, rồi kêu Chung gia đinh mà nói rằng:
- Chúng bay mau vào thông báo với nương nương nói rằng có Tề quốc khâm sai đến, mau mau ra thiếp thánh chỉ, kẻo mang tội với triều đình.
Tráng đinh lật đật vào thuật lại cho vợ chồng Chung viên ngoại hay, vợ chồng có ý khen thầm, thiệt con mình thần thông quảng đại, bèn biểu tráng đinh rằng:
- Hãy mau ra nói lại, ta chẳng biết khâm sai là ai? Hãy biểu nó vào đây nói chuyện.
Tráng đinh vâng lời ra mời. Yến Anh vào giữa trung đường thấy hai vợ chồng viên ngoại đang ngồi bàn luận mà mặt mũi buồn rầu thì không biết cớ chi, bèn bước vào cúi đầu thi lễ ra mắt. Chung viên ngoại nói:
- Lão chào khâm sai, lão không thiếu lương, thiếu thuế, cũng không thiếu nợ nần ai, chẳng hay khâm sai tới có việc chi hãy nói cho lão nghe thử.
Yến Anh đáp rằng:
- Tôi là Tề Tuyên vương Tề phủ, quan nhất phẩm đương triều, vâng thánh chỉ tới đây, thỉnh Quốc mẫu hồi triều nghị sự.
Chung viên ngoại hỏi:
- Tiên sinh có phải là Yến Anh không?
Yến Anh đáp:
- Phải.
Chung viên ngoại nói:
- Lão già không biết, nhất lẽ viễn nghinh, vậy chớ nghe nói con gái lão vua phong cho nó làm Chiêu Dương chánh hâu, làm sao mà nó giàu sang an hưởng một mình, tám chín năm nay chẳng thấy hơi tin và cũng không báo bổ công ơn cha mẹ. Vợ chồng lão đêm ngày trông nhớ không biết nó bình an khương thời thế nào?
Yến Anh đáp rằng:
- Có ân chiếu ở đây xin Quốc trượng coi sẽ biết.
Chung viên ngoại hai tay tiếp lấy mở ra coi thấy lờ mờ bèn nói rằng:
- Lão nay già rồi, nhãn mục hôn hoa, một chữ ngó thành ba không rõ, xin Tề phủ làm ơn chịu khó đọc cho lão nghe tỏ rõ trước sau.
Yến Anh vâng lời tiếp lấy cúi đầu, đọc ân chiếu như vầy:
“Tề Tuyên vương Điền Hằng thủ bút, tả chiếu thư tỏ với ngự thê, vì quả nhân tửu sắc ca mê, đem lửa tới lãnh cung thiêu hóa. Tưởng chồng vợ đã phân đôi ngã, nào hay đoạn giả hồi gia, việc xong rồi mới tỉnh ra, biết sự quấy thì đà chẳng kịp. Nhớ Chánh hậu dạ như kim chích, ngó hoa viên với Bích vân cung, đêm ngày lòng lại giận lòng, bịnh phiền muộn khôn mong điều trị. Yến quân sư mới bày chung thỉ, tới Đàm Thành toan để giải khuây, sự bất kỳ binh Triệu tới vây, Liêm Cang thật là tay lợi hại, tướng Tề chẳng có ai địch lại càng thêm phách lối muôn phần, xin mau mau về cứu quả nhân, kẻo tính mạng hầu gần chín suối, chẳng nghĩ trẫm là người bạc bội, cũng thương vì bối rối dân trời. Yến quân sư thay mặt đổi lời, công đức ấy đời đời ghi tạc”
Khi Yến Anh đọc xong rồi. Chung phu nhân khóc ròng và chỉ mặt Yến Anh mắng rằng:
- Vua tôi bây đã giết con ta rồi, nay lại kiếm chuyện tới đây nói láo. Thằng lùn này! Hèn chi lời tục ngữ có nói: Người không đầy ba thước, bụng có một lưỡi đao, mầy đã giết con tao, còn tới đây múa mỏ. Con ôi là con ôi! Những tưởng vinh phong tông tổ, hay đâu bỏ mẹ lìa cha, thành Lâm Tri phảng phất hồn hoa, làng Pháp Mã bơ vớ phách quế, con ơi!
Chung phu nhân nói rồi cầm gậy đánh lên đầu Yến Anh. Chung viên ngoại liền cầm tay phu nhân lại mà nói rằng:
- Mụ này nóng quá, con mình nó đã chết, như mụ đánh Thừa tướng nó có sống lại được không? Làm vậy hóa mất hết lòng, xin quân sư tha lỗi.
Nói rồi dắt tay Yến Anh lên ghế, phân ngôi chủ khách mà ngồi, rồi kêu gia đồng khiến đem trà nước xong xuôi, đoạn hỏi rằng:
- Dám thưa cùng Thừa tướng, con tôi làm sao mà nó chết, còn bây giờ quân sư tới đây nói thỉnh Quốc mẫu mà lão chẳng biết Quốc mẫu là ai? Xin quân sư nói cho lão rõ.
Yến Anh đáp rằng:
- Dám thưa quốc trượng, giấu thì đặng chớ giấu tôi có đặng đâu. Sso là bữa Thiên tử đốt cháy lãnh cung, Chung nương nương đã tá hỏa bay về quê quán, tôi đã xem thiên tượng. Mão đoan tinh còn hãy sờ sờ. Chung hậu có chết đâu bao giờ, mà quốc trượng vu oan giá họa.
Kẻ nói không người nói có cãi lộn tối ngày, kế gia đinh dọn cơm bưng ra, Chung viên ngoại mời Thừa tướng dùng cơm nước xong rồi mới đưa tới thư phòng an nghỉ. Khi Yến Anh tới thư phòng nằm thổn thức, giấc điệp không an lại nghĩ rằng:
- Ta thuở nay đoán quẻ âm dương hay đà có tiếng, làm sao mà Chung viên ngoại lại nói là Quốc hậu không còn ở trên đời, hay là mình suy toán có sai lầm gì chăng?
Nghĩ hoài không ra cớ bèn bước tới trước sân thiên tượng thì thấy sao tướng tinh của Vô Diệm nửa sáng nửa mờ như có cái gì án lại, mới sanh ra một kế, giả làm bộ đi dạo chơi nơi huê viên, thấy có đường đi tắt ra phía sau, liền nương theo bóng trăng tà, lần qua đường ấy, tới nơi thấy một căn nhà tinh vắng, có quân tỳ nữ qua lại hai người, bèn núp vào bên vách tướng hoa lóng tai nghe nói, thời nghe rõ giọng đàn bà rằng:
- Bữa nay làm gì tối quá, bây giờ bây đem cơm tới đây.
Quân tỳ nữ đáp:
- Dám tâu nương nương, vì có khâm sai đi tới, chúng tôi mới lo cơm nước đãi đằng.
Kế lâu giây, nghe có tiếng hỏi nước, thì tỳ nữ bước ra khép cửa lại rồi thẳng lên nhà trên. Yến Anh ngẫm nghĩ hồi lâu, đánh liều tới gõ cửa, người trong nhà hỏi:
- Ai đó?
Yến Anh thưa:
- Tôi là tỳ nữ dâng trà.
Chung hậu vô tình bước ra, Yến Anh thấy liền quỳ xuống giữa đất tâu rằng:
- Mong ơn nương nương tha tội, tôi đà liều thác tới đây. Từ khi Thiên tử tỉnh say, đã biết mình làm sự quấy ấy, nay Liêm Pha cả dấy binh mã, vây Đàm Thành đã ba tháng rày, năm tướng giao chinh đã chết hết bốn người, sự nguy cấp như gươm đã kề cổ vì vậy nên ngu thần phải làm khổ nhục kế tới Triệu dinh giả chước quy hàng, xuất trùng vây mới tới đặng đây.
Yến Anh tâu rồi khóc òa. Chung hậu lại giả bộ mắng rằng:
- Lão này quỷ quyệt, ta đã ở nơi địa huyết giấu mình, làm sao lão dám tới hoa viên, lại làm bộ nữ tỳ dâng nước.
Yến Anh nghe la mắng chừng lại càng bộ khóc lớn hơn xin tha tội. Chung hậu thấy vậy cũng động lòng vì là biết vị trung thần, mà ra thân thể ấy, mới hỏi:
- Vậy chớ Điền Côn nó làm gì không lui đặng binh Triệu hay sao?
Yến Anh tâu:
- Từ khi lãnh cung bị hỏa, trào thần ai cũng tưởng Quốc mẫu đã về trời, ngu thần không dám hở môi. Điền Côn cũng nghĩ là thiệt, lòng hiếu tử cư tang khắp huyết ở Sơn Lăng gìn giữ một phần, chẳng bằng lòng đầu phục Tề quân, Thiên tử bị vây khốn mà Điền Côn làm bộ không hay.
Chung hậu nói:
- Quân sư ôi! Từ ngày ta làm phép hỏa độn, về tới quê nhà chẳng muốn thấy mặt hôn quân, tình chồng vợ như dòng nước chảy, quân sư hãy an tâm ở lại đây, Ai gia quyết chẳng dời chân đâu.
Yến Anh nghe nói hỡi ơi, bèn tâu rằng:
- Thiên tử lâm cơn hoạn nạn, sai ngu thần đưa án chiếu tới đây, nếu nương nương chẳng khứng ra tay, thời xã tắc Tề triều hư nát. Tuyên vương hồn về chín suối, thời nương nương cũng ngàn thuở nhơ danh, nếu nương nương không chịu cứu Đàm Thành, thì ngu thần ở đây sao đành nhắm mắt?
Yến Anh tâu rồi lại khóc một hồi nữa. Chung hậu thấy vậy cũng châu mày bèn nói rằng:
- Quân sư hãy về phòng an nghỉ, rạng ngày ta sẽ nói lại cho hay.
Yến Anh cúi tạ lui ra. Chung hậu đánh tay làm một quẻ, biết Liêm Pha đã rõ việc Yến Anh trá hàng đi cứu viện, nên cha con lúc này vây hãm thành rất gấp, dùng những đồ hỏa công, hỏa pháo, đánh phá liền đêm ngày, nếu hôm nay ta để trễ chầy, e khi Đàm Thành lâm đại bại. Làm một quẻ rồi liền niệm thần chú hô thần, đòi bốn vị Long vương tới, biều phải làm như vầy… như vầy… Bốn vị Long vương vâng lệnh lui ra. Chung hậu vào phòng an nghỉ.
Nói về bốn vị Long vương, vâng mạng đằng vân giá về tới Đàm Thành, ông thì làm mưa, ông thì làm gió, trước thì mưa tuyết, sau thì mưa đá, dinh trại Triệu đều hư sạch, còn đồ hỏa pháo hỏa tiêu thảy đều bị ướt mê man, quân sĩ thời run lập cập, gió thổi lạnh thấu tới tận xương. Liêm Pha thấy quân mình chịu lạnh không kham đều bỏ đồ binh khí chạy hết, bèn truyền lệnh chư tướng mở vây lui ra khỏi Đàm Thành ba mươi dặm hạ trại, kế đó trời vừa sáng. Liêm Pha tra điểm quân sĩ lại thì chết gần có hơn tám muôn. Liêm Pha thấy vậy cả buồn, viết một đạo biểu răn, sai quân về Hàng Đan xin thêm quân cứu viện.
Còn Yến Anh trở về phòng đêm đó nằm không nhắm mắt, một phần lo cho Tuyên vương đương bị khốn và lương thảo lại chẳng còn, một phần lo vì Chung hậu chẳng chịu phát binh, ắt sớm tối dây cơ nghiệp Tề trào hóa ra tro bụi. Mãi đương toan tính trời đà hừng sáng không hay, Yến Anh vội vàng sửa soạn cân đai, thẳng tới hoa lầu kêu nài nguy cấp. Khi tới nơi liền vào thẳng đã thấy Chung hậu ngồi giữa hoa đình, kêu Yến Anh nói rằng:
- Quân sư chớ sợ, Ai gia đã cậy bốn vị Long vương tới giải cứu Đàm Thành rồi.
Yến Anh liền cúi lạy tạ ơn và khen gợi khôn cùng! Kế đó Chung hậu liền sai cung nữ vào trung đường thỉnh Chung viên ngoại và phu nhân. Cung nữ vâng mạng vào thưa, hai vợ chồng bước tới hoa đình. Chung hậu bèn thuật lại hết các sự Yến Anh đi kiếm cho cha mẹ nghe, rồi thưa rằng:
- Nay quốc sự nóng như lửa đốt, xin song đường ở lại an dưỡng, để cho con đi cứu giá mới xong, nếu trễ nải thì ắt chồng nam vợ bắc.
Thưa rồi lại cho người đi mời Chung Long và Chung Hổ lại dặn rằng:
- Phận em là gái, ơn dưỡng sanh chưa chút vun trồng, mà hai anh xem xét ngoài trong cấp một huyện lương mà thị dưỡng.
Nói rồi liền tả chiếu văn, giao cho quan huyện, cứ thường năm thâu nạp hẳn hoi, lại cho đòi ba mươi hai cung nữ tới dạy rằng:
- Nay ai gia phải đi cứu giá, còn chúng bây ở lại Thương Sơn, phải kiếm nơi phối lương duyên, tiền bạc cấp mõi người ngàn lượng.
Chung hậu dặn dò các việc xong rồi liền tới trước mặt cha mẹ quỳ lạy giã từ, hai vợ chồng Chung viên ngoại cầm tay lấy tay con khóc than ly biệt. Lúc ấy Yến Anh cũng phân từ hai vợ chồng quốc trượng theo bảo giá Chung nương nương. Chung hậu lên ngựa đề thương, vợ chồng Chung lão khóc than chẳng xiết! Chung hậu cũng đau lòng ly biệt, ấy là: Khi không bay tới gươm đao sắc lẻm, chém đứt ân tình rẻ nước non, biết bao giờ hiệp mặt mẹ con, cho nên tình ly biệt ruột gan bối rối. Khi ấy Chung hậu mới chỉ Lâm Tri thẳng ruổi vó cu. Yến Anh quất ngựa sau cùng, đêm nghỉ ngày đi đà mòn mỏi. Sự ấy chưa nói tới, đây nhắc lại việc Điền Côn.
Nói về Điền Côn điện hạ, ừ khi Yến quân sư từ biệt đi tới Thương Sơn thì hằng ngày đợi trông tin tức, bán tín bán nghi, ngày thời săn bắn giải khuây, đêm lại chong đèn trông đợi, đón khách hàng thương qua lại, hỏi có gặp ai dị diện dị hình? Đương ngồi vương phủ thanh minh, luống buồn bã mặt hoa như ủ? Xảy thấy quân thám tử vào báo rằng:
- Nương nương với quân sư đã tới cách Sơn Lăng một đỗi chẳng xa, chúng tôi vội vã về thưa qua, xin vương gia định đoạt.
Điền Côn nghe nói cả mừng, liền truyền quân đem ngựa tới, nhảy phóc lên lưng dẫn theo ít viên phó tướng làm chừng, đi rước Chung nương nương nhập trại. Khi đến nơi gặp mặt, Điền Côn quỳ xuống giữa đường mà bái yết. Chung hậu bèn xuống ngựa, cầm tay đỡ dậy, hai mẹ con thay nhau khóc ngất một hồi, Điền Côn tâu rằng:
- Từ khi lửa dậy lãnh cung, con tưởng không trông thấy mẹ. Lúc ấy nếu có thể chết được, thì con cũng toan xuống huỳnh tuyền cho mẹ con gặp mặt. Vì cớ ấy cực chẳng đã nên con phải làm phản, lên Sơn Lăng coi giữ mả mồ, không ngờ Vương mẫu làm phép độn bay về quê hương, ngày nay con gặp được, chẳng khác cây khô sanh nhành hoa trổ mùa hè, thiệt con vui mừng chẳng sao kể xiết!
Điền Côn tâu rồi, lòng còn tấm tức, Chung hậu thấy vậy cũng buồn dạ than thở nói rằng:
- Vương nhi ôi! Chẳng phải mẹ lòng ở bạc, vì phụ vương con làm việc bất lương, nếu mẹ chẳng có pháp lực cao cường, thì đã hóa ra tro mạt. Tình mẹ cũng rất nên thương xót, biết con hiếu thảo hết lòng, hiềm vì tai nạn còn, nên phải căm gan chịu vậy.
Hai mẹ con than thở một hồi, rồi đồng lên ngựa. Chung hậu đi trước, Yến Anh với Điền Côn theo sau, đi riết chẳng bao lâu về tới Sơn Lăng an nghỉ.
My company: www.procard.com.vn
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-19 01:48:44Hoàng Dung>
hồi thứ ba mươi chín
YẾN BÌNH VÀO CUNG BÁO MỘNG
LIÊM PHA VÂNG CHỈ PHẠT TỀ

 
Nói về Yên Bình công chúa với cung nữ Hồng Tiêu, từ khi bị hại, linh hồn phảng phát không biết nương dựa vào đâu, cứ bay lửng đửng giữa chừng, rồi trở về tới Hàng Đan, vào trong thâm cung ứng mộng mà bày tỏ cùng cha mẹ. Khi tới nơi thấy lầu xưa nhện bủa, các cửa rêu in, trăm hoa đua nở mùa xuân, chạnh tủi hồng nhan bạc phận, bèn ngâm một bài thơ như vầy:
 
 Vừng ác bay qua chen thỏ bạc
Trời xanh riêng ghét phận má hồng
Xưa nay những kẻ tài hoa bấy
Mang lấy tài hoa khổ tấm lòng.
 
Đây nhắc lại khi hai vợ chồng Triệu Long vương từ khi đưa công chúa qua Tề rồi, đêm ngày thương nhớ tấc dạ không khuây, có một đêm kia vợ chồng nằm không an giấc, tới canh đã thổn thức bồi hồi, mới nằm nhắm mắt mà lại mê man, bỗng nghe có tiếng người kêu: Mẹ, mẹ ôi! Trong vía vợ Triệu vương là Qua hậu nghe kêu, bèn bước xuống long sàng đi ra mở cửa chẳng dè thấy Yến Bình công chúa và cung nữ Hồng Tiêu, đầu bỏ tóc xỏa mình đầu vấy máu, khóc mà thưa rằng:
- Muôn tâu vương mẫu, con đây chẳng phải la ai? Vì phụ vương nghe lời Tương Như dùng mỹ nhân kế đưa con qua Tề ra mắt Tuyên vương được có ba ngày, người rất yêu dấu, kế con tới thăm chánh cung con toan dùng mưu độc dược, không dè con xủ phụ hay được, nó đánh chết con Hồng Tiêu rất nên oan ức. Vương mẫu ôi, xin nghĩ tình cốt nhục mà rửa sự oán thù, đề binh thẳng tới Lâm Tri bắt cho đặng con Chung Vô Diệm, mổ lấy gan mà tế, mới tiêu đặng oan hồn. Xin vương mẫu hãy nhớ tới lời con, điều hiếu thảo sẽ còn kiếp khác.
Nói rồi cầm gươm nháng qua một cái thức thì biến mất. Qua hậu giật mình thức dậy, mới hay là điềm chiêm bao, bèn suy nghĩ một hồi bán tín bán nghi, liền kêu Triệu Long vương dậy, thuật hết các lời chiêm bao lại. Hai vợ chồng rất lo sợ nằm ngủ không yên, phút đâu trời đà vừa sáng, Triệu Long vương lâm triều, văn võ triều bái xong rồi, Triệu Long vương bèn kêu thừa tướng là Lạn Tương Như thăng điện, thuật hết điềm chiêm bao như vậy và bàn bàn coi kiết hung lẽ nào cho biết. Tương Như ngẫm nghĩ giây lâu tâu rằng:
- Sự mộng mị không chừng nên chẳng biết sự làm sao cho rõ giả chân, xin hãy sai người đi tới Lâm Tri thám thính lại mới tường hư thực.
Triệu vương liền sai quan tham mưu là Trương Hiển đi qua Đông Tề thám thính. Trương Hiển lãnh mạng đi luôn ngày đêm, chẳng bao lâu đã tới thành Lâm Tri giả làm thượng khách, vào hoàng thành thăm dò trước sau. Khi hỏi được tin chắc chắn liền trở về Hàng Đan phục chỉ. Đương lúc lâm trào, Trương Hiển thẳng vào đại điện tâu rằng:
- Ngu thần qua thám thính quả như điềm mộng ấy chẳng sai, bữa công chúa qua triều kiến Tuyên vương rồi đặng phong làm Tây cung thứ hậu, đđ ba ngày qua ra mắt chánh cung hoàng hậu. Chung Vô Diệm truyền cho nội thị dọn bày yến tiệc. Hồng Tiêu lại bỏ thuốc độc dâng lên, bị Vô Diệm thấu đặng sự duyên bèn đánh chết cả Hồng Tiêu và công chúa. Tuyên vương mới nổi giận biếm Vô Diệm vàl lãnh cung. Tới bữa tiết trung thu, tại lãnh cung lửa cháy còn Tiết Côn thời đã phản lạ Tề rồi ở Sơn Lăng mà giữ gìn mồ mả, sự bản thiệt nên ngu thần tâu lại.
Triệu vương nghe tâu, té xỉu xuống ngai, kêu cứu giây lâu mới tỉnh dậy, thì lệ nhỏ chứa chan căm hờn thay con củ phụ bất nhân và trách lây luôn Tuyên vương vô nghĩa. Rồi vọng linh vị đặt bày ra cúng tế, cầu vong hồn công chúa tịnh độ siêu thăng. Triệu vương lúc ấy mới phán rằng:
-Có ai dám lãnh binh mà rửa hờn cho trẫm chăng?
 Liêm Pha bước ra tâu rằng:
- Vi thần xin lãnh mạng đề quân tới Tề bang, bắt cho đặng Tuyên vương trả thù cho công chúa.
Triệu vương cả mừng và hỏi rằng:
- Nguyên soái muốn dùng bao nhiêu binh mã?
Liêm Pha tâu:
- Làm tướng phải dùng người mưu mô, chẳng ỷ mình sức mạnh, quân sĩ phải cho tinh luyện, chẳng dụng sự đông nhiều, như nay vì thần đi qua đánh Đông Tề, mười muôn binh cũng đủ, mai là ngày huỳnh đạo, xin truyền hịch hưng sư.
Triệu vương nhậm lời, liền truyền cho nội thị bày tiệc tống hành. Thừa tướng là Tương Như bước ra bưng ba chung ngự tửu, mà chúc mừng cho Liêm Pha rằng:
- Cờ bay thắng trận, ngựa tới nên công.
Liêm Pha tạ ơn rồi lạy thiên tử về phủ, liền khiến bốn người con trai là Liêm Cang, Liêm Trực, Liêm Ấn, Liêm Đạt cầm lịnh tiễn tới thao trường mà thao luyện binh mã. Khi đó các cơ các trại nghe hiệu lệnh thì đều tới tề tựu, điểm lượt xong xuôi, Liêm Pha vào triều phục chỉ. Qua ngày sau, giờ  dần Liêm Pha nguyên soái truyền lệnh cho chúng tướng làm lễ tế cờ, rồi phát pháo mở cửa thành chỉ thẳng Bạch Mã quan tấn phát.
Đây nói về Tuyên vương là một người say mê tửu sắc, chẳng tưởng tới việc nhà, chỉ biết thịt cho béo rượu cho ngon, hầu gái năm bảy người, ấy gọi là nhân sanh quí thích chí mà thôi, cò nhiều khi ngậm ngùi Chung hậu, lại hằng ngày ngớ Triệu phi, dầu cho quốc phá thân nguy cám cảnh chữ: Giai nhân nan tái đắc. Đêm nằm ngủ không an giấc, ruột tằm bối rối như tơ, một mình luống những ngẩn ngơ, mới nhắm mắt thì hồn vừa lìa xác thả chơi khắp nơi, thình lình thấy ngoài Ngọ môn ở trên trời sa xuống một vật lớn như cái đấu, hồng quang chói sáng ngời, giây phút lại nổ ra một tiếng vang trời, vất ấy bể ra làm hai miếng, trong ánh sáng một nửa thấy có mộ người đàn ông nhảy ra, mình mặc áo giáp đen, đầu đội khôi đen, tay cầm trường thương, nhảy lên trên bửu điện chờn vờn tới muốn đâm mình, còn một nửa miếng kia thì thấy một bầy ong bay túa ra vô số, ấp tới phủ vây mình. Đang lúc nguy cấp, là réo cứu giá om sòm, cả triều văn võ không thấy một người tới, đã gần hụt hơi. May đâu ở phía tây bắc có một người đàn bà, mình mặc áo đỏ cầm cây đại đao, bay thú chạy vào đánh với người mặc áo đen một trận, nào ông nào người đều tan hết. Tuyên vương hết sức mừng! Bèn giựt mình mơ màng giấc mộng, hồi lâu tỉnh lại kế đâu gà gáy sáng, trời vừa hừng đông, Tuyên vương cho đòi Yến Anh vào đến, quì lạy tung hô xong rồi, Tuyên vương cho ngồi, mới thuật hết điềm chiêm bao lại và cậy bàn giải. Yến Anh ngồi suy nghĩ hồi lâu, đã biết một vật lớn như cái đấu đó là Triệu vương, còn người khôi đen giáp đen là Liêm Pha, bầy ong là quân sĩ, còn người đàn bà là Chung nương nương. Chắc trong chừng nửa tháng đây ắt có Triệu binh tới đánh, thì thiên tử bị khổn nơi Đàm thành chớ chẳng khỏi. Biết như vậy đã chắc, ngặt vì khó tiết lậu thiên cơ, nên không dám nói ra cho hết, liền truyền đem viết mực rồi tả một bài thơ giải như vầy:

 Điềm chiêm bao thế ấy, kiết thiểu mà hung đa,
Đạo binh đã dấy động, sĩ tốt chết hàng hà.
Bởi mình gây nên họa, làm hao tổn nước nhà.
Đàm thành vua bị khốn, một trăm ngày mới ra.


Yến Anh viết rồi dâng lên cho vua xem, Tuyên vương cả kinh mới hỏi:
- Như vậy mà quân sư có kế chi cứu quả nhân không?
Yến Anh tâu:
- Vì bệ hạ có tai nạn một trăm ngà, không thể chỉ cứu tinh, nhưng bây giờ bệ hạ phải dời qua Đàm thành, còn triều chánh phải giao cho vương thúc.
Tuyên vương nghe lời liền giáng chỉ cho vời vương thúc là Điền Dưỡng. Khi Điền Dưỡng vào triều, Tuyên vương mời ngồi nơi cẩm đôn, rồi nói rằng:
- Nay cô gia dời qua Đàm thành tị nạn, triều chánh nay nhờ vương thúc âu lo, chờ khi nào hết sự rủi ro, thì cô gia sẽ hồi triều trọng thưởng.
Điền Dưỡng vâng chỉ lui về. Tuyên vương truyền lệnh cho quan ngự lâm, sửa sang những đồ ngự dụng mà đưa qua Đàm thành. Rồi Tuyên vương từ biệt Trương phi và các cung nữ, còn Yến Anh lại viết một bức cẩm nang, giao cho vương thúc mà dặn rằng:
-Chừng nào có sự gấp rút hãy mở ra coi.
Sắp đặt đâu đó hẳn hòi, Yến Anh cùng đi theo hộ giá. Khi ấy quân ngự lâm đi trước, triều thần hộ tống theo sau chỉ dặm liễu băng ngàn, đi đến Đàm thành một nước.
Nói về quan huyện ở Đàm thành là Thạch Tú, khi nghe thiên tử giá lâm, liền truyền quâ mở hết cửa thành rồi cùng văn võ ra nghinh tiếp. Tuyên vương vào ngồi giữa hành cung, văn võ triều bái xong xuôi, vua truyền cho tu bổ trành trì để ngăn ngừa giặc giã. Các việc đã an bài, các quan đều giữ theo bổn phận.
Đây nói về Liêm Pha từ lúc vâng mạg lãnh binh, ngày đi đêm nghỉ chẳng bao lâu đã gần tới địa phận nước Tề, xảy thấy quân kỳ bài trở lại báo rằng:
- Trước mặt là Bạch Mã quan, thành giao giới của nước Tề, xin soái gia định đoạt.
Liêm nguyên soái bèn truyền lệnh cách thành ba mươi dặm hạ trại và chia ra thành năm dinh, canh tuần nghiêm nhặt, cấm người không đặng lìa giáp, ngựa chớ rời yên, thay đổi liền liền phhòng binh Tề cướp trại.
Còn tướng giữ ải Bạch Mã quan tên là Lưu Trinh. Khi nghe nói thiên tử dời qua Đàm thành mà tỵ nạn, đang ngồi suy nghĩ không rõ cớ gì, bỗng thấy quân thám tử vào báo:
- Triệu vương sai Liêm Pha đem mười vạn hùng binh, tới phủ vây quan ải, xin soái gia nghĩ lại tính công thủ lẽ nào?
Lưu Trinh nghe nói cả kinh và oán trách thiên tử bất minh, chẳng nghe lời quân sư can gián, tại nạp lấy  Yến Bình công chúa, nên làm ra gây họa cho Tề bang. Liền truyền quân bế thành lại kỹ càng kỹ lưỡng, gác cung tiễn và cây đá lên thành cùng đêm ngày gìn giữ nghiêm nhặt. Còn Liêm Pha hạ trại xong xuôi nghỉ ngơi một đêm, rạng ngày thăng trướng, hai bên chư tướng đứng hầu. Liêm Pha mới hỏi:
- Có tướng nào xuất chiến lập công đầu chăng?
Khi ấy người con đầu là Liêm Cang xin đi. Liêm nguyên soái dặn dò cẩn thận, Liêm Cang cúi đầu vâng lệnh, cầm thương lên ngựa phát phát, kéo năm trăm quân dũng sĩ thẳng tới dưới thành khiêu chiến. Quân Tề xem thấy vào báo lại cho chủ soái hay, Lưu Trinh nghe báo nổi giận mà rằng:
- Tề, TRiệu tuy là hai nước, anh em như thể một nhà, tại dùng mỹ nhân kế đưa qua, nên  sự thù oán càng sâu như biển. Nay Chung hậu bị hỏa hoạn, còn Điền Côn lại phản Lâm Tri. Tề bang tới lúc khuynh nguy, thiệt ít kẻ khuôn trì xã tắc, ấy là tại vì bây phản trắc, chớ trách mỗ đảo điên.
Nói rồi cầm đao lên yên, dẫn theo tám viên tướng, phát pháo mở cửa ải xông ra. Liêm Cang thấy tướng Tề hình dung cao lớn, râu bạc phơ phơ thì hỏi rằng:
- Tướng già kia, xin hãy xưng họ tên, vậy chớ ông đi đâu đấy, muốn ra đây lượm cỏ hay sao?
Lưu Trinh nghe hỏi tức cười nói rằng:
- Thằng nhỏ miệng còn hôi sữa, mà dám khi người thái quá. Ta là Tề Tuyên vương giá hạ, vô tư chánh trực lão thần, làm chức Chiêu thảo tam quân, tên là Lưu Trinh nguyên soái, còn mầy là đồ tiểu bối, chớ mầy tên họ là gì?
Liêm Cang đáp rằng:
- Tên ta là Liêm Cang làm tiên phong tiền bộ, cha ta là đại nguyên soái phụng quân mạng đi phạt Tề.
Lưu Trinh nói:
- Như vậy thì cháu phải kêu ta bằng bác, bác đây với cha cháu vốn tình nghĩa anh em, sao cháu thấy bác giả cả lem nhem, cháu lại đem lòng khi dễ.
Liêm Cang đáp:
- Dám thưa bác, cháu cam thất lễ, trên ngựa cung thân, vì Tề vương ăn ở bất nhân để Vô Diệm gây nên thù oán, một ngày giết chết hai mạng. Triệu vương không lẽ làm thinh, nên sai cha cháu lãnh binh, quyết bắt cho đặng con Chung xủ phụ.
Lưu Trinh nói:
- Khuyên cháu hãy bớt giận, dể bác phân giải lại cho cháu nghe. Chung nương nương vốn thiệt người ngay, vì công chúa gây nên tai họa, khi công chúa vào cung đã được ba ngày, mới tới Chiêu Dương mà triều hạ, thì Chung hậu cũng dọn đồ yến tiệc vui mừng, ai ngờ có con thể nữ là Hồng Tiêu đem thuốc độc bỏ vào trong rượu mà hại người, không dè Chung hậu bắt đặng nổi giận đánh chết tươi. Ấy là hại nhân nhân hại. Lại có câu: Thiên bất dung gian, chớ có phải là tại Chung hậu không rộng khoan mà gây ra oán đây.
Liêm Cang nói:
- Thôi bác chớ khá nhiều lời,  bảo lão hôn quân đem con xủ phụ ra đây, cháu bắt nó lăn đen mà tế công chúa thì vạn sự giai hữu, bằng không thì quân dân Tề đều làm quỉ không đầu, lại quan ải cũng hóa ra tro bụi nữa.
Lưu TRinh nghe thằng nhỏ nói xấc thì cả giận, xách đao lại chém đùa. Liêm Cang cũng đưa thương ra đánh, kẻ già người trẻ, một đao một thương trong hội chiến trường ai cũng ra tài nỗ lực, đánh có hơn năm mươi hiệp chưa định hơn thua, quân Kỳ bài vào báo lại cho Liêm Pha hay. Liêm Pha kíp liền nai nịt lên ngựa đề thương có dẫn theo một người anh em bạn, tên là Kim Tiền Bâu cùng ba đứa con anh dũng đồng ra lược trận tức thì.
Khi ấy Liêm Cang thấy Lưu Trinh đuối sức, muốn bắt sống để lập công, không dè Lưu Trinh liệu bề chống ngăn không nổi, bèn quay ngựa chạy dài. Liêm Cang quất ngựa rượt theo, muốn rút cây Kim tiêu ra mà đánh, lại bị tám viên chiến tướng của Lưu Trinh, thấy chúa soái mình thua chạy, đồng xông ra một lượt tiếp chiến. Liêm Pha thấy vậy cũng ùa binh ra trợ chiến, hai bên đánh vùi một trận, binh Tề đuối sức chạy vào thành. Liêm Pha huy động tam quân rượt nà theo, trên thành xem thấy lăn cây hạ đá và tên bắn xuống như mưa. Quân Triệu đương lúc thừa thắng nên không run sợ, bốn người con của Liêm Pha chia nhau ra phủ vây bốn cửa, đánh áp vào thành, Lưu Trinh liệu bề không xong bèn mở cửa tây môn phá vòng vây chạy về Lâm Tri chịu tội. Liêm Pha khi ấy nhập thành xuất bảng an dân, bá tánh thảy đều vui đẹp. Rồi đó liền viết một đạp điếu văn, sai quan về Hàng Đan cáo tiệp.
Lúc âý đương khi Triệu vương lâm trào, quan huỳnh môn vào quì dâng bảng tấu của Liêm Pha. Triệu vương xem rồi mừng rỡ vô cùng và khen ngợi Liêm Cang thật là tướng môn xuất tướng, mới gia phong làm chức Thần sát tướng quân, lại sai sứ đưa ra một muôn học lương và hai chục đãi vàng ròng để Liêm Pha khao thưởng quân sĩ.
Đây nhắc lại Tuyên vương dời qua Đàm thành tị nạn, còn việc triều đình thì giao hết cho nhiếp chánh vương là Điền Dưỡng. Lúc này nhiếp chánh vương lâm triều, văn võ bái tụng hô xong, quan huỳnh môn vào tâu rằng:
- Nay có chủ soái ở Bạch Mã quan là Lưu Trinh về triều, còn đang đứng trước Ngọ môn đợi lịnh.
Lão vương truyền chỉ cho vào. Lưu Trinh vô đến quì lạy vừa khóc vừa tâu rằng:
- Cha con Liêm Pha võ nghệ rất cao cường nên mạt tướng dang không nổi, bởi vậy cho nên quan ải đã thất thủ, tội tôi dư muôn thác.
Lão vương nghe tấu làm thinh một hồi rồi trách thầm rằng: Yến Anh bảo tấu cho ta làm nhiếp chánh làm chi, nay vua tôi nó đem nhau đi rồi ra cũng khó bề toan liệu. Trách như vậy rồi liền giáng chỉ tha tôi cho Lưu Trinh và khiến văn võ triều đình phải lo mưu cự địch, việc rồi trời tối bèn bãi triều.
Còn Liêm Pha sau khi chiếm được Bạch Mã quan, an dưỡng binh sĩ ba ngày rồi phát pháo mở cửa thành, kéo binh ra nhắm Lâm Tri thẳng tới. Khi đi được vài ngày, quân kỳ bài trở lại báo rằng:
- Đây đã gần tới kinh thành Lâm Tri, trước mặt là Hỗn Hải quan, xin soái gia hạ lệnh.
Liêm Pha truyền cho ta quân đóng trại, chia ra làm năm dinh và bốn phía đào lũy thả chông, đề phòng dinh Tề cướp phá. Khi đó sanh kỳ rực rỡ, kiếm kích nghiêm trang, cấm thương khách qua lại và cũng chẳng cho ra vào tin tức. Muôn dân thảy đều than khóc, bốn phía thành vây chặt như nêm, qua ngày sau Liêm Pha truyền cho quân cơm nước xong rồi, nai nịt ra trận. Liêm Pha và Liêm Ấn đem binh đi tiền đội, còn Liêm Thuận và Liêm Đạt hậu tập theo sau, đồng lãnh mấy ngàn binh, tới cửa đông khiêu chiến.
Khi nhiếp chánh vương nghe thấy tiếng pháo nổ, dắt bá quan lên trên vọng địch lầu mà xem, thấy binh Triệu oai phong lẫm lẫm, sát khí đằng đằng, bốn hướng tám phương thảy đều vây hãm, lại thấy tướng Triệu đã tới dưới thành thảo chiến, bèn kêu bá quan hỏi rằng:
- Có ai vì cô gia dám ra cự địch không?
Nói vừa dứt tiếng thì có một tướng bước ra tâu rằng:
-Ngu thần lãnh mạng quyết ra bắt cho được Liêm Pha, kẻo nó khi dễ nước ta, nguyện bất dung tha nghịch tặc.
Lão vương xem lại, người ấy tên là Thanh Hổ, chức làm Đề điệu quan, lão vương cho đi và dặng rằng:
- Liêm Pha là người anh dũng, tướng quân phải đề phòng cho lắm, và khá tua vì nước lập công, kẻo để Triệu bang khi dễ.
Thanh Hổ cúi đầu vâng mạng, cầm đao lên ngựa, dẫn theo bốn viên chiến tướng cùng một ngàn binh dũng lực xông ra trận. Liêm Pha khi ấy xem thấy hỏi rằng:
- Tướng ra đó tên họ là gì?
Thanh Hổ đáp:
- Ta là Đề điệu ngũ dinh tên là Thanh Hổ, vậy chớ tướng quân có phải là Liêm Pha chăng?
Liêm Pha đáp phải và nói rằng:
- Lão tướng đã biết danh bổn soái sao không xuống ngựa đầu hàng? Vậy thôi hãy trở về nói và dâng hàng biểu, thì bình an vô sự.
Thanh Hổ nói:
- Nguyên soái chưa rõ để lão phân lại cho nghe. Vốn Chung hậu đã bị cháy thành tro, chớ ví như người còn sống, thời nguyên soái khó nổi tới Lâm Tri vây hãm, còn công chúa là cành vàng lá ngọc, có lẽ đâu đi làm bé nước người, chẳng qua là Triệu vương muốn dùng kế mỹ nhân, nên mới đày con chịu chết.
Liêm Pha nghe Chung hậu chết rồi thì có ý mừng thầm, lại nghe xúc phạm đến chúa mình nên xốc thương đâm tới, Thanh Hổ vội đưa đao ra đỡ. Hai tướng đánh nhầu hơn năm mươi hiệp sức cũng cầm đồng, Liêm Pha có ý khen thầm. Thanh Hổ thì cả giận, bèn hươi thương đâm đùa. Thanh Hổ tuy già mà sức còn mạnh. Liêm Pha bèn sanh một kế, gọi là kế hồi thương. Thanh Hổ chẳng kịp trở đương, bị kế ấy nhào xuống ngựa chết tốt. Liêm Cang và Liêm Ấn giục binh áp tới cắt lấy đầu và đánh loạn đả, binh Tề vỡ tan chạy hết.
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-19 01:52:31Hoàng Dung>
hồi thứ bốn mươi hai
CHUNG QUỐC MẪU ĐỀ BINH PHẠT TRIỆU        
TRIỆU LONG VƯƠNG THẤT THẾ HÀNG TRIỀU
 
 
 Khi ba người về đến Sơn Lăng, Điền Côn truyền cho chư tướng bày khai tiệc rượu. Chung hậu khi ấy nói:
- Bây giờ Đàm thành tuy nguy cấp, song ai gia đã truyền lệnh cho Long vương làm phép lui binh Triệu ra khỏi thành rồi. Nếu hôm nay ta kéo binh về tiếp nữa thì Triệu chúa cũng không phục, chi bằng ta tính kế này hay hơn. Từ đây qua Triệu không cách mấy ngày đường, đem binh tới bắt cho được Triệu vương, như vậy cha con Liêm Pha mới khiếp vía.
Yến Anh khen phải và tâu rằng:
- Nương nương thiết lắm chước quỉ mưu thần, kế ấy rất hiệp lòng ngu hạ.
Kế đó Điền Côn tức thì kiểm điểm binh mã, phát pháo kéo binh đi được năm ngày, quân kỳ bài trở lại báo rằng:
- Đã gần tới kinh thành Hàm Đan, cách chừng năm chục dặm, xin nương nương hạ lệnh.
Chung hậu liền sai Đông lộ vương là Điền Côn đi coi một chỗ địa thế mà an dinh đóng trại.
Đây nói về Triệu Long vương, từ khi cha con Liêm Pha đi đánh Tề thì thường ngày có biểu văn báo tiệp luôn luôn, vua tôi lòng mừng khấp khởi, tưởng chắc là chuyến này làm sao cũng thâu đoạt đặng giang san Tề quốc.
Ngày kia Triệu vương lâm triều, văn võ triều bái xong, có quan tổng binh vào tâu rằng:
- Tề bang Chung Vô Diệm với Đông Lộ vương Điền Côn đem binh mã năm ngàn tới cách thành chẳng bao xa đang hạ trại, nên tôi phải vào tâu lại, xin bệ hạ lo toan.
Triệu vương nghe báo cả kinh, bèn phán rằng:
- Ta vẫn nghe Chung Vô Diệm đã bị chết thiêu rồi, còn Chung Vô Diệm nào sống lại kéo binh đến đây? Hay là nó dùng kế  kiêu binh mà nước ta không biết chăng? Bây giờ có ai dám xuất trận bắt Vô Diệm lập đầu công không?
Triệu vương hỏi dứt lời, có một vị công thần bước ra xin đi. Triệu vương xem lại, người ấy tên là Liêm Hùng cha của Liêm Pha, làm tới tước Thân vương. Triệu vương thấy vậy nói rằng:
- Vương huynh tuổi già sức yếu, chẳng phải là tay đối thủ với Điền Côn đâu. Để cô gia sai người khác đi mới an lòng quả nhơn đặng.
Liêm Hùng nghe vua chê mình già yếu thì có ý bất bình bèn tâu rằng:
- Xin thánh hoàng an dạ để cho ngu hạ xuất binh. Tinh thần tôi hãy còn mạnh mẽ, cầm thương lên ngựa đủ tài. Sách có chữ nhân lão tâm bất lão.
Triệu vương thấy Liêm Hùng kêu nài hết sức bèn nói rằng:
- Nếu như vương huynh muốn xuất trận thì cô gia cũng chẳng tiếc chi, nhưng phải đề phòng cẩn thận mới được. Liêm Hùng tạ ơn lui về vương phủ sửa sang khôi giáp cầm cây bát xà mâu, dẫn theo năm trăm dũng sĩ, phát pháo mở cửa thành xông tới trước dinh Tề mà khiêu chiến. Quân kỳ bài Tề vào huỳnh la trướng tâu lại cho Chung Vô Diệm hay. Chung hậu hỏi rằng:
- Có ai dám đánh với tướng Triêu không?
Điền Côn lãnh mạng. Chung hậu cho đi. Điền Côn liền nai nịt cầm thương lên ngựa, dẫn theo năm trăm quân, phát pháo xông ra trận. Hai đàng giáp mặt thì đã biết nhau. Điền Côn liền kêu hỏi rằng:
- Liêm lão soái! Vậy chớ nước Tề cừu hận gì mà nước Triệu lại đem quân tới Đàm thành vây khốn? Nếu lão soái biết thằng chủ trại Triệu long sơn là một tay lợi hại thì phải mau xuống ngựa đầu hàng đi. Như không thì cây ngân thương của nó vô tình lắm, nó sẽ đưa lão về âm phủ.
Liêm Hùng cả giận mắng rằng:
- Đồ tiểu tử! Sao mày dám vô lễ múa miệng khoe tài. Ấy là vì con xủ phụ bất nhân, đánh chết Yên Bình công chúa. Bởi vậy mới gây nên sự, sao mày lại nói không cừu hận à! làm sao?
Nói rồi liền hươi mâu đâm nhầu, Điền Côn cũng đưa thương ra đỡ. Một già một trẻ khí lực cầm đồng. Chung hậu thấy vậy bèn dẫn năm trăm quân ra lược trận, hai bên gióng trống vang tai. Điền Côn khi ấy dùng phép chuyển thương môn, nhảy thốc qua lưng ngựa Liêm Hùngm bắt sống vật nhào xuống đất, tức thì mửa máu chết tươi. Chung hậu thấy vậy hỡi ơi, kêu đà chẳng kịp, mới nói thầm rằng: vương nhi tánh tình nóng nảy quá! Đem ân này mà gây nên thù, vì con của người là Liêm Thoại Hoa là căn số lương duyên của mi. Bởi việc chưa tới nên vương nhi chưa hiểu thấy căn do.
Còn khi Liêm Hùng chế rồi, Điền Côn muốn xuống ngựa cắt đầu, không ngờ binh Triệu ào ra cướp tây mang về phủ. Quân kỳ bải Triệu vào báo cho Triệu vương hua. Triệu vương ngất một hồi, nói rằng:
- Vì vương huynh không nghe lời trẫm nên phải bị hại vào tay quân cường đồ. Biết có ai xuất trận mà rửa hờn cho lão soái?
Triệu vương nói vừa dứt lời, có một người bước ra tâu rằng:
- Mạt tướng xin lãnh mạng xuất trận báo cừu cho lão vương.
Người ấy tên là Lý Tuấn, làm chức phó soái đường thời, là em vợ của Liêm Pha. Triệu vương thấy vậy liền dặn rằng:
- Tướng quân có xuất trận nên cẩn thận đề phòng.
Lý Tuấn vâng mạng cúi đầu bái tạ lui ra, tay cầm cây Cang xoa nặng hơn sáu chục cân, mình cưỡi con huỳnh tung, sức hay đi ngàn dặm dẫn theo năm trăm quân cường tráng, phát pháo xông ra. Vừa gặp Điền Côn liền hỏi rằng:
- Bớ Điền Côn! Mày sao dám cả gan lớn mật mà quật chết vương gia. Nay ta quyết ra đây, trước bắt cho được mày sao nguyện cũng thâu được con Chung xủ phụ.
Điền Côn nghe nói thì cười mà đáp rằng:
- Mày là một thằng vô danh tiểu tốt, dám ra đây múa mỏ khua môi. Liêm Hùng là một vị tướng tài, ta còn đưa ngài về chín suối, huống chi là mày.
Lý Tuấn mặt đỏ phừng phừng, liền hươi cây Cang xoa đâm đại. Điền Côn cũng đưa thương ra đõ, đánh có năm chục hiệp dư, Lý Tuấn hơi đà đuối sức, ngăn đỡ thương chẳng kham, bị Điền Côn đâm ngang trúng một thương nhàu xuống ngựa chết tốt. Quân Triệu bèn ào ra cứu mạng, thấy đổ ruột xúm nhau giựt thây đặng đem về. Điền Côn lại đuổi theo đánh. Quân kỳ bài Triệu đem tin ấy chạy về phi báo, Triệu vương hồn vía lên trời, khóc than kể hết mọi lời, thương hại cho đại tướng liều mình vì nước.
Còn vợ Liêm Hùng lúc này đang ngồi trong vương phủ, xảy thấy gia đinh hơ hải chạy vào thông báo rằng:
- Họa lớn bằng trời, thù sâu tợ biển. Nay có Chung Vô Diệm với thằng sơn tặc Điền Côn đem binh mã ba ngàn, tới Hàng Đan vây phủ. Lão vương gia với Lý Tuấn bỏ mạng chốn sa trường, thi hài đều đều về đặng, nên chúng tôi phải vào phi báo lại cho bà hay.
Lão phu nhân nghe nói bèn té xỉu xuống đất, lạnh cả mình, chúng tì nữ kêu cứu giây lâu, lão phu nhân mới tỉnh dậy. Lý phu nhân (vợ của Liêm Pha) cũng chạy tới, mẹ con đều than khóc dầm dề! Bởi đâu sóng gió tư bề, cơn tai họa thình lình bay đến?Một người thương chồng tuổi cao tác lớn, đến khi lâm chung phải bị vướng mũi đao binh; một người cũng thương cha chồng và lại tiếc em, đầy nhà người chật như nêm, tiếng la khóc nghe vang khắp phủ.
Đây nói về người con gái út của Liêm Hùng tên là Liêm Thoại Hoa, vốn là sao Thiên hỉ tinh giáng thế. Thuở còn thơ ấu, Kim Đao thánh mẫu ở Thùy Châu động, núi Linh Bửu vạn hoa thâu làm đệ tử, truyền đủ thập bát ban võ nghệ, với kỳ môn độn giáp thảy đều làu thông. Đến lúc khôn lớn thánh mẫu mới cho hạ san để phòng khi giúp nước. Lúc này người đang trên hoa lầu xem binh thư đồ trận, bỗng nghe tiếng khóc ó om sòm, bèn vội vàng bước xuống hỏi thăm sau trước, thì thấy mẹ và chị dâu đang than khóc, chúng tì nữ mới thuật hết đầu đuôi, Liêm tiểu thư cũng nhào lăn xuống đất khóc lớn một hồi rồi mắng Điền Côn là loài sơn tặc. Liêm tiểu thư lúc ấy hầm hầm tức giận mới nói với lão phu nhân rằng:
- Dám thưa mẹ, phụ thù bất cộng đái thiên, nữ đạo tu đương ái nhựt, như nay cho con lâm tay cường tặc, con xin xuất trận bắt cho đặng Điền Côn, mổ lấy tim gan tế tiên hồn, trả thù nọ mới an lòng dạ.
Lão phu nhân nói:
- Nữ nhi, con bớt giận, để ta tẩn liệm thi hài, chờ rạng sáng mai con phải nhập trào tấu cùng thánh thượng đã.
Kế đó, Triệu vương sai quan Lễ bộ đưa đồ khâm kiệm tới. Mẹ con nghênh tiếp, lo bề tẩm liệm cho lão vương gia xong, quan Lễ bộ từ tạ lui về phục chỉ.
Qua ngày sau, Liêm tiểu thư sửa soạn nai nịt, đi cùng lão phu nhân vào triều tạ ơn thiên tử. Triệu vương vời lên trên Kim Loan điện. Hai mẹ con làm lễ triều bái xong, Triệu vương cũng than khóc sụt sùi và nói rằng:
- Bây giờ không có ai tài bộ đặng đánh lui thằng sơn tặc và trả thù cha nó cùng đền nợ nước.
Lão phu nhân nghe vua than thở bèn tâu rằng:
- Con gái tôi xin xuất chiến, trả thù cha nó cùng đền nợ nước.
Triệu vương nghe nói, cả mừng mà rằng:
- Nếu vương điệt làm được như lời, thiệt là tài mạo tốt vời, hiếu trung vẹn vẻ, nhưng Điền Côn là một thằng cường tặc, vương điệt tua khá tiểu tâm.
Tiểu thơ cúi đầu vâng lệnh, cầm đao lên ngựa, phát pháo xông ra, còn lão phu nhân thì lên Vọng địch lầu xem trận.
Khi Đông lộ vương còn đang đứng dưới thành khiêu chiến, nghe tiếng pháo vang trời thì biết có tướng Triệu xuất trận, bèn lui ra mười dặm mà đợi. Giây lâu thấy có một viên nữ tướng mang bạch bào kim giáp, cung tiễn đeo hai bên, mặt đẹp tợ tiên nga, miệng cười như hoa nở, mình cưỡi đào hoa mã, tay cầm cây kim đao, vai mang báu kiếm, thần chùy, oai phong lẫm lẫm. Điền Côn xem rồi, gịt ngựa lướt tới hỏi rằng:
- Bớ viên nữ tướng kia, ta là Đông Lộ vương Điền Côn ở đây, đợi nàng đã lâu, mau xưng tên họ rồi sẽ nói chuyện. Liêm tiểu thư đáp rằng:
- Liêm Thoại Hoa là tên mỗ, Liêm Hùng vốn thiệt cha ta, còn anh là Liêm Pha đi đánh Tề làm chức tổng soái. Như sơn tặc biết ta lợi hại, mau xuống ngựa chịu trói rồi, thù phụ thân thề chẳng đội trời chung, nếu trễ nải thì ta mời về với Diêm chúa.
Điền Côn là người tánh nóng, nghe tiểu thư nói vậy liền hươi gươm đâm nhầu, tiểu thư cũng hươi đao rước đánh. Gần một trăm hiệp chưa định hơn thua, tiểu thư mới nghĩ rằng: Thằng sơn tặc giỏi thiệt, ta phải ra tay trước. Nghĩ rồi liền lấy thần chùy liệng lên trên không, hào quang phát ra sáng giới. Điền Côn cả kinh, quất ngựa chạy dài, tiểu thư cũng hươi đao đuổi chém. Điền Côn khi chạy xa một đỗi, thấy thần chùy cũng bay đuổi theo, Điền Côn biết thế hiểm nghèo, ôm lưng ngựa cúi đầu chạy miết. Tiểu thơ cũng hươi đao chém tới, trúng ngay kim khôi của Điền Côn đứt ra làm hai. Thần chùy cũng vừa xuống tới đánh nhằm lưng hộc máu sảy tay, thời may cũng nhờ con ngựa Bát sơn ngọc cũng hay, không thì đầu Điền Côn cũng rơi xuống đất.
Khi ấy Chung hậu ở trong trại xem thấy hào quang sáng chói, biết thần chùy bửu bối Thoại Hoa, kế thấy Điền Côn thua chạy về, Chung hậu đã hiểu Điền Côn bị thương tích, bèn kíp niệm chú hô thần bảo theo phò hộ Điền Côn. Linh thần tức thì đỡ Điền Côn ngồi dậy, lại sau hươi thương giục ngựa tới đánh nhầu với tiểu thư, hai bên gión trống phất cờ, đao thương múa sáng ngời như chớp. Đánh nhau ba trăm hiệp nữa mà không phân thắng bại, tiểu thư cũng có ý mến tài, muốn bắt sống Điền Côn đem về lấy tiếng/ Bèn niệm linh văn thần chú, kế dây Khổn tiên thằng bay lên muôn vạn kim quang. Chung hậu thấy vậy, vội vàng xuất chiến, kêu Điền Côn bảo rằng:
- Vương nhi mau trở lại, kẻo tánh mạng chẳng còn.
Nói rồi liền lấy tay chỉ lên không, thâu tiên sách vào trong túi áo. Tiểu thơ thấy phép mình đã mất liền hươi đao đuổi theo. Lại dùng cây Bá luyện thần chùy, đánh bồi trúng Điền Côn té nhủi. Khi ấy nếu không có thần linh bảo hộ thì tánh mạng Điền Côn chẳng còn. Chung hậu thấy vậy, phi ngựa tới chận đường, đánh với tiểu thư một trận. Tiểu thơ nổi giận, dùng phép phi kiếm bay tới, liềm niệm ít tiếng chân ngôn, thâu phi kiếm vào trong tay áo. Tiểu thơ tức giận, hươi đao tới đánh nhầu với Chung hậu hơn một trăm hiệp, thắng bại chưa phân. Chung hậu bèn niệm chú định thần, Liêm tiểu thư đứng trân như chết. Chung hậu lại dùng Khổn tiên thằng trói lại, rồi thâu phép định thần. Tiểu thơ khi ấy tỉnh hồn mới biết mình bị ngặt. Quân Tề xông tới áp bắt, dẫn tiểu thư về trại tức thì.
Còn lão phu nhân khi ở bên vọng lầu xem trận, thấy tiểu thư đã bị bắt liền dậm chân kêu trời ba tiếng rồi té xỉu ngang, hồn gần thả xuôi nơi suối vàng, buồn vì ái nữ sa tràng bị bắt. Liêm Pha không thấy hay tin, vây Đàm thành chưa rõ kiết hung, cơ hội này đà quốc phá gia vong, có sống cũng hổ với trời đất. Mấy đoạn sầu thảm, da đau như cắt, liền gieo mình xuống lầu, chúng nữ tì chạy tới trước sau, lão phu nhân hồn đã lìa xác.
Còn Chung hậu đã bắt được Thoại hoa thì dẫn về trại, liền nói với Điền Côn rằng:
- Vương nhi hãy đốc quân vào thành chớ có trễ nải.
Điền Côn vâng mạng, Chung hậu liền niệm chú hô thần, đòi Phong bá tới bảo rằng:
- Linh thần chẳng nổi gió, còn đợi chừng nào?
Trong giây phút thiên hôn địa ám, gió thổi mây bay, quân chẳng trông thấy nhau, lo kiếm chỗ sanh phương tẩu thoát, cửa thành đóng chẳng kịp quân Tề đồng loạt xông vào. Chung hậu với Điền Côn theo sau, thẳng tới Kim Loan điện. Triệu vương thấy quì dạ xoa xuất hiện, hồn vía đã lên mây. Chung hậu bắt ngay và xưng rằng:
- Ta là Tề Tuyên vương chánh hậu đây.
Triệu vương tay chân đã rụng rời mà miệng còn kêu cứu, bảo triều thần bắt con xủ phụ cho mau. Chung hậu nổi giận mắng rằng:
- Vô đạo hôn quân, mày chẳng nên dùng mỹ nhân kế mà ám hại ai gia. Như nay đã biết khôn ra, phải nghe lời ta thì khỏi chết.
Triệu vương mình run cầm cập, miệng bài hãi đáp rằng:
- Nay tôi đã thất thế, biểu chi cũng phải vâng lời.
Chung hậu khi ấy bớt giận nói rằng:
- Vậy thì Triệu vương phải bảo triều thần tới đây triều kiến ai gia, xưng ta là Lâm Tri quốc mẫu thì ta mới tha chết.
Triệu vương lụy ứa hai hàng, ruột đau từng đoạn, kêu hết văn thần võ tướng thảy đều triều bái Chung nương nương. Chung hậu lại bảo Điền Côn rằng:
- Vương nhi haỹ đi bắt Qua hoàng hậu, Lạn Tương Như với vợ Liêm Pha là Lý phu nhân tới đây cho đủ mặt.
Điền Côn vâng lệnh, tức thì dẫn theo ít viên dũng tướng, đi giây lâu đem về đủ mặt. Chung hậu lại bảo Điền Côn làm hai cái tù xa, một cái thì cầm Triệu Long vương và Lý phu nhân, còn một cái thì cầm Qua hoàng hậu với Lạn Tương Như. Điền Côn y lệnh, trong một khắc đứng lên. Chung hậu nói:
- Ấy là tại nước ngươi bại thương phong hóa, đem vương cô hầu hạ nước người, làm cho ai gia chẳng được thảnh thơi, nên nay ta làm lại cho vua tôi bây điên đảo.
Lúc đó vua tôi Triệu vương thảy đều than khóc sỉ nhục biết là chừng naò! Đông cung thái tử tới sau, xin thế mạng cho phụ thân khỏi chết. Chung hậu thấy vậy, động lòng mà kêu thái tử nói rằng:
- Vương điệt phải quyền coi quốc chánh, chẳng nên sầu thảm làm chi.
Thái tử tạ ơn lui ra. Chung hậu truyền cho Điền Côn phát pháo khởi hành và dẫn Liêm Thoại Hoa theo dõi. Khi ấy, thái tử và ba quan tựu tới, đưa vợ chồng Triệu vương lên đường, thảy đều rơi lụy phân tình hai ngả. Sanh kỳ giục giã, đêm nghĩ ngày đi, Đàm thành đã thấy xa xa, Chung hậu truyền tam quân hạ trại.
Đây nói về Liêm Pha, từ khi bị chư thần làm mưa đá, hao tổn hết tám muôn binh, viết biểu văn đem về Hàng Đan xin thêm binh cứu viện, nhưng trông hoài chẳng thấy hơi tăm. Đương khi buồn bực biếng nằm, bỗng thấy quân kỳ bài chạy đến bảo rằng:
- Yến Anh đã thỉnh được Chung Vô Diệm và Đông lộ vương Điền Côn rồi, nay dẫn binh tới ước đặng chừng ba ngàn đã an dinh hạ trại, nên chúng tôi phải vào thưa lại, xin nguyên soái lo kế cự đang.
Liêm Pha nghe báo cả kinh. Năm cha cho nai nịt thảy đều cầm thương lên ngựa, thẳng tới Tề dinh mà khiêu chiến. Chung hậu liền sai Điền Côn ra cự địch. Điền Côn liền giục ngựa xông ra. Liêm Pha hươi thương đón lại mà rằng:
- Bớ thằng sơn tặc! Trái mật mày lớn đặng bao mà dám tới đây nạp thịt! Như đó muốn vào Đàm thành thời khó lắm, hãy về bắt con xủ phụ mà dưng cho tao, thời mới được toàn sanh.
Điền Côn nghe nói cả giận lôi đình, hươi thương tới đâm đại. Liêm Pha cũng hươi thương trước đánh, bốn người con cũng xông tới một lượt, một mình Điền Côn tả hữu xung đột, đánh sao lại Liêm ngũ hổ. May đâu Điền Côn cũng chưa tới số, Chung hậu liền giục ngựa chạy ra, truyền tam quân áp dẫn tù xa, kêu Liêm Pha nhướng mắt ra ngó. Cha con Liêm Pha thấy đà tỏ rõ, hai tù xa nhốt lộn lại bốn người. Cha con Liêm Pha thấy vậy liền quỳ xuống, xin chịu tội với Chung nương nương. Chung hậu mới nói rằng:
- Liêm nguyên nhung! Ta cũng tạ tội cho cha con mi đó, nhưng phải theo ta vào Đàm thành, rồi cho vua tôi về nước.
Năm cha con Liêm Pha vưng mạng. Lúc đó Chung hậu đi trước, Điền Côn cưỡi ngựa theo sau, còn Yến Anh thời áp giải hai cái tù xa, lại ngó mặt Liêm Pha cười chúm chím và kêu Liêm Pha nói rằng:
- Liêm hiền điệt ôi! Như ngu huynh chẳng làm kế khổ nhục, làm sao ra khỏi trùng vây. Bây giờ anh em gặp lại nhau đây cũng là Nhân các vị kỳ chúa.
Liêm Pha tức mình căm giận chẳng dám nói ra, đi một đổi xa xa đã tới Đàm thành. Yến Anh bèn tới trước kêu lớn quân giữ thành:
- Quân chánh ty xem mau vào tâu thiên tử rằng ta đi cầu cứu nương nương đã đặng và thâu phục được vua tôi Triệu vương rồi nữa.
Quân chánh tý xem thấy cả mừng vào tâu lại cho Tuyên vương hay. Tuyên vương lòng mừng khấp khởi như người tỉnh giấc chiêm bao, bèn lật đật truyền văn võ bá quan đồng hộ giá ra cửa thành đón tiếp.
Khi đã đi tới nới, Chung hậu quỳ xuống tiếp giá. Tuyên vương cầm tay đỡ dậy và nói rằng:
- Ngư thê ôi! Vì trẫm chẳng nghe lời can gián nên làm cho dấy động đao binh, như ngự thê quyết chẳng thương tình thời cô gia cũng đành nhắm mắt.
Nói rồi rơi lụy dầm dề. Chung hậu thấy hình dung Tuyên vương mình hạc xương mai thì cũng động lòng tâu rằng:
- Xin chúa thượng thứ tha cho thần thiếp. Vì thiếp vô tình không trở về mau mà cứu giá để cho long thể hao mòn, đạo thân nữ đã cam lỗi đạo.
Nói rồi vợ chồng dắt nhau vào thành, thẳng tới Hồi long điện, bá quan cùng Triệu vương lục đục theo sau. Tuyên vương và Chung hậu vào ngồi nơi long tọa, đợi văn võ bá quan triều bái xong, Chung hậu mới thuật lại sự đã tới Hàng Đan, bắt vợ chồng Triệu vương về cho Tuyên vương nghe. Kế đó truyền lệnh Điền Côn dẫn vào hai cái tù xa tới trước sân chầu. Chung hậu chỉ mà nói rằng:
- Xin chúa thượng hãy xem xét lại cho kỹ. Những người ở trong tù xa đó có phải là quốc trượng và nhạc mẫu của chúa thượng hay không.
Tuyên vương cũng biết Chung hậu làm nhục mình, bèn làm thinh không nói. Chung hậu lại truyền quân tháo tù xa cho vua tôi Triệu vương ra, hai vợ chồng Triệu vương, Lạn Tương Như, Lý phu nhân và Liêm Thoại Hoa tới trước long điện quỳ lạy tạ ơn. Chung hậu bước xuống đỡ dậy, bắt tay mời ngồi. Tuyên vương thì ngồi với Triệu vương, Chung hậu ngồi ngang với Qua hậu mà nói chuyện.
Giây lâu tiệc rượu dâng lên, đồng ăn uống vui vầy, Chung hậu khi ấy mới nói rằng:
- Ai gia cam chịu lỗi, làm nhục tới Lưu bang, từ rày hai nước giao hoan Tề với Triệu như con một mẹ.
Triệu vương đáp rằng:
- Hạ bang cam chịu tội. Từ đây hai nước giảng hòa, ba năm tấn cống một lần, xin tôn Tề làm thượng quốc.
Chung hậu lại kêu Liêm Pha mà nói:
-Liêm nguyên nhung! Nay ai gia có một chuyện không biết vợ chồng tướng quân có bằng lòng không?
Nói rồi bèn khiến Điền Côn châm ba chung ngự tửu tới dâng cho Liêm Pha. Lại dâng thêm ba chung nữa dâng cho Lý phu nhân. Hai vợ chồng tiếp lấy tạ ơn rồi cứ ngồi theo ngôi thứ. Chung hậu nói:
- Vì vương nhi là một anh hùng cái thế mà lương duyên chưa định chỗ nào. Ai gia muốn cho Điền Côn với Liêm Thoại Hoa kết tóc trăm năm cang lệ.
Hai vợ chồng Liêm Pha nghe nói đứng dậy tâu rằng:
- Trên quốc mẫu đã có lòng thương tôi, dưới ngu thần đâu dám chối từ. Ấy là: Duyên cát đằng thuận nẻo gió đưa, khiến hai họ xe tơ Tần Tấn.
Lúc đó Điền Côn với Liêm Thoại Hoa ngó nhau mắc cỡ sượng trân nhưng không dám kiếu từ, cực chẳng đã phải ngồi dự tiệc.
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-19 01:58:08Hoàng Dung>
hồi thứ bốn mươi ba
CHUNG HẬU ĐỔI ĐỐT TRONG CUNG
TRƯƠNG PHI VONG THÂN TRƯỚC ĐIỆN
 
 Khi vua tôi hai nước yến ẩm vui say, kế đâu mặt trời đã xế về tây. Yến thừa tướng đánh tay toán quẻ thì biết nương nương với thiên tử có ba đêm an ái, nên bước ra tâu rằng:
- Mặt trời đã gác núi, tiệc rượu cũng đã mãn rồi, chúng tôi phải từ lui, xin thánh hoàng định đoạt.
Tuyên vương nhậm tâu, lại truyền cho Yến Anh rước vợ chồng Triệu vương và văn võ bá quan tới nơi hành dinh yên nghỉ.
Nói về Tuyên vương bị vây trong Đàm thành tới nay đã hơn ba tháng, lửa dục phừng phừng mùi xuân vắng vẻ, cung nga thế nữ chẳng thấy một người, đương lúc rượu say mơ màng giấc điệp. Còn Chung hậu ra sau hoa viên ngoạn kiểng, thấy bóng trăng thêm động lòng, chữ vợ chồng đồng tịch đồng sàng, chín thu chẳng chút tình ân ái. Suy đi nghĩ lại thêm tủi phận mình, nếu không công trận với triều đình thì thiên tử cũng thị mình như hành khách, niềm tâm sự biết cùng ai biện bạch, oán khí xung thấu tới từng mây. Đương khi Lê San thánh mẫu ngồi trên liên đài, thấy oán khí liền đánh tay rõ biết cũng vì Tề vương ác nghiệt, hiềm Chung nương nương diện mạo xấu xí nên vợ chồng loan phụng chẳng hòa, khiến cho gã ưu sầu oán trách. Nghĩ rồi bèn đòi Nguyệt lão thần tới bảo rằng:
- Ta phiền tinh quân đem cái dạ dung xoa này đằng vân tới Đàm thành mà làm như vầy... như vầy...
Nguyệt lão vưng lệnh, đằng vân tới Đàm thành. Vừa khi Chung hậu ngồi dưới bóng trăng xem hoa đua nở, bỗng thấy một đám tường vân chớn chỡ, giữa không  trung bay xuống một tờ giản thiếp rõ ràng, Chung nương nương lượm lấy vội vàng thấy có mấy câu thi như vầy:
 
 Ta là thần nguyệt lão, vâng thánh chỉ tới đây,
Đưa bửu xoa cho mượn, múa hát lại vui say.
Ba đêm đều đổi lốt, loan phụng thảo sum vầy,
Long thai trời cho sẵn, mai sau trổ anh tài.
 
 Khi Chung hậu coi hết bài thơ bèn quỳ xuống lạy tạ ơn. Nguyệt lão tức thì sa xuống giữa hoa viên, đưa cho Chung hậu một đôi bông dạ dung với hai cái ly bằng ngọc và dặn rằng:
- Ta vâng lệnh Lê San thánh mẫu đưa tiên bửu xuống cho tinh quân. Đôi bông này ban đêm thì giắt vào trong mái tóc, ban ngày thì cất nó đi, hình dung biến đổi tức thì, chắng khác chi tiên quảng hàn giáng thế. Còn cặp ly này cũng là vật quý, hễ để lên bàn thì đu đồ hải vị sơn trân, lại thêm thế nữ ca xang múa hát, cuộc yên lạc vầy đoàn giai ngẫu.
Chung hậu tiếp lấy tạ ơn rồi nguyệt lão đằng vân bay mất.
Khi đó Chung hậu làm y như phép, bước vào cung, để cặp ly lên trên bàn, bèn thấy tám thế nữ ca xang, hổ tiên nhạc du dương inh ỏi. Tuyên vương giật mình thức dậy, bước vào nơi hậu cung, thấy Chung hậu còn ngồi trên ghế, hình dung tươi tốt, diện mạo khác xưa, mày liễu má đào, hoa nhường nguyệt thẹn, lại có cung nga thế nữ dâng rượu, đàn ca, hai hàng múa hát tưng bừng inh ỏi. Tuyên vương thấy vậy lòng mình phơi phới, hẳn khác như trời đại hạn mà gặp mưa rào, thỏa tình khuya sớm ước ao, ấp mận ôm đào gác nguyệt.
Lúc này Tuyên vương rượu đã xoàng xoàng, bèn nắm tay Chung hậu dắt vào trong loan cung, chúng thể nữ xem thấy đi mất hết. Chung hậu mới tâu rằng:
- Chỗ này chẳng phải Chiêu Dương điện, vợ chồng ân ái không nên, và lại thần thiếp diện mạo xấu xì, sao cho bằng Trương Thúy Vân với Yến Bình công chúa.
Tuyên vương nói:
- Ngự thê đừng chấp nhứt, cô gia đã biết rồi, ngàn vàng không chuộc một lời, thất tịch đã thành giai hội.
Chung hậu cũng không phương từ chối, dắt tay nhau bước tới màn loan. Hải đường mừng đặng mưa xuân, ân vũ lộ đã thỏa tình thần nữ. Vui dài đêm vắn, trời đã hừng đông, Tuyên vương sửa soạn lâm trào còn Chung hậu giấu hết những đồ tiên báu.
Khi Tuyên vương lâm điện, văn võ triều bái xong, Chung hậu cũng ra ngự chánh. Tuyên vương ngó thấy Chung hậu hình dung chẳng khác xưa, mới nghĩ thầm rằng: Ngự thê hồi hôm sao chẳng khác bồng lai tiên nữ, bây giờ như Thập Diện dạ xoa, hay là đương khi mình say rượu ngà ngà, con mắt ngó chớp lòa chẳng thấy. Kế đó vợ chồng Triệu vương, Lạn Tương Như, và Liêm Pha tới triều kiến. Chung hậu phân ngôi tân chủ mời ngồi rồi truyền quan dọn yến tiệc thiết đãi. Rượu đặng vài tuần, Chung hậu nói với Triệu vương rằng:
- Nay ai gia tha cho ba năm tấn cống, trở về sửa sang trị nước nhà. Từ đây Tề, Triệu giao hòa nghĩ thuần xỉ tình sui gia hai nước.
Triệu vuơng cảm tạ. Chung hậu lại kêu Liêm Pha nói rằng:
- Vợ chồng tướng quân phò giá hồi quốc, phải hết lòng ngay mà tá trợ quốc quân, đồ trân châu này ta để làm tin, ấy vật mọn dùng làm sính lễ.
Hai vợ chồng Liêm Pha nhận lấy báu vật giao hết cho gia tướng cắt đặt hẳn hòi. Chung hậu lại kêu Điền Côn dặn rằng:
- Vương nhi phải theo Liêm nguyên soái tới Hàng Đan lựa ngày lành thành thân, dây cát đằng vương cấn tình ân, duyên túc thế Châu, Trần hai họ.
Điền Côn cúi đầu lạy tạ. Tiệc vừa tàn thì cũng đã hoàng hôn, vua tôi Triệu vương từ giã bá quan trở lui về nước. Còn Tuyên vương lui vào Hồi long điện, Chung hậu nhập hậu cung, nhớ lời nguyệt lão tơ hồng cho vợ chồng ba đêm ân ái, mới đem dạ dung xoa gắn lên mái tóc và lấy hai cái ly ngọc để trên bàn, thấy tám thể nữ ca xang cùng đủ mọi đồ yến tiệc. Khi ấy Tuyên vương nghe tiếng đờn ca xuớng hát lại lò mò đi tới hậu cung, thấy nương nương lịch sự vô cùng, cũng chẳng khác tiên bồng giáng thế. Chung hậu xem thấy rước mời nơi long ỷ, bọn cung nga dâng rượu vài tuần. Tuyên vương uống đã say mèm, rồi vợ chồng dắt nhau vào phụng trướng, cuộc hành lạc vẫy vùng phỉ chí, chữ phong lưu một giấc thừa hoan, Tề triều cơ nghiệp giang san, tinh tú đã ứng vào mộng mị.
Đây nói về một ngày nhằm tiết lương thần, chư vị tinh quân về chầu Ngọc Đế. Sau khi triều bái xong, Ngọc Hoàng mới phán rằng:
- Thái Bạch kim tinh! Nay ta sai ngươi xuống hạ giới đầu thai làm con của Mao Đoan tinh, tới Hoài Nam phủ mới sinh, bỏ giữa đất không ai nuôi nấng, người dân dã đem về cấp dưỡng, ngự úy gọi là Điền Đơn, đợi đến hội Tương giang trận thượng cứu nạn, mười hai tuổi mẹ con mới đặng gặp.
Ngọc Đế phán rồi lại sai Thổ địa thần đi dẫn lộ, hai vị đều từ tạ lui ra, đằng vân bay tới Đàm thành trong giây lát.
Khi ấy Chung hậu còn đang giấc điệp mơ màng, bỗng thấy có một người tới nói rằng:
- Ta là Thổ địa thần đưa tinh quân xuống làm thái tử đông cung. Nưong nương tua khác bằng lòng, bổn phận phải về trời phục chỉ.
Nói rồi biến mất, kế nghe trống điểm canh năm. Chung hậu giật mình thức dậy thì trời đã sáng, vội vàng đem giấu đôi bông dạ dung, kêu Tuyên vương dậy lâm trào thị chánh. Kế thấy văn võ bá quan thảy đều đến chầu đủ mặt. Yến Anh liền bước ra tâu rằng:
- Mừng thánh thượng muộn năm khương kiết, nay giang san nối nghiệp có người. Nương nương đã ứng mộng long thai, thái tử tất sanh tài hổ phục.
Tuyên vương nói:
- Hoài thần hay bá láp, khéo kiếm chuyện cười ta, phải đánh chết lão già này, kẻo mà hay sinh sự.
Nói rồi liền truyền bãi chầu, văn võ lui về an nghỉ.
Đây nhắc lại từ khi Chung hậu giải vây đặng nhập thành tới nay đã được ba ngày, bữa nay mới sai quan khao thưởng quân sĩ và dỗ an dân thứ xong thì trời đã tối, Chung hậu lại vâng lời nguyệt lão, làm như vậy cho đủ ba đêm. Ấy là: Sắt kia vào lửa cũng mềm, huống chi kẻ tục người tiên trong đời.
Rạng ngày sau, Chung hậu tâu với Tuyên vương rằng:
- Nay tai nạn của bệ hạ đã hết rồi, vậy xin ngự giá hồi triều, ngõ hầu sửa sang chánh nước.
Tuyên vương nhậm tấu, liền truyền cho Điền Năng sửa sang nghi vệ mà hộ giá trở về Lâm Tri, lại đòi quan huyện ở Đàm thành tới gia thăng tam cấp, còn bá tánh tha thuế một năm, như ai có hư cửa hại nhà, cấp thêm cho tiền bạc. Phân phát xong, bắn ba tiếng pháo, vợ chồng lên xe, bá quan đều theo hộ giá trở về Lâm Tri.
Đây nhắc lại nhiếp chánh lão vương là Điền Dưỡng đương lúc lâm triều có quan huỳnh môn vào tâu rằng:
-  Quân sư làm kế khổ nhục, tới Thường Sơn cầu viện Chung nương nương, người hiệp với Đông lộ vương kéo binh về Đàm thành đã thâu phục được Triệu vương. Nay đã ban sư trở về nước, cách Lâm Tri chẳng có bao xa, xin tâu với vương gia ngõ hầu xuất thành nghinh tiếp.
Điền Dưỡng cả mừng, liền truyền cho văn võ triều thân ra khỏi thành tiếp rước. Khi đã tới nơi, Điền Dưỡng quỳ xuống bên đường, Tuyên vương nổi giận mắng rằng:
- Lão già kia! Quả nhân có cừu hận gì với ngươi mà ngươi chỉ cho Liêm Pha đến đánh thành vây khốn? Đao phủ quân đâu? Bắt lão già ra chém đầu cho biết mặt.
Quân đao phủ vâng lệnh áp lại trói Điền Dưỡng mà dẫn đi. Yến Anh lật đật chạy tới tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Sự ấy chẳng phải tự lão vương gia. Vì lúc bệ hạ thấy điềm chiêm bao thì ngu thần đã biết có Triệu binh tới đánh, bởi vậy ngu thần mới tâu bệ hạ tới Đàm thành mà tị nạn trăm ngày. Ngu thần có viết tờ cẩm nang lưu lại, bảo lão vương gia y theo mật kế, ấy là tai nạn của bệ hạ chứ chẳng phải lỗi nơi ai. Khi Triệu vương dẫn công chúa Yên Bình, nhu thần đã đôi ba lần can gián.
Tuyên vương nhớ lại sự mình làm quấy, liền truyền quân mở trói cho lão vương, rồi hai chú cháu trò chuyện với nhau đi thẳng về Lâm Tri báu điện.
Khi vợ chồng Tuyên vương về tới ngự nơi Kim Loan điện, văn võ triều thần và tam cung lục viện, thảy đều tới triều kiến thiên tử cùng Chung nương nương. Tây cung là Trương phi cũng tới triều bái. Khi ấy Chung hậu ngó thấy mặt Trương phi, bụng sôi sục sục, mặt đỏ phừng phừng, đứng dậy níu long bào của Tuyên vương mà nói rằng:
- Thiên tử! Đàm thành bị khốn, ai gia thâu phục Liêm Pha, nay đà an nước an nhà, sự cừu hận bỏ qua không đặng. Muôn tâu thiên tử! Vậy chớ lửa đốt lãnh cung hôm nọ, chủ mưu bởi tại nơi ai? Xin thiên tử tỏ thiệt tên người, giao cho văn võ liệu bài công đoán.
Tuyên vương nghẹn họng, không biết tính lẽ nào, giây lâu mới nói:
- Ngự thê ơi, việc đã lâu ngà, trẫm không còn nhớ.
Chung hậu lại hỏi Yến Anh rằng:
- Quân sư là một người toán quẻ rất hay, vậy có biết ai không xin hãy nói.
Yến Anh quỳ tâu:
- Chuyện phóng hỏa lãnh cung hỏi nơi thiên tử, ngu thần dầu biết cũng không dám tỏ bày.
Chung hậu nổi nóng chỉ mặt Trương phi nói rằng:
- Mày là đồ nghiệt súc! Sao dám mưu toan ám hại ai gia. Đao phủ hãy bắt nó cho ta, mau phân thây thành muôn đoạn.
Yến Anh khi ấy bước lại tâu rằng:
- Xin nương nương bớt giận, sự đó cũng đã lâu rồi, xin nhậm lời ngu thần sở tấu, đánh đòn Trương phi cũng đủ còn sự chém xin dung.
Chung hậu y lời, liền truyền cho quân ngự lâm đè Trương phi xuống giữa sân chầu mà đánh bốn chục roi, máu chảy dầm dề, rên la inh ỏi. Không dè lúc ấy Trương phi đã tới số, thở ra một tiếng mà đi xuôi. Yến Anh lật đật quỳ xuống tâu bày:
- Tây cung hồn đã về chín suối.
Tuyên vương nghe nói té xỉu xuống ngai rồng. Văn võ bá quan kêu cứu giây lâu mới tỉnh, bèn thở ra thở vào lụy tuôn rơi lai láng! Rồi chỉ mặt Chung hậu mà mắng rằng:
- Mày là loài ác nghiệt, dám khi dễ phép triều đình. Nay Tây cung đến triều kiến quả nhân, mày lại đến khiến đánh người bỏ mạng. Trị điện tướng quân đâu? Bắt con xủ phụ trói lại lập tức.
Quân ngự lâm vừa muốn động thủ, Chung hậu cầm Định tề đao hươi lên tâu rằng:
- Thần thiếp chẳng phải đành lòng phi nghĩa, tại Trương phi ở dạ bất nhân, như hôm trung thu đem lửa lại đốt lãnh cung, nếu nhằm người khác sao toàn tánh mạng. Tới nay chúa thượng Đàm thành bị nạn, lấy ai cứu giá về đây? Thánh hoàng chẳng suy xét gian nguy, thần hậu cũng cam lòng phản quốc.
Nói rồi cầm đao đi thẳng ra Ngọ môn. Yến Anh lật đật quỳ xuống tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ! Xin suy đi xét lại, nếu Chung hậu đem lòng tạo phản thì Tề quốc thuộc về tay người.Thánh hoàng nếu chẳng nghe lời, xin chém ngu thần trước mới đành dạ.
Tuyên vương nói:
- Tiên sinh ôi! Một tay con xủ phụ giết chết ba người, bây giờ trong tam cung lục viện không ai, khiến trẫm những đêm ngày phiền muộn.
Yến Anh nghe vua đòi vợ gấp, túng thế phải tâu bừa rằng:
- Tôi hồi hôm xem thiên tượng thấy Trương phi đã tới ngày tận số. Nay có một sao Thủy tinh sáng ngời, ắt có kẻ hơn người tài sắc. Nay thánh thượng trất lương Chung hậu, rồi sai người đi kén mỹ nhân, ấy là kế vẹn toàn mà an nước lợi nhà.
Tuyên vương cả đẹp, liền hối Yến Anh chạy theo ra Ngọ môn mà thỉnh Chung hậu trở vào. Tuyên vương mới phán rằng:
- Nay cô gia tha tội, phải phạt bổng ngự thê ba năm.
Chung hậu cúi đầu vâng chịu, rồi đi thẳng về Chiêu Dương cung. Kế đó, Tuyên vương sai quan Lễ bộ tẩn liệm thi hài Trương phi liệu bề an táng.
 
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-19 02:06:38Hoàng Dung>
hồi thứ năm mươi
Nơi Hoa viên, trang lầu bị cháy
Tại Bình Sơn, Chung hậu kén chồng
 
 
 
 Nói về Tề Tuyên vương từ khi phân biệt với Chung Vô Diệm thì đã có Yến Anh bảo giá, vua tôi trở về tới kinh thành. Bá quan tiếp rước Tuyên vương vào cung thì tây cung là Hạ Nghinh Xuân ở nhà đã làm sẵn một cái Sở trang lầu mà tị thử (tránh nắng), nay Tuyên vương về tây cung, Hạ phi ra tiếp mừng rồi rước thẳng lên trang làu dọn bày tiệc rượu. chén thù chén tạc, tiếng quyển tiếng kèn, Tuyên vương quýnh quíu đê mê, đêm ngày luống những say mê tửu sắc. Đương lúc vợ chồng uống rượum thấy nội giám vào tâu rằng:
- Chung quốc mẫu phá đặng Hỗn thiên trận, giết gian thần với yêu phụ Túy Vân, nay ban sư tấu khải hồi trào, cách hoàng thành chừng ba chục dặm.
Tuyên vương nghe tâu cả sợ, bủn rủn tay chân, làm rớt cái ly xuống bể tan ra mà không hay biết gì, miệng làm như người á khấu, muốn nói mà chẳng nói ra lời, giây lâu mới tỉnh, bèn nghĩ thầm rằng: “ta tưởng rủa nó qua bên Yên cho tuyệt mạng, đặng để quả nhơn vui vẻ với tây cung, ai dè đâu trời không độ anh hùng, lại khiến cho nó đắc kỳ công ban sư về nước. Nghĩ như vậy lại thấy nội giám vào báo rằng:
- Chung nương nương đã đến trường đình, xin thiên tử phân tường sau trước.
Tuyên vương cực chẳng đã phải truyền cho nội thị sắm sửa xe giá đồng đi ra tiếp nghinh. Sắp đặc xong, Tuyên vương lên long xa đi trước, văn võ triều thần hộ giá theo sau, vừa đi tới trường đình, Chung hậu nhìn thấy bèn xuống ngựa quỳ tâu rằng:
- Thần hậu có tài đức chi mà dám phiền thánh giá tới đây tiếp rước.
Tuyên vương lật đật cầm tay chẳng lẽ vừa cười vừa nói rằng:
- Ngự thê vì nước dày công lao khổ, bởi vậy cho nên trẫm phải thân nghinh mơi xứng đáng cho.
Nói rồi vợ chồng dắt nhau vào dịch đình trà nước Chung hậu bèn thuật lại hết chuyện cầu cứu của Yên Đơn công chúa cho Tuyên vương nghe một hồi, rồi truyền lệnh hộ giá về thành an nghỉ. Khi về tới Kim Loan điện, văn võ triều bái xong, Chung hậu tâu với Tuyên vương xin cấp phát bạc tiền mà thưởng công lao cho tướng sĩ, rồi lại truyền cho nội thị dọn tiệc đãi yến triều thần, vua tôi chung hưởng vui vầy, nhạc công đờn ca inh ỏi. Tiệc vừa mãn thì mặt trời gác núi, Tuyên vương bèn hạ chỉ bãi triểu, bá quan đều tạ ơn lui ra. Chung hậu cũng xin kiếu mà lui về Chiêu Dương cung, Tuyên vương khi ấy lại dặn Chung hậu rằng:
- đêm nay trẫm sẽ tới Chiêu Dương cung mà vui vầy cùng ngự thê một tiệc.
Nói rồi lui vào hậu viên thay đổi triều phục, bèn sực nhớ lại lúc bị khốn nơi Đàm thành, Chung hậu tới  giải vây, vì cớ sao có ba đêm lịch sự như tiên bồng, sao nay bà chằng cũng chưa hoàn cốt? Nếu trẫm mà tới đó hôm nay chắc lâu ngày nó cũng muốn nọ kia. Tuyên vương vừa đương suy nghĩ, xảy đâu lại thấy tây cung bước tới tiếp rước chào mừng, Tuyên vương bèn nói rằng:
- Thôi, thôi, hôm nay trẫm đi với ái khanh , để ngày mai sẽ tính một kế.
Nói rồi vợ chồng dắt tay tới Sở trang lầu mà vui vầy tiệc rượu.
 
Nói về Chung hậu, khi nghe Tuyên vương hứa với mình hôm nay sẽ tới Chiêu Dương cung, thì trở về lật đật sai nội giám sửa soạn tiệc rượu dọn dẹp tươm tất trong cung, bốn phía đều đèn thắp sáng ngời, một mình luống vào ra thơ thẩn, từ đầu hôm cho tới quá canh một, trông đã mòn con mắt, bèn nghĩ rằng: “Hay là thiên tử mắc lắm việc nước nhà, nên nói với ta lỡ tiếng chăng? Nghĩ rồi bèn cầm báu kiếm đi xem tinh tượng, giây lâu sanh canh ba trống đã điểm đầu, trước sau nào có ai đâu,trong cung điện thảy đều say giấc điệp. Kế giây lát đồng hồ nhặt thúc, trống tiêu lầu đã trở canh tư, trăng lu sao lặn lờ mờ, gần đó nghe tiếng gà đã gáy, cả đêm chẳng hề nhắm mắt, cứ vào ra than thở một mình, gà gáy giục trời vừa gần sáng. Chung hậu mới truyền cho nội giám đi dọ coi thiên tử ở cung nào. Giây lâu nội giám trở vè tâu lại rằng:
- Hồi hôm thiên tử nghỉ lại tây cung.
 
Chung hậu nghe tâu nổi giận nhu lửa đốt gan, bèn trách thầm rằng: Sao thiên tử vô tình bạc đãi, nói dối với ta làm yến tiệc sẵn bày, trông đợi sáng đêm chẳng có lai vãng. Nghĩ vậy cả ngày Chung hậu bụng thêm phiền não, chẳng hề ăn uống chút nào, cung nhân thấy vậy mới tâu rằng:
- Xin nương nương đi dạo mát hoa viên, mới tỏ tường áo lý, trước là lánh bề tử khí, sau thời hứng gió tiêu sầu.
Chung hậu nghe tâu đẹp dạ, liền khiến cung nga dẫn lộ thẳng tới hoa viên, thấy những thạch lựu phơi màu đỏ, ao sen mịt sắc xanh, ve ngâm lăng líu trên thành, yến nói véo von bên núi, cảnh trí rất u nhã, mùi hương thơm ngạt ngào, đầy vườn vượn hú oanh chào, dưới bóng tòng lâm ngồi hóng gió. Lúc ấy bớt hơi nắng, sực nhìn lên ngó thấy lầu đài tỏ rõ nguy nga, mười phần mỹ lệ tinh hoa. Chung hậu kêu cung nhân hỏi rằng:
- Cửa nhà ai đó?
Cung nga mới quì tâu phán tỏ rằng:
- Khi thiên tử Hoài Nam phó hội, Hạ nương nương ở nhà sắc sai công bộ làm tòa nhà ấy kêu là Sở trang lầu. Từ khi thiên tử hồi triều tới bây giờ, thường đêm ngày ở đó đàn ca rượu tiệc.
Chung hậu nghe tâu vừa dứt, cả giận mắng rằng:
- Đồ tiện tỳ sao dám làm điều phi pháp, đã hao tốn mà làm hại của nước nhà! Nói vậy, chắc có thiên tử ở trên đây, để ai gia đi lên xem cho biết.
Nói rồi truyền cung nga dẫn lộ, đi tới nơi thấy trinh sơn, cột chạm, cửu đá, rèm châu, Chung hậu bèn bước tới trong tẩm phòng, thấy đủ những đồ ngự dụng, ngó ra nơi cửa sổ nghe có tiếng đàn địch vàng đầy, dòm qua phía hiên Tây, thấy hai người còn đang uống rượu. Tuyên vương ngồi bên tả, Hạ Nghinh Xuân ngồi bên hữu, ngó qua liếc lại, chén khuyên chén mời, giây lát Hạ phi lại ngồi lên nơi bắp vế Tuyên vương còn thể nữ hai bên đứng quạt, Hạ phi cất tiếng lên hát. Tuyên vương cầm trống đánh chầu, cuộc vui chơi đà thất thể diện quân thần, cơn say sưa lại lõa lồ thân thể. Chung hậu thấy vậy ta nha thiết xỉ muốn nhảy ra đánh cho chết Hạ phi, cung nga liền quỳ xuống tâu xin xét suy, Chung hậu mới dịu cơn tức giận bèn bỏ đi vòng ra sau nhà tắm, thấy có một cái kiếng sáng hào quang, Chung hậu mới nói:
- Ai gia từ bé tới nay, chẳng biết hình dung tốt xấu thế nào, nay mới thấy cái lãng hoa kiếng ở đây vậy để xem thử coi dường bao cho biết.
Nói rồi đứng ngắm nghía hồi lâu, thấy miệng cọp, mặt beo, mỏ ó, tai lớn, tóc đỏ, mũi cao, lại có bốn cái nanh xỏ ra ngoài môi, coi rất hung ác. Xem rồi tức giận lại buồn cười, rồi hỏi cung nga rằng :
- Ai đứng ở trong kiếng đó vậy?
Cung nga tâu rằng :
- Thiệt là hình của nương nương đó.
Chung hậu lại hỏi:
- Hình ai gia xấu như vậy hay sao? Nếu vậy chẳng trách chi thiên tử không đem lòng đoái tưởng, còn Tây cung được chúa thương yêu, xét mình phước ít tội nhiều, nên mới sanh hình xấu xa như vậy. Thôi, cũng chẳng tưởng chi Chiêu dương là vinh hiển, trở về Thường Sơn hái dâu cho qua tháng ngày, cung nhân bay khá ra tay, phá cho hư hết những đồ ngoạn hảo.
Cung nga vâng mạng, phá nát toan hoang. Rồi Chung hậu lại biểu theo mình mau trở về cung viện, bèn lấy báu kiếm niệm chân ngôn ít tiếng tức thì liền thấy thần Chúc Dung ứng hiện lên hầu. Chung hậu nói rằng:
- Ai gia phiền toô thần đốt nát Sở trang lầu và Tây phi cung viện.
Nói rồi cầm gươm trở vô cung báu, Chúc Dung liền vâng pháp chỉ thẳng tới tru phòng, mượn nhân hỏa đằng không rật rật, giây lát lâu đài cháy hết, gió càng đưa ngọn lửa lên càng cao, đầy sân lá chạy lao xao. Vợ chồng Tuyên vương hồn bất phụ thể, chẳng hay thình lình ở đâu phát, trong mình còn bận một cái áo mất thôi, đâu không nón, tóc bỏ xả, chạy nhào tới Kim loan điện, truyền nội giám đánh trống đổ chuông nhóm triều thần tựu tới. Khi văn võ bá quan đến chầu đông đủ, còn quân Ngự Lâm kẻ xách nước nhiều cầm gầu, đua nhau chạy tới ra tay chữa lửa. Còn Yến Anh thấy Tuyên vương lõa lồ thân thể như vậy liền cởi bào của mình dâng cho thiên tử và tâu hỏi rằng:
- Vì sao thánh thể trần truồng, xin thiên tử phán tường áo lý cho ngu thần trước sau tự sự.
Tuyên vương nói:
- Lúc trẫm đương mê giấc ngủ, giựt mình nghe lửa cháy rần rần, kíp tầm sanh lộ thoát thân, tưởng chi tới những quần với áo.
Yến Anh nghe vậy nực cười chẳng dám nói, liền truyền nội giám vào lấy đồ triều phục ra cho thiên đổi thay, Tuyên vương mới hỏi:
- Hạ quý phi bây giờ ở đâu? Còn Chiêu Dương cung lửa có cháy tới chăng?
Nội giám tâu:
- Tôi thấy Hạ nương nương chạy ra phía sau lầu, còn Chung quốc mẫu tôi lại thấy đương cầm thanh gươm đứng nói chi lầm thầm không biết.
Tuyên vương nghe tâu bèn ngẫm nghĩ rằng: “Chắc là con xủ phụ nó cố ý đốt ta với Hạ thị đây chớ chẳng ai, để ta bắt nó giết phứt đi cho rồi kẻo để nó sống cứ theo bao hại. Nghĩ rồi bèn truyền cho ngự lâm quân biểu điểm quân tới vây Chiêu Dương cung. Lúc đó Chung hậu đã hay rồi, kíp truyền cung nhân cầm lấy cây kiếm báu, chạy thẳng tới phủ Điền Côn, biểu vợ chồng phải dẫn binh vào cung cho mau vì có việc cần. Cung nhân vâng lệnh, thẳng tới vương phủ, thuật lại mấy lời cho Điền Côn nghe, vợ chồng lật đật sửa sang nai nịt cầm đao lên ngựa, dẫn theo tám viên dũng tướng còn tam quân thì kéo theo sau. Khi đi tới cung môn, Điền Côn nạt một tiếng quân ngự lâm đứng vẹt hai bên, Điền Côn cầm đao đứng giữ giữa, còn Liêm Thoại Hoa đi tuốt vào trong cung tâu hỏi Chung hậu:
- Vì việc chi thiên tử lại sai quân tới vây cung điện?
Chung hậu thuật lại các việc cho Liêm Thoại Hoa nghe, rồi cũng sửa soạn những đồ bảo bối liền lên ngựa đi ra khỏi cung môn, kế gặp Điền Côn phân trần sự việc một hồi nữa, Điền Côn nổi giận nói rằng:
- Nhân lúc này mẹ con ta giả làm phản, kéo binh đi cho hôn quân biết mặt.
Nói rồi ba mẹ con dắt nhau ra đi vàn dẫn theo một muôn binh mạnh, nhắm Triệt Long sơn giao giới. Chung hậu bèn truyền quân lên Túy Bình sơn hạ trại và sai tú trúc thành trì làm cũng như nghi vệ hoàng gia. Cách ít ngày làm xong dinh trại, Chung hậu mới nói với Liêm Thoại Hoa rằng:
- Vương tức thêu dùm ta một cây cờ chiêu phu cho khéo trước làm cho người ta coi cho vừa mắt, sau nữa mưa gió cho khỏi mau hư, vì ai gia có sự cần dùng, vương tức chẳng nên trễ nải.
Liêm Thoại Hoa vâng lệnh trở về phòng sửa soạn đồ kim chỉ ra ngồi thêu được ít chữ kế thấy Điền Côn bước vào trợn trạo hỏi, Thoại Hoa thuật lại các lời. Điền Côn mắng rằng:
- Nàng sao lếu quá, không hiểu thời sự gì, chẳng qua là quốc mẫu giận chúa thượng bỏ đi, nói ra những điều như vậy, chớ có lẻ nào một vị mẫu nghi trong nước đi làm cái sự tệ vậy sao? Hiền thê hãy dẹp đi, chớ làm chi cho mệt.
Thoại Hoa không nghe cứ ngồi thêu hoài, Điền Côn nổi giận lấy những đồ thêu dẹp đi, vợ chồng giành xé rầy lộn nhau một hồi, kế thấy Chung hậu bước tới khuyên giải, nói với Điền Côn rằng:
- Thật là ai gia cậy nó, vì đây có sự cần dùng.
Điền Côn nghe nói mấy lời bụng thời giận mà không dám nói ra, liền bước trái ra trước trại, giả coi tập luyện việc binh. Kế được ít ngày, Thoại Hoa thêu xong cây cờ đem dâng lên cho Chung hậu xem, thật nên tế kiều, kim chỉ tinh thông, lại có một mài thơ ngũ ngôn như vầy: 
 
 
Đông Tề Chung quốc hậu, thiên hạ thảy biết tên
Vì Tuyên vương vô đạo, không trọng kẻ anh hiền
Cứ tham mê tửu sắc, triều đình phải đảo điên
Chim khôn kiếm cây đậu, sẽ chọn kẻ lương duyên.
 
Chung hậu xem rồi cả đẹp, cứ cười chúm chím hoài và khen thâm: Liêm thị đủ tài, võ nghệ hơn trai thập bội, còn tới việc nữ công, nữ hạnh cũng chẳng thua sút ai. Nghĩ rồi bèn truyền quân đem lá cờ chiêu phu tới nơi quân môn rút thẳng cho mọi người xem tường tự sự. Kẻ khách thương qua lại, người lão ấu gần xa, đều tới núi Bình Sơn mà coi, lên xuống dập dìu, thảy đều vỗ tay cười nói vang rằng: Sự lạ. Điền Côn nghe tiếng chê cười của thiên hạ thì có ý bất bình, bèn vào tâu với Chung nương nương rằng:
- Như mẫu hậu cố tình cải giá, thì vợ chồng tôi biết nương náo với ai đây, trước là phải bị các nước chê bai, sau lại muôn dân đàm tiếu, có lẽ đâu một vị Tề triều quốc mẫu đi làm điều biệt trạch tha phu, ngửa trong mẫu hậu nhân từ, phải nghe lời con can gián.
Chung hậu làm mặt giận mà mắng rằng:
- Cái thằng rất tệ! Việc ai gia đã toan liệu bất can, đừng nhiều tiếng không toàn tánh mạng.
 Liêm Thoại Hoa thấy Chung hậu nói vậy bèn cầm tay Điền Côn dắt ra mà nói rằng:
- Mẫu hoàng đã thần thông quảng đại, lại thêm võ nghệ cao cường, đừng làm xúc nộ đến nương nương  mà có khi lâm họa, vả lại thiếp đã có xét sự chiêu phu chắc là kế trá, ấy làm cho bỉ mặt Tuyên vương. Quốc mẫu chẳng phải người tầm thường mà vương phu hòng nghi ngại.
Điền Côn nghe nói lõ mắt nhìn Thoại Hoa mà rằng:
- Ta tưởng là người đoan chánh mới quy thuận mà làm con nuôi, ai dè đâu tác tệ như vầy, để ta giết phứt hắn đi cho rảnh.
Thoại Hoa nói:
Không xong đâu, phu quân hãy bớt giận để rồi sẽ hay.
Nói rồi vợ chồng dắt nhau đi tới thơ phòng, xem binh đồ trận.
Nói về Lương vương nước Lỗ, đương buổi lâm trào xảy có quan Huỳnh môn vào tâu rằng:
- Nay Đông Tề Chung Vô Diệm đã đốt cháy Sở Trang lầu, lại làm phải Tuyên vương, ra ở tại núi Túy Bình sơn, dựng một cây cờ chiêu phu cải giám chẳng luận há vương, há quốc, hễ bằng lòng thì người giữ ấn Chiêu Dương, muốn thấy mặt thì phải vàng ròng muôn lượng, còn lễ vật ngàn thùng mới đủ, với những trâu dê heo rượu để cấp thưởng cho tam quân đủ mọi đồ thì đưa tới cầu thân, người chẳng cần ai làm mai làm mối.
Lương vương nghe tâu cả đẹp, bèn phán với triều thần rằng:
- Nước Tề nhờ có Chung Vô Diệm, mới hay giá ngự liệt bang, như nay mà Chung Vô Diệm đã phản Tuyên vương, trẫm dầu bán hết nước cũng bằng lòng đi cưới.
Lương vương nói vừa dứt, có một vị triều thần bước ra tâu rằng:
-Muôn tâu bệ hạ! việc đó không nên, Chung Vô Diệm là một con xảo trá bách đoan, chớ tin nó mà mắc mưu gian kế độc, ngu thần tưởng bên Lâm Tri đã hết lương thảo, nên Chung Vô Diệm giả chiêu phu mà kiếm tiền kiếm bạc, xin bệ hạ hãy nạp lời gián ngu thần, chớ nên chọc tới con Chung xủ phụ .
Lương vương nghe tấu bèn xem lại người ấy tên là Nhiễm Văn Hào, làm chức Chiêu thảo sứ, Lương vương mới phán rằng:
- Nhiễm huynh tâu cũng có lý, nhưng mà để trẫm tới Bình sơn sẽ hay, quả như vợ chồng nó có sự bất hòa, thì việc cải giá chắc là tình thiệt.
Văn Hào cứ theo can mãi, nhất định không cho Lương vương đi, Lương vương cả giận mà rằng:
- Việc chiêu thân là tự nơi ý trẫm, nào có can chi tới khanh mà phòng lo, nếu khanh còn nói nhiều lời thì sẽ toan gia trị tội.
Văn Hào thấy vậy bèn bỏ đi ra ngoài, Lương vương truyền cho quan phó soái là Nhan Hưng vào kho lấy một bức rèm Trân châu minh nguyệt, với những là vàng bạc, trâu dê và điểm ba ngàn quân Ngự lâm đi tới Bình sơn cưới Chung Vô Diệm.
Đây lại nói về Tương vương nước Lương ngày kia lâm triều, văn võ bái xong, có quan Tri điện tâu rằng:
- Nay có một việc rất nên kỳ dị, vợ vua thời nay mà đi kén chồn, tôi nghe nói Chung Vô Diệm đã phản Tuyên vương, tới Bình sơn dựng cờ cải giá.
Tương vương nói:
- Sự ấy cũng lấy làm lạ, để quả nhân tới đó thử xem.
Trị điện quan lại tâu rằng:
- Chung Vô Diệm chẳng phải kén chồng, ắt là kén bạc kén tiền, cờ chiêu phu nói đã rành rành, như muốn thấy mặt thì vàng ròng ngàn lượng vô tới cửa phải chịu hai mươi muôn lượng bạc, lễ hoa hồng cho đủ ngàn thùng, những đồ rượu thịt đủ dùng và một vật báu chi trong nước, đủ như vậy thời cưới mới được, bằng không thì chớ tới mất công.
Quan trị điện nói chưa dứt tiếng lại có một vị danh thần là Thạch Anh bước ra tâu rằng:
- Chúa thượng đừng tin lời con xủ phụ, tới Bình sơn rồi khó nỗi trở về, nó là một vị quốc mẫu bên Đông Tề, có lẽ đâu đi hồ hành cải giá. Chẳng qua là nó gạt vua các nước, trước là tóm  thâu tiền bạc, sau là làm cho xấu hổ vua Tề, vì vợ chồng nó sự ủ ê, xin chúa thượng hãy suy đi xét lại.
Tương vương nói:
Cũng bởi Tuyên vương vô tình bạc đãi, nên Chung Vô Diệm mới cải giá chiêu phu, nếu trẫm chẳng tới đó mau chân, ắt phải về tay nước khác. Thôi! Khanh đừng có nói nữa, ý trẫm đã quyết hẳn một lời.
Nói rồi liền truyền cho quân tả đô uý là Châu Kiều vào nội kho lấy một cái Cửu đỉnh ngọc lư đem theo và những đồ kim ngân lễ vật. Sửa soạn xong rồi, chờ tới ngày mai thì di giá. Rạng ngày Tương vương lâm triều, truyền nội thị sửa sang long trọng phụng tán, rồi từ biệt triều thần phát pháo mở cửa thành mà thượng lộ, còn Châu Kiều thì hộ giá và đốc xuất quân sĩ khiêng gánh những đồ kim ngân châu báu đem theo.
Khi Lỗ Lương vương đi tới Hồng Xương phủ, cách Túy Bình sơn chừng năm dặm, quân kỳ bài liền trở lại tâu cho vua hay, Lương vương bèn truyền lệnh phát pháo an dinh kế đó quân thám tử bề Tề, không biết là sự gì, lật đật vào tâu cho Chung hậu và Điền Côn rõ. Chung hậu tức thì cười mà rằng:
- Tuyên vương tưởng ai gia hình dung xủ lậu, đi ra chắc không ai màng, như nay mà vua Lỗ quốc tới cầu thân, nhân duyên ấy cũng vì tại trời xui khiến.
Nói rồi vỗ tay mà cười nữa. Điền Côn thấy vậy cả buồn tâu rằng:
- Nay vương phụ còn Lâm Tri ngự trị mà vương mẫu ra đi cải giá chiêu thân, trước đã không đạo ngũ luân, sau lại chư hầu sỉ tiếu, xin vương mẫu đừng lấy việc ấy, mặt mũi nào mà ngó thấy đất trời, như vương mẫu quyết chẳng nghe lời, thì mẹ con phải một nơi một ngả.
Chung hậu giả giận cầm gươm hét lớn rằng:
- Mặc ý mặc ý! Đi đâu thời đi, ai gia cũng cho đó phân ly, về Lâm Tri mà minh linh nghĩa tử. Còn ai gia thì sang qua bên Lỗ mà bầu bạn với Lương vương, cũng có ngày ta sẽ hưng binh tới Lâm Tri mà giết hết cha con mi đi cho rảnh.
Thoại Hoa nghe Chung hậu nói lớn, liền bước tới khuyên giải Điền Côn.
Nói về khi Tương vương đi được năm ngày đường, kế thấy quân kỳ bài trở lại tâu rằng:
- Trước mặt đó là núi Túy Bình sơn, xin bệ hạ phát lạc.
Tương vương bèn truyền cho Thạch Anh nguyên soái phát pháo an dinh, quân thám tử của Tề cũng vào tâu cho Chung hậu hay nữa. Chung hậu cũng tức cười, kêu Điền Côn mà dặn rằng:
- Nay có vua nước Lỗ với vua nước Lương tới nạp sính lễ, con hãy thâu cho đủ như trong bảng chiêu phu, chẳng cho thiếu một phân nào, còn việc chi để ai gia liệu định.
Điền Côn vâng lịnh lui ra, Chung hậu lại kêu Cao Khôi Nguyên và Lư Thành tới mà bảo rằng:
- Hai tướng đem hai đạo ý chỉ, Lư Thành thời qua dinh Lỗ, còn Cao Khôi Nguyên thì qua dinh Lương, tâu với hai vua y như lời họ thi hành, rồi trở về ai gia trọng thưởng.
Hai tướng tiếp lấy ý chỉ, từ tạ ra đi. Khi Lư Thành tới bên dinh Lỗ, quân chánh ty vào báo cho Lương vương hay. Lương vương cả mừng, liền sai quân đi ra tiếp sứ. Lư Thành vào trước quân trướng, quì dâng một đạo chiếu văn, Lương vương vội mở ra xem, thấy có mấy lời như vầy:
 
“Đông Tề Chung Vô Diệm bì đốt Sở Trang lầu, vợ chồng nên chẳng thuận, ra lập bảng chiêu phu, như có vua các nước, muốn kết nghĩa trăm năm, muốn thấy mặt, vàng muôn lượng; vào cửa bạc hai chục muôn; lễ hoa hồng các thứ phải cho đủ ngàn thùng, với một vật châu báu, cùng rượu thịt đủ dùng, chẳng nệ ngày với tháng, được phép tới giao thân, bằng không thời về nước, chơ đi tới mất công.”
 
Lương vương xem rồi cả mừng, truyền quân dọn tiệc, thiết đãi và ban thưởng cho Lư Thành một ngàn lượng bạc, khiến trở về phục chỉ cho Chung hậu hay, rồi sẽ đem đồ sính lễ tới. Lư Thành giã từ lui về tâu lại cho Chung hậu hay các việc. Còn Cao Khôi Nguyên khi đi tới bên dinh Lương, quân vào báo cho Tương vương hay, Tương vương cũng sai người ra tiếp rước. Khôi Nguyên vào dâng môộ đạo văn, Tương vương xem rồi, truyền quân dọn tiệc đãi đằng và cấp thưởng cho lụa là tiền bạc, Khôi Nguyên từ tạ lui về phục chỉ.
Qua ngày sau tảo thìn, hai vua sửa sang thay đổi áo xiêm, ai cũng cầu trời đất quỷ thần, xin cho phen này cưới cho được Chung Vô Diệm. Khi hai tới tới Sơn dinh đã có Điền Côn đứng đợi tiếp rước ân cần. Điền Côn thâu đủ các món lễ vật hai nước xong rồi, liền đem vào hậu dinh mà tâu lại, còn hai vua ở trước quân môn còn đợi lịnh.
Khi Điền Côn vào hậu dinh tâu hết các việc cho Chung hậu hay, Chung hậu liền kêu Điền Côn tới nói nhỏ rằng: Phải làm như vầy... như vầy... Lại kêu Cao Khôi Nguyên và Lư Thành dặn phải dàn quân cho nghiêm chỉnh mà chầu chực trong hậu dinh. Ba người vâng lịnh lui ra. ChChung hậu lại kêu Liêm Thoại Hoa, bảo phải mặc đồ nhung phục tay cầm binh khí đứng hầu một bên.
Lúc này Điền Côn trở ra trước quân môn và rước hai vua, hai vua đi theo Điền Côn vào vừa tới trung dinh, xảy thấy có hai tướng  mặc giáp cầm đao nói lớn tiếng rằng:
- Chúng ta vâng lệnh Chung nương nương ra hỏi chẳng biết hai vua tơớ nạp sính lễ mà hai vua quả có chân tâm hay là không nên dạy chúng ta treo mấy lưỡi đao ở đây, hai ngài như có thiệt tình thì đừng sơ chee1t, phải cúi đầu mà đi dưới mấy cái lưỡi đao này.
Hai vua nghe nói ngẩn ngơ và thấy sự sỉ nhục như vầy, thì đã hỡi ôi, bèn ngó lại thấy tứ phía binh đứng đầy nẻo tấn thối lưỡng nan, cực chẳng đã phải cúi đầu mà đi cho khỏi chỗ đó. Khi hai vua qua khỏi, lần tới chỗ hậu dinh, lại thấy hai tướng tay cầm đồ binh khí, đứng hầu hai bên và nói rằng:
- Nay hai ngươi muốn cưới ai gia, nhưng phải bụng dạ hai vua có thiệt chăng?
Hai vua đáp:
- Quốc mẫu oai ang bốn biển, chúng tôi dám tới đây nói dối hay sao.
Chung hậu lại hỏi nữa rằng:
- Vậy chớ hai vua có biết thế gian này cái gì ở trên, cái gì ở dưới chăng? Hai vua đáp:
- Chẳng có chi là trọng, chỉ có trên là trời dưới là đất thôi.
Chung hậu lại hỏi nữa rằng:
- Trời đất đã đành phận trên dưới rồi, trong mười hai nước này, nước nào lớn nước nào nhỏ?
Hai vua đáp:
- Nước Tề là nước lớn, còn mười hai nước kia đều là nhỏ , nước lớn thì kêu là thượng quốc, còn nước nhỏ thì kêu là hạ bang.
Chung hậu hỏi:
- Sự lớn nhỏ đã đành rồi, còn phận trên dưới phải làm sao cho phân biệt?
Hai vua đáp:
- Thượng quốc cũng như quân phụ, còn hạ bang thì ví như tôi con.
Chung hậu nghe nói tới đó giả giận mắng lớn rằng:
- Hai vua thiệt là gian dối, dám tới đây nói giỡn với ai gia! Đã biết thượng quốc là quân phụ, thì vợ của vua thượng quốc là chủ mẫu đã rành rành, có lẽ nào thần tử lại muốn cưới chủ mẫu đem về làm bợ bao giờ? Nếu vậy hai vua làm điều điên đảo sự can thường, thiệt là hai vua coi trên không trời dưới không đất đó. Còn như phận ai gia đây mà dựng cờ chiêu phu cải giá, chẳng qua là làm cho bỉ mặt vua Tề đó thôi, tội vô đạo chẳng dung cùng trời đất, đao phủ quân ở đâu! Mau dẫn hai lão này đem ra chém quách đi mà răn đời.
 Quân đao phủ liền áp lại muốn ra tay, kế hai vua quỳ lại cầu xin thứ tội. Chung hậu thấy hai vua đã chịu lỗi liền truyền lịnh cho Điền Côn đem ra đánh đòn mỗi người 20 trượng. Điền Côn vâng lịnh khiến quân đè hai vua ra trước sân, đánh chẵn bốn chục. Hai vua rên la inh ỏi, tưởng là đem tiền của tới cưới Chung Vô Diệm về làm chánh cung, không dè đâu thời vận bất công, bị đánh đòn gần chết. Khi đánh đòn rồi, Chung hậu chỉ mặt hai vua mà nói rằng:
- Vì hai vua làm điều bất pháp, ai gia tha chết cho là may, thôi mau trở về mà sửa trị thần dân, cứ chiếu lệ thường năm tấn cống.
Nói rồi lại kêu vợ chồng Điền Côn, Cao Khôi Nguyên và Lư Thành mà dặn rằng:
- Phải điểm binh chia nhau tới hai nước, thâu đoạt những binh khí và lương thảo đem về cho mau.
Bốn tướng vâng mạng lui ra, hai vua cũng tạ từ trờ về dinh trại. Vua tôi gặp nhau rất bi thiết, giận mình sao chẳng nghe lời tôi trung, để đến nổi thân này lâm họa. Chuyện trò hồi lâu bèn dẫn nhau trở về nước, chiêu binh mãi mã chờ ngày sau toan trả cựu thù, hội Tương giang binh hỏa mịt mù, ba trăm vạn binh ròng năm nước, đó là việc sau.
Đây nói về khi bốn tướng đi lấy được những đồ binh khí và lương thảo đem về chẳng biết bao nhiêu. Chung hậu mới nói với vợ chồng Điền Côn rằng:
- Nay vương nhi và vương tức coi ý mẹ ở chân giả ra thể nào, ấy chẳng qua là làm cho xấu hổ đức vua đặng biết sự lỗi lầm mà tỉnh ngộ, sau nữa bắt tội hai vua mà răn các hầu bang kia, thì ai gia sẽ toan mưu kế khác.
Vợ chồng Điền Côn và các chư tướng rất vui cười, kế đó Chung hậu lại truyền đãi yến tam quân, rồi chờ vua Tề lên rước.
Nói về Điền Chương vâng lịnh Tuyên vương đi thám thính sự Chung hậu chiêu phu, nay đã rõ đăng tin tức rồi bèn trở về triều phục chỉ, tâu hết các việc Tuyên vương nghe và xin vua lên Tuý Bình sơn mà rước Chung hậu. Tuyên vương nghe nói hiệp ý, lại thấy Yến Anh bước tới tâu rằng:
- Lời Điền Chương tâu rất có lý, xin bệ hạ nhậm lời.
Tuyên vương chuẩn tấu, truyền cho Yến Anh vào kho lấy một hộ dạ minh châu và đồ lễ vật, đặng đem lên Túy Bình sơn là lễ sính Chung nương nương. Nội ngày ấy sửa soạn phát pháo khai thành, nhắm Túy Bình sơn thẳng chỉ. Khi tới nơi, Yến Anh vào trước nói với quan giữ cửa bảo vô tâu lại cho nương nương hay rằng: Có ngự giá thân nghinh. Quan giữ cửa vào tấu, Chung hậu nghe nói nửa mừng nửa giận. Mừng là thiên tử có lòng hối quá, nên mới lên mà rước mình về; còn giận là giận con tiện phụ Hạ Nghinh Xuân làm cho thiên tử đắm mê tửu sắc. Nghĩ rồi bèn kêu Điền Côn mà bảo rằng:
- Vương nhi hãy mau ra tiếp giá kẻo lỗi đạo quân thần.
Điền Côn vâng mạng bước ra trước quân môn tiếp rước và quì xin chịu tội với triều đình. Tuyên vương cầm tay đỡ dậy nói rằng:
- Vương nhi miễn lễ.
Nói rồi dẫn nhau thẳng vào trung dinh, Chung hậu cũng lật đật xuống ngai tiếp rước. Vợ chồng gặp nhau rất mừng rỡ, Chung hậu mới thuật lại sự cái giá chiêu phu, và thâu đặng những đồ kim ngân châu báu. Tuyên vương cả cười, rồi thò tay vào túi lấy một hột dạ minh châu mà nói rằng:
- Vật này của qủa nhân đưa làm sính lễ, xin nương nương làm của dùng.
Chung hậu mắc cỡ và tâu rằng:
- Thần hậu đương lúc giận, nay xin chịu tội với triều đình.
Nói rồi vợ chồng cả cười, kế truyền cho chúng tướng sửa soạn hành lý và thiêu hủy dinh trại. Trong nội một ngày sắp đặt và thâu góp tiền lương xong xuôi, kế phát pháo thiêu dinh mà trở về Lâm Tri Hỗn Hải. Cách ít ngày đi về tới hoàng thành, văn võ bá quan đều ra nghênh tiếp. Tuyên vương và Chung hậu vào ngự trước Kim Loan điện, bá quan triều bái xong rồi, kế tây cung Hạ Nghinh Xuân cũng tới triều kiến, Chung hậu cho ngồi một bên cẩm đôn, kế thấy Điền Côn hộ giải những đồ kim ngân châu báu tới, Chung hậu mới tâu rằng:
- Vì thần hậu tánh hay lỗ mãng, đốt cháy mất Sở trang lầu, nay lấy được tiền bạc của hai nước đem về đây, xin dùng để cất lại cái khác.
Tuyên vương cả đẹp, bèn truyền cho quân nội vụ thâu cất nghiêm trang. Rồi thiên tử bãi chầu, văn vọ ai lui về dinh nấy.
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-19 02:13:36Hoàng Dung>
hồi thứ năm mươi mốt
Dân minh châu Lý Tuấn bị đòn
Dụng phép mầu, Chung nương giả chết
 

Nói về Tấn vương ở đất Sơn Tây, lúc đương lâm triều, thấy quan huỳnh môn tâu rằng:
- Đông Tề Chung Vô Diệm phản Tuyên vương lên ở Bình sơn giả lập bảng chiêu phu, gạt vua nước Lỗ nước Lương, thâu hết lương tiền vàng bạc, đã vậy lại đánh hai vua nát da nát thịt, làm cho sỉ nhục trăm bề, Chung hậu cũng trở về với vua Tề, còn hai vua bị đuổi về nước.
Tấn vương nghe tâu trong bụng như dầu sôi, bèn mắng nhiếc Chung Vô Diệm om sòm và quyết hunư binh vấn tội. Khi Tấn vương đương cơn nóng giận, xảy có một vị trung thần bước ra tâu rằng:
- Xin chúa thượng bớt oai sấm sét, cho ngu thần tỏ nỗi thiệt hơn, Chung Vô Diệm chẳng phải tay tầm thường mà lại có Triệu, Yên tương trợ nữa, theo ý ngu tôi tưởng phải dụng mưu nọ mới xong, nước ta có một cửu khúc minh châu, hãy sai sứ đi qua Đông Tề mà tấn cống và tâu với vua Tề, như có tài luồn sợi chỉ qua hột ngọc này thì nước ta cam chịu đầu hàng, bằng không thời nước nó đã vô nhân cự địch, chừng đó ta sẽ hưng binh gia phạt, cũng không muộn chi.
Tấn vương nghe tâu xem lại, người này tên là Phàm chiêu, làm chức nguyên nhung, Tấn vương mới nói rằng:
- Nguyên soái bày kế rất hay.
Truyền nội vụ vào kho lấy hột Cửu khúc minh châu đem ra. Lại thấy có một người nữa bước tới tâu rằng:
- Vi thần xin lãnh mạng đi sứ bên Đông Tề.
Vua xem lại người ấy tên là Lý Tuấn, làm chức hạ đại phu. Tấn vương nhậm lời, truyền cho nội thị dọn tiệc tống hành, Phàm nguyên nhung rót ba chung ngự tửu đưa cho Lý đại phu. Lý Tuấn tiếp lấy uống rồi từ biệt Tấn vương và các quan rồi thẳng tới phủ Hồng Xương ở trước ngọ môn mà đợi lịnh. Lúc ấy nhằm Tuyên vương lâm triều, quan huỳnh môn vào tâu rằng:
- Nay có sứ thần của Tấn vương tới, còn ở trước ngọ môn, xin thiên tử định đoạt.
Tuyên vương bèn truyền chỉ cho vào. Lý Tuấn vào trước Kim Loan điện, quỳ lạy tung hô xong, Tuyên vương hỏi rằng:
- Tấn vương sai sứ tới đây có việc chi chăng?
Lý Tuấn lạy và tâu rằng:
- Triều bang chúng tôi có một vật lạ tên là Minh châu cửu khúc thiệt là báu tốt trong đời, vì hạ bang không có ai xỏ sợi chỉ cho qua, nên mới sai đem tới Đông Tề mà phân tỏ, nếu như bên này có ai xỏ được, thì hạ bang cứ thường năm tấn cống xưng thần, bằng như Tề quốc vô nhân thì phải nhượng hạ bang làm thuợng quốc, chẳng như vậy thời ắt can qua dấy động, làm cho hai nước bất hòa, mấy lời phải trái tâu qua, xin hoàng gia xét lại.
Tuyên vương nghe tâu cả cười và hỏi lại:
- Báu ấy bây giờ ở đâu?
- Lý Tuấn bèn thò tay vào túi lấy một cái hộp bằng lụa vàng lên để trên giữa long án. Tuyên vương bèn truyền cho nội thị lấy cái kim bồn đem ra, rồi bỏ hột minh châu vào giữa, liền thấy hơi lên ngun ngút, chẳng khác chậu nước sôi, bá quan xem thấy ai cũng khen ngợi vô hồn, coi kỹ lại thấy hột minh châu đủ những là bái quái cửu cung và thiên địa tam tài sơn hải, chín khúc quanh co nhỏ rí, không tài nào mà xỏ được sợi chỉ vào trong, ai ai trông thấy cũng lắc đầu. Tuyên vương mới buông lời phán rằng:
- Như ai mà xuyên được hột minh châu cửu khúc này, thì trẫm sẽ phong nhất phẩm đương triều, lại tập ấm cho con cháu đời đời nữa.
Tuyên vương hỏi luôn ba bốn tiếng, chẳng thấy có ai trả lời, kế đó Yến Anh bước ra tâu rằng:
- Như bệ hạ muốn xuyên hộ minh châu này đặng phải rước nương nương tới đây mới an.
Tuyên vương nhậm lời, liền sai nội thần vào Chiêu Dương cung thỉnh Chung hậu tới trào nghị sự. Nội thần vâng mạng đi liền. Chung hậu hay tin tới đòi, bèn lật đật bước lên phụng liễn thẳng tới Kim loan điện, Tuyên vương thấy Chung hậu tới, liền bước xuống ngai vàng tiếp rước và mời ngồi một bên kim ỷ, rồi thuật lại các việc Tấn vương sai sứ dưng Cửu khúc minh châu cho Chung hậu nghe, Chung hậu cầm hột minh châu coi qua coi lại một hồi, bèn tâu với Tuyên vương rằng:
- Hột minh châu này chẳng phải vật tầm thường mà trong ruột nó nhỏ như mũi kim, biết làm sao mà luồn chỉ vào cho đặng, thôi để thủng thẳng, đợi ngày mai sẽ hay.
Nói rồi lại truyền trị điện quan đòi Lý Tuấn lên điện mà nói rằng:
- Sứ thần hãy ra trước dịch đình tạm nghỉ, để ngày mai ai gia luồn chỉ vào trong Cửu khúc minh châu cho coi.
Sứ thần vâng lịnh lui ra, thiên tử liền bãi chầu. Chung hậu cũng từ giã và cầm hột minh châu đem về cung mình đêm ấy. Chung hậu về cung rồi, kế giây lát trời vừa tối, cung nữ dọn cơm nước xong, Chung hậu cứ ngồi cầm hột minh châu lăn trở hoài, nghĩ không ra kế, liền bước ra giữa sân thấy trời thanh trăng sáng, gió mát sao thưa, bèn ngửa mặt lên vái cùng bà Lê Sơn thánh mẫu rằng:
- Đệ tử vâng theo pháp chỉ, xuống dương trần mà phò hộ Tề Tuyên, đã năm phen, ba thứ chịu khổ phiền, nhờ có pháp luật của tôn sư mà hung trung hóa kiết, hôm nay có một việc Tấn vương dâng hột Cửu khúc minh châu, đệ tử đã vô phương mà xỏ sợi chỉ không nên phải thành tâm van vái, xin thánh mẫu thần thông quảng đại cứu đệ tử phen này.
Chung hậu vái rồi, lại lấy hột minh châu cầm nơi tay đưa qua đưa lại một hồi, rồi liệng xuống giữa đất, làm như vậy đã đôi ba lần, tới lần sau cúi xuống lượm hột minh châu, thì thấy có một có kiến cứ theo trong ruột minh châu mà bò vào. Chung hậu cả mừng, bèn kêu cung nữ lấy một sợi dây chỉ điều đem tới, rồi cột vào giữa lưng con kiến mà cho nó bò, trong giây lát con kiến bò bên này qua thấu bên kia. Chung hậu thấy vậy hết sức vui cười, bèn phong cho con kiến làm Cam nhuận tướng quân (Nguyên con kiến đó là bà Lê Sơn thánh mẫu sai một vị tôn thần biến hóa ra, bởi cớ ấy bây giờ kiến thấy đồ ngọt thì ưa, cũng có tích Chung nương nương phong nó làm Cam nhuận)
Khi Chung hậu nhờ con kiến luồn đặng sợi chỉ vào trong ruột hột minh châu rồi thì trời đã khuya, liền truyền cho cung nữ dọn dẹp đi nghỉ. Qua đầu canh năm, thiên tử lâm triều, sai nội thần vào thỉnh Chung hậu. Chung hậu cũng sửa soạn đi theo, tới nơi Tuyên vương tiếp rước ân cần và hỏi rằng:
- Hột minh châu ngự thê có luồn chỉ được hay không?
Chung hậu tâu:
- Sá chi một việc nhỏ mọn, mệt lòng tới triều đình, xin hãy đòi sứ thần tới đây, cho nó biết tay.
Nói rồi liền đưa hột minh châu ra cho thiên tử xem, Tuyên vương và nội trào ai cũng vui mừng và khen ngợi. Kế Lý Tuấn vừa tới Kim loan điện, Chung hậu sai trị điện quan đưa hột minh châu cho sứ xem, Lý Tuấn cần coi qua lại một hồi, thấy trong ruột hột minh châu có sợi chỉ đỏ xỏ vào, bèn cầm sợi chỉ mà rút qua, thì sợi chỉ cũng chạy qua chạy lại. Lý Tuấn cả kinh liền bái tạ Chung hậu và khen pháp lực cao cường. Chung hậu mới chỉ mặt Lý Tuấn mà mắng rằng:
- Tấn vương thiệt là vô đạo, muốn kết phe đảng với vua nước Lỗ nước Lương, ai gia với sứ thần vốn thiệt bất can, nên ta cũng khoan dung mà tha cho về nước, nhưng phải đánh đòn bốn chục roi và thicí chữ vào ấn đường ấy là gởi về cho Tấn vương xem, mau phải tỏ hàng biểu sai người qua tấn cống, nếu chẳng vậy ắt can qua dấy động, tới lúc đó Tấn vương biết dạ ăn năn, thì sự đã muộn.
Chung hậu nói vừa dứt lời. Ngự lâm vâng lịnh, đem Lý Tuấn ra khỏi sân chầu, đè xuống đánh bốn chục roi, lại thích chữ vào noi gò má, Lý Tuấn rên la inh ỏi , lại nghe truyền đuổi ra khỏi hoàng thành, Lý Tuấn lên ngựa bôn ba trở về Tấn triều mà phục chỉ. Vua tôi lo mưu định kế, sẽ chờ ngày xâm phạt Tề bang.
Đây nói về Tuyên vương  thấy Chung hậu luồn đặng hột Cửu khúc minh châu, và đánh đòn đuổi sứ thần về nước rồi, bèn truyền lịnh bày tiệc ra vui mừng, nội triều bá quan văn võ, đều dâng rượu chúc mừng cho quốc mẫu. Tuyên vương cũng châm ba chung ngự tửu mà khuyên mời chánh hậu. Đương khi uống đặng vài tuần, Chung hậu sực nhớ lại sự Kỳ bàn đại hội, Sở quốc chưa dưng hàng thơ tới à việc Ngũ Tân khó nỗi ngồi yên, chi bằng trá tử man thiên, daân cọp vào hang bắt cho dễ bắt. Nghĩ rồi liền giả đau, xin từ biệt về cung. Tuyên vương hỏi:
- Ngự thê có việc gì chẳng đẹp cho nên sắc mặt có ý không vui, đương khi tiệc rượu sum vầy, mà ngự thê lại buông lời cáo thối?
Chung hậu đáp:
- Không biết sao mà trong bụng dường như dao cắt, khiến thần hậu ngồi đứng chẳng yên, xin cho thần hậu lui về, đặng liệu bề thang thuốc.
Thiên tử tưởng thiệt nên nhậm lời và truyền cho nội thị mau đem kiệu tới đưa Chung hậu về cung. Khi Chung hậu về tới Chiêu Dương cung, truyền cho cung nữ đi bện một hình nhân bằng cỏ và dâng những giấy tiền vàng bạc tới cho mau. Cung nhân vâng mạng, giấy lát đem tới, Chung hậu biểu cung nhân đi ra, rồi lấy xiêm áo của mình mặc vào cho hình nhân tươm tất và giấu nằm tại một bên, rồi lại họa phù niệm chú đốt giấy tiền vàng mã, Chung hậu lấy một miếng tro tàn đốt giấy ấy đắp vào bên hồng mình rồi niêm thêm ít câu châm ngôn, bên hông ấy nổi lên làm một cái mụn, giây lát mụn ấy bể ra và mồ hôi chảy ra dầm dề ướt áo. Kế đó Chung hậu mới kêu cung nhân đi báo tin cho thiên tử rõ. Tuyên vương nghe nói vội vàng đi trước, vợ chồng Điền Côn cũng lật đật theo sau, tới nơi thấy trên đầu Chung hậu mồ hôi to bằng hột đậu, bên hông miệng mụt lở lớn bằng miệng tô, Tuyên vương thấy vậy mới hỏi thăm căn bịnh nguyên do, Chung hậu bèn rưng rưng nước mắt thưa rằng:
- Thần hậu rất vô phước, tưởng trăm năm chầu chực đền rồng, nào hay đâu phát bịnh khi không, cho đến nỗi chồng năm vợ bắc.
Tuyên vương lật đật lại cầm tay Chung hậu than dài thở vắn rồi truyền đòi ngự y vội vàng đặng lo phương điều trị, ngự y tới coi mạch rồi tâu rằng:
- Mục này vốn là ác độc, một giờ ba khắc thì nương nương phải về trời, chúng tôi thiệt vô phương, xin thánh hoàng tưởng tình dung thứ.
Tuyên vương và vợ chồng Điền Côn nghe nói cả khóc, không biết lo phương chi cứu tử cho Chung nương nương, kẻ chạy vật này người kiếm cái kia trong ngoài chật ních. Lúc ấy Chung hậu kêu vợ chồng Điền Côn tới trối rằng:
- Ngày nay chắc mẹ con phân ly đôi ngã vậy nay mẹ để lại cho hai con một bức cẩm nang, như mẹ có chết rồi thì vợ chồng con phải coi theo đó mà làm, nếu cãi lời mẹ thì không toàn tánh mạng.
Vợ chồng Điền Côn tiếp lấy cẩm nang và khóc rống lên một hồi! Yến Anh thấy vậy bán tín bán nghi, mới đánh tay toán quẻ, thì biết Chung hậu lập mưu giả chết mà hại Ngũ Tân, nhưng chẳng dám tiết lậu cơ mưu, nên làm thinh không dám nói. Tuyên vương khi ấy thấy Chung hậu thế sống không đặng lâu, nên lại cầm tay vừa khóc vừa nói rằng:
- Trẫm nhờ ngự thê nam chinh bắc tảo, xã tắc mới đặng vững bền, không dè ngự thê bạc phận vô duyên, khiến cho trẫm muôn sầu ngàn thảm. Ngự thê ôi! Những ước trăm năm loan phụng, ai ngờ một buổi sâm thương, như ngự thê đã bỏ trẫm từ dương thì nước Tề phải xuống làm hạ quốc, trước đã bị hầu bang khi dể, sau lại lo cơ nghiệp đổi đời, biết có ai cột đá chống trời xin ngự thê anh linh mách hộ.
Chung hậu cũng rơi lụy mà từ biệt thiên tử, rồi niệm ít tiếng lầm thầm, bèn tàng hình, hóa thân ra sau hậu cung, lấy hết những đồ khôi giáp bảo bối của mình rồi đằng vân bay tuốt về Thường Sơn pháp mã. Còn cái hình bằng cỏ nằm đó như thây ma. Thiên tử với vợ chồng Điền Côn thương khóc vô hồi, Yến Anh cũng làm bộ sụt sùi rơi lụy. Tuyên vương nói:
- Nay Chung hậu đã chầu trời chầu phật, nước Tề phải quật hạ người ta, biết lấy gì báo đức trả công, khiến trẫm luống tấm lòng chua xót.
Yến Anh tâu:
- Xin bệ hạ giảm sầu yểm lụy, mà lo bề tẩn liệm tang trai, họa phước phú mặc cho trời, chết sống cũng là tại mạng. Nay nương nương từ trần nhằm ngày nhựt sát, chẳng sớm toan thì kiết thiểu hung đa, vả lại ngày ngũ ly xung phạm với trùng tang, e khó nỏi cho tây cung thứ hậu. (Nguyên Yến Anh muốn tâu như vậy là có ý doạ thiên tử, đặng chôn cái thây cỏ đi cho mau, kẻo để lâu tiết lộ cơ mưu) Tuyên vương nghe nói mới phán rằng:
- Chung hậu có công lao rất trọng, nếu làm sơ sài thời dị nghị tới thần dân, nay quân sư đà hơn thiệt tỏ phân, thì trẫm cũng y lời an táng.
Yến Anh lại tâu:
- Lễ nghĩa bởi nhân tình châm chước, người chết thời được táng làm vinh, nay ở núi Trân Châu sơn, Bồng Long lãnh, phong thủy thiệt hữu tình, xin khiến tạo hoàng lăng tại đó.
Thiên tử chuẩn tấu, liền truyền cho công bộ tới đó làm một sở lăng tẩm, cũng giống như cung viện Chiêu Dương. Công quan lãnh mạng lui liền, thiên tử lại truyền cho lễ bộ sửa sang tẩm liệm xong rồi và khiến Điền Côn vào hậu cung lấy những đồ bửu bối cùng đao mã của Chung hậu đặng đem theo lên lăng cho Chung hậu. Điền Côn liền vào sau hậu cung thì chẳng thấy món chi bèn trở ra tâu lại cho Tuyên vương hay, Tuyên vương khóc mà rằng:
- Cô gia hồng phước đã hét, nên người chết thời cũng đi theo.
Thiên tử nói rồi thảm thiết trăm chiều, bá quan thấy thảy đều thương xót.
Qua ngày sau phát dẫn, đưa linh cữu Chung hậu lên hoàng lăng, vợ chồng Điền Côn áo bả, mũ gai, bá qua cho tới lục viện tam cung thảy đều cư tang, quải hiếu. Thiên tử cũng bận tang phục, đưa linh cữu thẳng tới núi Trân Châu, hai bên đường lão ấu khấu đầu, thương tiếc kẻ có công vì nước. Khi tới nơi lo bề an táng  rồi vua tôi đều trở lại hoàng triều. Còn vợ chồng Điền Côn khi tống táng xong xuôi cũng trở về phủ cứ khóc hoài, mơớ nhớ sực lại quốc mẫu có cho một bức cẩm nang, vợ chồng bèn mở ra xem thì thấy có mấy câu như vầy:
 
 
Vô Diệm đã về trời, Lâm Tri mang khốn khó
Con biết nhờ cậy ai, phải nghe lời phân tỏ.
Lên ở núi Thường Sơn, bậu bạn cùng cây cỏ.
Cày cấy lo làm ăn, đặng tháng ngày chi độ.
Chẳng nghe lời khuyên răng, vợ chồng ắt mang khổ.
Chớ nóng tánh bạo cường, phải dằn lòng tịnh thủ.
Muốn bảo toàn vua Tề, đã có ta phò hộ.

Vợ chồng xem rồi phát nghi rằng: Một là quốc mẫu chết không minh bạch, hai là quân sư chẳng cho để lâu, ba là bữa chết lại nhằm ngày nhựt sát, vả lại Tuyên vương là một người hôn mê tửu sắc, dầu mình có tận trung báo quốc, thì cũng uổng công, chi bằng nghe lời quốc mẫu ắt xong, đã an lạc mà lại khỏi vòng hoạn nạn. Vợ chồng liệu định xong rồi, bèn truyền cho quân sĩ thâu góp đồ tư trang, rạng ngày sửa soạn lên đường phát ba tiếng pháo mà kéo binh đi tuốt. Khi ra khỏi thành, vợ chồng Điền Côn nói với quan huỳnh môn giữ cửa rằng: Gởi lời tâu lại cùng thánh thượng hay, quốc mẫu nay đã chầu trời, hai ta vốn thiệt như người ngoại tộc. Quan huỳnh môn lật đật chạy vào tâu lại, Tuyên vương nghe tâu mới phán rằng:
-Trẫm chưa ở ra lòng bạc đãi, sao con lại đành dạ làm nghịch thần, vì cớ gì chẳng bảo hộ quả nhân. Ngư thê có linh hãy coi xét, xin xui giục nó thủy chung nhứt tiếng, trước cha con thì sau cũng cha con, trăm năm lộc nước vuông tròn, lời vàng đá quỷ thần chứng giám.
Kế đó huỳnh môn qua lại vào tâu nữa rằng:
- Đông lộ vương đã đành lòng tạo phản, kéo binh đi hơn mười dặm xa rồi.
Thiên tử nghe nói ngọc lụy nhỏ sa, đã thương vợ lại tiếc con oanh liệt, vợ mới chết non con đem lòng phản, biết lấy ai gánh vác giang san, hay là vận nước nhà tới hồi suy mòn, sách có chữ: Họa vô đơn chí. Yến Anh thấy vậy theo năn nỉ, xin vua yểm lụy mà lo việc nước nhà, Tuyên vương mới gượng gạo bỏ qua, truyền bãi trào lui về cung an nghỉ.
Nói về Chung hậu khi đằng vân bay về làng Pháp mã, sa xuống giữa Chung gia trang, bèn đi thẳng vào hậu đường gặp cha mẹ phân trần sau trước, lại sai người đi mời con gái của nhà chú tên là Chung Thoại Hoa tới nói rằng:
- Nay chị về đây tạm trú, muốn có em giáo tập đao thương, tới ngày phó hội Tương Giang, em sẽ giúp chị lập công cùng triều đình.
Chung Thoại Hoa nói:
- Quốc mẫu đã có lòng dạy dỗ, em đâu dám chối từ.
Từ đó về sau, hai chị em ở tại Chung gia trang mà tập rèn võ nghệ.
Từ khi Chung hậu hóa thân, Tuyên vương thương tiếc vô hồi, mới ban ai chiếu đi các nước hầu bang hay. Vua các nước cũng sai quan tới mà tế điện. Nước Triệu thì Liêm nguyên soái, nước Yên thì ngự điệt Tôn Long, nước Tần thì Chương Hàng, nước Ngụy thì sai quan thừa tướng. Bốn nước đều tới nước Tề mà điếu thăm Chung hậu, ấy là tình thuận lẽ êm, còn như ai thù hiềm, thì lòng mong báo oán.
 
o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-19 02:18:41Hoàng Dung>
hồi thứ năm mươi hai
Trân Châu san, Ngũ Tân vong mạng
Chung gia trại, Vô Diệm hưng binh
 

Nói về Trang vương nước Sở, đương buổi lâm triều, có quan Huỳnh môn vào tâu rằng:
- Vô Diệm lòng hằng ở bạc, bị ác sang hồn xuối suối vàn, vợ chồng Điền Côn lại phản vua Tề lên ở núi Thương Sơn, nay ai chiếu rải cùng hầu bang, nên các nước thảy đều ai phó (điếu tang), vậy ngu thần phải vào tâu phân tỏ với cửu trùng, muốn cho hai nước khỏi sự mất lòng, xin phải cứ theo trong thường lệ.
Trang vương nghe nói Chung hậu chết rồi thì có ý mừng thầm, nhưng hãy còn lưỡng lự, chưa biết phân xử lẽ nào, xảy thấy Ngũ Tân bước ra tâu rằng:
- Năm trước Kỳ Bàn đại hội, ngu thần với Vô Diệm thề chẳng đội trời chung, lòng quyết một lòng toan báo oán, như nay trời chẳng còn dung nó, thì ngu thần xin đem binh tới đó đào mả mà phân thây, trước là trả đặng thù này, sau nữa lại tóm thâu Tề quốc.
Trang vương nói:
- Vương huynh đừng lật đật, để thủng thẳng sẽ hay, Vô Diệm chết chưa đặng mấy ngày, nếu vương huynh đốc chí ra tay, thì các nước cười trẫm vô nhân vô nghĩa.
Ngũ Tân nghe nói giương mắt lên ngó Trang vương mà tâu rằng:
- Nếu bệ hạ chẳng cho trả oán thì ngu thần cũng liều thác phen này.
Nói rồi thò tay rút cây báu kiếm ra, muốn đâm cổ tự vận, Trang vương vội phán rằng:
- Vương huynh tuổi đã bán bách (năm mươi), đi ra đường chinh chiến thì trẫm chẳng an tâm. Thôi thôi! Trẫm cũng chiều lòng, bây giờ vương huynh muốn dùng bao nhiêu nhân mã?
Ngũ Tân cả mừng tâu rằng:
- Lời tục ngữ có nói: Sánh đấng làm trai nào sợ chết, có thù không trả, chẳng lầm người. Ngu thần tuy tuổi đã năm mươi nhưng mà còn đủ sức cầm thương lên ngựa, trước đền ơn thánh chúa, sau trả đặng thù nhà, binh mã xin dùng một muôn ba, ngày mai sẽ đăng trình thượng lộ.
Trang vương liền truyền nội thị dọn tiệc tiễn hành, ba chung ngự tửu khuyến mời chúc bốn chữ kỳ khai đắc thắng. Mãn tiệc Ngũ Tân tạ ơn lui ra, khiến năm vị vương hầu tới giáo trường kiểm điểm nhân mã. Lúc đó Ngũ Tân trở về vương phủ thì phu nhân là Ngọc Nga đã dọn rượu ngồi chờ, Ngọc Nga mới hỏi:
- Nay triều đình có việc gì mà vương gia về chậm như vậy?
Ngũ Tân mới thuật các việc cho phu nhân nghe, Ngọc Nga nghe chồng nói thì đã biết mạng trời đã định, chết sống chẳng lầm, vợ chồng như muốn gặp mặt nhau chỉ có giác chiêm bao mới thấy, nhưng vậy cũng ráng lấy hết nghề tướng thuật mà khuyên cản Ngũ Tân rằng:
- Thiếp xem mặt vương phu, nơi ấn đường có như hắc hãm, vả lại hôm trước thiếp nằm chiêm bao thấy trong hồ nước cạn, cặp oan ương phân lạc đôi nơi, tuy là mưu sự tại người, mà điểm bất tường cũng bởi nơi thiên định. Lời hiền xưa có nói: Cây vì cao lớn nên bị gió gãy, người vì danh vọng nên mới hư mình, vương gia như muốn đông chinh, rủi có việc chi sai chạy, thì vợ con biết phương nào toan liệu?
Ngụ Tân nói:
- cuộc thế sự có cơn bỉ thái, đấng trượng phu nào nại tử sanh, thù năm xưa còn nhớ rành rành, quyết tới đó đào mả phanh thây Vô Diệm.
Ngọc Nga thấy chồng quyết ý, đôi hàng lụy chứa chan lai láng thưa rằng:
- Hôm nay vợ chồng sum vầy một tiệc, ngày mai bắc nam phânrẽ đôi phương, việc đời đoạn thảm tình thương, chi cho bằng sanh ly tử biệt, tuy vương phủ là người oanh liệt, nhưng Vô Diệm hay dùng chước quỷ mưu thần, vậy chớ vương phủ không nhớ hay sao? Hồi năm xưa hỏa hóa lãnh cung, nó tả hỏa độn về nhà ẩn tích, tôi tưởng nó bây giờ cũng làm cách trá tử mà gạt phỉnh người ta, xin vương phủ trước phải đề phòng, kẻo mà lầm mưu độc.
Vợ chồng trò chuyện với nhau mãn tiệc thì trời đã tối, Ngũ Tân bèn truyền quân dọn dẹp nghĩ ngơi, đợi sáng ngày đại hưng binh mã.
Rạng ngày đầu canh năm, Ngũ Tân thức dậy sửa soạn nai nịt, từ biệt phu nhân , cầm thương lên ngựa, thẳng tới giáo trường, chúng tướng đều tới bái yết, sắp đặt đội ngũ, đâu đó chỉnh tề, phát ba tiếng pháo, kéo binh đi ra khỏi thành Hoài Nam, ba quân reo ó vang trời, muôn đội trống chiêng dậy đất. Ngày đi đêm nghỉ, chẳng bao lâu tới Trân Châu sơn, quân thám tử trở lại báo rằng:
- Đây đã tới điạ phận nước Tề, trước mặt đó là chỗ lăng phần của Chung hậu.
Ngũ Tân cả mừng, bèn truyền chúng tướng chia ra mỗi một toán là ba ngàn người, vây núi Trân Châu đủ hướng đông, tây, nam, bắc, phát pháo hạ trại an dinh. Quân Tề nghe tiếng súng nổ hoảng kinh, lật đật về phi báo.
 Nói về Tuyên vương từ khi an táng Chung hậu xong, về trào lo việc chánh nước, cứ thường bữa thương nhớ nội trợ chánh cung, lại thường lên thăm viếng mộ phần, coi công bộ trùng tu lăng tẩm. Đang lúc Tuyên vương ngồi buồn rầu suy nghĩ, bỗng thấy quân sĩ báo rằng:
- Chẳng biết nước nào đại hưng binh mã bao vây lương lăng bốn phía đông đầy, lời thật tôi xin tấu bày, xin thánh hoàng định đoạt.
Tuyên vương nghe nói cả kinh, bèn kêu Yến Anh, Điền Năng và mấy vị ngự điệt tới bảo rằng:
- Phân binh bốn phía và đặt những đồ hỏa lôi hỏa pháo, đặng gìn giữ cổng thành.
Sắp đặt xong, vua tôi đêm đó năm không an giấc. Qua ngày sau Ngũ Tân sai Long hổ vương Tiêu Khôi tới dưới chân núi khiêu chiến, quân vào tâu cho Tuyên vương hay, Tuyên vương hỏi:
- Trong các tướng có ai dám ra cự với tướng giặc không?
Hỏi dứt lời có một tiếng người bước ra tâu rằng:
- Mạt tướng bất tài, xin đi lập đầu công.
Tuyên vương coi lại người ấy tên là Lưu Phụng, làm chức tổng binh, vua bèn truyền lịnh cho đi. Lưu Phụng liền cầm thương lên ngựa dẫn theo năm trăm binh ròng mạnh mẽ, kéo xuống đối địch với binh Ngũ Tân. Lúc ấy Tiêu Khôi đương mắng nhiếc om sòm, xảy thấy 1 tướng Tề xông ra mình mặt ngân giáp, đầu đội ngân khôi, tay cầm ngân thương, cưỡi con ngựa bạch, bèn hỏi:
- Tướng Tề kia, tên họ là gì? Mau nói ra rồi chịu chết.
Lưu Phụng thấy tướng Sở sát khí đằng đằng, oai phong lẫm lẫm, mình mặt thiết giáp đầu đội kim khôi, cỡi con ngựa thanh tòng, tay cầm thiết côn mình cao hai trượng mặt tợ hung thần, bèn đáp rằng:
- Ta tên là Lưu Phụng, làm chức đô 1y tổng binh, vậy chớ mày tên họ là gì, nói đi rồi sẽ đánh?
Long Hổ vương đáp:
- Vương gia là Tiêu Khôi, bốn bể đều nghe tiếng, ở Lưỡng Quảng giao binh trăm trận, anh hùng đều phải khiếp oai, đất Hoài Nam có một không hai, thảy đều biết ta lợi hại, mày hãy trở về tâu lại, nói với Tuyên vương mau đem thây Chung Vô Diệm ra đây, nếu như mày chẳng nghe lời, thời ta đập một cây thiết côn này bể óc.
Lưu Phụng nổi giận, hươi thương đâm tới, Tiêu Khôi cũng đưa côn ra đỡ, đánh được ba chục hiệp, Lưu Phụng liệu kế đánh không nổi, bèn quất ngựa tháo lui, bị Tiêu Khôi lẹ tay đánh trúng một côn bên hông tức thì nhào lăn xuống ngựa, quân Tề ào ra cướp xác, thì Lưu Phụng hồn đã về trời. Tiêu Khôi thừa thế rượt nà, quân Tề lật đật chạy về phi báo rằng:
- Nay tổng binh thất trận, Tiêu Khôi còn đánh đuổi rượt theo, nên chúng tôi phải về tâu lại.
Tuyên vương nghe báo đau lòng rơi lệ, thương Lưu Phụng là tôi trung thần, Tuyên vương còn đang thơ thẩn chưa quyết định sai ai, xảy thấy Điền Văn bước ra lãnh mạng đi báo cừu. Tuyên vương dặn rằng:
- Ngự điệt có đi phải đề phòng cho cẩn thận, nếu có điều chi thất thố, thời quả nhân ngồi chẳng an lòng.
Điền Văn cúi đầu vâng mạng lui ra, sửa sang nai nịt, cầm thương lên ngựa, phát ba tiếng pháo dẫn theo tám viên thiên tướng và một ngàn dũng sĩ lướt xông ra trận, chẳng thèm xưng hỏi, cứ lầm lũi hươ thương đâm đùa, Tiêu Khôi cũng đưa côn rước đánh, một rồng một cọp, kẻ lại người qua, đánh hơn một trăm hiệp dư, sức cũng cầm đồng, Tiêu Khôi bèn sanh ra một kế dùng thế cử hỏa thiêu thiên, quày ngựa giang ra ít bước, Điền Văn vừa muốn giục ngựa đuổi theo thì đã bị Tiêu Khôi ngoái lại lại trúng một côn bể đầu chết tốt. Tám viên thiên tướng và một ngàn quân sĩ ào ra cướp thây đặng đem về, Tuyên vương thấy vậy khóc ngất một hồi, mới hỏi rằng:
- Có ai dám ra trận mà báo thù cho cháu của trẫm chăng?
Hỏi dứt lời thì có một viên đại tướng tên là Quản Hổ xin đi. Quản Hổ ra trận, đánh chưa đặng mười hiệp, đã tuông nhằm một côn của Tiêu Khôi, nhào lăn xuống ngựa. Kế đó ra luôn bốn tướng nữa cũng bị bỏ mình, tính lại trận thứ nhất là: Lưu Phụng, trận thứ hai là Điền Văn, trận thứ ba là Quản Hổ, trận thứ tư là Trần Tổng Nhung, trận thứ năm là Bào Cao, trận thứ sáu là Vương Hiển, trận thứ bảy là Hồ Đô Năng, hết thảy là bảy người đều bị một tay Tiêu Khôi sát tử.
Tuyên vương thấy vậy bèn thẳng tới trước mả Chung hậu khóc mà nói rằng:
- Năm trước Hoài Nam phó hội, thiên binh vạn tướng bên Sở, ngự thê chẳng có sợ chút nào, bây giờ có một mình thằng quỷ sứ Tiêu Khôi giết hết bên Tề bảy tướng, nay ngự thê mới chết, thằng Điền Côn cũng phản rồi, trẫm biết tính làm sao mà lui đặng Ngũ Tân cho sớm? Nó lại đòi phá mộ phần của ngự thê biểu đem dâng thi hài cho nó nữa.
Tuyên vương vừa khóc vừa nói. Yến Anh thấy vậy cũng động lòng, bá quan thảy đều thương cảm. Còn Tiêu Khôi thắng luôn bảy trận, thì trời đã tối, liền thâu binh trở lại dinh, Ngũ Tân bày tiệc rượu hạ công, uống tới canh hai mới mãn. Rạng ngày sau, Ngũ Tân thăng trướng, nhóm chúng tướng lại hỏi rằng:
- Nay tướng nào đem binh ra trận đặng biểu vua Tề phải đem thây Chung Vô Diệm ra cho mau?
Nguyên soái là Huỳnh Kỳ lãnh mạng, Ngũ Tân cho đi, Huỳnh Kỳ cầm đao lên ngựa, thẳng tới dưới triều núi Trân châu biểu quân Tề vào tâu với Tuyên vương, đem thây Chung Vô Diệm ra thì sẽ rút binh về nước. Quan chánh ty vào tâu lại, Tuyên vương cả kinh chết giấc một hồi, Yến Anh kêu cứu khuyên rằng:
- Chúa thượng chớ lo, hãy viết miễn chiến bài nói: Xin hẹn một tháng sẽ đem thấy quốc mẫu ra, đặng gạt cho binh Sở lui về dinh, chừng đó sẽ có người tới cứu.
Tuyên vương túng thế phải nghe lời, truyền quân chánh ty làm ngay như vậy, rồi đem treo ở dưới chân núi, Huỳnh Kỳ xem thấy bèn  lui binh về trại thuật lại cho Ngũ Tân nghe, Ngũ Tân cũng y hạn cho vua Tề và dốc binh đêm ngày canh tuần nghiêm nhạt. Từ đó binh Sở không tới khiêu chiến nữa,, vừa được một tuần, Tuyên vương cứ thường đem đốt hương vái van cùng Chung hậu, xin cho thần thông quảng đại mà cứu vua tôi cho đặng khỏi chết phen này. Oán khí ấy thấu tới từng mây, nên động giết các vì tinh tú.
 Nói về Chung hậu từ khi về nhà đến nay đã được ba tháng, thường ngày chị em tập luyện đao mã, đang khi ngồi chơi hoa viên, xảy có một trận gió thổi tới trong bụng cảm thấy xống xang, liền đánh tay toán quẻ biết rõ sự việc, bèn vào nhà từ biệt cha mẹ, và thuật hết sự thiên tử đi coi tu bổ vương lăng mà bị Ngụ Tân phủ vây khổn hãm. Vợ chồng Chung viên ngoại nói liền hối Chung hậu mau mau đi cứu giá kẻo phạm tội với triều đình. Chung hậu vâng mạng liền sửa sang khôi giáp, lên ngựa cầm đao, đi cả đêm cả ngày, cho mau đến Trân Châu sơn cứu giá.
Đây nói về Điền Côn, từ khi ra ở núi Thường Sơn vợ chồng đốc sức quân sĩ lo làm rẫy bái mà chi độ tháng nggày, còn giữa dinh thời để linh vị Chung nương nương, thường bữa hôm mai cúng tế, lòng thê thảm não theo nước mắt, lúc đứng ngồi như thể ở cạnh tường, biết bao nhiêu đoạn thảm tình thương, hay đâu nỗi mưa gió bất thường, nên Điền Côn sanh ra căn bệnh. Liêm thị lật đật rước thầy về thang thuốc, một ngày một thêm hôn mê chữa không lại. Than ôi! Thời mạng bất tề, nên khiến những người trung mắc nạn, nhưng sách có chữ: Hoàng thiên bất phụ hảo....ngày kia cá cũng hóa rồng, mới phỉ chí anh hùng cái thế.
Còn Chung hậu lúc này cũng vừa tới núi Thường Sơn, bèn dừng ngựa lại xem một hồi, thấy người qua lại dinh trại lăng xăng, thì đã biết Điền Côn nghe theo lời mình ra ở đó, bèn kêu sắp quân tuần dinh bảo rằng:
- Mau vào báo với trại chủ bay, nói có Chung quốc mẫu tới đây, mau ra nghênh tiếp.
Quân tuần dinh nghe nói thấy làm lạ, nhưng phải vào bẩm lại cho vợ chồng Điền côn hay. Lúc đó Điền Côn đương cơn bịnh trượng nghe những lời bán tín bán nghi, hay là quốc mẫu hóa thân trá tử? Nghĩ rồi vợ chồng dắt tay nhau xuống núi, đặng coi chân giả thế nào, vừa đi một đỗi xa. Thoại Hoa thấy Chung hậu mười phần tỏ rõ, bèn la lớn lên rằng:
- Ôi mẹ ôi! Mẹ có anh linh hiển hách, xin đừng tới nhát dâu con làm chi tội nghiệp.
Nói vừa dứt lời thì té ra chết giấc, tám vị tổng binh  xúm lại cứu tỉnh đem về dinh, còn Điền Côn là một đấng anh hùng chẳng có sợ gì ma quỉ, vả lại bấy lâu cứ đem lòng hoài vọng, trông sao cho mẹ con đặng gặp mặt nhau, dầu sống chết thế nào cũng chẳng quản. Thấy vậy bèn giục ngựa tới hoài, gặp tận mắt. Điền Côn xuống ngựa quì lạy và mừng rỡ vô hồi, rước thẳng về thảo dinh mà phân trần sau trước. Khi tới nơi quân vào báo lại cho Liêm thị hay, Thoại Hoa lật đật bước ra, rõ ràng đủ mặt một nhà, nhưng còn ngờ giấc chiêm bao đâu đó, mới buông lời thưa rằng:
- Muôn tâu vương mẫu, xin tha tội cho con, bấy lâu nay chưa rõ sự mất còn, nên con thất lê viễn nghênh quốc mẫu.
Chung hậu nói:
- Số là vương nhi và vương tức chưa rõ để mẹ phân lại cho nghe: Ấy gọi là kế điệu hổ ly sơn, mà gạt vua tôi nước Sở, nếu trừ được Ngũ Tân rồi thì mới yên mối họa lớn, vì vậy nên mẹ giả chết mà dụ nó hưng binh, trong cẩm nang mẹ dặn đã rành rành, ngày nay mau phải toan mưu cứu giá. Bây giờ đây thìn tử ở núi Trân châu đương bị khốn, còn tường Tề đã chết hết bảy người, vua tôi đều cam chịu bó tay  lúc này mẹ phải đi suốt đêm ngày tới trước, còn vợ chồng con hãy tóm thâu binh mã theo sau mà thâu phục Sở thần.
Nói rồi cầm đao lên ngựa thoăn thoắt như tên bay. Vợ chồng Điền Côn sau khi đưa Chung hậu ra khỏi dinh truyền cho tám vị tổng binh thâu góp lương thảo, sắp đặt quân sĩ, kế phát pháo đốt dinh, đồng thẳng tới núi TrânChâu tiếp ứng.
Nói về Chung hậu nóng việc cứu giá, đi chẳng kể đêm ngày, không mấy bữa đã gần tới Trân Châu sơn, bèn đứng ngựa lại xem cuộc thế, ngó thấy dinh Sở lập ra trận Nhĩ long quy hải, bốn phương tám hướng đều kín bít như bưng, không thế nào mà xông đục vòng vây cho đặng, liền trở mặt qua hướng tây bắc, đòi thần làm gió tới mà phân bảo vân vi. Thần phong bá nổi trận gió tức thì đầy núi những đã bay cây ngã, binh Sở đều sơ vơ xửng vửng, dinh trại cũng sập nằm sấp lớp một bề. Chung hậu khi ấy giục ngựa lướt vào nói rằng:
- Ta là Chung Vô Diệm, tới cứu giá vua Tề, phải nhượng lộ cho ta đi, nếu không thì chẳng toàn tánh mạng.
Quân Sở nghe nói ngửa mặt lên ngó, thấy một người như quỉ sứ, ngỡ là thần thiên lôi, kẻ té ngửa, người té ngồi, kẻ bỏ thương người rớt mão, lật đật kéo nhau chạy đi phi báo, ngó lại sau thì cũng thấy quỉ sứ đuổi theo, chẳng khác như cọp đuổi bầy cheo, chim đại bàng lùa se sẻ, Tiêu Khôi khi ấy nghe quân báo cặn kẽ, liền nổi giận xách côn bước ra. Chung hậu thấy tướng Sở hình thủ như Phật Kim Cang, đầy mình mặc giáp sắt, bèn cầm đao chỉ mặt mà hỏi rằng:
- Tướng Sở tên họ là? Ai gia chẳng giết đứa vô danh, hãy vào biểu Ngũ Tân ra đây đối địch.
Tiêu Khôi thấy Chung hậu hình dung cổ quái như quỷ như yêu thì cũng nghi, bèn hỏi rằng:
- Mầy là Chung Vô Diệm phải chăng?
Chung hậu đáp:
- Phải.
Tiêu Khôi nói:
- Năm trước Kỳ ban hội chưa từng giao phong, ấy là bởi ý thiên công, cho mầy sống thêm ít năm nữa. Nay ta hỏi sao mày dám giả tới Túy Bình sơn cải giá chiêu phu mà gạt vua nước Lỗ, nước Lương. Mới đây ta lại nghe nói rằng: Mày bị phát mụn tâm đinh mà từ thế, làm sao mày ở đâu mà sống lại tới đây cứu giá? Còn như mày bây giờ muốn biết tên mỗ thời ngoáy lỗ tai cho rộng mà nghe: Sở bang Long Hổ vương Tiêu Khôi là ta đây, hãy mau cúi đầu mà chịu côn này, nếu không thời vương gia giết chết.
Chung hậu đáp:
- Vua tôi bây trúng kế, hãy chịu trói đi cho rồi.
Tiêu Khôi nổi giận, hươi thiết côn đánh tới, Chung hậu cũng đưa đao ra đỡ gạt, một đằng có Huỳnh công tam lược một đằng có đủ Lữ Vọng lục thao, Chung hậu thì thông pháp lực đã cao, Tiêu Khôi lại võ nghệ siêu quần hảo hớn. Hai bên đánh ba trăm hiệp, Tiêu Khôi thất ý đề phòng, bị Chung hậu chém trúng một đao, phân thây ra làm hai đoạn, quân Sở có bốn viên tướng, ào ra cướp lấy thi hài, bèn mau vào trung dinh báo với Ngũ Tân hay rằng:
- Long Hổ vương bị tay Vô Diệm, hồn đã xuống thấy Diêm vương, khi không mang họa phi thường, vương gia phải lo phương cự địch.
Ngũ Tân nghe nói cả kinh, khóc ngất một hồi mới tỉnh, bèn nói với chúng tướng rằng:
- Chung hậu đã bị tâm đinh sang tận số, Chung hậu nào còn sống trên đời? Bởi cớ ấy ta mới sang đây quyết bới thây người nên người mới hiện ra mặt phò Tề chúa đó. Thôi truyền chúng tướng sắp bày một lễ, đặng cho ta tế vong hồn Chung hậu.
Chúng tướng vâng lệnh, bày lễ vật rượu trà ra. Ngũ Tân cúng tế xong, cầm thương lên ngựa dẫn theo tám viên thiên tướng, vừa ra khỏi cửa dinh. Chung hậu thấy mặt Ngũ Tân thì cười rằng:
- Ta chào Trung Hiếu vương mạnh giỏi, có ai gia tới đây.
Ngũ Tân xem thấy Chung hậu mười phần mạnh mẽ hơn xưa thì châu mặt châu mày mà mắng rằng:
- Đồ xủ phụ, thiệt là vô liêm sỉ, mưu tâm cứu đi gạt gẫm người ta hoài, nay linh hồn đà hiển hiện về đây, thôi để vương gia làm chay cho chín bữa.
Chung hậu cười rằng:
- Ai gia có chết chóc gì đâu mà toan hòng cúng tế. Ấy là vua tôi bây quả đà trúng kế, chước ấy gọi là điệu hổ ly sơn.
Ngũ Tân nghe nói trúng kế tức thì tức giận hươi thương đâm nhầu, Chung hậu cũng đưa đưa rước đánh hơn hai trăm hiệp sức cũng cầm đồn. Chung hậu mới nghĩ rằng:
- Trong thiên hạ thì có bốn người vô địch: Ngũ Tân, Tôn Tháo, Điền Côn và ta đây thôi. Nếu ta dùng sức đánh với nó hoài thì khó bề hơn đặng, chi bằng dùng kế giết nó đi cho rồi. Nghĩ rồi bèn dừng tay lại nói với Ngũ Tân rằng:
- Chẳng cần ngồi trên ngựa hươi đao múa thương làm chi, hãy xuống ngựa đánh quyền với ta mới rõ tài cao thấp.
Ngũ Tân gật đầu, hai người bèn xuống ngựa bỏ thương, liệng đao sửa soạn đánh quyền. Chung hậu lại nói:
- Mày chịu cho tao đánh một thoi này thì mới gọi là người hảo hớn.
Ngũ Tân nói:
- Mày chịu một quyền nay ta mới gọi mày lợi hại.
Hai bên bằng lòng. Chung hậu hường cho Ngũ Tân đánh trước. Ngũ Tân nói:
- Ta đường đường là một nam tử, có lẽ đâu đi đánh trước đàn bà. Thôi đừng nói nhiều lời nữa, tao cho mày đánh trước đó.
Nguyên Chung hậu có phép ngũ lôi thần chưởng mà Ngũ Tân không hay, ấy cũng bởi số trời, Ngũ Tân chết nơi tay Chung hậu. Chung hậu bèn co tay lại, miệng niệm ít tiếng chơn ngôn, đánh chạt đại vào mặt Ngũ Tân, tức thì bể đầu té xuống chết tốt. Than ôi! Một vị Sở triều lương đống, thọ ngươn có bốn mươi chín tuổi mà bị về trời.
Khi ấy binh Sở áp lại, tư vi, Hoài Nam hầu là Bá Trình thấy Ngũ Tân chết rồi cũng múa đao định chém tới đánh Chung hậu chua đặng mười hồi đã bị một đao đứt là hai khúc. Thạch Phụng bèn nổi giận hươi thương đâm tới, bị Chung hậu lẹ tay gạt ra quá mạnh, rồi chém tới một đao trùng lên đầu, tức thì mãn đĩa huyết lưu, giây lát hồn về chín suối.
Đông Bình vương là Liêu Cái và An Phụng, Giáng Khôi lại vùa binh áp tới vây phủ. Chung hậu một mình tả xông hữu đột, ra khỏi trùng vi thẳng tuốt lên Tran Châu sơn kêu quân báo rằng:
- Hãy tâu với vua Tề có Chung Vô Diệm tới cứu giá.
Quân chánh ty lật đật vào tâu rằng:
- Quốc mãu thật là chưa chết, chúa công quả có cứu tinh, xin bệ hạ phát chỉ khai dinh, sai quan ra nghinh tiếp.
Tuyên vương nghe tâu cả mừng khấp khởi như cây khô gặp được trời mưa, liền nói với Yến Anh rằng:
- Quân sư toán que thiệt chẳng sai.
Nói rồi truyền văn võ bá quan hộ giá xuống núi nghênh tiếp.
Khi xuống tới chân núi, Chung hậu xuống ngựa quì tâu rằng:
- Thần hậu cứu giá tới chậm trễ, tội dư muộn thác.
Tuyên vương bước tới đỡ dậy, khóc mà nói rằng:
- Nếu chẳng có ngự thê cứu mạng thì trẫm đã hồn xuống suối vàng, vì quả nhân lên đâu tu tróc Vương Lăng nên mới bị Ngũ Tân vây hẫm. Tiêu Khôi giết luôn bảy tướng, trẫm đà thất phách kinh hồn. Quân sư lại nói: Ngự thê còn ở Pháp Mã thôn sẽ có ngày tới đây cứu giá.
Chung hậu lại tâu:
- Xin bệ hạ đừng lo sợ mà hao tổn mình rồng. Tiêu Khôi đã bị thần hậu giết rồi, còn Ngũ Tân cũng bị chưởng lôi đánh chết, quân Sở đã thấy tha la hết, chắc nay mai rồi cũng phải rút hết về.
Tuyên vương nghe nói cả cười, rồi vợ chồng dắt tay thẳng lên sơn trướng, vào ngồi nơi long ỷ. Bá quan triều bái xong, Tuyên vương mới thuật lại khi Chung hậu chết, Điền Côn lại phản nữa, không ai lui binh Sở, nên phải khốn thủ Sơn Lăng. Chung hậu tâu rằng:
- Vương nhi thiệ vô tâm tạo phản, bởi có lời cẩm nang của thần hậu để lại, biểu nó theo đó mà làm sẽ tới Trân Châu sơn cứu giá, như vậy mới bảo toàn được triều Tề thiên hạ, bằng không thời chết cả hai. Nay thần hậu đã gặp rồi, nó hãy  còn sát lại xông trận.
Vua tôi Tề nghe nói rất mừng, liền lạy tạ ơn trời đất và khen Chung hậu mưu kế vô song. Kế đó liền truyền bày tiệc rượu hạ công, bá quan thảy đều vui mừng hớn hở.
Nói về vợ chồng Điền Côn sát nhập trùng vi, tìm chẳng thấy Chung hậu đâu cả, trong lòng nóng này một bề cứu giá, lại không biết mẹ đi ngã nào, khắp đông tây chẳng thấy âm hao, qua nam bắc chém người như chém chuối. Tướng Sở chẳng ai địch nổi, rủ nhau đều vỡ chạy như ong, ba quân hăm hở một lòng, tám tướng anh hùng hiệp lực, đuổi binh Sở chạ ba mươi dặm, khí giới bỏ chất đống như non. Liêm Thoại Hoa bèn minh kiến thâu quân đặng lên Sơn Lăng ra mắt thiên tử.
Khi lên đến núi bèn thông báo cho quan chánh ty hay rằng:
- Vợ chồng Điền Côn đến đây lui binh Sở giải vây cứu giá.
Quân chánh ty liền vào tâu lại, Tuyên vương truyền chỉ cho nhập dinh, vợ chồng tới trước kim trướng lạy dài chịu tội tôi con tạp phản. Thiên tử nói:
- Ấy là tại ngự thê diệu toán chớ  trẫm nào có trách chi vương nhi.
Vợ chồng Điền Côn rất mừng, kế thiên tử truyền nội thị mở tiệc yến diên, bá quan thảy đều khánh hạ.
Yến Anh khi ấy bước ra tâu rằng:
- Nay ba tháng dư túc trúc Vương Lăng lắm cũng khó, bây giờ quốc mẫu đã tới đây hiệp hội rồi, xin khai phá mộ phần mà khám nghiệm hình thảo còn tươi như trước chăng?
Tuyên vương nghe nói lấy làm lạ, nhưng cũng nhận lời, bèn truyền ngự lâm quân đào lên coi quả như lời chẳng sai. Bá quan thảy đều khâm phục, vua Tề cũng khen ngợi vô cùng, thưởng tài quân sư mười lượng vàng ròng để đền ơn mưu cao toán giỏi. Tiệc mãn thì trời đã tối, ai về dinh nấy nghỉ ngơi.
Nói về Trang vương từ khi Ngũ Tân phụng mạng đi phạt Tề, thường ngày có thiệp văn dâng về, đã rõ tin vua Tề treo miễn chiến bài, hạn một tháng thì đem thi hài Chung hậu ra nộp. Trang vương thấy vậy lấy làm đắc ý, vua tôi đều hoan hỉ vô hồi. Ngày kia vừa mới lâm triều, thấy quan huỳnh môn vào báo rằng:
- Đông Bình hầu thất trận trở về còn ở trước Ngọ môn đợi lịnh.
Trang vương nghe tâu ngẩn ngơ, liền truyền chỉ cho vào, Liễu Cái tới trước Kim Loan điện khóc rống lên một hồi, nội trào chưa ai hiểu sự kiết hung, Trang vương cũng chưa thường chung thỉ, bèn hỏi:
- Có việc gì thì nói, Hầu gia khóc lóc làm chi.
Liễu Cái bèn tâu rằng:
- Từ khi giáp trận, Trung Hiếu vương vây khổn đặng Bồn Long lãnh, kế đó Long Hổ vương lại giết được bảy viên tướng Tề , Tuyên vương sợ hãi xiết chi nên viết miễn chiến bài đem ra kỳ hạn một tháng. Dè đâu Vô Diệm trá tử man thiên, vợ chồng Điền Côn lại đem binh cứu giá. Thứ nhất Tiêu Khôi xuất mã, bị Vô Diệm một đao về trời. Ngũ vương gia nổi giận mới ra binh, lại bị Ngũ lôi của Vô Diệm đấu quyền đánh chết. Còn Bá Trinh và Thạch Phụng thảy đều hồn xuống suối vàng, nay còn có một mình tôi nên tôi phải phải thâu góp binh tàn trở về trào phục tội.
Trang vương nghe nói thương tiếc khóc lóc và nói rằng:
- Than ôi! Mấy vị Sở thần như núi bị có một con xủ phụ mà hết thảy mạng vong.
Trang vương khóc lóc một hồi rồi té nhào xuống dất chết giấc. Văn võ triều thần xúm lại cứu, rờ nơi tam tiêu đà hết thở, tứ chi lạnh ngắt như đồng, sao tướng tinh Kim tý thần long đã bay về Thiên tào chầu chực. Bá quan thấy thiên tử đã băng hà liền khóc rống lên với nhau một hồi rồi sai nội thần à cung rước đông cung thái tử là Hỉ Dương ra. Khi thái tử nghe tin ai báo, lật đật tới Kim Loan điện, khóc ngất một hồi, bá quan xúm lại khuyên rằng:
- Nay tiên hoàng đã yên giấc về trời, xin điện hạ phải âu lo việc lớn.
Thái tử nguôi đoạn thảm, bá quan rước  thẳng vào nơi thiên cung, thay y quan, tắm gội xong rồi, phò lên ngai rồng ngồi giữa. Bá quan tung hô triều hạ chúc tân vương phúc thọ thiên niên, việc lên ngôi sắp đặt đã yên, lo tẩn liệm tiên hoàng nghi vệ. Lúc đó tân vương sắc sai Bộ lễ, làm chiếu văn tỏ rõ khắp thần dân, ai nấy đều quải hiếu cư tang bốn mươi chín ngày thích phục. Lại rước linh dư (quan tài) vào để nơi Bạch Hổ điện, chờ coi ngày kiết tán hoàng lăng (sách có chữ: Hàm quyết phún nhan ô tử khẩu). Bởi trước vua tôi Sở quyết đi đào thây Chung hậu, hay đâu  bị bỏ mình, đạo trời ứng báo đành rành, dục hại tha nhân tiên hại kỷ là vậy.
Đây nhắc lại Tuyên vương và Chung hậu nghỉ binh ba ngày rồi truyền lệnh ban sư trở về Lâm Tri. Nhiếp chánh vương và bá quan đều ra tiếp giá. Khi vợ chồng về tới triều, thẳng vào Kim Loan điện, bá quan triều báo xong, thiên tử truyền Đông Lộ vương tra xét kho tàng, khao thưởng cho quân sĩ. Lại sai nội thần dọn yến, vua tôi đồng sĩ lạc thăng bình. Tiệc rượu tới thâm canh mới mãn, văn võ triều thần các tán, ai lui về phủ nấy nghỉ ngơi.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-19 02:31:04Hoàng Dung>
hồi thức năm mươi ba
Thủy Hoa động ,Ngô Khởi hạ sơn
Cô Tô thành Anh vương tấn bửu
 

Nói về Lỗ vương cầu thân chẳng đặng, đã tốn của lại thêm bị đòn, oán thù nặng tợ núi non, hằng ngày cứ lo mưu trông trả. Ngày kia Lỗ vương lâm triều, thừa tướng là Nhan Trinh xuất ban tâu rằng:
- Vô Diệm lập kế chiêu phu trá phản, các nước ai cũng đều hờn, ngu thần xin tấu với thượng hoàng phải kiếm kế lo phương trừ nó.
Lỗ vương nói:
- Trẫm với Chung Vô Diệm thề chẳng đội trời chung vì nước ta chưa cỏ kẻ anh hùng nên cắn răng mà chịu.
- Nay Lỗ Lâm chánh cung tuổi vừa hai tám, phận lửa hương chưa định duyên hài, xin chánh cung hãy kén phò mã một người, chẳng luận là quan nhân quì tiện. Hễ ai có văn hay võ mạnh, tới Ngọ môn yết bảng chiêu hiền, sẽ phong cho là chiêu thảo binh quyền, như vậy mới trả thù được Chung Vô Diệm.
Lỗ vương khen phải phán rằng:
- Việc ấy phú giao cho thừa tướng, vì quả nhân mà lo cho thành công, họa may có chiều lòng, chốn sơn dã cũng chẳng thiếu chi kẻ anh hùng hào kiệt.
Nhan Trinh vâng lời lui ra, thiên tử truyền bãi triều, ai lui về dinh nấy. Qua ngày sau, Nhan Trinh tới Ngọ môn cất một cái đài, trao tấm bảng chiêu hiền mà chiêu dụ thiên hạ.
Nói về núi Lạc Vân, động Thủy Hoa có một vị chí tôn lão tổ là Quản Đức tiên tử, đương khi ngồi tụng kinh Huỳnh đình, bỗng có một trận gió thổi qua quá dữ, liền xem một quẻ biết rõ đông Tề Chung Vô Diệm ỷ có tiên pháp cao cường nên trấp áp vua các nước. Nay lại có Lỗ vương dựng bảng chiêu hiền, kén một chàng làm phò mã. Học trò ta ngày nay cũng khá, tên Ngô Khởi, đích danh võ nghệ thuần thục tinh anh, trí thức lại hơn người dưới thế, nếu cho nó hạ san, ắt hội binh trừ Chung Vô Diệm đặng. Nghĩ rồi bèn sai đồng tử đi đòi Ngô Khởi tới hầu. Đồng tử vâng mạng ra sau hậu đường nói cùng Ngô Khởi rằng:
- Sư phụ có lịnh cho đòi, sư huynh chớ nên trễ nải.
Ngô Khởi nghe nói thầy đòi thì lật đật tới tam thanh đặng quì lạy thưa rằng:
- Chẳng hay sư phụ đòi đệ tử có việc chi dạy bảo chăng?
Lão tổ nói:
-Hiền đồ hãy đứng dậy, để thầy nói cho nghe. Con là người ở phủ Duyên Châu, tỉnh Sơn Đông. Từ khi mười hai tuổi thầy thâu làm đồ đệ. Đã sáu năm nay, giờ con đã trưởng thành, vậy con muốn hưởng sự thanh phước hay là con muốn sự hồng phước?
Ngô Khởi hỏi:
- Thưa thầy, làm sao gọi là thanh phước, còn làm sao gọi là hồng phước?
Lão tổ nói:
- Thanh phước là triều chơn bái đẩu, tọa ngỏa tham thiền, đói thời ăn thuốc trường sanh, khát thời uống nước suối, gởi thân cùng tòng bá, bầu bạn với cỏ hoa, hang sâu núi thẳm là nhà, toán hạc tuổi phi chưa sá kể. Còn hồng phước là mão vàng đai ngọc, cưới vợ sanh con ăn những đồ hải vị sơn trân, xe ngựa dập dìu cửa tướng.
Ngô Khởi nghe thầy nói làm thinh nghĩ rằng: như mình muốn bên thanh phước thì lấy làm cực khổ muôn phần, khó bề dưỡng tánh tu thân, mà trông sự thành chánh quả. Còn bên hồng phước thời khá, mà ngặt không dám nói ra. Nghĩ rồi bèn rơi luỵ mà thưa rằng:
- Đệ tử từ tuổi trẻ sớm mất cha mẹ, lão sư thâu dưỡng đã sáu năm nay, non cao bể rộng ấy ơn thầy, đệ tử khó trông bề báo đáp. Xét thấy phận hèn phước bạc, cũng khó bề giữ vào bậc tiên gia, ít lời khờ dại thưa qua, trăm lạy xin thầy tha tội.
Lão tổ nghe nói biết ý, bèn nói với Ngô Khởi rằng:
- Nay Lỗ vương có bảng chiêu hiền phong làm phò mã, đệ tử xuống đó thì sẽ gặp lương duyên, vả lại Lỗ vương với Vô Diệm có cừu oán như thiên, còn bổn sư cũng có một việc chẳng yên tấc dạ. Vì năm trước bổn sư công tu luyện cũng còn chưa khá, không bằng thánh mẫu Lê San, đương khi thể được du nhàn, vừa đi ngang qua Lê San động phủ, thấy có một con nữ đồng canh thủ, nó biểu ta vào ra mắt sư tôn, ai dè đâu thánh mẫu lại nói ta hý hước với nữ đồn, bắt ta ra đánh đòn bốn chục. Sự như vậy thiệt là oan khúc, ngàn năm còn ghi tạc vào lòng. Nay con Vô Diệm là học trò của bà Lê San, chờ ngày ta bắt nó rửa hờn cũng đặng. Bây giờ hiền đồ hạ san làm chức phò mã, lãnh binh quyền phò tá Lỗ vương, tới ngày sau binh năm nước đại hội nơi sông Tương thì phải bắt sống cho đặng Tề vương với Chung Vô Diệm.
Ngô Khởi nghe nói cả mừng, cúi đầu tạ ơn. Lão tổ lại khiến đồng tử vào sau hậu đường, lấy những đồ thương mã đem ra giao cho Ngô Khởi. Kế đó thầy trò phân tay từ biệt.
Khi Ngô Khởi ra khỏi cửa động, thấy những non xanh nước biếc hình như vẽ, cỏ tốt hoa tơm kiểng tự nhiên, oanh kêu cụm liễu huyên thiên, gió thổi chòm lau phơ phất. Cũng có chỗ non cao chất ngất, lại có nơi đá lối ghập ghềnh, mấy ngày mấy đêm gió mát trăng thanh, đã ngó thấy Lỗ thành trước mắt. Bèn xuống ngựa vào nơi quán dịch, để liệu bề cơm nước nghỉ ngơi, tới canh hai ăn uống xong rồi,Ngô Khởi mới nằm nghe thương khách trò chuyện. Thiệt quả y như lời thầy dặn, mới tin tài lão tổ thần thông, may gặp thời cá hóa ra rồng, cho bõ công mấy năm rèn tập. Một đêm đó nằm không yên giấc, chờ sáng ngày tới đó thử xem.
Rạng ngày đầu canh năm nhà quán thức dậy, bộ hành ai nấy tính tiền cơm nước vừa rồi. Ngô Khởi cũng thức dậy, liền ngồi kêu tiểu nhị lại trả số tiền sở phí. Giây lát cầm thương lên ngựa đi ra giữa đám đông người, thấy những hàng công tử vương tôn, áo quần đủ mỗi người năm sắc. Còn những kẻ hành quân thương khác, cũng tới lui người chật trong ngoài. Ngô Khởi lướt tới một hơi, thiên hạ xem đều khiếp vía. Vì Ngô Khởi là sao Thiên hà giáng thế, lại thêm võ nghệ tiên gia, hai cánh tay sức mạnh ngàn cân, có ai dám chen vai cho lại.
Khi Ngô Khởi tới giữa ngã tư, thấy một vị khâm sai ngồi giữa, phía ngoài có treo một tấm bảng văn, lại gần thấy mấy lời như vầy:
Ngôi trời dấy vận, trẫm là Lỗ vương có lời chiếu dụ bốn phương, chẳng luận giàu sang đói khổ, với các công tôn vương tử, cùng những người tam giáo cửu lưu. Nay trẫm có một người con gái đầu, tên là Lỗ Lâm chánh cung, tuổi vừa hai tám còn thơ ấu, tam tòng chưa định duyên hài bây giờ trẫm muốn kiếm một người văn võ toàn tài, phong làm chức đông sàng phò mã. Trẫm giao cho binh quyền thiên hạ, để ra tài phò tá giang san, ví như cột đá chống trời, cầu vàng qua biển. Kính thay mấy lời, chớ phụ ý trẫm.
Ngô Khởi xem xong lấy bảng để xuống. Quân giữ bảng thấy dắt vào ra mắt thừa tướng Nhan Trinh. Ngô Khởi tới thi lễ xong xuôi, thừa tướng bèn hỏi:
- Chẳng hay tráng sỉ tên họ là gì và quê quán ở đâu?
Ngô Khởi cúi đầu thưa hết lai lịch cho Nhan Trinh nghe một hồi, rồi Nhan Trinh nói:
- Việc này ta không dám tự chuyên, phải vào ra mắt thiên tử mới đặng.
Nói rồi truyền quân dọn kiệu và dắt nl đi theo vào trước Ngọ môn, biểu Ngô Khởi ở ngoài mà đợi lịnh. Rồi thẳng vào Kim Loan điện, triều bái Lỗ vương và tâu rằng:
- Nay có một người họ Ngô tên Khởi, tuổi vừa mười tám thanh xuân, vốn người ở tại nước mình, học trò của Chí Tôn lão tổ.
Lỗ vương hỏi:
- Người ấy bây giờ ở đâu?
Nhan Trinh tâu:
- Còn đợi lịnh ở trước Ngọ Môn.
 Lỗ vương truyền lịnh cho vào, Ngô Khởi bước tới Kim Loan điện triều bái tung hô. Lỗ vương xem thấy hình dung đúng đắn, diện mạo khôi ngô, thiên đường đầy đặn, lại môi son địa các vuông tròn, thêm mặt trắng, đầu bịt khăn chữ nhứt, mình mặc đạo phục sắc huỳnh. Xem xong rồi khen thầm: Thiệt đáng mặt tiên gia đệ tử. Khen rồi mới phán hỏi rằng:
- Tráng sĩ có nghề nghiệp cho mà tới đây ra mắt quả nhân vậy?
Ngô Khởi tâu:
- Tôi đã sáu năm học đạo, nay thầy tôi mới dạy hạ san, những là võ nghệ thập bát ban, với tam lược lục thao đều làu thuộc.
Lỗ vương hỏi:
- Trong thập bát ban võ nghệ, tráng sĩ sở trường môn chi?
Ngô Khởi tâu:
- Thương pháp của tôi là bậc nhứt.
Lỗ vương hỏi:
- Bây giờ có đây hay không?
Ngô Khởi tâu:
- Vật ấy vẫn còn để ở Ngọ môn.
Lỗ vương truyền cho Huỳnh môn quan ra lấy đem vào rồi phán rằng:
- Trẫm muốn coi thương pháp của tráng sĩ thử biết hay giỏi ra thế nào?
Ngô Khởi vâng lịnh cầm thương lên ngựa, múa cách Cơ hổ cầm dương (cọp đói bắt dê), bốn cửa tám phương đều có thứ lớp. Trước khi mở ra tam lộ, kế đó tam tam như cửu, sau lại cửu cửu hoàn quy bát thập nhứt lộ, khi như chim đại bàng xoè cánh, khi như mãnh hổ lìa rừng, có khi như chim ngọc nữ đưa thoi, có lúc giống rồng xanh lấy nước. Ngọn thương nghe qua vùn vụn, trước sau nào thấy rõ mặt người. Lỗ vương đẹp ý bèn cười, văn võ triều thần thảy đều khen ngợi.
Ngô Khởi thi võ rồi xuống ngựa, lại đi thẳng tới điện Kim Loan, Lỗ vương lại phán hỏi rằng:
- Thương pháp thiệt là thần diệu, còn văn tài chưa biết thể nào?
Nói rồi bèn truyền nội thị lấy văn phòng tứ bửu đem ra. Ngô Khởi tiếp lấy ngồi viết một hơi những là việc ở trong binh pháp, chỗ nào thời nên mai phục, chổ nào dùng được chiến tranh, thiên thời địa lợi rành rành, cuộc thắng bại hình như trước mắt. Viết rồi dâng lên cho vua xem, Lỗ vương xem qua cả đẹp và phán rằng:
- Nay trẫm phong cho tráng sĩ làm chức phò mã, giữ binh quyền sưử trị nước nhà.
Ngô Khởi cúi đầu lạy tạ, kế nội thần dẫn qua bên thiên cung thay đổi đồ triều phục. Lỗ vương bèn truyền nội thị vào cung đòi công chúa ra. Công chúa cũng lật đật sửa soạn cung trang, theo nội thị thẳng tới Kim Loan điện triều bái. Lỗ vương thấy công chúa tới rất vui mừng, cười và thuật hết trước sau: công chúa tâu rằng:
- Việc hôn nhân tại quyền vương phụ, thần nhi đâu dám cãi lời.
Lỗ vương biết con mình đã đành dạ, bèn truyền cho quan Tư thiên giám coi ngày. Tư thiên giám vâng lệnh lui ra, giây lất trở vào tâu rằng:
- Bữa nay là ngày Thanh long huỳnh đạo, thiết tốt vô song. Sách lịch gia có nói việc vợ chồng, Thanh long là chủ về hỷ sự.
Lỗ vương cả đẹp, bèn mời Ngô Khởi lên báu điện mà phân tỏ một đôi lời. Lúc đó hai người ngó nhau, kẻ liếc qua người liếc lại, nam tài nữ sắc, hai bên đã thích nhau rồi, sự hôn nhân cũng tự nơi trời, mới rõ biết hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Lỗ vương kịp truyền về Lễ bộ, bày hương án cho hai vợ chồng đảo cáo đất trời. Xong rồi vào lạy tạ Lỗ vương. Thiên tử mới truyền lệnh cho nội thần dọn bày yến tiệc.
Đương lúc rượu được vài tuần, thừa tướng Nhan Trinh đứng dậy nói rằng:
- Nước mình có thâm cừu với Chung Vô Diệm. Nay có phò mã xin mau phải lo kế phục thù, chọn ngày lành đi mãi mã chiêu binh, chẳng sớm muộn bắt cho đặng con xủ phụ mà phân thây xẻ thịt.
Nói rồi liền rót ba chung ngự tửu đưa cho Ngô phò mã. Ngô Khởi tiếp lấy cám ơn uống liền, rồi rót một chung lạy tạ ơn thừa tướng. Bá quan ai cũng cũng mừng bá niên giai lão, loan phụng hoà minh. Tiệc vừa mãn thì đêm đã quá canh, văn võ ai về dinh nấy. Còn vợ chồng phò mã cùng về bên Túy hoa cung, tưng bừng tiếng nhạc, vầy tiệc động phòng, người phỉ dạ giường ngà nệm ngọc, kẻ thương yêu võ mạnh văn hay, thoát tôi tay lại cầm tay, hải đường giác ngủ càng say xuân tình. Tiêu lầu trống đã trở canh, vợ chồng sửa soạn đồng hành tạ ơn.
Nói về Lỗ vương lâm triều, bá quan triều bái xong rồi, kế thấy vợ chồng phò mã tới tạ ơn. Thiên tử truyền nội thần dọn yến, kế công chúa xin lui về cung. Thiên tử nhận lời, giây lát nội thị dọn tiệc dâng lên, vua tôi yến lạc vui vầy. Đương khi ấy, Lỗ vương thở ra một tiếng mà rơi lụy dầm dề. Ngô Khởi liền đứng dậy tâu rằng:
- Chẳng hay vương phụ có sự chi mà buồn rầu long thể?
Lỗ vương mới thuật lại sự Vô Diệm cải giá chiêu phu, cho tới lúc mình bị đánh đòn bốn chục. Ngô Khởi nghe qua hét lên một tiếng và nói rằng:
- Nếu vậy con xủ phụ thật là bất nhân bất nghĩa, dám làm sỉ nhục tới vua các hầu bang, tôi quyết đem binh tới phủ Hằng Xương, bắt nó mà phân thây xẻ thịt. Vả lại lúc hạ san thầy tôi có dặn, con xủ phụ này là đứa cừu nhân, nay tôi đã mong nhờ quốc lộc quốc ân, dầu gian hiểm cũng liều thân báo đáp.
Lỗ vương cả mừng bèn ban cho phò mã một cây thượng phương bảo kiếm và một cây lệnh tiễn, đặng phép đi chiêu binh lo đền nợ nước. Kế đó Lỗ vương truyền bãi triều, bá quan ai lui về dinh nấy. Còn Ngô Khởi về phủ rồi thẳng tới giáo trường, kéo cờ chiêu quân hằng ngày thao luyện quân sĩ, tích thảo đồn lương, chờ chọn được tháng tốt ngày lành sẽ hưng binh báo oán.
Đây nói về Anh vương nước Ngô, từ khi nghe Chung hậu phản Tề lên núi Tuý Bình sơn dựng cờ chiêu phu mà gạt vua nước Lương và nước Lỗ, sau lại giả chết gạt vua tôi nước sở mà giết Tiêu Khôi và Ngũ Tân, bấy lâu trong lòng cứ căm giận Chung hậu hoài mà chẳng nói ra. Ngày kia lâm triều, bèn đòi một vị nguyên soái lên đền mà phán rằng:
- Tề quốc ỷ mạnh khi chư hầu, làm sỉ nhục tới các vua, trẫm bấy lâu muốn vì hai nước mà rửa thù, ngày nay khanh có kế chi hay thì phân qua nghe thử?
Nguyên soái tâu:
- Không có chi mà dấy động binh đao e có sự chẳng lành. Vậy sẵn hôm nay đây bên Tây vực, nước Ngưu Đề có đem hiến cống ta một trái hồ lô rất lớn,, nặng ước mấy trăm cân, không biết là bao nhiêu hột. Vậy sẵn cớ ấy bệ hạ sai người đem qua bên Đông Tề, đó nó nói cho được bao nhiêu hột ở trong, như mà no nói trúng thì khỏi sự chiến tranh, nếu nó nói chẳng nhằm gì thì ta sẽ hưng binh chinh phạt.
Ngô vương nghe phải, khen hay, bèn kêu bá quan mà hỏi rằng:
- Có ai vì ta mà chịu nhọc, đem hồ lô qua sứ Đông Tề chăng?
Anh vương vừa dứt lời, có một vị bước ra lãnh mạng. Anh vương xem lại người ấy tên là Nhung Trị Quốc, chức thượng đại phu. Anh vương cả mừng mà rằng:
- Khanh và hai sứ Ngưu Đề quốc đem dâng hồ lô tới cống cho Tuyên vương, tiền phi lộ trẫm cấp cho mười đỉnh vàng, hãy tới phủ Hằng Xương cho chóng.
Nhung Trị Quốc tạ ơn lãnh mạnh lui ra cùng hai người sứ nước Ngưu Đề, một người tên là Tát Ma, một người tên là Bật Côn. Ba người cũng đều đều sửa soạn xong rồi truyền quân khiêng hồ lô theo, chỉ thẳng tới kinh thành Lâm Tri tấn phát.
Khi Nhung Trị Quốc tới nước Tề liền vào thẳng trước Ngọ môn, may nhằm lúc Tuyên vương lâm triều, quan huỳnh môn vào tâu rằng:
-  Nay có sứ thần nước Ngô đem báu vật tới cống, người còn ở ngoài đợi lệnh.
Tuyên vương truyền chỉ cho vào, Nhung Trị Quốc và hai người sứ thần nước Ngưu Đề tới trước Kim giai, triều bái xong. Tuyên vương hỏi rằng:
- Vua ngươi sai tới đây tấn cống vật gì?
Nhung Trị Quốc tâu:
- Nước tôi nghèo, nhỏ, chẳng có vật chi là quý. Mới đây nước Ngưu Đề sai sứ đem sang một trái hồ lô nặng ước đặng mấy trăm cân, nay vua nước tôi mến bệ hạ đại đức đại nhân, nên sai tôi đem tới đây tấn cống. Còn hai sứ này và lại người Ngưu Đề quốc, đã biết trong ruột hồ lô có hột bao nhiêu. Xin bệ hạ, nếu có ai nói đặng thì nước tôi sẽ thường năm tấn cống. Nếu như thuợng quốc nói không nhằm thì nhường hạ bang lên làm bực thượng.
Tuyên vương hỏi:
- Vậy trái hồ lô bây giờ ở đâu?
Nhung Trị Quốc biểu hai người sứ đưa trái bầu lớn bằng cái giỏ, ngoài da đủ năm sắc tốt tươi. Tuyên vương xem kỹ một hồi, mới biết bật ấy dưới đời ít có, bèn phán rằng:
- Trẫm nghe trái hồ lô này ước năm trăm hột phải chăng?
Hai người sứ Ngưu Đề tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ thật không nhằm.
 Tuyên vương mới hỏi triều thần, ai muốn nói thì cho phép. Lúc đó Điền Côn nói:
- Chín đấu ba thăng.
Mạnh Đại Hiền nói:
- Một muôn ba ngàn hột.
Lưu nguyên soái nói:
- Một ngàn sáu trăm bốn mươi ba hột.
Điền Uông nói:
- Chín trăm tám mươi ba hột.
Điền Văn nói:
- Chừng hai trăm hột.
Còn Yến Anh nói:
-Mười hai hột.
Sứ Ngưu Đề liền tâu rằng:
- Bá quan đều nói trật hết.
Tuyên vương cả buồn, ngồi ngẫm nghĩ giây lát, bèn sai nội thị vào cung thỉnh Chung hậu ra. Chung hậu nghe nói có chỉ triệu thì cũng lật đật lâm triều. Tuyên vương mới thuật hết các việc, Chung hậu bèn tâu rằng:
- Việc đó chẳng khó chi, thần hậu không xem cũng đã biết. Xin đòi sứ thần lên điện, thần hậu nói cho nghe.
Tuyên vương cả mừng, truyền chỉ cho đòi ba sứ tới trước kim giai, triều bái Chung hậu. Chung hậu nói:
- Sứ thần tuy là đem trái hồ lô tới đây, nhưng cũng chưa rõ gốc tích của nó ra làm sao, để ai gia phân lại tỏ tường cho ba sứ nghe. Vả chăng trái bầu ấy tại xứ Tây Vực nước Ngưu Đề, có một hòn núi tên là Hồ Lô sơn cao hơn ba mươi trượng. Lúc trước bà Lê San thánh mẫu tới núi Lạc Già sơn mà yết Phật chí tôn. Khi đi ngang qua núi Hồ  Lô, nhằm lúc tiết tháng ba, khí trời mát mẻ, cây cỏ tốt tươi, người mới hứng chí xem chơi biết rằng: Ngày sau mười nước tranh hùng, ắt có sự đại thương hòa khí. Bởi vậy cho nên người mới thò vào tay áo, lấy ra một hột hồ lô, bỏ lại trên núi ấy rồi đòi thổ địa thần đến dặn: Phải ngày đêm canh giữ, còn thần Công tào trực nhựt thì săn sóc vun trồng, tới năm đã có hơn ba trăm năm dư, nó mới lớn được như vậy. Trên đầu có hào quang năm sắc (đủ kim mộc ngũ hành), bên hông tám phía đành rành (tượng càn khôn bát quái), nơi gần cuống có bốn chữ “thiên tàng chi báu”. Trong ruột đủ nguyên hình mười hai nước hầu bang. Khi vua Ngưu Đề dạo ngang qua núi đó thấy có ánh hào quang sáng chói, mới sai người lên hai coi, rồi lại đem qua mà làm hại nước Ngô người. Ai gia đã biết rõ thiệt trong trái hồ lô này chỉ có âm dương hai hột mà thôi. Một bên có bảy lằn bạch khí, còn một bên có năm lằn hắc khí rõ ràng, đó là tướng tinh của các nước quân vương, bởi vận số nước còn nước mất. Nếu chẳng tin ai gia nói là thâậ, thì sẽ xem ta chặt nó ra làm hai cho coi.
Chung hậu nói rồi thì hai người sứ nước Ngưu Đề cúi đầu lạy lia lạy lịa, khen ngợi rằng:
- Nương nương huệ nhãn thần thông, thiệt tiên gia pháp lực vô song, chớ chẳng phải người phàm biết đặng.
Còn Nhung Trị Quốc thấy sứ nước Ngưu Đề đã khâm phục Chung hậu rồi thì đầy mình mồ hôi, mà cũng lấy chi làm chắc. còn Tuyên vương và nội triều văn võ thảy đều mừng rỡ. Chung hậu bèn cầm gươm bước xuống, chém trái bầu đứt ra làm hai. Quả y như lời đã nói, chẳng sai một chút nào, hột bên dương bay bổng lên cao, hóa ra bảy đạo bạch khí tường quang bay mất. Trong bảy đạo tường quang bay mất đó là tướng tinh vua Tề, Vệ, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy và Tần. Còn hột bên âm năm luồng hắc khí là tướng tinh vua nước Tống, Ngô, Lỗ, Tấn và Lương.
Khi Chung hậu chém xong trái hồ lô rồi, thấy rõ ràng như vậy thì biết rằng chẳng bao lâu đại hội Tương giang một ngày giết luôn năm con rồng và là tướng tinh của năm nước đó. Ấy cũng bởi số trời đã định nên thất hùng giành định hơn thua, phần mình sao cứ mãn địa thì đua, chẳng có lúc nào được thong thong thả. Khi đương ngẫm nghĩ, lại thấy Nhung Trị Quốc bước ra tâu rằng:
- Ngô thần bị ở tại cô lậu xứ nnê chẳng hay rõ biết sự đất trời, xin nương nương dạy bảo một hai lời, bao nhiêu trượng trời cao đất rộng.
Chung hậu nói:
- Ai gia chẳng có học thiên văn địa lý, làm sao biết được việc đất trời. Thôi! Bây giờ hãy nói về việc người, vậy chớ mình gã đó nặng bao nhiêu cân lượng.
Nhung Trị Quốc nói:
- Người ta nhờ phụ tinh với mẫu huyết, được thành hình thập nguyệt hoài thai, xưa nay ai có cân người mà biết bao nhiêu nặng nhẹ.
Chung hậu nói:
- Ấy tại nhà ngươi sanh tệ, chớ trách ai gia ở dạ bất nhân. Cái đầu nhà ngươi có chín cân bốn lượng, chẳng tin cắt ra rồi rõ biết.
Chung hậu nói vừa dứt tiếng, bèn kêu Trị điện tướng quân bảo dẫn ông đại sứ ra pháp tràng xử trảm. Trong giây lát, quan Trị điện đã dâng thủ cấp của Nhung Trị Quốc lên, hai sứ Ngưu Đề mặt xanh như tàu lá. Chung hậu nói:
- Ai gia chẳng có nói quấy, hãy đem ra cân thử mà coi.
Trị điện quan đem cân ra. Quả thật là chín cân bốn lượng. Bá quan cả thảy đều thất sắc, sứ thần thấy vậy cũng kinh hồn. Chung hậu lại truyền đem sứ kia ra đánh đòn, mỗi người bốn chục. Tát Ma và Bật Côn đều rên siết, bị đánh rồi xúm nhau lạy tạ. Chung hậu lại bảo:
- Về nói với Ngô Anh vương mau mau viết biểu hàng đưa  qua tấn cống.
Hai người cúi đầu vâng mạng, lui về một nước. Việc rồi bãi triều, Chung hậu về Chiêu Dương cung bá quan thảy đều vui mừng, đồn kéo về phủ an nghỉ.
Nói về Tát Ma và Bật Côn khi ra khỏi kinh thành nước Tề rồi, đêm nghỉ ngày đi, dầm mưa dãi nắng, chẳng mấy chốc nữa đã tới kinh thành Cô Tô nước Ngô vào tâu lại các sự cho Ngô Anh vương hay. Anh vương nổi giận mắng rằng:
- Con xủ phụ thiệt vô lễ, dám cả gan chém sứ ta. Phen này quyết bắt cho được, đặng trả thù cho Nhung Trị Quốc.
Nói rồi bèn cho hai sứ trở về nước và viết thơ ai đi chiêu mộ hùng binh, đêm ngày thường thao luyện tập tành, đặng đợi binh các nước.

o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-17 12:24:07Ct.Ly>
Hồi thứ Năm Mươi Bốn
THÀNH CÔ TÔ NĂM NƯỚC HỘI BINH
SÔNG TƯƠNG GIANG, SÁU SOÁI TIẾP VIỆN


Nói về Lỗ vương từ khi nạp Ngô Khởi làm phò mã tới nay, hằng ngày chiêu binh mãi mãi đặng tính việc báo thù, nay thấy thơ của Ngô vương tới hẹn hưng binh mà trừ Chung Vô Diệm, bèn đòi phò mã tới biểu:
- Truyền sáu chục muôn binh ròng, chờ ngày hiệp lực giao công, phải bắt cho được vợ chồng Chung hậu.
Ngô Khởi tuân lệnh thẳng tới giáo trường tuyển binh, còn Lương vương cũng nóng việc báo thù, ngặt vì một mình thế cô nên chưa dám thổ lậu binh cơ. Nay tiếp được thơ Anh vương đưa tới, trong bụng mừng khấp khởi như chim thêm cánh, cá thêm vi, bèn đòi nguyên soái Thách Anh tới phân tỏ sự ấy, rồi biểu:
- Phải mau chiêu tuyển hùng binh sáu mươi vạn.
Còn Tần vương từ ngày Chung hậu luồn đặng hột cửu khúc minh châu và khắc thơ vào mặt sứ thì thường bữa lo buồn, không biết tính phương kế chi mà rửa hận. Nay cũng tiếp đặng biểu văn của Anh vương cáo cấp, liền phúc thơ lại và lật đật hưng binh.
Còn Tống Nguyên vương đối với Chung hậu không thù oán nhưng nghe Chung hậu làm những  điều vô lễ nên đem dạ bất bình, muốn cùng nhau một chuyến tử sinh, cho rõ mặt oanh oanh liệt liệt. May đâu có biểu văn của Anh vương vừa tiếp, bèn mừng thầm vì có dịp hưng binh, liền truyền cho Tân Báu đại tướng quân và bảo rằng:
- Mau điểm hùng binh sáu chục vạn, trước là giúp các nước trả xong thù oán, sau giết được Chung hậu mới ngồi yên. Tướng quân khá tua chịu phiền, sách có chữ:
 “Kiến nghĩa bất vi vô dõng”.
Đây nhắc lại Long vương nước Triệu đã gả em gái của Liêm Pha cho Điền Côn, Triệu với Tề hòa hảo nhứt môn, chẳng có điều chi xích mích. Còn Chiêu vương Yên quốc, nhờ có Chung hậu thâu phục đặng phản thần, Chung hậu với Yên Đơn công chúa đã kết tình thâm, không lẽ lại đem ơn mà trả oán. Bởi cớ ấy nên nước Yên và Triệu không ai chịu giúp Anh vương, liền viết phục thơ cho Sứ thần, khiến mau đem về nước.
Nói về Hiếu vương nước Tần, Nguyên vương nước Sở, Hưu vương nước Hàn, Hưng vương nước Ngụy, thảy đều nhận được biểu văn cáo cấp của Anh vương, bốn vua còn đang lưỡng lự chưa biết tính lẽ nào mà thi kế, bỗng có các vị trung thần tới can gián. Bốn vua đều nghe lời, giao biểu văn lại cho Sứ thần, bảo:
- Trở về Cô Tô lập tức.
Ngày kia Anh vương lâm triều, Huỳnh môn quan vào tấu:
- Có mười vị khâm sai đã về tới, còn ở trước Ngọ môn đợi lịnh.
Anh vương cho vào. Mười vị khâm sai đến trước kim giai, triều kiến xong rồi dâng thơ các nước lên trình Anh vương. Anh vương xem rồi biết có bốn nước sẵn lòng giúp mình mà thôi, bèn truyền lịnh cho Phi Long, Phi Hổ, làm chức tả, hữu giám quân, Phi Hùng, Phi Báu làm chức thống chế và bảo:
- Dọn dẹp Tương giang địa thế mà tiếp rước bốn vị hầu vương.
Nói về bốn vị hầu vương đã có tờ chiếu hội với nhau trước nên đồng một ngày khởi binh, tới thành Cô Tô, kẻ trước người sau, cách chừng ba chục dặm an dinh hạ trại. Quân thám tử chạy về phi báo, quan Huỳnh môn tâu lại vua hay. Anh vương truyền nội thị sửa dọn kiệu xa, thẳng tới vương dinh tiếp rước. Kỳ bài quân của các nước vào tâu lại cho mấy vị vương hầu hay. Bốn vua đều hỷ lạc hân hoan, gặp nhau hiệp mặt vầy đoàn, kế đó Anh vương rước về thanh đãi yến.
Năm vua ngồi chung nhau trò chuyện, ai cũng căm giận Vô Diệm hành hung, nên ngày nay hiệp lực gia công, quyết trừ cho đặng con Chung xủ phụ. Anh vương nói:
- Như nước nào bắt đặng Chung Vô Diệm thì địa phận Tề sẽ giao cho anh nhứt thống.
Bốn vua đáp rằng:
- Việc này công khó tại nơi vương huynh, xin nhường cho anh nhứt thống.
Đang uống rượu đặng vài tuần, năm vị vương hầu mới bàn cùng nhau rằng:
- Tướng tại mưu bất tại dõng, binh quý tinh bất quý đa, nay năm nước hiệp binh, tính có hơn ba trăm vạn người mà con xủ phụ là một con pháp thuận vô cùng, vậy mình cũng làm sao kiếm cho đặng một người tài trí kiêm toàn mới thống lĩnh năm đạo binh Tương giang thì chúng ta mới khỏi lo bề sai thất.
Năm vua luận rồi bèn truyền lịnh cho quân chánh ty năm nước rao rằng:
- Từ thống binh cho tới du kích, nếu ai có tải trí chi mà bắt được Chung Vô Diệm thì đặng phép tới ra mắt năm vua, chức thống lãnh tức thì ban cho, cầm binh quyền ở trong năm nước.
Rao rồi giây lát có một vị tới xin ra mắt, đặng tỏ bày các việc quân cơ. Năm vua xem thấy ngẩn ngơ, người sao mình cao một trượg, râu mọc năm chòm, má phấn môi son, mày tằm mắt phụng, thiệt là đường đường hảo hớn, chớ chẳng phải một tay tầm thường. Anh vương coi kỹ cả mừng bèn hỏi rằng:
- Tráng sĩ tới ra mắt anh em ta, có việc chi hãy phân nghe thử?
Người ấy bước tới triều bái và tâu rằng:
- Tôi là người tỉnh Sơn Đông chức phò mã Lỗ vương, họ Ngô tên Khởi, xin chư vị đại vương tha tội.
Anh vương nói:
- Vương huynh miễn lễ, có mưu chi hay hãy nói cho nghe.
Ngô Khởi tâu:
- Tôi có một vị sư phụ, bây giờ ở tại núi Lạc Vân sơn, tên gọi là Chí Tôn lão tổ. Người thiệt vô cùng pháp lực, vả lại có cựu thù với Lê San thánh mẫu, người đã sẵn lòng xuống giúp Ngũ đại vương, thời diệt trừ Chung Vô Diệm như trở bàn tay. Thôi bây giờ xin ngũ đại vương đốt hương đảo cáo, trong giâu lát sẽ có người tới đây tức thì.
Năm vị hầu vương nghe nói cả đẹp, liền truyền quân đặt bàn hương án, đốt trầm xông hương rõ ràng lên. Ngô Khởi bước lại đứng van vái trước, năm vị vương cũng quỳ xuống thành tâm cầu nguyện. Lễ cảm ứng thiệt là linh hiển, tấm lòng thành thấu tới chín tầng mây. Đưong khi lão tổ ngồi trên bồ đoàn, thinh không bỗng liền nháy mắt, bèn dùng pháp nhãn nhìn xuống liệt quốc, thấy năm vị vương thành ý khẩn cầu, bèn nghĩ lại: Mình cũng có tư thù, thôi quyết xuống đó bày mưu lập kế. Nghĩ rồi liền kêu đồng tử dặn dò giữ động và lấy những pháp bửu tùy thân, rồi cưỡi con Mai hoa lộc đằng vân bay xuống.
Khi tới nơi đến trước quân môn, nói với quân giữ cửa rằng:
- Có lão tổ ở Thủy Hoa động tới.
Quân vào tâu cho năm vị vương hay, năm vua cả mừng liền kêu Ngô Khởi đi theo, ra trước quân môn nghênh tiếp. Hai đàng gặp nhau chào mừng, năm vua bèn liếc xem thấy lão tổ đầu đội đạo quang, mình mặc huỳnh nhung, miệng có bốn cái nanh dài, sống mũi thì ba lỗ, tóc tai bờm chờm như ổ quạ, miệng tỏa loa giống cái hỏa lò, mình cưỡi con Mai hoa lộc rất to, tay cầm cây côn Ngô kim quá lẽ.
Năm vị vương xem rồi bèn rước lão tổ vào dinh, phân tân chủ mà ngồi. Năm vị vương thưa rằng:
- Anh em tôi tài hèn đức bạc, lại thêm nóng chí phục thù, bởi cớ ấy cho nên Ngô tướng quân ra ơn điểm chỉ, anh em tôi mới biết mà thành tâm khấn nguyện, nên lão tổ mới xuất sơn hạ giới tới đây. Vậy xin dám hỏi lão tổ đạo hiệu là chi? Xin nói cho anh em tôi tường ảo lý.
Lão tổ nói:
- Bần đạo pháp hiệu là Chí Tôn, tên xưng Quảng Đức tiên tử. bởi bần đạo cũng có ý giận con xủ phụ, nó ỷ có pháp thuật mà hiếp người, nên bần đạo mới tới đây, vì mấy vị vương ra tay giúp luôn thể.
Năm vị vương hỏi:
- Lão tổ có kế chi bắt Vô Diệm, xin chỉ bảo cho anh em tôi hay.
Lão tổ nói:
- Nếu bần đạo không có pháp lực thì không dám hạ san, xin năm vị vương cứ bình an để bần đạo bắt Vô Diệm rồi sẽ biết.
Năm vị vương mừng rỡ khôn cùng, ấn phong cho lão tổ làm hộ quốc quân sư, được phép điều khiển binh mã năm nước. Lão tổ cúi đầu tri tạ, kế bày tiệc chay. Ngô Khởi đứng hầu rót rượu. Lão tổ nói:
- Nay binh mã năm nước ba trăm vạn có lẻ, mà Cô Tô đất hẹp muôn bề, bởi chỗ này không phải chỗ đồn binh bố trận đặng, vậy phải kéo hết tới đất Tương giang, thiệt là chỗ đất rộng muôn ngàn, thật dễ làm chỗ để điều binh khiển tướng. Nay ngày huỳnh đạo rất xinh, vậy phát lịnh dời binh kẻo trễ.
Anh vương nói:
- Cô gia cũng định chỗ ấy nên sai người đến dọn dẹp nay đã hoàn thành rồi. Vậy xin bốn vị vương huynh hãy vâng lời, đều tề tựu hưng binh tấn mã.
Nói rồi năm nước đều bạt trại khởi hành, chẳng bao lâu đã tới đất Tương giang. Binh năm nước đều an dinh hạ trại, bá tánh hết thảy đều kinh hãi hồn bay, binh đóng bảy trăm ba mươi dặm dài. Lão tổ bấy giờ mới thăng trướng nói với năm vua rằng:
- Nay cũng đã gần tới tiết Đoan dương cạnh độ (là đua ghe), xin truyền cho quan tổn trấn đặng hay, phải gắng công y kế đặt bày, sắm một muôn chiếc long châu lập tức. Rồi sai người tới phi tin đái nhựt, tới Lâm Tri mời cho đặng vợ chồng Tề vương, xin mau mau tới hội sông Tương, coi đua ghe nhiều đường tiêu khiển. Như nó bằng lòng đi đến ắt là mạng hiểm thế nguy, một mình nó chẳng có sá chi, dễ như bắt chim trong lưới.
Anh vương nghe nói rất đẹp, khen kế ấy hay vô cùng, liền sai Phi Quế chẳng luận ngày đêm đưa biếu tới dâng ngay cho Tề chúa. Phi Quế cúi đầu vâng tạ rồi cầm biểu văn mau qua Đông Tề.
Khi Phi Quế đi tới Lâm Tri ở trước Ngọ môn đợi lịnh. Quan huỳnh môn vào tâu cho vua Tề hay, Tuyên vương cho vào. Phi Quế đến trước kim giai triều bái và dâng biểu lên cho vua xem. Tuyên vương mở biểu thấy có mấy câu thơ như vầy:

Thành Cô Tô Ngô vương trăm lạy,
Kính dâng cùng Hỗn Hải Tuyên vương.

Bấy lâu trộm liếc dung quang,
Tiếng Chung hậu vang danh như mõ.
Nay gặp tiết Đoan dương canh độ,
Tiểu bang đã sắm sửa đua bơi.
Mời thượng bang Quân, Hậu tới chơi,
Yến Anh cùng mọi người đều tới.
Cuộc hỷ lạc xin đừng từ chối,
Tiếng anh em ân ái bấy lâu.
Tống, Lương, Lỗ cũng theo sau,
Đều phó hội vua hầu tiệc rượu.

Tuyên vương xem rồi cả kinh và nghĩ rằng: Vì việc chém sứ mà gây nên họa hoạn, bởi cớ ấy nên Ngô vương mới cho mời qua phó hội Tương giang. Như năm xưa phó hội Kỳ Bàn, ắt đến đỗi sanh dân đồ thán. Nghĩ rồi bèn kêu Yến Anh mà hỏi rằng:
- Nay Anh vương thỉnh trẫm và quốc hậu tới Tương giang coi hôi đua bơi chơi, việc nên chăng. Trẫm hỏi một lời, sự hiệp hội nhiều nơi tai họa.
Yến Anh tâu:
- Việc ấy tự nơi bệ hạ, xin hãy mời quốc mẫu tới bàn coi tấn thối lẽ nào?
Thiên tử liền truyền cho thỉnh Chung hậu vào triều nghị sự. Chung hậu nghe có chỉ triệu liền bấm tay biết rõ kiết hung, liền theo nội thần thẳng tới ngai rồng, Tuyên vương thấy vội vàng tiếp rước rồi thuật lại sư Anh vương sau trước, mời qua chơi yến lạc Tương giang, vợ chồng đều vầy hiệp một đoàn, Yến Anh và Điền Côn thảy đều đủ mặt. Sự nên chăng trẫm chưa kể chắc, mới cho mời ngự thê tới tính việc hơn thua.
Chung hậu nghe nói chẳng tâu mà nghĩ thầm rằng: "Nếu Ai gia chẳng tới Tương giang, thì làm sao gồm thâu năm nước cho đặng. Thà chịu tội xứ người làm quỷ, chẳng hơn để tiếng người cười về sau."
 Nghĩ rồi bèn tâu rằng:
- Anh vưong đã thành tâm tới thỉnh, thần hậu xin bảo giá phó hội Tương giang.
Yến Anh nghe nói thất thanh vội bước ra tâu rằng:
- Nay Tương hội có đủ binh năm nước, e khi có việc chẳng lành.
Chung hậu nói:
- Năm nước đã có một lòng, chẳng có điều cho gian trá. Để Ai gia tới xem đua bơi cho phỷ dạ, sau cho biết luôn phong cảnh Tương giang.
Nói rồi bèn đòi sứ thần tới viết chiếu trả lời y kỳ sẽ tới và thưởng sứ mười đỉnh bạc làm tiền lộ phí vế báo cho năm vị quốc vương hay. Phi Quế cúi đầu lạy tạ, lãnh chiếu văn lập tức trở về. Còn Tuyên vương thấy Chung hậu ăn nói chẩm hẩm thì thất kinh mà hỏi rằng:
- Ngự thê muốn đi coi bơi thì đi, chớ trẫm thiệt là không dám.
Chung hậu tâu:
- Như bệ hạ có lòng nghi sợ thì thần hậu xin viết chiếu chỉ thỉnh sáu vị nguyên soái sáu nước tới giúp công, đặng lược trận giùm cho.
Nói rồi bèn truyền cho nội thị đem văn phòng tứ bửu ra, viết sáu đạo chiếu văn, sai sứ đem qua sáu nước, hạn trong mười ngày phải trở về phục chỉ, bằng không thời xử theo luật gia hình. Sáu người lãnh mạng, lập tức đi luôn cả ngày lẫn đêm, chẳng bao lâu đều tới kinh thành sáu nước. Vua sáu nước coi rồi đều bằng lòng giúp sức, mỗi người là một muôn binh. Nước Tần thì sai đại nguyên soái Chương Hàng, nước Sở sai đại nguyên soái Huỳnh Cát, nước Yên cóTôn Tháo phò mã, nước Hàn sai đại nguyên soái Trương Xa, nước  Triệu sai đại nguyên soái Liêm Pha và bốn người con của Liêm Pha là Liêm Cang, Liêm Ấn, Liêm Thuận và Liêm Đạt, còn nước Nguỵ cũng sai đại nguyên soái Trịnh Anh Bình. Mỗi vị đều lãnh một muôn binh, thảy tựu tới thành Lâm Tri phó hội.
Khi sáu vị nguyên soái sáu nước, kẻ sau người trước kéo binh tới Hỗn Hãi kinh thành, truyền quân phág pháo an dinh, ở tại trước Ngọ môn đợi lịnh.
Còn Chung hậu từ khi cho Phi Quế về nước và sai sáu vị khâm sai đi rồi thì hằng ngày tới giáo trường thao luyện binh mã, đội ngũ đâu đó chỉnh tề thuần thục. Ngày kia vợ chồng lâm triều, đương lo việc nước, thì có quan Huỳnh môn vào tâu rằng:
- Sáu vị khâm sai đã trở về và sáu nước dều cho sáu vị nguyên nhung tới giúp.
Chung hậu cả mừng, truyền lịnh cho sáu vị nguyên nhung nhập triều. Quan Huỳnh môn vâng lịnh, kế đó sáu vị theo vào triều kiến.
Khi sáu vị nguyên soái tới trước Kim Loan điện triều bái xong, Chung hậu mời ngồi và thuật lại rằng:
- Năm nước hội binh muốn lập ra cuộc Đoan dương canh độ. Bởi cớ ấy nên ta mới vội vàng thỉnh mời quí vị miễn phiền chỗ lao khổ với ta.
Chung hậu nói rồi bèn truyền nội thần dọn yến diên thết đãi sáu vị nguyên nhung. Đương khi tiệc rượu vui lòng, Chung hậu mới hỏi rằng:
- Có dám bảo giá ai gia đi qua phó hội Tương giang chăng?
Điền Côn bước ra tâu rằng:
- Thần nhi xin lãnh mạng. Kế đó thấy Liêm Thoại Hoa cũng tâu xin theo nữa. Chung hậu cả mừng, vua tôi yến tiệc vui say, tiệc vừa mãn liền truyền bãi triều, ai lui về dinh nấy.

                                      o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-02-17 12:57:12Ct.Ly>
Hồi thứ Năm Mươi Lăm
CHUNG THOẠI HOA TỪ BIỆT PHÓ KINH
QUẢNG ĐỨC TIÊN ĐIỀU BINH KHIỂN TƯỚNG
 

Nói về Chung Thoại Hoa từ ngày Chung hậu từ biệt mà đi cứu giá vua Tề, thì hằng ngày ở nhà luyện tập đao mã để chờ ngày giúp sức cho nước nhà. Đương khi thao luyện trong vườn hoa, bỗng nghe huyết trái tim máy động, sực nhớ lại khi Vương thơ đi có dặn, bèn mở bức cẩm nang ra xem, thấy có mấy câu gắn bó dặn dò như vầy:

Hiệp binh đồng năm nước, vừa buổi tiết Đoan dương
Mời tới xem canh độ, ở tại mé sông Tương
Chị sẽ đi phó hội, em giúp sức vận lương
Tới Lâm Tri cho kịp, chớ trễ nải sâm, thương.



Khi Chung Thoại Hoa xem rồi, bèn bước vào trung đường, tỏ thuật các việc cho chú thím nghe một hồi, vợ chồng Chung viên ngoại nói:
- Lời chị cháu ra đi có dặn, nếu nghịch ý thì mang tội với triều đình nhưng vậy mà chỉ lo đường sá một mình ai bậu bạn với cháu nơi trà đình tửu điếm.
Vợ chồng nói vừa dứt lời thì thấy hai người con là Chung Long và Chung Hổ bước ra tình nguyện xin đi với em. Chung viên ngoại cả mừng và dặn dò:
- Sự đi đường phải cho cẩn thận.
Long, Hổ cúi đầu vâng dạ rồi lui ra sắm sửa hành trang. Chung công liền dạy gia đinh dọn tiệc tống hành, thím với cháu thảy đều rơi lụy. Tiệc mãn rồi ngơi nghỉ, chờ rạng sáng ngày lên đường.
Qua đầu canh năm, Chung Thoại Hoa và hai người anh từ biệt vợ chồng Chung viên ngoại, dẫn theo năm chục tên gia đin, vui vầy thầy tớ thương trình chỉ thẳng kinh thành Lâm Tri mà tấn phát. Lòng chẳng quản dày sương đạp tuyết, dạ bôn ba đội nguyệt mang sao, mấy ngày dư vừa tới cửa trào, ở lại trưóc Ngọ môn đợi lịnh. Quan Huỳnh môn trả hỏi lai lịch phân minh rồi vào tâu lại Tuyên vương và Chung hậu hay các việc. Thiên tử nghe nói có quốc cữu và vương đi tới thì cả mừng, liền truyền cho vào ngay Kim Loan điện. Chung Thoại Hoa, Chung Long và Chung Hổ tới trước kim giai triều bái xong, Thiên tử liếc qua thấy Thoại Hoa má đỏ như bông hải đường, miệng cười như hoa thược dược, khách Bồng lai phảng phất, gái thần nữ  dung nhan, mình mang áo kim giáp liên hoàn, đầu đội mão kim khôi giắt lông trĩ, cung tiễn chia mang hai phía, thanh phong báu kiếm cầm tay, Tuyên vương chẳng biết rõ là ai, mới buông lời phán hỏi. Chung hậu cười mà rằng:
- Ấy là em thúc bá với thần thê, nó nhớ mấy lời tôi dặn lúc ra về, nay mới tới kinh kỳ yết kiến.
Tuyên vương nghe nói có ý mừng thầm: Không biết chúng nó chị em với nhau mà làm sao một đàng xấu quá, một đàng tốt vô cùng. Phải chi mình được kết tóc se tơ trăm năm cho phỉ chí bình sanh. Kế đó Chung hậu chỉ mặt Chung Long mà rằng:
- Hai thằng kia là đồ dân dã, sao dám tới chốn triều đình?
Tuyên vương biết Chung hậu nói mát, bèn giả vui cười mà rằng:
- Thôi đi ngự thê! Ấy là lỗi quả nhân. Bởi lâu nay trẫm chưa biết, để ngự thê đi Tương giang phó hội trở về, trẫm sẽ gia phong quốc cữu. Xin ngự thê tua khá bằng lòng, niệm tình trẫm mà đừng vội trách.
Chung hậu nghe nói đứng dậy tạ ơn, bèn kêu Chung Thoại Hoa mà bảo rằng:
- Bữa nay gần ngày phó hội, ai gia phong cho ngự muội làm Võ Lăng quân, phải đốc vận lương thảo mà cấp phát cho quân nhân, nếu trễ nải cứ theo quân pháp.
Thoại Hoa cúi đầu vâng dạ, kế đó thiên tử cho nội thị dọn yến đãi đằng quốc cữu và vương di. Tiệc xong thiên tử lui về Tây cung, còn Thoại Hoa thì qua bên Chiêu Dương cung, chị em vui vầy đàm đạo.
Qua ngày sau, vợ chồng Điền Côn thẳng tới giáo trường kiểm điểm binh mã, còn Chung hậu và Thoại Hoa cũng mặc đồ nhung phục tới Kim Loan điện từ biệt Tuyên vương. Thiên tử cầm tay Chung hậu mà rằng:
- Ngự thê ngày mai đi phó hội, chừng nào trở về Lâm Tri, đêm ngày trẫm luống sầu bi, chồng vợ khiến bắc nam đôi ngả.
Chung hậu cúi đầu cảm tạ, lụy tràn trề lã chã dường châu và tâu rằng:
- Thần hậu đi cũng chẳng bao lâu, nhưng sánh với Kỳ Bàn hội thì khó hơn thập bội. Vì năm nước hùng binh như ba trăm vạn, tướng anh hùng có ngót ngàn viên, việc tử sanh phó mặc hoàng thiên, giữ một tấm lòng son vì nước.
Tuyên vương nghe vậy cũng rơi dầm dề lệ ngọc, kế thấy vợ chồng Điền Côn vào bái biệt, thiên tử an ủi đôi lời, kế mở cửa thành phát pháo vang trời, tới giáo trường hợp binh cùng sáu nước. Vợ chồng Điền Côn lãnh ấn tiên phong đi trước, Chung Long, Chung Hổ hộ giá theo sau, bá quan văn võ khấu đầu đưa quốc mẫu đi Tương giang phó hội. Thiên tử thân hành cũng đưa xa xa một đỗi, vợ chồng bèn phân biệt dời chân, kẻ đi ra gối vác yên ôm, người trở lại chăn cù nệm túy. Bóng cờ xí lẫy lừng quan ải, chỉ Tương giang dặm liễu thẳng xông, biết bao nhiêu tướng mạnh binh ròng, cũng là bởi trời xui khiến Chung hậu gồm thâu năm nước.
Nói về Nguyên nhung Phi Quế lãnh phục thơ của Chung hậu đi luôn cả ngày lẫn đêm trở về nước, tới trước Huỳnh la trướng, dâng thơ lên cho năm vị quốc vương rồi mới biết Chung hậu bằng lòng phó hội, ai ai cũng vui cười, chắc Chung hậu chạy phen này không khỏi. Cũng nhờ kế lão tổ ra tay, nay mới trừ đặng con xủ phụ. Kế đó thấy quan sai vào tâu:
- Đã làm xong mấy chiếc long châu rồi.
Lão tổ truyền đem tới bến Tương giang mà đợi, quan sai vâng lệnh lui ra, lão tổ nói với năm vị quốc vương rằng:
 - Nay bần đạo điều binh khiển tướng, nếu chẳng có cái chi làm bằng thì e quân lịnh bất thành.
Năm vị quốc vương truyền quan chánh ty đem văn phòng tứ bửu ra viết một đạo sắc văn: “Hễ ai chẳng tuân theo luật quân, thì được phép tiền trảm hậu tấu”. Viết rồi dâng lên, năm vị đều ký tên, đón ấn vào đưa cho lão tổ. Lão tổ lãnh lấy sắc văn, tạ ơn lui ra, thẳng tới tướng đài, ngồi giữa hổ truớng, ra lịnh đòi nguyên soái năm nước tới bảo rằng:
- Nay bần đạo vâng lời sắc chỉ của năm vị quân vương, lập trận đồ tại Tương giang, xin phiền năm vị nguyên soái phải nghe theo quân lịnh.
Năm vị nguyên soái cúi đầu vâng lịnh. Lão tổ bèn phát một lịnh tiễn, giao cho nguyên soái nước Ngô là Quốc Anh mà bảo rằng:
- Soái gia dẫn năm ngàn quân thủy chiến, mai phục dưới Long châu, khi nào nghe hiệu lệnh ba hồi chuông thì dẫn binh phục ào lên mà hỗn sát. Nếu Chung hậu chạy thoát thì mau phóng hỏa đốt thuyền, hễ thấy trên Ngũ long đài có lửa đỏ chói lên phải vượt bờ hỗn chiến.
Quốc Anh vâng lịnh lui ra. Lão tổ lại cho đòi Đề đốc ngũ dinh quân môn là Vương Bình tới, giao cho một cây lịnh tiễn và dặn rằng:
- Soái gia dẫn mười lăm muôn binh tới phía bắc sông Tương giang, đào một cái hầm cho lớn, rộng chừng một thước. Mai phục mười lăm muôn dũng sĩ, chớ cho tiết lậu cơ mưu. Như thấy Chung hậu thoát đặng lên bờ thì trên đài phóng hỏa làm hiệu lệnh, phục binh đưa ra một lượt, đừng cho Vô Diệm tẩu thoát. Nếu sơ ý thì cứ theo quân pháp.
Vương Bình vâng lịnh lui ra. Lão tổ lại lấy một cây lịnh tiễn và kêu Nguyên soái nước Lương là Trần Bưu tới bảo rằng:
- Soái gia lãnh một muôn binh cường tráng mai phục phía nam. Chờ khi Chung hậu đã xuống Long châu rồi thì đao mã không có ai gìn giữ. Ngươi phải phân binh đao phủ làm cho Chung hậu mất sự oai phong. Ấy là một việc đầu công, bằng sai thất thờ chẳng dung quân pháp.
Trần Bưu vâng lệnh. Lão tổ lại sai tả phó đô đốc là Phi Hùng rằng: Ngươi phải giấu đồ lợi khí chớ làm tiết lậu cơ quan, hễ tới khi tiệc rượu giao hoan thì sẽ múa gươm chơi mà giết con xủ phụ. Còn Lỗ bang phò mã và công chúa Lỗ Lâm lãnh hùng binh hai mươi vạn, tới mai phục nơi Bồ Mai lãnh vì con xủ phụ tới đây phó hội ắt đòn binh tại đó chẳng sai. Lúc đêm hôm thanh vắng không ai thời sẽ đùa binh ra mà đoạt dinh trại và phải coi chừng thấy Ngũ long đài lửa đỏ, mau thâu binh về tiếp ứng giao phong. Vợ chồng tua khá hết lòng, nếu sai thất thời xử theo quân luật.
Vợ chồng Ngô Khởi vâng lịnh lui ra. Lão tổ lại đòi Lương quốc chủ soái là Thạch Anh cho lãnh hai mươi lăm vạn binh tới mai phục nơi Ác Hổ lãnh. Tuyến nguyên nhung là Trần Báu cững lãnh hai mươi lăm muôn binh, y như lịnh thi hành, tới mai phục nơi Đơn Phụng lãnh. Còn Nguyên soái Phàn Chiêu nước Tấn cho lãnh binh quyền hơn ba mươi vạn, đi mai phục nơi Nga Mi sơn và dặn:
- Thấy lửa đỏ thì phân binh ra vây phủ, chớ để con xủ phụ tẩu thoát, ắt theo luật quân xử tử chẳng tha.
Mấy vị đều vâng lịnh bước ra. Lão tổ lại sai điện hạ quốc vương năm nước như vầy: Lỗ bang là Cơ Hiền đứng trước, nước Lương là Ngụy Kim, nước Ngô là Cơ Thao, nước Tống là Tử Anh, nước Tấn là Cơ Chiêu, dặn:
- Năm vị điện hạ lãnh hùng binh, mỗi người mười vạn, chia ra mai phục hai bên. Như Chung hậu thoát khỏi chạy lên thì theo mà phò năm vị quốc vương cho cẩn thận.
Khi lão tổ phân công xong, bước xuống tướng đài thẳng đến Huỳn la trướng phục chỉ lại. Năm vị quốc vương thảy đều hoan hỷ, liền truyền nội thần dọn yến đãi đằng. Ai nấy cùng đều thỏa chí hoan tâ, kể chắc sự sanh cầm Vô Diệm.
Đây nói về Chung hậu kéo binh ra khỏi Chiêu quan, truyền Điền Côn phát pháo an dinh hạ trại. Điền Côn vâng lịnh đi xem địa thế anh dinh xong rồi kế thấy sáu vị nguyên soái lục tục vào triều kiến Chung hậu. (Nguyên Liêm Pha là sao Bắc đẩu giáng lâm, còn Chương Hàng là sao Tả phụ, Tôn Tháo và sao Vũ khúc, Tôn Long là sao Tả cu long, Tong Hổ là sao Tây đẩu, Trương Xa là sao Chu tước, Huỳnh Cái là Thiên Bồng nguyên soái, Trình Anh Bình là hữu cu thần, Điền Côn là Đông đẩu tinh quân, Liêm Thoại Hoa là sao Thiên hỷ. Các vì tinh tú đều đến triều kiến Chung hậu là Mão đoan tinh). Chung hậu truyền quân dọn tiệc vui mừng, rồi ngó qua bên Tương giang thấy có lằn sát khí, bèn thở ra một tiếng, để ly xuống, lụy ứa hai hàng. Sáu vị nguyên nhung thấy vậy chẳng an, mới tâu hỏi mọi đằng sau trước. Chung hậu liền cầm khăn lau nước mắt, thở ra thở vô mà than dài rằng:
- Sáu vị Nguyên nhung lẽ nào chẳng biết binh bảy nước chẳng đầy mười vạn, còn nay Tương giang hội thượng hùng binh có hơn trăm muôn. Dẫu có sáu vị nguyên nhung dũng lực tranh cường cũng sợ không cự nổi hùng binh sáu nước. Như vậy thời ai gia làm quỷ mà lại còn sợ một nỗi mất oai danh sáu nước.
Tôn Long, Tôn Hổ bước ra tâu rằng:
- Lời tục có nói: "Mang ơn chẳng trả là đồ phi nghĩa, được cá quên nơm, là lũ tiểu nhân". Như nước Yên chúng tôi nếu không đặng nhờ ơn Nương nương thì làm sao mà trừ đặng gian thần yêu phụ.
Long, Hổ vừa dứt thì Tôn Tháo tâu rằng:
- Xin Quốc mẫu chớ đem lòng sầu muộn, cha con tôi chẳng sợ binh năm nước trăm muôn. Trận bát ngưu thế lực phi phàm nên mới dám Tương giang phó hội.
Chung hậu nghe nói làm bộ mừng rỡ, rót ba chung rượu tạ ơn. Lại thấy năm cha con Liêm Pha bước ra tâu rằng:
- Cha con tôi xin liều thân khuyển mã mà bảo giá Nương nương. Nếu cha con tôi có dạ bất lương thì có quỷ thần soi xét.
Chung hậu nói:
- Ai gia được Vương huynh chân tâm trợ lực cũng chẳng khác như các gặp nước rồng mây. Đã nói ra đây xin hãy nhớ lời. Tề quốc cũng đời đời cảm tạ.
 Lúc đó bốn vị nguyên soái bốn nước, hồi trước cũng tưởng ngồi coi cọp cắn lộn, ai sống chết mặc ai, nay thấy cha con Tôn Tháo với cha con Liêm Pha đã nói hết lời, không lẽ làm thinh cho đặng, cũng đều bước ra tâu rằng:
- Bốn anh em tôi chẳng có lòng bảo giá, thời chẳng tới đây phó hội Tương giang. Nếu có dạ khi gian, thì sẽ tử vu đao kiếm.
Chung hậu thấy bốn vị thề thốt nặng lời thì lòng mừng khấp khởi, lại truyền thị thần rót rượu, tạ ơn sáu vị nguyên nhung. Lúc ấy trời đã tối, tiệc rượu mới xong, chư tướng ai về dinh nấy an nghỉ.
Nói về bên năm vị quốc vương đương khi ngồi nơi Huỳnh la trướng bàn luận việc quân, xảy thấy quân kỳ bài vào tâu rằng:
- Đông Tề Chung Vô Diệm tới đồn binh tại núi Bồ Mai, lời thiệt tôi tâu ngay, xin vương gia định đoạt.
Chí tôn lão tổ nói:
- Bửa mai đã tới ngày, xin sai người ra mời Chung nương nương phó hội.
Ngô Anh vương thình nguyện xin đi. Bốn vị vương cả mừng. Anh vương dẫn theo văn võ bá quan thẳng tới Tề dinh yết kiến.
Khi Anh vương tới Bồ Mai lãnh, quân chánh ty vào báo lại Chung hậu hay. Chung hậu truyền lịnh mời vào, Anh vương tới trước Huỳnh la trướng thi lễ. Chung hậu nói:
- Ai gia có công đức gì với dân mà nhọc lòng hiền vương tới đây nghênh tiếp.
Anh vương đáp rằng:
- Tiếp Quốc mẫu vang danh tợ sấm, trong thế gian ai cũng đều hay, tiết Đoan dương cạnh độ vừa ngày, nên thỉnh Quốc mẫu tới coi đua bơi khánh hạ.
Chung hậu tạ ơn và mời Anh vương ngồi một bên cẩm trướng. Trà nước xong, chuyện vãn hồi lâu, Chung hậu nói:
- Ai gia cũng y như lời ước, ngày mai sẽ tới phó hội Tương giang. Hiền vương hãy về nhà sắm sửa cho sẳn sàng, chừng tới đó sẽ vầy đoàn yến tiệc.
Anh vương từ giã ra về, Chung hậu cũng đưa ra khỏi quân dinh một đỗi. Khi Anh vương lên ngựa về tới dinh mình, bốn vị quốc vương đều ra tiếp rước vào ngồi nơi Huỳnh la trướng. Anh vương thuật lại mấy lời Chung hậu đã hứa cho mấy vị nghe, ai nấy thảy đều vui mừng. Kế đó, lão tổ lại mời năm vị quân vương ra mé sông xem tường trận thế. Trông thấy gió thổi lao xao sóng lượn, long châu kết hằng hà, quan quân kẻ lại người qua chẳng khác như tường đồng vách sắt. Năm vị vương đà xem tận mặt đều ngợi khen tiên trưởng đại tài, Chung hậu chạy đâu cho khỏi phen này, nếu bắt đặng phân thây trăm đoạn. Lão tổ dẫn năm vị đi xem xét một lát, khi trở về thi trời đã tối.

Rạng ngày đầu canh năm, năm vị quốc vương đều thức dậy sửa soạn đao mã cùng bảo giá bá quan, thảy đều tới thẳng Tề dinh, cung nghênh Quốc mẫu.
Còn Chung hậu khi tảo thìn thức dậy, hội tề chúng tướng lại dặn rằng:
- Điền Côn thì theo bảo giá, Liêm Ấn, Liêm Thuận và Liêm Đạt thì giữ gìn đao mã cho kỹ càng.
Lại kêu Liêm Cang tới bảo rằng:
- Thần sát vương lãnh ba ngàn nhân mã ở chực trên mé sông. Như năm vua khi đã trở lòng thì phải xông vào hỗn chiến. Còn Tôn Long với Tôn Hổ ở nhà chấp chưởng quân cơ, dẫu đêm hôm cũng phải cẩn thận ngăn ngừa mà phòng sự thâu dinh cướp trại. Trận Tương giang rất nên lợi hại, Liêm vương tức phải thống lãnh Tề quân. Hễ thấy Tương giang lửa đỏ tưng bừng, thì sát nhập trùng vi cứu giá. Còn Yến quân sư thì ở nhà cho thong thả, Ai gia giao Tru phi kiếm và ấn Chiêu dương, đêm ngày gìn giữ âu lo, nếu sai thất thì ai gia chiếu theo quân lịnh.
Chung hậu điều khiển xong thì có quân vào báo có năm vương đến. Chung hậu liền sai Điền Côn ra trước viên môn tiếp rước. Năm vị bước vào thi lễ, Chung hậu cũng mừng rỡ ân cần và nói rằng:
- Ai gia chưa kịp dời chân đã phiền năm vị tới đây nghênh tiếp. Lẽ thời phải nên dọn tiệc, nhưng vì hối bất cập nên chẳng biết làm sao.
Năm vị vương đều tạ ơn và đáp:
- Xin mời nương nương mau đi phó hội.
Chung hậu liền cầm đao lên ngựa đi trước, Điền Côn và bảy vị nguyên soái hộ giá theo sau. Sông Tương giang gió thổi ào ào, hồn tử sĩ biết đâu là mạng số.
Khi tới nơi, Chung hậu và và mấy vị nguyên soái xuống ngựa giao cho ba anh em Liêm công tử và một đội mã phu giữ gìn coi sóc. Kế đó Anh vương kêu nguyên soái là Phi Quế biểu mời bảy vị nguyên soái đến Ngũ Long đài dự tiệc còn năm vị quốc vương mời Chung hậu xuống long châu. Chung hậu ngồi giữa, năm vị chia ra ngồi hai bên. Anh vương khi ấy nói:
- Bữa nay là ngày Đoan ngũ, vì tục xưa hay canh độ đua bơi, nên anh em tôi mời Chung quốc mẫu tới đây trước xem chơi, sau cho phỉ tình hoài vọng.
Chung hậu nói:
- Năm vị hiền vương đã có lòng hảo ý, ai gia cũng thiệt hết dạ cám ơn. Vậy thôi xin hãy truyền lịnh cho quân nhân làm thử xem cho đẹp mắt.
Anh vương liền truyền cho Phi Quế bảo cầm một cây cờ ra đứng trước mũi thuyền, ra hiệu lệnh phát qua phát lại ít lần, kế thấy mấy muôn chiếc long châu, đua nhau chèo bơi tở mở. Có khi bày hàng chữ nhứt, có khi lại làm giống trường xa, đầy sông ó dậy vang tai, tiếng âm nhạc đờn ca inh ỏi. Anh vương lại cho nội thần dọn bày tiệc rượu để vui mừng giai tiết Đoan dương, đủ các đồ hải vị sơn trân, rượu Ngải điệp và Xương bồ thơm phức. Trên tiệc đủ đồ ngon vật lạ, đầy sông đều cờ phát pháo vang, năm vua thảy đều đắc ý hân hoan, còn Chung hậu thì riêng buồn điều tai biến. Thị thần thay nhau rót rượu, Chung nương nương bụng lớn chẳng từ, năm vua đều có ý mừng thầm, Anh vương mới buông lời tâu hỏi:
- Trong thiên hạ có mười hai nước, lúc phân phong chẳng kể trước sau. Vậy mà vì sao Đông Tề lại được làm đầu, bắt các nước thường năm cống lễ?
Chung hậu cười mà rằng:
- Ấy là trời cho ai nấy được, Tuyên vương có hồng phước lớn hơn người. Bởi cớ ấy cho nên lấy một địch mười. Tề bang mới đặng làm thượng quốc.
Anh vương nói:
- Năm nước tôi thiệt là bần khổ, lương tiền chẳng bao lăm, mà anh em tôi tấn cống ngoại mười năm, sự ấy thực là ức hiếp. Xin quốc mẫu xuống tình soi xét, phải tính mà trả lại mới xong, nếu không thì đất bằng nổi sóng đùng đùng, sự binh hỏa khó dung cùng năm nước.
Chung hậu nói:
- Theo trong lệ chư hầu thuở trước thì các nước tấn cống cũng chẳng được bao nhiêu. Ai gia nghĩ đã hết điều, mới để cho bình an vô sự.
Anh vương nói:
- Thôi việc trước Nương nương đã không đẹp dạ, bây giờ xin tha cho anh em chúng tôi mười năm. Xin quốc mẫu an tâm chi khỏi đều tai nạn.
Chung hậu nói:
- Từ lúc tạo thiên lập địa lưu truyền cho đến đời nay, hễ nước nhỏ thì phải tấn cống xưng thần, theo cổ lệ thường năm thâu nạp.
Chung hậu nói chưa dứt lời, bỗng nghe tiếng chiêng vang vậy, thấy một đạo sĩ bước ra giũa tiệc, ngó Anh vương và tâu rằng:
- Bữa nay là ngày giai tiết, nên bày tiệc uống rượu vui chơi, đã mời Quốc mẫu tới nơi, xin đừng nói lời sanh sự.
Chung hậu xem mặt rõ mới nghĩ thầm rằng:
" Cũng vì thằng yêu đạo này nên mới lập hội Tương giang đây, quyết bắt nó mà trừ hoại hoạ."
 Sau lại thấy đạo sĩ bước ra tâu rằng:
- Trong tiệc chẳng có chi làm vui vẻ, xin đòi Phi Hùng vào múa gươm, trước là cho quốc mẫu xem chơi, sau nữa cho biết người võ nghệ.
Anh vương khen phải, liền đòi Phi Hùng vào. Phi Hùng vâng lịnh bước tới ra mắt Chung hậu. Chung hậu mới hỏi rằng:
- Ai gia nghe tướng quân toàn tài văn võ, lại có nghề múa gươm rất tài. Hãy múa thử đi rồi Ai gia trọng thưởng.
Phi Hùng cả mừng liền rút guơm ra múa, trước sau tám mươi mốt cách, bốn bên trên dưới chẳng lọt mảy lông, có khi như Huỳnh long, có khi như Đơn phụng. Chung hậu thấy vậy cũng khen thầm. Điền Côn lại gia tâm phò hộ, lão tổ láy mắt ngó năm vua, năm vị đều đứng dậy tức thì. Điền Côn lướt tới một khi, ngăn đánh với Phi Hùng mấy hiệp. Kế đó nghe ba hồi chuông gióng nữa, phục binh đều ào lên. Chung hậu bèn chụp Anh vương kéo lại mà rằng:
- Mong ơn năm vị hiền vương mời tới đây phó hội. Ai gia đã say rồi nên mặt mũi đã tối tăm, xin đưa ai gia lên bờ cho khỏi điều tai họa.
Lúc đó lão tổ thất sắc, còn Anh vương thì cũng kinh hồn. Vì vậy nên phục binh chẳng dám lại gần, lão tổ bèn hươi gươm đến chém Chung hậu.


o0o
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-21 02:33:57Hoàng Dung>
hồi thức ba mươi tám
TRƯƠNG PHI HIẾN KẾ ĐỐT LÃNH CUNG
CHUNG HẬU ĐỘN HỎA VỀ CỐ LÝ

 
Nói về Tuyên vương và Trương phi đương ngồi uống rượu, chơi trăng, bỗng đâu có trận gió thổi đi kiếm lửa, một lát thắp đèn lên được thì thấy bao nhiêu đồ vật mất hết không còn một món chi, chỉ thấy Tuyên vương và Trương phi ngồi trơ đó, đều lấy làm lạ! Thiên tử lại truyền nội thần bày tiệc rược khác. Trương phi tâu với Tuyên vương rằng:
- Vợ chồng mình ăn mừng Tết trung thu, lòng thành cảm động tới trời, nên quỷ thần hưởng hết.
Tuyên vương cả mừng, thị nữ lại châm rượu thêm. Tuyên vương uống tới say vùi. Trương phi cũng còn ép uống, rồi mới sanh ra một kế, thừa cơ hội ấy quyết hại cho được Chung Vô Diệm mới trừ yên hậu hoạn. Nếu Chung hậu mà khuất bóng thời chức Chiêu Dương ắt ở tay mình, tính rồi liền quỳ xuống mà tâu rằng:
- Mong ơn thiên tử xin tha tội Chung nương nương.
Tuyên vương nói:
- Vì ta thương Triệu phi nên mới biếm Chung xủ phụ, ái khanh đừng nói tới tên con đó, trẫm lại thêm ghét đắng ghét cay, ở lãnh cung cũng bị chết có ngày, trẫm sẽ kiếm mưu hại nó.
Trương phi nghe thiên tử nói vậy, bụng mừng phơi phới, biết gặp đặng cơ hội rồi, bèn kề tai nói nhỏ, phải như vầy...như vầy... Tuyên vương đương lúc say, chẳng biết chi là phải quấy liền cho cung nữ uống say mèm,  tư bề thanh vắng, Trương phi lấy lưu huỳnh thuốc pháo, rồi vợ chồng dắt nhau thẳng tới lãnh cung. Khi tới nơi thấy tường cao vách đứng khó nỗi lên, Tuyên vương mới bảo Trương phi đứng lên vai mình, leo lên vách phóng hỏa. Khi ấy Chung hậu, cung nữ ăn tiệc xong, sửa soạn vào cung an nghỉ thình lình bắt nháy mắt, lòng dạ xốn xang, nằm không an giấc, ngồi dậy đánh tay làm một quẻ, mới Tuyên vương và Trương phi âm mưu hãm hại mình, trong quẻ lại thấy sao Thái âm đè trên sao Thanh long bèn giận mắng rằng:
- Vô đạo hôn quân, cứ biết ham mê tửu sắc, không kể tới thân thể mình là một vị đế chủ Đông Tề, là cha mẹ muôn dân, có lẽ đâu cho con đàn bà đứng lên vai mình, làm điều vô nghĩa vô lễ như vậy. Đây rồi bốn phương xao động thì ngươi chẳng khỏi bị vây ở Đàm thành một trăm ngày, cớ ấy cũng tại mình làm ra, chớ đem lòng oán trách.
Nói rồi bèn niệm mấy câu linh văn, hóa ra một bầy ong, bay tới nơi góc tường đốt Trương phi té nhào xuống đất, lỗ đầu chảy máu. Tuyên vương bồng lấy Trương phi mà chạy về cung, kế một lát thấy lửa đỏ rực trời. Cung nữ khóc la dậy đất! Chung hậu bèn nói rằng:
-Ta có phuơng pháp cứu đặng chúng bây, mau mau đem đao mã tới đây đây, níu áo ta đeo chung quanh mình ngựa, con mắt thì nhắm lại, chẳng nên trể nãi mà cháy tiêu.
Hết thảy bọn cung nữ là ba mươi hai người, vâng lệnh ra hậu cung đem cây Định tề đao và dắt con Thần cu mã tới. Chung hậu nhảy phóc lên lưng ngựa, hai bên cung nữ bu chặt như ong. Chung hậu niệm mấy câu hỏa độn chân ngôn, ngựa vụt bay lên trên không ra khỏi hầm lửa, đứng trên đám tường vân ngó xuống. Chung hậu lại sợ Tuyên vương sinh dạ nghi nan, liền lấy tay chỉ xuống lãnh cung, bao nhiêu đồ ghế bàn hóa ra hư thây cháy. Lại niệm hô thần chú, đòi Nam phương hỏa thần tới, dùng tam muội chân hỏa thiêu hủy cho hết lãnh cung. Lúc đó ở trong tam cung lục viện thấy bên lãnh cung lửa dậy, la cưứ vang trời, quân nội thần vào đông cung báo cho Tuyên vương. Tuyên vương lật đật ra khỏi cửa cung, kịp truyền đánh loan phụng cỗ, cảnh dương chung tề tập bá quan tới cứu hỏa. Trong giây phút kẻ xe người ngựa chạy đến, đem hết quân ngự lâm tới lãnh cung chữa lửa, kẻ kiếm gáo người xách nước la réo om sòm, tưới một hồi lâu ngọn lửa mới tắt. Yến Anh khi ấy mới nói:
- Như nương nương mà bị cháy lấy ai bảo hộ giang san?
Điền Côn nghe như vậy thì rơi lụy dầm dề, trong ruột đau như dao cắt, văn thần võ bá thảy đều thương tiếc, không biết lửa ở đâu, ai cũng đem dạ ưu sầu than thở! Tuyên vương mới biết mình làm một điều quây, Chung hậu ở trên mây xem thấy bắt tức cười, rồi bay tuốt về Thường Sơn lánh mặt.
Đây nói về Đông lộ vương là Điền Côn và bá quan văn võ triều thần đến, đốc quân ngự lâm tưới tắt hết lửa rồi bèn bới tro ra mà tìm kiếm, thấy thi hài cháy nằm sắp lờp, nhìn chẳng biết ai là ai. Điền Côn giọt ngắn giọt dài, Yến Anh cũng tuôn rơi lệ ngọc! Xúm nhau lại tâu với thiên tử xin minh cớ sự ấy bởi ai, một là lửa hỏa tai, hai là người ta đốt, có lẽ đâu trong cấm mà có gian tế tới đây? Điền Côn cứ theo kêu nài:
- Xin phụ vương tra xét, chẳng kể là vương phi quốc thích, cùng là nội giám cung nga, xin tra khảo cho ra, con bắt nó thường mạng.
Tuyên vương nói:
- Khuyên vương nhi đừng vội nóng, để thủng thẳng sẽ hay, quân sư chiếm quẻ có tài, coi một quẻ ai làm sẽ biết.
Phán rồi, vua tôi dắt nhau trở về Kim Loan điện, truyền nội thị đặt bày hương án, quân sư Yến Anh vâng mạng quỳ xuống trước bàn đảo cáo với trời đất, rồi cầm tiên xủ quẻ, thấy bổn mạng bình an, loạn động lục hào, nội quày sách giao, thời đà biết ý, song thiên cơ bất lậu, không dám tả hết cho ai hay, liền viết ra một bài, có mấy câu đoán như vầy:

Người đàn bà đi trước, người đàn ông theo sau
Đem những đồ hỏa thiêu, tới lãnh cung mà đốt.
Vách tường cao chót vót, hai chân đạp vai rồng
Phạm tội với thiên công, bị bầy ong chích mặt
Sẩy chân té dưới đất, dấu tích còn sờ sờ
Muốn biết ai bây giờ, chẳng phải người đâu tới.

Yến Anh viết xong rồi đưa cho nội thần dâng lên cho Tuyên vương xem. Thiên tử coi rồi cả kinh, cứ lấy mắt ngó Yến Anh mà mắng thầm rằng: Thằng lùn này thiệt giỏi, nó biết hết việc của ta, nếu như nó nói ra, ắt triều đình dị nghị. Tuyên vương lại truyền nội thị  đưa bài đoán ấy xuông cho quan coi. Điền Côn coi rồi khóc ngất một hồi, không biết tính phương kế chi mà minh oan cho quốc mẫu. Yến Anh nói:
- Xin điện hạ bớt xơn sầu não mà lo tẩm liệm nương nương. Điện hạ hãy tâu với thánh thượng phải chiếu theo quốc lễ.
Điền Côn tuân lời tâu với thiên tử, tc chuẩn tấu truyền cho quan nội các, sắm sử đồ tẩm liệm Chung hậu xong rồi dem linh cửu về nơi Bạch Hổ điện. Tuyên vương cũng giả bộ than khóc Chung nương nương. Điền Côn tuy là con nuôi nhưng cũng như trưởng nam, nên cũng mũ rơm áo bã,, văn võ bá quan thảy đều quảy hiếu cư tang, làm chay bảy thất, cầu cho siêu độ vong hồn.
Trương phi từ khi leo lên phóng hỏa bị bầy ong chích mặt. thiên tử bồng về Đông cung dưỡng bệnh, còn thiên tử mắc lo việc tang chế cho Chung hậu ở nơi Bạch hổ điện hoài hoài. Xảy đâu thấy nội giám tới tâu rằng:
- Đông cung nương nương bệnh thế trầm trọng e sống không nổi.
Tuyên vương nghe báo hồn vía đều lên mây, vội vàng trở về đông cung đòi các quan ngự y tới điều trị. Giây phút yq và văn võ đều tựu tới hầu thăm. Thiên tử cho ngồi chuyện vãn. Yến Anh khi ấy mới tâu rằng:
- Xin bệ hạ chớ khá ưu phiền, mà hao tổn mình rồng, tôi đã biết bệnh chứng của đông cung phi rồi, chẳng qua là người bị nọc ong, trong vài hôm nữa thì lành căn bệnh.
Tuyên vương nghe nói liền kiếm chuyện khác nói qua, rồi truyền lệnh cho các quan và ngự y thảy đều về an nghỉ. Còn Chung hậu cưỡi mây bay về tới núi Thương sơn là chỗ quê xưa, liền sa xuống và kêu cung nữ bảo mở mắt ra, bèn khiến vào Chung gia trang mà thông báo. Gia đinh nghe kêu lật đật ra mở cửa, thấy một người mặc mũi hung thần ác sát, liền quỳ xuống lạy lia lịa mà thưa rằng:
- Chung viên ngoại tôi giàu lắm, để tôi chỉ cho, xin trại chủ đừng giết tôi tội nghiệp.
Chung hậu ngồi trên lưng ngựa nghe nói tức cười, và nói lại rằng:
- Hãy vào thông báo cho Chung viên ngoại hay, nói rằng Tuyên vương chánh hậu là Chung Vô Diệm về thăm.
Gia đinh nghe nói nửa mừng nửa sợ, lật đật vào báo với viên ngoại hay, vợ chồng vội vã chạy ra mừng rỡ vô cùng! Chung hậu khi ấy xuống ngựa cầm tay mẹ than khóc một hồi rồi dắt nhau vào tư thất. Kế thấy hai người anh là Chung Long và Chung Hổ và hai người chị dâu đều tới mừng rỡ! Chung phu nhân khi ấy mới hỏi Chung hậu rằng:
- Vì sao mà con về đây thăm cha mẹ đặng?
Chung hậu liền thuật hết các việc tai nạn cho cha mẹ nghe, vợ chồng Chung viên ngoại cũng động lòng thương con than thở. Chung hậu từ đây ở với cha mẹ, ngày thời dạo chơi hoa kiểng, đêm thời xem xét binh thơ, chờ cho tai nạn qua rồi, ắt có quân sư tới rước.
Đây nhắc lại khi lửa cháy lãnh cung, các quan ngỡ chắc là Chung hậu bị thiêu, chỉ một mình quân sư Yến Anh biết sự Chung hậu đã dùng phép hỏa độn mà cứu bọn cung nữ bay về Thương sơn, nhưng chẳng dám nói ra bởi vậy cho nên vua Tuyên vương và triều thần cứ mỗi thất là bảy ngày làm chay niệm phật cầu cho siêu độ vong hồn, tới nay đã đủ bảy thất rồi, mới sắm sửa phát tang, đưa linh cữu tới động quan. Điền Côn thì phò giá triệu, còn Tuyên vương cũng ngự giá đi sau, văn võ triều thần đều đưa đông đủ. Khi tới Sơn lăng an táng xong rồi, bá quan hộ giá trở về thành. Không dè Điền Côn đã sắp đặt đâu đó xong xuôi, phát ba tiếng pháo truyền cho tám viên dõng tướng với ba ngàn binh sĩ sửa cất dinh trại trước là ở giữa coi mồ mả, sau nữa không chịu tước lộc triều đình, sơn hà một cõi thinh thinh, sức này dễ ai hơn cho đặng. Tuyên vương khi ấy thấy vậy âu sầu mà nghĩ rằng: Điền Côn nay đã trở lòng, thời không còn ai dám ra địch thủ, còn Chung hậu cũng đã chết rồi, ắt giang san khốn lớn. Nghĩ như vậy ngậm ngùi, ngày đem thêm buồn bực, canh khuya tư tưởng như hồn Đỗ quyên.
 
o0o
0