📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

CÁNH ĐỒNG LƯU LẠC-Tiểu thuyết của HOÀNG ĐÌNH QUANG 🔒

10 trả lời, 1.190 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-04 03:48:26Chuột lắc>
CÁNH ĐỒNG LƯU LẠC
Tiểu thuyết

HOÀNG ĐÌNH QUANG

(Tác phẩm được trao giải B của Hội Nhà văn Việt Nam – trong cuộc thi tiểu thuyết năm 2005 – NXB Hội nhà văn ấn hành Quý I-2005; NXB Văn hóa SG tái bản Quý II-2006)

Đánh máy: Phung-hoang
Nguồn: CDLL


ĐOẠN 1

Bây giờ thì bạn đang cầm trên tay cuốn sách của tôi. Nếu nó không hay, không hấp dẫn bạn thì tôi, với tư cách là tác giả xin bạn hãy khoan buông xuống, mà đọc thử một đoạn này. Rồi sau đó, có đọc tiếp hay không, là quyền của bạn, do bạn quyết định.
Tôi tin rằng bạn biết và nhớ hai câu thơ này.
"Tôi ở Vĩnh Yên lên,
Anh trên Sơn Cốt xuống!"



0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-07-29 15:15:31Phung_Hoang>
ĐOẠN 4

Anh Kỳ kể:
-Sau khi cưới nhau được già nửa năm, chính xác là sáu tháng với mười sáu ngày, tôi nhập ngũ. Lần này do chính tôi xung phong, có người can ở lại chờ vợ có mang rồi hẵng đi cho chắc chắn có người nối dõi. Nhưng tôi không nghe, bởi thấy nó cứ thế nào ấy. Cậu thấy không? Tất cả dù lý do chính đáng thế nào đi nữa, có hợp lý đến đâu, trong hoàn cảnh ấy đều không hợp tình. Ba tháng huấn luyện ở Phú Bình, vợ tôi có sang thăm hai lần, tôi tranh thủ xin về nhà được một đêm. Sau đó là đi B...
Cậu hỏi chúng tôi có yêu nhau không ư? Về phần tôi thì không cần nói cậu cũng hiểu. Một người con gái như Nga, theo tôi nghĩ, một của hiếm. Không phải tôi tự khen đâu, mà tôi là người hiểu được Nga, yêu Nga. Còn về phần Nga, tôi cũng không biết cô ấy có yêu tôi không? Yêu vì cái gì? Chắc cậu cho rằng đã là vợ chồng rồi, cái tình, còn thêm cái nghĩa, lại còn lục vấn nhau làm gì nữa? Nhưng những lúc gian khổ ác liệt như thế này, bên cạnh nỗi nhớ da diết, tôi cứ hay tự hỏi mình, rồi lại nhủ rằng nếu may mà còn sống trở về, thể nào tôi cũng hỏi Nga câu ấy.
Học hết lớp bảy tôi vào học trường trung cấp nông nghiệp tỉnh. Trường tôi sơ tán gần trường sư phạm chỗ Nga học, chắc cậu biết? Hồi bé tôi cũng là học trò của thầy Hoan, nhưng tôi không biết thầy có cô con gái là Nga. Một lần đi lên trường, tình cờ chúng tôi lại cùng đạp xe trên quãng đường dài và cùng ngồi nghỉ tại cái quán anh Gù ở Lương Sơn, vừa bán nước vừa bán vé xổ số. Hỏi ra mới biết người làng, Nga học năm thứ nhất, còn tôi sắp sửa ra trường. Thế rồi thỉnh thoảng, chúng tôi có gặp nhau, nhưng không hề có tình ý gì.
Sau khi tốt nghiệp khóa trung cấp cơ khí nông nghiệp, tôi được điều về xã nhà. Rồi Nga cũng về dạy ở xã. Tôi tiến bộ khá nhanh, vào Đảng, vào cấp uỷ rồi phó chủ nhiệm. Mấy lần tuyển quân, tôi đều được đảng uỷ xin hoãn cho ở lại vì lý do công tác và cha mẹ già không ai trông nom. Tôi say mê công tác, trước mắt là cái ghế bí thư xã đoàn đang chờ, cho nên cũng chưa muốn dính vào chuyện vợ con, mặc dù ông bà cụ tôi mong lắm, giục tôi bao lần. Và rồi tôi gặp lại Nga khi đến làm việc với ban lãnh đạo trường cấp II. Nga cũng nhận ra tôi ngày giữa đám đông các vị quan quyền hai bên, chúng tôi cứ như là hai kẻ tri kỷ lâu ngày gặp lại. Tôi đến thăm Nga, khi thì ở trường, khi thì ở nhà. Mỗi lần tôi đến nhà, thầy Hoan tìm cớ ra vườn không rõ là thầy muốn cho chúng tôi được tự do trò chuyện hay thày không thích nói chuyện với tôi? Cứ thế, nửa năm sau tôi đặt vấn đề với Nga:
-Nếu em không chờ đợi ai, anh muốn ngỏ lời lấy em làm vợ?
Tôi nghĩ thế nào Nga cúng phản ứng, hoặc là bùng nổ chối từ, hoặc là e lệ chấp thuận. Nhưng không, Nga thản nhiên cười với tôi:
-Em không chờ ai, không hẹn ai, từ trước đến giờ, và kể cả từ giờ về sau!
Lồng ngực tôi bỗng trống trải và lạnh toát. Rồi sau đó lập tức cơn tự ái bùng lên. Trong một cái làng bé nhỏ như cái làng Sơn Cốt của chúng ta, có biết bao cô gái trông ngóng hy vọng vào tôi, vào một con người vừa khỏe mạnh, sáng sủa, lại có chút ít chúc vụ. Vậy mà một cô giáo cấp hai, đẹp nhưng không sắc nước hương trời, lại không có mẹ, không biết mẹ là ai, dám từ chối lời cầu hôn của tôi? Vậy ra tôi không xứng đáng với cô ấy ư?
Anh Kỳ ngồi dậy, châm một điếu thuốc, rồi im lặng. Tôi dè dặt:
-Em biết!
-Cậu biết gì? Anh ngạc nhiên hỏi tôi.
Tôi định nói: "Em biết chị Nga có một lời nguyền!" nhưng không hiểu sao tôi lại nói lảng:
-Em biết tính chị Nga, ngang bướng từ bé, có lẽ tại được thầy Hoan chiều!
-Không phải! Nga không được chiều chuộng, mà trái lại, cuộc sống của cô ấy khắc khổ từ tuổi thơ, bên cạnh một người cha khắc khổ. May mà cơn tự ái của tôi không bung ra thành lời nói. Tôi cố gắng nghĩ về điều mà Nga vừa nói. Không chờ đợi ai, cũng có thể hiểu rằng không có ai mà chờ! Theo cách hiểu ấy, tôi tự tin hơn:
-Thế nhưng từ hôm nay, em sẽ có người để chờ đợi!
-Anh tự tin quá đấy!
-Anh có được sự tự tin ấy chính là nhờ ở đôi mắt em khuyến khích! Tôi tranh thủ giành thế chủ động. Có thể lý trí bảo em không nên lấy anh, vì anh là người có chức trong xã, sợ mang tiếng là người hám lợi. Nhưng trái tim em, đôi mắt em lại nói điều ngược lại...
Tôi thật sự ngạc nhiên là tại sao lúc đó mình lại nói được những lời có cánh như thế? Có thể là tôi đã đọc được ở đâu đó, để rồi trong phút hoang mang, nó chợt kéo về cứu giúp mình. Quả nhiên Nga im lặng. Tôi liều lĩnh ôm choàng lấy Nga, trong góc khuất của ngọn đèn dầu phòng không, tôi hôn tới tấp vào mặt, vào môi, vào bất kỳ chỗ nào mà tôi đặt môi tới được. Nga vùng vẫy, giẫy giụa một cách tuyệt vọng. Và rồi sau đó, cuối cùng cả hai đứa cùng thở dốc mệt nhoài...
Sau lần ấy, Nga tiếp tục không giữ được mình nữa, cô nói thật với bố. Thầy Hoan im lặng, chỉ đến khi Nga thật sự tuyệt vọng ông mới nói:
-Vợ chồng là cái duyên, cái phận, không ai cản được, và cũng không thể gán ghép, ép buộc. Con đã chọn anh ta thì bố biết nói sao. Chỉ có điều từ nay, coi như bố không còn con, mà con cũng không trông cậy được vào bố. Làm dâu cái đất này là khổ nhục lắm. Vì thế bố thương con...
Cũng may cho Nga là cô ấy là người nhà nước, có gạo, có lương. Lấy nhau rồi, tôi mới biết là Nga cũng yêu tôi...
Anh Kỳ còn nói nhiều chuyện, nhưng tôi không còn nghe được gì nữa. Nỗi buồn cứ chà qua xát lại ở mãi tận đâu đâu trong ngóc ngách tim tôi. May mà anh Kỳ là người tử tế, nhưng vô tâm nên không đem lại hạnh phúc cho chị Nga cuả tôi. Sao anh không biết rằng chị Nga của tôi, nàng Nga yêu dấu của anh, không còn là cô giáo nữa, mà trở thành một nông dân, cái bóng mập mờ trên cánh đồng Lưu Lạc?
Những hạt mưa cuối cùng của mùa mua miền Đông Nam Bộ, làm cho hơi rừng dịu lại. Tôi nhắm mắt thật chặt để tìm giấc ngủ nhưng khó quá. Võng bên kia, anh Kỳ đã ngáy.
Sáng hôm sau, tôi và anh Kỳ, chúng tôi chia tay nhau, hẹn ngày gặp lại ở quê nhà. Nhưng, ngày trở lại làng quê, chỉ còn tôi, mà không có anh Kỳ. Anh đã vĩnh viễn nằm lại ở một góc khuất nào đó trong một khu rừng nguyên sơ của đất nước.

***

Trong cái đêm hãi hùng ấy, chị Nga đã vật vờ như một bóng ma đẫm người sương lạnh. Chị hầu như không biết mình đang ở đâu, và không nhớ những gì đã xảy ra đêm qua với mình. Mãi gần sáng, có tiếng người giục trâu đâu đó ở phía đồng bãi, chị mới dần dần tỉnh trí lại. Trong bộ quần áo trắng mong manh, đầu tóc rũ rượi, chị lần men theo rìa làng như một kẻ tà gian về nhà. Ở khúc đường ngoặt, một vài người đàn bà đi chợ sớm trông thấy chị đã vội vã nép mình vào bờ rào sợ sệt. Khi chị Nga lướt qua trước mặt họ, chị nghe thấy tiếng các bà hoảng hốt hỏi nhau:
-Ai như cô giáo Nga, con dâu cụ Tuân Kỳ ấy các bà ạ!
-Chắc là phải rồi. Nhưng mà cô ấy đi đâu về sớm thế nhỉ? Lại có vẻ vụng vụng, trộm trộm thế nào ấy!
-Dễ thường cũng mèo mả gà đồng...
-Chớ có nói thế, các bà ạ. Cô giáo Nga là người đứng đắn, nói thế mà phải tội!
-Ối dào, thời buổi loạn lạc, có chính chuyên đứng đắn mãi cũng bằng hoài công. Chứ còn gì nữa, anh con trai cụ Tuân báo tử hồi đầu năm. Rồi cô ấy cũng phải cắp nón mà về nhà mình, may ra còn kiếm được đám nào...
-Tội thân thật đấy! Đang làm cô giáo ăn lương nhà nước mà phải bỏ về cắm mặt xuống bùn, song sóc hai cái thân già nhà chồng. Bây giờ lại góa bụa...
Tiếng kẽo kẹt của đòn gánh, tiếng lộc cộc của thúng mủng cứ nhịp nhàng cùng với nhũng lời bàn tán giăng ca của các bà chợ búa lọt hết vào tai chị Nga. Chị chạy tắt qua dõng ngô vào vườn bằng một đạng rào sau nhà, hụt hơi ngã vật vào cây rơm trong vườn. Hơi ấm từ cây rơm tỏa ra làm chị nóng dần lên và bình tâm trở lại. Chị Nga cứ ngồi như thế và chợp mắt đi một chốc, cho đến khi có tiếng lợn kêu đòi ăn và đám gà trống, gà mái đuổi nhau tứ tán xung quanh cây rơm, chị bừng tỉnh. Phải làm gì bây giờ? Chị uể oải đứng dậy rón rén vào buồng. Căn nhà tối om, không biết ông lão Tuân đang ở đâu? Chị lặng lẽ thay quần áo, cuốn sơ đầu tóc rồi vội vàng xuống bếp bắc nồi cháo cho bà mẹ chồng. Thấy động, bà lão lồm ngồm ngồi dậy, chăn màn vung vãi xuống cả đất:
-Vợ Kỳ đấy à? Sao hôm nay dậy muộn thế?
-Dạ, con hơi mệt! U ăn cháo muối hay cháo đường?
-Cháo muối mãi cũng chán. Nhưng tiền đâu ra mà mua đường hả con?
-Hôm qua anh Sửu ở uỷ ban mới đưa tiền "tử sĩ". Được sáu chục đồng, thày con đang giữ. Nghe thấy hai tiếng "tử sĩ" bà lão lại mếu máo:
-Khổ tôi không hả giời! Tôi bán con tôi được sáu chục bạc thế này à?
-Thôi, u đừng làm ầm lên nữa. Chị Nga hơi gắt, và chính chị cũng ngạc nhiên là sao hôm nay mình lại gắt với mẹ chồng. Chị dịu dọng lại. Con định xin tiền thày mua cho u hai cân đường, còn thì xem may cho u bộ quần áo mới...
Bà mẹ chồng giãy nảy:
-Thôi đi chị ơi! Tôi không ăn đường cát đâu, có mua thì mua cho tôi hai miếng đường phên được rồi. Còn quần áo thì may làm gì, tôi đi đâu mà mặc. Hay là các người định may cho tôi mặc xuống lỗ đấy. Ừ, khéo thường thế thật! Tôi cũng chả muốn sống nữa. Kỳ ơi! Con ơi...
Thực lòng, bà cụ Tuân rất thương chị Nga. Thử hỏi rằng, có ai thương người đàn bà, bằng một người đàn bà. Thuở xưa, chính bà cụ Tuân, lúc còn trẻ, lấy ông lão Tuân cũng là người phải làm dâu gia đình nhà chồng. Lúc ấy, cả bố mẹ chồng bà còn sống. Có ai hiểu được nỗi lòng người con gái làm dâu hơn bà mẹ chồng. Từ tơ mơ sáng bà đã phải dậy băm bèo, đặt nồi cám lợn. Rồi còn phải luộc một nồi khoai lang để cho chồng, anh Tuân ấy, bỏ vài củ vào túi đánh trâu ra đồng. Mà phải làm thật chính xác, thât nhẹ nhàng, bởi vì chỉ cần một tiếng động nhỏ là bị chửi. Không chửi té tát thẳng vào mặt đâu, nhưng bằng những câu nói mát, xỉa xói rất dễ làm người ta bực mình. Cả hai ông bà đều không ngủ được, họ già rồi, họ ngủ chán ra rồi, chính họ cũng biết thế nhưng lại cứ kiếm cớ, đổ cho con dâu "đá thúng, đụng nia", là kẻ gây hấn. Con lợn trong chuồng, nghe động xoong nồi là gầm rít lên, cái giống súc vật là thế. Bà mẹ chồng cũng biết thế, nhưng nào bà có chịu là thế đâu. Trong lúc quờ quạng với cặp mắt nhập nhèm, bà đứng trên hè, giống giả bằng cái giọng khê khê:
-Chị nhiêu ơi, chị nạt cái con lợn toi vật ấy một tiếng cho nó câm mõm nó lại cho tôi nhờ cái nào!
Ấy thế mà một lần, chị nhiêu Tuân cầm cái cặp đùa bếp đập vào cọc chuồng lợn mắng nó:
-Toi vật! Có câm cái mõm lại không nào! Ăn gì vào lúc này mà gầm rít lên thế...
Nào ngờ lúc ấy, bà cụ đang mải miết "tồ tồ" sau gốc chuối, cạnh chuồng lợn. Nghe nàng dâu mắng con lợn, bà cụ đã "mát mẻ":
-Ấy, chị ơi! Cả cửa cả nhà nhà tôi cóp nhặt mới nuôi được nó bằng tưng ấy đấy! Toi mà vật mất nó thì biết trông vào đâu...
Sau này, khi có con, chị Thông, chị Diệu, rồi anh Kỳ lần lượt ra đời, bà Tuân đỡ khổ được đôi phần. Không, bà vẫn khổ, nhưng cái cực khổ có phần "dễ chịu" hơn. Có con, bà bấu víu vào con, không còn chịu cảnh xỉa xói, mát mẻ như trước. Nhưng một nách mấy đứa con thơ, chả bao giờ bà được ăn miếng cơm cho ra miếng. Đến bữa, hai chân cặp con, để cho nó ngồi trước mặt, bà nhắm mắt, nhắm mũi vào mà và lấy, và để, mặc kệ, sắn, khoai, cơm, củ... lộn nhộn, lạo nhạo, miễn là lưng lửng bụng. Để rồi lại quẳng con đấy, lao ra đồng... Gia đình nhà chồng, bà mẹ chồng, "vuốt mặt còn nể mũi", có hành hạ hay dè bỉu con dâu, cũng phải kiêng những đứa cháu nội...
Gia đình ông Tuân là nhà gia giáo, có của, có danh... Một thời xa xưa, chính ông Tuân cũng đã từng giang hồ lưu lạc, theo một bà cô đi buôn bán khắp mấy tỉnh thành. Sau ngày vỡ đồn Tây (tháng Tám năm 1945) ông mới trở về làng. Lúc lấy ông Tuân, người ta đã bảo bà sẽ sướng, và sướng là thế! Nhưng ở cái làng Sơn Cốt của chúng tôi, cái truyền thống đáng nguyền rủa hàng đời, hàng đời nay về sự đầy ải con dâu và sự ăn miếng, trả miếng giữa nàng dâu mẹ chồng đã ăn sâu vào trong tận xương trắng, tủy đỏ rồi, biết đến bao giờ mới gột đi được? Người ta gia giáo ở tận đẩu, tận đâu ấy chứ người đàn bà, nhất là thân phận người đàn bà làm dâu có khi nào được hưởng. Những tưởng là những người đã đau khổ chất chồng bởi cảnh làm dâu rồi thì sau này họ ngồi ghế mẹ chồng, thì "lòng vả cũng như lòng sung", họ phải thương lấy con dâu, nhưng ngờ đâu, họ lại dẫm vào cái dấu chân tai ác ấy như con trâu trên đường lầy, họ cứ nhè những bước của "tiền nhân" mà xử với những người đàn bà có chung số phận. Cứ như thể là trả thù vậy! Không phải ngẫu nhiên mà người ta còn truyền nhau cái câu: mất tiên mua mâm thì đâm cho thủng! Không muốn, họ cũng phải là "kẻ thù truyền kiếp" của nhau!
Thế hóa nên, bà lão Tuân có thương chị Nga thật đấy, nhưng cái miệng bà lúc nào cũng oai oái, làm như mọi tội lỗi bà phải mang, mọi tai ương bà phải gánh đều do chị Nga của tôi đem lại.
Chị Nga đặt nồi cháo xong, múc cám chăn lợn. Chị đứng hồi lâu ở chuồng lợn, vừa cho nó ăn vừa gãi gãi trên cái bờ gáy rậm rịt những sợi lông cứng của nó. Con lợn im lặng, thỉnh thoảng nó lại hặc mõm về một bên như đứa trẻ hờn. Trong nhà này nó cho chị là người chủ thân thiết, và rồi chị Nga cũng coi nó như người bạn. Đôi khi công việc ngập chân tay, nhưng chị vẫn dành cho nó vài phút. Những lúc ấy, chị cảm thấy chính nó mới là nguồn an ủi của chị.
Phục vụ bà mẹ chồng xong, chị Nga lên nhà trên, không thấy ông lão Tuân đâu, chị vào buồng chải đầu và cẩn thận chít vành khăn trắng lên mái tóc đã bắt đầu cứng, có rất nhiều sợi chẻ ra làm hai, làm ba... dắt xe đạp ra cổng. Chị lưỡng lự giây lát rồi dựa xe vào bờ rào, quay vào nói với mẹ chồng:
-Thầy con không có nhà, con về bên bố con một chốc, u ạ!
-Ừ. Liệu mà về sơm sớm cơm nước con nhá. Giọng bà lão ngọt ngào một cách lạ thường, khiến chị Nga lấy làm ngạc nhiên.
Ra đường, tiếng lách tách của chiếc líp xe làm chị thấy vui vui. Ừ, chiếc xe đạp hiệu Thống Nhất, món kỉ vật mà người ta dành cho thầy Hoan, trước khi thầy nghỉ hưu, là quà tặng của thầy cho chị Nga, và đến khi chị lấy chồng, thì nó là của hồi môn rất đáng giá của thầy dành cho con gái. Chị vừa nghĩ ngợi lung tung, vừa phải tránh những vũng nước ổ gà và những hòn đá cuội "nhẵn như đầu ông sư" rải rác trên mạt đường. Một toán học sinh đi học về, đứng nép vào một bên, chúng thay nhau nhao nhao "Em chào cô ạ!". Chị Nga cười với chúng bằng nụ cười thật chua chát. Em chào cô ạ! Cô nào? Chị đã bao nhiêu lần nói với chúng rằng, chúng không phải chào chị nữa, và nhất là đừng "chào cô giáo" nữa, nhưng chúng không nghe! Liệu chúng có thật lòng không hay là chúng cố tình châm vào nỗi đau của chị? Và cũng rất có thể là chúng làm theo lời xui bẩy của một ai đó? Chao ơi, nếu thế thì thật là độc ác!
Chị Nga đạp xe về, không thấy bố trong nhà, chị gọi to:
-Bố ơi!
Có tiếng động phía bờ ao, thầy Hoan xắn quần quá đầu gối, tay cầm con dao đi lên:
-Nga đã về đấy hả con?
Chị Nga chỉ chờ có thế, gục đầu vào vai bố khóc nức nở. Thầy Hoan dìu con vào nhà, đặt chị xuống mép ghế rồi vỗ vỗ vào mái tóc có chít vành khăn trắng. Hai bố con chị Nga cứ ngồi như thế bên nhau có tới hàng giờ lâu. Thầy Hoan gỡ tay con gái ra khỏi vai áo mình, nói nhỏ:
-Nín đi con! Chiến tranh...
-Con khổ quá, bố ơi!
-Bố hiểu! Bố hiểu con gái. Mọi sự đã được sắp bày cả rồi, biết phải làm sao!
Chị Nga gạt những sợi tóc mai nhòe đẫm nước mắt, nhìn bố cầu khẩn:
-Bố hãy cho con một lời khuyên!
Thầy Hoan vân vê que đóm châm thuốc trong tay, ngẩn ngơ nhìn vào khoảng nắng ngoài vườn. Que đóm cháy leo đến đầu ngón tay khiến thầy giật mình, dụi nó vào bát điếu. Ngoài kia, xa xôi lắm ở tận nơi nào đó của làng quê, tiếng người gọi nhau nghe thật hối hả. Xa nữa là tiếng ầm ì của máy bay, không biết của ta hay của địch mà sao thanh bình làm vậy?
-Bố chỉ có mình con, nhưng bố đã không giữ được con bên mình. Điều này làm bố ân hận quá. Lại càng đau lòng hơn khi nhìn thấy con rơi vào hoàn cảnh éo le mà bất lực. Con hãy tha tội cho bố. Thầy Hoan khóc. Và mẹ con nữa, hãy tha tội cho ta... Lời khuyên của bố ư? Bố chỉ biết nói với con rằng: nếu con nhận thấy điều gì đúng thì con cứ làm!
Chị Nga nắm chặt những ngón tay gầy guộc của bố, ngước lên:
-Con biết bố muốn con phải làm gì rồi. Nhưng...
-Nhưng sao hả con gái?
-Thôi, bố cứ yên tâm. Bố hãy kể về mẹ cho con nghe đi!
Thầy Hoan nhìn con gái, ngạc nhiên:
-Bố đã kể rồi mà!
-Bố cứ kể lại cho con nghe, xin bố hãy kể hết, và đừng giấu con điều gì. Nhất là về cái chết của mẹ...
Thầy Hoan thở dài nhượng bộ:
-Thôi được, bố sẽ nói cho con biết. Sau khi sinh con ra được hai mươi ba ngày, mẹ con qua đời. Đúng là không phải mẹ con chết vì bệnh hậu sản như bố đã nói với con...
-Vậy thì vì cái gì hả bố?
-Chính vì lưỡi dao của ông ngoại con, cha của mẹ con!
Chị Nga rùng mình ôm chặt lấy đầu gối bố, đôi mắt nhắm nghiền, giọng thoang thoảng:
-Kinh khủng quá! Thầy Hoan tiếp tục nói như nói cho chính mình nghe. Ngày ấy bố và mẹ con phải lòng nhau, nhưng không được ông ngoại con đồng ý. Vì bố là người xa lạ, tứ cố vô thân, hơn nữa lại là người lính, rày đây mai đó, sống chết khôn lường. Nhưng tình yêu đã làm hai người mù quáng, mẹ con đã mang hình hài của con trong bụng. Gần đến ngày sinh con, mẹ con đã tìm bố. Rồi chúng ta đưa nhau vào một cánh rừng, bố dựng lên một cái lán nhỏ. Ở nơi ấy con đã cất tiếng khóc chào đời. Hai mươi ba ngày sau, khi bố đi vắng, lúc trở về, thấy mẹ con đã nằm bên vũng máu còn con thì giãy đạp bên cạnh, người cũng đỏ lòe máu tươi. Lúc ấy mẹ con chỉ còn thều thào:
-Hãy đưa con đi khỏi nơi này! Đừng oán giận cha em, ông đã tuyệt vọng vì đứa con duy nhất!
Sau khi chôn mẹ con, bố nghe tin ông ngoại cũng đã tự tử. Bố bồng con đến trước mộ ông ngoại, nói lời vĩnh biệt rồi ôm con ra đi.
Hai bố con chị Nga cùng ngồi bất động hồi lâu. Nắng đã lùi xa khỏi thềm nhà, mùi ngải cứu trên đầu giường thầy Hoan tỏa ra hăng hăng. cho đến lúc chị Nga lay bố:
-Bố ơi! sao bố không xử con như ông ngoại đã xử với mẹ?
-Không! Không bao giờ rồ dại lặp lại những điều bi đát!
-Nhưng lại có những bi đát khác?
Thầy Hoan xoa đầu con gái:
-Đúng là có những cái bi kịch khác nhau mà chúng ta khó tránh khỏi. Nhưng bố tin rằng rồi thế nào cũng phải có một lối thoát. Thôi trưa rồi, con có ở lại ăn cơm với bố không?
-Con phải đi thôi bố ạ!
Khi chị Nga sắp nón dẫn xe ra cổng, thầy Hoan đưa cho chị cái gói nhỏ, buộc lỏng lẻo:
-Bố có cân đường, tiêu chuẩn hưu, con cầm lấy mà uống nước...
-Con xin bố! Con thương bố quá! Thôi, con đi đây!

***

Chị Nga dựa xe đạp, khẽ đẩy dịch bức liếp, lách người vào nhà. Từ ngoài nắng vào trong mát, mắt chị hoa lên, chưa nhìn rõ mọi vật trong nhàvừa trống trải vừa ẩm thấp. Chợt chị nghe có tiếng động mạnh như người giãy đạp và tiếng người nghẹt thở. Thoạt đầu chị tưởng tiếng con lợn đánh hơi thấy chị về, nhưng không phải. Chị hốt hoảng nhận thấy cả mấy cái duổi nhà cùng rung lên. Có chuyện không lành rồi! Chị Nga lao vào buồng, nơi vẫn để thóc, sắn khô, nồi thau đồng, và một cảnh tượng kinh hoàng đã hiện ra trước mắt chị: một thây người gầy rạc đang treo lủng lẳng trên quá giang nhà. Chị Nga vội quay ra giật phắt cái liềm cắt lúa vẫn gài trên mái gianh từ sau vụ gặt, nhảy vào trèo lên bồ thóc, một tay đu người trên mái nhà, tay kia chị ngoặc cái liềm vào sợi dây ra sức cứa. Sợi dây đứt, cái thân người đổ uỵch xuống nền buồng. Đó là ông lão Tuân! Chị Nga cởi mạnh cái nút dây thừng rồi bế thốc ông lão đặt lên giường. Toàn thân ông lão hãy còn nóng, chị Nga nghiêng người ghé tai lên ngực nạn nhân. Chị im lặng đứng dậy: tim hãy còn đập! Chị Nga tìm cái quạt nan quạt mạnh lên mặt ông lão Tuân, rồi chị lấy hai đầu ngón tay cái day mạnh hai bên thái dương. Được một lúc, có tiếng thở khò khè của ông. Như sực nhớ ra, chị đứng dậy lấy trong cái túi của mình ra gói đường bọc trong giấy báo mà ông bố mới cho, tìm cái cốc thủy tinh sứt sẹo, pha một cốc nước đường, nâng đầu bố chồng dậy, kề cốc nước vào miệng. Tất cả những động tác, những việc làm của chị Nga chính xác, khéo léo diễn ra dưới vẻ mặt lạnh lùng, bình thản, tựa như một bác sĩ đang làm chức trách của mình. Và khi thấy sức lực ông lão Tuân dần dần lấy lại, chị ánh lên một nét cười trên vành môi của người vừa hoàn thành một công trình sáng tạo.
Ông lão Tuân mấp máy môi, uống từng ngụm nhỏ. Bỗng, lão nấc một tiếng dựng người lên, rồi nôn thốc tháo ra tay chị Nga. Một dòng nước đỏ lòm trào ra miệng lão, nghiêng xuống cái ngấn cổ nhăn nheo đang bắt đầu sưng vù lên.
Nghe tin ông lão Tuân ốm, bà con đến thăm chật nhà, không kém gì cái ngày báo tử anh Kỳ. Ông Tuân ngồi dựa vào thành giường, chùm chăn kín đôi chân đến ngang bụng, cổ quấn cái khăn phu-la màu gụ, thở khò khè, không nói được hỉ gật đầu đáp lễ những người đến thăm. Chị Nga tất tưởi chạy lên nhà trên xuống nhà ngang, nơi hai ông bà bố mẹ chồng đang cùng nằm liệt chiếu. Đun nước, chào đón khách, một tiếng rên nho nhỏ ở phía nào chị cũng phải có mặt.
-Chị Kỳ này, chết thật, làm sao mà để cụ đêm hôm một mình không trông nom, đến nỗi này? Một bà thím họ xa, ăn trầu cắn chỉ, trề đôi môi mỏng ra chành chẻ.
Chị Nga cúi nhìn vạt áo, rơm rớm nước mắt:
-Thưa thím, tại cháu sơ ý!
-Ừ, lần sau nhớ cẩn thận đấy, các cụ già yếu, lại cô đơn một mình một bóng, con cái đứa lấy chồng thiên hạ, đứa hy sinh ngoài mặt trận. Tất cả đều trông vào chị thôi đấy!
-Vâng ạ!
Rồi chị tất bật đi ra, từ non trưa đến chiều tối, mãi đến quá khuya, chị mới được ngả lưng. Đặt mình nằm xuống cái giường chị lại giật thót người, chỉ muốn vùng dậy phóng ra ngoài. Có đêm, chị như người lẩn thẩn, vùng dậy chạy vào bếp vục cám cho lợn ăn. Con lợn bị đánh thức ngái ngủ dụi dụi cái mõm vào tay chị, rồi uể oải xốc cám. Nó hình như cũng muốn chiều chị mà ăn, còn chị, hàng giờ liền ngồi vừa vun cám cho nó ăn, vừa gãi gãi trên cái bờm có những sợi lông thưa và cứng của nó. Hai hôm sau ngày ông lão Tuân ốm, một vị đại diện thường trực uỷ ban xã đến thăm. Tiếng ông ta oang oang, rõ ra là tiếng cười nói của người đắc chí từ ngoài đầu ngõ:
-Thế nào? Cô giáo Nga đâu? Cụ nhà mỏi thế nào?
Chị Nga lật đật chạy ra, tay cầm cành rong đuổi chó:
-Bác lại chơi!Ấy chết bác đừng gọi em là "cô giáo" nữa. Em có còn dạy dỗ gì nữa đâu ạ...
-Ừ hừ! Nhất tự vi sư, bán tự vi sư, cô là cô giáo thì chúng tôi mới dám gọi. Như ông Bếp Hồng ở ta đấy, cô có biết không? Ông ấy đi lính cho Pháp làm đến chức "bếp", về làng đã lâu, mà ai cũng gọi là ông Bếp Hồng đấy thây!
-Người ta khác, em khác. Xin bác cứ gọi em là Nga thôi ạ!
-Ừ, thế cũng được. Cụ nhà nằm đâu?
-Mời bác vào, ông cụ nhà em ở trên nhà trên.
Ông thường trực uỷ ban gạt cái chân trống xe đạp phượng hoàng đứng giữa sân, úp cái mũ cối bộ đội lên ghi- đông rồi vào nhà:
-Chào cụ! Nghe tin cụ mỏi, anh em trên uỷ ban cử tôi đến thăm cụ đây!
Ông lão dọ dạy ngồi nhớm lên, hướng đôi mắt lo âu về phía khách, môi mấp máy không thành tiếng.
-Cụ cứ nằm nghỉ, không sao! Ông khách ghé ngồi vào một bên thành giường. Chết thật, bệnh tình thế này mà không chạy chữa là khốn. Hay để tôi bảo cô Sáu trên trạm xá xuống khám cho cụ nhá?
Ông Tuân bất ngờ rút tay ra gỏi chăn, huơ huơ ra chiều không đồng ý. Thình lình cái khăn phu-la trên cổ tụt xuống, làm lão hoảng hốt, kéo vội nó lên. Vừa lúc ấy chị Nga cũng từ nhà ngang đi lên:
-Thày! Thày làm sao thế?
-Cổ cụ làm sao mà tím bầm lên thế, hả cô giáo?
Ông lão Tuân cố hết sức bình sinh:
-Đá...nh gio... ó...!
-Gió à? Ông khách cười. Ừ, dạo này gió lạnh về đêm, đi ra ngoài lại có tuổi như cụ, hay bị cảm lắm đấy. Phải không cô giáo?
-Dạ, bác nói phải ạ!
-Thôi thế này, uỷ ban có cân đường gọi là chút quà thăm nom, gửi cụ uống nước. Ông lục túi áo đại cán lấy ra cái gói nhỏ. Còn đây là của tôi, lạng mỹ chính Việt Trì hôm đi tập huấn nông nghiệp ngoài huyện được mua. Cô giáo cầm lấy, thỉnh thoảng cho vào cháo cho cụ ăn...
-Vâng, em xin bác, cám ơn bác và các bác"ngoài" uỷ ban!
-Cụ nằm nghỉ, chịu khó ăn vào cho khoẻ. Tôi phải đi sang Thống Hạ xem mạ mon thế nào đây. Đấy, lại còn phải liên hệ cho nhà trường Đại học gì ấy, ở Hà Nội về sơ tán. Gớm, sau cái thằng Giôn-xơn, đến cái thằng Ních-sơn này nó còn ác liệt lắm đây! Mẹ cha chúng nó! Nhà ta còn hầm chứ?
-Dạ còn ạ!
-Ừ. Thôi chào cụ, chào cô giáo, à tôi cứ hay quen mồm, chào chị Kỳ!
-Vâng, bác lại nhà!
Rồi khách khứa cũng thưa dần, nhưng cái dấu dây thừng trên cổ ông lão vẫn còn bầm tím khá lâu. Cho đến khi ông lão Tuân đã đứng dậy đi lại được trong nhà, trên cổ ông vẫn xù xù cái khăn phu-la. May mắn cho ông lão Tuân, cho cả mình nữa, chị Nga thầm nhủ, nó là cái sợi chạc trâu bằng dây nâu đã ải lại cứng chứ mềm như sợi vải thì chắc chả kịp. Phải tay mình, chị Nga cười, mình sẽ tìm một sợi lụa trắng, phải rồi, sợi lụa bạch để ra đi cho thanh sạch!
Khi ông lão khỏi hẳn, trong lúc chỉ còn hai người cần phải nói với nhau điều gì, chỉ có chị Nga lên tiếng trước.


ĐOẠN 5



Sau những biến cố trên xảy ra, có thể coi như những cơn giông bão ập đến đổ lên hai vai chị Nga làm chị hoàn toàn thay đổi. Trước hết chị như người mộng du trong một cõi hư không của riêng chị. Lúc nào chị cũng cảm thấy muốn cười, cái cười nhạt, không chứa đựng một ý nghĩa nào, dù là chua chát đắng cay. Chị cười với con lợn, tiếng cười khanh khách như hồi còn trẻ, lúc chị mới vào trường trung cấp sư phạm. Từ trong nhà ngang, bà Tuân cố bò lại gần cái cửa sổ mắt cáo nhìn sang, bà thở dài rạch trở lại chỗ nằm, không thể biết bà nghĩ gì về cô con dâu. Có lúc chị cười với cái bóng mình dưới đáy giếng. Và kỳ lạ ở chỗ, trong mâm cơm, chị cứ nhìn ông Tuân mà cười! Điều thứ hai làm mọi người xung quanh để ý là chị bắt đầu hay chải tóc, ngắm nghía mình thật lâu bên thành giếng nước. Có vài lần chị lấy cái áo để đã lâu không mặc từ trong đáy hòm ra hong nắng, và buổi tối, chị mặc nó vào đi ngủ.
Về phần ông Tuân, cái cổ của ông đã tan vệt bầm của sợi chạc trâu, ông có thể ung dung ra đường mà không cần phải quấn khăn. Nhưng trông ông già sọm đi nhiều, gặp người quen đôi mắt thường đưa ngang ra phía cánh đồng. Ai hỏi gì, có lúc ông trả lời như một cái máy, chỉ một mực "dạ, vâng".
Thiên hạ không ai đàm tiếu, họ chỉ tỏ ra xót xa cho một gia đình bất hạnh. Nhưng dần dà những lời cảm thương cũng vơi đi, bởi họ còn phải lo, phải nghĩ cho chính họ. Còn một sự kiện nữa mà chỉ có mình ông Tuân biết, là sau chuyện bất thành đó, chị Nga không còn xưng hô một cách cung kính với ông như trước nữa. Trước đây chị một hai thưa thày, mà bây giờ, trừ khi có người thứ ba, còn thì chị chỉ nói trống không. Ông Tuân bảo:
-Vợ Kỳ hôm nay ở nhà để thày đi cày chỗ đất củ Đồng Quán cho.
Chị Nga đáp lại:
-Không. Cứ ở nhà đấy.
Lần khác chị bảo:
-Đưa tiền mua đường cho u!
Ông Tuân cảm thấy bị xúc phạm, nhưng vẫn không nói gì, lặng lẽ làm theo. Nỗi ê chề đã làm cho ông không biết phải xử ra sao. Một lần, khi chỉ có hai người trong nhà, ông Tuân chần chừ mãi rồi quyết định hỏi con dâu:
-Sao chị Kỳ lại không để cho tôi chết đi cho rảnh mắt?
Chị Nga ngừng tay sàng gạo, nhặt một hạt thóc trên sàng cho vào miệng cắn:
-Không cứu? Không cứu để chết ra đấy thì tội vạ ai chịu? Chỉ toàn là đem tai ương gieo vào đầu người khác. Đấy nhá, chỉ mới nằm đấy nửa tháng mà bao lời trách móc đã đầy tai...
Ông Tuân, vừa cảm thấy bực bội, nhưng lại có cảm giác thinh thích, dịu dàng, không thấy có cái vẻ xa cách bố chồng nàng dâu như trước. Chứ còn gì nữa? Họ đối đáp với nhau nhấm nhẳng, như là một cặp nhân ngãi. Ông bố chồng cũng bắt đầu giở giọng phiêu lưu:
-Cứ để cho tôi chết quách đi cho xong, sống làm gì, sống mà không con cái, không kẻ nối dõi. Cô là đàn bà làm sao biết được cái khổ tâm của kẻ tuyệt tự.
Chị Nga tiếp tục quay sàng, miệng vẫn đều đều:
-Thiên hạ cũng đầy ra đấy chứ nào riêng ai. Đằng này con người ta xông pha ngoài mặt trận mà bỏ mạng chứ ăn cướp ăn trộm gì mà xấu hổ?
Bỗng ông Tuân đổi giọng:
-Nga ơi, hay là con tìm người nào mà chắp nối lại đi, chứ sống mà như thế này, lúc khỏe trẻ không sao, về già như thày u, khổ lắm, nhục lắm!
Chị Nga vẫn giấm giẳng:
-Chả thiết!
-Còn cái tuổi xuân, con gái đàn bà có thì, có lứa, không ai trách con đâu. Hỏi con câu này, con với thằng Kỳ ăn ở thế nào mà già nửa năm trời vẫn không có gì?
-Ăn ở thế nào? Cũng như người ta chứ còn biết ăn ở thế nào?
-Hay là... tại con?
Bỗng chị Nga lắc mạnh tay, làm cho cái sàng vung ra khỏi nia, gạo thóc tung tóe ra nền nhà. Rồi chị buông tay sàng oằn người lên, tay chống ra sau, còn tay kia ôm bụng quằn quại, miệng ú ớ:
-Đau... đau quá!
Ông Tuân giật mình luống cuống chạy lại ngồi xuống sát chị Nga, nhưng không dám động tay vào người chị:
-Sao thế con?
-Đau quá! Chị vừa rên vừa bấu tay vào vai ông Tuân. Dìu ... tôi vào buồng!
Ông Tuân vội vàng xốc nách chị Nga, còn chị, vừa dặt dẹo lê chân trên nền nhà, vừa dựa hẳn người vào ông Tuân. Ông bố chồng đỡ con dâu nằm lên giường xong, hỏi nhỏ:
-Đau bụng à? Để lấy nắm tóc rối cho đánh gió nhá?
Chị Nga vẫn nhắm nghiền mắt, vùa lắc đầu. Lát sau, chị nằm im, thở dốc, hé mắt bảo ông Tuân:
-Ra khép hộ cánh cửa vào cái!
Ông Tuân lật đật làm theo, rồi quay vào, ghé ngồi lên mép giường. Thình lình chị Nga nắm lấy bàn tay ông Tuân, kéo sát, ghì chặt vào ngực, giọng lạnh băng:
-Đây! Làm gì thì làm đi!

***

Những ngày mưa lụt, mua dầm dề suốt ngày này sang ngày khác, giờ này sang giờ khác, nước mưa hình như cũng được pha một chất keo buồn bã làm lá sắn úp dính vào nhau theo một chiều thê lương và lành lạnh. Một ngày như thế, chị Nga đạp xe ra chợ Ba Hàng. Chiếc xe đạp Thống Nhất khung nữ sơn màu xanh thẫm đẹp như một tiểu thư đài các của chị lăn bánh trên những ổ gà lồm cồm. Mưa xiên xiên tạt chéo vào khuôn mặt xinh xinh ngày nào, giờ đây hai gò má nhô cao và rám nắng làm cho nó bợt bạt đi. Gần tới cầu Châu, một hòn đá nung vôi bất thần nằm chặn giữa đường để cho chiếc xe của chị chồm vào, hất chị xuống rãnh nước. Mặt mày tối xầm lại, chị chìm ngay vào cõi đen ngòm. Chị chết, chết thật sự. Chị Nga của tôi đã đi vào cõi vĩnh hằng một cách thanh thản, bất thần, không chuẩn bị trước và cô đơn.
Nhưng... đúng lúc đó, từ trong một túp lều dựng tạm của một người bán nước chè xanh, mà vì một lý do gì đó, có thể do mưa bão sụt sùi, không có khác lữ hành nào dại dột đi trên con đường lởm khởm này, túp lều đã bị bỏ hoang, ngườ anh hùng Tnh Tinh xuất hiện! Anh hùng của làng Sơn Cốt vẫn đen nhẻm, vẫn cười nhe bộ răng trắng ghê hồn được mọc ra từ hai miếng lợi đỏ chói như hai miếng tiết quân hàm của anh binh nhì mới nhập ngũ. Nhưng mưa gió lạnh lùng đã khoác lên người anh hùng Tinh Tinh một tấm áo đại cán rách bươm vốn của người cháu là một cán bộ công an. Cái áo của anh công an này vốn có màu vàng lòng tôm đặc chủng, gửi về cho bố, là anh ruột của anh Tinh Tinh, nhưng ông bố không thể cứ để như thế mà mặc, thứ nhất cái màu sáng cả ban đêm lẫn ban ngày ấy đẽ bị chửi vì rất dễ làm mồi cho máy bay, mỗi khi thấp thoáng trong ngõ xóm, thứ hai là nó sẽ nhanh chóng trở thành màu xỉn cháo lòng, rồi đen thâm trông rất "rợ", vì anh con trai công an không có đủ xà phòng gửi về cho bố. Thế là nó được nhuộm bằng nước vỏ cây núc nác, ngả sang màu xanh lá mạ, lúc đầu đẹp tuyệt trần, và lại rất hợp với tình hình phòng không lúc đó. Những năm sau, tấm áo đặc chủng cũ dần và màu của nó gần giống với màu áo sĩ quan quân đội, còn kiểu cách thì may y hệt như nhau, cùng một "mô-đen", như bây giờ ta đang gọi. Khi chiếc áo đã không còn tốt, còn đẹp nữa, nó rách tan nát, vá víu lằng nhằng, sơ tướp thì được chuyển giao cho người em trai, người hùng Tinh Tinh, tứ thời ở trần.
Những bước chân chậm chạp nặng nề và dò dẫm của con Tinh Tinh làng Sơn Cốt rất cảnh giác khi tiến lại gần chị Nga. Mưa tạt vào mặt, khiến Tinh Tinh nhíu mắt lại, càng tiến đến gần, bước chân của anh ta càng ngập ngừng, như bước chân của một người bình thường, thậm chí còn có vẻ tinh ma, ranh mãnh, có khi một bàn chân nhấc lên trên không trung rồi để đó, chưa biết đặt xuống chỗ nào?
Chị Nga nằm đó như một đống giẻ cũ nát, cuộn tròn, hai tay ôm lấy bụng, thò ra đôi chân trắng xanh, bám đầy bùn lầy. Chiếc xe đạp nằm văng sang một bên, hai bánh vẫn còn quay, tiếng líp xe át cả tiếng mưa tạt, phát ra những tiếng kêu lách tách, vui tai, khiến người hùng để ý. Anh ta nhếch mép, không, nhếch cả hai mép ra và nụ cười hoang dã không hề tắt trên đôi môi thâm đen, không phải vì lạnh mà là vì vốn nó đã thâm đen như thế. Cúi xuống, lấy tay khẽ chạm vào bánh xe, làm nó quay nhanh thêm một chút và tiếng tách tách càng có vẻ vui tai, người Tinh Tinh thấy lo lắng, không dám đụng tới chiếc xe đạp màu cánh trả, anh ta quay sang nhìn vào khuôn mặt tái ngát và có một vết tím bầm ngay trên mí mắt trái. Có một cái gì đó làm anh ta chững lại. Nụ cười ngây dại bỗng vụt tắt. Một chút trí tuệ, dù chỉ bằng hạt tấm bỗng loé lên trong bộ óc vốn đã bị hư hỏng từ thuở bé. Một khuôn mặt khiến cho người hùng Tinh Tinh làng Sơn Cốt thấy kính nể, hoặc yêu mến, hoặc một thứ tình cảm gì na ná như thế trỗi dậy trong tâm trí đen thẳm của anh ta. Đúng là anh ta đã từng thấy, từng nhìn ngắm và với một vẻ kính nể không thông thường toát ra từ khuông mạt chị Nga. Tinh Tinh cúi xuống, nó cũng biết luồn đôi tay khòng khoèo xuống dưới đống giẻ ướt sũng nước rồi nhấc bỗng thân thể chị Nga lên, cố hết sức bằng đôi chân lòng khòng tấp tểnh lết đi trên đường, hướng về một ngôi nhà gần đó, miệng không ngớt gào lên những tiếng la thê thảm:
-Chu chố...! Chu... chố...!
Về phần chị Nga của tôi, chị coi như đã tan vào một khối mây đùng đục, hai mắt chị mở to, nhưng lại bị mờ đi trong một thứ ánh sáng nhợt nhạt. Cảm giác thanh thoát và dịu dàng như tấm chăn bông mềm mại âm ấm hơi người trùm kín lên khuôn mặt và dần dần bao lấy chị như cái kèn trắng của một loài tằm ăn lá sằn, mịn màng, êm ái. Liền ngay đó ý thức chị choàng tỉnh và điều đầu tiên chị nhận ra rằng chị đã chết. Cụ thể và chính xác hơn là chị đang chết, chết một cách từ từ, chậm chạp, rất rõ nhận ra bằng một sự rơi, rơi nhẹ nhàng như một cái bông gạo trong gió nhẹ. Thì ra, chết là thế! Chết là từ từ hồn lìa khỏi xác, nhưng ý thức thì lại không dễ gì tan biến ngay đi, mà nó cứ lửng lơ, như thể còn một điều gì chưa nói ra mà đã phải quay mặt đi, lặng lẽ trước cái mũi nhọn của đầu sùng, hay lưỡi lê gì đó của một kẻ rất mạnh, rất đáng sợ nhưng cũng rất vũ phu, đáng ghét.
Bây giờ thì chị nhận rõ mình hơn, nhận ra từng hạt mưa gõ bung bung vào chiếc nón lá để bên cạnh, cái thai trong bụng ngột ngạt, cựa quậy một cách yếu ớt và tuyệt vọng. Chị mang nó đi vào cõi chết nhưng nó không chịu im lặng để tạn hưởng cái hạnh phúc thoát cõi thế trần gian. Nó là thế, chị biết, chị làm mẹ nó, chị từng nếm trải những đắng cay, những thất vọng ê chề của cuộc dồn nén, săn đuổi, nhưng nó chưa từng được ra đời, chưa từng được thấy cái vẻ đẹp hùng vĩ và ngọt ngào của ánh nắng mặt trời lúc hừng đông, chiếu thẳng tắp vào khuôn mặt từng con người, bất động. Nó chưa từng nghe tiếng sấm chớp, những giận giữ của bão giông, uy hiếp vạn kiếp sinh linh nhưng vẫn lộ ra vẻ bất lực của trời thẳm, không thể nào với tới được những ngõ ngách sâu kín, huyền bí và cả gian ngoan, dối trá trong mỗi con người. Nó cũng chưa từng cảm thấy những cuộc sát phạt, đấu đá, hành hạ bằng những tâm trạng khoái trá rửa hận, hay những ánh mắt lo sợ hãi hùng mà trên dương gian này, con người vẫn thường đem ra để thi thố. Con ơi! Con chưa được thành người, chưa được có niềm hạnh phúc mang cái danh hiệu con người thì mẹ đã mang con đi! Không biết là may mắn hay rủi ro cho con, cho kiếp người đang chờ con ở ngoài kia!
Như nghe được những lời than vãn của chị Nga, cái thai đạp mạnh hơn nữa, và chị Nga nhận thấy mình đang bay, bằng một đường bay gập ghềnh, nâng lên, đặt xuống, có lúc như hụt hẫng, nhưng vẫn là đang bay. Rồi, bất thần, đường bay chững lại, va mạnh chị vào một bờ đất kiên cố, nặng chịch, vỡ oà ra. Máu trong người chị chảy như suối, chị tan ra thàn muôn ngàn mảnh li ti, bay lập lờ trong sương nhạt. Thế là hết, là chết! Chết là thế đấy!
Cho đến khi tỉnh lại, trước mặt chị là khuôn mặt vô cảm của bà Phán Lan:
-Rõ khổ cái thân! Nhà chị đi đâu trong lúc mưa gió thế này? Nón tơi đâu mà phong phanh? May quá, thế nào mà cái thằng người Tinh Tinh, chuyên cởi truồng cởi trần nhảy Đầu Cầu nó lại thấy chị, lại còn biết mang chị vào cho tôi!
Chị Nga ngơ ngác nhìn lên đám mạng nhện đu đưa qua hai cái kèo tre:
-Cháu đi cắt thuốc cho bà cụ...
-Sao không đưa bà cụ ra viện Than? Thuốc gì hay vẫn thuốc cụ Lang Khuê?
Chị Nga vẫn vô cảm:
-Dạ phải! Mấy giờ rồi hả bà?
-Năm giờ từ khi nãy, nghe tiếng kẻng của trại tù binh.
Chị Nga gượng ngồi dậy, bà Phán đỡ một bên cánh tay:
-Chị nằm nghỉ, tôi bảo cháu nó đi gọi ông giáo rồi.
Chị Nga giật mình như người đang từ cõi âm u tịch trở lại cõi dương gian:
-Chết! Bà cho gọi bố cháu làm gì! Cháu bị nhẹ thôi mà. Với lại cháu còn phải ra phố...
-Thôi, đừng đi đâu nữa, tối rồi, mai hẵng đi. Chị cứ nằm đây mà nghỉ...
-Không... Chị Nga khẽ rên một tiếng, gượng đứng dậy, nhưng nắm hụt cái thành giường, chao người, chống một bên đầu gối xuống đất. Bà phán chạy lại:
-Bảo mà! Đây kia, ông giáo đang ra kia...
Thầy Hoan đội một cái áo bạt cũ rách lỗ chỗ, dừng lại ngoài hiên rũ phành phạch rồi vắt lên cánh rại, bước vào nhà. Trông thấy chị Nga đang ôm bụng quằn quại, thầy nắm lấy cổ tay con gái:
-Con bị làm sao thế?
-Con chết mất! Bố ơi!...
Cơn đau bụng quằn thắt thình lình kéo đến cùng với sự có mặt của thày Hoan. Hai con mắt trắng dại của chị Nga ngó trâng trâng vào mặt cha. Bà Phán Lan thấy thế thì đâm lo:
-Nói dại, hả ông giáo? Có phải chị Nga...?
Phải rồi! Chị Nga đang vật vã trong tay tay cha, một tay chống vào bên sườn oằn bụng gồng lên như gò, như đống. Tay kia chị nắm một nắm tóc cho vào miệng cắn, tiếng rên của chị qua những sợi tóc ré lên một âm sắc ghê rợn:
-Bố ơi... Bố cho con về nhà bố đi. Để con chết!
Thầy Hoan bối rối nhìn vào mắt con gái:
-Sao? Con thấy sao?
Bà Phán vội vàng chạy về phía bàn thờ lật bật đốt ba nén hương rồi phủ phục xuống đất lầm rầm khấn vái. Đoạn bà quay lại, ghé vào tai thầy Hoan:
-Ông Giáo ạ... Hình như là... có dễ... chị Nga, chị ấy trở dạ!
-Hả? Bà Phán, bà nói cái gì?
-Không có gì đâu. Cô ấy sắp đẻ...
Thầy Hoan đờ người, buông con gái ra nhìn bà Phán:
-Ai bảo bà thế?
Không nói không rằng, bà Phán Lan giật phăng hàng cúc áo bên dưới bụng chị Nga trật ra một hàng, mấy lớp vải cắt chéo quấn chặt lấy bụng. Bà Phán tiếp tục lần giở những cái tã trẻ con hình tam giác được quấn mấy vòng. Sau cùng, bụng chị Nga như bất ngờ trương lên, lồi những cục, những cục... Chị Nga hét lên một tiếng:
-Đừng! Rồi chị nhìn thầy Hoan bằng cái nhìn tuyệt vọng: Bố ơi. Cho con về...
-Không sao! Chị nằm đây, để tôi đi gọi người. Bà Phán vừa thở vừa nói.
-Đừng! Cháu lạy bà, cháu chết mất!
Thầy Hoan bất thần đứng vụt dậy nhìn chị Nga như ngây dại. Trong một giây đắn đo, thầy ghé lưng vào:
-Ôm lấy cổ bố. Ta về nhà đi con...
Khi thầy Hoan xốc con gái lên lưng thì trên khuôn mặt màu vàng nghệ giờ đã chuyển sang trắng bệch của bà Phán Lan lộ vẻ vô cùng kinh ngạc:
-Sao? Ông định giết chị ấy à? Trời đang mưa sầm sập thế này!
-Bà ơi! Bố con tôi đội ơn bà! Bà đừng để chuyện này lộ ra với ai... Cháu nó dại, tôi xin chịu. Để tôi tính.
Nói xong thầy Hoan cõng chị Nga lao ra sân trong một màn mưa mờ mịt. Bà Phán tần ngần đứng nhìn cái bóng lù xù của hai cha con ông giáo lảo đảo lẫn vào trong mưa. Rồi bà quầy quả sắp những thứ mà bà vừa lấy ở bụng chị Nga ra cho vào cái tay nải, chòng cái áo tơi qua cổ chạy vụt ra trời mưa. Ra đến giữa sân, bà Phán lại chạy vào buồng tìm kim chỉ, một xấp giấy bản, và hai ba cái lọ đựng gì không biết. Bà chạy mải miết đuổi theo họ, trong màn mưa đục mịt mờ và trong gió giăng giàn giạt.

***

Năm ấy lụt to. Quê tôi chưa năm nào lụt to như thế. Đường ra chợ Ba Hàng, người đứng trên cầu Châu có thể chỏa chân xuống dòng nước chảy xiết. Nhiều người còn hào hứng kể lại cho con cháu nghe đến vài mươi năm về sau những câu chuyện đại loại như thuồng luồng và giải cuộn tròn lại với nhau quấn xiết lấy những thân cây cổ thụ trôi phăng phăng trên sông Công. Thật là một năm đại họa. Câu chuyện về mùa lũ ống năm ấy tuy có để lại những ấn tượng hãi hùng cho nông dân làng Sơn Cốt, nhưng nó mau chóng tan biến đi cùng với cái đói kèm sát sạt ngay sau đó, và bởi những câu chuyện khác thời sự hơn, sát sườn hơn...
Dân làng Sơn Cốt chúng tôi nói theo thuật ngữ thời bây giờ thuộc vào hàng đói thông tin. Sở dĩ nói "đói" là vì họ là những người ưa thích đưa chuyện, nhưng không phải lúc nào cũng có sẵn chuyện để mà truyền khẩu. Đói ăn vụng, ăn vụng còn ăn, huống hồ được một bữa liên hoan kiểu như đại hội xã viên thì còn gì bằng. Đàn ông có mâm của đàn ông, đàn bà và trẻ con có chiếu của mình, ăn xong còn lấy phần. Những miếng thịt mỡ thái con chì trắng ơn ởn, đói lâu ngày, thiếu kinh niên, tương vào chưa biết bổ béo ra sao nhưng đám giun đũa, giun kim và vô vàn loài sống ký sinh trong đại tiểu tràng cũng được một bữa liên hoan. Và rồi những cơn đau bụng té re cả làng quần nhau tìm lá ổi, vỏ sắn thuyền... Thông tin cũng thế!
Dòng tin thời sự nóng hổi và cực kỳ hấp dẫn lan truyền như một làn vi ba âm ỉ xuyên suốt từ nhà này sang nhà kia, qua những bức tường đất, qua những mái rạ đến từng người dân, đàn ông, đàn bà và cả người già, trẻ con. Tất nhiên là chị Nga không nghe thấy, nhưng có lẽ vì không nghe được những lời đồn đại ấy nên chị càng đau đớn quằn quại. Trong ngôi nhà lợp lá cọ dặm lá mía ướt sũng nước mưa, thầy Hoan âm thầm phục vụ con gái. Thầy vui hay buồn, đau khổ hay hạnh phúc? Có lẽ cả hai, bởi cho nên thầy không nói nhiều, nhưng nhìn con gái ôm con, thầy ánh lên một nét cười trong bóng tối.
Có một người, đó là bà Phán Lan, người đã đón tiếng khóc của cậu con trai đem đặt vào tay chị Nga, không, bà đặt vào tay thầy Hoan trước đã:
-Ông bế cháu tý nào! Thằng chó mới hay làm sao!
Cứ thế bà suýt soa, đến nỗi thầy Hoan cũng cảm thấy "thằng chó" mới hay làm sao. Một ngày hai buổi, bà Phán chạy vào giặt giũ, cơm nước cho chị Nga. Thầy Hoan phải chắp hai tay vào nói với bà:
-Bà để tôi làm, tôi làm được. Ba làm tôi áy náy quá!
-Giời đất ơi! Ông giáo mới là người hay! Chuyện váy máu, đàn ông đàn ang, ai lại dúng tay vào. Ông giáo khỏi phải lo, tôi làm là làm phúc cho con cháu tôi, chứ ân với huệ gì. Nói để ông giáo yên lòng, đời tôi còn chua chát bằng vạn ấy chứ, mà nào có thằng nào con nào cắn gấu váy tôi đâu... Nào! xem thằng chó của bà thức hay ngủ nào?
Cứ thế bà Phán Lan xăng xái với những công việc khá là vất vả và phức tạp. Bà bê chậu quần áo tã lót ra ao Sen ngồi dạng hai chân lên cái cầu đá ngay sát đường đi mà vò, mà vỗ. Bà vỗ rõ to, cứ bồm bộp, bồm bôp... Đó là bà tự hào với việc làm phúc đức, nhưng lại thành ra trêu ngươi thiên hạ. Bà Th., cái bà đàn bà giàu có, có tiếng là hay thóc mách, khích bác, đi qua dĩ nhiên là phải ngứa mồm rồi:
-Ôi giời! Bà Phán đấy à, cứ tưởng ai người thiên hạ! Bà giặt giũ gì mà cứ quần quật thế? Lại có cả tã lót nữa. Con gái hay con dâu "vỡ chum" đấy?
-A à! Bà Th. đấy à? Con cháu gái tôi nó đẻ đấy bà ạ.
-Thế trai hay gái đấy?
-Trai! Trai mới quý chứ lị. Nó lớn lên nó lại vào Nam đánh nhau, chứ nó lại thèm trốn chui trốn nhủi như khối thằng sợ chết ở cái làng ta bà nhỉ...
Bà Phán Lan cười, tiếng cười cứ lanh lảnh, tự nhiên, một mình, đến nỗi chỉ nghe bà cười, người ta cũng phải cười dù chả biết bà cười gì.

***

Cuộc đời chị Nga của tôi lại tiếp tục rẽ vào một ngõ ngoặt nữa trên con đường đời gập ghềnh đầy những bất trắc. Những ngày đầu tiên nhìn đứa con trai đỏ hỏn, ngọ ngoạy trong đám tã lót, chị không còn biết mình có còn tồn tại trên cõi đời này nữa. Cứ y như thể một cơn chiêm bao trong giấc ngủ ngày, muốn tránh đi nhưng cứ phải nhìn, muốn mở mắt ra thì lại chói loà, díu lại, muốn vùng dậy chạy đi mà chân tay cứ khòng khoeo, cuốn chặt. Nhưng rồi cái cảm giác ấy cũng dần dần qua đi. Từng tí một, chị Nga nhận thức được đây là sự thật chứ không phải chiêm bao, mộng mị. Chị ngồi dậy ngắm nhìn đứa con như ngắm nhìn một con thú nhỏ, lạ lẫm. Trên vầng trán xanh xao, thoáng hiện lên những nếp nhăn nghi hoặc ngờ vực... Cái sinh linh nhỏ bé kia nó động đậy, nó mở mắt ra rồi lại nhắm mắt vào, đùn những hạt nhử nhỏ tí màu vang ởn lên bờ đôi mí mắt không lông mày, lông mi và lớp da mỏng tang màu đỏ thẫm của máu. Và, không biết được rằng một giây, một khoảnh khắc vụt đến nào đó, chị Nga nhận ra rằng đó chính là đứa con của mình, nó chính là máu thịt của chị vừa trải qua một cơn đau đớn quằn quại, đau như cắt, như xé, như dứt. Phải rồi, đó chính là cơn đau vặt ngắt một mảng thịt xương đâu đó của con người chị để tạo ra nó. Ôi! Con tôi! Đúng rồi, con của tôi! Chị Nga đờ đẫn nghĩ ra điều đó rồi chị bồng nó lên tay, đưa nhè nhẹ và nước mắt trào ra, lã chã... Khi chị vạch áo tìm vú đưa vào miệng thằng bé, nó vội vàng hau háu cái miệng làm như đói khát lắm, nhưng chỉ vài cái mút nó vội vàng nhè ra để há cái miệng nhỏ xíu toàn lợi ra mà khóc. Chị rất kinh ngạc khi con mình khóc không ra tiếng. Chị cảm thấy nhức dữ dội hai bầu vú căng sữa. Chị đặt thằng con xuống góc chiếu rồi vạch vú quay vào tường vắt mạnh. Những tia sữa màu trắng đục bắn lên vách đất tạo ra hình thù kỳ quái, ngả dần sang màu đen.
Ba ngày sau chị Nga không về nhà, ông Tuân sốt ruột chống gậy ra ngõ ngóng. Một người nào đó ghé vào cho ông biết tin con d6u ông bị ngã xe ngoài đường, được đưa vào nhà bà Phán Lan. Ngày hôm sau, lại có tin cô giáo Nga băng huyết nặng lắm nằng nặc đòi về nhà bố đẻ là ông giáo Hoan. Ông lão Tuân sốt ruột quá, lo lắng quá. Căn nhà vốn đã vắng lặng, giờ càng trở nên đìu hiu. Ở dưới nhà ngang bà Tuân vẫn rên và gọi chị Nga. Khi được ông chồng báo cho biết chịNga bị ngã xe ngoài Ba Hàng, thì bà cắm cảu:
-Dửng mãi mỡ lên, đi đâu ra ngoài ấy để cho nó ngã?
Ông Tuân điên tiết:
-Có câm cái mồm đi không? Đã liệt giường liệt chiếu lại còn hay ác khẩu. Đi đâu à? "Người ta" đi cắt thuốc cho bà đấy! "Người ta" mà có làm sao thì bà cứ liệu cái thần hồn...
-Gớm nhỉ! Ông gọi "người ta" là ai thế? Không khéo lại đội nó lên mà thờ...
-Nằm im đấy! Có đói thì bảo, chứ đừng có mà rống lên như thế. Hai con lợn kêu cũng đủ rồi...
Ông Tuân quay ngoắt lên nhà trên vê thuốc lào. Mấy con gà con bị mẹ bỏ sớm đang tranh nhau nhảy nháo nhác lên vành cối xay, hy vọng vào những hạt thóc lép còn kẹt trong nan cối. Ông vung cánh tay yếu ớt lên xua chúng một cách chiếu lệ rồi móc cái đóm cài trên cánh rại, châm vào ngọn lửa yếu ớt của ngọn đèn con để cả ngày. Thuốc lào bắt lửa, lại được kéo gió mạnh, từ hai lá phổi còn khá tốt của ông lão, rực lên rồi từ đỏ chuyên sang màu trắng của tàn thuốc. Ông lão ngưng lại lấy hơi, rồi đưa cái điếu lên cao ngang mặt, rít một hơi cực mạnh, quyết định của một mồi thuốc. Khói tràn vào ngập ngụa buồng phổi, ở đó chừng một giây rồi lại kéo nhau ra cuồn cuộn, ở cả cái miệng rộng và hai lỗ mũi khoằm. Say! Thuốc lào bao giờ cũng say. Phải say mới là thuốc lào, say đến quên xung quanh, quên cả mình, cả điếu. Rồi tỉnh lại một cách nhanh chóng, nhưng sau say là một tâm trạng tỉnh khác hẳn, mới hẳn, không thật rõ ràng với trước đó, trước khi hút. Ai đã từng hút thuốc lào, chắc hẳn phải có cảm giác như thế.
Đang lơ mơ với khói thuốc, có tiếng con chó hực lên mấy tiếng rồi nhảy cẫng lên rên ư ử. Khách nào nhỉ? Con chó nó cong đuôi lên thế kia, đích thị người quen. Ông vùa tìm chỗ dựa cái điếu vừa ngẩng lên thì đã thấy người đàn bà bước vào. À, con mẹ Diệu.
Chị Diệu mặc quần phíp, áo sơ mi kiểu Hồng Kông, từ ngực trở xuống thẳng đuỗn, tóc rẽ ngôi lệch lưỡi trai. Trông chị đúng là mẫu người cán bộ thời ấy. Chị cũng làm chức gì đấy có chân trong ban lãnh đạo xã bên cạnh. Vừa dựa cái xe đạp vào thành bể nước, giọng chị oang oang:
-Sao bảo thày ốm đau thế nào? Gớm, con cũng bấn quá, nghe tin thấy vậy mà mãi hôm nay mới sang được.
-Vâng! Ông Tuân nói mát. Cả năm nay rồi mà chị mới vác cái mặt sang, giang sơn nhà chồng có bị làm sao không?
Chị Diệu đánh phệt xuống cái chổi rơm, cầm nón ve vẩy:
-Ối dào! Ốm, ốm như u con thì có mà chết người ta. Thế vợ Kỳ nó đi đâu rồi thày?
-Thấy bảo ngã xe đã vài hôm nay nằm bên nhà ông giáo Hoan...
-Khốn khổ, khốn nạn! Đi đâu mà tí tởn thế chả biết. Dễ thường lại tính đi bước nữa chắc?
Ông Tuân ngồi im, toan hút điếu thuốc nữa, nhưng thấy người vẫn còn say say lại thôi. Thấy bố không nói gì, chị Diệu tiếp:
-Ở bên ấy, con nghe người ta đồn về thím ấy nghe rác cả tai ra.
-Đồn thế nào?
-Còn thế nào nữa. Làm đỏm lắm cơ. Mà cái này mới ác mồm, chả biết có thật không?
-Cái gì thật với không thật?
Chị con gái nhỏm dậy ghé sát tai bố:
-Nghe bảo thím ấy... cô ấy chim cả... thày, có không?
Ông Tuân giương cặp mắt khói thuốc lên đờ đẫn nhìn con gái. Mãi sau ông mới buông một câu:
-La...áo...!

***

Non trưa, ông lão Tuân lọc cọc đẩy cánh cổng tre rệu rạo bước vào sân nhà thầy Hoan. Lúc ấy, đang bấy lại cái bu gà đã bị bung ra một góc, nghe động thầy Hoan ngẩng lên và cảm thấy máu trong người như dồn cục lại đâu đó trên thái dương. Tay vẫn cầm con dao cùn, thầy Hoan đứng dậy chào thông gia:
-Cụ sang chơi?
-Không dám, chào ông giáo!
Nhìn ông Tuân sọm xuống dựa cây gậy sắn vào cột hiên, thầy Hoan chưa nghĩ ra được một câu nào để khả dĩ đánh loãng cái không khí u uất, nặng nề đang đè nặng lên căn nhà ốm yếu, đè lên đôi vai mòn mỏi của thầy. Đến khi ngồi vào cái ghế khập khễnh, thở mấy nhịp ông Tuân lên tiếng:
-Cô Nga làm sao hả ông giáo?
Thầy Hoan bỗng rùng mình một cái như một thầy pháp, nhổm lên nắm tay ông Tuân lôi xồng xộc dậy:
-Mời cụ vào đây...
Ông Tuân không hiểu chuyện gì, định cưỡng lại nhưng vì ông thông gia kéo mạnh quá nên ông cũng phải theo. Hai ông già, lôi kéo nhau lò mò gò lưng chui vào cái cửa buồng tối om. Từ ngoài nắng, ông Tuân đang còn hoa mắt chưa nhìn thấy gì thì thầy Hoan đã vén tấm vải mục che vuông cửa sổ để một luồng sáng vàng bửng rọi vào đống tã lót đang ngọ ngoạy.
-Cái gì thế? Ông Tuân thì thào.
-Cụ vẫn chưa nhìn thấy gì à? Cháu tôi đấy! Thầy Hoan đĩnh đạc.
Ông lão Tuân giương hai mí mắt lên nhìn mà không tin vào mắt mình. Chị Nga giật mình ngồi thu mình vào một gốc chiếu như con mèo thủ thế. Im lặng trôi đi nặng nề.
-Cháu tôi đấy, cụ ạ! Thầy Hoan dõng dạc nhắc lại một lần nữa, tưởng ông Tuân thế nào cũng gầm lên. Nhưng không, ông Tuân cúi xuống nhìn sát vào mặt đứa bé rồi nhìn thẳng vào mặt chị Nga mà hỏi một câu thảng thốt:
-Trai hay gái?
-Trai! Chị Nga buột mồm, còn thầy Hoan thì hoàn toàn bị bất ngờ bởi câu nói khá hỗn của con. Thầy đứng lùi xa một bước nhìn hai người, ông Tuân và chị Nga nhìn nhau. Chợt tim thầy nhói lên đau đớn khiến thầy phải ôm ghì lấy ngực mình. Cơn đau dai dẳng quá, khiến thầy ngã phịch vào cái bao tải đựng sắn khô. Chị Nga vùng dậy ôm lấy thầy mà khóc:
-Bố ơi! Con giết bố rồi...


ĐOẠN 6

Nắng gay gắt! Nắng tháng Tám héo quăn héo quắt lá sắn, bưởi trong vượn rụng bình bịch suốt đêm. Ban ngày, tầm quá trưa nước trên cánh đồng Lưu Lạc như sôi lên, sủi tăm, những con cua con, những con cá cờ đuôi tím ngắt... nhao vào bờ leo lên gốc rạ tìm nơi tránh nắng. Một buổi chiều, đúng vào ngày thằng con đầy tháng chị Nga đội nón bồng con ra xã làm giấy khai sinh. Tôi không muốn thuật lại cái chuyện đầy sóng gió này vì có nhiều người đã viết về sự "thẳng như nòng súng, rắn như hòn đạn" của Ủy ban hành chính hồi đó rồi. Nhưng nhờ vào tấm lòng từ tâm, đầy giông bão và đau khổ của bà chủ tịch xã, mà cũng có lẽ là do tiếng khóc đanh thép và dai dẳng của thằng bé, đích thân chủ tịch xã đã viết và ký giấy khai sinh cho nó. Nó mang họ Trần, họ của anh Kỳ, tên nó được chị Nga đặt là Hận, Trần Hận! Xong xuôi cái thủ tục này, chị bế thẳng con về nhà ông Tuân.
Nhìn theo cái dáng lầm lũi, nhẫn nhục của người đàn bà trẻ đang bế đứa con rẽ vào ngõ khuất, bà chủ tịch bỗng cảm thấy lòng mình chạnh đau như muối xát. Bà cầm con dấu Ủy ban hành chính hình chữ nhật lên ngắm nghía: nó cũ kỹ và trầy sứt, loang nhoang màu mực, màu nhọ đèn, thật thảm hại, nhưng nó lại có uy lực rất lớn. Nó có thể cứu một con người ra khỏi tai ương, nhưng nó cũng có thể đẩy một con người vào vòng lao lý. Và kèm theo với cái dấu ấy là chữ ký, của bà hay của một người nào đó, của bà chẳng hạn, là chính quyền, là công lý, là lợi ích... Bà chủ tịch xã chúng tôi, bỏ con dấu cùng với những thứ giấy tờ linh tinh vào cái túi xách màu đen, dắt xe ra cổng ủy ban. Bà lựa một quãng đường phẳng, nhảy lên pê-đan chiếc xe đạp nữ màu xanh phòng không. Bà cứ đạp... và không sao dứt ra khỏi hình ảnh thằng bé con cô giáo Nga, nó đỏ hon hỏn như con chó con chưa mở mắt, quờ quạng tìm vú mẹ. Tên nó là gì nhỉ? Hận, Trần Hận! Sao cô ấy lại đặt tên cho con mình như thế nhỉ? Hận gì? Ân hận hay thù hận? Bà nhìn lên bầu trời chiều nắng đã tàn, nhưng nóng oi hầm hập, tím bầm, một hai con cò trắng bay lạc lõng phía cánh đông Lưu Lạc. Rồi thế nào người ta cũng nghi ngờ và chất vấn bà rằng: vì sao mà bà chủ tịch lại chấp thuận một cách dễ dàng lời khai của chị Nga đến thế. Bà hỏi:
-Cô đặt tên cho cháu là gì?
Chị Nga đáp:
-Thưa chị, em đặt cho cháu tên là Hận ạ!
Bà chủ tịch hơi cau trán, nhưng những giọt mồ hôi li ti đã nhòe đi theo những nếp nhăn giãn ra, bà lại ôn tồn hỏi:
-Tên mẹ là Nga! Họ của cô là gì nhỉ? Như tự trách mình, bà nói thêm. Chị em với nhau mà tôi không biết họ của cô. Tôi cũng là học trò của thầy Hoan!
-Dạ, em là Hoàng Thị Nga!
Bà chủ tịch lại hí húi viết. Còn một câu hỏi bà muốn hỏi, câu hỏi cuối cùng nhưng lại rất quan trọng, nên bà cảm thấy rất khó. Thằng bé bỗng khóc ré lên, chị Nga vỗ vào lưng nó, đung đưa hai cánh tay, ru con. Bà chủ tịch cắn quản bút, nghĩ ngợi. Chị Nga nhìn thấy trên mặt bà hằn rõ sự căng thẳng từ khóe môi. Bà thở mạnh một hơi, chùng người xuống, rồi nhìn thẳng vào mắt người công dân đầy vẻ lo âu, căng thẳng, đang ngồi trước mặt mình:
-Họ của cháu cũng là họ Hoàng chứ?
Chị Nga hiểu nỗi băn khoăn của bà chủ tịch và chị nhìn bà với cái nhìn đầy biết ơn:
-Không, chị ạ! Họ của cháu là họ Trần!
Bà chủ tịch thở nhẹ, cúi xuống định viết, lại ngẩng lên:
-Trần Tuấn? Bố cháu là...?
Chị Nga dù rất cảm phục và biết ơn bà chủ tịch, nhưng chị vẫn thấy cần phải bày tỏ sự khẳng khái, thậm chí còn đầy khiêu khích của mình .Chị khẽ lắc đầu, như muốn hất mấy sợi tóc mai vương trên trán, chảy lòa xòa xuống mặc dù nó đã bết mồ hôi, rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt bà chủ tịch:
-Họ tên đầy đủ của cháu là Trần Hận, con của Trần Tuấn Kỳ!
Bà chủ tịch không hỏi gì thêm, bà viết hết những chỗ trống cần thiết cho một tờ giấy khai sinh, rồi ký tên, đóng dấu. Bà nhìn tờ giấy dang màu nâu đất, chao qua chao lại chờ mực khô, rồi đưa cho chị Nga:
-Của cô đây! Rồi bà cười, nhìn thằng Hận (từ giờ phút này tên nó là Trần Hận). Xem thằng Cún cái nào... Cháu ngoan chứ? Cô có đủ sữa cho cháu bú chứ? Bà là người tế nhị thật, chỉ hỏi với những câu "tích cực". (Đáng lẽ bà có thể hỏi: Cháu ngoan không? Có đủ sữa không?).
Chị Nga cầm tờ giấy khai sinh quạt cho con:
-Dạ cháu cũng ngoan... Cám ơn chị... Cháu còn non bấy, chưa ăn bao nhiêu nên em cũng đủ sữa!
Tất cả mọi chuyện xảy ra nhanh chóng như vậy đấy. Nhờ Trời! Cũng may cho chị Nga, nếu không gặp trực tiếp bà chủ tịch, mà là ông ủy viên ủy ban phụ trách hộ tịch có lẽ chị chưa biết sẽ phải nói năng, trình bày như thế nào?
Vừa đạp xe, bà chủ tịch xã bỗng bật cười. Bố thằng Hận là Trần Tuấn Kỳ? Anh chàng Kỳ đi bộ đội ba năm thì hy sinh, từ hôm báo tử đến nay cũng đã hai năm! Có họa thằng bé con là ông Thánh Gióng! Nhưng bà mẹ Thánh cũng chỉ mang thai đến ba năm, đằng này...

***

Để hiểu tấm lòng vị tha, cao thượng của bà chủ tịch, tôi xin thuật lại câu chuyện sau đây mà mãi về sau tôi mới được nghe kể lại. Tên bà là Nghĩa, theo một mối quan hệ họ hàng xa, tôi phải gọi bà Nghĩa bằng dì. Ông ngoại tôi và mẹ của dì Nghĩa là anh em thúc bá, con chú con bác, cùng từ Thái Bình lên "tha hương cầu thực". Có lẽ vì thế, mà tuy là họ ngoại, lại đã xa đến mấy đời, các cụ đã mất, nhưng gia đình tôi với anh em dì Nghĩa rất gắn bó, còn hơn cả bên nội của chúng tôi. Có điều, sau khi dì Nghĩa trúng cử vào chức chủ tịch xã, bố tôi, trong một buổi tối có đủ mặt cả nhà, (tất nhiên vắng mặt tôi) đã phát ra một mệnh lệnh:
-Từ nay, mẹ con nhà này có đến chơi nhà cái Nghĩa thì đến, nhưng cấm không được nhờ vả, hay là làm cái gì để nó phải khó xử nhá! Chúng mày nghe rõ cả chưa? Hình như bố tôi nhằm vào một ai đó trong họ nhà tôi thì phải.
Lúc ở nhà tôi có biết chồng dì Nghĩa là chú Cầu. Chú Cầu là thương binh trong một chiến dịch thời kháng Pháp, bị một vết sẹo to giống như cái lưỡi hái bên sườn trước bụng. Những lúc cao hứng và có sự vòi vĩnh của chúng tôi, chú Cầu vẫn thường kể những câu chuyện chiến đấu rất hấp dẫn rồi trật áo ra khoe cái vết sẹo xù xì rất đáng kinh hãi đó. Chú bảo:
-Ở Điện Biên Phủ đấy! Một quả "tạc đạn" của quân Pháp bắn xuyên qua bụng tao ra đằng sau! Không tin à, nhìn đây...
Chú xoay lưng lại, đằng sau lưng chú cũng có một vết sẹo, nhỏ hơn và nom "hiền lành" hơn! Có lần, tôi kể cho cả nhà nghe chuyện của chú Cầu, bố tôi nghe, ông chỉ tủm tỉm cười. Ông cũng có mặt ở Điên Biên Phủ năm 1954.
Chú Cầu là út và là con trai duy nhất trong một gia đình khá giả, toàn chị gái. Tên chú đặt là Cầu, vì chú là đứa con cầu tự được trong cửa chùa. Chú Cầu là một trong rất ít người có học vấn cao trong làng. Tuổi thơ của chú rất sung sướng, chú bảo thế! Chú có bằng Tây học Diplome, nhưng sau khi bị thương chú về quê, lấy vợ, làm ruộng. Đáng lẽ chú có thể thoát ly làm cán bộ nhà nước, ai cũng tiếc cho chú!
Chiến tranh bùng nổ một lần nữa, thanh niên trai tráng lần lượt lên đường vào Nam chiến đấu hết. Đến cả lớp thanh niên mới lớn, mười bảy, mười tám tuổi cũng ra đi. Trong làng chỉ còn lại đàn bà, trẻ con và những người già cả yếu đuối. Sức mạnh của xóm thôn bỗng hụt hẫng, tiếng chó sủa cũng bớt gay gắt, nhưng nghe trầm lắng hơn, ma quái hơn đầy đe dọa. Trên trời máy bay địch quần đảo suốt đêm ngày, mây trắng tản đi đâu hết, bầu trời chỉ còn mây đen, mây xám của khói bom, khói cháy nhà, cháy kho tàng, xăng dầu và cao su, thuốc hóa học... Hai giờ sáng, những người đàn ông già nua và thương tật cùng với những người đàn bà đảm đang, tháo vát dong trâu, vác cày bừa ra đồng, cày bừa trong ánh sao nhợt nhạt để kịp cho các bà, các chị ra cấy vào lúc bốn, năm giờ sáng. Sáng ra, cánh đồng Lưu Lạc đã vắng người, chỉ còn lác đác những ai về chậm và những đứa trẻ mò cua. Mặt trời lên cao, cánh đồng Lưu Lạc chỉ còn lại là một cánh đồng hấp hối, nặng nhọc bốc hơi lên bầu trời đẫm hơi nước và khói xám. Thỉnh thoảng những tốp máy bay F4, F105... xù xì như những bộ xương đen của loài quỷ lại ào qua, pháo phòng không ở đâu đó bắn lên lụp bụp. Khi những con quái vật hình xương xẩu bay về hướng thủ đô, bầu trời còn lại những vệt khói đen ngoằn ngoèo và những chùm khói trắng như hoa lau của đạn pháo cao xạ.
Dì Nghĩa của tôi lúc bấy giờ là chủ tịch Hội phụ nữ xã, tất nhiên dì là một đảng viên. Là cán bộ nhưng dì vẫn là một nông dân, nghĩa là dì cũng dậy từ ba, bốn giờ sáng, cùng với những người đàn bà mắt nhắm mắt mở ra đồng cấy chạy... tàu bay! (Xin mở ngoặc nói thêm là khái niệm "cấy chạy" trong thời bình của làng chúng tôi từ nhiều đời chỉ dùng trong trường hợp chạy cạn, tức là cấy trước khi cạn nước, nếu không nhanh, nước cạn sẽ bị "giẽ", lúc ấy có thể chảy máu tay người cấy). Đã gọi là cấy chạy thì luôn vội vàng, hấp hoảng, dưới ánh trăng thượng tuần và ánh sao mờ ảo. Sáng ra, dì lại ăn mặc tươm tất đi lo những công việc của hội, của đàn bà, phụ nữ. Mà "gái thời loạn" bao giờ cũng có nhiều nỗi niềm, nhiều trăn trở, nhiều chuyện phải giãi bày, nhiều vấn đề phải xử lý. Những người đàn bà đang thì đang lứa đói ăn, đói ngủ, và đói... đàn ông, đã làm cho họ tàn tạ nhanh chóng. Trong những buổi làm đồng tập thể hay những lúc hội họp, giữa những người có chồng ra trận hay những cô gái đồng trinh với nhau, họ vẫn cười, vẫn nói, vẫn đùa nỡm bằng những lời thanh tao lẫn tục tĩu, bất ngờ họ nhìn nhau với cái nhìn đờ đẫn. Họ cùng bất chợt nghĩ về những niềm khát khao đơn giản, có khi tầm thường của bản năng mà ứa nước mắt. Những đêm xuân bừng bừng hoa bưởi, những đêm hè rạo rực lá ngâu, những đêm thu ngạt ngào hương trái thị và những đêm đông gió bấc lùa vào vách liếp, sột soạt lá chuối khô, họ đơn độc như người khát thèm nước giếng khơi. Dì Nghĩa nói, dì làm, dì đi... nhưng hầu như chỉ làm nén lại nỗi khát khao của họ như nén cái lò so đang nóng chảy. Dì biết thế, vì dì đã trải qua những tháng năm chú Cầu đi bộ đội.
Trong khi dì Nghĩa tất tả với công việc và công tác, thì chú Cầu cũng là một đảng viên, nhưng chú chỉ làm đội trưởng một đội sản xuất. Công việc của chú là thăm đồng, thăm nước, thăm mạ mon và phân công công việc cho xã viên trong tầm quản lý của chú. Công việc không nhàn nhã nhưng cũng không vất vả.
Dì Nghĩa tiếp tục tiến bộ, khóa ấy dì trúng cử vào hội đồng nhân dân, và được bầu làm chủ tịch xã.
Đùng một cái, chị Xuân, vợ một anh bộ đội đang ở chiến trường, có... mang! Đây là một việc hệ trọng, một việc tày đình. Không chồng, đúng hơn là không có chồng ở nhà mà chửa! Tiếng sét loằng ngoằng, xé trời xanh đầy mây xám, đổ xuống đầu chị Xuân! Ai là thủ phạm hả Xuân? Phải chặn đứng cái thói giăng hoa, hủ hóa ấy lại! Con chó dái rửng mỡ ấy đâu? Trong khi người ta đổ máu ở mặt trận thì nó ở nhà mò vào buồng vợ người ta để làm cái trò ăn vụng. Mà cái cô Xuân ấy nữa, không chịu được thì đổ thóc vào cối mà xay, không có thóc thì xay cối không, việc gì mà phải ngứa đên thế? Con cho cái không ngoe nguẩy thì đời nào con chó đực nó vẫy đuôi? Chị Xuân cúi mặt, úp nón vào bụng đi làm! Khi đẻ được một thằng con trai, thì chị Xuân không chịu nổi sức ép dai dẳng từ mọi bề, chị đành khai ra cha của đứa bé là... chú Cầu!
Trời hại rồi! Dì Nghĩa bị hai đòn quất vào đầu cùng một lúc. Cũng không biết bằng cách nào mà dì không gục xuống. Ngoài lòng ghen tuông thường tình của người đàn bà bị ném trấu vào mặt, dì còn một nỗi nhục của người cán bộ đã bao nhiêu lần đi giảng giải cho người ta bằng những lời cao cả, đạo đức! Thế mà, cái điều sỉ nhục ấy lại rơi vào gia đình dì, vào chính đầu dì.
Cuộc chiến đấu không hề kém quyết liệt, đau thương, mất mát... so với ngoài mặt trận đã đi đến kết thúc. Đảng ủy xã đã quyết nghị để gia đình chú Cầu phải nuôi đứa bé con chị Xuân. Kể cũng lạ, tình mẫu tử không hề làm cho chị Xuân thấy đau xót hay nao núng khi chị nhẹ nhàng giao đứa con cho dì Nghĩa. Còn chú Cầu không chối bỏ đứa con và thế là chú bị bắt ra huyện rồi phải đi tù ba năm. Không phải đi tù vì không có tòa án xét xử, mà chú Cầu bị đưa đi cải tạo giam giữ theo lệnh của nhà nước, vì tội hủ hóa với vợ bộ đội, làm mất ổn định, phá hoại chính sách hậu phương quân đội. Một lệnh là ba năm, nếu cần, có thể bổ sung bằng những lệnh ba năm khác tiếp theo.
Với bốn đứa con của mình, giờ đây, dì Nghĩa phải nuôi thêm một đứa con chồng còn đỏ hon hỏn. Khó khăn về cơm áo đã chất chồng, nhưng còn có thể vượt qua được, nhưng nỗi nhục nhã thì dì chỉ có thể chôn vào lòng. Đúng lúc ấy, chị Nga đem thằng Hận ra xã làm giấy khai sinh, như tôi đã kể.
Tất nhiên hết khóa ấy, dì Nghĩa của tôi không còn làm chủ tịch xã, hơn thế nữa, dì từ chối mọi công tác, xin ra Đảng để làm người dân bình thường nhưng lương thiện để nuôi những đứa con, như lời dì viết trong đơn xin thôi công tác. Cuộc đời của dì Nghĩa tôi sau này rất buồn thảm. Mãi sau này, cách đây vài năm, tôi về thăm dì thì dì bị mù cả hai mắt, ở với bà mẹ chồng, tức mẹ chú Cầu, chín mươi tư tuổi cũng bị mù. Chú Cầu đã bị chết trong khi đi cải tạo, do vết thương hình lưỡi hái xuyên từ bụng sang lưng tái phát. Còn đứa con của chú Cầu với chị Xuân đã về ở với mẹ, vì anh chồng chị Xuân đã hy sinh, năm ấy nó đã hai mươi hai tuổi, nhưng không xin được đi làm nhà nước, vì lý do gì đó. Còn chị Xuân thì không vui nhưng cũng không buồn lắm, chị vẫn thường qua lại với dì Nghĩa, nhận dì Nghĩa làm chị. Khi bà cụ mẹ chú Cầu chết, chị cũng góp một con lợn và hai mươi cân gạo làm ma, và đội khăn trắng. Tôi hỏi dì Nghĩa:
-Sao lúc làm giấy khai sinh cho thằng Hận, dì không hỏi cha nó là ai?
Dì cười, hướng dôi mắt nhắm tịt, ứa nước ra phía cửa:
-Hỏi làm gì hở anh? Đau khổ đến thế còn chưa đủ hay sao mà hành hạ nhau nữa...

***

Chị Nga của tôi lại túi bụi với công việc nhà chồng, để thằng Hận nằm lăn lóc một mình, thỉnh thoảng ông Tuân mon men lại gần, nựng nó, âu yếm nó, nhưng chỉ làm nó khóc toáng lên mà thôi. Mỗi lần nó khóc bà Tuân ở dưới nhà ngang lại rên lên dữ dội. Rên một lúc bà khóc anh Kỳ. Tiếng khóc não nùng, đay nghiến như vặt thịt vặt da người nào đó. Thì còn người nào nữa, chị Nga chứ ai. Ông Tuân lúc đầu để yên, nhưng sau phải vào tận nơi, chỉ vào mặt vợ:
-Bà làm cái gì thế? Có câm cái mồm lại không!
-Ối giời ơi! Con ơi là con! Kỳ ơi là Kỳ! Con đem thân đi chết vì nước vì dân, con có biết đâu ở nhà mẹ khổ như thế này!
-Bà thì khổ cái nỗi gì? Đã là cái cục nợ cho người ta còn không biết thân biết phận...
-Ối ông giời ơi! Người ta đang rủa tôi. Vâng, tôi là cái nợ, thế còn ông là cái gì mà ông giương mắt lên nhìn cái con gà cỏ ấy?
-Gà cỏ nào? Nó là máu mủ nhà này đấy!
Cuộc đấu khẩu bất tận bằng những tiếng khóc ấy làm cả làng lắc đầu. Rồi đến một hôm, hai người con gái lấy chồng thiên hạ bảo nhau kéo về một lượt. Chị Diệu về trước chị Thông một chút. Cả hai không nể mồm ra sức nhiếc móc chị Nga, là quân ngứa nghề đồ đĩ rạc. Đã thế lại ngang nhiên đem đứa con hoang về nhà chồng. Nếu ông Tuân không dọa tự tử treo cổ lên xà nhà thì họ đã đè chị Nga ra mà gọt đầu. Kể cũng lạ, chị Nga không nói, không khóc, đến gần trưa, chị xuống nhà ngang qùy sụp xuống lẫy bà Tuân bốn lạy, lên hè cũng lạy hai bà chị chồng cũng bằng tưng ấy cái, rồi lặng lẽ bế con, đậy cái nón mê lên mặt nó, ra cổng. Ông Tuân muốn đuổi theo nhưng hai bà con gái giữ ông lại. Họ cùng đứng ở giữa sân nhìn theo cái bóng chị Nga đi về phía cánh đồng cho đến khi khuất hẳn vào sau rặng tre bờ sông. Đến lúc ấy, ông Tuân đứng giữa sân ngửa mặt nhìn mặt trời chính ngọ đấm ngực đùm đụp:
-Giời ơi là giời! Nó là máu mủ nhà này đấy, các người biết không?
Hai bà con gái nhìn nhau, nhưng không nói gì. Mãi sau chị Diệu mới lên tiếng:
-Cứ để cho nó đi! Nhà này không cần cái ngữ ấy. Hai ông bà già đã có tiền liệt sỹ của cậu Kỳ sống hết đời lo gì mà lo?
-Phải đấy! Lúc này chị Thông, người con gái thứ hai, em của chị Diệu mới góp tiếng vào. Cậu Kỳ hi sinh là để lại quyền lợi cho thầy u, chứ chứa nó ở đấy ngày nó cướp mất đem cho giai. Lại còn nhà cửa vườn tược này nữa thì ai mà giữ. Chúng con lấy chồng ăn phận nhà chồng...
Chị Nga cứ lùi lũi bồng con đi về phía bờ sông. Thực trong lòng chị vẫn hi vọng ông Tuân cất lên một tiếng giữ chị ở lại, dù chỉ là đãi bôi. Nhưng không, không có ai, không có gì níu chân chị ở lại, ngoài những tảng đất cày và đám gốc mía từ vụ trước còn loi thoi gập ghềnh dưới chân chị.
Nơi bờ sông ấy là một khu bãi bồi gọi là Soi Vạt. Soi Vạt rộng chừng vài mẫu được người ta trồng tre bao để dòng sông Công khỏi lấn vào cánh đồng. Tre rất tốt và đặc biệt những bãi cỏ xanh mướt kéo dài suốt một triền bãi xen kẽ với những bãi cây bưởi bung. Tôi cũng không hiểu tại sao ngoài đám trẻ mục đồng chúng tôi ra, người lớn rất ít khi đặt chân đến đây, và Soi Vạt trở thành một thế giới riêng của chúng tôi, như là trong chuyện cổ tích. Vì là chuyện cổ tích nên ở đó thường hay có Bụt, có Tiên, và cả những mụ dì ghẻ ác độc và cả ma quỷ nữa, rất nhiều. Vào mùa nước nhỏ chúng tôi thường lùa trâu vào Soi Vạt và tha hồ vùng vẫy dưới dòng nước trong vắt của con sông miền Trung du. Chúng tôi say mê tìm những tổ cò lửa để lấy những cái trứng màu nâu đỏ trong những cái tổ sơ sài trong bụi dứa gai. Chán, chúng tôi lại xuống sông lật những hòn đá tìm những chú tôm ngái ngủ. Có khi bắt được một mớ, chất một đống lửa bằng cành tre gai mà nướng. Những con tôm sông chuyển dần sang màu đỏ au, thơm và ngọt. Những lúc như thế đám trẻ trâu chúng tôi, cả trai lẫn gái, nằm ngả mình trên cỏ thi nhau mơ màng. Chúng tôi có một thế giới tuổi thơ êm đềm trên cánh bãi Soi Vạt. Về sau này, khi chúng tôi lớn lên trở thành những chàng trai, cô gái bay túa đi nhiều phương nhưng dòng sông vẫn thế, vẫn êm đềm và bí hiểm như là trong một thế giới cổ tích bị lãng quên...
Từ hôm ấy, Soi Vạt là nơi trú ngụ của hai mẹ con chị Nga. Những tin tức của mẹ con chị Nga bay về xóm rất nhiều chiều, nhiều luồng và đứt đoạn bởi chủ yếu là do đám trẻ con mục đồng thuộc thế hệ sau chúng tôi đem về. Rồi một ngày, ông Tuân chống gậy lần theo những rặng tre ven sông. Nhưng ông đành thất vọng trở về, bởi vì hai mẹ con chị Nga không còn ở đấy nữa. Không ai biết chị đi đâu. Mãi một thời gian sau có một nguồn tin nói rằng, vào một đêm trăng suông, những người lấn mẹt trên sông nhìn thấy bóng người, một người mẹ ôm con ngồi trên một cái mảng nứa, trôi theo con nước về mãi dưới xuôi. Thế thì đúng chị Nga rồi! Buồn quá, sự đời nước chảy bèo trôi, chỉ thương cho chị Nga của tôi, cho người thiếu phụ thời nước non loạn lạc...

***

Từ sau ngày có tin mẹ con chị Nga đang giữa đêm khuya đưa nhau trên mảng nứa trôi theo dòng sông Công về mãi dưới xuôi xa tít mù khơi, dân làng Sơn Cốt chúng tôi được dịp rộ lên một chặp xung quanh "vụ cô giáo Nga" để rồi lại ắng xuống như dòng sông sau cơn lũ. Mỗi lần một người nào đó gặp ông Tuân chống gậy lẩn thẩn đi về phía Soi Vạt, họ lại lắc đầu đầy vẻ thương cảm. Thời gian trôi đi chậm chạp và nặng nề một cách tai ác... Một hôm như thế, ông lão Tuân đang trên đường từ bãi soi về làng, anh Định Khiểng, người giao thông xã, chuyên lấy thư từ, báo chí và các loại công văn của xã bằng chiếc xe đạp Phượng Hoàng tồng tộc tới. Nhìn thấy ông lão Tuân, anh Định rà phanh xe lại dừng ngay trước mặt ông lão:
-Chào cụ! Cụ đi đâu về mà nắng nôi thế này, nón áo chả có?
Ông lão từ từ ngẩng lên và từ từ cất giọng:
-Ừ! Thế ông là ai...?
Anh giao thông cười:
-Con đây mà cụ! Định giao thông đây...
Nhận ra người quen, ông lão chững lại một giây, rồi thều thào:
-Tôi có thư à? Hay là lại giấy báo tử?...
-Khổ quá! Làm gì có giấy báo tử nữa... Hoà bình từ mấy năm nay rồi! Các anh bộ đội ai còn sống thì đã về làng cả rồi!
-Ừ nhỉ! Ông lão Tuân cười nhợt nhạt, nhe hàm lợi khô, nhăn nhúm.
-Con có tin này cho cụ đây. Rồi giữa đường vắng, anh giao thông xã vẫn ghé sát vào tai ông lão, giọng thì thào, như sợ có ai nghe thấy. Con biết chỗ mẹ con cô giáo Nga ở rồi!
-Thế à? Ông lão giật mình, nói to lên bằng giọng reo mừng như quát. Anh thấy mẹ con cô ấy ở đâu? Họ có khỏe mạnh không?
-Cụ ơi, nho nhỏ thôi, không có các bà con gái cụ mà biết lại chửi cháu là đồ hóng hớt. Cháu không nhìn thấy, nhưng anh bạn bưu chính huyện thấy và tả lại thì con nghĩ đúng là mẹ con cô giáo Nga, chứ còn ai?...
Ông lão vịn một tay vào ghi đông xe đạp của anh giao thông:
-Anh chỉ chỗ cho tôi mới!
-Nhưng mà xa lắm, không phải ở tỉnh ta đâu!
-Xa là ở đâu?
-Bên Phú Thọ kia!
Ông lão chống cái gậy tre vào cằm, nghĩ ngợi:
-Phú Thọ à? Tôi biết. Hồi năm đi dân công lên Điện Biên tôi cũng đã đi đường ấy... Thế anh bạn của anh thấy cô Nga nhà tôi làm công việc gì?
Anh giao thông tỏ ra ái ngại:
-Con cũng không hỏi...
-Bây giờ anh ta ở đâu? Cho tôi gặp một cái được không?
-Vâng! Để hôm nào con mời anh ta vào nhà chơi, rồi con bảo cụ. Thôi, bây giờ con phải đem công văn vào ủy ban xã kẻo muộn. Mà này, cụ nhớ giữ kín chuyện này hộ con nhá!
Ông lão Tuân gật đầu hai ba cái rồi nhìn theo anh giao thông thọt chân đang dướn mình "nhảy-bê-đan" trên chiếc xe đạp tróc sơn đèo đằng sau lũng lẵng hai cái túi bạt lòi cả ra những tờ báo còn mới mùi mực in...
Ông lão Tuân bỗng thấy trong ruột gan bắt đầu có cái gì đó bào xé, nếu như trước đây nó chỉ âm ỉ sôi réo, thì bây giờ nó thật sự bào xé. Ông không thẫn thờ mà cảm thấy có ai đang đợi mình ở đâu đó. Ở đâu thì ông không biết, có thể là ở nhà, mà cũng có khi là ở một nơi nào đó xa thẳm. Hình như ông sợ chết! Nếu cách đây vài phút đồng hồ trước khi gặp Định Khiểng, ông chả còn thiết sống, ông coi lần ra với Soi Vạt này là lần cuối cùng, để rồi vĩnh viễn nằm lại trên chiếc chõng tre, chờ người ta gói ông vào tấm vải liệm. Ông sẽ ra đi mà trong lòng không thể thanh thản, nhưng còn cách nào khác đâu? Người già như ông làm sao lột da sống lại để trả các món nợ nhân gian!
Nhưng không! Định Khiểng với cái chân thọt nhảy nhoay nhoáy trên chiếc bút chì pê-đan đã đem lại cho ông một tia hy vọng mới! Hy vọng gì và làm thế nào để thực hiện nó thì ông chưa biết, nhưng ông biết chắc chắn là thế nào ông cũng phải gặp được mẹ con chị Nga của tôi. Đó là món nợ đời của ông. Ông nợ ai? Nợ anh Kỳ? Nợ chị Nga hay nợ thằng Hận? Tất cả, tất cả đã giằng xé ông trên con đường làng khấp khểnh toàn dấu chân trâu truyền nhau để lại.
Vào nhà, ông lão cẩn thận dựa cây gậy vào góc cột rồi ngồi vật xuống chiếc tràng kỷ long mộng. Nghe tiếng động, bà lão dưới nhà ngang bắt đầu rên to dần. Cả con lợn trong chuồng, cũng như một phản ứng dây chuyền, nghe tiếng rên của bà lão, nó hực lên một tiếng rồi bắt đầu rít. Cùng với sự nổi loạn đồng loạt ấy, bầy gà đang bới ngoài gốc rơm cũng táo tác, nhảy tứ tung vào trong sân, lên bệ nước. Ông lão Tuân đang rối ruột, càng thêm bực bội. Ông muốn làm một cái gì đó cho tan hoang cái cơ ngơi này đi, để khỏi nhìn thấy nó, để khỏi phải lo lắng cho nó... Ông vê điếu thuốc lào, châm đóm nhưng không hút ngay, que đóm cháy leo lên gần ngón tay, đến khi nó xém vào da thịt, ông lão thả nó xuống nền đất, ngọn lửa còn leo lét cháy một lúc nữa mới chịu tắt. Nhìn ngọn lửa bùng lên dưới chân mình trước khi tắt ngấm, vươn lên một sợi khói mảnh ngoằn ngoèo, ông lão bật cười. Ông đang có một dự tính, và châm que đóm khác. Điếu thuốc làm ông đê mê chừng vài giây, vài giây đồng hồ thoát khỏi căn nhà và những ý nghĩ.
Có tiếng động mạnh ngoài hiên, ông lão không buồn ngó ra cũng biết là ai. Đó là con Thảo, đứa cháu ngoại con gái đầu lòng của chị Diệu. Nó là một con bé mười ba tuổi, chưa trổ mã, người cao ngẳng, xanh xao. Từ ngày mẹ con chị Nga bỏ đi, chị Diệu bàn với cha mẹ:
-Thôi thế cũng là xong, là gọn, thày u khỏi phải bận tâm. Con thử về bàn với nhà, rồi chúng con sẽ cho cháu Thảo sang ở với ông bà. Trước là để cho có người ruột thịt, sau là để nó đỡ đần, cơm nước, thuốc thang cho bà...
Ông lão Tuân không buồn đáp, ông đang đau lòng, còn bà lão thì khóc nức nở:
-Ối Giời ơi là Giời! Có con trai mà không được nhờ, phải nhờ đến con gái với cháu ngoại! Giời bảo tôi thế có đau không?
-Cháu nào chả là cháu, bà cứ nói thế, chả trách! Chị Diệu gắt lên với mẹ. Giá kể thằng Thu nó lớn thì con cho nó sang, sau này nó sẽ là người trông nom hương khói cho ông bà. Tội cái, nó hãy còn bé, chả biết việc gì vào với việc gì...
Nghe đến đây, ông lão Tuân thấy trong ruột gan nóng ran, như thể ai vừa châm cái đóm vào:
-Thôi được rồi, không phải bàn bạc gì nữa, chị muốn thế nào thì cứ thế là làm... Nhưng mà cũng phải bảo chồng chị sang đây, cho tôi nói chuyện. Đấy, dinh cơ vợ chồng tôi và thằng Kỳ làm ra đấy, liệu mà trông nom. Còn thì hưởng, chả còn thì thôi, tôi nhắm mắt xuống đất, thì còn thiết cái gì. Nhưng cơ mà các chị cũng ác đức lắm...
Chị Diệu tỏ ra đã hiểu câu nói xa gần của bố, chị rời khỏi cái ghế đẩu sang ngồi đối diện trước ông bố trên cái tràng kỷ:
-Sao thày lại nói thế? Sao thày bảo con ác đức? Thế dễ thường cứ để cho mẹ con cô ấy ở đây là mát mặt lắm đấy chắc? Thày u già thì cũng phải chết, nhưng cơ mà còn chúng con, còn các cháu, cất mặt vào đâu được?
-Cất vào đâu ấy à? Việc gì đến các chị? Có mà các chị tiếc cái nhà này, tiếc cái mảnh vườn này... Tôi nói thật cho các chị biết...
Chỉ một tí nữa thôi là ông lão nói ra cái sự thật chết người, mà chỉ một mình ông cất giữ. Ông kịp giữ lại trong lòng. Nhưng ông sẽ giữ được bao lâu? Không! Nhất định ông phải nói ra, nhưng nói vào lúc nào và nói với ai, chứ không phải với những bà con gái tham lam, hãnh tiến và mưu mô giả dối này!
Chị Diệu khóc tấm tức, khóc nức nở:
-Sao thày lại nỡ nói thế! Chúng con chỉ muốn cho cha mẹ khỏi khổ! Chúng con có sung sướng gì khi cha mẹ đơn độc? Nếu cậu Kỳ còn sống thì thử cho chúng con cũng đã dám nhận nào...
-A, ra cái con này hỗn láo! Mày dám thách thức ông, thách thức bố mày à? Thằng Kỳ nó không chết thì ai còn nói làm gì? Nó còn sống mà về đây thì cho ăn vàng chúng mày cũng không dám ho he...
Thực tình, chị Diệu không phải là người xấu, ít nhất là trong trường hợp này. Cái lý của chị, cái tình của chị không thể chê trách, bắt bẻ chị được. Có điiều, ông lão Tuân đã giận quá, mất khôn. Trong lòng ông đang dào lên nỗi nhớ thương chị Nga và thằng con trai của chị, thằng Hận! Thế là niềm hy vọng, không, niềm tin, không, báu vật của ông đã vuột mất. Vuột ngay trước mắt ông, nhưng ông đã không giữ nổi, đau đớn hơn nữa là ông không dám giữ. Lúc đó ông là một người đàn ông, tồi tệ, một người cha hèn mạt. Rồi đây, ông sẽ ăn nói thế nào với tổ tông, cụ kị? Ừ, thì cứ cho là việc làm của ông với chị Nga là tồi bại đi! Thì đã sao? Ông đâu phải là con quỷ dâm dục, ông chỉ làm một việc là gìn giữ cái dòng họ của ông mà thôi... Ngay lúc này đây mà xảy ra cái chuyện hai bà con gái của ông xa xả đuổi mẹ con chị Nga, thì ông đã...
Cuối cùng thì ông cũng chấp nhận đề nghị của bà con gái là để đứa cháu ngoại, con chị Diệu sang ở với ông bà. Con bé tuy khờ khạo, nhưng được cái ngoan hiền, không dám cãi ông bà. Nhất là bà. Bà cụ Tuân sau nỗi đau mất con, bệnh tình của bà càng trầm trọng. Người đàn bà quê tôi thường không mấy người chịu ngồi nhà chịu cảnh tôi mọi để chồng nuôi. Bà lão Tuân vốn là một tay đi rừng, luồn măng, hái củi cừ khôi. Bằng ấy năm, khi bà chưa bị cái bệnh tê thấp đánh ngã gục, bà đã chèo chống cái gia đình vốn rất đa đoan, đáo để. Ấy thế mà khi bệnh tật, lao lực đánh bà ngã gục xuống, như là một trận hỏa hoạn, mọi cái đã tiêu tan... Cho nên bà đau đớn lắm. Đau thì bà phải kêu!
Thực tình bà thương con dâu lắm. Đời người đàn bà làm dâu có chồng bên cạnh đã khổ, đằng này mới cưới nhau được hai tháng thì chồng đi biền biệt vào nơi hòn tên mũi đạn, chẳng có ngày về. Thế rồi, bây giờ, chồng chẳng còn, con cũng không có, ở lại nuôi hai cái nắm xương ư? Thì nó phải phá ra, nó phải đi thôi! Nhưng, như thế thì oan uổng cho con bà, cho thằng Kỳ quá! Nó chết có nhắm được mắt không? Hả Giời!
Con bé Thảo lướt qua vách dừng, nó biết ông lão Tuân đã về, nhưng nó không có thói quen chào ông, mà chỉ lướt qua, đánh động để ông nó biết. Ông lão Tuân, sau phút say xiêu vẹo của điếu thuốc lào, gọi vọng ra ngoài sân:
-Thảo ơi! Lên đây ông bảo!...
Con bé rón rén vào nhà, ông lão e hèm mấy cái rồi hỏi nó:
-Bà ăn cơm chưa?
-Bà cháu ăn rồi ông ạ! Ông ăn cơm để cháu dọn lên...
Ông lão nhìn ra ngoai sân, cái cần kéo nước ngất nghểu trên miệng giếng, làm ông phân tán ý nghĩ, suýt thì ông quên mất cái ý định nói với nó lúc đầu. Ông "sùy" một tiếng đuổi con ngan đang lễ mễ trong sân giếng, thỉnh thoảng lại "phẹt" một bãi. Con bé Thảo thấy thế toan chạy ra, ông gọi lại:
-Đứng đấy ông bảo. Ông chưa muốn ăn cơm đâu, cứ để đấy cho ông. Bây giờ cháu về bên nhà bảo mẹ chiều qua ông nói cái này nhé!
-Mẹ cháu đi họp ngoài huyện ông ạ! Không biết đã về chưa...
-Ừ, cháu cứ về xem, nêu có mẹ mày ở nhà thì bảo sang ngay. Còn không thì bảo ông nhắn...
Con bé Thảo vào buồng, lúc sau vó đi ra với cái áo mới và cái nón trắng của chị Nga để lại. Nó lễ phép:
-Ông ơi cháu về!
Ông lão Tuân, chỉ tay vào buồng:
-Lấy xe đạp mà đi cho nhanh con ạ!
Khuôn mặt con bé Thảo chợt ửng lên. Nó sung sướng! Từ hôm nó sang ở với ông bà, nó nhớ nhà, thỉnh thoảng lại ra đống rơm nhìn ang bên kia sông, rớm nước mắt. Nhưng nó không để cho ông bà thấy, bố mẹ nó đã dặn là phải ở với ông bà, sau này ông bà sẽ lo cho... Lo cho cái gì thì nó chưa quan tâm, vì nó chưa hiểu. Nhưng cái xe đạp thì nó thích lắm. Đấy là chiếc xe đạp của chị Nga để lại, chiếc xe đạp Thống Nhất màu xanh nước biển, mà không chỉ con bé Thảo mà rất nhiều người mơ ước. Nó ao ước được leo lên chiếc xe đạp ấy lắm! Nó cũng biết đó là xe của "mợ Nga", mà mợ Nga thì đã đi rồi. Nó ở đây thì nó sẽ được đi thôi, con bé tin như thế. Nhưng chưa bao giờ nó được ngồi lên cái xe ấy, mà nó thì không dám hỏi. Thỉnh thoảng ông nó cũng lấy ra lau chùi chiếc xe bóng loáng, rồi ông đạp thử mấy vòng quanh sân, ra cổng rồi lại vào nhà, cất đi. Bây giờ thấy ông bảo thế, nó sung sướng đến nóng cả mặt. Chắc phải là việc gì quan trọng lắm, khẩn thiết lắm, ông mới cho nó lấy xe đi chứ! Xe của mẹ, dù mẹ là cán bộ xã, được phân phối nhưng cũng chưa là "cái đinh gì" so với cái xe nó sắp đi đây. Mẹ nó mà thấy cũng phải ghen lên chứ đừng nói gì mấy đứa em! Con bé Thảo cẩn thận nhắc cái xe từ trong buồng ra, nó dẫn ra hết sân rồi mới bước lên pê-đan. Tiếng líp tách-tách ròn tai lăn ra cổng...


0
Hi Phụng Hoàng

NĐ vô trể, chả thấy được Cánh Đồng Lưu Lạc. Sao edit bài vậy ta?

Cũng thích đọc Kẻ ám sát cánh đồng. Nhưng tìm hoài trên net không ra

Nếu được, PH có thể post lại truyện này cho NĐ xem ké. Cám ơn!!!

0
Nguyễn Đình thân,
-Thông cảm nhé, tại mình vụng quá, không biết cách đưa truyện lên. Thành ra cứ luẩn quẩn, post rồi lại xoá đi.
Cái CĐLL này có 17 đoạn (đúng ra nguyên tác không có chia đánh số đâu, nhưng mình hỏi tác giả, ổng OK, để tiện theo dõi). Từ từ mình post hết luôn.
-Cuốn "Kẻ ám sát cánh đồng" của nhà văn Nguyễn Quang Thiều phải không? Người ta làm thành phim "Chuyện làng Nhô" đấy. Đợi chút nghe, mình hỏi ông Thiều coi có bản "tinh vi", không. Nếu không, phải "đả tự" thì hơi lâu.
Thân.
PHỤNG HOÀNG
0
Thanks Phụng Hoàng!

- NĐ ngồi yên ở đây chờ PH post xong Cánh đồng lạc lạc rồi ôm về nhà một lần [:D]
- Còn Kẻ ám sát cánh đồng, đúng như Phụng Hoàng đã thông tin ở trên. Hiện nay, NĐ tìm ở hiệu sách nhưng không có cuốn này. Phụng Hoàng dò la ý kiến của nhà văn Nguyễn Quang Thiều nhanh nhanh lên nha. Hy vọng VNTQ sẽ có thêm cuốn sách này trên kệ của Thư Viện Sách.

Ohhh... Mà quý hoá thật. VNTQ lại có thêm thành viên Phụng Thuỷ có bà con với các nhà văn khá nổi tiếng VN.

Thêm nữa, PT đang "vụng về" điều gì? Có gì thì níu áo Ct.Ly, Nữ Hiệp để hỏi. Nếu là truyện sưu tầm từ các trang web khác thì post ở đây, nhớ ghi rõ tựa truyện, tên tác giả, nguồn (sưu tầm từ trang web nào). Còn nếu là truyện mà PT tự tay đánh máy, hay tương tự như xin bản word của nhà văn Nguyễn Quang Thiều vv... thì PT post sang mục Đánh máy truyện cho thư viện online rồi post vào đấy, nhưng cuối bài viết phải nhớ ghi rõ: Người đánh máy: Phụng Hoàng, hay là: Người gởi lên: Phụng Thuỷ và Người cung cấp bản gốc: Nguyễn Quang Thiều

Chúc Phụng Thuỷ có nhiều niềm vui !!!

0
ĐOẠN 7

Ngay sau ngày hòa bình, từ chiến trường miền Nam trở về, một trong những nơi tôi đến thăm đầu tiên là Soi Vạt.
Bao nhiêu lâu rồi nhỉ? Chỉ mới có mười năm thôi ư? Nhưng sao mà lâu thế, mà đằng đẵng thế? Và bất chợt tôi hiểu ra rằng, thời gian đối với mỗi con người, mỗi lứa tuổi và mỗi sự kiện, công việc cũng khác nhau. Thời gian chính là cái đồng hồ chỉ có mỗi một việc là quay tròn, tích tắc vô tư, vô hồn, còn con người thì lại dích dắc, ngoắt ngoéo, có khi thì là số phận đẩy đưa, mà cũng có khi lại là những mưu toan do chính mình bày ra và lao theo.
Bây giờ thì tôi hiểu ra rằng tại sao người lớn lại ít đến và ngại đến Soi Vạt. Chẳng phải ma mãnh, quỷ thần gì cản chân họ, mà cũng không phải là ở đó không có lợi lộc phì nhiêu, mà là do con đường. Nếu gọi là “đường” để vào Soi Vạt thì đó chỉ có mỗi con đường độc đạo. Khi rẽ xuống bờ sông, để đến cái bãi này, phải vượt qua cửa một con ngòi. Con ngòi này chảy ngoằn ngoèo qua cánh đồng Lưu Lạc, để đến khi đổ vào sông Công đem theo một ít phù sa, tuy ít ỏi nhưng cũng đủ làm nên một bãi lầy ngay cửa ngòi, mà ngoài con trâu ra, con người khó mà dám lội xuống. Tất nhiên người ta cũng có bắc một cây cầu, gọi là cầu Vông. Nhưng cây cầu Vông này là một hệ thống ống được làm bằng những cái thùng phuy đường kính độ sáu mươi phân, nối vào nhau để dẫn nước từ một cái “cọn” mãi đâu tận Làng Mương về cho cánh đồng Lưu Lạc. Với một “cây cầu” như thế thì chỉ có những người can đảm lắm, liều lĩnh lắm mới dám vượt qua! Đám trẻ mục đồng chúng tôi, đã lợi dụng thế hiểm yếu đó để lùa trâu vào bãi chăn, bằng cách ngồi chễm trệ trên lưng trâu, hò reo tấn công vào Soi Vạt, như thể đoàn quân chiến thắng, tiến vào tịch thu đất đai và chiến lợi phẩm. Có lẽ bọn trâu cũng thích thế, nơi đây có cỏ lúc nào cũng non, bao giờ cũng xanh mướt, có bóng mát của tre phù sa và nước sông trong xanh, ngọt lừ ngọt lịm, nên chúng băng băng lội qua đám bùn lầy, đến ngang bụng, và cũng có khi ngập đến tận lưng, chỉ thò có cái mũi lên thở phì phì!
Nhưng đó là chuyện của cách đây đã lâu. Vài năm trở lại đây, người ta đã bắc một cây cầu khác, tuy vẫn đơn sơ là tre, là gỗ, nhưng bằng phẳng, có bề rộng đô hơn một thước, để người đi bộ và gồng gánh có thể qua lại được!
Tôi trở về Soi Vạt trong bộ quân phục bằng vải Tô Châu còn khá mới, vì nó được phát ngay trước ngày chiến thắng để chúng tôi tiến vào thành phố hoa lệ, thủ đô của một chế độ khá hùng hậu về tiền bạc, vừa thất trận. Bộ quần áo ấy, vào thời ấy là sự sang trọng bậc nhất. Nó là hiện thân của sự vinh quang tột độ mà chúng tôi đem về quê hương. Cùng với bộ quần áo màu xanh huyền thoại ấy là chiếc mũ cối có ngôi sao vàng trên nền cờ nửa đỏ, nửa xanh, lại một biểu tượng nữa của một thế hệ thanh niên nhà quê chúng tôi. Có lần, tôi đã ngầm so sánh chiếc mũ cối với chiếc mũ kê- pi của người Côdắc sông Đông bên nước Nga xa xôi, khi nó tồn tại hàng mấy thập niên trong nhiều thế hệ như một thứ vinh quang và tiện dụng. Cái ông già Panchêlây thọt chân mừng như thế nào khi anh con trai bất trị Grigôri đem về tặng bố chiếc mũ lưỡi chai có viền một băng đỏ! Cha tôi không thích chiếc mũ cối , nhưng ông luôn thích tôi đi đâu phải có nó, có khi đội trên đầu và cũng có lúc ôm trước bụng một cách khiêm tốn và tự tin. Chính vì thế mà trước khi tôi trở lại miền Nam nhận tiếp nhiệm vụ mới, tôi đã bị mất cắp chiếc mũ cối rất đẹp mà nếu bán được rất nhiều tiền (đủ tiền mua vé ô tô hai lượt khứ hồi Sài Gòn - Hà Nội) tại ngay Hà Nội, thủ đô văn hiến. Chiếc mũ ấy tôi đã có ý định tặng lại cha tôi khi tôi ra đi! Nhưng khi tôi trở lại Soi Vạt thì chiếc mũ ấy chưa bị mất, và một chú bé chăn trâu có mái tóc vàng cháy và lớp da trên mặt nổi mốc nhìn tôi rất chăm chú, và khi nhận thấy chiếc mũ và chiếc quân hiệu xanh - đỏ, trên đầu tôi chú ta đánh bạo:
- Anh ở Miền về à?
Tôi bật cười. Miền là Miền Nam, một nơi hoàn toàn xa xôi, lạ lẫm với chú bé, nhưng có thể chú đã nghe đến Miền Nam suốt từ thuở lọt lòng đến giờ, thế mà chỉ với thời gian ngắn ngủi gần đây, chú đã kịp bắt chước những người đi buôn, gọi nó bằng một tiếng “miền” ngắn ngủn và xấc xược. Họ là những ông vua, bà vua trong việc sáng tạo ra nguồn từ vựng kiểu bến xe, bến tàu, chợ búa... bổ sung vào vốn tiếng Việt yêu dấu của chúng ta. Xe “miền”, vải “miền”, gạo “miền”... và giờ đây tôi là anh “miền” của chú bé. Tôi hơi bị tự ái, nhưng rồi nhìn cái vẻ ngây thơ, thất học của nó, tôi đâm rộng lượng, xoa đầu nó:
- Ừ! Sao em biết anh ở Miền Nam ra?
Chú bé không trả lời tôi, nó ỏn ẻn, chìa tay ra:
- Cho em một điếu thuốc “miền” đi anh!
Tôi không có thuốc “miền”! Đúng ra thì cũng có, nhưng từ hôm ra tôi đã đãi khách hết rồi, ai cũng muốn thử một điếu, nhà khói phì phèo, đưa ra một câu nhận xét ác cảm, rồi khi về cầm thêm một điếu làm quà.
- Anh không có thuốc “miền”, chỉ có Tam Thanh thôi...
Tôi chìa bao thuốc ra cho nó, thằng bé nhón một điếu, xin tôi lửa châm hít một hơi, nhăn cả mũi, rồi cũng thở ra đằng mũi, rất buồn cười. Làm như vẻ khoái trá, nó hỏi tôi:
- Sao anh không chết?
Tôi giật thót người, hiểu câu nó hỏi, nhưng chưa nghĩ ra cách trả lời, thì thằng bé hỏi tiếp:
- Đánh nhau ác liệt thế mà anh không bị hy sinh à?
Hóa ra thằng bé là người thẳng thắn nhất trong số những người mà tôi đã gặp lại trên quê hương mình từ ngày từ chiến trường trở về. Tôi về làng vào nửa đêm hai mươi sáu Tết, cái Tết đầu tiên sau ngày hòa bình. Một đêm rét cắt thịt da, gió rít điên cuồng trong các toa tàu đen xù xì, ghê rợn. Nếu trong những vinh quang mà người chiến sĩ được hưởng, thì được về phép vào dịp Tết là vinh quang được nhân lên gáp nhiều lần, cùng với niềm kiêu hãnh tột bậc. Trong niềm hãnh diện chung dành cho anh lính sáng bóng trong vòng hào quang chiến thắng, còn xen lẫn với niềm sung sướng được về quê ăn Tết. Việc con người tha hương dù là đi cầu thực, làm thuê cuốc mướn đi chăng nữa thì chuyện trở về đoàn tụ trong ba ngày tết là một niềm khát khao vô độ, huống là chúng tôi đi chiến đấu, đi giải phóng! Trong những ngày Tết vừa có thời gian để chơi bời, thăm hỏi, vì trong dịp này không ai đi làm, vừa có cái ăn, vì trừ ba ngày Tết dân làng mới thịt, mới có cơm không, còn lại quanh năm suốt tháng nhà nhà chỉ có cơm độn khoai sắn, và hiếm khi mới có tí... mũi, tức là mỡ lợn. Người làng đến thăm chúng tôi (cùng đêm ấy có hai chiến sĩ cũng trở về với tôi, nhưng vào những giờ khác nhau) như đi hội, như đi thăm một kỳ quan của làng. Những người lớn tuổi, ai cũng muốn chạm vào người chúng tôi một cái, để thấy đích xác rằng da thịt chúng tôi vẫn còn. Các cô gái đã vào tuổi lỡ thì, ngồi xen với những bà xồn xồn, thỉnh thoảng đưa con mắt hiếu kỳ pha chút khát khao nhìn chúng tôi đang xúng xính trong tư thế của người đăng quang. Còn các cô gái mới lớn, đang trổ mã, phô bày ngồn ngộn sức sống thanh xuân, rực rỡ thì không ngại gì mà cười ngặt nghẽo, đấm thùm thụp vào lưng, vào vai chúng tôi... Họ, những cô bé còn đầy mũi giãi và những cái áo xơ tướp, cái quần thủng đít khi chúng tôi ra đi!
Cũng có những người không có mặt trong những ngày đầu chúng tôi mới về. Đó là những người cha, người mẹ mất con, những người vợ mất chồng... Và, việc chúng tôi phải đến thăm những gia đình bất hạnh ấy vào ngày đầu năm mới là một đạo lý. Một trong những gia đình ấy là ông bà Tuân. Ông lão già xụm, nhưng vẫn tỉnh táo, tinh tường, chứ không ảo não, tàn tạ như bà cụ, co ro như một đống giẻ cũ nát trong góc giường. Bà cụ Tuân nhìn tôi bằng con mắt nghi ngờ, nhưng bàn tay bà lập cập lần theo cánh tay tôi, tôi cảm như bàn tay ấy mọc ra từ bức vách đất, gai gai;
- Nghe nói cậu có gặp anh Kỳ nhà tôi?
Tôi khẽ nắm bàn tay bà:
- Vâng! Anh em chúng cháu có găp nhau...
- Cậu thấy anh ấy thế nào?
Tôi đắn đo, chưa nghĩ ra cách trả lời bà lão. Đáng lẽ tôi phải nói thật rằng anh Kỳ gầy như một cây củi cành, với cái đầu trọc lốc, không có tóc, không còn cả lông mày... thì tôi lại nói:
- Lúc ấy anh Kỳ khỏe lắm, to lớn hơn cả lúc ở nhà!
Tôi thấy bàn tay bà cụ lỏng ra, nỗi đau đớn, thất vọng truyền sang cả cánh tay tôi. Một giọng nói đầy vẻ trách móc:
- Thế mà cậu không rủ anh ấy về cùng...
Tôi hiểu câu nói ấy như sau, rất rõ ràng: thế mà anh ấy chết, còn cậu thì lại sống!? Những con người làng quê của tôi là như thế đấy. Trong cái đau đớn, thất vọng tột cùng, họ cũng không nỡ làm tôi buồn.
Thằng bé tiếp tục rít thuốc, và lại ngẩng lên nhìn tôi, chờ câu trả lời. Tôi, khoác tay lên vai nó, hỏi:
- Mày con nhà ai, nhà ở đâu?
Nó thản nhhiên:
- Nhà em ở trong xóm! - Nó ngoảnh đầu vào rặng tre đen ngòm - Bố em tên là Tuất, anh có biết không?
- À, anh biết! Bố mày cũng đi bộ đội?
- Chết rồi! Báo tử rồi...
Nó trả lời một cách thản nhiên và kiên quyết. Tôi đoán, thằng bé không hề biết chết là gì, báo tử là gì, mà nó chỉ nghe qua lời người lớn. Nhưng bố nó không bao giờ trở về thì nó biết.
- Lâu chưa?
- Năm kia! Xã làm lễ truy điệu, to lắm, có cả bắn súng nữa!
- Năm nay mày lên mấy? Tên là gì?
- Em tên là Hợi, mẹ em bảo em 13 tuổi!
- Mẹ mày đâu? Ở trong xóm à?
Thằng Hợi ngọ ngoạy cái cổ cứng của nó trong tay tôi:
- Mẹ em lấy ông Sáu làm chồng rồi. Ông Sáu đánh xe trâu ở Đầu Cầu, anh biết không?
Tôi thấy tim mình như muốn nghẹn lại, cánh tay tôi xiết chặt vai thằng bé:
- Không biết! Mày ở với mẹ, với ông Sáu à?
- Em ở với ông ngoại, cả với dì nữa! Nhưng, em không ở trong xóm. Nhà em kia kìa...
Tôi nhìn theo hướng ngón tay đen nhẻm và gầy quắt của thằng Hợi. Sau hàng hàng lớp lớp rặng bưởi bung, là màu xanh ngắt của cỏ. Có mấy con trâu đang đủng đỉnh gặm cỏ, hai con nghé con thỉnh thoảnh lại lồng lên, rỏng đuôi, rồi lại lao vào vú mẹ. Dòng sông mùa này nhỏ lại, lấp lánh ánh mặt trời, rồi khuất vào một mô đất phù sa, như muốn giấu mình, không rõ là thẹn thùng hay đau khổ. Phía đầu soi, nấp dưới bóng một lùm tre phơ phất hoa khô là một cái chòi. Nhà thằng Hợi! Tôi khoác vai nó:
- Đi!
Chúng tôi men theo sườn một bờ tre gai đã bị chặt trụi, đất mùn giun đùn lên đen thâm nom như những hòn non bộ hoặc như những tòa lâu đài cổ của người A Rập. Tôi nhìn theo bàn chân trần của thằng Hợi đạp phứa lên những đám mùn giun mà thấy gai người. Một kỷ niệm kinh hoàng chợt kéo đến, khiến tôi hoảng hốt, la lên:
- Kìa! Cẩn thận, Hợi!...
Thằng Hợi phô hàm răng vàng khè, toàn một màu nhựa sắn, tro than, nhìn tôi lạ lẫm. Rồi nó bật cười:
- Làm gì có cái gì! Anh làm sao thế?
Tôi không bị làm sao cả, chỉ bất chợt thấy hốt hoảng mà thôi. Cái ngày 17 tháng 3 năm ấy tôi còn nhớ rất rõ và rất dai dẳng. Đó không phải là một trận đánh ác liêt, chỉ là một ngày bình thường, nắng gay gắt, trời trong xanh như muốn xuyên thấu tận đáy vũ trụ, thế mà chúng tôi mất đi hai chiến sĩ, còn tôi mất hai người bạn, đồng hương. Câu chuyện từ những đống mùn giun...
Tôi được điều động từ sư đoàn bộ về làm quân lực ở trung đoàn 32, lúc ấy đang đóng quân ở Tây Ninh. Là anh cán bộ quân lực, tôi có nhiệm vụ quản lý quân số, thiết bị, khí tài, vũ khí của trung đoàn. Chỉ ngày hôm sau bàn giao, đọc toàn bộ danh sách cán bộ chiến sĩ trong trung đoàn, tôi đã biết cậu Thanh, đang làm liên lạc, công vụ cho trung đoàn trưởng là người cùng quê với tôi. Quê Thanh ở xã Thanh Ninh, huyện Phú Bình, và đặc biệt hơn nữa, khi tôi vào bộ đọi, trong những ngày đầu huấn luyện, tôi ở ngay trong xóm của Thanh, chỉ cách nhà cậu ta có mấy nhà. Buổi chiều xuống bếp tập thể ăn cơm, tôi thấy một cậu lính trẻ, nhanh nhẹn nhận phần cơm cho trung đoàn trưởng cho vào một cái ăng- gô, anh nuôi gọi hắn là Thanh. Tôi bưng bát cơm của mình đến ngồi cạnh cậu ta, bắt chuyện:
- Cậu là công vụ cho thủ trưởng Sơn à?
Thanh nhìn tôi bằng cái nhìn khó chịu, không nói, tiếp tục gắp đũa rau muống vào bát. Thanh kém tuổi tôi, tuy nhiên, không hiểu sao trong quân đội, mọi người rất ghét cách gọi nhau bằng cậu. Mày tao là tốt nhất, lớn hơn là anh em, khi nào nghiêm trọng lắm mới gọi nhau bằng đồng chí. Tôi biết tính những tay công vụ, có người bảo hắn là “thủ trưởng con”, cái gì cũng biết, có khi rất hay “ra oai” với anhem. Nhưng thực ra, trong tâm cậu ta, một nỗi buồn mặc cảm làm người hầu hạ cho người ta, tuy nhiên, ông trung đoàn trưởng của chúng tôi đáng tuổi cha chú chúng tôi, lại là một con người nhân từ, có tâm, có tầm và có tài, có “hầu hạ” ông cũng là xứng đáng.
- Thanh ở Phú Bình à? Mình ở Phổ Yên đây...
Đôi mắt Thanh sáng lên:
- Thế à? Anh mới về quân lực phải không?
- Ừ. Này, tối rảnh rỗi qua chỗ mình nói chuyện chơi nhé. Thôi ăn đi...
Thanh nhìn tôi ngơ ngác, trong đôi mắt xanh biếc không tương xứng với nước da mái xanh của những trận sốt rét rừng quất lên chàng trai mười chín tuổi, chứa chất một cái nhìn khao khát, thèm thuồng rất làng quê. Tối, Thanh sang tôi chơi và cậu ta ngủ lại. Hai đứa chui chung vào một cái màn lỗ chỗ vết thủng của những mùa mưa ẩm mốc, Thanh thì thào:
- Mai em cho anh cái màn, thủ trưởng mới cho em, còn tốt lắm!
- Thế mày nằm bằng gì?
- Màn của em! Tuy có thủng vài chỗ nhưng còn tươm hơn của anh nhiều... Thanh kéo dài chữ “nhi...ề...u” một cách rất trẻ con, đúng giọng quê tôi. Từ đó, thỉnh thoảng Thanh vẫn sang ngủ chung với tôi. Hồi tôi đóng quân ở Thanh Ninh, cậu ta mới mười sáu tuổi, đang đi học cấp ba. Hai năm sau, Thanh nhập ngũ. Ở nhà chỉ còn, bố mẹ và người chị gái, anh trai Thanh cũng đang ở chiến trường, nghe đâu ở Tây Nguyên. Sáu tháng sau, bằng trình độ văn hóa và những thành tích của mình, Thanh được xét đi học lớp đào tạo báo vụ. Cậu ta mừng lắm, cứ nhất quyết cho rằng đó là công lao của tôi. Thực ra, đích thân trung đoàn trưởng, bảo tôi đề nghị lên trên cho Thanh được đi học. Trước ngày về quân khu hai hôm, Thanh xin phép xuống tiểu đoàn 10 gặp Tuyền, một cậu bạn cùng học để chia tay. Đến khuya không thấy Thanh về, tôi đâm lo, nhưng không dám hỏi. Mãi trưa hôm sau, buổi trưa cái ngày 17 tháng 4 ấy, một anh du kịch xã vào ban tham mưu trung đoàn. Mặt anh du kích tái nhợt, báo cáo với tham mưu trưởng trung đoàn, lúc ấy cũng có mặt tôi:
- Báo cáo các đồng chí, chiều tối qua, anh em du kích phát hiện ra hai xác tử thi, qua quân phục, chúng tôi biết là bộ đội chủ lực. Chúng tôi cho người đi báo các đơn vị quanh đây, nhưng chưa có người đến nhận. Đề nghi các đồng chí cho kiểm tra lại...
Tôi nghe anh du kích nói thế, linh cảm thấy có điều chẳng lành. Thanh vẫn chưa về là nguyên cớ gì? Ông tham mưu trưởng, lo lắng, nhìn tôi:
- Cậu cho hỏi tiểu các đoàn xem có ai ra khỏi đêm qua có anh em nào ra khỏi đơn vị không? Hỏi ngay đi!
Ngẫm nghĩ một lát, ông nói tiếp:
- Thôi để tôi báo với tác chiến! Cậu đi theo đồng chí này đến nơi xem thế nào. Thử cố nhận mặt nạn nhân nhé!
Tôi vội vàng theo chân anh du kích lên đoạn đường 22, nơi vắt qua một ngọn đồi nhỏ, hơi nhô lên. Gần đến nơi, tôi đã thấy thấp thoáng có những bóng người, có cả phụ nữ. Đến gần hơn, tôi nhận ra hai chiếc quan tài bằng gỗ mộc, được phủ lên bằng một tấm nilon mỏng màu xanh. Tôi lại gần nhìn thấu cả những mảng thịt và xương nhô lên trong lớp nilon bị nắng thiêu mềm nhũn, gần như trong sụốt. Mùi nước hoa, mùi nhang trầm trộn lẫn với mùi xác người chết tạo thành một mùi chết chóc rởn người. Tôi chào mấy người dân rồi đến đứng lặng trước hai cỗ quan tài đang hầm hập bốc hơi nóng và lấy hết can đảm cúi xuống, lật tấm nylon... Chỉ một chút thiếu bình tĩnh là tôi có thể nôn ọe ra. Một nửa khuôn mặt người sưng vù, rạn vỡ nham nhở vì một vệt chém toác ra không còn nguyên vẹn. Tôi vẫn nhận ra khuông mặt quen thuộc của Thanh! Những mảnh đùi, bụng, chân tay... đang động đậy, mà ngay lúc đó tôi chưa nhận ra những con giòi đã kịp làm tổ, mặc dù mới hơn mười hai giờ đồng hồ. Tôi cầm miếng nilon nóng hầm hập trên tay một vài giây, cố không để chân tay rụng rời, nhưng nước mắt tôi tràn ra, không sao cầm lại được. Tôi chưa gặp Tuyền, nhưng chắc chắn đó kà hai gương mặt mà tôi cần nhận dạng.
Tôi thả tấm nylon xuống, rồi ôm mặt ngồi gục xuống bên cạnh hai cỗ áo quan mà khóc. Lát sau, một người du kích già và một phụ nữ đen đúa, nắm tay tôi kéo ra một góc. Trời vẫn tiếp tục nắng gay gắt, trước mắt tôi những đốm hoa nắng nhảy múa chập chờn. Người du kích già nói với tôi:
- Chiều qua, tầm năm giờ, chung tôi nghe có tiếng nổ rất lớn, một cột khói dựng lên, lát sau, một tiếng nổ tương tự... khi chúng tôi chạy lên thì thấy hai xác người quấn vào nhau. Chúng tôi biết họ đã trúng mìn... Một anh còn nói được vài câu, mà chúng tôi hiểu là họ đi tiểu, vào quá sâu trong bãi mìn của địch gài lại từ hồi mùa hè đỏ lửa...
Đây là vùng đã được giải phóng từ hai năm trước, ngọn đồi vốn là một chốt điểm của địch. Khi quân ta tiến công, địch rút chạy, còn lại những trái mìn râu. Mìn râu là loại mìn sát thương cực mạnh, được chôn xuống đất, chỉ để thò lên ba sợi “râu” rất mảnh. Đã mấy năm qua, chốt này bị đốt cháy nhiều lần, nhưng những trái mìn giết người vẫn nằm im trong đất và được ngụy trang bằng những ổ mùn giun. Thanh và Tuyền rủ nhau lên Sa Mát chụp ảnh kỷ niệm, vì ở đây có một tiệm chụp ảnh, mà để đến được, hai người bạn đông hương của tôi phải cuốc bộ gần hai mươi cây số. Trên dường về, Thanh bụồn tiểu, đáng lẽ đứng ngay bên đường, vì trên đường chiều không hề có ai qua lại, nhưng vì thói quen xấu hổ của một chàng trai mới lớn, cậu ta đã đi sâu vào trong và gặp một trái mìn râu. Trái mìn đã hất tung Thanh lên, thấy thế, Tuyền thương bạn lao vào để cứu bạn, thì gặp phải trái mìn thứ hai... Và thế là cả hai người đã bị hai quả mìn hất tung lên, xé họ ra làm nhiều mảnh... Khổ thế đấy, trong chiến tranh, cái chết luôn được báo trước, nhưng không có cái chết nào là không bất ngờ!
Nhìn hai bàn chân thằng Hợi cứ phăng phăng đạp bừa trên ổ mùn giun, tôi không thể nào chịu nổi và hét lên. Thằng Hợi còn quá bé, lại ở khá xa nơi chiến địa, làm sao hiểu được những điều bất trắc? Khi nghe nó hỏi như giễu cợt cái tính nhát và tiếng hét hốt hoảng của tôi, tôi như tỉnh ra, chỉ cười:
- Ừ, anh nhớ lại một chuyện khủng khiếp từ ngày xưa ấy mà... Thôi đi đi, nhưng chú ý gai đấy!
Chúng tôi băng qua một đám cỏ xanh mướt, lác đác những bãi phân trâu, rồi rẽ xuống mép một vũng nước đầy nòng nọc, lại trèo lên một mỏm đất phù sa tiến về phía cái chòi. Thằng Hợi thoăn thoắt đi trước, thỉnh thoảng nó dừng lại ngó nghiêng nhìn về phía mấy con trâu. Nó chăn trâu hợp tác ăn công điểm, hai con trâu và một con nghé, được cả thảy ba trăm công một năm. Tính ra, công nó cao hơn cả người lớn, chỉ thua nhưng lão nông tri điền và cán bộ trong ban quản trị mà thôi. Nhưng nếu tính cả nguồn phân do hai con trâu và con nghé đem lại quy ra điểm thì cao hơn cả họ. Đó là chính sách ưu tiên cho nó, con liệt sĩ. Nhưng thằng Hợi không biết điều đó, nó chỉ thích được nghỉ học và một mình ra Soi Vạt chăn trâu. Những ngày cày cấy, nó phải đưa trâu về xóm cho thợ cày, chiều mới dẫn trâu ra Soi Vạt, còn những ngày rỗi, nó để trâu ngoài soi cả ngày lẫn đêm, và ở lại. Nó đem theo một ít gạo với sắn, một nhúm muối và tự túc hoàn toàn bằng tất cả những gì ăn được mà nó kiếm được. Nó là một chàng Rôbinxơn Cơruxô của chúng tôi.
Thằng Hợi dẫn tôi vào trong cái chòi, mà nó gọi là “dinh cơ” của nó. Tôi phải khom người thật sát xuống để khỏi cộc đầu, một căn lều thảm hại hơn cả cái chòi lính tạm bợ trong chiến tranh. Một chiếc giường tre nhỏ không có chân mà được kê lên mấy hòn đá tảng tròn nhẵn nó khuân từ dưới sông lên. Một manh chiếu rách gẫy nát, đen thâm và ẩm mốc, trộn lẫn với những mớ rẻ rách, tàn tích của áo quần, chăn màn. Góc lều là ba ông “đầu rau” cũng bằng những hòn đá tròn nhẵn đen nhẻm, một cái xoong nhôm quấy bột trẻ con méo mó, và một cái niêu đất xù xì nhưng rất chắc chắn nằm ềnh ệch ngay dưới chân giường. Khắp lều toàn mùn giun, cái thấp lù lù, cái cao ngất nghểu... như một cao nguyên đá, nhìn trong ánh ngày lờ mờ rất ngoạn mục, nếu tôi không bị ám ảnh bởi cái chết tức tưởi của hai thằng bạn đồng hương năm nào. Tôi nhìn chéo sang bên vách thủng. Ở ngoài ấy dưới gốc một bụi tre nền nhẵn nhụi, là nơi thằng Hợi buộc trâu vào ban đêm, có lẽ còn sạch hơn và ấm cúng hơn trong chòi. Tôi ngồi xuống cái giường, tuy thế lại khá chắc:
- Ai làm cho mày cái nhà này, Hợi?
Nó cũng ngồi xuống một hòn đá, xoay lưng ra cửa, nhìn tôi bình thản:
- Của cô giáo Nga để lại cho em đấy! Anh có biết cô giáo Nga không?


***

PHỤNG HOÀNG
0
ĐOẠN 8


Nghe có người báo con gái đến tìm, chị Diệu lật đật chạy ra cổng ủy ban xã. Nhìn thấy con bé Thảo lúng túng nhảy từ trên chiếc xe đạp bóng nhoáng xuống, mẹ nó hốt hoảng:
- Chết thôi! Ai cho mày đi xe đạp thế hả Thảo?
- Ông! Ông bảo con đi tìm mẹ về ông bảo gì ấy! Con bé Thảo thích thú đáp lời mẹ. Nó chệnh choạng dẫn chiếc xe định dựa vào thềm gạch, nhưng dựa mãi không được, làm cái xe suýt thì đổ kềnh. Chị Diệu chạy đến giúp con gái:
- Ông làm sao thế hả con?
- Ông không làm sao, nhưng cơ mà khi ông chống gậy lên Soi Vạt về bảo con đi tìm mẹ ngay. Nhanh lên, mẹ về ngay đi!
Chị Diệu ngẩn người không hiểu có chuyện gì. Lại Soi Vạt! Cái Soi Vạt chết tiệt này nó làm khổ ông bố chị đến bao giờ nữa đây? Mà ở đó có cái gì kia chứ! Chị chưa bao giờ đặt chân đến cái bãi sông bí hiểm ấy. Đối với chị nó như một cái cõi xa xăm nào đó, như trong chuyện kể về ma quỷ, về thần thánh mà trong mỗi con người ai ai cũng nghe, cũng biết, cũng có lo âu sợ sệt và hoan hỉ, nhưng chưa ai từng nhìn thấy. Cái bãi sông ấy chỉ hợp với những con người không bình thường, những con người có tuổi tác, có thân phận, có niềm hy vọng, có cuộc đời kỳ quặc, u mê. Từ ngày mẹ con cô Nga bồng bế nhau lên đấy ở, câu chuyện về Soi Vạt càng được người ta đồn đại, phóng to lên nhiều lần. Đã có những câu chuyện kể về những người đàn ông trong làng ra sông lấn mẹt vào những đêm mùa đông giá rét. Có lần một người nào đó đã bắt được một con cá to bằng đứa trẻ con lên ba. Nó bị quáng đèn và bị những tấm rào nứa ảo ảnh chặn lại không dám lao tới, để một cái dập chụp lấy, mặc dù nó hết sức cựa quậy nhưng không làm sao thoát được. Những người lấn mẹt đem nó lên bờ thì một người đàn bà không biết từ đâu chạy đến đòi. Chị ta bảo đấy là con mình, chị van xin họ hãy tha cho nó, đừng làm thịt nó, để chị nuôi cho nó lớn lên, nó sẽ thành một chàng thanh niên cao lớn, tuấn tú, nó sẽ ra chiến trường đánh giặc! Các người không tin ư? Hãy nhìn kia! Khi những người thợ lấn mẹt nhìn xuống thì không phải con cá, mà là một thằng bé con trần truồng đang nằm trên cỏ, thản nhiên mút tay và nhìn mọi người bằng con mắt ướt của loài cá, không kể gì đến cái rét tháng chạp tím thịt, cắt da. Họ, những người thợ lấn mẹt gan lỳ nhất trần đời cũng phải hốt hoảng, bỏ cả dập, cả giỏ, quăng đóm mà chạy. Người đàn bà cười nhẹ bế con lên đi về phía rặng tre, nơi có túp lều chăn trâu của thằng Hợi.
Rồi lại một câu chuyện khác, về chiếc máy bay Mỹ bị vướng vào ngọn tre rơi xuống Soi Vạt vào một buổi chiều. Thông thường, máy bay Mỹ bay rất thấp mỗi lần chúng muốn đánh vào thủ đô. Chúng bay men theo sườn núi Tam Đảo, dọc lòng sông rồi bất thần tăng đô cao vọt lên rồi từ đó bổ nhào vào mục tiêu mà ném bom hay bắn rốc- két. Một lần chả biết chúng bay thế nào mà một chiếc F105 to bằng cái gốc đa và cũng sần sùi, gai mấu, gớm ghiếc như thế quệt phải một cành tre. Cành tre níu lấy chiếc tàu bay, còn nó, cái con Thần Sấm hung hãn thì cứ gầm rú vùng vẫy, phụt cả khói đen ra đằng đít nhưng cũng không sao thoát ra được. Cuối cùng, nó ngã vật ra giữa lòng sông, vì thế nó không bị bốc cháy. Những người dân trong làng kéo nhau ra xả thịt con Thần sấm đem về bán cho cánh thợ đúc xoong, từ mãi dưới Thái Bình, Nam Định lên hành nghề. Tay nghề của họ thật siêu đẳng. Những chiếc xoong đủ các cỡ bằng đuya- ra từ máy bay Mỹ thật tuyệt vời. Vừa nhẹ, vừa sáng loáng, nấu cơm không bị cháy lại vừa bền. Có thể dùng đến năm mươi năm, hoặc hơn, một trăm năm mà không hề hư hấn. Nhưng có điều lạ là người ta không tìm thấy tên giặc lái đâu cả, dù là một mảnh xác hay một miếng vải quần áo của tên Mỹ. Xã, huyện đưa dân quân, du kích và cả bộ đội về săn lùng, rồi thông báo đến khắp mọi ngóc ngách người dân, nhưng không ai tìm thấy nó, dù chỉ là dấu tích. Lâu dần mọi người quên đi, thì bỗng dưng có người thấy đêm đêm có một cái bóng cao to gấp đôi, gấp ba người trong làng, trắng như người bạch tạng, lần mò dọc theo bờ sông mà bắt cá, ăn sống! Cái bóng người bạch tạng ấy là hồn ma hay chính là tên phi công Mỹ còn sống?
Những câu chuyện đó không ai tin, kể cả thằng Hợi gan lỳ một cách khác thường, trừ những chiếc xoong bằng đuya ra ai cũng trông thấy. Dù không tin nhưng ai cũng nghĩ là có khi có thật thì sao? Ấy vậy mà cô Nga dám bồng con lên đấy ở, có khi cô ấy đã là nhân chứng cho những câu chuyện hoang đường, ma mị của Soi Vạt. Không thế thì làm sao cô ấy sống ở đó được. Nhưng rồi, cô Nga và thăng con trai của cô phải ra đi. Hai mẹ con người đàn bà bất hạnh và ma quái ấy đi như thế nào cũng chẳng ai biết đích xác. Họ chỉ thấy ông lão Tuân ngày ngày vẫn chống gậy đi vào đấy, rồi lại trở về, y hệt một người dở hơi, không hồn, không vía...
Con bé Thảo nhìn mẹ nó đứng nhìn về phía cánh bãi đang vào mùa mía lên. Màu xanh phơi phới của những mầm mía đã bám được rễ vào cánh bãi phù sa, hứa hẹn một mùa mật vàng óng thơm lừng. Bất giác chị Diệu nhớ tới những đêm kéo mật rậm rịch tiếng chân trâu cùng với tiếng nghiến ken ken của trục kéo mía. Thỉnh thoảng tiếng giục trâu ậm ừ của người rong trâu cũng ngái ngủ như tiếng thở phì phò, mệt nhọc của con trâu. Tiếng nước mía chảy long tong trong thùng mật. Cànhg về khuya, tiếng người càng thưa dần, và trăng thì càng trong văn vắt. Mùa kéo mật, cả làng thơm lừng, thơm từ trong quần áo của thiếu nữ, đến da thịt của bầy trâu nhọc nhằn. Cả vầng trăng tháng một cũng thơm lựng, ngọt lừ... Vào một đêm như thế, chị Diệu sống lại với thời gian của thjời thiếu nữ... Những cánh tay đàn ông vạm vỡ, những bộ tóc bù xù khét năng, dinh dính mật mía và anh trăng mờ tỏ, thoắt ẩn, thoắt hiện trong bãi mía lao xao. Thời ấy đã qua. Chiến tranh mà hiện thân của nó là những Con Ma, Thần Sấm, vừa kinh tởm lạ lùng, vừa dã man điều độ rải từ trong bụng nó ra những quả bom li ti như thóc mạ, rồi ầm ầm trùm khói mịt mù xuống mọi nơi, mọi chốn. Cánh đồng mia chay tan hoang, xa hơn nữa, cánh đồng Lưu Lạc của làng chị lỗ trỗ hố bom và những ngôi mộ mới... Thế rồi, chiến tranh cũng phải đến ngày kết thúc, bao nhiêu thanh niên trai tráng không về, họ đem đi vĩnh viễn những cánh tay vạm vỡ, những mái tóc bù xù thơm và dính mật mía... Chị cũng thế, từ ngày theo chồng về làng bên này, chị cũng chưa một lần trở lại cánh đồng Lưu Lạc, nơi chị đã lớn lên, lần đầu tiên trong đời chị đã học cách cầm rảnh mạ cắm xuống bùn non! Rồi từ đấy, cây lúa của chị lớn lên trổ đòng đòng, đơm bông, chín gié, làm thành những hạt gạo trắng trong, nuôi sống con người...
Mải mê với những ý nghĩ chợt đến, mãi đến khi con bé Thảo nắm áo chị kêu lên:
- Mẹ...! Mẹ nghĩ gì thế?
Người đàn bà giật mình, trở lại với hiện tại. Chị kéo con gái đên bên thềm gạch dưới bóng mát của hàng xoan đào, gỡ những bông hoa cỏ trên tóc nó:
- Thảo này, con ở với ông có vất vả không?
- Không mẹ ạ!
- Con làm những việc gì?
- Thì cũng như ở nhà mình thôi. Nhưng cơ mà khổ nhất vẫn là lúc cho bà ăn, lúc bà đi đồng...
“Khổ thân con tôi!”, chị Diệu thầm kêu lên trong lòng, nó còn bé thế, chưa biết gì mà đã phải làm những việc như thế.
- Nhưng mà con cũng thích, thỉnh thoảng ông lại cho con đi xe đạp. Cái xe đạp của mợ Kỳ đẹp nhỉ mẹ nhỉ. Đạp nhẹ ơi là nhẹ!
Ừ, nếu như chị đừng quá quắt, đừng ghen ghét với mợ Kỳ, thì con chị đâu đến nỗi. Bất giác chị Diệu thấy ân hận, nỗi ân hận kéo đến làm chị sắp rơi nước mắt. Nhưng đấy là những giọt nước mắt thương con.
Tội nghiệp nó, mới mười ba tuổi đầu đã phải sống xa bố mẹ, xa các em. Chị Diệu thương con gái còn bởi nó chính là cái phiên bản, cái bóng của chị. Năm mười ba tuổi, chị cũng phải lìa nhà đi ở chăn trâu cho một nhà giàu có trong làng, chỉ vì ở nhà thì chị không biết lấy gì để ăn. Người giàu có trong cái làng Sơn Cốt bé bỏng của chúng tôi hồi ấy không nhiều, chỉ độ dăm bảy người, và cái mức giầu có của họ cũng không như những câu chuyện được mô tả trong sách vở, tiểu thuyết. Vì thế, con cái nhà bần cố nông nào muốn được xin vào để ở trong nhà họ cũng không phải dễ dàng gì. Và chính chị đã được nhận đi ở chăn trâu cho nhà ông địa chủ Đồng Giám. Chị Diệu còn nhớ mãi những buổi chiều đông xám xịt và gió rét cắt da, thổi ù ù, trên cánh đồng Lưu Lạc, một mình chị giằng co, vật lộn với hai con trâu không chịu về chuồng. Những giọt nước mắt cằn cõi và nóng rát tràn xuống hai gò má cô bé Diệu, rồi lại bị gió thốc ngược vào môi, vào miệng mặn chát. Xa xa, xa lắm , là cái vệt đen dài của làng. Thực ra thì cái khoảng cách giữa cánh đồng Lưu Lạc lồng lộng gió với chân làng không bao xa, nhưng với tuổi mười ba, côi cút, lưu lạc của chị, đó là cả một chân trời thiên hạ, mịt mù. Chỉ có một cậu bé, gọi ông chủ Đồng Giám là bác ruột, là thỉnh thoảng còn tha thẩn đến với chị, trong những lúc chị tủi thân bên đống rơm khô. Người đó chính là anh Quân, chồng chị bây giờ.
Từ khi xảy ra sự cố, nói đúng hơn là những sự cố liên tiếp xảy đến để đến giọt nước cuối cùng là sự bồng bế nhau ra đi của mẹ con chị Nga, cái ly nước buồn đau trong gia đình ông lão Tuân mới được ngó ngàng tới. Sự sụp đổ, gãy gục của ông lão Tuân và những tiếng than kêu rền rĩ của bà lão khiến cho ngôi nhà vốn nền nếp, cứng cỏi trở thành nơi trú ngụ của đau thương bi thảm. Không có tiếng người lớn, không có tiếg trẻ thơ, chỉ có tiếng rít ư ử của con chó thủy chung và tiếng gào thét của con lợn bị ruồng bỏ là tạo được cái âm thanh náo động của trần gian. Sự xuất hiện của chị Diệu, những tiếng xua gà, mắng lợn và những nhát chổi của chị đã cứu rỗi ngôi nhà. Chị tắm rửa, cơm cháo cho me, lòng thương mẹ của chị không sao lấn át được ý muốn tội tình của người đàn bà chán ngán. Bất chợt thoáng qua thôi nhưng bỗng dưng nó được neo lại trong lòng chị: chị mong cho mẹ chết! Ừ, sao chị lại có ý nghĩ mong đợi quái gở và phản phúc thế nhỉ? Biết là tội vạc dầu, cối giã sẽ đè ập vào chị, nhưng chị Diệu bắt đầu bị ám ảnh bởi sự sống, hay đúng hơn là sự tồn tại của mẹ mình chỉ càng gây ra bao khổ đau cực nhọc cho chị, cho bố chị và cho chính cả bà nữa... Chị vừa sửa lại cái sào gầu múc nước, vừa đưa mắt về phía căn buồng, nơi tiếng rên rỉ rền rĩ của bà mẹ phát ra. Đến bao giờ, bao gờ nhỉ, những âm thanh ai oán và rỉa rói ấy ngưng tắt? Đó là ngày giải thoát cho kiếp con người mong manh ma trĩu nặng dường bao!
Dường như không chịu đựng nổi cái ý nghĩ tội lỗi ấy, chị Diệu lặng lẽ nhảy lên pê- đan xe đạp, không một lời chào từ giã cha mẹ. Con đường liên xã vốn đã ngoằn ngòeo và lỗ chỗ chân trâu, vào lúc nhập nhoạng tối, càng trở nên gập ghềnh bao nỗi đã đưa chị về đến nhà. Ngôi nhà ấm cúng, yên thân của một cuộc đời người đàn bà giờ đây đã trở thành ốc đảo ích kỷ của chị Diệu. Chị càng yên thân, êm ấm và kiêu hãnh đến đâu, thì nỗi xót thương cho hoàn cảnh của cha mẹ càng dào lên gấp bội. Giờ đây, sau khi đã chui vào cái giường âm ẩm quen thuộc mùi nước đái của đứa con nhỏ, niềm hạnh phúc hân hoan quen thuộc của chị đã không còn nữa. Chị đã suy nghĩ, và sẽ phải đi đến một quyết định. Chị ngồi dậy quấn lại mái tóc búi thành một búi sau gáy, quơ mãi chẳng thấy cái kẹp đâu, chị cứ để như thế, một tay giữ cái búi tóc, đi ra gian nhà ngoài, nơi chồng chị đang ngồi, cộng trừ sổ sách. Nghe tiếng bước chân vợ, anh Quân, ngưng tay nhìn lên. Thấy dáng bộ quen thuộc của vợ, nó thường diễn ra như một tiếng nói báo hiệu, anh lại cúi xuống những con số công điểm, với vai trò của một con người tất bật, đầy trách nhệm. Chị khẽ khàng ngồi vào ghế, thả mái tóc dày xuống, nén một tiếng thở dài. Lần này anh Quân ngẩng lên, với một nụ cười của kẻ đã biết hết mọi sự.
- Anh làm sổ sách sắp xong chưa?
- Hứ, còn mấy chỗ rắc rối quá! Không ngủ được à?
Chị Diệu không trả lời câu hỏi cũng rất quen thuộc của chồng:
- Chiều nay em tạt qua nhà ông bà. Buồn quá...
Anh Quân buông bút, ngồi xoay hẳn lại phía vợ:
- Bà có đỡ được tí nào không?
Chị Diệu khẽ lắ đầu:
- Em nói câu này phải tội thật, nhưng sao em mong cho mẹ mình chết...
Nói chưa hết câu, chị Diệu ngồi gục xuống cánh tay tì trên cạnh bàn, khốc tức tưởi. Đang từ một tâm trạng phấn chấn, rạo rực, anh Quân rơi vào cái thế của nỗi buồn chạnh. Anh thương vợ và cũng một lòng thương cha mẹ vợ. Từ khi người em vợ là anh Kỳ hy sinh, nỗi ám ảnh, mặc cảm càng như day dứt, cư cứa trong lòng anh. Nỗi mặc cảm của người trốn chạy, mà thực ra không phải mà cũng không thể là lỗi của anh. Trong khi cuộc chiến tranh đang ầm ầm đổ xô xuống từng mái rạ, gốc cau, mâm ăn, giừơng ngủ, từng mỗi gia đình, mỗi thân phận thf anh, như một người ngoài cuộc, người rảnh nợ. Lý do rất đơn giản: anh là cháu gọi địa chủ Đồng Giám bằng bác ruột. Trong những cuộc tuyển quân rầm rộ, người ta không màng đến anh. Lúc đầu anh xấu hổ, nhưng rồi anh Quân chợt nhận ra đó là sự may mắn của mình. Sự may mắn có phần ác độc ấy đôi khi làm anh cũng nhoi nhói, nhưng rồi cũng tan nhanh, nhất là khi bom đạn và những chiếc Con ma, Thần sấm gầm rú trên vòm trời. Chỉ từ khi những tờ giấy báo tử lạnh lùng đầu tiên được gửi về xã, với những tên họ quen thuộc của làng, trong lòng anh Quân bắt đầu nhói lên sự mặc cảm. Đến tờ giấy báo tử của Trần Tuấn Kỳ thì sự lẻ loi, đơn độc và cả sự khinh bạc nhẹ nhàng, âm ỉ từ những con mắt, những câu nói vừa xót xa, vừa ngạo mạn của những người mẹ, người vợ có chồng con ra trận, cứ như xoáy vào đâu đó đằng sau lưng, mà có khi vào cả trước mặt anh. Anh không chịu nổi nữa, anh làm đơn tình nguyện nhâp ngũ, một lần nữa, lần này xa hơn, cao hơn: huyện đội! Nhưng vẫn vô vọng, không ai đáp lời anh, đáp lại sự đau khổ của anh.
Nhìn người vợ cứng cỏi, rất đanh thép của anh đang rũ xuống trên mặt bàn, anh Quân quên hết những phiền muộn mà chị đã gieo cho anh. Đã có lần, chị nói với anh một cách vô tư cay độc:
- Tại anh đấy! Nếu anh không phải là cháu địa chủ, anh cũng bình thường như mọi người thì tôi đâu đến nỗi, thiệt thòi, tủi nhục...
Lần ấy, anh Quân đã bỏ nhà ra đi, nhưng không phải vì anh bỏ đi mà người ta bầu chị Diệu làm phó hội trưởng hội phụ nữ xã. Lúc ấy, bà dì tôi, chủ tịch xã đã phải can thiệp:
- Cô không làm cán bộ, cô vẫn phải là người mẹ người vợ. Cô hãy đi tìm gọi chú ấy về. Rồi đảng ủy sẽ bố trí cho cô một công tác phù hợp!
Dường như chị Diệu đáo để, mà chị đáo để thật, đã có phần tỉnh ra khi anh Quân trở về. Cho mãi đến lúc phải xua đuổi mẹ con chị Nga ra đi, thì chị lại hiện ra như một con người đanh thép. Giờ đây con người đanh thép ấy đang rũ xuống, như một tấm áo không giá. Anh Quân lay vai vợ:
- Này, thôi dừng khóc nữa, nghe tôi bảo này...
Chị Diệu ngoan ngoãn như một đứa trẻ có lỗi, ngẩng lên vén mái tóc ra sau gáy, nhìn chồng:
- Anh bảo thế nào bây giờ?
Quân đứng dậy, đi vòng sau lưng vợ, ra cửa, nhìn ra bóng tối mịt mùng, rồi quay vào:
- Ta cho con Thảo sang ở với ông bà một thời gian...
- ...?!
- Tuy nó còn bé nhưng cũng giúp cho ông bà được những việc vặt, duổi con gà, trông nồi cơm. Với lại ở bên ấy nó đi học cũng gần trường hơn...
Chị Diệu đã thôi khóc, để suy nghĩ đến một sự việc nghiêm trọng hơn. Làm sao con bé Thảo làm nổi những công việc gọi là lặt vặt ấy? Bất giác chị nhớ lại cái tuổi mười ba và những cơn gió rít quay cuồng trên cánh đồng Lưu Lạc.
- Đừng, đừng để con bé phải khổ...
- Sao lại khổ? Nó về ở với ông bà chứ có phải đi ở kiếm cơm như ngày xưa đâu?
Ngày xưa ư? Ngày xưa khổ nhục, ngày xưa thương mến đã qua rồi. Chị Diệu bỗng quay loại ôm choàng lấy anh chồng, hai vạt áo anh Quân đầm nước mắt của vợ. Hình như họ cùng biết ơn nhau.
Chị Diệu nhìn con gái bằng cái nhìn lo lắng:
- Thế mỗi lần lên Soi Vạt về, ông có nói gì không Thảo?
Con bé phụng phịu lắc đầu:
- Ông chẳng nói gì cả, chỉ ngồi ở hè, ngửa mặt lên nhìn trời. Con thấy sợ lắm. Mẹ ơi, hay là mẹ cho con về nhà đi...
Người mẹ thảng thốt:
- Ừ, để mẹ bàn với ông...
- Sao ông lên Soi Vạt mà không bảo mợ Kỳ về nhà?
- Mẹ không biết nữa! Hình như là mợ Kỳ bỏ đi rồi...
- Đi đâu hả mẹ?
- Mẹ không biết!
- Mợ ấy có đưa em bé đi không hả mẹ!
- Có...!
- Em bé của mợ Kỳ có giống em bé nhà mình không hả mẹ!
Chị Diệu cúi xuống nhìn con, xẵng giọng:
- Cái con này, hỏi gì mà hỏi nhiều thế? Đi mà hỏi ông ấy!
Con bé Thảo cụt hứng, nó phụng phịu nhìn mẹ bằng con mắt hờn dỗi:
- Mẹ có về không? Con về trước đây, kẻo ông sốt ruột...


PHỤNG HOÀNG
0
ĐOẠN 9


Tôi vẫn không biết, mà cũng không dám hỏi thầy Hoan rằng, trong những ngày hoạn nạn của chị Nga, tức là những ngày chị Nga bồng bế thằng Hận lên Soi Vạt trú ngụ, thì thầy Hoan làm gì, làm thế nào, sống như thế nào? Nhưng những mẩu chuyện vụn vặt trong mối giao tình giữ thầy Hoan và ông lão Tuân thì tôi đã được nghe kể.
Sự đối trọng căng thẳng, quyết liệt và cũng rất cân bằng giữa một bên là thầy Hoan, một ông giáo làng đã hồi hưu, chẳng giữ một vai trò gì trong cái làng Sơn Cốt bé bỏng, nghèo nàn, nheo nhóc..., nhưng thầy Hoan của tôi lại tồn tại như một thứ cây thảo mộc cổ thụ, luôn tiềm ẩn những vị thuốc, tuy không quý giá, mà đôi khi cần người ta vẫn nhớ đến. Bên kia, là ông thông gia, cụ Tuân, một lão nông chi điền chất phác với người ngoài nhưng lại rất uy nghi, pha thêm cái chút láu cá tiểu nông trong cư xử với người thân, trong làng xóm, trong họ mạc. Nếu thầy Hoan là một thứ cây thảo mộc ít rễ, dễ ăn, dễ sống, dễ bị lung lay trước cả những cơn gió heo may... thì ông lão Tuân như một cây ổi già trong vườn tạp bị trẻ con leo trèo, quần thảo, lá cành tơi tả, khiến nó sinh ra những quả chua ngắt, nhưng mà bền chắc, vững chãi đời đời.
Chiến tranh đối với hai ông già chẳng qua chỉ là một cuộc chém giết, đầy đọa, giành phần hơn thua đã... quá quen thuộc. Thế nhưng nỗi đau thì âm ỉ, cứa vào từng mạch máu nhỏ li ti, trong mỗi khoảnh khắc của miếng ăn giấc ngủ. Hai ông già thương nhau như hai con thú già cùng tồn tại trong một cái cũi, một cái đích: đó là anh Kỳ . Chỉ có những con thú già, trải qua bao nhiêu bẫy cạm mới biết thương nhau, nhưng dù sao, vì những biến động của thời cuộc, của con cái, khiến hai con thú già ấy không thể nào nhập vào nhau được.
Một buổi trưa hè nắng gắt, nắng đến nỗi đường làng cũng chẳng thấy một mống người nào. Vào lúc ấy, ông lão Tuân, trên tay cầm một cái gói nhỏ gói bằng giấy báo, phăm phăm đi tắt con lạch nhỏ qua một bãi tha ma vài ngôi mộ vô chủ, vắng ngắt hơi người đến nhà thầy Hoan. Đây là cuộc gặp mặt cuối cùng, là ông lão Tuân dự định như thế. Vì là lần cuối cùng nên ông lão Tuân sẽ dự định nói tất cả những gì cần phải nói cho ông bạn già, một người thông gia và... là gì nữa, cũng phải nói ra, cho bằng được, bằng hết và bằng đúng. Căn nhà lợp lá cọ, dặm lại bằng những mảng lá mía, từng mảng theo thời gian cũng đã gần hòa hợp sắc màu, thả dài xuống giọt ranh cợp xuống như mái tóc tang hiện ra trước mắt ông lão. Phải đến vài phút đồng hồ tần ngần, ông lão mới gọi cửa, tiếng gọi cũng dè dặt, thẽ thọt:
- Ông giáo ơi, ông giáo? Ông giáo có nhà không?
Thầy Hoan, lúc bấy giờ đang giấc ngủ trưa. Trong cái mơ màng của tiếng ve sầu sà sã, thầy có cảm giác như một tiếng gọi từ cõi hoang vu, thăm thẳm vọng đến...
- Ới, ông giáo! Ông giáo Hoan...
Ai nhỉ? Ai trong cõi u minh đang gọi tên ta. Thôi được rồi, ta đi đây. Ta chẳng còn gì để lưu luyến nữa, ta đã lưu lạc quá nhiều. Ta đã để mất quá nhiều. Ta đã nhận được quá nhiều... Nhưng mà ai đã gọi ta, mà sao không mở mắt ra nổi. Một quầng sáng chói gắt cứ chấp chới tiến gần đến làm cho tay chân tay ta cứng đơ. Phải vật mạnh, phải quẫy mạnh để thoát ra...
- Ông giáo ơi, tôi đây....
Tiếng gọi đã tiến vào đến cửa sổ, thều thào, đứt đoạn, nhưng khá rõ ràng... Thầy Hoan vùng vẫy một cách tuyệt vọng và quyết liệt. Trong một khoảnh khắc thầy hất mạnh được cái quạt bằng mo cau nằm trên ngực ra. Thế là cuộc sống thực tại ùa vào. Nóng bức và mùi ẩm mốc trong căn nhà chật chội nhưng vô cùng yêu dấu thân thuộc đã giúp thầy tỉnh lại. Thầy ngồi dậy ngó cổ ra cửa sổ và không khỏi kinh ngạc khi nhận ra ông lão Tuân. Hơi vội vàng, thầy Hoan đi ra phía cửa cái, lật bật rút thanh then cửa, mở rộng cánh cửa ọp ẹp, hơi cúi xuống, có phần lễ phép:
- Cụ sang chơi? Mời cụ vào nhà...
Ông lão Tuân cũng cúi xuống đáp lễ:
- Ông giáo nghỉ trưa, tôi sang thế này phiền quá...
Thầy Hoan ngạc nhiên thấy ông lão thông gia hôm nay cũng biết trình bày câu nói của mình một cách lịch lãm đáng kể.
- Không có gì đâu cụ ạ. Tôi mệt quá, nằm thiếp đi một chốc. Chứ dạo này ăn uông ngủ nghê kem lắm...
- Vâng! Cánh mình già quá rồi...
Thầy Hoan xúc ấm pha nước, đãi khách, đó là theo lẽ thường mà cũng là theo lệ tục. Càng quý, càng trọng, càng cẩn thận. Trong lúc lúi húi dưới bếp, với ngọn lửa ốm yếu và sức nóng của trời hè, thầy Hoan đầy mồ hôi và nghĩ ngợi. Ờ, mà sao giữa trưa nắng nôi bức bối thế này mà ông lão đến, chắc hẳn phải là điều hệ trọng? Mà hệ trong nhất của ông lão là gì nhỉ? Với ông lão Tuân, cái gì mà không hệ trọng! Bấy lâu nay, không khi nào thầy Hoan không nghĩ về ông lão. Cứ nghĩ đến chị Nga, thầy trào nước mắt, rồi lại nghĩ đến ông bố chồng chị. Cái cuộc trao đổi vắn tắt, với vẻ hỗn xược của cô con dâu và ông bố chồng làm ông giáo già ngạc nhiên. Chuyện gì đã xảy ra? Chuyện gì đã xảy ra giữa hai con người, một cha, một con, một già, một trẻ?
Kể từ khi sinh thằng Hận, rồi bế nó lên uỷ ban xã làm giấy khai sinh, chị Nga chưa một lần đưa con về thăm thầy Hoan. Chị đi như để chạy trốn, để chết. Và kể cả những lúc hai mẹ con chị ẩn náu ở Soi Vạt, chị cũng không về với cha. Thầy Hoan thì không đi đến đó được. Thầy không dám đi và cũng không thèm đi, mặc dù thầy rất muốn đi. Thế rồi một lần duy nhất, chị về nhà một mình, không bế theo con. Đó là lần chị về để từ giã bố, nhưng thầy Hoan không biết rằng đó là lần cuối cùng cha con gặp nhau. Buổi sáng hôm ấy, hai bố con chị Nga đã khóc đến cạn nguồn nước mắt. Không nói, hai cha con đã không nói với nhau một lời nào. Dường như nước mắt đã nói tất cả. Thầy Hoan khóc vì thương con, vì giận con, vì đau cho con. Cứ mỗi lần thầy định cất tiếng nói thì một cái gì đó thê lương cấu cắn lại chẹn lấy ngực thầy. Thầy như nghe thấy tiếng con gái: “Thôi, nói gì nữa, cha ơi!”. Chị Nga đã gục vào lòng cha để khóc, như thể chị muốn giấu đi tất cả nước mắt, và cả tiếng khóc, mà nếu được thả ra nó sẽ kinh động đến kiếp nào. Chị rất muốn kể lể với cha tất cả những gì đã đẩy đưa số phận mình, nhưng lại thôi, lại nuốt đi, cho qua bữa ăn đầy kiêng cữ của số phận dành riêng cho chị. Chị biết rằng, trên đời này, nếu có một người nghe chị kể ra thì đó là người duy nhất: cha mình. Chị không sợ, không xấu hổ, cũng không phải vì muốn giấu. Chị sợ nhất là sẽ làm cho cha mình đau. Cái lần ông lão Tuân đến thăm mẹ con chị trong lúc thằng Hận còn đỏ hỏn, một câu nói của chị với ông lão Tuân, bố chồng chị, cha của đứa bé nằm trong đụn giẻ ấy, làm thầy Hoan đã ngất lịm, vì ngờ vực. Chị biết là cha mình đã nghi ngờ, đã lờ mờ nhận ra người cha của thằng bé. Nhưng chị không thể nào nói ra được. Sự nghi ngờ làm người ta đau khổ, nhưng sự thật còn đau khổ hơn!
Nhìn bóng dáng con gái đi lại, lục lọi tìm kiếm, xăm xoi tất cả mọi ngõ ngách trong căn nhà. Chị có tìm gì đâu, chị chỉ nhìn, chỉ ngửi, chỉ sờ mó mọi thừ trong nhà. Cuối cùng chị chỉ mang đi con dao nhỏ mà người mẹ bí hiểm của chị để lại. Trong lúc thầy Hoan đang ngồi như một vị tu hành thoát xác, thì chị Nga quỳ xuống trước mặt cha, tay nâng con dao được bọc trong một mảnh vải chỉ để hở ra cái chuôi sừng đen bóng, lên ngang mày. Thầy Hoan hiểu ra, thầy hiểu cả, khẽ gật đầu. Lúc đó, chị mới đặt con dao sang một bên, dập đầu xuống nền đất ẩm, lạy cha đủ bốn lạy. Chị ra đi, cầm theo con dao. Chị đi giật lùi, ra đến cửa, chị còn cúi đầu chào cha một hồi lâu. Thầy Hoan vẫn như người vô hồn, nhìn ra giữa nắng. Cho đến lúc, chị Nga khép cánh cửa lại, bóng mờ ùn vào, thì thầy như sực tỉnh. Thầy vụt đứng lên, bước chập choạng ra cửa, nhìn theo tấm lưng áo bạc sờn của con gái. Ngày hôm sau, có tin đồn, chị Nga đã đưa con đi xuôi theo giòng sông Công, trên một bè mảng nứa. Thầy biết, thầy đã mất hẳn người con gái duy nhất, người thân ruột thịt cuối cùng...
Có một câu hỏi cứ chờn vờn, chỉ trực bật ra, nhưng rồi thầy Hoan lại có kìm giữ lại được. Chỉ đến khi biết là chị Nga sẽ không bao giờ trở lại, thì thầy cảm thấy hối tiếc; Thằng bé là con ai? Nó dứt khoát sẽ phải có một người cha, nhưng người đó là ai? Là ai thì chỉ có mẹ nó mới biết được, mới có quyền nói ra. Đu thầy là cha của chị Nga, thầy cũng không có cái quyền căn vặn, nếu chị không muốn nói. Và sẽ mãi mãi chuyện đó không được nói ra... Và, thầy tự nghĩ rằng, nếu không được giải đáp câu hỏi ấy, chắc gì thầy đã đủ can đảm để lìa xa cõi đời này!
Ấm trà đã được đem lên bày trên chiếc bàn gỗ mọt sứt sẹo. Cái bàn thì ghẻ lở là thế nhưng bộ ấm chén thì lại sáng bóng, và hương chè thì lại càng thơm lừng. Dân làng tôi may mắn trời cho có thói quen uống chè ngon, chè tự tay mình sao lấy, gọi là sao suốt. Sao suốt nghĩa là rang chè bằng chính bàn tay mình, rang ngay từ khi chè vừa được hái từ ngoài vườn đem vào, không chậm trễ, và cũng không hề trải qua bất kỳ một động tác nào. Chè như thế mới là tinh khôi. Khi chè đã bắt đầu héo, chảo đã nóng ran thì dùng một cái móc sắt thay cho bàn tay để tiếp tục sao, khi nào nghe có tiếng vang, nghĩa là búp chè đã khô, rơi vào lòng chảo nghe “roong roong”, thì đem ra xảo trên một cái rổ bằng cật tre đan thưa, để lựa ra cái phần trên rổ sao tiếp. Cái phần đã lọt rổ thì đem sàng trên một cái sàng gạo, để lấy phần chè tốt, còn cái phần lọt khỏi sàng là loại chè thứ phẩm, gọi là chè ban.
- Cụ xơi nước! Nhà neo quá, tôi chỉ có chè ban, bên nhà ông Quang cho!
Nhà ông Quang, tức là nhà tôi, chè do mẹ tôi sao, thỉnh thoảng đem sang biếu thầy Hoan, nhưng thầy không lấy chè búp sao, loại tốt nhất ấy, bảo để bán mà đong gạo. Thầy chỉ xin nhận chè ban, nếu không, thầy Hoan sẽ không bao giờ lấy. Còn mẹ tôi, tôi chưa bao gờ thấy bàn tay bà trắng trẻo, lúc nào cũng thâm đen, đấy là do nhựa chè bám vào, rồi sáng mai lại ra cánh đồng đi cấy, sục vào bùn, lập tức trở nên đen xậm.
- Che ngon quá ông giáo ạ! Ông lão Tuân khen một câu, vừa chân tình, vừa khách sáo. Vì chè ban chẳng bao giờ là thứ chè ngon, cũng ngon, nhưng chẳng bao giò ngon lắm, vì nó lẫn cả những búp chè đã bị cháy. Dứt khoát, khi uống, phải có mùi khét khét. Nhưng là lời khen chân tình thì cũng đúng, vì nhà ông lão Tuân còn neo người hơn, từ khi chị Nga đi, vườn chè đã bỏ hoang, vả lại cũng chẳng có người hái, sao. Từ lâu, ông lão chỉ còn uống nước chè tươi...
Hai ông già vừa kê cái chén vào miệng vừa nhìn nhau, như thể hai đối thủ đang lừa nhau trên xới vật, cho đến khi cả hai cùng đặt chén xuống mặt bàn, đều đến nỗi, hai tiếng cạch nhỏ, khô khan cùng hoà làm một. Rốt cuộc, vẫn là tiếng thầy Hoan cất lên trước, phá tan cái bầu không khí im lặng, ngột ngạt:
- Cụ bà bên nhà đỡ nhiều chưa hả cụ?
Ông lão Tuân đáp lại câu hỏi của thầy Hoan bằng một giọng ngùi ngùi: - Vâng, cám ơn ông giáo, bà nhà tôi cũng đỡ được đôi chút, nhưng xem ra, càng ngày bệnh tình của bà ấy càng trầm trọng.
- Cũng gay go đấy cụ nhỉ. Thế mọi chuyện cơm nước trong nhà bây giờ ai lo hả cụ?
- Có con bé cháu con gái nhà mẹ Diệu nó sang nó trông đỡ. Phải cái con bé còn non quá, mới có mười ba tuổi đầu, còn đoảng lắm. Nhưng cơ mà có nó cũng đỡ đần được đôi việc...
- Thế cháu nó không đi học à?
- Có. Nó vẫn đi học buổi sáng, buổi chiều về trông nom con gà, con lợn, giúp bà nó giặt giũ, cám bã...
Thầy Hoan thấy thật sự ái ngại. Đến đây, thầy lại thấy cần phải oán trách chị Nga, nỡ lòng nào bỏ ra đi được kia chứ? Ừ, nó có thể bỏ ta mà đi cũng được, nhưng với một hoàn cảnh như thế...
- Ông giáo ạ, hôm nay tôi sang đây, trước là thăm ông, sau là để có câu muốn nói.
Còn nói gì nữa nhỉ. Mà thôi, thầy Hoan nghĩ bụng, mọi chuyện cũng là bởi tại con gái ta, đã không biết giữ mình, đã không biết hầu hạ phụng dưỡng bố mẹ chồng. Nó đã đi rồi, nó đã bỏ đi với cả một nỗi niềm của nó. Thôi thì, con dại cái mang, ta sắp phải nghe những lời oán trách nặng nề đổ xuống đây.
- Vâng! Xin cụ có chuyện gì cứ bảo, tôi xin nghe...
- Chả là thế này, ông lão đắn đo, lâu nay ông giáo có nghe được tin tức gì về... mẹ con cô giáo Nga không?
Đã đoán được trước câu hỏi, thầy Hoan trả lời ngay:
- Không, cụ ạ. Từ ngày nó bỏ đi, tôi nào có được biết tí tin tức gì. Đến cả nói một lời trước lúc ra đi nó cũng chẳng nói để tôi biết. Thế cụ có nghe được gì không?
Ông lão Tuân hơi nhớm người trên ghế, như muốn ghé sát vào thầy Hoan để thông báo một cái tin quan trọng:
- Hôm nọ, tôi có gặp anh Định, giao thông xã, cái nhà anh khiểng chân ấy, ông giáo có biết anh ấy chứ...?
- Vâng, tôi biết.
- Anh ấy nói với tôi là có biết tin về mẹ con nhà cô Nga...
Quả là một cái tin quan trọng, khiến thầy Hoan lặng đi trong phút chốc. Như chợt tỉnh ra, thầy hỏi:
- Thế anh Định, anh ấy gặp nó à?
- Không gặp, nhưng cơ mà anh ấy nói với tôi, là anh ấy có một người bạn cũng làm cái việc đưa thư, phát báo nói là gặp được mẹ con người bên ta. Theo như anh ấy kể lại thì anh Định bảo đúng là cô Nga thật rồi.
- Nó ở tận đâu hả cụ?
- Phú Thọ. Cái ngày đi dân công Điện Biên, tôi cũng đã đi ngang qua Phú Thọ.
Thầy Hoan lặng đi trong một cơn choáng thất thần. Thế là người ta đã biết về nó, về cái nơi nó đang sống tha hương.
- Vâng, tôi cũng đã ở Phú Thọ. Nhưng đất bên ấy cũng rộng lắm, biết nó ở ngõ ngách nào?
- Chính thế đấy. Tôi đã nhờ anh Định đưa đến nhà anh giao thông ở Thuận Thành, là người lấy vợ bên Phú Thọ. Bên ấy là quê vợ của anh ta. Anh ấy cũng đã kể cho tôi mọi chuyện. Hiện thời, cô ấy làm thuê cho một cửa hàng ăn uống. Công việc là nắm than quả bàng cho nhà bếp...
Không đợi để thầy Hoan nói gì, bất thần, ông lão Tuân, bằng sức mạnh tiềm tàng của một lão nông, lại được trợ giúp bởi lòng tự tin cũng rất nông dân, đứng bật dậy, chắp hai tay trước ngực:
- Thưa ông giáo! Tôi có câu chuyện này muốn thưa cùng ông. Xin ông cho tôi mượn cái đĩa, tôi cũng muốn có chút lễ mọn, xin được thắp nén hương lên bàn thờ tiên tổ nhà ta. Để rồi, tôi sẽ nói...
Thầy Hoan bàng hoàng thật sự. Chuyện gì sẽ xảy ra nữa đây, nhưng hình như sắp có một sự thật được bộc lộ. Nếu mà đúng như cái sự mà thầy vẫn ngờ vực thì... Thầy không hỏi lại ông lão, đứng dậy vào trong bếp lấy ra một cái đĩa sắt tráng men đưa cho ông lão. Bấy giờ ông Tuân mới mở cái bọc giấy báo, từ trong đó hiện ra: một phong bánh khảo, ba quả cau, mấy lá trầu không và một tờ giấy bạc màu đỏ mười đồng. Tất cả được ông lão bày biện lên cái đĩa, thong thả đặt lên bàn thờ nhỏ nằm cheo leo trên bức vách. Đoạn ông quay xuống rót một chén nước chè, cũng cung kính đặt lên bàn thờ. Ông sửa lại bộ điệu, vuốt thẳng nếp áo, vươn tay thắp ba nén hương. Tất cả những việc làm của ông lão khiến thầy Hoan cứ dán mắt vào, trong khi toàn thân bất động. Ông lão khấn, nhỏ to, thủ thỉ, thẽ thọt, bổng trầm. Thầy Hoan ngồi cách đó mấy bước chân, nghe như không nghe. Mà quả thầy chỉ còn nhìn, chứ không nghe được gì. Mùi hương khói trong cái nóng he bức bối đã đưa đầu óc của thầy đến một phương khác mất rồi. Chỉ đến khi, ông lão quay lại chắp tay cung kính trước mặt thầy Hoan:
- Thưa ông... xin ông ngồi lên cho con... vâng, cho con xin lạy ông...
Lần này thì thầy Hoan chết lặng thật sự. Thầy không chết lặng về cung cách thái độ của ông lão Tuân, mà thầy điếng người đi vì một sự thật mà thầy đã dự đoán từ trước, nhưng cứ mong rằng nó không phải là như thế. Thầy cố lắp bắp
vài câu, chống chọi yếu ớt:
- Kìa cụ, cụ làm gì thế?
- Thưa ông giáo, thưa thầy. Con là Trần Tuấn Tuân, con đã làm một điều vô luân, vô đạo. Xin thầy tha lỗi cho con được nhờ. Thằng Hận con cô Nga, không phải là đứa con hoang, cô Nga không phải là người đàn bà hư hỏng, như bấy lâu nay người ta vẫn đồn đại. Thằng Hận chính là giọt máu của con...
Xoảng! Cái bàn gỗ ghẻ lở rung lên bần bật, ấm chén xô nhau rơi xuống nền nhà. Thầy Hoan đã giáng một quả đấm bằng tất cả sức nặng tủi hờn xuống nó. Lạ thay, thầy không ngất lịm, trái tim thầy vẫn đập, chỉ có phần hối hả lên hơn thôi. Mà nó vốn đã đập hối hả như thế từ cách đây nửa giờ, từ khi ông lão Tuân xuất hiện. Khốn nạn thật! Bố chồng ngủ với con dâu thế thì còn ra thể thống gì nữa, hả Trời? Trời già thật đã trêu gan! Và cũng lạ lùng thay, ông lão Tuân vẫn đứng trơ ra đón nhận cơn giận dữ, mà có lẽ rồi ông cũng đã đoán trước. Ngay cả điều này, ông cũng tiên liệu trước khi đôi mắt thầy Hoan long lên, miệng hét một tiếng nhỏ, khô cằn, nhưng quyết liệt:
- Ông! Ông cút ngay ra khỏi nhà tôi!

***

0

ĐOẠN 10

Như tôi đã kể ở phần trên cuốn sách này, tôi và chị Nga, hai chị em chúng tôi xa nhau kể từ buổi sáng chị đi lấy chồng, và tôi lên đường nhập ngũ, đến tận mãi hai mươi bảy năm sau, khi cả hai đã bạc tóc mới gặp lại nhau. Quãng thời gian xa cách ấy, là quãng đời lưu lạc, cho đến khi gặp nhau cũng không phải ở quê nhà. Có biết bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu biến cố mà chị dồn nén trong lòng, đem ra kể với đứa em là tôi.
Thì ra cái đêm chị dời Soi Vạt để trôi theo dòng sông Công về xuôi, không phải hai mẹ con chị ngồi trên cái mảng nứa, lềnh bềnh theo dòng lũ xiết như người ta đồn thổi lên. Chị kể với tôi rằng, Soi Vạt không phải là nơi trú ngụ suốt đời chị và thằng Hận con chị, và ngay cả cái làng Sơn Cốt của chúng tôi cũng không thể dung thứ chị. Phải ra đi, chị nhất quyết đã nghĩ như vậy. Nhưng đi bằng cách nào? Và sẽ sống ra sao?
Ở đây, suốt một thời gian dài, thằng Hợi, đứa trẻ chăn trâu cho hợp tác là sợi dây nối chị với bên ngoài, là kẻ tiếp tế gạo, muối, dầu đốt... cho hai mẹ con chị. Chị thương nó, giá như nó là con chị, thì chị cũng chỉ thương nó đến thế mà thôi. Khi quyết định ra đi, chị thoáng nghĩ hay là đem nó cùng đi. Đất trời, non nước này, với những gì chị biết được từ những bài địa lý mà chị đã dạy cho lớp học trò của chị sẽ dẫn bước chị đi. Còn thằng Hợi, thằng bé mục đồng đen nhẻm, côi cút nhưng khá thông minh, sớm láu cá sẽ phải để cho nó ở lại để nó gắn bó với cái làng nhỏ bé, đìu hiu của nó. Nó còn mẹ, còn các em, còn là nơi đi về của hương hồn cha nó. Chỉ có chị là phải ra đi.
Chị nghĩ thế, và chị cũng đã toan tính làm một cái bè bằng tre, ghép lại. Chị cũng định sẽ đặt thằng Hận nằm trên đó, chị sẽ một tay chèo chống, xuống hết quãng thác này, vực nọ, cho đến khi nào ra tới dòng sông Cái.
Thế rồi mùa nước lớn đã đến, cái mùa nguy hiểm của dòng sông, nhưng lại là một mùa xuôi bè thuận tiện nhất, vì lòng sông nở ra, dềnh lên mênh mông hơn. Nhìn con nước lũ ào ạt chảy, cuốn theo cơ man nào cây củi, cành khô, quấn quýt vào những bụi tre hai bên bờ rã rợi ngọn lá, chị thấy sợ hãi. Lòng can đảm được ấp ủ suốt một mùa đông giá, khô cằn, cạn hẹp bây giờ bỗng nhiên tan biến.
Nhưng nhất quyết phải ra đi!
Chị ngồi đếm lại số tiền nhỏ nhoi mà chị đang có bằng những đồng tiền lẻ. Chị vuốt lại cho chúng thẳng thớm, sạch sẽ, gói chúng vào một miếng vải mưa cũ kỹ. Xong xuôi, chị ngồi nhìn thằng Hận đang lồm cồm bò trên manh chiếu rách, rồi chị nhìn vào hai bàn tay mình, trống trơn. Bất giác chị nghĩ đến tôi, chị kể thế. Chị nhớ đến cái đêm trăng non trên đồi Chùa Phung mà chị đã nhìn vào bàn tay tôi mà dự báo, phỏng đoán cho cuộc đời tôi.
- Ngày ấy chị đã dự báo cho em rằng em của chị sẽ có một cuộc đời phiêu lưu phong phú. Thế mà khi ngồi nhìn hai bàn tay thô tháp đã bắt đầu nhăn lại của mình, mà chị không tài nào dự báo cho mình con đường trước mặt. Em hỏi chị có tuyệt vọng không ư? Không, chị không hề tuyệt vọng, nhưng cũng không thể hy vọng được. Chị chỉ nung nấu một ý chí băng qua, vượt lên chính cuộc đời mình... Dù có ra sao cũng được, dù có đi đến đâu cũng thế!
Một hôm, như lệ thường, thằng Hợi về xóm, chị bồng thằng Hận ngồi nhìn dòng lũ, thì bỗng có một cái mảng dài, trên đó lô nhô những tay thợ sơn tràng, đang trôi xuôi, chầm chậm, thế rồi nó quay ngoắt, ghé vào Soi Vạt. Người ngồi đầu, dáng như người chỉ huy mảng vít một nhánh tre ghì sát cái mảng dài như con thuồng luồng vào bờ đất, nhóng cổ gọi lên:
- Nhà chị có còn gạo không, để cho anh em tôi một bữa?
Chị Nga hơi bị bất ngờ:
- Các bác hỏi đong gạo?
- Vâng! Nhưng mà không cần nhiều đâu. Anh em tôi vừa hết gạo ăn, cần bữa tối nay thôi, sáng mai ra đến sông Cái thì lại có chỗ mua rồi...
Chị Nga ngần ngại một chút rồi, bỗng loé lên ý nghĩ táo tợn:
- Mời các bác lên đây một chốc. Em có gạo đấy, nhưng sợ không đủ để các bác nấu bữa tối.
Người thợ rừng nhảy phắt lên bờ:
- Độ hai đấu là đủ thôi mà!
- Thế thì may ra...
Chị chui vào trong lều, đem ra cái vại nhỏ sứt mẻ, đựng lưng lưng gạo ra, xoay xoay:
- Chỗ này cũng đến hai đấu, bác cầm lấy mà nấu. Hay là... sẵn có củi lửa đây, các bác lên nghỉ tạm, cơm nước xong thì xuôi! Chứ dọc bờ nước cả thế neo vào đâu?
Nghĩ ngợi một thoáng, bác san tràng gọi vóng xuống:
- Anh em ơi! Có gạo rồi! Lên đây thổi cơm ăn xong ta đi tiếp! Đoạn bác ta quay lại. Chị có cái xoong nào nấu đủ cho năm anh em tôi ăn, thì cho mượn. Mà cánh san tràng chúng tôi ăn khoẻ lắm đấy!
Chị Nga lúng túng:
- Nhà em chỉ có hai mẹ con, không có nồi to, chán thật.
- Thế thì thôi, không sao! Bác thợ nói với xuống mảng. Thằng Tĩnh cởi cái xoong to vẫn nấu cơm đem lên đây...
Thế là trong chốc lát, “nhà” chị Nga bỗng rậm rịch khách khứa, lao xao tiếng người. Chưa bao giờ, và cũng chẳng bao giờ chị lại có thể hình dung ra cái cảnh này. Hình như cũng đoán ra hoàn cảnh éo le của chị, bác trưởng toán thợ rừng hết nhìn chị, nhìn thằng Hận rồi lại nhìn túp lều tùm hum, lè tè của chị ý chừng muốn hỏi một câu gì đó. Còn chị Nga thì lặng lẽ nhiệt thành giành lấy cái xoong từ tay người thanh niên tên Tĩnh vo gạo bắc lên bếp. Nếu bác trưởng tốp giữ ý không hỏi thì anh chàng Tĩnh xốc nổi hỏi ngay:
- Chị ở đây có một mình thôi à?
- Vâng! Có hai mẹ con tôi và thằng cháu. Nó về xóm...
- Xa làng, xa xóm thế này, ngộ nhỡ đêm hôm có chuyện gì thì chị làm thế nào?
Chị Nga cười nhẹ, đôi gò má chợt nóng lên ở đâu đó:
- Chả có chuyện gì đâu anh ạ. Mà nếu có gì thì chúng em cũng tự xoay xở được.
Nhìn nồi cơm đang sôi lục bục trên bếp, toả lan mùi gạo chiêm quanh quất, chị Nga bỗng thấy nhớ cha mình, nhớ ngôi nhà của cha, nhớ làng day dứt. Nhớ là thế, day dứt là thế, nhưng chị đã hình thành trong đầu những kế hoạch của mình. Bác trưởng toán bế thằng Hận, rung rung nó trên đôi tay vạm vỡ, ngó vào:
- Nhanh nhỉ! Cơm đã sôi rồi đấy. Tôi mà cứ nghe tiếng cơm sôi là thấy bụng đói cồn cào.
Tĩnh quay sang nói với chị Nga:
- Sao chị không ở trong làng mà ra ngoài bãi soi này?
Chị Nga không biết trả lời thế nào cho dễ nghe. Sự thật không thể nói ra, còn sự không thật thì chị chưa bao giờ chị nghĩ tới. Chị đánh trống lảng bằng một câu hỏi lại Tĩnh:
- Các anh ở đâu lên xuôi bè thế?
- Xa lắm, có nói chị cũng chả biết. Nam Định! Chị đến đó hay nghe nói đến nơi ấy bao giờ chưa?
Chị Nga khẽ bật cười:
- Đến thì chưa đến, nhưng mà nghe thì nghe nhiều rồi chứ. Nghề sơn tràng cực lắm nhỉ?
- Còn phải nói. Tĩnh hào hứng, anh em chúng tôi đây người cùng một xóm cả đấy. Bác Thuần kia là trưởng nhóm, là người dày dạn nhất, là người chỉ huy. Chúng tôi là thợ, trong đó có tôi là lính mới tò te, đi chuyến này là đầu tiên! Kể ra cũng sợ lắm, chị ạ. Mà đâu phải chỉ có làm sơn tràng, chặt nứa khắn bè không thôi đâu, còn phải biết chèo lái, vật lộng với sông nước nữa chứ. Cùng một lúc phải làm hai việc cực nhất nhì trần đời “nhất phá Sơn Lâm, nhì đâm Hà Bá”...
- Thế trước khi làm cái nghề “phá Sơn Lâm, đâm Hà Bá”, anh làm gì?
Tĩnh cười láu lỉnh:
- Nghề bắn giết người!
- Nghề gì mà nghe kinh thế? Anh nói cụ thể xem nào? Tĩnh bỗng trầm giọng xuống, như người nhận lỗi:
- Nói vui với chị vậy thôi, chứ tôi có nghề ngỗng gì đâu. Tốt nghiệp lớp bảy ở nhà học cày dở dang thì đi lính. Hơn bảy năm trời ở chiến trường về, cũng may giữ được cái gáo, mà cũng không hề hấn, thương tật gì. Đi học thì dở dang, đi cày thì cũng chả có đất, có ruộng, quê tôi đất chật, người đông. Ngồi chơi mãi cũng chán, thế là theo bác Thuần đi làm thợ phá rừng...
“Lại chiến trường, chiến tranh! Chị Nga thầm nghĩ, cả một thế hệ thanh niên được huy động vào cuộc chiến. May mà chiến thắng và cũng may mà nguyên vẹn trở về. Chả như anh Kỳ...”. Chị Nga ngồi bần thần gảy những mẩu than đỏ lừ gom chúng tụm lại, rồi lại tãi chúng ra dưới đáy nồi cơm đang chín. Anh Kỳ của chị đã mãi mãi chẳng bao giờ được trở về để kể những câu chuyện hiểm nghèo mà vui vẻ, để nói những câu bông lơn mà buồn lo thắt ruột. Nếu anh Kỳ không chết mà cũng trở về nguyên vẹn như người thanh niên tên Tĩnh đang ngồi cạnh chị đây? Rồi anh ấy bế thằng Hận, không, không phải thằng Hận mà là một thằng bé khác, tên là Thắng, là Mừng, là Nam chẳng hạn. Tiếng củi lửa tí tách, tiếng cơm sôi lục bục, tiếng ê a của đứa trẻ. Rồi chị sẽ lại trở lại với nghề dạy học, chị sẽ lại ngồi trên chiếc xe đạp Thống Nhất có tiếng líp kêu lanh tanh... Biết là giữa chị và anh Kỳ chưa hẳn đã có tình yêu, cái thứ tình cảm khó thấy, khó nhìn, khó kiếm nhưng dù sao cũng còn có cái tình, rồi xa hơn nữa, nó là cái nghĩa. Thế mà bỗng dưng, anh Kỳ chết đi, cái tay vịn vững chãi nhất để chị đi trong đời đã bị bẻ gẫy, để rồi, chị chung chiêng đi giữa trần gian một mình, một bóng tủi hờn.
Đến bây giờ chị cũng không biết là đối với ông lão Tuân, vừa là cha, vừa là ông của thằng Hận, chị có một tình cảm gì? Căm hận thì rõ rồi, thế nhưng vẫn còn có một chút tình thương cảm, mà ngay bây giờ hoặc đến bao giờ chị mới bày tỏ được? Thằng Hận sẽ như thế nào trong cuộc đời này? Danh chính là gì, để nó được yên bình trong ngôn thuận?
- Thế anh ấy nhà chị đâu, bố thằng bé ấy? Câu hỏi của Tĩnh cắt ngang luồng suy nghĩ ngắn ngủi của chị Nga, làm chị quay về với thực tại. Chị lúng túng:
- Cháu không có bố! À mà bố cháu cũng vào chiến trường, có lẽ... hy sinh rồi!
Tĩnh là một thanh niên nhạy cảm, nếu không anh ta đã vì vui miệng, hay vì hiếu kỳ mà tra vấn đến kỳ cùng. Anh ta đứng dậy, vuốt nhẹ lên má thằng Hận, rồi bước xuống mé bờ sông. Nước sông vẫn đục ngầu, chảy xiết.
Cánh thợ sơn tràng bày ra ăn cơm với thức ăn là những con cá mắm khô nát rữa, nhưng mùi thơm cháy của nó thật quyến rũ.
- Chị ăn cơm cùng với anh em chúng tôi nhé! Bác Thuần nhìn hai mẹ con chị Nga, ái ngại.
- Vâng! Các bác cứ tự nhiên, mẹ con em đợi thằng cháu từ trong xóm ra, tí nữa cùng ăn...
Chỉ loáng cái, nồi cơm đã hết veo, nhìn cánh thợ rừng ăn mà phát thèm. Hình như họ vẫn chưa thật no, nhưng trong nồi hãy còn một ít cơm và trên đĩa có hai con cá mắm nướng. Chị Nga bưng cái ấm đất đun nước ra mời khách. Bác Thuần, sau khi uống một bát nước vối, lấy dao chẻ một thanh tre làm tăm xỉa răng, rồi đứng dậy đến trước mặt chị Nga:
- Anh em chúng tôi cám ơn cô đã giúp cho bữa ăn. Chúng tôi xin gửi tiền gạo.
Nhìn mấy đồng bạc kẹp giữa những ngón tay xương xẩu của bác Thuần, chị Nga ngước lên, giọng ẩn nhẫn:
- Các bác, em muốn có câu chuyện thưa với các bác. Xin bác hãy nghe em nói...
Mấy anh em thợ san tràng nhìn nhau, vẻ mặt đầy sóng gió ngạc nhiên. Anh chàng Tĩnh lặng lẽ lùi ra phía sau, nhưng hai con mắt vẫn cứ dán vào mẹ con chị Nga. Bác Thuần:
- Ấy chết, có chuyện gì thế?
- Chả là thế này, nói ra sợ các bác cười, nhưng mẹ con em đã ở vào cái hoàn cảnh này, xin các bác thương, mà có cười em cũng xin chịu. Rồi dường như để chậm lại một chút, sẽ không thể nói được, chị Nga trở nên linh hoạt hơn. Chả giấu gì các bác, mẹ con em ở vào hoàn cảnh tủi nhục lắm, nên mới phải ra ở cái lều ngoài mom sông, đầu bãi này. Cũng là cái duyên trời dun dủi cho gặp các bác. Chúng em sống không được lòng bên gia đình nhà chồng, còn vì sao thì xin các bác tha cho, đừng gạn hỏi. Cứ ở lại thì bẽ bàng, nên mẹ con em đã định bế nhau mà đi. Chúng em cũng tính làm một cái mảng thả trôi theo dòng nước này mà ra sông Cái, nhưng vì chân bấy tay yếu chưa làm được. Bây giờ tiện đây, xin cho chúng em lụy theo con mảng để mẹ con em đi khỏi nơi đây...
Chị Nga không định khóc, nhất quyết không khóc, nhưng nước mắt cứ tứa ra, không cầm được. Năm người thợ xuôi bè nhìn nhau, dường như họ không tin vào tai, vào mắt mình. Lại bác Thuần, trưởng toán lên tiếng:
- Chúng tôi nghe mà không hiểu sự thể ra sao, nhưng nghe cô nói, chúng tôi cũng có phần thông cảm. Nhưng tôi xin hỏi thật: thế cô định đi đâu?
- Chúng em cứ ra khỏi được nơi này đã, sau rồi sẽ liệu sau.
- Chết thật! Đàn ông như chúng tôi đây để kiếm được miếng cơm thiên hạ cũng thấy khó, huống như mẹ con cô, đàn bà, con mọn rồi sẽ ra sao...
Chị Nga gạt nước mắt, giọng chị trở nên rắn giỏi hơn:
- Bác hỏi thế thì em cũng biết là kiếm miếng ăn ngoài thiên hạ không dễ dàng gì. Nhưng đến nước này, là nước cùng, đường cạn mất rồi. Mẹ con em chỉ xin các bác theo ra đến sông Cái. Rồi chúng em lên bờ, đi tiếp...
Anh chàng Tĩnh bước tới, nhìn vào mắt thằng Hận:
- Cháu tên là gì hả chị?
Chị Nga thấy đã đến lúc phải hé ra một chút sự thật, mong nhận được sự thông cảm của những con người này:
- Em đặt cho nó cái tên khác người xấu lắm. Tên cháu là Hận!
Tĩnh lặng người, nói với bác trưởng nhóm:
- Cô ấy đã nói thế, em cũng xin bác để cho mẹ con cô ấy quá giang...
Bác Tuần chép miệng, thở dài:
- Cơ khổ! Tôi đi ăn mòn bát thiên hạ, thấy người khổ cũng nhiều, mà chưa thấy ai khổ đến như cô. Thôi thế chuẩn bị đi. À mà này, đây là tiền gạo của cô, cầm lấy...
- Em xin biếu các bác, gọi là...
- Sao lại thế? Không được!
Tĩnh tiến lên, giành bế thằng Hận từ tay chị Nga, hất hàm cho chị Nga:
- Chị cầm lấy, gạo ăn đong chứ có phải phát chẩn đâu. Đưa thằng Hận cho tôi, chị đi thu xếp đồ đạc đi, kẻo tối!
Chị Nga ngoan ngoãn nghe theo lời Tĩnh:
- Con ra bác bế nhé. Em có cái gì gọi là đồ đạc đâu!
Nói thế nhưng chị Nga vẫn chui vào trong lều, quơ mấy cái quần áo của chị và của con, nhét vào cái túi xách mà chị vẫn đi dạy học ngày trước. Rồi chị trút hết nắm gạo trong cái trường mẻ ra cái ruột tượng được khâu bằng ống tay áo cánh. Tất cả chỉ là một tay xách. Chị lần vào túi áo, nhớ nhẩm hơn chục đồng bạc, toàn giấy lẻ cộm lên trong lưng quần, bước ra.
- Anh đưa cháu cho tôi xin. Xong rồi các bác ạ, cho mẹ con em xuống mảng được chưa?
- Cô ra đây tôi dẫn xuống, bác Thuần nắm tay chị Nga kéo đi. Anh Tĩnh bế thằng Hận, nhảy một bước dài xuống mảng. Thằng bé sợ, nó khóc thét lên một tiếng rồi lại im ngay, nhoẻn cười.
- Cháu được mấy tháng rồi chị? Tĩnh trao thằng Hận cho mẹ nó.
- Dạ, cháu được hơn mười tháng rồi ạ. Rồi chị ôm chặt thằng bé vào lòng, giọng đẫm nước mắt. Thôi nhé, mẹ con mình đi, chào ông, chào bà, chào cả làng, mẹ con chúng tôi ra đi, chẳng biết có hẹn được ngày trở lại không?
Cái mảng vừa nứa, vừa gỗ dài ngoằn ngoèo như con thuồng luồng khổng lồ vặn mình cót két rồi từ từ dạt ra khỏi bờ. Chị Nga ôm chặt thằng Hận như sợ có ai giằng mất, nhìn đăm đăm về phía căn lều. Chợt chị nhớ ra thằng Hợi. Sao nó về xóm lâu thế nhỉ? Liệu lúc trở ra không thấy chị nó nghĩ sao? Tội nghiệp nó quá, nhưng thôi, hẹn thế nào cũng có ngày cô cháu gặp lại nhau...
Đúng lúc ấy, thằng Hợi ôm một cái bọc trước ngực chạy về. Nó cất tiếng gọi “Cô ơi!”, rồi chui vào trong lều, lại chui ra. Lúc đầu là tiếng gọi thản nhiên, quen thuộc, nhưng rồi tiếng gọi của nó bông trở nên hốt hoảng, lo âu như tiếng con nghé con lạc mẹ “Cô ơi, cô!”. Nó dáo dác tìm sau các bụi tre, dọc sông. Không thấy chị, nó gào to:
- Cô ơi! Cô Nga ơi! Cô giáo ơi!
Mọi người trên mảng đều nghe rõ tiếng thằng Hợi gọi đến khan giọng. Chị Nga cũng nghe thấy tiếng gào nức nở của nó, xen vào tiếng ầm ào, ì oạp của sóng nước đánh vào thân mảng, trong chị quặn lên nỗi lo lắng. Nó sẽ không còn chị để yêu quý, để săng sái làm những việc lặt văt mà nó càng thích thú bao nhiêu, chị càng lo bấy nhiêu. Chị toan đứng dậy, trả lời nó, nhưng chân tay chi bải hoải, rã rời. Miệng cắn chặt, hai hàm răng tê điếng cố nén một tiếng kêu, chị Nga vẫn lặng yên, một tay ôm con, tay kia ghì chặt lấy sợi dây mây bó mảng. Hãy cứ để cho nó nghĩ là mẹ con chị đã mất tích, đã chết, đã... bay lên cõi hạc trắng như trong câu chuyện Dệt gấm huyền thoại mà chị đã kể cho thằng Hợi…
- Cô giáo Nga ơi! Cô ở đâ...âu...u...u? Tiếng gọi thất thanh của thằng bé len lỏi vào khắp bụi tre gai, đám bưởi bung, loang ra mặt sông, đầy thất vọng thảm thiết.
Tĩnh bước loạng choạng trên mặt mảng:
- Cháu chị nó gọi đấy, chị Nga ạ...
Chị Nga cúi mặt, lắc đầu:
- Đừng, đừng cho nó biết, anh thương tôi... thương thằng bé, nó côi cút. Cứ để tôi đi, nó biết tôi đi thế nào nó cũng đòi đi theo. Khổ thân nó...
Dưới mắt chị, nước sôi ùng ục, ngầu đục cuộn thành những đụn nước bồng lên, như từ sâu thẳm từ trong ruột non, ruột già, lục phủ ngũ tạng của trái đất, phọt lên, ghê tởm, rồi ngay đó hình thành những cái xoáy sâu hoắm, hun hút có cái miệng đỏ lòm, tái nhợt, chỉ trực hút đi bất kỳ cái gì rơi vào miệng nó. Đó là tương lai trước mặt chị đấy ư? Chị nghĩ thế!

***

Chiều đang dần phai, một vầng tà dương đỏ bầm, loang lổ vết rạch ngang, rạch chéo của mây đen tơi tả, lùi lại sau lưng đoàn xuôi mảng. Cái bè dài gỗ ken trộn với nứa vặn mình ken két sau những khúc quanh như con trăn khổng lồ trườn đi khó nhọc, nặng nề. May mà khúc sông này quanh co, chảy chậm nên chị Nga không cảm thấy chóng mặt, mặc dù chị chỉ chực ngã dúi về phía trước. Thằng Hận ngọ ngoạy trên tay mẹ, thỉnh thoảng nó lại nhoai về phía trước, đạp đôi chân nhỏ nhou của nó xuống mặt nứa, rậm rịch. Anh chàng Tĩnh chống cây sào bằng vầu thoăn thoắt, thỉnh thoảng anh ta lại chuyển cây sào sang bên kia con mảng. Nhìn cây sào bay qua trên đầu, lõm tõm nước, chị Nga co rúm người lại, cố dùng thân thể mình che chở cho thằng con. Thỉnh thoảng Tĩnh lại lơi tay, thả cây sào trôi theo mép mảng, nhoẻn cười, “làm xấu” với thằng Hận. Dường như nó cũng thích đùa, chỏi mạnh chân xuống sàn mảng, rồi cười khanh khách, chẳng bao giờ biết đến những hiểm hoạ đang rình rập trước mặt…
Nhìn Tĩnh trong tư thế chèo chống với chiếc áo quân phục bạc phếch, vài vết vá vụng về trên vai, tự nhiên chị Nga thấy trong lòng dậy một chút cảm tình với con người xa lạ và có con mắt buồn này. Và chị cũng thấy yên tâm hơn khi hai mẹ con chênh vênh trôi dạt trên dòng sông bất trắc này. Chị muốn nói một câu gì đó, một câu vừa để bày tỏ lòng mình và cũng là để an ủi Tĩnh.
Tĩnh vẫn vô tư, thỉnh thoảng còn búng những hạt nước trên tay, lính ti như những giọt mưa phùn về phía thằng Hận. Nó cười phô vài cái răng sữa ra, hai mắt nhứam tít, còn hai bàn chân thì thi nhau đạp trên đùi chị Nga.
Hai bên bờ sông đã thấp thoáng bóng nhà dân. Tiêng gọi nhau ý ới, văng vẳng làm chị Nga thấy xốn xang. Giờ này là giờ cha mẹ gọi con về rửa ráy ăn cơm chiều. Giờ của đoàn viên, ấm cúng trong mỗi can nhà. Ở một bến sông, hai ba cô gái đang rửa quang gánh, quần xắn ngang đầu gối, họ nói với nhau những câu gì đó, bỗng một cô chỉ cho bạn mình. Họ chỉ hai mẹ con chị Nga. Chắc họ ngạc nhiên lắm. Cũng phải thôi, xưa nay cánh sơn tràng chỉ toàn đàn ông, con trai. Côngviệc cực nhọc và đầy nguy hiểm ấy không bao giờ dành cho đàn bà. Mà nếu có thì cũng chẳng ai đem theo trẻ con. Thế mà trên mảng bè kia lại có một người đàn bà ôm con nhỏ. Một cô cất tiếng gọi vọng ra:
- Các bác ơi! Bè xuôi về đâu cho chúng em đi với…
Ông trưởng tràng lại ngỡ là các cô trêu cành thanh niên, đại laọi như Tĩnh. Ông Thuần đáp lời họ:
- Về xa lắm! Cực khổ lắm, các cô có đi được không?
- Đi được! Các bác còn đưa cả vợ con đi theo thì chúng em cũng đi theo được chứ!
Ông Thuần nhớ ra là trên bè của mình có mẹ con người đàn bà đi nhờ. Ông hơi nhíu vầng trán lại:
- À, đấy là người ta đi nhờ về Bầu thôi. Không phải người của chúng tôi đâu…
“Không phải người của chúng tôi đâu!”. Chị Nga nghe sao mà xót xa quá. Chị không phải người của ai, của bất kỳ một gia đình hay làng xóm nào nữa. Bây giờ mẹ con chị lênh đênh, không gia đình, không quê quán… Đôi mắt buồn và lo lắng của chị ngước lên bắt gặp cái nhìn an ủi của Tĩnh:
- Con gái vùng này ghê lắm! Ấy thế nhưng họ tốt bụng lắm. Dạo năm ngoái bè chúng tôi bị vỡ, dạt vào soi của họ. Thế mà họ cho ăn, cho ở chu đáo lắm.

***

Mỗi giòng sông đều mang một tính cách của nó, và chính nó cũng sinh ra và rèn giũa tính cách của những con người gắn bó với giòng sông. Chị Nga một đứa con của giòng sông, của Soi Vạt và của cánh đồng Lưu Lạc, đã mang đậm trong giàng máu mình tính cách của giòng sông. Như lúc này đây, giòng sông thật dịu dàng, giòng sông con gái…
Tranh thủ lúc dòng sông êm ả chảy, Tĩnh buông lơi cây sào, gác lên mép mảng, anh ngồi xuống nắm lấy bàn tay nhỏ nhoi và nhợt nhạt của thằng Hận:
- Tội nghiệp cháu bé. Trời chiều rồi, nó lạnh đấy. Chị lấy cái áo của tôi mà quấn thêm cho cháu…
Chị Nga nhìn Tĩnh, cảm động:
- Cháu có áo rồi, anh mặc vào đi. Người anh cũng thâm tái cả rồi kia kìa…
Tĩnh cười, hàm răng ánh lên tia chói sáng:
- Ăn thua gì với chúng tôi kia chứ. Chuyến này tương đối êm ả. Về đến đây rồi, chỉ còn cái vực Ba Quanh nữa là coi như xuôi chéo, mát mái…
- Vực Ba Quanh là vực gì mà ghê thế? Chị Nga lo lắng hỏi.
- Là cái vực xoáy dữ lắm. Bè mảng xuôi về đến đây, khó có anh nào đi lọt một lần, nhất là những bè dài như thế này. Nó phải lượn đủ ba vòng quanh vực, tức ba lần loanh quanh mới ra được. Người không có kinh nghiệm nếu không xô vào bờ đá thì cũng mất cả ngày không ra khỏi vực…
Chị Nga bối rối, vẻ hốt hoảng hiện rõ trong mắt chị:
- Liệu mẹ con tôi ngồi trên này có ảnh hưởng gì đến các anh không?
Tĩnh dịu dàng:
- Ăn thua gì! Bác Thuần của chúng tôi đầy kinh nghiệm. Với lại nghe kể cho nó rùng rợn để kể công lao san tràng thôi. Lát nữa đi qua, chị sẽ thấy chỉ như đồ hàng trẻ con thôi. Lại thú vị ngắm cảnh sơnn thuỷ hữu tình nữa…
Chị Nga lẩm nhẩm:
- Lạy Trời lạy Phật, cho chúng con ra khỏi chốn nguy nan này…
- Khoảng sáu bảy giờ tối nay bè chúng tôi đến bến dỡ. Lúc ấy, chị và cháu đi đâu nữa…? Tĩnh ngập ngừng hỏi.
- Ở bến có nhà dân ở không hả anh?
- Bầu mà chị không biết à? Thiếu gì! Nơi buôn bán, trên bến dưới thuyền bát ngát. Là tôi hỏi sau đó thì hai mẹ con tính đi về đâu?
Về đâu? Chị Nga nghe câu hỏi mà ớn lạnh xương sống. Gió lạnh thổi ràn rạt trên mặt sông, luồn lách vào tận sâu thẳm trong cõi lòng phiêu dạt. Bất chợt chị nghĩ đến cái cảnh hai mẹ con bồng bế nhâu đi gõ cửa từng nhà, xin miếng cơm ăn… Chị lắc đầu, cố gạt đi cái hình ảnh ảm đạm.
- Đến đó rồi, mẹ con tôi chia tay các anh, để lại lên tàu ngược…
- Đi Phú Thọ hay Yên Bái? Nghe nói trên ấy cũng dễ sống…
- Vâng! Tôi có quen một anh bộ đội ngày xưa đóng quân ở gần nhà. Quê anh ấy ở Phú Thọ. Không biết bây giờ anh ấy còn sống không? Đi B từ năm sáu tám. Cứ nghe anh ấy kể thì làng quê bên ấy thanh bình lắm, mọi người sống với nhau đầy tình nghĩa, không hề đố kỵ…
Tĩnh chộp được một con châu chấu bay sà từ ờ tre đến đậu trên cái nón rách của chị Nga, anh bẻ đi hai cái càng, rồi đặt vào tay thằng Hận. Nó thích chí, nhoẻn cười, hai chân đạp chỏi lòi ra khỏi vạt áo mẹ nó đang ủ cho nó.
- Dạo tôi ở bộ đội, mấy anh bạn quê Vĩnh Phú cũng nói chuyện thế. Quê tôi có nhiều người ngược lên Phú Thọ, Đoan Hùng, Yên Bái đảo sắn. Mùa này cũng là mùa sắn trên ấy…
- Anh Tĩnh biết nhiều nhỉ? Chị với các cháu ở nhà chắc trông anh về lắm nhỉ?
Tĩnh đứng dậy vươn vai:
- Chị nào? Cháu nào đâu chị ơi! Tôi cũng muốn có đứa con như cái thằng chó cún này, nhưng mà nghèo lắm, chẳng ai lấy…
Chị Nga bật cười, khiến Tĩnh tò mò:
- Chị cười tôi à? Tôi nói thật đấy…
- Tôi cười cái câu chuyện cổ ngày còn bé tôi được đọc.
- À phải đấy! Chị là cô giáo chứ gì? Nãy nghe thằng bé nói gọi tên chị là “cô giáo Nga”. Chuyện thế nào, chị kể một đoạn cho tôi nghe với….
- Chuyện buồn cười, và buồn nữa. Ngày xưa có một chàng thanh niên nghèo lắm, nghèo đến nỗi tóc đã bạc mà vẫn không lấy được vợ… Đấy, tôi nhớ mở đầu câu chuyện như thế. Chuyện của bên nước Ý…
- Buồn cười thật! Nhưng sau đó chắc phải có một nàng tiên thương anh ta chứ? Tĩnh cười híp mắt hỏi lại.
- Không! Không phải thế! Anh chàng kia nghèo đến nỗi không lấy được vợ, thế rồi anh trở thành một ông già tóc bạc phơ…
- Vẫn không có vợ? Tĩnh tò mò.
- Vẫn không có vợ. Một hôm ông vào rừng hái củi. Trên đường về, ông đi qua một khu rừng vắng, bỗng ông nhe thấy tiếng một đứa trẻ gọi:
- Bố ơi! Cứu con với…
Ông già ngạc nhiên nghĩ: quanh đây chẳng có người ở, sao lại có tiếng trẻ gọi. Ông già nghĩ ngợi mộ lát rồi đi tiếp. Nhưng ông vừa cất bước thì tiếng đứa trẻ lại gọi. Lần này nghe da diết hơn:
- Bố ơi, đừng bỏ con. Con ở đây này…
Không thể bỏ đi được, ông gìa quăng bó củi xuống đường rồi đi về phía có tiếng gọi. Nhưng ông không thấy gì, dù ông đã cố tìm tất cả các bụi cây quanh đó. Ông vừa quay đi thì lại có tiếng gọi: “Bố ơi! Con đây này”.
Lần này thì tiêng gọi phát ra từ một khúc gỗ. Ông lão ngạc nhiên cần khúc gỗ lên, nó cất tiếng nói:
- Con của bố đây! Bố đem con về nhà đi. Rồi con sẽ giúp bố được nhiều việc…
Ông lão nghèo và tốt bụng nhăt khúc gỗ đem về nhà. Thế rồi ông lấy dao, đẽo gọt noa thành hình một thằng bé con trai. Ông già đặt tên cho nó là Pinôkiô…
Tĩnh sa sầm nét mặt, căn môi im lặng. Chị Nga thấy thế thì thấy sợ:
- Chuyện cổ tích ấy mà. Anh buồn làm gì!
- Không, tôi chỉ thấy buồn cười thôi. Mà đúng thật đấy chị ạ. Đối với người nghèo chúng ta thì, con chó, con lợn, hay khúc gỗ cũng thành người thân thuộc, có linh hồn… Phải không chị?
- Tôi cũng không biết nữa, nhưng tôi biết nghèo thì buồn lắm.
- Chị có thằng chó con này rồi, việc gì phải buồn. Chuyến sau, tôi cũng phải tìm một khúc gỗ để đẽo thành thằng con mới được… Tĩnh cười thoải mái, dường như anh chẳng biết buồn.
Chị Nga cũng cười:
- Anh không cần phải đẽo gỗ làm gì.
- Sao thế? Tôi cũng nghèo đến nỗi, tóc đã bạc mà vẫn chưa có vợ…
Chị Nga dứ dứ thằng Hận về phái Tĩnh:
- Tôi cho anh thằng Pinôkiô này này…
Tĩnh sững người, nhìn người đàn bà xa lạ, nghèo khó mà anh mới quen trước đây vài giờ, mà bỗng cảm thấy thân thuộc từ tận cõi nào, sâu thẳm . Chị Nga thấy xấu hổ, vì câu nói bỗ bã, có vẻ sống sượng của mình, toan ngoảnh mặt đi tránh cái nhìn của người đàn ông san tràng vạm vỡ, từng trải nhưng cũng chất chứa đầy nỗi niềm, nhưng không kịp, khiến đôi má chị thoáng có chút hồng lên. Tĩnh ngồi thụp xuống, ngó sâu vào mắt thằng Hận:
- Thật không? Chị không được đánh lừa tôi đấy nhá…
- Tĩnh! Tĩnh ơi…!
Tĩnh giật mình bởi tiếng ông Thuần quát to. Anh đứng lên nhìn ông trưởng tràng với cái nhìn lạ lẫm, như lạc đi. Ông Thuần nheo nheo cười:
- Chuẩn bị vào quanh! Cầm cái sào bột lên đây!
- Vâng, có ngay! Tĩnh cầm cây sào nặng chịch chạy loạng choạng trên mặt mảng.
- Cố lên! Sau cái khúc quanh này, đến bến giao bè xong tao cho chú mày nghỉ phép. Đồng ý không?
Tĩnh mím môi, cố nén một tiếng “vâng” khoái chí. Anh đứng “bãi chân chèo”, cầm nghiêng cây sào bột như người chiến binh cầm dáo đứng tấn chờ quân địch.
Cây sào bột là cây sào cổ truyền. Những người thợ san tràng mỗi lần vào rừng chỉ cần đem theo lưỡi rìu, lưỡi búa và dao làm công cụ. Tất cả vào rừng sẽ chặt gỗ để làm cán, làm chuôi. Nhưng cây sào bột này thì không thể kiếm từ rừng được, mà là vật bất ly thân. Khi về nhà đem theo, lên rừng lại vác đi, dù nó dài tới sáu thước, có phần bất tiện. Nhìn đoàn người đùm túm đi lên mạn ngược, không ai biết họ đi đâu. Nhưng thấy trong đoàn có người vác cây sào dài, thì đích thị đó là đoàn san tràng xuôi bè. Đó chính là cây sào bột, là vũ khí, và đồng thời cũng là biểu tượng cho sự can trường và từng trải của đoàn san tràng.
Cây sào bột được chọn làm từ một cây hóp. Hóp là một loại tre thẳng không có gai và chỉ lớn bằng cổ tay, rất dài. Hóp được dùng làm sao bột phải là loại hóp đực, nghĩa là loại cây hóp không có khả năng “đẻ” ra măng. Vì thế nó cằn và đặc ruột. Cây hóp dùng làm sào bột khi đã gần già, nghĩa là còn có khả năng uốn qua lửa cho thật thẳng. Khi đó nó có cái chất thép để cứng và cũng có khả năng dẻo để không bị giòn và gãy khi bị chống mạnh. Đặc biệt ở phần mũi sào, tức là phần gốc cây hóp được bịt bằng một cái khâu bằng sắt như khâu dao và gắn một mũi đinh thép vào đầu, không cần nhọn, mà tù tù giống y hệt như đầu ngón tay cái. Nó có thể chống lại với đá, sỏi và rút ra dễ dàng khi đâm vào đất. Không hiểu do đâu mà những người san tràng lại đặt cho nó cái tên rất hiền thục là sào “bột”? Thực ra nó không hiền lành tí nào. Trong những năm loạn ly, vô chính phủ, giặc cướp nổi lên, cây sào bột đã từng chiến đấu và đâm lòi ruột những tên cướp cạn. Trong đoàn san tràng, ai được giao cầm cây sào bột, phải là người can trường và có sức lực. Họ chính là người “đứng mũi, chị sào”. Với cây sào này, người chiến binh có thể chèo chống con mảng bất kham qua bao ghềng thác hiểm nghèo.
Con mảng đang trôi êm ả bỗng vặn mình răng rắc. Đã vào cổ thác. Tĩnh không quay lại, đôi mắt vẫn chăm chú nhìn mũi mảng, lên giọng nói với chị Nga đang ngồi run rẩy ôm thằng Hận đằng sau:
- Hai mẹ con cẩn thận. Giữ chắc đấy!
Bè đã vào cổ thác, dòng nước bỗng choãi ra, trơn tuột, xanh biếc và mềm mại như lưỡi một con rắn khổng lồ. Nước réo ầm ầm dưới chân anh. Tĩnh bỗng như người lên đồng, ngực nổi phồng, cầm trong tay thứ vũ khí gia truyền, mắt anh sáng quắc hướng về phía cuối con thác.
Con mảng xuống thác nhẹ nhàng như trườn vào cái hang trơn nhớt. Nó vặn mình hơi nghiêng sang bên phải, gió tạt ù ù bên tai Tĩnh, khiến anh hơi loạng choạng. Đây không phải lần đầu Tĩnh nhận vai đứng mũi chịu sào, nhưng mỗi lần qua đây, anh cảm thấy giống như những ngàu đầu vào trận của những năm đánh giặc. Vách đá dựng đứng xám xịt choán dần tầm mắt anh. Ánh chiều loang loáng, những con dơi đi ăn sơm bay chấp chới, như muốn phân tán sự chú ý của anh. Nhưng kia rồi, Tĩnh nhận ra cái hốc đá vững chãi đã chịu hàng trăm, hàng ngàn mũi sào bột của dân san tràng. Tĩnh bĩnh tĩnh như người nhắm mũi giáo đâm vào ngực kẻ thù. Một tiếng chát chúa vang lên nháng lửa. Cây sào bột trong tay Tĩnh con lại như bị uốn vồng lên, như muốn hất anh xuống sông. Nhưng Tĩnh đã né nghiêng về phía trong, nhằm tạo phản lực để xô nghiêng con mảng quay đầu trở ra. Răng rắng… tiếng dồn mảng nghe ghê người, vài mũi mảng cô lao vào vách đá đã phải chùn bưỡi trướn cây sào bột bà cánh tay anh cựu chiến binh. Nó nhíc ta một khoàng, chỉ non nử sải tay, và chi các méo đá xanh không đầy một gang tay. Chính xác là một gang tay, đúng kỹ thuật. Bởi vì nếu không đánh kịp đầu mảng sẽ vỡ tung. Còn nếu sớm hơn, mạnh hơn, con mảng sẽ xô ra xa ngoài khoảng cách một gang tay nó sẽ bật ra xa, giống như con tàu sai quỹ đạo noá sẽ quanh mãi… bất tậtn. Có khi hàng buổi, cả con mảng cứ luẩn quẩn.
- Tốt rồi! Ông Thuần nói to, tiếng ông vang rền nhờ cộng hưởing vách đá bờ vực. Để cho chúng nó quạt, cậu xem mẹ con nhà chị kia có sao không?
Tĩnh thở phào, vuốt nước sông đã tung lên mặt anh, chạy lại. Chị Nga vẫn nhắm mắt, ông ghì thằng Hận vào ngực. Tĩnh phải lay mãi, chị mới chịu mở mắt ra, ngơ ngác:
- Qua chưa hả anh?
- Qua rồi1 Nhưng mới được một quanh, còn phải hai quanh nữa.
- Ối Giời…! Vẫn còn nữa à? Em tưởng mẹ con em chết ở đây rồi chứ…
Tĩnh đinh bế thằng Hận, nhưnganh nghĩ sao lại thôi, chỉ nắm bàn tay trắng bệch của nó:
- Tí nữa tến bến, chú đốt rơm cho cháu sưởi nhé. Cố chịu thêm tí nữa. Chị còn cái áo khô nào không, quần thêm vào bụng cho nó…
Chị Nga thều thào:
- Còn, nhưng trong bọc kia, anh lấy hộ…
Tĩnh tháo sợi dây buộc chặt miệng cái bị bên nách chị Nga. Anh lục mãi, thấy tấm áo xanh màu trứng sáo đã ngả màu, định cầm lên, lại nhét vào.
- Anh lấy cái đấy cũng được. Ao của tôi may lâu rồi…
Được ủ ấm, Thằng Hận tươi lên một chút, nói lại cười. Lúc này trông nó xúng xính như một con búp bê bằng nhựa, nhưng là con búp bê đã bị tụi trẻ nhà giàu chơi chán, vứt bỏ, trọc tóc, bợt màu…
Chiếc mảng thong thả quanh một vòng rồi lại vặn mình cót két, trở lại vị trí cũ. Tĩnh đứng dậy , nắm cây sào bột, đi lại phía đầu mảng. Gặp cái nhìn đầy lo âu của chị Nga, Tĩnh cười:
- Không sao đâu! Lần này dễ hơn nhiều. Tôi chỉ đánh nhẹ cái là nó ra thôi.
Nhưng Tĩnh đã lầm, hay anh chủ quan! Không ngờ người đứng mũi mảng, chịu sào bột chỉ vừa đánh mũi sào vào hốc đá, nó vừa nháng lửa một cái, chiếc sao bật cong lên và… rời khỏi tay Tĩnh! Qua nguy hiểm, một góc đầu mảng đâm sầm vào bờ đá, xô nghiêng một bên. May sao, nó không xô chồng đống lên, hay vờ vụn, mà ngoan ngoãn như đầu con rắn trườn theo bờ đá, vời khoảng cách chỉ tính bằng đốt ngón tay. Chiếc sào bột văng trở lại, đúng vào tầm tay ông Thuần. Ông già đầy bản lĩnh và kinh nghiệm bắt lấy nó, đành tiếp một mũi vào bờ đấ, hỗ trợ cho con mảng nhẹ nhàng lướt đi. Những người thợ san tràng cuống quýt lấy sào chống vào vách đá để cạnh con mảng không quệt vào đá, chúng sẽ cứa đứt dây khắn.
Trong khi đó, khi mũi mảng đâm sầm vào bờ đá xanh, thì Tĩnh bị đà quán tính đã hất anh lên vách đá, giống như người ném một con nhái vào bờ vách. Trong tích tắc giữa sống và chết, anh chàng cựu chiến binh đã kịp chống hai tay vào vách đá ghì lại được, không để ngực và đầu đập vào cái mảng xù xì, lởm khởm ấy. Hai tay anh đã bám vào được một mẩu đá nhô ra. Khi chị Nga ngước nhìn lên thì đã thấy Tĩnh như một cái xác bị căng ra, đóng đinh vào vách đá. Nhưng kỳ lạ thay, Tĩnh vẫn sống và ngoảnh lại miệng cười rộng toác, phô hàm răng trắng nhởn.
- Bám chắc vào! Ông Thuần quát to. Đừng buông tay. Có chịu một tí. Tay chận có làm sao không?
- Không! Cháu nhảy xuống nhá!
- Khoan đã! Đừng nhảy xuống mảng. Nứa cắt đứt chân đấy. Để bè đi qua rồi nhảy xuống, bơi theo. Rồi ông quát một tay khác:
- Thằng Phấn, cầm cây sào chạy ra đuôi mảng, lúc nào tao bảo nhảy xuống, thì thằng Tĩnh nó nhảy, mày đưa cái sào này cho nó nắm…
- Vâng! Phấn chạy lảo đảo lại phía đuôin mảng. Khi mảng đã trôi khỏi chỗ Tĩnh bám độ dăm sải tay, ông Thuân hô:
- Nhảy! Nhảy đi Tĩnh! Co chân tay lấy đà, nhảy ra xa chứ không rơi vào đá, chết đấy…
Tĩnh cong người búng mình như con tôm rơi tõm xuống nước, chìm nghỉ. Chị Nga hét lên một tiếng, bịt mắt, cúi xuống.
Lát sau Tĩnh trồi lên, lắc đầu hấy nước rồi nhoai tới. Vài sải tay, anh nắm được cây sào của Phấn. Lát sau, anh leo lên mảng, thở phì phì, chữa ngượng:
- Mẹ nó! Mình ngắm kyc thế mà vẫn trệch mục tiêu. Bác Thuận ạ, cháu đâm trượt vào cái mấu đá, thế là…
Ông Thuần cầm ra một cái chai nhỏ, nút là chuối, đưa cho Tĩnh:
- Chết rét! Uống một ngụm vào!
- Rượu à? Thôi cháu không uống đâu. Tĩnh khẽ lắc đầu.
- Rượu đâu mà rượu, nước mắm đấy. Uống vào cho nó ấm lên…
Tĩnh tu một ngụm nhỏ, le lưỡi:
- Khiếp, mặn quá! Nhưng mà có ấm lên thật! Thế mà bác Thuần chả cho anh em chấm rau tàu bay…
Ông Thuần lấy lại chai nước mắm, bỏ vào túi áo:
- Cái này không ăn được. Để đề phòng chống rét. Cậu bị lần này là mấy rồi, Tĩnh?
- Mới có hai. Kinh thật đấy…
Ông Thuần cười:
- Kinh đếch gì mà kinh! Tao còn bị nó gẩy lên tới sáu bảy lần rồi ấy, chả nhớ! Nhưng mà phải rút kinh nghiệm. Không khéo toi mạng! Thôi nào, đến quanh ba rồi đấy.
- Có ra được không ông Thuần? Cậu Phấn sợ sệt hỏi, nó mới đi lần đầu.
- Ra… a! Sao lại không ra được? Nhìn mảng thì biết. Thằng Tĩnh đánh cú ấy cũng khá. Có điều dở quá để nó đóng đinh lên vách là xoàng đấy Tĩnh ạ…
Tất cả cùng cười, Tĩnh cũng cười, nhìn về phía chị Nga, dường như anh muốn chữa ngượng.
Chị Nga thật ngạc nhiên sau sự nguy hiểm chết người ấy mà những người thợ sơn tràng nghèo khó, rách rưới ấy lại vẫn có thể cười nói vô tư như thế được. Chị cũng đã từng được nghe kể lại, qua những câu hát nói về nghề này. “Nhất phá Sơn Lâm nhì đâm Hà Bá! Ở đây những con người này đã cùng lúc phải đối chọi chống chỏi, giành giật miếng cơm manh áo với cả hai vị hung thần là Sơn Lâm và Hà Bá… Nói dại, nếu chẳng may, Tĩnh có làm sao? Không, anh chẳng làm sao cả, không có gì hại được anh. Tĩnh cũng như những người thợ đầy nghĩa hiệp và can trường. Nhưng sao đối với chị Nga, hình như trên con mảng lênh đênh đưa đẩy số phận hai mẹ con chị đã gắn liền chị với con người này, một cách mơ hồ.
Quanh thứ ba đã nhẹ đi rất nhiều, ông Thuần chỉ cần dùng một chiếc sào thường đánh và vách đá một cú không mạnh lắm, rồi ông ghì con sào cặp nách, mũi mảng đã ngoan ngoãn trở ra. Nhưng ông vần quát to:
- Quạt ra! Quạt ra, mạnh vào không nó trở vào luồng bây giờ…
Con vực sâu hun hút, sào không chống tới mà những người thợ phải dùng đến những mái chèo đan vội bằng những thanh nan nứa để chèo mũi mảng. Chỉ một chốc, con mảng loằng ngoằng đã ra giũa dòng sông. Nó êm ả xuôi về bến Bầu.
Trời bắt đầu tối. Dòng sông như rộng ra, vời vợi. Sông thượng du không có tiếng hò, mà chỉ cuồn cuộn thác ghềnh. Những người dân chài hiếm hoi, cũng đã neo đậu thuyền vào bến, lên bờ. Đèn dầu bắt dầu nhập nhoạng như những con đom đóm lượn lờ trong những luỹ tre. Tĩnh đến ngồi xổm trước mặt chị Nga:
- Xong! Từ đây là hết lận đận. Lên bờ phải hút một điếu thuốc lào. Từ chiều thèm quá mà thuốc lửa ướt hết cả. Thằng chó con, à thằng Pinôkiô của tôi nó ngủ rồi à?
- Vâng! Có lẽ cháu nó ngủ được một lúc rồi. Mà anh cũng nhớ tài nhỉ, đã nhớ tên nó là Pinôkiô rồi cơ đấy…
- Hồi nhỏ tôi cũng có đọc cuốn truyện đó rồi. Tại chị gợi ra cho tôi nhớ đấy thôi. Thằng bé thông minh lắm…
- Lúc nãy nhìn anh nhảy lên vách đá, bị bám dính vào đấy, nói dại, tôi tưởng…
- Tưởng chết rồi chứ gì! Cũng sợ thật đấy. Nhưng mà may có phúc đức ông bà. Làm cái nghề này kiếm được bơ gạo, nhưng nguy hiểm lắm… Chắc sau chuyến này, tôi cũng bỏ thôi.
Chị Nga im lặng, thẫn thờ nhìn ra mặt sông rồi lại nhìn vào mặt thằng Hận. Bỗng noa giật mình, choàng tỉnh. Thấy mẹ, nó ưỡn người lên, rôic bắt đầu khóc. Nó đói.
- Có lẽ cháu đói rồi chị Nga ạ… Quên lúc chiều không để phần nó miếng cháy.
- Không. Cháu chưa đói đâu. Chị Nga nói để Tĩnh yên tâm. Thấy người lạ, lại ngái ngủ nó khóc đấy. Rồi chị nói với con. Nào, để mẹ cho con tè nào… Muốn tè đây…
Chị Nga dỡ đám áo quần quấn quanh người nó ra. Tĩnh đứng dậy đi loạng choạng đến bên ông Thuần:
- Chắc khoảng bày giờ tới bến bác Thuần nhỉ.
- Ừ, tao cũng đang thèm thuốc đây.
Bỗng hai người giật mình, nghe tiếng chị Nga thét lên:
- Oi giời ơi! Con ơi!
Tĩnh quay lại thì thấy chị Nga đang nằm xoài trên mặt mảng, nử người dưới nước, một bàn tay nắm lấy cây nứa, còn tay kia quơ quơ trong nước.
- Cái gì thế? Tĩnh hét toáng lên, giận dữ.
- Con tôi… nó rơi xuống sông rồi… ồi! Anh ơi vớt con tôi với…
Tĩnh không nói, anh nhào xuống sông lặn một hơi. Những cái bong bóng nhuôm màu hoàng hôn vỡ ra như những cục máu trồi lên từ đáy sông. Con bè vẫn trôi đi im lặng. Mttọt lúc sau Tĩnh nhô lên, dâng cái bọc vải có thằng Hận trong đó lên cuối mảng. Chị Nga nhào tới, nhưng bị ông Thuần chặn lại:
- Cô ngồi xuống đây. Không được động vào thằng bé.
Rồi ông Thuần chạy tới tóm thằng Hận từ tay Tĩnh. Ông lột bỏ quần áo thằng bé dốc ngược nó lên bằng hai chân. Không thấy nước ra, ốc xxốc mạnh và quay quay nó trên tay mình. Lúc sau, nước từ trong bụng thằng Hận ộc ra. Tĩnh vẫn chưa leo lên được mặt mảng, anh bám theo nó, nước trong bụng thằng Hận ốc ra lên cả mặt anh. Phấn và hai người nữa chạy tới phụ giúp ông Thuần. Họ cởi áo ra trải xuống mặt mảng cho thằng Hận nằm xuống…
Tĩnh đã đu người lên mặt mảng, chị Nga định chạy lại chỗ con trai, bị anh giữ lại:
- Chị không được nhìn mặt nó. Thấy mặt mẹ, nó ốc máu tươi ra là chết, không cứu được đâu. Tôi thấy người nó vẫn còn nóng…
Chị Nga khóc lặng đi trong tay Tĩnh. Anh hỏi sang chỗ ông Thần:
- Nó thở được chưa, bác Thuần?
Im lặng. Chỉ thấy hai vai ông già nhô lê, hạ xuống. Ông đang cố sức thổi hơi vào ngực thằng bé. Một lúc sau, bật lên tiếng khóc ré của thằng Hận. Chị Nga vùng dậy, nhưng Tĩnh vẫn giữ lại:
- Không sao rồi! Chị cưa yên tâm. Có bác Thuần ở đây không có gì ông ấy không làm được. Để ông ấy làm xong việc đã…
Ông Thuần tiếp tục thổ thơi vào miệng thằng Hận, Phấn chạy vòng quanh. Ông quát:
- Lấy ngay hộp dầu con hổ lại đây. Tốt rồi.
Ông bế thằng Hận đang khò khè, hấp háy đến đưa vào tay chị Nga:
- May quá cô ạ! Cứu được rồi…
- Con ơi… Các bác ơi… mẹ con em đội ơn các bác. Kiếp này không hết thì sang liếp sau…
- Thôi được rồi! Để kiếp sau có khá hơn hãy trả ơn. Kiếp này chúng ta khổ đến đây là cùng rồi cô ạ. Cô là cô giáo phải không?
- Vâng!
- Có chồng đi B, hy sinh phải không?
- Dạ, vâng ạ!
- Thôi cố mà sống, mà nuôi con cho chồng. Đây kia rồi, cái chỗ sáng sáng kia là Bến Bầu rồi. Lên đến nơi tôi sẽ xin thuốc cho cháu. Bây giờ thì ủm kín nó lại…
Bây giờ thì những con người chỉ là những cái bóng trên mảng. Họ thoăn thoắt, họ lờ lững với công việc của họ.
Tĩnh cũng định đứng lên, nhưng anh lại cúi xuống, luồn tay vào trong bụng thằng Hận, lần lên ngực nó, thấy được nhịp đập trái tim nhỏ nhoi, rất mơ hồ của một con người. Anh nói với chị Nga:
- Sắp lên bờ rồi. Tôi sẽ không bỏ mẹ con chị đâu!


***
ĐOẠN 11

Tôi gặp lại chị Nga của mình sau đúng hai mươi bảy năm. Từ dạo ấy, từ sau cái ngày đám cưới chị, tôi đạp xe mải miết về tỉnh đội, mải miết đi B, đi trong nhiều đội hình, rồi nếm trải, thưởng thức hương vị vinh quang của khúc khải hoàn do chiến tranh mang lại. Suốt một chặng đường dài ấy tôi nhận thấy rằng có nhiều lần tôi đã quên bẵng hình ảnh chị Nga, nhất là những khi cảm thấy mình có một chút thành đạt trong đời. Nhưng lạ lùng thay hễ cứ mỗi lần vấp ngã, một bận gặp phải nỗi niềm oan trái tai ương ập đến tôi lại nhớ về cái làng quê bé bỏng của tôi. Và hình ảnh chị Nga lại hiện ra, lại thì thầm bên tôi như như những ngày thơ dại. Mỗi lần tôi muốn khóc, tôi lại nghe tiếng chị:
- Nín đi em, khóc thế đủ rồi!
Giờ đây gặp lại chị sau hơn một phần tư thế kỷ, tóc tôi đã bắt đầu ngả bạc. Và một nửa số nhân vật, những người tôi nhắc đến trong câu chuyện này đã không còn trên cõi đời này nữa. Anh Kỳ, ông Tuân, bà Tuân, bà Phán Lan, thầy Hoan và cả bố tôi, đã lần lượt ra đi…
Vào một đêm tháng sáu oi nồng, bức bối có người đập cửa căn nhà nhỏ ngoại ô của tôi và tiếng một người đàn bà dè dặt nhưng có sức vang như tiếng gọi của quá khứ:
- Cậu ơi! Cậu Hoàng ơi!
Tôi giật mình choàng dậy hốt hoảng. Ai? Ai gọi tên tôi trong đêm thanh vắng thế? Có lẽ là trong chiêm bao, trong tiềm thức không yên ổn của tôi, những tiếng gọi như thế không bao giờ ngưng. Mồ hôi dấp dính trên trán, trong lưng áo, những cái gai trong cột sống của tôi cựa quậy, nhức nhối. Chờ nghe lại nhưng không thấy gì, tôi đặt mình xuống thì tiếng gọi ấy lại vọng vào giường. Lần này đúng là tiếng gọi thật, nghe rõ hơi thở hồi hộp của người gọi:
- Hoàng ơi! Em ơi, chị đây!
Tôi bật đèn mở cửa, trời ngoại ô đêm đêm vẫn một màu vàng đục. Tôi hỏi bằng một giọng lo lắng:
- Ai gọi trong đêm khuya khoắt thế?
Người đàn bà ấy hiện ra: chị Nga! Trời ơi, sao tôi lại gặp chị ở nơi này? Tôi reo lên nho nhỏ:
- Chị… chị Nga phải không?
- Ừ! Chị đây! Em ngạc nhiên lắm phải không?
Chị quay lại phía sau nói nhỏ: “Tới đúng nhà rồi, nhà cậu Hoàng của mình đấy, vào đi con!”
Lúc này tôi mới nhận ra người thanh niên đi cùng chị. Tôi hỏi:
- Ai thế chị? Có phải thằng Hận không?
- Phải! Chào cậu đi con, nhà cậu đây rồi!
Thằng Hận năm nay đã hai mươi hai tuổi, hơi mảnh khảnh cúi đầu lí nhí chào tôi. Cả nhà tôi thức dậy đón mẹ con chị. Bao nhiêu là chuyện thăm hỏi, hàn huyên. Nhưng sao không khí lại không được thân thương như ngày tôi còn nhỏ ở quê nhà mà mỗi lần tôi ngồi bên chị nhỉ? Người ta bảo càng già càng ích kỷ, hay là tôi đã già rồi?
- Hai mẹ con chị chắc là chưa ăn uống gì. Để em bảo nhà em đi nấu cơm chị và cháu ăn nhé?
- Chị ăn ngoài ga rồi, sợ cháu Hận có đói không. Hận ơi, con có đói không để cậu mợ thổi cơm?
Thằng Hận ngồi lặng thinh ở một góc ghế sa lông. Hai tay khoanh trước ngực, ngửa mặt nhìn những tấm giấy khen của các con tôi treo trên vách. Lúc này tôi mới nhìn kỹ nó, sao mà nó giống anh Kỳ đến thế! Cũng cái cằm nhỏ, hai vành tai chúc hướng về đằng trước hơi nhiều. Đặc biệt cặp lông mày ngắn và xô vào nhau sát tinh mũi, kiểu lông mày của những người ưa toan tính.
Sau khi vợ tôi thu xếp cho thằng Hận ngủ, tôi ngồi lại với chị Nga. Khuôn mặt chị vẫn không khác nhiều so với ngày xưa, chỉ có vóc người thì sắt lại. Tôi bồi hồi nghĩ đến bộ ngực thiếu nữ của chị ngày ấy, cái ngày mà trong cơn thất vọng tôi đã gục vào, như một con gà con nép vào đôi cánh của mẹ mình. Chị nhìn tôi với cái nhìn ấm áp:
- Chị vẫn nghe nói về em luôn, cuộc sống của em thành đạt chứ?
- Chị ơi! Biết nói thế nào để chị hiểu bây giờ? Vâng, em cũng tạm ổn…
- Vậy là tốt, chị mỉm cười, còn chị nhiều gieo neo lắm. Để rồi chị kể cho em nghe. Chắc đời chị chỉ có em là người chị có thể nói hết ra được.
Tôi cúi xuống nhìn vào cốc nước giấu nỗi xúc động của mình. Chỉ một câu nói nữa của chị là tôi sẽ khóc mất. Lát sau , tôi ngẩng lên:
- Chị ơi, em đã nghe hết chuyện của chị rồi. Thôi, mọi chuyện cứ coi như giấc chiêm bao…
- Chị cũng nghĩ thế, nếu không chị làm sao sống nổi suốt một chặng đời tao loạn trái ngang, để hôm nay chị em mình còn được gặp nhau…
- Em cũng đã về đến Soi Vạt, nhưng chỉ gặp thằng Hợi chăn trâu. Nó bảo “Cô Nga trôi sông rồi”…
Chị Nga lắc đầu:
- Khổ thân thằng bé! Bây giờ không biết nó thành cái gì rồi?
Chợt trong lòng tôi dào lên một nỗi hối hận. Sao bao nhiêu năm tháng tôi đã không đi tìm chị? Có lúc tôi cũng đã nghĩ đến chuyện ấy, nhưng lại tự hỏi: để làm gì? Câu hỏi ấy hóa ra là chỉ dành cho tôi chứ không phải cho chị, cho những người thân thiết của tôi. Nghĩ thế nên tôi nói mà thấy gượng gạo:
- Em thì lúc nào cũng nghĩ về chị, nhất là cái đêm trên gò Chùa Phung, em đang nằm một mình cô độc trên cỏ, với những hồn ma… thì chị đến…
Chị Nga cười nhẹ:
- Em vẫn còn nhớ chuyện ấy cơ à?
- Em quên làm sao được hả chị, cái buổi tối hôm ấy đã vực em dậy, và chính chị đã nâng em lên…
- Là em đấy chứ! À mà em có còn làm thơ nữa không?
- Có chị ạ! Nhưng những câu thơ của em cũng không giúp được ai hạnh phúc… Những năm sau này chị ở đâu mà những lần về làng em không gặp chị? Có đúng là chị và cháu Hận nửa đêm xuôi mảng nứa bỏ đi không?
Chị im lặng một lát rồi nói nhỏ:
- Xuôi mảng thì có, nhưng không phải ban đêm mà là buổi sáng, ban ngày, đi nhờ các ông san tràng xuôi gỗ.
- Em cũng hỏi thăm chị, nhưng không có thì giờ đi tìm chị…
- Chị bế thằng Hận đi khắp nơi, gặp việc gì làm việc ấy kiếm ăn qua ngày. Mãi sau chị xin được vào nắm than quả bàng cho một cửa hàng chất đốt. Đây, em nhìn hai bàn tay chị xem, cho đến tận bây giờ…
Đó là những ngón tay bợt nước và những cái móng đen xậm, lầm than của chị tôi.
Đêm ấy tôi trằn trọc cho đến sáng. Hình như tôi có chợp mắt được một lúc, bởi vì tôi đã được đi lại con đường tuổi thơ của mình cùng với chị Nga men theo bờ ruộng và chia tay chị dưới gốc gạo, nơi có con đường dẫn vào ngôi mộ đá Chúc Anh Đài…


***


Tôi xin được tiếp tục câu chuyện.
Lên bờ! Chị Nga của tôi xốc một bên nách cái tay nải nghèo nàn, ôm thằng Hận trước ngực bước những bước chân chập choạng trên nền đất gồ ghề. Đây, đây đất khách quê người là đây. Nghĩ một thoáng, chị quyết tâm đến một cái quán nước tồi tàn, che bằng mấy tấm liếp tả tơi. Hai người đàn ông nom cũng có vẻ tiều tụy nhích ra nhường một đầu ghế cho chị Nga. Người đàn bà gầy quắt chủ quán nhìn chị nhưng không hỏi. Chị lên tiếng:
- Xin bà cho cháu một cốc nước nóng.
- Chỉ có nước chè, cô uống được không?
- Vâng, được bà ạ.
Thằng Hận vẫn ngọ ngoạy trong ngực chị. Thế là chị yên tâm. Chị Nga chỉ sợ, và chị cứ tưởng ra nó im lặng. Lặng ngắt và lạnh ngắt… Nhưng nó vẫn rọ rạy trong bụng chị, hơi ấm của nó chị vẫn cảm nhận được. Và chị cũng muốn dùng hết sức, hết lực, hết hơi ấm cuả mình truyền cho nó. Uống hết bát nước chè, chị Nga bỗng thấy trong bụng réo cồn cào, chuyển rần rần. Thằng Hận càng cựa mạnh. Lúc này chị mới vạch những mớ giẻ áo quần cuộn lấy nó, để khuôn mặt xám ngắt và đôi mắt lờ đờ của nó hé ra.
Người đàn ông ngồi cạnh ái ngại:
- Cháu ốm hả chị?
Nghe giọng hỏi thông cảm của người lạ, chị Nga ngước lên:
- Vâng! Cháu bị cảm. Rồi chị ngước nhìn bà chủ quán. Bà ơi, bà có sữa hay nước đường cũng được, bán cho mẹ con cháu một cốc?
Bà chủ quán cười khẩy:
- Làm gì có sữa! Nước đường thì có, nhưng đường Hoa Mai thôi…
- Vâng cũng được, cho cháu xin một cốc. Bao nhiêu bà cho cháu gửi?
Chị Nga móc cái mớ tiền lẻ bùi nhùi trong túi, nhưng bà chủ quán không để ý, quay vào phía trong. Sau một hồi lục lọi, bà ta cầm ra một cái gói bằng giấy bao xi măng, to bằng đầu gối. Cởi hai, ba lần lạt buộc, một bọc giấy báo lộ ra. Thong thả và tỉ mẩn bà chủ quán lấy chiếc thìa nhỏ gò bằng một mảnh nhôm vụng về, nông choèn trịnh trọng múc từng thìa một như thể ao thóc, vào trong cái bát ăn cơm ve lòng, đã mẻ một miếng. Nhìn theo bàn tay bà chủ quán, chị Nga cứ nín thở từng chặp, hồi hộp. Nhất định thằng Hận của chị phải được uống nước đường, sẽ được cứu sống!
Cầm cái bát đường vàng trên tay, chị Nga đang phân vân không biết lấy nước gì hoà cho con uống, thì bà chủ quán đã đưa tay ra như là giằng lại:
- Nhà chị đưa đây cho tôi. Rồi bà ngoái vào phía trong, sau lưng, gọi to. Hến ơi, cơm sôi chưa?
Một đứa con gái nhỏ bé, mặt choắt, mũi hếch chạy ra:
- Sắp rồi! Mẹ hỏi làm gì?
- Sôi thì chắt lấy một ít nước cơm ra cái bát, đem ra đây cho tao. Nghe chửa?
Con bé vội chui tọt vào rồi chỉ một loáng sau, nó đã rón rén bưng ra một bát nước cơm. Bà chủ quán cũng rón rén trút vào cái bát đường vàng, rồi cầm thìa khuấy sơ lên, đưa trả lại cho chị Nga, miệng lầu bầu:
- Gạo mậu(1), nên nước cơm cứ trong leo lẻo như mắt ma ấy. Nhà chị cứ cho cháu uống cũng đỡ hơn nước sông. Này, cầm lấy mà bón cho nó…
Nãy giờ hai người đàn ông chăm chú theo dõi những động tác của bà chủ quán. Chị Nga nghe thấy cả tiếng một người nào đó nuốt nước miếng ừng ực. Chao ơi, rồi một ngày nào đó đất nước mạnh giàu, nhân dân hết cơ cực, mọi người sẽ có cơm có cá, có thịt, có đường, có sữa… Chứ còn hôm nay, một nhúm đường vàng mà cả người lớn, lẫn trẻ thơ đều thèm thuồng, nuốt nước bọt cầm chừng. Chị Nga lại muốn ứa nước mắt, nhất là khi thằng Hận hau háu nuốt từng thìa nước cơm. Đối với nó, đây là thứ thuốc thần tiên, thứ chỉ có khi ở thiên đường. Nhưng nó còn nhỏ quá, còn phải lớn lên, còn phải sống dai dẳng, chưa thể lên thiên đường đựơc. Chó con, à Pinôkiô của mẹ nhỉ?
Nhắc đến cái tên thằng bé gỗ, tự nhiên trong lồng ngực chị Nga như có gì hụt hẫng. Trong lúc lo cho thằng Hận chị đã để ra ngoài tâm trí của mình hình ảnh Tĩnh, người đàn ông đã cưu mang, cứu vớt mẹ con chị, mà tưởng như đã gắn bó với chị tư bao giờ. Chị còn nhớ đôi mắt sáng, chứa chất đầy niềm kiêu hãnh, vui mừng khi nói với chị: “Tôi sẽ không bỏ chị đâu!”. Vậy mà, bây giờ anh đang ở đâu? Anh đã xong việc của mình chưa? Anh có nghĩ đến mẹ con tôi không? Hay… lúc lên bờ, chị đã vội vã bế con đi thẳng, anh tìm không thấy? Bao nhiêu câu hỏi cứ trôi tuột trong đầu chị, không dừng lại ở một giả thiết nào. Sự trống trải, hẫng hụt dâng lên tràn lồng ngực chị, một nỗi tủi hờn xâm chiếm, từng chút, từng chút… Chị Nga hờ hững buông cái thìa nước cơm trên miệng con, nghển cổ nhìn ra xung quanh, tìm kiếm. Chỉ có bóng đêm đen đặc và thấp thoáng những ánh đèn tù mù, hoang vắng. Gió vẫn thổi từng chặp, từng chặp ào ạt từ dưới sông lên, lùa trong lưng áo chị, lạnh buốt.
Bỗng chị Nga nghe mơ hồ ai gọi tên mình, trong gió ào ạt. Rất mơ hồ rất không thật, nhưng chị đã nghe thấy. Chị nghe được tiếng gọi của Tĩnh:
- Nga ơ… ơi! Hai mẹ con ở đâu…u?
Chị đã nghe được tiếng gọi đứt quãng, theo từng đợt gió. Chị bế con đứng thẳng dậy bước ra hẳn khỏi túp lều quán nước, lấy hết hơi sức trong người, đáp lại tiếng gọi:
- Anh Tĩnh ơi! Ở đâ… ây!
- Nga ơ… ơi!
- Em đang ở đây… anh Tĩnh ơi…!
Chị bước sải những bước chân vấp váp trên bùn bãi bến sông về phía tiếng Tĩnh đang gọi. Những người ngồi trong quán nhìn theo ái ngại. Bà chủ quán vẫn lặng thinh, nhưng với con mắt cảnh giác cố hữu, miệng lầm bầm: “Rõ khổ, vợ chồng sông nước”.
Tĩnh ào đến, hai bàn tay nóng bỏng rắn như thép nắm lấy cánh tay chị Nga, xiết mạnh:
- Có sao không? Thằng bé có sao không?
- Cháu đỡ rồi anh ạ. Em đã xin được chút đường hoà với nước cơm cho nó uống.
Đêm ấy, chị Nga của tôi đã bế thằng Hận đi theo anh chàng sơn tràng. Nửa đêm họ đến được nhà ga tàu hoả. Tĩnh trải manh áo mưa ra một góc tối trong nhà ga lờ mờ:
- Hai mẹ con nằm nghỉ đi, để tôi đi “nắm” tình hình.
Chị Nga thấy ái ngại, nhưng vẫn bật cười:
- Anh lúc nào cũng như người lính!
- Bảo sao? Tĩnh đã bắt đầu có những câu thân mật, thỉnh thoảng là những câu trống không.
- Không! Anh cứ đi “nắm tình hình” đi! Em ngồi nghỉ một lúc cũng được.
Và không biết từ lúc nào, chị Nga cũng đã xưng “em” với người xa lạ.
Chị Nga đặt lưng xuống nến đất lạnh, rã rời chân tay. Chị nhắm mắt lại để mặc mọi sự cho cuộc đời. Chị đã đến đây rồi, còn biết làm sao? Điều làm chị yên tâm là tiếng thở đều đều của con trai. Thế rồi chị chìm vào trong cơn mệt mỏi, ngủ thiếp. Độ hơn nửa giờ sau, Tĩnh quay lại. Anh không định đánh thức chị Nga, nhưng chị đã mở mắt:
- Anh về rồi à? “Tình hình” thế nào?
Tĩnh dúi vào tay chị Nga một cái bánh xốp mỏng, nguội ngắt:
- Ăn đi một chút đã. Chắc đói lắm hả?
- Không , em không thấy đói…
- Cố ăn đi… cũng ngon lắm, không đến nỗi…
Chị Nga ngoan ngoãn cắn một miếng bánh rẻ tiền. Quả vị ngọt và hơi bột mì làm chị thấy ấm lên. Tĩnh nhìn người đàn bà xa lạ ăn nhỏ nhẹ từng miếng bánh, bất chợt anh nhận ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong chiếc miệng cân đối với hàm răng đều. Dù trong bóng tối lờ mờ anh vẫn nhận thấy những lọn tóc xoà xuống trước vầng trán thanh tú của chị… Thỉnh thoảng chị Nga lại đưa tay sờ sẫm lên thân mình con. Miếng bánh đã hết, chị Nga bần thần vuỗi những mẩu vụn vương trên mép, cười:
- Ngon thật anh ạ…
- Bánh mậu dịch, không phải gia công đâu… Uống nước nhé?
Chị Nga khẽ gật đầu, Tĩnh chạy đi mua một cốc nước đặt vào tay cho chị. Chị bình thản cầm cốc nước uống hết, ngon lành, không khách sáo, mặc dù đó là cốc nước nhạt, có vị tanh của chảo gang.
Tĩnh đưa trả lại cốc nước cho quán, bần thần quay lại. Anh nghĩ rất lâu, không nói, chị Nga nhỏ nhẹ:
- Tình hình thế nào, anh?
Tĩnh hất mái tóc loà xoà, nhìn thẳng vào đôi mắt u buồn của chị Nga:
- Bây giờ… Nga tính thế nào?
Chị Nga bất ngờ đưa tay cuộn lại mái tóc rối, quấn một vòng sau gáy. Mái tóc đã rụng nhiều, nhưng vẫn đủ cuộn lại thành một búi, trông nó như một túm lá kiệu khô. Chị nhìn Tĩnh, bình thản:
- Em cám ơn anh đã đưa mẹ con em đến đây. Em đã tính rồi, mẹ con em sẽ lên tàu đi Phú Thọ.
- Ở đó Nga sã làm gì? Làm gì để sống và nuôi con?
Chị Nga chùng xuống:
- Em chưa biết sẽ làm gì, nhưng em sẽ làm. Làm để sống và nuôi con em như anh nói…
Tĩnh thảng thốt:
- Hai tiếng nữa có tàu ngược Phú Thọ…
Chị Nga quyết định hỏi một câu mà chị đã nghĩ mãi, suốt từ lúc bước khỏi mảng:
- Bây giờ, anh đi đâu?
Tĩnh lắc đầu, buồn bã:
- Tôi cũng chưa định.
Chợt chị Nga thấy ân hận, vì mình mà chàng thanh niên san tràng khoẻ mạnh, can trường phải khó xử. Anh đã dính vào mẹ con chị, để bây giờ đâm khổ. Mới lúc nãy, chị mong anh đến chừng nào, thì bây giờ chị lại mong anh ra đi chừng ấy. Thôi, anh đã tốt với mẹ con em quá rồi, anh hãy đi đi, đi tiếp con đường, công việc, gia đình của anh… Cuộc đời này, gặp được nhau trong chốc lát như thế cũng đủ để cho nhau niềm an ủi, mà mãi mãi, chị tự nhủ, chị sẽ không bao giờ quên anh được. Đi đi, anh… Đứng lên và đừng quên chìa bàn tay cho em nắm… Trong lòng chị giục anh đứng lên, nhưng miệng chị Nga lại hỏi:
- Bác Thuần và các bác cùng đi đâu rồi?
- Họ còn ở lại ngoài bến chờ lấy tiền…
- Anh cũng phải trở lại bến chứ?
Tĩnh vê một điếu thuốc lá cuộn quăn queo cho thẳng lại, châm lửa:
- Không biết đượcbao nhiêu, nhưng cái nghề đi mảng của tôi cũng cực lắm. Tôi tính sau chuyến này sẽ nghỉ.
- Em không biết có nghề nào sướng hơn, nhưng quả nghề sơn tràng nguy hiểm thật. Quê anh có việc gì làm không?
Tĩnh lắc đầu:
- Ruộng ít, làm không đủ ăn nên anh em chúng tôi mới phải theo cái nghề này. Nghỉ rồi cũng chưa biết nên làm gì. Thế… Nga biết làm nghề gì không?
Chị Nga cười:
- Em dạy cấp hai, nhưng nghỉ lâu quá rồi. Với lại đó là nghề làm nhà nước, mình bỏ việc thì cũng coi như đào ngũ. Có khi còn bị kỷ luật… Em cũng biết làm ruộng nữa.
- Nga lên Phú Thọ rồi ở đâu?
- Em cứ lên thị xã, rồi tính.
- Nhưng sao Nga lại quyết định lên Phú Thọ mà không phải nơi khác?
- Hồi nhỏ em nghe bố em kể ông có ở Phú Thọ. Người và đất ở đấy tốt lắm. Hình như ông cũng có một số người bạn còn ở bên ấy từ hồi kháng chiến chống Pháp. Em cứ đi, gặp ai em cũng sẽ hỏi thăm, và nhận em là con gái bố em… Biết đâu có người tốt bụng!… Chị Nga cười hồn nhiên như một đứa trẻ. Tĩnh cũng bật cười, kể từ lúc gặp nhau, lần đầu tiên anh thấy chị Nga cười như thế.
- Bố em tên là gì? Tĩnh chợt loé lên tia hy vọng.
- Bố em tên là Hoan, thầy giáo Hà Đức Hoan… Mà anh hỏi làm gì?
Tĩnh trở nên quyết tâm:
- Bây giờ tôi mua vé để hai mẹ con lên Phú Thọ. Rồi tôi phải quay lại chỗ bác Thuần xem có được đồng nào không?
- Vâ… âng!… Dù đã biết trước và mong muốn để Tĩnh ra đi, nhưng nghe câu nói ấy của anh chị như sụp hẳn xuống. Trong đêm tối, chị nhắm chặt đôi mắt, ngăn giòng nước, giọng nghẹn ngào. Thôi anh cứ đi đi, để mặc mẹ con em…
- Không! Tĩnh rắn rỏi. Tôi có tí việc, phải về quê đưa cho mẹ tôi ít tiền. Mẹ tôi già rồi, các anh chị tôi nghèo lắm, không nuôi nổi mẹ. Thu xếp xong, tôi sẽ ngược Phú Thọ. Tôi không bỏ mẹ con Nga đâu!…
Tĩnh đứng dậy xếp hàng mua vé. Hành khách khá dài, nhưng may nhờ khoẻ mạnh, và có kinh nghiệm, chỉ một lúc sau anh quay lại đưa cho chị Nga tấm vé tàu hoả làm bằng một miếng bìa các- tông màu vàng, bé hơn cả quân bài tam cúc, dày và cứng. Cầm tấm vé định mệnh trong tay, chị Nga nhìn ra bầu trời đen kịt, mây chuyển ầm ầm trên đầu, xen lẫn tiếng sấm xa. Tĩnh cúi xuống dòm sát vào mặt thằng Hận, thì thào:
- Con trai, ngoan nhé. Rồi ta sẽ đi tìm con…
Chị Nga bần thần nhìn mái tóc rậm của Tĩnh phủ xuống cánh tay chị. Bao nhiêu mùi nắng, mùi gió, mùi nước… sông hoà trộn trong hơi thở của chị. Khi Tĩnh ngẩng lên, chị Nga không cầm lòng được. Hai tay chị nắm chặt lấy cánh tay anh, ghì xuống:
- Anh! Anh Tĩnh ơi…
Chị Nga đã yêu!
Trong đêm ngoại ô thanh vắng và oi nồng, chị Nga đã gục xuống thành ghế và khóc với tiếng khóc của hai mươi năm về trước. Tiếng khóc tươi mới và nồng nàn trước mặt thằng em trai bé bỏng, tóc lốm đốm bạc, là tôi. Tiếng nấc lên nghẹn ngào, khiến tôi hình dung ra hình ảnh anh Tĩnh của chị. Một người đàn ông thánh thiện.
- Em ơi, em biết không? Đây là lần đầu tiên và duy nhất trong đời chị yêu. Yêu trong tuyệt vọng, nhưng đúng là tình yêu thật sự trong một đời người. Chị đã khóc như mưa gió, không cần phải che đậy hay xấu hổ. Chị yêu mà cảm thấy mình vơi nhẹ đi trong bao nỗi niềm. Dù biết mình chắc gì đã được anh Tĩnh yêu lại. Nhưng thôi, như thế cũng đã đủ lắm rồi. Bao cơ cực cay đắng tuyệt vọng chị cũng không ngờ chị còn yêu được. Đó là một thứ tình cảm mới lạ, trong suốt… Nó ngọt ngào, ấm áp, nhưng pha vị cay cay, đăng đắng, đầy ma lực, làm chị quên hết những âu lo, nguy nan đang chờ chị trước mặt.
Chị đã khóc như mưa gió trong đôi cánh tay của anh Tĩnh, của người đàn ông hoàn toàn xa lạ mà chị chỉ mới gặp chưa trọn một ngày. Lúc ấy chị cũng không hề nghĩ tới hoàn cảnh của mình, cái hoàn cảnh éo le rất dễ khiến cho Tĩnh nghĩ rằng chị cần anh ấy, lợi dụng anh ấy. Không, chị không hề nghĩ đến việc cần anh ấy che chở cho mẹ con chị, bởi vì chị biết cách sống và quyêt tâm sống. Chị cần anh, cần anh như cần một niềm an ủi, cần một bầu trời, cần một hướng để hy vọng, dù chị có phải vất vả thêm nhiều lần nữa, cơ cực gấp bao nhiêu đi nữa để được sống bên anh, có anh và nuôi anh…
- Anh có biết em đã yêu anh không?
Tĩnh để yên tay chị trong tay anh, chị Nga cảm thấy được những vận chuyển nhẹ nhàng nhưng hối hả của từng giọt máu chạy trong cánh tay rắn chắc ấy. Nó cũn run rẩy, cũng loạn nhịp và bồi hồi… Nhưng Tĩnh đã không nói gì, không nói bất cứ lời nói nào, chỉ thay đổi nhịp bóp mạnh trên bàn tay chị.
Tiếng loa nhà ga ọc ạch, và tiếng tàu hoả nghiến trên đường ray âm âm vọng tới, làm chị trấn tĩnh lại. Chị Nga buông tay anh ra, đúng hơn là gỡ bàn tay mình ra khỏi tay anh, hối hả:
- Thôi, anh đi đi! Tầu vào ga rồi…
Tĩnh tần ngần, đứng dậy, hai tay anh buông thõng như người mất trí, lặng lẽ quay đi. Ba bước chân, anh quay lại móc từ trong tui ra dúi vào tay chị một nắm tiền lẻ. Chị Nga gạt lại:
- Em có đủ rồi. Anh giữ lấy mà lo công việc… Nghe em đi, anh!
Tĩnh cầm lại số tiền bước vào trong bóng tối, khuất sau ánh đèn đỏ đọc của nhà ga…
Chị Nga vội vã thu xếp mọi thứ, đến khi chị ôm thằng Hận lên, thì…
- Ối Trời ơi là trời! Con tôi…
Thằng Hận nóng như hòn than, hai bàn tay và cả thân mình nó co quắp, giật liên hồi. Một bên mép nó bọt xùi ra, trắng xoá…
- Ới… các ông các bà ơi… Con tôi chết mất rồi…


***
ĐOẠN 12

Tôi cho rằng, nhất định đến một ngày nào đó, gần đây thôi, người ta phải chịu hiểu rằng một con người được sinh ra là hoàn toàn ngẫu nhiên. Con người đó, sinh mệnh đó, bắt buộc phải có mặt trên cõi đời này hoàn toàn do ý chí của người khác. Và cũng có khi chẳng do ý chí của một ai. Tình cờ thôi! Đó chính là điều bất hạnh.
Rất nhiều người do chậm hiểu hoặc do lợi ích nào đó của mình, cố gắng biện hộ cho vai trò của con người. Đó là điều bất nhẫn, không thể tha thứ được. Sự ngẫu nhiên đến buồn cười của số phận khoác cho ai, buộc cho ai những thứ gì đó… đến bây giờ cũng chẳng có ý thức nào hiểu nổi.
Con người có thể là tổng hoà xã hội, có thể là người chủ vĩ đại của trái đất, có thể là sinh vật văn minh nhất trong vũ trụ… Có thể là tất cả. Nhưng con người trước sau gì cũng chỉ là một sinh vật nhỏ bé, mông muội, không chân tay, cũng chẳng có móng vuốt, không thể nào cựa quậy được với số phận.
Thằng Hận là một ví dụ. Khi nó hai mươi hai tuổi, đi cùng mẹ nó là chị Nga đến nhà tôi trong một đêm mùa hè ngoại ô vàng vọt, tôi không biết nó là một thằng trai bất hạnh. Nó bị bại não, tâm thần, chậm phát triển. Khi nó khoanh tay nhìn những tấm giấy khen của con gái tôi dán trên tường từ hồi cháu học mẫu giáo đến tiểu học và cười một cách ngây ngất, tôi tưởng nó là một người cầu tiến. Những người biết cười với giấy khen, bằng khen, huân chương là người vĩ đại, có chí lớn, họ đã và sẽ làm nên những kỳ tích. Tôi rất hy vọng ở các con tôi. Nhưng khi có một kẻ cứ cười mãi, cười hoài với huân chương, huy hiệu, thì tôi biết đó là một tên bại não. Nguyên nhân có rất nhiều, nhưng chẳng nguyên nhân nào rõ ràng. Riêng tôi có một cách lý giải mà tôi cho rằng tự nhiên nhất, không mất lòng ai.
Chị Nga ôm con kêu gọi Trời Đất và những người khách đi tàu. Tiếng kêu của chị hoà trộn và lọt thỏm vào tiếng còi tàu lảnh lói và tiếng nghiến rầm rầm của bánh sắt. Không một ai nghe tiếng kêu than, van nài trời đất và lòng người. Họ tiếp tục chen lấn nhau để lên tàu, để đến một nơi định trước. Người, quang gánh, thúng mủng và hàng vạn những lời tục tĩu tuôn ra… nhưng không ai chú ý đến số phận thằng Hận. Họ còn phải sống cho họ vào những tháng năm tất bật ấy.
Trong lúc thất vọng tuyệt đối thì một người đàn ông rẽ đám đông, vươn hai cánh tay dài như tay vượn và vững như thép ra ôm lấy thằng Hận. Giọng anh lạc đi:
- Nó làm sao?
Anh Tĩnh! Chị Nga như người ôm con giữa dòng nước đe doạ chết đuối vớ được bè mảng. Một lần nữa, Tĩnh ôm thằng Hận chạy thẳng vào nhà ga, gặp một người có vẻ là quan chức, anh chìa thằng bé ra trước mặt ông ta:
- Y tế đâu? Thuốc đâu?
Người quan chức áo xám thoạt đầu ngạc nhiên, khi hiểu ra, ông ta lạnh lùng:
- Thuốc gì?
- Cháu bé bị cảm đột ngột, không cứu nhanh nó sẽ chết mất! Các ông có y tá không? Có thuốc không?
- Không có y tá, có thuốc nhưng không phải để cho hành khách. Chúng tôi chỉ có tủ thuốc nội bộ.
Tĩnh tiến lên áp sát viên quan chức nọ:
- Ông hãy cứu lấy cháu bé! Hãy cứu lấy một con người. Thuốc nào cũng được, nội bộ hay bán cũng được. Chúng tôi có tiền…
Thằng Hận tiếp tục co giật. Hai mắt nó trợn trắng dưới ánh đèn đỏ rực! Hinh như điều đó có làm cho viên quan chức đường sắt mủi lòng. Ông ta quay lưng:
- Đem nó vào trong này…
Một căn phòng kín gió, vài viên thuốc cảm, một hộp dầu “Con Hổ”, một ly nước đường đã giúp thằng Hận thoát khỏi bàn tay lạnh lùng của Thần Chết. Tĩnh nhai trệu trạo những viên thuốc cảm, mớm vào miệng thằng Hận. Rồi anh xoa dầu khắp người nó, đến nỗi đang từ cứng ngắc, toàn thân nó đần dần mềm lại. Nó nguội dần, và thở khò khè, khoé miệng nó hơi giật giật, một dòng nước trộn lẫn bột thuốc cảm trắng toát đọng lại, khô dần.
Bấy giờ chị Nga mới hoàn hồn, hay đúng hơn, mới nhìn thấy cái gì trước mắt mình. Thằng Hận đang nằm co quắp, Tĩnh ngồi dưới chân bộ ván bất động. Người cán bộ đường sắt thỉnh thoảng đi lại, vẻ sốt ruột. Những con thạch thùng bò thoăn thoắt trên bức tường vôi. Và chị ngạc nhiên thấy mình không khóc. Không khóc được mà chỉ nhìn. Đôi mắt chị dường như không hề chớp, lúc nào cũng mở trừng trừng. Bất kỳ cái gì lọt vào tầm mắt chị, cái thùng sắt tây, cái ghế gỗ cập kễnh, một người đi ngang qua, hai thanh ray song song hun hút về mãi tận vô cùng… cũng đều trở thành mối đe dọa đến sinh mạng con chị. Chị nhìn chúng, sợ hãi và căm hờn…
Đến lúc này, người cán bộ đường sắt mới hỏi Tĩnh:
- Anh chị đi đâu mà không phòng bị cho cháu? Ghê quá, nhỡ chẳng may nó chết ra ở đây thì khổ chúng tôi.
Tĩnh trợn tròn mắt nhìn ông ta:
- Chết thế nào được! Ông chỉ vớ vẩn. Mạng người đâu có dễ thế?
- Thì là tôi nói vậy. Bây giờ nó đỡ rồi, các người ra ngoài trả phòng cho tôi chứ!
Tĩnh thấy máu trong người sôi lên. Anh cố nén giận, hai hàm răng nghiến chặt, quai hàm bạnh ra. Thời buổi cơ khổ, anh có thể nện cho tên áo xám này một trận dễ dàng. Mà thế nào cũng có ngày phải nện cho chúng một trận. Nhưng bây giờ thì chưa, hãy cô nhũn nhặn. Dù sao mình cũng còn đang phải nhờ vả nó.
- Bác cho hỏi thăm, mấy giờ lại có tàu chạy Phú Thọ?
- Cái gì? Anh có vé đi Phú Thọ chuyến nãy à?
- Vâng! Hai mẹ con cháu. Cũng may, nếu lên tàu rồi không biết sẽ xoay xở ra sao. Thật phúc đức, nhờ được các bác…
Hình như ông cán bộ nhà ga cũng cảm thấy được phần nào an ủi. Ừ thì ra ta cũng đã làm phúc…
- Nếu cháu còn nặng thì tôi khuyên anh chị chưa nên ra tàu.
- Vâng! Xin các anh cho cháu nghỉ nhờ đến khi có tàu ngược. Chuyến tàu sau, chắc khỏi phải mua vé, các bác cho cháu lên nhé!
Người cán bộ áo xám nhìn Tĩnh khinh khỉnh:
- Vé chuyến nào đi chuyến ấy.
- Nhưng mà hãy còn nguyên, chưa xé. Tĩnh giải thích.
- Làm gì có chuyện. Lên tàu nhân viên nó tống xuống chứ yên với nó đấy…
Tĩnh đuối lý:
- Vậy cũng được! Thế là lại mất toi hai đồng. Mấy giờ mới lại có tàu hả bác?
- Sáng mai mới có tàu. Rồi ông ta lầu bầu: “Thế thì còn ngủ nghê chó gì”.
Tĩnh đã nghe thấy, và dường như ông ta lẩm bẩm cũng cốt để Tĩnh nghe thấy. Anh mỉm cười vì được dịp trêu tức ông ta;
- Làm nghề đường sắt như các bác vất vả thật. Mất ăn, mất ngủ, mà dễ có mấy ai thông cảm…
- Thì đấy! Ngày cũng như đêm…
- Nhưng mà các bác cũng có cái sướng. Vi vu suốt, nhỉ?
- Suốt đời chết dẫm ở đây, anh bảo đi đến đâu mà vi vu?
Tĩnh thân mật:
- Bác bảo thế nào chứ, cán bộ ngành đường sắt là có quyền lợi lớn lắm. Chả biết chỗ các bác đây thế nào, chứ ở Hà Nội, hay trong Nam, mỗi người hàng năm có vé đi tầu suốt không mất tiền…
Ông cán bộ áo xám bỗng trở nên linh hoạt:
- À, cái đó thì có. Năm nào tôi cũng có suất. Nhưng mà năm vừa rồi… túng quá, bán lại cho người ta!
Nghề nào cũng có cái cực, cái khổ của nó, Tĩnh nghĩ. Nhưng mỗi nghề cũng có cái hậu của nghề. Anh nhớ hồi từ miền Nam ra, dân tình xếp hàng đăng ký mua vé cơ khổ. Có người xếp hàng cả chục ngày trời mà vẫn không mua được vé. Những nhân viên nhà ga tách từng nhóm xếp hàng đầu lùa hành khách như lùa gà vịt vào trong phòng, có rào lưới mắt cáo kín mít để… xếp hàng tiếp. Tĩnh cũng ở trong số đó, quần áo bật cúc, tơi tả, mồ hôi đầm đìa như thú vật. Ấy thế nhưng tất cả những nhân viên ngành đường sắt trong cả nước, từ cán bộ lãnh đạo, đến anh công nhân, chị cấp dưỡng… đều được ưu tiên hai “giấy đi tàu” (hai giấy, một công chức đường sắt và một người thân), không những không mất tiền mà còn không phải xếp hàng. Đúng là một người làm quan cả họ được nhờ! Cái thời quan quyền đáng nguyền rủa. Vậy mà hễ cứ có dịp là hạch sách!
- Mẹ kiếp! Tĩnh bất thần đập tay xuống ghế, quát to.
Người cán bộ đang lơ mơ, giật mình:
- Anh chửi cái gì?
Tĩnh lúng túng:
- Dạ không! Là nhỡ mất chuyến tàu…
Hình như quá bức xúc vì bị chiếm mất căn phòng, ông ta nghĩ ra một kế:
- Từ đây vào thị trấn hơn cây số, có bệnh viện huyện. Thằng bé có vẻ nặng đấy. Hãy cho cháu vào đó khám, điều trị.
Chị Nga nãy giờ vẫn đứng ngoài sân, vì căn phòng quá nhỏ, giờ len vào ngồi thụp xuông chân giường, hai tay nắn chân thằng Hận.
- Không cần phải vào viện đâu, anh ạ. Chắc nó sốt nóng rồi cũng khỏi thôi.
Thế nhưng, lời khuyên của ông cán bộ nhà ga đã đúng. Thằng Hận đã sốt lính bì, liên tục kéo dài hơn một tuần lễ. Tất cả số tiền chị Nga dành dụm cùng với số tiền kiếm được trong chuyến xuôi mảng đã đổ vào cho nó. Tại bệnh viện huyện, đến ngày thứ tám, chị Nga phải năn nỉ các thầy thuốc cho nó xuất viện, vì nếu ở lại chị Nga sẽ không còn tiền.
Thằng Hận sống được là nhờ một phép màu. Nhưng sau trận sốt ly bì đó nó trở thành một đứa trẻ khác. Nó bắt đầu lớn nhanh như thổi, không bệnh tật và hầu như cũng chẳng biết khóc. Nó chỉ cười, và cười một cách vô tư, hồn nhiên, không cần lý do. Nhưng đó lại là một điều may mắn cho chị Nga. Trong những ngày đầu đặt chân lên đất Phú Thọ, chị bế nó đi kiếm ăn, tìm việc, nó là đứa trẻ rất ngoan, không gây phiền nhiễu gì cho mẹ. Và vì thế, nó được mọi người không ghét bỏ.
Chia tay mẹ con chị Nga ở nhà ga đêm ấy, Tĩnh lặng lẽ xuôi tàu về quê. Lòng anh bịn rịn và đau đớn khi phải xa mẹ con chị Nga. Anh nói với chị Nga một, nhưng nói với lòng mình mười rằng: “Tôi không bỏ mẹ con Nga đâu! Tôi sẽ đi tìm!”.
Câu chuyện của chị Nga ở Phú Thọ là một chuỗi những đắng cay. Đôi lúc, chị đã bất lực, quay đi mắc núi trở lại mắc sông. Không thể quay về được nữa. Cái thị xã nhỏ bé toàn nhà lá này, không ai biết thầy giáo Hà Đức Hoan.
Một buổi chiều mùa đông giá, hai mẹ con chị Nga đánh liều vào một cửa hàng ăn uống quốc doanh. Ở đây người ta dễ dãi, để cho hai mẹ con chị ngồi vào bàn mà không hề hạch hỏi. Cái của hàng ăn uống này bán theo phương thức xếp hàng. Nghĩa là người mua cần người bán, chứ người bán không cần người mua. Vậy thì chị Nga cũng chẳng phải là người cần mua. Cứ ngồi đấy mà đợi, chẳng ai ỏ ê đến đâu mà lo. Nói vậy thôi, chị cũng đứng dậy cúi khom lưng vào cái cửa sổ tò vò mua một bát phở “không người lái” với giá năm hào cho thằng Hận. Nó ăn ngon lành, chị Nga húp phần nước với một cái bánh mì cứng như đá, giá hai hào. Ăn xong thằng Hận gà gật rồi ngoẹo đầu lên đùi chị mà ngủ. Ngoài kia lất phất mưa bay, sụt sùi bùn vữa trên con đường vắng bóng người đi. Gió bấc ù ù thổi trong những tàu lá cọ, thỉnh thoảng lại rú lên những âm thanh tần số cao như tiếng rít của con mèo lên cơn giận dữ. Và trời dần ngả vào đêm. Mùi than đá bay phảng phất gợi lên một căn phòng ấm cúng.
- Này chị kia! Tiếng một người đàn bà lạnh lùng ngay sau vai chị Nga, khiến chị giật mình. Chị ngoảnh lại, bắt gặp cái nhìn đầy vẻ chủ nhân của người đàn bà.
- Dạ, chị gọi em.
- Chị chứ còn ai. Tối rồi, ra ngoài cho chúng tôi đóng cửa!
Chị Nga nhìn thằng con đang ngủ say, không nỡ đánh thức nó, ngẩng lên nói với bà chủ cửa hàng:
- Vâng! Tại cháu nó đang ngủ, em nhờ các chị. Lúc nào cửa hàng đóng cửa, chúng em ra…
Người đàn bà toan nói câu gì đó để đuổi được mẹ con chị Nga, nhưng lại bước vào. Nhưng dường như không yên tâm, bà ta quay lại hỏi:
- Nhà chị không phải người ở thị xã này phải không? Ở đâu mà giờ này còn ngồi đây?
- Vâng! Em ở xa lắm…
Chị Nga định nói rằng nhà chị không phải ở đây, rằng tí nữa hai mẹ con chị sẽ lại trở về với cái lều ngoài chợ. Nhưng người đàn bà bán hàng ăn uống đã tiếp:
- Thế không có họ hàng bà con gì hay sao?
- Dạ, có nhưng em không tìm được. Có lẽ họ chuyển đi rồi mà em không biết.
Bà chủ kéo cái ghế đẩu ngồi xuống trước mặt chị Nga:
- Phải rồi đấy. Từ ngày giải phóng miền Nam nhiều gia đình đã chuyển cả về trong ấy. Chắc người nhà cô cũng thế?
- Vâng! Em cũng đoán thế… Chị Nga thấy người đàn bà này cũng có vẻ dễ chuyện.
- Cô tìm hết chưa? Thế không thấy thì quay về chứ? Quê cô ở đâu?
- Dạ không! Quê em ở xa lắm, mãi bên Thái Nguyên cơ. Em cũng chẳng còn ai bên ấy. Em có quay về thì cũng như ở đây…
- Thế? Thế… cô? Bà ta ngạc nhiên, nhìn chị Nga như một con bệnh, miệng lắp bắp. Chị Nga tuy rất tuyệt vọng, nhưng đã quen rồi, lại mỉm cười:
- Vâng! Em ở đây, tìm xem có việc gì ai thuê mướn, khổ mấy cũng được…
- Cô muốn làm việc? Bà ta bỗng dịu giọng.
- Vâng! Chị có biết ai cần thuê mướn không? Chỉ cho em với…
Người đàn bà mà sau này, chị Nga biết chị ta tên là Thắm, thở dài:
- Rõ cơ khổ!
Rồi không nói không rằng, chị ta vào trong.
Chị Nga không biết mình vừa nói những gì và cứ thế trôi đi trong triền miên lạnh giá. Bỗng có tiếng kéo ghế sát bên. Chị Nga choàng tỉnh ngước lên, bắt gặp một khuôn mặt đàn ông đứng tuổi, có dáng vẻ của một người lãnh đạo bởi vẻ tự tin thường trực:
- Chào cô! Tôi nghe chị Thắm nói, cô muốn có việc làm ở đây? Ở thị xã này?
- Dạ, vâng! Chị gì khi nãy có hỏi em…
- Cô ở Thái Nguyên sang à? Lâu chưa? Có hai mẹ con à?
Chị Nga lúng túng trước những câu hỏi dồn dập của người đàn ông:
- Vâng ạ!
- Cô biết làm gì? Mà trông cô cũng là người có học đấy nhỉ? Đi tìm người nhà không gặp phải không? Ai thế?
Chị Nga cảm thấy có một chút vận may đang đến, khiến chị tự tin hơn:
- Tuy bố em có làm nghề dạy học, nhưng em làm gì cũng được ạ.
- Thế cô có biết nắm than quả bàng không? Than đá ấy…
- Dạ, biết! Chị Nga gần như reo lên. Than đá trộn bùn rồi nắm thành từng nắm để nấu bếp lò?
- Phải đấy. Ừ… Ông ta ngưng lại như để tìm lời. Lát sau ông dứt khoát. Tôi là cửa hàng trưởng ở đây. Tôi nhận cô vào làm công nhật. Công việc là nắm than quả bàng cho cửa hàng. Ngày công mỗi ngày, xem nào… một đồng hai một ngày. Cô có thằng con, tôi cho thêm ba hào là một đồng rưỡi. Ăn uống thì tuỳ…
Chị Nga ngẩn người ra, không hiểu gì. Bỗng chị ngồi thụp xuống cúi đầu:
- Đội ơn bác đã thương mẹ con em… Thế này thì còn gì bằng.
- Thôi nào, đứng dậy. Còn chỗ ngủ? Chưa có phải không? Bên trong kia cạnh kho than có một cái chái, cô có thể ngủ ở đấy. Còn trống lắm, mai rồi quây mấy tàu lá cọ vào cũng tốt…
- Dạ! Ơn này sống để dạ, chết em mangtheo, chứ không dám quên…
Ông cửa hàng trưởng cười:
- Ơn huệ gì. Tôi là Thức, cửa hàng trưởng, nhớ chưa? Mà cô chưa trả lời tôi: cô học lớp mấy rồi? Bố là thầy giáo, tôi trông cô cũng có vẻ là cô giáo đấy mà sao lưu lạc thế này? Thôi, cô bế cháu vào trong kia tôi chỉ chỗ cho. Mọi chuyện thủ tục gì nữa, mai làm tiếp.
Lần đầu tiên trong những ngày lưu lạc, rời khỏi cái túp lều ở Soi Vạt, chị Nga mới biết được cái cảm giác thế nào là ngôi nhà “của mình”, mặc dù cũng chẳng phải của chị.
Cái chái cạnh đống than đá, ba mặt trống hoang, chỉ có mỗi một phía liền với vách bếp đựơc đắp bằng gạch vỡ, sần sùi, làm chỗ dựa cho mẹ con chị. Đêm ấy chị ngủ được một giấc dài và chị lại mơ về cái làng Sơn Cốt bé bỏng và người cha đang lom khom bên mảnh vườn côi cút.





0
ĐOẠN 13

Đang dở tay với mấy cái cọc bên bờ dậu, lúng túng thế nào để cái lạt cật cứa ngang lòng bàn tay, máu ứa ra, buốt xót, Tĩnh vào sân, quăng con dao lên hè, vào nhà, nằm vật ra giường. Bà cụ mẹ anh đang ngồi xếp lại mấy thứ lặt vặt, cũ kỹ, trong cái làn mây, thấy con trai thở dài thì nhìn lên, ái ngại. Cụ định nói một câu gì đó, nhưng nghĩ mãi chẳng ra. Khuyên nó mãi cũng chẳng nổi. Mắng nó rồi cũng chẳng thấy xiêu. Nhất là sau chuyến ngược bè về, tiền nong có được vài chục đưa hết cho mẹ rồi không đi nữa. Bà cụ hỏi ông Thuần, thì ông ấy cũng chẳng nói thật:
- Bè giang cực lắm cụ ơi! Sức chú ấy trông thế nhưng còn yếu lắm. Ở chiến trường bao nhiêu năm, còn gì là người. Chuyến này để cho nó ở nhà…
Ở nhà là phải rồi, mấy sào ruộng thằng anh nó san bớt cho, hai mẹ con cũng đủ rau cháo. Nó không nói gì, cứ hơn hớn theo bè ông Thuần. Những chuyến trước chẳng sao, nhưng mà chuyến này về thấy được ít quá, hay nó chán?
Cũng chẳng phải thế! Chắc cần tiêu nên nó mới giữ lại, chứ mấy lần trước mỗi chuyến đi về cũng có ngót trăm bạc, lần này nó đưa cho bà có ba chục. Công của nó, của của nó, bà nhận là giữ hộ cho nó thôi, chứ bà thì tiêu gì! Nhưng mà thấy nó đưa ít, bà cũng nghĩ. Đúng rồi, đàn ông con trai, chưa vợ con cũng phải có bạn bè, điếu thuốc, hớp nước…
Têm miếng trầu, vét tí thuốc lào nhét vào chân răng, bà cụ toan vào giường hỏi nó làm sao, thì đã thấy Tĩnh lò dò ra:
- U cho con xin tí thuốc lào!
- Mày làm sao? Hay lại tập tọng hút thuốc lào…
- Đây này… Tĩnh chìa bàn tay rớm máu ra. Con cầm ngang cái lạt mà nó sứac thế.
Bà cụ vội vàng lấy nắm thuốc lào nhét vào vết đứt ngang lòng bàn tay:
- Mấy hôm nay mày làm sao thế? Đi rừng đi búi mà hấp hoảng thế này thì có ngày chết đấy con ạ. Tao thấy ghê quá.
- Thì con đã bỏ rồi đấy thây! Tĩnh cười.
- Ừ thì bỏ quách đi. Tao thấy nhà ông Thuần đấy, cả đời lặn lội cũng có hơn ai? Gốc mình là chân đồng chiêm, bì sao nổi với san tràng, rừng rú …
Bà cụ lấy miếng giẻ quấn vào bàn tay cho con, ái ngại:
- Thôi cứ nghỉ ít bữa, mai u bảo thằng bố An nó san cho mảnh ruộng ngoài Cầu Đá mà làm. Hai mẹ con mình thì chừng ấy cũng đủ ăn…
- U này…! Tĩnh đột ngột cắt ngang lời mẹ. U có còn tiền không?
- Thì mày đưa bao nhiêu tao vẫn giữ chứ có tiêu cái gì đâu mà con hay hết.
Tĩnh ngạc nhiên:
- Thế u lấy đâu ra tiền mà mua mắm muối, cái ăn cái mặc?
Bà cụ cười phô hàm răng đen nhưng nhức:
- Tao khắc có. Mày cần tiêu bao nhiêu thì cứ nói, u đưa cho mà tiêu.
- U không được lấy của anh chị An đâu đấy. Anh chị ấy còn một lũ con, lít nhít thấy phát sợ.
- Tiên nhân bố anh, một con, một của, có gì mà sợ. Còn anh đấy, thế có định lấy vợ, đẻ con không hay lại sợ?
Tĩnh cười:
- Sợ thì con không sợ, nhưng mà lấy ai… Người con thích thì u không ưa. Mà cái cô u thích thì con lại thấy nó làm sao ấy…
- Tao không ưa bao giờ? Bà cụ nhìn con, cười để rơi mấy giọt nước trầu ra áo. Thôi được rồi, bây giờ anh cứ việc thích thì lấy, ai cũng được, tôi không cản. Đứa nào con thích là u thích!
Nhớ hồi mới về, Tĩnh cũng hăng lắm. Lúc ấy bộ đội ở Nam ra rất có giá, thành ra lấy vợ cũng cứ như phong trào. Thi đua anh này với anh kia, chị này với cô nọ. Suýt thì Tĩnh cũng đã lấy cái cô Hải con bà hàng nước ngoài đầu sông. Cũng chỉ vì anh tuếch toác, nói năng không giữ ý, làm bà ấy giận. Cô Hải thì không đẹp mà cũng chẳng xấu, lấy nhau để đẻ con thì được, nhưng mà yêu thì… Giận thì cho giận luôn. Tĩnh cứ nhơn nhơn, sống “cá thể”, chẳng chịu theo phong trào. Thế rồi, phong trào tạm lắng, có đôi hạnh phúc, sung sướng, có cặp an phận chịu đựng lẫn nhau. Nhưng cũng chỉ ba bốn năm sau, có anh chị đưa nhau ra toà, nhẹ hơn thì chồng dắt tay vợ về trả cho ông bà nhạc. Buồn thật… Tĩnh thấy buồn cho tình đời, chung quy cũng chỉ tại nghèo khó. Ấy thế nhưng cả làng cứ thấy Tĩnh cười hơ hớ. Bí chân anh theo ông Thuần lên rừng…
- Con kể u nghe chuyện này nhá. Nghe được hay không thì u cứ nói ra, chửi con cũng được.
Bà cụ nghĩ ngay đây không phải chuyện đùa của con trai. Nó đã ngoài ba mươi, cái đùa cũng không phải là thứ bông phèng, hôn xược. Với lại nó đã nói “u chửi cũng được” thế có nghĩa là nó đã nghĩ kỹ.
- Con cứ nói xem nào! Bà cụ nghiêm giọng.
Thấy Tĩnh đắn đo mãi, bà phải giục:
- Khó nói lắm hả con? Cứ nói đi, u nghe đây…
Tĩnh bắt đầu kể về chị Nga. Anh kể hết, nhưng khổ nỗi, anh cũng chẳng biết gì nhiều về chị:
- Một cô giáo cấp hai, chồng đi B đã hy sinh, có một đứa con trai hai tuổi. Cuộc sống cơ cực và dư luận độc địa khiến cô ấy phải bỏ nhà bế con ra đi. Cái buổi chiều trên mảng và cái đêm ở nhà ga, con thấy cô ấy là người mà chưa từng gặp… Một phụ nữ biết vì người khác và dám sống vì người khác…
“Thế là nó đã phải lòng người ta rồi”, hèn nào nó ăn nói văn hoa như thế, bà cụ nghĩ thầm trong bụng. Rỗ khổ, gần thì chẳng bén duyên cho, xa xôi cách trở… Thương con, muốn che chở cho con không ai bằng người mẹ, dù là một nông dân, nhưng bà cụ rất thấu hiểu lòng con…
- Bây giờ mẹ con cô ấy ở đâu?
- Con cũng không biết đích xác. Con chỉ biết cô ấy bế con ngược lên Phú Thọ, mà thằng bé thì đang ốm.
Bà cụ không nói gì, đứng dậy xuống bếp. Thế giới của bà mẹ chúng ta có lẽ là cái bếp. Chỉ ở đây, bà mới có thể suy nghĩ, đến thấu đáo nghĩa tình, và đưa ra những quyết định sáng suốt. Con lợn trong chuồng nghe tiếng lịch kịch của bà, vội vàng cất lên hững tiếng kêu ư ử. Đó là lời cầu xin, là tiếng reo vui chào mừng của chúng. Bà cụ lấy nắm gạo đầu ra dưới ánh sáng cuối ngày, ngồi nhặt những hạt thóc.
Tĩnh lo lắng nhìn những động tác của mẹ. Anh hiểu mẹ đang lo cho anh. Trong mắt mẹ anh là một thằng trai ngang tàng, và mẹ tự hào về điều đó. Cái lần anh lấy vợ hụt, cô Hải con bà hàng nước, chính mẹ đã an ủi anh: “Làm trai quyết chí tu thân; công danh chớ vội, nợ nần chớ lo”. Niềm vinh quang từ chiến trận anh đem về cho mẹ, nhưng mẹ cũng không bị choáng ngợp như những người khác. Mẹ dặn anh: “Còn có những người chết, không về. Con liệu mà vui mừng cho phải lẽ”.
Tiếng xoa gạo sàn sạt khiến Tĩnh không thể nào yên tâm. Anh mon men đến định hỏi, nhưng lại không dám. Có thể mẹ buồn, có thể mẹ giận… Thôi hãy cứ để như thế. Thế nhưng còn anh? Tĩnh bắt đầu chất vấn mình. Anh đã nghĩ thế nào về người phụ nữ anh gặp dọc đường? Hai mẹ con cô ấy sẽ ra sao nếu họ không gặp anh? Và rồi họ gặp anh họ sẽ ra sao? Những lời hứa hẹn và những việc anh làm cho mẹ con họ có phải là tình yêu? Đã mấy tháng nay anh bồn chồn. Mấy ngày đầu khi về với mẹ, anh quyết định sẽ quay trở lại đi tìm mẹ con chị Nga. Nhưng rồi, bên mẹ và gia đình làng xóm, anh đã có những ý nghĩ khác. Anh muốn quên, muốn quên đi cũng như những câu chuyện qua đường thường thấy. Anh có cuộc sống riêng của anh. Mẹ cộnh có cuộc sống của họ. Không ai có thể bắt lỗi anh được. Anh đã làm hết mình, làm những gì cần làm. Thế nhưng một thời gian sau anh càng lúc càng thấy trong lòng mình không yên. Tĩnh thường mất ngủ, dù anh đã quyết bỏ nghề san trang, nhưng hình như anh thấy nhớ rừng, nhớ sông nước. Cái buổi chiều thổi cơm nhờ bên bến sông đã làm anh thao thức. Hay là anh lại sẽ lên rừng, sẽ xuôi mảng và trở lại bến sông. Nhưng…, ở đó không còn gì nữa. Dòng sông cũng không còn gì cho anh nữa.
Hai chữ “phải lòng” không đủ sức chứa nỗi niềm của Tĩnh. Ở đây chẳng phải là một mối tình si thông thường của người đời. Hình như nó có cái gì đó như một định mệnh. Tĩnh không muốn ra khỏi nhà, không muốn nói chuyện với ai. Bà mẹ biết nhưng không biết cách can thiệp. Con trai bà là một kẻ ngang tàng, và can trường, bà biết…
Bữa cơm tối hôm ấy, dưới ánh đèn tù mù, hai mẹ con im lặng cho hết bữa. Hình như ai cũng nhai trệu trạo, ai cũng muốn ngẫm nghĩ hơn là ăn. Lần đầu tiên, sau bữa cơm mẹnói với Tĩnh:
- Con cất dọn mâm bát đi. Để u ngồi đây ăn miếng giầu…
Tĩnh lẳng lặng làm. Anh rửa bát, dọn mâm rất chăm chú và cẩn thận, đến nỗi chính anh cũng ngạc nhiên. Sao lại không huýt sáo lên một bài vui vui nhỉ? Anh huýt sáo nhưng hơi hướng cứ đi đâu mất, chỉ là những tiếng thào thào qua kẽ răng. Bực mình thật…
Tĩnh trở lên nhà, đã thấy mẹ đặt sẵn một xấp tiền chặn cái cơi trầu:
- Ngồi đây u nói này, Tĩnh!
Tĩnh ngồi ở một góc chiếu, nhìn mẹ. Anh đã hiểu.
- Ngày mai, con đi tìm hai mẹ con cô giáo Nga đi…
Tĩnh cảm động:
- Con cũng có ý định ấy, nhưng…
- Được rồi, con cứ đi tìm, đúng như lời con đã hứa. Không nên để lời hứa thành lời đầu môi, chót lưỡi. Tiền đây, con cầm cả lấy mà chi tiêu cho chuyến đi.
Tĩnh cầm xấp tiền lên, nhẩm đếm:
- Nhiều quá u ạ, chắc không dùng đến thế đâu.
- Cứ mang đi. Đường xa tiền bạc không biết thế nào là nhiều với ít.
- Con cầm một trăm thôi, còn để lại cho u giữ…
Bà cụ vươn cổ ra khỏi hè, nhổ miếng nước trầu rồi như tiện tay, móc trong túi áo ra một cái bọc:
- Đây là cái vòng bạc, cái vòng con đeo hồi còn bé. U đưa cho con mang theo, gặp đứa bé, con hãy đeo vào cho nó.
Tĩnh thẫn thờ:
- Sao lại thế?
- Nếu con thấy không cần thì thôi. Nhưng hãy cứ mang theo.
Bây giờ Tĩnh mới hỏi một câu mà anh chợt nghĩ ra:
- U ạ, nếu gặp người ta, con phải làm thế nào? Hay là con đưa cô ấy về đây với u?
Bà cụ đứng dậy, vào giường:
- Sao anh lại hỏi u câu ấy? Anh cứ làm đúng như những gì anh nghĩ. Thấy đúng thì cứ làm, nếu vạn nhất có sai lầm cũng không có gì phải hối hận…
Đêm ấy Tĩnh đã thức trắng đêm, tiếng gà xao xác ba canh đã vật vã, cật vấn anh theo từng chặp. Tĩnh có cảm giác như một định mệnh đã gắn đời anh với mẹ con người đàn bà bất hạn ấy. Chẳng thế mà, lúc chia tay với tiếng khóc tức tưởi, ngọt ngào của chị Nga, Tĩnh phải cố nén lòng. Anh chỉ đứng lại một chút nữa thôi, thì chính anh cũng bật khóc, và không thể đi được nữa. Anh cũng nghĩ mình không thể xa họ được, mà quay lại chỗ ông Thuần và anh em sơn tràng, xem có lấy được ít tiền, rồi đuổi theo. Anh đã đi như chạy. Nhưng khi đoàn tầu ầm ầm kéo đến và tiếng người nhốn nháo, anh nghe thấy thoảng trong gió tiếng kêu cứu của chị Nga. Rất mỏng manh, rất mơ hồ, nhưng lại rất rõ nét bởi âm sắc của lời cầu cứu hình như đã được ghi lại trong tâm trí anh. Tĩnh rảo bước nhưng không đi nổi, bởi trong gió thoảng, trong tiếng bánh sắt nghiến rầm rập ấy, có tiếng chị Nga. Tĩnh vội vã chạy ngược trở lại, và anh lao vào ôm lấy thằng bé. Không thể chậm hơn!
Anh đã hối hận khi không đưa ra quyết định kịp thời ngay từ cái hôm đưa thằng Hận ra viện. Đêm ấy là một đêm khó khăn nhất trong đời anh. Phải từ biệt mẹ con chị Nga trong một hoàn cảnh éo le như thế đã cứa xát trái tim Tĩnh biết chừng nào. Có tất cả ba con đường, anh đã chọn con đường bỏ chạy. Ừ mà sao mình không đi cùng Nga? Sao mình không biết hoặc không nghĩ đến con đường trước mắt của hai mẹ con cô ấy? Còn một con đường nữa là đưa Nga cùng về với mình, với mẹ? Anh sợ gì? Sợ dư luận và tai tiếng ư? Cuối cùng anh đã chọn con đường bỏ đi, để đến bây giờ thấy nhói đau trong lòng.
Thôi, Tĩnh ơi, hãy cố chợp mắt một lúc, lấy sức để sáng mai anh hãy lên đường đi tìm người anh yêu quý. Tĩnh ra sức dỗ giấc ngủ, và khi nó đến, anh nằm chiêm bao thấy mình đã tìm được mẹ con chị Nga. Họ đã tìm thấy nhau, và thằng Hận, đứa con trai người gỗ Pinôkiô của anh đã tung tăng đi lên phía trước, trên con đường đầy ánh sáng và hoa. Anh cố sức gọi “Con ơi!”, và đuổi theo những bước chân nhỏ bé lon ton của nó. Nhưng rồi, Nga kéo anh lại, bằng bàn tay nhỏ bé, ấm áp… Hai người anh và Nga nắm tay nhau đi theo nó, đi mãi… cho đến khi mẹ gọi:
- Tĩnh ơi! Trời sáng rồi… Dậy đi con!
Anh vẫn còn thấy tiếc giấc mơ. Giấc mơ lành, đầy ngọt ngào thi vị. Nhưng… cuộc đời này, giữa giấc mơ và hiện thực luôn có những khoảng cách không dễ gì lấp đầy.
Buổi sáng ấy, Tĩnh lên đường tìm chị Nga, nhưng cuộc tìm kiếm ấy đã không dễ dàng chút nào, mà nó kéo dài suốt mười năm! Phải mười năm sau, họ mới gặp nhau. Đó là một định mệnh khắt khe, và độc ác của cuộc đời!


*

Thật ông Trời cũng có mắt, chị Nga nghĩ thế, khi hai mẹ con chị có được một chỗ trú thân trong cái chái nhà than của cửa hàng ăn uống. Trưa hôm sau, ông Thức cửa hàng trưởng đi họp về, tạt vào đã thấy cái chái vốn trống hoang, trống hoác đã được quây kín thì lắc đầu:
- Cô này giỏi nhỉ? Lấy đâu ra những thứ này? Ông chỉ vào những tàu cọ chị Nga đã thưng làm vách.
Chị Nga từ đống than sau nhà chạy ra, hai tay đen nhẻm, rụt rè:
- Bác ạ! Chị Thắm chỉ cho em đấy. Không biết có ảnh hưởng gì đến cửa hàng không hả bác?
- Không sao! Cái bà Thắm này cũng đáo để nhỉ. Bà ấy là vợ liệt sĩ, một nách nuôi bốn đứa con đấy. Được cái chúng cũng ngoan và lớn cả. Ghê gớm ra phết nhưng được cái hảo tâm, tốt bụng. Thế bố thằng cháu nhà cô đâu?
Ông Thức bộc trực quá, thấy cái gì là hỏi, dễ gây ra ấn tượng một người ỷ quyền thế, hay lục vấn, chẻ hoe. Nhưng, tính ông lại xuề xoà, mau quên. Hỏi thế thôi, trả lời cũng được, mà không trả lời cũng chẳng sao. Chị Nga lúng túng, không biết để hai bàn tay toàn than của mình vào đâu:
- Dạ… bố cháu… mất rồi ạ!
- Cô từ bên Thái Nguyên sang à? Này, dạo trước tôi cũng đóng quân ở bên ấy mấy năm trước khi đi B. Cô có biết trung đoàn 165 của sư đoàn 312 không?
Chị Nga càng lúng túng:
- Vâng, em có nghe!
- Bên ấy cũng khó khăn nhỉ. Dân “con củ” cô biết không? Khoai lang ấy mà… Có câu chuyện buồn cười thế này, một ông nông dân ra ruộng của mình thấy rõ ràng dấu chân người, mà phân thì lại phân chó! Hơ hơ… đói quá, dân ta ăn khoai lang cả vỏ. Khổ thế! Không biết bây giờ thế nào?
- Cũng vẫn khổ lắm bác ạ.
- Ừ thôi, tôi hỏi thăm qua cô một tí cho biết. Cô cũng đảm đang đấy. Chịu khó làm ăn, anh em chúng tôi thấy cô lưu lạc thì thương cô. Nhưng mà này, tôi dặn cô một câu, một câu thôi: chớ có tắt mắt! Tôi ghét nhất là ăn cắp vặt, thế nào cũng có người thấy, mà không ai thấy thì trời thấy! Thiếu thì xin, xin người ta không cho thì nhịn. Nhất chết chứ đừng ăn cắp. Ăn cắp dù một nắm than, tôi biết là tôi đuổi đấy. Tôi coi cô như em mới nói thế, đừng giận!
- Vâng! Em xin nghe lời bác…
- Tôi đi đây! Có khó khăn gì thì hỏi bà Thắm. Tôi hay đi vắng lắm…
Chị Nga bần thần nhìn theo cái dáng đi hơi gù, một bên vai xệ xuống và đôi chân tập tễnh của ông cửa hàng trưởng mà ứa nước mắt. Người đâu mà tối thế!
Thời gian đối với chị Nga thật chẳng có ý nghĩa gì, nếu không có thằng Hận. Chị không mong gì cho mình, dù tháng ngày dài hay ngắn, nhanh hay chậm, chị không bận lòng. Nhưng còn thằng Hận, nó phải lớn, phải lớn thật nhanh. Trong những đêm vắng, hai mẹ con nằm trong cái chái nhà quây lá cọ, chị Nga ôm con mà lòng thật chua chát. Đôi lúc chị lại tự vấn lòng mình. Tại sao chị phải bỏ làng vào Soi Vạt, sống như một con bệnh hủi, bị cộng đồng hắt hủi. Chị cứ sống đàng hoàng giữa làng giữa nước, sợ gì ai. Ừ thì anh Kỳ đi bộ đội ba năm rồi có giấy báo tử. Ừ thì có giấy báo tử của anh Kỳ hơn một năm sau chị mới đẻ thằng Hận! Thì đã sao? Tại sao chị lại không có quyền có con? Mà tại sao người ta lại cứ phải hỏi nó là con ai. Rõ ràng nó là con anh Kỳ. Không! Nó không thể là con anh Kỳ, mặc dù nó mang họ Trần. Chị thì không sao, chị sống thế nào cũng được, nhưng còn thằng Hận, nó là giòng dõi họ Trần, nó phải được mang họ Trần và được hưởng tất cả những gì mà nó đáng được hưởng.
Chị đã chạy trốn, điều ấy chỉ chứng tỏ chị có lỗi. Nhưng nếu chỉ trốn lên Soi Vạt thôi thì một thời gian sau, dư luận sẽ lắng xuống. Cười ba năm chứ chẳng ai cười ba đời! Bỗng dưng chị hận ông lão Tuân, ông bố chồng chị, người cha của đứa con chị. Nỗi nhục nhã ê chề luôn đè nặng xuống vai chị. Nó đã giết chết cả tuổi thanh xuân của chị, chưa đủ, nó còn hạ gục cả cha chị, là thầy Hoan.
Chị bật khóc trong đêm vắng khi nghĩ về cha mình. Giờ này cha đang làm gì, hay cũng lại thao thức với con. Cuộc đời cha đặt gọn trong tranh chấp, trong nghi kỵ. Lúc nào cũng đè phòng, cũng cảnh giác. Mấy năm nay tạm yên tiếng súng, lẽ ra cha phải được sống thanh thản. Thế mà con đã giết cha. Giết mà cha không chết, cha sống để ôm hận. Ôi, nhưng nếu cha biết con gái cha lại ăn nằm với bố chồng để đến nỗi sinh con đẻ cái, thì hẳn cha đã ngã gục rồi…
Gà gáy liên hồi, chị Nga thao thức rồi ngồi dậy, xoay nhẹ đầu thằng Hận ra khỏi cánh tay, đặt cho nó ngay lại rồi bước xuống đất ra ngoài. Mùa thu trung châu sớm giăng sương bụi. Chị vào bếp nhóm bếp than. Đó là công việc mà chị em trong cửa hàng nhờ chị Nga. Chị thấy vui khi được làm việc. Càng nhiều việc càng tốt. Ai nhờ gì chị cũng làm, làm nhiệt thành, từ giặt khăn bàn, rửa bát, đến quét nhà nhóm lò… việc nào chị cũng làm gọn ghẽ, sạch sẽ. Mỗi lần xong việc nắm than của mình, chị ngồi không mà không ai nhờ việc gì, chị thấy bồn chồn, lo lắng.
Thằng Hận đã lớn. Nó là một đứa trẻ ngoan và đẹp như thiên thần, không ai có thể ngờ rằng mẹ nó chỉ là một mụ nắm than với hai bàn tay đen đủi. Nước da nó trắng hồng, đôi môi đỏ như được tô son. Mọi người đều thích nó, nhất là những cô gái chưa lấy chồng, nhìn vào khuôn mặt có mái tóc loà xoà trước trán, với cặp lông mày xếch xiên trong xô vào tận sống mũi của nó, hứa hẹn một chàng trai tuấn tú, thông minh. Tuy thế, không khỏi có những cặp mắt đố kỵ, ghen tức. Không biết nó ăn gì mà xinh đẹp thế? Mà có phải con nhà giàu có gì cho cam? Một con mụ nắm than công nhật, loại người thấp hèn, mạt hạng nhất thì có gì cho nó ăn, nó mặc? Con nhà người ta, nào có thiếu gì cá thịt, vậy mà sao vẫn xanh xao, còi đẹt?
Lúc đầu chị Nga tự hào về đứa con của mình, nhưng dần dà, chị nhận thấy có những cái nhìn không mấy thiện cảm, chỉ vì nó đẹp quá, nó khoẻ mạnh quá, chị thấy lo. Ông Thức mỗi lần đến thấy nó, thì ngồi thụp xuống tóm lấy “con chim” của nó, nức nở:
- Con cái nhà nào mà đẹp thế này không biết? Cô Nga này, vợ tôi mà đẻ được đứa con xinh đẹp khoẻ mạnh như thằng Hận của cô thì tôi phải bảo bà ấy đẻ lấy chục đứa…
- Bác quá khen cháu nó hư đấy bác ạ!
Vợ ông Thức không đẻ được. Đó là lỗi tại ông. Ông đi bộ đội vào chiến trường trở ra, sốt rét trọc đầu, lại bị thương lệch vai, khiểng chân. Thương tật thì không sao, nhưng không đẻ được đứa con thì thật đau khổ. Vợ ông là giáo viên dạy cấp một. Người ta khuyên ông xin lấy đứa trẻ làm con nuôi, nhưng ông không muốn. Ông nghĩ thế nào, chả ai hiểu, đến vợ ông cũng không hiểu ông. Người ta ưu tiên cho ông cái chức cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống, ông tận tình, nhưng cũng không mấy thiết tha. Mọi chuyện đều giao cả cho bà Thắm, bà vợ liệt sĩ bốn con.
- Này cô, bố cháu hy sinh ở chiến trường nào? Khi đã quen thân, biết được chuyện của chị Nga, ông Thức hỏi. Lần này, không thể lảng tránh mãi được, chị Nga đành trả lời theo đúng như người ta đã ghi trong giấy báo tử của anh Kỳ:
- Em cũng không biết rõ lắm, chỉ thấy báo là anh ấy hy sinh ở “Mặt trận phía Nam” thôi ạ!
Ông Thức lại được dịp cằn nhằn, mà cằn nhằn rõ to:
- Phía Nam thì đúng rồi, không lẽ lại phía Bắc? Chiến trường mênh mông thế, ai biết đâu mà tìm. Thì cũng coi như mất tích! Có mấy cái kẹo Hải Châu, cô cầm lấy cho thằng bé…
Chi Nga ái ngại:
- Bác cho cháu nhiều thế? Các bac thương đã cho mẹ con em được ở nhờ, lại có việc làm, em còn chưa đền ơn được.
- Ơn huệ gì cái nhà cô này! Hay là cô cho thằng Hận làm con tôi nhé? Ông Thức nói bằng một giọng nửa đù, nửa thật, nhưng chị Nga nghe thấy rất rõ nỗi khát khao được làm cha của ông. Lần này, ông Thức nhìn chị Nga cười nheo mắt, ý như ông nhất quyết không để cho chị được lảng chuyện như những lần trước. Thấy chị Nga cứ cắm cúi, không trả lời, ông giục:
- Sao? Cô thấy thế nào?
Chị Nga ngửng lên, đôi mắt buồn xa thẳm:
- Đời em chỉ còn mỗi mình cháu, em làm sao xa cháu được? Em chỉ mong cho cháu lớn khôn, rồi lúc ấy đời em coi như xong…
- Thì ai bắt cco xa nó đâu? Nó vẫn là con cô mà… Chỉ cần nó nhận tôi làm bố, bà nhà tôi là mẹ, là được rồi.
- Thế…? Thôi, em sợ lắm! Nhỡ nó thấy em nghèo,nó bỏ em thì em chết! Chị Nga gượng cười, làm như đó hoàn toàn là chuyện đùa.
Ông Thức thôi không nói nữa, nhưng bỗng hỏi:
- Thế chế độ chính sách con liệt sĩ của cháu thế nào? Ở bên ấy người ta không lo cho nó à…
Lần này thì chị Nga không thể trả lời được. Chị cúi xuống gần sát đống than, cố giả vờ không nghe câu hỏi của ông cửa hàng trưởng. Nước mắt chị lại sắp ứa ra, chị quệt một ngón tay lên ngăn giòng nước mắt sằp trào ra, để lại một vệt nhọ ngang bên má. Ông Thức thấy thế thì cũng không hỏi nữa, lặng lẽ quay đi. Nhưng không phải lúc này, mà ngay từ hôm đầu tiên gặp mẹ con chị, ông vốn là người đi đây, đi đó, hiểu nhiều chuyện, ông đã ngờ đến một câu chuyện không bình thường rồi. Thì có trắc trở, bất an thì người ta mới lưu lạc đến đây, ông nghĩ thế, và ông sẵn lòng thương người, đã cưu mang mẹ con chị. Nhưng như mọi người đàn ông khác, ông nghĩ thếnào cũng có dịp hỏi cho ra nhẽ. Không thể để một đứa con của người liệt sĩ sống lưu lạc, thiếu thốn như thế được.
Chị Nga bắt đầu dạy học cho con trai. Và chị đã thất vọng! Một lần nữa, trời cao đã hành hạ chị, nhất quyết không buông tha người thiếu phụ này.


***


ĐOẠN 14

Ông lão ra đi vào một đêm tối trời, dường như để lánh mặt người làng. Hành lý của ông lão chỉ gồm có một bộ quần áo được coi là tươm tất nhất, chiếc áo gụ hơi bạc mồ hôi, cái quần kaki của anh Kỳ để lại cũng đã sờn bạc. Với số tiền tổng cộng được gần hai mươi lăm đồng bạc, trong đó có đến quá nửa là loại giấy một hào, hai hào, do tích cóp mà có, số còn lại là tiền liệt sĩ của anh Kỳ, của nhà nước.
Vào những tháng năm ấy, hẳn nhiều người còn nhớ việc đi lại bằng xe ô ô khách là một cực hình. Cả tỉnh chúng tôi chỉ có một bến xe Đồng Quang, mà xe thì ọc ạch, giờ giấc thì phập phù, hành khách lèn chật cứng, còn tài xế là những người mà vừa là hung thần, vừa là tên lưu manh mạt hạng. Xe ô tô của nhà nước, thường được ca ngợi là của nhân dân, tài sản của toàn dân, nhưng rơi vào tay tài xế nó đương nhiên là của báu để kiếm chác, để diễu võ giương oai. Đến nỗi, trong quân đội vẫn có câu: “Trung uý thiếu uý, không bằng một tí lái xe!”. Vì thế, ông lão Tuân không thể chọn con đường xe ô tô khách để đi Phú Thọ. Ông quyết định lấy con đường tàu hoả, lên từ ga Phổ Yên để về Hà Nội, rồi từ ga Hàng Cỏ, ông lại lên tàu đi Phú Thọ. Con đường đi của mẹ con chị Nga cũng là con đường ấy, tuy xuất phát từ một bến sông, con đường định mệnh...
Chuyến tàu xuôi khởi hành lúc chín giờ tối xuôi xẻ. Nửa đêm, ông lão về đến ga Hàng Cỏ. Ông lão Tuân không lạ gì nhà ga này, tuy là một nông dân nhưng ông đã từng có nhiều lăn lộn trên bến tàu, nhà ga, đường phố... với những tháng ngày lưu lạc giang hồ thời trẻ. Và gần đây thôi, những năm đói kém, những chuyến buôn bán sắn khô, khoai lang, lạt dang, củ nâu... đổ xuống ga Long Biên, hay còn gọi là ga Đầu Cầu. Thời trẻ khoẻ ấy đã qua rồi, ông và mấy anh bạn buôn tàu sau khi bán xong hàng, tản bộ vào chợ Đồng Xuân tìm một cửa hàng phở. Ai “không người lái” (phở suông, không có thịt) chứ ông Tuân cứ là phải tìm cho được món xá xíu, thịt quay, đánh một bát to, rồi ra vỉa hè sà vào quán chè chén, làm năm xu, một hào, rồi bắn nhờ điếu thuốc lào. Gần sáng lại cuốc bộ ra ga Hàng Cỏ, mua vé tàu hẳn hoi, leo lên toa tàu chợ, tìm chỗ gà gật...
Bây giờ ga Hàng Cỏ đã khác. Cái đồng hồ to ngất nghểu trên nóc nhà ga không còn, nhìn nhà ga cũng không còn cái vẻ oai phong mà trẻ trung, từng trải mà dễ tính như ngày trước. Người đi lại buôn bán khá đông, công nhân, bộ đội, học sinh... rầm rập. Cảm giác mất an toàn ngự trị. Công an và kẻ móc túi khá nhiều. Anh công an, anh bảo vệ đeo băng đỏ thì nhắc nhở hành khách cẩn thận kẻo móc túi, lừa đảo, trấn lột. Còn kẻ lừa gạt, xách làn, bạc bịp... thì vừa lân la gạ gẫm vừa doạ “công an đấy” để ù té, làm ăn.
Bây giờ ông lão cũng đã khác, không còn cái vẻ ung dung tự tin như một thời tráng kiện, gặp thằng đạo trộm thì sẵn sàng ra oai cho một đòn gánh. Ông lão Tuân ôm cái bị vào lòng tìm một góc khuất, hạ lưng tựa vào mảng tường cáu cáy, giả vờ lim dim. Ông lim dim thế, nhưng rất cảnh giác, một là không để kẻ gian nào mon men lại gần, hai là hễ quầy bán vé đi Phú Thọ mở cửa, là có thể nhỏm dậy, lao tới, đút tiền lẻ vào cái khe bẹp, không lọt bàn tay, nhận tấm vé bằng bìa cứng, bằng hai ngón tay chéo. Ấy nó nhỏ thế nhưng lại đủ sức kéo ông đi mãi tận phương lai xứ sở nào, tuỳ theo cái giá tiền ghi trên đó.
Tự dưng, trong tiếng bát nháo của loài người di động, ông lão nghĩ: sao con người ta lại có số nhỉ? Số may, số rủi, số nhàn, số sướng, số nghèo, số giàu, số có phúc, số bạc phận...? Là ông nghĩ về người em họ, con bà cô ruột mình, tên là Đạo, nhà ở chợ Hoà Bình, đằng kia. Kể ra, thoạt đầu khi tính kế ra đi tìm mẹ con chị Nga, phải qua Hà Nội, ông có nghĩ đến ông em này. Đó là một người họ hàng của ông, tuy không tốt nhưng không thể bảo là anh ta xấu. Không hại ai, cũng không làm lợi cho ai, có chăng chỉ làm cho người ta ghét. Có một dạo, khi bà cô còn sống, anh ta cũng có mấy lần về quê, chả biết thật hay giả, Đạo “thẳng tính” một cách... hợm hĩnh:
- Ối giời ơi! Bác làm gì mà cứ đầu tắt mặt tối thế chả biết. Người Hà Nội chúng em cứ là sáng bảnh mặt trời ra mới chui ra khỏi chăn, mà cũng có kém gì ai. Ờ mà này, nước giếng nhà bác nó làm sao ấy, giặt xà phòng nó cứ nhờn nhờn, kinh bỏ sừ! Nước máy ở Hà Nội giặt đến đâu sạch đến đấy...
Lần khác, anh chàng con cô ông Tuân lại giả lả:
- Nói thật với các bác chứ, đúng là em chả biết gì sất. Thế cái cây kia nó là cây cỏ hay cây lúa?
- Thế chú không phân biệt được cây cỏ với cây lúa à? Ông Tuân đáp nhời ông em. Để tôi kể chú nghe. Ngày xưa, dưới trần gian chưa có cây lúa làm lương thực cho con người đâu... Con người ta sống bằng hoa quả, thịt chim chóc, cào cào châu chấu thôi. Ông Trời thấy thế mới thương tình, cử một ông Thần, đem hai thứ hạt cây xuống gieo cho trần gian có cái ăn. Hai thứ này giống nhau lắm, để cho bọn người ngốc như chú không biết. Một thứ là cỏ, một thứ là lúa. Hạt lúa, Trời bảo Thần reo vung ra cho rộng rãi, còn thứ hạt kia là cỏ thì rắc từng cụm, từng cụm, ít thôi. Thần nghe tai nọ xọ tai kia mới đem gieo cỏ vung ra khắp gầm trời, còn lúa thì rắc từng nhúm nhỏ. Đấy, thế là bây giờ cỏ thì mọc tứ tán, tràn lan, còn lúa thì lại hiếm hoi, ít quá. Thấy thế Trời mới nổi giận, bắt vị Thần kia hoá thành con trâu, xuống hạ giới phải kéo cày để làm ra hạt thóc mà chỉ được ăn cỏ...
Ông Đạo cười khơ khớ:
- Chuyện hay nhỉ? Bố sư, cái lão Thần, à mà cái con trâu ngốc nghếch kia vung nắm thóc ra thì có phải bây giờ sướng biết mấy, chả phải cấy hái đầu tắt mặt tối, cứ việc ra đồng mà gặt lúa, bác nhỉ!?
Khi chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Giôn- xơn, vợ chồng con cái anh ta cũng về ở nhà ông đến hơn hai năm trời. Thế là cũng gắn bó lắm, cũng thân thiết lắm. Nếu bây giờ ông có đến nhờ vả Đạo thì cũng là công bằng, phải lẽ... Ông lão lại nghĩ, ấy những người Hà Nội như Đạo, tuy nói tục như ranh, lưu manh nhất hạng nhưng lúc nào cũng sướng, cũng phởn phơ. Họ ăn nói, đi lại, khạc nhổ... giữa ngoài đường ngoài phố mà không khác gì ông ở trong bếp hay trong chuồng xí nhà mình? Chả thế mà dân gian đã có câu: “Tự nhiên như người Hà Nội”, và cũng những trường hợp tương tự, họ lại nói tránh đi, là “tự nhiên như ruồi”. Ông lão bật cười, thế chả hoá ra người Hà Nội cũng như con ruồi, con nhặng à?
Có tiếng rao bán bánh mì ở ngay trên đầu ông lão Tuân, ông không thấy đói, nhưng ông thèm. Ông thèm cái bánh mì, thèm cái mùi phố thị, và thèm được bát phở xá xíu bốc hơi và mùi thơm của hành mỡ. Thôi nào, thèm thế thôi, chứ ông nhất quyết không mua. Phải hà tiện, đường còn dài... Một cơn mưa ào ạt kéo đến, nước tràn xuống các rãnh nước làm dềnh lên mùi ống cống nồng nặc, lập tức dập tắt cơn thèm của ông lão. Người chạy rầm rập, sát sạt đến bên cái góc tối ẩm ướt của nhà ga. Có hai người thanh niên hạ hành lý của mình xuống cạnh ông Tuân, rồi một người đặt đít xuống chỗ gạch còn trống. Ông Tuân tảng lờ như đang ngủ, nhưng tất cả tinh lực ông đang căng ra, cảnh giác hết mực. Một người nói:
- Bố sư con “phò”( ) , nó tưởng bở ăn, cứ dính lằng nhằng, làm mất cả việc...
Ông Tuân không biết “con phò” là con gì, nhưng cũng đoán ra rằng đó là một con người, mà là đàn bà con gái, chắc là ghê gớm lắm...
- Đéo mẹ, trông người như con ve, mà đòi những một cụ ! Có cho không thì tao cũng làm được một quả! Hơ hơ... tiếng một người khác.
Một “cụ” thì ông biết, và thế là ông cũng biết họ đang nói về một cô gái điếm.
Tiếng hai người đàn ông nói với nhau không to lắm, nhưng cũng không phải là nhỏ, là thì thầm, đủ biết họ từng trải cảnh này. Lại tiếng một người:
- Bình này, mày bảo con phò đấy là dân Hà Nội gốc hay tỉnh nào lên?
- Chắc là dân tứ xứ thôi... Chứ dân Hà Nội gốc nó có tem phiếu, làm gì đến nỗi.
- Tao cũng nghĩ thế, mà như thế thì thì khổ quá nhỉ...
Im lặng một lúc, có tia lửa xoèn xoẹt từ một cái bật lửa bằng xăng, họ châm thuốc hút, mùi khói thuốc lan toả, bỗng dưng ông lão Tuân thấy thèm một mồi thuốc lào. Tiếng Bình:
- Này Ngọc, sao tự dưng tao lại thấy thèm cái hồi chúng mình ở với nhau ở Đac Tô, Tân Cảnh quá. Lúc ấy tao nghĩ, nếu mà sống sót trở về thì dứt khoát không phải khổ, không phải tủi nhục. Nào ngờ...
- Ai mà chả nghĩ thế. Nhưng dù sao bây giờ cũng sướng chán. Có khổ, có nhục một tí nhưng không lo phải chết. Còn giữ được cái gáo là may lắm rồi. Đấy, hôm mày sang tao, bà cụ mẹ thằng Tuyên vừa ở nhà tao về, lại khóc lóc, nhớ thương con. Cái thằng Tuyên bẻm mép ấy. Bây giờ mà có nó đi với chúng mình thì hay biết mấy...
- Hôm nó chết, tao đi nhặt xác nó tan thành mấy mảnh. Hình như chỉ còn có một cánh tay... Tiếng anh tên Ngọc.
Họ lại im lặng. Ông lão Tuân đoán biết đây là hai anh bộ đội phục viên, hình như họ cùng đơn vị với nhau. Giờ họ gặp nhau thế này, không biết họ đi đâu nhỉ?
- Bình, mày bảo có ma không? Là tao hỏi có linh hồn thật không? Họ lại tiếp tục câu chuyện.
- Tao không biết, mà từ bé đến giờ tao có gặp ma bao giờ đâu.
- Tao thì nghĩ là có. Hôm chôn cất thằng Tuyên xong, đêm về đến phiên tao gác, có một con đom đóm to bằng quả trứng gà ấy, nó cứ lởn vởn quanh trận địa. Tao cũng sợ, đom đóm gì mà to thế, chưa thấy bao giờ. Lúc sau nó cứ chập chờn, đến gần chỗ tao, rồi lại lảng ra. Bất đồ tao nghĩ hay là linh hồn thằng Tuyên? Tao hỏi nhỏ, gần như là nói thầm, sợ có người nghe thấy. “Tuyên ơi, có phải mày không? Nếu đúng là mày thì bay bổng lên cho tao biết. Có thiếu gì thì đợi ngày hoà bình về, chúng tao cúng, chứ bây giờ thì chả có gì đâu”. Là tao cứ lẩm bẩm thế, bất ngờ cái cục sáng đó vọt lên trời cao, rồi tắt ngấm... Tao vừa sợ, vừa tiếc. Giá nó đến gần hơn, cho mình hỏi một câu.
- Mày định hỏi câu gì?
- Thì câu gì cũng được. Mà tao sẽ hỏi bao giờ thì chiến thắng, thì hoà bình?
Tiếng cười khùng khục của Bình:
- Mày chỉ hỏi vớ vẩn. Nó là lính tráng như bọn mình thì biết quái gì mà hỏi.
- Biết chứ! Người chết trẻ là thiêng lắm. Chưa biết chừng, ở trần gian nó làm lính, lúc chết nó làm tướng cũng nên. Với lại ở cõi trên, cái gì chả biết. Đấy mày xem, chúng mình là người trần, mắt thịt ở dưới này, đứa nào làm cái gì thất đức, ác độc, trên ấy biết cả đấy...
Không thấy Bình nói gì, ông lão Tuân thấy yên tâm. Ông bỗng thấy quý mến hai người bạn đồng hành đêm nay.
- Nếu thế thì tao phải khấn thằng Tuyên mới được. Tuyên ơi, bữa nay tao với thằng Ngọc đi mót sắn, mày có khôn thiêng thì phù hộ cho chúng tao mỗi đứa kiếm được một gánh về đỡ vợ con. Ở nhà chúng nó đang đói... Có tiền chúng tao sẽ cúng mày một con gà thật ngon, có cả lá chanh, chấm muối ớt...
- Sau đó để chúng tao hưởng lộc... Có thêm cút rượu nữa chứ!
- Ừ đúng đấy! Mỗi thằng một cái đùi... Nhưng thôi, chưa nói trước, sợ bước không qua. Càng nói càng thèm!
Ông lão thấy thương hai chàng trai quá. Mà ông cũng thèm một cái đùi gà thật thơm, thật vàng, và một hớp rượu thật cay, thật nồng. Cơn thèm vội vã cọ quạy vào ngực ông, khiến ông bật ho thành tiếng.
- Ai thế? Mày ngó xem có phải cảnh giác không?
Khuôn mặt Bình hình xương xương ngó xuống sát mặt lão Tuân, thì thầm: “Một ông cụ”. Lão Tuân mở mắt:
- Các anh đi đâu thế?
- Chúng con đi mót sắn đây. Thế cụ đi đâu?
Ông lão ngồi thẳng dậy, nhìn hai khuôn mặt, sao ông bỗng thấy hao hao nhang nhác khuôn mặt anh Kỳ:
- Tôi nghe các anh nói chuyện hết rồi. Ở bộ đội về mà khổ thế à?
Ngọc cười:
- Khổ sở gì đâu hả cụ. Chúng con nói chuyện vui thế thôi. Thế cụ có đi mót sắn với chúng con không? Nhìn hành lý của cụ, chắc cụ cũng phải đi xa lắm nhỉ?
- Tôi lên Phú Thọ, tìm người nhà...
- Thế thì đi với chúng con, chúng con cũng lên thị xã Phú Thọ đây! Rồi từ thị xã chúng con còn đi nữa. Thế người nhà của cụ làm gì? Là con hay cháu? Đàn ông hay đàn bà?
Ông lão Tuân ngẩn người ra trước những câu hỏi dồn dập của hai anh cựu binh. Lát sau ông nói:
- Là con. Con dâu, với lại con nó...
- Thế chồng nó đâu mà để cụ phải lặn lội thế này?
Bỗng ông lão rớm nước mắt, ngập ngừng:
- Chồng nó, con trai tôi chết rồi... ông lão dường như nghĩ ngợi không biết có nên nói ra không. Sau, ông nghĩ là có nói ra với hai anh cựu binh này cũng chẳng việc gì. Con trai tôi cũng trạc tuổi các anh, nó hy sinh rồi, ở mặt trận phía Nam!
Hai anh cựu binh nhìn nhau im lặng. Mặt trận phía Nam là một mặt trân mênh mông, bạt ngàn rừng rú, làm sao mà biết một nơi nào cụ thể. Tất cả các loại giấy tờ liên quan đến người lính chỉ có một địa danh duy nhất. Cuộc chiến đấu của họ mang nhiều yếu tố bí mật, đã đành, suốt một thời gian dài, sự có mặt của anh bộ đội miền Bắc ở chiến trường miền Nam không được coi là hợp pháp. Đến cả những anh hùng, dũng sĩ cũng chỉ được báo chí nêu lên bằng cái tên rất dễ thương: chiến sĩ quân giải phóng, và giấu biệt tăm tích quê hương, nếu anh ta là người ra đi từ miền Bắc. Đã có hơn một triệu người như thế, mà sau này chính các anh mới biết. Đã có một cuộc lưu lạc tập thể, rầm rập bước quân hành mà chỉ có rừng, có đất mới hiểu nổi những bước chân các anh. Rồi ngày chiến thắng trở về, hàng trăm đoàn xe, đoàn tàu hoả đưa các anh trở lại quê hương, nhưng với những người đã ngã xuống, họ nằm lại với một địa chỉ quy ước: mặt trận phía nam!
- Quê cụ ở đâu? Sao con dâu cụ không ở nhà, mà lại bỏ đi để cụ phải đi tìm?
Ông lão Tuân nghĩ cách nói tránh đi sự thật, nhưng ông vẫn chưa nghĩ ra được câu chuyện hợp lý. Mãi lúc sau, ông mới thở dài:
- Chuyện nó cũng dài dòng lắm, các anh ạ. Chuyện cơm chẳng lành, canh không ngọt, để nó bế con ra đi...
Bình, anh chàng có khuôn mặt xương xẩu, cặp môi thâm và cong tớn, đặt cái ba lô con cóc lộn trái sang một bên, giọng gay gắt:
- Thế là tệ! Đàn bà thế thì tệ thật. Chồng đi B, hy sinh mà dám đem con bỏ nhà ra đi thì thật là quá lắm. Thế cụ có biết cô ta ở đâu không?
- Không, không phải thế đâu các anh ạ. Con dâu tôi tốt nết lắm. Chỉ tại gia đình nhà tôi không ưa nó nên mới nên nông nỗi. Hai anh, có anh nào ăn thuốc lào không?
- Không cụ ạ! Nếu cụ thèm thì ra cái quán nước đằng kia mà hút nhờ một điếu, để chỗ đấy chúng con trông cho. Hay cụ hút thuốc lá?
Ông lão vuỗi lưng đứng dậy:
- Tôi không hút được thuốc lá, ho lắm. Nhờ các anh giữ hộ tôi cái túi, tôi đi hút điếu thuốc. Từ tối đến giờ chưa được hơi thuốc, nhạt mồm quá!
Hai anh cựu binh nhìn theo cái lưng to bè, chắc chắn, nhưng đã hơi còng xuống của ông lão mà ái ngại. Ngọc bảo:
- Giá bố mình còn sống thì cũng trạc ông cụ này...
Bất thình lình có tiếng loa nhà ga ọ oẹ, rồi một giong nữ phát thanh nhão nhoét theo truyền thống các nhà ga đường sắt vang lên:
“Đoàn...à tàu...à Hà...à Nội...ỳ Lào...à Cai...a đang...a từ...ừ từ...ừ tiến...ư vào...à ga...a Hàng...à Cỏ...!”
Ô cửa sổ bán vé bỗng nhiên bật sáng, lập tức hàng chục con người nhào tới, bâu kín. Một anh nhân viên bảo vệ đồng phuc xanh thẫm, đeo băng đỏ, tiến đến, bằng một giọng ngái ngủ nhưng vẫn toát ra một giọng nói của kẻ vốn xử dụng quyền uy quen thuộc:
- Xếp hàng vào! Hàng hai! Chen nhau mất trật tự thế này nhà ga bán vé thế nào được?!
Ngọc vừa giũ quần đứng lên, vừa ngó quanh:
- Quái, ông cụ này đi lâu thế nhỉ? Bình, mày ngồi đây đợi ông cụ, để tao ra xếp hàng!
Vừa đói, vừa thèm thuốc, điếu thuốc lào đã vật ông lão Tuân say lâu quá. Phải mãi ông mới lật đật chạy về chỗ ngồi, nhưng nghĩ sao ông lại chen vào xếp hàng. Nhận ra ông, Ngọc bảo:
- Cụ cứ về chỗ khi nãy, để cháu mua vé cho. Cụ di Phú Thọ à?
- Thế anh mua hộ tôi nhá! Vừa nói ông vừa móc túi ra một nắm tiền. Đây tôi có tiền đây, anh cầm mua giúp tôi!
- Thôi con có đây rồi, tí nữa con lấy sau. Cụ cứ cất đi. Cẩn thận cụ ạ, kẻ trộm nó móc mất bây giờ...


***

Theo kinh nghệm cũng như kiến thức sư phạm của mình, chị Nga hoàn toàn thất vọng khi dạy cho thằng Hận học những chữ cái đầu đời. Dù cố gắng hết sức nhưng chị không làm thế nào để thằng Hận học. Nó ngúng nguẩy, không chịu học, và nếu cố gắng lắm, chị Nga bắt nó ngồi vào bàn để học thì nó chỉ cười một cách hồn nhiên. Mọi lời nói từ ngọt ngào, dỗ dành đến qua doạ đều không có kết quả. Chị cố gắng dậy cho nó vẽ một hình tròn, bảo nó đọc đấy là chưa “o”, thì nó đọc thành “a”, và vẽ một hình tam giác. Một tháng trời không thể nào dạy cho nó vẽ được một hình tròn và chữ “o”. Nhưng nếu chị dạy nó vẽ chữa “a” in, hình tam giác, thì nó vẽ một hình vuông!
Chị không chịu đầu hàng, thử làm một vài trắc nghiệm khác nữa, thì chị nhận thấy thằng con trai thiên thần của chị hoàn toàn là một đứa trẻ chậm phát triển. Nó không thể nào phân biệt được dài hơn với ngắn hơn, lớn hơn với bé hơn. Cũng như, nó không phân biệt được trong với ngoài, trước với sau… Đây là một đòn giáng mạnh vào chị Nga, mà chị không biết kêu ai, ngoài Ông Trời!
- Trời ơi là Trời! Sao ông nỡ ăn ở bất công đến thế? Nếu tôi có tội tình gì thì hãy bắt tội tôi đây, chứ nó là một đứa trẻ, sao Trời nỡ hành hạ nó? Nó đã làm gì nên tội? Tất cả sai lầm hay tội lỗi do tôi gây ra tôi đều nhận hết! Dù Trời có bắt tôi phải cực khổ, vất vả, làm thân con chó, con trâu… nhưng hãy để cho con tôi được yên! Mà bao nhiêu năm nay và rồi có khi là hết cả cuộc đời này, tôi đã là một kẻ hèn mọn, sống cơ cưch đến thế mà Ông vẫn chưa hả hay sao?
Nhiều đêm chị vật vã, không ngủ được. Mà hễ cứ nhắm mắt lại, thì lại mơ thấy thằng Hận. Nó ngờ ngệch, bơ vơ, khi chị không còn trên cõi đời nữa… Con ơi! Con ra đời là gì cho cơ khổ thế này! Có con, mẹ đã chịu bao nhiêu tai tiếng, cay đắng, nhục nhã. Nhưng dù cho cây đắng, tủi nhục đến đâu mẹ cũng chịu đựng được, chịu đựng để có con, có mẹ. Mẹ chỉ mong con được thành người, một con người bình thường như mọi người. Nào ngờ, con lại ra nông nỗi này!
Chị không muốn truy tìm nguyên nhân, nhưng chị luôn ân hận. Đó là chuyện nó bị ngã xuống sông, chết đuối hụt. Có thể sau cú chết hụt đó và những trận sốt ly bì, đã làm hỏng thằng bé. Cụ thể là đầu óc nó làm sao đó.
Nhưng cứ nhìn nó ăn, nó chơi, nó lớn lên phổng phao, xinh đẹp thì chị lại không thể nào tin được. Lần chết đuối hụt và những cơn sốt nếu có gì thì ảnh hưởng đến cơ thể bên ngoài của nó thôi chứ? Đằng này, nhìn nó không ai có thể ngờ được nó lại là một đứa trẻ tâm thần, ngờ nghệch?
Tất cả là tại Trời! Có lẽ Trời xanh đã nổi giận! Chuyện loạn luân trong nhà giữa bố chồng và nàng dâu đã lay động đến lòng tự ái của Trời Già! Các người đã dám tự ý sắp đặt, tự ý sinh con đẻ cái. Cái sự tuyệt tự của dòng họ Trần phải xảy ra, phải được thực hiện theo ý của ta. Bất cứ kẻ nào can thiệp vào đều bị ta hành hạ, tiêu diệt…
- Không! Chị Nga đã cố cãi lại, trong đêm đen đặc, màu than và mùi than đá. Chị đã cãi phăng phăng, dù đó là Ông Trời! Nếu không có chiến tranh, không có cuộc binh lửa thì chồng tôi đã không phải ra trận. Sẽ không có người chết, sẽ không có cảnh chồng vợ chia lìa! Lúc đó những đứa con sẽ được sinh ra đàng hoàng dưới ánh sáng mặt trời, minh bạch! Nhưng các người đã làm gì? Trời xanh có mắt như mù. Tại sao cứ đem can qua binh lửa đến cho chúng tôi. Chúng tôi không thể tuyệt tự được, chúng tôi phải tồn tại và kéo dài mãi kiếp người, loài người…
Tự dưng trong đêm tha hương, chị Nga nhớ về quê nhà, và chị thấy thương ông lão Tuân! Ông lão bố chồng và là cha của con trai chị, là nối tiếp, là không dứt bỏ một giòng giống, vốn cũng đã được duy trì trong nhiều thế hệ. Bây giờ ông lão đang ở đâu? Liệu ông có hối hận về việc mình làm không? Liệu ông lão có khi nào tự xỉ vả mình vì sự hèn nhát của mình trước dư luận xóm làng, và trước những người con gái hàm hồ của mình không? Nếu ông lão can đảm và thương yêu chị, có thể chị đã không phải bước những bước gập ghềnh đầy bất trắc trên con đường lưu lạc này? Và nếu ông lão nghĩ lại và hối hận, biết đâu chị Nga sẽ quay trở về với cái làng Sơn Cốt bé bỏng kia?
Đêm gió bấc đầu mùa kéo về đột ngột, sột soạt ngoài vườn chuối, hai dòng nước mắt của chị cứ tuôn dài xuống chiếu, ướt đẫm cả một bên má con trai…


***


Sáng sớm ngày thứ tư, kể từ khi đặt chân lên đất Phú Thọ, ông lão Tuân trở dậy sớm hơn mọi ngày. Trong bóng tối lờ mờ, nhờ ánh trăng già thấp thoáng sau ngọn bạch đàn, ông lão ngồi lần mò đếm lại số tiền trong túi. Năm- mươi- hai đồng một hào tám, là số tiền còn lại, gồm hai đồng tiền to (mười đồng), ba đồng tiền nhỡ (năm đồng), còn bao nhiêu là tiền nhỏ, tính cả vài đồng xu lắc cắc, ông xâu vào một sợi lạt.
Bây giờ, với số tiền này, làm sao có thể sống đến khi tìm được “nó”? Ông lão bần thần ngồi tựa lưng vào tấm vách ẩm, hai bàn chân lùa vào cái bao tải rách, chống rét và chống muỗi, thỉnh thoảng lại giật bần bật. Chứng thấp khớp kinh niên gặp gió lạnh và khí ẩm lại lên cơn hành hạ. Nhưng ông không thấy thế làm đau, không thấy thế để nản chí.
Bây giờ, với số tiền còm trong tay, ông lão đã thấp thoáng có ý nghĩ ân hận về việc ra đi của mình. Đây là một cuộc tìm kiếm vô vọng. Chỉ có một nguồn tin mập mờ từ anh bạn của Định Khiểng, người giao thông xã. Ông muốn tìm người bạn của Định, nhưng lại không dám. Ông muốn việc làm của ông phải được giữ kín, tuyệt đối giữ kín. Chính vì muốn giữ kín nên ông lão Tuân không thể đem đi được nhiều tiền. Muốn có nhiều tiền phải bán thóc, bán gà, bán lợn… Thậm chí có thể bán cả chiếc xe đạp của chị Nga để lại. Nhưng như thế sẽ ồn lên, đến tai mọi người và bị lộ, chưa chắc ông đã đi được.
Nhưng ông lão đã quyết đi. Và bây giờ trong tay ông có ba nước cờ, ông lão đã bày tính kỹ lưỡng. Nhưng cũng như người ta ngồi vào bàn cờ, quân chưa đi, đối phương chưa bộc lộ, thì chẳng có nước nào đáng tin cậy.
Trời sáng dần, ông lão nhìn quanh, thu xếp đồ lề, cuộn tròn lại trong cái tay nải, lững thững đi về phía chợ. Mấy ngày qua ông đã đi tha thẩn như người nhàn rỗi, thấy người thiếu phụ nào dặt con, ông đều ghé mắt nhìn. Đôi khi gây ra những điều khó chịu cho người ta. Vậy mà người ông tìm vẫn chưa thấy.
Hôm nay khác, một nước cờ nhỏ đã được thực hiện. Ông không đi mà ngồi một chỗ ở cổng chợ. Cái nón mê úp lên đầu, chỉ chừa một khoảng để con mắt nhìn nghiêng lên có thể thấy người qua lại. Một bàn tay chìa ra hờ hững… Thỉnh thoảng, rất lâu ông mới lên tiếng, hình như chỉ đẻ cho phải lệ:
- Bà ơi, ông ơi… Xin ông bà rủ lòng thương kẻ già nua, đơn chiếc…
- Khổ quá mất thôi! Một bà lên tiếng lẩm bẩm, tuy nhỏ thôi lại giữa chợ ồn ào nhưng ông vẫn nghe được. Thời buổi đói kém, ăn mày, ăn xin ở đâu mọc ra lắm thế…
Ông lão nghe tiếng người than vãn, trách quở, và cũng nghe được, tiếng đồng xu rơi “cạch” xuống cái bát sắt. Ông hờ hững nhặt lên, nhìn chăm chú. Đây là đồng tiền đầu tiên trong cuộc đời ngoài sáu mươi của mình, ông lão kiếm được từ ăn mày thiên hạ. Không sao! Nó có thể giúp ta thực hiện được ý nguyện.
Từ hôm ấy, ông Tuân trở thành kẻ ăn mày. Ta chợ, ông lần mò đi vào các ngõ ngách. Đó là một nước cờ, nhưng cũng là một kế sinh nhai. May mắn thay, đây là chốn tha hương, không có người nào quen biết. Ông lão yên tâm…
Thế rồi một ngày kia, mưa phùn lâm thâm, cái rét của trời đất cùng với cái lạnh tha hương, lưu lạc và kiếp ăn mày làm ông lão chùn chân. Ông ghé vào một cái quán nước nhỏ nằm nép cạnh cái nhà kho để hút nhờ điếu thuốc lào. Mấy cái cột tre chống xiêu chống vẹo đỡ mấy tầu lá cọ rung lên phần phât. Cả buổi sáng không hút, giờ đây hơi thuốc làm ông say lử đử. Ông lão loạng choạng, tay quờ quạng, bám vội vào cái cột tre, suýt hụt, mãi mới vớ được khúc gióng, làm cả cái lều được thể rung lên răng rắc. Đầu ghế bên kia một anh thanh niên có khuôn mặt vuông, hai quai hàm nở nang, nhìn ông chằm chằm, khiến ông thấy ngượng . Ông không ngượng về cơn say thuốc lào, cái thứ thuốc ma này hút phải say. Có say mới là thuốc lào chính cống. Ông ngượng về thân phận của mình, đã là kẻ ăn mày còn ngồi nhai xôi gấc. Nhưng có lẽ chẳng ai biết ông ăn mày, mà chỉ có ông biết ông thôi, nhưng dù sao cũng ngượng lắm. Đã ngửa tay xin đồng xu của thiên hạ thì còn gì là con người nữa, đến cả ngồi trong cái quán lụp sụp này, ông cũng chẳng còn quyền ngồi ngang với người ta. Ông phải ngồi xuống đất, ngồi ra xa góc kia cơ! Ông lão tự giày vò mình. Bông nhiên anh thanh niên ngồi nhích lại, miệng nở:
- Cụ ngồi nhích vào trong này cho đỡ hắt. Gớm trông cụ hút điếu thuốc mà phát thèm…
Ông lão cười tróm trém:
- Thuốc ngon là nó say thế đấy anh ạ. Anh có hút không?
- Thỉnh thoảng thôi cụ ạ. Dạo trước con còn đi rừng thì hay hút, bây giờ ở nhà, chả làm gì, cũng phải bỏ, cụ ạ.
- Đây, thuốc đây, anh có ăn một điếu thì ăn! Trời rét thế này, có hơi thuốc vào nó cũng ấm. Bà chủ quán, cho tôi xin một chén nước…
Người thanh niên kia mỉm cười, nửa như muốn xin điếu thuốc, nửa lại quyết bỏ, chần chừ không dám. Mãi sau, anh nói:
- Đâu? Cụ cho con xin điếu thuốc! Rét thật đấy…
Ông lão vạch áo đưa cho anh thanh niên gói thuốc:
- Thuốc ngon đấy! Lâu không hút, anh làm cái này là say phải biết!
Anh thanh niên châm lửa từ que đóm, rít một hơi, bỗng nhả khói ra rồi ho sặc sụa. Anh ho đến nỗi bà chủ quán phải lắc đầu:
- Rõ khổ, không hút được thì tập tọng làm gì không biết!
Anh ngồi ngẩn ra một lúc, lấy lại sức rồi trả lại gói thuốc cho ông lão, chữa ngượng:
- Dạo trước con cũng hút nhiều lắm, mấy năm nay bỏ nên hút lại không được. Mà cai anh thuốc lào nó phải say, đến mấy giây ấy, như người ta thăng thiên, cụ nhỉ?
- Thế là anh biết hút đấy. Anh người ở đây hay từ nơi khác đến?
- Dạ, con ở dưới xuôi, lên Yên Bái đảo sắn.
Bà chủ quán răng đen, cũng là người xởi lởi, thấy vậy thì hỏi:
- Đi Yên Bái sao còn xuống đây?
Anh tần ngần một lúc, rồi nói nhỏ, như người có lỗi:
- Mấy năm nay rồi, năm nào mùa này cháu cũng lên Yên Bái. Mà… nửa đường cháu xuống đây tìm một người quen. Bà ở đây lâu chưa?
Bà chủ quán, rót từ cái tích ủ ra đầy hai chén nưới, cười thân tình:
- Tôi cũng người dưới Nam Định, lên đây từ hồi còn con gái, dạo đánh nhau với Pháp ấy. Sau lấy chồng, hoà bình rồi ở lại đất này…
- Cháu hỏi bà, thế bà có biết thầy giáo Hoan hồi chống Pháp dạy học ở đây không? Dạy bình dân học vụ…?
Bà chủ quán nghĩ ngợi:
- Thầy giáo Hoan à? Dạy bình… dân… hoc… vụ? Không, tôi không biết! Những người có tuổi thì có nhẽ biết đấy. Mới lại tôi có đi đến đâu. Ông ấy là thế nào với anh?
- Dạ không! Cháu cũng có biết mặt đâu, nghe người nhà nói lại thế thôi…
Trong lúc anh thanh niên vãn chuyện với bà chủ quán, ông lão ăn mày làm như người ngoài cuộc. Ông lão né nửa người ra ngoài mưa, nhìn đâu đó. Anh thanh niên tiếp:
- Thế mấy năm nay bà có thấy một chị phụ nữa có đứa con trai đọ chừng ba, bốn tuổi từ nơi khác lưu lạc đến đây không?
- Nhiều lắm! Ối giời, mấy năm nay giờ làm đói, người tứ xứ đổ về đây nhiều lắm. Họ đến một dạo, không sống nổi, lại đi… Thế anh tìm ai?
Anh thanh niên hơi ngần ngừ:
- Dạ cung một người làng thôi. Năm sáu năm nay, cháu đi tìm, mà chẳng nghe phong thanh gì!
- Khéo thường đi rồi! Có khi đi mãi lên Lào Cai, Yên Bái… Mà cũng có cả người vào tận trong Nam nữa kia… Thời buổi này, chim trời cá nước, biết sao mà tìm!
Ông lão ăn mày vẫn để tâm nghe câu chuyện, dù cố làm như không để ý. Sao người ta lại đổ dồn về cái thị xã nhỏ bé, toàn nhà tranh vách đất này nhỉ? Để rồi người ta lại đổ đi tìm kiếm một cách tuyệt vọng như thế nhỉ? Đâu có phải mình ông, đâu có phải chỉ có một mẹ con cô Nga? Thiên hạ không chịu ở yên một chỗ, mà thiên hạ cũng không chịu để cho nhau được ở yên một chỗ. Vừa suy nghĩ miên man ông vừa nhìn ra đường, câu chuyện của bà chủ quán và chàng thanh niên có khuôn mặt vuông chữ điền vần rỉ rả:
- Anh đi có một mình thôi à?
- Có một anh bạn nữa, cũng nể cháu, anh ta xuống đây. Có lẽ tối nay hai đứa lại nhảy tàu đi Yên Bái.
Mưa bắt đầu nhẹ dần, nhưng gió thì tạt mạnh hơn. Con đường nhỏ lớp nhớp bùn trước cửa quán, thỉnh thoảng lại có người đi như chạy, như có ai đuổi sau lưng để tránh gió, tránh mưa. Ở đâu đó, trong những ngôi nhà ấm cúng đang đợi họ. Chàng thanh niên như sốt ruột:
- Ở thị xã này, ngoài cái cửa hàng ăn uống chõ ngã ba, còn chỗ nào bán cơm không bà nhỉ?
Bà chủ quán lắc đầu:
- Chỗ đấy bán phở, mà phở cũng làm bằng bột sắn, bột mì thôi, Anh muốn ăn cơm phải có tem gạo. Ra phía chợ có mấy bà bán cơm nhưng phải quen mới nhận ra. Anh cứ thấy bà nào có hai cái làn mây to tướng, ngồi thu lu là bán cơm đấy. Nhà nước quản lý lương thực mạnh lắm, ai bán là bị bắt, tịch thu rồi còn phạt nữa!
- Vâng! Ở dưới cháu cũng thế, nhưng người ta vân bán. Chứ không ai đi đâu xa, không là cán bộ, không có tem gạo thì có mà chết đói, bà nhỉ…
Bông vẻ mặt anh thanh niên tươi hẳn lên, nhìn người thanh niên khác đang co ro chạy đến:
- Sao lâu thế?
Anh kia ngồi sà xuống, hai tay xoa vào nhau:
Chờ mãi cho vãn người mới hỏi. Đây này… Anh ta chìa ra một cái gói nhỏ, bên trong là hai cái áo may ô dệt kim. Cô bán hàng cảm tình lắm đấy. Hồi trước bọn mình cùng học cấp hai. Mình đi bộ đội, cô ta đi thanh niên xung phong. Bây giờ theo chồng lên đây bán cửa hàng mậu dịch.
- Có hai cái áo mà mất cả buổi chiều lại còn mang ơn, mang nợ. Tớ thì chả cần!
Anh kia cười xoà, nhét cái gói vào túi của mình:
- Chuyện tình cảm thôi. Khi nào về, ghé qua chơi, cô ấy nói thế. Chả gì cũng đồng hương. Này, thế cậu vẫn đang tìm người trong mộng đấy à?
Anh mặt chữ điền, lắc đầu:
- Vô vọng lắm! Mấy năm rồi còn gì!
- Sao dạo ấy không đi tìm ngay?
- Thì đi ngay đấy, nhưng có biết gì cụ thể đâu. Bây giờ gặp lại chưa chắc đã nhận ra nhau…
Anh thanh niên đến sau, châm một điếu thuốc lá, phả khói. Làn khói tan biến vào ngọn gió bấc. Thấy bạn mình im lặng, anh giật áo:
- Này Tĩnh! Chuyến này ta không mót sắn nữa…
Người có khuôn mặt vuông chứ điền chính là anh thợ san tràng tên Tĩnh. Nghe bạn nói thế, Tĩnh quay lại hỏi:
- Thế biết làm gì?
- Tớ có ít vốn đây, của cô bạn mậu dịch cho mượn đấy. Ta mua sắn khô, về bán. Vừa nhẹ sức lại vừa có lời…
Tĩnh ngạc nhiên:
- Cho mượn vốn? Bao nhiêu mà dám liều thế? Liệu có đòi được không? Thời buổi này…
Anh ta cười:
- Thời nào cũng thế. Có tin nhau mới sống được. Cô ấy còn bảo: nếu anh biết buôn bán, lên đây em chạy hàng cho, không cần vốn! Mình bảo “Cái thằng Thuận này, từ bé chỉ biết đánh dậm, lớn lên cầm súng, biết buôn bán bao giờ”. Thế là cô ấy cười: “Cứ tập dần đi thành quen”. Mình nói: “Quen thì hết sạch cả vốn”. Ấy thế mà cco ấy còn cười mình nữa chứ: “Có hết vốn mới biết buôn bán”. Tĩnh này, gần tới giờ tàu rồi, chúng mình ghé cửa hàng ăn uống, làm xuất cơm đi. Tớ có tem gạo đây!
Tĩnh cười:
- Lại của cô bạn học cùng lớp?
- Tất nhiên rồi! Thuận nheo mắt. Nhưng rồi mình sẽ có cách trả lại. Mình đâu phải là thằng hèn, nhất lại là bạn cùng làng.
Tĩnh thầm nghĩ: thằng Thuận này thế mà đỏ số. Nghe người ở nhà nói có cô bạn cùng xã, lấy chồng lên đây, thế mà nó tìm ra ngay. Lại còn được trợ cấp nữa chứ! Thế mà mình đổ bao nhiêu công sức và thời gian mấy năm trời mà vẫn biệt vô âm tín. Có lẽ số trời nó thế mất rồi. Tĩnh thở dài:
- Đi thì đi. Bà ơi, cho cháu thanh toán này…
Vừa lúc ấy, phía con đường lầy trước mặt, có bóng một phụ nữ đi qua. Ông lão nhận ra ngay đấy là chị Nga. Ông lão thì nhận ra ngay, còn Tĩnh cũng nhìn theo cái bóng dáng ấy, nhưng anh không nhận được. Ông lão đã có cả một quãng đời gắn bó, nợ nần với chị dù xa cách sáu bảy năm. Còn anh chàng Tĩnh tội nghiệp, chỉ có vài ngày bên chị, lại tất tưởi những lo toan, làm sao mà nhận ra được, lại từ phía sau lưng, với dáng đi như trốn chạy của chị.
Ông lão lập cập quơ gậy và cái tay nải của mình, móc vội mấy hào lẻ đưa cho bà chủ quán. Nhưng Tĩnh đã gạt lại:
- Cụ có chén nước chứ gì? Thôi để con. Cụ vội thì cứ đi đi…
- Không mà! Anh đẻ tôi trả phần tôi chứ! Ông lão cố đưa nhưng bà chủ quán không nhận:
- Thôi, ông để đấy, tôi biếu ông chén nước. Già cả rồi…
Ông lão đành cám ơn một cách đầy mặc cảm rồi vội vàng theo hút người đàn bà mà ông tin chắc đó là chị Nga. Ông lao đi trong gió lạnh, chỉ sợ bóng cái áo len màu gụ mất dạng.


***
ĐOẠN 15

Chị Nga không biết có người đang theo sát chân mình, nên cứ chạy co ro trong gió. Chiếc nón lá già thỉnh thoảng lại bị gió lật nghiêng, khiến chị phải vừa chạy vừa giữ. Mưa đã ngớt nhưng vẫn còn thấm ướt lưng áo. Chiếc áo len gụ cũng thấm đẫm nước mưa. Không sao, tí nữa chị có thể hong khô ngay trên mặt bếp lò than của cửa hàng, chị vừa đi vừa mỉm cười một mình.
Đằng sau chị một quãng xa, ông lão cũng rảo chân theo sau. Thỉnh thoảng đến chỗ ngã rẽ, ông cố chạy lên để không bị mất dạng người ông đang tìm. Đến khi thấy người đàn bà rẽ vào cửa hàng ăn, ông đinh ninh chị vào ăn hàng. Ông thu xếp một chỗ ngồi bên dưới một mái hiên nhà kho, chờ đợi như một người qua đường trú mưa, nhất là trông ông trong bộ dạng một lão già hành khất như thế này.
Thấy chị Nga vào đã lâu, ông lão sốt ruột. Ông đứng dậy, hai chân đã tê cứng vì ngồi xổm quá lâu. Ông băng qua đường mon men nhìn vào bên trong. Tuy trời hãy còn sáng nhưng ánh đèn măng- xông sáng rực rỡ, khiến ông lão hơi bị loá mắt. Những người khách ăn quà lác đác đứng dậy, thỉnh thoảng mới lại có người vào, ai cũng lôi thôi một kiểu hành trang như khách vãng lai. Ông lão cũng vào, nhưng không định ăn gì, cũng chẳng có ai hỏi. Lạ nhỉ, hay là cô ấy lại biến đi đâu, hay lúc cco ấy trở ra, ông không nhìn thấy? Không nhẽ thế, ông không rời mắt khỏi ba cái cửa của cừa hàng kia mà. Chờ cho đến lúc một cô gái don bàn đến gần, ông đánh bạo đến gần hỏi khẽ:
- Này cô gì ơi?
Cô phục vụ mặc cái tạp dề trắng loang lổ nhìn ông, như chờ đợi. Thấy thế, ông lão lại ngập ngừng, khiên cô ta phải hỏi lại, giọng đĩnh đạc:
- Cụ – ăn – gì?
Ông lão giật mình, lắp bắp:
- Không, tôi không đói…
- Khổ quá, thế thì ra ngoài kia. Không ăn thì hỏi cái gì?
- Tôi… tôi hỏi khí không phải. Trong cửa hàng có chị cán bộ nào tên là Nga không hả cô?
- Nga nào? Không coa chị cán bộ nào tên Nga cả. Ông ra ngoài kia mà hỏi.
Ông lão thất vọngđinh quay đi thì cô phục vụ tạp dề loang lại xẵng giọng:
- Nga hả?
- Vâng! Ông quay lại khấp khởi.
- Có phải có một đứa con trai cùng đi không?
- Vân đúng đấy ạ!
- Hừ, thế mà bảo chị cán bộ? Có, có Nga đấy, nhưng mà Nga nắm than ở đằng sai kia kìa…
Cô phục vụ hất hàm ra phía sau, rồi ngoa ngoắt bưng chồng báy ô tô đi vào.
“Thế là đúng rồi! Thì ra cô ấy đã vào làm ở cửa hàng này. Nắm than à? Cũng tốt rồi. Cũng tốt cho cô ấy, và cũng tốt cho thằng con của ta! Thế mà bao nhiêu lần qua đây, ta không hề để ý. Thế là tôi tìm được cô rồi, cô Nga ơi… Bây giờ giữa thiên hạ này ta là chồng, cô là vợ, thăng Hận là con trai của ta. Nó là thằng nối dõi dòng họ Trần ta. Nó là thằng chống gậy đưa ta xuống mồ. Nhưng sao lại tênlà Hận nhỉ? Thì ra cô ấy hận ta! Cũng phải thôi. Nhưng cô đừng trách tôi, nếu đừng có chiến tranh, đừng có bắn nhau. Mà dù có đánh nhau kịch liệt đi nữa, thì sao thằng Kỳ lại hy sinh? Bao nhiêu người đi cũng khối người trở về đấy thôi! Ta vô phúc! Nếu không, thằng Kỳ có đi đánh nhau mà để lại đứa con cho ta, cho ta tthằng cháu nội. Mà nó chưa có con thì nó cũng đừng chết trận! Đừng chết, để mà về với vợ, mà sinh con đẻ cái cho ta… Nếu vậy thì đâu đến nỗi? Khổ thân tôi, khổ thân cô!”.
Ông lão cứ tiếp tục độc thoại giữa cửa hàng, nơi kẻ ra, người vào như thế, nếu như ông không nhìn thấy hai chàng trai Tĩnh và Thuận khi nãy ở ngoài quán nước đang đi vào cửa hàng. Ông vội lách qua một bên cửa (tất cả có ba cái cửa cơ mà), đi vòng ra bên đầu hồi, nhìn quanh thấy một đống gạch vụn, ngồi xuống. Từ đây ông có thể nhìn ra phía sau cửa hàng, nơi lô nhô nhà cửa. Mẹ con thằng Hận ở trong ấy. Chắc chắn rồi! Ông đinh ninh thế và bắt đầu nghĩ đến nước cờ của mình.
Có lẽ ông phải tìm gặp ngay cô Nga để khuyên nhủ cô ấy trở về làng. Không ai còn cười, không ai còn nhớ. Làng Sơn Cốt của ta tuy ác khẩu, cong môi nhưng cũng chả chấp lâu. Cứ về, cứ sống đàng hoàng, không sợ gì mấy đứa con gái lăng loàn, ác nhân của tôi. Chúng nó mà chành chẻ thì ông đuổi, ông từ, ông sẽ công khai nói cho cả họ, cả làng nước biết thằng Hận là con trai ông. Chứ ông mà sợ?
- Về đi, Nga ơi! Về làng, có nhà có ruộng cho con chúng ta. Nó sẽ lớn lên và nó sẽ biết cách cởi giải những trái ngang. Về đi, còn ông giáo, còn cha cô đang mòn mỏi trông tin cô đấy! Ừ thì ông giáo hận ông lão Tuân lắm, nhưng sự thể đã như thế rồi, lẽ nào ông cầm dao giết con gái ông? Ừ thì ông giáo đã đuổi thẳng cổ ông ra khỏi nhà, dù ông có quỳ xuống, tạ tội và nhận làm con rể ông giáo, nhưng lẽ nào ông ấy lại đuổi thằng cháu ngoại duy nhất của mình? Phải rồi, lấy ông giáo Hoan ra mà dụ, mà dỗ dành, thế nào cô ấy cũng quay về!
Ông lão cứ loanh quanh với ý nghĩ về nước cờ của mình. Nếu cô ấy nhất quyết không trở về làng thì sao? Cũng phải thôi, nói đi rồi nói lại, con dâu mà ngủ với bố chồng thì xưa nay, chả cứ gì làng Sơn Cốt, của mình, ở đâu người ta cũng có thể cạo đầu, bôi vôi mà thả cho trôi xuống Ba Quanh ấy chứ! Nếu thế thì ông sẽ ở lại đây để được trông nom thằng con ongcho đến ngày nó lớn, nó sẽ biết quê hương bản quán của nó mà về. Nếu thế thì ông sẽ về nhà, bán hết lợn gà, vườn ruộng, xe đạp… để lấy tiền đi với con, với vợ! Ông lão mỉm cười một mình, với con thì được, chứ mà với vợ thì… trơ quá! Nhưng mà có sao đâu, trông thế thôi lão mới có sáu mươi ba, còn cô Nga cùng đã ngoài ba mươi rồi. Ngày xưa, ông chánh ông lý nhà ông, đến gần thất tuần mà vẫn cưới được vợ ba, vợ tư mười tám đôi mươi, mơn mởn non tơ kia mà! Thế có khi cũng hay!
Ông lão đang hân hoan với những ý nghĩ táo bạo của mình, thì hai chàng thanh niên Tĩnh và Thuận từ trong cửa hàng đi ra. Họ đã ăn uống xong, ông nghe thấy anh Thuận bảo có cô mậu dịch nào đó tặng cả tem gạo nữa mà. Họ sung sướng hơn ông nhiều! Tuổi trẻ là thế đấy. Thuận đi ra trước, với vẻ mặt hớn hở, thoải mái. Đi sau là Tĩnh, anh chàng có khuôn mặt chữ điền, đáng lẽ thanh thoát thì lại u uất. Đi một quãng, nghĩ thế nào Tĩnh ngoái cổ nhìn vào cửa hàng, rồi anh ta quay lại đến sát bức tường quét vôi, loằng ngoằng những chữ viết, bằng đủ thứ màu, than đen và gạch nâu. Tĩnh cúi xuống tìm cái gì đó, có lẽ là một hòn gạch, ông lão đoán thế.
Quả nhiên anh ta cầm trên tay viên gạch nhỏ, đứng bần thần chọn một chỗ còn trống trên bức tường. Rồi anh ta viết, ông lão nhìn từng chữ hiện dần ra dưới tay Tĩnh:
Nga- Hận! Đã mấy năm rồi anh đi tìm em khắp mọi nơi, mà không thấy. Em ở đâu? Tĩnh.
Tĩnh bần thần nhìn lại một lần nữa những chữ mình vừa viết rồi thẳng tay ném viên gạch non vào chân tường, rồi anh vừa đi giật lùi, vừa nhìn bức tường một lần nữa, trước khi chạy đuổi theo bạn.
- Ra thế! Anh chàng này cũng là kẻ đi tìm Nga của ông! Ông lão nghĩ vậy và đột nhiên, dòng máu nóng từ đâu không biết dồn chảy ngược lên thái dương ông. Ông ghen! Thì ra chính cái kẻ này đã quyến rũ, rủ rê vợ con ông rời bỏ làng quán ra đi lưu lạc đến đây đây! Được! Thế thì được, ông sẽ có cách của ông! Ông chẳng cần mẹ, chỉ cần thằng con. Nó là máu mủ của ông, không thể để nó rơi vào tay kẻ khác!
Cơn giận làm ông không còn thấy rét, ông đứng dậy, cảm thấy khoẻ mạnh hơn người, định phăm phăm đi vào dãy nhà kho đằng sau cửa hàng, nơi có mấy bóng đèn tù mù. Ông sẽ… ông sẽ… Ờ, mà ông sẽ làm gì nào? Cơn giận bất ngờ hạ xuống, khiến ông sững lại. Không, ông không thể làm gì được, không thể làm to chuyện ra ở đây, bẽ mặt quá.
Ông lão lặng lẽ quay lại, trở về cái lều chợ ông vẫn tá túc để tiếp tục suy nghĩ về nước cờ thứ ba của mình. Nhưng hình như đôi chân ông rã rời mất rồi, ông không đủ sức về chợ nữa. Nhìn sang bên kia đường, thấy hàng hiên một ngôi nhà, hình như là cái kho. Ông lão đến đó, lấy cái tay nải làm chổi, phủi sạch một khúc hè, ngồi tựa lưng vào tường, nhắm mắt lại.
Mưa đã tạnh hẳn, gió khan bắt đầu thổi mạnh, réo ù ù trên dây thép và trong mái hiên. Đêm ấy ông lão Tuân thức trắng.


***

Sau những ngày âm thầm theo dõi, ông lão vẫn chưa tìm ra cơ hội tiếp cận thằng Hận. Ông cũng biết rằng, chị Nga làm việc ngay tại bãi than đằng sau cửa hàng, nên ông không dễ gì vào “nhà” chị được. Thế rồi, thời cơ cũng đã đến, khi chị Nga đi đâu đó. Nhìn cách ăn vận của chị, ông lão biết chị đi khá xa và còn lâu mới về. Với tư cách của một ông lão ăn mày, ông vào quanh mấy ngôi nhà gần đó và, bất ngờ ông ngoặt một cái, rẽ vào cái chái quây lá cọ, nơi trú ngụ của hai mẹ con chị Nga. Trời không mưa, nhưng mây ảm đạm, xầm xì, tạo ra cái không khí âm u, ai nấy ở trong nhà, chỉ biết mình. Thuận lợi cho ông thật! Ông lão ngó trước sau, không thấy ai để ý, ông vạch cửa bước vào. Ông lão sững sờ trước thằng Hận. Quả nó là một đứa trẻ đẹp và ngoan, ngoài sức tưởng tượng của ông. Hình như trong đời ông chưa bao giờ nhìn thấy một đứa trẻ nào đẹp như thế
- Hận ơi! Hận!…
Thằng Hận đang chơi một cái trò gì đó trong góc giường, nghe tiếng người gọi tên mình, nó ngẩng lên và… cười! Nó cười không thành tiếng, nụ cười thơ ngây của một đứa trẻ được chăm sóc đầy đủ. Nhìn ông lão, tức cha nó, dù chưa gặp bao giờ, hoàn toàn là người xa lạ, nhưng nó không thấy sợ.
- Lại đây! Lại đây với… ông! Ông lão đã suy nghĩ về cách xưng như thế, vì dù sao ông cũng là một ông lão. Lại đây ông cho kẹo.
Thằng Hận ngửa cổ lên cười, rồi lật đật chạy lại, sà vào lòng ông lão:
- Kẹo à? Đâu, kẹo đâu?
Ông lão ngồi thụp xuống đón thằng Hận vào lòng, rồi lấy gói kẹo, bóc một cái đưa cho nó. Thằng bé nhìn cái kẹo một cách trịnh trọng rôi há miệng nhận chiếc kẹo. Nó không cười nữa, mà nhai nghiến ngấu. Đó là một cái kẹo Hải Châu, một loại kẹo cao cấp, chỉ để phân phối cho cán bộ cao cấp, dân thường hoặc cán bộ cấp làng nhàng hồi đó không thể có được. Nhưng ở bất kỳ hàng nước nào cũng có bán. Nó rất đắt, một gói kẹo giá trị bằng bốn, năm cân gạo. Ông lão đã mua gói kẹo dành cho thằng con trai lưu lạc, bằng tất cả ý chí nhằm đạt được mục đích và cả tình thương của ông đối với thằng con.
Trong lúc thằng Hận ăn kẹo và ngồi yên trong lòng, ông lão đưa mắt quan sát căn phòng. Trên vách lá cọ treo vài cái áo, cái nào cũng rách. Một cái túi xách may bằng vải mưa mà từ hồi còn đi dạy học, hồi chưa lấy anh Kỳ, chị Nga vẫn xách, và bây giờ nó vẫn còn giá trị, đang được treo vào chỗ trang trọng nhất trong căn phòng tạm bợ. Ở một góc, một cái hòm gỗ thông đựng vốn để đựng xà phòng của Liên Xô, được kê trên mấy hòn gạch vỡ, và trên trốc hòm là mấy cái bát. Tuy nhiên căn phòng rất sạch, mặc dù nền đất, thỉnh thoảng nhô lên vài đống mùn giun. Xung quanh được thưng kín bằng những tàu lá cọ, đủ cỡ, đủ loại, toả ra một mùi ấm cúng.
Thằng Hận đã ăn xong cái kẹo thứ nhất, nó nắm lấy cổ áo ông lão lay mạnh, và há miệng ra cười một cách thành thật. Ông lão cười:
- Cha bố cậu! Đây!
Ông đưa cho nó cái kẹo, nhưng nó vẫn ngần ngừ, không chịu cầm. Chỉ đến lúc ông bóc, bỏ vào miệng nó, nó mới chịu nhai và lại vừa nhai vừa… cười!
Ông lão cũng cười, vén giòng nước giãi của thằng bé trào ra khoé miệng. Có lẽ đây là giây phút hạnh phúc nhất của đời ông. Ước gì ông được ôm thằng con bé bỏng thế này mãi mãi. Ông dụi mái đầu bạc và đầy bụi bặm vào ngực nó, thọc ngón tay vào sườn nó, thằng Hận ngoẹo người và cười, nhưng nụ cười rất rộng của nó vẫn không thành tiếng.
Đột nhiên ông lão giật thót người, tim đập thình thịch ở hai bên thái dương. Chị Nga về? Ông lão cưng người lên chuẩn bị đối phó. Ông khẽ khàng hé cánh của lá ra nhìn, nhưng bên ngoài hoàn toàn im lặng. Chị Nga đi đâu? Ông lão bỗng trào lên nỗi ngờ vực. Cô ấy đi đâu mà để thằng con ta ở nhà một mình? Ở đây cco ấy đã kịp quen biết được những ai? Hay là…? Hàng chữ mà anh chàng Tĩnh viết ngoài bức tường quét vôi của cửa hàng lại hiện ra trong óc ông. Hay là cô ấy đi với con người trẻ tuổi ấy? Được rồi! Thế thì còn đợi gì nữa, ta đã có cách của ta.
Ông lão đặt thằng Hận ngồi lên giường rồi nhìn quanh. Ông vơ lấy bộ quần áo của thằng Hận phơi trên sợi dây thép căng chéo góc nhà. Hãy còn hơi âm ẩm, nhưng không sao. Ông vo lại, nhét vào cái tay nải bợt bạt, nhớp nháp của ông. Rồi ông lấy ra cái áo mưa, choàng lên mình, khoác tay nải rồi ôm thằng Hận, nói:
- Đi! Đi với ông nào!
Thằng Hận hình như có trằn xuống, khiến ông lão hơi loạng choạng. Cái thằng, lên sáu rồi đấy, lại được chăm, trách gì chả nặng. Nhưng khi ông lão Tuân ôm chặt nó, ủ vào bên trong áo mưa, thì nó nín lặng. Ông tưởng nó sợ, nhưng khi ông vạch áo mưa ra, thì thấy nó đang cười, cái vẻ ngây thơ, không ra sợ sệt, cũng chẳng là thích thú, nên ông lão yên tâm.
Ông lão lách ra cửa, nhìn trước mặt và hai bên, đến lúc biết chắc không có ai nhìn, ông bước những bước nhẹ nhàng ra hàng rào nứa, rồi lách qua chỗ giậu đổ, ra ngoài đường phố.
Không hiểu lấy đâu ra sức lực mà một ông lão ăn mày bế nổi thằng Hận, vốn được mọi người gọi bằng cái tên “cối đá” chạy nhong nhong trên một quãng đường như thế.
Xù xì như một con lạc đà già, dạn dày kinh nghiệm, ông lão phăm phăm đi về phía nhà ga xe lửa.

***

Non trưa, chị Nga về đến cửa hàng. Thỉnh thoảng chị vẫn chạy đi đây dó, mua cái gì đó, hoặc chỉ vì có ai nhờ một việc mà, chính họ thấy ngại. Cái đức lam làm của chị Nga được mọi người mến. Nhưng chị biết rất rõ, dù mến, dù quý nhưng hầu như ai cũng có cái vẻ coi thường chị. Chỉ có ông Thức cửa hàng trưởng là tỏ ra tôn trọng chị. Nhất là trong một dịp kê khai nhân khẩu để trình với công an, nhìn nét chữ của mụ nắm than, ông kinh ngạc:
- Chữ của cô đấy à?
- Dạ, vâng! Em viết đấy có chỗ nào không được phải không bác?
Ông Thức xua tay:
- Không! Cô học dến lớp mấy rồi mà chữ nghĩa sáng sủa thế? Lại đẹp nữa1 Đã bảo mà, con người này quả là có chỗ oan khiên, bất hạnh đây…
Chị Nga chỉ im lặng, thỉnh thoảng lại nhìn ông cửa hàng trưởng vẻ lo ngại. Lát sau, ông Thức mím môi:
- Tiếc là lý lịch cô không rõ ràng, nếu không tôi cho cô làm kế toán rồi!
- Thôi bác ạ! Bác thương mẹ com em như thế cũng là quá tốt rồi. Em không dám mơ gì hơn.
- Không phải mơ! Mà là người biết làm việc. Khỉ thật, tôi cũng không biết mình làm gì nữa. Cô thông cảm nhé, tôi coi cô như đứa em. Này, thế còn, chuyện cô cho tôi thằng con cô làm con nuôi tôi thế nào rồi?
Chị Nga cười như mếu:
- Bác cứ nói vui thế chứ, em làm sao bỏ cháu được!
- Không phải bỏ! Ông Thức to tiếng. Nó vẫn là con cô, mà nó lại là con chúng tôi. Có ai bỏ nó đâu!
Chị Nga thấy mình cần đi xa thêm một chút, tuy có mạo hiểm:
- Em biết bác thương cháu, mà là mẹ cháu em cũng muốn cháu có chỗ nương dựa. Nhưng mà, em nói có gì không phải bác bỏ quá cho. Nói thật, nếu bác không phải là lãnh đạo ở cửa hàng, chắc tình cảm giữa hai mẹ con em và gia đình bác cũng có thể gắn bó, ấm áp hơn. Đằng đây, bác là người lãnh đạo, có quyền, có thế, khiên em phải giữ gìn. Nhỡ ra, có chuyện gì thì mẹ con em khổ đã đành, lại còn làm lây sang bác!
Ông Thức ngồi thừ, như người bị điểm đúng huyệt, đúng chỗ yếu, thì ngồi thừ ra. Lát sau ông nói nhỏ:
- Cô nói cũng có chỗ phải, nhưng tôi thương thằng bé, thương cô. Vì thế mà tôi không muốn căn vặn cô. Nhận cô vào làm mấy năm nay, mà tôi không hỏi vặn cô như kiểu người ta thường nghi vấn người xa lạ. Co cũng biết rồi đấy! Ấy thế mà tôi biết có kẻ xấu mồm đã xì xào rằng tôi muốn nhân cơ hội lợi dụng cô. Nhưng tôi đâu có phải là thằng xấu, không bao giờ làm kẻ lợi dụng nỗi khốn khó của người khác, nên tôi không sợ. Thôi thế hôm nào, mời hai mẹ con cô đến nhà tôi chơi, vợ tôi cũng nhắn mấy lần. Bà ấy muốn bế thằng cháu nhà cô lắm đấy!
Chị Nga vâng dạ thế thôi nhưng cũng chưa bao giờ dám đến nhà ông Thức. Còn bà vợ ông, một phụ nữ răng đen (có lẽ đấy là người cuối cùng của thế hệ nhuộm răng), nhìn thuần phác, cũ kỹnhưng tướng người cũng không phải dễ dãi. Chị Nga đã tự nghĩ như thế, nên thấy sợ.
Thấy trong cửa hàng đang đông khách ăn nên chị không dám vào thẳng cửa giữa, chị tạt sang cửa bên, không phải cửa ngách, cũng rộng rãi, đàng hoàng, nhưng không có vẻ trang trọng nhờ cái hàng hiên mở rộng, như một cái đại sảnh công đường. Mọi ngày, kể cả lúc vắng người, chị Nga có thói quen khi đi thường nhìn xuống đất, nhìn xuống mỗi bược chân mình. Mãi rồi thành quen, thói quen của thân phận những kẻ hèn mọn, lấy thủ làm chính, bởi mỗi bước nhân của chị, biết đâu chẳng dẽ sa vào chỗ hiểm. Nhưng hôm nay, trong lòng có cái gì bất ổn. Chị có cảm giác một cái gì đo nguy hiểm đang rình rập và đổ ập xuống đầu thằng con chị. Thường mỗi lần để con để đi một việc gì đó, chị hay để nó chỗ bà Thắm, nhờ trông hộ. Mà bà ấy cũng thích thằng Hận, nó ngoan, chỉ cười cả ngày, mà không hề quấy. Nhưng hôm nay, chị đi vội, chỉ dặn nó ở nhà chơi, không được chạy ra đường. Nên chị thấy sốt ruột. Bâtd ngờ, chị nhìn lên bức tường vôi, có dòng chưa viết bằng gạch non, có đóng khung. Thấy có chữ “Nga”, tên chị, nên chị dừng lại, đọc kỹ. Và… hai chân chị như muốn khuỵ xuống! Thì ra, con người ấy, anh ấy vẫn nhớ tới chị và đã đi tìm chị, như lời nói lúc chia tay.
Trời Già thật trớ trêu! Chị đã thất vọng hoàn toàn, không còn hy vọng gì gặp lại Tĩnh! Những ngày đầu chị luôn nhớ tới anh, luôn hy vọng gặp lại anh. Chị đã yêu anh, và dần dần chị nhận ra, chị chỉ yêu anh ấy bằng một tình yêu đơn phương, vô vọng! Chị chỉ còn coi anh như một người mà mình đã mang ơn. Một người gặp gỡ giữa đường, nếu có mong đợi, thì đấy chính là sự mong đợi để gặp được anh, mong đền ơn, đáp nghĩa. Nhưng rồi chị lại nghĩ: bây giờ mà gặp lại anh ấy, thì biết lấy gì đền đáp, khi chị vẫn chỉ có hai bàn tay trắng! Thôi thì thà để người ta quên mình, còn hơn là gặp nhau lại thấy thẹn lòng.
Bất ngờ, nhìn được giòng chữ của anh, như một lời than tuyệt vọng. Sao chị lại không nhìn thấy anh nhỉ? Chị tự hiểu, rằng chị có bước ra ngoài mấy khi, để anh tìm, anh thấy! Cuộc sống của chị là đống than mỡ trộn bùn, đảo xới lên rồi nắm lại thành những nắm nhỏ, để hong khô, cho vào lò. Trước mắt chị, chỉ toàn có một màu đen, của than! Anh không tìm được chị là phải. Chị ứa nước mắt, nhìn lại dòng chữ và đoán ra là nó mới được viết, chắc mấy hôm gần đây thôi. Chị vội vàng đưa mắt nhìn quanh, tìm kiếm, hy vọng bắt gặp đôi mắt nào đó đang nhìn mình. Chị hầu như đã quên khuôn mặt anh, nhưng đôi mắt và giọng nói thì chị vẫn nhớ. Chỉ cấn một đôi mắt nhìn chị, hay một giọng nói gọi tên chị, là chị sẽ nhận ra anh, và… nhào tới!
Nhưng không có ai nhìn chị cả, không có ai gọi chị! Khách ăn uống vần vào ra cửa hàng thản nhiên, họ có niềm vui, nỗi lo âu, sự vội vã của riêng họ. Chị đứng lặng dưới ánh nắng hanh vàng, se se lạnh. Chị Nga dần bình tĩnh lại, và ngay lập tức lại nghĩ đến hoàn cảnh và số phận của mình. Chị dặn với lòng mình rằng, thế nào, hai người cũng có ngày gặp nhau… Còn bây giơ, thôi nhé, anh ơi, em phải quay vào với đống than đên và thằng con. Chị bước đi vài bước nhưng nghĩ sao lại quay lại cúi lom khom, tìm một viên gạch non. Tìm mãi không thấy, và bất ngờ, chị nhặt được một hòn than. Chị cầm lênm ươm ướm thử và viết bên dưới, hàng chữ của chị chân phương, yếu đuối: “Em ở đây”. Chỉ thế thôi, nhìn hàng chữ màu đen của mình bên dười hàng chữ ngang tàng màu gạch nâu của Tĩnh, chị cắn chặt môi, từ từ buông tay, thả hòn than xuống… Chị đi như chạy về căn nhà tuy tạm bợ, nhưng nó là nơi chị thấy yên lòng nhất… Nhưng…
Chị Nga đứng sững lại, và như người hụt hẫng khi thấy cánh cửa lá gồi bật tung ra. Chị vừa lao tới vừa gọi:
- Hận ơi! Hận…!
Như mọi ngày, dù đang mải chơi, thằng Hận dạ một tiếng thật to, có khi nó “dạ, dạ…” liên hồi, rồi xuất hiện ở cửa với cái miệng há ra cười, phô một hàm răng trắng nhỏ đều và cặp môi đỏ như son. Không nghe tiếng con thưa, chị Nga lao vào giữa nhà, tìm khắc các xó xỉnh. Dù căn phòng rất nhỏ, nhưng chị vẫn xới tung lên. Không thấy con, chị nhào ra cửa cất tiếng gọi tên thằng Hận rất to, không có triếng trả lời của con, mà những người trên cửa hàng thấy đó là một chuyện lạ, nên họ đều đỏ dồn cả ra sau nhà. Người đầu tiên lên tiếng vẫn là bà Thắm, cửa hàng phó:
- Có chuyện gì thế cô Nga? Gọi con gì mà ầm lên thế?
Chị Nga rơm rớm nước mắt, chạy trên hai bàn chân trần đến trước bà cửa hàng trưởng lúc ấy đang đứng trên bậc tam cấp:
- Chị ơi! Chị có thấy thằng cháu nhà em ở chỗ chị không?
- Không! Bà Thắm tỉnh như không, lại còn vặn lại. Sao mọi ngày cô đi đâu hay để nó ở chỗ tôi, hôm nay đem đi đâu?
- Khổ quá, nào em có đem nó đi đâu? Chị Nga bắt đầu vật vã. Em chạy lên cửa hàng chất đốt, theo lời bác Thức nhờ, để hỏi lượng than về tháng sau. Tiện thể em mua cho cháu cái quần Đông – Xuân (chị Nga chìa cái gói bằng giấy xi- măng ra trước mặt). Lúc em đi thấy cháu đang mải chơi, nên cũng chẳng nỡ đem nó ra khỏi nhà. Thế mà lúc về, không thấy nó đâu nữa…
Bà cửa hàng phó bước xuống mấy bước, ngang với chị Nga:
- Cô đã tìm hết chưa? Trong nhà? Xuống chỗ nắm than? Hay vao trong bếp? Đoạn bà quay sang hỏi mấy người nhân viên cũng đang tò mò. Có ai thấy thằng con cô Nga đâu không?
Bọn họ nhìn nhau, rồi lắc đầu.
Chị Nga như người mất hồn, chạy sang bãi nắm than, xuống bếp, ra cả cái bờ ao nhỏ bên kia nhà bếp, vạch búi cây, gốc chuối… Không thấy con, chị thất thểu quay lại. Mấy người ở cửa hàng vẫn đứng đấy, chờ chị về, nhao nhao hỏi. Bỗng một người lên tiếng:
- Hình như lúc nãy em thấy có người trong nhà chị Nga. Lúc em đi qua nhìn vào thấy cánh cửa he hé!
- Thật không chị? Chị Nga vội vàng quay về nhà, theo sau là bà Thắm. Chị Nga lại vừa xoá xào căn phòng vừa gọi tên con. Bông bà Thắm nhặt một mẩu giấy gói kẹo lên hỏi:
- Thế cái này là cái gì?
Chị Nga cầm lấy mẩu giấy tần ngần:
- Không phải của nhà em. Nhà em không có loại kẹo này cho cháu. À có, cách đây lâu lắm rồi, bác Thức có cho cháu ba cái kẹo, cũng nhãn hiệu Hải Châu thế này, nhưng cháu ăn hết ngay rồi.
- À, ra thế! Bà Thắm gật gù. Thế cái giấy gói kẹo này ở đâu ra?
- Em cũng không biết! Chị Nga thật thà.
- Cô Nhuần cô ấy bảo, lúc nãy thấy có người ở trong nhà cô, chắc cái giấy kẹo này là của người ấy bóc cho nó ăn. Hay là…? Bà Thắm bỏ lửng.
- Chị bảo sao? Hay là… cái gì?
Bà Thắm vẫn im lặng, để chị Nga phải giật cánh tay áo, bà mới chậm rãi:
- Hay là… ông Thức?
Chị Nga buông tay áo bà cửa hàng phó, tần ngần:
- Không có lẽ? Em nghĩ, bác Thức là người đàng hoàng, sao bác ấy lại làm thế được!
- Cũng có thể lắm chứ! Bà Thắm nghiêm trang. Mấy lần ông ấy chả tính xin cô cho nó làm con ông ấy là gì? Mà có phải giấu giếm gì, ông ấy nói oang oang, cả cơ quan này ai cũng nghe. Này, tôi bảo nhá, có khi ông Thức thích nó quá, tranh thủ lúc cô đi vắng, ông ấy lấy kẹo dụ nó đi, rồi bắt cóc nó về nhà ông ấy rồi!
Chị Nga quay sang,nhìn vào đôi mắt ráo hoảnh của bà Thắm:
- Có thật thế không chị?
- Thật hay không thì bây giờ chưa biết. Theo tôi cô nên đến nhà ông Thức ngay đi…
- Nhưng mà…!
- Còn nhưng cái gì nữa không biết? Bị người ta bắt mất con mà còn đứng đấy để “nhưng với chả nhị?!
- Tối qua bác ấy có nói với em là sáng nay bác ấy đi Việt Trì sớm. Bác ấy có ở nhà đâu mà…
Bà Thắm nhìn chị Nga cười bằng cái vẻ thương hại:
- Ông ấy nói thế, chứ chắc gì đã đi Việt Trì?
Chị Nga lại ngắc ngứ:
- Nhưng…
- Còn nhưng gì nữa?
- Em không biết nhà bác Thức ở đâu?
- Thế à? Bà Thắm ngạc nhiên, rồi tỏ ra thông cảm, bảo một cô gái đứng gần đó:
- Cô Nhuần, cô biết nhà ông Thức chứ? Cô lấy xe của tôi, đèo chị Nga đến nhà ông Thức ngay đi. Xong rồi về ngay cho tôi biết nhá!
Cô Nhuần ngúng nguẩy một cái, rồi bẽn lẽn:
- Vâng! Nhưng em cũng đến nhà bác Thức từ năm ngoái cơ, không biết có còn nhớ đường không?
- Đi đi, nhanh lên, còn ở đấy mà õng ẹo. Bà Thắm mắng cô Nhuần một cách chân tình.
Chị Nga theo Nhuần ra cổng, lúc sắp nhảy lên booc- ba- ga, chị hỏi:
- Nhà bác ấy có xa không, cô?
- Cũng không xa lắm! Em tưởng chị biết nhà ông ấy rồi mới phải chứ?
Chị Nga cắn chặt môi, ngồi im lặng sau xe đạp của Nhuần. Mỗi cái xóc mạnh dưới bánh xe, lại làm nước mắt chị muốn trào ra, và con đường thì lại quá dài. Chị mong những điều bà cửa hàng phó nói vừa là sự thật, lại vừa không phải thế. Chị mong là sẽ gặp được đứa con yêu mà chị dứt ruột đẻ ra, để lại thấy nó ngây dại cười, để chị không phải cạn nước mắt một lần nữa. Nhưng chị lại không muốn thấy nó ở trong nhà ông Thức, vì chị không mong ông Thức là người như thế. Ông Thức đã là ân nhân của chị, hơn thế nữa, ông là một nhân cách lớn mà không dễ gì một kiếp người lưu lạc như chị lại gặp được một lần. Vì thế, chị không muốn thấy ông là kẻ nhỏ nhen.
Chiếc xe đạp của cô Nhuần loạng choạng rồi rẽ vào một ngõ nhỏ nửa phố nửa làng. Không muốn để cô Nhuần phải vất vả, chị Nga đã nhảy khỏi xe và chạy gằn theo sau cho đến khi, cô Nhuần chỏi bàn chân xuống đất, làm chiếc xe đạp dừng lại. Không rời khỏi yên xe, cô Nhuần cất tiếng lảnh lói, gọi nhóng vào cánh cổng:
- Bác Thức ơi! Bác Thức!
Không có tiếng người, chỉ có hai con chó xồ ra quyết liệt. Chị Nga thất vọng, vì không thấy bóng thằng Hận đâu. Một lúc sau, để hai con chó sủa phát mỏi mõm, mới thấy một người đàn bà te tái chạy ra cổng, tay vẫn cầm cái liềm:
- Ai gọi gì đấy? Người đàn bà răng đen, chị Nga hiểu đó là vợ ông cửa hàng trưởng.
- Cháu đây! Cháu ở ngoài cửa hàng đây. Bác Thức có nhà không bác?
Người đàn bà quát hai con chó rồi nhấc thanh then cổng:
- Không! Thế ông ấy không nói với các cô là sáng nay ông ấy đi Việt Trì à?
- Đi lâu chưa bác? Vẫn cô Nhuần hỏi, còn chị Nga đứng thụt lại phía sau, hồi hộp nghe hai người đối đáp. Cô Nhuần:
- Ối, thôi chết! Thế mà cháu cứ tưởng bác ấy có ở nhà. Bác ấy đi tàu hay đi xe đạp ạ?
Bà chủ nhà răng đen xởi lởi:
- Ông ấy bảo đi xe đạp, nhưng tôi can, sức vóc còn chừng ấy, đi xe đạp có mà bò ra đường! Mấy lần trước ông ấy đi về phải nghỉ mất mấy ngày. Thế là sáng sớm nay ra mua vé tàu hoả…
- Bác có biết baơgì bác Thức về không ạ?
- Có giời biết! Không khéo lại ngủ đêm ở dưới ấy cũng nên. Cia slão già nhà tôi đoảng lắm. Thế mà cũng được tín nhiệm làm lãnh đạo cơ đấy! Bà cười, khoe hai hàm răng vẫn còn đen nhưng nhức hạt na.
Cô Nhuần quay lại nhìn chị Nga ái ngại, còn chị thì chỉ biết im lặng nhìn người đàn bà phúc hậu đứng sau cánh cổng bằng tre. Thấy hai cô im lặng nhìn nhau, bà chủ nhà lo lắng:
- Chết! Thế có chuyện gì không các cô?
Nhuần nhìn chị Nga, như giục. Chị Nga sẽ sàng:
- Dạ, thưa bác, em làm ở nhà than ngoài cửa hàng…
- Thế à? Cô là cô Nga phải không? Ối giời ơi, nhìn hai bàn tay kìa? Nhưng cơ mà cô có thằng con kháu lắm, vừa ngoan vừa trắng trẻo, sạch sẽ. Gớm sao mà lại có người khéo đẻ khéo nuôi thế không biết. Mời hai cô vào nhà uống nước đã… Bà vừa nói vừa mở rộng cánh cổng.
Chị Nga lưỡng lự, rồi nói với Nhuần:
- Thôi, hay là cô có việc bận thì về trước đi, để chị Thắm ở nhà lại chờ. Cứ để tôi ở đây, tí nữa tôi về một mình cũng được…
Cô Nhuần quay xe ra ngõ, chị Nga theo bà Thức vào sân. Chị Nga không vào nhà, mà ngồi xuống bậc hè cửa. Bà Thức đon đả chạy đi lấy nước, chị Nga bảo:
- Thôi bác ơi, nước non làm gì! Em nghe nói về bác, cũng định hôm nào hai mẹ con đến chào bác. Mãi mà chưa đi được…
- Tôi trông thấy nó rồi, thích lắm!Thế sao hôm nay cô không cho thằng bé đến đây chơi?
Chị Nga bỗng nấc lên:
- Nó bị người ta bắt đi mất rồi! Em khổ quá?
- Sao? Sao? Bà Thức cũng rối lên, hỏi dồn. Ai bắt? Bắt bao giờ?
- Em đi lên bãi Than của công ty chất đốt về thì không thấy cháu. Em đến đây vì nghe người ta nói… Chị Nga định nói ra câu chuyện mà bà Thắm đã nghĩ, nhưng chị nghĩ, như thế thật bất nhã, nên kịp ngưng lại.
- Nghe người ta nói sao? Thế cô đã đi tìm cháu ở những đâu rồi?
- Em đã tìm cháu khắp cả rồi!
- Nhờ người ta đi hỏi giúp chứ? Để đấy rồi tôi cũng đi hỏi xem. Khổ quá, cái nhà ông Thức này, sao hôm nay lại dửng mỡ thế không biết? Xuống Việt Trì làm gì? Lại mấy ông bạn bộ đội cũ rủ rê thôi mà! Thế cô đến đây để tìm ông Thức hay là tìm nó?
Lúc này, chị Nga mới nói theo ý bà Thắm:
- Chị Thắm bảo em là lên nhà chị xem hay nó có theo bác Thức…?
- Ối giời đất ơi! Được thế thì đã phúc! Tôi bảo ông ấy xin cô cho đem nó về đây để tôi nuôi, mà ông ấy có chịu nói đâu? Bây giờ thế này, nó chỉ quanh quẩn ở đâu đấy thôi, nhất định tìm được. Lần này tìm thấy nó về, cô để tôi nuôi nó cho. Để cho cô thì vất vả quá, cả mẹ lẫn con… Nói thật nhé, cô còn trẻ, rồi cũng phải tìm xem ai người ta để ý đến mình…!
Chi Nga đang như đứt từng khúc ruột, nghe bà Thức nói thế cũng thấy tấm chân tình của hai vợ chồng bà. Nhưng, biết tìm con ở đâu bây giờ, Hận ơi!
Chị Nga cúi chào bà Thức rồi chạy ra cổng, chạy về phía trung tâm thị xã. Chị chạy gằn từng bước, vừa chạy vừa ngó nhìn xung quanh. Chỗ nào chị cũng thấy như thằng Hận đang đứng cười ngây dại với chị với hai con mắt mở to, đen láy và đôi môi mọng đỏ …

***

Ông Thức ngó ra ngoài cửa sổ, thấy mưa bụi đã ngớt, có chút nắng hanh vàng, thì quay sang cáo bạn, đòi về. Mặc cho mấy ông bạn cựu chiến binh chèo kéo rồi nói khích, ông vẫn kiên quyết:
- Xin các anh, hôm nay tôi phải về. Chuyện cơ quan cũng có mà chuyện gia đình cũng có chỗ neo. Chả nói giấu gì, hai vợ chồng già, con cái không có, nhìn nhau đôi lúc muốn rớt nước mắt. Để bà ấy còi cõi một mình, xót xa lắm…
Mấy ông bạn nhìn nhau, thôi thì ông ấy đã nói thế thì cũng đến phải để cho ông ấy về. Một ông bạn đèo ông Thức ra ga, chờ mua vé xong rồi ông Thức nhảy lên tàu mới quay về.
Nghĩ cuộc đời mình cũng chả ra làm sao. Ngồi trên cái toa “tàu chợ”, lổn nhổn quang gánh, ầm ào tiếng người, ông Thức lại nghĩ về mình. Đi bộ đội chống Pháp được hai năm, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ hẳn hoi, rồi hoà bình. Về nhà cưới vợ! Ơ, bà vợ ông ngày ấy đẹp lắm, răng đen, đẹp theo kiểu cổ. Thì ông cũng cổ đấy thôi. Ông phục viên làm cán bộ huyện, ở nhà vợ ông vào tổ đổi công, rồi hợp tác xã… Hai vựo chồng cứ như sao Hôm, sao Mai, mãi chẳng có con… Đùng một cái, sau cái ngày “mùng năm tháng Tám” năm ấy, ông lại được gọi tái ngũ. Rồi đi B, đi một mạch vào tận Nam bộ, đánh nhau mãi, suốt hơn mười năm…
Trở về, bà ấy vẫn đằm thắm, dịu dàng dù phải chịu bao nhiêu là truân chuyên. Cái khổ nhất là vợ chồng không có con. Thôi thì, nó xấu xí, nó chẳng ra gì, nhưng nó là đứa con của mình… Ông thì công tác, đi đây đi đó, bạn bè đủ loại, cũng có cái nguôi ngoai, nhưng với người đàn bà thì muôn vàn cơ khổ!
Tàu cuối năm đông cứng, người dưới xuôi lên kiếm ăn, người buôn chuyến cứ lèn căng từ toa này sang toa kia. Ông Thức thu người, dựa lưng vào đống bao tải của ai đó, cố nhắm mắt, như để tách khỏi cái bầu không khí đang muốn nghẹt thở xung quanh.
Lúc ông choàng dậy, tàu đã vào đến ga. Len mãi ông mới nhảy được xuống đất. Khổ, lại lòng thòng mấy cân mì sợi mà cái bà vợ ông bạn cứ ấn vào. Đã bảo “Nhà tôi có người đâu mà ăn?”, thì lại cứ cười cười mà nhét vào tay: “Không ăn thì cho hàng xóm!”. Bây giờ nó nát vụn ra thế này, dễ hàng xóm cũng chẳng dám cho, cho để họ bảo nhà cán bộ khinh người, thừa ăn, cho đồ nát… Rách lắm cơ!
Ông Thức nhằm phía cửa ga, chìa vé cho người soát vé rồi thủng thẳng đi ra cổng. Nghĩ thế nào, ông quay lưng ghé vào cái quầy nho nhỏ bán đủ thứ, kẹo bánh. Ông mỉm cười một mình, định bụng mua gói kẹo cho “thằng bé”. Bỗng ông cảm thấy như có đôi mắt nào đang nhìn mình. Ông nhìn quanh và nghe tiếng trẻ con gọi tên:
- Bác Thức! Bác Thức ơi…
Ông Thức sững sờ nhìn thấy “thằng bé” đang rướn người lên mà gọi. Nó gọi thất thanh, khiên ông phải chạy vội đến và sà vào thằng bé đang đứng một mình. Trên người nó quàng mảnh áo mưa, loà xoà. Ông Thức nắm lấy cánh tay thằng Hận rồi hỏi nó:
- Cháu đi đâu ra đây? Đi với ai?
Ông bỗng chợt nghĩ hay là mẹ con chị Nga đã bỏ đi, bỏ ông, bỏ cái cửa hàng để lại ra đi. Cơ khổ, hai mẹ con thân sơ thất sơ! Nhưng nếu có đi thì cũng phaỉo nói với ông một tiếng, đợi ông về chứ? Hay có ai trêu chọc, hành hạ? Mà ông đối xử với mẹ con cô ấy bằng cả tấm chân tình của con người…
Thằng Hận níu chặt lấy ông, không trả lời. Ông Thức nhìn quanh:
- Ai đưa cháu ra đây, Hận?
Thằng Hận cười, chỉ vào ông lão đang từ đằng kia đi tới. Nhìn thấy ông lão rách rưới, ông Thức buông thằng Hận ra, đứng thẳng lên, nhằm ông lão, giận dữ. Tức thì, ông lão cũng nhận ra thằng Hận đang đứng nép vào một người đàn ông, dáng chừng như nó rất quen thân. Ông lão chững lại khi thấy thằng Hận chỉ tay vào mình. Ông lão cảm thấy sợ, có lẽ chuyện không xong rồi! Một “nước cờ” nhanh chóng xuất hiện. Ông lão rẽ vào một đám đông hình như đang xô sát hay mua bán gì đó, tránh không gặp người kia.
Ông Thức nhìn ông lão, rồi co chân chạy tới. Lão già ghê thật! Một tay bắt cóc chính hiệu! Nhưng ông chạy được một quãng, thấy khuất bóng ông lão, thì dừng lại. Ông sợ, để thằng Hận một mình ở đấy, nhỡ ra có đồng bọn của chúng bắt mất thằng bé? Ông đành quay lại, không đuổi theo kẻ bắt cóc nữa, thấy thằng Hận đang cười:
- Cháu muốn về với mẹ! Bác Thức ơi!
Ông Thức bế nó lên, dỗ dành:
- Ừ, để bác đưa về với mẹ Nga! Thế ai đem cháu ra đây?
- Ông cụ, kia kìa, đến nhà cho cháu ăn kẹo. Kẹo ngon lắm…
- Rồi sao nữa? Ông Thức sốt ruột.
- Ông cụ bảo cháu đi theo ông ấy về quê!
- Thế mẹ cháu đâu?
- Mẹ đi đâu rồi? Cháu muốn về nhà với mẹ Nga cơ!
Ra thế! Ông Thức đặt thằng Hận xuống, mua cho nó một gói kẹo rồi nắm tay nó dẫn ra khỏi sân ga:
- Thôi, bây giờ bác cháu ta về với mẹ Nga nhé!
Thằng Hận lại ngửa mặt lên cười!
Được một đoạn, thấy thằng Hận lếch thếch, ông bế nó lên. Nhưng chỉ một chốc, cánh tay ông mỏi nhừ. Thế là ông để nó lên vai, cứ thế công kênh nó mà đi. Hai bác cháu nghễu nghện, thỉnh thoảng có người quen mặt chào, ông lại cười với họ. Một niềm vui khôn tả ập đến với ông Thức. Lần đầu tiên trong đời, ngoài bốn mươi tuổi đầu, ông được làm “trâu ngựa” cho một đứa trẻ! Ôi, phải chi nó là con ông!
Nghĩ thế, nên đáng ra phải về cửa hàng giao thằng Hận cho mẹ nó, ông đi tắt một quãng phố, về thẳng nhà mình. Được cái thằng Hận không nói gì, nó nói muốn về với mẹ, nhưng khi ông bảo “Về nhà bác nhé!”, thì nó chỉ cười! Cái thằng, nhẹ dạ thế chả trách bị bắt cóc là phải! Đúng là connhà không có cha! Ông phải dạy nó mới được!
Về đến nhà, ông Thức co chân đạp mạnh làm cánh cổng, làm nó bật ra. Tiếng ông oang oang:
- Bà ơi! Bà Thức ơi! Ra đây mà xem này…
Bà Thức từ đầu hồi chạy ra, nhìn thấy thằng Hận đang cười trên cổ ông thì bà hốt hoảng:
- Chết rồi! Thế này thì chết chứ chả sống!
Ông Thức đặt thằng Hận xuống, ngạc nhiên:
- Cái gì mà bà bà bảo chết?
Bà Thức sà xuống vuốt tóc thằng Hận, rồi ngước lên nhìn chồng, thì thầm:
- Cô Nga cô ấy đi tìm con suốt từ trưa đến giờ. Cô ấy đến cả đây, nghe bà Thắm bảo ông bắt nó…
ƠngThcs quẳng cái túi mùi sợi xuống hè, cười cười:
- Đứa nào bảo? Ừ mà tôi bắt nó đấy! Thì đã làm sao?
- Còn hỏi làm sao nữa! Ông bắt nó đi mà không nói, để mẹ nó khóc hết nước mắt… Cô ấy đang chạy cuống chạy cuồng lên vì thằng con kia kìa! Thế mà ông còn cười được?
Ông Thức thẫn thờ:
- Tôi có bắt nó đâu? Vừa từ trên tàu xuống, thấy thằng bé đứng trơ ở ngoài ga. Hỏi nó, nó bảo có mọtoong cụ đến nhà nó bắt nó đi theo. Phải không Hận?
Thằng Hận cười:
- Ông cụ bảo đưa cháu về quê! Cháu không đi đâu, cháu muốn về với mẹ!
Bà Thức sợ sệt, hai bàn tay cứ cuống lên:
- Thôi hay là để tôi chạy đến báo cho cô Nga, mẹ nó, để cô ấy biết mà mừng. Chứ không thì cô ấy đến đâm đầu vào ô tô mất!
- Thì bà đi đi! Bảo cô ấy cứ từ từ nhá! Mà bà cũng cẩn thận đấy!
Bà Thức lấy xe đạp ra, nhảy pê- đan rồi nhoay nhoáy đạp đi. Ông Thức, nhìn theo bà một quãng rồi kéo thằng Hận vào nhà. Nó ngoan ngoãn đi theo và lại cười…
Trông thấy chị Nga đang thẫn thờ ở trước cửa hàng, bà Thức nhảy khỏi xe:
- Cô Nga! Thấy rồi…
Chị Nga như người mất hồn, ngơ ngác nhìn bà Thức:
- Chị hỏi ai?
- Tôi đây! Tôi là vợ ông Thức đây. Tìm thấy thằng con cô rồi!
Chị Nga bừng tỉnh:
- Bác Thức? Bác nói sao ạ? Nói lại em nghe nào!
Bà Thức thì thầm vào tai chị Nga:
- Ông Thức nhà tôi ông ấy thìm thấy thằng Hận con cô rồi.
- Thế ạ? Bây giờ cháu đang ở đâu hả bác?
- Đang ở nhà tôi. Cô lên đây tôi đèo đi…
Chị Nga không nói không rằng, định nhảy lên xe đạp của bà Thức. Nhìn thấy hai bàn tay chị đen toàn than, bà cười:
- Đi vào rửa tay đi đã! Rõ khỉ!
Có lẽ không cần phải thuật lại cái cảnh hai mẹ con chị Nga gặp lại nhau. Chỉ biết rằng, hai vợ chồng ông Thức đứng ngây ra nhìn người mẹ ôm ghì lấy đứa con vào lòng. Chị Nga nức nở chán, lại xoay ra phát vào mông thằng Hận bồm bộp, khiến bà Thức phải sốt ruột, can thiệp:
- Cái cô này! Sao lại đánh nó? Lần sau có đi đâu thì đem nó lên đây cho tôi. Ở với tôi đố đứa nào bắt được.
Ông Thức nhìn vợ, cười:
- Nấu cơm! Nấu cơm! Cái bà này, đi nấu cơm cho cả nhà ăn. Mẹ con cu Hận ở đây ăn cơm nhá!
Trong lúc chị Nga lúi húi cùng bà Thức dưới bếp, ông Thức bày ra baonhiêu thừ trò chơi. Thằng Hận, lần đầu tiên nó được chơi với một người đàn ông. Hình như đây là điệu lạ lùng đối với nó. Nó vẫn cười, nhưng hình như có khác lệ thường. Nó nhìn ông Thức mà cười say đắm hơn, chứ không có vẻ ngây dại như mọi ngày…
Cơm nước xong, trời cũng vừa tối. Ngày cuối năm, đêm sập xuống rất nhanh, khiến chị Nga không kịp đưa con về lúc trời còn sáng. Nhìn thằng Hận ngồi trên đùi ông Thức, chị Nga thấy vui vui mà cũng thật tủi lòng. Có lẽ trong đời nó, đây là lần đầu tiênnó được sung sướng đến thế. Đọt nhiên chị lại nghĩ đến Tĩnh, nó cũng nằm trong lòng Tĩnh, nhưng đó là lúc nó đang ốm đau.
Ông Thức kể lại câu chuyện ngoài ga, chị Nga cúi đầu lắng nghe. Khi ông Thức dừng lời, chị nhìn hai vợ chồng ông bà;
- Em cám ơn hai bác! Không có bác hôm nay chắc em chết mất! Thật là ơn tái sinh cho cháu…
ƠngThcs nghĩ ngợi, rôi hỏi:
- Tôi không hiểu tại sao cái người bắt cóc thằng Hận con cô lại là một ông lão già nua? Đã thế lại bảo là đưa nó về quê? Hình như trong chuyện này có cái gì đó, hả cô?
Chị Nga cúi đầu, im lặng, dường như chị đang phải chịu một gánh nănbg ghê gớm đang đè lên đôi vai ốm yếu. Nhưng thật bất ngờ, chị ngẩn lên, nhìn ông Thức rồi lại nhìn bà:
- Đúng là câu chuyện của em thật đáng buồn, lại rất đáng xấu hổ. Em định giấu suốt đời này, kể cả với con em. Nhưng thôi, giấu mãi cũng chẳng được, mà càng giấu thài lại càng đau lòng. Em coi hai bác đây như anh, như chị, như ân nhân, em xin kể lại chuyện đời em để hai bác nghe. Nghe rồi, nếu chỗ nào thương được thì thương, còn chỗ nào không được thì bỏ quá cho em!
- Bố em, là thầy giáo bình dân học vụ ở thị xã này từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp.
Ông Thức thong thả:
- Cụ tên là gì?
- Bố em tên là Hoan. Hà Đức Hoan…
Ông Thức nhổm dậy:
- Thầy giáo Hoan? Giời đất ạ…! Thầy Hoan người cao cao, quê ở Bắc Ninh?
- Thế ra… Ối bố ơi… bác cũng biết bố em?
- Tôi học thầy Hoan! Nhưng mấy năm sau, thầy đi kháng chiến lên Việt Bắc?
- Đúng thế đấy ạ! Trời ơi, thế ra trời cũng có mắt cho em gặp lại người quen của bố mình… Bố em lên Việt Bắc, gặp mẹ em rồi có em…
- Bây giờ cụ thế nào rồi?
- Mấy năm nay em không nghe tin tức gì. Nhưng thôi, bây giờ hai bác nghe em kể đã. Em là giáo viên cấp hai…
Đêm ấy chị Nga đã kể lại hết câu chuyện của đời chị cho hai vợ chồng ông Thức nghe. Câu chuyện cũng chính là chuyện tôi đã thuật lại từ đầu cuốn sách này. Có điều, chị kể bằng một giọng buồn, lúc thì rành rọt, rõ ràng, khi lại ngắc ngứ, quặn đau và đầy nước mắt… Nhưng hầu như không phải chị kể mà là chị trút câu chuyện hoà nước mắt trước mặt hai người xa lạ, ở một nơi xa lạ mà chị lưu lạc đến!


***






0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-03 23:37:05Ct.Ly>
ĐOẠN 16

Sáng hôm sau tôi dậy muộn, đó là một tật xấu của tôi. Trong một số tật xấu có thể kể ra được của tôi, có tật ngủ vùi. Người ta bảo càng già càng ít ngủ. Những người cùng tuổi với tôi, bốn năm giờ sáng đã dậy, họ đi bộ, tập thể dục, chăn lợn gà, đưa hàng


TP.Hồ Chí Minh 1996- 2004
H.Đ.Q.




Đã mang vào thư viện

Cảm ơn Phụng Hoàng nhiều nhé

Tình thân
📎 canhdongluulac
PHỤNG HOÀNG
0