ĐOẠN 13
Đang dở tay với mấy cái cọc bên bờ dậu, lúng túng thế nào để cái lạt cật cứa ngang lòng bàn tay, máu ứa ra, buốt xót, Tĩnh vào sân, quăng con dao lên hè, vào nhà, nằm vật ra giường. Bà cụ mẹ anh đang ngồi xếp lại mấy thứ lặt vặt, cũ kỹ, trong cái làn mây, thấy con trai thở dài thì nhìn lên, ái ngại. Cụ định nói một câu gì đó, nhưng nghĩ mãi chẳng ra. Khuyên nó mãi cũng chẳng nổi. Mắng nó rồi cũng chẳng thấy xiêu. Nhất là sau chuyến ngược bè về, tiền nong có được vài chục đưa hết cho mẹ rồi không đi nữa. Bà cụ hỏi ông Thuần, thì ông ấy cũng chẳng nói thật:
- Bè giang cực lắm cụ ơi! Sức chú ấy trông thế nhưng còn yếu lắm. Ở chiến trường bao nhiêu năm, còn gì là người. Chuyến này để cho nó ở nhà…
Ở nhà là phải rồi, mấy sào ruộng thằng anh nó san bớt cho, hai mẹ con cũng đủ rau cháo. Nó không nói gì, cứ hơn hớn theo bè ông Thuần. Những chuyến trước chẳng sao, nhưng mà chuyến này về thấy được ít quá, hay nó chán?
Cũng chẳng phải thế! Chắc cần tiêu nên nó mới giữ lại, chứ mấy lần trước mỗi chuyến đi về cũng có ngót trăm bạc, lần này nó đưa cho bà có ba chục. Công của nó, của của nó, bà nhận là giữ hộ cho nó thôi, chứ bà thì tiêu gì! Nhưng mà thấy nó đưa ít, bà cũng nghĩ. Đúng rồi, đàn ông con trai, chưa vợ con cũng phải có bạn bè, điếu thuốc, hớp nước…
Têm miếng trầu, vét tí thuốc lào nhét vào chân răng, bà cụ toan vào giường hỏi nó làm sao, thì đã thấy Tĩnh lò dò ra:
- U cho con xin tí thuốc lào!
- Mày làm sao? Hay lại tập tọng hút thuốc lào…
- Đây này… Tĩnh chìa bàn tay rớm máu ra. Con cầm ngang cái lạt mà nó sứac thế.
Bà cụ vội vàng lấy nắm thuốc lào nhét vào vết đứt ngang lòng bàn tay:
- Mấy hôm nay mày làm sao thế? Đi rừng đi búi mà hấp hoảng thế này thì có ngày chết đấy con ạ. Tao thấy ghê quá.
- Thì con đã bỏ rồi đấy thây! Tĩnh cười.
- Ừ thì bỏ quách đi. Tao thấy nhà ông Thuần đấy, cả đời lặn lội cũng có hơn ai? Gốc mình là chân đồng chiêm, bì sao nổi với san tràng, rừng rú …
Bà cụ lấy miếng giẻ quấn vào bàn tay cho con, ái ngại:
- Thôi cứ nghỉ ít bữa, mai u bảo thằng bố An nó san cho mảnh ruộng ngoài Cầu Đá mà làm. Hai mẹ con mình thì chừng ấy cũng đủ ăn…
- U này…! Tĩnh đột ngột cắt ngang lời mẹ. U có còn tiền không?
- Thì mày đưa bao nhiêu tao vẫn giữ chứ có tiêu cái gì đâu mà con hay hết.
Tĩnh ngạc nhiên:
- Thế u lấy đâu ra tiền mà mua mắm muối, cái ăn cái mặc?
Bà cụ cười phô hàm răng đen nhưng nhức:
- Tao khắc có. Mày cần tiêu bao nhiêu thì cứ nói, u đưa cho mà tiêu.
- U không được lấy của anh chị An đâu đấy. Anh chị ấy còn một lũ con, lít nhít thấy phát sợ.
- Tiên nhân bố anh, một con, một của, có gì mà sợ. Còn anh đấy, thế có định lấy vợ, đẻ con không hay lại sợ?
Tĩnh cười:
- Sợ thì con không sợ, nhưng mà lấy ai… Người con thích thì u không ưa. Mà cái cô u thích thì con lại thấy nó làm sao ấy…
- Tao không ưa bao giờ? Bà cụ nhìn con, cười để rơi mấy giọt nước trầu ra áo. Thôi được rồi, bây giờ anh cứ việc thích thì lấy, ai cũng được, tôi không cản. Đứa nào con thích là u thích!
Nhớ hồi mới về, Tĩnh cũng hăng lắm. Lúc ấy bộ đội ở Nam ra rất có giá, thành ra lấy vợ cũng cứ như phong trào. Thi đua anh này với anh kia, chị này với cô nọ. Suýt thì Tĩnh cũng đã lấy cái cô Hải con bà hàng nước ngoài đầu sông. Cũng chỉ vì anh tuếch toác, nói năng không giữ ý, làm bà ấy giận. Cô Hải thì không đẹp mà cũng chẳng xấu, lấy nhau để đẻ con thì được, nhưng mà yêu thì… Giận thì cho giận luôn. Tĩnh cứ nhơn nhơn, sống “cá thể”, chẳng chịu theo phong trào. Thế rồi, phong trào tạm lắng, có đôi hạnh phúc, sung sướng, có cặp an phận chịu đựng lẫn nhau. Nhưng cũng chỉ ba bốn năm sau, có anh chị đưa nhau ra toà, nhẹ hơn thì chồng dắt tay vợ về trả cho ông bà nhạc. Buồn thật… Tĩnh thấy buồn cho tình đời, chung quy cũng chỉ tại nghèo khó. Ấy thế nhưng cả làng cứ thấy Tĩnh cười hơ hớ. Bí chân anh theo ông Thuần lên rừng…
- Con kể u nghe chuyện này nhá. Nghe được hay không thì u cứ nói ra, chửi con cũng được.
Bà cụ nghĩ ngay đây không phải chuyện đùa của con trai. Nó đã ngoài ba mươi, cái đùa cũng không phải là thứ bông phèng, hôn xược. Với lại nó đã nói “u chửi cũng được” thế có nghĩa là nó đã nghĩ kỹ.
- Con cứ nói xem nào! Bà cụ nghiêm giọng.
Thấy Tĩnh đắn đo mãi, bà phải giục:
- Khó nói lắm hả con? Cứ nói đi, u nghe đây…
Tĩnh bắt đầu kể về chị Nga. Anh kể hết, nhưng khổ nỗi, anh cũng chẳng biết gì nhiều về chị:
- Một cô giáo cấp hai, chồng đi B đã hy sinh, có một đứa con trai hai tuổi. Cuộc sống cơ cực và dư luận độc địa khiến cô ấy phải bỏ nhà bế con ra đi. Cái buổi chiều trên mảng và cái đêm ở nhà ga, con thấy cô ấy là người mà chưa từng gặp… Một phụ nữ biết vì người khác và dám sống vì người khác…
“Thế là nó đã phải lòng người ta rồi”, hèn nào nó ăn nói văn hoa như thế, bà cụ nghĩ thầm trong bụng. Rỗ khổ, gần thì chẳng bén duyên cho, xa xôi cách trở… Thương con, muốn che chở cho con không ai bằng người mẹ, dù là một nông dân, nhưng bà cụ rất thấu hiểu lòng con…
- Bây giờ mẹ con cô ấy ở đâu?
- Con cũng không biết đích xác. Con chỉ biết cô ấy bế con ngược lên Phú Thọ, mà thằng bé thì đang ốm.
Bà cụ không nói gì, đứng dậy xuống bếp. Thế giới của bà mẹ chúng ta có lẽ là cái bếp. Chỉ ở đây, bà mới có thể suy nghĩ, đến thấu đáo nghĩa tình, và đưa ra những quyết định sáng suốt. Con lợn trong chuồng nghe tiếng lịch kịch của bà, vội vàng cất lên hững tiếng kêu ư ử. Đó là lời cầu xin, là tiếng reo vui chào mừng của chúng. Bà cụ lấy nắm gạo đầu ra dưới ánh sáng cuối ngày, ngồi nhặt những hạt thóc.
Tĩnh lo lắng nhìn những động tác của mẹ. Anh hiểu mẹ đang lo cho anh. Trong mắt mẹ anh là một thằng trai ngang tàng, và mẹ tự hào về điều đó. Cái lần anh lấy vợ hụt, cô Hải con bà hàng nước, chính mẹ đã an ủi anh: “Làm trai quyết chí tu thân; công danh chớ vội, nợ nần chớ lo”. Niềm vinh quang từ chiến trận anh đem về cho mẹ, nhưng mẹ cũng không bị choáng ngợp như những người khác. Mẹ dặn anh: “Còn có những người chết, không về. Con liệu mà vui mừng cho phải lẽ”.
Tiếng xoa gạo sàn sạt khiến Tĩnh không thể nào yên tâm. Anh mon men đến định hỏi, nhưng lại không dám. Có thể mẹ buồn, có thể mẹ giận… Thôi hãy cứ để như thế. Thế nhưng còn anh? Tĩnh bắt đầu chất vấn mình. Anh đã nghĩ thế nào về người phụ nữ anh gặp dọc đường? Hai mẹ con cô ấy sẽ ra sao nếu họ không gặp anh? Và rồi họ gặp anh họ sẽ ra sao? Những lời hứa hẹn và những việc anh làm cho mẹ con họ có phải là tình yêu? Đã mấy tháng nay anh bồn chồn. Mấy ngày đầu khi về với mẹ, anh quyết định sẽ quay trở lại đi tìm mẹ con chị Nga. Nhưng rồi, bên mẹ và gia đình làng xóm, anh đã có những ý nghĩ khác. Anh muốn quên, muốn quên đi cũng như những câu chuyện qua đường thường thấy. Anh có cuộc sống riêng của anh. Mẹ cộnh có cuộc sống của họ. Không ai có thể bắt lỗi anh được. Anh đã làm hết mình, làm những gì cần làm. Thế nhưng một thời gian sau anh càng lúc càng thấy trong lòng mình không yên. Tĩnh thường mất ngủ, dù anh đã quyết bỏ nghề san trang, nhưng hình như anh thấy nhớ rừng, nhớ sông nước. Cái buổi chiều thổi cơm nhờ bên bến sông đã làm anh thao thức. Hay là anh lại sẽ lên rừng, sẽ xuôi mảng và trở lại bến sông. Nhưng…, ở đó không còn gì nữa. Dòng sông cũng không còn gì cho anh nữa.
Hai chữ “phải lòng” không đủ sức chứa nỗi niềm của Tĩnh. Ở đây chẳng phải là một mối tình si thông thường của người đời. Hình như nó có cái gì đó như một định mệnh. Tĩnh không muốn ra khỏi nhà, không muốn nói chuyện với ai. Bà mẹ biết nhưng không biết cách can thiệp. Con trai bà là một kẻ ngang tàng, và can trường, bà biết…
Bữa cơm tối hôm ấy, dưới ánh đèn tù mù, hai mẹ con im lặng cho hết bữa. Hình như ai cũng nhai trệu trạo, ai cũng muốn ngẫm nghĩ hơn là ăn. Lần đầu tiên, sau bữa cơm mẹnói với Tĩnh:
- Con cất dọn mâm bát đi. Để u ngồi đây ăn miếng giầu…
Tĩnh lẳng lặng làm. Anh rửa bát, dọn mâm rất chăm chú và cẩn thận, đến nỗi chính anh cũng ngạc nhiên. Sao lại không huýt sáo lên một bài vui vui nhỉ? Anh huýt sáo nhưng hơi hướng cứ đi đâu mất, chỉ là những tiếng thào thào qua kẽ răng. Bực mình thật…
Tĩnh trở lên nhà, đã thấy mẹ đặt sẵn một xấp tiền chặn cái cơi trầu:
- Ngồi đây u nói này, Tĩnh!
Tĩnh ngồi ở một góc chiếu, nhìn mẹ. Anh đã hiểu.
- Ngày mai, con đi tìm hai mẹ con cô giáo Nga đi…
Tĩnh cảm động:
- Con cũng có ý định ấy, nhưng…
- Được rồi, con cứ đi tìm, đúng như lời con đã hứa. Không nên để lời hứa thành lời đầu môi, chót lưỡi. Tiền đây, con cầm cả lấy mà chi tiêu cho chuyến đi.
Tĩnh cầm xấp tiền lên, nhẩm đếm:
- Nhiều quá u ạ, chắc không dùng đến thế đâu.
- Cứ mang đi. Đường xa tiền bạc không biết thế nào là nhiều với ít.
- Con cầm một trăm thôi, còn để lại cho u giữ…
Bà cụ vươn cổ ra khỏi hè, nhổ miếng nước trầu rồi như tiện tay, móc trong túi áo ra một cái bọc:
- Đây là cái vòng bạc, cái vòng con đeo hồi còn bé. U đưa cho con mang theo, gặp đứa bé, con hãy đeo vào cho nó.
Tĩnh thẫn thờ:
- Sao lại thế?
- Nếu con thấy không cần thì thôi. Nhưng hãy cứ mang theo.
Bây giờ Tĩnh mới hỏi một câu mà anh chợt nghĩ ra:
- U ạ, nếu gặp người ta, con phải làm thế nào? Hay là con đưa cô ấy về đây với u?
Bà cụ đứng dậy, vào giường:
- Sao anh lại hỏi u câu ấy? Anh cứ làm đúng như những gì anh nghĩ. Thấy đúng thì cứ làm, nếu vạn nhất có sai lầm cũng không có gì phải hối hận…
Đêm ấy Tĩnh đã thức trắng đêm, tiếng gà xao xác ba canh đã vật vã, cật vấn anh theo từng chặp. Tĩnh có cảm giác như một định mệnh đã gắn đời anh với mẹ con người đàn bà bất hạn ấy. Chẳng thế mà, lúc chia tay với tiếng khóc tức tưởi, ngọt ngào của chị Nga, Tĩnh phải cố nén lòng. Anh chỉ đứng lại một chút nữa thôi, thì chính anh cũng bật khóc, và không thể đi được nữa. Anh cũng nghĩ mình không thể xa họ được, mà quay lại chỗ ông Thuần và anh em sơn tràng, xem có lấy được ít tiền, rồi đuổi theo. Anh đã đi như chạy. Nhưng khi đoàn tầu ầm ầm kéo đến và tiếng người nhốn nháo, anh nghe thấy thoảng trong gió tiếng kêu cứu của chị Nga. Rất mỏng manh, rất mơ hồ, nhưng lại rất rõ nét bởi âm sắc của lời cầu cứu hình như đã được ghi lại trong tâm trí anh. Tĩnh rảo bước nhưng không đi nổi, bởi trong gió thoảng, trong tiếng bánh sắt nghiến rầm rập ấy, có tiếng chị Nga. Tĩnh vội vã chạy ngược trở lại, và anh lao vào ôm lấy thằng bé. Không thể chậm hơn!
Anh đã hối hận khi không đưa ra quyết định kịp thời ngay từ cái hôm đưa thằng Hận ra viện. Đêm ấy là một đêm khó khăn nhất trong đời anh. Phải từ biệt mẹ con chị Nga trong một hoàn cảnh éo le như thế đã cứa xát trái tim Tĩnh biết chừng nào. Có tất cả ba con đường, anh đã chọn con đường bỏ chạy. Ừ mà sao mình không đi cùng Nga? Sao mình không biết hoặc không nghĩ đến con đường trước mắt của hai mẹ con cô ấy? Còn một con đường nữa là đưa Nga cùng về với mình, với mẹ? Anh sợ gì? Sợ dư luận và tai tiếng ư? Cuối cùng anh đã chọn con đường bỏ đi, để đến bây giờ thấy nhói đau trong lòng.
Thôi, Tĩnh ơi, hãy cố chợp mắt một lúc, lấy sức để sáng mai anh hãy lên đường đi tìm người anh yêu quý. Tĩnh ra sức dỗ giấc ngủ, và khi nó đến, anh nằm chiêm bao thấy mình đã tìm được mẹ con chị Nga. Họ đã tìm thấy nhau, và thằng Hận, đứa con trai người gỗ Pinôkiô của anh đã tung tăng đi lên phía trước, trên con đường đầy ánh sáng và hoa. Anh cố sức gọi “Con ơi!”, và đuổi theo những bước chân nhỏ bé lon ton của nó. Nhưng rồi, Nga kéo anh lại, bằng bàn tay nhỏ bé, ấm áp… Hai người anh và Nga nắm tay nhau đi theo nó, đi mãi… cho đến khi mẹ gọi:
- Tĩnh ơi! Trời sáng rồi… Dậy đi con!
Anh vẫn còn thấy tiếc giấc mơ. Giấc mơ lành, đầy ngọt ngào thi vị. Nhưng… cuộc đời này, giữa giấc mơ và hiện thực luôn có những khoảng cách không dễ gì lấp đầy.
Buổi sáng ấy, Tĩnh lên đường tìm chị Nga, nhưng cuộc tìm kiếm ấy đã không dễ dàng chút nào, mà nó kéo dài suốt mười năm! Phải mười năm sau, họ mới gặp nhau. Đó là một định mệnh khắt khe, và độc ác của cuộc đời!
*
Thật ông Trời cũng có mắt, chị Nga nghĩ thế, khi hai mẹ con chị có được một chỗ trú thân trong cái chái nhà than của cửa hàng ăn uống. Trưa hôm sau, ông Thức cửa hàng trưởng đi họp về, tạt vào đã thấy cái chái vốn trống hoang, trống hoác đã được quây kín thì lắc đầu:
- Cô này giỏi nhỉ? Lấy đâu ra những thứ này? Ông chỉ vào những tàu cọ chị Nga đã thưng làm vách.
Chị Nga từ đống than sau nhà chạy ra, hai tay đen nhẻm, rụt rè:
- Bác ạ! Chị Thắm chỉ cho em đấy. Không biết có ảnh hưởng gì đến cửa hàng không hả bác?
- Không sao! Cái bà Thắm này cũng đáo để nhỉ. Bà ấy là vợ liệt sĩ, một nách nuôi bốn đứa con đấy. Được cái chúng cũng ngoan và lớn cả. Ghê gớm ra phết nhưng được cái hảo tâm, tốt bụng. Thế bố thằng cháu nhà cô đâu?
Ông Thức bộc trực quá, thấy cái gì là hỏi, dễ gây ra ấn tượng một người ỷ quyền thế, hay lục vấn, chẻ hoe. Nhưng, tính ông lại xuề xoà, mau quên. Hỏi thế thôi, trả lời cũng được, mà không trả lời cũng chẳng sao. Chị Nga lúng túng, không biết để hai bàn tay toàn than của mình vào đâu:
- Dạ… bố cháu… mất rồi ạ!
- Cô từ bên Thái Nguyên sang à? Này, dạo trước tôi cũng đóng quân ở bên ấy mấy năm trước khi đi B. Cô có biết trung đoàn 165 của sư đoàn 312 không?
Chị Nga càng lúng túng:
- Vâng, em có nghe!
- Bên ấy cũng khó khăn nhỉ. Dân “con củ” cô biết không? Khoai lang ấy mà… Có câu chuyện buồn cười thế này, một ông nông dân ra ruộng của mình thấy rõ ràng dấu chân người, mà phân thì lại phân chó! Hơ hơ… đói quá, dân ta ăn khoai lang cả vỏ. Khổ thế! Không biết bây giờ thế nào?
- Cũng vẫn khổ lắm bác ạ.
- Ừ thôi, tôi hỏi thăm qua cô một tí cho biết. Cô cũng đảm đang đấy. Chịu khó làm ăn, anh em chúng tôi thấy cô lưu lạc thì thương cô. Nhưng mà này, tôi dặn cô một câu, một câu thôi: chớ có tắt mắt! Tôi ghét nhất là ăn cắp vặt, thế nào cũng có người thấy, mà không ai thấy thì trời thấy! Thiếu thì xin, xin người ta không cho thì nhịn. Nhất chết chứ đừng ăn cắp. Ăn cắp dù một nắm than, tôi biết là tôi đuổi đấy. Tôi coi cô như em mới nói thế, đừng giận!
- Vâng! Em xin nghe lời bác…
- Tôi đi đây! Có khó khăn gì thì hỏi bà Thắm. Tôi hay đi vắng lắm…
Chị Nga bần thần nhìn theo cái dáng đi hơi gù, một bên vai xệ xuống và đôi chân tập tễnh của ông cửa hàng trưởng mà ứa nước mắt. Người đâu mà tối thế!
Thời gian đối với chị Nga thật chẳng có ý nghĩa gì, nếu không có thằng Hận. Chị không mong gì cho mình, dù tháng ngày dài hay ngắn, nhanh hay chậm, chị không bận lòng. Nhưng còn thằng Hận, nó phải lớn, phải lớn thật nhanh. Trong những đêm vắng, hai mẹ con nằm trong cái chái nhà quây lá cọ, chị Nga ôm con mà lòng thật chua chát. Đôi lúc chị lại tự vấn lòng mình. Tại sao chị phải bỏ làng vào Soi Vạt, sống như một con bệnh hủi, bị cộng đồng hắt hủi. Chị cứ sống đàng hoàng giữa làng giữa nước, sợ gì ai. Ừ thì anh Kỳ đi bộ đội ba năm rồi có giấy báo tử. Ừ thì có giấy báo tử của anh Kỳ hơn một năm sau chị mới đẻ thằng Hận! Thì đã sao? Tại sao chị lại không có quyền có con? Mà tại sao người ta lại cứ phải hỏi nó là con ai. Rõ ràng nó là con anh Kỳ. Không! Nó không thể là con anh Kỳ, mặc dù nó mang họ Trần. Chị thì không sao, chị sống thế nào cũng được, nhưng còn thằng Hận, nó là giòng dõi họ Trần, nó phải được mang họ Trần và được hưởng tất cả những gì mà nó đáng được hưởng.
Chị đã chạy trốn, điều ấy chỉ chứng tỏ chị có lỗi. Nhưng nếu chỉ trốn lên Soi Vạt thôi thì một thời gian sau, dư luận sẽ lắng xuống. Cười ba năm chứ chẳng ai cười ba đời! Bỗng dưng chị hận ông lão Tuân, ông bố chồng chị, người cha của đứa con chị. Nỗi nhục nhã ê chề luôn đè nặng xuống vai chị. Nó đã giết chết cả tuổi thanh xuân của chị, chưa đủ, nó còn hạ gục cả cha chị, là thầy Hoan.
Chị bật khóc trong đêm vắng khi nghĩ về cha mình. Giờ này cha đang làm gì, hay cũng lại thao thức với con. Cuộc đời cha đặt gọn trong tranh chấp, trong nghi kỵ. Lúc nào cũng đè phòng, cũng cảnh giác. Mấy năm nay tạm yên tiếng súng, lẽ ra cha phải được sống thanh thản. Thế mà con đã giết cha. Giết mà cha không chết, cha sống để ôm hận. Ôi, nhưng nếu cha biết con gái cha lại ăn nằm với bố chồng để đến nỗi sinh con đẻ cái, thì hẳn cha đã ngã gục rồi…
Gà gáy liên hồi, chị Nga thao thức rồi ngồi dậy, xoay nhẹ đầu thằng Hận ra khỏi cánh tay, đặt cho nó ngay lại rồi bước xuống đất ra ngoài. Mùa thu trung châu sớm giăng sương bụi. Chị vào bếp nhóm bếp than. Đó là công việc mà chị em trong cửa hàng nhờ chị Nga. Chị thấy vui khi được làm việc. Càng nhiều việc càng tốt. Ai nhờ gì chị cũng làm, làm nhiệt thành, từ giặt khăn bàn, rửa bát, đến quét nhà nhóm lò… việc nào chị cũng làm gọn ghẽ, sạch sẽ. Mỗi lần xong việc nắm than của mình, chị ngồi không mà không ai nhờ việc gì, chị thấy bồn chồn, lo lắng.
Thằng Hận đã lớn. Nó là một đứa trẻ ngoan và đẹp như thiên thần, không ai có thể ngờ rằng mẹ nó chỉ là một mụ nắm than với hai bàn tay đen đủi. Nước da nó trắng hồng, đôi môi đỏ như được tô son. Mọi người đều thích nó, nhất là những cô gái chưa lấy chồng, nhìn vào khuôn mặt có mái tóc loà xoà trước trán, với cặp lông mày xếch xiên trong xô vào tận sống mũi của nó, hứa hẹn một chàng trai tuấn tú, thông minh. Tuy thế, không khỏi có những cặp mắt đố kỵ, ghen tức. Không biết nó ăn gì mà xinh đẹp thế? Mà có phải con nhà giàu có gì cho cam? Một con mụ nắm than công nhật, loại người thấp hèn, mạt hạng nhất thì có gì cho nó ăn, nó mặc? Con nhà người ta, nào có thiếu gì cá thịt, vậy mà sao vẫn xanh xao, còi đẹt?
Lúc đầu chị Nga tự hào về đứa con của mình, nhưng dần dà, chị nhận thấy có những cái nhìn không mấy thiện cảm, chỉ vì nó đẹp quá, nó khoẻ mạnh quá, chị thấy lo. Ông Thức mỗi lần đến thấy nó, thì ngồi thụp xuống tóm lấy “con chim” của nó, nức nở:
- Con cái nhà nào mà đẹp thế này không biết? Cô Nga này, vợ tôi mà đẻ được đứa con xinh đẹp khoẻ mạnh như thằng Hận của cô thì tôi phải bảo bà ấy đẻ lấy chục đứa…
- Bác quá khen cháu nó hư đấy bác ạ!
Vợ ông Thức không đẻ được. Đó là lỗi tại ông. Ông đi bộ đội vào chiến trường trở ra, sốt rét trọc đầu, lại bị thương lệch vai, khiểng chân. Thương tật thì không sao, nhưng không đẻ được đứa con thì thật đau khổ. Vợ ông là giáo viên dạy cấp một. Người ta khuyên ông xin lấy đứa trẻ làm con nuôi, nhưng ông không muốn. Ông nghĩ thế nào, chả ai hiểu, đến vợ ông cũng không hiểu ông. Người ta ưu tiên cho ông cái chức cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống, ông tận tình, nhưng cũng không mấy thiết tha. Mọi chuyện đều giao cả cho bà Thắm, bà vợ liệt sĩ bốn con.
- Này cô, bố cháu hy sinh ở chiến trường nào? Khi đã quen thân, biết được chuyện của chị Nga, ông Thức hỏi. Lần này, không thể lảng tránh mãi được, chị Nga đành trả lời theo đúng như người ta đã ghi trong giấy báo tử của anh Kỳ:
- Em cũng không biết rõ lắm, chỉ thấy báo là anh ấy hy sinh ở “Mặt trận phía Nam” thôi ạ!
Ông Thức lại được dịp cằn nhằn, mà cằn nhằn rõ to:
- Phía Nam thì đúng rồi, không lẽ lại phía Bắc? Chiến trường mênh mông thế, ai biết đâu mà tìm. Thì cũng coi như mất tích! Có mấy cái kẹo Hải Châu, cô cầm lấy cho thằng bé…
Chi Nga ái ngại:
- Bác cho cháu nhiều thế? Các bac thương đã cho mẹ con em được ở nhờ, lại có việc làm, em còn chưa đền ơn được.
- Ơn huệ gì cái nhà cô này! Hay là cô cho thằng Hận làm con tôi nhé? Ông Thức nói bằng một giọng nửa đù, nửa thật, nhưng chị Nga nghe thấy rất rõ nỗi khát khao được làm cha của ông. Lần này, ông Thức nhìn chị Nga cười nheo mắt, ý như ông nhất quyết không để cho chị được lảng chuyện như những lần trước. Thấy chị Nga cứ cắm cúi, không trả lời, ông giục:
- Sao? Cô thấy thế nào?
Chị Nga ngửng lên, đôi mắt buồn xa thẳm:
- Đời em chỉ còn mỗi mình cháu, em làm sao xa cháu được? Em chỉ mong cho cháu lớn khôn, rồi lúc ấy đời em coi như xong…
- Thì ai bắt cco xa nó đâu? Nó vẫn là con cô mà… Chỉ cần nó nhận tôi làm bố, bà nhà tôi là mẹ, là được rồi.
- Thế…? Thôi, em sợ lắm! Nhỡ nó thấy em nghèo,nó bỏ em thì em chết! Chị Nga gượng cười, làm như đó hoàn toàn là chuyện đùa.
Ông Thức thôi không nói nữa, nhưng bỗng hỏi:
- Thế chế độ chính sách con liệt sĩ của cháu thế nào? Ở bên ấy người ta không lo cho nó à…
Lần này thì chị Nga không thể trả lời được. Chị cúi xuống gần sát đống than, cố giả vờ không nghe câu hỏi của ông cửa hàng trưởng. Nước mắt chị lại sắp ứa ra, chị quệt một ngón tay lên ngăn giòng nước mắt sằp trào ra, để lại một vệt nhọ ngang bên má. Ông Thức thấy thế thì cũng không hỏi nữa, lặng lẽ quay đi. Nhưng không phải lúc này, mà ngay từ hôm đầu tiên gặp mẹ con chị, ông vốn là người đi đây, đi đó, hiểu nhiều chuyện, ông đã ngờ đến một câu chuyện không bình thường rồi. Thì có trắc trở, bất an thì người ta mới lưu lạc đến đây, ông nghĩ thế, và ông sẵn lòng thương người, đã cưu mang mẹ con chị. Nhưng như mọi người đàn ông khác, ông nghĩ thếnào cũng có dịp hỏi cho ra nhẽ. Không thể để một đứa con của người liệt sĩ sống lưu lạc, thiếu thốn như thế được.
Chị Nga bắt đầu dạy học cho con trai. Và chị đã thất vọng! Một lần nữa, trời cao đã hành hạ chị, nhất quyết không buông tha người thiếu phụ này.
***
ĐOẠN 14
Ông lão ra đi vào một đêm tối trời, dường như để lánh mặt người làng. Hành lý của ông lão chỉ gồm có một bộ quần áo được coi là tươm tất nhất, chiếc áo gụ hơi bạc mồ hôi, cái quần kaki của anh Kỳ để lại cũng đã sờn bạc. Với số tiền tổng cộng được gần hai mươi lăm đồng bạc, trong đó có đến quá nửa là loại giấy một hào, hai hào, do tích cóp mà có, số còn lại là tiền liệt sĩ của anh Kỳ, của nhà nước.
Vào những tháng năm ấy, hẳn nhiều người còn nhớ việc đi lại bằng xe ô ô khách là một cực hình. Cả tỉnh chúng tôi chỉ có một bến xe Đồng Quang, mà xe thì ọc ạch, giờ giấc thì phập phù, hành khách lèn chật cứng, còn tài xế là những người mà vừa là hung thần, vừa là tên lưu manh mạt hạng. Xe ô tô của nhà nước, thường được ca ngợi là của nhân dân, tài sản của toàn dân, nhưng rơi vào tay tài xế nó đương nhiên là của báu để kiếm chác, để diễu võ giương oai. Đến nỗi, trong quân đội vẫn có câu: “Trung uý thiếu uý, không bằng một tí lái xe!”. Vì thế, ông lão Tuân không thể chọn con đường xe ô tô khách để đi Phú Thọ. Ông quyết định lấy con đường tàu hoả, lên từ ga Phổ Yên để về Hà Nội, rồi từ ga Hàng Cỏ, ông lại lên tàu đi Phú Thọ. Con đường đi của mẹ con chị Nga cũng là con đường ấy, tuy xuất phát từ một bến sông, con đường định mệnh...
Chuyến tàu xuôi khởi hành lúc chín giờ tối xuôi xẻ. Nửa đêm, ông lão về đến ga Hàng Cỏ. Ông lão Tuân không lạ gì nhà ga này, tuy là một nông dân nhưng ông đã từng có nhiều lăn lộn trên bến tàu, nhà ga, đường phố... với những tháng ngày lưu lạc giang hồ thời trẻ. Và gần đây thôi, những năm đói kém, những chuyến buôn bán sắn khô, khoai lang, lạt dang, củ nâu... đổ xuống ga Long Biên, hay còn gọi là ga Đầu Cầu. Thời trẻ khoẻ ấy đã qua rồi, ông và mấy anh bạn buôn tàu sau khi bán xong hàng, tản bộ vào chợ Đồng Xuân tìm một cửa hàng phở. Ai “không người lái” (phở suông, không có thịt) chứ ông Tuân cứ là phải tìm cho được món xá xíu, thịt quay, đánh một bát to, rồi ra vỉa hè sà vào quán chè chén, làm năm xu, một hào, rồi bắn nhờ điếu thuốc lào. Gần sáng lại cuốc bộ ra ga Hàng Cỏ, mua vé tàu hẳn hoi, leo lên toa tàu chợ, tìm chỗ gà gật...
Bây giờ ga Hàng Cỏ đã khác. Cái đồng hồ to ngất nghểu trên nóc nhà ga không còn, nhìn nhà ga cũng không còn cái vẻ oai phong mà trẻ trung, từng trải mà dễ tính như ngày trước. Người đi lại buôn bán khá đông, công nhân, bộ đội, học sinh... rầm rập. Cảm giác mất an toàn ngự trị. Công an và kẻ móc túi khá nhiều. Anh công an, anh bảo vệ đeo băng đỏ thì nhắc nhở hành khách cẩn thận kẻo móc túi, lừa đảo, trấn lột. Còn kẻ lừa gạt, xách làn, bạc bịp... thì vừa lân la gạ gẫm vừa doạ “công an đấy” để ù té, làm ăn.
Bây giờ ông lão cũng đã khác, không còn cái vẻ ung dung tự tin như một thời tráng kiện, gặp thằng đạo trộm thì sẵn sàng ra oai cho một đòn gánh. Ông lão Tuân ôm cái bị vào lòng tìm một góc khuất, hạ lưng tựa vào mảng tường cáu cáy, giả vờ lim dim. Ông lim dim thế, nhưng rất cảnh giác, một là không để kẻ gian nào mon men lại gần, hai là hễ quầy bán vé đi Phú Thọ mở cửa, là có thể nhỏm dậy, lao tới, đút tiền lẻ vào cái khe bẹp, không lọt bàn tay, nhận tấm vé bằng bìa cứng, bằng hai ngón tay chéo. Ấy nó nhỏ thế nhưng lại đủ sức kéo ông đi mãi tận phương lai xứ sở nào, tuỳ theo cái giá tiền ghi trên đó.
Tự dưng, trong tiếng bát nháo của loài người di động, ông lão nghĩ: sao con người ta lại có số nhỉ? Số may, số rủi, số nhàn, số sướng, số nghèo, số giàu, số có phúc, số bạc phận...? Là ông nghĩ về người em họ, con bà cô ruột mình, tên là Đạo, nhà ở chợ Hoà Bình, đằng kia. Kể ra, thoạt đầu khi tính kế ra đi tìm mẹ con chị Nga, phải qua Hà Nội, ông có nghĩ đến ông em này. Đó là một người họ hàng của ông, tuy không tốt nhưng không thể bảo là anh ta xấu. Không hại ai, cũng không làm lợi cho ai, có chăng chỉ làm cho người ta ghét. Có một dạo, khi bà cô còn sống, anh ta cũng có mấy lần về quê, chả biết thật hay giả, Đạo “thẳng tính” một cách... hợm hĩnh:
- Ối giời ơi! Bác làm gì mà cứ đầu tắt mặt tối thế chả biết. Người Hà Nội chúng em cứ là sáng bảnh mặt trời ra mới chui ra khỏi chăn, mà cũng có kém gì ai. Ờ mà này, nước giếng nhà bác nó làm sao ấy, giặt xà phòng nó cứ nhờn nhờn, kinh bỏ sừ! Nước máy ở Hà Nội giặt đến đâu sạch đến đấy...
Lần khác, anh chàng con cô ông Tuân lại giả lả:
- Nói thật với các bác chứ, đúng là em chả biết gì sất. Thế cái cây kia nó là cây cỏ hay cây lúa?
- Thế chú không phân biệt được cây cỏ với cây lúa à? Ông Tuân đáp nhời ông em. Để tôi kể chú nghe. Ngày xưa, dưới trần gian chưa có cây lúa làm lương thực cho con người đâu... Con người ta sống bằng hoa quả, thịt chim chóc, cào cào châu chấu thôi. Ông Trời thấy thế mới thương tình, cử một ông Thần, đem hai thứ hạt cây xuống gieo cho trần gian có cái ăn. Hai thứ này giống nhau lắm, để cho bọn người ngốc như chú không biết. Một thứ là cỏ, một thứ là lúa. Hạt lúa, Trời bảo Thần reo vung ra cho rộng rãi, còn thứ hạt kia là cỏ thì rắc từng cụm, từng cụm, ít thôi. Thần nghe tai nọ xọ tai kia mới đem gieo cỏ vung ra khắp gầm trời, còn lúa thì rắc từng nhúm nhỏ. Đấy, thế là bây giờ cỏ thì mọc tứ tán, tràn lan, còn lúa thì lại hiếm hoi, ít quá. Thấy thế Trời mới nổi giận, bắt vị Thần kia hoá thành con trâu, xuống hạ giới phải kéo cày để làm ra hạt thóc mà chỉ được ăn cỏ...
Ông Đạo cười khơ khớ:
- Chuyện hay nhỉ? Bố sư, cái lão Thần, à mà cái con trâu ngốc nghếch kia vung nắm thóc ra thì có phải bây giờ sướng biết mấy, chả phải cấy hái đầu tắt mặt tối, cứ việc ra đồng mà gặt lúa, bác nhỉ!?
Khi chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Giôn- xơn, vợ chồng con cái anh ta cũng về ở nhà ông đến hơn hai năm trời. Thế là cũng gắn bó lắm, cũng thân thiết lắm. Nếu bây giờ ông có đến nhờ vả Đạo thì cũng là công bằng, phải lẽ... Ông lão lại nghĩ, ấy những người Hà Nội như Đạo, tuy nói tục như ranh, lưu manh nhất hạng nhưng lúc nào cũng sướng, cũng phởn phơ. Họ ăn nói, đi lại, khạc nhổ... giữa ngoài đường ngoài phố mà không khác gì ông ở trong bếp hay trong chuồng xí nhà mình? Chả thế mà dân gian đã có câu: “Tự nhiên như người Hà Nội”, và cũng những trường hợp tương tự, họ lại nói tránh đi, là “tự nhiên như ruồi”. Ông lão bật cười, thế chả hoá ra người Hà Nội cũng như con ruồi, con nhặng à?
Có tiếng rao bán bánh mì ở ngay trên đầu ông lão Tuân, ông không thấy đói, nhưng ông thèm. Ông thèm cái bánh mì, thèm cái mùi phố thị, và thèm được bát phở xá xíu bốc hơi và mùi thơm của hành mỡ. Thôi nào, thèm thế thôi, chứ ông nhất quyết không mua. Phải hà tiện, đường còn dài... Một cơn mưa ào ạt kéo đến, nước tràn xuống các rãnh nước làm dềnh lên mùi ống cống nồng nặc, lập tức dập tắt cơn thèm của ông lão. Người chạy rầm rập, sát sạt đến bên cái góc tối ẩm ướt của nhà ga. Có hai người thanh niên hạ hành lý của mình xuống cạnh ông Tuân, rồi một người đặt đít xuống chỗ gạch còn trống. Ông Tuân tảng lờ như đang ngủ, nhưng tất cả tinh lực ông đang căng ra, cảnh giác hết mực. Một người nói:
- Bố sư con “phò”( ) , nó tưởng bở ăn, cứ dính lằng nhằng, làm mất cả việc...
Ông Tuân không biết “con phò” là con gì, nhưng cũng đoán ra rằng đó là một con người, mà là đàn bà con gái, chắc là ghê gớm lắm...
- Đéo mẹ, trông người như con ve, mà đòi những một cụ ! Có cho không thì tao cũng làm được một quả! Hơ hơ... tiếng một người khác.
Một “cụ” thì ông biết, và thế là ông cũng biết họ đang nói về một cô gái điếm.
Tiếng hai người đàn ông nói với nhau không to lắm, nhưng cũng không phải là nhỏ, là thì thầm, đủ biết họ từng trải cảnh này. Lại tiếng một người:
- Bình này, mày bảo con phò đấy là dân Hà Nội gốc hay tỉnh nào lên?
- Chắc là dân tứ xứ thôi... Chứ dân Hà Nội gốc nó có tem phiếu, làm gì đến nỗi.
- Tao cũng nghĩ thế, mà như thế thì thì khổ quá nhỉ...
Im lặng một lúc, có tia lửa xoèn xoẹt từ một cái bật lửa bằng xăng, họ châm thuốc hút, mùi khói thuốc lan toả, bỗng dưng ông lão Tuân thấy thèm một mồi thuốc lào. Tiếng Bình:
- Này Ngọc, sao tự dưng tao lại thấy thèm cái hồi chúng mình ở với nhau ở Đac Tô, Tân Cảnh quá. Lúc ấy tao nghĩ, nếu mà sống sót trở về thì dứt khoát không phải khổ, không phải tủi nhục. Nào ngờ...
- Ai mà chả nghĩ thế. Nhưng dù sao bây giờ cũng sướng chán. Có khổ, có nhục một tí nhưng không lo phải chết. Còn giữ được cái gáo là may lắm rồi. Đấy, hôm mày sang tao, bà cụ mẹ thằng Tuyên vừa ở nhà tao về, lại khóc lóc, nhớ thương con. Cái thằng Tuyên bẻm mép ấy. Bây giờ mà có nó đi với chúng mình thì hay biết mấy...
- Hôm nó chết, tao đi nhặt xác nó tan thành mấy mảnh. Hình như chỉ còn có một cánh tay... Tiếng anh tên Ngọc.
Họ lại im lặng. Ông lão Tuân đoán biết đây là hai anh bộ đội phục viên, hình như họ cùng đơn vị với nhau. Giờ họ gặp nhau thế này, không biết họ đi đâu nhỉ?
- Bình, mày bảo có ma không? Là tao hỏi có linh hồn thật không? Họ lại tiếp tục câu chuyện.
- Tao không biết, mà từ bé đến giờ tao có gặp ma bao giờ đâu.
- Tao thì nghĩ là có. Hôm chôn cất thằng Tuyên xong, đêm về đến phiên tao gác, có một con đom đóm to bằng quả trứng gà ấy, nó cứ lởn vởn quanh trận địa. Tao cũng sợ, đom đóm gì mà to thế, chưa thấy bao giờ. Lúc sau nó cứ chập chờn, đến gần chỗ tao, rồi lại lảng ra. Bất đồ tao nghĩ hay là linh hồn thằng Tuyên? Tao hỏi nhỏ, gần như là nói thầm, sợ có người nghe thấy. “Tuyên ơi, có phải mày không? Nếu đúng là mày thì bay bổng lên cho tao biết. Có thiếu gì thì đợi ngày hoà bình về, chúng tao cúng, chứ bây giờ thì chả có gì đâu”. Là tao cứ lẩm bẩm thế, bất ngờ cái cục sáng đó vọt lên trời cao, rồi tắt ngấm... Tao vừa sợ, vừa tiếc. Giá nó đến gần hơn, cho mình hỏi một câu.
- Mày định hỏi câu gì?
- Thì câu gì cũng được. Mà tao sẽ hỏi bao giờ thì chiến thắng, thì hoà bình?
Tiếng cười khùng khục của Bình:
- Mày chỉ hỏi vớ vẩn. Nó là lính tráng như bọn mình thì biết quái gì mà hỏi.
- Biết chứ! Người chết trẻ là thiêng lắm. Chưa biết chừng, ở trần gian nó làm lính, lúc chết nó làm tướng cũng nên. Với lại ở cõi trên, cái gì chả biết. Đấy mày xem, chúng mình là người trần, mắt thịt ở dưới này, đứa nào làm cái gì thất đức, ác độc, trên ấy biết cả đấy...
Không thấy Bình nói gì, ông lão Tuân thấy yên tâm. Ông bỗng thấy quý mến hai người bạn đồng hành đêm nay.
- Nếu thế thì tao phải khấn thằng Tuyên mới được. Tuyên ơi, bữa nay tao với thằng Ngọc đi mót sắn, mày có khôn thiêng thì phù hộ cho chúng tao mỗi đứa kiếm được một gánh về đỡ vợ con. Ở nhà chúng nó đang đói... Có tiền chúng tao sẽ cúng mày một con gà thật ngon, có cả lá chanh, chấm muối ớt...
- Sau đó để chúng tao hưởng lộc... Có thêm cút rượu nữa chứ!
- Ừ đúng đấy! Mỗi thằng một cái đùi... Nhưng thôi, chưa nói trước, sợ bước không qua. Càng nói càng thèm!
Ông lão thấy thương hai chàng trai quá. Mà ông cũng thèm một cái đùi gà thật thơm, thật vàng, và một hớp rượu thật cay, thật nồng. Cơn thèm vội vã cọ quạy vào ngực ông, khiến ông bật ho thành tiếng.
- Ai thế? Mày ngó xem có phải cảnh giác không?
Khuôn mặt Bình hình xương xương ngó xuống sát mặt lão Tuân, thì thầm: “Một ông cụ”. Lão Tuân mở mắt:
- Các anh đi đâu thế?
- Chúng con đi mót sắn đây. Thế cụ đi đâu?
Ông lão ngồi thẳng dậy, nhìn hai khuôn mặt, sao ông bỗng thấy hao hao nhang nhác khuôn mặt anh Kỳ:
- Tôi nghe các anh nói chuyện hết rồi. Ở bộ đội về mà khổ thế à?
Ngọc cười:
- Khổ sở gì đâu hả cụ. Chúng con nói chuyện vui thế thôi. Thế cụ có đi mót sắn với chúng con không? Nhìn hành lý của cụ, chắc cụ cũng phải đi xa lắm nhỉ?
- Tôi lên Phú Thọ, tìm người nhà...
- Thế thì đi với chúng con, chúng con cũng lên thị xã Phú Thọ đây! Rồi từ thị xã chúng con còn đi nữa. Thế người nhà của cụ làm gì? Là con hay cháu? Đàn ông hay đàn bà?
Ông lão Tuân ngẩn người ra trước những câu hỏi dồn dập của hai anh cựu binh. Lát sau ông nói:
- Là con. Con dâu, với lại con nó...
- Thế chồng nó đâu mà để cụ phải lặn lội thế này?
Bỗng ông lão rớm nước mắt, ngập ngừng:
- Chồng nó, con trai tôi chết rồi... ông lão dường như nghĩ ngợi không biết có nên nói ra không. Sau, ông nghĩ là có nói ra với hai anh cựu binh này cũng chẳng việc gì. Con trai tôi cũng trạc tuổi các anh, nó hy sinh rồi, ở mặt trận phía Nam!
Hai anh cựu binh nhìn nhau im lặng. Mặt trận phía Nam là một mặt trân mênh mông, bạt ngàn rừng rú, làm sao mà biết một nơi nào cụ thể. Tất cả các loại giấy tờ liên quan đến người lính chỉ có một địa danh duy nhất. Cuộc chiến đấu của họ mang nhiều yếu tố bí mật, đã đành, suốt một thời gian dài, sự có mặt của anh bộ đội miền Bắc ở chiến trường miền Nam không được coi là hợp pháp. Đến cả những anh hùng, dũng sĩ cũng chỉ được báo chí nêu lên bằng cái tên rất dễ thương: chiến sĩ quân giải phóng, và giấu biệt tăm tích quê hương, nếu anh ta là người ra đi từ miền Bắc. Đã có hơn một triệu người như thế, mà sau này chính các anh mới biết. Đã có một cuộc lưu lạc tập thể, rầm rập bước quân hành mà chỉ có rừng, có đất mới hiểu nổi những bước chân các anh. Rồi ngày chiến thắng trở về, hàng trăm đoàn xe, đoàn tàu hoả đưa các anh trở lại quê hương, nhưng với những người đã ngã xuống, họ nằm lại với một địa chỉ quy ước: mặt trận phía nam!
- Quê cụ ở đâu? Sao con dâu cụ không ở nhà, mà lại bỏ đi để cụ phải đi tìm?
Ông lão Tuân nghĩ cách nói tránh đi sự thật, nhưng ông vẫn chưa nghĩ ra được câu chuyện hợp lý. Mãi lúc sau, ông mới thở dài:
- Chuyện nó cũng dài dòng lắm, các anh ạ. Chuyện cơm chẳng lành, canh không ngọt, để nó bế con ra đi...
Bình, anh chàng có khuôn mặt xương xẩu, cặp môi thâm và cong tớn, đặt cái ba lô con cóc lộn trái sang một bên, giọng gay gắt:
- Thế là tệ! Đàn bà thế thì tệ thật. Chồng đi B, hy sinh mà dám đem con bỏ nhà ra đi thì thật là quá lắm. Thế cụ có biết cô ta ở đâu không?
- Không, không phải thế đâu các anh ạ. Con dâu tôi tốt nết lắm. Chỉ tại gia đình nhà tôi không ưa nó nên mới nên nông nỗi. Hai anh, có anh nào ăn thuốc lào không?
- Không cụ ạ! Nếu cụ thèm thì ra cái quán nước đằng kia mà hút nhờ một điếu, để chỗ đấy chúng con trông cho. Hay cụ hút thuốc lá?
Ông lão vuỗi lưng đứng dậy:
- Tôi không hút được thuốc lá, ho lắm. Nhờ các anh giữ hộ tôi cái túi, tôi đi hút điếu thuốc. Từ tối đến giờ chưa được hơi thuốc, nhạt mồm quá!
Hai anh cựu binh nhìn theo cái lưng to bè, chắc chắn, nhưng đã hơi còng xuống của ông lão mà ái ngại. Ngọc bảo:
- Giá bố mình còn sống thì cũng trạc ông cụ này...
Bất thình lình có tiếng loa nhà ga ọ oẹ, rồi một giong nữ phát thanh nhão nhoét theo truyền thống các nhà ga đường sắt vang lên:
“Đoàn...à tàu...à Hà...à Nội...ỳ Lào...à Cai...a đang...a từ...ừ từ...ừ tiến...ư vào...à ga...a Hàng...à Cỏ...!”
Ô cửa sổ bán vé bỗng nhiên bật sáng, lập tức hàng chục con người nhào tới, bâu kín. Một anh nhân viên bảo vệ đồng phuc xanh thẫm, đeo băng đỏ, tiến đến, bằng một giọng ngái ngủ nhưng vẫn toát ra một giọng nói của kẻ vốn xử dụng quyền uy quen thuộc:
- Xếp hàng vào! Hàng hai! Chen nhau mất trật tự thế này nhà ga bán vé thế nào được?!
Ngọc vừa giũ quần đứng lên, vừa ngó quanh:
- Quái, ông cụ này đi lâu thế nhỉ? Bình, mày ngồi đây đợi ông cụ, để tao ra xếp hàng!
Vừa đói, vừa thèm thuốc, điếu thuốc lào đã vật ông lão Tuân say lâu quá. Phải mãi ông mới lật đật chạy về chỗ ngồi, nhưng nghĩ sao ông lại chen vào xếp hàng. Nhận ra ông, Ngọc bảo:
- Cụ cứ về chỗ khi nãy, để cháu mua vé cho. Cụ di Phú Thọ à?
- Thế anh mua hộ tôi nhá! Vừa nói ông vừa móc túi ra một nắm tiền. Đây tôi có tiền đây, anh cầm mua giúp tôi!
- Thôi con có đây rồi, tí nữa con lấy sau. Cụ cứ cất đi. Cẩn thận cụ ạ, kẻ trộm nó móc mất bây giờ...
***
Theo kinh nghệm cũng như kiến thức sư phạm của mình, chị Nga hoàn toàn thất vọng khi dạy cho thằng Hận học những chữ cái đầu đời. Dù cố gắng hết sức nhưng chị không làm thế nào để thằng Hận học. Nó ngúng nguẩy, không chịu học, và nếu cố gắng lắm, chị Nga bắt nó ngồi vào bàn để học thì nó chỉ cười một cách hồn nhiên. Mọi lời nói từ ngọt ngào, dỗ dành đến qua doạ đều không có kết quả. Chị cố gắng dậy cho nó vẽ một hình tròn, bảo nó đọc đấy là chưa “o”, thì nó đọc thành “a”, và vẽ một hình tam giác. Một tháng trời không thể nào dạy cho nó vẽ được một hình tròn và chữ “o”. Nhưng nếu chị dạy nó vẽ chữa “a” in, hình tam giác, thì nó vẽ một hình vuông!
Chị không chịu đầu hàng, thử làm một vài trắc nghiệm khác nữa, thì chị nhận thấy thằng con trai thiên thần của chị hoàn toàn là một đứa trẻ chậm phát triển. Nó không thể nào phân biệt được dài hơn với ngắn hơn, lớn hơn với bé hơn. Cũng như, nó không phân biệt được trong với ngoài, trước với sau… Đây là một đòn giáng mạnh vào chị Nga, mà chị không biết kêu ai, ngoài Ông Trời!
- Trời ơi là Trời! Sao ông nỡ ăn ở bất công đến thế? Nếu tôi có tội tình gì thì hãy bắt tội tôi đây, chứ nó là một đứa trẻ, sao Trời nỡ hành hạ nó? Nó đã làm gì nên tội? Tất cả sai lầm hay tội lỗi do tôi gây ra tôi đều nhận hết! Dù Trời có bắt tôi phải cực khổ, vất vả, làm thân con chó, con trâu… nhưng hãy để cho con tôi được yên! Mà bao nhiêu năm nay và rồi có khi là hết cả cuộc đời này, tôi đã là một kẻ hèn mọn, sống cơ cưch đến thế mà Ông vẫn chưa hả hay sao?
Nhiều đêm chị vật vã, không ngủ được. Mà hễ cứ nhắm mắt lại, thì lại mơ thấy thằng Hận. Nó ngờ ngệch, bơ vơ, khi chị không còn trên cõi đời nữa… Con ơi! Con ra đời là gì cho cơ khổ thế này! Có con, mẹ đã chịu bao nhiêu tai tiếng, cay đắng, nhục nhã. Nhưng dù cho cây đắng, tủi nhục đến đâu mẹ cũng chịu đựng được, chịu đựng để có con, có mẹ. Mẹ chỉ mong con được thành người, một con người bình thường như mọi người. Nào ngờ, con lại ra nông nỗi này!
Chị không muốn truy tìm nguyên nhân, nhưng chị luôn ân hận. Đó là chuyện nó bị ngã xuống sông, chết đuối hụt. Có thể sau cú chết hụt đó và những trận sốt ly bì, đã làm hỏng thằng bé. Cụ thể là đầu óc nó làm sao đó.
Nhưng cứ nhìn nó ăn, nó chơi, nó lớn lên phổng phao, xinh đẹp thì chị lại không thể nào tin được. Lần chết đuối hụt và những cơn sốt nếu có gì thì ảnh hưởng đến cơ thể bên ngoài của nó thôi chứ? Đằng này, nhìn nó không ai có thể ngờ được nó lại là một đứa trẻ tâm thần, ngờ nghệch?
Tất cả là tại Trời! Có lẽ Trời xanh đã nổi giận! Chuyện loạn luân trong nhà giữa bố chồng và nàng dâu đã lay động đến lòng tự ái của Trời Già! Các người đã dám tự ý sắp đặt, tự ý sinh con đẻ cái. Cái sự tuyệt tự của dòng họ Trần phải xảy ra, phải được thực hiện theo ý của ta. Bất cứ kẻ nào can thiệp vào đều bị ta hành hạ, tiêu diệt…
- Không! Chị Nga đã cố cãi lại, trong đêm đen đặc, màu than và mùi than đá. Chị đã cãi phăng phăng, dù đó là Ông Trời! Nếu không có chiến tranh, không có cuộc binh lửa thì chồng tôi đã không phải ra trận. Sẽ không có người chết, sẽ không có cảnh chồng vợ chia lìa! Lúc đó những đứa con sẽ được sinh ra đàng hoàng dưới ánh sáng mặt trời, minh bạch! Nhưng các người đã làm gì? Trời xanh có mắt như mù. Tại sao cứ đem can qua binh lửa đến cho chúng tôi. Chúng tôi không thể tuyệt tự được, chúng tôi phải tồn tại và kéo dài mãi kiếp người, loài người…
Tự dưng trong đêm tha hương, chị Nga nhớ về quê nhà, và chị thấy thương ông lão Tuân! Ông lão bố chồng và là cha của con trai chị, là nối tiếp, là không dứt bỏ một giòng giống, vốn cũng đã được duy trì trong nhiều thế hệ. Bây giờ ông lão đang ở đâu? Liệu ông có hối hận về việc mình làm không? Liệu ông lão có khi nào tự xỉ vả mình vì sự hèn nhát của mình trước dư luận xóm làng, và trước những người con gái hàm hồ của mình không? Nếu ông lão can đảm và thương yêu chị, có thể chị đã không phải bước những bước gập ghềnh đầy bất trắc trên con đường lưu lạc này? Và nếu ông lão nghĩ lại và hối hận, biết đâu chị Nga sẽ quay trở về với cái làng Sơn Cốt bé bỏng kia?
Đêm gió bấc đầu mùa kéo về đột ngột, sột soạt ngoài vườn chuối, hai dòng nước mắt của chị cứ tuôn dài xuống chiếu, ướt đẫm cả một bên má con trai…
***
Sáng sớm ngày thứ tư, kể từ khi đặt chân lên đất Phú Thọ, ông lão Tuân trở dậy sớm hơn mọi ngày. Trong bóng tối lờ mờ, nhờ ánh trăng già thấp thoáng sau ngọn bạch đàn, ông lão ngồi lần mò đếm lại số tiền trong túi. Năm- mươi- hai đồng một hào tám, là số tiền còn lại, gồm hai đồng tiền to (mười đồng), ba đồng tiền nhỡ (năm đồng), còn bao nhiêu là tiền nhỏ, tính cả vài đồng xu lắc cắc, ông xâu vào một sợi lạt.
Bây giờ, với số tiền này, làm sao có thể sống đến khi tìm được “nó”? Ông lão bần thần ngồi tựa lưng vào tấm vách ẩm, hai bàn chân lùa vào cái bao tải rách, chống rét và chống muỗi, thỉnh thoảng lại giật bần bật. Chứng thấp khớp kinh niên gặp gió lạnh và khí ẩm lại lên cơn hành hạ. Nhưng ông không thấy thế làm đau, không thấy thế để nản chí.
Bây giờ, với số tiền còm trong tay, ông lão đã thấp thoáng có ý nghĩ ân hận về việc ra đi của mình. Đây là một cuộc tìm kiếm vô vọng. Chỉ có một nguồn tin mập mờ từ anh bạn của Định Khiểng, người giao thông xã. Ông muốn tìm người bạn của Định, nhưng lại không dám. Ông muốn việc làm của ông phải được giữ kín, tuyệt đối giữ kín. Chính vì muốn giữ kín nên ông lão Tuân không thể đem đi được nhiều tiền. Muốn có nhiều tiền phải bán thóc, bán gà, bán lợn… Thậm chí có thể bán cả chiếc xe đạp của chị Nga để lại. Nhưng như thế sẽ ồn lên, đến tai mọi người và bị lộ, chưa chắc ông đã đi được.
Nhưng ông lão đã quyết đi. Và bây giờ trong tay ông có ba nước cờ, ông lão đã bày tính kỹ lưỡng. Nhưng cũng như người ta ngồi vào bàn cờ, quân chưa đi, đối phương chưa bộc lộ, thì chẳng có nước nào đáng tin cậy.
Trời sáng dần, ông lão nhìn quanh, thu xếp đồ lề, cuộn tròn lại trong cái tay nải, lững thững đi về phía chợ. Mấy ngày qua ông đã đi tha thẩn như người nhàn rỗi, thấy người thiếu phụ nào dặt con, ông đều ghé mắt nhìn. Đôi khi gây ra những điều khó chịu cho người ta. Vậy mà người ông tìm vẫn chưa thấy.
Hôm nay khác, một nước cờ nhỏ đã được thực hiện. Ông không đi mà ngồi một chỗ ở cổng chợ. Cái nón mê úp lên đầu, chỉ chừa một khoảng để con mắt nhìn nghiêng lên có thể thấy người qua lại. Một bàn tay chìa ra hờ hững… Thỉnh thoảng, rất lâu ông mới lên tiếng, hình như chỉ đẻ cho phải lệ:
- Bà ơi, ông ơi… Xin ông bà rủ lòng thương kẻ già nua, đơn chiếc…
- Khổ quá mất thôi! Một bà lên tiếng lẩm bẩm, tuy nhỏ thôi lại giữa chợ ồn ào nhưng ông vẫn nghe được. Thời buổi đói kém, ăn mày, ăn xin ở đâu mọc ra lắm thế…
Ông lão nghe tiếng người than vãn, trách quở, và cũng nghe được, tiếng đồng xu rơi “cạch” xuống cái bát sắt. Ông hờ hững nhặt lên, nhìn chăm chú. Đây là đồng tiền đầu tiên trong cuộc đời ngoài sáu mươi của mình, ông lão kiếm được từ ăn mày thiên hạ. Không sao! Nó có thể giúp ta thực hiện được ý nguyện.
Từ hôm ấy, ông Tuân trở thành kẻ ăn mày. Ta chợ, ông lần mò đi vào các ngõ ngách. Đó là một nước cờ, nhưng cũng là một kế sinh nhai. May mắn thay, đây là chốn tha hương, không có người nào quen biết. Ông lão yên tâm…
Thế rồi một ngày kia, mưa phùn lâm thâm, cái rét của trời đất cùng với cái lạnh tha hương, lưu lạc và kiếp ăn mày làm ông lão chùn chân. Ông ghé vào một cái quán nước nhỏ nằm nép cạnh cái nhà kho để hút nhờ điếu thuốc lào. Mấy cái cột tre chống xiêu chống vẹo đỡ mấy tầu lá cọ rung lên phần phât. Cả buổi sáng không hút, giờ đây hơi thuốc làm ông say lử đử. Ông lão loạng choạng, tay quờ quạng, bám vội vào cái cột tre, suýt hụt, mãi mới vớ được khúc gióng, làm cả cái lều được thể rung lên răng rắc. Đầu ghế bên kia một anh thanh niên có khuôn mặt vuông, hai quai hàm nở nang, nhìn ông chằm chằm, khiến ông thấy ngượng . Ông không ngượng về cơn say thuốc lào, cái thứ thuốc ma này hút phải say. Có say mới là thuốc lào chính cống. Ông ngượng về thân phận của mình, đã là kẻ ăn mày còn ngồi nhai xôi gấc. Nhưng có lẽ chẳng ai biết ông ăn mày, mà chỉ có ông biết ông thôi, nhưng dù sao cũng ngượng lắm. Đã ngửa tay xin đồng xu của thiên hạ thì còn gì là con người nữa, đến cả ngồi trong cái quán lụp sụp này, ông cũng chẳng còn quyền ngồi ngang với người ta. Ông phải ngồi xuống đất, ngồi ra xa góc kia cơ! Ông lão tự giày vò mình. Bông nhiên anh thanh niên ngồi nhích lại, miệng nở:
- Cụ ngồi nhích vào trong này cho đỡ hắt. Gớm trông cụ hút điếu thuốc mà phát thèm…
Ông lão cười tróm trém:
- Thuốc ngon là nó say thế đấy anh ạ. Anh có hút không?
- Thỉnh thoảng thôi cụ ạ. Dạo trước con còn đi rừng thì hay hút, bây giờ ở nhà, chả làm gì, cũng phải bỏ, cụ ạ.
- Đây, thuốc đây, anh có ăn một điếu thì ăn! Trời rét thế này, có hơi thuốc vào nó cũng ấm. Bà chủ quán, cho tôi xin một chén nước…
Người thanh niên kia mỉm cười, nửa như muốn xin điếu thuốc, nửa lại quyết bỏ, chần chừ không dám. Mãi sau, anh nói:
- Đâu? Cụ cho con xin điếu thuốc! Rét thật đấy…
Ông lão vạch áo đưa cho anh thanh niên gói thuốc:
- Thuốc ngon đấy! Lâu không hút, anh làm cái này là say phải biết!
Anh thanh niên châm lửa từ que đóm, rít một hơi, bỗng nhả khói ra rồi ho sặc sụa. Anh ho đến nỗi bà chủ quán phải lắc đầu:
- Rõ khổ, không hút được thì tập tọng làm gì không biết!
Anh ngồi ngẩn ra một lúc, lấy lại sức rồi trả lại gói thuốc cho ông lão, chữa ngượng:
- Dạo trước con cũng hút nhiều lắm, mấy năm nay bỏ nên hút lại không được. Mà cai anh thuốc lào nó phải say, đến mấy giây ấy, như người ta thăng thiên, cụ nhỉ?
- Thế là anh biết hút đấy. Anh người ở đây hay từ nơi khác đến?
- Dạ, con ở dưới xuôi, lên Yên Bái đảo sắn.
Bà chủ quán răng đen, cũng là người xởi lởi, thấy vậy thì hỏi:
- Đi Yên Bái sao còn xuống đây?
Anh tần ngần một lúc, rồi nói nhỏ, như người có lỗi:
- Mấy năm nay rồi, năm nào mùa này cháu cũng lên Yên Bái. Mà… nửa đường cháu xuống đây tìm một người quen. Bà ở đây lâu chưa?
Bà chủ quán, rót từ cái tích ủ ra đầy hai chén nưới, cười thân tình:
- Tôi cũng người dưới Nam Định, lên đây từ hồi còn con gái, dạo đánh nhau với Pháp ấy. Sau lấy chồng, hoà bình rồi ở lại đất này…
- Cháu hỏi bà, thế bà có biết thầy giáo Hoan hồi chống Pháp dạy học ở đây không? Dạy bình dân học vụ…?
Bà chủ quán nghĩ ngợi:
- Thầy giáo Hoan à? Dạy bình… dân… hoc… vụ? Không, tôi không biết! Những người có tuổi thì có nhẽ biết đấy. Mới lại tôi có đi đến đâu. Ông ấy là thế nào với anh?
- Dạ không! Cháu cũng có biết mặt đâu, nghe người nhà nói lại thế thôi…
Trong lúc anh thanh niên vãn chuyện với bà chủ quán, ông lão ăn mày làm như người ngoài cuộc. Ông lão né nửa người ra ngoài mưa, nhìn đâu đó. Anh thanh niên tiếp:
- Thế mấy năm nay bà có thấy một chị phụ nữa có đứa con trai đọ chừng ba, bốn tuổi từ nơi khác lưu lạc đến đây không?
- Nhiều lắm! Ối giời, mấy năm nay giờ làm đói, người tứ xứ đổ về đây nhiều lắm. Họ đến một dạo, không sống nổi, lại đi… Thế anh tìm ai?
Anh thanh niên hơi ngần ngừ:
- Dạ cung một người làng thôi. Năm sáu năm nay, cháu đi tìm, mà chẳng nghe phong thanh gì!
- Khéo thường đi rồi! Có khi đi mãi lên Lào Cai, Yên Bái… Mà cũng có cả người vào tận trong Nam nữa kia… Thời buổi này, chim trời cá nước, biết sao mà tìm!
Ông lão ăn mày vẫn để tâm nghe câu chuyện, dù cố làm như không để ý. Sao người ta lại đổ dồn về cái thị xã nhỏ bé, toàn nhà tranh vách đất này nhỉ? Để rồi người ta lại đổ đi tìm kiếm một cách tuyệt vọng như thế nhỉ? Đâu có phải mình ông, đâu có phải chỉ có một mẹ con cô Nga? Thiên hạ không chịu ở yên một chỗ, mà thiên hạ cũng không chịu để cho nhau được ở yên một chỗ. Vừa suy nghĩ miên man ông vừa nhìn ra đường, câu chuyện của bà chủ quán và chàng thanh niên có khuôn mặt vuông chữ điền vần rỉ rả:
- Anh đi có một mình thôi à?
- Có một anh bạn nữa, cũng nể cháu, anh ta xuống đây. Có lẽ tối nay hai đứa lại nhảy tàu đi Yên Bái.
Mưa bắt đầu nhẹ dần, nhưng gió thì tạt mạnh hơn. Con đường nhỏ lớp nhớp bùn trước cửa quán, thỉnh thoảng lại có người đi như chạy, như có ai đuổi sau lưng để tránh gió, tránh mưa. Ở đâu đó, trong những ngôi nhà ấm cúng đang đợi họ. Chàng thanh niên như sốt ruột:
- Ở thị xã này, ngoài cái cửa hàng ăn uống chõ ngã ba, còn chỗ nào bán cơm không bà nhỉ?
Bà chủ quán lắc đầu:
- Chỗ đấy bán phở, mà phở cũng làm bằng bột sắn, bột mì thôi, Anh muốn ăn cơm phải có tem gạo. Ra phía chợ có mấy bà bán cơm nhưng phải quen mới nhận ra. Anh cứ thấy bà nào có hai cái làn mây to tướng, ngồi thu lu là bán cơm đấy. Nhà nước quản lý lương thực mạnh lắm, ai bán là bị bắt, tịch thu rồi còn phạt nữa!
- Vâng! Ở dưới cháu cũng thế, nhưng người ta vân bán. Chứ không ai đi đâu xa, không là cán bộ, không có tem gạo thì có mà chết đói, bà nhỉ…
Bông vẻ mặt anh thanh niên tươi hẳn lên, nhìn người thanh niên khác đang co ro chạy đến:
- Sao lâu thế?
Anh kia ngồi sà xuống, hai tay xoa vào nhau:
Chờ mãi cho vãn người mới hỏi. Đây này… Anh ta chìa ra một cái gói nhỏ, bên trong là hai cái áo may ô dệt kim. Cô bán hàng cảm tình lắm đấy. Hồi trước bọn mình cùng học cấp hai. Mình đi bộ đội, cô ta đi thanh niên xung phong. Bây giờ theo chồng lên đây bán cửa hàng mậu dịch.
- Có hai cái áo mà mất cả buổi chiều lại còn mang ơn, mang nợ. Tớ thì chả cần!
Anh kia cười xoà, nhét cái gói vào túi của mình:
- Chuyện tình cảm thôi. Khi nào về, ghé qua chơi, cô ấy nói thế. Chả gì cũng đồng hương. Này, thế cậu vẫn đang tìm người trong mộng đấy à?
Anh mặt chữ điền, lắc đầu:
- Vô vọng lắm! Mấy năm rồi còn gì!
- Sao dạo ấy không đi tìm ngay?
- Thì đi ngay đấy, nhưng có biết gì cụ thể đâu. Bây giờ gặp lại chưa chắc đã nhận ra nhau…
Anh thanh niên đến sau, châm một điếu thuốc lá, phả khói. Làn khói tan biến vào ngọn gió bấc. Thấy bạn mình im lặng, anh giật áo:
- Này Tĩnh! Chuyến này ta không mót sắn nữa…
Người có khuôn mặt vuông chứ điền chính là anh thợ san tràng tên Tĩnh. Nghe bạn nói thế, Tĩnh quay lại hỏi:
- Thế biết làm gì?
- Tớ có ít vốn đây, của cô bạn mậu dịch cho mượn đấy. Ta mua sắn khô, về bán. Vừa nhẹ sức lại vừa có lời…
Tĩnh ngạc nhiên:
- Cho mượn vốn? Bao nhiêu mà dám liều thế? Liệu có đòi được không? Thời buổi này…
Anh ta cười:
- Thời nào cũng thế. Có tin nhau mới sống được. Cô ấy còn bảo: nếu anh biết buôn bán, lên đây em chạy hàng cho, không cần vốn! Mình bảo “Cái thằng Thuận này, từ bé chỉ biết đánh dậm, lớn lên cầm súng, biết buôn bán bao giờ”. Thế là cô ấy cười: “Cứ tập dần đi thành quen”. Mình nói: “Quen thì hết sạch cả vốn”. Ấy thế mà cco ấy còn cười mình nữa chứ: “Có hết vốn mới biết buôn bán”. Tĩnh này, gần tới giờ tàu rồi, chúng mình ghé cửa hàng ăn uống, làm xuất cơm đi. Tớ có tem gạo đây!
Tĩnh cười:
- Lại của cô bạn học cùng lớp?
- Tất nhiên rồi! Thuận nheo mắt. Nhưng rồi mình sẽ có cách trả lại. Mình đâu phải là thằng hèn, nhất lại là bạn cùng làng.
Tĩnh thầm nghĩ: thằng Thuận này thế mà đỏ số. Nghe người ở nhà nói có cô bạn cùng xã, lấy chồng lên đây, thế mà nó tìm ra ngay. Lại còn được trợ cấp nữa chứ! Thế mà mình đổ bao nhiêu công sức và thời gian mấy năm trời mà vẫn biệt vô âm tín. Có lẽ số trời nó thế mất rồi. Tĩnh thở dài:
- Đi thì đi. Bà ơi, cho cháu thanh toán này…
Vừa lúc ấy, phía con đường lầy trước mặt, có bóng một phụ nữ đi qua. Ông lão nhận ra ngay đấy là chị Nga. Ông lão thì nhận ra ngay, còn Tĩnh cũng nhìn theo cái bóng dáng ấy, nhưng anh không nhận được. Ông lão đã có cả một quãng đời gắn bó, nợ nần với chị dù xa cách sáu bảy năm. Còn anh chàng Tĩnh tội nghiệp, chỉ có vài ngày bên chị, lại tất tưởi những lo toan, làm sao mà nhận ra được, lại từ phía sau lưng, với dáng đi như trốn chạy của chị.
Ông lão lập cập quơ gậy và cái tay nải của mình, móc vội mấy hào lẻ đưa cho bà chủ quán. Nhưng Tĩnh đã gạt lại:
- Cụ có chén nước chứ gì? Thôi để con. Cụ vội thì cứ đi đi…
- Không mà! Anh đẻ tôi trả phần tôi chứ! Ông lão cố đưa nhưng bà chủ quán không nhận:
- Thôi, ông để đấy, tôi biếu ông chén nước. Già cả rồi…
Ông lão đành cám ơn một cách đầy mặc cảm rồi vội vàng theo hút người đàn bà mà ông tin chắc đó là chị Nga. Ông lao đi trong gió lạnh, chỉ sợ bóng cái áo len màu gụ mất dạng.
***
ĐOẠN 15
Chị Nga không biết có người đang theo sát chân mình, nên cứ chạy co ro trong gió. Chiếc nón lá già thỉnh thoảng lại bị gió lật nghiêng, khiến chị phải vừa chạy vừa giữ. Mưa đã ngớt nhưng vẫn còn thấm ướt lưng áo. Chiếc áo len gụ cũng thấm đẫm nước mưa. Không sao, tí nữa chị có thể hong khô ngay trên mặt bếp lò than của cửa hàng, chị vừa đi vừa mỉm cười một mình.
Đằng sau chị một quãng xa, ông lão cũng rảo chân theo sau. Thỉnh thoảng đến chỗ ngã rẽ, ông cố chạy lên để không bị mất dạng người ông đang tìm. Đến khi thấy người đàn bà rẽ vào cửa hàng ăn, ông đinh ninh chị vào ăn hàng. Ông thu xếp một chỗ ngồi bên dưới một mái hiên nhà kho, chờ đợi như một người qua đường trú mưa, nhất là trông ông trong bộ dạng một lão già hành khất như thế này.
Thấy chị Nga vào đã lâu, ông lão sốt ruột. Ông đứng dậy, hai chân đã tê cứng vì ngồi xổm quá lâu. Ông băng qua đường mon men nhìn vào bên trong. Tuy trời hãy còn sáng nhưng ánh đèn măng- xông sáng rực rỡ, khiến ông lão hơi bị loá mắt. Những người khách ăn quà lác đác đứng dậy, thỉnh thoảng mới lại có người vào, ai cũng lôi thôi một kiểu hành trang như khách vãng lai. Ông lão cũng vào, nhưng không định ăn gì, cũng chẳng có ai hỏi. Lạ nhỉ, hay là cô ấy lại biến đi đâu, hay lúc cco ấy trở ra, ông không nhìn thấy? Không nhẽ thế, ông không rời mắt khỏi ba cái cửa của cừa hàng kia mà. Chờ cho đến lúc một cô gái don bàn đến gần, ông đánh bạo đến gần hỏi khẽ:
- Này cô gì ơi?
Cô phục vụ mặc cái tạp dề trắng loang lổ nhìn ông, như chờ đợi. Thấy thế, ông lão lại ngập ngừng, khiên cô ta phải hỏi lại, giọng đĩnh đạc:
- Cụ – ăn – gì?
Ông lão giật mình, lắp bắp:
- Không, tôi không đói…
- Khổ quá, thế thì ra ngoài kia. Không ăn thì hỏi cái gì?
- Tôi… tôi hỏi khí không phải. Trong cửa hàng có chị cán bộ nào tên là Nga không hả cô?
- Nga nào? Không coa chị cán bộ nào tên Nga cả. Ông ra ngoài kia mà hỏi.
Ông lão thất vọngđinh quay đi thì cô phục vụ tạp dề loang lại xẵng giọng:
- Nga hả?
- Vâng! Ông quay lại khấp khởi.
- Có phải có một đứa con trai cùng đi không?
- Vân đúng đấy ạ!
- Hừ, thế mà bảo chị cán bộ? Có, có Nga đấy, nhưng mà Nga nắm than ở đằng sai kia kìa…
Cô phục vụ hất hàm ra phía sau, rồi ngoa ngoắt bưng chồng báy ô tô đi vào.
“Thế là đúng rồi! Thì ra cô ấy đã vào làm ở cửa hàng này. Nắm than à? Cũng tốt rồi. Cũng tốt cho cô ấy, và cũng tốt cho thằng con của ta! Thế mà bao nhiêu lần qua đây, ta không hề để ý. Thế là tôi tìm được cô rồi, cô Nga ơi… Bây giờ giữa thiên hạ này ta là chồng, cô là vợ, thăng Hận là con trai của ta. Nó là thằng nối dõi dòng họ Trần ta. Nó là thằng chống gậy đưa ta xuống mồ. Nhưng sao lại tênlà Hận nhỉ? Thì ra cô ấy hận ta! Cũng phải thôi. Nhưng cô đừng trách tôi, nếu đừng có chiến tranh, đừng có bắn nhau. Mà dù có đánh nhau kịch liệt đi nữa, thì sao thằng Kỳ lại hy sinh? Bao nhiêu người đi cũng khối người trở về đấy thôi! Ta vô phúc! Nếu không, thằng Kỳ có đi đánh nhau mà để lại đứa con cho ta, cho ta tthằng cháu nội. Mà nó chưa có con thì nó cũng đừng chết trận! Đừng chết, để mà về với vợ, mà sinh con đẻ cái cho ta… Nếu vậy thì đâu đến nỗi? Khổ thân tôi, khổ thân cô!”.
Ông lão cứ tiếp tục độc thoại giữa cửa hàng, nơi kẻ ra, người vào như thế, nếu như ông không nhìn thấy hai chàng trai Tĩnh và Thuận khi nãy ở ngoài quán nước đang đi vào cửa hàng. Ông vội lách qua một bên cửa (tất cả có ba cái cửa cơ mà), đi vòng ra bên đầu hồi, nhìn quanh thấy một đống gạch vụn, ngồi xuống. Từ đây ông có thể nhìn ra phía sau cửa hàng, nơi lô nhô nhà cửa. Mẹ con thằng Hận ở trong ấy. Chắc chắn rồi! Ông đinh ninh thế và bắt đầu nghĩ đến nước cờ của mình.
Có lẽ ông phải tìm gặp ngay cô Nga để khuyên nhủ cô ấy trở về làng. Không ai còn cười, không ai còn nhớ. Làng Sơn Cốt của ta tuy ác khẩu, cong môi nhưng cũng chả chấp lâu. Cứ về, cứ sống đàng hoàng, không sợ gì mấy đứa con gái lăng loàn, ác nhân của tôi. Chúng nó mà chành chẻ thì ông đuổi, ông từ, ông sẽ công khai nói cho cả họ, cả làng nước biết thằng Hận là con trai ông. Chứ ông mà sợ?
- Về đi, Nga ơi! Về làng, có nhà có ruộng cho con chúng ta. Nó sẽ lớn lên và nó sẽ biết cách cởi giải những trái ngang. Về đi, còn ông giáo, còn cha cô đang mòn mỏi trông tin cô đấy! Ừ thì ông giáo hận ông lão Tuân lắm, nhưng sự thể đã như thế rồi, lẽ nào ông cầm dao giết con gái ông? Ừ thì ông giáo đã đuổi thẳng cổ ông ra khỏi nhà, dù ông có quỳ xuống, tạ tội và nhận làm con rể ông giáo, nhưng lẽ nào ông ấy lại đuổi thằng cháu ngoại duy nhất của mình? Phải rồi, lấy ông giáo Hoan ra mà dụ, mà dỗ dành, thế nào cô ấy cũng quay về!
Ông lão cứ loanh quanh với ý nghĩ về nước cờ của mình. Nếu cô ấy nhất quyết không trở về làng thì sao? Cũng phải thôi, nói đi rồi nói lại, con dâu mà ngủ với bố chồng thì xưa nay, chả cứ gì làng Sơn Cốt, của mình, ở đâu người ta cũng có thể cạo đầu, bôi vôi mà thả cho trôi xuống Ba Quanh ấy chứ! Nếu thế thì ông sẽ ở lại đây để được trông nom thằng con ongcho đến ngày nó lớn, nó sẽ biết quê hương bản quán của nó mà về. Nếu thế thì ông sẽ về nhà, bán hết lợn gà, vườn ruộng, xe đạp… để lấy tiền đi với con, với vợ! Ông lão mỉm cười một mình, với con thì được, chứ mà với vợ thì… trơ quá! Nhưng mà có sao đâu, trông thế thôi lão mới có sáu mươi ba, còn cô Nga cùng đã ngoài ba mươi rồi. Ngày xưa, ông chánh ông lý nhà ông, đến gần thất tuần mà vẫn cưới được vợ ba, vợ tư mười tám đôi mươi, mơn mởn non tơ kia mà! Thế có khi cũng hay!
Ông lão đang hân hoan với những ý nghĩ táo bạo của mình, thì hai chàng thanh niên Tĩnh và Thuận từ trong cửa hàng đi ra. Họ đã ăn uống xong, ông nghe thấy anh Thuận bảo có cô mậu dịch nào đó tặng cả tem gạo nữa mà. Họ sung sướng hơn ông nhiều! Tuổi trẻ là thế đấy. Thuận đi ra trước, với vẻ mặt hớn hở, thoải mái. Đi sau là Tĩnh, anh chàng có khuôn mặt chữ điền, đáng lẽ thanh thoát thì lại u uất. Đi một quãng, nghĩ thế nào Tĩnh ngoái cổ nhìn vào cửa hàng, rồi anh ta quay lại đến sát bức tường quét vôi, loằng ngoằng những chữ viết, bằng đủ thứ màu, than đen và gạch nâu. Tĩnh cúi xuống tìm cái gì đó, có lẽ là một hòn gạch, ông lão đoán thế.
Quả nhiên anh ta cầm trên tay viên gạch nhỏ, đứng bần thần chọn một chỗ còn trống trên bức tường. Rồi anh ta viết, ông lão nhìn từng chữ hiện dần ra dưới tay Tĩnh:
Nga- Hận! Đã mấy năm rồi anh đi tìm em khắp mọi nơi, mà không thấy. Em ở đâu? Tĩnh.
Tĩnh bần thần nhìn lại một lần nữa những chữ mình vừa viết rồi thẳng tay ném viên gạch non vào chân tường, rồi anh vừa đi giật lùi, vừa nhìn bức tường một lần nữa, trước khi chạy đuổi theo bạn.
- Ra thế! Anh chàng này cũng là kẻ đi tìm Nga của ông! Ông lão nghĩ vậy và đột nhiên, dòng máu nóng từ đâu không biết dồn chảy ngược lên thái dương ông. Ông ghen! Thì ra chính cái kẻ này đã quyến rũ, rủ rê vợ con ông rời bỏ làng quán ra đi lưu lạc đến đây đây! Được! Thế thì được, ông sẽ có cách của ông! Ông chẳng cần mẹ, chỉ cần thằng con. Nó là máu mủ của ông, không thể để nó rơi vào tay kẻ khác!
Cơn giận làm ông không còn thấy rét, ông đứng dậy, cảm thấy khoẻ mạnh hơn người, định phăm phăm đi vào dãy nhà kho đằng sau cửa hàng, nơi có mấy bóng đèn tù mù. Ông sẽ… ông sẽ… Ờ, mà ông sẽ làm gì nào? Cơn giận bất ngờ hạ xuống, khiến ông sững lại. Không, ông không thể làm gì được, không thể làm to chuyện ra ở đây, bẽ mặt quá.
Ông lão lặng lẽ quay lại, trở về cái lều chợ ông vẫn tá túc để tiếp tục suy nghĩ về nước cờ thứ ba của mình. Nhưng hình như đôi chân ông rã rời mất rồi, ông không đủ sức về chợ nữa. Nhìn sang bên kia đường, thấy hàng hiên một ngôi nhà, hình như là cái kho. Ông lão đến đó, lấy cái tay nải làm chổi, phủi sạch một khúc hè, ngồi tựa lưng vào tường, nhắm mắt lại.
Mưa đã tạnh hẳn, gió khan bắt đầu thổi mạnh, réo ù ù trên dây thép và trong mái hiên. Đêm ấy ông lão Tuân thức trắng.
***
Sau những ngày âm thầm theo dõi, ông lão vẫn chưa tìm ra cơ hội tiếp cận thằng Hận. Ông cũng biết rằng, chị Nga làm việc ngay tại bãi than đằng sau cửa hàng, nên ông không dễ gì vào “nhà” chị được. Thế rồi, thời cơ cũng đã đến, khi chị Nga đi đâu đó. Nhìn cách ăn vận của chị, ông lão biết chị đi khá xa và còn lâu mới về. Với tư cách của một ông lão ăn mày, ông vào quanh mấy ngôi nhà gần đó và, bất ngờ ông ngoặt một cái, rẽ vào cái chái quây lá cọ, nơi trú ngụ của hai mẹ con chị Nga. Trời không mưa, nhưng mây ảm đạm, xầm xì, tạo ra cái không khí âm u, ai nấy ở trong nhà, chỉ biết mình. Thuận lợi cho ông thật! Ông lão ngó trước sau, không thấy ai để ý, ông vạch cửa bước vào. Ông lão sững sờ trước thằng Hận. Quả nó là một đứa trẻ đẹp và ngoan, ngoài sức tưởng tượng của ông. Hình như trong đời ông chưa bao giờ nhìn thấy một đứa trẻ nào đẹp như thế
- Hận ơi! Hận!…
Thằng Hận đang chơi một cái trò gì đó trong góc giường, nghe tiếng người gọi tên mình, nó ngẩng lên và… cười! Nó cười không thành tiếng, nụ cười thơ ngây của một đứa trẻ được chăm sóc đầy đủ. Nhìn ông lão, tức cha nó, dù chưa gặp bao giờ, hoàn toàn là người xa lạ, nhưng nó không thấy sợ.
- Lại đây! Lại đây với… ông! Ông lão đã suy nghĩ về cách xưng như thế, vì dù sao ông cũng là một ông lão. Lại đây ông cho kẹo.
Thằng Hận ngửa cổ lên cười, rồi lật đật chạy lại, sà vào lòng ông lão:
- Kẹo à? Đâu, kẹo đâu?
Ông lão ngồi thụp xuống đón thằng Hận vào lòng, rồi lấy gói kẹo, bóc một cái đưa cho nó. Thằng bé nhìn cái kẹo một cách trịnh trọng rôi há miệng nhận chiếc kẹo. Nó không cười nữa, mà nhai nghiến ngấu. Đó là một cái kẹo Hải Châu, một loại kẹo cao cấp, chỉ để phân phối cho cán bộ cao cấp, dân thường hoặc cán bộ cấp làng nhàng hồi đó không thể có được. Nhưng ở bất kỳ hàng nước nào cũng có bán. Nó rất đắt, một gói kẹo giá trị bằng bốn, năm cân gạo. Ông lão đã mua gói kẹo dành cho thằng con trai lưu lạc, bằng tất cả ý chí nhằm đạt được mục đích và cả tình thương của ông đối với thằng con.
Trong lúc thằng Hận ăn kẹo và ngồi yên trong lòng, ông lão đưa mắt quan sát căn phòng. Trên vách lá cọ treo vài cái áo, cái nào cũng rách. Một cái túi xách may bằng vải mưa mà từ hồi còn đi dạy học, hồi chưa lấy anh Kỳ, chị Nga vẫn xách, và bây giờ nó vẫn còn giá trị, đang được treo vào chỗ trang trọng nhất trong căn phòng tạm bợ. Ở một góc, một cái hòm gỗ thông đựng vốn để đựng xà phòng của Liên Xô, được kê trên mấy hòn gạch vỡ, và trên trốc hòm là mấy cái bát. Tuy nhiên căn phòng rất sạch, mặc dù nền đất, thỉnh thoảng nhô lên vài đống mùn giun. Xung quanh được thưng kín bằng những tàu lá cọ, đủ cỡ, đủ loại, toả ra một mùi ấm cúng.
Thằng Hận đã ăn xong cái kẹo thứ nhất, nó nắm lấy cổ áo ông lão lay mạnh, và há miệng ra cười một cách thành thật. Ông lão cười:
- Cha bố cậu! Đây!
Ông đưa cho nó cái kẹo, nhưng nó vẫn ngần ngừ, không chịu cầm. Chỉ đến lúc ông bóc, bỏ vào miệng nó, nó mới chịu nhai và lại vừa nhai vừa… cười!
Ông lão cũng cười, vén giòng nước giãi của thằng bé trào ra khoé miệng. Có lẽ đây là giây phút hạnh phúc nhất của đời ông. Ước gì ông được ôm thằng con bé bỏng thế này mãi mãi. Ông dụi mái đầu bạc và đầy bụi bặm vào ngực nó, thọc ngón tay vào sườn nó, thằng Hận ngoẹo người và cười, nhưng nụ cười rất rộng của nó vẫn không thành tiếng.
Đột nhiên ông lão giật thót người, tim đập thình thịch ở hai bên thái dương. Chị Nga về? Ông lão cưng người lên chuẩn bị đối phó. Ông khẽ khàng hé cánh của lá ra nhìn, nhưng bên ngoài hoàn toàn im lặng. Chị Nga đi đâu? Ông lão bỗng trào lên nỗi ngờ vực. Cô ấy đi đâu mà để thằng con ta ở nhà một mình? Ở đây cco ấy đã kịp quen biết được những ai? Hay là…? Hàng chữ mà anh chàng Tĩnh viết ngoài bức tường quét vôi của cửa hàng lại hiện ra trong óc ông. Hay là cô ấy đi với con người trẻ tuổi ấy? Được rồi! Thế thì còn đợi gì nữa, ta đã có cách của ta.
Ông lão đặt thằng Hận ngồi lên giường rồi nhìn quanh. Ông vơ lấy bộ quần áo của thằng Hận phơi trên sợi dây thép căng chéo góc nhà. Hãy còn hơi âm ẩm, nhưng không sao. Ông vo lại, nhét vào cái tay nải bợt bạt, nhớp nháp của ông. Rồi ông lấy ra cái áo mưa, choàng lên mình, khoác tay nải rồi ôm thằng Hận, nói:
- Đi! Đi với ông nào!
Thằng Hận hình như có trằn xuống, khiến ông lão hơi loạng choạng. Cái thằng, lên sáu rồi đấy, lại được chăm, trách gì chả nặng. Nhưng khi ông lão Tuân ôm chặt nó, ủ vào bên trong áo mưa, thì nó nín lặng. Ông tưởng nó sợ, nhưng khi ông vạch áo mưa ra, thì thấy nó đang cười, cái vẻ ngây thơ, không ra sợ sệt, cũng chẳng là thích thú, nên ông lão yên tâm.
Ông lão lách ra cửa, nhìn trước mặt và hai bên, đến lúc biết chắc không có ai nhìn, ông bước những bước nhẹ nhàng ra hàng rào nứa, rồi lách qua chỗ giậu đổ, ra ngoài đường phố.
Không hiểu lấy đâu ra sức lực mà một ông lão ăn mày bế nổi thằng Hận, vốn được mọi người gọi bằng cái tên “cối đá” chạy nhong nhong trên một quãng đường như thế.
Xù xì như một con lạc đà già, dạn dày kinh nghiệm, ông lão phăm phăm đi về phía nhà ga xe lửa.
***
Non trưa, chị Nga về đến cửa hàng. Thỉnh thoảng chị vẫn chạy đi đây dó, mua cái gì đó, hoặc chỉ vì có ai nhờ một việc mà, chính họ thấy ngại. Cái đức lam làm của chị Nga được mọi người mến. Nhưng chị biết rất rõ, dù mến, dù quý nhưng hầu như ai cũng có cái vẻ coi thường chị. Chỉ có ông Thức cửa hàng trưởng là tỏ ra tôn trọng chị. Nhất là trong một dịp kê khai nhân khẩu để trình với công an, nhìn nét chữ của mụ nắm than, ông kinh ngạc:
- Chữ của cô đấy à?
- Dạ, vâng! Em viết đấy có chỗ nào không được phải không bác?
Ông Thức xua tay:
- Không! Cô học dến lớp mấy rồi mà chữ nghĩa sáng sủa thế? Lại đẹp nữa1 Đã bảo mà, con người này quả là có chỗ oan khiên, bất hạnh đây…
Chị Nga chỉ im lặng, thỉnh thoảng lại nhìn ông cửa hàng trưởng vẻ lo ngại. Lát sau, ông Thức mím môi:
- Tiếc là lý lịch cô không rõ ràng, nếu không tôi cho cô làm kế toán rồi!
- Thôi bác ạ! Bác thương mẹ com em như thế cũng là quá tốt rồi. Em không dám mơ gì hơn.
- Không phải mơ! Mà là người biết làm việc. Khỉ thật, tôi cũng không biết mình làm gì nữa. Cô thông cảm nhé, tôi coi cô như đứa em. Này, thế còn, chuyện cô cho tôi thằng con cô làm con nuôi tôi thế nào rồi?
Chị Nga cười như mếu:
- Bác cứ nói vui thế chứ, em làm sao bỏ cháu được!
- Không phải bỏ! Ông Thức to tiếng. Nó vẫn là con cô, mà nó lại là con chúng tôi. Có ai bỏ nó đâu!
Chị Nga thấy mình cần đi xa thêm một chút, tuy có mạo hiểm:
- Em biết bác thương cháu, mà là mẹ cháu em cũng muốn cháu có chỗ nương dựa. Nhưng mà, em nói có gì không phải bác bỏ quá cho. Nói thật, nếu bác không phải là lãnh đạo ở cửa hàng, chắc tình cảm giữa hai mẹ con em và gia đình bác cũng có thể gắn bó, ấm áp hơn. Đằng đây, bác là người lãnh đạo, có quyền, có thế, khiên em phải giữ gìn. Nhỡ ra, có chuyện gì thì mẹ con em khổ đã đành, lại còn làm lây sang bác!
Ông Thức ngồi thừ, như người bị điểm đúng huyệt, đúng chỗ yếu, thì ngồi thừ ra. Lát sau ông nói nhỏ:
- Cô nói cũng có chỗ phải, nhưng tôi thương thằng bé, thương cô. Vì thế mà tôi không muốn căn vặn cô. Nhận cô vào làm mấy năm nay, mà tôi không hỏi vặn cô như kiểu người ta thường nghi vấn người xa lạ. Co cũng biết rồi đấy! Ấy thế mà tôi biết có kẻ xấu mồm đã xì xào rằng tôi muốn nhân cơ hội lợi dụng cô. Nhưng tôi đâu có phải là thằng xấu, không bao giờ làm kẻ lợi dụng nỗi khốn khó của người khác, nên tôi không sợ. Thôi thế hôm nào, mời hai mẹ con cô đến nhà tôi chơi, vợ tôi cũng nhắn mấy lần. Bà ấy muốn bế thằng cháu nhà cô lắm đấy!
Chị Nga vâng dạ thế thôi nhưng cũng chưa bao giờ dám đến nhà ông Thức. Còn bà vợ ông, một phụ nữ răng đen (có lẽ đấy là người cuối cùng của thế hệ nhuộm răng), nhìn thuần phác, cũ kỹnhưng tướng người cũng không phải dễ dãi. Chị Nga đã tự nghĩ như thế, nên thấy sợ.
Thấy trong cửa hàng đang đông khách ăn nên chị không dám vào thẳng cửa giữa, chị tạt sang cửa bên, không phải cửa ngách, cũng rộng rãi, đàng hoàng, nhưng không có vẻ trang trọng nhờ cái hàng hiên mở rộng, như một cái đại sảnh công đường. Mọi ngày, kể cả lúc vắng người, chị Nga có thói quen khi đi thường nhìn xuống đất, nhìn xuống mỗi bược chân mình. Mãi rồi thành quen, thói quen của thân phận những kẻ hèn mọn, lấy thủ làm chính, bởi mỗi bước nhân của chị, biết đâu chẳng dẽ sa vào chỗ hiểm. Nhưng hôm nay, trong lòng có cái gì bất ổn. Chị có cảm giác một cái gì đo nguy hiểm đang rình rập và đổ ập xuống đầu thằng con chị. Thường mỗi lần để con để đi một việc gì đó, chị hay để nó chỗ bà Thắm, nhờ trông hộ. Mà bà ấy cũng thích thằng Hận, nó ngoan, chỉ cười cả ngày, mà không hề quấy. Nhưng hôm nay, chị đi vội, chỉ dặn nó ở nhà chơi, không được chạy ra đường. Nên chị thấy sốt ruột. Bâtd ngờ, chị nhìn lên bức tường vôi, có dòng chưa viết bằng gạch non, có đóng khung. Thấy có chữ “Nga”, tên chị, nên chị dừng lại, đọc kỹ. Và… hai chân chị như muốn khuỵ xuống! Thì ra, con người ấy, anh ấy vẫn nhớ tới chị và đã đi tìm chị, như lời nói lúc chia tay.
Trời Già thật trớ trêu! Chị đã thất vọng hoàn toàn, không còn hy vọng gì gặp lại Tĩnh! Những ngày đầu chị luôn nhớ tới anh, luôn hy vọng gặp lại anh. Chị đã yêu anh, và dần dần chị nhận ra, chị chỉ yêu anh ấy bằng một tình yêu đơn phương, vô vọng! Chị chỉ còn coi anh như một người mà mình đã mang ơn. Một người gặp gỡ giữa đường, nếu có mong đợi, thì đấy chính là sự mong đợi để gặp được anh, mong đền ơn, đáp nghĩa. Nhưng rồi chị lại nghĩ: bây giờ mà gặp lại anh ấy, thì biết lấy gì đền đáp, khi chị vẫn chỉ có hai bàn tay trắng! Thôi thì thà để người ta quên mình, còn hơn là gặp nhau lại thấy thẹn lòng.
Bất ngờ, nhìn được giòng chữ của anh, như một lời than tuyệt vọng. Sao chị lại không nhìn thấy anh nhỉ? Chị tự hiểu, rằng chị có bước ra ngoài mấy khi, để anh tìm, anh thấy! Cuộc sống của chị là đống than mỡ trộn bùn, đảo xới lên rồi nắm lại thành những nắm nhỏ, để hong khô, cho vào lò. Trước mắt chị, chỉ toàn có một màu đen, của than! Anh không tìm được chị là phải. Chị ứa nước mắt, nhìn lại dòng chữ và đoán ra là nó mới được viết, chắc mấy hôm gần đây thôi. Chị vội vàng đưa mắt nhìn quanh, tìm kiếm, hy vọng bắt gặp đôi mắt nào đó đang nhìn mình. Chị hầu như đã quên khuôn mặt anh, nhưng đôi mắt và giọng nói thì chị vẫn nhớ. Chỉ cấn một đôi mắt nhìn chị, hay một giọng nói gọi tên chị, là chị sẽ nhận ra anh, và… nhào tới!
Nhưng không có ai nhìn chị cả, không có ai gọi chị! Khách ăn uống vần vào ra cửa hàng thản nhiên, họ có niềm vui, nỗi lo âu, sự vội vã của riêng họ. Chị đứng lặng dưới ánh nắng hanh vàng, se se lạnh. Chị Nga dần bình tĩnh lại, và ngay lập tức lại nghĩ đến hoàn cảnh và số phận của mình. Chị dặn với lòng mình rằng, thế nào, hai người cũng có ngày gặp nhau… Còn bây giơ, thôi nhé, anh ơi, em phải quay vào với đống than đên và thằng con. Chị bước đi vài bước nhưng nghĩ sao lại quay lại cúi lom khom, tìm một viên gạch non. Tìm mãi không thấy, và bất ngờ, chị nhặt được một hòn than. Chị cầm lênm ươm ướm thử và viết bên dưới, hàng chữ của chị chân phương, yếu đuối: “Em ở đây”. Chỉ thế thôi, nhìn hàng chữ màu đen của mình bên dười hàng chữ ngang tàng màu gạch nâu của Tĩnh, chị cắn chặt môi, từ từ buông tay, thả hòn than xuống… Chị đi như chạy về căn nhà tuy tạm bợ, nhưng nó là nơi chị thấy yên lòng nhất… Nhưng…
Chị Nga đứng sững lại, và như người hụt hẫng khi thấy cánh cửa lá gồi bật tung ra. Chị vừa lao tới vừa gọi:
- Hận ơi! Hận…!
Như mọi ngày, dù đang mải chơi, thằng Hận dạ một tiếng thật to, có khi nó “dạ, dạ…” liên hồi, rồi xuất hiện ở cửa với cái miệng há ra cười, phô một hàm răng trắng nhỏ đều và cặp môi đỏ như son. Không nghe tiếng con thưa, chị Nga lao vào giữa nhà, tìm khắc các xó xỉnh. Dù căn phòng rất nhỏ, nhưng chị vẫn xới tung lên. Không thấy con, chị nhào ra cửa cất tiếng gọi tên thằng Hận rất to, không có triếng trả lời của con, mà những người trên cửa hàng thấy đó là một chuyện lạ, nên họ đều đỏ dồn cả ra sau nhà. Người đầu tiên lên tiếng vẫn là bà Thắm, cửa hàng phó:
- Có chuyện gì thế cô Nga? Gọi con gì mà ầm lên thế?
Chị Nga rơm rớm nước mắt, chạy trên hai bàn chân trần đến trước bà cửa hàng trưởng lúc ấy đang đứng trên bậc tam cấp:
- Chị ơi! Chị có thấy thằng cháu nhà em ở chỗ chị không?
- Không! Bà Thắm tỉnh như không, lại còn vặn lại. Sao mọi ngày cô đi đâu hay để nó ở chỗ tôi, hôm nay đem đi đâu?
- Khổ quá, nào em có đem nó đi đâu? Chị Nga bắt đầu vật vã. Em chạy lên cửa hàng chất đốt, theo lời bác Thức nhờ, để hỏi lượng than về tháng sau. Tiện thể em mua cho cháu cái quần Đông – Xuân (chị Nga chìa cái gói bằng giấy xi- măng ra trước mặt). Lúc em đi thấy cháu đang mải chơi, nên cũng chẳng nỡ đem nó ra khỏi nhà. Thế mà lúc về, không thấy nó đâu nữa…
Bà cửa hàng phó bước xuống mấy bước, ngang với chị Nga:
- Cô đã tìm hết chưa? Trong nhà? Xuống chỗ nắm than? Hay vao trong bếp? Đoạn bà quay sang hỏi mấy người nhân viên cũng đang tò mò. Có ai thấy thằng con cô Nga đâu không?
Bọn họ nhìn nhau, rồi lắc đầu.
Chị Nga như người mất hồn, chạy sang bãi nắm than, xuống bếp, ra cả cái bờ ao nhỏ bên kia nhà bếp, vạch búi cây, gốc chuối… Không thấy con, chị thất thểu quay lại. Mấy người ở cửa hàng vẫn đứng đấy, chờ chị về, nhao nhao hỏi. Bỗng một người lên tiếng:
- Hình như lúc nãy em thấy có người trong nhà chị Nga. Lúc em đi qua nhìn vào thấy cánh cửa he hé!
- Thật không chị? Chị Nga vội vàng quay về nhà, theo sau là bà Thắm. Chị Nga lại vừa xoá xào căn phòng vừa gọi tên con. Bông bà Thắm nhặt một mẩu giấy gói kẹo lên hỏi:
- Thế cái này là cái gì?
Chị Nga cầm lấy mẩu giấy tần ngần:
- Không phải của nhà em. Nhà em không có loại kẹo này cho cháu. À có, cách đây lâu lắm rồi, bác Thức có cho cháu ba cái kẹo, cũng nhãn hiệu Hải Châu thế này, nhưng cháu ăn hết ngay rồi.
- À, ra thế! Bà Thắm gật gù. Thế cái giấy gói kẹo này ở đâu ra?
- Em cũng không biết! Chị Nga thật thà.
- Cô Nhuần cô ấy bảo, lúc nãy thấy có người ở trong nhà cô, chắc cái giấy kẹo này là của người ấy bóc cho nó ăn. Hay là…? Bà Thắm bỏ lửng.
- Chị bảo sao? Hay là… cái gì?
Bà Thắm vẫn im lặng, để chị Nga phải giật cánh tay áo, bà mới chậm rãi:
- Hay là… ông Thức?
Chị Nga buông tay áo bà cửa hàng phó, tần ngần:
- Không có lẽ? Em nghĩ, bác Thức là người đàng hoàng, sao bác ấy lại làm thế được!
- Cũng có thể lắm chứ! Bà Thắm nghiêm trang. Mấy lần ông ấy chả tính xin cô cho nó làm con ông ấy là gì? Mà có phải giấu giếm gì, ông ấy nói oang oang, cả cơ quan này ai cũng nghe. Này, tôi bảo nhá, có khi ông Thức thích nó quá, tranh thủ lúc cô đi vắng, ông ấy lấy kẹo dụ nó đi, rồi bắt cóc nó về nhà ông ấy rồi!
Chị Nga quay sang,nhìn vào đôi mắt ráo hoảnh của bà Thắm:
- Có thật thế không chị?
- Thật hay không thì bây giờ chưa biết. Theo tôi cô nên đến nhà ông Thức ngay đi…
- Nhưng mà…!
- Còn nhưng cái gì nữa không biết? Bị người ta bắt mất con mà còn đứng đấy để “nhưng với chả nhị?!
- Tối qua bác ấy có nói với em là sáng nay bác ấy đi Việt Trì sớm. Bác ấy có ở nhà đâu mà…
Bà Thắm nhìn chị Nga cười bằng cái vẻ thương hại:
- Ông ấy nói thế, chứ chắc gì đã đi Việt Trì?
Chị Nga lại ngắc ngứ:
- Nhưng…
- Còn nhưng gì nữa?
- Em không biết nhà bác Thức ở đâu?
- Thế à? Bà Thắm ngạc nhiên, rồi tỏ ra thông cảm, bảo một cô gái đứng gần đó:
- Cô Nhuần, cô biết nhà ông Thức chứ? Cô lấy xe của tôi, đèo chị Nga đến nhà ông Thức ngay đi. Xong rồi về ngay cho tôi biết nhá!
Cô Nhuần ngúng nguẩy một cái, rồi bẽn lẽn:
- Vâng! Nhưng em cũng đến nhà bác Thức từ năm ngoái cơ, không biết có còn nhớ đường không?
- Đi đi, nhanh lên, còn ở đấy mà õng ẹo. Bà Thắm mắng cô Nhuần một cách chân tình.
Chị Nga theo Nhuần ra cổng, lúc sắp nhảy lên booc- ba- ga, chị hỏi:
- Nhà bác ấy có xa không, cô?
- Cũng không xa lắm! Em tưởng chị biết nhà ông ấy rồi mới phải chứ?
Chị Nga cắn chặt môi, ngồi im lặng sau xe đạp của Nhuần. Mỗi cái xóc mạnh dưới bánh xe, lại làm nước mắt chị muốn trào ra, và con đường thì lại quá dài. Chị mong những điều bà cửa hàng phó nói vừa là sự thật, lại vừa không phải thế. Chị mong là sẽ gặp được đứa con yêu mà chị dứt ruột đẻ ra, để lại thấy nó ngây dại cười, để chị không phải cạn nước mắt một lần nữa. Nhưng chị lại không muốn thấy nó ở trong nhà ông Thức, vì chị không mong ông Thức là người như thế. Ông Thức đã là ân nhân của chị, hơn thế nữa, ông là một nhân cách lớn mà không dễ gì một kiếp người lưu lạc như chị lại gặp được một lần. Vì thế, chị không muốn thấy ông là kẻ nhỏ nhen.
Chiếc xe đạp của cô Nhuần loạng choạng rồi rẽ vào một ngõ nhỏ nửa phố nửa làng. Không muốn để cô Nhuần phải vất vả, chị Nga đã nhảy khỏi xe và chạy gằn theo sau cho đến khi, cô Nhuần chỏi bàn chân xuống đất, làm chiếc xe đạp dừng lại. Không rời khỏi yên xe, cô Nhuần cất tiếng lảnh lói, gọi nhóng vào cánh cổng:
- Bác Thức ơi! Bác Thức!
Không có tiếng người, chỉ có hai con chó xồ ra quyết liệt. Chị Nga thất vọng, vì không thấy bóng thằng Hận đâu. Một lúc sau, để hai con chó sủa phát mỏi mõm, mới thấy một người đàn bà te tái chạy ra cổng, tay vẫn cầm cái liềm:
- Ai gọi gì đấy? Người đàn bà răng đen, chị Nga hiểu đó là vợ ông cửa hàng trưởng.
- Cháu đây! Cháu ở ngoài cửa hàng đây. Bác Thức có nhà không bác?
Người đàn bà quát hai con chó rồi nhấc thanh then cổng:
- Không! Thế ông ấy không nói với các cô là sáng nay ông ấy đi Việt Trì à?
- Đi lâu chưa bác? Vẫn cô Nhuần hỏi, còn chị Nga đứng thụt lại phía sau, hồi hộp nghe hai người đối đáp. Cô Nhuần:
- Ối, thôi chết! Thế mà cháu cứ tưởng bác ấy có ở nhà. Bác ấy đi tàu hay đi xe đạp ạ?
Bà chủ nhà răng đen xởi lởi:
- Ông ấy bảo đi xe đạp, nhưng tôi can, sức vóc còn chừng ấy, đi xe đạp có mà bò ra đường! Mấy lần trước ông ấy đi về phải nghỉ mất mấy ngày. Thế là sáng sớm nay ra mua vé tàu hoả…
- Bác có biết baơgì bác Thức về không ạ?
- Có giời biết! Không khéo lại ngủ đêm ở dưới ấy cũng nên. Cia slão già nhà tôi đoảng lắm. Thế mà cũng được tín nhiệm làm lãnh đạo cơ đấy! Bà cười, khoe hai hàm răng vẫn còn đen nhưng nhức hạt na.
Cô Nhuần quay lại nhìn chị Nga ái ngại, còn chị thì chỉ biết im lặng nhìn người đàn bà phúc hậu đứng sau cánh cổng bằng tre. Thấy hai cô im lặng nhìn nhau, bà chủ nhà lo lắng:
- Chết! Thế có chuyện gì không các cô?
Nhuần nhìn chị Nga, như giục. Chị Nga sẽ sàng:
- Dạ, thưa bác, em làm ở nhà than ngoài cửa hàng…
- Thế à? Cô là cô Nga phải không? Ối giời ơi, nhìn hai bàn tay kìa? Nhưng cơ mà cô có thằng con kháu lắm, vừa ngoan vừa trắng trẻo, sạch sẽ. Gớm sao mà lại có người khéo đẻ khéo nuôi thế không biết. Mời hai cô vào nhà uống nước đã… Bà vừa nói vừa mở rộng cánh cổng.
Chị Nga lưỡng lự, rồi nói với Nhuần:
- Thôi, hay là cô có việc bận thì về trước đi, để chị Thắm ở nhà lại chờ. Cứ để tôi ở đây, tí nữa tôi về một mình cũng được…
Cô Nhuần quay xe ra ngõ, chị Nga theo bà Thức vào sân. Chị Nga không vào nhà, mà ngồi xuống bậc hè cửa. Bà Thức đon đả chạy đi lấy nước, chị Nga bảo:
- Thôi bác ơi, nước non làm gì! Em nghe nói về bác, cũng định hôm nào hai mẹ con đến chào bác. Mãi mà chưa đi được…
- Tôi trông thấy nó rồi, thích lắm!Thế sao hôm nay cô không cho thằng bé đến đây chơi?
Chị Nga bỗng nấc lên:
- Nó bị người ta bắt đi mất rồi! Em khổ quá?
- Sao? Sao? Bà Thức cũng rối lên, hỏi dồn. Ai bắt? Bắt bao giờ?
- Em đi lên bãi Than của công ty chất đốt về thì không thấy cháu. Em đến đây vì nghe người ta nói… Chị Nga định nói ra câu chuyện mà bà Thắm đã nghĩ, nhưng chị nghĩ, như thế thật bất nhã, nên kịp ngưng lại.
- Nghe người ta nói sao? Thế cô đã đi tìm cháu ở những đâu rồi?
- Em đã tìm cháu khắp cả rồi!
- Nhờ người ta đi hỏi giúp chứ? Để đấy rồi tôi cũng đi hỏi xem. Khổ quá, cái nhà ông Thức này, sao hôm nay lại dửng mỡ thế không biết? Xuống Việt Trì làm gì? Lại mấy ông bạn bộ đội cũ rủ rê thôi mà! Thế cô đến đây để tìm ông Thức hay là tìm nó?
Lúc này, chị Nga mới nói theo ý bà Thắm:
- Chị Thắm bảo em là lên nhà chị xem hay nó có theo bác Thức…?
- Ối giời đất ơi! Được thế thì đã phúc! Tôi bảo ông ấy xin cô cho đem nó về đây để tôi nuôi, mà ông ấy có chịu nói đâu? Bây giờ thế này, nó chỉ quanh quẩn ở đâu đấy thôi, nhất định tìm được. Lần này tìm thấy nó về, cô để tôi nuôi nó cho. Để cho cô thì vất vả quá, cả mẹ lẫn con… Nói thật nhé, cô còn trẻ, rồi cũng phải tìm xem ai người ta để ý đến mình…!
Chi Nga đang như đứt từng khúc ruột, nghe bà Thức nói thế cũng thấy tấm chân tình của hai vợ chồng bà. Nhưng, biết tìm con ở đâu bây giờ, Hận ơi!
Chị Nga cúi chào bà Thức rồi chạy ra cổng, chạy về phía trung tâm thị xã. Chị chạy gằn từng bước, vừa chạy vừa ngó nhìn xung quanh. Chỗ nào chị cũng thấy như thằng Hận đang đứng cười ngây dại với chị với hai con mắt mở to, đen láy và đôi môi mọng đỏ …
***
Ông Thức ngó ra ngoài cửa sổ, thấy mưa bụi đã ngớt, có chút nắng hanh vàng, thì quay sang cáo bạn, đòi về. Mặc cho mấy ông bạn cựu chiến binh chèo kéo rồi nói khích, ông vẫn kiên quyết:
- Xin các anh, hôm nay tôi phải về. Chuyện cơ quan cũng có mà chuyện gia đình cũng có chỗ neo. Chả nói giấu gì, hai vợ chồng già, con cái không có, nhìn nhau đôi lúc muốn rớt nước mắt. Để bà ấy còi cõi một mình, xót xa lắm…
Mấy ông bạn nhìn nhau, thôi thì ông ấy đã nói thế thì cũng đến phải để cho ông ấy về. Một ông bạn đèo ông Thức ra ga, chờ mua vé xong rồi ông Thức nhảy lên tàu mới quay về.
Nghĩ cuộc đời mình cũng chả ra làm sao. Ngồi trên cái toa “tàu chợ”, lổn nhổn quang gánh, ầm ào tiếng người, ông Thức lại nghĩ về mình. Đi bộ đội chống Pháp được hai năm, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ hẳn hoi, rồi hoà bình. Về nhà cưới vợ! Ơ, bà vợ ông ngày ấy đẹp lắm, răng đen, đẹp theo kiểu cổ. Thì ông cũng cổ đấy thôi. Ông phục viên làm cán bộ huyện, ở nhà vợ ông vào tổ đổi công, rồi hợp tác xã… Hai vựo chồng cứ như sao Hôm, sao Mai, mãi chẳng có con… Đùng một cái, sau cái ngày “mùng năm tháng Tám” năm ấy, ông lại được gọi tái ngũ. Rồi đi B, đi một mạch vào tận Nam bộ, đánh nhau mãi, suốt hơn mười năm…
Trở về, bà ấy vẫn đằm thắm, dịu dàng dù phải chịu bao nhiêu là truân chuyên. Cái khổ nhất là vợ chồng không có con. Thôi thì, nó xấu xí, nó chẳng ra gì, nhưng nó là đứa con của mình… Ông thì công tác, đi đây đi đó, bạn bè đủ loại, cũng có cái nguôi ngoai, nhưng với người đàn bà thì muôn vàn cơ khổ!
Tàu cuối năm đông cứng, người dưới xuôi lên kiếm ăn, người buôn chuyến cứ lèn căng từ toa này sang toa kia. Ông Thức thu người, dựa lưng vào đống bao tải của ai đó, cố nhắm mắt, như để tách khỏi cái bầu không khí đang muốn nghẹt thở xung quanh.
Lúc ông choàng dậy, tàu đã vào đến ga. Len mãi ông mới nhảy được xuống đất. Khổ, lại lòng thòng mấy cân mì sợi mà cái bà vợ ông bạn cứ ấn vào. Đã bảo “Nhà tôi có người đâu mà ăn?”, thì lại cứ cười cười mà nhét vào tay: “Không ăn thì cho hàng xóm!”. Bây giờ nó nát vụn ra thế này, dễ hàng xóm cũng chẳng dám cho, cho để họ bảo nhà cán bộ khinh người, thừa ăn, cho đồ nát… Rách lắm cơ!
Ông Thức nhằm phía cửa ga, chìa vé cho người soát vé rồi thủng thẳng đi ra cổng. Nghĩ thế nào, ông quay lưng ghé vào cái quầy nho nhỏ bán đủ thứ, kẹo bánh. Ông mỉm cười một mình, định bụng mua gói kẹo cho “thằng bé”. Bỗng ông cảm thấy như có đôi mắt nào đang nhìn mình. Ông nhìn quanh và nghe tiếng trẻ con gọi tên:
- Bác Thức! Bác Thức ơi…
Ông Thức sững sờ nhìn thấy “thằng bé” đang rướn người lên mà gọi. Nó gọi thất thanh, khiên ông phải chạy vội đến và sà vào thằng bé đang đứng một mình. Trên người nó quàng mảnh áo mưa, loà xoà. Ông Thức nắm lấy cánh tay thằng Hận rồi hỏi nó:
- Cháu đi đâu ra đây? Đi với ai?
Ông bỗng chợt nghĩ hay là mẹ con chị Nga đã bỏ đi, bỏ ông, bỏ cái cửa hàng để lại ra đi. Cơ khổ, hai mẹ con thân sơ thất sơ! Nhưng nếu có đi thì cũng phaỉo nói với ông một tiếng, đợi ông về chứ? Hay có ai trêu chọc, hành hạ? Mà ông đối xử với mẹ con cô ấy bằng cả tấm chân tình của con người…
Thằng Hận níu chặt lấy ông, không trả lời. Ông Thức nhìn quanh:
- Ai đưa cháu ra đây, Hận?
Thằng Hận cười, chỉ vào ông lão đang từ đằng kia đi tới. Nhìn thấy ông lão rách rưới, ông Thức buông thằng Hận ra, đứng thẳng lên, nhằm ông lão, giận dữ. Tức thì, ông lão cũng nhận ra thằng Hận đang đứng nép vào một người đàn ông, dáng chừng như nó rất quen thân. Ông lão chững lại khi thấy thằng Hận chỉ tay vào mình. Ông lão cảm thấy sợ, có lẽ chuyện không xong rồi! Một “nước cờ” nhanh chóng xuất hiện. Ông lão rẽ vào một đám đông hình như đang xô sát hay mua bán gì đó, tránh không gặp người kia.
Ông Thức nhìn ông lão, rồi co chân chạy tới. Lão già ghê thật! Một tay bắt cóc chính hiệu! Nhưng ông chạy được một quãng, thấy khuất bóng ông lão, thì dừng lại. Ông sợ, để thằng Hận một mình ở đấy, nhỡ ra có đồng bọn của chúng bắt mất thằng bé? Ông đành quay lại, không đuổi theo kẻ bắt cóc nữa, thấy thằng Hận đang cười:
- Cháu muốn về với mẹ! Bác Thức ơi!
Ông Thức bế nó lên, dỗ dành:
- Ừ, để bác đưa về với mẹ Nga! Thế ai đem cháu ra đây?
- Ông cụ, kia kìa, đến nhà cho cháu ăn kẹo. Kẹo ngon lắm…
- Rồi sao nữa? Ông Thức sốt ruột.
- Ông cụ bảo cháu đi theo ông ấy về quê!
- Thế mẹ cháu đâu?
- Mẹ đi đâu rồi? Cháu muốn về nhà với mẹ Nga cơ!
Ra thế! Ông Thức đặt thằng Hận xuống, mua cho nó một gói kẹo rồi nắm tay nó dẫn ra khỏi sân ga:
- Thôi, bây giờ bác cháu ta về với mẹ Nga nhé!
Thằng Hận lại ngửa mặt lên cười!
Được một đoạn, thấy thằng Hận lếch thếch, ông bế nó lên. Nhưng chỉ một chốc, cánh tay ông mỏi nhừ. Thế là ông để nó lên vai, cứ thế công kênh nó mà đi. Hai bác cháu nghễu nghện, thỉnh thoảng có người quen mặt chào, ông lại cười với họ. Một niềm vui khôn tả ập đến với ông Thức. Lần đầu tiên trong đời, ngoài bốn mươi tuổi đầu, ông được làm “trâu ngựa” cho một đứa trẻ! Ôi, phải chi nó là con ông!
Nghĩ thế, nên đáng ra phải về cửa hàng giao thằng Hận cho mẹ nó, ông đi tắt một quãng phố, về thẳng nhà mình. Được cái thằng Hận không nói gì, nó nói muốn về với mẹ, nhưng khi ông bảo “Về nhà bác nhé!”, thì nó chỉ cười! Cái thằng, nhẹ dạ thế chả trách bị bắt cóc là phải! Đúng là connhà không có cha! Ông phải dạy nó mới được!
Về đến nhà, ông Thức co chân đạp mạnh làm cánh cổng, làm nó bật ra. Tiếng ông oang oang:
- Bà ơi! Bà Thức ơi! Ra đây mà xem này…
Bà Thức từ đầu hồi chạy ra, nhìn thấy thằng Hận đang cười trên cổ ông thì bà hốt hoảng:
- Chết rồi! Thế này thì chết chứ chả sống!
Ông Thức đặt thằng Hận xuống, ngạc nhiên:
- Cái gì mà bà bà bảo chết?
Bà Thức sà xuống vuốt tóc thằng Hận, rồi ngước lên nhìn chồng, thì thầm:
- Cô Nga cô ấy đi tìm con suốt từ trưa đến giờ. Cô ấy đến cả đây, nghe bà Thắm bảo ông bắt nó…
ƠngThcs quẳng cái túi mùi sợi xuống hè, cười cười:
- Đứa nào bảo? Ừ mà tôi bắt nó đấy! Thì đã làm sao?
- Còn hỏi làm sao nữa! Ông bắt nó đi mà không nói, để mẹ nó khóc hết nước mắt… Cô ấy đang chạy cuống chạy cuồng lên vì thằng con kia kìa! Thế mà ông còn cười được?
Ông Thức thẫn thờ:
- Tôi có bắt nó đâu? Vừa từ trên tàu xuống, thấy thằng bé đứng trơ ở ngoài ga. Hỏi nó, nó bảo có mọtoong cụ đến nhà nó bắt nó đi theo. Phải không Hận?
Thằng Hận cười:
- Ông cụ bảo đưa cháu về quê! Cháu không đi đâu, cháu muốn về với mẹ!
Bà Thức sợ sệt, hai bàn tay cứ cuống lên:
- Thôi hay là để tôi chạy đến báo cho cô Nga, mẹ nó, để cô ấy biết mà mừng. Chứ không thì cô ấy đến đâm đầu vào ô tô mất!
- Thì bà đi đi! Bảo cô ấy cứ từ từ nhá! Mà bà cũng cẩn thận đấy!
Bà Thức lấy xe đạp ra, nhảy pê- đan rồi nhoay nhoáy đạp đi. Ông Thức, nhìn theo bà một quãng rồi kéo thằng Hận vào nhà. Nó ngoan ngoãn đi theo và lại cười…
Trông thấy chị Nga đang thẫn thờ ở trước cửa hàng, bà Thức nhảy khỏi xe:
- Cô Nga! Thấy rồi…
Chị Nga như người mất hồn, ngơ ngác nhìn bà Thức:
- Chị hỏi ai?
- Tôi đây! Tôi là vợ ông Thức đây. Tìm thấy thằng con cô rồi!
Chị Nga bừng tỉnh:
- Bác Thức? Bác nói sao ạ? Nói lại em nghe nào!
Bà Thức thì thầm vào tai chị Nga:
- Ông Thức nhà tôi ông ấy thìm thấy thằng Hận con cô rồi.
- Thế ạ? Bây giờ cháu đang ở đâu hả bác?
- Đang ở nhà tôi. Cô lên đây tôi đèo đi…
Chị Nga không nói không rằng, định nhảy lên xe đạp của bà Thức. Nhìn thấy hai bàn tay chị đen toàn than, bà cười:
- Đi vào rửa tay đi đã! Rõ khỉ!
Có lẽ không cần phải thuật lại cái cảnh hai mẹ con chị Nga gặp lại nhau. Chỉ biết rằng, hai vợ chồng ông Thức đứng ngây ra nhìn người mẹ ôm ghì lấy đứa con vào lòng. Chị Nga nức nở chán, lại xoay ra phát vào mông thằng Hận bồm bộp, khiến bà Thức phải sốt ruột, can thiệp:
- Cái cô này! Sao lại đánh nó? Lần sau có đi đâu thì đem nó lên đây cho tôi. Ở với tôi đố đứa nào bắt được.
Ông Thức nhìn vợ, cười:
- Nấu cơm! Nấu cơm! Cái bà này, đi nấu cơm cho cả nhà ăn. Mẹ con cu Hận ở đây ăn cơm nhá!
Trong lúc chị Nga lúi húi cùng bà Thức dưới bếp, ông Thức bày ra baonhiêu thừ trò chơi. Thằng Hận, lần đầu tiên nó được chơi với một người đàn ông. Hình như đây là điệu lạ lùng đối với nó. Nó vẫn cười, nhưng hình như có khác lệ thường. Nó nhìn ông Thức mà cười say đắm hơn, chứ không có vẻ ngây dại như mọi ngày…
Cơm nước xong, trời cũng vừa tối. Ngày cuối năm, đêm sập xuống rất nhanh, khiến chị Nga không kịp đưa con về lúc trời còn sáng. Nhìn thằng Hận ngồi trên đùi ông Thức, chị Nga thấy vui vui mà cũng thật tủi lòng. Có lẽ trong đời nó, đây là lần đầu tiênnó được sung sướng đến thế. Đọt nhiên chị lại nghĩ đến Tĩnh, nó cũng nằm trong lòng Tĩnh, nhưng đó là lúc nó đang ốm đau.
Ông Thức kể lại câu chuyện ngoài ga, chị Nga cúi đầu lắng nghe. Khi ông Thức dừng lời, chị nhìn hai vợ chồng ông bà;
- Em cám ơn hai bác! Không có bác hôm nay chắc em chết mất! Thật là ơn tái sinh cho cháu…
ƠngThcs nghĩ ngợi, rôi hỏi:
- Tôi không hiểu tại sao cái người bắt cóc thằng Hận con cô lại là một ông lão già nua? Đã thế lại bảo là đưa nó về quê? Hình như trong chuyện này có cái gì đó, hả cô?
Chị Nga cúi đầu, im lặng, dường như chị đang phải chịu một gánh nănbg ghê gớm đang đè lên đôi vai ốm yếu. Nhưng thật bất ngờ, chị ngẩn lên, nhìn ông Thức rồi lại nhìn bà:
- Đúng là câu chuyện của em thật đáng buồn, lại rất đáng xấu hổ. Em định giấu suốt đời này, kể cả với con em. Nhưng thôi, giấu mãi cũng chẳng được, mà càng giấu thài lại càng đau lòng. Em coi hai bác đây như anh, như chị, như ân nhân, em xin kể lại chuyện đời em để hai bác nghe. Nghe rồi, nếu chỗ nào thương được thì thương, còn chỗ nào không được thì bỏ quá cho em!
- Bố em, là thầy giáo bình dân học vụ ở thị xã này từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp.
Ông Thức thong thả:
- Cụ tên là gì?
- Bố em tên là Hoan. Hà Đức Hoan…
Ông Thức nhổm dậy:
- Thầy giáo Hoan? Giời đất ạ…! Thầy Hoan người cao cao, quê ở Bắc Ninh?
- Thế ra… Ối bố ơi… bác cũng biết bố em?
- Tôi học thầy Hoan! Nhưng mấy năm sau, thầy đi kháng chiến lên Việt Bắc?
- Đúng thế đấy ạ! Trời ơi, thế ra trời cũng có mắt cho em gặp lại người quen của bố mình… Bố em lên Việt Bắc, gặp mẹ em rồi có em…
- Bây giờ cụ thế nào rồi?
- Mấy năm nay em không nghe tin tức gì. Nhưng thôi, bây giờ hai bác nghe em kể đã. Em là giáo viên cấp hai…
Đêm ấy chị Nga đã kể lại hết câu chuyện của đời chị cho hai vợ chồng ông Thức nghe. Câu chuyện cũng chính là chuyện tôi đã thuật lại từ đầu cuốn sách này. Có điều, chị kể bằng một giọng buồn, lúc thì rành rọt, rõ ràng, khi lại ngắc ngứ, quặn đau và đầy nước mắt… Nhưng hầu như không phải chị kể mà là chị trút câu chuyện hoà nước mắt trước mặt hai người xa lạ, ở một nơi xa lạ mà chị lưu lạc đến!
***
★
★
★
★
★
0