📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

XUÂN LỘC-Tiểu thuyết-HOÀNG ĐÌNH QUANG 🔒

9 trả lời, 2.094 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-07 02:05:30Phung_Hoang>
CHƯƠNG BA




3 giờ sáng, ngày 28 tháng Ba năm 1975, sân bay Tân Sơn Nhất.
Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hoà, đại tướng Cao Văn Viên trong bộ lễ phục chỉnh tề, bốn bông mai vàng lấp lánh trên ve áo, tua ngù vàng ánh tuôn thẳng xuống bộ ngực chi chit mề- đay, toàn thân cứng ngắc như một cây cột đá trong vườn treo Pabillon, trắng toát, đờ đẫn trong phòng đợi. Hai phút sau, chiếc máy bay Beoing của Hãng hàng không Panam xuất hiện trên đường băng, nó từ từ lượn một vòng rồi tiến sát vào nhà ga. Đại tướng quay lại mỉm cười với Đồng Văn Khuyên đang đi sát ngay sau:
- Vị cứu tinh của Quân lực đã tới!
Là trung tướng Tham mưu trưởng cơ quan Bộ tổng tham mưu, người làm tham mưu cho tham mưu này vốn được tiếng là nhã nhặn, ga lăng và mưu sâu kế hiểm, và vì thế, Đồng Văn Khuyên là người nổi tiếng vì được vinh thăng quân hàm “nhanh đến chóng mặt”. Có lần trung tướng Đặng Văn Quang, tức Quang Mập, cố vấn an ninh của tổng thống đã nói: thằng Khuyên “há miệng chờ sao”. Tất nhiên, không ai bắt được một lỗi nhỏ nào của trung tướng, ngược lại tướng Khuyên còn được các tướng lĩnh phong cho biệt danh “tiểu Tào Tháo” của quân lực. Tuy nhiên, ở bên cạnh “ông tướng Bắc kỳ” này, Tào Tháo nhỏ rất khó nắm bắt được suy nghĩ của sếp, cũng như ý nghĩa trong mỗi câu nói của đại tướng. Rất ít khi hai người ngồi riêng và nói về những vấn đề riêng tư. Đại tướng ra lệnh nhỏ nhẹ, vừa phải, đủ to để thị oai, nhưng cũng vừa nhỏ để thân mật. Nếu cấp dưới nghe không rõ, thì đó là lỗi của cấp dưới, đại tướng đã nói vào tai rồi còn gì? Trong rất nhiều trường hợp Đồng Văn Khuyên không biết đại tướng nói chơi hay nói thiệt, nhất là khi ông vừa nói vừa mỉm cười, như vừa rồi. Tướng Khuyên lại phải cố hiểu. Lát sau Khuyên cũng cười:
- Thưa đại tướng, tôi nghĩ “cứu tinh” của Quân lực Việt Nam không phải ở trong chiếc phi cơ kia đâu ạ. Mà là…
Viên hiểu ngay câu nói của Khuyên, dù trung tướng bỏ lửng, theo đúng tính cách của ông đối với đại tướng từ lâu nay. Đại tướng ngửa cổ trông hờ hững lên những ngôi sao đang lấp lánh trên bầu trời Tân Sơn Nhất, nói vừa đủ nghe:
- Rồi trung tướng sẽ thấy, tổng thống không thèm nghe anh em mình đâu. Mà trung tướng có biết vì sao không?
- Tôi ít được làm việc trực tiếp với tổng thống, thưa đại tướng!
Khuyên nói vậy đúng mà cũng không đúng. Trong mọi cuộc đàm luận mà Bộ Tổng Tham mưu làm việc với tổng thống để báo cáo tình hình, bao giờ cũng có mặt cả hai người. Nhưng bao giờ cũng chỉ do trung tướng báo cáo, Cao Văn Viên chỉ ngồi nghe, thỉnh thoảng gật đầu khích lệ. Ngược lại, tổng thống có hỏi gì thì cũng chỉ hỏi đại tướng, làm như không có mặt Đồng Văn Khuyên ở đó.
- Vì mình nói tiếng Việt!
Nhưng tướng Khuyên thì không thể im lặng:
- Dạ, có lẽ vậy!? Tiếng Việt không có cái tiếng sột soạt của đồng dollar?
Tướng Viên cười khùng khục, rồi bất thần phá lên cười lớn, tiếng cười đầy vẻ đắc ý, khiến Khuyên cũng cười theo, thoải mái. Mấy viên sĩ quan tùy tùng đi theo cùng cười mỉm.
Phi cơ dừng hẳn, chiếc xe chở cầu thang như chực sẵn, chạy vút ra, gắn cầu thang vào thân chiếc máy bay khổng lồ. Cánh cửa mở, thì cũng là lúc hai ông tướng của Quân lực Việt Nam Cộng hoà đi giữa hai hàng tiêu binh. Từ trên máy bay, một người Mỹ cao to, dáng đi hơi khom người như để tránh đụng đầu vào cửa máy bay, xuất hiện. Ông ta mặc một bộ đồ quân sự Mỹ, áo ngắn tay, nhưng không gắn quân hàm, đầu để trần, gió tạt mái tóc vàng lơ phơ trước trán. Người Mỹ này cao và hơi gầy, da đỏ au dưới ánh đèn cao áp sân bay sáng xanh, nhanh nhẹn bước xuống. Viên sĩ quan chỉ huy đội quân danh dự, đi những bước chân thẳng và dài đến đứng trước mặt ông ta, hô to:
- Quân lực Việt Nam cộng hoà do đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng làm đại diện, xin nghênh tiếp ngài đại tướng Fred Weyand, Tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ đến đất nước Việt Nam!
Cả Viên và Khuyên đều đứng ngây ra, chờ Weyand. Khi ngài Tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ cười gằn trước mặt, đại tướng Viên mới nhìn vào mặt khách:
- General! Welcome to Vietnam! (Xin kính chào đại tướng đã đến Việt Nam).
- Hi, Vien! My friend! (Chào Viên, bạn của tôi).
Nếu bất kỳ một ai, kể cả tổng thống mà gọi đại tướng như thế là bất kính, là xếch mé, nhưng với người phương Tây, cách gọi của họ như thế có thể chấp nhận được, nhất là đó lại là Weyand...
Fred Weyand chính là “Đấng tối cao” mà tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu rất cần để kêu gọi việc Mỹ tăng khẩn cấp viện trợ và cho máy bay B52 ném bom trở lại Việt Nam. Có lẽ tất cả những người bạn đồng minh Hoa Kỳ, không ai, kể cả tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ, G. Ford, ngoài Weyand đã để lại niềm tin cho tổng thống Việt Nam cộng hòa. Weyand đã làm việc ở Việt Nam suốt mười năm, đại tướng có một tư thế chỉ huy dày dạn khiến cho các sĩ quan, tướng lĩnh và viên chức Việt Nam dễ dàng đặt lòng tin vào ông. Weyand được thăng chức từ sư đoàn trưởng lên chỉ huy trưởng cố vấn quân sự Mỹ ở Việt Nam, và thay thế tướng Creighton Abrams giữ chức tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam vào tháng 6 năm 1972, cho đến tận ngày cuối cùng vị đại tướng đã cùng với người lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, tháng 3 năm 1973, trong một tình cảm khó tả. Việt Nam đã gắn bó với Weyand, hay đúng hơn, con đường danh vọng của đại tướng gắn liền với miền đất nhiệt đới kỳ diệu này. Nhìn lá quốc kỳ sao - sọc của nước Mỹ đã được gấp vuông vắn trên tay viên sĩ quan, chuẩn bị đem lên máy bay, tướng Weyand có một cảm giác luyến tiếc. Sau Hiệp định Ba Lê, Nam Việt Nam đã lâm vào tình thế khốn khổ, dù có thể có sự bất ngờ, nhưng lại hiểu được. Weyand đã hiểu được, thậm chí quá hiểu những người bạn, những đồng minh của Mỹ. Vì thế trong những ngày hấp hối của Việt Nam cộng hòa, tổng thống Mỹ G. Ford đã cử Weyand sang Việt Nam. Bởi vì ông cũng vẫn còn một chút, một chút thôi, hy vọng…
Đoàn xe chuẩn bị rời sân bay, đại tướng Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam, nói với đại tướng tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ:
- Tổng thống chúng tôi rất nóng lòng muốn gặp Ngài! Rất, rất mong…
Weyand cười nhạt:
- Thì sứ mệnh của tôi do tổng thống Geral Ford trao cho khi đến nước các ngài cũng chỉ có thế!


***


Tại phòng khách rộng lớn và bóng lộn trong dinh Độc Lập, tràn ngập mùi thuốc lá và tất nhiên, rượu Wishky, có năm người. Về phía Việt Nam cộng hòa có tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, hai vị tướng là đại tướng Cao Văn Viên tổng tham mưu trưởng và trung tướng Đặng Văn Quang. Về phía khách có Martin, đại sứ và ngài đại tướng Weyand, tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ, vừa từ Mỹ bay sang mấy ngày nay. Thế thôi, không có ai khác, kể cả cận vệ của tổng thống, hay tướng Khuyên như vẫn thường thấy. Với tổng thống đây là lần gặp thứ ba với đại tướng Weyand kể từ hôm ông đặt chân trở lại Việt Nam. Hai lần trước, thì chỉ có chủ nói, khách nghe. Mà chủ cũng chỉ nói về viện trợ của Hoa Kỳ “hẻo” quá, nên dẫn tới những sai pham ở chiến trường, dẫn đến những quyết định rút bỏ hai quân khu I và II của tổng thống. Tổng thống cứ nói, trong khi ngài tham mưu trưởng lục quân thì uống rượu và hút thuốc, còn ngài đại sứ Martin thì ôm ngực thở vì bệnh phổi đang hành hạ, nhất là trong cái phòng đầy ắp độc hại này. Quỷ bắt cái thằng này đi cho rồi, nó rít thuốc và nốc rượu nhiều thế, Martin rủa thầm Weyand. Hôm sau Weyand đi thị sát chiến trường. Đến đâu đại tướng cũng được các sĩ quan và binh sĩ đồng minh đón tiếp nồng hậu. Bởi thế nên ngài nói dữ lắm, ngài hứa sẽ “chiến đấu bên cạnh các chiến hữu đồng minh”, đến… toàn thắng! Ngài vừa đi khỏi Nha Trang, thì cộng sản đã tràn ngập thành phố này, khiến tổng thống cáu lắm. Bởi thế, trong cuộc gặp lần thứ ba này, vừa an vị, nhấm nháp Wishky, đốt thuốc được vài hơi, bất chấp cả xã giao, rào đón, tổng thống nói ngay, rất gay gắt:
- Thưa ông đại tướng Weyand, (tổng thống, mỗi khi nóng giận thường hay có kiểu nói bỗ bã, lộn xộn thế, Cao Văn Viên vẫn bảo đó là giọng điệu của tên thiếu úy đường Năm, Hải Dương - nơi tổng thống “phát tích” ở đó, thời ông còn trong quân đội Pháp), anh em cán binh vừa chạy từ Nha Trang về nói với nhau sao không thấy đại tướng ra cùng chiến đấu với họ…
Đại tướng Cao Văn Viên giật mình nhìn tổng thống của mình, còn Weyand thì chỉ cười. Ông cúi xuống nhìn ly rượu mạnh như muốn đo lường đô mạnh, hoặc dung lượng của nó, rồi ngửa cổ uống cạn. Xong, ông mím cái miệng hơi móm lại, để thưởng thức rượu, hay câu nói xỏ của tổng thống, rồi mới hất món tóc lòa xòa trước trán, nói bằng cái giọng khàn khàn:
- Tôi xin chia xẻ với ngài tổng thống về những khó khăn và tổn thất của quân lực các ngài. Là một quân nhân, tôi thật sự đau lòng và… đại tướng ngưng lời để thu hut người nghe.
- … Tôi được biết chính phủ Việt Nam cộng hòa cũng có sách lược đối phó với mọi diễn biến, nhưng phải thay đổi hàng ngày để đáp ứng tình thế. Mới tuần trước đây, ngày 25 tháng Ba, các ngài dự trù thành lập một cứ điểm phòng thủ tại Đà Nẵng và một tuyến phòng thủ phía Nam dựa vào bờ biển Bình Định, nếu không thành thì cũng chỉ lui về Tuy Hòa thuộc tỉnh Phú Yên. Nhưng từ lúc khai triển kế hoạch này, Đà Nẵng đã bị thất thủ, những vị trí của Việt Nam cộng hòa thuộc vùng duyên hải Quân khu II phía bắc Cam Ranh cũng không còn. Vậy nên ta phải thành lập một tuyến phòng thủ mới. Tuyến phòng thủ dự trù này sẽ kéo dài qua các tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng, nối tiếp với Long Khánh, qua đến Tây Ninh! Và…
Và gì? Viên khẽ hích Đặng Văn Quang, nhưng trung tướng an ninh không để ý, vì ông đang mải theo đuổi ý nghĩ riêng về phần việc của mình: trong quân lực, có sĩ quan nào làm tình báo cho cộng sản? Nếu tình hình trên chiến trường được cải thiện, nhất định ông phải cho rà lại đội ngũ sĩ quan, trong đó có đến hai ông đại tướng đều có bà con làm cộng sản, mà cộng sản cỡ bự! Thế nên Quang có nghe rõ Weyand nói gì đâu, ông nghiêng tai hỏi lại, nhưng Viên đã ngồi ngay ngắn, không thèm nói lại, chờ tổng thống phản ứng.
- Nha Trang thất thủ là do bọn chỉ huy quá tồi. Thêm vào đó là đám dân chúng tị nạn cộng sản kéo về quá lộn xộn, làm vướng chân, làm mất tinh thần binh lính. Đột nhiên giọng ông trùng xuống, bùi ngùi, hai mắt tổng thống chớp chớp liên hồi, ngấn lệ. Tôi chỉ đau lòng là không cứu được đồng bào, anh em của chúng tôi phải lâm vào cảnh đói khát, ly tán...
Đại sứ Martin, nhân vật dân sự duy nhất trong căn phòng này, vốn thạo nghề ngoại giao, đưa đẩy, thấy đúng tầm của mình vội lên tiếng:
- Xin tổng thống đừng quá lo lắng, nước Mỹ chúng tôi đã có sẵn một kế hoạch viện trợ nhân đạo, đối với những quân nhân và nhân viên dân sự gặp nạn… Tổng thống Hoa Kỳ đã dành sẵn những điều kiện vật chất cho họ. Hơn hai triệu dollars…
Nghe đến từ “dollar”, tổng thống nổi nóng thật sự:
- Thưa ông đại sứ, tôi xin được ngắt lời ông. Cái mà chúng tôi chờ đợi không phải là những đồng tiền hay cử chỉ nhân đạo. Cái cần cho chánh phủ và quân lực Việt Nam chúng tôi hiện nay là hành động, hành động thật sự, hoặc cũng là tiền, là dollar, nhưng là những đồng dollar có trách nhiệm. Tôi nói trách nhiệm ở đây là nói đến sự cam kết của Hoa Kỳ với một đồng minh, một người bạn đã sát cánh trên tuyến đầu chống cộng sản hàng mấy chục năm trời nay. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải chặn đứng bước tiến của cộng sản Bắc Việt. Nếu Mỹ cứ ngồi khoanh tay nhìn cộng sản tiến công chúng tôi thì có khác nào là một cử chỉ cho phép chúng tự tung tự tác, hoành hành trên lãnh thổ của chúng tôi. Nếu Hoa Kỳ cứ tiếp tục cho phép cộng sản lấn tới, chiếm thêm đất, thêm thành phố của Việt Nam cộng hòa nữa thì chỉ ngày một, ngày hai, chúng sẽ thôn tính cả lãnh thổ Việt Nam cộng hòa này thôi! Nếu người Mỹ giữ đúng cam kết đứng bên cạnh chúng tôi thì đời nào cộng sản dám xé bỏ Hiệp định Ba Lê, dám đưa thêm binh lính, súng đạn, xe tăng đại pháo vào lãnh thổ chúng tôi?
Ngài đại sứ Martin im lặng thở, Cao Văn Viên không hiểu nhà ngoại giao cáo già này nghĩ gì khi nghe những lời lẽ nặng mùi lính tẩy của tổng thống Việt Nam? Chỉ thấy ông ta gục gặc đầu như thể không thèm nói chuyện với người không muốn nghe nữa. Nhưng Weyand thì khác, đại tướng ngưng uống rượu, nhìn vị tổng thống đang đỏ mặt vì tức giận:
- Xin lỗi tổng thống, thế cái chuyện quân đội các ngài xéo lên nhau bỏ chạy khỏi cao nguyên Trung phần, bỏ Huế, bỏ Đà Nẵng, bỏ quân khu I, rồi quân khu II, giao tất cả lại cho cộng sản, chắc không phải là chuyện người Mỹ cho phép?
Tổng thống thấy nói mãi mà hai người bạn đồng minh này có vẻ vẫn như chưa chịu hiểu ra, nên ông lại phải một lần nữa, nói toạc ra:
- Cái sự rút lui chiến thuật của chúng tôi chẳng qua cũng là do nghèo mà ra. Người Mỹ đã nghe theo lời dỗ dành ngon ngọt của Nga Sô, Trung Cộng mà giảm thiểu viện trợ quân sự cho Việt Nam. Giảm nhiều lắm, giảm tới hơn sáu mươi phần trăm rồi còn gì, cả binh lính và vũ khí. Hồi lính Mỹ ở Việt Nam lên đến nửa triệu, rồi xe tăng, đại bác, máy bay, cả B52… rồi hơn một triệu quân lính chúng tôi… mà vẫn không thắng nổi cộng sản, lại còn bị chúng tấn công ngược lại. Vậy mà bây giờ chúng tôi đâu còn gì, không có binh sĩ Mỹ, không B52… Thế mà tiền bạc viện trợ nay dọa cắt, mai dọa giảm. Hỏi nếu căng ra cho cộng sản nó mần thịt thì chịu được bao lâu? Mà tôi nói lại nghe, không phải là bỏ chạy mà chúng tôi rút lui có trật tự, nằm trong ý đồ chiến thuật…
Tổng thống ngưng lại uống cạn ly rượu mạnh. Không ai nói gì, tình hình có vẻ căng thẳng, khiến đại tướng Viên khó xử. Có vẻ như tổng thống Việt Nam cộng hòa đang giận dỗi người Mỹ. Vừa phải thì được, nếu căng quá, làm cho quan hệ giữa chính phủ, quân đội với hai người bạn này xấu đi thì khó có thể làm hòa được. Không thể coi như quân lực của chúng ta chiến đấu chống cộng thuê cho Hoa Kỳ được. Cần phải chặn lại cơn nóng giận của vị nguyên thủ quốc gia. Viên nhìn sang Đặng Văn Quang, vị trung tướng mập ú này vẫn ung dung ngửa cổ uống. Ông lắc đầu, phải làm cái gì đó để cho đại tướng Weyand và ngài đại sứ hiểu rõ và hành động trong phạm vi quyền lực của hai ngài và có lợi cho đại cuộc. Đại tướng, như thói quen quay sang người giúp việc cho mình, nhưng sực nhớ ra trong căn phòng này không có mặt trung tướng Khuyên, ông đành đến trước tấm bản đồ quân sự:
- Thưa tổng thống và các vị. Bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam, cụ thể là tôi đã làm việc trực tiếp với đại tướng Weyand và phái bộ của ngài. Chúng tôi cũng đã cùng nhau đi thị sát một số mặt trận ở Nha Trang, Bình Thuận, Ninh Hòa, Biên Hòa, Long Khánh… Nhưng như các vị đều đã rõ, khi đại tướng Weyand vừa rời khỏi Nha Trang thì thành phố này đã rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Tinh hình rất nguy ngập, có lẽ khi chúng ta đang ngồi đây, thì xe tăng của cộng quân đã tiến đến Phan Thiết, rồi Phan Rang…
Đại tướng ngừng lại, đưa mắt nhìn cử tọa. Không ai nói gì, Weyand và Martin thờ ơ nhìn bức tượng vũ nữ Chàm đen nhánh dưới ánh sáng ngọn đèn trang trí màu vàng gắt, còn tướng Đặng Văn Quang thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn lén tổng thống đang rít thuốc lá. Một sự im lặng đến gai người. Thấy đã đến lúc trình bày được ý đồ của mình, Cao Văn Viên tiếp:
- Cho nên, thưa tổng thống, về căn bản, ý đồ chiến lược của ta trước đây sẽ không còn phù hợp nữa. Tức là phòng tuyến Nha Trang - Đà Lạt - Tây Ninh sẽ không còn giá trị, đúng hơn là không thực hiện được.
Tướng Viên lại ngừng nói, khiến tổng thống sốt ruột, phất tay:
- Nói tiếp đi!
- Bộ tổng tham mưu sau những phiên họp trù tính và thực tế chiến trường với phái đoàn của tướng Weyand và cơ quan tùy viên quốc phòng của tòa đại sứ Hoa Kỳ đã hoạch định một vòng đai phòng thủ mới, hầu bảo vệ thủ đô và những phần đất còn lại của lãnh thổ Việt Nam cộng hòa. Vòng đai này sẽ lấy Phan Rang, và dùng Ninh Chữ làm tiền đồn, để neo lại một vòng cung thép. Mặt khác ở Bắc và Tây Bắc, thì Tây Ninh và Bình Dương là hai tiền đồn bảo vệ vững chắc, ở đây có sư đoàn 23 của tướng Bá, và sư đoàn 5 của tướng Vỹ, là những sư đoàn mạnh của chúng ta…
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gật gù, thoáng nghĩ đến Ninh Chữ, nơi ông sinh ra, và nơi ấy hãy còn mồ mả cha ông của Ngài. Nhưng như chợt nhớ ra điều gì khiến tổng thống quay phắt lại, nói với đại tướng tổng tham mưu trưởng bằng một giọng phẫn nộ:
- Như vậy ta bỏ quân khu I và quân khu II à? Không được!
Viên vẫn từ tốn:
- Trên thực tế, quân khu I của Ngô Quang Trưởng không còn nữa. Quân khu II của tướng Phú chỉ còn Phan Thiết và Phan Rang. Hai tỉnh này sẽ được sáp nhập vào Quân khu III luôn để tiện việc chỉ huy, điều động. Những đơn vị của tướng Trưởng và tướng Phú sẽ được xốc lại, bổ sung quân số, trang bị lại vũ khí, quân dụng để bổ sung cho các mặt trận phòng thủ của hai quân khu còn lại.
Tổng thống ngẫm nghĩ một lúc, không thấy Cao Văn Viên nói gì, ông hỏi:
- Nếu trong trường hợp Phan Rang và cả Phan Thiết bị Cộng sản Bắc Việt lấy mất thì ông định thế nào?
- Thưa tổng thống, điều đó chúng tôi cũng đã nghĩ tới. Trong trường hợp hai tỉnh còn lại của quân khu II bị mất vào tay quân đội Bắc Việt, thì phòng tuyến cuối cùng của chúng ta là Xuân Lộc. Về mặt địa lý, Xuân Lộc và tỉnh Long Khánh là tiền đồn, chốt chặn con đường số Một từ ngoài Trung phần vào Nam, là nơi hiểm yếu án ngữ tuyến hành lang không cho quân cộng sản xâm nhập qua lại giữa vung Bình Giã, Bà Rịa, dưới biển với vùng núi rừng căn cứ chiến khu Đ của chúng.
Tổng thống đăm chiêu hồi lâu. Đành phải thế thôi, với lực lượng hiện nay, không có B52, không có binh lính Mỹ yểm trợ thì đội quân của ông đành phải chọn phương án phong thủ để chờ thời cơ. Mà thời cơ gì bây giờ? Thời cơ chính là hai ông bạn Mỹ đang ngồi đây. Weyand và Martin sẽ trình bày với tổng thống và quốc hội Mỹ những gì đã thấy để họ tỏ ra hào phóng, rót tiền, đưa vũ khí và B52 vào bây giờ? Muộn quá, muộn lắm rồi! Cảm giác thấy bị người Mỹ quay lưng lại với những cam kết ngày càng đè nặng lên vai một nguyên thủ quốc gia, khiến ông nghẹt thở. Viện trợ xin không được thì vay. Tổng thống đã phải dùng đến con bài “giếng dầu ở ngoài biển Đông” để làm con tin với người Mỹ, để họ cho vay cũng được. Nhưng, viên cố vấn của ông phái đi vẫn nằm lỳ tại một sòng bạc nào đó, bên Texas.
Vẫn lắng nghe, chợt ông hỏi tướng Viên:
- Lực lượng của ta ở đó thế nào:
- ở đây hiện nay chúng ta có lực lượng khá mạnh, chưa hề đụng với quân cộng sản, nên còn dồi dào sức chiến đấu. Đặc biệt ở Xuân Lộc ta đang có sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo, một sư đoàn thiện chiến bậc nhất hiện nay của quân lực Việt Nam!
Buồn bã, ngước mái đầu điểm bạc rất phong độ ở tuổi năm mươi hai, tổng thống nói với hai người bạn Mỹ:
- Hiện giờ chúng tôi còn một số tỉnh ở quân khu II, và toàn bộ quân khu III và quân khu IV. Những tướng lĩnh và binh lính của chúng tôi đều là những chiến sĩ kiên quyết chiến đấu chống cộng sản vì lý tưởng của thế giới tự do. Những sư đoàn tuy có bị tổn thất sau những ngày rút bỏ Cao nguyên Trung phần nhưng vẫn còn sĩ quan chỉ huy, vẫn còn tinh thần chiến đấu rất kiên quyết. Nếu có thêm viện trợ của người Mỹ lúc này, nhứt định chúng tôi sẽ giữ vững phần lãnh thổ còn lại trong đó có thủ đô Sài Gòn yêu quý của chúng tôi. Khi đã giữ vững được phần đất còn lại, bằng tinh thần chiến đấu của anh em chiến sĩ quân lực Việt Nam cộng hòa, cộng với vũ khí và B52 của Mỹ, nhất định chúng tôi sẽ đẩy lùi cộng sản và buộc chúng phải thi hành Hiệp định Ba Lê. Lúc đó chúng ta mới có thể nói đến hiệp thương, tổng tuyển cử, hay gì gì đó như người Mỹ muốn. Cho nên tôi mong chánh phủ và quốc hội Hoa Kỳ thật sáng suốt để nhận ra tình hình, thực trạng và nỗi khổ của Việt Nam hiện nay…
Tướng Weyand ngồi lim dim nghe những tràng thuyết trình khi hùng hồn, khi bi thương, lại cả những lời trách móc hờn dỗi của vị nguyên thủ Việt Nam cộng hòa đối với người Mỹ do ông đang đại diện. Ông muốn ngắt lời vị tổng thống lắm rồi, nên khi Nguyễn Văn Thiệu vừa ngưng, đại tướng đã nói ngay:
- Tổng thống và chính phủ chúng tôi hoàn toàn thông cảm với Việt Nam lúc này. Chúng tôi đang và sẽ cố gắng hết sức để thực hiện những cam kết của Hoa Kỳ với Việt Nam. Nhưng thông qua báo chí, và nhất là những gì tôi vừa được chứng kiến thì những cuuộc rút chạy ồ ạt vừa rồi của các ngài đã làm cho các vị nghị sĩ của chúng tôi không còn tin vào sức chiến đấu của quân đội các ngài nữa. (Đại tướng nhìn tướng Viên vừa về chỗ ngồi). ít nhất các ngài cũng phải đánh lấy một trận cho ra trò, rồi để báo chí họ thổi phồng lên thành một trận kiểu như Waterlo. Có như thế, quốc hội chúng tôi mới có thể xem xét việc mở két bạc. Đằng này quân đội của các ngài không chịu dừng bước trốn chạy, cứ nghe thấy tiếng xe tăng của Bắc Việt đã co giò rút chạy rồi thì chẳng có hy vọng nào với quốc hội, dù tôi, ông đại sứ đây hay cả Kitsinger và tổng thống Ford cũng đành bó tay. Đã mười năm, (Weyand giơ một ngón tay cái, rồi chĩa vào ngực mình) xin nhắc lại mười năm dính líu và hy sinh tính mạng binh sĩ Hoa Kỳ mà vẫn không có được một kết quả mong muốn. Quốc hội Hoa Kỳ sẽ không muốn nhúng tay sâu thêm vào một con tàu sắp đắm bởi những thủy thủ chỉ biết bỏ chạy…
Lần này thì trung tướng Đặng Văn Quang nghe rõ những lời của Fred Weyand. Quang vốn không ưa Weyand, vì đã có lần khi đang làm Tư lệnh quân đoàn IV, Weyand kinh lý xuống Cân Thơ, không biết lúc quay về Sài Gòn lão tướng mũi khoằm này nói gì, mà tổng thống đã “nhẹ nhàng điều động” tướng Quang về Sài Gòn, cho “ngồi chơi xơi nước”. Một động tác có khác gì là cách chức đối với một vị tư lệnh vùng Bốn, vốn là một xứ sở gạo trắng nước trong, lại an nhàn, không có những đơn vị chủ lực của cộng sản. Cũng may, giữa trung tướng với Tổng thống có mối quan hệ vừa là bằng hữu, lại vừa có những ân huệ. Khi làm tư lệnh quân đoàn Bốn, tướng Quang đã hết mình với tổng thống phu nhân, người đẹp Trần Thị Mai Anh, vốn quê ở Mỹ Tho, trong mọi trường hợp bà cần đến quân đội quốc gia. Vì thế, sau một thời gian quẩn quanh ở Bộ tổng tham mưu, trung tướng được bổ nhiệm giữ chức cố vấn an ninh của tổng thống. Từ đó, không ngờ lại là một bước tiến của Đặng Văn Quang. Văn phòng của tướng Quang đặt bên cạnh tổng thống trong Phủ Đầu Rồng. Lúc này, trung tướng mới có dịp mở các hồ sơ an ninh của nhiều chiến hữu. Ngoại trừ một số cán bộ, tướng lĩnh tham nhũng, hầu hết các chỉ huy quân đoàn, sư đoàn trong quân đội đều rất trung thành với tổng thống, với sự nghiệp chống cộng sản vì lý tưởng của thế giới tự do. Họ dám hy sinh, dám xả thân vì tổng thống, vì danh dự của quân lực. Mới chỉ có một cuộc rút lui chiến thuật tạm thời từ bỏ Cao nguyên Trung phần và một số tỉnh miền duyên hải mà người Mỹ đã vội vàng kết luận rằng quân lực Việt Nam cộng hòa là một đội quân “chỉ biết bỏ chạy” là xúc phạm. Quang thấy cần phải lên tiếng, và ông nói:
- Thưa ngài đại tướng, ngài nói như vậy là hơi quá, là xúc phạm đến một quân đội vốn có nhiều chiến tích chống bọn cộng sản xâm lăng vì thế giới tự do. Ngay cả ngài mà cũng không nhìn thấy sức mạnh tinh thần của quân đội chúng tôi, thì trên thế giới này còn ai dám tin vào họ nữa? Chẳng lẽ hơn hai mươi vạn cán binh cộng hòa hy sinh trong gần hai mươi năm qua chẳng là cái gì sao? Ai đã cứu quân Mỹ ở Pléime, thung lũng Ya Đrang, ở Bến Cát, Dầu Tiếng, Tây Ninh… những năm xưa? Ai? Nếu không phải những chiến sĩ cộng hòa Việt Nam gan vàng, dạ sắt…?
Nghe Quang nói vậy, Weyand tỏ ra ngạc nhiên, nhìn trung tướng chằm chặp, đôi môi mấp máy, định đính chính một câu gì đó, nhưng tổng thống đã gạt đi, ông nói bằng tiếng Việt:
- Thôi Quang! Anh đừng nói nữa, để họ tự nghĩ!
Rồi ông quay sang nhìn hai người bạn Mỹ:
- Không! Không có chuyện rút lui nữa! Trong đệ nhị thế chiến, Staline đã nói thế này: “Các đồng chí! Sau lưng chúng ta là Moscow!”. Tuy không ưa chủ nghĩa cộng sản nhưng tôi ngưỡng mộ Staline, nhà độc tài Nga Xô, mà nói rằng: “Hỡi anh em binh sĩ! Sau lưng chúng ta là Sài Gòn!”. Còn trận chiến thắng như các ngài mong muốn, nó sẽ xảy ra! ở đâu thì chưa nói ngay được, có thể là Phan Rang, Phan Thiết, hay Xuân Lộc! Tôi xin nhắc lại: quân lực Việt Nam cộng hòa, và cá nhân tôi quyết tâm bảo vệ đến cùng phần lãnh thổ còn lại. Tuy nhiên muốn ngăn chặn hữu hiệu bọn cộng sản Bắc Việt, việc cấp thời là phải trang bị vũ khí thật mạnh, thật hùng hậu cho binh sĩ. Đồng thời phải nâng cao tinh thần binh sĩ, gây lòng tin cho họ và cho dân chúng thủ đô và những vùng lãnh thổ đang trong tay chánh phủ. Chúng tôi hy vọng và đặt hết niềm tin vào Hoa Kỳ và khẩn khoản đề nghị các ngài hãy cho B52 ném bom vào đội hình quân cộng sản!
- Được! Rất tốt! Chúng tôi hy vọng là quyết tâm của tổng thống và các tướng lĩnh Việt Nam sẽ thành hiện thực. Chỉ có điều, tổng thống yêu cầu B52 lúc này là đã muộn! Bất cứ một hành động can thiệp trực tiếp nào vào Việt Nam lúc này, tổng thống và quốc hội chúng tôi đều phải cân nhắc hết sức thận trọng…
Tổng thống bỗng đứng dậy, đi về phía bản đồ hành quân, nói với Cao Văn Viên nãy giờ như người ngoài cuộc:
- Anh có thể nhắc lại một lần nữa về tuyến phòng thủ?
Đại tướng Cao Văn Viên vội cúi xuống cầm chiếc gậy ba- tấc- tám của mình chỉ lên bản đồ:
- Đây là Xuân Lộc, thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh. Chúng tôi, là tôi và đại tướng Weyand cho rằng, nếu có một trận chiến thắng oanh liệt thì chính nó phải nổ ra ở chỗ này.
- Ông đại tướng Weyand nói thế nào?
- Tất cả bản tường trình và kế hoạch lập phòng tuyến đã có ở chỗ tướng Quang!
Tổng thống nhìn Đặng Văn Quang, hất hàm. Quang lắp bắp:
- Trình tổng thống, tôi mới nhận được hồi chiều qua, chưa kịp chuyển cho đại tá chánh võ phòng.
- Được rồi. Nhưng tên nó là gì?
- Dạ, trình tổng thống, đó là bản kế hoạch mang tên “Phòng tuyến Weyand”.
Tổng thống nhìn Weyand, thấy ông ta hơi mỉm cười:
- Thưa tổng thống! Bản kế hoạch do phái đoàn chúng tôi thảo ra đã được tướng Viên và các phụ tá của ông tán thành. Còn việc đặt tên nó là gì thì do tướng Viên nghĩ ra…
- Ngài đã ra Xuân Lộc chưa?
- Rồi! Tôi đã gặp tướng Đảo và bộ chỉ huy của anh ta!
- Ông thấy Đảo thế nào?
Weyand không nói ngay, mà tranh thủ châm một điếu thuốc, thả khói mịt mù, rồi mới thong thả:
- Ngay từ khi tôi còn giữ chức trưởng đoàn cố vấn Hoa Kỳ tại Việt Nam, lúc ấy chúng ta đã bàn đến một chương trình đào tạo các tướng trẻ thế hệ thứ hai nhằm phục vụ cho cuộc chiến trong tương lai. Đến bây giờ, tôi cho là chương trình đó đã có kết quả. Lê Minh Đảo là một trong những viên tướng đó. Lòng nhiệt thành với chiến tranh, có hiểu biết tầm cỡ chiến lược và, xin lỗi hai tướng quân có mặt tại gian phòng này, họ rất Mỹ, Mỹ hơn các ngài, và… Mỹ hơn cả Mỹ…
Tổng thống cười, nhìn Weyand rồi lại nhìn Đặng Văn Quang:
- Tôi có nghe an ninh quân đội báo cáo. Thằng Đảo nó chửi người Mỹ là hèn, là xấu chơi, đem con bỏ chợ chứ gì? Nhưng hắn là một tay chống cộng sản cừ khôi đấy!
Weyand cũng cười:
- Thưa tổng thống, rất đúng! Tôi tin tưởng vào Lê Minh Đảo và sư đoàn 18 của anh ta!
Tiễn khách về, còn ba người Việt Nam. Tướng Viên và tướng Quang đứng ngây ra nhìn tổng thống đang ôm đầu, rồi lại nhìn nhau. Bỗng tổng thống ngẩng lên, hai con mắt đỏ lừ, rực sáng:
- Hai anh bố trí cho tôi ra Xuân Lộc gặp Lê Minh Đảo. Kêu cả tướng Nguyễn Văn Toàn nữa…
- Dạ thưa… khi nào ạ?
Tổng thống còn đang cân nhắc thì Viên xen vào:
- Có thể ra ngoài ấy vào khuya nay, lúc mười một, mười hai giờ.
- ừ, được! Anh bố trí lực lượng bảo vệ, nghi binh. Còn Quang lo an ninh. Cứ chuẩn bị sẵn, khi nào đi tôi báo.
Đặng Văn Quang hỏi thêm:
- Có cho báo chí đi theo không?
- Cho! Tổng thống dứt khoát. Nhưng phải tuyển lựa. Có lẽ cho Việt Tấn xã, báo Tiền Tuyến và Đài phát thanh, Đài truyền hình, thế thôi… Hả?
0
CHƯƠNG BẢY (2)


Đang mơ thấy mình được về bên mẹ, mẹ lại gọi cả Nhiên đến, rồi hai đứa vặn mãi, vặn mãi cái đồng hồ… bỗng nhiên Thạch thấy có người đá mạnh vào mông, vừa đau, vừa tức anh vung tay, chạm phải một cánh tay khác. Trời vẫn nhoang nhoáng ánh chớp và ầm ì tiếng xe tăng, nhưng Thạch nhận ra Phương. Nó đã tỉnh táo, cầm cái bát sắt cười hì hì:
- Dậy đi cậu! Trung đội trưởng Đào vừa bảo tớ gọi cậu đấy. Sắp đến giờ đi nạp mình cho muỗi rồi…
Thạch rụi mắt ngồi dậy, toan nói “nạp mình cho muỗi còn may, nạp cho mìn mới đáng giá”, nhưng lại thôi. Những câu đùa như thế đôi khi không có lợi, Thạch đã tự răn mình như thế. Cầm bát nước Phương Vỏ đưa, Thạch xúc miệng qua rồi uống một ngụm, số nước còn lại, anh vã lên mặt cho tỉnh ngủ. Mùi tanh của bùn, của phân trâu trong bát nước suýt làm Thạch phát nôn. Kể cũng lạ, uống vào mồm, vào ruột thì không sao, nhưng rửa mặt thì cái mùi tanh nồng ấy xộc vào tận tâm can. Nhưng nhờ thế, Thạch tỉnh ngủ hẳn. Thấy Phương vẫn ngồi nhìn mình trong ánh chớp lờ mờ, Thạch nghi ngờ:
- Cậu nhìn tớ ghê thế? Có chuyện gì hả?
Phương lưỡng lự:
- Tớ định để cậu đi thực địa về mới kể, nhưng….
Thạch phì cười, nhằn một cái gì đó như cọng cỏ hay lá mục trong miệng:
- Sợ tớ đi không về à?
Phương nắm tay Thạch:
- Không phải. Thôi để tớ kể vắn tắt cho mà nghe. Chiều nay, lúc cậu đi với anh Đào lên tiểu đoàn, tớ gặp thăng Trí, bạn cậu hồi ở trường thiếu sinh quân?
Thạch tươi hẳn lên:
- Thế à? Gặp ở đâu? Mà sao cậu biết nó?
- Tớ chẳng đã kể cho cậu nghe chúng tớ suýt choảng nhau ở chân cầu Long Biên hồi chúng mình sắp nhập ngũ rồi còn gì?
Thạch nhớ ra:
- ờ phải rồi. Nó có khỏe không?
- Khỏe. Gặp nhau hai thằng cùng mừng lắm, nhưng chỉ nói được mấy câu. Nó ở D2, trung đoàn 14. Bên ấy gay lắm…
Thạch phân vân:
- Làm thế nào để gặp được nó nhỉ? Thôi để mai tớ về, rồi hai thằng mò đi tìm nó.
Phương cầm lấy cái bát trong tay Thạch, lắc đầu:
- Khó lắm. Chắc phải sau chiến dịch. Nhưng mà có chuyện này, mày biết không?
- Cái gì?
- Thằng Trí nó nói với tớ là nó muốn vào Sài Gòn. Trong đó nó còn một ông anh trai, hiện đang là sĩ quan ngụy…
- Sao lại thế?
- Ai mà biết…
Vừa lúc đó có tiếng trung đội trưởng Đào: “Thạch đâu? Xong chưa ra đây nhanh lên”. Thạch nắm tay Phương xiết chặt. Phương cũng không ngờ, đấy là cái bắt tay cuối cùng của anh với người bạn cùng tiểu đội… Thạch còn vướng víu mãi câu chuyện về thằng Trí, nó người Sài Gòn gốc, gia đình nó đã ra Bắc, ba nó làm ở bộ ngoại giao, to lắm, mẹ nó làm bác sĩ ở bệnh viện Việt Xô.
Đoàn trinh sát có sáu người, trong đó hai người Thạch chưa từng gặp. Trong lúc ngồi dựa lưng vào gốc cây cao su, Thạch tò mò:
- Hai ông kia là ai thế anh Đào?
Đào ghé tai Thạch, nói thầm:
- Cái ông lùn lùn, quần xắn lên là sư trưởng đấy.
Thạch khẽ “à” một tiếng:
- Còn ông kia? Người đang sửa đèn pin ấy?
- Tham mưu trưởng sư đoàn.
Thạch cảm thấy phấn chấn. Chuyến đi này, anh được tin cậy đi cùng với sư trưởng Lê Nam, tham mưu trưởng, trưởng ban trinh sát, rồi cả tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn trinh sát của sư…
- Tí nữa có thêm trinh sát trung đoàn 209. Họ đợi ở đầu xóm, trong kia…
Thạch nhận thức được rằng đây là trận chiến vô cùng quan trọng, nên đoàn trinh sát mới có cả sư đoàn trưởng thế này. Thật ra, những tin chiến sự hàng ngày dồn dập đưa về, quân ta đang tiến mạnh, trong lúc quân địch tan vỡ những mảng lớn, thì những trận đánh như thế này rất quan trọng. Và, tính ác liệt của nó cũng được nâng lên đỉnh điểm, hết cỡ…
Đúng mười giờ đêm, sư trưởng rụi mẩu thuốc lá xuống đất, rồi đứng dậy. Thạch và trung đội trưởng Đào đi lên phía trước, ngay sau anh du kích Long Khánh được huyện ủy phái ra từ chiều. Sư trưởng nắm áo Thạch hỏi nhỏ bằng một giọng khê nặng miền Trung:
- Cậu này trẻ quá nhỉ? Nhập ngũ năm nào?
- Dạ, thưa thủ trưởng, em đi bộ đôi tháng tám năm ngoái. Tháng mười một vào đến trong này…
- Chưa tròn năm. Đánh mấy trận rồi?
- Dạ… ít lắm ạ. Có đâu ba bốn trận.
Anh Đào nghe thấy thế, thêm vào:
- Báo cáo thủ trưởng, cậu Thạch là chiến sĩ trinh sát giỏi của chúng tôi đấy ạ. Từ Phước Long đến Dầu Tiếng, Chơn Thành… trận nào cậu ấy cũng hoàn thành nhiệm vụ, góp công lớn đấy…
Sư trưởng “à” một tiếng rồi cười:
- Tốt! Trước lúc nhập ngũ chắc cậu còn đi học?
- Vâng! Chúng em đang học trường thiếu sinh quân…
Sư trưởng lại “ờ” một tiếng:
- Thằng con mình cũng đang học ở đấy. Nó còn nhỏ…
Im lặng một lúc, sư trưởng hỏi bất ngờ:
- Cậu có sợ chết không???
Thạch im lặng, bởi anh không biết trả lời thế nào. Sư trưởng choàng tay qua vai anh chiến sĩ trẻ, cười:
- Chết thế đếch nào được cơ chứ! Các cậu đi với tớ là đạn bom nó tránh hết.
Đoàn người rậm rịch đi trong đêm mờ ảo. Họ vẫn nhìn thấy nhau, vẫn nghe tiếng thì thào của người, tiếng rền rĩ của côn trùng, và thi thoảng tiếng ì ùng của bom, pháo…
Thế rồi đoàn người được du kích dẫn vào đầu xóm. ở đó các chiến sĩ trinh sát, trong đó có trung đoàn trưởng, trung đoàn 209 đón họ.
Huyện ủy bố trí cho đoàn cán bộ trinh sát của sư đoàn ngay trong một ngôi nhà nhỏ, lợp tôn xi- măng, xung quanh trống trải. Dưới ánh trăng non, lấp loáng ánh lá rừng và những đụn cây trâm bầu, như những người khổng lồ đang trầm tư mặc tưởng. Trưởng ban trinh sát, trung đội trưởng Đào, Thạch và các chiến sĩ của 209 ngồi rải rác quanh gốc cây, bên ngoài. Bí thư huyện, thứ Năm ôm chằm lấy từng người, suýt soa:
- Chủ lực về đến đây rồi! Mừng quá! Mừng quá!
- Chúng tôi cùng rất mừng được gặp các đồng chí… Các đồng chí chờ chúng tôi có lâu không?
- Lâu thì không lâu, nhưng sốt ruột lắm! Từ chiều anh em du kích và bà con đã tận mắt được nhìn thấy, được sờ vào những cỗ xe tăng, những khẩu đại pháo của ta… Muốn bật khóc…
Sư trưởng gật đầu, giọng xúc động:
- Trận này là trận cuối cùng, anh Năm à! ở tuổi tôi với anh, có lẽ suốt ba mươi năm qua, giờ là giây phút thiêng liêng. Thôi để sau ngày chiến thắng, ta hàn huyên nhé. Bây giờ, tôi muốn nghe tình hình của địa phương…
- Thưa các đồng chí! - Bí thư huyện ủy nhìn khắp lượt mọi người có mặt trong ngôi lán, rồi cất lên bằng tiếng nói nén chặt, một kiểu nói đã thành thói quen của người hoạt động lâu năm trong lòng địch – Xuân Lộc là tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh được Ngô Đình Diệm quyết định thành lập từ năm 1957 bằng cách cắt bớt phần đất của tỉnh Biên Hòa. Chính sách “cắt nhỏ để trị”, thực chất cũng là một kiểu “chia để trị” và với mục đích định cư những người Thiên Chúa giáo theo Diệm từ miền Bắc vào Nam năm 1954. Trong số người dân định cư tại đây có nhiều bà con đồng bào dân tộc thiểu số như: Mường, Nùng, Thái… di cư . Số này bị đưa ra làm bia che chắn, là “phên giậu” của vương triều họ Ngô, hòng ngăn chặn, chia cắt sự phát triển và liền lạc của cách mạng miền Nam. Tỉnh có diện tích vào khoảng 3,457 kilômét vuông, đất đai phần lớn là núi thấp, đồi cao, rừng thưa và đồn điền cao su. Trong suốt cuộc kháng chiến nơi đây là một vị trí chiến lược quan trọng vì là ngã ba, giao lộ giữa quốc lộ số Một xuyên Việt và quốc lộ 20, đi Đà Lạt. Hơn nữa, ngã ba này còn làm cửa ngõ từ miền Trung, miền Cao Nguyên vào Nam bộ và chỉ cách Sàigòn 80 kilômét. Do đó Xuân Lộc được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu coi như vòng đai ngoài bảo vệ phi trường Biên Hòa và thủ đô. Về phía ta, Xuân Lộc nằm trên đường giao liên giữa chiến khu Đ với vùng chiến khu C với các mật khu Mây Tầm, Cù Mị, Xuyên Mộc, Đất Đỏ của tỉnh Phước Tuy. Con đường này là huyết mạch mà cách mạng dùng để nhận tiếp tế bổ sung quân và tiếp liệu bằng đường biển. Vì vậy, từ Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống, đến tư lệnh quân đoàn Ba đã từ lâu bố trí Sư Đoàn 18 bộ binh tại tỉnh này để ngăn chặn sự phát triển sức tấn công và nổi dậy của các lực lương cách mạng.
Dừng lại để nhìn mọi người và chuẩn bị trình bày sang các vấn đề khác:
- Sư đoàn bộ binh số 18 do tên Lê Minh Đảo, chuẩn tướng chỉ huy…
Nghe đến đây, sư trưởng Lê Nam nóng nảy cắt ngang:
- Xin lỗi anh Năm, mọi chuyện như thế là rõ. Tại Xuân Lộc hiện giờ địch bố trí sư đoàn 18, một trung đoàn xe tăng, thiết giáp, một lữ đoàn biệt động và lực lượng bảo an tại chỗ. Chuyện sư đoàn 18 như thế nào, chúng tôi đã có bộ phận nghiên cứu, bây giờ mà nói về nó, mất nhiều thì giờ lắm, vì thực ra nó là vấn đề quân sự thuần túy. Bây giờ chỉ xin anh cho chúng tôi biết hai vấn đề: Một là, lực lượng tại chỗ của các anh hiện nay có bao nhiêu, được bố trí như thế nào, khả năng chiến đấu và phục vụ chủ lực đến đâu? Tôi hỏi thẳng anh Năm và các anh: có bao nhiêu, nói cho chính xác, cụ thể để chúng tôi biết mà liệu. Thứ hai: tình hình dân chúng trong thị xã thế nào? Dân cư bố trí ra sao, nhất là xung quanh căn cứ sư 18, dinh tỉnh rưởng, sân bay, tiểu khu… Mặt khác chúng tôi muốn biết cụ thể là thái độ, cảm tình đối với cách mạng, với quân giải phóng. Cụ thể hơn: dân trong thị xã có bao nhiêu là vợ, cha mẹ sĩ quan, binh sĩ đang đóng quân ở Long Khánh, kể cả quân của sư 18 và địa phương quân…?
Cuộc họp có hơi căng thẳng, vì người nói thì muốn nói cái mình muốn nói, còn người nghe thì cần cái mình nghe.
- Cách đây mấy ngày, vợ con, gia đình, binh lính của chúng rục rịch di tản về Biên Hòa, Sài Gòn. Một người râu rậm, mắt sâu trũng, đến nỗi khó nhìn thấy ánh mắt của ông ta, cất giọng Bắc lai Nam. Đó là huyện đội trưởng, một con người gan lì nhưng rất hài hước. Thưa các đồng chí, theo phán đoán của chúng tôi, trận này chúng quyết nướng quân, nướng tướng, tử thủ đấy, cho nên ta phải thận trọng.
- Đúng thế! Sư trưởng gật đầu. Chúng ta không còn giữ được yếu tố bất ngờ nữa, nên sẽ rất ác liệt. Quân chủ lực của chúng ta lâu nay chỉ tiến hành đánh đột phá, bất ngờ theo kiểu du kích. Bây giờ chuyển sang một kiểu chiến tranh quy ước. Sẽ ác liệt lắm. Các đồng chí giữ một vai trò quan trọng trong chiến dịch này, vì địa bàn này đối với chúng tôi hoàn toàn mới mẻ…
Bí thư huyện ủy nói tiếp lời huyện đội trưởng:
- Các đồng chí cứ yên tâm, chúng tôi có bốn đại đội du kích, một ở sẵn trong lòng thị xã, được trang bị gọn nhẹ. Còn ba đại đội võ trang đóng ở Bảo Vinh, Bảo Toàn và khu huyện ủy đây. Họ là những tay súng dũng cảm…
Bí thư huyện mỉm cười, vỗ vào vai huyện đội trưởng:
- Tay này tối hôm qua còn định cho quân vào bắt sống Nguyễn Văn Thiệu nữa chớ…
Huyện đội trưởng cười hấp háy bằng mắt, có lẽ ông thấy mắc cỡ, trong khi mọi người cười vui.
- Nói thế để lấy tinh thần thôi, chớ bắt thế quái nào được cái thằng quỷ đó. Sau khi có tin đêm nay Thiệu sẽ ra Long Khánh, thế là anh em chia nhau ra nắm tình hình. Ông Năm bí thơ hỏi tôi, tôi nói đại: “Đi bắt tổng thống ngụy”. Nói đại cho vui ấy mà…
- Giỏi thật! Sư trưởng nắm tay huyện đội trưởng. Ông khen huyện đội là khen ở tinh thần chiến đấu và đặc biệt nắm tin tức quá tài.


***


Trưởng ban trinh sát và tiểu đoàn trưởng vẫy tay gọi Thạch, trung đội trưởng Đào và anh em 209 lại. Họ chụm đầu quanh ngọn đèn lật tấm bản đồ vẽ tay nguệch ngoạc, vừa nhận được từ huyện đội. Trưởng ban nói sơ sơ về mấy mục tiêu cần nắm. Rồi ông quay sang Đào:
- Cậu tổ chức thành mấy tổ vào hậu cứ chiến đoàn 52. Chỗ này, đây chỗ này là mục tiêu của 209. Sẽ có một đơn vị của 341 phối hợp. Từ sân bay đến cổng căn cứ sư đoàn 18, theo đường chim bay khoảng ba cây số. Trên thực địa, vận động dài bao nhiêu, đồng chí nào biết?
- Dạ, em! Một thanh niên trắng trẻo, có khuôn mặt ngây thơ len vào vạch những ngón tay theo con đường phải đi. Em chạy xe đến đây, cách căn cứ sư đoàn 18, hơn năm trăm mét hết gần hai mươi phút. Tính chi ly là bốn cây số. Căn cứ đóng trong sân vận động nên còn có ba cổng ra vô nữa… Hậu cứ chiến đoàn 52, 43 đều quanh khu vực này.
Đào quay sang nhìn Thạch:
- Thế nào?
Thạch gật đầu. Thế là Thạch và hai chiến sĩ của trung đoàn 209 thành một tổ, dưới sự hướng dẫn của một anh du kích, chắc tuổi cũng không hơn Thạch.
- Tôi tên Hoàn, bí thư xã đoàn Bảo Vinh… Anh du kích lúc nãy đã báo cáo với trưởng ban rinh sát giới thiệu. Bây giờ chúng ta đi. Hoàn nhìn đồng hồ: 11 giờ 05! Anh ta thêm: theo ta là 11 giờ, nhưng với bọn chúng, bây giờ là 12 giờ đêm…
Thạch đi bên cạnh một anh chàng bé choắt, miệng mím chặt, có lẽ không muốn nói. Nhưng khi Thạch và anh bí thư đoàn xã Bảo Vinh rẽ vào một khóm chuối, anh ta lên tiếng ngay:
- Có chuối chín! Hừ, thơm quá…
- Chuối người ta cúng đấy. Bên kia là ngôi miếu nhỏ.
- Sao bảo dân ở đây toàn theo đạo Thiên chúa, lại cúng nhang chuối à?
Hoàn nhìn lại phía sau:
- Chưa. Dân công giáo ở trong thị xã, ngoài này bà con theo đạo Phật.
Thạch nắm áo tay nhỏ con:
- Anh tên gì:
- Chuân! Còn cậu? Bao nhiêu tuổi rồi?
- Tôi là Thạch… mười chín!
- Vào lâu chưa?
- Mới sáu tháng.
- Trẻ thế? Kém tớ bốn tuổi. Nhưng sao các ông lại cử cậu đi nhỉ? Nguy hiểm lắm.
Thạch im lặng, không muốn đáp lời Chuân. Một lúc sau, Hoàn dừng lại:
- Các anh đứng đây chờ em xíu… Rồi cậu ta rẽ vào một ngôi nhà nhỏ, hình như là cái quán xộc xệch, ghế bàn xếp lại thành một đống, chơ chỏng. Trong nhà tối om.
Chuân lẩm bẩm “Chuồn hả?”.
Lát sau Hoàn ra, đi theo anh là một cô gái bận bộ bà ba xậm màu. Hoàn giới thiệu:
- út Lan, du kích mật, dẫn đường cho mấy anh…
Cô gái cúi đầu:
- Chào hết mấy anh. Cô khoác một cái túi nhỏ, như người đi đòi nợ, Chuân chợt nghĩ ra một hình ảnh. Hoàn nói:
- Bắt đầu vào đến thị xã, tụi dân vệ ngủ rồi. Có hai thằng còn thức là người của đội du kích mật. Nếu thấy nó nói mớ mà hát “Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm”, thì cứ men theo hàng chuối mà đi…
- Nó hát mãi à? Chuân hỏi.
- Không, hát trong mơ thôi. Anh có biết bài ca đó không? Hoàn hỏi lại.
Chuân cau có:
- Mấy bài nhạc vàng đó, ai mà biết.
- Thế thì nhớ lấy… Nhưng có lẽ không sao đâu. Bọn cúng chỉ canh chặt mấy ổ đề kháng… Xong việc quay trở ra, hẹn ở gốc cây xoài kia, có thằng Bích đợi các anh. Khẩu lệnh cũng bài hát đó.
- Mẹ kiếp, nếu lạc thì làm sao? Chuân thở hắt ra.
Hoàn đứng thẳng người lên, chỉ tay về phía chòi canh:
- Cái chòi đó có bảng quảng cáo Côca- côla. Băng qua bên kia đường sắt là có du kích rồi.
- Cậu theo tôi. Chuân kéo tay Thạch.
- Em! út Lan vừa lí nhí vừa bước sang một bên.
Thạch đi sau Chuân và theo cô gái tên Lan rẽ vào một bụi gai xấu hổ. Tiếng côn rùng nhảy rào rào. Ngoảnh lại Thạch thấy Hoàn và hai người nữa đã mất hút. Trước mặt anh, trong bóng đêm Lan chỉ là một đứa trẻ con.
Ba người đi theo một hàng dọc, xuyên qua những bụi cây dại và những lùm dã quỳ hương. Những tàn lá cây xấu hổ được đánh thức, mở lá nghe tí tách. út Lan dừng lại chỉ về phía trước, chắn bởi một khoảng trống, có lẽ là cái mương nhỏ, đầy rác:
- Có một lỗ hổng hàng rào đã được đánh dấu, các anh để em vô trước…
Thạch nhìn Chuân rồi lại nhìn khuôn mặt bầu bầu của cô gái. Trong bóng sáng lờ mờ của khu gia binh hắt ra, khuôn mặt Lan như vầng trăng nhỏ bị gợn mây che phủ. Anh mắt lấp lánh như một đốm sao, dịu hiền nhưng chói sáng. Chuân thấy ái ngại, thì thầm:
- Có nguy hiểm không? Cô ở đây ngồi chờ. Để chúng tôi vào…
út Lan kiên quyết:
- Không! Để em qua trước, tìm được chỗ đó đã. Để mấy anh không tìm thấy đâu. Lẹ lên kẻo trời sáng…
- Thôi được để tôi đi yểm trợ cho cô.
Chuân rút khấu súng ngắn ra, khẽ kên đạn, tiếng ổ khóa nòng đanh đanh. Lựa thế bóp cò để khóa an tòan rồi nắm tay Lan kéo đi. Thạch cũng lên đạn, ngồi lại nhìn hai người bò qua mương rác. Một con mèo hoang nhảy vọt đến chỗ Thạch, đôi mắt nó nhìn bâng quơ vào bóng lùm cây rồi lại nhìn lên bầu trời lấp loáng ánh đèn. Một vài tiếng pháo nổ rất gần.
Thạch cố căng mắt nhìn nhưng vẫn không thấy động tĩnh gì từ bên kia bờ mương. Phía sau lưng, một bóng người thấp thoáng khiến Thạch huớng nòng khẩu súng về phía đó. Bóng người ngồi xuống, rồi lại đứng lên khuất sau bức tường. Thạch mỉm cười một mình. Chờ lâu quá, Thạch tụt xuống men theo bờ mương, mắt căng ra, theo hướng Chuân vừa đi. Khi anh tiến sát vào hàng rào sân vận động, thấy hai người đang quờ quạng. Anh đã hiểu: Lan chưa tìm ra chỗ hàng rào hổng được chuẩn bị trước. Bỗng nhiên, Lan nép người vào, lấy ta một tấm bìa các tông, giọng thì thào như reo:
- Đây rồi!
Chuân rướn người bò vào, rồi quay ra. Thạch đã đến gần:
- Anh Chuân!
Chuân gật đầu:
- Bên ngoài có động gì không?
Thạch lắc đầu, nhưng có lẽ Chuân không nhận ra. Anh nắm tay cô gái:
- Bây giờ em trở lại bức tường kia ngồi đợi bọn anh. Một giờ sau các anh ra…
Cô gái lần tìm bàn tay Thạch, rồi hai tay cô xiết chặt:
- Các anh cẩn thận. Trong đó chúng cài nhiều mìn lắm…
- Bọn anh biết rồi. Không sao đâu. Một tiếng đồng hồ thôi. Mà anh dặn này: nếu có động thì em cứ về trước, đừng chờ các anh.
- Không! Em đợi hai anh…
- Không sao đâu. Bọn anh sẽ có cách…
Hai người lách mình qua lỗ hổng đã được chuẩn bị trước luồn vào bên trong sân vận động. Phải khó khăn lắm Thạch mới tiến sát được bức tường. Hai bàn tay anh lần mò, rồi căng mắt nhìn, cố nhớ lấy nhừng gì mình thấy. Anh bò sát dưới chân cái lô cốt bằng bao cát. Rất may là thỉnh thoảng ở phía đường 20, bọn địch lại bắn những quả pháo tín hiệu, nên Thạch đã thấy được những ổ đề kháng. Chuân luồn sang bên kia tháp nước. Thạch leo lên một mô đất, anh nhìn thấy cái mũ sắt loang loáng, biết là một tên lính đang ngồi ôm súng.
Độ nửa giờ, Thạch đoán thế, anh bắt đầu quay ra chỗ hẹn với Chuân. Chờ mãi không thấy Chuân, Thạch đâm ra lo lắng. Nhưng vẫn không có tiếng mìn hay tiếng súng, toàn bộ khu căn cứ địch vẫn im lìm. Một lúc sau, có tiếng động nhẹ, mơ hồ, Thạch căng mắt nhìn và thở phào: Chuân!
Thạch luồn đến bên Chuân, anh ngạc nhiên thấy anh ta lôi một cái gì đó, như một cái gói vải bọc sơ sài:
- Cái gì thế?
- Của một thằng sĩ quan. Nó ngủ say quá… Tao định bắt sống, nhưng sợ nó giật mình la hoảng lên thì lộ. Nên tao chỉ mượn nó cái này. Mày sờ xem có phải cuốn sổ không?
- Anh liều thế? Cấp trên chỉ yêu cầu chúng ta ước lượng khoảng cách thôi mà… Trận này đâu có cần tài liệu?
- Nhưng cơ mà có được cũng tốt. Thôi chuồn!
- Anh bò ra trước đi…
Công việc coi như hoàn thành được một nửa, nhưng đoạn đường trở ra không phải đã hết nguy hiểm. Thạch cảm thấy đói. Mùi thơm của thức ăn đâu đó ùa tới. Lại khát! Thạch cố giữ cho khỏi bật ra tiếng ho, dù rằng trước lúc đi anh đã uống mấy viên thuốc chống ho, chống hắt hơi. Không biết các anh đã luồn vào bao lâu rồi? Cô bé Lan chờ chắc sốt ruột lắm nhỉ… Còn một khoảng độ hai mươi thước, mười chín, mười tám… Thạch thầm đoán khoảng cách, công việc rất thành thạo của các anh…
Bỗng trước mặt Thạch nhoáng lên một ánh lửa cao vọt khỏi hàng rào, làm anh chói mắt, và bị hất lùi lại phía sau đến hai ba mét. Dư ảnh cuối cùng là hình anh một thân người vọt lên, trong tích tắc rồi bóng tối ập xuống… Thạch đã hiểu ra: Chuân vướng phải một trái mìn.
Thế là hàng loạt tiếng la hét rầm rập từ phía sau lưng, Thạch còn cố quăng mình vào một bụi cây. Phải đến mấy giây sau, hàng loạt đạn cực nhanh mới nhằm về phía trái mìn… Tiếng súng cơ chừng không thể ngưng. Thạch cố nép mình xuống, và anh nhận ra mình đang ở trong một cái hố. Những ngọn đèn pha rực sáng chụm lại chiếu vào khoảng không còn phảng phất những đụn khói bụi.
Độ mươi phút sau, tiếng súng ngừng hẳn, và tiếng người bắt đầu rộ lên:
- ĐM! Thằng nào ra coi có chuyện gì coi! Tiếng một tên sĩ quan.
- Trình đại úy! Có thể là một con mèo hoang nào đó đụng mìn… Một giọng nghe như run sợ. Việt cộng mò vô tới đây chắc chết cha tụi mình…
- Phải đấy đại úy! Việt cộng nó vô đây làm gì giờ nầy? Xe tăng và pháo lớn nhằm vô là xong!
Tiếng viên đại úy:
- Mầy ngu lắm, chúng đi trinh sát, nghiên cứu địa hình… Thôi, trung sĩ Thìn đâu?
- Dạ, có em!
- Mầy thảy mấy trái mi- ni coi có động tịnh gì không? Nhớ cho hai trái ê- te gây mê, để sáng mai tính. ĐM, nếu lính trinh sát Việt cộng vô thiệt thì chúng chưa tiến công căn cứ đâu…
Thạch nép sát xuống lòng hố, chờ đợi. Những tiếng nổ chói tai như ngay sát trên đầu anh. Một trái, hai ba… hàng chục quả lựu đạn thi nhau nổ. Tai Thạch hoàn toàn không nghe thấy gì nữa. Cho đến lúc mọi chuyện im ắng trở lại, Thạch biết chúng không đi lùng nữa. Nhưng những ngọn đèn vẫn chiếu loang loang trên đầu.
Chuân ra sao? Trong ánh sáng cực mạnh của tiếng nổ, hình ảnh Chuân văng mình lên cao. Có thể anh đã hy sinh. Thạch cố tìm cách bò lại phía quả mìn vừa nổ, nhưng đôi chân tê cứng, không nhúc nhích. Anh cố gượng lần tay nắn thử, không thấy ướt của máu. Có lẽ hai chân anh chỉ tê dại do bị ép thôi. Một lát sau, đôi chân cử động trở lại, và khẩu súng vẫn nắm chặt trong tay, Thạch bắt đầu bò, nhưng anh sợ đụng phải mìn nên sức thận trọng. Rất may, mọi tiếng động gây ra đều chìm nghỉm vào trong tiếng ầm ì của xe tăng và súng nổ đâu đó.
Phải trở về! Đó là quyết tâm của Thạch, dù phải chết! Nhưng nếu tới sáng mà không ra khỏi đây coi như không còn thoát được nữa. Khoảng cách vài chục mét tới cái lỗ hổng mà Lan đang đợi vô cùng dài tưởng như bất tận và đầy nguy hiểm. Bò mãi, bò mãi nhưng vẫn không nhích lên được mấy tí. Bỗng nhiên Thạch cảm thấy đầu óc nặng chịch, hai tai ong ong như hàng vạn con ve sầu đang thi nhau ca hát… Mắt Thạch hoa lên, chân tay không còn làm chủ được nữa… Anh ngất đi, trong đói, khát và hoang mang!



0
CHƯƠNG CHÍN



Thu Trang bưng chậu quần áo vừa giặt đến góc sân, ngoái nhìn ra phía cửa, có một hình hài gì đó luôn ám ảnh nàng quanh đây. Bầu trời phía tây đỏ rực một màu lửa, thỉnh thoảng lại dội lên những tràng tiếng nổ dồn dập, tựa hồ như cả vòm trời sắp sửa nổi lên cơn giông tố mịt mùng. Mải nhìn, sự lơ đãng suýt đưa bàn chân chị lọt xuống cái rãnh thoát nước, đọng đầy bọt xà bông. Quay lại, ngang mặt đụng phải sợi dây phơi bằng thép giăng ngang tầm mắt, làm Thu Trang loạng choạng. Chị mong một tiếng gì đó quen thuộc ở ngoài cánh cổng khóa kín. Có thể là tiếng xe, tiếng chân bước dồn dập hay tiếng lè nhè của mấy chú lính sau những chầu nhậu bán mạng. Nhưng tuyệt nhiên im ắng. Con chó già màu xám tro luẩn quẩn bên máng nước, cái nóng làm nó mệt mỏi lủi vào sau chuồng gà ọp ẹp, trống lỗng. Lòng trung thành của con chó có thể ví với trung sĩ Tuất, người bà con họ xa của Thu Trang.
Từ sau cánh cửa sơn màu xanh hòa bình, ám đỏ bởi bụi đất ba zan, bà má chồng của Thu Trang đang ngồi lặng lẽ, gom những mảnh áo cũ. Lúc sau bà ngẩng lên nói với ra sân sau:
- Trang à! Sao mấy bữa rà không thấy thằng Tuất ghé nhà mình?
Thu Trang bối rối:
- Dạ… nghe nói đơn vị ảnh chuyển về Dầu Giây rồi má…
- Vậy hả? Mà Dầu Giây với Long Khánh thì có bao xa…
Thu Trang im lặng, nàng cảm hấy mình có lỗi, khi nói dối bà cụ. Sự thật là anh Tuất đã tử trận. Tuất là một thanh niên sống bạt mạng nhưng có tình có nghĩa. Anh ta là con người chị ruột của má Tân, Tuất kêu bà bằng dì. Người mẹ xấu số qua đời sớm để lại Tuất cho dì nuôi, mà không biết cha Tuất là ai. Tuất lớn lên bên cạnh Tân, nhưng không hề giống Tân. Nếu Tân là một chàng trai khéo léo, biết chăm chút cho đời mình từ rất sớm, từ cách ăn ở học hành đến lý tưởng cầu tiến… thì Tuất như một cây cỏ hoang. Tuất lớn lên như một kẻ hầu cận của Tân - và sau này, trong quân ngũ, điều đó đã gần trở thành hiện thực. Tân trở thành sĩ quan, một tuyên úy, một sĩ quan tâm lý chiến, người hành đạo, nhân vật quan trọng, thì Tuất là một trung sĩ quèn… Không gia đình (dù nhà của Tân chính là nhà của Tuất), không vợ con… Tuất đơn giản như cây cỏ. Đánh nhau ư? Tốt! Đánh nhau thì đỡ buồn, có tiền nhậu, có kẻ sợ…
- Thằng Tân là em tao, nhưng nó là sĩ quan giỏi lắm! Đó là một sĩ quan hết sảy… Nói tiếng Mỹ, đi học ở Mỹ, nó là người chỉ huy, là Chúa Trời…
Những khi Tân đi công cán, vắng nhà, Tuất kéo cả một toán quân đến khai triển đội hình bảo vệ gia đình trung úy. “Mày làm cái giống gì vậy Tuất?”, bà dì hỏi thì Tuất nghiêm trọng:
- Con bảo vệ dì và gia đình ta không để bọn du kích Long Khánh tấn công! Cặp mắt một mí đứng tròng và đôi môi dày trễ xuống của Tuất khiến bọn đàn em muốn cười mà không dám bởi cái tính hung hãn của anh ta.
Thu Trang cũng mỉm cười với Tuất:
- Anh khỏi cần bảo vệ kĩ quá vậy, kẻo du kích họ kéo đến đánh bọn anh, tụi tui bị dính chùm…
Tuất không hiểu Thu Trang nói đùa hay nói thiệt. Con người đơn giản không hề biết đùa giỡn ấy trước Thu Trang lại càng hoang mang:
- Cô Hai nói sao? Du kích đánh tụi này làm cô Hai bị vạ lây hả?
Thu Trang thấy tội nghiệp Tuất, nàng giảng giải:
- Tôi nói chuyện vậy mà. Mấy anh khỏi cần vất vả đến như vậy. Được nghỉ thì cứ ra quán bar mà ăn uống. Má con tôi có trêu chọc gì du kích đâu mà sợ họ đánh?
Tuất ra hiệu cho bọn đàn em rút đi, nhưng riêng anh ta thì vẫn thỉnh thoảng ghé về, nai nịt súng đạn gọn gàng, luôn ở tư thế chiến đấu.
Vậy mà cuộc đời Tuất thật ngắn ngủi, anh đã ra đi lặng lẽ, trong một trận càn vào vùng du kích. Cái đức lầm lì, gan lì đã hại anh. Chiến tranh, súng đạn và lòng căm thù … đã đưa anh về nước Chúa. Thanh thản, âm thầm…
Thu Trang ngồi lặng dước gốc cây vú sữa già nhìn qua hàng rào phủ bụi đỏ, thấy nững bóng người chập chờn, thoắt ẩn, thoắt hiện, khiến nàng tưởng tới đoàn người nối đuôi nhau đi về nước Thiên Chúa mà nàng vẫn nghe được trong những buổi đọc kinh Sáng Thế. Nhưng hôm nay đã khác, đã là một buổi chiều tàn, sự đợi chờ người chồng đã gần như muốn cạn kiệt. Tân ơi, anh đang ở đâu? Anh đi những đâu? Chúa lòng lành xin Ngài đưa chồng con về với con, với mẹ con con…
Bất chợt con chó già hực lên một tiếng, cái đuôi bông vàng chấm đen của nó ve vẩy một cách hào hứng. Tân về! Thu Trang vụt đứng dậy, còn nhanh hơn cả con chó, lao ra mở cổng. Con chó thật tinh khôn, là người vợ, Thu Trang chưa thấy chồng đâu, nhưng con chó đã nhận ra hơi chủ của nó, mà phải đợi đến vài phút sau, chiếc xe nhà binh chở trung úy Tân mới rẽ ngoặt ra, từ sau một ngã tư đầu phố. Trái tim Thu Trang như muốn ngừng đập, để rồi, sau đó, nó đập vang dội, tạo nên những tiếng dội từ hai bên thái dương, rồi tận đỉnh đầu xuống, khiến đôi chân nàng như muốn khuỵu xuống…
- Anh! Nàng thốt lên một tiếng gọi nho nhỏ, khi trung úy Tân nhảy ra khỏi xe, nhanh nhẹn như một chàng dũng sĩ, xoải những bước dài về phía nàng:
- ở nhà thế nào?
- Chẳng thế nào cả. Chỉ mong anh về qua nhà…
Trung úy quay lại khẽ vẫy tay ra hiệu cho tên lính tài xế rằng hãy chờ trung úy ở đây, rồi Tân dìu vợ vào nhà. Mùi nồng nực theo hơi nóng từ phía sau nhà bốc lên lùa vào phòng khách bụi bặm, khiến Tân cảm thấy ngôp thở.
- Má đâu? ánh nắng chiều chói gắt khiến trung úy không nhìn thấy bà mẹ đang ngồi lặng trên chiếc ghế bố, khuất sau chồng hòm giấy chất ngay lối đi. Em làm cái gì mà đồ đạc ngổn ngang vậy Thu Trang?
- Thằng Tân đã về đó hả?
- Má ngồi đó mà con không thấy. Má có khỏe không? Mấy bọc thuốc cậu Sáu gởi lên má uống thấy đỡ không?
Không trả lời con trai, bà cụ gượng ngồi dậy, bước ra chỗ sáng. Tân nhìn mẹ với dáng hình quen thuộc: áo cánh cộc tay trắng, tóc vấn trần, hàm răng đen chắc. Chỉ có lớp da nhăn nheo như nhiều hơn mọi ngày xô nhau vào rồi lại giãn ra theo nhịp thở khó khăn.
- Thế nào? Liệu có phải tản cư đi khỏi đây không con?
- Tình hình cũng chưa biết thế nào… Tân lặng lẽ cởi áo khoác, tiện tay đưa cho vợ. Từ mai, má ở nhà đọc kinh được rồi, đừng lên nhà thờ, nguy hiểm lắm.
- Cộng sản họ có bắn vô nhà thờ đâu mà sợ. Vậy chớ quân đội của các anh để làm gì mà không chặn được cộng sản?
Thu Trang kiễng chân treo chiếc áo trâydi (treillis) của chồng lên cái máng áo bằng gỗ, xộc xệch, nàng vừa thở, vừa quay lại nói với chồng:
- Em tính đưa má và các con về Sài Gòn ít bữa. Bất quá, cả nhà tạm lánh về Long Xuyên. ở dưới đó nghe nói Việt cộng họ không làm dữ…
Long Xuyên là quê Thu Trang, dưới đó nàng con gia đình, ba má và hai đứa em. Tân nghe vợ nói vậy thì nhìn sang mẹ, định nói một câu gì đó lại thôi. Không thấy chồng trả lời, Thu Trang hỏi lại:
- Anh thấy sao?
Tân ngồi xuống chiếc đi- văng, bên cạnh mấy bọc đồ, thở dài:
- Má thấy nhà con nói vậy có được không, má?
Bà cụ không nói, đứng dậy, với tay lên nóc tủ, quơ tìm cái gì đó. Bàn tay run rẩy của bà đụng phải một cái hộp giấy, nó nghiêng xô sang một bên, suýt đổ, làm bà giật mình:
- ối, Chúa ơi! Sao trong nhà này toàn là những hòm xiểng, bao bị, đụng đâu cũng thấy là sao?
Tân đỡ mẹ ngồi xuống:
- Má tìm cái gì?
- Hộp trầu của tao?
- Thu Trang ơi, hộp trầu của má đâu? Mà má vẫn ăn trầu à? Con nói má bỏ đi. Cách rách quá, ngồi đâu nhổ bã trầu, quết trầu, bất tiện quá!
- Cha bố anh! Tôi chỉ còn có miếng trầu, bỏ thì miệng nó nhạt thếch.
Miệng chửi thế, đôi tay già nua, nhăn nheo của bà cụ giữ khư khư hộp trầu bằng một cái hộp đựng bánh bằng thiếc, sơn tróc gần hết, cóc cáy. Bà cụ lớn lên từ miền Bắc, vô đây mang theo cả một thói quen, răng đen, ăn trầu. Hôm trước nghe nói phải “tản cư, chạy giặc” về quê của con dâu, của thông gia bà thấy có cái gì đó rất tủi thân. Đã bỏ xứ vô đến đất này, giờ lại nương nhờ bên nhà con dâu. Cái thằng chồng nó thất cơ lỡ vận, bám vào bên nhà vợ, cũng là đặng chẳng đừng. Bây giờ lại còn dắt theo cả cái nắm xương này… Bà thấy không được.
- Nếu thấy lọan quá thì mẹ con nhà chị Trang về dưới ở với ông bà ít ngày. Cứ để tôi ở trên này cũng được.
- Má nói vậy sao được? Thu Trang ấm ức. Mấy mẹ con, bà cháu sống chết có nhau chớ biểu con để má ở lại một mình, con còn mặt mũi nào?
- Thôi thế này vậy, để tôi nói hết. Chị là con, mấy đứa con thằng Tân là cháu ngoại ông bà dưới ấy, có bề gì phải quay về như các cụ vẫn nói “tấn về nội, thối về ngoại”, gì thì gì cũng là cái đạo. Còn như tôi, bây giờ đem cái thân già làm phiền cho thông gia, vạn nhất tôi chết ở đây chứ không thể. Đấy, thế là có cả hai vợ chồng anh chị, tôi đã nói hết ruột gan rồi.
Tân ngồi ôm đầu, thở dài. Bên ngoài bóng tối trùm xuống rất nhanh. Tiếng xe cộ thưa dần, thị xã chìm lặng lẽ vào màn đêm.
Thu Trang bày mâm cơm ra, lễ phép:
- Con mời má dùng cơm. Anh ăn cơm cùng cả nhà nhé…
Tân ngẩng lên nhìn hai đứa con lớn đã lặng lẽ ngồi vào bàn, con út Hương đang nũng nịu bên bà nội. Nhìn Thu Trang đi lại, lặng lẽ mà chính xác từng động tác trong nhà, bỗng Tân cảm thấy xót xa, nghĩ đến cảnh ly tan trong một ngày gần đây. Anh quay sang nói với vợ:
- Anh Tuất chết rồi, em biết chưa?
Thu Trang ngưng lại nhìn chồng, ra dấu bảo đừng để mẹ biết. Tân sững lại, rồi lắc đầu, quay sang nói với mẹ:
- Má ơi! Anh Tuất nhà mình bị tử trận rồi!
Bà cụ buông tay đứa cháu ra, thẫn thờ. Làm dấu thánh giá:
- Lạy Chúa lòng lành! Xin hãy mang linh hồn nó đến nước Người!
Tân kinh hoàng trước ánh nhìn của mẹ, hướng lên tượng Thánh chịu nạn trên tường. Đôi mắt ấy khô ráo, không nói lên một cái gì, kiểu như thương cảm hay thất vọng mà Tân nghĩ sẽ hiện lên trong ánh mắt mẹ khi nghe anh báo tin Tuất chết trận. Nhưng không! Bà tiếp tục làm dấu thánh:
- Người ta có tìm được xác nó không? Có chôn cất cho nó được không?
Tân ngần ngừ:
- Con mới gặp thằng Cường, nó cũng có mặt lúc anh Tuất bị tử thương…
- Nó nó sao? Bằng đôi mắt mờ, đã bắt đầu kéo một lớp màng đục trắng, bà mẹ lom lom nhìn trung úy Tân, hòi dồn.
Tân nhớ lại lời thằng Cường kể:
Vừa thoát sau một trận phục lích bất ngờ của Việt cộng, binh nhất Cao Huy Cường và Tuất, chạy theo đội hình về đến gốc cây xoài rừng, cháy xém lá. Trời đã về chiều, nắng nhạt nhưng âm u một cách ghê rợn. Tiếng phi cơ ì ầm nhưng mãi tận đâu đâu, không đủ củng cố niềm tin của đại đội. Toàn đơn vị được lệnh chọn các cao điểm và phân tán mỏng để quan sát. Buổi chiều trong rừng vắng nghe tiếng đại bác Việt cộng đều đều pháo vào phía nam Xuân Lộc, không còn nghe tiếng AK và súng cối quanh suối Rót nữa nên anh em đoán chỉ có các đơn vị nhỏ của Việt Cộng thôi, hơn nữa có lẽ Việt cộng cho rằng đại đội đã rời khỏi suối Rót và tập trung về hướng ngã ba Dầu Giây.
Tuất ngồi hí hoáy ghi chép nhật ký hành quân phía trước mặt (Tuất ít học nhưng lại rất say mê chữ nghĩa), thằng Khoẻ ngồi kế bên. Cả toán ngồi, tay ôm súng, ba lô còn đeo trên lưng dựa người vào những tảng đá xanh rêu, khung cảnh thật hữu tình nhưng không ai quên được cảnh chiến tranh. Tay quẹt quẹt trên khẩu M- 16 như đang chơi guitare, một tên nào đó, hình như thằng Biên, hát nhỏ vừa đủ cho ba thằng nghe bản nhạc Vó Câu Muôn Dặm của nhạc sĩ Văn Phụng: “Anh em ta đi muôn phương xa, non xanh bao la, ta vui câu ca những đêm xa nhà cùng ngồi bên đá. Nhịp đàn vui hoà vang khắp nơi... Đem chí trai can trường...”
Hai ba người chuyền tay nhau hút điếu thuốc trong ngày sao ngon tuyệt. Đến lượt Cường đang hóp má kéo thì có tiếng nhắc nhở của tiểu đội trưởng Cần:
- ĐM, muốn kêu Việt cộng tới hay sao, tụi bây?
Cường định dập điếu thuốc, nhưng trung sĩ Hà hất hàm, ý như bảo “Cứ hút”. Một điều cấm kỵ của mùi khói thuốc trong vùng tranh chấp, nhưng nhờ có làn gió nhẹ nhẹ thổi đúng về cái hướng Nam an toàn đã cho mấy người lính phì phà một cách thật thoải mái. Bỗng có lệnh hành quân tiếp, tiểu đội trưởng Cần chăm chú quan sát trên địa bàn, lấy phương hướng và bắt đầu di chuyển đến điểm hẹn, hàng dọc tác chiến, phân tán mỏng để tránh pháo. Bỗng có tiếng phi cơ rộ lên, tiếp đó là những tiếng nổ giòn của pháo cáo xạ. Rất gần. Đây là loại âm thanh mà cả tiểu đội của Cường chưa từng nghe. Tiếng nổ trên cao, nghe không dữ dội, không có vẻ gì là nguy hiểm, nó chỉ lục bục như tiếng cơm sôi. Đó là pháo cao xạ của Việt cộng. Thế nhưng bỗng có tiếng gầm rít chói tai của một chiếc A37 sà xuống ngay trên đầu họ. Và… đất đá, cành cây vung lên rào rào.
- ĐM! Phi cơ nó ném bom tụi mình… Tiếng trung sĩ Hà hét lên bỗng nghẹn tắc.
Đất đá tiếp tục rơi, và mùi cháy khét. Cường lăn xuống một cái hố trũng sau một mô đất. Chiếc mũ sắt lăn công cốc, Cường định với tay nhưng không kịp. Một lát sau im ắng trở lại. Cường mở mắt, một hình hài quái dị hiện ra: nửa thân người phía dưới, chỉ có cái bụng lòng thòng ruột và đôi giày đang giãy giụa. Cường sợ quá, nhắm mắt lại, hít thật sâu một hơi như người lấy hơi chuẩn bị lặn, trong cổ họng, trong vòm miệng anh ta đặc nghét đất và lá cây. Cường cố nhoai lên, vươn tay nắm lấy một cái gì đó, một cái nhánh cây chẳng hạn. Nhưng bàn tay anh nắm được một cái gì đó, bèo nhèo, nong nóng. Cường kéo lại nhìn kỹ thì ra một đoạn ruột, hãy còn nóng và đẫm máu. Cường vùng dây, chạy nhưng lại vấp phải hai cái chân không đầu, với đôi giày, ngã xuống.
- Thằng Tuất, thằng Cường đâu rồi? Tiếng tiểu đội trưởng Cần.
Cương hét to “Có em đây, Trung sĩ”, rồi vội vàng đứng lên. Bất ngờ, cậu ta nhìn thấy đôi mắt trừng trừng của anh Tuất. Anh đã chết, nhưng chỉ có nửa thân người trên, dựng đứng kề tựa vào một gốc cây đang cháy, nên Cường tưởng anh ta còn sống, thậm chí còn nhếch mép cười . Thì ra hai cái chân giãy giụa với đôi giày mà Cường nhìn thấy là của anh ấy. Cường chạy lại chỗ tiểu đội trưởng Cần, trung sĩ đang bị kẹt dưới một thân cây đổ chặn ngang bụng. Cường lấy sức ráng nâng thân cây lên để cứu vị chỉ huy, nhưng không được. Cậu ta cúi xuống:
- Trung sĩ nằm đây để em gọi người…
Cần khẽ gật đầu. Cường chạy lên trên dốc, bỗng cậu nhìn thấy trung sĩ Hà nằm úp mặt xuống một cái rãnh. Cường cố sức lật trung sĩ Hà dậy, nhưng anh ta đã chết. Máu ở mép vẫn rỉ ra…
Cường để trung sĩ Hà nằm xuống, rồi đứng thẳng người gọi to. Chưa dứt tiếng kêu cứu thì lại có tiếng phi cơ ào đến. Cường không còn thấy sợ, anh cúi nhìn và vớ được cây súng M16 nằm bên cạnh xác trung sĩ Hà, đứng thẳng người, dang hai chân, miệng chửi thề:
- ĐM, không quân cái con cặc, ném bom chết hết tụi tao rồi…
Cường nghiến răng bóp cò! Khẩu súng nảy trên tay bần bật. Vừa hay có một chiếc A37 lao tới trên một khoảng trời trống. Và… thật kinh ngạc, khiến Cường cứ đứng há hốc miệng nhìn trời: từ một bên cánh của chiếc phi cơ bỗng nháng lửa. Đốm lửa nhỏ tí chỉ trong chớp mắt đã loang ra, rồi bùng lên phủ lấy nửa thân sau của con chim sắt. Nó lảo lảo đảo rối đâm sầm xuống cánh rừng trước mặt. Sao thế nhỉ? Chẳng lẽ với vài viên đạn cực nhanh của Cường đã hạ sát được con quái vật, niềm hy vọng của quân lực…
Không gian nhanh chóng trở lại im ắng. Tiếng tiểu đội trưởng Cần rên rỉ phía sau, kéo Cường về với thực tại. Anh nhìn quanh và bỗng nhiên nỗi lo sợ lại ập đến. Vừa mới đây thôi, hơn chục con người giờ đây đã tan biến đi đâu hết cả! Cường chạy như điên dại loanh quanh trong khu vực, tìm bạn đồng đội. Lát sau, từ trong lùm cây một khuôn mặt nhô ra: thằng Khỏe.
- Mầy có sao không? Khỏe lên tiếng.
- Tao không, nhưng trung sĩ Hà chết rồi, anh Tuất bị chặt làm đôi.
- Ông Cần đâu?
- Bị kẹt dưới kia! Tao với mầy xuống cứu ổng đi! Lẹ lên…
Kéo được trung sĩ Cần ra khỏi thân cây bị bom tiện ngang, đổ xuống, may mà trung sĩ không việc gì, chỉ bị xước nhẹ bên đùi phải và cháy xém một mảng tóc. Ba người lặng lẽ lần mò, khi bước qua chỗ nửa thân người của hạ sĩ nhất Tuất, Cường đặt nửa cái thân người ấy như một pho tượng bán thân nằm xuống, lấy tấm ponchot đắp lên mặt. Cường tìm quanh nhưng không thấy cái thân dưới của Tuất, mà vừa mới rồi hắn ta còn nắm phải những khúc ruột. Cần lắc đầu:
- Để nó đó, lát kêu người tới tìm. Bây giờ làm sao liên lạc với đại đội?
Khỏe chạy lên phía trước, bắc loa kêu to “Anh em đại đội 3 đâu rồi! Đến cứu chúng tôi…”. Cường tìm được một bình tông nước, đưa cho trung sĩ. Cần hớp một ngụm rồi trả lại, Cường xúc miệng rồi nhổ ra, cuốn theo cả đất, lá cây…
Một lúc sau có tiếng người cùng với Khỏe quay lại. Đại úy Chấn hất hàm:
- ĐM, tụi nó thấy cao xạ pháo của Việt cộng, sợ vãi đái, ném bom vào đội hình của ta. Tao điên quá, trong tay không có lấy một khẩu đại liên, cho nó về chầu ông bà…
Cường nhanh nhảu:
- Trình đại úy, có một phi cơ bị trúng đạn, bốc lửa dữ dội. Chắc thằng con ra tro…
- Tao có thấy. Nó rớt ngay phía bên kia suối. Mà nó sợ là phải, đạn cao xạ của cộng sản như sạ lúa. Chắc nó dính…
- Dạ, em! Cường kiêu hãnh.
- Cái gì? Đại úy chăm chú nhìn tên binh nhất trẻ măng, mặt còn đầy mụn cóc. Mày “em em” cái gì? Lần đầu tiên hưởng bom hả?
- Dạ không! Em bắn cháy cái A37 đó!
- Xạo quá mầy ơi! Thằng Khỏe chen vào. Dóc tổ! Tao thấy mày sợ vãi đái, chổng mông lên cho nó quất…
- Thiệt mà! Cường cãi lại. Sau đợt bom, nghe tiếng trung sĩ Hà kêu “Phi cơ bỏ bom tụi mình”, em đứng lên cho nó một tràng. Chỉ định bắn lên trời cho hả giận, nào ngờ nó bốc chấy đùng đùng. Đã hết sức đã….
Đại úy Chấn tròn mắt:
- Mày mà bắn được nó? Súng gì?
Cường giơ khẩu M16:
- Đây nè!
- Thôi đi ông con. Cao xạ của Việt cộng đấy. Mà chớ có nói dóc đến tai tiểu đoàn nó tưởng mày bắn thiệt, tù mọt cùm, con ạ. Thôi bây giờ để tụi quân y và mấy thằng ở lại dọn dẹp tụi nó. Trung sĩ Cần!
- Dạ… Cần lên tiếng nhỏ nhẹ, dường như không tập trung nghe lệnh đại úy, không hiểu anh ta nghĩ gì.
- Sao? Tập hợp tụi nó lại, mười phút sau, trình diện đại đội ngoài bìa rừng…
- Rõ! Thưa đại úy!
Đồi 169 nằm ở hướng Đông Nam và cách thị xã Xuân Lộc chừng vài cây số đường chim bay, đây là một ngọn đồi có cao độ 169 mét, trên đỉnh đồi gồm nhiều tảng đá nhỏ chen lẫn những cây cối mọc rất còi cọc, tầm quan sát rất rộng rãi. Tại đây cánh quân của đại úy Chấn bắt tay được với một đại đội trực thuộc Liên đoàn 3 biệt động quân đang ém quân ở đây. Đại đội biệt động quân đã chạm địch khoảng năm ngày trước đó. Lương thực của họ đã cạn, năm sáu ngôi mộ của các chiến sĩ biệt động quân được chôn cách đỉnh khoảng bốn chục mét nơi có ít đá, với một khoảng đất mềm. Những nấm mộ không bia nhưng mỗi đầu mộ đều có thập tự giá làm bằng cây rừng được giữ vững bằng những hòn đá nhỏ xếp dưới chân.
Một số thương binh mình đầy thương tích, máu khô đọng cứng được bác sĩ Châu và thượng sĩ Bành chích thuốc và thay băng cho họ. Đại đội được chia phần lương khô rồi chia lại cho đơn vị bạn. Họ đã không được tiếp tế thuốc men và lương thực trong nhiều ngày qua vì áp lực của địch quá mạnh. Vị đại đội trưởng xin lệnh về liên đoàn 3 biệt động quân để cùng tháp tùng với liên đoàn biệt cách nhảy trở vào Xuân Lộc. Thương binh của họ được tản thương về Long Bình cùng với thiếu úy Thiện.
Từ đồi 169 Cường nhìn thấy thị xã Xuân Lộc đang loang lổ, chỗ đỏ bầm, chỗ vàng úa, chỗ lại lấp lóa ánh nắng. Ngay sau đó đơn vị của Cường được lệnh hành quân tiếp theo hướng đông - bắc. Cũng chẳng biết đi đâu. Nửa giờ sau, họ đã tới một bản người Thượng. Có lệnh dừng lại qua đêm. Trong bản Thượng hoàn toàn vắng lặng, người dân Thượng hiền hoà sống xa thành thị cũng đã chạy trốn quân đội hai bên. Chẳng có gì ăn, thì có một con chó lấp ló sau bụi cây rậm rạp. Thằng Khỏe bảo:
- Cường! Mày có tài bắn phi cơ, mày thử bắn con chó kia xem.
- Không! Cường lắc đầu, và nói thêm. Để làm gì? Mày không thấy nó sợ tiếng súng đến lòi mắt ra kia hay sao?
- Đồ ngu! Thằng Khỏe hằm hè. Được một bữa ngon lắm nghe mầy? Không thua gì thịt cầy tơ ở Hố Nai đâu nghe con.
Nói xong, thằng Khỏe giương súng. Một tiếng nổ đanh gọn. Con chó kêu lên một tiếng “oẳng” rồi lăn ra giãy chết. Tiếng trung sĩ Cần:
- Thằng nào bắn?
Khỏe cười hì hì rồi sau đó nó lượm xác con chó đem đi thui. Con chó không được làm ruột quăng vào trong đống lửa, mùi lông chó cháy bay khét lẹt. Cường nhớ đến nửa cái thân của Tuất, hắn ta lẳng lặng đeo ba lô súng đạn rời khỏi nơi họ nướng con chó xấu số đó. Đêm ấy, bọn họ được hưởng một đêm an lành trong bản Thượng có tên là Srok Gòn. Ngày hôm sau, khi Cường và mấy anh em quay trở lại chỗ dội bom của mấy chiếc A37, họ ráp được phần đầu và phần thân của Tuất vào rồi chôn ở một mô đất gần đó, cùng với trung sĩ Hà và những người khác.
Câu chuyện thật bi thương, nhưng Tân nói thác đi:
- Con chưa gặp tụi lính đơn vị của anh ấy để hỏi. Đơn vị của anh Tuất bị Việt cộng đột nhập, chứ không phải hành quân, nên chắc là kịp chôn cất, theo đúng thủ tục nhà binh…
- Anh hỏi kỹ lại để có gì cho tôi đến thăm nó. Có ai cầu kinh cho nó không?
- Chắc là có. Đơn vị nào chả có tuyên úy hả má! Thu Trang nãy giờ đứng nhìn mẹ chồng, góp thêm vào.
- Thế cũng được. Thôi, anh chị ăn cơm đi, con Hương ăn cơm với ba mầy, bà đi nằm chút đây.
- Má không ăn gì sao? Tân hỏi vợ.
- Chiều giờ má ăn một tô hủ tíu rồi. Thu Trang nói nhỏ với chồng rồi dìu mẹ vào phòng trong. Bà cụ vừa dò dẫm đi vừa ngoái lại:
- Đêm nay anh Tân ở nhà chứ?
- Dạ không, má! Con tranh thủ lấy xe của trung tá Bình về qua nhà. Đêm nay con phải vô trỏng. Tình hình căng thẳng lắm. Bà cụ không nói gì, đi khuất vào trong. Tân ôm bé Hương cho nó ngồi cạnh mình:
- Con ăn gì để ba gắp cho nào?
Bé Hương nũng nịu, nheo mắt, ngắm nghía, lựa chon những món ăn trên mâm, không chịu nói. Bỗng cánh cửa xịch mở, môt tên lính bước vào.
- Cảnh! Có chuyện chi vậy? Tân vừa đút cho con gái miếng chả, ngẩng lên.
Người lính tên Cảnh ngập ngừng nhìn Thu Trang, như kẻ có lỗi bị bắt quả tang. Tân nhìn vợ đang vừa từ phòng trong bước ra, hất hàm cho Cảnh:
- Cứ nói đi!
- Dạ, trình trung úy, thiếu tá Bình có lệnh gọi trung úy về gấp!
- Mày có biết chuyện gì không?
- Dạ em không biết!
- Hừ… Tân đặt con bé Hương sang một bên, đứng dậy, nhận cái áo từ tay vợ, lầu bầu:
- Có chuyện mẹ gì? Hay ông muốn lấy xe?
- Dạ, em không biết!
Tân mặc áo xong, nhìn vào đôi mắt đầy kinh ngạc của vợ, rồi nói vào phòng trong “Má ơi, con đi đây!”. Tân nhẹ vỗ vai vợ rồi cúi xuống hôn lên tóc bé Hương, nói với hai đứa lớn “Ba đi!”, rồi đứng thẳng người, lấy dáng hùng dũng ra cửa. Cảnh đã kín đáo ra khỏi phòng, để ông bà trung úy được thoải mái. Trước khi ra khỏi nhà, Tân quay lại thấy vợ đang theo sát:
- Em cứ chuẩn bị, tình hình có bề nào, mai anh về sẽ quyết định…
Thu Trang khẽ gật đầu rồi gục đầu vào vai chồng… Tân hôn nhẹ lên đôi mắt đẫm nước của Thu Trang rồi nhẹ nhàng nhảy lên chiếc xe jeep đã nổ máy sẵn.
Thu Trang đứng nhìn theo vệt đèn pha của chiếc xe quết ngang mặt đường, rồi mất hút sau ngã tư quen thuộc.



Trích đoạn: Phung_Hoang

CHƯƠNG BẢY (2)


Đang mơ thấy mình được về bên mẹ, mẹ lại gọi cả Nhiên đến, rồi hai đứa vặn mãi, vặn mãi cái đồng hồ… bỗng nhiên Thạch thấy có người đá mạnh vào mông, vừa đau, vừa tức anh vung tay, chạm phải một cánh tay khác. Trời vẫn nhoang nhoáng ánh chớp và ầm ì tiếng xe tăng, nhưng Thạch nhận ra Phương. Nó đã tỉnh táo, cầm cái bát sắt cười hì hì:
- Dậy đi cậu! Trung đội trưởng Đào vừa bảo tớ gọi cậu đấy. Sắp đến giờ đi nạp mình cho muỗi rồi…
Thạch rụi mắt ngồi dậy, toan nói “nạp mình cho muỗi còn may, nạp cho mìn mới đáng giá”, nhưng lại thôi. Những câu đùa như thế đôi khi không có lợi, Thạch đã tự răn mình như thế. Cầm bát nước Phương Vỏ đưa, Thạch xúc miệng qua rồi uống một ngụm, số nước còn lại, anh vã lên mặt cho tỉnh ngủ. Mùi tanh của bùn, của phân trâu trong bát nước suýt làm Thạch phát nôn. Kể cũng lạ, uống vào mồm, vào ruột thì không sao, nhưng rửa mặt thì cái mùi tanh nồng ấy xộc vào tận tâm can. Nhưng nhờ thế, Thạch tỉnh ngủ hẳn. Thấy Phương vẫn ngồi nhìn mình trong ánh chớp lờ mờ, Thạch nghi ngờ:
- Cậu nhìn tớ ghê thế? Có chuyện gì hả?
Phương lưỡng lự:
- Tớ định để cậu đi thực địa về mới kể, nhưng….
Thạch phì cười, nhằn một cái gì đó như cọng cỏ hay lá mục trong miệng:
- Sợ tớ đi không về à?
Phương nắm tay Thạch:
- Không phải. Thôi để tớ kể vắn tắt cho mà nghe. Chiều nay, lúc cậu đi với anh Đào lên tiểu đoàn, tớ gặp thăng Trí, bạn cậu hồi ở trường thiếu sinh quân?
Thạch tươi hẳn lên:
- Thế à? Gặp ở đâu? Mà sao cậu biết nó?
- Tớ chẳng đã kể cho cậu nghe chúng tớ suýt choảng nhau ở chân cầu Long Biên hồi chúng mình sắp nhập ngũ rồi còn gì?
Thạch nhớ ra:
- ờ phải rồi. Nó có khỏe không?
- Khỏe. Gặp nhau hai thằng cùng mừng lắm, nhưng chỉ nói được mấy câu. Nó ở D2, trung đoàn 14. Bên ấy gay lắm…
Thạch phân vân:
- Làm thế nào để gặp được nó nhỉ? Thôi để mai tớ về, rồi hai thằng mò đi tìm nó.
Phương cầm lấy cái bát trong tay Thạch, lắc đầu:
- Khó lắm. Chắc phải sau chiến dịch. Nhưng mà có chuyện này, mày biết không?
- Cái gì?
- Thằng Trí nó nói với tớ là nó muốn vào Sài Gòn. Trong đó nó còn một ông anh trai, hiện đang là sĩ quan ngụy…
- Sao lại thế?
- Ai mà biết…
Vừa lúc đó có tiếng trung đội trưởng Đào: “Thạch đâu? Xong chưa ra đây nhanh lên”. Thạch nắm tay Phương xiết chặt. Phương cũng không ngờ, đấy là cái bắt tay cuối cùng của anh với người bạn cùng tiểu đội… Thạch còn vướng víu mãi câu chuyện về thằng Trí, nó người Sài Gòn gốc, gia đình nó đã ra Bắc, ba nó làm ở bộ ngoại giao, to lắm, mẹ nó làm bác sĩ ở bệnh viện Việt Xô.
Đoàn trinh sát có sáu người, trong đó hai người Thạch chưa từng gặp. Trong lúc ngồi dựa lưng vào gốc cây cao su, Thạch tò mò:
- Hai ông kia là ai thế anh Đào?
Đào ghé tai Thạch, nói thầm:
- Cái ông lùn lùn, quần xắn lên là sư trưởng đấy.
Thạch khẽ “à” một tiếng:
- Còn ông kia? Người đang sửa đèn pin ấy?
- Tham mưu trưởng sư đoàn.
Thạch cảm thấy phấn chấn. Chuyến đi này, anh được tin cậy đi cùng với sư trưởng Lê Nam, tham mưu trưởng, trưởng ban trinh sát, rồi cả tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn trinh sát của sư…
- Tí nữa có thêm trinh sát trung đoàn 209. Họ đợi ở đầu xóm, trong kia…
Thạch nhận thức được rằng đây là trận chiến vô cùng quan trọng, nên đoàn trinh sát mới có cả sư đoàn trưởng thế này. Thật ra, những tin chiến sự hàng ngày dồn dập đưa về, quân ta đang tiến mạnh, trong lúc quân địch tan vỡ những mảng lớn, thì những trận đánh như thế này rất quan trọng. Và, tính ác liệt của nó cũng được nâng lên đỉnh điểm, hết cỡ…
Đúng mười giờ đêm, sư trưởng rụi mẩu thuốc lá xuống đất, rồi đứng dậy. Thạch và trung đội trưởng Đào đi lên phía trước, ngay sau anh du kích Long Khánh được huyện ủy phái ra từ chiều. Sư trưởng nắm áo Thạch hỏi nhỏ bằng một giọng khê nặng miền Trung:
- Cậu này trẻ quá nhỉ? Nhập ngũ năm nào?
- Dạ, thưa thủ trưởng, em đi bộ đôi tháng tám năm ngoái. Tháng mười một vào đến trong này…
- Chưa tròn năm. Đánh mấy trận rồi?
- Dạ… ít lắm ạ. Có đâu ba bốn trận.
Anh Đào nghe thấy thế, thêm vào:
- Báo cáo thủ trưởng, cậu Thạch là chiến sĩ trinh sát giỏi của chúng tôi đấy ạ. Từ Phước Long đến Dầu Tiếng, Chơn Thành… trận nào cậu ấy cũng hoàn thành nhiệm vụ, góp công lớn đấy…
Sư trưởng “à” một tiếng rồi cười:
- Tốt! Trước lúc nhập ngũ chắc cậu còn đi học?
- Vâng! Chúng em đang học trường thiếu sinh quân…
Sư trưởng lại “ờ” một tiếng:
- Thằng con mình cũng đang học ở đấy. Nó còn nhỏ…
Im lặng một lúc, sư trưởng hỏi bất ngờ:
- Cậu có sợ chết không???
Thạch im lặng, bởi anh không biết trả lời thế nào. Sư trưởng choàng tay qua vai anh chiến sĩ trẻ, cười:
- Chết thế đếch nào được cơ chứ! Các cậu đi với tớ là đạn bom nó tránh hết.
Đoàn người rậm rịch đi trong đêm mờ ảo. Họ vẫn nhìn thấy nhau, vẫn nghe tiếng thì thào của người, tiếng rền rĩ của côn trùng, và thi thoảng tiếng ì ùng của bom, pháo…
Thế rồi đoàn người được du kích dẫn vào đầu xóm. ở đó các chiến sĩ trinh sát, trong đó có trung đoàn trưởng, trung đoàn 209 đón họ.
Huyện ủy bố trí cho đoàn cán bộ trinh sát của sư đoàn ngay trong một ngôi nhà nhỏ, lợp tôn xi- măng, xung quanh trống trải. Dưới ánh trăng non, lấp loáng ánh lá rừng và những đụn cây trâm bầu, như những người khổng lồ đang trầm tư mặc tưởng. Trưởng ban trinh sát, trung đội trưởng Đào, Thạch và các chiến sĩ của 209 ngồi rải rác quanh gốc cây, bên ngoài. Bí thư huyện, thứ Năm ôm chằm lấy từng người, suýt soa:
- Chủ lực về đến đây rồi! Mừng quá! Mừng quá!
- Chúng tôi cùng rất mừng được gặp các đồng chí… Các đồng chí chờ chúng tôi có lâu không?
- Lâu thì không lâu, nhưng sốt ruột lắm! Từ chiều anh em du kích và bà con đã tận mắt được nhìn thấy, được sờ vào những cỗ xe tăng, những khẩu đại pháo của ta… Muốn bật khóc…
Sư trưởng gật đầu, giọng xúc động:
- Trận này là trận cuối cùng, anh Năm à! ở tuổi tôi với anh, có lẽ suốt ba mươi năm qua, giờ là giây phút thiêng liêng. Thôi để sau ngày chiến thắng, ta hàn huyên nhé. Bây giờ, tôi muốn nghe tình hình của địa phương…
- Thưa các đồng chí! - Bí thư huyện ủy nhìn khắp lượt mọi người có mặt trong ngôi lán, rồi cất lên bằng tiếng nói nén chặt, một kiểu nói đã thành thói quen của người hoạt động lâu năm trong lòng địch – Xuân Lộc là tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh được Ngô Đình Diệm quyết định thành lập từ năm 1957 bằng cách cắt bớt phần đất của tỉnh Biên Hòa. Chính sách “cắt nhỏ để trị”, thực chất cũng là một kiểu “chia để trị” và với mục đích định cư những người Thiên Chúa giáo theo Diệm từ miền Bắc vào Nam năm 1954. Trong số người dân định cư tại đây có nhiều bà con đồng bào dân tộc thiểu số như: Mường, Nùng, Thái… di cư . Số này bị đưa ra làm bia che chắn, là “phên giậu” của vương triều họ Ngô, hòng ngăn chặn, chia cắt sự phát triển và liền lạc của cách mạng miền Nam. Tỉnh có diện tích vào khoảng 3,457 kilômét vuông, đất đai phần lớn là núi thấp, đồi cao, rừng thưa và đồn điền cao su. Trong suốt cuộc kháng chiến nơi đây là một vị trí chiến lược quan trọng vì là ngã ba, giao lộ giữa quốc lộ số Một xuyên Việt và quốc lộ 20, đi Đà Lạt. Hơn nữa, ngã ba này còn làm cửa ngõ từ miền Trung, miền Cao Nguyên vào Nam bộ và chỉ cách Sàigòn 80 kilômét. Do đó Xuân Lộc được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu coi như vòng đai ngoài bảo vệ phi trường Biên Hòa và thủ đô. Về phía ta, Xuân Lộc nằm trên đường giao liên giữa chiến khu Đ với vùng chiến khu C với các mật khu Mây Tầm, Cù Mị, Xuyên Mộc, Đất Đỏ của tỉnh Phước Tuy. Con đường này là huyết mạch mà cách mạng dùng để nhận tiếp tế bổ sung quân và tiếp liệu bằng đường biển. Vì vậy, từ Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống, đến tư lệnh quân đoàn Ba đã từ lâu bố trí Sư Đoàn 18 bộ binh tại tỉnh này để ngăn chặn sự phát triển sức tấn công và nổi dậy của các lực lương cách mạng.
Dừng lại để nhìn mọi người và chuẩn bị trình bày sang các vấn đề khác:
- Sư đoàn bộ binh số 18 do tên Lê Minh Đảo, chuẩn tướng chỉ huy…
Nghe đến đây, sư trưởng Lê Nam nóng nảy cắt ngang:
- Xin lỗi anh Năm, mọi chuyện như thế là rõ. Tại Xuân Lộc hiện giờ địch bố trí sư đoàn 18, một trung đoàn xe tăng, thiết giáp, một lữ đoàn biệt động và lực lượng bảo an tại chỗ. Chuyện sư đoàn 18 như thế nào, chúng tôi đã có bộ phận nghiên cứu, bây giờ mà nói về nó, mất nhiều thì giờ lắm, vì thực ra nó là vấn đề quân sự thuần túy. Bây giờ chỉ xin anh cho chúng tôi biết hai vấn đề: Một là, lực lượng tại chỗ của các anh hiện nay có bao nhiêu, được bố trí như thế nào, khả năng chiến đấu và phục vụ chủ lực đến đâu? Tôi hỏi thẳng anh Năm và các anh: có bao nhiêu, nói cho chính xác, cụ thể để chúng tôi biết mà liệu. Thứ hai: tình hình dân chúng trong thị xã thế nào? Dân cư bố trí ra sao, nhất là xung quanh căn cứ sư 18, dinh tỉnh rưởng, sân bay, tiểu khu… Mặt khác chúng tôi muốn biết cụ thể là thái độ, cảm tình đối với cách mạng, với quân giải phóng. Cụ thể hơn: dân trong thị xã có bao nhiêu là vợ, cha mẹ sĩ quan, binh sĩ đang đóng quân ở Long Khánh, kể cả quân của sư 18 và địa phương quân…?
Cuộc họp có hơi căng thẳng, vì người nói thì muốn nói cái mình muốn nói, còn người nghe thì cần cái mình nghe.
- Cách đây mấy ngày, vợ con, gia đình, binh lính của chúng rục rịch di tản về Biên Hòa, Sài Gòn. Một người râu rậm, mắt sâu trũng, đến nỗi khó nhìn thấy ánh mắt của ông ta, cất giọng Bắc lai Nam. Đó là huyện đội trưởng, một con người gan lì nhưng rất hài hước. Thưa các đồng chí, theo phán đoán của chúng tôi, trận này chúng quyết nướng quân, nướng tướng, tử thủ đấy, cho nên ta phải thận trọng.
- Đúng thế! Sư trưởng gật đầu. Chúng ta không còn giữ được yếu tố bất ngờ nữa, nên sẽ rất ác liệt. Quân chủ lực của chúng ta lâu nay chỉ tiến hành đánh đột phá, bất ngờ theo kiểu du kích. Bây giờ chuyển sang một kiểu chiến tranh quy ước. Sẽ ác liệt lắm. Các đồng chí giữ một vai trò quan trọng trong chiến dịch này, vì địa bàn này đối với chúng tôi hoàn toàn mới mẻ…
Bí thư huyện ủy nói tiếp lời huyện đội trưởng:
- Các đồng chí cứ yên tâm, chúng tôi có bốn đại đội du kích, một ở sẵn trong lòng thị xã, được trang bị gọn nhẹ. Còn ba đại đội võ trang đóng ở Bảo Vinh, Bảo Toàn và khu huyện ủy đây. Họ là những tay súng dũng cảm…
Bí thư huyện mỉm cười, vỗ vào vai huyện đội trưởng:
- Tay này tối hôm qua còn định cho quân vào bắt sống Nguyễn Văn Thiệu nữa chớ…
Huyện đội trưởng cười hấp háy bằng mắt, có lẽ ông thấy mắc cỡ, trong khi mọi người cười vui.
- Nói thế để lấy tinh thần thôi, chớ bắt thế quái nào được cái thằng quỷ đó. Sau khi có tin đêm nay Thiệu sẽ ra Long Khánh, thế là anh em chia nhau ra nắm tình hình. Ông Năm bí thơ hỏi tôi, tôi nói đại: “Đi bắt tổng thống ngụy”. Nói đại cho vui ấy mà…
- Giỏi thật! Sư trưởng nắm tay huyện đội trưởng. Ông khen huyện đội là khen ở tinh thần chiến đấu và đặc biệt nắm tin tức quá tài.


***


Trưởng ban trinh sát và tiểu đoàn trưởng vẫy tay gọi Thạch, trung đội trưởng Đào và anh em 209 lại. Họ chụm đầu quanh ngọn đèn lật tấm bản đồ vẽ tay nguệch ngoạc, vừa nhận được từ huyện đội. Trưởng ban nói sơ sơ về mấy mục tiêu cần nắm. Rồi ông quay sang Đào:
- Cậu tổ chức thành mấy tổ vào hậu cứ chiến đoàn 52. Chỗ này, đây chỗ này là mục tiêu của 209. Sẽ có một đơn vị của 341 phối hợp. Từ sân bay đến cổng căn cứ sư đoàn 18, theo đường chim bay khoảng ba cây số. Trên thực địa, vận động dài bao nhiêu, đồng chí nào biết?
- Dạ, em! Một thanh niên trắng trẻo, có khuôn mặt ngây thơ len vào vạch những ngón tay theo con đường phải đi. Em chạy xe đến đây, cách căn cứ sư đoàn 18, hơn năm trăm mét hết gần hai mươi phút. Tính chi ly là bốn cây số. Căn cứ đóng trong sân vận động nên còn có ba cổng ra vô nữa… Hậu cứ chiến đoàn 52, 43 đều quanh khu vực này.
Đào quay sang nhìn Thạch:
- Thế nào?
Thạch gật đầu. Thế là Thạch và hai chiến sĩ của trung đoàn 209 thành một tổ, dưới sự hướng dẫn của một anh du kích, chắc tuổi cũng không hơn Thạch.
- Tôi tên Hoàn, bí thư xã đoàn Bảo Vinh… Anh du kích lúc nãy đã báo cáo với trưởng ban rinh sát giới thiệu. Bây giờ chúng ta đi. Hoàn nhìn đồng hồ: 11 giờ 05! Anh ta thêm: theo ta là 11 giờ, nhưng với bọn chúng, bây giờ là 12 giờ đêm…
Thạch đi bên cạnh một anh chàng bé choắt, miệng mím chặt, có lẽ không muốn nói. Nhưng khi Thạch và anh bí thư đoàn xã Bảo Vinh rẽ vào một khóm chuối, anh ta lên tiếng ngay:
- Có chuối chín! Hừ, thơm quá…
- Chuối người ta cúng đấy. Bên kia là ngôi miếu nhỏ.
- Sao bảo dân ở đây toàn theo đạo Thiên chúa, lại cúng nhang chuối à?
Hoàn nhìn lại phía sau:
- Chưa. Dân công giáo ở trong thị xã, ngoài này bà con theo đạo Phật.
Thạch nắm áo tay nhỏ con:
- Anh tên gì:
- Chuân! Còn cậu? Bao nhiêu tuổi rồi?
- Tôi là Thạch… mười chín!
- Vào lâu chưa?
- Mới sáu tháng.
- Trẻ thế? Kém tớ bốn tuổi. Nhưng sao các ông lại cử cậu đi nhỉ? Nguy hiểm lắm.
Thạch im lặng, không muốn đáp lời Chuân. Một lúc sau, Hoàn dừng lại:
- Các anh đứng đây chờ em xíu… Rồi cậu ta rẽ vào một ngôi nhà nhỏ, hình như là cái quán xộc xệch, ghế bàn xếp lại thành một đống, chơ chỏng. Trong nhà tối om.
Chuân lẩm bẩm “Chuồn hả?”.
Lát sau Hoàn ra, đi theo anh là một cô gái bận bộ bà ba xậm màu. Hoàn giới thiệu:
- út Lan, du kích mật, dẫn đường cho mấy anh…
Cô gái cúi đầu:
- Chào hết mấy anh. Cô khoác một cái túi nhỏ, như người đi đòi nợ, Chuân chợt nghĩ ra một hình ảnh. Hoàn nói:
- Bắt đầu vào đến thị xã, tụi dân vệ ngủ rồi. Có hai thằng còn thức là người của đội du kích mật. Nếu thấy nó nói mớ mà hát “Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm”, thì cứ men theo hàng chuối mà đi…
- Nó hát mãi à? Chuân hỏi.
- Không, hát trong mơ thôi. Anh có biết bài ca đó không? Hoàn hỏi lại.
Chuân cau có:
- Mấy bài nhạc vàng đó, ai mà biết.
- Thế thì nhớ lấy… Nhưng có lẽ không sao đâu. Bọn cúng chỉ canh chặt mấy ổ đề kháng… Xong việc quay trở ra, hẹn ở gốc cây xoài kia, có thằng Bích đợi các anh. Khẩu lệnh cũng bài hát đó.
- Mẹ kiếp, nếu lạc thì làm sao? Chuân thở hắt ra.
Hoàn đứng thẳng người lên, chỉ tay về phía chòi canh:
- Cái chòi đó có bảng quảng cáo Côca- côla. Băng qua bên kia đường sắt là có du kích rồi.
- Cậu theo tôi. Chuân kéo tay Thạch.
- Em! út Lan vừa lí nhí vừa bước sang một bên.
Thạch đi sau Chuân và theo cô gái tên Lan rẽ vào một bụi gai xấu hổ. Tiếng côn rùng nhảy rào rào. Ngoảnh lại Thạch thấy Hoàn và hai người nữa đã mất hút. Trước mặt anh, trong bóng đêm Lan chỉ là một đứa trẻ con.
Ba người đi theo một hàng dọc, xuyên qua những bụi cây dại và những lùm dã quỳ hương. Những tàn lá cây xấu hổ được đánh thức, mở lá nghe tí tách. út Lan dừng lại chỉ về phía trước, chắn bởi một khoảng trống, có lẽ là cái mương nhỏ, đầy rác:
- Có một lỗ hổng hàng rào đã được đánh dấu, các anh để em vô trước…
Thạch nhìn Chuân rồi lại nhìn khuôn mặt bầu bầu của cô gái. Trong bóng sáng lờ mờ của khu gia binh hắt ra, khuôn mặt Lan như vầng trăng nhỏ bị gợn mây che phủ. Anh mắt lấp lánh như một đốm sao, dịu hiền nhưng chói sáng. Chuân thấy ái ngại, thì thầm:
- Có nguy hiểm không? Cô ở đây ngồi chờ. Để chúng tôi vào…
út Lan kiên quyết:
- Không! Để em qua trước, tìm được chỗ đó đã. Để mấy anh không tìm thấy đâu. Lẹ lên kẻo trời sáng…
- Thôi được để tôi đi yểm trợ cho cô.
Chuân rút khấu súng ngắn ra, khẽ kên đạn, tiếng ổ khóa nòng đanh đanh. Lựa thế bóp cò để khóa an tòan rồi nắm tay Lan kéo đi. Thạch cũng lên đạn, ngồi lại nhìn hai người bò qua mương rác. Một con mèo hoang nhảy vọt đến chỗ Thạch, đôi mắt nó nhìn bâng quơ vào bóng lùm cây rồi lại nhìn lên bầu trời lấp loáng ánh đèn. Một vài tiếng pháo nổ rất gần.
Thạch cố căng mắt nhìn nhưng vẫn không thấy động tĩnh gì từ bên kia bờ mương. Phía sau lưng, một bóng người thấp thoáng khiến Thạch huớng nòng khẩu súng về phía đó. Bóng người ngồi xuống, rồi lại đứng lên khuất sau bức tường. Thạch mỉm cười một mình. Chờ lâu quá, Thạch tụt xuống men theo bờ mương, mắt căng ra, theo hướng Chuân vừa đi. Khi anh tiến sát vào hàng rào sân vận động, thấy hai người đang quờ quạng. Anh đã hiểu: Lan chưa tìm ra chỗ hàng rào hổng được chuẩn bị trước. Bỗng nhiên, Lan nép người vào, lấy ta một tấm bìa các tông, giọng thì thào như reo:
- Đây rồi!
Chuân rướn người bò vào, rồi quay ra. Thạch đã đến gần:
- Anh Chuân!
Chuân gật đầu:
- Bên ngoài có động gì không?
Thạch lắc đầu, nhưng có lẽ Chuân không nhận ra. Anh nắm tay cô gái:
- Bây giờ em trở lại bức tường kia ngồi đợi bọn anh. Một giờ sau các anh ra…
Cô gái lần tìm bàn tay Thạch, rồi hai tay cô xiết chặt:
- Các anh cẩn thận. Trong đó chúng cài nhiều mìn lắm…
- Bọn anh biết rồi. Không sao đâu. Một tiếng đồng hồ thôi. Mà anh dặn này: nếu có động thì em cứ về trước, đừng chờ các anh.
- Không! Em đợi hai anh…
- Không sao đâu. Bọn anh sẽ có cách…
Hai người lách mình qua lỗ hổng đã được chuẩn bị trước luồn vào bên trong sân vận động. Phải khó khăn lắm Thạch mới tiến sát được bức tường. Hai bàn tay anh lần mò, rồi căng mắt nhìn, cố nhớ lấy nhừng gì mình thấy. Anh bò sát dưới chân cái lô cốt bằng bao cát. Rất may là thỉnh thoảng ở phía đường 20, bọn địch lại bắn những quả pháo tín hiệu, nên Thạch đã thấy được những ổ đề kháng. Chuân luồn sang bên kia tháp nước. Thạch leo lên một mô đất, anh nhìn thấy cái mũ sắt loang loáng, biết là một tên lính đang ngồi ôm súng.
Độ nửa giờ, Thạch đoán thế, anh bắt đầu quay ra chỗ hẹn với Chuân. Chờ mãi không thấy Chuân, Thạch đâm ra lo lắng. Nhưng vẫn không có tiếng mìn hay tiếng súng, toàn bộ khu căn cứ địch vẫn im lìm. Một lúc sau, có tiếng động nhẹ, mơ hồ, Thạch căng mắt nhìn và thở phào: Chuân!
Thạch luồn đến bên Chuân, anh ngạc nhiên thấy anh ta lôi một cái gì đó, như một cái gói vải bọc sơ sài:
- Cái gì thế?
- Của một thằng sĩ quan. Nó ngủ say quá… Tao định bắt sống, nhưng sợ nó giật mình la hoảng lên thì lộ. Nên tao chỉ mượn nó cái này. Mày sờ xem có phải cuốn sổ không?
- Anh liều thế? Cấp trên chỉ yêu cầu chúng ta ước lượng khoảng cách thôi mà… Trận này đâu có cần tài liệu?
- Nhưng cơ mà có được cũng tốt. Thôi chuồn!
- Anh bò ra trước đi…
Công việc coi như hoàn thành được một nửa, nhưng đoạn đường trở ra không phải đã hết nguy hiểm. Thạch cảm thấy đói. Mùi thơm của thức ăn đâu đó ùa tới. Lại khát! Thạch cố giữ cho khỏi bật ra tiếng ho, dù rằng trước lúc đi anh đã uống mấy viên thuốc chống ho, chống hắt hơi. Không biết các anh đã luồn vào bao lâu rồi? Cô bé Lan chờ chắc sốt ruột lắm nhỉ… Còn một khoảng độ hai mươi thước, mười chín, mười tám… Thạch thầm đoán khoảng cách, công việc rất thành thạo của các anh…
Bỗng trước mặt Thạch nhoáng lên một ánh lửa cao vọt khỏi hàng rào, làm anh chói mắt, và bị hất lùi lại phía sau đến hai ba mét. Dư ảnh cuối cùng là hình anh một thân người vọt lên, trong tích tắc rồi bóng tối ập xuống… Thạch đã hiểu ra: Chuân vướng phải một trái mìn.
Thế là hàng loạt tiếng la hét rầm rập từ phía sau lưng, Thạch còn cố quăng mình vào một bụi cây. Phải đến mấy giây sau, hàng loạt đạn cực nhanh mới nhằm về phía trái mìn… Tiếng súng cơ chừng không thể ngưng. Thạch cố nép mình xuống, và anh nhận ra mình đang ở trong một cái hố. Những ngọn đèn pha rực sáng chụm lại chiếu vào khoảng không còn phảng phất những đụn khói bụi.
Độ mươi phút sau, tiếng súng ngừng hẳn, và tiếng người bắt đầu rộ lên:
- ĐM! Thằng nào ra coi có chuyện gì coi! Tiếng một tên sĩ quan.
- Trình đại úy! Có thể là một con mèo hoang nào đó đụng mìn… Một giọng nghe như run sợ. Việt cộng mò vô tới đây chắc chết cha tụi mình…
- Phải đấy đại úy! Việt cộng nó vô đây làm gì giờ nầy? Xe tăng và pháo lớn nhằm vô là xong!
Tiếng viên đại úy:
- Mầy ngu lắm, chúng đi trinh sát, nghiên cứu địa hình… Thôi, trung sĩ Thìn đâu?
- Dạ, có em!
- Mầy thảy mấy trái mi- ni coi có động tịnh gì không? Nhớ cho hai trái ê- te gây mê, để sáng mai tính. ĐM, nếu lính trinh sát Việt cộng vô thiệt thì chúng chưa tiến công căn cứ đâu…
Thạch nép sát xuống lòng hố, chờ đợi. Những tiếng nổ chói tai như ngay sát trên đầu anh. Một trái, hai ba… hàng chục quả lựu đạn thi nhau nổ. Tai Thạch hoàn toàn không nghe thấy gì nữa. Cho đến lúc mọi chuyện im ắng trở lại, Thạch biết chúng không đi lùng nữa. Nhưng những ngọn đèn vẫn chiếu loang loang trên đầu.
Chuân ra sao? Trong ánh sáng cực mạnh của tiếng nổ, hình ảnh Chuân văng mình lên cao. Có thể anh đã hy sinh. Thạch cố tìm cách bò lại phía quả mìn vừa nổ, nhưng đôi chân tê cứng, không nhúc nhích. Anh cố gượng lần tay nắn thử, không thấy ướt của máu. Có lẽ hai chân anh chỉ tê dại do bị ép thôi. Một lát sau, đôi chân cử động trở lại, và khẩu súng vẫn nắm chặt trong tay, Thạch bắt đầu bò, nhưng anh sợ đụng phải mìn nên sức thận trọng. Rất may, mọi tiếng động gây ra đều chìm nghỉm vào trong tiếng ầm ì của xe tăng và súng nổ đâu đó.
Phải trở về! Đó là quyết tâm của Thạch, dù phải chết! Nhưng nếu tới sáng mà không ra khỏi đây coi như không còn thoát được nữa. Khoảng cách vài chục mét tới cái lỗ hổng mà Lan đang đợi vô cùng dài tưởng như bất tận và đầy nguy hiểm. Bò mãi, bò mãi nhưng vẫn không nhích lên được mấy tí. Bỗng nhiên Thạch cảm thấy đầu óc nặng chịch, hai tai ong ong như hàng vạn con ve sầu đang thi nhau ca hát… Mắt Thạch hoa lên, chân tay không còn làm chủ được nữa… Anh ngất đi, trong đói, khát và hoang mang!

0
CHƯƠNG MƯỜI HAI




Tư lệnh quân đoàn, thiếu tướng Hoàng Cầm đang ngồi tư lự. Một nỗi bứt rứt cứ ám ảnh ông không ngớt. Trong cuộc đời chỉ huy của mình, chưa bao giờ ông thấy một nỗi đau đớn như lần này. Suốt đêm, không thể nào chợp mắt được, hễ cứ lịm đi được một tí thì hình ảnh một đoàn chiến sĩ đẫm máu, người nằm, kẻ ngồi, có người còn chút sức lực lê tấm thân hình tiều tụy, máu me bê bết lướt qua. Mới chỉ qua một ngày đêm mà con số thương vong của quân đoàn đã lên tới gần một ngàn ba trăm người! Thật kinh khủng! Nhưng vì sao lại có nguyên nhân này? Đó là câu hỏi làm ông không thể nào nguôi được. Rồi đến ngày thắng lợi, ông sẽ nói gì với những người vợ, những người mẹ, những cô gái người yêu của những chàng lính trẻ măng? Đành rằng, chiến tranh là hy sinh, là mất mát, dù là cuộc kháng chiến của ta là chính đáng, chính nghĩa, nhưng chết nhiều thế này là không thể chấp nhận được.
Cách đây mấy phút, ông vừa gọi điện thoại cho sư đoàn trưởng sư Bảy. Tư lệnh đại tá Lê Nam, một con người từng trải, một cục thép nguội đã nức nở:
- Tôi có lỗi rồi, anh Năm ơi! Anh em thương vong nhiều quá mà mục tiêu thì không đạt được.
- Được rồi, tôi cũng đau lắm…
Lê Nam rít lên trong máy:
- Nếu để trinh sát về hết, nắm vững tình hình thêm một vài ngày nữa, chắc chắn không đến nỗi này.
Thiếu tướng tư lệnh quân đoàn im lặng, nghe từng nhịp thở nấc lên của đại tá sư trưởng. Lát sau ông nói chậm rãi:
- Dù sao chúng ta cũng đã đạt được những mục tiêu chính. Hiện nay quân địch đang hí hửng, chủ quan. Chúng ta cần nghiên cứu đề ra cách đánh mới, sao cho có hiệu quả. Tôi sẽ đến chỗ anh trong vài giờ nữa nhé. Ta sẽ bàn thật chi tiết.
Sư trưởng Lê Nam vội vàng:
- Để tôi lên báo cáo anh. Anh xuống đây mất thì giờ của anh. Với lại anh còn phải ở lại sở chỉ huy để các tư lệnh sư đòan khác báo cáo. Thế nhé. Hai giờ nữa, tôi xin gặp anh…
Tư lệnh Hoàng Cầm buông máy nhìn ra ngoài nắng. Cái nắng chói chang của miền đất đỏ này dễ làm nản lòng người. Hơn mười năm sống mái với chiến trường, đã hơn một lần ông nhận thấy điều đó. Ông quay sang nói với anh sĩ quan cận vệ:
- Hậu này, cậu báo ngay tham mưu trưởng đến chỗ mình nhé.
Hậu rõ nhẹ rồi bước ra khỏi nhà hầm. Lát sau tham mưu trưởng dáng người lòng khòng, lom khom bước vào:
- Báo cáo tư lệnh. Tham mưu trưởng dè dặt.
Ngồi xuống đi. Ông cho tôi nghe lại một lần nữa tình hình cho đến sáng nay…
Nói rồi ông lại cúi xuống tấm bản đồ.
- Báo cáo… tình hình tuy có nhiều khả quan nhưng nổi lên mấy vấn đề… Tham mưu trưởng ngưng lời, ngước lên dò ý thủ trưởng.
- Đồng chí cứ nói, tôi đang nghe đây. Tư lệnh rời mắt khỏi tấm bản đồ tác chiến, nhìn mái đầu còn rất xanh tuy đã ở vào tuổi ngũ tuần của tham mưu trưởng đang cúi xuống cuốn sổ tay, giọng thân mật, nhưng vẫn nghe thấy một tâm rạng nặng trĩu. Ngắn gọn nhưng thật chi tiết, nhé!
- Ngày mùng 8, theo đúng kế hoạch tác chiến, các đơn vị đầu tiên đã vào vị trí tập kết. Riêng các đơn vị pháo binh đã chiếm lĩnh xong trận địa, chuẩn bị bắn… Đúng 5 giờ 30 phút sáng ngày 9 tháng 4, sau hiệu lệnh của quân đoàn, ba phát đạn pháo 130 ly, pháo ta bắt đầu bắn thử, nhưng sương mù quá dày đặc các đài quan sát chưa thấy mục tiêu. Sau mười phút, các trận địa pháo đã nhận được tín hiệu từ các đài nên đã điều chỉnh được tọa độ khá chính xác. Một quả đạn pháo 85 ly đã phá tan cụm ăng ten khu trung tâm thị xã Long Khánh. Đồng thời đạn pháo 120 ly cũng đã bắn gãy cột ăng ten trên Núi Thị. Sau một giờ liên tục bắn phá, pháo binh quân đoàn tập trung chế áp trận địa pháo địch ở Núi Thị, để bộ binh các hướng đột phá tiến công vào chiều sâu phòng ngự của địch.
- Nói lại hướng chính của “ép” Bảy đi?
- Vâng! Hướng chính do E 165 của F7 tấn công vào chỉ huy sở F18 của tướng Đảo. Thật ra ta đã chủ quan, lại chưa nắm được tình hình, chưa chờ trinh sát về hết đã nổ súng. Chiến đoàn 43 của chúng kháng cự rất ngoan cố. Xe tăng của ta không vào được, lại bị bắn cháy mất…
- Bốn chiếc! Tư lệnh cắt ngang.
- Vâng! Hỏa lực của chúng còn rất mạnh. Đặc biệt loại tên lửa M72 của chúng rất lợi hại. Đến 12 giờ trưa ta phải ngưng tấn công và số thương vong là rất lớn, nhưng anh em đã chiếm được một phần hậu cứ của sư đoàn 18… Đáng khích lệ nhất là hướng đánh vào sân bay và Tòa thị chính, quân ta đã cắm cờ trên dinh tỉnh trưởng. Đại tá Phạm Văn Phúc, tỉnh trưởng Long Khánh cũng đã rút chạy ra hướng Núi Thị…
- Này, tư lệnh ngắt lời tham mưu trưởng, cái tay Phúc này nó hò hét ghê lắm phải không? Anh ta ra lệnh bắn bỏ những ai dưới quyền bỏ chạy. Hóa ra anh ta cũng bỏ chạy. Tiếp tục đi.
- Trên hướng quốc lộ 20, F6 đã triển khai rất tốt. Tại ngã ba Dầu Giây, ta đã đồng loạt tấn công chiến đoàn 52 của sư đoàn 18. Xe tăng và pháo của ta hiệp đồng rất tốt. Các vị trí tiền đồn của chiến đoàn 52 từ Kiệm Tân về tới ấp Phan Bội Châu trên quốc lộ 20 lần lượt bị các đơn vị của F6 và trung đoàn 95B tiêu diệt. Hiện giờ chiến đoàn 52 đã phải bỏ Túc Trưng kéo về giữ ngã ba Dầu Giây. Khả năng chiến đoàn 52, gồm trung đoàn 52 của sư đoàn 18, lữ đoàn 3 thiết giáp (mà chúng gọi là thiết kỵ), cùng với các lực lượng địa phương quân ở Kiệm Tân, tổng cộng khoảng 2.000 tên sẽ bị tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến.
- ở vòng ngoài, E 209 của F7 cùng với E 270 của F341 tiến đánh dọc theo quốc lộ số Một, từ Tân Phong đến Núi Thị đã diệt nhiều địch, bắn cháy 7 xe tăng của chiến đoàn 48 vào cứu viện, giải phóng ấp Bảo Toàn. Nhìn chung diễn biến ngày đầu nói chung là khích lệ, riêng hướng chủ yếu do E165 của F7 đảm nhiệm chưa đột phá được mục tiêu, lực lượng bị tiêu hao…
Ngày 10, đúng 5 giờ 30, pháo ta lại đồng loạt bắn áp chế vào các mục tiêu được phân công. Riêng pháo chiến dịch đã tập trung 300 viên đạn tiếp tục bắn phá vào hậu cứ chiến đoàn 43 và sư đoàn 18. F7 đưa lực lượng dự bị là E141 cùng một tiểu đoàn cao xạ hỗn hợp 37 và 57 ly, đột phá từ hướng Bắc xuống phối hợp với E165 tiếp tục tấn công vào căn cứ sư đoàn 18 của địch. Tuy nhiên, mục tiêu đã không còn bí mật nên các mũi xung phong của hai trung đoàn này chỉ tiến được đến hàng rào phía đông và đông nam sân bay thì bị địch chặn lại. Hỏa lực của chúng rất mạnh, các cấp chỉ huy của chúng liên tục tung quân ra. Hai bên giao chiến kịch liệt, tuy ta tiêu diệt được rất nhiều sinh lực địch, ước tính trên 400 tên, nhưng vẫn phải dừng lại lập công sự, củng cố đội hình…
Trong thị xã, qua một ngày đêm giao tranh, F341 tuy rất kiên cường, nhưng có hiện tượng giảm sút tinh thần chiến đấu. Đây là đơn vị có nhiều anh em chiến sĩ trẻ từ ngoài Bắc vào, lần đầu tiên tham gia chiến đấu. Đã xuất hiện tư tưởng dao động. Trong đó đáng nói nhất là có một cơ yếu đầu hàng địch. Một vài hiện tượng vứt bỏ vũ khí, chạy về phía sau… 341 đã đưa thêm E270, vừa mới từ Dầu Tiếng sang vào thị xã cùng với E266 đánh chiếm lại các mục tiêu đã mất. Riêng E266 các mũi tiến công vào sân bay, cả bốn lần đều bị đánh bật trở lại. Các mũi khác vào trại Lê Lợi, hậu cứ chiến đoàn 43 của sư đoàn 18 diễn ra trong thế giằng co quyết liệt. Đại đội 6 của E266 đã quyết định đưa pháo 85 vào hẳn trong thị xã để bắn thẳng vào các mục tiêu phòng ngự của địch. F7 cho E209 từ hướng quốc lộ số Một tiến sâu vào phía nam thị xã Long Khánh, kéo căng địch ra để đánh. Tuy nhiên, căn cứ chiến đoàn 43 của địch vẫn rất mạnh, lại có không quân yểm trợ nên chúng rất ngoan cố… Tình hình lúc này là ta đã hình thành thế bao vây, chia cắt cụm địch làm ba bộ phận: Núi Thị, Dầu Giây và thị xã Long Khánh… Theo tin quân báo vừa cho biết Lê Minh Đảo và bộ chỉ huy sư đoàn 18 đã chạy ra ngã ba Tân Phong.
Tham mưu trưởng ngừng lời nhìn tư lệnh. Ông đang chống tay đỡ lấy trán, nhắm nghiền đôi mắt thiếu ngủ:
- Tiếp đi…
- Bước sang ngày 11, là ngày thứ ba, ta đợi đến 7 giờ mới cho pháo bắn tiếp, kéo dài hơn một tiếng, chính xác là một tiếng 10 phút. Mục tiêu vẫn là sở chỉ huy sư đoàn 18 và hậu cứ chiến đoàn 43 và 52. Một huớng khác của pháo binh bắn kiềm chế trận địa pháo ở Núi Thị. Tuy thế các hướng của F7 vẫn bị địch ngăn chặn, chưa tiến lên được. Trên hướng tiến của 341, khi chuyển sang tiến công cũng đều bị pháo, xe tăng và bộ binh địch ngăn chặn. Hơn nữa, không quân của địch đã tăng lên nhiều tốp, nhiều lượt ném bom vào các trận địa pháo và đội hình của các đơn vị bộ binh gây thiệt hại lớn cho ta về người và trang bị. ở hướng F6 vào lúc 15 giờ pháo binh của sư đoàn đã bắn mạnh, cấp tập vào khu vực tiểu đoàn 1, thuộc chiến đoàn 52. Sau 30 phút bắn áp chế, các mũi bao vây đồng loạt tiến công, chia cắt đội hình của địch, buộc chúng phải bỏ chạy về hướng Bắc, chờ chi viện
Im lặng, căng thẳng đến rợn người, ngoài kia tiếng ve sôi sục như khiêu khích. Trong miên man âm thanh đơn điệu, rừng trở nên kỳ bí vô ngần.
- Anh nói về lực lượng tăng viện của địch đi! Thiếu tướng ngẩng lên, hai mắt ông đỏ hoe, thâm quầng.
- Vâng! Cho đến lúc này, ngoài lực lượng có sẵn ở Xuân Lộc là sư đoàn 18, các lực lượng địa phương, địch đã cho tăng cường: lữ đoàn dù số 1 và sáu khẩu pháo xuống ngã ba Tân Phong, chủ yếu để bảo vệ bộ chỉ huy sư đoàn 18; điều động hai lữ đoàn thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động quân từ lực lượng tổng dự bị từ Sài Gòn lên; một trung đoàn bộ binh của sư đoàn 5, tám tiểu đoàn pháo binh, hai chi đoàn thiết giáp (hiện lực lượng thiết giáp của địch ở Xuân Lộc có trên 300 xe các loai). Ngoài ra hai sư đoàn không quân từ Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và cả máy bay từ Trà Nóc dưới Cần Thơ cũng được tung vào Xuân Lộc… Gần như quân dự bị của chúng ở Sài Gòn đã được ném vào mặt trận này…
- Này! Thiếu tướng tư lệnh quân đoàn bỗng giật giọng, cắt ngang lời tham mưu trưởng. Theo ông thì ta có nên thay đổi cách đánh không?
Tham mưu trưởng nhìn một chiếc cúc áo của tư lệnh bị bật ra:
- Theo tôi nghĩ… vừa rồi chúng ta hơi chủ quan.
- Không phải “hơi”, mà là “rất”. Rất chủ quan… Một tiếng nói khẽ khàng từ phía sau. Hai người cùng ngoảnh lại, chính ủy Hoàng Thế Thiện đã đứng ở đó nãy giờ. Tham mưu trưởng đứng dậy nhường ghế cho chính ủy:
- Anh! Mời anh ngồi.
Một tay chính ủy cầm chiếc quạt được may rất khéo bằng vải dù pháo sáng màu tím rất thanh lịch, nhìn ông không có vẻ gì của rừng thiêng nước độc hay chiến tranh ác liệt. Ông nhẹ nhàng ấn vai tham mưu trưởng:
- Cứ ngồi! Các anh nói hết chuyện chưa?
Tướng Hoàng Cầm nhìn chính ủy, lắc đầu:
- Không bao giờ hết. Anh cùng ngồi đây với chúng tôi.
Thiếu tướng chính ủy ngồi vào võng của tư lệnh, gấp cái quạt lại, gõ gõ trong lòng bàn tay:
- Tôi nói tiếp cái ý mà đồng chí tham mưu trưởng vừa nêu ra: chúng ta quá chủ quan! Không chỉ có chỉ huy các cấp mà từ cấp dưới, từ anh em chiến sĩ cũng tỏ ra lạc quan tếu. Ai đời quyết tâm của bộ đội còn cao hơn cả tư lệnh? Mấy hôm trước, tôi ghé vào thăm một đơn vị của 341, toàn tân binh, làm lính nông trường, trồng dứa từ Hà Tĩnh vào. Thế mà cứ một mực đòi “thủ trưởng cho cúng em đánh ngay đi, kẻo chúng em đi nhặt ống bơ”(!). Tinh thần của bộ đội rất tốt, rất đáng khích lệ. Anh em nào cũng nôn nao khi nghe tin ta giải phóng Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang… Thế nhưng lại không biết được cái câu châm ngôn “Càng gần thắng lợi, càng nhiều gian nan”… Hành quân không chú ý ngụy trang, vũ khí trang bị không bảo quản tốt, đến sức khỏe cũng chẳng chịu giữ gìn. Lúc nào cũng “Tiến về Sài Gòn… trận cuối là trận này…”…
Tham mưu trưởng liếc sang tư lệnh, thấy ông đăm chiêu, một mảng tóc bạc dưới thái dương lòi ra. Lát sau, tư lệnh nói như nói với chính mình.
- Thật ra, tôi đã lường trước, mà trong cuộc họp đảng ủy quân đoàn tôi đã nói sơ sơ. Dù chưa nắm được thật kỹ tình hình, nhưng lực lượng của ta, mang tiếng là một quân đoàn, nhưng chưa được tổ chức tốt. Sau khi có lệnh rút sư Chín đi thì lại giao đánh Xuân Lộc vào lúc chúng đang mạnh nhất, mà giao phải đánh ngay. Đánh Xuân Lộc là đúng, là cần thiết, nhưng ngay lúc này là chưa thật thuận lợi… Tôi có ý nghĩ như vậy, nhưng nói ra sợ ảnh hưởng đến toàn cục, nên cứ giữ trong lòng để từng bước khắc phục. Hai sư đoàn Chín và Bảy, từ lâu nay vẫn là một khối thống nhất. Bây giờ sư Chín cắt cho đồng bằng sông Cửu Long, còn sư Bảy lại đang triển khai lên Đà Lạt, Tuyên Đức… khi có lệnh cấp tốc quay về thì bộ đội đuối sức, thiếu ngủ, trạng bị sứt mẻ nhiều; sư 341 mới vào, tuy có người chỉ huy giỏi nhưng bộ đội chưa quen chiến trường; sư Sáu thì chỉ có hai trung đoàn độc lập ghép vào, quân số và trang bị không bằng một chiến đoàn của sư 18 của Lê Minh Đảo… Còn địch ở Xuân lộc lúc này đã kịp củng cố, mỗi trung đoàn của sư 18 được nâng cấp lên thành chiến đoàn, có xe tăng, cơ giới, pháo binh phối hợp, yểm trợ, đó là chưa kể chúng có lực lượng dự bị rất mạnh, từ miền trung kéo về, từ Sài Gòn nống lên. Không quân của chúng vẫn còn hai sư đoàn nguyên vẹn… Tôi đã suy nghĩ nếu chúng ta cứ tiếp tục bao vây, chia cắt địch trên đường 20, đồng thời tiến lên đánh chiếm giải phóng Đà Lạt, đợi đến khi lực lượng chủ lực của ta từ hướng Đông, từ miền duyên hải kéo vào, tức khắc địch phải rút bỏ Xuân Lộc…
Cả ba người im lặng, không khí nặng nề như một khối bê tông đè xuống căn hầm dã chiến của Bộ chỉ huy chiến dịch. Tham mưu trưởng lên tiếng:
- Báo cáo hai anh, anh em ở Cục tham mưu có một đề xuất, có thể cũng trùng hợp với ý kiên tư lệnh?
Tư lệnh ròi khỏi tấm bản đồ:
- Cậu thử nói xem nào?
- Tôi đề nghi chúng ta chuyển cách đánh!
- Hay lắm. Hoàng Cầm cắt ngang. Phải suy nghĩ để thay đổi cách đánh… Đánh sao cho chúng phải bỏ Xuân Lộc chứ không phải đánh tiêu diệt. Đúng không? Anh Thiện, anh thấy ý kiến chúng tôi thế nào?
Chính ủy gật đầu:
- Tôi tán thành. Cần triển khai ngay…
- Cách đây ít phút tôi có nhận được điện của Ba Vũ từ tiền phương điện về báo cáo. Những suy nghĩ của Ba Vũ cũng rất hợp ý tôi. Tôi đã cho mời Lê Nam và các anh ở các hướng lên bàn cách đánh. Có lẽ chậm nhất hai giờ nữa các đồng chí ấy về đủ. Xa nhất là anh Trân, có thể anh ấy lên sau… Tư lệnh im lặng nhìn chính ủy và tham mưu trưởng rồi quay ại bản đồ:
- Ta sẽ buông Xuân Lộc, cứ để cho chúng hí hửng, tập trung hai E của Lê Nam, cùng với lực lượng của anh Sĩ tập trung bao vây, đánh chiếm chiếm Dầu Giây, cắt đứt đường số Một. Làm được như vậy, Xuân Lộc bị cô lập, lập tức chúng sẽ phải rút chạy. Lúc đó ta sẽ tập trung tiêu diệt địch.
Chính ủy:
- Hướng đánh của anh Trân, theo tôi cứ hãy để như hiện nay. Cần phải làm cho chúng tưởng ta vẫn có ý định tiến đánh thị xã…
- Hay lắm! Tư lệnh bước đến bắt tay chính ủy. Được các anh nhất trí tôi thấy an tâm. Mọi vấn đề cụ thể chiều nay chúng ta sẽ bàn kỹ. Ông quay sang tham mưu trưởng. Đồng chí thảo ngay một bức điện để tôi và anh Thiện ký, gửi về Bộ chỉ huy Miền…
Tham mưu trưởng ra khỏi nhà hầm, tư lệnh đến bên bình trà lắc lắc. Cái bình trống rỗng. Ông cười nhìn chính ủy:
- Quên cả mời nước anh. Quyết ơi! Ông gọi với ra ngoài. Cho bọn mình một ấm trà thật đặc nào…
Anh chàng công vụ có vẻ mặt của một sinh viên đi vào:
- Báo cáo thủ trưởng, có trà đây ạ. Thấy các thủ trưởng căng thẳng quá, tôi không dám vào…
Khi cậu công vụ định bước ra, tư lệnh gọi lại:
- Này Quyết? Tối qua nghe đài Sài Gòn, BBC, có gì hay không?
- Dạ… cũng không có gì đặc biệt. à… có chuyện buồn cười lắm. Quyết liếc nhìn chính ủy.
- Nói xem nào, có gì vui?
- Tướng Lê Minh Đảo gọi thủ trưởng Cầm là “đồng chí”(!)…
Tư lệnh cười mỉm:
- Thế à? Nó còn nói gì nữa?
- Sau khi khoe khoang chiến tích Xuân Lộc với các nhà báo, rằng đây là chiến thắng “rung động thế giới”, “chiến công ghi vào sử vàng của Quân lực Việt Nam cộng hòa”, ông ta lớn tiếng thách “đồng chí Hoàng Cầm” dám đánh tiếp vào Xuân Lộc!
Ông Cầm nhìn chính ủy:
- Anh thấy tướng tá của chúng như thế có tếu không? Thật trẻ ranh…
Cậu Quyết tủm tỉm cười đi ra, tư lệnh rót trà mời chính ủy:
- Anh uống nước đi. Thú thật suốt hai đêm qua tôi không chợp mắt. Mong anh về quá…
- Tôi cũng sốt ruột, điện đài chập chờn, mà không nói hết được. Tình hình hai ngày qua rất đau lòng. Thú thật với anh, đi gần hết cuộc đời, tôi chưa thấy lúc nào lại đau đớn như lúc này… Chúng ta sẽ phải chịu trách nhiệm, trước các chiến sĩ, trước người thân của họ. Tôi không muốn đưa ra bất kỳ lý do nào lúc này, ngoài trách nhiệm của người cầm quân.
- Vâng! Chiều nay họp với các đồng chí từ các hướng lên, anh động viên anh em. Có gì anh nói thêm về thực tế anh vừa đi về…
Chính ủy uống cạn chén nước:
- Thôi nhé, tôi phải về bàn với chính sách và quân y để giải quyết một số vấn đề. Có lẽ các cậu ấy đang chờ. Anh cũng đi nghỉ một chốc… Nhé!
Ông đứng dậy bắt tay tư lệnh ra ra khỏi nhà hầm.
Nhìn theo cái dáng đi nhanh nhẹn và mái đầu bạc trắng của chính ủy, Hoàng Cầm thấy mình được an ủi, ông thấy mình yên tâm hơn. Quay trở lại với tấm bản đồ và các bức điện, nhưng đầu óc ông không tập trung được. Những câu nói của chính ủy vừa như động viên, vừa như xác định trách nhiệm cho ông. Tất nhiên, mọi hậu quả thuộc về ông. Ông không chối cãi mà chỉ hận mình chưa quyết đoán.
Chính ủy Hoàng Thế Thiện là một con người đặc biệt. Ông là người nhiều tuổi hơn, tham gia cách mạng trước ông. Trong khi Hoàng Cầm còn là một chàng trai nghèo phải lìa khỏi quê hương, tha hương cầu thực, thậm chí đã có lúc phải đi lính cho Pháp… thì ông Thiện đã là một người họat động cách mạng. Sau nhiều năm ở chiến trường, ông là nhà quân sự thì Hoàng Thế Thiện làm nhà chính trị. ở ông, cái gì cũng tỏa ra một tấm lòng. Với vai trò chính ủy quân đoàn, người lãnh đạo của Đảng trong quân đội, nhưng bao giờ ông cũng tôn trọng ý kiến anh em. Ông luôn coi ông Thiện như người anh, người bạn lớn… Các đây ít lâu, ông nhận được tin thằng Thạch, con trai lớn của ông đã nhập ngũ, ông thấy mừng mà cũng thấy lo. Thôi thì cha nào con nấy, sự nghiệp còn dài. Chỉ có điều chưa học hết cấp Ba mà nó đã xung phong. Sợ không biết có theo kịp anh em không? Được tin này, chính ủy Hoàng Thế Thiện đã mắc võng nằm với ông suốt nửa đêm về sáng. Ông Thiện chỉ hỏi sơ qua về thằng con, còn lại hai người toàn nói về những kỷ niệm chiến đấu ở khắp các chiến trường, từ Cao Lạng đến Điện Biên, chiến trường Lào, rồi bây giờ là Đông Nam bộ…
Đang mải suy nghĩ, bỗng chuông điện thoại reo. Từ trong máy điện thoại, một giọng nói trầm trầm:
- Hoàng Cầm đấy phải không?
Ai nhỉ? Có lẽ là một cán bộ cấp cao mới hỏi ông như thế.
- Vâng! Hoàng Cầm…
Người nói từ đầu dây đằng kia đã xởi lởi:
- Tôi Dũng đây! Thế nào khỏe không?
- A… xin chào Tổng tham mưu trưởng! Tôi khỏe lắm. Anh gọi từ dâu đấy ạ?
- à, tôi vào trong này mấy hôm nay. Nghe tin các anh có chút khó khăn, hỏi xem thế nào?
Hoàng Cầm ngần ngừ:
- Vâng! Cũng có khó khăn anh ạ…
Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng vẫn chậm rãi:
- Tôi đã nghe báo cáo khá cụ thể rồi, tuy không sát bằng các anh, nhưng cũng chia sẻ với quân đoàn của anh. Tình hình khẩn trương đấy, anh động viên anh em cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Theo tôi các anh nên xem lại cách đánh. Nếu đánh vỗ mặt chưa có kết quả như ý thì nên tổ chức bao vây, chia cắt địch ra mà đánh…
- Vâng! Tôi với đồng chí chính ủy quân đoàn cũng vừa bàn với nhau. May quá, ý định của mình cũng trùng hợp với cấp trên. Chúng tôi sẽ tổ chức lại mặt trận, đặt trọng tâm hướng về đường 20 và ngã ba Dầu Giây…
- Có lẽ như thế là tốt hơn. Anh Trần Văn Trà sắp xuống với các anh đấy. Thôi nhé, chúc anh khỏe, hoàn thành nhiệm vụ. Anh em mình sẽ gặp nhau sau ngày chiến thắng. Anh cho tôi gửi lời thăm anh Thiện, anh Vũ và các anh trong Bộ chỉ huy quân đoàn nhé…
- Vâng! Tôi sẽ chuyển lời chào của anh. Cám ơn Tổng tham mưu trưởng. Xin được gặp lại anh sau chiến thắng này… Chúc anh khỏe!
Thiếu tướng, tư lệnh quân đoàn Hoàng Cầm đặt ống nghe xuống mà lòng bồi hồi khôn tả.



***


Trong khi đó chuẩn tướng tư lệnh sư đoàn bộ binh số 18 của quân lực Việt Nam cộng hòa lại trải qua một đêm rất vui. Như vậy là mũi nhọn mạnh nhất, mũi nhọn thọc sâu, theo cách gọi của cộng sản đã bị ông bẻ gãy. Không những thế, khả năng tự cố thủ của sư đoàn cũng như chiến đoàn 43 của ông được biết đến như một sư đoàn bất khả chiến bại. Mặc dù bộ tư lệnh của ông đã phải chuyển ra ngã ba Tân Phong, sát quốc lộ số Một, để căn cứ lại cho trung đoàn 43 đảm nhiệm, nhưng căn cứ mới cũng không đến nỗi nào. Sau khi cho sĩ quan tham mưu ra ngoài, Lê Minh Đảo ngả lưng trên tấm nệm mà út đã kê chênh chếch lên cho chuẩn tướng tư lệnh.
Ông lim dim nhớ lại khi trung tá Bính, trưởng phòng Năm (chiến tranh chính trị) đề nghi ông cho mời báo chí từ Sài Gòn lên, ông đã gật đầu ngay. Rất tiếc là nhiều tên nhà báo nhát gan đã không dám lên vì sợ ăn đạn của cộng sản. Nhưng dù sao thì cũng có đài phát thanh, truyền hình và báo Tiền Tuyến( ). Một trận ăn mừng tuy phải làm dưới hầm, nhưng cũng đủ vui. Ông nhớ đến câu hỏi của một tay phóng viên Việt tấn xã:
- Thưa thiếu tướng, là một tướng trẻ và dũng mãnh nhất của quân lực Việt Nam cộng hòa, ông đánh giá thế nào về sức mạnh của quân đội đối phương?
- Xin đính chánh câu hỏi của anh: tôi chỉ là chuẩn tướng, chớ chưa được phong cấp. Về câu hỏi của anh, tôi xin nói: họ đông, rất đông quân. Họ có quyết tâm và dùng chiến thuật biển người. Thú thực mấy giờ đầu chúng tôi có hoang mang. Nhưng, chúng tôi có vũ khí, có tinh thần tử thủ, nên đã bẻ gãy mũi tấn công thọc sâu của cộng sản.
Một phóng viên khác:
- Sư đoàn 18 được mang phù hiệu nỏ thần của An Dương Vương, chuẩn tướng có thấy vinh hạnh không?
- Rất vinh hạnh. Rồi các bạn sẽ thấy…
Cô gái có mái tóc vàng, nhưng nhìn kỹ không phải ngoại quốc. Cô ta là người của truyền hình, đã hỏi ông một câu làm ông thấy vui:
- Ông biết gì về đối phương?
- Tôi biết đủ để đẩy lùi họ. Họ đánh chúng tôi trong một thế trận không còn bí mật. Mà điều này đối với cộng sản là một bất lợi.
- Giả sử được nói chuyện với phía bên kia, ông sẽ nói gì?
- à… làm ra vẻ nghĩ ngợi một lát, tướng Đảo cười mỉm, cách thể hiện của những vị chỉ huy có văn hóa. Tư lệnh của họ là tướng Hoàng Cầm. Tôi nhờ cô nhắn lời của tôi tới ông ta, zdầy nghe: “Thưa đồng chí Hoàng Cầm, tôi xin mời đồng chí tiếp tục giao chiến, nếu còn sức!”. Nhớ ghi lời tôi nguyên văn, hả? Nói thiệt tình, ông “đồng chí” hết hơi rồi…
Một tràng cười rộ lên, ai nấy tỏ ra phấn khích. Một phóng viên tiến đến trước mặt chuẩn tướng, bằng một giọng nghiêm túc:
- Thưa chuẩn tướng, vị trí của Xuân Lộc đối với quân khu 2, với thủ đô Sài Gòn được chuẩn tướng đánh giá như thế nào?
Chuẩn tướng Lê Minh Đảo gục gặc đầu:
- Hừ, câu hỏi nầy phải dành cho tướng Toàn và tổng thống, khó nói quá. Tôi là người lính, tôi chỉ biết đánh nhau và quyết tử thủ. Tuy nhiên, tôi xin nhắc lại sự lượng giá của đại tướng Weyand, từ Mỹ mới qua. ổng nói: “Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”.
- Và chuẩn tướng tin là như vậy?
Chuẩn tướng ngẫm nghĩ, định nói câu gì đó, nhưng trung tá trưởng phòng Năm đã bước lên:
- Anh em báo chí! Xin cám ơn các chiến hữu đã đến với chúng tôi nơi tiền đồn trận tuyến. Chuẩn tướng của chúng tôi đã trả lời các câu hỏi của quý vị. Bây giờ cuộc họp báo coi như thành công. Xin mời anh em qua hầm tác chiến ta vừa trò chuyện vừa lai rai…
Anh em lai rai được vài phút rồi kêu trực thăng đưa trở lại Sài Gòn. Tướng Đảo lấy cớ bận, không tiễn khách. Và buổi tối, nghe qua rađiô, ông mỉm cười. Trung tá Bính ngồi bên, giơ một ngón tay cái:
- Anh Hai! Số dzách!
Trở về hầm của mình, tướng Đảo đặt mình lên tấm nệm cao su bơm hơi. Khác với thói quen trằn trọc mọi ngày, ông lơ mơ một lát rồi ngủ ngay. Có lẽ do hơi men của mấy ly Wishky, mà cũng có thể là hơi men của chiến thắng…
Gần sáng, tướng Đảo giật mình tỉnh giấc, ông gọi út bảo triệu ngay sĩ quan tham mưu đến:
- Đêm qua thế nào?
- Trình chuẩn tướng, ngoại trừ những giao tranh ở khu vực thị xã, phía bắc sân bay, tình hình có vẻ yên lặng… Không thấy chúng bắn pháo. Cả tiếng xe tăng cũng rất xa…
- Phòng 2 đâu?
Lát sau trưởng phòng quân báo bước vào:
- Trình chuẩn tướng, phòng hai báo cáo.
- Nói đi! Tư lệnh vừa xỏ tay áo vừa nói nhỏ.
- Theo phán đoán của chúng tôi: cộng sản đang thay quân, chuẩn bị cho một cuộc tấn công mới…
- Cái gì? Thay quân à?
- Dạ, trình…
- Trình trình cái gì mà trình hoài vậy? Viên trung tá trưởng phòng quân báo bị bất ngờ, vì từ trước tới giờ, anh ta chưa thấy tư lệnh nổi nóng. Có thiệt là chúng thay quân không?
- Dạ đúng!
- Cút!
Tuy bị đuổi “cút”, nhưng trung tá vẫn đứng ngây ra, thẳng tắp như một cái cột. Chuẩn tướng ngồi xuống, bưng tách cà phê mà út vừa mới đem vào:
- Các anh ngu lắm! Chúng đã thay đổi cách tấn công ta. Tôi cho rằng: sự im lặng ở Xuân Lộc thực ra không phải do quân cộng sản thay thế các đơn vị bị tiêu hao mà họ có ý đồ điều chỉnh lại đội hình. Nghe rõ chưa?
- Dạ… cả hai sĩ quan đứng im phắc, miệng mấp máy.
Tướng Đảo trở lại nhỏ nhẹ như bản chất “nghệ sĩ” của ông:
- Các anh chuẩn bị kế hoạch đối phó. Nếu cộng sản không chiếm được Xuân Lộc, không có nghĩa là họ cay cú đâu. Thử hình dung, nếu chúng đánh Dầu Giây, cắt đứt quốc lộ số Một và đường 20, thì chúng ta còn giữ Xuân Lộc làm cái giống gì?
Hai viên sĩ quan vẫn im lặng. Lê Minh Đảo tiếp:
- Lúc đó chúng ta chỉ còn một con đường để rút chạy. Đúng không? Các anh có biết chiến đoàn 52 giờ ra sao không?
- Dạ… sĩ quan tác chiến ấp úng. Đại tá Dũng vẫn nắm vững chiến đoàn 52, nhưng…
- Nhưng sao?
- Đại tá Ngô Kỳ Dũng đã cho dồn hết quân về gần Ngã ba Dầu Giây, để tử thủ.
Tướng Đảo thở dài:
- Thế là mất Đá Chồng giờ mất thêm Gia Kiệm. Có thể phải bỏ cả Túc Trưng. Lệnh cho Ngô Kỳ Dũng bằng mọi giá giữ chắc ngã ba Dầu Giây. Các anh cứ chuẩn bị kế hoạch sử dụng lộ số 2, rút về Bà Rịa. Thôi, ra cả đi!


















0


CHƯƠNG MƯỜI BA (1)



Một cảm giác ghê rợn từ một mùi hôi thối nồng nặc xông vào mũi Nghiệp. Mùi hôi thối này chỉ có thể bốc lên từ những xác chết của động vật. Nó nằng nặng, thoang thoảng, khi thì giãn ra xa cách, mơ hồ, nhưng rồi lại bất chợt dội đến đặc quánh xộc thẳng vào tận óc. Nghiệp kinh ngạc và cũng không thể nào tưởng tượng được con người lại có thể sống trong cái mùi khủng khiếp này được. Anh cúi xuống cố khạc nhổ, nhưng cổ họng khô rát.
Nghiệp bị đẩy vào một cái hộp vuông bằng sắt, rất to và vững chắc như một cái toa tàu hỏa. Không hiểu chúng dùng để làm gì hay chuyên để giam giữ tù binh? Anh cố quay lại chìa tay ra cho Lan, nhưng tên lính áp giải đẩy mạnh làm anh đâm sầm vào cạnh vách của cái hộp. Nghiệp hoa mắt, rồi lảo đảo gục xuống. Đói và khát và cú đập đầu đã làm Nghiệp ngất lịm. Nhưng chỉ ít phút sau anh đã tỉnh lại. Cái hộp nóng rực, Nghiệp có cảm giác như toàn thân đã khô quắt lại. Anh gượng đứng lên ngó qua một cái ô cửa hình vuông, lởm chởm cạnh sắc. Bên ngoài nắng quái xiên xiên trên những mảnh tôn chói lóa. Và… cái mùi thối nồng nặc thỉnh thoảng lại xộc vào tận óc, làm Nghiệp muốn phát mửa. Mùi của xác chết, không biết của súc vật hay của người? Cũng không biết nó từ đâu tới. Dù là mùi xác chết của súc vật thì sao những con người ở đây có thể chịu được nhỉ? Nghiệp cúi xuống ôm lấy ngực, cố nén cơn nôn khan. Được một lúc thấy dễ chịu trở lại, anh lại nhìn ra ngoài qua cái lỗ vuông. Lan đang ở đâu? Có lẽ chúng cũng nhốt cô gái vào một cái hộp sắt như thế này chăng? Hay…? Không, Nghiệp không muốn nghĩ đến cái điều xấu nhất có thể xảy ra với Lan.
Bên ngoài, có một tên lính gác cầm súng đi lại, mũi súng chúi xuống đất và cái đầu chụp mũ sắt cũng cúi xuống nhìn mặt đất, vẻ đăm chiêu. Và ruồi! Đúng rồi, mùi xác chết đã lôi cuốn bọn ruồi kéo đến, chúng đậu xuống mặt đất, thành những đốm đen. Chúng bám thành một chuỗi dài trên những nhánh cây trụi lá, đều tăm tắp. Thỉnh thoảng chúng lại bay vù lên, lao vào bất kỳ chỗ nào. Đến như cái lỗ vuông vuông bằng bàn tay trên vách cái hộp nhốt người, mà Nghiệp ngó qua cũng đã bị những con ruồi điên lọan lao vào. Cách cái hộp nhốt tù binh độ vài thước, ngay bên ngoài, một tốp năm, sáu tên lính đang ngồi túm tụm. Chúng đang chơi một trò chơi gì không biết, vẻ căng thẳng. Thỉnh thoảng một đứa lại đứng lên móc tiền từ trong túi đưa cho kẻ thắng. Nhìn kỹ một lúc lâu sau anh cũng bị cuốn vào cái trò chơi lạ lùng đó. Nghiệp nhận ra chúng đang chơi một trò chơi kỳ quặc. Một thằng xé tờ tiền giấy ra làm nhiều mảnh chia cho những tên xung quanh. Mỗi đứa một mảnh để trước mặt, rồi ngồi chờ… ruồi! Hễ tờ tiền của ai có ruồi đậu vào là người ấy thắng cuộc, những tên còn lại, ruồi không đậu, hoặc đậu sau đều phải góp tiền cho kẻ thắng, tức là được ruồi ưu tiên, đậu trước. Trò chơi buồn tẻ, nhưng tốp lính cứ mải miết ngồi chờ đợi. Không cãi cọ, không giằng co, chỉ trông chờ vào sự may rủi của con ruồi. Được cái ruồi nhiều vô kể, nên trò chơi diễn ra rất nhanh. Có khi vừa đặt mảnh giấy xuống, mấy con ruồi đã bâu vào…
Bỗng dưng Nghiệp quên đi thân phận của mình, cứ đứng dán mắt vào cái lỗ vuông, nhìn bọn lính. Và càng ngạc nhiên hơn nữa, cái mùi thối rữa của xác chết cũng nhạt dần, và hầu như không cảm thấy! Nghiệp không biết tại sao? Suy luận mãi, cuối cùng anh cũng hiểu. Hóa ra, cái mũi của con người cũng mau thích ứng và bình thường hóa trước các lọai mùi. Nếu không thế, làm sao con người có thể sống chung với những thứ mùi kinh tởm đang bao trùm nơi đây được! Cho nên, người ta mới bảo: quen mùi là như thế. Giả sử như, giả sử thôi, ai đó lấy phải ông chồng hôi nách, mà không có cái quy luật tự nhiên rộng lượng thì có mà…
Một giọng hát khàn khàn cất lên ở đâu đó:
Lội bùn dơ băng lau lách sương đêm
Sương trắng rơi, vai tôi ướt lạnh mềm
Chim muông buồn rủ nhau bay về đâu
Ngẩn ngơ lũ vượn gọi nhau
Nào những khi ôm thép súng tê tay
Đắm mắt theo bao hư ảo cuộc đời.( )
Không biết bài hát đó là gì, nói gì, nhưng Nghiệp thấy tâm trạng của những người lính cộng hòa cũng thật bi đát. Tiếng hát cứ láy đi láy lại một giai điệu, hòa vào tiếng rì rầm của người, tiếng vo ve, u u của ruồi, và thỉnh thoảng được điểm nhịp bằng tiếng pháo, thật thê lương. Anh mong quân ta ào ạt tiến vào đây, ngay bây giờ. Nghiệp thấy hai chân mỏi rã rời, anh quay lại nhìn vào cái hộp sắt khổng lồ, bây giờ mắt đã quen, có thể nhìn thấy bên trong “chiếc hộp”. Nó cũng có thể ví như một cái chuồng gà. Mặt sàn trống trơn, hình như có một cái gì đó đang động đậy. Nghiệp cúi xuống nhìn kỹ: một thân hình người! Cái thân hình co quắp, nhỏ bé. Đó là một cái xác. Nghiệp giật lùi lại, định thần một lần nữa, nín thở để lấy sự can đảm, anh mạnh dạn đặt tay vào cái xác, thử xem có thật là một xác chết hay không? Bỗng nhiên, một tiếng rên nho nhỏ. Nghiệp thở hắt ra, không phải xác chết mà là một con người. Một người đàn ông, có thể là một tù binh, bị bắt và bị ném vào đây… Mình làm gì bây giờ? Lay gọi anh ta hay cứ để yên cho anh ta chết. Mình cũng có thể…
- Này! Này…
Người kia không nhúc nhích, vẫn co quắp và hai tay quặp lấy đầu, cố thu nhỏ lại. Nghiệp lay mạnh hơn, một giọng nói rên rỉ phát ra:
- Dạ, trình trung úy, em không có tội!
Một tên lính! Hóa ra cái hộp này không chỉ để nhốt tù binh, mà là nó để giam giữ đầy ải tất cả những ai, nếu cần. Nghiệp lui vào một góc, ngồi bệt xuống, hai tay đặt lên đầu gối, mắt nhắm lại. Làm như thế để tiết kiệm năng lượng cho cơ thể…
Nghiệp ngạc nhiên nhận thấy sao lúc này, mình cảm thấy thật bình tĩnh. Anh đã chuẩn bị đón nhận hy sinh, đón nhận cái chết bằng tất cả sự lẫm liệt, ngoan cường.
“Tráng sĩ khứ, hề, bất Dịch hoàn”… Sông Dịch hiu hiu gió lắt lay, tráng sĩ ra đi không đợi ngày trở về! Trong cuốn sổ tay nhỏ, dắt sâu trong túi quần, Nghiệp đã chép những câu thơ hào sảng, những châm ngôn bất hủ. Chẳng sao cả, chẳng có gì ghê gớm cả nếu một ngày nào đó ta không trở về. Nghiệp nhắm mắt lại hình dung ra hình ảnh ngọn cờ đỏ thắm trong câu thơ của nhà thơ áo lính Thu Bồn mà anh ngưỡng mộ:
Và cô gái biển đẹp xinh, người vợ trẻ
Ngày chiến thắng về sẽ không có bóng anh
Thì em hãy nhìn sắc cờ kiêu hãnh
Có anh về ôm ấp rặng dừa xanh…
Anh sẽ chết, anh sẽ đi làm màu xanh bãi cỏ cho các em, hàng trăm vạn cô gái thanh tân được mãi ngồi lên đó để tình tự với người yêu… Nhưng, không thể nào Nghiệp lại nghĩ mình sẽ hy sinh một cách tê tái như thế này. Không! Trăm ngàn lần không! Tất nhiên chúng sẽ tra khảo bắt anh phải khai báo ra tình hình đơn vị, cách bố trí lực lượng, tinh thần binh sĩ… Anh sẽ chẳng nói gì hết. Bắn đi! Người chiến sĩ cách mạng, người con của nhân dân chiến đấu vì độc lập, tự do của nhân dân, của đồng bào, sẵn sàng cống hiến. Tất cả mọi sự hy sinh đều cao quý, nhưng sự hy sinh bằng máu là cao quý nhất! Chúng sẽ chẳng moi được gì ở anh. Rồi chúng bắn anh… Một viên đạn. Không, cũng có thể chúng dùng mọi cực hình để bắt anh phải chết trong đau đớn và thê thảm…
Nghiệp nhớ lại ngày mới vào quân ngũ, vài ngày học điều lệnh, trong khi chờ phát quân trang, cánh tân binh đủ sắc màu quần áo, giày dép. Mấy ngày học nghiêm nghỉ, quay trái quay phải Nghiệp không thấy mệt mỏi, vất vả mà chỉ tiếc đôi dép nhựa Tiền Phong còn mới cứng, mà chỉ vài ngày xoay tít trên sân xi măng hợp tác đã… mòn vẹt! Tiếc quá, biết thế hôm lên đường, mình gửi về cho thằng em con ông cậu. Có lần nó đã thích mê đôi dép nhựa trong văn vắt, xin được đi thử:
- Vừa quá, anh Nghiệp! Bao giờ có tiền em cũng sắm một đôi để đi cho sướng…
- Gớm, mày tưởng! Một đứa bạn gái xen vào. Phải có phiếu phân phối hoặc quen biết mậu dịch mới mua được. Tưởng bở…
Đôi dép ấy đã đựoc gửi về cho thằng em, nó bị mòn gót, mỏng đế nhưng quai thì vẫn còn tốt. Thằng em đi được vài ngày thì cũng vào bộ đội, nhận đôi dép cao su. Niềm khát khao nhỏ bé như đôi dép nhựa lại được lưu truyền cho những đứa em…
Sau khi chữa khỏi ghẻ, mà công lớn là của chú Nhẫn, đầu không tóc, Nghiệp trúng tuyển ngay, chỉ sau bọn Thạch, Trí… bốn tháng. Điều bất ngờ là cả Nhiên cũng trúng tuyển. Nhiên trầm tĩnh hẳn, chính vì thế mà nó được mệnh danh là “nữ chính ủy” của mọi người.
- Em nghĩ chắc bọn mình chỉ đi bộ đội độ một hai năm là giải phóng miền Nam thôi anh Nghiệp ạ… Lúc đó chúng mình sẽ lại về học tiếp, nhưng em sợ chúng mình không được cùng nhau…
Nghiệp cũng trầm ngâm:
- Học hành là cả một đời, nhưng cống hiến cho cuộc chiến tranh vệ quốc thì lại chỉ là một khoảnh khắc. Làm người không ai nên bỏ qua thời cơ để chứng tỏ bản lĩnh…
Nhiên cười nhăn mũi:
- Sao cái gì anh cũng cứ làm nó to đùng lên thế hả anh Nghiệp?
Nghiệp cũng trả miếng:
- Tồn tại thì chỉ cần những cái nhỏ nhặt, nhưng để sống thì phải có những cái lớn lao. Thế Nhiên đã viết thư báo tin cho bọn Thạch chưa?
- Em viết rồi, nhưng chưa gửi. Thư trước anh Thạch viết cho em nói là sẽ vào chiến trường trong tháng này…
- Cứ gửi. Hai đứa mình gửi chung một phong bì để tiết kiệm tiền tem, nhá. Viết luôn cho cả thằng Trí nữa, để thằng Thạch nó chuyển…
- Như vậy là ta tiết kiệm được ba con tem? Nhiên giễu.
- Đúng thế!
Nhiên lên tỉnh đội thì được phân sang đơn vị khác. Đúng thôi, bọn con gái thì phải phiên chế vào những đơn vị phục vụ, những đơn vị thứ yếu, Nghiệp lên giọng kẻ cả, nhưng Nhiên thì không chấp. Cô chỉ cười:
- Chưa biết ai quan trọng hơn ai!
Nhiên được cử đi học cơ yếu một tháng. Cơ yếu là nghề quan trọng bậc nhất, biết những điều tuyệt mật cho nên phải chọn những người có lý lịch tin cậy. Tất nhiên ở trường này, về lý lịch, ai cũng có thể làm cơ yếu được. Công việc của nhân viên cơ yếu là dịch những bản tin mật mã, nên không thể giao cho bất kỳ ai. Về sau, Nghiệp còn được nghe kể, trong khi làm việc, tức là lúc đang dịch những bản tin điện mật mã, người chiến sĩ cơ yếu phải đặt trước mặt mình khẩu súng ngắn, đã lên đạn sẵn. Bất kỳ ai, kể cả thủ trưởng cũng không được vào. Nếu cố tình bước vào, người cơ yếu có quyên bắn. Thế cũng ghê, nhưng có một quy ước là cơ yếu khi còn đang công tác trong ngành không được lấy vợ hoặc chồng làm báo vụ, tức người nhận điện mật mã, cũng không được trò chuyện thân mật với nhau. Lại nữa, không được giao du với ai thân mật quá mức, nếu còn đang ở trong ngành…
- Chán chết! Nghiệp cười khẩy. Nhưng cơ mà cái nghề đó rất hợp với con Nhiên nhà mình…
Sau hai tháng tập tành, xạ kích bài một, bắn bia số bốn, đánh bộc phá hai mươi gam, toàn tiểu đoàn của Nghiệp được lệnh hành quân ra mặt trận. Tưởng mặt trận ở đâu, ai ngờ vào Hà Tĩnh để… trồng dứa! Sao lúc này người ta lại đem chúng mình đi trồng dứa nhỉ? Biết thế này thì thà cứ ở suối Chân Gà có phải hơn không? Tết năm ấy, cả một vùng đồi Đức Thọ, toàn lính mới nhan nhản trên các đường làng.
- Tút về Hà Nội không?
Thằng Hà, cũng dân trường thiếu sinh quân số Ba, đề nghị. Nghiệp nghĩ ngợi một lúc, thấy “trồng dứa” thì ai làm chả được, cần gì đến những thằng trai.
- Đi thì đi! Nhưng in ít thôi nhé. Độ một tuần lại vào…
Hai thằng vừa mò ra đến thị trấn thì bắt gặp trung đội trưởng Ngữ đạp xe ngược lại. Thấy hai đứa nhởn nhơ cuốc bộ, trung đội trưởng quát:
- Hai thằng kia, đi đâu?
Nghiệp đang lo hoảng, thì Hà đã nhanh nhảu:
- Báo cáo thủ trưởng, chúng em ra thị trấn… cắt tóc!
- Láo! Đào ngũ hả? ở đại đội thiếu gì thằng biết cắt tóc… Về ngay!
Nghiệp kéo áo Hà, nhưng nó vẫn cãi:
- Chúng em đi cắt tóc thật mà…
Ngữ nhảy xuống xe:
- Cắt tóc gì mà đem nhiều thứ thế kia? Quay lại ngay, không thì ra tòa án binh bây giờ.
Nghiệp thấy chờn:
- Thôi về đi mày!
Anh Ngữ bỗng đổi giọng thân tình:
- Anh nói thế mà chúng mày không nghe thì cũng đành chịu. Nhưng cho chúng mày biết: có lệnh hành quân vào chiến trường.
- Thật không anh?
- Tao nói dối chúng mày làm đếch gì? Đây này…
Ngữ chìa ra một tờ giấy xanh xanh, có mấy chữ ngoằn ngoèo, không có dấu. Nghiệp nhẩm đọc, theo cách đọc của bưu điện “Anh lên ngay đơn vị. Có lệnh gấp”.
- Ai đánh điện cho anh thế?
- Hừ, ai thì không quan trọng. Quay về đơn vị đi!
Mãi sau này, anh Ngữ trong lúc tếu táo anh mới “khai” ra: “Tao cũng tranh thủ về nhà thăm bố mẹ ở Cẩm Xuyên. Cô người yêu của tao ở Đức Thọ đánh điện đấy”. Nghiệp nghi ngờ: “Thế nhỡ chị ấy nhớ anh quá mà đánh điện gấp cho anh lên thì sao?”. “Bố bảo”, Ngữ cười, thời buổi này mà dám nói dối à?
Quả nhiên một tuần sau, toàn đơn vị hành quân vào Nam. Nghe nói vào tận Nam bộ. Thích thật! Thích nhất là được hành quân bằng ô tô, hơn hẳn các bậc “tiền bối”, cuốc bộ leo đèo ba, bốn tháng!
Có tiếng đập chát chúa vào cái hộp nhốt người, một cái đầu thò vào:
- Nầy, thằng cộng sản, ra đây biểu coi!
Nghiệp choàng tỉnh, anh lấy tư thế hơi khom khom lưng, sợ đụng đầu và cái cửa thấp tè, chui ra. Tên lính cầm súng dí vào lưng anh, hất hàm:
- Đi lối này!
Một quãng vòng vèo quanh các hầm bao cát, Nghiệp được dẫn vào căn hầm khá sạch sẽ. Tên lính dập gót giày:
- Trình trung úy, tôi đã dẫn tên cộng sản tới đây ạ!
Trung úy không đứng dậy, hất hàm ra hiệu cho tên lính đi ra, rồi nhìn Nghiệp từ đầu đến chân. Có lẽ lúc này anh tiều tụy lắm, cái quần rộng trễ xuống, cái áo dệt kim thì hoàn toàn ngả sang màu đất, và xả một mảnh dưới bụng.
- Tên gì? Đơn vị nào? Trung úy hất hàm.
Nghiệp le lưỡi liếm môi, một cảm giác bỏng rát chạy khắp người. Anh nhìn lên ngực áo viên trung úy thấy tên ông ta là Tân. Trung úy Tân. Nghiệp không trả lời câu hỏi của trung úy, anh khẽ mấp máy, tưởng như không ra tiếng:
- Làm ơn cho tôi… uống nước!
Nghiệp không ngờ, tiếng nói của anh vẫn phát ra được từ cái cổ họng khô cứng. Trung úy Tân đẩy cái ca nhựa lại mép bàn. Không chần chừ, Nghiệp đưa hai bàn tay bị trói ra cầm ca nước lên uống cạn một hơi. Đặt cái ca lại cỗ cũ, lấy cả hai mu bàn tay quệt ngang miệng, rồi lại đứng im. Trung úy Tân chờ không thấy Nghiệp lên tiếng, hỏi tiếp bằng một giọng cao hơn, uy lực hơn:
- Tôi nhắc lại: tên gì, cấp bậc gì, đơn vị nào?
Nghiệp đưa mắt nhìn xung quanh và vẫn im lặng.
- Tôi nói cho biết: bị bắt vô đây coi như sống một nửa, nếu chịu khó ngoan ngoãn khai báo. Còn không coi như chết rồi, anh bạn ạ!
Nghiệp mấp máy rồi thong thả:
- Cám ơn ông đã cho uống nước. Cô gái bị bắt cùng với tôi đâu rồi?
Trung úy cười khẩy:
- Quan tâm đến đồng chí hả? Cô ấy sẽ không sao.
- Tôi muốn gặp cô ấy, rồi các ông muốn gì tôi cũng sẽ nói…
- Ra giá kia đấy! Này, tôi không giỡn với anh đâu nghe! Các anh bây giờ là tù binh của chúng tôi, chúng tôi muốn gì anh phải làm theo. Nghe không? Mạng sống của anh trong tay chúng tôi…
Thấy Nghiệp vẫn đứng im, lì lợm, trung úy Tân bỗng đổi giọng:
- Thôi vầy nghe! Chẳng cần khai báo gì hết. Mà một tên lính trơn như anh cũng chẳng biết cái con khỉ gì mà khai với báo. Chúng tôi sẽ cho anh ăn uống đàng hoàng, chữa chạy vết thương cho anh… Kìa, nhìn coi, cái thân hình kia chắc thiếu ăn lắm hả? Cả cô bồ của anh nữa, bồ phải không? Biết mà, rủ nhau trốn trại ra rừng làm trò lãng mạn phải không?
- Đối với chúng tôi, không bao giờ có chuyện đó. Nghiệp rắn giỏi.
- Ghê nha…! Chiến sĩ cách mạng có đạo đức ghê nha! Thôi được. Tôi tôn trọng cái chuyện đó của các người. Cả hai sẽ được đối xử tử tế, và sẽ được ở bên nhau trọn đời… Đổi lại… hả?
- Các ông cần gì? Nghiệp thấy bình tĩnh lại. Rất có thể chúng cũng sẽ không dám giết anh.
- Đơn giản! Đơn giản lắm, chỉ cần anh lên tiếng kêu gọi các đồng chí của mình, buông súng chạy sang hàng ngũ quốc gia!
Bỗng nhiên Nghiệp cảm tấy choáng váng. Cái nỗi nhục bị bắt làm tù binh còn chưa đủ hay sao lại còn lên tiếng kêu gọi anh em, đồng đội.
- Không! Tôi thà hy sinh chứ không làm việc đó.
- Không làm mà được à? Trung úy xít hai hàm răng. Phải làm… Hạ sĩ Quang đâu?
Tên hạ sĩ tiến vào, có thân hình của một đô vật. Hắn cười cười:
- Trình trung úy, rắn hả?
- Tùy anh! Chúng ta cần gì, anh biết rồi đấy!
Bằng một cái xách nhẹ, tên hạ sĩ đã nắm cổ Nghiệp xách ngược lên. Bàn tay của Quang to như cái xẻng, bóp vào cổ họng Nghiệp làm anh nghẹt thở, chới với. Nghiệp hét to:
- Các ông không được ngược đãi tù binh…
- Ngược này! Đù mẹ, tên cộng sản nhóc con… Tiếp theo là một cú đạp, làm Nghiệp bắn vào góc hầm, hai hàm răng cắn bật máu miệng.
Nghiệp cố gượng dậy, nhưng máu ở bên mép đã ứa ra, mằn mặn. Anh ngước lên nhìn trung úy Tân, anh ta quay mặt vào tường, mặc kệ cho tên hạ sĩ muốn làm gì thì làm. Lần này nó bước chậm rãi đến trước mặt Nghiệp giương hai con mắt đỏ vằn, gầm gừ:
- Nghe lời trung úy đi chớ, đồng chí! Đù mẹ, ngon lành không muốn, lại muốn ăn đòn. Nhưng mà thôi, anh bạn đừng trách tôi nghen, chiến tranh là vậy đó…
Nghiệp nhìn vào khuôn mặt tinh tinh của tên hạ sĩ, anh ráng hết sức:
- Chiến tranh thì không được ngược đãi tù binh. Chiến tranh sắp kết thúc rồi. Lúc đó các ông nghĩ sao về hành động của mình?
- A… cái thằng nhóc này mà dám tuyên truyền luận điệu cộng sản hả? Thử xem tao hay mày sẽ sống sót sau cuộc chiến này. Mà thôi, không vòng vo nữa, có nghe lời trung úy không?
- Tôi tuy bị bắt, nhưng không phản bội… Các ông là sĩ quan, chắc các ông hiểu luật chiến tranh…
Tên Quang định lao vào người Nghiệp một lần nữa, nhưng trung úy Tân đã lên tiếng:
- Thôi, mầy!
Tên hạ sĩ đứng sững lại:
- Sao trung úy? Thôi thiệt à?
- Hạ sĩ ra ngoài, chờ lịnh tôi.
Căn phòng chật chội, ánh nắng chiều còn rớt lại không đủ soi các ngóc ngách. Nghiệp vẫn ngồi im. Hình như có cái gì đó làm xao động người trung úy. Có lẽ ông ta cũng nghĩ đến khi kết thúc chiến tranh, lúc đó chưa biết thế nào…
Tự nhiên Nghiệp thấy hối hận. Tại sao trong quân đội, trong đơn vị của Nghiệp lúc huấn luyện không ai nói cho anh biết lúc sa vào tay quân thù thì phải ứng phó thế nào? Khi vào chiến trường, cấp trên trang bị cho Nghiệp và các đồng đội không thiếu một thứ gì. Nghiệp còn nhớ lúc đó mỗi tiểu đội còn được phát cho hai tấm vải liệm để làm công tác tử sĩ. Nó là một miếng vải hình chữ nhật, to hơn tấm đắp, có tám hàng dây buộc để buộc người chết trước khi đem chôn. Cả tiểu đội không ai nhận mang trong ba lô của mình. Cuối cùng thì tiểu đội trưởng và tiểu đội phó, mỗi người giữ một chiếc. Đấy, cả cái chết cũng được chuẩn bị chu đáo, thế mà không ai được dạy cho biết cách ứng xử khi bị địch bắt làm tù binh?
Nhưng nhờ đọc tiểu thuyết chiến tranh của Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp… có miêu tả những lúc một chiến sĩ hồng quân bị địch bắt đã đối đáp như thế nào. Hình như còn có cả một cái công ước về tù binh trong chiến tranh. Nghiệp thầm cảm ơn những cuốn sách anh đã đọc. Vừa nãy Nghiệp đã la lên câu “Không được ngược đãi tù binh” là do chợt nhớ tới một cuốn tiểu thuyết…
Trung úy Tân vẫn im lặng, trong khi Nghiệp thì miên man suy nghĩ. Trong đầu anh hàng ngàn hàng vạn con ve đang reo hò. Bỗng từ ngoài cửa hầm, một giọng nói có vẻ rất có uy vọng vào:
- Có chuyện gì trong đó, trung úy?
Trung úy đứng dậy, bước đi mấy bước, nhưng vẫn nhìn Nghiệp cảnh giác:
- Dạ, trình trung tá, anh em vừa bắt được một cán binh cộng sản, tôi đang khai thác…
- Vậy hả? Trung úy đã làm được gì rồi?
- Dạ, nó ngoan cố lắm, lý sự lắm, tôi đang thẩm vấn…
Không có tiếng trung tá, Nghiệp thấy có vẻ như con người ấy đã bỏ đi, nhưng lát sau cái tiếng nói đó lại vọng vào:
- Đưa lên chỗ tôi, Tân!
- Dạ, tuân lệnh trung tá!
Trung úy Tân quay lại nói với Nghiệp:
- Tôi nói anh không nghe, lên gặp trung tá chắc ổng không dịu dàng, tử tế như tôi đâu, anh bạn. Hạ sĩ Quang đâu?
Tên hạ sĩ đô vật bước vào, trung úy hất hàm:
- Dẫn người bạn này lên cho trung tá mần thịt.
Nghiệp gượng gạo, lảo đảo để cho tên Quang dẫn đi. Cũng một vòng như ban chiều, Nghiệp được đưa vào hầm chỉ huy của trung tá. Anh lê bước chân mà cảm thấy mình như một chiến sĩ Hồng quân xô viết đang bị dẫn đến trước một tên Gestapo. Viên trung tá nói nhỏ:
- Hạ sĩ ra ngoài, chờ lệnh… Khoan đã, cởi trói cho anh ta.
Hai tay Nghiệp được tự do, nhưng anh vẫn đặt lên nhau, từ từ ngẩng lên, hiên ngang nhìn thẳng vào viên trung tá. Chợt anh giật mình: khuôn mặt sao mà quen quá? Ai nhỉ? Nét mặt hơi phẳng, cái trán rộng nhưng thấp và cặp lông mày thưa mà dài…? Lại nữa, cái miệng nhỏ, thỉnh thoảng lại mím lại, giữ kẽ? Ai? Không thể nhớ ra, nhưng đó đúng là một người mình đã gặp rồi.
- Ngồi xuống đó! Bị bắt hồi nào? Trung tá nhìn tên chiến binh cộng sản với một vẻ thờ ơ. Nhưng trong bụng ông có một cái gì đó, có thể là một chút thương hại.
Nghiệp không trả lời, mà mải suy nghĩ về viên trung tá này. Ông ta tên Bình, cái tên in trên ngực áo, chữ rất to. Trung tá đứng dậy, đi lại trong căn hầm chật chội, giọng đủng đỉnh:
- Không nói hả? Không dám nói hay không muốn nói?
- Trí!
Nghiệp buột miệng kêu lên một tiếng đầy vẻ kinh ngạc xen lẫn mừng rỡ, như thể gặp lại người quen, nhưng rồi chợt nhớ ra, anh vội vàng và bất ngờ dừng lại.
- Cái gì? Vừa nói cái gì? Nhắc lại coi?
Nghiệp vẫn im lặng. Đúng khuôn mặt này là khuôn mặt của thằng Trí rồi!













0
CHƯƠNG MƯỜI BA (2)


Lần đầu tiên hai đứa gặp nhau, Trí lầm lũi như một con chim ướt cánh. Trong lớp học, Trí là đứa thứ ba nói giọng miền Nam. Đôi mắt ngơ ngác của nó luôn nhìn mọi người với con mắt ngơ ngác, có lúc lại lóe lên cái nhìn cảnh giác. Nó nằm cạnh Nghiệp, nhưng không hề nói câu nào. Đến hôm sau, trong lúc chờ cơm, Trí thơ thẩn nhìn hàng giậu cúc tần có hàng trăm sợi tơ hồng vàng óng đan dệt lên làm hàng rào chĩu xuống, đầy thích thú. Nghiệp đến gần, e dè:
- ở quê cậu không có thứ cây này à?
Trí nhìn Nghiệp mỉm cười như người có lỗi:
- Hổng có! Tôi chưa từng thấy…
Nghiệp giải thích vắn tắt cho Trí, nó lắng nghe chăm chú và tỏ ra cởi mở hơn. Một lần đi qua cái đồn điền cũ của Pháp thấy hàng cây hoa mà Nghiệp gọi là cứt lợn tây thì Trí reo lên, chạy ào tới ngắt một cành, nói với Nghiệp:
- ở ngoài này cũng có loại hoa này? Cậu kêu bằng gì?
Nghiệp cười cười:
- Tên xấu lắm, nó là loại hoa hoang dã, đừng nghịch nó, ngứa đấy! Chúng tớ gọi nó là hoa cứt lợn, mà là cứt lợn tây, để phân biệt với hoa cứt lợn của ta.
Trí nhoẻn cười:
- Tôi nghiệp nó quá. Tên nó rất đẹp: dã quỳ hương. Đúng là loại cây này từ bên Tây người ta đem sang ta.
- Thật không?
- ở bên Cam- pu- chia, loài hoa này được trồng làm cảnh cho các nhà biệt thự sang trọng hay các công sở nhà nước…
Đến lượt Nghiệp ngạc nhiên và thầm thán phục thằng bạn hiểu biết rộng. Thế rồi, chiến tranh bắn phá miền Bắc, trường sơ tán sang nước ngoài. Hai thằng Trí và Nghiệp, sau này thêm Thạch và Nhiên, họ trở thành những người bạn thân.
Trí kể rằng, quê nó ở miền Nam, nhưng hồi chống Pháp, ba nó hoạt động cách mạng, bị lộ nên cả gia đình chuyển sang Pnômpênh, Campuchia sinh sống. Khi có lệnh tập kết ra Bắc, chỉ có mình ba nó đi còn má và hai anh em nó ở lại. Mãi sau này, năm 1960, các chú các bác mới tổ chức cho má đem theo hai anh em nó ra miền Bắc. Chuyến đi vòng vèo lắm, phải giả bộ làm người Trung Quốc, sang Quảng Châu rồi mới về được Hà Nội…
- Tao nói cho mày hay, Nghiệp à! Tao còn một người anh trai, tao kêu bằng anh Hai, lúc cả nhà qua Campuchia, vì vội, mà vì ảnh cũng lớn rồi, nên không đưa đi theo được. Hồi nhỏ nghe má tao kể lại, má sanh ảnh ra, nhưng do phải di chuyển hết chỗ này, chỗ kia, nên má phải gởi lại cho gia đình một người quen. Ba má tao nghĩ rằng, sau này hòa bình, rồi má lại về Sài Gòn tìm ảnh. Nhưng không ngờ, mấy chục năm mà không tìm được anh Hai. Tao cũng không biết mặt ảnh, chỉ nhìn hình chụp hồi nhỏ. Có lúc tao hỏi má, má nói ảnh đi lính ngụy rồi…
Câu chuyện của Trí đưa Nghiệp trở về với những ngày thơ ấu và miền Bắc, hậu phuơng lớn xa xôi. Bây giờ lại càng xa lắc. Người sĩ quan quân đội cộng hòa này đang nghĩ gì. Liệu có phải ông ta là anh Hai của thằng Trí không? Và nếu đúng thì ông ta sẽ hành xử như thế nào, khi Nghiệp nằm trong tay ông ta…? Nhiều câu hỏi ào đến, khiến Nghiệp quên mất số phận tù binh của mình. Anh đã đủ lớn, đủ lớn để làm một người chiến sĩ giải phóng, đủ quyền hiên ngang trước họng súng quân thù, nhưng trong mọi cái lẽ ngóc ngách của cuộc đời, Nghiệp làm sao biết được, khi anh mới chỉ xấp xỉ cái tuổi hai mươi?
Nghiệp biết có những gia đình có người vào Nam, rồi đi lính ngụy, nếu mà chính quyền, tổ chức biết được, sẽ không khỏi bị băn khoăn, khó dễ… Đó là cái hoàn cảnh éo le của bao người. Nhưng có lẽ gia đình Trí, với cương vị công tác của ba nó, thì việc anh Hai nó đi lính cho địch được thông cảm.
- Từ miền Bắc vô đây lâu chưa? Nghiệp giật mình bởi câu hỏi của trung tá Bình. Sao ông ta không tra vấn mình như tay trung úy Tân mà cứ hỏi nhẩn nha như thể người anh lớn hỏi đứa em nhỏ ngỗ ngược.
- Các ông bắt được tôi rồi, muốn làm gì thì làm, tôi không khai ra đâu, dù chỉ một câu.
- Tốt! Các anh được giáo dục khá tốt đấy. Nhưng tôi có hỏi gì về quân sự đâu? Tôi chỉ hỏi những chuyện bình thường, như anh em nói chuyên thôi mà! áo quần đâu mà trần trụi thế kia? Có được ăn cơm no không mà ốm quá vậy? Thiệt không ngờ, bộ đội cụ Hồ mà lại…
Nghiệp thấy lùng bùng trong đầu. Cơn giận dữ làm nên sự liều mạng, bất cẩn:
- Không được động đến Bác Hồ của chúng tôi!
- Ha… ha…! Trung tá cười lớn, chiếu cái nhìn gay gắt vào Nghiệp. Mày còn con nít thế kia, biết gì về Bác Hồ mà hăng thế? Liệu chúng mày có đánh thắng nổi chúng tao không? Một viên đạn vào gáy không sợ à?
Bất thần Nghiệp lao vào viên trung tá, hai bàn tay yếu ớt và gầy gò của anh tung ra những quả đấm… hụt! Trung tá Bình nhẹ nhàng né tránh, và cười:
- Con nít ranh! Dừng lại!
Nghiệp càng say máu, anh quyết chết. Dứt khoát là chết. Đói, khát và nhục, đã đưa Nghiệp đến hành động liều lĩnh này. Trung tá Bình chỉ khẽ gạt chân Nghiệp một cái, anh đã ngã sấp, nằm sóng soài trên mạt đất. Nhìn thấy cái túi quần của Nghiệp cộm lên, trung tá bước đến, móc ra. Đó là một cuốn sổ nhỏ, bọc bìa ny lông màu đỏ, có in hình chủ tịch Mao Trạch Đông. Trung tá Bình lật ra xem, không có gì là bí mật, chỉ toàn những câu thơ, và lời châm ngôn. Bỗng ông thấy một tấm ảnh đen trắng, nhỏ cỡ bằng nửa bàn tay có viền răng cưa. Ông nhìn vào tấm ảnh lem nhem, đã ngả ố vàng, thấy hai khuôn mặt trẻ thơ. Một thì ông nhận ra ngay, đó là tên cộng sản oắt con đang nằm dưới đất kia, còn một khuôn mặt nữa, hơi bầu bĩnh. Khuôn mặt với cái vẻ nghiêm nghị nhưng ngơ ngác… khiến ông chú ý. Có một cái gì đó quen quen. Quen lắm!
Không chú ý đến tên tù binh, trung tá Bình nhắm mắt lại cố lục lọi trong trí nớ, và… thật không ngờ, đó chính là khuôn mặt Tuấn Vũ, coi trai ông!
Bất thần Nghiệp lao tới, giằng lại cuốn sổ:
- Trả lại cho tôi! Đây không phải là tài liệu…
Trung tá nắm lấy cổ tay Nghiệp, dí sát tấm ảnh vào mặt Nghiệp:
- Mày chụp ảnh với thằng nào đây?
- Bạn tôi! Không việc gì đến ông?
- Bạn mày? Nó tên gì? Quê ở đâu?
Nghiệp từ từ thả lỏng bàn tay, và anh cũng nhìn sát vào mặt trung tá, nói vừa đủ nghe:
- Nó là thằng Trí. Từ Cămpuchia ra Hà Nội…
Trung tá buông tay Nghiệp ra, chỉ vào cái thùng đạn:
- Ngồi xuống đây, nghe hỏi đây…
Nghiệp bỗng trở nên ngoan ngoãn, ngồi xuống, chăm chú nhìn từng cử động nhỏ của trung tá.
- Uống nước?
Nghiệp khẽ gật đầu.
Tên lính hầu mang nước vào rồi lại quay ra, trung tá dặn với “Tao đang khai thác tù binh, không cho ai vô nghe!”. Tên lính “tuân lịnh” rồi đi ra.
- Đói không?
Nghiệp gật đầu. Trung tá lấy mấy cái bánh bisscu, đặt trước mặt Nghiệp. Không nề hà, Nghiệp nhai ngấu nghiến, thấy sức lực hồi dần. Anh thở ra, giọng vẫn gay gắt:
- Bây giờ ông có thể bắn tôi được rồi !
Trung tá cười chua chát:
- Bắn cậu làm gì? Bây giờ thằng bạn tên Trí của cậu đang ở đâu?
Nghiệp nghĩ nhanh: có lẽ cứ khai thác “lòng tốt” của tên sĩ quan này, biết đâu lại chẳng là một dịp may, trốn thoát.
- Trí cũng đã nhập ngũ, và… đang có mặt ở đây!
- Sao? Cùng ở đơn vị với cậu à?
- Không! Nhiều đơn vị lắm! Chúng tôi đông lắm…
Trung tá nhìn Nghiệp, hỏi tiếp:
- Ăn nữa không?
Nghiệp lắc đầu:
- Cám ơn ông! Tôi xin hỏi một câu, được không?
- Hỏi đi.
- Tôi trông ông giống bạn tôi lắm. Không biết ông có bà con gì với thằng Trí không? Biết đâu…
Trung tá đột ngột đứng dậy:
- Không được hỏi lôi thôi! Rồi ông đột ngột nhỏ giọng. Bị bắt một mình hay có những ai?
- Còn một người nữa. Một cô gái, các ông làm gì cô gái ấy rồi?
Trung tá ra cửa hầm, gọi tên lính gác, nói một câu gì đó, Nghiệp chỉ nghe tên lính “tuân lịnh” rõ to, rồi ông quay vào:
- Đã khai những gì rồi?
Nghiệp lắc đầu. Trung tá lặng im. Chừng mươi phút sau, tên lính dẫn một người vào. Đó là út Lan! Nghiệp lao đến đỡ Lan, nhưng cô đã ngã quỵ xuống:
- Chúng nó có đánh em không?
Lan không trả lời, chỉ ngước cặp mắt sợ sệt lên nhìn trung tá.
- Cởi trói! Lấy nước! Trung tá ra lệnh cho tên lính, hắn lại “tuân lịnh”.
Nghiệp đỡ Lan ngồi dựa vào vách tường, rồi nhìn trung tá. Lát sau, tên lính đem nước vào, Lan uống vội vã như thể sợ sẽ bị giằng mất. Trung tá lại lấy mấy miếng bánh đưa cho Nghiệp, rồi lặng lẽ nhìn cô gái cộng sản ăn nghiến ngấu.
Trung tá Bình không nhìn hai người mà đăm chiêu ngó ra ngoài. Trời bắt đầu ngả sang màu tối. Tiếng súng thưa thớt, cả tiếng pháo lớn và tiếng xe cũng xa dần. Trong lòng trung tá đang trỗi dậy một nỗi đăm chiêu, cồn cào, khó tả. Giao chúng cho an ninh hay giữ lại? Nếu để quá hai- mươi- bốn- giờ tại đơn vị tác chiến, sẽ phạm quy, mắc tội. Mà giao cho an ninh, cho trinh sát thì chắc chắn hai đứa này không sống nổi. Bình nhớ lại từng hình ảnh, lời nói và cử chỉ của người bán thuốc dạo ở Lăng Ông, Bà Chiểu hôm nào. Tấm hình trên báo và những lời chú thích lại trỗi dậy… Rồi khuôn mặt bầu bĩnh, ngây thơ của người trong ảnh, nó như một phiên bản của Tuấn Vũ, con trai ông. Không còn nghi ngờ gì nữa, gia đình ông, anh em ông đã chia làm hai phe rồi, dù không muốn, ông cũng đang chống lại ba má, và nhất là thằng em trai của ông. Phải làm cái gì đó? Đúng là phải làm cái gì đó, chứ không thể cứ để số phận đưa đẩy mãi hế này. Nhưng làm gì? Làm lớn thì Bình không biết? Còn làm nhỏ, như hạn chế tiến công, hạn chế sự hung hãn của cấp dưới thì ông đã làm, nhưng không biết như thế đã phải là “một cái gì đó” không?
Thế rồi hình ảnh, vợ và các con ông, rồi cả Lê Hằng Minh, cả anh Hai chuẩn tướng tư lệnh từ từ kéo đến. Tất cả đều nóng bỏng, sốt sắng. “Thôi, được rồi”, Bình thầm nhủ.
Hai tên tù binh đã ăn xong, nhìn chúng thật tội nghiệp. Thế nhưng mà, Bình biết, bên trong cái thân hình gầy gò, tiều tụy, xấu xí kia, bằng cách nào mà họ có được nghị lực đến thế?
- Ăn nữa không? Trung tá lặp lại câu hỏi, nhưng cả hai đều lắc đầu. Cô gái trong chiếc áo dài thượt nhìn ông đầy vẻ lo sợ, nhưng cậu trai kia thì bình thản. Ngồi lên đây, ông nói với cậu trai, nói cho ta nghe về người bạn của cậu đi.
Nghiệp ngần ngừ rồi quyết định nói về sự thật của Trí, của gia đình Trí. Nghiệp nói đến cả những lần theo Trí về Hà Nội thăm má của Trí đang làm bác sĩ một bệnh viện lớn ở đây. Rồi, ba Trí là một cán bộ ngoại giao công khai…
Trung tá lấy tấm hình trong tờ báo ra:
- Có phải người này không!
Nghiệp nhận ra ông cán bộ đó, nhưng cũng chưa dám chắc có phải ba của Trí không, nhưng anh vẫn gật đầu xác nhận:
- Có lẽ đúng! ảnh mờ quá…
- Bây giờ cô cậu phải nghe tôi, nếu muốn được sống. Rồi ông gọi tên lính hầu lại ra lệnh: “Chuẩn bị xe và một tiểu đội, làm nhiệm vụ”. Không đợi tên lính ra khỏi hầm, ông tiếp:
- Bây giờ hai người phải chỉ cho chúng tôi vị trí đóng quân của trungg đoàn. Mà đã chịu nghe tôi rồi, thì ta thi hành ngay. Không chậm trễ… Không được chỉ bậy bạ! Các người đã rơi vào tay tôi rồi thì khó hòng thoát. Nghe?
Lan sợ sệt nhìn trung tá, rồi lại nhìn Nghiệp, lo âu. Nghiệp bình thản nhìn ra cửa, bàn tay anh nắm chặt lấy cổ tay Lan, ngầm bảo “có thể thoát”.
- Có trung úy Tân xin gặp trung tá. Tên lính báo cáo.
- Mời trung úy! Bình vừa thắt lại dây đeo súng, trả lời.
- Trình trung tá, trung tá định hành quân bây giờ à? Trời tối rồi!
- Không sao! Hai đứa này dốt lắm, không biết đọc bản đồ, nên phải đưa chúng ra thực địa. Trời tối cũng có cái hay của nó. Cần phải điều chỉnh kế hoạch tác chiến ngay trong đêm nay. Trung úy đi với tôi chớ?
Bị bất ngờ, sắc mặt trung úy Tân trắng bệch ra:
- Trình trung tá…
- Biết rồi! Không cần trung úy đi đâu. Nhớ có danh sách những tên dao động, sợ chết… cho tôi vào mười giờ đêm nay…
Trung úy vội vàng “tuân lệnh trung tá” rồi rút lui. Hai người, Nghiệp và Lan bị đẩy lên thùng xe jeep, có một tên lính ngồi canh chừng, phía trên là trung tá Bình. Chiếc xe nổ máy, rú ga rồi quét đèn pha lao đi. Nghiệp nhìn lên bầu trời trên đầu, tím ngắt.
Chiếc xe chạy ra đường lô, Nghiệp thấy lố nhố những cái đầu mũ sắt trong những công sự đắp bằng bao cát. Chiếc xe vẫn lao đi, cho đến khi tiếp giáp với con đường lộ( ) thì theo lệnh trung tá, nó rẽ vào một nhánh nhỏ, đi giữa hai hàng cao su kín mít. Xe dừng lại, trung tá rút khẩu colt ra khỏi bao, ra lệnh:
- Xuống! Dẫn chúng ra bìa lô, thằng Ngô ở lại trông xe…
Tên lính đội mũ sắt run rẩy dẫn Nghiệp và Lan đi. Dưới chân Nghiệp, lá cao su bị dồn từng đám sột soạt. Trung tá đi sau mấy bước, vượt lên:
- Dừng lại. Đâu? Sở chỉ huy trung đoàn đặt ở khu nào?
Nghiệp hiểu ý:
- Thưa ông, bên tay trái là sở mủ và nhà kho làng Sáu. Sở chỉ huy trung đoàn không đóng ở đấy, mà đường dây điện thoại chỉ là nghi binh thôi…
- Thế vị trí thiệt?
- Thưa ông, vị trí của trung đoàn chếch sang một chút, đây này… Nghiệp chỉ tay về phía có ngôi nhà ngói đã tốc mái.
Trung tá sốt ruột:
- Chếch là bao nhiêu?
- Một chút xíu thôi.
- Một chút là bao nhiêu? Chỉ bậy bạ là ăn đạn nghe con.
Chợt trung tá lục túi áo giáp, hết túi này, sang túi kia, kêu lên:
- Đù mẹ, cái la bàn! Tao làm rớt trên xe rồi. Ông bảo tên lính đi cùng. Mày quay lại kiếm cái la bàn cho tao, lẹ lên…
Tên lính vội chạy trở lại, khi nghe tiếng chân của nó đã xa, trung tá nói nhỏ, nhưng dứt khoát:
- Chạy đi!
Lan còn đang ngơ ngác, nhưng Nghiệp hiểu. Anh nắm tay Lan định kéo đi, được một bước chân, Nghiệp quay lại, chộp lấy tay trung tá, giọng nghen lại:
- Anh Bình!
Bình ôm lấy vai Nghiệp:
- Các em chạy đi, lẹ lên kẻo không kịp!
- Anh… Anh đi với chúng em!
- Không! Anh chưa thể đi được. Các em đi cho cẩn thận kẻo gặp tụi lính…
- Em sẽ tìm được Trí…
- ừ, nếu gặp nó, nói với nó rằng: “anh Hai của nó không phản bội ba má và các em”. Thôi đi đi…
Nghiệp ôm lấy Bình, nghẹn ngào:
- Anh cẩn thận đấy. Trận này là trận cuối…
- Anh biết rồi! à, em để cuốn sổ và tấm hình cho anh làm kỷ niệm nghe…
- Vâng! Thôi, chúng em đi đây…
Nghiệp kéo Lan chạy xuyên qua lô cao su. Được độ hơn trăm bước chân, Nghiệp nghe thấy hai tiếng súng nổ đanh, rồi một tiếng, một tiếng nữa. Nghiệp biết đấy là anh Bình bắn lên trời.
Khi tên lính tìm được cái la bàn tới, hắn thấy trung tá đang thong thả vẩy nòng súng, đưa lên mũi ngửi. Hắn lắp bắp:
- Trình… trình trung… tá! La… la bàn!
- Thôi khỏi! Cái thằng cộng sản nó nói thế là tao biết rồi. Mà mày làm cái gì mà lâu quá thể. Chậm như rùa!
- Chúng đâu rồi ạ?
Trung tá hất đầu ra sau:
- Nằm đó, ngủ yên rồi. Mầy muốn coi ra mà coi.
- Dạ… tên lính lắp bắp, khỏi cần, trung tá ơi!
- Về!
Chiếc xe quét đèn pha vào bóng tối nhập nhoạng. Trung tá Bình như vừa qua cơn mộng du, ông thầm mong cho hai đứa thoát được trong đêm nay!






0
CHƯƠNG MƯỜI LĂM (1)




Trong chiến đấu, nhất là vào chiến dịch, khi mọi sự đang rất hỗn loạn, bỗng dưng bầu trời yên ắng, mặt đất tĩnh lặng, bao giờ cũng báo hiệu một sự bất thường sắp xảy ra. Sự bất thường này bao trùm lên tất cả mọi thứ, từ quần áo, súng đạn đến đầu óc, thần kinh con người. Ngay cả những chiếc A37 xương xẩu vẫn đảo qua, quần lại trên bầu trời cũng không còn. Lá cây cháy xém treo trên cành cũng không có một gợn gió lay động.
Không thể phơi lưng ra trên con lộ đá đỏ, đại đội được lệnh rút ra khỏi vị trí mới chiếm được, lui về phía sau một quãng. Địch cũng không nống ra, chỉ còn lại xác hai chiếc xe tăng nằm im lìm, trên tháp pháo vẫn còn những sợi khói. Đại đội trưởng Chất được triệu tập về tiểu đoàn bộ. Anh men theo những mảng tường sập, trèo qua một đống gạch vữa đổ nát và đạp phải một xác người! Đó là xác một phụ nữ, áo quần sang trọng, lòe loẹt, khuôn mặt bầm đen, đã trương lên, có những vết hằn chạy từ môi trái lên đến thái dương. Ông lật giở mảnh tôn che nửa thân tử thi, bảo cậu liên lạc:
- Chúng ta đặt cái thây này xuống chỗ cái rãnh kia, rồi lấp lại.
Cậu liên lạc đứng nhìn xác chết, rùng mình:
- Không làm xuể đâu, thủ trưởng ơi! Ngoài kia cũng có…
Chất lừ mắt:
- Nhanh lên!
Rồi ông hất cái xà cột ra sau lưng, hai tay nâng vai tử thi, thấy thế, cậu liên lạc cũng nắm lấy hai chân, mà một chân vẫn xỏ trong một chiếc dép xăng- đan bằng da, khiêng tử thi đặt xuống rãnh nước. Cái đầu xác chết cứng đờ, ngọeo sang một bên, đôi mắt đã vỡ con ngươi, rỉ ra một thứ nước vàng, đặc quánh. Chất tìm được một manh chiếu, đắp lên tử thi rồi hai người nhặt gạch đá, vữa vụn xếp lên cái xác vô chủ. Mùi tử thi nồng nặc quanh đây, xoong nồi, giường chiếu vung vãi. Một con mèo màu lông xám xịt nhảy vù lên từ sau một cái bàn đổ nghiêng. Một góc thị xã tiêu điều dưới cái nắng như đổ lửa…
Tiểu đoàn bộ đóng trong một ngôi nhà nhỏ, mái tôn, có những vết dặm vá lỗ chỗ. Chắc chủ nhà đã bỏ đi sau trận pháo kích cấp tập. Tiểu đoàn trưởng Dũng, tay quấn băng và một bên mắt tím bầm, đang ngồi dò bản đồ, thấy Chất, ông ngẩng lên:
- Ông ngồi xuống đây! Anh em dưới ấy thế nào?
Chất nhìn người chỉ huy của mình, có đôi mắt xếch kiểu Trương Phi:
- Nói thật với anh, phải rút ra ai cũng tiếc rẻ, nhưng mà…
- Mấy thằng trinh sát nhà mình dở quá. Giao cho mình đánh vỗ mặt mà chưa hề có một tí tị ti nào hiểu biết về bọn chúng. Tớ cũng chủ quan, cho rằng đại quân ta đã vào đến Phan Rang rồi thì cha con nó sẽ hoang mang. Hôm qua nghe đài thấy thằng chỉ huy sư 18 còn tuyên bố: “Muốn vào Long Khánh thì phải bước qua xác Đảo này!”. Nghe mà điên gan…
- Anh bị thương thế nào, có nặng không?
- Xoàng thôi, nhưng mà vướng víu quá, hai mắt chả nhìn thấy gì, sáng nay mới đỡ đỡ…
Anh chàng y sĩ đang lau chùi bộ đồ nghề phía sau, lên tiếng:
- Tôi đề nghị anh ấy về tuyến sau nhưng có chịu đâu…
- Xong cái này đã! Chết ngay đâu mà lo. Tiểu đoàn trưởng cắm cảu.
- Anh cẩn thận đấy, kẻo về nhà bà ấy lại không nhận ra…
- Gớm… Dũng cười khà khà, có mà sướng run lên ấy chứ. à này, Chất này, mấy hôm trước, tớ nghe tin thằng con mình cũng đang ở đây, bên xe tăng.
Rồi bỗng ông sa sầm nét mặt, những vết sẹo đậu mùa đã thâm nay nhìn càng đen thẫm. Là bạn chiến đấu với nhau từ những ngày chống Pháp, hơn hai mươi năm về trước ở chiến trường Tây Bắc, Chất hiểu khá kỹ về Bắc Dũng. Vốn là một thằng bé đi ở chăn trâu cho địa chủ, thằng cu Mũi (tên cúng cơm của Dũng) thoát chết sau một trận dịch đậu mùa, vào bộ đội làm liên lạc, rồi trở thành đội viên chính thức của trung đoàn Tây Tiến. Mấy năm hòa bình ngắn ngủi, khác với Chất, Bắc Dũng ở lại xây dựng quân đội, anh được học văn hóa, rồi vào chiến trường ngay từ những năm đầu chiến tranh. Tình cờ thế nào, Chất lại được về làm trung đội phó dưới quyền chỉ huy của Bắc Dũng. Cái vụ Chất bắn chết thằng lính lai Tây, khi làm đại đội trưởng, Bắc Dũng cũng lên tiếng bênh vực:
- “Một thằng du côn như thế không bắn vỡ sọ ra thì để làm ô uế quân đội. Trường hợp này, đồng chí Chất do nóng nảy, không kiềm chế, chứ phải tay tôi, tôi gọi ra trước hàng quân bắn ngay tắp lự!” Khi ấy Bắc Dũng là tiểu đoàn trưởng, phó bí thư đảng ủy tiểu đoàn…
Dũng lấy vợ ngay sau ngày hòa bình ở miền Bắc, đến khi vào chiến trường, sau mười năm, anh đã có đến bốn đứa con, ba trai, một gái. Cái thằng lớn đi bộ đội xe tăng, là đứa đầu…
- Chiến tranh mà kéo dài thêm vài năm nữa chắc cả nhà mình vào đây! Dũng nói đùa một cách nặng nề.
- Thằng em tôi cũng nghe nói vào đây rồi, hôm trước gặp một cậu cùng làng, nó nói thế… Anh y sĩ chêm vào câu chuyện.
Chất không nói gì, chỉ nhìn cánh tay quấn băng của tiểu đoàn trưởng rồi lắc đầu:
- Anh cho gọi tôi lên có việc gì?
Dũng đứng dậy, kéo tay Chất ra đầu nhà:
- Tí nữa chờ hai tay Bình và Lãm, mình sẽ phổ biến kế hoạch, nhưng riêng với ông, tôi muốn trao đổi trước. Có một thằng cơ yếu của 341 nó đầu hàng…
Chất lặng lẽ:
- Một thằng thì ăn thua gì?
- Biết thế, nhưng nó là cơ yếu, biết tường tận những kế hoạch của ta. Mẹ nó, kỳ này vào Sài Gòn bắt hết những thằng đó đem ra mà bắn. Nó đầu hàng hay tụt tạt thì kệ mẹ chúng nó, đằng này nó làm khổ chúng ông…
- Chỗ tôi tinh thần anh em rất tốt, tuy anh Ba chính trị viên hy sinh…
- Thế à? Ba chết rồi à? Thế mà tôi không được báo cáo. Rõ thật tội nghiệp cậu ấy… Có lấy được xác không?
Chất biết Ba là người đã từng dạy bổ túc văn hóa cho Dũng, đôi khi vui vẻ, bông lơn, Dũng vẫn gọi Ba bằng thầy, tuy cấp bậc và chức vụ của Dũng cao hơn.
- Lấy được nhưng phải chôn tạm ở trong vườn nhà dân…
- Sau này, trong chúng mình, đứa nào còn sống, phải đi tìm bằng được hài cốt của anh em. Bây giờ thế này nhé: có lệnh rút ra, rồi vòng theo đường sắt, bọc lên phía đông sân bay. Có còn đủ quân và vũ khí không? Còn được bao nhiêu tay súng…
Chất lẩm nhẩm:
- Cũng khoảng một trăm!
- Tốt rồi! Đúng 5 giờ chiều, cả D sẽ bí mật rút ra. Nhớ nghi binh các vị trí…
- Vâng!
Bắc Dũng nắm áo Chất trở vào thì đã thấy hai du kích, một nam, một nữ. Cả hai còn rất trẻ, anh con trai đứng lên:
- Chào mấy anh! Em được huyện đội cử đến dẫn đường cho các anh… Em là Hoàn, bí thư xã đoàn, còn đây là cô Lan…
Bắc Dũng chìa bàn tay không bị thương ra:
- Cám ơn các đồng chí! Rồi ông nhìn đồng hồ. Chúng ta phải chờ cho mặt trời sắp lặn mới di chuyển được. Bây giờ các đồng chí kể cho chúng tôi biết sơ bộ về tình hình trong khu vực mà chúng ta sắp đến… Chất, ngồi đây nghe luôn nhé!
Trong lúc Hoàn báo cáo vắn tắt về tình hình bên ngoài, thì Lan lặng lẽ nhìn anh y sĩ đang thay băng cho mấy thương binh ở góc nhà bên kia.
Sau khi được trung tá Bình giải thoát cùng với Nghiệp, trở về cơ quan, Nghiệp gần như người trong mê. Cô gái im lặng một cách khác với ngày thường, vốn rất tía lia. Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, Lan thấy cách mạng thật là lớn lao, bao la. Cách mạng là nhân nghĩa, có sức cuốn hút tất cả những người tốt. Một sĩ quan như trung tá Bình, lại có những cử chỉ cao thượng và nghĩa hiệp, không có cách nào giải thích cho trọn vẹn, đầy đặn hơn đó là tình cảm với cách mạng, với đồng bào. Tình cảm với Nghiệp trong lúc hiểm nghèo và bồng bột đã cho Lan một cảm giác mới lạ. Tình yêu ư? Lan không thể tin được, có chăng chỉ là một thoáng ngã lòng, bồng bột. Nhưng với Nghiệp thì lại khác, ngay cả khi không phải là tình yêu, Lan thấy ở anh chàng lính trẻ này có một sức sống mãnh liệt, một nhân cách hơn hẳn những người cùng trang lứa. Cô không giải thích đựơc, để rồi cuối cùng lại quy về một mối: con người của cánh mạng, anh bộ đội giải phóng. Lan không hiểu tại sao mình lại thoát được? “Có phải cái ông trung tá đó là người của ta không hả anh?”. Cho đến khi Nghiệp giải thích rằng anh Bình là anh của người bạn, tên Trí, thì trong tâm trí của Lan lại hiện hữu hai cái tên mà cô cảm thấy thân thuộc.
Chia tay nhau, mỗi người tìm về cơ quan, đơn vị của mình, Nghiệp nắm tay Lan:
- Anh sẽ tìm em!
- Tìm em làm chi? Lan nói bằng một giọng, không hẳn là hờn dỗi, mà thật sự chứa đựng một nỗi tuyệt vọng.
- Anh sẽ trở lại tìm em. Tin anh đi…
- Em tin, nhưng… đến bao giờ?
- Nhanh thôi! Rồi Nghiệp đọc nho nhỏ vừa đủ cho Lan nghe:
Đợi anh, anh lại về
Tan giặc bước đuờng quê
Anh của em lại về
Dù tuyêt rơi bão nổi...
Lan nhìn đôi mắt sáng rực của Nghiệp, cười nhỏ:
- Anh ơi, nơi này chỉ có đất đỏ và gió nóng, làm gì có tuyết…
Nghiệp không trả lời, nắm chặt hơn bàn tay cô gái du kích:
Dù bạn viếng hồn anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn,
Thì em ơi, mặc bạn,
Đợi anh, anh lại về...( )
Lan tin lời Nghiệp, tin rằng anh sẽ trở về…
Cô không kể cho ai biết, cũng không báo cáo gì về chuyện bị bắt làm tù binh rồi được thả ra. Cô lao vào nhiệm vụ mới, với một niềm hy vọng mong manh: gặp lại Nghiệp! Và quan trọng hơn, cô sẽ gặp lại anh trong ngày chiến thắng. Niềm tin mơ hồ nhưng luôn luôn hiện hữu trong trái tim non nớt của cô gái mười chín tuổi.
Thấy mấy người thương binh đang được chăm sóc, những khuôn mặt nhợt nhạt, tự nhiên Lan thấy thương họ vô cùng. Cô cứ nghĩ rằng rất có thể họ chính là Nghiệp của cô. Lan đến gần đề nghị người y sĩ:
- Có việc gì làm, cho em làm với!
Người y sĩ ngước lên:
- Cô ở trong ấp hay ngoài phố?
- Dạ… em ở cả trong ấp lẫn ngoài phố.
- Cô ra giúp cái anh đang bịt mắt kia, cho anh ta uống nước hộ tôi…
Nghe tiếng Lan, mấy anh thương binh bỗng làm như “bị thương” nặng hơn:
- Em ơi… em du kích ơi, đến đây giúp anh với, anh không ăn được…
Lan nhanh nhẹn chạy đến với từng người, giúp họ nững việc nhỏ, có khi chỉ là nhặt một cái khăn mặt rơi xuống đất, ngay trong tầm tay với, nhưng anh ta vẫn rên rẩm, đề nghị. Anh y sĩ lên tiếng:
- Này, người ta là du kích chiến đấu chứ không phải hộ lý để cho các cậu sai vặt đâu nhé!
- Gớm, ông anh cứ khó chịu! Một anh chàng đang buộc lại cái chân to xù, phản bác. Du kích thì anh em mới bày tỏ tình cảm chứ người khác thì quên đi nhé, phải không em?
Lan cười bẽn lẽn:
- Em có làm được gì cho mấy anh!
- Em cứ ở đây, đi đi lại lại là các anh khỏi ngay thôi. Để cho cái lão già Khôttabit kia băng bó, đau bỏ mẹ…
Mấy anh thương bình cùng cười. Lan thấy đôi má mình nóng bừng. Cô dừng lại ở phía cuối dãy, một cái võng khẽ đung đưa, nhưng không thấy người nằm trên đó nói gì. Lật tấm dù lên, một khuôn mặt bỏng rộp, đỏ lòm, khiến cô giật mình. Đột nhiên cô nhớ đến Nghiệp. Chẳng may anh ấy… Cô không dám nghĩ thêm, quay sang hỏi một anh băng ngang ngực:
- Các anh có biết anh bộ đội tên Nghiệp không?
Mọi người nhìn nhau:
- Sao? Cô quen à? Người yêu hay anh trai…
- Dạ… bạn! Bạn mới quen…
- Cái thằng tên là Nghiệp sướng thật đấy. Nhưng, ở đơn vị anh không có ai tên như thế.
Bỗng từ sau bức tường, một giọng nũng nịu giả đò đau đơn cất lên:
- Anh đây! Anh Nghiệp của em đây… Đến đây với anh!
Lan giật mình định chạy vào, thì anh băng ngực đã nói:
- Nó bốc phét đấy! Thằng Ngọ phải không? Nó tên là Ngọ mà dám nhận là Nghiệp, rõ dơ…
Lan vẫn đến chỗ Ngọ, một chân anh ta bị mất, lòi ra một cục bông thấm máu:
- Đau lắm không anh? Lan ân cần.
- Đau, nhưng mà có em cũng không còn đau nữa… Em đưa anh ra khỏi đây nhé…
Lan rơm rớm nước mắt:
- Dạ! Để trời tối chút nữa… Lan biết mình nói để làm vừa lòng anh thương binh. Cô tiếp tục đến với từng võng, lòng dạ quặn thắt. Như sực nhớ ra, cô hỏi to:
- Thế các anh biết nào là tên Trí không?
Không ai trả lời, Lan vừa quay lại thì ông cán bộ lúc nãy đã ở sau lưng. Người đó là Chất, đại đội trưởng của Trí:
- Sao? Cô biết thằng Trí à?
- Dạ! Lan nhớ lại lúc đối diện với trung tá Bình và qua lời kể của Nghiệp, cô nói thêm. Anh ấy là người miền Nam…
Chất gật gù:
- Đúng rồi! Cô có họ hàng với nó à?
- Dạ không! Em chỉ nghe kể…
- Tối nay có thể cô sẽ gặp nó. Cuộc đời cũng vui mà trái đất thì đúng là tròn thật. Thôi, chào cô bé nhá!
Nói rồi Chất quay ra, cùng với cậu liên lạc, trở về đại đội. Một quãng đường ngắn, chỉ đáng vài trăm thước, mà phải quanh co mất vài chục phút. Thỉnh thoảng thầy trò Chất lại bò qua một ngôi mộ mới đắp.


***


Tầm gần bốn giờ chiều, đột nhiên bầu trời đen thẫm lại, anh nắng mặt trời làm thành những vệt bầm đỏ, quệt loang lổ xuống mặt đất loang nhoang gạch vỡ, cột nhà gãy, sắt thép quăn queo. Những thân cây cháy xù xì, toả khói được nhuộm một màu đỏ tía, sắc cạnh. Trí nghĩ có lẽ do khói đạn, khuếch tán ánh chiều. Nhưng không phải. Phút chốc gió thổi ào ào, cuốn bụi lốc mịt mù. Gió lùa đất đỏ vào đầu tóc, vào mũi miệng vào mắt, tối tăm… Có tiếng nổ đoành đoành ngang trời, nhưng không phải pháo. Sấm! Trí cuốn vội mảnh chiếu rách khô giòn, nhô lên khỏi công sự. Cách anh một quãng, vài ba cậu lính đầu trần, tóc cháy xém, che mặt, dụi mắt và khạc nhổ… Mèo và chó vô chủ chạy hoảng loạn. Kiến mối, kiến cánh từ đâu bay lên bị gió thổi bạt, chui vào các công sự, vào quần áo, đầu tóc bộ đội.
Trí tìm thấy Cửu đang chúi đầu vào một góc chiến hào, hai vành tai tím ngắt:
- Mày làm sao thế?
Cửu ôm ngực ho, giật từng cơn, cố trả lời:
- Kia kìa…! Vừa nói, tay Cửu vừa chỉ tay vào có mô đất bên cạnh, Trí nhìn theo tay Cửu thấy hai bàn chân to xù, đen sì thò ra dưới mô đất. Lập tức Trí thấy trong người nôn nao, từ dạ dày, một cơn xốc dữ dội, cuộn thắt. Cơn buồn nôn giật cuống họng anh những nhịp co rút kinh khủng. Trí bịt miệng, kéo Cửu sang bên kia cái hố nổi. Lúc này, Trí mới nhìn rõ khuôn mặt Cửu: trắng bệch như phết một lớp bột, chỉ trừ cặp môi thâm đen. Trên đầu gió cứ luẩn quẩn, mảnh ny lông bay tan tác, có lúc cuộn lại thành bó.
Tiểu đội trưởng ló đầu vào:
- Chuẩn bị rút nhé!
Trí cầm khẩu AK vừa định bước theo, thì có tiếng rào rào như đàn cào cào, châu chấu nhảy tưng tưng trên mặt đất.
- Mưa rồi!
Có ai đó reo lên. Những hạt mưa to như hạt bắp vừa rơi xuống, chạm đất đã bốc hơi xèo xèo.
Trí cố tránh những hạt mưa quất vào mặt vào đầu trần, nhưng chỉ lát sau, hàng triệu hạt mưa giận dữ trút xuống, chỉ loáng cái, bùn khô, đất bột dưới chân đã nhão nhoét…
Thấy Cửu chạy qua, Trí cũng phóng ra khỏi mưa, chạy về phía cuối công sự, trườn theo một đoạn dốc. Cả tiểu đội còn được năm người, tiểu đội trưởng Ngân, vừa vuốt mưa, vừa ra lệnh:
- Theo lệnh đại đội, chúng ta rút xuống phía sau ấp, rồi di chuyển theo đội hình đại đội…
- Bỏ đây à? Cửu trợn mắt, tưởng như hắn tiếc rẻ, nhưng hai hàm răng hắn lại nhe ra. Khuôn mặt được nước mưa trôi sạch bụi, nhưng lại đỏ ửng lên vì rát. Tiểu đội trưởng Ngân chỉ vào cái thùng nhựa dưới đất:
- Mỗi đứa nhận thêm một cơ số đạn… Đừng có bỏ viên nào, nhá. Còn… Ngân mở cái bọc vải ra, lắc đầu. Luơng khô ướt mẹ nó hết rồi. Không khác gì cám lợn. Mỗi đứa lấy một ít, đêm nay không có ai nấu cơm cho mà ăn đâu…
Tất cả tiểu đội xì sụp chia nhau, Trí lấy đủ ba băng đạn, còn thừa một ít, anh bốc bỏ vào túi quần. Cái đầu đạn nhọn hoắt chọc vào bẹn, vào đùi đau nhói.
Mưa ập xuống như trời thủng, nước đỏ sầm sập như tháo cống vỡ đê. Chỉ một lúc, những rãnh cạn đã trở thành những con suối nhỏ… Mảnh ny- lông, quần áo rách, cooc- xê, si- lip đàn bà, bông băng, vỏ hộp… thi nhau trôi cuồn cuộn. Có chỗ cuốn thành những mảng nùi cản giòng nước xiết…
Đại đội trưởng Chất nói với chính trị viên phó Muộn, người mới lên thay chính trị viên Ba vừa hy sinh:
- Sao tháng này mà đã mưa rồi nhỉ? ở miền đông này ngót nghét chục năm, tôi chưa bao giờ mình thấy mưa sớm như thế…
Muộn lấy răng cắn một góc cái túi ny lông đựng các thứ giấy tờ, tay kia xiết chặt hai đầu dây chuối khô, nói như người thụt lưỡi:
- Không hiểu trời thương hay trời hại! Không có mưa, chắc anh em chết khô hết… Nhưng mưa thế này thì chả hoá ra dìm chết bộ đội!
- Cũng hay! Thằng địch thấy mưa lớn cũng không dám nống ra…
Bên ngoài cái mái hiên căn nhà đổ một nửa, vẫn loang loáng ánh chớp và màn mưa kín mít. Chất nhìn đồng hồ:
- Xuất phát được rồi đấy! Vừa nói, vừa nhìn Muộn, người cán bộ chính trị trẻ hơn mình đến chục tuổi. Bảo đại đội phó Kháng đi tập hậu nhé…
- Vâng! Anh đi với trung đội một, để tôi đi sau với anh em…
Chất lao ra ngoài mưa, giọng ào ào:
- B1 xuất phát đi! Sau năm phút B2 tiếp tục!... Đi nào!
Cửu nắm tay Trí, lội bì bõm trong nước mưa ngập ngang đầu gối. Họ bước khó nhọc, trầy trật trên những mô đất nổi lên, trơn tuột, dép cao su tuột ra khỏ bàn chân, đeo lủng lẳng ở ống quyển. Trời bắt đầu sập tối xuống rất nhanh! Vừa mới nhìn thấy rõ mặt nhau, bây giờ chỉ còn là cái bóng lù lù. Đoàn quân đi lặng lẽ, chậm chạp. Trong ánh chớp loằng ngoằng, Trí thấy hai anh chàng khiêng cái bàn đế cối 61 loạng choạng. Bỗng anh đi trước vấp ngã vật ra, cả cái bàn đế xô vào lưng, tưởng đè bẹp dí cậu ta xuống rãnh nước, nhưng chỉ một loáng, anh ta lại gượng đứng lên, loạng quạng, giọng lầu bầu:
- Lúc cần thì đéo mưa! Mưa thế này có khổ ông không cơ chứ…
Nghe cái giọng rất nông dân của anh lính cối, dù vốc đạn trong túi quần cộm lên, đâm ngang, xiên dọc, trong khi áo quần dán sát vào tận xương, lạnh buốt, Trí cũng phải bật cười. Anh vừa bập bõm bước thấp bước cao, vừa nhớ lại cái dạo ở đơn vị còn huấn luyện ở miền Bắc. Dạo đó, tiểu đội của Trí ở trong nhà dân, chủ nhà là một ông cụ già hơn bảy muơi tuổi, tên là cụ Khuê. Hôm ấy, rời nắng ráo, con cháu đổ thóc ra sân phơi, giao cho cụ trách nhiệm trông gà và thỉnh thoảng lại đảo thóc lên cho mau khô. Buổi chiều đang nắng chang chang, bỗng dưng trời đổ mưa rào. Cơn mưa đến bất chợt, khiến ông cụ quýnh lên, không còn biết phải làm sao. Thế là, đáng lẽ ra phải gom thóc lại thành đống, che đậy hay xúc vào nhà chạy mưa thì ông cụ cứ đứng giữa sân mà chửi… Trời! Đến khi anh em bộ đội chạy về thấy nước mưa tràn sân, thóc trôi ra cả rãnh sân thì súm vào che chắn, hốt thóc giúp ông cụ. Nhưng ông cụ Khuê đã xông ra ngăn anh em bộ đội. “Các anh cứ để đấy! Không việc gì phải chạy! Anh nào đưa cho tôi muợn khẩu súng!”. “Để làm gì, hả cụ?”, một anh hỏi. “Để tôi cho “nó” một băng!”. “Nó là ai?”. Ông cụ chỉ tay lên trời: “Là cái thằng trên kia kìa! Bảo nó làm Trời không được để cho người khác làm, nhá! Chứ làm Trời mà làm thế thì làm làm chó gì!”. Trí và mấy anh em hiểu ra, phá lên cười, hè nhau hót được đống lúa vào giữa nhà, ướt sũng nước mưa. Hôm sau, trời lại tạnh ráo, nghe nhắc lại chuyện “cho thằng Trời một băng”, ông cụ móm mém: “Nóng lên thì nói thế thôi, các anh thông cảm!”. Nhưng kể từ đó, cứ khi trời đổ mưa, ông cụ không dám ra ngoài, cũng không dám ở trên nhà, lẩn ra chuồng trâu. Ban đêm hễ mưa to gió lớn, cụ lại cắp chiếu xuống bếp nằm. Anh em tưởng cụ ngại, nhường chỗ cho bộ đội, thì cụ bảo: “Chả giấu gì các anh, tôi đã trót chửi “nó” hôm nọ…”. Thì ra ông cụ sợ Trời giận, trả thù… Chuyện cứ như tiếu lâm, lan truyền ra khắp xóm, rồi theo các anh bộ đội sư đoàn 304- B đi khắp cả nước…
Vừa nghĩ buồn cười lại vừa thương những người nông dân, cực nhọc với mưa nắng thất thường. Đêm mưa lặn lội thế này, anh em mình quá khổ rồi, Trí càng thấy thương anh lính cối, có văng tục ra vài câu cũng là chỉ để tự an ủi, dỗ dành mình…
Trí vượt lên, anh nhìn thấy cái dáng nhấp nhô của đại đội trưởng. Anh thầm cảm phục “ông già” trải qua hai cuộc chiến tranh, quả là người dẻo dai, bền bỉ. Những bước chân chính xác và chắc nịch của ông, làm những người đi sau thấy yên tâm. Bỗng có tiếng quát:
- Ai?
- Chiến đây! Tiếng đại đội trưởng Chất. Ai đấy?
- à, em đây… tiếng nói run cầm cập vì mưa lạnh. Dịch đây!
- Thằng Tái phải không?
Anh trợ lý tác chiến Tô Văn Tái, người bé choắt, lúc nào cũng đỏm dáng, chải chuốt. (Trí còn nghe đồn Tái xuất thân từ gia đình thợ may, nên anh có tài cắt may, áo được phát anh đem về sửa thành blu- dông, rất đẹp. Lại còn kiếm vải may quần áo cho anh em, quần “xăng- ly” của thợ Tái, thì đến thợ Hà Nội cũng xách dép). Lúc này trông tái như con cò ăn đêm, giọng lẩy bẩy:
- Anh Bắc Dũng bảo cho đơn vị tạm dừng lại. Còn anh lên gặp anh Dũng.
- Sắp đến chưa? Chất hỏi lại.
- Cũng sắp rồi, nhưng gặp phải hàng rào có gài mìn, C2 đã có mấy cậu bị trúng mìn…
Chất hậm hực:
- Trinh sát tiểu đoàn các cậu làm ăn thế nào thế?
- Có nắm được cái gì đâu. Tái phân bua như người có lỗi. Họp đảng uỷ anh biết rồi đấy, ai cũng bảo “khí thế đang lên hừng hực”… tranh thủ thời cơ, thành ra gấp quá, có thời gian đâu. Địa hình thì hoàn toàn mới, đến bản đồ hành chính cũng chả có. Mù tịt…
Chất quay sang dặn trung đội trưởng B1: “Cho anh em nghỉ tại chỗ, đợi tôi nhé!”, rồi gọn lỏn:
- Đi!
Hai bóng người mất hút vào bóng đêm, Trí còn kịp nhìn theo ánh đèn pin màu xanh vì được bịt lại nhỏ như con đom đóm, của đại đội trưởng.


***


Trời sáng trắng, mưa đã tạnh từ đêm. Sau mưa côn trùng thi nhau múa hát. Tiểu đoàn trưởng Bắc Dũng ngồi trên một tảng xi măng đổ sập xuống từ một bức tường, chân ghếch lên một tảng khác, cánh tay băng gác lên đùi, băng trắng nhuộm màu đất đen thẫm. Người bên cạnh Bắc Dũng là Bình, đại đội trưởng đại đội Sáu, hai mắt thâm quầng, sâu hoắm. Không thấy Lãm, đại đội trưởng đại đội Mười, Chất nhìn quanh, hỏi nhỏ:
- Anh Lãm đâu, không thấy lên?
Bắc Dũng quay đầu lại, nói nhỏ:
- Lãm hy sinh rồi. Ông Luân C phó cũng bị thương, nhưng không có đường chuyển về tuyến sau, tiểu đoàn chỉ định đồng chí Hoà, B trưởng, chỉ huy đại đội.
Tiểu đoàn trưởng chỉ tay vào Hoà, rồi im lặng. Một bầu không khí nặng nề, ướt sũng nước mưa. Cái lạnh ngấm dần vào từng đôi môi, thâm tím, trắng nhợt. Một lúc sau, chính trị viên tiểu đoàn Lê Khang từ ngoài vào, giọng thâm trầm:
- Chào các đồng chí! Anh Dũng này, ta nên mời hai đồng chí giao liên cùng hội ý nhé.
- Khoan đã. Bây giờ các đồng chí nghe tôi thông báo đây. Trung đoàn đã có lệnh rút ra khỏi thị xã, nhưng ta không nhận được lệnh. Lệnh xuống từ đêm, nhưng do mưa to, điện đài hỏng không bắt được. Trong khi đó trung đoàn không biết ta bị mất liên lạc, nên đã rút ra. Bây giờ… chúng ta không biết mình đang ở đâu?!
Chính trị viên Lê Khang tiếp:
- Một mặt chúng ta cử trinh sát về báo cáo trung đoàn tăng viện để rút ra, mặt khác, các đồng chí triển khai cho anh em chuẩn bị công sự vững chắc để cố thủ, chờ tiếp viện. Điều quan trọng là phải quán triệt nhiệm vụ cho từng cá nhân: bảo vệ mục tiêu đã chiếm được từ mấy ngày nay! Các đồng chí có ý kiến gì không?
Không thấy ai nói gì, Lê Khang hỏi tiếp:
- Nếu thế các đồng chí báo cáo tình hình của đơn vị mình đi.
Bắc Dũng thấy đau nhói bên cánh tay, quay lại bắt gặp cái nhìn của Chất. Dũng hỏi nhỏ:
- Cái gì thế?
- Báo cáo thủ trưởng, tôi có một ý thế này. Chất ngập ngừng, anh tiếp. Nếu cứ để đội hình như hiện nay, tôi sợ chúng ta sẽ bị căng ra, không chịu nổi áp lực của quân địch. Phải bố trí lại, nếu muốn giữ vững mục tiêu. Không biết các C khác ra sao, riêng đại đội tôi còn gần một trăm tay súng. Tinh thần chiến đấu rất tốt, đạn dược còn khá, nhưng… lương thực thì sắp hết rồi. Trận mưa lúc chiều đã làm ướt hết lương khô dự trữ. Nếu ta bị bao vây trong vòng hai ba ngày, thì phải có kế hoạch khác…
Bắc Dũng:
- Thế nào, anh Bình?
Đại đội trưởng Bình bình thản:
- Tôi cũng như anh Chất thôi.
Trung đội trưởng Hoà, người mới lêm nắm quyền chỉ huy C 10:
- Vấn đề lương thực, tôi nghĩ có thể khắc phục được. Hiện nay, trong thị xã dân đã bỏ đi, nhưng trong nhà vẫn có thể có cái gì đó để ăn, trong một hai ngày…
Một sự im lặng ghê người, tiểu đoàn trưởng tiếp:
- Tiểu đoàn vừa cử các đồng chí thông tin về xin lệnh trung đoàn, nhưng bị chặn đánh. Nghe súng nổ dữ lắm, không biết các đồng chi thông tin của ta có đi được không…
Bắc Dũng chưa nói hết câu thì đã nghe tiếng rít dữ dội của đạn pháo bay trên đầu. Tiếp liền theo là những loạt đạn pháo nổ dữ dội. Mọi người tản ra những công sự đắp nổi vội vàng. Đất đá, gạch vữa… bay vù vù trên đầu. Nhưng pháo bắn không có mục tiêu cụ thể. Chất nói to:
- Anh Dũng này, theo tôi, bọn chúng có thể bắn dọn đường cho bộ binh chuẩn bị đánh vào…?
Bắc Dũng gật đầu. Một lúc sau thì pháo im, tưởng bộ binh của chúng kéo vào. Dũng vẫy mọi người lại:
- Các đồng chí tổ chức cho anh em bám chốt thật chắc. Không được lui, có gì chờ lệnh tiểu đoàn…
Bỗng từ hướng đông nam có tiếng trực thăng nổ bành bạch. Tiếng máy bay rõ dần và rội lên. Mọi nười đứng lên nhìn về hướng trực thăng địch đang bay tới. Có đến hàng chục, vài chục chiếc trực thang HU- 1B bay là là ngọn rừng cao su. Dũng vừa nhảy khỏi mô đất thì đã thấy Tô Văn Tái hớt hải:
- Báo cáo tiểu đoàn trưởng, chúng cho lính dù đổ quân chiếm lại thị xã…
Dũng nhìn Tái, lặng đi môt lát. Máy bay trực thăng đã đan kín bầu trời, chúng bắt đầu rà là là xuống khu vực sân bay, rải quân.
- Chúng ta bị lính dù của chúng tăng viện đổ bộ bao vây rồi! Triển khai đội hình chiến đấu ngay! Tôi quyết định thế này: C1 của anh Chất đóng tại vị trí hiện tại, còn C2 và C10 tạt ngang chiếm lĩnh vị trí, cố gắng tận dụng những ngôi nhà đổ, có thể trong đêm chưa xác định được, thì ngay khi trời vừa sáng phải triển khai xong. Riêng C10 làm nhiệm vụ bọc hậu, tức là quay trở lại, tạo thành thế chân vạc, Hoà nghe rõ chưa?
- Báo cáo rõ! Hoà nói nhỏ.
- Tiểu đoàn bộ sẽ đóng tại đây. Mọi liên lạc phải được giũ vững. Thế nhé, các đồng chí về cho anh em triển khai ngay đi.
Rồi ông quay sang Tô Văn Tái:
- Đồng chí cho mời hai cô cậu giao liên của huyện vào đi, ta xem xét lại tình hình…
Bên ngoài, trong lô cao su, vườn cây ăn trái, một cuộc chiến hỗn mang đang sắp sửa bắt đầu

0

CHƯƠNG MƯỜI LĂM (2)

Tình hình trong thị xã lúc này thật hoang tàn và bí hiểm. Không một bóng người, chỉ trong ba ngày, cái thành phố náo nhiệt đầy bụi bặm này, trở nên hoang vắng. Trận chiến kéo dài đã ba ngày, nhưng mục tiêu chính của quân giải phóng là tiêu diệt sư đoàn 18 bộ binh, vẫn chưa thực hiện được.
Khi các chiến sĩ của tiểu đoàn tạm thời ổn định vị trí thì những cái đầu mũ sắt lô nhô tiến vào. Lập tức chúng bị đại đội 10 của trung đội trưởng Hoà đánh bật ra.
- Chúng không biết rõ lực lượng của ta, nên không dám liều lĩnh. Hoà nói với chính trị viên phó. Anh cứ lo hậu cần cho anh em, ở đây chúng tôi có công sự tốt, nên chúng không thể tiến vào được.
Trong lúc đó C1 của Trí lại giáp mặt với một tiểu đoàn khác, chúng không có vẻ gì là hung hăng như chúng vẫn tuyên truyền về bọn lính dù này.
- Bọn này nhảy từ trực thăng xuống, đến tối chúng lại được trực thăng bốc đi. Trí nói với Cửu.
- Thật không? Cửu nghi ngờ, hỏi lại.
- Thì quy luật của chúng là thế. Chúng là lính kiểng, chỉ đánh chớp nhoáng, hoặc phủ đầu, chứ không có kế hoạch phòng thủ như bộ binh…
Sau trận mưa đêm qua, trời nắng trở lại, hơi nước bốc lên ngùn ngụt. Mùi thối từ những xác chết chôn vội, bị nước mưa bào mòn, trơ ra phơi nắng, thoang thoảng đưa đi khắp thị xã… Cả buổi sáng, bọn địch tấn công hai lần, nhưng đều bị đánh bật ra. Trí nhận khẩu B41, nhưng chưa bắn viên nào, vì mục tiêu là dành cho xe thiết giáp. Lúc gần trưa, bọn chúng gầm gừ, nhưng không thấy xe tăng và bộ binh xuất hiện. Bỗng Trí nghe “choác” một tiếng nổ chát của viên đạn. Anh thấy nóng trên trán, lấy tay sờ lên thấy máu chảy nong nóng, và tìm được một mảnh gang găm trên trán. Hoá ra anh bị một vết thương nhẹ, một mảnh đạn M79 găm vào trán, nhưng dính ngoài da, máu chảy tràn xuống mắt.
Bỗng có tiếng máy bay ào ào trên đầu. Có tiếng quát: “Máy bay đấy, nguỵ trang cho tốt vào”. Hai chiếc A37 bổ nhào xuống ném vào khu Dinh tỉnh trưởng. Cao xạ của ta bắn lên nổ lụp bụp, sau những chấm lửa loé trên trời, là những chùm khói trắng như những đụn bông tản mát giữa trời xanh, vây lấy hai chiếc máy bay, chúng lảng ra rồi bất thần bổ nhào xuống mấy trận địa pháo cao xạ bị lộ ở phía Bảo Vinh A. Tuy phơi trần ra dưới tầm bom nhưng cao xạ vẫn kiên cường. Một chiếc A37 bị bắt lửa, xịt khói một bên cánh, nó tăng tốc độ, lấy độ cao, bay vội về phía Biên Hoà. Nhưng những trận địa vẫn bị bom khói lửa mịt mù vây bủa… Tốp bay này chưa rời khỏi vùng trời, những tốp khác lại đến. Có đến hơn mười tốp như thế, lượn lên lao xuống hối hả.
Chưa rời bỏ mục tiêu, hai chiếc máy bay AC119 (còn được gọi bằng cái tên Hỏa Long - Rồng Lửa) từ trên cao bắn như vãi đạn đại liên Minigun bốn nòng xuống bất kể những thứ gì mà chúng nghi ngờ.
Sau đó lại yên ắng. Thằng Cửu tìm đâu được một gói “mì tôm” đem ra, chìa cho Trí:
- Nhai tạm đi mày! Giá có một bình trà nhỉ…
- Đến nước lã còn phải để dành, mà mày dám mơ trà lá…
Cái món mì tôm này, anh em Trí không lạ. Nó là sản phẩm của Sài Gòn thứ thiệt. Những lúc giữa hai chiến dịch, quân nhu vẫn thường cấp cho anh em để ăn chơi! Cái này gọi là món “cầm tay”. Kể cũng vui, bộ đội giải phóng mà được cung cấp toàn hàng sa sỉ do Sài Gòn sản xuất. Xà phòng thơm Cô Ba; thuốc đánh răng Hynos, trên tuýp thuốc vẽ một khuôn mặt người đàn ông da đen, răng trắng nhở; sữa Con Chim, dầu Con Sóc. Đặc biệt có cả trà Củ Măng, trà Con Cọp, trà Thái Nguyên… mà trên vỏ thấy ghi là của hãng Văn Du Thái, Xóm Củi, Chợ Lớn. Vui nhất là có dòng chữ “Xin quý khách chú ý bổn hiệu chủ nhơn kẻo lầm đồ giả”. Những thứ đó với Trí không lạ, hồi nhỏ Trí ở Campuchia cũng có rồi, nhưng những thằng lớn lên ở miền Bắc như thằng Cửu, thằng Hoát thì cứ cười mãi. Chúng nó bảo nhau: “Kỳ này vào Sài Gòn phải đến tận nơi xem cái “bổn hiệu chủ nhơn” Văn Du Thái ở Xóm Củi ra sao…!”.
Trà Củ Măng, vẽ hình cái măng múp míp. Một gói chỉ pha một ấm. Mà cái bi đông của Mỹ cũng hay thật. Cùng với cái bi đông dẹt, bằng inox, là cái ca, dập khuôn theo bi đông, để lọt nửa dưới của bi đông vào vừa khít. Anh em trong đại đội, hình như anh nào cũng có một cái, có cái trong chiến dịch kiếm được, có cái thì xin nhau (không hiểu Mỹ trang bị thế nào mà nhiều thế nhỉ, Trí cứ tự hỏi, trang bị gần đủ cho quân giải phóng?). Cái đó mà pha trà thì thật tuyệt. Đun nước sôi (có khi đun bằng cái bi đông đó luôn), rồi cho trà vào ca, dốc ngược bi đông nước sôi lên, úp vào, nhớm dần cho nước ra, ngấm đến đâu uống đến đấy! Không biết tay nào nghĩ ra cái kiểu ấy thật quá giỏi! Anh em cứ tấm tắc truyền kinh nghiệm cho nhau, chắc chắn không phải sáng kiến của lính Mỹ! Uống trà muốn ngon, muốn cho ra uống, có phong cách miền Đông thì phải có cái gì nhấm nháp, còn gọi là có cái cầm tay! Mà cái “cầm tay” số một vẫn là mì tôm!
- Này, vào Sài Gòn, chắc là nhiều lắm đây? Cửu nháy mắt với Trí, mỗi khi anh em trong tiểu đội xì sụp! Mà sau này về quê chắc buồn cười lắm nhỉ! Thanh niên gì mà cứ sì sụp trà lá như ông cụ…
Giờ cầm trong tay một mê mì tôm, nhìn những sợi mì loăn quăn, nồng nồng như mùi thịt hộp, lại giống như mùi thịt ươn, Trí không dám bỏ vào miệng. Cái hơi nóng hầm hập xung quanh làm anh không thấy đói, chỉ khát nước. Ăn cái này vào, khát nước chết thôi! Trí ngoẹo đầu tựa lên bên một cái gối bằng bao cát, thiếp đi…
Nhưng những đàn ruồi sà đến quấy nhiễu, chúng đậu lên mặt, vào mũi, vào miệng làm Trí không chịu nổi. Anh luôn phải vung tay xua đuổi chúng. Thế là Trí cứ trân trân nhìn lên bầu trời xanh ngăn ngắt, không một gợn mây, sâu thẳm. Bỗng có tiếng hét to:
- Xung phong đi anh em ơi! Mẹ kiếp… ngồi chết dí dưới đó làm gì?
Trí nhìn thấy cái đầu bù xù tráng một lớp sơn đất đỏ của Cửu, nhấp nhô sau lớp đất công sự. Cửu làm sao thế nhỉ? Nó vừa hô hoán, vừa cười sằng sặc.
- Cửu! Làm gì thế? Xuống ngay!
Trí nhô lên quát theo, nhưng Cửu vẫn lăm lăm tay súng, một mình xông lên phía trước. Miệng không ngớt:
- Xông lên chứ, chúng mày! Ha ha…
Làm thế nào bây giờ, tiểu đôi trưởng Ngân cũng gọi theo “Cửu! Cửu!...”, nhưng nó vẫn lao lên. Miệng hô xung phong, tay lăm lăm súng. Trí định lao lên, nhưng anh Ngân đã kéo áo:
- Muốn chết hả?
- Nhưng, thằng Cửu…
- Nó bị thần kinh rồi…
Vừa nói, nhìn lên đã thấy Cửu chạy lên một quãng xa. Bất thần, nó bóp cò, tiếng AK nổ vang, loạn xạ. Tức thì, từ phía bên kia, hàng loạt đạn cực nhanh, đạn cối M79, cả đại liên, trọng liên… nổ lốp bốp, đoành đoành, nhằm vào Cửu. Trí nhìn thấy Cửu đứng sững lại, người nó giật lên từng chặp, rồi loạng choạng đổ xuống.
Trí trào nước mắt: “Cửu ơi! Mày làm sao thế?...”. Có tiếng nói phía sau, Trí ngoảnh lại, thấy đại đội trưởng Chất, ông lẩm bẩm:
- Cậu ta chịu không nổi!
Trí thấy mắt mình nhoà đi, nhìn đăm đắm xác Cửu nằm vắt ngang trên một thân cây bị pháo bắn gãy gục, chưa kịp héo lá. Chỉ vừa mới vài phút trước đây, nó còn chia cho Trí một nắm mì tôm. Trí nhìn xuống bàn tay mình, nắm mì tôm đã bị anh bóp vụn, rơi theo kẽ tay, xuống lớp bùn nhão, màu đỏ như có máu đọng trong đó.


***


Đại đội trưởng nhìn Trí đang dụi đôi mắt đỏ hoe:
- Cậu là Trí?
Trí ngẩng lên nhìn Chất, ngạc nhiên:
- Dạ, phải! Có chuyện gì thế ạ?
- Cậu chuẩn bị lên ngay tiểu đoàn bộ.
Trí mở to mắt, hỏi lại:
- Sao ạ? Có chuyện gì thế ạ?
Đại đội trưởng nhìn anh chiến sĩ mảnh khảnh có căp mắt nhỏ, lông mày rậm, giao nhau gần sống mũi, lắc đầu:
- Cứ lên rồi biết.
Trí nhìn về hướng Cửu vừa bị bắn chết, rồi lặng lẽ, cúi xuống, nhặt khẩu súng lên, bước đi.
- Này! Trí nghe tiếng đại đội trưởng. Cậu có cô em nào ở đây không?
Trí ngơ ngác, lắc đầu:
- Dạ không, quê tôi ở Cần Thơ…
- Thế à? Thôi lên tiểu đoàn đi. Nhớ cẩn thận, ông Khang đã cử người xuống đón cậu. Đang chờ.
Trí cứ băn khoăn mãi suốt quãng đường lên tiểu đoàn. Tiểu đoàn bộ đóng sau một bức tường đổ, chính trị viên Lê Khang nhìn Trí rồi nói nhỏ:
- Ngồi xuống đây! Tôi hỏi đồng chí nhé! Đồng chí có người bà con họ hàng nào ở Long Khánh không?
Lại câu hỏi mà đại đội trưởng Chất đã hỏi. Trí cố nặn trong đầu, nhưng không thấy có mối quan hệ nào, anh nhắc lại:
- Báo cáo chính trị viên, quê tôi ở Cần Thơ, ở đây tôi không quen ai…
Chính trị viên lắc đầu:
- Thôi được, đồng chí sẽ gặp một cô gái, cô ấy là du kích Long Khánh, làm giao liên rồi ở lại trong vòng vây với chúng ta. Tí nữa, gặp nhau, đồng chí đừng làm cô ấy thất vọng.
Trí không thể biết được câu chuyện về “cô du kích Long Khánh”, mà anh sắp được tiểu đoàn bố trí để anh gặp. Khi tiểu đoàn dừng lại, hai chiến sĩ du kích là Hoàn, anh bí thư xã đoàn và út Lan vẫn không biết tình thế nguy hiểm của mấy trăm con người trong vòng vây của một lữ đoàn dù. Cho đến khi trợ lý tác chiến Tô Văn Tái yêu cầu cả hai cố nhớ lại để vẽ sơ đồ, thì họ mới biết đã bị bao vây. Đây là vườn cây của ông tướng Lê Văn Tỵ, cả Hoàn và út Lan chưa bao giờ được bước chân vào, nhưng những con đường chạy quanh khu vườn này, thì Lan đã có lần đi qua. Điện đài đã hỏng, không thể liên lạc về trung đoàn được. Một kế hoạch phá vây được lập ra, nhưng lực lượng của tiểu đoàn quá mỏng so với lực lượng của lữ đoàn dù. Tiểu đoàn trưởng Bắc Dũng quyết định cử Hoàn tìm cách thoát ra ngoài, liên lạc với đơn vị, nhưng Hoàn lại bị một quả đạn M79 nổ sát bên cạnh, cũng may nó nổ chỉ làm vỡ mắt cá chân, vết thương đau nhức, làm anh phải nằm im một chỗ. Công việc này chỉ có thể trông vào Lan. Tiểu đoàn trưởng Bắc Dũng không đồng ý, nhưng không còn cách nào để đưa người ra báo cáo về sư đoàn giải vây.
Sập tối, Lan giả dạng làm một người dân còn kẹt lại trong thị xã, chạy ra ngoài. Nhưng khi Lan vừa đi được vài phút thì những loạt súng rộ lên. Tiểu đoàn trưởng Bắc Dũng nghiến răng:
- Đã bảo đừng để cô ấy đi mà…
Một tiểu đội được cử đi về phía Lan vừa đi. Nửa giờ sau, anh em đưa được Lan về, một vết thương ở bụng cô rất trầm trọng. Cô bị mất nhiều máu, khuôn mặt trắng bệch, nằm thiêm thiếp, những lúc tỉnh, cô đòi gặp anh Trí nào đó.
- Hôm trước, có chú thủ trưởng biểu có anh Trí ở đây…
- Cô gặp cậu Trí có việc gì không?
- Có một việc, anh Trí phải biết…
Người thủ trưởng đó là đại đội trưởng Chất. Thế là mọi người đã tìm được Trí.
Trí ngồi xuống, nhìn sát vào khuôn mặt cô gái. Da mặt trắng xanh, đôi môi cũng trắng nhợt, tiếng thở khó nhọc. Trí lay nhẹ:
- Cô ơi! Tôi là Trí đây!
Lan mở mắt nhìn Trí ngơ ngác, rồi đôi mắt ấy bỗng linh hoạt hẳn lên:
- Anh là anh Trí?
- Đúng rồi…
- Anh có người bạn cùng học tên Nghiệp?
- Hả? Trí nghe rồi hỏi lại, không tin ở tai mình.
- Anh Nghiệp, bạn của anh, cũng ở đây…
Trí nhớ ra, đúng là Nghiệp rồi:
- Đúng rồi! Nghiệp là bạn tôi. Bạn cùng học với tôi, cậu ấy cũng đã nhập ngũ, và…
Lan mỉm cuời:
- Anh Nghiệp kể với em về anh…
- Cô gặp cậu ấy ở đâu?
- ở đây! ở Long Khánh…
Nghiệp thật sự ngỡ ngàng, sững sờ. Sự ngạc nhiên về sự có mặt của Nghiệp ở mặt trận này, cũng là điều có thể tin được, nhưng qua Nghiệp mà cô gái giao liên này biết được về anh, thì Trí không thể …
- Thế Nghiệp đã kể về tôi như thế nào?
Lan cố ngồi thẳng người dậy, nhưng vết thương đã kéo cô xuống mảnh ván. Cô nhìn xung quanh, rồi khẽ nhắm mắt lại. Trí hiểu, sẽ có một câu chuyện khó nói cho người thứ ba. Trí nói với anh y tá:
- Anh ơi, anh xem có nước cho cô này một ít…
Người y tá cầm cái ca đứng dậy, Trí hỏi:
- Có chuyện gì thế, cô nói đi. Chỉ còn mình tôi.
Lan mở to mắt:
- Anh đỡ em ngồi dậy… Được rồi. Anh Nghiệp và em bị bắt làm tù binh…
- Sao? Trí nhìn quanh, hỏi nhỏ.
- Nhưng em được môt sĩ quan nguỵ giải thoát. Người đó là trung tá Bình, anh Hai của anh…
- Cái gì? Anh Hai tôi? Thiệt không?
Lan mỉm cười, đôi môi trắng nhợt, khô nẻ, hơi hồng lên, mấp máy:
- Ông trung tá, anh Hai của anh giống anh y chang. Bây giờ được gặp anh, em càng tin ông ta là anh Hai của anh…
Trí bần thần giây lát. Đúng là mình có một ông anh ở lại Sài Gòn và, mình cũng đã kể cho Nghiệp nghe chuyện gia đình. Nào ngờ…
- Thế anh Hai tôi bây giờ ở đâu?
- Đơn vị ổng đóng quân ở Bình Lộc… Thôi, em nói thế để anh biết. Sợ rằng anh Nghiệp, anh, và em… có thể sẽ hy sinh không được gặp nhau kẻo không ai nói cho anh hay. Anh Nghiệp hẹn sẽ quay lại tìm em, sau ngày… chiến thắng! ảnh còn đọc thơ biểu em hãy đợi anh về! Nhưng chắc em chết…em không chờ được Nghiệp nữa rồi!
- Không! Cô sẽ được cứu chữa!
- Nếu anh gặp được anh Nghiệp bạn anh, anh hãy nói ảnh tìm em ở chỗ này…
Trí ôm chặt lấy cô gái, nước mắt trào ra. Người y tá quay lại, khẽ vỗ vào vai Trí. Trí cầm ca nước kề vào môi cô gái, nhưng đôi môi trắng như phấn của út Lan đã cứng lại, còn đôi mắt thì vẫn mở he hé. Có một khoảng trời bé tí teo, màu đùng đục trong hai con mắt bất động… Trí đưa ca nước trả lại cho người y tá, đặt Lan nằm xuống. Anh đưa bàn tay đầy sẹo và bùn đất đỏ đặt lên mi mắt cô gái. Một lúc sau, Trí lấy tay ra, đôi mắt ấy đã khép lại.
Trí đứng dậy, nhìn cô giao liên Long Khánh một lần nữa rồi cúi đầu lầm lũi trở lại đại đội.
Ba ngày sau, tiểu đoàn được giải vây. Quân dù bị đánh bật ra khỏi vườn cây. Cả tiểu đoàn lặng lẽ rời khu vườn xinh đẹp, để lại những ngôi mộ chôn cất vội vàng. Đại đội của Trí còn bốn- mươi- bảy người. Trí tìm đến được ngôi mộ của út Lan, mà các anh ở tiểu đoàn bộ cùng với anh em du kích đã chôn cùng với mấy người chiến sĩ, ngay hàng, thẳng lối. Trí đặt lên đó một nhánh hoa phượng đỏ từ một cành nào bị pháo bắn rụng xuống.
Anh không gặp Nghiệp, nhưng trong một chương trình của Đài phát thanh Giải Phóng, Trí nghe được một tin: “Trước sức tấn công của quân và dân Xuân Lộc, một trung tá tiểu đoàn trưởng đã đưa cả đơn vị của mình, quay súng trở về với hàng ngũ nhân dân. Sau khi được đón tiếp ân cần trong tinh thần hoà hợp dân tộc, trung tá Trương Hoà Bình, tiểu đoàn trưởng đã nói lên lòng biết ơn của mình với chánh sách rộng mở của Chánh phủ Cộng hoà miền Nam Việt Nam”.
Không biết có phải người tiểu đoàn trưởng ấy là anh Hai của mình như lời cô giao liên không nhỉ? Mình thì họ Ung, còn ông ta…



0

CHƯƠNG MƯỜI SÁU (2)


Theo một quy luật bất biến, ở miền đông Nam bộ này, không mưa thì thôi, có khi hàng tháng không có một giọt, dù đang trong mùa mưa. Nhưng khi đã mưa, những cơn mưa thường rất lớn, lâu bốn năm tiếng đồng hồ, có khi nửa ngày, và kéo dài hàng tuần lễ. Một quy luật nữa là, thời điểm đổ mưa trong ngày cứ lui dần. Thí dụ như hôm nay bắt đầu mưa lúc năm giờ chiều, thì ngày mai trễ hơn, thường là một giờ đồng hồ. Như vậy có khi đầu đợt mưa, trận mưa bắt đầu buổi chiều, thì cuối đợt mưa, cơn mưa lại bắt đầu từ lức nửa đêm về sáng.
Hôm nay cơn mưa bắt đầu lúc tám giờ tối. Mưa vẫn không kém hôm qua và những ngày trước, tiếp tục sầm sập, ào ào, khiến đại tá Phạm Văn Phúc lo âu. Thỉnh thoảng những ánh chớp lằng nhằng, kéo theo những tiếng sét nổ đoành đoành, rất giống tiếng đại pháo của cộng sản.
Là một con người tầm thước, những năm sau này, khi có chức, có tuổi, thân hình ông ta bỗng phình ra, có phần xấu đi với người thường, nhưng lại đẹp lên, phong độ lên trong cả giới quân sự lẫn civin. Trong bô quân phục cắt khéo, hợp với khổ người, lại có tác phong của một ông quan đầu tỉnh, đại tá lúc nào cũng trầm tĩnh, tỏ ra đôn hậu hơn so với ba bông mai vàng trên ve áo. Lùa hai bàn tay với những ngón tay cứng rắn vào trong mái tóc, có những sợi điểm bạc, phong sương, vẻ bứt rứt không yên của đại tá khiến cho bộ tham mưu của ông cũng lo lắng.
- Mưa quá sá, hả? Mưa đến sớm thế này là có điềm gì đây?
Đại uý Na, một con người nhã nhặn, không có cái vẻ can trường của một sĩ quan, nhưng lại có bộ óc thâm thuý, chín chắn, được đại tá tỉnh trưởng tin cậy, đang đứng nhìn ra cửa sổ dõi mưa, nghe thấy sếp của mình than vãn, thì quay lại:
- Thưa đại tá, theo tôi đựơc biết, điềm “mãn thuỷ” tức nước dâng tràn thì thuận về tiền bạc, kinh doanh hơn là việc quân, chiến sự…
Cười giật lên một cái, không hiểu đại tá vừa ý hay phản bác ý kiến của mình, đại uý Na cười cầu thân với sếp:
- Theo ý đại tá thì thế nào ạ?
- Anh đúng. Thua trận thì buôn bán phát đạt. Mấy năm ở Xuân Lộc này, với cái ghế tỉnh trưởng, anh thấy tôi “thắng” về mặt nào?
Đại uý không ngờ cấp trên lại hỏi như vậy, biết trả lời sao đây? Ông thắng cả hai, mà thua cũng cả hai. Về nguyên tắc thì đại tá tỉnh trưởng nằm dưới tầm kiểm soát của tư lệnh quân khu, kiêm quân đoàn trưởng. Đại tá đã khéo thu xếp cho trung tướng Toàn có được một dinh cơ ở Long Khánh, nằm sau bệnh viện quân dân y. ở đấy có một “nàng” của trung tướng, và cũng có thể coi là “bộ chỉ huy thứ hai của quân đoàn”. Vì thế đại tá Phúc có phần có uy hơn các tỉnh trưởng khác trong quân khu. Nhưng như người ta nói “gần lửa thì rát mặt”, buồn buồn, trung tướng lại kêu đại tá tỉnh trưởng ra làm trò tiêu khiển. Vừa mệt, vừa tốn kém lại vừa mang tiếng. Bù lại, những yêu sách của ông đều được trung tướng phê chuẩn mau lẹ.
Là một chính quyền quân sự, ở miền Nam lúc này, không có bầu cử ra cấp lãnh đạo. Tỉnh trưởng hành chánh là sĩ quan quân đội, kiêm tiểu khu trưởng quân sự. Lực lượng mỗi tỉnh tương đương với một trung đoàn, nhưng trang thiết bị thì đa dạng hơn, rộng rãi hơn, chi phí cũng nhiều hơn, và đặc biệt, đại tá tỉnh trưởng, khác với đại tá ở đơn vị là ông ta có quyền đối với tất cả mọi người dân, quyền tha quyền bắt, nhất là những nhà doanh thương, buôn bán…
Thằng đại uý nói có phần đúng. Thua trận, bị cộng sản lấn chiếm mất đất, mất dân thì tình hình căng thẳng, chi tiêu nhiều lên. Tiền chánh phủ cấp đã tăng mà tiền thu được từ dân chúng, doanh thương cũng tăng lên. Không ai dám kêu ca…
Trên đầu tỉnh trưởng còn một ông tướng nữa, đó là tư lệnh sư đoàn đóng trên địa bàn tỉnh.
- Đại tá nè, tụi nó tiễu trừ cộng sản, bảo đảm an ninh cho ông được ngồi yên thì ông cũng phải biết điều với tụi nó chớ, ông đại tá… Lê Minh Đảo đã có lần nửa đùa, nửa thật nói như vậy.
Sư đoàn 18 đóng quân ở Long Khánh này trước khi đại tá Phúc nhậm chức tỉnh trưởng. Chuẩn tướng Đảo là một ông tướng trẻ, lại hào hoa nên có cách cư xử với quan đầu tỉnh cũng khác. Biết điều, nhã nhặn, lại tỏ ra “thông cảm” với chức vụ tỉnh trưởng (Lê Minh Đảo đã từng làm tỉnh trưởng Mỹ Tho), nhưng lại để cho cấp dưới hoành hành…
- Tụi nó làm gì thì cũng do bên dưới, chớ tôi đâu biết hết được. Với lại, đại tá còn lạ gì cảnh lính trận, nó có ngang tàng, mất dạy một chút thì cũng chỉ là để xả cái gian khó sau mỗi đợt hành quân mà thôi. Đại tá thông cảm cho tụi nó nhờ… Coi như đại tá nể mặt tôi mà thương tụi nó.
Chuẩn tướng Đảo tuy bề ngoài nhã nhặn thế nhưng lại luôn tỏ ra coi thường ông. Có lần chuẩn tướng đã nói nửa đùa nửa thật rằng làm tỉnh trưởng “ăn từ cái quần đàn bà ăn đi, đại tá đừng có cãi tôi, tôi làm tỉnh trưởng mấy năm, tôi biết mà”. Thế là huề!
Khi có lệnh lập phòng tuyến Xuân Lộc - Long Khánh, tiểu khu và toàn tỉnh đặt dưới sự thống lĩnh của tư lệnh sư đoàn 18. Tiếng là như thế nhưng khi quân cộng sản đánh vào thị xã, tướng Đảo chỉ lo bảo vệ bộ chỉ huy của ông ta, còn lại để tiểu khu chịu đòn. Đến khi dinh tỉnh trưởng bị đánh chiếm, quân của chiến đoàn 43 cũng chẳng thèm đến giải vây, để tỉnh trưởng phải ôm cờ chạy vào trú ngụ trong tiểu khu. Khi cộng sản đánh rát quá, cha con sư đoàn “nỏ thần miền đông” kéo ra ngã ba Tân Phong, ông cũng chẳng biết.
Đại uý Na vẫn thánh thót:
- Mưa là trời hại cộng sản, ủng hộ ta, đại tá thấy không?
- Sao? Anh nói nghe…
Đại uý cười tít mắt:
- Quân cộng sản chỉ có đôi chân với dép Bình Trị Thiên, vì thế nó chỉ nhanh chân chạy trong mùa khô. Khi mùa mưa đến, chúng đành ém quân, ăn rau ăn cháo, học chánh trị, lo chỉnh quân, chỉnh cán, không dám hành quân…
- Nghĩa là mưa thế này, cộng quân không dám tấn công…?
Đại uý cười, làm như chột dạ:
- ủa, đại tá, tôi đâu có nói vậy! Đó là lẽ trời đất, nắng mưa, gió bão… Căn cứ vào tình hình so sánh lực lượng, tôi đưa ra ý kiến thế thôi.
- Thế thì đêm nay ta ngủ ngon, hả?
Liếc nhìn đồng hồ, thấy đã điểm chín giờ, mà mưa vẫn không có dấu hiệu gì là tạnh. Bỗng dưng đại tá mong trời cứ mưa như thế này mãi, để đêm nay ông có thể ngủ yên…
Với chai rượu dở trên mặt bàn, đại tá vẫy đại uý Na lại gần. Không cần nói, đại uý lấy hai cái ly, rót ra. Màu rượu óng ánh dưới ánh nến, cứ như là một buổi dạ hội. Đại tá cầm ly nâng lên, dứ dứ trước mặt viên đại uý cận vệ.
- Dạ, xin kính đại tá… Na khúm núm.
Nhưng ly rượu chưa chạm môi, thì thiếu tá chỉ huy tác chiến xộc vào, đại tá Phúc không ngoảnh lại, chỉ hỏi trống không:
- Có chuyện gì?
- Dạ trình đại tá… sư đoàn 18 của tướng Đảo đã triệt thoái, rút bỏ Long Khánh rồi ạ!
- Hả? Đại tá xoay lại nhảy dựng lên. Ai rút? Ai triệt thoái?
Thiếu tá vẫn đĩnh đạc:
- Trinh sát của tiểu khu vừa báo cáo: những đơn vị cuối cùng của ông Đảo đã bắt đầu triệt thoái. Hiện giờ ở thị xã chỉ còn chúng ta…
- Mẹ nó chứ! Đại tá nổi nóng. Sao nó không cho mình hay. Vậy mà lúc nào cũng luôn miệng tử thủ, tử thủ…
Trong khi đại uý Na ỉu xìu, thì thiếu tá tác chiến không hề thay đổi thái độ trước cơn nóng giận của đại tá tỉnh trưởng.
- Bây giờ tình hình đã vậy, chúng tôi chờ lệnh đại tá.
- Bọn dù thế nào?
- Dù vẫn ở lại, nhưng họ có trực thăng, cơ động lẹ nên có thể họ sẽ rút sau…
- Nhưng, ông Đảo triệt thoái theo lệnh của ai hay tự ý ông ta?
- Theo tôi phán đoán, thiếu tá rành rọt, tướng Đảo triệt thoái ắt phải có lệnh của cấp trên, có lẽ từ tướng Toàn, chớ ông Đảo còn say máu với cộng sản lắm…
- Say? Say cái con khỉ! Thằng nào nói ra mồm chẳng toàn là những câu ba xạo. Trong bụng nó ai còn lạ gì nữa… Bên “bộ tư lệnh thứ nhì” của quân đoàn thế nào rồi?
- Dạ… tôi không hiểu đại tá nói gì?
Đại uý Na nhắc:
- à… bên biệt thự của trung tướng còn người không?
- Dạ không! Họ bỏ đi từ hôm cộng sản mới đánh vô đây…
Có tiếng chuông điện thoại, đại uý cận vệ Na cầm máy, giọng anh ta bao giờ cũng ỏn ẻn:
- A lô, văn phòng đại tá tỉnh trưởng nghe đây… Dạ! Có ngay đây…
Na bịt ống nói, hướng về đại tá, thì thào: “Chuẩn tướng Đảo. Ông ta muốn nói chuyện với đại tá”. Tỉnh trưởng chạy đến máy:
- Dạ, tôi Phúc đây, chuẩn tướng! Trời ơi… sao chuẩn tướng không cho lệnh sớm hơn một chút có được không? Dà… tôi biết lộ Hai. Dạ, tuân lệnh chuẩn tướng…
Đại tá quay lại nói với thiếu tá:
- Ra lệnh triệt thoái theo lộ số Hai!
- Tuân lịnh đại tá. Thiếu tá quay gót.
- Đợi đã! Chỉ cho hai tiểu đoàn cùng với bộ chỉ huy tiểu khu triệt thoái, các đại đội địa phương quân và bảo an cứ để cho họ định liệu.
- Rõ… Nhưng mưa thế này?
- Mưa cũng phải thi hành, không để sáng mai, lộ chuyện ra quân cộng sản sẽ chặn đường rút của ta. Nghe rõ chứ? Tập trung quân tại Bà Rịa. Nhớ chỉ đem vũ khí nhẹ và một ít lương thực. Thương binh cũng bỏ lại…
Đại uý Na rùng mình, còn thiếu tá tác chiến thì quay gót, như một người máy.
Khi xe của đại tá Phúc vào lộ Hai thì đã quá nửa đêm, đường đã ùn ắc thành từng cục. Tiếng xe máy gầm rú, tiếng súng bắn loạn xạ giành đường. Đại tá nhìn thấy không chỉ có quân của ông mà những tốp lính dù cũng lăn xả vào chen chúc. Mưa vẫn trút nước, lính tráng ướt sũng, mặt mày tái nhợt dưới ánh đèn ô tô.
- Thật thảm hại! Đại tá ra lệnh tránh đường, nhưng phải cả tiếng đồng hồ sau xe của ông mới thoát ra được. Bỗng phía trước mặt đang tối đen, loá lên một quần sáng chói mắt. Chỉ kịp thụt đầu xuống, cái vòi lửa ấy lướt trên đầu. Và sau đó hàng loạt đạn B40, AK của quân công sản chặn đứng đoàn quân đang ướt sũng, nặng nề, nhìn anh nào cũng như con lạc đà đang lặc lè trên đường chạy trốn.
- Quay xe lại.
Đại tá ra lệnh, nhưng người tài xế đã cãi lại:
- Không được, thưa đại tá!
- Sao vây?
Đại tá Phúc quay lại phía sau lưng còn rùng rợn hơn. Đạn bay chiu chíu, chiếc xe jeep của đại tá quay mòng mòng rồi xệ xuống cái rãnh thoát nước, hất đại tá và đại uý tuỳ tòng ra ngoài. Rất may, khi đại tá vừa chạm đất thì chiếc xe bùng lên, nó vừa trúng một quả B40.
Nhìn quanh, mọi vật vẫn cứ loang loáng nhờ ánh sáng của đạn nổ, không thấy chiếc xe nào. Đại uý Na vẫn quỳ bên cạnh:
- Không có xe đại tá ơi! Thế này thì chết…
- Im ngay. Theo tôi. Đại tá đứng dậy, nhắm hướng những lô cao su, lấy hướng nhảy đại vào trong đó. Đại uý Na và mấy anh lính nhảy theo…
Trời sáng dần, nhưng không thể nào định hướng được, tốp của đại tá không dám đi xa. Luẩn quẩn trong lô cao su, họ hy vọng có một chiếc xe nào chạy qua để trèo lên. Nhưng vẫn chỉ là những quầng lửa, những đường đạn và cả tiếng hô hét xung phong của quân cộng sản… Trời lạnh và mưa cũng ngớt, chiến sự đã rời xa một khoảng. Bỗng đại tá nghe tiếng reo lên của một ai đó:
- Có tiếng xe! Xe nhà binh…
Đại tá nhóng lên nhìn thì từ rên xe, một tốp người nhảy xuống, lia một loạt AK bay ríu rít trên đầu. “Quân cộng sản!”. Đại uý Na thét lên. Mọi người nằm rạp xuống. Từ phía bìa rừng, một toán quân cũng reo hò, hô “xung phong”, đại tá biết mình như con cá nằm trên thớt, quân cộng sản bắt đầu truy kích. Trời hưng hửng sáng, mưa tạnh… Một loạt đạn nữa bủa vây lấy đại tá, khiến ông không còn muốn đứng dậy. Chết! Chắc chết ở nơi này rồi… Thật kỳ lạ, ông không hề oán trách ai, kể cả tướng Đảo đã bỏ rơi ông và anh em tiểu khu Long Khánh…
- Đại tá? Tiếng Na. Đại tá cởi áo ra, kẻo họ bắt được họ sẽ giết đại tá.
Đại tá Phúc thấy đại uý Na chỉ còn chiếc may ô trên người, lắc đầu:
- Không! Thà tôi chết…
- Không được đâu đại tá ơi! Chiến tranh mà, chết thì dễ, sống mới khó. Nghe em đi… Vừa nói, đại uý vừa lần hàng khuy áo của sếp.
Quả nhiên khi Na vừa quẳng chiếc áo của đại tá ra xa thì đã nghe tiếng loa bằng tay rọi vào:
- Anh em binh sĩ quân lực Việt Nam cộng hoà! Các anh đã bị bao vây. Hãy ra đầu hàng để hưởng lượng khoan hồng của chánh phủ cộng hòa miền Nam Việt Nam…
Tiếng hô vừa dứt, hàng loạt AK lại rộ lên, uy hiếp. Đại úy Na cởi nốt chiếc áo thun trắng ra, rồi buộc nó lên đầu súng, hét to:
- Đừng bắn! Chúng tôi xin đầu hàng quân giải phóng…
Na đứng lên, đi trước, tức thì đằng sau anh ta, có đến hơn hai chục người lần lượt giơ súng lên khỏi đầu, ra khỏi hàng cây cao su. Đại tá Phúc nặng nề lê bước. Mấy người nhường cho đại tá đi trước.
Đoàn tù binh quẳng súng xuống vệ đường rồi lặng lẽ đi theo hàng một trước những mũi AK còn nhả khói. Có một anh chiến sĩ cộng sản chạy đến đưa cho người chỉ huy của anh ta cái áo quân phục:
- Báo cáo thủ trưởng, có cái này!
Đại tá Phúc giật mình nhận ra cái áo đó của mình. Ông lẳng lặng cúi đầu. Người chỉ huy cộng sản đứng trước đám tù binh, dõng dạc:
- Trong số các anh ở đây, ai là đại tá Phúc?
Im lặng. Người chỉ huy nhắc lại, giọng vẫn như cũ:
- Tôi muốn biết, trong số các anh ở đây, ai là đại tá Phúc. Xin anh em đừng sợ. Đại tá Phúc cũng đừng sợ…
- Dạ thưa… đại tá Phúc đây ạ…
Đại tá giật mình, tái mặt nhìn sang thì người vừa “chỉ điểm” ông cho cộng sản chính là… đại uý Na. Ông lắc đầu, chán nản, bước ra:
- Thưa ông chỉ huy, tôi đại tá Phạm Văn Phúc, tỉnh trưởng Long Khánh…
- Tốt lắm. Mời ông đi theo chúng tôi… Rồi ông ta ra hiệu cho một anh lính trẻ dẫn đại tá đi. Tự nhiên đại tá thấy lo lắng, liệu họ có thủ tiêu mình không? Không có lẽ…
Người chỉ huy bước lên ngang với đại tá, đưa cho ông cái áo có gắn ba bông mai, viết tên ông với chữ PHúC rất to trên mép túi áo:
- Ông Phúc, ông cứ mặc áo vào, trời mưa lạnh, kẻo lại bệnh. Mời ông lên xe.
Chiếc xe jeep của Mỹ đưa đại tá Phúc vào một cánh rừng, ở đó có những cái lán lợp lá buông, đơn sơ như của những người dân sắc tộc Châu Mạ. Chiếc xe dừng lại, họ cùng vào một cái chòi khá sạch sẽ. Trời đã sáng từ lâu, những tia nắng ban mai rọi chiếu nồng nàn xuống màn hơi nước đang la đà dưới mặt cỏ. Có một bình trà nóng, người chỉ huy rót rồi đưa tận tay đại tá:
- Mời ông uống trà. Ông đại tá uống thử xem có ngon bằng trà của ông không? à, mà ông có quen uống trà không nhỉ?
- Thưa… tôi thường hay uống tà vào buổi sáng…
Người chỉ huy cười:
- Thế thì cũng hợp với chúng tôi.
Thấy người chỉ huy cộng sản có vẻ cởi mở, đại tá tranh thủ hỏi:
- Thưa ông, liệu tôi có phải…
- Tất nhiên ông phải làm một số việc, vừa là nghĩa vụ của ông, một tù binh, đồng thời cũng là nghĩa vụ của một con dân Việt Nam trước giờ phút lịch sử này…
- Thế là tôi phải làm gì?
- Ông có việc đấy. Ông nên kêu gọi anh em binh sĩ đừng ngoan cố chống lại cách mạng, mà hãy nhanh chóng trở về với nhân dân…
Đại tá tưởng mình nghe nhầm, nhưng đúng là ông đã được đề nghị hợp tác. Ông đại tá cảm động thật sự. Ông nhìn người chỉ huy cộng sản đang xoay người nhìn về một cái chòi. Đại tá Phúc nhìn theo. Một dáng người quen quá. Ai nhỉ? A… trung tá Đình, một người quen. Thế là ông bạn này cũng bị bắt làm tù binh. Nhưng sao trung tá lại phải có người dìu thế kia?
- Ông biết người này à? Người chỉ huy cộng sản hỏi.
- Dạ biết! Đại tá nhanh nhảu. Đó là trung tá Lê Quang Đình, người của ban liên hiệp quân sự bốn bên đóng ở Long Khánh. Chúng tôi vẫn thường làm việc với nhau…
- Ông ấy bị thương rất nặng mà chúng tôi thì lại không đủ thuốc men. Thật tiếc…
Đại tá Phạm Văn Phúc, tỉnh trưởng kiêm chỉ huy trưởng tiểu khu Long Khánh nhấp một ngụm trà, thấy trong bụng nôn nao. Ông cúi xuống nhìn sâu vào đáy tách trà, như để tìm một câu nói cho thật ý nghĩa. Rồi ông từ từ ngẩng lên, nhìn người cộng sản, giọng khúc chiết:
- Thưa ông chỉ huy! Tôi xin đội ơn cách mạng! Nằm trong tay các ông là tôi giữ được mạng sống rồi. Bây giờ các ông có thả tôi cũng không chạy nữa… Xuân Lộc tan thì Sài Gòn sụp đổ. Chỉ vài giờ nữa thôi…



0


CHƯƠNG MƯỜI BảY




Trận chiến Xuân Lộc đã kết thúc, cái thị xã nhỏ bé, chỉ xuất hiện khiêm tốn trên bản đồ hành chính với một tỉ lệ xích khá nhỏ, còn thì hầu như nó chẳng mấy lần được hiện diện trên bản đồ địa lý quốc gia. Nhưng, trong bản đồ lịch sử, dù chỉ là một cái sơ đồ nguệch ngoạc, ước lệ trong sách giáo khoa trung học, nói về một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc Việt Nam, Xuân Lộc xứng đáng được đánh một dấu son, chói lọi.
Cả thị xã đã bỏ ngỏ. Bên tấn công, quyết liệt nhưng chưa đạt mục đích thì bí mật rút ra để thực hiện ý đồ chiến thuật khác, có hiệu quả. Bên phòng thủ cũng tỏ ra ngoan cường với một khẩu hiệu “tử thủ”, và họ đã tử thủ thật, nhưng khi bị đối phương “bỏ qua” thì cũng lặng lẽ rút đi, triệt thoái… Tất cả hai bên đều để lại những ngôi mộ lấp vội, và cả những thây người còn kẹt trên mặt đất.


***


Tin “Xuân Lộc thất thủ” đến với cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ khi ông ta còn trên giường. Bật dậy, bởi tiếng chuông điện thoại, ông chỉ ừ hử rồi cúp máy, với thói quen châm một điếu thuốc, thiếu tướng không quân ngồi ngẫm nghĩ. Thế thì còn gì nữa? Còn trông đợi gì vào cái đám chỉ huy từ dân sự đến quân đội? Tướng Kỳ hầm hầm mở cửa, hơi nóng xộc vào làm bà thiếu tướng thức giấc. Thực ra thì Tuyết Mai rất khó ngủ, chỉ mới chập chờn…
- Anh? Có chuyện gì thế? Giọng ngái ngủ của vợ làm tướng Kỳ cũng thấy uể oải. Đóng sập cửa lại, ông nói gọn lỏn:
- Sớm mai, mình và các con sẽ bay đi…
- Đi đâu?
- Mỹ, Pháp, hoặc nước nào cũng được. Miễn là thoát ra khỏi nơi này.
Tuyết Mai ngồi dậy, cũng chẳng buồn kéo tấm chăn lên đôi vai trần:
- Sao bảo tình hình khả quan lắm mà? Đúng là mấy ông tướng gà mờ…
- Ngủ đi… Nói rồi thiếu tướng sang văn phòng của mình.
Nhớ lại hôm bữa yết kiến đại sứ Martin, ông đã kiên quyết:
- Phải chặn đứng cộng sản ở vĩ tuyến 13, phía bắc vịnh Cam Ranh! Và điều cốt yếu là phải thay đổi ban lãnh đạo quốc gia hiện nay để có một ban lãnh đạo mới, một bầu không khí mới, thì mới được quân đội ủng hộ… Lúc đó ta sẽ có đủ thế mạnh để thương thuyết. Nhưng vị đại sứ mắc bệnh hen mãn tính này nheo mắt:
- Ông cam đoan? Liệu binh sĩ có chịu đánh nhau với cộng sản không?
Kỳ lắc đầu, thở hắt ra:
- Trời ơi! Dĩ nhiên là có. Những sĩ quan bỏ miền trung, bỏ cao nguyên theo lời ông Thiệu về đây cho tôi biết rằng, họ đang rất hận, đang khao khát phục thù. Ông nên biết rằng: người Việt Nam không hề hèn nhát…
- Tôi nghĩ rằng ông có lý. Martin vẫn tiếp tục nheo mắt. Nhưng… tổng thống của các ông là người nước nào?
Kỳ tịt vì đuối lý, nhìn Martin chống gậy ra xe. Đáng lẽ, Kỳ nghĩ rằng ông phải cho Martin biết rằng “ủy ban cứu nguy dân tộc” của ông và tướng Đôn sẽ dùng không quân làm đảo chính, với sự ủng hộ của Lê Minh Đảo. Thế nhưng… khổ thân Lê Minh Đảo, giờ này nó đang lẩn quẩn trong nghiã trang quân đội. Bỗng cựu thiếu tướng Kỳ, thoắt nảy ra một sáng kiến có thể cứu Lê Minh Đảo và sư đoàn 18 của anh ta. Tướng Kỳ quay số máy:
- Đại tá Đức phải không? Tôi Nguyễn Cao Kỳ đây…
Đại tá Vũ Văn Đức chỉ huy trung tâm hành quân của bộ tổng tham mưu, đang vật vờ trong văn phòng thì giật mình:
- Dạ, chào thiếu tướng. Có việc chi mà thiếu tướng gọi em út khuya khoắt thế?
- Có việc đây. Xuân Lôc thất thủ rồi, đại tá biết chưa?
- Dạ biết. Đó là lệnh triệt thoái của trung tướng Toàn…
Tướng Kỳ e hèm, rồi gằn giọng:
- Lệnh của ai thì cũng là lệnh rút chạy, phải làm một cái gì đó để cứu tướng Lê Minh Đảo và anh em Long Khánh. Đại tá nghe tôi nói đây: theo nguồn tin mật của riêng tôi, hiện nay trong kho vũ khí của bộ tổng tham mưu còn hai quả bom CBU- 55( ) chưa dùng đến. Đại tá có biết không?
- Dạ… trình thiếu tướng, tôi… có nghe. Nhưng…
- Nhưng sao, đại tá?
- Trình thiếu tướng, đã có ý kiến sử dụng loại bom này cho chiến trường. Nhưng có hai vấn đề đặt ra: thứ nhứt, phải có lệnh viết của bộ tổng tham mưu; thứ hai là các loại máy bay ném bom của ta hiện nay không loại nào có được giá để treo loại bom này…
Kỳ ậm ừ. Theo các nguồn tin từ quân đội, CBU- 55 là loại bom rất lớn, còn có tên là bom Daisy Cutter hay “con heo” được mệnh danh là “tiểu nguyên tử,” trọng lượng 15,000 cân Anh vừa vỏ bọc, vừa thuốc nổ TNT. Bom này dùng để mở bãi đáp phi cơ cho cấp sư đoàn hay lộ quân trong bất cứ địa thế nào và có hiệu quả sát hại trong một khoảng rộng với đường kính 5 dặm Anh. Tuy nhiên có nguồn tin cho rằng trước đó mấy tuần, đại tướng Frederick Weyand và phụ tá bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Von Marbod đã xoay xở đưa sang Việt Nam thêm mấy trái bom loại CBU- 55 này nữa. Loại bom này còn được gọi là “bom dầu” (fuel bomb), loại bom có sức công phá và sát hại mạnh nhất trong các loại vũ khí của Mỹ. Sau khi được thả xuống, bom sẽ nổ tung ra hàng trăm trái bom nhỏ khác tạo thành một bức màn như dầu hỏa có chiều rộng cả trăm mét và bề dầy ba mét là đà trên mặt đất rồi sau đó sẽ nổ tung, gây ra một áp suất khoảng 300 cân Anh trên một inch vuông và hút hết khối lượng oxygen ở dưới đất, ở trong buồng phổi của tất cả mọi sinh vật, dù là ở dưới hầm sâu cũng không thở được. Lợi hại thật!
- Đại tá nghe đây, chúng ta sẽ dùng hai quả bom này để chặn đứng cuộc tấn công của cộng sản ở Xuân Lộc. Việc ra lệnh từ bộ tổng tham mưu, để tôi lo. Riêng đại tá chuẩn bị làm ngay một hệ thống giá đỡ cho hai quả bom này trên máy bay C130… Đại tá rõ chứ?
- Dạ rõ!
- Làm đi, ngay trong buổi sáng hôm nay. Tôi sẽ vào xem anh em làm ăn.
Tướng Kỳ gác máy, rồi lại cầm máy, lúc sau ông lấy xe chạy từ chỗ ở của mình sang bộ tổng tham mưu. Con đường tuy gần nhưng phải tránh và trình báo cho bao nhiêu đơn vị, lính tráng mới đến được chỗ cần đến. Cuối cùng thì một mệnh lệnh được viết ra: sử dụng bom CBU- 55 cho Xuân Lộc - Long Khánh đã được trao tận tay đại tá chỉ huy không quân, giao nhiệm vụ cho phi đội ném bom.
Trở lại bãi đậu máy bay, việc chế tác cái giá bom thật không dễ dàng chút nào. Để có được cái giá đỡ quả bom nặng 7 tấn , lủng lẳng trên chiếc C130 cũ kỹ, bằng phương pháp thủ công quả là một vấn đề nan giải. Ông tướng về vườn Nguyễn Cao Kỳ đã dốc lòng để suốt đêm ấy, cái giá bom được ráp vào máy bay và quả bom được gắn theo. Ông cũng dư biết, vào lúc “quân hồi vô phèng” này, ông mới có được một chút quyền lực, nên ông phải dốc lòng đến vậy. Khi chiếc C130 lặc lè chở 7 tấn dưới bụng (ngang với mức chuyên chở 100 hành khách) rời phi đạo 39 tại phi trường Tân Sơn Nhất cất cánh, tướng Kỳ nói với những người xung quanh:
- Việc làm này của chúng ta có thể không thay đổi được kết quả cuộc chiến, nhưng nó làm thoả mãn phần nào trong chúng ta, và coi đây là một thành tích “khiêm tốn” của mình đánh lại kẻ thù mà chúng ta căm thù, dù… quá trễ!
Khi chiếc máy bay đã khuất vào trong bầu trời phía đông, Nguyễn Cao Kỳ quay lại, bộ mặt giận dữ:
- Mẹ kiếp, cứ mỗi lần có mục tiêu, muốn sử dụng bom lại phải xin giấy phép. Thật là tồi tệ…( ).


***


Con suối có cái tên “Suối Cạn” sau những trận mưa rầm rập, trở thành con suối đầy ắp nước, có chỗ lội đến quá đầu người. Nhìn dòng nước ngầu đỏ uốn lượn theo những khúc quanh, thỉnh thoảng lại chùn lại sôi ùng ục, Trí bông nhớ về suối Chân Gà. Nước suối Chân Gà trong vắt, sau những cơn mưa nó cũng đục, nhưng không đỏ như con suối Cạn này, đỏ như máu. Mà hình như cũng có một phần đỏ của máu, Trí rùng mình nghĩ đến những dòng máu chảy thấm đẫm quân phục, bò lừ lừ dưới ống quần, đọng lại thành vũng dưới chân những người đồng đội của anh. Trí nhớ đến máu của Cửu, phun tung toé dưới gốc cây xoài trong vườn cây của cố thống tướng Lê Văn Tỵ, trong thị xã… Rồi máu của cô gái du kích Long Khánh đọng thàng từng mảng, bết vào tấm áo bà ba đen, cứng như một tờ giấy bìa, màu hoàng thổ… Giờ đây, máu chảy hoà trộn vào con suối cạn, tạo nên dòng lũ cuồn cuộn, chảy tuôn về xa mãi…
Nhớ đến cô du lích Long Khánh tên Lan, chợt Trí ngĩ đến “ông trung tá” tên Bình. Có thể đó là anh Hai của mình không nhỉ? Ôi nếu vậy, anh hãy quay về, hãy buông súng về đây với gia dình, ba mẹ. Ngày ấy Trí còn nhỏ quá, nhưng giờ đây anh cũng đã hiểu được, anh Hai phải xa ba mẹ trở lại Sài Gòn khi mới được ba tuổi. Anh sống trong tình thương yêu của bà con, rồi lớn lên, để trở thành một sĩ quan. Trí mong không phải, không phải trung tá Trương Hoà Bình là anh ruột mình. Nhưng, nếu anh là anh Hai thì cũng tốt! Trí thầm mong cho người sĩ quan can đảm đem quân về với cách mạng như bản tin hôm nào trên đài phát thanh Giải Phóng. Anh đã trở về…
Mấy đứa trong tiểu đội đang ngồi, nằm ngả nghiêng bên suối, chờ lệnh. Bỗng từ phía đầu nguồn có nhiều tiếng người lao xao. Trí đứng dậy nhìn, có một đoàn người đồng phục màu xám, xen lẫn cả rằn ri đang đi lại phía mình. Tù binh! Những khuôn mặt thất thần, những con mắt thiếu ngủ, thiếu tự tin, cúi nhìn tránh những cạm vướng dưới mặt đất. Cả tiểu đội ngồi dậy, nhường lối cho đoàn tù binh. Đông thế, có đến gần trăm sinh mạng vừa thoát ra khỏi địa ngục. Cũng có những khuôn mặt trẻ bình thản, hình như chẳng có gì xảy ra. Bước đi của họ nhẹ bỗng, những đôi chân thả lỏng, không cần kiểm soát, như là thả vào chốn vô định. Một vài khuôn mặt tỏ ra tươi tỉnh, dấu hiệu của những nụ cười. Trí nhìn rất kỹ từng khuôn mặt, toàn là binh lính, không thấy có sĩ quan, và cũng không có khuôn mặt nào lớn tuổi. Họ đều như Trí, trẻ như Trí… Nghĩa là không có anh Bình.
Độ một quãng, lại có một anh bộ đội cầm AK chĩa vào đoàn tù binh, vẻ mặt họ cũng mệt mỏi, nhưng căng thẳng. Bất ngờ, Trí nhìn một khuôn mặt có vẻ quen. Anh ta đi cùng một người nữa, đi sau cánh tù binh một quãng, khẩu AK trong tay anh hơi chúc nòng xuống đất. Đôi gò má nhợt nhạt, nhưng vẫn là gò má của chàng trai bầu bĩnh. Ai nhỉ? Anh ta càng đến gần, Trí càng cố căng mắt ra:
- Này, Phương! Trí đứng lên nhìn vào khuôn mặt trắng trẻo.
- Ơ… người kia ngớ ra. Trí! Cậu… cậu cũng ở đây à?
Trí mừng lắm:
- Mình ở đây. Cậu cũng ở đây…
Phương kéo Trí sang một bên, rồi bắc tay làm loa nói to lên đầu hàng tù binh. Cho họ nghỉ chân mười phút đi anh Tiến ơi…
Tức thì đoàn tù binh, không đợi câu thứ hai, đã gần như đồng loạt ngồi xuống như bị lia đổ gục. Trí nhìn đoàn tù binh rồi lại nhìn người bạn:
- Mình nhìn thấy cậu từ đằng kia…
- Thế à? Tớ đi dẫn tù binh về chỗ tập kết. Anh chàng lắc đầu. Mệt với tụi này quá, đi chậm còn hơn rùa bò. Được cái chúng cũng biết điều.
Trí gật gù, Phương tiếp:
- Khỏi phải ra mặt trận nữa, không biết điều thì còn biết cái gì. Này, thế mà từ hôm gặp cậu, tớ tưởng cậu “toi” rồi đấy. Mà cậu không toi thì cũng là tớ…
- Toi thế nào được! Bọn mình còn phải về tìm chú lái xe Giải Phóng chở vôi bột chứ? Này, sau hôm đó các cậu tiễn mình về bệnh viện, nơi má tớ làm việc ở đó… ờ hôm ấy các cậu có tất cả bốn người nhỉ? Vào cả trong này chứ?
Phương im lặng, nheo nheo nhìn về phía bên kia con suối đang chảy rì rào, giọng anh chùng xuống:
- ừ, bốn đứa, tớ với ba thằng Tùng, Thanh, Vũ. Nhưng… hy sinh mất hai đứa rồi, thằng Vũ, thằng Tùng.
Trí nắm tay bạn:
- Bọn mình có ba đứa, vào cả đây, nhưng không gặp nhau… Không biết thế nào?
- à, Tớ suýt quên không nói cho cậu biết. Tớ với thằng Thạch lại ở cùng tiểu đội…
- Thế à? Nó còn sống không?
Phương trầm ngâm:
- Tớ nói với Thạch là tớ đã gặp cậu, trước khi nó đi trinh sát vào thị xã…
Trí nắm áo Phương:
- Bây giờ nó đâu?
- Không biết… Từ hôm ấy, không thấy nó về!
Trí bứt một nhánh cây, quất mạnh vào một gốc cây cháy sém, gằn giọng:
- Khốn nạn thật! Nhưng mà… Thạch chỉ không về tiểu đội cậu thôi chứ? Nó đã chết đâu! Có ai nói Thạch hy sinh rồi không?
Phương lắc đầu:
- Không! Không ai nói…
- Thế thì nó không chết! Thằng ấy không thể chết!
Rồi họ cứ đứng như thế, không nhìn nhau, cũng chẳng nói với nhau. Lúc sau, Phương nắm tay Trí:
- Này thôi, tạm biệt nhé. Tớ đang có nhiệm vụ…
- ừ, Phương đi đi. Trí lắc mạnh bàn tay bạn. Hen gặp lại.
- Gặp nhau ở Sài Gòn ấy nhá. Cứ lấy Dinh Độc lập làm chỗ hẹn. Cậu là dân Sài Gòn hả? Phải đưa tớ đi chơi đấy…
Trí buông tay Phương:
- Nhất định rồi! Đi đi…
Một quãng xa, ngoảnh lại, Phương vẫn thấy Trí đứng nhìn theo. Cậu ấy nhìn theo mình hay nhìn đoàn tù binh lũ lượt nhỉ?
Bàn giao tù binh xong, nhưng quân đoàn thiếu người, nên Phương và mấy anh em áp giải được trưng dụng ở lại làm nhiệm vụ:
- Trưa mai thôi, thế nào bên địch vận sẽ phân loại, rồi xử lý. Có lẽ… tha hết ấy mà. Nhưng bây giờ thì chưa được. Các cậu giúp bọn mình nhé…
Ông cán bộ già cấp gì không rõ, nhưng nhìn hàm răng vàng xỉn khói thuốc thấy cũng cởi mở. Tù binh được phân thành từng nhóm, mỗi nhóm từ mười lăm đến hai chục và có hai chiến sĩ cảnh giới. Họ được chia vào từng căn nhà lá, có căn đã sụp đổ hoặc xiêu vẹo, nhưng không sao chứa hết, thành ra có tên phải nằm ngoài hè. Còn các chiến sĩ thì ở ngoài sân, ngồi suốt đêm.
Phương thử quan sát xung quanh thấy đây là một cái ấp nhỏ, nhà cửa lưa thưa, kế bên rừng thưa, những cây trâm bầu dầm chân xuống nước, đầy sâu róm. Bên kia khoảng đất trống có mấy nhà dân, có người ra vào.
Một ông trung niên, cởi trần, một cánh tay cụt hất lên, mỉm cười với Phương:
- Chú mới được điều về hả?
Phương cũng cười lại:
- Nhà bác ở bên ấy à?
- Thưa không! Gia đình tôi từ ngoài thị xã chạy vô đây tránh đạn, nay định về, nhưng chính quyền bảo chưa làm vệ sinh xong, với lại đề phòng quân cộng hòa ném bom trở lại nên khuyên bà con hãy đợi vài ba bữa nữa… Chú ăn cơm chưa?
- Dạ chưa! Không biết có cơm mà ăn hay lại lương khô. Xót cả ruột. Phương nhìn ông trung niên, cười nhưng cứ thấy phải cảnh giác.
- Không có cơm đâu. Lát nữa tôi biểu tụi nhỏ nó đem qua cho mấy chú…
Phương đi lên một đoạn, anh thấy có một nhà thờ nhỏ, cây thập giá nhô lên, bị gãy một nhánh, nhìn giống cái chân chim chổng ngược. Lại thấy có mấy mẩu dây điện thoại, bếp Hoàng Cầm… anh đoán đây đã từng là sở chỉ huy của một đơn vị lớn.
Quay lại đã gặp ông cán bộ răng xỉn:
- Chú đừng đi đâu xa, có việc còn đối phó kịp.
- Đêm nay chúng em phải thức suốt đêm để canh gác chúng nó à?
- Chứ còn gì nữa! Tha thôi, canh gác, trông coi chúng nó mệt lắm… Sắp hoà bình rồi, chẳng thằng ngốc nào dám quay về cầm súng nữa đâu.
- Anh làm địch vận lâu chưa?
- Xem nào, từ năm sáu- tám. Bảy năm rồi. Hồi trước còn giam giữ, có khi đưa ra tận mãi ngoài Bắc để nhốt chúng nó ấy chứ. Sau năm bảy ba, ta trao trả chúng theo Hiệp định Pa- ri hết rồi. Sau này bắt được thằng nào giữ vài ngày, tuyên truyền rồi tha…
Phương phì cười:
- Thế anh có thấy thằng nào quay trở lại lần thứ hai không?
- Cái gì? Có mà bố bảo… à đây rồi! Ông quay lại nhìn thấy mấy chị đàn bà gánh gồng đi vào. Các chị hộ tôi vào trong này…
Hoá ra những người đàn bà gánh cơm cho tù binh. Đám tù binh thấy thế thì đứng cả dậy, trông đợi. Ông răng xỉn lấy giọng oang oang:
- Các anh em! Chúng tôi chưa chuẩn bị kịp cơm nước cho anh em. Nhờ bà con Bảo Vinh giúp đỡ chúng ta (sao lại chúng ta nhỉ? Phương thầm nghĩ, bố này mất quan điểm quá). Anh em ăn xong rồi nghỉ, sáng mai sẽ có chính sách đến làm việc. Bảo đảm với các anh rằng các anh sẽ được về nhà thôi… Thế nhé, ăn đi!
Trong lúc tù binh ăn cơm, Phương hỏi vặn ông răng xỉn:
- Sao anh lại nói với chúng nó là “chúng ta”? Đánh đồng thế à?
- ối dào! Cái chú này, rõ thật! Chúng ta với chúng nó cái quái gì. Nói thế để chúng nó yên tâm, khỏi bỏ chạy.
- Sao anh không tha chúng ra đi?
Ông già tròn mắt:
- Đùa! Tớ biết thế là do kinh nghiệm lâu năm, chứ muốn tha thì phải có một chữ ký của ông nào chứ tớ làm gì có quyền.
Phương tủm tỉm:
- Anh mà có quyền chắc anh tha hết.
- Cái đó chưa biết. Chú làm như tôi mất lập trường rồi hẳn?
Sáng hôm sau, tất cả ngồi chờ, mãi đến trưa mà vẫn chưa thấy cán bộ địch vận quân đoàn, cả đám ngồi phơi nắng. Trời lại xanh, mặt đất lại nồng nàn, cỏ cây lại tươi thắm. Có cả tiếng chim chuyền tí tách, bất chấp tiếng ì ầm của bom, pháo… Bỗng có ai đó reo lên:
- Có máy bay đấy…
Khi mọi người cùng nhìn lên thì đã thấy một chiếc máy bay “bà già” bay ì ì thẳng vào giữa ấp Bảo Vinh. Mấy tên tù binh, nhảy lên, tỏ ra hành thạo:
- C- 130! Nhưng… nhìn kìa, dưới bụng nó…
Mọi người ngạc nhiên nhìn dưới bụng chiếc “bà già” lặc lè một vật gì khác thường. Nó thuôn dài, hình một cái thùng xăng. Có người trong đám tù binh vui mừng đoán rằng máy bay của quốc tế chữ thập đỏ đến cứu trợ…
Chiếc C- 130 gần như đứng lại một chỗ trên đỉnh đầu, rồi nó lắc mình làm cho cái vật nó đeo bên dưới bụng rời ra:
- Đó! Thấy chưa? Đồ cứu trợ của liên hiệp quốc…
- Bậy nào? Đồ cứu trợ thì phải có dù chớ.
Quả nhiên “đồ cứu trợ” rơi vun vút xuống, đến nỗi không ai hiểu được rằng đó là một quả bom khổng lồ. Nó bất ngờ nở bùng ra, một đám khói màu vàng hổ phách lập tức bao trùm bầu trời. Trong tích tắc đất trời bỗng tối sầm lại, chỉ còn nhìn thấy nhau trong khoảng cách rất ngắn, lờ mờ.
Phương thấy mình như bị ai đó nắm vai, túm tóc dìm xuống nước bằng một sức nặng ghê gớm, khiến anh phải nghiêng người khuỵu xuống. Mà sao ai cũng thế nhỉ? Ông cán bộ răng xỉn cũng né người nghiêng nghiêng. Và rồi tất cả những tù binh đang đứng chen chân bên nhau dưới mảnh đất trống trước căn nhà đổ cũng đồng loạt như có một khẩu lệnh. Họ ghé vào vai nhau, cùng nghiêng đi, rồi từ từ nằm xếp lên nhau…
Phương thấy mình bị dìm xuống thật sâu, thật mạnh, anh cũng ngả theo một chiều với ông già răng xỉn, với những người tù binh… Phương ngả dần, ngả dần, cố cưỡng lại nhưng không nổi. Thế rồi…
Tất cả những người ở khu vực ấy đều đi vào cõi chết cùng một tư thế nghiêng nghiêng đổ rạp xuống bằng một sức mạnh dìm chết ngạt. Hạ sĩ Phương, ông thượng úy có bộ răng ám khói, anh cụt tay dân thị xã, các bà, các chị gánh cơm, hai mươi mốt chiến sĩ địch vận, bảy- muơi- tám tù binh và hơn hai trăm người dân Bảo Vinh đã cùng nhau bị quả bom CBU- 55 dìm cho chết ngạt giữa buổi trưa trong xanh…
Họ không thể biết được ở sân bay Tân Sơn Nhất còn một quả như thế nữa, sắp sửa trở thành “đồ cứu trợ của liên hiệp quốc”, như những người lính cộng hoà vừa thoát chết phỏng đoán.



***


Tướng Lê Minh Đảo và bộ chỉ huy xộc xệch của mình đã về tới Long Bình. Ông buồn bã nhìn đám tàn quân của trung đoàn 43 đang chia nhau bố trí lực lượng, đề phòng quân cộng sản tràn ngập. Từ đây, đã có thể quan sát bằng mắt thường, thấy được sự di chuyển của quân đội cộng sản. Không có máy bay ném bom, cũng chẳng thấy máy bay trực thăng để tiêu diệt họ. Đó là điều đau đớn cho một quân đội đã từng được trang bị mạnh nhất thế giới. Bỗng có người chạy vào báo cáo: có máy bay trực thăng đang bay trên đầu. Tướng Đảo ngó ra, chiếc trực thăng sà xuống thấp hơn nhưng không tiếp đất. Từ trên cao, có tiếng loa phóng thanh dội xuống:
- Có quà của tổg thống Trần Văn Hương gởi cho tư lệnh Lê Minh Đảo!
Một cái hộp được ném ra, rồi rơi vun vút xuống đất, đụng vào một ngôi một xi măng, văng đi một quãng. Viên sĩ quan tuỳ tùng bê cái hòm vào để trước mặt chuẩn tướng, im lặng. Đảo hất hàm:
- Mở ra coi…
Chiếc hộp sắt được nạy ra, sau một lớp “bọt biển” là cái hộp bằng sơn mài được khảm chai, lấp lánh. Nhìn cái hộp, Đảo đã đoán biết cái gì trong đó rồi. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức và ra đi với mười- sáu tấn vàng! Nếu đúng như báo chí loan tin, thì tổng thống quả đúng là người “ăn cả cặn”. Và thầy Trần Văn Hương lên làm tổng thống, đã không quên người học trò nhỏ của mình.
Chiếc hộp được mở ra. Một lệnh dụ phong cấp thiếu tướng cho Lê Minh Đảo, một bộ dây tua ngù kim tuyến, một cặp quân hàm, có hai ngôi sao bằng vàng y, và một lá cờ thêu hai ngôi sao, chưa có cán. Đảo thở dài, nói với cận thần:
- Tua ngù, sao, cờ… để làm gì bây giờ?
Tất cả im lặng, một nỗi xót xa dâng đầy.
- Có cái gì uống được không? Tân thiếu tướng hỏi tên út. út chạy đi.
Lại có trực thăng, lần này chở theo những vị tướng của quân đoàn 3. Tư lệnh trung tướng Nguyễn Văn Toàn và chuẩn tướng Trần Quang Khôi, chỉ huy trưởng lực lượng xung kích quân đoàn. Đảo hỏi Khôi:
- Có việc gì thế? Có gì mới không anh?
Khôi lắc đầu:
- Họp bộ chỉ huy với các sư đoàn. Khẩn cấp.
- Sao không thấy Lý Tòng Bá và Lê Nguyên Vỹ?
- Nghe tin Bá tư lệnh sư đoàn 5 bị bắt làm tù binh rồi. Còn Vỹ thì không nghe…
Tướng Toàn nhìn Lê Minh Đảo, cười rộng miệng:
- Chúc mừng anh vừa nhận quân hàm thiếu tướng. Rảnh rang anh em mình để cho anh Đảo khao một chầu chớ, Khôi hả?
Khôi gật đầu, còn Đảo thì vẫn khiêm tốn như lệ thường, nhưng giọng chán nản:
- Thiếu tướng cũng chưa biết xài vào việc gì bây giờ đây trung tướng ơi…
- Bậy nào! Tổng thống Hương ưu ái anh lắm đấy. Vừa mới nhậm chức đã thăng cấp cho anh rồi. Này, có mình anh được vinh thăng ngay trên chiến địa thôi đó nghe. Rồi Toàn cau ngay mặt lại. Thôi, chuyện đó để sau, bây giờ các anh nghe tôi nói đây. Tướng Toàn chỉ vào tấm bản đồ hành quân và ra lệnh:
- Sư đoàn 18 của anh Đảo, bằng những gì còn lại, tiếp tục phòng thủ khu vực Long Bình và kiểm soát xa lộ Biên Hòa. Còn lực lượng xung kích của anh Khôi thì khai triển phòng thủ bảo vệ thành phố Biên Hòa. Toàn bộ lực lượng địa phương quân, nghĩa quân và cảnh sát của tiểu khu Biên Hoà, được đặt dưới sụ chỉ huy của anh. Nghe rõ cả chứ…
Tướng Toàn vừa nói xong, thình lình đại tá Hiếu, trung đoàn trưởng trung đoàn 43 xuất hiện trong phòng họp. Với giọng run run xúc động:
- Trình trung tướng, quân địch đang tấn công Trảng Bom và trung đoàn 43 của tôi đang phải rút quân về hướng Long Bình…
Mặt Đảo cau lại. Còn tướng Toàn vươn cổ hét to:
- ĐM, anh không được chạy, phải đem quân lại vị trí cũ.
Hiếu làm như tuân lệnh, chào và lui ra. Trong thâm tâm, tân thiếu tướng Lê Minh Đảo thừa biết mặt trận phía đông Biên Hoà ở Trảng Bom của sư đoàn ông khó có thể cầm cự nổi vì đã kiệt sức sau các trận đánh lớn ở Xuân Lộc, bây giờ không được bổ sung và bồi dưỡng, thì lấy gì cầm cự? Sự sụp đổ chỉ là vấn đề thời gian…
Coi như giao nhiệm vụ cho Khôi và Đảo xong, tướng Toàn đến bắt tay hai người:
- Hai anh cố gắng, tôi sẽ bay về Bộ tổng tham mưu xin yểm trợ cho hai anh.
Cả hai tướng Lê Minh Đảo và Trần Quang Khôi, không biết được rằng đây là những lời cuối cùng của vị tư lệnh quân đoàn 3. Vài ngày sau đó, ông ta đã lên trực thăng bay ra tá túc trên hạm đội số Bảy của Mỹ neo đậu ngoài biển Đông.
Còn lại hai người, Khôi hỏi Đảo:
- Anh định thế nào?
Lê Minh Đảo nhìn chuẩn tướng Khôi:
- Anh hỏi về chuyện gì? Về quân đội, chắc chắn tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Còn… về gia đình, tôi mới gặp vợ tôi, Bích Liêng lo lắng hỏi tôi nên đi hay ở. Tôi cũng băn khoăn lắm… Theo anh nên thế nào?
- Tôi hả? Trần Quang Khôi trầm tư. Ngay từ hôm tại mặt trận Dầu Giây - Hưng Lộc, tôi đã viết cho một người bạn Mỹ là trung tướng Charles Timmes, phụ tá của đại sứ Martin ở Sài Gòn, đại ý nói rằng: “Tôi và toàn thể quân nhân các cấp thuộc quyền tôi nguyện sẽ chiến đấu đến phút cuối cùng. Tôi chỉ xin trung tướng giúp cho gia đình tôi được di tản đến một nơi an toàn...”.
- ừ, anh thế mà hay. Có lẽ tôi cũng nên bảo vợ tôi đưa các con sang Pháp… ở bển gia đình vợ tôi cũng có công ty, sống được. Chỉ thương các con, con tôi thì đông, mà toàn là gái… Chắc rồi làm vợ cho mấy thằng Tây quá!
Đảo mỉm cười chua chát!


***



Thị xã Long Khánh hoang tàn, nhưng chỉ qua ngày hôm sau, những người chủ mới đã cắm lên nóc dinh tỉnh trưởng lá cờ lớn, đại kỳ, nửa xanh, nửa đỏ, có ngôi sao vàng, ý chí và biểu tượng của công cuộc giải phóng. Hàng ngàn người đã trở về để, trước hết chôn cất những người chết, cả binh sĩ hai bên và dân thường. Sau đó là công việc lập nên một chính quyền mới. Xuân Lộc coi như đã hoàn thành sứ mệnh của mình: sứ mệnh cố thủ và sứ mệnh giải phóng…
Đại đội của Nghiệp được giao nhiệm vụ quay trở vào thị xã, cùng với anh em du kích và bộ đội địa phương thu dọn chiến trường, trấn áp và tiệu diệt những kẻ ngoan cố. Đó là sự phân công của cấp trên, nhưng may sao cũng là mong muốn của anh, và có khi cũng là sự sắp đặt của số phận. Trong khi những đồng đội ỉu xìu vì không được theo đại quân vào Sài Gòn, thì Nghiệp chỉ lặng lẽ ngồi một góc…
Lan! Chắc hẳn thế nào em cũng mừng lắm khi gặp lại anh! Bây giờ em đang ở đâu? Anh sẽ hát cho em nghe và chép cho em thật nhiều bài hát, những bài ca chiến đấu, những khúc nhạc quê hương và cả những bản tình ca dạt dào mùi hoa thơm, cỏ dại…
Em thân yêu nơi đâu, có nhớ tới chăng
Đôi ta năm xưa chung lời hẹn ước
…Màn chiều dần buông xuống,
Gió ngàn vi vu
Lấp lánh đầu thôn, ngôi sao ban chiều( )
Anh chẳng giữ được gì của cô du kích Long Khánh, ngoài cái vị ngọt ngào của nụ hôn dưới làn đạn đan chéo trên đầu. Anh giữ lại tiếng nói, đôi mắt mở to, luôn luôn ngạc nhiên thích thú, và cả nỗi sợ hãi nép vào anh trước cơn hiểm nghèo khi sa vào tay quân thù. Tình yêu là gì, Nghiệp chỉ hoàn toàn nhận được từ trong sách vở, từ trong trí tưởng tượng hơi bất thường của một nhà thơ tương lai.
Khi cất lên tiếng ca gửi về người yêu phương xa
Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba
Em ơi nghe chăng lời trái tim vọng xa
Tan cơn phong ba mặt đất yên rồi đây( )
Nghiệp cứ ngân nga, da diết những lời ca trong đầu, cũng có khi anh hát lên, thành tiếng, thành lời, đứt quãng.
Cả đại đội hùng hục, vật vã với những đổ nát, chết chóc. Xác người được nhận dạng và phân loại. Lính cộng hoà, tất cả đều có tên trên ngực áo, họ lại có cả những tấm thẻ bằng sắt sáng loáng, trên đó có ghi số quân, mã số của từng người. Những ngôi mộ ấy có tên, rồi sẽ có chủ, có người thân… Nghiệp đã thốt lên kinh ngạc:
- Trời ơi! Họ đã chuẩn bị cho người lính rất chu đáo, kể cả cái chết!
Nhưng anh lính giải phóng hoàn toàn vô danh. Anh ta chẳng có gì ngoài bộ quần áo ka- ki còn rất mới, và một cái tên: chiến sĩ giải phóng! Ngoài những ngôi mộ mà anh em trong đơn vị kịp thời chôn cất ngay trong trận đánh, thì hàng hàng lớp lớp những ngôi mộ đều mang một cái tên chung: Chiến sĩ quân giải phóng. Hy sinh ngày 10 - 20 tháng 4 năm 1975. Phải mất nhiều thời gian, và phải thật nhanh lên để tìm lại họ tên, quê quán cho những người chiến sĩ có tên họ, làng quê này, Nghiệp nghĩ. Không biết ai nợ ai, mảnh đất Xuân Lộc - Long khánh này mang nợ máu xương hay những linh hồn vô danh kia chịu ơn lòng đất đỏ Xuân Lộc? Khắp thị xã, Nghiệp tưởng như cả bầu trời và mặt đất mùi hương khói nồng nàn, gay gắt và trầm uất. Đến bữa, dưới cái nắng nung hun đúc, hơi nước, các loại mùi hoà trộn vào không khí, không ai ăn được. Mệt bã người, và lòng dạ thì ê ẩm.
Từ trong nhà ăn, thấy một tốp du kích koác M16 đi ngang qua, Nghiệp chạy ra, hỏi:
- Các đồng chí cho tôi hỏi thăm…
Người đi đầu nhìn anh lính giải phóng với cái nhìn ngưỡng mộ, nhưng cũng không khỏi ái ngại:
- Đồng chí cứ hỏi.
- Trong đội du kích của các đồng chí, có cô gái nào tên Lan không?
Anh chỉ huy đội du kích nghĩ ngợi rồi quay lại hỏi những người cùng đi:
- Lan nào nhỉ? Có ai biết không?
Một người thấp bé, khuôn mặt đanh lại, lặng lẽ:
- Lan ở đại đội chìm ngoài thị xã. Có phải út Lan không đồng chí?
- Phải rồi! Nghiệp nhớ ra đã có lần người ta gọi cô là út Lan. Đồng chí có biết bây giờ cô ấy ở đâu không?
Người chỉ huy du kích ngẫm nghĩ:
- Nếu ở đại đội thị xã thì phải hỏi anh Hoàn, anh ấy là bí thư xã đoàn, kiêm chánh trị viên…
- Thế? Nghiệp vội vã. Các đồng chí có biết tìm anh Hoàn ở đâu không?
Người chỉ huy nói với anh du kích mặt đanh:
- Bích, em đưa đồng chí này tới chỗ anh Hoàn. Anh mới thấy ảnh ở ngoài xã. Anh Hoàn bị thương ở chân, khá nặng nên không đi đâu xa đâu…
Nghiệp theo Bích đến văn phòng uỷ ban nhân dân xã, thấy một người nửa nằm, nửa ngồi, cái chân trái băng to sù, trắng toát.
- Anh Hoàn! Có đồng chí bộ đội hỏi út Lan…
Hoàn lúng túng khó khăn định ngồi dậy, nhưng Nghiệp đã đỡ người bị thương:
- Anh bị thương cứ nằm cũng được.
- Dạ! Cám ơn anh đồng chí. Anh hỏi út Lan phải không?
- Dạ, phải! Tôi quen út Lan hôm cô ấy dẫn đường cho chúng tôi lên đài quan sát pháo binh…
Hoàn cúi xuống nhìn cái chân to xù của mình, giọng có vẻ như hối hận:
- Đúng rồi. Hôm ấy tôi phân công cô ấy dẫn đường cho các đồng chí. Đồng chí cũng đi hôm đó?
- Chúng tôi lên đài rồi bị phản pháo, nhưng cả hai đều không việc gì, an toàn trở về. Bây giờ cô ấy ở đâu ạ?
Hoàn ngẩng lên nhìn Nghiệp, lắc đầu:
- Đồng chí không tìm được út Lan đâu?
- Sao thế ạ? Nghiệp ngạc nhiên.
- Cô ấy… hy sinh rồi!
Nghiệp sững người, anh thẫn thờ dựa khẩu AK vào mép bàn, ngồi xuống cái ghế đối diện với Hoàn. Anh nhìn ra ngoài nắng, như thể chờ đợi Lan đang hớn hở chạy vào. Nhưng anh biết, thế là hết. Là kết thúc một lời hò hẹn. Lúc sau, Nghiệp quay lại hỏi Hoàn:
- Anh có biết cô ấy hy sinh ở đâu không? Tôi có thể đén thăm mộ cô ấy…
Hoàn lưỡng lự:
- Để ít hôm nữa được không?
- Không! Nghiệp lắc đầu. Ngày mai, xong nhiệm vụ ở đây, đơn vị chúng tôi phải di chuyển vào hướng Sài Gòn…
Hoàn nghĩ ngợi một lát rồi nói với anh du kích mặt đanh:
- Bích ơi, cậu có biết nhà ông Bảy Lá dưới chân dốc Ba Nhà không?
Bích gật đầu. Hoàn tiếp:
- Cậu giúp mình đưa đồng chí bộ đội này đến đó nhé. Trong vườn nhà ông Bảy có mấy ngôi mộ chôn anh em bộ đội, trong đó có mộ út Lan… Mỗi nấm mộ đều có biển ghi tên.
- Ta đi, đồng chí…
Bích toan đứng dậy, nhưng Nghiệp vẫn ngồi, anh nhỏ nhẹ:
- Anh chứng kiến sự hy sinh của Lan chứ?
- Tôi với út Lan được phân công dẫn đường cho một đơn vị bộ đội chủ lực chuyển hướng tấn công. Hôm đó trời mưa lớn quá, nên bị lạc suốt đêm. Sáng ra đơn vị bị bọn lính dù đổ quân xuống bao vây. Điện đài hư, không liên lạc được, chỉ huy quyết định cử người thoát ra bắt liên lạc với cấp trên. Chỉ có tôi và út Lan thuộc đường, nhưng tôi thì bị thương, gãy chân… Hoàn chỉ vào cái chân băng bó của mình. Thế là đành phải để út Lan tìm cách thoát ra khỏi vòng vây, nhưng cô ấy vừa đi thì chạm địch, anh em bộ đội phải bò ra đưa cô ấy vô…
Nghiệp nhìn Hoàn bằng con mắt khô cằn, ngây dại:
- Lan đã chết?
- Không, chưa chết mà bị thương rất nặng. Vết thương do một quả đạn M79 nổ ngay dưới bụng, rất nguy hiểm mà đơn vị lại thiếu thuốc. Ngày hôm sau cô ấy ra đi…
Nghiệp theo anh du kích tên Bích đi một quãng xa thì đến chỗ mấy ngôi mộ. Mộ mới chôn lại bị mưa xối mạnh, trôi đi lớp đất trên cùng, trơ ra một vài mảnh vữa tường nhà. Nghiệp đứng lặng trước tám ngôi mộ, mà mộ Lan nằm phía trong, được đặt lên một mảnh tôn có viết chữ “Đặng Huỳnh Lan, du kích Long Khánh”.
- Lan ơi! Anh đã giữ đúng lời hứa, còn em thì lại quên! Em đi như thế không thấy anh buồn sao? Lời con gái như lời con cọp, mới hứa xong, đi một quãng, quệt vào lá cây, là quên hết… Anh bảo em đợi anh kia mà. Đợi anh, anh lại về; Trông chết cười ngạo nghễ! Nghiệp đau đớn mỉm cười. Anh cười một chút nhé, em…
Nghiệp quay lại nói với Bích:
- Đồng chí giúp tôi kiếm được một bó hương, được không?
Bích đanh mặt hỏi lại:
- Nhang phải không?
Nghiệp gật đầu. Được mấy bước chân, Bích ngoái lại:
- Anh cẩn thận đấy, khu này còn tàn quân…
- Không sao! Đồng chí giúp tôi…
Bích vừa đi được chừng hơn trăm mét thì nghe tiếng súng lốp bốp ríu vào nhau. Tiếng M16, cực nhanh! Bích vội quay trở lại thì đã thấy Nghiệp lảo đảo, một tay chống khẩu AK, tay kia chới với bám vào nấm mộ út Lan! Bích lia một loạt AK về phía hai cái bóng đen đang chạy ra phía sau nhà ông Bảy Lá. Một tên ôm bụng, còn tên kia quay lại bắn trả, nhưng đạn bay lên cao. Bích bắn tiếp một loạt nữa, rồi đuổi theo hai cái bóng tàn quân. Lúc sau, Bích quay lại chỗ Nghiệp.
- Anh đến chào em, anh lại phải đi tiếp chặng đường. Thôi em nằm đây với đất mẹ, quê hương. Anh sẽ trở lại với em vào ngày toàn thắng…
Nghiệp vẫn đang miên man trong dòng tâm sự với linh hồn người dưới mộ, thì bỗng anh thấy nhói lên ở sau lưng. Kẻ bắn lén đã nhắm vào lưng anh. Nghiệp thấy mình bị hất tung lên cao, rồi lại bị nhồi xuống, sâu thật sâu. Khi anh bám được vào một cái gì đó, thì lại bị hẫng hụt. Rồi mặt đất như trồi lên, đẩy anh lên cao, rất cao, xa lìa mặt đất. Nghiệp nhận ra mình đang bay về Trời…
Năm ấy, nhà thơ tương lai Bùi Văn Nghiệp sống được ở cõi đời mười- chín- năm, bốn- tháng, hai- mươi- mốt ngày! Mộ của anh được chôn bên cạnh út Lan… Mối tình ấy được bắt đầu bằng nụ hôn khát cháy và họ mãi mãi bên nhau.


***


Bộ chỉ huy chiến dịch Xuân Lộc của quân giải phóng đã nhận định thấy địch có khả năng rút chạy. Khi đường quốc lộ số 1 bị cắt đứt tai ngã ba Dầu Giây, thì lộ số 2 Long Khánh - Bà Rịa là con đường huyết mạch để lực lượng còn lại ở Xuân Lộc rút chạy về Biên Hoà theo trục Long Giao - Phước Tuy - Bà Rịa - Long Thành - Biên Hoà. Con đường này sẽ phải kéo dài thêm ra trên một trăm cây số, so với đoạn Xuân Lộc - Biên Hoà. Đường đã xấu lại đầy nguy hiểm. Tại Bảo Định hai bên vẫn còn giao tranh, nhưng khi lệnh rút quân được ban hành, các đơn vị thuộc chiến đoàn 48 của sư 18 đã bỏ lại nhiều thương binh, không kịp di tản. Vì đối với người còn sống đoạn đường 40 cây số trong rừng cao su là đoạn đường máu phải vượt qua, để về Phước Tuy, còn quan trọng hơn nhiều.
Nhưng, về phía quân giải phóng, ngoài lực lượng địa phương gồm một tiểu đoàn và hai đại đội mới thành lập, được giao nhiệm vụ chốt chặn con đường này, không có lực lượng chủ lực nào. Bộ chỉ huy quyết định đưa một số đơn vị từ Xuân Lộc trở ra truy đuổi ngay trong đêm.
Cả tiểu đoàn của Thạch được lệnh trở ngược ra truy kích bọn địch rút chạy về hướng Phước Tuy, Bà Rịa. Chỉ huy tiểu đoàn quyết định cho đơn vị cắt rừng cao su, chặn đánh địch ở quãng giữa con đường này. Mưa ngập hết các đường mòn. Nước chảy xiết, cuốn theo những mảng lá mục lấp lánh lân tinh. Thành ra, lần cứ theo những vệt lân tinh như một giải Ngân Hà đang cuồn cuộn dưới chân là đúng giữa lòng đường mòn. Nhiệm vụ của tiểu đoàn là cùng với các đơn vị địa phương Xuân Lộc - Long Khánh - Bà Rịa chặn đánh quân địch tháo chạy ở đoàn đường số 2 từ sở Quang Minh đến sở Hoàng Quân. Trên chặng đương dài trên mười cây số này có hai chỗ hiểm là cua chữ S, gần sở Quang Minh và cua chữ C.
Gần sáng, tiểu đoàn đã tiếp cận được lộ số 2, tạm dừng lại cách mặt lộ hơn hai chục mét. Lực lượng đi đầu của địch đã bị chặn đánh bất ngờ, nhiều vũ khí, xe pháo nằm ngổn ngang, vừa cháy, vừa gãy gục. Thạch thấy trời đã ngớt mưa, anh cởi bỏ áo mưa và cảm thấy cái lạnh lùa vào trong ngực áo. Xung quanh, mọi người cùng làm theo, có người vội vàng ném cả áo mưa đi. Đột nhiên, một quầng sáng xanh lét kéo theo một tiếng nổ xé tai và mùi cháy khét lẹt bao trùn toàn tiểu đội. Mở mắt ra đã thấy lố nhố mũ sắt trước mặt. Thế là trung đội trưởng hô “Xung phong!”, Thạch bật dậy, khẩu AK dưới tay anh rung lên, vỏ đạn bay lách cách rơi vào những cái chén mủ treo dính vào cây cao su. Thế rồi lửa cháy, bùn đất văng lên tối mặt. Mặc! Thạch cứ nương theo những cây cao su, hướng nòng súng một cách áng chừng về phía quân địch, mỗi khi nhìn được, nhờ ánh sáng loé lên từ đầu nòng một khẩu súng nào đó. Phía bên kia đạn cũng nhấp nhoáng như pháo hoa, nổ tung toé.
Bỗng một quả đạn M79 nổ chát ngay sau lưng Thạch, ấn anh ngã dúi xuống, nằm soài ra đất. Thạch thấy cả hai chân mình mất cảm giác, như người ngồi xổm bị tê chân. Anh lùa tay xuống thì chạm phải những thứ gì đó, lấy nhầy, lạo xạo. Thạch đưa lên mũi ngửi nhận ra máu của mình, nhờn nhờn giữa mấy ngón tay. Cố nhích lên tí nữa thì… đau quá! Đau buốt xông lên đỉnh đầu, làm Thạch vật ra. Cơn choáng ào đến, khiến Thạch bất tỉnh…
Khi Thạch tỉnh lại, xung quanh im ắng, thỉnh thoảng, ở đâu đó vẳng lại tiếng tằng tằng của súng, nhưng rất mơ hồ, xa thẳm. Lúc này cơn đau đã không còn dữ dội, nhưng làm kiệt hết sức lực người lính trẻ. Anh lần xuống, và thử nhìn thấy một bên chân mình dập nát, bàn chân có chiếc dép cao su xoay ngược trở lại, gót chân đã xoay hướng ra phía trước, năm ngón chân thì ngược lại, quay về đằng sau. Còn chân kia vẫn nằm đúng hướng như từ thuở mẹ sinh ra Thạch, nhưng chiếc dép không còn. Nhìn bàn chân mình lúc này trắng toát và cứng đờ như bàn chân nhựa của ông thợ sửa giày, mà khi còn ở bên Trung Quốc, Thạch đã thấy…
Lại trớ trêu! Thạch chua chát nghĩ! Lại cô độc, nhưng lần này mối nguy hiểm lại đến từ phía khác. Anh có thể mất nhiều máu và nằm chết tại đây, trong rừng cao su xa lạ, mà không hề có ai biết. Anh nhớ đến Nghiệp, đến cái lần gặp nhau trong sân bay Long Khánh. Cái thằng vẫn thế, vẫn già trước tuổi và đa cảm. Chia tay nhau vừa vui, vừa bịn rịn. Nó quay lưng đi mà vẫn còn ngoái lại. Một nắm tay giơ lên và nụ cười kiêu ngạo. Thạch trở về với trung đoàn, để rồi ngay sau đó về tiểu đoàn nhận nhiệm vụ mới. Nghiệp ơi, mày ở đâu? Và thằng Trí nữa, hôm chia tay nhau ở Lộc Ninh, Thạch lên trung đoàn bộ Trí ở lại tiểu đoàn. Trong trận này, nó cũng ở đây, nhất định thế. Cứ theo lời Nghiệp kể lại, liệu nó có biết và có gặp được người anh trung tá nguỵ binh của mình không?
Và Nhiên! Cái ý nghĩ sau cùng và dai dẳng nhất của Thạch vẫn là Nhiên. Em có hai bím tóc dày và dài, rất hợp với bộ quân phục, trên ve áo có hai mảnh phù hiệu đỏ tươi hình bình hành. Em luôn hiện ra với anh vào những lúc hiểm nghèo nhất của đời anh… Em nhập ngũ, em làm cơ yếu? Em có vào Nam không? Cơ yếu thì đi đâu nhỉ, lại con gái nữa? Nhưng biết đâu! Biết đâu anh qua được đoạn đường hoạn nạn này!
Thạch thấy khẩu AK của mình vẫn nằm bên cạnh, trong tầm tay với, mũi súng cắm sâu vào đất. Anh kéo khẩu súng lại gần, nâng lên thấy khoá nòng vẫn mở. Thạch nghĩ có thể bắn lên ba viên, tín hiệu cấp cứu, đồng đội sẽ nghe thấy và đến tìm anh.
Nghĩ rồi, Thạch nằm ngửa, tỳ báng súng lên ngực, định bóp cò, chợt anh nghe có tiếng rên. Lúc đầu, nghe không rõ, bởi tiếng rên hoà lẫn vào tiếng rì rầm của gió, của xe cộ ầm ì ngoài xa. Thạch hạ súng xuống, nhìn ra mặt đường, bóng tối hãy còn lờ nhờ, không có bóng người hay xe cộ. Xung quanh đây chắc chắn chưa yên ổn. Tiếng súng AK của Thạch chưa chắc đã là tín hiệu kêu cứu mà có thể lại là mục tiêu cho địch kéo đến.
Bây giờ thì tiếng rên rõ dần, lại kèm theo cả những tiếng động lịch bịch, lạch cạch nữa. Trong bóng lờ mờ của buổi sáng hồng hoang, Thạch nhìn thấy một bóng người vật vờ, lảo đảo, vừa lần theo những cây cao su xù xì, có lúc hụt tay, mất đà, anh ta lại bò quềnh quàng ra đất. Một tên lính, Thạch cảnh giác chuyển hướng nòng sung về phía cái bóng. Nhưng, Thạch nhận ra: anh ta bị mù! Hai chân lảo đảo, hai tay quờ quạng về phía trước, miệng không ngớt rên rẩm.
- Ai? Dừng lại! Thạch hô lên, tiếng hô nhỏ nhưng đanh.
Tức thì cái bóng đổ vật xuống, cất lên tiếng cầu xin:
- Đừng bắn! Xin đừng bắn! Tôi bị trúng thương…
- Anh là ai? ở đơn vị nào?
- Dạ… thưa… tôi là Tân, trung uý Tân ở tiểu đoàn 3…
Một sĩ quan nguỵ! Thạch thở dài:
- Anh bị thương thế nào?
- Dạ mù, mù hết mắt rồi. Đừng bắn… Vậy, anh, à ông… ông là ai?
Thạch ngần ngừ, rồi quyết định:
- Tôi là quân giải phóng đây!
- Hả? Trung uý Tân lại sụp xuống, hướng mặt về phía Thạch. Im lặng một lúc, dường như cơn hoảng sợ đã qua, Tân rên rỉ. Anh giải phóng ơi, tôi bị thương, tôi mù hết hai con mắt rồi. Hãy bắt tôi, hãy cứu tôi… Chiến tranh mà, chúng ta đều có lỗi…
- Đừng nói nữa, anh lại đây!
- Không mà! Tôi đâu còn nhìn thấy gì nữa…
- Anh cứ theo tiếng tôi nói, lại gần đây. Lại đây… lại đây… Thạch lên tiếng làm hiệu cho trung uý Tân. Trung uý luôn miệng “hả, hả, dà, dà…”.
Khi Thạch nắm được bàn tay trung uý Tân, cái bàn tay lạnh toát, nhũn ra:
- Anh ngồi xuống đây. Đừng sợ!
- Dạ, tôi cũng nghĩ thế. Có lẽ tôi đã được cứu sống. Nhưng còn đôi mắt của tôi… Hà hà… Tân lại rên.
Thạch nhìn vào đôi mắt của trung uý Tân, không biết quả đạn tàn phá thế nào mà một bên mắt của anh ta cháy đen, còn mắt kia thì lòi ra, tròng mắt hình tròn như quả nhãn thối, dính lủng lẳng, đeo tòn teng bằng những sợi gân trắng hếu, chỉ chực rơi xuống. Thạch rùng mình:
- Tôi là quân giải phóng, tôi cũng bị thương. Vết thương ở chân đau lắm, không đi được…
Tân nắm lấy tay Thạch, anh cảm thấy bàn tay đã có chút sinh lực:
- Anh giải phóng này, liệu có ai đến cứu chúng ta không?
- Chắc chắn là có.
- Chúng tôi triệt thoái, các anh truy đuổi. Chỗ chúng ta đang ngồi đây là đất của các anh hay của chúng tôi…?
Thạch đau lắm mà cũng phải cười:
- Của người Việt Nam? Cũng có nghĩa là của anh và của tôi.
Nghe câu nói có vẻ triết lý của Thạch, trung uý Tân thì thầm:
- Anh là cán bộ chánh trị, là sĩ quan chiến tranh tâm lý?
- Không, Thạch cười, tôi chỉ là anh lính thôi.
- Vậy hả? Tôi là sĩ quan tâm lý chiến. Ôi mà thôi… tôi bị mù, tôi thành phế binh rồi…
Nghe giọng nói của anh ta, Thạch nghĩ, nếu còn nguyên hai con mắt, chắc chắn anh ta sẽ khóc, cũng sẽ có những giọt nước mắt ứa ra, nhưng không phải cái cục màu trắng đục này.
Trung uý Tân quả là đang khóc cho số phận hẩm hiu của mình. Khi trung tá Bình tiểu đoàn trưởng cho tập hợp tất cả các sĩ quan trong tiểu đoàn, và tuyên bố:
- Cuộc chiến do người Mỹ tiến hành ở Việt Nam là một cuộc chiến vô đạo lý, nó đã lôi kéo hàng triệu thanh niên Việt Nam tham gia vào đội quân để đánh lại nhân dân, đánh lại những người Việt Nam chúng ta vì lợi ích của nhà cầm quyền Mỹ và những nhận vật mang tiếng là chánh nghĩa quốc gia nhưng thực chất là tay sai cho người Mỹ. Chúng ta chiến đấu cho cái gì? Nếu không phải là quyền lợi của những nhân vật chóp bu, ngồi mát, hưởng thụ bằng tiền của Mỹ mà anh em binh sĩ phải đổi bằng máu?
Các sĩ quan trong tiểu đoàn có người ngạc nhiên, nhưng phần lớn hiểu rằng, kết cuộc của tiểu đoàn cũng sẽ đến hồi như thế này. Bấy lâu nay, các sĩ quan thấy vị chỉ huy của mình là một người tốt bụng, thương lính, không muốn anh em binh sĩ và sĩ quan trong tiểu đoàn của mình phải đổ máu. Những cuộc hành quân vào vùng cộng sản hoặc giao chiến với quân giải phóng, trung tá luôn biết lựa thời cơ để sao cho không dẫn đến đụng độ , tàn sát.
- Bây giờ, tôi xin thưa với anh em: Xuân Lộc là chốt phòng thủ cuối cùng, là lá chắn cuối cùng của Sài Gòn, đã lọt vào tay quân giải phóng. Vậy thì, Sài Gòn còn được bao nhiêu lâu nữa để anh em chúng ta phải đổ máu? Tôi cũng như anh em, vợ con, cha mẹ, người thân đang ở trong đó. Nhưng tôi tin rằng họ cũng không mấy tin tưởng ở thắng lợi của ông Thiệu, hay ông Kỳ, ông Hương… hay bất kỳ ông nào đi nữa. Người Mỹ với hàng trăm tỷ đô la, hàng vạn binh lính sĩ quan đã bỏ mạng, với những loại vũ khí cực kỳ tối tân… mà cuối cùng cũng phải rời bỏ nơi này, cuốn cờ về nước. Thế thì, chúng ta làm sao chịu nổi cơn giông cách mạng?
Có một vài người cựa quậy, định đứng dậy, trung tá nhìn họ, nghiêm giọng:
- Các anh em nên nhớ, giờ phút này, tôi vẫn là chỉ huy trưởng, người có quyền lực cao nhất ở đây. Ai chống lại ôi, xin đừng trách. Các anh để tôi nói hết rồi sau đó tuỳ ý các anh. Vậy tôi tuyên bố: từ giờ phút này tôi sẽ đem tiểu đoàn về với cách mạng. Ai không tuân lệnh, tôi cho phép rời tiểu đoàn, nhưng không được chống đối lại tôi. Còn ai tâm huyết với tôi, có cùng suy nghĩ với tôi, xin hãy đi cùng tôi. Kể cả binh lính và các hạ sĩ quan, cũng vậy. Các anh có thể đi được rồi…
Trung tá ngừng lời, đưa mắt nhìn toàn ban chỉ huy và các đại đội trưởng. Có hai người đứng dậy, bỗng từ trong góc lều, một sĩ quan đứng dậy, đó là đại uý Tường, hét to:
- Trung tá đã phản bội, đã bán rẻ chúng tôi! Đù má…! Tường vừa giận dữ hét toáng lên vừa rút súng ra, lập tức bên cạnh đó có người rút súng dí vào đầu hắn. Người vừa dí súng vào đầu Tường là đại uý Phong. Phong nhìn trung tá, như muốn hỏi: “Xử chứ, trung tá?”.
Trung tá Bình lắc đầu:
- Đại uý Phong để cho đại uý Tường được tự do. Chúng ta không nên đổ máu vô ích. Đại uý Tường chắc chưa hiểu lời tôi: tôi không bán đại uý cho ai hết, nếu đại uý không thích theo tôi thì đại uý cứ đi chỗ khác, hoàn toàn tự do.
Hai viên đại uý cùng tra súng vào bao, đại uý Tường lặng lẽ đứng dậy, ra ngoài. Trung uý Tân nhìn ông trung tá thầm nghĩ: bấy lâu nay mình vẫn có ý nghi ngờ ông ta, thấy ông ta không giống những tiểu đoàn trưởng khác. Nhưng thấy giữa trung tá Bình và chuẩn tướng tư lệnh có mối quan hệ thân thiết nên không dám theo dõi, báo cáo. Té ra, ông ta đã là người của cộng sản. Nhưng mà, Tân thấy khó lý giải, nhưng mà người cộng sản như trung tá Bình, thì chẳng hoá ra những điều tâm lý chiến nói bấy lâu nay đều láo khoét hết hay sao? Tân lại nhớ đến những lúc khó khăn, anh muốn về qua nhà, hay có công chuyện gì, trung tá sẵn sàng cho mượn xe, lại còn ký cả sự vụ lệnh cho mình đi việc cá nhân. Hay có những lần, thấy nguy hiểm, ông ta cũng không bắt mình phải hứng chịu…
Nghĩ thế nhưng dù sao, Tân vẫn không thể theo trung tá về với cộng sản. Anh lẳng lặng đứng dậy, cùng với ba hay bốn sĩ quan… Ra bên ngoài, đã thấy một tốp lính tay súng lăm lăm, đứng vây quanh lều chỉ huy. Họ nhìn Tân và những sĩ quan bỏ đi bằng cái nhìn khinh khi, không còn cái vẻ nể trọng, khúm núm như trước nữa. Trung uý hiểu đó là những người tâm phúc của trung tá! Tân vừa đi vừa chạy về lều của mình, đi qua mấy đại đội, thấy binh lính đều trong tư thế sẵn sàng hành quân. Họ cũng là người sẽ theo trung tá.
Vừa về tới lều, Tân thấy hạ sĩ nhất Cường đứng bật dậy:
- Tình hình sao rồi, anh Hai?
Cường là người có họ hàng xa với gia đình Tân. Từ sau khi anh Tuất chết thảm thương, được trung uý xin với trung tá tiểu đoàn trưởng lôi từ đại đội chiến đấu lên tiểu đoàn làm sự vụ. Nó là một thằng lính khôn ngoan, chịu khó và trung thành.
- Trung tá đem tiểu đoàn ra hàng cách mạng rồi. Mày có đi theo ổng thì đi.
Thằng Cường nhìn Tân, bằng đôi mắt trung thành:
- Trung uý đi đâu em đi đó!
- Vậy hả? Tân không nhìn Cường, mà ngó ra ngoài nắng, phía bên đại đội ba đã có những toán đeo ba lô, vác súng đi ngược ra phía đường lộ.
- Trung uý có đi với trung tá không? Cường sốt ruột hỏi.
Trung uý Tân quay lại, đến sát trước mặt Cường, giọng thì thào nhưng gay gắt:
- Muốn chết hả? ổng là người của cách mạng, có ra hàng cũng được đối xử tử tế. Còn tao với mày, đã là lính cộng hoà lại theo đạo Chúa…
Thằng Cường rùng mình, lắc đầu. Đêm ấy hai thầy trò cùng với khoảng gần một trăm người vừa lính, vừa quan đi ngược ra hướng Bình Lộc, tìm trung đoàn để trình diện. Nhưng chưa tới nơi thì nghe trung đoàn đã được lệnh triệt thoái. Hàng trăm con người, đủ các cấp bậc, chức vụ, không chỉ huy, như rắn không đầu đều hè nhau cắt rừng cao su đổ về hướng Phước Tuy, đuổi theo trung đoàn.
Giữa đêm mưa gió ào ào như lũ tràn thì gặp đối phương. Không có người chỉ huy, mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy bắn, có khi bắn cả vào nhau mà không biết. Tân dắt Cường chạy qua một ngôi nhà chủ sở, thấy có nhiều xác chết và người bị thương, nhưng không biết đơn vị nào. Bỗng hai thầy trò bị chặn lạ bởi những tràng đại liên, tành tạch, rồi đạn M79, đạn phun lửa bay tới tấp vào họ. Tân và Cường nằm lăn trên một mô đất, nín thở. Không biết quân bên nào mà bắn rát quá, Cường thì thào. Tân hô: “Chạy!”, rồi lao lên. Đúng lúc đó, một quả đạn cối nổ ngay trên cành cây cao su, chỉ nghe “Toác!” một tiếng, Cường thấy Tân lăn ra, hai tay ôm mặt, giãy giụa, rồi nằm bất động. Cường sợ quá, thấy trung uý đã chết, co giò phóng lên. Tên hạ sĩ cứ thế đâm bổ ra đường. May mắn thế nào, nó thấy một chiếc xe Honda dựa bên cạnh một người đàn ông nằm văng ra cạnh đó mấy thước. Cường nhìn quanh, nhận ra sở Hoàng Quân, hắn quẳng súng, đạp máy, đến cái thứ tư hay thứ năm gì đó, chiếc xe lịch bịch vài tiếng rồi nổ giòn. Cứ thế, Cường nhằm hướng Long Khánh phóng bừa đi trong ánh chớp của mưa, ánh đạn pháo nổ đì đoành đây đó…
Suốt mấy đêm, không đem nào Thu Trang ngủ trọn giấc. Những cơn ác mộng ban đêm không trùng khít với những gì ban ngày xảy ra, nhưng nỗi hốt hoảng lo âu thì thật không khác gì nhau. Được cái khu gia binh mà nàng và bà má chồng kiên định ở lại tưởng như bị tàn phá, nhưng vẫn yên lành. Khi lính sư đoàn và lính tiểu khu rút đi, những người lính cộng sản có đi ngang qua, nhưng họ không tra hỏi gì, thậm chí có lúc họ cũng chẳng nhìn vào nhà. Hai mẹ con, hai người đàn bà và một lũ con nít vừa lo âu sợ sệt lại cảm thấy hình như cũng không đến nỗi quá lo lắng như lâu nay họ vẫn nghĩ. Bà mẹ không ngừng cầu nguyện cho con trai thoát nạn.
Vào lúc sáng sớm, Thu Trang nghe tiếng gọi cửa. Lúc đầu nàng nghe mơ hồ, tưởng tiếng gọi của chồng, nhưng sau nghe thấy không phải của Tân gọi. Nghe tiếng quen không biết ai. “Chị Hai ơi, mở cửa cho em với”. Ai cũng được, Thu Trang vặn lớn ngọn đèn rồi nhắc thanh chắn cửa ra. Trời ơi, Cường!
- Vô nhà đi, Cường!
- Chị Hai ơi, anh Tân chết rồi!
- Hả? Thu Trang chỉ hỏi được một câu như thế, rồi tựa hẳn người vào cửa bếp, thở từng hơi, khó nhọc. Nàng ngoảnh lại thấy khuôn mặt bà mẹ chồng trắng bệch.
- Nó chết ở đâu, hả con?
Cường thuật lại nhanh chóng câu chuyện hai thầy trò cắt rừng, rồi đụng độ. Cho đến khi Tân trúng đạn nằm giãy giụa rồi… bất động. Nó còn dặn:
- Phải đi tìm gấp nếu không người ta sẽ lấp xác anh vào một hố chôn tập thể, lúc đó thì quá muộn…
Cường hỏi xin một bộ quần áo thường phục của Tân để thay bộ đồ lính, rồi quay lưng ra đi. Thu Trang nói với mẹ chồng bằng một giọng đầy nước mắt:
- Con phải đi tìm anh Tân!
Bà mẹ không dám để con dâu đi, ngăn lại:
- Biết ở đâu mà tìm? Đất trời hãy còn bom đạn thế kia…
- Không còn sợ gì nữa, đời người chỉ một lần chết, có chết con cũng phải đi lấy được xác anh Tân về…
Bà cụ nhắc lại:
- Biết ở đâu mà tìm? Thôi thế thì hai mẹ con cùng đi…
- Không được! Mẹ đi nguy hiểm lắm. Để mình con đi. Có chuyện gì mẹ còn lo cho các cháu… Chứ đi cả hai mẹ con thì chúng nó ở nhà sợ lắm, có bề gì biết trông vào ai. Nàng kiên quyết khoác thêm tấm áo, lấy trong tủ ra một xấp tiền.
Thu Trang vừa khóc sụt sùi, vừa đón xe. Không có xe, mãi sau Thu Trang mới kiếm được một chiếc xe lam. Người tài xế còn đang ngần ngừ, sợ chỗ ấy đang đánh nhau, thì nàng đã dúi vào tay ông một nắm tiền. Chiếc xe ba bánh nổ máy bành bạch, chạy về hướng lộ số 2.
Theo lời chỉ dẫn của Cường, chiếc xe lam đã đến nơi vừa xảy ra chiến trận. Tiếng đạn bom vẫn còn nổ vang rền ở phía xa xa. Nơi đây mùi thuốc súng còn nặng, nhà cửa tan hoang, cây cỏ dập nát, quân trang, quân dụng, ba lô, đạn dược và lương khô rơi vãi đầy mặt đất. Vài khẩu pháo 105 ly mất bánh xe nằm ngã nghiêng; xác mấy chiến xa M113 và M40 thuộc lữ đoàn 5, một đơn vị thiết giáp đóng cạnh khu gia binh, bị thủng đạn cháy đen ngòm. Mùi khét của thịt xương bị cháy và dầu ma- dút còn bốc ra nồng nặc. Vài chiếc GMC đầy vết đạn lật chỏng gọng hai bên đường để trơ những bánh xe dính đầy bùn. Xác các binh sĩ chết trận đen đủi nằm rải rác dọc đường, hình thù biến dạng, có người chỉ còn một khúc mình, người khác thân hình bị gãy làm đôi trông thật khủng khiếp. Một vài khúc tay, khúc chân tím đen cùng những chiếc giầy nằm giữa đám cỏ vô tri. Ruồi nhặng từ đâu bay đến bu đen các xác chết. Khu vực này âm u đến rợn người. Thu Trang vừa bịt mũi vừa giở những mảnh vải dơ bẩn được xé ra từ áo quần, pông- xô (ponchot), thậm chí bao cát… phủ trên mặt người chết. Không biết ai đó còn đủ thì giờ để làm việc nhân đạo này trước khi bỏ đi, dầu sao nàng cũng thầm cảm ơn những người đó.
Sau khi giở khoảng bốn năm mảnh vải trên mặt người chết, rồi lật những xác người còn nằm nghiêng, nằm xấp, không thấy xác chồng, Thu Trang tuyệt vọng, vừa chạy trong rừng cao su, tay vịn từ cây này sang cây khác, thành một đường dich- dắc vô định.Vừa chạy, Thu Trang vừa gọi tên chồng. Lúc đầu nàng còn gọi thầm thì, sau rồi tiếng gọi to dần, trộn cùng tiếng khóc:
- Anh Tân ơi! Anh ở đâu?
Cứ thế, tiếng gọi hoà vào tiếng ve mùa hạ rộ lên từng chặp.
Trong khi đó Tân dìu Thạch ra gần đường lộ. Họ hy vọng có người đi qua cứu giúp. Cả hai đang ngồi dựa lưng vào một gôc cây cao su, Tân bỗng ngồi thẳng dậy, nhóng tai:
- Có người gọi tên tôi…
Thạch cũng nghe thấy tiếng gọi, và anh nhận ra người đang bị mù hai mắt, có cái tên trên ngực áo là Tân.
- Hình như tiếng vợ tôi… Đúng rồi! Tân ngửa cổ gào lên: “Anh ở đây! Thu Trang ơi…!”
Thạch nhìn thấy người đàn bà chạy lại, vừa chạy vừa hốt hoảng gọi tên chồng. Mấy lần chị bị ngã, rồi lại vùng dậy, chạy bằng cả sức lực dường như rất yếu đuối của mình. Khi chỉ còn cách nhau độ hai ba tầm tay, nhận ra đúng là chồng mình, Thu Trang định nhào tới nắm lấy hai bàn tay của trung uý Tân đang huơ ra phía trước. Bỗng nàng sững lại. Thu Trang đã nhìn thấy Thạch và khẩu AK, nàng ôm lấy ngực: “Trời ơi, quân cộng sản”, rồi vội quỳ xuống:
- Đừng bắn! Đừng bắn! Xin ông đừng bắn…
- Thu Trang ơi, em đâu rồi? Tân vẫn rên rẩm.
Thạch lên tiếng:
- Chị dừng sợ. Tôi là quân giải phóng đây, có gì mà sợ. Tôi cũng bị thương…
Thu Trang chợt nghĩ đến những người lính cộng sản đang đóng quân trong thị xã, họ cũng đâu đến nỗi nào. Nàng thấy yên tâm hơn, lết đến nắm tay chồng:
- Anh đây rồi!
Tân cũng reo lên:
- ừ, anh đây. Em làm sao biết anh ở đây?
- Thằng Cường chạy về báo tin. Chúa ơi! Nó nói anh bị trúng đạn, tử thương rồi.
- Vậy là nó tưởng anh chết rồi nên mới bỏ chạy. Thôi thì cũng phải cám ơn nó đã báo tin cho em biết. Tân quờ tay về phía Thạch. Anh bộ đội cộng sản này nói đúng đấy. Anh ta cũng bị thương… Tụi anh đã bắn nhau, đã gặp nhau. Thì đúng là anh đã chết rồi. Nhờ có anh bộ đội này an ủi, tụi anh đã lần mò đi ra tới đây… Em!
Thạch thấy cần phải nói:
- Anh trung uý, anh đã gặp vợ anh rồi. Anh chị về nhà đi. Chị chạy chữa cho anh, nhanh lên không hỏng mất đôi mắt…
- ừ, thôi ta về nhà đi anh. Thu Trang cúi xuống đỡ chồng đứng lên.
Thạch buông tay khỏi vai trung uý Tân:
- Anh chị đi may mắn, nhớ cảnh giác. Rồi anh khuỵu xuống, nhìn hai vợ chồng người ttrung uý dìu nhau đi.
Nhưng được vài bước chân, Tân ngoái lại, nói với vợ:
- Không được! Không thể anh ta chết ở đây được. Anh ta bị thương nát hết hai chân rồi… Em phải đưa anh ta về nhà để chữa vết thương…
Thu Trang ngần ngừ: “Nhưng anh ta là cộng sản”.
Tân bỗng trở nên cáu gắt, quát vợ:
- Cộng sản hay quốc gia gì lúc này nữa? Ai thì cũng là con người, cũng thịt xương Việt Nam, cũng bị một trái M79 của Mỹ nó hất tung bọn anh lên. Lẹ lên em! Em phải cứu anh ta!
Thu Trang để chồng đứng lại một mình, chạy tới nói với Thạch:
- Anh… anh đi với chúng tôi. Về nhà tôi sẽ băng vết thương cho anh.
- Chị không phải lo cho tôi, cứ đưa anh ấy về đi. Tôi tự biết phải làm gì…
- Không, anh chiến sĩ giải phóng kia! Tân vẫn giữ giọng cục cằn. Anh phải đi với chúng tôi. ở đây bọn tàn binh còn nhiều lắm, cả bọn hôi của nữa. Lát nữa trời sáng tụi nó kéo đến, anh làm sao mà chống nổi…
Thu Trang quỳ xuống xốc Thạch lên. Thạch bám vào vai Tân. Ba người đi theo một vệt dài đổ bóng nắng ban mai… Những tia nắng đầu tiên của một ngày nắng đẹp.
Chiếc xe lam ra đến quốc lộ số Một, Thạch đề nghị:
- Chị để cho tôi xuống đây, thế nào cũng có quân giải phóng đi qua. Họ sẽ giúp tôi, không phải phiền đến anh chị.
- Sao anh? Thu Trang hỏi chồng.
Tân quay sang Thạch, một cái tròng mắt vẫn tòn teng, lúc lắc, bây giờ sưng to lên như trái chôm chôm đã lột vỏ:
- Anh muốn xuống chỗ này cũng được… Từ biệt nhé, liệu có khi nào chúng ta còn gặp lại nhau nữa không? Tôi tên Tân, còn anh?
- Tôi là Thạch. Tôi biết tên anh rồi, anh trung uý ạ. Tôi tin là chúng ta sẽ có ngày gặp lại nhau!
Người tài xế cùng với Thu Trang dìu Thạch xuống vệ đường, rồi họ vội vã cho xe chạy về hướng Long Khánh.
Thạch cảm thấy mình là người may mắn. Đôi chân gần như không còn đau, máu cũng không chảy, nhưng có cái gì căng căng, nằng nặng dưới bắp chân. Thạch thử luồn tay vào nhưng không được. Cần phải cắt cái ống quần này, Thạch nghĩ. Bỗng dưng mặt đường như rung lên, rầm rập. Một đoàn xe tăng ầm ầm chuyển động, thỉnh thoảng lại rú ga, vọt lên. Cái cần ăng ten trên nóc gật gù, cùng với người lính ngồi sau khẩu trọng liên như pho tượng. Tiếp theo là những chiếc xe vận tải đủ loại, nhiều nhất vẫn là xe GMC, do Mỹ sản xuất, phụt khói đen lên trời. Trên thùng xe cắm lá nguỵ trang, chở đầy những người lính, áo xanh tô châu loang loáng, mũ cối gắn quân hiệu sáng ngời… Tất cả chạy theo một chiều về hướng tây, hướng Sài Gòn!
Thạch cố rướn người lên vẫy, nhưng không có chiếc nào dừng lại. Họ đang đi trong đội hình hành tiến, không ai chú ý đến anh. Thạch ứa nước mắt, vết đau dưới bắp chân bất đầu nhức nhối. Trên con đường thiên lý - quốc lộ số Một, xe vẫn không ngừng lao tới, ào ào như giòng thác cuộn… Thạch đã bị bỏ quên, anh đau đớn nghĩ.
Rồi, bỗng dưng, xen vào đó một đoàn xe con lao tới, lần này Thạch ngồi xuống, cố lết ra lòng đường, tay cầm AK giơ lên, tay kia huơ huơ chiếc mũ. Một chiếc xe con chạy chầm chậm, rồi dừng lại, vượt quá chỗ Thạch ngồi hơn chục thước, theo quán tính. Thạch cố gượng dậy, từ trên xe, một anh bộ đội đã đứng tuổi nhảy ra. Ông ta cúi xuống nhìn Thạch, có vẻ cảnh giác:
- Đồng chí bị thương?
Thạch gật đầu:
- Cho tôi đi nhờ đến một trạm quân y nào gần nhất…
- Đồng chí ở đơn vị nào?
- Quân đoàn 4! Chúng tôi vừa đánh Xuân Lộc, rồi truy đuổi khi địch rút chạy…
Người cán bộ đứng lên nhìn quanh, rồi lại nhìn về phía chiếc xe com- mang- ca, ra chiều nghĩ ngợi. Thạch nhìn nét mặt ông ta, có vẻ gì như băn khoăn. Bỗng từ trên xe một cô gái nhảy ra, chạy đến chỗ Thạch. Cô gái cũng mặc quân phục, hai miếng nỉ phù hiệu đỏ chói có sợi vải vàng với một ngôi sao nhỏ, cấp bậc hạ sĩ trên ve áo, hai bím tóc dài và nặng hất lên theo mỗi nhịp chạy. Còn cách Thạch một khoảng ngắn, cô gái bỗng đứng sững lại, khuỵu xuống. Cái miệng nhỏ xinh xắn, đôi môi nghiêm nghị, lắp bắp:
- Ôi… anh Thạch! Anh? Anh phải không?
Người con gái đó là Nhiên! Phan Thị Hồn Nhiên! Cô cơ yếu của Bộ tư lệnh cánh quân phía Đông.


Thành phố Hồ Chí Minh
2003 - 2004


0