<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-07 02:05:30Phung_Hoang>
CHƯƠNG BA
3 giờ sáng, ngày 28 tháng Ba năm 1975, sân bay Tân Sơn Nhất.
Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hoà, đại tướng Cao Văn Viên trong bộ lễ phục chỉnh tề, bốn bông mai vàng lấp lánh trên ve áo, tua ngù vàng ánh tuôn thẳng xuống bộ ngực chi chit mề- đay, toàn thân cứng ngắc như một cây cột đá trong vườn treo Pabillon, trắng toát, đờ đẫn trong phòng đợi. Hai phút sau, chiếc máy bay Beoing của Hãng hàng không Panam xuất hiện trên đường băng, nó từ từ lượn một vòng rồi tiến sát vào nhà ga. Đại tướng quay lại mỉm cười với Đồng Văn Khuyên đang đi sát ngay sau:
- Vị cứu tinh của Quân lực đã tới!
Là trung tướng Tham mưu trưởng cơ quan Bộ tổng tham mưu, người làm tham mưu cho tham mưu này vốn được tiếng là nhã nhặn, ga lăng và mưu sâu kế hiểm, và vì thế, Đồng Văn Khuyên là người nổi tiếng vì được vinh thăng quân hàm “nhanh đến chóng mặt”. Có lần trung tướng Đặng Văn Quang, tức Quang Mập, cố vấn an ninh của tổng thống đã nói: thằng Khuyên “há miệng chờ sao”. Tất nhiên, không ai bắt được một lỗi nhỏ nào của trung tướng, ngược lại tướng Khuyên còn được các tướng lĩnh phong cho biệt danh “tiểu Tào Tháo” của quân lực. Tuy nhiên, ở bên cạnh “ông tướng Bắc kỳ” này, Tào Tháo nhỏ rất khó nắm bắt được suy nghĩ của sếp, cũng như ý nghĩa trong mỗi câu nói của đại tướng. Rất ít khi hai người ngồi riêng và nói về những vấn đề riêng tư. Đại tướng ra lệnh nhỏ nhẹ, vừa phải, đủ to để thị oai, nhưng cũng vừa nhỏ để thân mật. Nếu cấp dưới nghe không rõ, thì đó là lỗi của cấp dưới, đại tướng đã nói vào tai rồi còn gì? Trong rất nhiều trường hợp Đồng Văn Khuyên không biết đại tướng nói chơi hay nói thiệt, nhất là khi ông vừa nói vừa mỉm cười, như vừa rồi. Tướng Khuyên lại phải cố hiểu. Lát sau Khuyên cũng cười:
- Thưa đại tướng, tôi nghĩ “cứu tinh” của Quân lực Việt Nam không phải ở trong chiếc phi cơ kia đâu ạ. Mà là…
Viên hiểu ngay câu nói của Khuyên, dù trung tướng bỏ lửng, theo đúng tính cách của ông đối với đại tướng từ lâu nay. Đại tướng ngửa cổ trông hờ hững lên những ngôi sao đang lấp lánh trên bầu trời Tân Sơn Nhất, nói vừa đủ nghe:
- Rồi trung tướng sẽ thấy, tổng thống không thèm nghe anh em mình đâu. Mà trung tướng có biết vì sao không?
- Tôi ít được làm việc trực tiếp với tổng thống, thưa đại tướng!
Khuyên nói vậy đúng mà cũng không đúng. Trong mọi cuộc đàm luận mà Bộ Tổng Tham mưu làm việc với tổng thống để báo cáo tình hình, bao giờ cũng có mặt cả hai người. Nhưng bao giờ cũng chỉ do trung tướng báo cáo, Cao Văn Viên chỉ ngồi nghe, thỉnh thoảng gật đầu khích lệ. Ngược lại, tổng thống có hỏi gì thì cũng chỉ hỏi đại tướng, làm như không có mặt Đồng Văn Khuyên ở đó.
- Vì mình nói tiếng Việt!
Nhưng tướng Khuyên thì không thể im lặng:
- Dạ, có lẽ vậy!? Tiếng Việt không có cái tiếng sột soạt của đồng dollar?
Tướng Viên cười khùng khục, rồi bất thần phá lên cười lớn, tiếng cười đầy vẻ đắc ý, khiến Khuyên cũng cười theo, thoải mái. Mấy viên sĩ quan tùy tùng đi theo cùng cười mỉm.
Phi cơ dừng hẳn, chiếc xe chở cầu thang như chực sẵn, chạy vút ra, gắn cầu thang vào thân chiếc máy bay khổng lồ. Cánh cửa mở, thì cũng là lúc hai ông tướng của Quân lực Việt Nam Cộng hoà đi giữa hai hàng tiêu binh. Từ trên máy bay, một người Mỹ cao to, dáng đi hơi khom người như để tránh đụng đầu vào cửa máy bay, xuất hiện. Ông ta mặc một bộ đồ quân sự Mỹ, áo ngắn tay, nhưng không gắn quân hàm, đầu để trần, gió tạt mái tóc vàng lơ phơ trước trán. Người Mỹ này cao và hơi gầy, da đỏ au dưới ánh đèn cao áp sân bay sáng xanh, nhanh nhẹn bước xuống. Viên sĩ quan chỉ huy đội quân danh dự, đi những bước chân thẳng và dài đến đứng trước mặt ông ta, hô to:
- Quân lực Việt Nam cộng hoà do đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng làm đại diện, xin nghênh tiếp ngài đại tướng Fred Weyand, Tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ đến đất nước Việt Nam!
Cả Viên và Khuyên đều đứng ngây ra, chờ Weyand. Khi ngài Tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ cười gằn trước mặt, đại tướng Viên mới nhìn vào mặt khách:
- General! Welcome to Vietnam! (Xin kính chào đại tướng đã đến Việt Nam).
- Hi, Vien! My friend! (Chào Viên, bạn của tôi).
Nếu bất kỳ một ai, kể cả tổng thống mà gọi đại tướng như thế là bất kính, là xếch mé, nhưng với người phương Tây, cách gọi của họ như thế có thể chấp nhận được, nhất là đó lại là Weyand...
Fred Weyand chính là “Đấng tối cao” mà tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu rất cần để kêu gọi việc Mỹ tăng khẩn cấp viện trợ và cho máy bay B52 ném bom trở lại Việt Nam. Có lẽ tất cả những người bạn đồng minh Hoa Kỳ, không ai, kể cả tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ, G. Ford, ngoài Weyand đã để lại niềm tin cho tổng thống Việt Nam cộng hòa. Weyand đã làm việc ở Việt Nam suốt mười năm, đại tướng có một tư thế chỉ huy dày dạn khiến cho các sĩ quan, tướng lĩnh và viên chức Việt Nam dễ dàng đặt lòng tin vào ông. Weyand được thăng chức từ sư đoàn trưởng lên chỉ huy trưởng cố vấn quân sự Mỹ ở Việt Nam, và thay thế tướng Creighton Abrams giữ chức tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam vào tháng 6 năm 1972, cho đến tận ngày cuối cùng vị đại tướng đã cùng với người lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, tháng 3 năm 1973, trong một tình cảm khó tả. Việt Nam đã gắn bó với Weyand, hay đúng hơn, con đường danh vọng của đại tướng gắn liền với miền đất nhiệt đới kỳ diệu này. Nhìn lá quốc kỳ sao - sọc của nước Mỹ đã được gấp vuông vắn trên tay viên sĩ quan, chuẩn bị đem lên máy bay, tướng Weyand có một cảm giác luyến tiếc. Sau Hiệp định Ba Lê, Nam Việt Nam đã lâm vào tình thế khốn khổ, dù có thể có sự bất ngờ, nhưng lại hiểu được. Weyand đã hiểu được, thậm chí quá hiểu những người bạn, những đồng minh của Mỹ. Vì thế trong những ngày hấp hối của Việt Nam cộng hòa, tổng thống Mỹ G. Ford đã cử Weyand sang Việt Nam. Bởi vì ông cũng vẫn còn một chút, một chút thôi, hy vọng…
Đoàn xe chuẩn bị rời sân bay, đại tướng Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam, nói với đại tướng tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ:
- Tổng thống chúng tôi rất nóng lòng muốn gặp Ngài! Rất, rất mong…
Weyand cười nhạt:
- Thì sứ mệnh của tôi do tổng thống Geral Ford trao cho khi đến nước các ngài cũng chỉ có thế!
***
Tại phòng khách rộng lớn và bóng lộn trong dinh Độc Lập, tràn ngập mùi thuốc lá và tất nhiên, rượu Wishky, có năm người. Về phía Việt Nam cộng hòa có tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, hai vị tướng là đại tướng Cao Văn Viên tổng tham mưu trưởng và trung tướng Đặng Văn Quang. Về phía khách có Martin, đại sứ và ngài đại tướng Weyand, tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ, vừa từ Mỹ bay sang mấy ngày nay. Thế thôi, không có ai khác, kể cả cận vệ của tổng thống, hay tướng Khuyên như vẫn thường thấy. Với tổng thống đây là lần gặp thứ ba với đại tướng Weyand kể từ hôm ông đặt chân trở lại Việt Nam. Hai lần trước, thì chỉ có chủ nói, khách nghe. Mà chủ cũng chỉ nói về viện trợ của Hoa Kỳ “hẻo” quá, nên dẫn tới những sai pham ở chiến trường, dẫn đến những quyết định rút bỏ hai quân khu I và II của tổng thống. Tổng thống cứ nói, trong khi ngài tham mưu trưởng lục quân thì uống rượu và hút thuốc, còn ngài đại sứ Martin thì ôm ngực thở vì bệnh phổi đang hành hạ, nhất là trong cái phòng đầy ắp độc hại này. Quỷ bắt cái thằng này đi cho rồi, nó rít thuốc và nốc rượu nhiều thế, Martin rủa thầm Weyand. Hôm sau Weyand đi thị sát chiến trường. Đến đâu đại tướng cũng được các sĩ quan và binh sĩ đồng minh đón tiếp nồng hậu. Bởi thế nên ngài nói dữ lắm, ngài hứa sẽ “chiến đấu bên cạnh các chiến hữu đồng minh”, đến… toàn thắng! Ngài vừa đi khỏi Nha Trang, thì cộng sản đã tràn ngập thành phố này, khiến tổng thống cáu lắm. Bởi thế, trong cuộc gặp lần thứ ba này, vừa an vị, nhấm nháp Wishky, đốt thuốc được vài hơi, bất chấp cả xã giao, rào đón, tổng thống nói ngay, rất gay gắt:
- Thưa ông đại tướng Weyand, (tổng thống, mỗi khi nóng giận thường hay có kiểu nói bỗ bã, lộn xộn thế, Cao Văn Viên vẫn bảo đó là giọng điệu của tên thiếu úy đường Năm, Hải Dương - nơi tổng thống “phát tích” ở đó, thời ông còn trong quân đội Pháp), anh em cán binh vừa chạy từ Nha Trang về nói với nhau sao không thấy đại tướng ra cùng chiến đấu với họ…
Đại tướng Cao Văn Viên giật mình nhìn tổng thống của mình, còn Weyand thì chỉ cười. Ông cúi xuống nhìn ly rượu mạnh như muốn đo lường đô mạnh, hoặc dung lượng của nó, rồi ngửa cổ uống cạn. Xong, ông mím cái miệng hơi móm lại, để thưởng thức rượu, hay câu nói xỏ của tổng thống, rồi mới hất món tóc lòa xòa trước trán, nói bằng cái giọng khàn khàn:
- Tôi xin chia xẻ với ngài tổng thống về những khó khăn và tổn thất của quân lực các ngài. Là một quân nhân, tôi thật sự đau lòng và… đại tướng ngưng lời để thu hut người nghe.
- … Tôi được biết chính phủ Việt Nam cộng hòa cũng có sách lược đối phó với mọi diễn biến, nhưng phải thay đổi hàng ngày để đáp ứng tình thế. Mới tuần trước đây, ngày 25 tháng Ba, các ngài dự trù thành lập một cứ điểm phòng thủ tại Đà Nẵng và một tuyến phòng thủ phía Nam dựa vào bờ biển Bình Định, nếu không thành thì cũng chỉ lui về Tuy Hòa thuộc tỉnh Phú Yên. Nhưng từ lúc khai triển kế hoạch này, Đà Nẵng đã bị thất thủ, những vị trí của Việt Nam cộng hòa thuộc vùng duyên hải Quân khu II phía bắc Cam Ranh cũng không còn. Vậy nên ta phải thành lập một tuyến phòng thủ mới. Tuyến phòng thủ dự trù này sẽ kéo dài qua các tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng, nối tiếp với Long Khánh, qua đến Tây Ninh! Và…
Và gì? Viên khẽ hích Đặng Văn Quang, nhưng trung tướng an ninh không để ý, vì ông đang mải theo đuổi ý nghĩ riêng về phần việc của mình: trong quân lực, có sĩ quan nào làm tình báo cho cộng sản? Nếu tình hình trên chiến trường được cải thiện, nhất định ông phải cho rà lại đội ngũ sĩ quan, trong đó có đến hai ông đại tướng đều có bà con làm cộng sản, mà cộng sản cỡ bự! Thế nên Quang có nghe rõ Weyand nói gì đâu, ông nghiêng tai hỏi lại, nhưng Viên đã ngồi ngay ngắn, không thèm nói lại, chờ tổng thống phản ứng.
- Nha Trang thất thủ là do bọn chỉ huy quá tồi. Thêm vào đó là đám dân chúng tị nạn cộng sản kéo về quá lộn xộn, làm vướng chân, làm mất tinh thần binh lính. Đột nhiên giọng ông trùng xuống, bùi ngùi, hai mắt tổng thống chớp chớp liên hồi, ngấn lệ. Tôi chỉ đau lòng là không cứu được đồng bào, anh em của chúng tôi phải lâm vào cảnh đói khát, ly tán...
Đại sứ Martin, nhân vật dân sự duy nhất trong căn phòng này, vốn thạo nghề ngoại giao, đưa đẩy, thấy đúng tầm của mình vội lên tiếng:
- Xin tổng thống đừng quá lo lắng, nước Mỹ chúng tôi đã có sẵn một kế hoạch viện trợ nhân đạo, đối với những quân nhân và nhân viên dân sự gặp nạn… Tổng thống Hoa Kỳ đã dành sẵn những điều kiện vật chất cho họ. Hơn hai triệu dollars…
Nghe đến từ “dollar”, tổng thống nổi nóng thật sự:
- Thưa ông đại sứ, tôi xin được ngắt lời ông. Cái mà chúng tôi chờ đợi không phải là những đồng tiền hay cử chỉ nhân đạo. Cái cần cho chánh phủ và quân lực Việt Nam chúng tôi hiện nay là hành động, hành động thật sự, hoặc cũng là tiền, là dollar, nhưng là những đồng dollar có trách nhiệm. Tôi nói trách nhiệm ở đây là nói đến sự cam kết của Hoa Kỳ với một đồng minh, một người bạn đã sát cánh trên tuyến đầu chống cộng sản hàng mấy chục năm trời nay. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải chặn đứng bước tiến của cộng sản Bắc Việt. Nếu Mỹ cứ ngồi khoanh tay nhìn cộng sản tiến công chúng tôi thì có khác nào là một cử chỉ cho phép chúng tự tung tự tác, hoành hành trên lãnh thổ của chúng tôi. Nếu Hoa Kỳ cứ tiếp tục cho phép cộng sản lấn tới, chiếm thêm đất, thêm thành phố của Việt Nam cộng hòa nữa thì chỉ ngày một, ngày hai, chúng sẽ thôn tính cả lãnh thổ Việt Nam cộng hòa này thôi! Nếu người Mỹ giữ đúng cam kết đứng bên cạnh chúng tôi thì đời nào cộng sản dám xé bỏ Hiệp định Ba Lê, dám đưa thêm binh lính, súng đạn, xe tăng đại pháo vào lãnh thổ chúng tôi?
Ngài đại sứ Martin im lặng thở, Cao Văn Viên không hiểu nhà ngoại giao cáo già này nghĩ gì khi nghe những lời lẽ nặng mùi lính tẩy của tổng thống Việt Nam? Chỉ thấy ông ta gục gặc đầu như thể không thèm nói chuyện với người không muốn nghe nữa. Nhưng Weyand thì khác, đại tướng ngưng uống rượu, nhìn vị tổng thống đang đỏ mặt vì tức giận:
- Xin lỗi tổng thống, thế cái chuyện quân đội các ngài xéo lên nhau bỏ chạy khỏi cao nguyên Trung phần, bỏ Huế, bỏ Đà Nẵng, bỏ quân khu I, rồi quân khu II, giao tất cả lại cho cộng sản, chắc không phải là chuyện người Mỹ cho phép?
Tổng thống thấy nói mãi mà hai người bạn đồng minh này có vẻ vẫn như chưa chịu hiểu ra, nên ông lại phải một lần nữa, nói toạc ra:
- Cái sự rút lui chiến thuật của chúng tôi chẳng qua cũng là do nghèo mà ra. Người Mỹ đã nghe theo lời dỗ dành ngon ngọt của Nga Sô, Trung Cộng mà giảm thiểu viện trợ quân sự cho Việt Nam. Giảm nhiều lắm, giảm tới hơn sáu mươi phần trăm rồi còn gì, cả binh lính và vũ khí. Hồi lính Mỹ ở Việt Nam lên đến nửa triệu, rồi xe tăng, đại bác, máy bay, cả B52… rồi hơn một triệu quân lính chúng tôi… mà vẫn không thắng nổi cộng sản, lại còn bị chúng tấn công ngược lại. Vậy mà bây giờ chúng tôi đâu còn gì, không có binh sĩ Mỹ, không B52… Thế mà tiền bạc viện trợ nay dọa cắt, mai dọa giảm. Hỏi nếu căng ra cho cộng sản nó mần thịt thì chịu được bao lâu? Mà tôi nói lại nghe, không phải là bỏ chạy mà chúng tôi rút lui có trật tự, nằm trong ý đồ chiến thuật…
Tổng thống ngưng lại uống cạn ly rượu mạnh. Không ai nói gì, tình hình có vẻ căng thẳng, khiến đại tướng Viên khó xử. Có vẻ như tổng thống Việt Nam cộng hòa đang giận dỗi người Mỹ. Vừa phải thì được, nếu căng quá, làm cho quan hệ giữa chính phủ, quân đội với hai người bạn này xấu đi thì khó có thể làm hòa được. Không thể coi như quân lực của chúng ta chiến đấu chống cộng thuê cho Hoa Kỳ được. Cần phải chặn lại cơn nóng giận của vị nguyên thủ quốc gia. Viên nhìn sang Đặng Văn Quang, vị trung tướng mập ú này vẫn ung dung ngửa cổ uống. Ông lắc đầu, phải làm cái gì đó để cho đại tướng Weyand và ngài đại sứ hiểu rõ và hành động trong phạm vi quyền lực của hai ngài và có lợi cho đại cuộc. Đại tướng, như thói quen quay sang người giúp việc cho mình, nhưng sực nhớ ra trong căn phòng này không có mặt trung tướng Khuyên, ông đành đến trước tấm bản đồ quân sự:
- Thưa tổng thống và các vị. Bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam, cụ thể là tôi đã làm việc trực tiếp với đại tướng Weyand và phái bộ của ngài. Chúng tôi cũng đã cùng nhau đi thị sát một số mặt trận ở Nha Trang, Bình Thuận, Ninh Hòa, Biên Hòa, Long Khánh… Nhưng như các vị đều đã rõ, khi đại tướng Weyand vừa rời khỏi Nha Trang thì thành phố này đã rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Tinh hình rất nguy ngập, có lẽ khi chúng ta đang ngồi đây, thì xe tăng của cộng quân đã tiến đến Phan Thiết, rồi Phan Rang…
Đại tướng ngừng lại, đưa mắt nhìn cử tọa. Không ai nói gì, Weyand và Martin thờ ơ nhìn bức tượng vũ nữ Chàm đen nhánh dưới ánh sáng ngọn đèn trang trí màu vàng gắt, còn tướng Đặng Văn Quang thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn lén tổng thống đang rít thuốc lá. Một sự im lặng đến gai người. Thấy đã đến lúc trình bày được ý đồ của mình, Cao Văn Viên tiếp:
- Cho nên, thưa tổng thống, về căn bản, ý đồ chiến lược của ta trước đây sẽ không còn phù hợp nữa. Tức là phòng tuyến Nha Trang - Đà Lạt - Tây Ninh sẽ không còn giá trị, đúng hơn là không thực hiện được.
Tướng Viên lại ngừng nói, khiến tổng thống sốt ruột, phất tay:
- Nói tiếp đi!
- Bộ tổng tham mưu sau những phiên họp trù tính và thực tế chiến trường với phái đoàn của tướng Weyand và cơ quan tùy viên quốc phòng của tòa đại sứ Hoa Kỳ đã hoạch định một vòng đai phòng thủ mới, hầu bảo vệ thủ đô và những phần đất còn lại của lãnh thổ Việt Nam cộng hòa. Vòng đai này sẽ lấy Phan Rang, và dùng Ninh Chữ làm tiền đồn, để neo lại một vòng cung thép. Mặt khác ở Bắc và Tây Bắc, thì Tây Ninh và Bình Dương là hai tiền đồn bảo vệ vững chắc, ở đây có sư đoàn 23 của tướng Bá, và sư đoàn 5 của tướng Vỹ, là những sư đoàn mạnh của chúng ta…
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gật gù, thoáng nghĩ đến Ninh Chữ, nơi ông sinh ra, và nơi ấy hãy còn mồ mả cha ông của Ngài. Nhưng như chợt nhớ ra điều gì khiến tổng thống quay phắt lại, nói với đại tướng tổng tham mưu trưởng bằng một giọng phẫn nộ:
- Như vậy ta bỏ quân khu I và quân khu II à? Không được!
Viên vẫn từ tốn:
- Trên thực tế, quân khu I của Ngô Quang Trưởng không còn nữa. Quân khu II của tướng Phú chỉ còn Phan Thiết và Phan Rang. Hai tỉnh này sẽ được sáp nhập vào Quân khu III luôn để tiện việc chỉ huy, điều động. Những đơn vị của tướng Trưởng và tướng Phú sẽ được xốc lại, bổ sung quân số, trang bị lại vũ khí, quân dụng để bổ sung cho các mặt trận phòng thủ của hai quân khu còn lại.
Tổng thống ngẫm nghĩ một lúc, không thấy Cao Văn Viên nói gì, ông hỏi:
- Nếu trong trường hợp Phan Rang và cả Phan Thiết bị Cộng sản Bắc Việt lấy mất thì ông định thế nào?
- Thưa tổng thống, điều đó chúng tôi cũng đã nghĩ tới. Trong trường hợp hai tỉnh còn lại của quân khu II bị mất vào tay quân đội Bắc Việt, thì phòng tuyến cuối cùng của chúng ta là Xuân Lộc. Về mặt địa lý, Xuân Lộc và tỉnh Long Khánh là tiền đồn, chốt chặn con đường số Một từ ngoài Trung phần vào Nam, là nơi hiểm yếu án ngữ tuyến hành lang không cho quân cộng sản xâm nhập qua lại giữa vung Bình Giã, Bà Rịa, dưới biển với vùng núi rừng căn cứ chiến khu Đ của chúng.
Tổng thống đăm chiêu hồi lâu. Đành phải thế thôi, với lực lượng hiện nay, không có B52, không có binh lính Mỹ yểm trợ thì đội quân của ông đành phải chọn phương án phong thủ để chờ thời cơ. Mà thời cơ gì bây giờ? Thời cơ chính là hai ông bạn Mỹ đang ngồi đây. Weyand và Martin sẽ trình bày với tổng thống và quốc hội Mỹ những gì đã thấy để họ tỏ ra hào phóng, rót tiền, đưa vũ khí và B52 vào bây giờ? Muộn quá, muộn lắm rồi! Cảm giác thấy bị người Mỹ quay lưng lại với những cam kết ngày càng đè nặng lên vai một nguyên thủ quốc gia, khiến ông nghẹt thở. Viện trợ xin không được thì vay. Tổng thống đã phải dùng đến con bài “giếng dầu ở ngoài biển Đông” để làm con tin với người Mỹ, để họ cho vay cũng được. Nhưng, viên cố vấn của ông phái đi vẫn nằm lỳ tại một sòng bạc nào đó, bên Texas.
Vẫn lắng nghe, chợt ông hỏi tướng Viên:
- Lực lượng của ta ở đó thế nào:
- ở đây hiện nay chúng ta có lực lượng khá mạnh, chưa hề đụng với quân cộng sản, nên còn dồi dào sức chiến đấu. Đặc biệt ở Xuân Lộc ta đang có sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo, một sư đoàn thiện chiến bậc nhất hiện nay của quân lực Việt Nam!
Buồn bã, ngước mái đầu điểm bạc rất phong độ ở tuổi năm mươi hai, tổng thống nói với hai người bạn Mỹ:
- Hiện giờ chúng tôi còn một số tỉnh ở quân khu II, và toàn bộ quân khu III và quân khu IV. Những tướng lĩnh và binh lính của chúng tôi đều là những chiến sĩ kiên quyết chiến đấu chống cộng sản vì lý tưởng của thế giới tự do. Những sư đoàn tuy có bị tổn thất sau những ngày rút bỏ Cao nguyên Trung phần nhưng vẫn còn sĩ quan chỉ huy, vẫn còn tinh thần chiến đấu rất kiên quyết. Nếu có thêm viện trợ của người Mỹ lúc này, nhứt định chúng tôi sẽ giữ vững phần lãnh thổ còn lại trong đó có thủ đô Sài Gòn yêu quý của chúng tôi. Khi đã giữ vững được phần đất còn lại, bằng tinh thần chiến đấu của anh em chiến sĩ quân lực Việt Nam cộng hòa, cộng với vũ khí và B52 của Mỹ, nhất định chúng tôi sẽ đẩy lùi cộng sản và buộc chúng phải thi hành Hiệp định Ba Lê. Lúc đó chúng ta mới có thể nói đến hiệp thương, tổng tuyển cử, hay gì gì đó như người Mỹ muốn. Cho nên tôi mong chánh phủ và quốc hội Hoa Kỳ thật sáng suốt để nhận ra tình hình, thực trạng và nỗi khổ của Việt Nam hiện nay…
Tướng Weyand ngồi lim dim nghe những tràng thuyết trình khi hùng hồn, khi bi thương, lại cả những lời trách móc hờn dỗi của vị nguyên thủ Việt Nam cộng hòa đối với người Mỹ do ông đang đại diện. Ông muốn ngắt lời vị tổng thống lắm rồi, nên khi Nguyễn Văn Thiệu vừa ngưng, đại tướng đã nói ngay:
- Tổng thống và chính phủ chúng tôi hoàn toàn thông cảm với Việt Nam lúc này. Chúng tôi đang và sẽ cố gắng hết sức để thực hiện những cam kết của Hoa Kỳ với Việt Nam. Nhưng thông qua báo chí, và nhất là những gì tôi vừa được chứng kiến thì những cuuộc rút chạy ồ ạt vừa rồi của các ngài đã làm cho các vị nghị sĩ của chúng tôi không còn tin vào sức chiến đấu của quân đội các ngài nữa. (Đại tướng nhìn tướng Viên vừa về chỗ ngồi). ít nhất các ngài cũng phải đánh lấy một trận cho ra trò, rồi để báo chí họ thổi phồng lên thành một trận kiểu như Waterlo. Có như thế, quốc hội chúng tôi mới có thể xem xét việc mở két bạc. Đằng này quân đội của các ngài không chịu dừng bước trốn chạy, cứ nghe thấy tiếng xe tăng của Bắc Việt đã co giò rút chạy rồi thì chẳng có hy vọng nào với quốc hội, dù tôi, ông đại sứ đây hay cả Kitsinger và tổng thống Ford cũng đành bó tay. Đã mười năm, (Weyand giơ một ngón tay cái, rồi chĩa vào ngực mình) xin nhắc lại mười năm dính líu và hy sinh tính mạng binh sĩ Hoa Kỳ mà vẫn không có được một kết quả mong muốn. Quốc hội Hoa Kỳ sẽ không muốn nhúng tay sâu thêm vào một con tàu sắp đắm bởi những thủy thủ chỉ biết bỏ chạy…
Lần này thì trung tướng Đặng Văn Quang nghe rõ những lời của Fred Weyand. Quang vốn không ưa Weyand, vì đã có lần khi đang làm Tư lệnh quân đoàn IV, Weyand kinh lý xuống Cân Thơ, không biết lúc quay về Sài Gòn lão tướng mũi khoằm này nói gì, mà tổng thống đã “nhẹ nhàng điều động” tướng Quang về Sài Gòn, cho “ngồi chơi xơi nước”. Một động tác có khác gì là cách chức đối với một vị tư lệnh vùng Bốn, vốn là một xứ sở gạo trắng nước trong, lại an nhàn, không có những đơn vị chủ lực của cộng sản. Cũng may, giữa trung tướng với Tổng thống có mối quan hệ vừa là bằng hữu, lại vừa có những ân huệ. Khi làm tư lệnh quân đoàn Bốn, tướng Quang đã hết mình với tổng thống phu nhân, người đẹp Trần Thị Mai Anh, vốn quê ở Mỹ Tho, trong mọi trường hợp bà cần đến quân đội quốc gia. Vì thế, sau một thời gian quẩn quanh ở Bộ tổng tham mưu, trung tướng được bổ nhiệm giữ chức cố vấn an ninh của tổng thống. Từ đó, không ngờ lại là một bước tiến của Đặng Văn Quang. Văn phòng của tướng Quang đặt bên cạnh tổng thống trong Phủ Đầu Rồng. Lúc này, trung tướng mới có dịp mở các hồ sơ an ninh của nhiều chiến hữu. Ngoại trừ một số cán bộ, tướng lĩnh tham nhũng, hầu hết các chỉ huy quân đoàn, sư đoàn trong quân đội đều rất trung thành với tổng thống, với sự nghiệp chống cộng sản vì lý tưởng của thế giới tự do. Họ dám hy sinh, dám xả thân vì tổng thống, vì danh dự của quân lực. Mới chỉ có một cuộc rút lui chiến thuật tạm thời từ bỏ Cao nguyên Trung phần và một số tỉnh miền duyên hải mà người Mỹ đã vội vàng kết luận rằng quân lực Việt Nam cộng hòa là một đội quân “chỉ biết bỏ chạy” là xúc phạm. Quang thấy cần phải lên tiếng, và ông nói:
- Thưa ngài đại tướng, ngài nói như vậy là hơi quá, là xúc phạm đến một quân đội vốn có nhiều chiến tích chống bọn cộng sản xâm lăng vì thế giới tự do. Ngay cả ngài mà cũng không nhìn thấy sức mạnh tinh thần của quân đội chúng tôi, thì trên thế giới này còn ai dám tin vào họ nữa? Chẳng lẽ hơn hai mươi vạn cán binh cộng hòa hy sinh trong gần hai mươi năm qua chẳng là cái gì sao? Ai đã cứu quân Mỹ ở Pléime, thung lũng Ya Đrang, ở Bến Cát, Dầu Tiếng, Tây Ninh… những năm xưa? Ai? Nếu không phải những chiến sĩ cộng hòa Việt Nam gan vàng, dạ sắt…?
Nghe Quang nói vậy, Weyand tỏ ra ngạc nhiên, nhìn trung tướng chằm chặp, đôi môi mấp máy, định đính chính một câu gì đó, nhưng tổng thống đã gạt đi, ông nói bằng tiếng Việt:
- Thôi Quang! Anh đừng nói nữa, để họ tự nghĩ!
Rồi ông quay sang nhìn hai người bạn Mỹ:
- Không! Không có chuyện rút lui nữa! Trong đệ nhị thế chiến, Staline đã nói thế này: “Các đồng chí! Sau lưng chúng ta là Moscow!”. Tuy không ưa chủ nghĩa cộng sản nhưng tôi ngưỡng mộ Staline, nhà độc tài Nga Xô, mà nói rằng: “Hỡi anh em binh sĩ! Sau lưng chúng ta là Sài Gòn!”. Còn trận chiến thắng như các ngài mong muốn, nó sẽ xảy ra! ở đâu thì chưa nói ngay được, có thể là Phan Rang, Phan Thiết, hay Xuân Lộc! Tôi xin nhắc lại: quân lực Việt Nam cộng hòa, và cá nhân tôi quyết tâm bảo vệ đến cùng phần lãnh thổ còn lại. Tuy nhiên muốn ngăn chặn hữu hiệu bọn cộng sản Bắc Việt, việc cấp thời là phải trang bị vũ khí thật mạnh, thật hùng hậu cho binh sĩ. Đồng thời phải nâng cao tinh thần binh sĩ, gây lòng tin cho họ và cho dân chúng thủ đô và những vùng lãnh thổ đang trong tay chánh phủ. Chúng tôi hy vọng và đặt hết niềm tin vào Hoa Kỳ và khẩn khoản đề nghị các ngài hãy cho B52 ném bom vào đội hình quân cộng sản!
- Được! Rất tốt! Chúng tôi hy vọng là quyết tâm của tổng thống và các tướng lĩnh Việt Nam sẽ thành hiện thực. Chỉ có điều, tổng thống yêu cầu B52 lúc này là đã muộn! Bất cứ một hành động can thiệp trực tiếp nào vào Việt Nam lúc này, tổng thống và quốc hội chúng tôi đều phải cân nhắc hết sức thận trọng…
Tổng thống bỗng đứng dậy, đi về phía bản đồ hành quân, nói với Cao Văn Viên nãy giờ như người ngoài cuộc:
- Anh có thể nhắc lại một lần nữa về tuyến phòng thủ?
Đại tướng Cao Văn Viên vội cúi xuống cầm chiếc gậy ba- tấc- tám của mình chỉ lên bản đồ:
- Đây là Xuân Lộc, thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh. Chúng tôi, là tôi và đại tướng Weyand cho rằng, nếu có một trận chiến thắng oanh liệt thì chính nó phải nổ ra ở chỗ này.
- Ông đại tướng Weyand nói thế nào?
- Tất cả bản tường trình và kế hoạch lập phòng tuyến đã có ở chỗ tướng Quang!
Tổng thống nhìn Đặng Văn Quang, hất hàm. Quang lắp bắp:
- Trình tổng thống, tôi mới nhận được hồi chiều qua, chưa kịp chuyển cho đại tá chánh võ phòng.
- Được rồi. Nhưng tên nó là gì?
- Dạ, trình tổng thống, đó là bản kế hoạch mang tên “Phòng tuyến Weyand”.
Tổng thống nhìn Weyand, thấy ông ta hơi mỉm cười:
- Thưa tổng thống! Bản kế hoạch do phái đoàn chúng tôi thảo ra đã được tướng Viên và các phụ tá của ông tán thành. Còn việc đặt tên nó là gì thì do tướng Viên nghĩ ra…
- Ngài đã ra Xuân Lộc chưa?
- Rồi! Tôi đã gặp tướng Đảo và bộ chỉ huy của anh ta!
- Ông thấy Đảo thế nào?
Weyand không nói ngay, mà tranh thủ châm một điếu thuốc, thả khói mịt mù, rồi mới thong thả:
- Ngay từ khi tôi còn giữ chức trưởng đoàn cố vấn Hoa Kỳ tại Việt Nam, lúc ấy chúng ta đã bàn đến một chương trình đào tạo các tướng trẻ thế hệ thứ hai nhằm phục vụ cho cuộc chiến trong tương lai. Đến bây giờ, tôi cho là chương trình đó đã có kết quả. Lê Minh Đảo là một trong những viên tướng đó. Lòng nhiệt thành với chiến tranh, có hiểu biết tầm cỡ chiến lược và, xin lỗi hai tướng quân có mặt tại gian phòng này, họ rất Mỹ, Mỹ hơn các ngài, và… Mỹ hơn cả Mỹ…
Tổng thống cười, nhìn Weyand rồi lại nhìn Đặng Văn Quang:
- Tôi có nghe an ninh quân đội báo cáo. Thằng Đảo nó chửi người Mỹ là hèn, là xấu chơi, đem con bỏ chợ chứ gì? Nhưng hắn là một tay chống cộng sản cừ khôi đấy!
Weyand cũng cười:
- Thưa tổng thống, rất đúng! Tôi tin tưởng vào Lê Minh Đảo và sư đoàn 18 của anh ta!
Tiễn khách về, còn ba người Việt Nam. Tướng Viên và tướng Quang đứng ngây ra nhìn tổng thống đang ôm đầu, rồi lại nhìn nhau. Bỗng tổng thống ngẩng lên, hai con mắt đỏ lừ, rực sáng:
- Hai anh bố trí cho tôi ra Xuân Lộc gặp Lê Minh Đảo. Kêu cả tướng Nguyễn Văn Toàn nữa…
- Dạ thưa… khi nào ạ?
Tổng thống còn đang cân nhắc thì Viên xen vào:
- Có thể ra ngoài ấy vào khuya nay, lúc mười một, mười hai giờ.
- ừ, được! Anh bố trí lực lượng bảo vệ, nghi binh. Còn Quang lo an ninh. Cứ chuẩn bị sẵn, khi nào đi tôi báo.
Đặng Văn Quang hỏi thêm:
- Có cho báo chí đi theo không?
- Cho! Tổng thống dứt khoát. Nhưng phải tuyển lựa. Có lẽ cho Việt Tấn xã, báo Tiền Tuyến và Đài phát thanh, Đài truyền hình, thế thôi… Hả?
3 giờ sáng, ngày 28 tháng Ba năm 1975, sân bay Tân Sơn Nhất.
Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hoà, đại tướng Cao Văn Viên trong bộ lễ phục chỉnh tề, bốn bông mai vàng lấp lánh trên ve áo, tua ngù vàng ánh tuôn thẳng xuống bộ ngực chi chit mề- đay, toàn thân cứng ngắc như một cây cột đá trong vườn treo Pabillon, trắng toát, đờ đẫn trong phòng đợi. Hai phút sau, chiếc máy bay Beoing của Hãng hàng không Panam xuất hiện trên đường băng, nó từ từ lượn một vòng rồi tiến sát vào nhà ga. Đại tướng quay lại mỉm cười với Đồng Văn Khuyên đang đi sát ngay sau:
- Vị cứu tinh của Quân lực đã tới!
Là trung tướng Tham mưu trưởng cơ quan Bộ tổng tham mưu, người làm tham mưu cho tham mưu này vốn được tiếng là nhã nhặn, ga lăng và mưu sâu kế hiểm, và vì thế, Đồng Văn Khuyên là người nổi tiếng vì được vinh thăng quân hàm “nhanh đến chóng mặt”. Có lần trung tướng Đặng Văn Quang, tức Quang Mập, cố vấn an ninh của tổng thống đã nói: thằng Khuyên “há miệng chờ sao”. Tất nhiên, không ai bắt được một lỗi nhỏ nào của trung tướng, ngược lại tướng Khuyên còn được các tướng lĩnh phong cho biệt danh “tiểu Tào Tháo” của quân lực. Tuy nhiên, ở bên cạnh “ông tướng Bắc kỳ” này, Tào Tháo nhỏ rất khó nắm bắt được suy nghĩ của sếp, cũng như ý nghĩa trong mỗi câu nói của đại tướng. Rất ít khi hai người ngồi riêng và nói về những vấn đề riêng tư. Đại tướng ra lệnh nhỏ nhẹ, vừa phải, đủ to để thị oai, nhưng cũng vừa nhỏ để thân mật. Nếu cấp dưới nghe không rõ, thì đó là lỗi của cấp dưới, đại tướng đã nói vào tai rồi còn gì? Trong rất nhiều trường hợp Đồng Văn Khuyên không biết đại tướng nói chơi hay nói thiệt, nhất là khi ông vừa nói vừa mỉm cười, như vừa rồi. Tướng Khuyên lại phải cố hiểu. Lát sau Khuyên cũng cười:
- Thưa đại tướng, tôi nghĩ “cứu tinh” của Quân lực Việt Nam không phải ở trong chiếc phi cơ kia đâu ạ. Mà là…
Viên hiểu ngay câu nói của Khuyên, dù trung tướng bỏ lửng, theo đúng tính cách của ông đối với đại tướng từ lâu nay. Đại tướng ngửa cổ trông hờ hững lên những ngôi sao đang lấp lánh trên bầu trời Tân Sơn Nhất, nói vừa đủ nghe:
- Rồi trung tướng sẽ thấy, tổng thống không thèm nghe anh em mình đâu. Mà trung tướng có biết vì sao không?
- Tôi ít được làm việc trực tiếp với tổng thống, thưa đại tướng!
Khuyên nói vậy đúng mà cũng không đúng. Trong mọi cuộc đàm luận mà Bộ Tổng Tham mưu làm việc với tổng thống để báo cáo tình hình, bao giờ cũng có mặt cả hai người. Nhưng bao giờ cũng chỉ do trung tướng báo cáo, Cao Văn Viên chỉ ngồi nghe, thỉnh thoảng gật đầu khích lệ. Ngược lại, tổng thống có hỏi gì thì cũng chỉ hỏi đại tướng, làm như không có mặt Đồng Văn Khuyên ở đó.
- Vì mình nói tiếng Việt!
Nhưng tướng Khuyên thì không thể im lặng:
- Dạ, có lẽ vậy!? Tiếng Việt không có cái tiếng sột soạt của đồng dollar?
Tướng Viên cười khùng khục, rồi bất thần phá lên cười lớn, tiếng cười đầy vẻ đắc ý, khiến Khuyên cũng cười theo, thoải mái. Mấy viên sĩ quan tùy tùng đi theo cùng cười mỉm.
Phi cơ dừng hẳn, chiếc xe chở cầu thang như chực sẵn, chạy vút ra, gắn cầu thang vào thân chiếc máy bay khổng lồ. Cánh cửa mở, thì cũng là lúc hai ông tướng của Quân lực Việt Nam Cộng hoà đi giữa hai hàng tiêu binh. Từ trên máy bay, một người Mỹ cao to, dáng đi hơi khom người như để tránh đụng đầu vào cửa máy bay, xuất hiện. Ông ta mặc một bộ đồ quân sự Mỹ, áo ngắn tay, nhưng không gắn quân hàm, đầu để trần, gió tạt mái tóc vàng lơ phơ trước trán. Người Mỹ này cao và hơi gầy, da đỏ au dưới ánh đèn cao áp sân bay sáng xanh, nhanh nhẹn bước xuống. Viên sĩ quan chỉ huy đội quân danh dự, đi những bước chân thẳng và dài đến đứng trước mặt ông ta, hô to:
- Quân lực Việt Nam cộng hoà do đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng làm đại diện, xin nghênh tiếp ngài đại tướng Fred Weyand, Tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ đến đất nước Việt Nam!
Cả Viên và Khuyên đều đứng ngây ra, chờ Weyand. Khi ngài Tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ cười gằn trước mặt, đại tướng Viên mới nhìn vào mặt khách:
- General! Welcome to Vietnam! (Xin kính chào đại tướng đã đến Việt Nam).
- Hi, Vien! My friend! (Chào Viên, bạn của tôi).
Nếu bất kỳ một ai, kể cả tổng thống mà gọi đại tướng như thế là bất kính, là xếch mé, nhưng với người phương Tây, cách gọi của họ như thế có thể chấp nhận được, nhất là đó lại là Weyand...
Fred Weyand chính là “Đấng tối cao” mà tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu rất cần để kêu gọi việc Mỹ tăng khẩn cấp viện trợ và cho máy bay B52 ném bom trở lại Việt Nam. Có lẽ tất cả những người bạn đồng minh Hoa Kỳ, không ai, kể cả tổng thống đương nhiệm của nước Mỹ, G. Ford, ngoài Weyand đã để lại niềm tin cho tổng thống Việt Nam cộng hòa. Weyand đã làm việc ở Việt Nam suốt mười năm, đại tướng có một tư thế chỉ huy dày dạn khiến cho các sĩ quan, tướng lĩnh và viên chức Việt Nam dễ dàng đặt lòng tin vào ông. Weyand được thăng chức từ sư đoàn trưởng lên chỉ huy trưởng cố vấn quân sự Mỹ ở Việt Nam, và thay thế tướng Creighton Abrams giữ chức tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam vào tháng 6 năm 1972, cho đến tận ngày cuối cùng vị đại tướng đã cùng với người lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, tháng 3 năm 1973, trong một tình cảm khó tả. Việt Nam đã gắn bó với Weyand, hay đúng hơn, con đường danh vọng của đại tướng gắn liền với miền đất nhiệt đới kỳ diệu này. Nhìn lá quốc kỳ sao - sọc của nước Mỹ đã được gấp vuông vắn trên tay viên sĩ quan, chuẩn bị đem lên máy bay, tướng Weyand có một cảm giác luyến tiếc. Sau Hiệp định Ba Lê, Nam Việt Nam đã lâm vào tình thế khốn khổ, dù có thể có sự bất ngờ, nhưng lại hiểu được. Weyand đã hiểu được, thậm chí quá hiểu những người bạn, những đồng minh của Mỹ. Vì thế trong những ngày hấp hối của Việt Nam cộng hòa, tổng thống Mỹ G. Ford đã cử Weyand sang Việt Nam. Bởi vì ông cũng vẫn còn một chút, một chút thôi, hy vọng…
Đoàn xe chuẩn bị rời sân bay, đại tướng Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam, nói với đại tướng tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ:
- Tổng thống chúng tôi rất nóng lòng muốn gặp Ngài! Rất, rất mong…
Weyand cười nhạt:
- Thì sứ mệnh của tôi do tổng thống Geral Ford trao cho khi đến nước các ngài cũng chỉ có thế!
***
Tại phòng khách rộng lớn và bóng lộn trong dinh Độc Lập, tràn ngập mùi thuốc lá và tất nhiên, rượu Wishky, có năm người. Về phía Việt Nam cộng hòa có tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, hai vị tướng là đại tướng Cao Văn Viên tổng tham mưu trưởng và trung tướng Đặng Văn Quang. Về phía khách có Martin, đại sứ và ngài đại tướng Weyand, tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ, vừa từ Mỹ bay sang mấy ngày nay. Thế thôi, không có ai khác, kể cả cận vệ của tổng thống, hay tướng Khuyên như vẫn thường thấy. Với tổng thống đây là lần gặp thứ ba với đại tướng Weyand kể từ hôm ông đặt chân trở lại Việt Nam. Hai lần trước, thì chỉ có chủ nói, khách nghe. Mà chủ cũng chỉ nói về viện trợ của Hoa Kỳ “hẻo” quá, nên dẫn tới những sai pham ở chiến trường, dẫn đến những quyết định rút bỏ hai quân khu I và II của tổng thống. Tổng thống cứ nói, trong khi ngài tham mưu trưởng lục quân thì uống rượu và hút thuốc, còn ngài đại sứ Martin thì ôm ngực thở vì bệnh phổi đang hành hạ, nhất là trong cái phòng đầy ắp độc hại này. Quỷ bắt cái thằng này đi cho rồi, nó rít thuốc và nốc rượu nhiều thế, Martin rủa thầm Weyand. Hôm sau Weyand đi thị sát chiến trường. Đến đâu đại tướng cũng được các sĩ quan và binh sĩ đồng minh đón tiếp nồng hậu. Bởi thế nên ngài nói dữ lắm, ngài hứa sẽ “chiến đấu bên cạnh các chiến hữu đồng minh”, đến… toàn thắng! Ngài vừa đi khỏi Nha Trang, thì cộng sản đã tràn ngập thành phố này, khiến tổng thống cáu lắm. Bởi thế, trong cuộc gặp lần thứ ba này, vừa an vị, nhấm nháp Wishky, đốt thuốc được vài hơi, bất chấp cả xã giao, rào đón, tổng thống nói ngay, rất gay gắt:
- Thưa ông đại tướng Weyand, (tổng thống, mỗi khi nóng giận thường hay có kiểu nói bỗ bã, lộn xộn thế, Cao Văn Viên vẫn bảo đó là giọng điệu của tên thiếu úy đường Năm, Hải Dương - nơi tổng thống “phát tích” ở đó, thời ông còn trong quân đội Pháp), anh em cán binh vừa chạy từ Nha Trang về nói với nhau sao không thấy đại tướng ra cùng chiến đấu với họ…
Đại tướng Cao Văn Viên giật mình nhìn tổng thống của mình, còn Weyand thì chỉ cười. Ông cúi xuống nhìn ly rượu mạnh như muốn đo lường đô mạnh, hoặc dung lượng của nó, rồi ngửa cổ uống cạn. Xong, ông mím cái miệng hơi móm lại, để thưởng thức rượu, hay câu nói xỏ của tổng thống, rồi mới hất món tóc lòa xòa trước trán, nói bằng cái giọng khàn khàn:
- Tôi xin chia xẻ với ngài tổng thống về những khó khăn và tổn thất của quân lực các ngài. Là một quân nhân, tôi thật sự đau lòng và… đại tướng ngưng lời để thu hut người nghe.
- … Tôi được biết chính phủ Việt Nam cộng hòa cũng có sách lược đối phó với mọi diễn biến, nhưng phải thay đổi hàng ngày để đáp ứng tình thế. Mới tuần trước đây, ngày 25 tháng Ba, các ngài dự trù thành lập một cứ điểm phòng thủ tại Đà Nẵng và một tuyến phòng thủ phía Nam dựa vào bờ biển Bình Định, nếu không thành thì cũng chỉ lui về Tuy Hòa thuộc tỉnh Phú Yên. Nhưng từ lúc khai triển kế hoạch này, Đà Nẵng đã bị thất thủ, những vị trí của Việt Nam cộng hòa thuộc vùng duyên hải Quân khu II phía bắc Cam Ranh cũng không còn. Vậy nên ta phải thành lập một tuyến phòng thủ mới. Tuyến phòng thủ dự trù này sẽ kéo dài qua các tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng, nối tiếp với Long Khánh, qua đến Tây Ninh! Và…
Và gì? Viên khẽ hích Đặng Văn Quang, nhưng trung tướng an ninh không để ý, vì ông đang mải theo đuổi ý nghĩ riêng về phần việc của mình: trong quân lực, có sĩ quan nào làm tình báo cho cộng sản? Nếu tình hình trên chiến trường được cải thiện, nhất định ông phải cho rà lại đội ngũ sĩ quan, trong đó có đến hai ông đại tướng đều có bà con làm cộng sản, mà cộng sản cỡ bự! Thế nên Quang có nghe rõ Weyand nói gì đâu, ông nghiêng tai hỏi lại, nhưng Viên đã ngồi ngay ngắn, không thèm nói lại, chờ tổng thống phản ứng.
- Nha Trang thất thủ là do bọn chỉ huy quá tồi. Thêm vào đó là đám dân chúng tị nạn cộng sản kéo về quá lộn xộn, làm vướng chân, làm mất tinh thần binh lính. Đột nhiên giọng ông trùng xuống, bùi ngùi, hai mắt tổng thống chớp chớp liên hồi, ngấn lệ. Tôi chỉ đau lòng là không cứu được đồng bào, anh em của chúng tôi phải lâm vào cảnh đói khát, ly tán...
Đại sứ Martin, nhân vật dân sự duy nhất trong căn phòng này, vốn thạo nghề ngoại giao, đưa đẩy, thấy đúng tầm của mình vội lên tiếng:
- Xin tổng thống đừng quá lo lắng, nước Mỹ chúng tôi đã có sẵn một kế hoạch viện trợ nhân đạo, đối với những quân nhân và nhân viên dân sự gặp nạn… Tổng thống Hoa Kỳ đã dành sẵn những điều kiện vật chất cho họ. Hơn hai triệu dollars…
Nghe đến từ “dollar”, tổng thống nổi nóng thật sự:
- Thưa ông đại sứ, tôi xin được ngắt lời ông. Cái mà chúng tôi chờ đợi không phải là những đồng tiền hay cử chỉ nhân đạo. Cái cần cho chánh phủ và quân lực Việt Nam chúng tôi hiện nay là hành động, hành động thật sự, hoặc cũng là tiền, là dollar, nhưng là những đồng dollar có trách nhiệm. Tôi nói trách nhiệm ở đây là nói đến sự cam kết của Hoa Kỳ với một đồng minh, một người bạn đã sát cánh trên tuyến đầu chống cộng sản hàng mấy chục năm trời nay. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải chặn đứng bước tiến của cộng sản Bắc Việt. Nếu Mỹ cứ ngồi khoanh tay nhìn cộng sản tiến công chúng tôi thì có khác nào là một cử chỉ cho phép chúng tự tung tự tác, hoành hành trên lãnh thổ của chúng tôi. Nếu Hoa Kỳ cứ tiếp tục cho phép cộng sản lấn tới, chiếm thêm đất, thêm thành phố của Việt Nam cộng hòa nữa thì chỉ ngày một, ngày hai, chúng sẽ thôn tính cả lãnh thổ Việt Nam cộng hòa này thôi! Nếu người Mỹ giữ đúng cam kết đứng bên cạnh chúng tôi thì đời nào cộng sản dám xé bỏ Hiệp định Ba Lê, dám đưa thêm binh lính, súng đạn, xe tăng đại pháo vào lãnh thổ chúng tôi?
Ngài đại sứ Martin im lặng thở, Cao Văn Viên không hiểu nhà ngoại giao cáo già này nghĩ gì khi nghe những lời lẽ nặng mùi lính tẩy của tổng thống Việt Nam? Chỉ thấy ông ta gục gặc đầu như thể không thèm nói chuyện với người không muốn nghe nữa. Nhưng Weyand thì khác, đại tướng ngưng uống rượu, nhìn vị tổng thống đang đỏ mặt vì tức giận:
- Xin lỗi tổng thống, thế cái chuyện quân đội các ngài xéo lên nhau bỏ chạy khỏi cao nguyên Trung phần, bỏ Huế, bỏ Đà Nẵng, bỏ quân khu I, rồi quân khu II, giao tất cả lại cho cộng sản, chắc không phải là chuyện người Mỹ cho phép?
Tổng thống thấy nói mãi mà hai người bạn đồng minh này có vẻ vẫn như chưa chịu hiểu ra, nên ông lại phải một lần nữa, nói toạc ra:
- Cái sự rút lui chiến thuật của chúng tôi chẳng qua cũng là do nghèo mà ra. Người Mỹ đã nghe theo lời dỗ dành ngon ngọt của Nga Sô, Trung Cộng mà giảm thiểu viện trợ quân sự cho Việt Nam. Giảm nhiều lắm, giảm tới hơn sáu mươi phần trăm rồi còn gì, cả binh lính và vũ khí. Hồi lính Mỹ ở Việt Nam lên đến nửa triệu, rồi xe tăng, đại bác, máy bay, cả B52… rồi hơn một triệu quân lính chúng tôi… mà vẫn không thắng nổi cộng sản, lại còn bị chúng tấn công ngược lại. Vậy mà bây giờ chúng tôi đâu còn gì, không có binh sĩ Mỹ, không B52… Thế mà tiền bạc viện trợ nay dọa cắt, mai dọa giảm. Hỏi nếu căng ra cho cộng sản nó mần thịt thì chịu được bao lâu? Mà tôi nói lại nghe, không phải là bỏ chạy mà chúng tôi rút lui có trật tự, nằm trong ý đồ chiến thuật…
Tổng thống ngưng lại uống cạn ly rượu mạnh. Không ai nói gì, tình hình có vẻ căng thẳng, khiến đại tướng Viên khó xử. Có vẻ như tổng thống Việt Nam cộng hòa đang giận dỗi người Mỹ. Vừa phải thì được, nếu căng quá, làm cho quan hệ giữa chính phủ, quân đội với hai người bạn này xấu đi thì khó có thể làm hòa được. Không thể coi như quân lực của chúng ta chiến đấu chống cộng thuê cho Hoa Kỳ được. Cần phải chặn lại cơn nóng giận của vị nguyên thủ quốc gia. Viên nhìn sang Đặng Văn Quang, vị trung tướng mập ú này vẫn ung dung ngửa cổ uống. Ông lắc đầu, phải làm cái gì đó để cho đại tướng Weyand và ngài đại sứ hiểu rõ và hành động trong phạm vi quyền lực của hai ngài và có lợi cho đại cuộc. Đại tướng, như thói quen quay sang người giúp việc cho mình, nhưng sực nhớ ra trong căn phòng này không có mặt trung tướng Khuyên, ông đành đến trước tấm bản đồ quân sự:
- Thưa tổng thống và các vị. Bộ tổng tham mưu quân lực Việt Nam, cụ thể là tôi đã làm việc trực tiếp với đại tướng Weyand và phái bộ của ngài. Chúng tôi cũng đã cùng nhau đi thị sát một số mặt trận ở Nha Trang, Bình Thuận, Ninh Hòa, Biên Hòa, Long Khánh… Nhưng như các vị đều đã rõ, khi đại tướng Weyand vừa rời khỏi Nha Trang thì thành phố này đã rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Tinh hình rất nguy ngập, có lẽ khi chúng ta đang ngồi đây, thì xe tăng của cộng quân đã tiến đến Phan Thiết, rồi Phan Rang…
Đại tướng ngừng lại, đưa mắt nhìn cử tọa. Không ai nói gì, Weyand và Martin thờ ơ nhìn bức tượng vũ nữ Chàm đen nhánh dưới ánh sáng ngọn đèn trang trí màu vàng gắt, còn tướng Đặng Văn Quang thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn lén tổng thống đang rít thuốc lá. Một sự im lặng đến gai người. Thấy đã đến lúc trình bày được ý đồ của mình, Cao Văn Viên tiếp:
- Cho nên, thưa tổng thống, về căn bản, ý đồ chiến lược của ta trước đây sẽ không còn phù hợp nữa. Tức là phòng tuyến Nha Trang - Đà Lạt - Tây Ninh sẽ không còn giá trị, đúng hơn là không thực hiện được.
Tướng Viên lại ngừng nói, khiến tổng thống sốt ruột, phất tay:
- Nói tiếp đi!
- Bộ tổng tham mưu sau những phiên họp trù tính và thực tế chiến trường với phái đoàn của tướng Weyand và cơ quan tùy viên quốc phòng của tòa đại sứ Hoa Kỳ đã hoạch định một vòng đai phòng thủ mới, hầu bảo vệ thủ đô và những phần đất còn lại của lãnh thổ Việt Nam cộng hòa. Vòng đai này sẽ lấy Phan Rang, và dùng Ninh Chữ làm tiền đồn, để neo lại một vòng cung thép. Mặt khác ở Bắc và Tây Bắc, thì Tây Ninh và Bình Dương là hai tiền đồn bảo vệ vững chắc, ở đây có sư đoàn 23 của tướng Bá, và sư đoàn 5 của tướng Vỹ, là những sư đoàn mạnh của chúng ta…
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gật gù, thoáng nghĩ đến Ninh Chữ, nơi ông sinh ra, và nơi ấy hãy còn mồ mả cha ông của Ngài. Nhưng như chợt nhớ ra điều gì khiến tổng thống quay phắt lại, nói với đại tướng tổng tham mưu trưởng bằng một giọng phẫn nộ:
- Như vậy ta bỏ quân khu I và quân khu II à? Không được!
Viên vẫn từ tốn:
- Trên thực tế, quân khu I của Ngô Quang Trưởng không còn nữa. Quân khu II của tướng Phú chỉ còn Phan Thiết và Phan Rang. Hai tỉnh này sẽ được sáp nhập vào Quân khu III luôn để tiện việc chỉ huy, điều động. Những đơn vị của tướng Trưởng và tướng Phú sẽ được xốc lại, bổ sung quân số, trang bị lại vũ khí, quân dụng để bổ sung cho các mặt trận phòng thủ của hai quân khu còn lại.
Tổng thống ngẫm nghĩ một lúc, không thấy Cao Văn Viên nói gì, ông hỏi:
- Nếu trong trường hợp Phan Rang và cả Phan Thiết bị Cộng sản Bắc Việt lấy mất thì ông định thế nào?
- Thưa tổng thống, điều đó chúng tôi cũng đã nghĩ tới. Trong trường hợp hai tỉnh còn lại của quân khu II bị mất vào tay quân đội Bắc Việt, thì phòng tuyến cuối cùng của chúng ta là Xuân Lộc. Về mặt địa lý, Xuân Lộc và tỉnh Long Khánh là tiền đồn, chốt chặn con đường số Một từ ngoài Trung phần vào Nam, là nơi hiểm yếu án ngữ tuyến hành lang không cho quân cộng sản xâm nhập qua lại giữa vung Bình Giã, Bà Rịa, dưới biển với vùng núi rừng căn cứ chiến khu Đ của chúng.
Tổng thống đăm chiêu hồi lâu. Đành phải thế thôi, với lực lượng hiện nay, không có B52, không có binh lính Mỹ yểm trợ thì đội quân của ông đành phải chọn phương án phong thủ để chờ thời cơ. Mà thời cơ gì bây giờ? Thời cơ chính là hai ông bạn Mỹ đang ngồi đây. Weyand và Martin sẽ trình bày với tổng thống và quốc hội Mỹ những gì đã thấy để họ tỏ ra hào phóng, rót tiền, đưa vũ khí và B52 vào bây giờ? Muộn quá, muộn lắm rồi! Cảm giác thấy bị người Mỹ quay lưng lại với những cam kết ngày càng đè nặng lên vai một nguyên thủ quốc gia, khiến ông nghẹt thở. Viện trợ xin không được thì vay. Tổng thống đã phải dùng đến con bài “giếng dầu ở ngoài biển Đông” để làm con tin với người Mỹ, để họ cho vay cũng được. Nhưng, viên cố vấn của ông phái đi vẫn nằm lỳ tại một sòng bạc nào đó, bên Texas.
Vẫn lắng nghe, chợt ông hỏi tướng Viên:
- Lực lượng của ta ở đó thế nào:
- ở đây hiện nay chúng ta có lực lượng khá mạnh, chưa hề đụng với quân cộng sản, nên còn dồi dào sức chiến đấu. Đặc biệt ở Xuân Lộc ta đang có sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo, một sư đoàn thiện chiến bậc nhất hiện nay của quân lực Việt Nam!
Buồn bã, ngước mái đầu điểm bạc rất phong độ ở tuổi năm mươi hai, tổng thống nói với hai người bạn Mỹ:
- Hiện giờ chúng tôi còn một số tỉnh ở quân khu II, và toàn bộ quân khu III và quân khu IV. Những tướng lĩnh và binh lính của chúng tôi đều là những chiến sĩ kiên quyết chiến đấu chống cộng sản vì lý tưởng của thế giới tự do. Những sư đoàn tuy có bị tổn thất sau những ngày rút bỏ Cao nguyên Trung phần nhưng vẫn còn sĩ quan chỉ huy, vẫn còn tinh thần chiến đấu rất kiên quyết. Nếu có thêm viện trợ của người Mỹ lúc này, nhứt định chúng tôi sẽ giữ vững phần lãnh thổ còn lại trong đó có thủ đô Sài Gòn yêu quý của chúng tôi. Khi đã giữ vững được phần đất còn lại, bằng tinh thần chiến đấu của anh em chiến sĩ quân lực Việt Nam cộng hòa, cộng với vũ khí và B52 của Mỹ, nhất định chúng tôi sẽ đẩy lùi cộng sản và buộc chúng phải thi hành Hiệp định Ba Lê. Lúc đó chúng ta mới có thể nói đến hiệp thương, tổng tuyển cử, hay gì gì đó như người Mỹ muốn. Cho nên tôi mong chánh phủ và quốc hội Hoa Kỳ thật sáng suốt để nhận ra tình hình, thực trạng và nỗi khổ của Việt Nam hiện nay…
Tướng Weyand ngồi lim dim nghe những tràng thuyết trình khi hùng hồn, khi bi thương, lại cả những lời trách móc hờn dỗi của vị nguyên thủ Việt Nam cộng hòa đối với người Mỹ do ông đang đại diện. Ông muốn ngắt lời vị tổng thống lắm rồi, nên khi Nguyễn Văn Thiệu vừa ngưng, đại tướng đã nói ngay:
- Tổng thống và chính phủ chúng tôi hoàn toàn thông cảm với Việt Nam lúc này. Chúng tôi đang và sẽ cố gắng hết sức để thực hiện những cam kết của Hoa Kỳ với Việt Nam. Nhưng thông qua báo chí, và nhất là những gì tôi vừa được chứng kiến thì những cuuộc rút chạy ồ ạt vừa rồi của các ngài đã làm cho các vị nghị sĩ của chúng tôi không còn tin vào sức chiến đấu của quân đội các ngài nữa. (Đại tướng nhìn tướng Viên vừa về chỗ ngồi). ít nhất các ngài cũng phải đánh lấy một trận cho ra trò, rồi để báo chí họ thổi phồng lên thành một trận kiểu như Waterlo. Có như thế, quốc hội chúng tôi mới có thể xem xét việc mở két bạc. Đằng này quân đội của các ngài không chịu dừng bước trốn chạy, cứ nghe thấy tiếng xe tăng của Bắc Việt đã co giò rút chạy rồi thì chẳng có hy vọng nào với quốc hội, dù tôi, ông đại sứ đây hay cả Kitsinger và tổng thống Ford cũng đành bó tay. Đã mười năm, (Weyand giơ một ngón tay cái, rồi chĩa vào ngực mình) xin nhắc lại mười năm dính líu và hy sinh tính mạng binh sĩ Hoa Kỳ mà vẫn không có được một kết quả mong muốn. Quốc hội Hoa Kỳ sẽ không muốn nhúng tay sâu thêm vào một con tàu sắp đắm bởi những thủy thủ chỉ biết bỏ chạy…
Lần này thì trung tướng Đặng Văn Quang nghe rõ những lời của Fred Weyand. Quang vốn không ưa Weyand, vì đã có lần khi đang làm Tư lệnh quân đoàn IV, Weyand kinh lý xuống Cân Thơ, không biết lúc quay về Sài Gòn lão tướng mũi khoằm này nói gì, mà tổng thống đã “nhẹ nhàng điều động” tướng Quang về Sài Gòn, cho “ngồi chơi xơi nước”. Một động tác có khác gì là cách chức đối với một vị tư lệnh vùng Bốn, vốn là một xứ sở gạo trắng nước trong, lại an nhàn, không có những đơn vị chủ lực của cộng sản. Cũng may, giữa trung tướng với Tổng thống có mối quan hệ vừa là bằng hữu, lại vừa có những ân huệ. Khi làm tư lệnh quân đoàn Bốn, tướng Quang đã hết mình với tổng thống phu nhân, người đẹp Trần Thị Mai Anh, vốn quê ở Mỹ Tho, trong mọi trường hợp bà cần đến quân đội quốc gia. Vì thế, sau một thời gian quẩn quanh ở Bộ tổng tham mưu, trung tướng được bổ nhiệm giữ chức cố vấn an ninh của tổng thống. Từ đó, không ngờ lại là một bước tiến của Đặng Văn Quang. Văn phòng của tướng Quang đặt bên cạnh tổng thống trong Phủ Đầu Rồng. Lúc này, trung tướng mới có dịp mở các hồ sơ an ninh của nhiều chiến hữu. Ngoại trừ một số cán bộ, tướng lĩnh tham nhũng, hầu hết các chỉ huy quân đoàn, sư đoàn trong quân đội đều rất trung thành với tổng thống, với sự nghiệp chống cộng sản vì lý tưởng của thế giới tự do. Họ dám hy sinh, dám xả thân vì tổng thống, vì danh dự của quân lực. Mới chỉ có một cuộc rút lui chiến thuật tạm thời từ bỏ Cao nguyên Trung phần và một số tỉnh miền duyên hải mà người Mỹ đã vội vàng kết luận rằng quân lực Việt Nam cộng hòa là một đội quân “chỉ biết bỏ chạy” là xúc phạm. Quang thấy cần phải lên tiếng, và ông nói:
- Thưa ngài đại tướng, ngài nói như vậy là hơi quá, là xúc phạm đến một quân đội vốn có nhiều chiến tích chống bọn cộng sản xâm lăng vì thế giới tự do. Ngay cả ngài mà cũng không nhìn thấy sức mạnh tinh thần của quân đội chúng tôi, thì trên thế giới này còn ai dám tin vào họ nữa? Chẳng lẽ hơn hai mươi vạn cán binh cộng hòa hy sinh trong gần hai mươi năm qua chẳng là cái gì sao? Ai đã cứu quân Mỹ ở Pléime, thung lũng Ya Đrang, ở Bến Cát, Dầu Tiếng, Tây Ninh… những năm xưa? Ai? Nếu không phải những chiến sĩ cộng hòa Việt Nam gan vàng, dạ sắt…?
Nghe Quang nói vậy, Weyand tỏ ra ngạc nhiên, nhìn trung tướng chằm chặp, đôi môi mấp máy, định đính chính một câu gì đó, nhưng tổng thống đã gạt đi, ông nói bằng tiếng Việt:
- Thôi Quang! Anh đừng nói nữa, để họ tự nghĩ!
Rồi ông quay sang nhìn hai người bạn Mỹ:
- Không! Không có chuyện rút lui nữa! Trong đệ nhị thế chiến, Staline đã nói thế này: “Các đồng chí! Sau lưng chúng ta là Moscow!”. Tuy không ưa chủ nghĩa cộng sản nhưng tôi ngưỡng mộ Staline, nhà độc tài Nga Xô, mà nói rằng: “Hỡi anh em binh sĩ! Sau lưng chúng ta là Sài Gòn!”. Còn trận chiến thắng như các ngài mong muốn, nó sẽ xảy ra! ở đâu thì chưa nói ngay được, có thể là Phan Rang, Phan Thiết, hay Xuân Lộc! Tôi xin nhắc lại: quân lực Việt Nam cộng hòa, và cá nhân tôi quyết tâm bảo vệ đến cùng phần lãnh thổ còn lại. Tuy nhiên muốn ngăn chặn hữu hiệu bọn cộng sản Bắc Việt, việc cấp thời là phải trang bị vũ khí thật mạnh, thật hùng hậu cho binh sĩ. Đồng thời phải nâng cao tinh thần binh sĩ, gây lòng tin cho họ và cho dân chúng thủ đô và những vùng lãnh thổ đang trong tay chánh phủ. Chúng tôi hy vọng và đặt hết niềm tin vào Hoa Kỳ và khẩn khoản đề nghị các ngài hãy cho B52 ném bom vào đội hình quân cộng sản!
- Được! Rất tốt! Chúng tôi hy vọng là quyết tâm của tổng thống và các tướng lĩnh Việt Nam sẽ thành hiện thực. Chỉ có điều, tổng thống yêu cầu B52 lúc này là đã muộn! Bất cứ một hành động can thiệp trực tiếp nào vào Việt Nam lúc này, tổng thống và quốc hội chúng tôi đều phải cân nhắc hết sức thận trọng…
Tổng thống bỗng đứng dậy, đi về phía bản đồ hành quân, nói với Cao Văn Viên nãy giờ như người ngoài cuộc:
- Anh có thể nhắc lại một lần nữa về tuyến phòng thủ?
Đại tướng Cao Văn Viên vội cúi xuống cầm chiếc gậy ba- tấc- tám của mình chỉ lên bản đồ:
- Đây là Xuân Lộc, thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh. Chúng tôi, là tôi và đại tướng Weyand cho rằng, nếu có một trận chiến thắng oanh liệt thì chính nó phải nổ ra ở chỗ này.
- Ông đại tướng Weyand nói thế nào?
- Tất cả bản tường trình và kế hoạch lập phòng tuyến đã có ở chỗ tướng Quang!
Tổng thống nhìn Đặng Văn Quang, hất hàm. Quang lắp bắp:
- Trình tổng thống, tôi mới nhận được hồi chiều qua, chưa kịp chuyển cho đại tá chánh võ phòng.
- Được rồi. Nhưng tên nó là gì?
- Dạ, trình tổng thống, đó là bản kế hoạch mang tên “Phòng tuyến Weyand”.
Tổng thống nhìn Weyand, thấy ông ta hơi mỉm cười:
- Thưa tổng thống! Bản kế hoạch do phái đoàn chúng tôi thảo ra đã được tướng Viên và các phụ tá của ông tán thành. Còn việc đặt tên nó là gì thì do tướng Viên nghĩ ra…
- Ngài đã ra Xuân Lộc chưa?
- Rồi! Tôi đã gặp tướng Đảo và bộ chỉ huy của anh ta!
- Ông thấy Đảo thế nào?
Weyand không nói ngay, mà tranh thủ châm một điếu thuốc, thả khói mịt mù, rồi mới thong thả:
- Ngay từ khi tôi còn giữ chức trưởng đoàn cố vấn Hoa Kỳ tại Việt Nam, lúc ấy chúng ta đã bàn đến một chương trình đào tạo các tướng trẻ thế hệ thứ hai nhằm phục vụ cho cuộc chiến trong tương lai. Đến bây giờ, tôi cho là chương trình đó đã có kết quả. Lê Minh Đảo là một trong những viên tướng đó. Lòng nhiệt thành với chiến tranh, có hiểu biết tầm cỡ chiến lược và, xin lỗi hai tướng quân có mặt tại gian phòng này, họ rất Mỹ, Mỹ hơn các ngài, và… Mỹ hơn cả Mỹ…
Tổng thống cười, nhìn Weyand rồi lại nhìn Đặng Văn Quang:
- Tôi có nghe an ninh quân đội báo cáo. Thằng Đảo nó chửi người Mỹ là hèn, là xấu chơi, đem con bỏ chợ chứ gì? Nhưng hắn là một tay chống cộng sản cừ khôi đấy!
Weyand cũng cười:
- Thưa tổng thống, rất đúng! Tôi tin tưởng vào Lê Minh Đảo và sư đoàn 18 của anh ta!
Tiễn khách về, còn ba người Việt Nam. Tướng Viên và tướng Quang đứng ngây ra nhìn tổng thống đang ôm đầu, rồi lại nhìn nhau. Bỗng tổng thống ngẩng lên, hai con mắt đỏ lừ, rực sáng:
- Hai anh bố trí cho tôi ra Xuân Lộc gặp Lê Minh Đảo. Kêu cả tướng Nguyễn Văn Toàn nữa…
- Dạ thưa… khi nào ạ?
Tổng thống còn đang cân nhắc thì Viên xen vào:
- Có thể ra ngoài ấy vào khuya nay, lúc mười một, mười hai giờ.
- ừ, được! Anh bố trí lực lượng bảo vệ, nghi binh. Còn Quang lo an ninh. Cứ chuẩn bị sẵn, khi nào đi tôi báo.
Đặng Văn Quang hỏi thêm:
- Có cho báo chí đi theo không?
- Cho! Tổng thống dứt khoát. Nhưng phải tuyển lựa. Có lẽ cho Việt Tấn xã, báo Tiền Tuyến và Đài phát thanh, Đài truyền hình, thế thôi… Hả?