📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Thơ đến từ đâu? - Loạt bài phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng

5 trả lời, 112 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-01 09:20:53Ngọc Lý>
.

Nguyễn Viện
Thơ đến từ đâu?
Nguyễn Đức Tùng thực hiện





Tác giả Nguyễn Viện



Nguyễn Đức Tùng: Bài thơ của anh bắt đầu ra sao?

Nguyễn Viện: Bài thơ của tôi bắt đầu bằng một hình ảnh, có khi bắt đầu bằng một từ, một khái niệm... Nhiều khi, nó cũng bắt đầu bằng một sự trống rỗng, hoặc một khao khát bày tỏ. Nhưng chắc chắn nhất là tôi thường không biết bắt đầu từ đâu. Tôi ít khi nhớ tôi đã bắt đầu một bài thơ như thế nào. Và vì thế tôi cũng chẳng bao giờ nhớ thơ mình. Tôi có thói quen ngồi vào bàn viết lúc sau 10 giờ đêm. Trước cái máy tính, tôi thường không biết trước tối nay sẽ viết cái gì. Nếu tôi đang ở trong giai đoạn viết truyện, tôi chỉ đọc vài dòng cuối, xem hôm qua mình đã viết ra sao, rồi viết tiếp. Trong trường hợp đang sống trong giai đoạn làm thơ, tôi sẽ viết một cái gì đấy gọi là thơ, liên tục trong nhiều ngày, những bài thơ khác nhau. Cho đến khi tôi nghĩ là nên dừng lại. Nếu có thể gọi là cảm xúc thì cảm xúc của tôi kéo dài trong nhiều ngày. Nhưng tôi không cho rằng tôi viết vì cảm xúc.

Ðây là một bài thơ của tôi:

    Tiếng nói

    I. Trong tận cùng cô đơn, họ tung tóe nhau thành cát trộn lẫn nhau thành màu chiều hủy diệt nhau thành thời gian. Trong tận cùng ước muốn, họ sa mạc tự do dàn trải vào những cõi miền hoang vu và đối mặt với cái không. Không. Trong tận cùng nhau, họ là ánh sáng.

    Vẫn. Trong bóng tối cát, người đàn ông đạp chân vào giấc mơ để lại tiếng khóc của cô gái giải thoát những linh hồn trầm uất. Tiếng khóc còn vọng vào nước biển làm nên những âm sắc kinh cầu. Nhục dục được cứu rỗi.

    II. Trong và đục. Họ như hai con rắn quấn vào nhau trên đồng cỏ, phun nọc độc vào không khí xóa hết tạp âm của gió chiều.

    Cái bóng đổ và tiếng vọng mới trầm trọng làm sao. Người đàn ông đứng lên gầm trong vòm họng. Âm thanh nén vỡ toang lồng ngực. Chỉ nhìn thấy một khoảng không màu đỏ.

    Máu. Chữ nghĩa làm chứng gian cho sự xấu xa. Chúng ta vẫn bất lực trong bóng tối của ngôn từ.

    III. Người đàn ông xả thân thành nước tưới cánh đồng lông măng rờn rợn khát. Nước thấm xuống thành mạch ngầm. Mùa khai hoa, người đàn ông đứng lên thành bão. Những mạch ngầm vọt lửa.

    Trong góc khuất mỗi đời sống, mưa an ủi. Cơn hoạn nạn của con người được chia sẻ bởi những giấc mơ huyền hoặc. Cô gái hóa thân thành rượu.

    IV. Say nắng. Những người mở đường ném đá vào vũng lầy xô đổ tường thành của những kẻ cát cứ. Người đàn ông bốc một nắm cát trong tay rồi lặng lẽ vào rừng. Ðức Phật bảo: ngộ.

    Nắng phát điên. Cô gái trốn nỗi buồn trong những ngọn đèn vàng quán café ủ ê. Không biết mê hay ngộ.

    V. Lúc lắc. Không một ai có thể đứng vững khi người đến trong cơn thịnh nộ. Cũng không một ai có thể nằm yên khi vắng người. Chúa bảo: Ta là đường.

    Trên ngọn cây sáng nay, lũ chim sẻ ríu rít động tình. Bài ca hoan lạc che giấu trong quần. Lạc thú bị nguyền rủa là tội. Ðịa đàng – làm sao trở lại?

    Người đàn ông đi tìm cô gái trên những con đường lạ với nguyên khí vo biên...

    VI. Bước vào thế giới bằng sự quánh đặc bất khả nhiễm, người đàn ông không phản ánh điều gì của thế giới. Ngày nọ, cánh tay thiêng vớt một nụ mầm trong hố thẳm, rồi thổi hơi vào nụ mầm nở mãi vào không gian trong suốt. Thiếu nữ thở.

    Như thế là em đã đi. Sự gian truân bắt đầu từ lời nói. Cỏ hàm ngôn. Mưa cũng hàm ngôn. Ong bướm thì lăng nhăng mất nết. Ðạt Ma sư tổ ngồi thiền. Nín.

    VII. Tôi bắt đầu và kết thúc ở cùng một chỗ. Người đàn bà như vòng hoa ở nghĩa trang tự mọc lên cây cối lớn.

    (17.3.2001)


Nguyễn Đức Tùng: Tôi chú ý đến câu của anh: Cảm xúc của tôi kéo dài trong nhiều ngày. Dĩ nhiên điều đó là hoàn toàn có thể xảy ra cho một số trường hợp, nhưng không lẽ bao giờ cũng vậy? Hay anh muốn nói một tâm trạng chăng? Vậy trong những trường hợp khác, hay trong những ngày khác, một nhà thơ có thể viết nên điều gì nếu anh ta không có cảm xúc?

Anh còn đi xa hơn nữa khi “không cho rằng tôi viết vì cảm xúc”. Chắc anh biết rằng sẽ có nhiều người không đồng ý với anh. Từ trường hợp Nguyễn Viện, ta có thể có một câu hỏi tổng quát hơn: liệu một nhà thơ có thể viết không bằng cảm xúc, và từ một nguồn cơn nào khác? Các ý tưởng triết học chẳng hạn.

Trong bài thơ của anh, tôi thích câu “Trong tận cùng nhau, họ là ánh sáng”. Nghe buồn bã và đau đớn. Và những câu khác nữa. Nhưng những câu chỉ có một chữ mà vì chúng mà anh chọn lựa: “Không”, “Máu”, “Nín”, có thể làm tôi cảm động, nhưng không đủ sức làm tôi phát hoảng lên.

Nguyễn Viện: Tôi không nghĩ rằng mình quá cá biệt khi viết không cần cảm xúc. Có thể tôi đã diễn tả không chính xác lắm, nhưng tôi nghĩ tất cả những nghệ sĩ chuyên nghiệp đều làm việc theo một kỷ luật nào đó và có tính thường xuyên, không phải chờ có cảm hứng. Cái chính là để có thể sáng tác, người ta cần có đề tài. Và quan trọng hơn, có một cách riêng để khai thác đề tài đó. Tôi gọi đó là “tìm được cửa ra”.

Anh không phát hoảng lên vì thơ tôi thì may quá. Một tác phẩm không thể tạo ra sự đồng cảm, hay phản cảm như nhau nơi từng người đọc.

Nguyễn Đức Tùng: Đây có phải là bài thơ vừa ý nhất của anh không? Nếu phải, tại sao? Nếu không phải, và buộc phải chọn một, đó là bài nào?

Nguyễn Viện: Quả thật khó để chọn một bài thơ nào đó vừa ý nhất. Tôi chọn bài thơ trên để giới thiệu thơ tôi chỉ vì trong bài thơ này tôi thích có những câu chỉ có 1 từ. Và một từ ấy là một nhát búa đóng đinh bài thơ lên cây thập tự của số phận (bài thơ). Ðây là bài thơ tôi làm từ năm 2001. Nhưng nếu anh muốn tôi chọn một bài thơ để treo tôi lên cây thập tự của thi sĩ thì tôi xin giới thiệu:
    Mặt trăng ở ngã tư Chợ Lớn
    (tặng Mạch Nha, Trần Tiến Dũng)

    Em vàng rực giấc mơ vàng nỗi buồn vàng đã khép
    Một nửa sự bí mật trong khe hồn kinh dị
    Mùa gió không về để lãng quên một con thiêu thân dưới góc đường
    Ánh sáng đâm lủng ruột
    Cô gái vừa đi qua bằng đôi chân trắng muốt
    “Mày có nghe thấy gì không?”
    Ngọn núi lửa phía bên kia trái đất bốc mùi rượu
    Sự tự do lựa chọn một cái chết tịnh danh
    Cái chết của đám đông mù thẳm
    Em không để tang anh một khoảng trống em một đầy ứ
    Cái chết không mùa từ khước số phận
    Cởi quần nhớ suối giấc mơ vàng nỗi buồn vàng
    Mùa chó chết mặt trăng ở ngã tư Chợ Lớn
    “Mày có nghe thấy gì không?”.

    (10.5.2006)

Nguyễn Đức Tùng: Cái gì là quan trọng nhất trong thơ anh? Hình ảnh? Âm nhạc? Vần điệu? Ngôn ngữ?

Nguyễn Viện: Tất cả, trừ vần điệu.

Nguyễn Đức Tùng: Trừ vần điệu ư? Anh muốn nói là vần hay điệu hay cả hai? Anh có bao giờ từng làm một bài thơ lục bát, bảy chữ, tứ tuyệt, nói chung là có vần, hay không? Nếu anh vẫn còn nhớ được, và vẫn còn chút kỷ niệm về chúng, xin cho nghe.

Nguyễn Viện: Trong câu hỏi của anh đã có sự tách biệt giữa âm nhạc và vần điệu, bởi vậy tôi đã trả lời theo sự tách biệt đó. Tôi nghĩ rằng, thơ không cần có vần nhưng vẫn cần có nhạc tính. Ðó là nhịp điệu.

Ngay khi mới biết làm thơ, tôi đã làm thơ tự do. Nhưng quả thật, tôi cũng từng đã làm thơ lục bát, thơ thất ngôn, thơ tứ tuyệt. Ðó là những ngày rất buồn, không nhà, vô định. Ðọc anh nghe một bài tứ tuyệt tôi đã làm trong giai đoạn đó, cách đây hơn 20 năm:

    Mặt trời chết đuối ở bao la
    Ẩn mật hoang vu cõi chiều tà
    Gió ơi, đừng dậy niềm thương nhớ
    Cứ để hoàng hôn xuống nhạt nhòa.

    (1980)

Nguyễn Đức Tùng: Vào giây phút im lặng sâu xa nhất, được sống với chính tâm hồn mình, bài thơ nào của mình mà anh nhớ nhất, và muốn đọc cho mình nghe nhất?

Nguyễn Viện:
Vào cái giây phút “nghiêm trọng” ấy, tôi không nghĩ đến thơ, bởi vậy lại càng không nghĩ đến thơ mình. Có hai trường hợp xảy đến với tôi. Một là tôi hướng lòng tôi về Chúa (hay một cái gì đấy tương tự như Chúa, hư vô chẳng hạn). Hai là tôi để lòng tôi cho một cô gái chiếm ngự.

Nguyễn Đức Tùng: Mặc dù bất ngờ, tôi thích câu trả lời này của anh. Nhưng tôi không cho giây phút ấy là nghiêm trọng, kiểu như thiêng liêng hay thần bí. Trong đời sống ngày một bận rộn của chúng ta, chỉ giản dị là chúng ngày một trở nên hiếm hoi.

Anh không có một bài thơ thầm kín nào của riêng mình chăng? Hoặc là có mà không thể hay không muốn cho người khác biết?

Nguyễn Viện: Thơ vốn là thầm kín. Nhưng tôi không phải là người tự đóng đinh mình vào bất cứ điều gì.

Nguyễn Đức Tùng: Trong thời gian gần đây, một tháng, một năm, năm năm, có một sự kiện xã hội, chính trị, văn học, lịch sử nào đã tạo nên cảm xúc làm nền cho một bài thơ của anh?

Nguyễn Viện: Không có sự kiện nào ngoài tôi làm nền cho thơ tôi ngoài chính tôi và cuộc chiến đấu của tôi với cái cối xay gió của Thượng đế.

Nguyễn Đức Tùng: Đây là một cái nhìn bi quan hay lạc quan đối với lịch sử? Đời sống chung quanh chúng ta, hay ít nhất là ở Việt Nam, đang trở nên buồn tẻ đến thế sao? Hay là các nhà thơ khơng còn quan tâm đến thế sự nữa? Tôi tin rằng những nhà thơ bao giờ cũng nhạy cảm, nếu họ quay lưng với cuộc đời, chỉ vì họ thất vọng và đầy tổn thương. Phải không anh Nguyễn Viện?

Nguyễn Viện: Thật ra, cả trong văn và thơ tôi bao giờ cũng đầy những vấn đề thế sự, thậm chí đến độ nóng. Tôi cho rằng, đã có một sự lầm lẫn giữa vai trò một nghệ sĩ với một chiến sĩ. Phản kháng là yếu tính của nhà văn trong bất kỳ một bối cảnh xã hội nào, nhưng tính phản kháng trong văn chương không đồng nghĩa với tính chiến đấu của một người lính xung kích hay một cán bộ văn hóa dưới một ngọn cờ nào đó. Văn chương không thể thoát được các vấn đề chính trị, nhưng làm văn chương hoàn toàn khác làm chính trị. Thái độ phản kháng là một giá trị xã hội, nó không tất yếu là một giá trị văn học. Không phải cứ viết phản kháng là có giá trị. Giá trị văn học độc lập với chính trị, nhưng nó vẫn có thể bao hàm các vấn đề chính trị.

Tôi không tin rằng đời sống ở Việt Nam hiện nay đang trở nên buồn tẻ, mà ngược lại. Chưa bao giờ tôi thấy các nghệ sĩ Việt Nam lại thiết tha đến các vấn đề lịch sử đến thế. Họ không sợ phải lên tiếng cho tự do. Và không ít người đã viết rất tự do.

Nguyễn Đức Tùng: Nếu ngày mai có một cuộc tập hợp đông người, và người ta đẩy anh lên sân khấu: đứng trước micro, anh sẽ đọc bài thơ nào của mình cho đám đông?

Nguyễn Viện: À, như thế tôi lại có dịp khoe một bài thơ khác của mình:

    Cái chết của một khứa lão

    Người đàn ông ấy đã qua đời
    Ðể lại một cái chiếu rách và những con rệp mun bóng kênh kiệu
    Cái chết của mắt
    Những con ruồi bu trên ô vuông cửa sổ
    Những ngọn đèn đường ủ dột
    Những chiếc lá rũ
    Cái chết của miệng
    Lũ kiến leo lên bờ tường trốn chạy cơn mưa
    Những cái loa khuếch âm xé rách bầu trời buổi sáng
    Ðứa bé đeo khẩu trang đến trường
    Cái chết của giống
    Những người đàn bà ôm mặt khóc
    Cô gái điếm banh lồn ở ngã tư khi đèn đỏ
    Người đàn ông ấy chỉ còn một chiếc răng cửa mang xuống địa ngục
    Hắn đã gặm cả linh hồn mình trong suốt bảy mươi năm ròng rã
    Vâng, điều chắc chắn nhất là người đàn ông ấy đã chết
    Trên chiếc chiếu rách và những con rệp mun bóng kênh kiệu
    Cách đây đã lâu
    Nhưng cái bóng của hắn vẫn đổ xuống như một con ma chín đầu
    Mỗi đầu là một cơn ác mộng
    Cái chết của huyền thoại
    Loài gấu hoang thai trong chuồng
    Trên bàn phím computer lũ kiến tha về những miếng thịt thối
    Của kẻ đang sống.

    (29.4.2006)

Nguyễn Đức Tùng: Cám ơn anh đã đọc cho công chúng nghe một bài thơ của anh. Chắc anh phải có lý do để chọn nó giữa hàng trăm (?) bài thơ khác? Anh trông đợi gì ở phản ứng của người nghe trong trường hợp này? Giả sử anh có một audience lý tưởng, họ sẽ phản ứng ra sao? Đau khổ, tức giận, xì xào bàn tán, im lặng gật đầu, chảy nước mắt, thờ ơ lạnh nhạt hay la hét phản đối?

Anh có thể nói gì cho mọi người về một thông điệp (message) của bài thơ?

Nguyễn Viện:
Thật khó trông đợi điều gì khi một bài thơ được đọc giữa một công chúng không được xác định. Và cũng thật khó (và thật chán) khi phải diễn giải bài thơ bằng một thông điệp. Vì một bài thơ không bao giờ có một thông điệp thật sự và duy nhất cho mọi người, mọi nơi và mọi lúc. Ngoại trừ một bài thơ tuyên truyền.

Nguyễn Đức Tùng: Anh không làm thơ nữa, có được không?

Nguyễn Viện: Tôi đã từng quyết không làm thơ nữa sau năm 2001. Ấy thế mà trong năm 2006 này, tôi lại có một loạt thơ đăng trên website Tiền Vệ. Dường như, thơ với con người là máu thịt.

Nguyễn Đức Tùng:
“Thơ với con người là máu thịt”: câu này của Nguyễn Viện mới đóng đinh anh vào cái thập tự của thi sĩ.

Nguyễn Viện: Thật thế ư?

Nguyễn Đức Tùng: Anh thường đọc nhà thơ nào? Việt Nam? Nước ngoài? Anh học ở họ điều gì?

Nguyễn Viện: Tôi thường đọc tất cả những nhà thơ tôi quen biết. Nó cũng giống như mình muốn biết sức khỏe bạn bè. Và tôi thường muốn biết tại sao họ khỏe hay không khỏe.

Nguyễn Đức Tùng: Còn các nhà thơ ngoài Việt Nam thì sao? Có nhiều nhà thơ viết bằng tiếng Anh được dịch ra tiếng Việt không, thưa anh? Các bản dịch này rất tốt hay tồi tệ?

Nguyễn Viện: Ngoài các bản dịch của Huỳnh Phan Anh, Hoàng Hưng, Nguyễn Quang Thiều được in trong nước, tôi cho rằng các bản dịch trên trang web Tiền Vệ là một đóng góp rất quan trọng vào sự hiểu biết chung của người đọc. Thú thật, bảo rằng bản dịch tốt hay tồi tệ thì không thể. Ðơn giản vì tôi dốt ngoại ngữ.

Nguyễn Đức Tùng: Xin cho nghe một bài thơ của một nhà thơ Việt Nam khác đương thời mà anh thích nhất hay nhớ nhất. Xin nói về bài thơ đó.

Nguyễn Viện: Ngay trong lúc này, cứ kể tên mà không cần suy nghĩ, tôi sẽ đọc thơ của Trần Tiến Dũng và Nguyễn Thúy Hằng (nếu tôi có tập thơ của họ trong tay). Nhưng bảo tôi nhớ nhất và thích nhất một bài nào đó của một người khác thì khó, ngoại trừ một vài câu của Thanh Tâm Tuyền từ khi tôi còn nhỏ.

Nguyễn Đức Tùng: Vậy chúng ta hãy nói về Nguyễn Thúy Hằng trước chăng? Không phải vì lady first mà vì tôi khá quen thuộc với thơ của Trần Tiến Dũng, và muốn để một dịp khác, và nhất là vì chuyện sau đây. Trong bài phỏng vấn trên báo Văn nghệ Trẻ ra ngày 4/6/06, đăng lại trên talawas ngày 6/6/06, có đoạn như sau:

    “sáng T7.20.1.04
    Chúng tôi đã kêu hai phần ăn thật giống nhau: trứng, khoai tây, thịt rán. Chính giữa là một nước suối, một ly cam, một da con báo”( đoạn 19 - quyển 3)
    “ý tưởng : mô hình café
    Quán nhỏ, khoảng 20 người ngồi
    Bàn hình vuông hoặc tròn, nhỏ, diện tích đủ cho một người. Ghế và bàn tự tay đóng lấy. Bằng gỗ. Thấp
    (…) Tương tự như vậy, tôi sẽ nói tiếp những ý tưởng khác cho dạng café_ngồi đồng ở những mục kế tiếp”( đoạn 32- quyển 3)
    (trích thơ Nguyễn Thúy Hằng)

    Phong Điệp:… có nên nghi ngờ về cái gọi là thơ / sáng tạo thơ ca ở những dòng mà tôi vừa trích dẫn trên đây được không, thưa anh Nguyễn Thanh Sơn?

    Nguyễn Thanh Sơn: Với tôi, đó không phải là thơ.


Thưa anh Nguyễn Viện, với anh, đó có phải là thơ chăng?

Nguyễn Viện: Tất nhiên, đoạn trích dẫn trên, đó không phải là thơ. Và tôi nghĩ rằng, với ngay cả tác giả Nguyễn Thúy Hằng, đó cũng không phải là thơ. Bởi vì, đoạn trích dẫn trên, chính xác là một đoạn VĂN trong tập tạp ghi mang tên Do đó, nó lại đến của Thúy Hằng trong bộ sách Thời hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lý gồm 3 cuốn: I - Cửa sổ đập (thơ), II – Cá thể ướt kỳ lạ (truyện), III – Do đó, nó lại đến (tạp văn).

Liệu có nên nghi ngờ sự hiểu biết và tính lương thiện của nhà báo Phong Ðiệp và nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn trong trường hợp này, thưa anh Nguyễn Ðức Tùng?

Nguyễn Đức Tùng: Cám ơn anh đã giúp làm rõ chi tiết quan trọng này. Vậy hãy để cho công chúng độc giả kiểm tra và lượng giá vấn đề liên quan tới sự hiểu biết và tính lương thiện của hai tác giả nói trên như anh đề nghị. Nhưng câu hỏi chính yếu của chúng ta vẫn còn đó:

Một cách thú vị, cả nhà thơ Nguyễn Viện lẫn nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn, mặc dù xuất phát từ hai góc nhìn khác nhau, đều cho rằng đoạn văn trên không phải là thơ. Gần đây trên báo chí ở Việt Nam, các tác giả thường có câu nhận xét: cái này, cái kia không phải là thơ. Theo tôi, đây là một lời phê bình nặng nề, nhưng không phải bao giờ cũng sai, hoặc cũng đúng. Câu hỏi tôi muốn đặt ra là: vậy thì theo anh Nguyễn Viện, cái gì quyết định một tác phẩm là một bài thơ, mà không phải là cái gì khác, ví dụ tùy bút, tiểu luận, tiểu thuyết, văn chương quảng cáo?

Nguyễn Viện: Hiện nay chúng ta có thơ (văn) xuôi và nhiều loại thơ khác, như thơ sắp đặt, thơ hình..., ngoài các hình thức truyền thống. Tôi có cảm giác rằng để nhận biết một bài thơ (mà không phải là thứ gì khác), người đọc chỉ nên trông cậy vào cảm quan của chính mình. Tác giả bảo cái này, cái nọ của họ là thơ thì cũng chẳng nên cãi làm gì. Tôi cho rằng các biên giới của thể loại đang dần bị xóa bỏ.

Nguyễn Đức Tùng: Câu hỏi cuối cùng: Thơ cần thiết cho ai?

Nguyễn Viện: Có lẽ nó chỉ cần thiết cho chính người làm thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Một lần nữa, câu trả lời cũng đầy tính chất riêng của Nguyễn Viện. Có lẽ thơ chỉ cần thiết cho chính người làm thơ, như anh nói. Nhưng nếu vậy, chúng ta in thơ, xuất bản thơ và đọc thơ cho người khác nghe để làm gì, thưa anh?

Nguyễn Viện: Phổ biến một tác phẩm, có nghĩa là thể hiện một nhu cầu cần được chia sẻ bởi người khác. Nhưng vấn đề là anh có khả năng làm cho thơ mình trở nên cần thiết với người khác hay không?

Nguyễn Đức Tùng: Xin cám ơn anh.

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7435&rb=0101
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-01 09:42:15Ngọc Lý>
.

Inrasara
Thơ đến từ đâu?
Nguyễn Đức Tùng thực hiện





Nhà thơ Inrasara




Nguyễn Đức Tùng: Bài thơ của anh bắt đầu ra sao? Xin cho một bài thơ làm ví dụ.

Inrasara: Thường thì tôi bắt đầu một bài thơ qua gợi hứng từ chữ. Tôi thấy một chữ hay, nắm lấy nó, tìm tứ và hình ảnh rồi khi bắt được nhịp thì bài thơ trào ra. Không có hoàn cảnh ra đời nào cả! Với tôi, một hoàn cảnh cụ thể nào đó ít khi cho ra đời một bài thơ. Có, nhưng nó phải là một ám ảnh. Ví dụ, bài thơ thường được báo chí trích dẫn:
    Những dấu chân ơn nghĩa

    Người Champa đã đến đất này
    đào mương trồng lúa / đốt rừng làm rẫy
    yêu nhau / sinh con đẻ cái
    làm thơ rồi ra đi
    gởi Mĩ Sơn ở lại.

    Rồi người Việt từ phương Bắc tới
    lại yêu nhau / nên xóm nên làng

    Trước đó
    người Sa Huỳnh không biết từ đâu / về đâu
    gốm nung làm dấu chân ơn nghĩa.

    Mốt mai
    còn ai nữa đến trú.

Bài thơ được gợi hứng từ chữ “dấu chân”, “dấu vết”. Lần đầu vào Café Dấu Ấn, tôi được cho biết, các dấu chân in trên nền ximăng được bọc lớp kiếng dày kia là của vài người nổi tiếng. Tôi chợt nhớ đến câu của Phạm Công Thiện: “Sống mà không để lại dấu vết”. Nhưng con người lại thich lưu lại cái gì đó. Điều này ám ảnh tôi: dấu vết vô ích và… vô thường! Có khi một dân tộc, một nền văn minh cũng chỉ mong để lại vài dấu vết trên mặt đất này thôi cũng không thể. Thế là bài thơ ra đời.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi thích bài thơ của anh. Nhưng nói vậy chưa đủ, chúng ta có thể bàn thêm một chút về chuyện bếp núc của thơ được chăng? Tôi xin nói thẳng, nếu tôi là nhà thơ Inrasara, tôi sẽ bỏ chữ “ơn nghĩa” sau câu “Gốm nung làm dấu chân”, và cả ở cái tựa đề. Anh có thấy thêm vào như thế là thừa không, thưa anh?

Inrasara: Đồng ý, thế mới lạ chứ! Trước, tôi đặt tựa là “Lịch sử”, nhưng không báo/người biên tập nào duyệt in cả. Thế là tôi tự ý thay. Cả khi bài thơ được đọc, hai câu cuối luôn bị “quên” đi. Thêm cái ví dụ: Trong tập thơ Lễ tẩy trần tháng Tư, tôi có loạt bài “Những ngày rỗng”. Nhà xuất bản chẳng những cắt bỏ 7 “Những ngày rỗng” của tôi mà còn bảo tôi thay từ “rỗng” bằng “trống” mới chịu cho in. Nếu trường hợp sau là bị kiểm duyệt thì thì trường hợp trước, phải kêu đích danh là một sự “tự kiểm duyệt” tệ hại!

Nguyễn Đức Tùng:
Đây có phải là bài thơ vừa ý nhất của anh không? Nếu là, tại sao? Nếu không phải, và buộc phải chọn một, đó là bài nào?

Inrasara: Đó là bài thơ đề cập vấn đề khá lớn: sự mong manh của định mệnh một dân tộc, một nền văn minh,… Mà tôi lại không thích đề tài to tát cho lắm. Cái bấp bênh của thân phận một người/một thế hệ con người cụ thể gần gũi với tôi hơn. Bài thơ sau là một ví dụ:

    Bất ngờ nhiều cái nghĩ tối nay

    Con ma nào đưa tôi ngồi quán

    tôi rơi vào mắt cô gái Chăm đầu tiên bán bia ôm
    em ngồi sát vào khiến tôi rụt cái đầu con nít.
    ồ tôi có thể dòm gì, làm gì em cũng được
    nhưng tôi muốn dòm / làm gì!?
    đôi mắt em chuyển màu suy nghĩ tôi
    có gì liên quan giữa bắp chân tròn thô đậm rơm rạ em

    với cặp giò thon thả vũ nữ apsara xưa?

    Tôi ực một hơi bia 333

    có gì liên quan giữa vầng trán u uẩn bác chài An Giang với

    cằm ngạo nghễ Shiva?
    từ bia Võ Cạnh đến ghế tôi ngồi đêm nay chưa đầy hớp
    làm sao linh hồn tôi thăng hoa?

    cha dạy tôi đánh vần tên sông mơ hồ
    huyền sử ông ngoại kể tôi không muốn nhớ
    Glang Anak viết thi phẩm mỏng tang nhiều thế hệ thuộc / hiểu thì sai
    làm sao tôi thở than cùng em tiếng mẹ?

    Con ma lôi tôi khỏi quán

    tổ tiên góp sức gì vào xuống cấp hôm nay?
    tâm hồn đám hậu duệ khô gạch nung
    âm tắc đọng vòm họng dân Quảng 500 năm không chịu mất vết
    vẫn đậm mắt buồn tháp hoang
    vẫn môi dày, mày rậm, tóc gợn, da ngâm, bắp tay săn chắc

    Tôi đứng sững dưới hiên mưa.

    hôm qua
    tôi vỗ đùa vào bụng bia đàn ông Chăm thứ 100
    có dính dáng gì giữa ngang tàng vòm tóc Bồng Nga với

    chềnh ễnh bụng bạn tôi?
    con gái tôi bảo: cha ơi đêm qua con mơ thấy bộn bong bóng xì

    ôi là khốn khổ
    chúng tôi lớn lên từ Mĩ Sơn, Dương Long
    chúng tôi lớn lên từ nhà yơ, nhà halam /

    chúng tôi cũng lớn lên từ chòi lợp tôn Mĩ
    lớn lên từ Panwơc Pađit, Pauh Catwai /

    cũng lớn lên từ Truyện Kiều, thơ Nguyễn Trãi
    lớn lên từ nắng, mưa, bão miền Trung /

    cũng lớn lên từ cánh đồng mỡ mầu Tây Ninh, Châu Đốc
    từ bùn đất Châu Lý, Châu Ô / cũng từ nước sông Phan Rang,

    Phan Thiết
    chúng tôi có biết đến tên Khổng Khâu, Socrate cả Jaspers, Derrida
    có đọc lỗ mỗ Dante, Tagore, Sartre, Palmer
    tội ơi cho chúng tôi đứa con hoang lịch sử!

    Tôi đi lao vào mưa

    ôi là phó tiến sĩ hữu nghị đứng giảng đường
    ôi là đồng hương bác nông dân cày rẫy Quảng Nam
    họ hàng xa cô gái mười bảy bán bia ôm Sài Gòn
    chung huyết thống tôi trí thức mang nhiễm triệu virút

    sách vở khệnh khạng

    Tôi đi. Không hiểu về đâu đêm nay.

    tôi nhiều lần nằn nỉ vợ đừng nói bệnh hãy nói rwak
    dạy thằng Út tập phát âm chuẩn jwai, panwơc, twei
    lên lớp ông bạn chớ trò chuyện với con bằng thứ ngôn ngữ độn
    ai người dạy tôi?

    hãy tha thứ cho chúng tôi đứa con quái thai của

    mảnh vụn văn minh tái chế

    tội nghiệp cho các mandapa tưởng mình quan trọng
    tội cho đầu gà trên mâm cỗ kia ngỡ mình quan trọng
    nhân vật kia cố gắng làm quan trọng bằng hành vi

    trịnh trọng lập ngôn trang trọng
    tội cho cả tôi thấy chúng chả được kí lô gờ ram nào quan trọng

    Tôi thiu thiu đánh giấc trong góc ngôi nhà ma


    trang sử hãy mau chóng gấp lại sau lưng như quán bar đóng sau lưng
    dù chúng tôi không là kẻ động phản quá khứ
    đứa trẻ quên ngay cuộc chơi vừa chơi hôm qua
    quên làm chúng lớn

    buồn cười
    tôi làm thơ để cãi nhau với bóng của mình.

    Cuối cùng tôi băng ngã tư đi về vào một giờ kém.

    Buổi sáng - rất sảng khoái, tôi ra sông Lu
    gánh theo đầu kia 41 inư akhar Cham K C T, đầu này

    nhúm chữ cái Latinh A B C
    nhận đầu chúng xuống nước bắt tắm gội từng đứa một
    và tôi vui vẻ tắm với chúng.

Nguyễn Đức Tùng: Nói gì thì nói, tôi buộc phải xem bài này là bài vừa ý nhất của nhà thơ Inrasara. Vậy hãy quay lại với nó một chút. Có ba khái niệm khác nhau sau đây: bài thơ (của mình) mà tác giả thích nhất, bài thơ mà tác giả vừa ý nhất, và bài thơ mà tác giả cho là hay nhất. Bài này anh nghiêng về phía thích nhất hay hay nhất? Cái gì làm cho anh nghĩ như thế? Thú thật tôi không thấy bài này hay và nếu chọn một bài của Inrasara, tôi sẽ chọn bài “Những ngày rỗng, ngày 8”, đã đăng trong tuyển tập 26 nhà thơ Việt Nam đương đại (2002):
    Ôi Phan Rang Phan Rang sao không đâu khác mà Phan Rang?
    … Sống chỉ một lần.
    Dứt áo rồi quay lại Phan Rang cả trăm lần…

Inrasara: Thật tình, tôi luôn lúng túng khi bị/được hỏi bài thơ hay nhất hoặc thích nhất? Nói chuyện về thơ, tôi luôn đọc thơ của bạn thơ đương thời tôi cho là hay, đúng hơn: bài thơ tôi có ấn tượng hơn cả trong năm. Còn khi bị yêu cầu đọc bài thơ “hay nhất” của mình, tôi luôn chọn bài ngắn, thật ngắn thôi.

Ở đây, lần nữa, anh lại đúng: cả hai bài tôi đều thích!

Nguyễn Đức Tùng: Cái gì là quan trọng nhất trong thơ anh? Hình ảnh? Âm nhạc? Vần điệu? Ngôn ngữ?

Inrasara: Nhịp điệu quan trọng hơn cả. Ngôn ngữ mới: cần, hình ảnh lạ: cần; nhưng chính nhịp điệu làm bài thơ tồn tại như là bài thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Anh muốn nói là âm nhạc?

Inrasara: Vâng. Nếu anh muốn dùng từ đó.

Nguyễn Đức Tùng: Vào giây phút im lặng sâu xa nhất, được sống với chính tâm hồn mình, bài thơ nào của mình mà anh nhớ nhất, và muốn đọc cho mình nghe nhất?

Inrasara: Bài “Những ngày rỗng – Ngày đẹp nhất”, có lẽ. Tôi cũng không chắc lắm.

    Những ngày rỗng
    Ngày 5: Ngày đẹp nhất


    Có buổi chiều không muốn làm gì cả, nghĩ / nói gì cả
    cho
    trăm con sông nuôi nấng tuổi dại mình
    chảy đầy trí nhớ

    cho
    ngàn câu thơ thuộc lòng thuở chưa làm thơ
    tràn vào hồn bỏ ngỏ

    công việc đùn về
    truyện ngắn đọc dở, trang thư viết dở
    đời thúc bách ngoài kia

    cô gái đội nước xuống đồi, dừng lại, nấn ná hồi lâu

    rồi chậm rãi bước về làng
    bây giờ làm gì / ở đâu – ai biết ?

    chiều ngoài kia đang tắt

    đừng đợi khuôn mặt nào bất chợt
    lấp đầy khoảng rỗng anh

    vạn cánh chuồn chuồn tuổi thơ bay sáng căn phòng.

Nguyễn ĐứcTùng: Cho tôi được lặp lại câu thơ của anh “Vạn cánh chuồn chuồn tuổi thơ bay sáng căn phòng”. Đẹp quá. Tôi muốn nói là hình ảnh. Nhưng còn âm nhạc thì sao? Còn có thể sửa được nữa không, thưa anh ?

Inrasara: Nếu có thể sửa được thì tôi đã sửa rồi.

Nguyễn Đức Tùng: Trong thời gian gần đây, một tháng, một năm, năm năm, có một sự kiện xã hội, chính trị, văn học, lịch sử nào đã tạo nên cảm xúc làm nền cho một bài thơ của anh?

Inrasara: Năm ngoái, hạn hán tại Ninh Thuận quê tôi kéo dài. Trâu bò, cừu dê,.. chết hàng loạt vì thiếu cỏ và nhất là thiếu nước. Hình ảnh bầy cừu xúm lại, ngẩng đầu nhìn cậu chủ chăn cầm bình nước uống đăng trên báo Tuổi Trẻ đã ám ảnh tôi kì lạ. Một năm sau, bài thơ “Chuyện về bầy cừu” ra đời:

    Màu cứu độ
    hay Chuyện về bầy cừu


    & chúng chạy ùa ra & chúng lũ lượt đi
    vội vã

    Về phía đồng, những đồng tràn nắng
    những đồng không cỏ xanh

    không cỏ khô
    không cả gốc cỏ
    về phía mương, suối to, nhỏ
    không dòng nước, không vũng nước, không cả giọt nước

    Trên đầu chúng: trắng
    dưới chân chúng: xám
    phía trước & xung quanh: trắng
    cả chúng cũng trắng

    Chúng lại đi
    vội vã
    vẹo xiêu
    tìm màu cứu độ

    Chúng mang tên: bầy cừu & đứa chăn cừu.

    Bên kia
    đồi xương rồng xanh, lùm xương rồng
    xanh, nhánh xương rồng xanh
    ở về phía bên kia
    nắng.

Nguyễn Đức Tùng: Nếu ngày mai, có một cuộc tập hợp đông người và người ta đẩy anh lên sân khấu: đứng trước micro, anh sẽ đọc bài thơ nào của mình cho đám đông?

Inrasara: Tôi thường đọc bài “Tạ ơn” trước đám đông. Là một trong ít bài thơ mà tôi thuộc lòng. Tôi nghĩ nó có một ý nghĩa nào đó:

    Tạ ơn

    Sống nghĩa là tạ ơn – ơn ngãi đầy tràn
    nằm ngoài chân trời đếm đo được mất
    tạ ơn làm cho ta lớn lên.

    Quỳ gối trước đoá hoa dại nở đồi trưa
    tạ ơn bàn tay đưa ra bất chợt
    tạ ơn câu thơ viết từ thế kỷ trước
    giọng cười xa, nụ hôn gần.

    Quỳ gối trước mặt trời thức giấc mỗi sớm mai
    tạ ơn chén cơm đói lòng, điếu thuốc hút dở
    tạ ơn dòng sông mơ hồ chảy qua tuổi nhỏ
    tên ngọn đồi, cánh rừng trong mơ chợt vang lên
    tạ ơn bước chân hoang, trái tim lạc lầm.

    Bởi không thể sống mà không tạ ơn
    tạ ơn trang giấy trắng, tạ ơn dòng thơ cuối cùng chưa viết
    Glang Anak trăm câu – luận hai trăm năm chưa hết
    vẫn còn đứa con Chăm chăm sóc ngôn ngữ Chăm
    lá vàng biết rụng đi cho cây dậy mầm xanh
    tạ ơn không gian vô cùng, thời gian bất tuyệt
    dẫu không là cái đinh gì cả / tôi vẫn cần thiết có mặt.

    Vậy nhé – tôi xin tạ ơn TÔI.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi nghĩ là công chúng nghe thơ sẽ đặc biệt yêu mến bài thơ này. Ở Việt Nam, Inrasara có nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ (popular) không?

Inrasara: Nếu nổi tiếng nghĩa là được thông tin đại chúng quan tâm thì tôi rất nổi tiếng nữa là khác. Ba lần ngồi chễm chệ trên trang đầu tờ nhật báo! Hơn trăm bài viết, 7 phim riêng về Inrasara, còn “chung” thì tôi không nhớ được; khoảng mươi luận văn tốt nghiệp lấy thơ Inrasara làm đối tượng; đó là chưa kể các giải thưởng!

Này nhé: hết “hiện tượng thơ”, “xuất hiện như một huyền thoại” đến “kì nhân trong làng viết”, “đỉnh cao”, rồi thì “cây bút phê bình lỗi lạc”,… và cả “Chuyện tình của hai vợ chồng nổi tiếng nhất vùng Chăm (tít một bài báo Xuân)”, vân vân… Như thể sao ca nhạc đang lên vậy! Nổi tiếng, nghĩ lại: khá buồn cười. Và, phiền hà! Không ít lần tôi từ chối đọc thơ trên truyền hình, cộng tác làm phim [về Sara] không dính dáng đến chuyên môn (ví dụ: Chương trình Người xây tổ ấm!) hay trả lời các phỏng vấn có mục đích không gì hơn là để thỏa mãn óc tò mò của độc giả.

Nổi tiếng – không phải bởi thơ tôi hay hơn sáng tác của các bạn thơ cùng thời, mà tôi may mắn hơn, có lẽ. Tôi hoạt động ở nhiều lãnh vực (nghiên cứu văn học và ngôn ngữ Chăm là hai lãnh vực trong số đó), lại là nhà thơ dân tộc thiểu số duy nhất không phải do nhà nước đào tạo, nhà thơ dân tộc thiểu số đầu tiên và duy nhất 2 lần nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Và vài thứ “đầu tiên và duy nhất” khác. Toàn món ăn khách không à! Ngoài ra, Sara còn được “ăn theo” nổi tiếng của bà xã (“Bàn tay vàng thổ cẩm”) nữa.

Nguyễn Đức Tùng: Anh không làm thơ nữa, có được không?

Inrasara: Không! Tôi làm thơ từ 15 tuổi, cả tiếng Chăm lẫn tiếng Việt, nhưng chưa bao giờ có ý định gởi thơ đăng báo nói chi in tập. Mãi đến tuổi 40 mới ra tập đầu tay. Nên với tôi, không thể không làm thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Anh làm thơ bằng tiếng Chăm nhiều hơn hay tiếng Việt nhiều hơn? Ngôn ngữ nào anh cảm thấy thoải mái hơn cả khi thể hiện trong thơ? Tôi đang tự hỏi trường hợp Inrasara có giống như trường hợp các nhà thơ Việt Nam ở nước ngoài, sử dụng thành thạo tiếng Việt lẫn tiếng Anh hay không?

Inrasara: Tôi thường được cho là chuyên gia hàng đầu về ngôn ngữ Chăm. Dạy tiếng Chăm từ năm 17 tuổi, cho đủ cấp, thành phần, lứa tuổi. Đến hôm nay, tôi đã có 3 công trình về Từ điển Chăm Việt (viết chung), Tự học tiếng Chăm và nhiều tiểu luận về ngôn ngữ này. Đó là chuyện “hàn lâm”, sách vở. Trong khi tôi say mê tiếng Chăm “sống” hơn, lo lắng cho sinh phận của nó hơn. Sáng tác thơ là để phụng sự nó.

Tôi chưa viết văn xuôi bằng tiếng mẹ đẻ nên chẳng hiểu nó khó nhọc thế nào. Riêng làm thơ, tôi dùng tiếng Việt và Chăm khá thoải mái. Số lượng cũng thế: suýt soát nhau. Tiếc là các bài thơ tiếng Chăm của tôi chưa được in nên bị thất lạc nhiều.

Về vế thứ hai, tôi không hiểu hoàn cảnh và tâm thế các nhà thơ Việt Nam ở nước ngoài thế nào nên tôi chẳng hình dung được họ có giống tôi hay không.

Nguyễn Đức Tùng: Anh thường đọc nhà thơ nào? Việt Nam? Nước ngoài? Anh học ở họ điều gì?

Inrasara: Tôi đọc tất! Không phân biệt cùng hay khác khuynh hướng sáng tác. Cũng chẳng dị ứng với cái mới lạ, cả cái bị xem là nhố nhăng hay quá khích. Tôi có thói quen dạo các hiệu sách cũ tìm mua sách. Xin kể vài nhà tôi đọc từ ba lần trở lên: Bùi Giáng, Tố Hữu, Chế Lan Viên đến Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Phạm Công Thiện… của thế hệ trước. Các nhà thơ cùng thời với tôi: Nguyễn Hoàng Nam, Đỗ Kh., Nguyễn Quốc Chánh, Nguyễn Quang Thiều, Phan Nhiên Hạo, Đinh Linh, Nguyễn Hoàng Tranh, Nhóm Mở Miệng,… Nhà thơ nước ngoài: Jacques Prévert, Saint-John Perse, René Char, Bonnefoy, Rilke, Brodski (bản tiếng Pháp),… Mỗi người tôi học được vài thứ khác nhau.

Nguyễn Đức Tùng: Xin cho nghe cụ thể hơn, ví dụ anh học được gì ở Bùi Giáng và ở Tố Hữu?

Inrasara: Tôi hoàn toàn mù tịt/không quan tâm đến các giai thoại về một tên tuổi nào đó. Bùi Giáng hay Tố Hữu không là ngoại lệ. Năm 1998, tôi có hỏi một bạn thơ ở Hà Nội: trong giai đoạn chiến tranh, miền Bắc có hiện tượng nào như thể một Phạm Công Thiện hay Bùi Giáng ở Sài Gòn không? Anh ta bảo: có, Tố Hữu. Tôi tin anh ta thành thật. Với tôi, ngôn ngữ thơ của cả hai nhà trên như thứ ma thuật. Khác điều: ở Bùi Giáng, nó phụng sự cho chữ; còn ở Tố Hữu: phục vụ cho một mục đích.

Nguyễn Đức Tùng: Xin cho nghe một bài thơ của một nhà thơ Việt Nam khác đương thời mà anh thích nhất hay nhớ nhất.

Inrasara:là bài “Gia tài” của Nguyễn Hoàng Nam (đăng ở Tạp chí Thơ tại Mỹ) và bài “Khóc Văn Cao” của Bùi Chát (xem lời bình của tôi trong tiểu luận “Khủng hoảng thơ trẻ Sài Gòn” trên www.tienve.org). Tôi không khẳng quyết đấy là những bài thơ hay, nhưng chúng để lại cho tôi một ấn tượng sâu đậm! Cả hai bài thơ có khả năng đánh tơi tả vào cái nghiêm nghị trịnh trọng đầy giả tạo của văn chương và xã hội Việt Nam.

Nguyễn Đức Tùng:Thơ cần thiết cho ai?

Inrasara: Cho tất cả mọi người quan tâm đến cuộc sống tinh thần, không phân biệt giai cấp hay thành phần xã hội. Thật tình, tôi thích [và thường] đọc thơ mình cho các anh nông dân, cô bán quán nghe hơn đứng trên các diễn đàn đầy long trọng, trịnh trọng.

Nguyễn Đức Tùng: Anh có tin rằng họ hoàn toàn hiểu thơ anh không? Ngoài ra, anh có nghĩ là họ cũng hiểu thơ của bạn bè anh như Nguyễn Quốc Chánh, Phan Nhiên Hạo, nhóm Mở Miệng?

Inrasara: Lớp độc giả này không nghe thơ một cách hờ hững hoặc đọc với sự chăm chú soi mói. Họ lắng nghe, thưởng thức và, tôi nghĩ, họ hiểu. Thơ của các bạn thơ như Nguyễn Quốc Chánh, Phan Nhiên Hạo, nhóm Mở Miệng hay của Inrasara cũng thế. Nhiều lúc họ thắc mắc chỗ này chỗ kia, tôi gợi cho họ rằng: đừng tìm ý nghĩa thơ ở đâu xa cả, nó có mặt quanh quẩn đó thôi. Nếu nhà thơ bớt đi các ẩn dụ bí hiểm, tôi nghĩ người đọc thuộc giai cấp thấp không khó nhọc lắm khi đến với thơ. Có khi họ đến còn dễ dàng và bùng nổ hơn lớp độc giả được cho là sang trọng hay đặc tuyển nữa.

Nguyễn Đức Tùng: Xin cám ơn anh. Mong gặp lại anh về thơ, trong một chủ đề khác.

Tháng 6 năm 2006.

© 2006 talawas

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=7454&rb=0101
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Ngọc Lý

.

[size=2]Nguyễn Viện
[color=#3399CC][size=2]



Nguyễn Viện: À, như thế tôi lại có dịp khoe một bài thơ khác của mình:

    Cái chết của một khứa lão

    Người đàn ông ấy đã qua đời
    Ðể lại một cái chiếu rách và những con rệp mun bóng kênh kiệu
    Cái chết của mắt
    Những con ruồi bu trên ô vuông cửa sổ
    Những ngọn đèn đường ủ dột
    Những chiếc lá rũ
    Cái chết của miệng
    Lũ kiến leo lên bờ tường trốn chạy cơn mưa
    Những cái loa khuếch âm xé rách bầu trời buổi sáng
    Ðứa bé đeo khẩu trang đến trường
    Cái chết của giống
    Những người đàn bà ôm mặt khóc
    Cô gái điếm banh lồn ở ngã tư khi đèn đỏ
    Người đàn ông ấy chỉ còn một chiếc răng cửa mang xuống địa ngục
    Hắn đã gặm cả linh hồn mình trong suốt bảy mươi năm ròng rã
    Vâng, điều chắc chắn nhất là người đàn ông ấy đã chết
    Trên chiếc chiếu rách và những con rệp mun bóng kênh kiệu
    Cách đây đã lâu
    Nhưng cái bóng của hắn vẫn đổ xuống như một con ma chín đầu
    Mỗi đầu là một cơn ác mộng
    Cái chết của huyền thoại
    Loài gấu hoang thai trong chuồng
    Trên bàn phím computer lũ kiến tha về những miếng thịt thối
    Của kẻ đang sống.

    (29.4.2006)




Bài thơ này rất mất dạy nếu đó là một sự rỉa rói của lòai kên kên mổ xác người chết.
Thanh Tâm Tuyền chết vào ngày 22.3.2006, thọ 70 tuổi
Đăng nhập để trả lời
0
Đây mà cũng gọi là thơ á? Viết như 1 cái giẻ rách
Đăng nhập để trả lời
0
Thơ là tiếng gọi của xúc cảm, và xúc cảm của người và thú cũng hết sức đa dạng. Trinh nguyên có, bẩn thỉu có, dại đần có... Và ôi thôi! Người đọc thơ, người sưu tầm thơ, người bình thơ cũng tương đương với những xúc cảm ấy nếu họ thấy khoan khoái về những xúc cảm ấy. Cuộc đời: hoa hồng và bánh mì vẫn luôn đi cùng với nhau và dưới một miếng mồi ngon, bao giờ cũng là một con cá chết. Hãy nhớ điều đó.
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Cún con yêu mèo con

Thơ là tiếng gọi của xúc cảm, và xúc cảm của người và thú cũng hết sức đa dạng. Trinh nguyên có, bẩn thỉu có, dại đần có... Và ôi thôi! Người đọc thơ, người sưu tầm thơ, người bình thơ cũng tương đương với những xúc cảm ấy nếu họ thấy khoan khoái về những xúc cảm ấy. Cuộc đời: hoa hồng và bánh mì vẫn luôn đi cùng với nhau và dưới một miếng mồi ngon, bao giờ cũng là một con cá chết. Hãy nhớ điều đó.


Không chỉ là tiếng nói của cảm xúc, mà thơ còn là nghệ thuật. Nếu chỉ là cảm xúc thì chó tru mèo rững mỡ là cảm xúc của chó và mèo. Bàn về nghệ thuật thì đấy là điều đa hình vạn trạng, nhưng có một thứ mà con người có thể nhìn vào đấy để dùng làm thước đo dễ nhất, là pornography và art. Tại sao có những bức tranh của khỏa thân được các họa sĩ danh tiếng điêu khắc trưng bày trên đường phố thì được xem là art. Mà những tranh cởi chuồng phim con heo đầy dẫy thì bị xem là pornography. Người nghệ sĩ sáng tác thường là người nên nhạy cảm nhất về nghệ thuật, thì mới đọc được ở người thưởng ngoạn sự thông cảm , để khi người nghệ sĩ đưa ra một tác phẩm, thì sẽ được đón nhận như là tiếng nói sâu thẳm của con người muốn lên tiếng. Một tác phẩm bị người thưởng ngoạn chê là thô tục, thường là vì do người sáng tác nghèo nàn rung động, nên chỉ phô diễn được sự rung động ở mức độ thấp kém. Sẽ có những đầu óc thấp kém ủng hộ những tác phẩm như thế. Các phim con heo vẫn được sản xuất, vẫn có người mua, nhưng không thể gọi là tác phẩm nghệ thuật
Đăng nhập để trả lời
0