<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-01 17:16:43Ngọc Lý>
.
INRASARA
Thơ dân tộc thiểu số, từ một hướng nhìn động
(Tham luận cho Hội nghị Văn học Nghệ thuật dân tộc thiểu số,
ngày 03-04 tháng Tư 2006 tại Hà Nội)
I. Thơ tiếng dân tộc đang mất phương hướng
Không có thơ không chết ai cả, dòng đời cứ trôi, nhân loại cứ sống. Có khi sống tốt lành nữa! Nhưng con người thì cần thơ. Kẻ tưởng không hề cần đến thơ, bất chợt trong giây phút chểnh mảng của khúc đời, trên môi bật lên vài câu thơ khuất lấp đâu đó nơi vũng mơ hồ của kí ức; hay thèm thể hiện cái gì đó như thơ, qua phát ngôn có vần điệu. Họ không ngờ mình đang cần sự giúp đỡ của thơ. Nơi đám đông hay trong cô đơn, góc tối xà lim hay giữa ánh sáng quảng trường, phố xá tấp nập hay ruộng nương yên ắng… thơ cứ có mặt. Như một nhu cầu.
Như cái plây dân tộc thiểu số đói rách kia, tưởng không thể có đất cho thơ sống sót, thế mà họ vẫn đốt lửa, văn nghệ. Mỗi năm, mỗi mùa vụ, mỗi lễ hội… Có nhảy múa, ca hát và có cả… thơ. Cứ thế người ta làm thơ, như một thói quen. Năm này sang năm khác, vụ này qua vụ khác, lễ hội này nối lễ hội khác. Vẫn bổn cũ lặp lại. Rồi bất ngờ làng có kẻ đi xa đâu 10-20 năm trở về, nhận thấy lạ, chợt la lên: sao cứ giống vụ trước. Chán quá đi thôi! Họ giật mình nhìn lại: ờ, giống thật. Phải làm khác đi chứ!
Thế là vài kẻ máu phiêu lưu trong cộng đồng kia xăn tay áo vào cuộc. Từ đó thơ làm lang thang, một lang thang không biết đâu là cùng tận. Nhu cầu tự làm mới lạ của thơ có mặt, như một thách thức.
Máu phiêu lưu đẩy thi sĩ đi tìm vùng đất mới, lạ cho thơ. Mải mê đi tìm và khai phá, quay lại nhìn: không ai sau lưng cả. Ngôn ngữ quần chúng mất hút! Tiếng nói của thi sĩ không được cộng đồng đón nhận, rơi vào khoảng trống, thi sĩ chỉ còn biết nói với nhau. Trong một không gian chật chội, bằng thứ ngôn ngữ đặc dị. Chính là chỗ mà phần đông nhà thơ xu hướng cách tân hôm nay đang đứng, có lẽ.
Thơ sẽ đi về đâu?
Thơ không đi đến đâu cả, nhưng nó cứ đi, đi về nơi nó tưởng nó sẽ đến. Nhưng dẫu có đi tới đâu, nó cũng phải trở về, trở về nơi nó xuất phát: con người, trong ngôi nhà của nó: ngôn ngữ. Lang thang đi tìm hình dạng ngôi nhà thích hợp cho con người cư trú là bổn phận của thơ. Mọi nơi, mọi thời, Đông hay Tây, kim hay cổ. Khác điều, tốc độ cuộc sống hôm nay đi nhanh hơn, nên hình dạng thơ thay đổi nhanh hơn. Cứ mỗi 5-7 năm làm ta giật mình cái. Nhưng mặc ta nhăn mày hay hãi sợ, thơ cứ phải thay đổi, nếu nó không muốn… bệnh! Cùng thế giới, xã hội Việt Nam đang đổi thay. Cùng với thơ thế giới, thơ Việt cũng đang chuyển động. Nó dõng mãnh (hay ẻo lả) đi về hướng nó cần đến: sự dịch chuyển không ngưng, không nghỉ.
*
Việt Nam là đất nước đa văn hóa, văn chương Việt Nam là nền văn chương đa ngôn ngữ. Nhưng hôm nay văn chương tiếng Thái, Tày, Mông, Êđê, Chăm… đang rất lép so với người anh em Việt. Bởi dẫu sao, thơ tiếng Việt còn được sáng tác bởi lực lượng hùng hậu (trong đó có cả anh em dân tộc thiểu số), hùng hậu đến nỗi đã không ít vị kêu làng nó lạm phát! Còn Chăm, Êđê… thì hầu như vắng hoe! Không người đọc, nhà thơ dân tộc thiểu số mất đi đáng kể chất kích thích sáng tạo. Như kẻ đứng trước cử tọa đây đang đọc phát biểu bằng tiếng Việt hai lần nhận giải thưởng thơ của Hội Nhà văn cũng bằng các sáng tác tiếng Việt, từ 10 năm nay, đã không còn hứng thú trong làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ nữa. Vậy mà kẻ đó lâu nay từng được cho là “người lưu giữ văn hóa dân tộc”!
*
UNESCO cho biết, mỗi tháng nhân loại mất đi hai ngôn ngữ. 400 năm qua, hơn 1000 ngôn ngữ loài người bốc khói. Với một cụm di tích, một nền văn chương cổ…, chúng ta có thể phục chế, sưu tầm, dịch thuật để người đời sau thưởng lãm, nghiên cứu. Nhưng hỏi nếu ngôn ngữ sống của một dân tộc mất đi, chúng ta hành xử như thế nào? Bất khả. Ngôn ngữ dân tộc tồn tại và phát triển chủ yếu qua sáng tác văn chương, nhưng hôm nay có mấy ai/còn ai làm thơ, viết văn bằng tiếng Chăm? tiếng Tày, Thái, Dao,…?
Thử nêu sơ bộ 10 khuôn mặt văn nghệ dân tộc thiểu số hôm nay, xem họ đã và đang làm gì cho thơ tiếng dân tộc và ngôn ngữ dân tộc? Tiêu chí chọn:
Những người sáng tác thơ và, thành danh bằng thơ.
Nhiều dân tộc khác nhau càng tốt, riêng Tày được chọn ba do lực lượng người viết đông hơn cả. Ba người thuộc ba thế hệ khác nhau [1] .
Phân tích
Có 3 nhà thơ chỉ thuần sáng tác bằng tiếng Việt: Y Phương, Hơ Vê, Pờ Sảo Mìn.
Hai người có tham gia nghiên cứu-dịch thuật vốn cổ văn học dân tộc, dù thành tích còn khá khiêm tốn: Triệu Kim Văn, Lò Cao Nhum.
Dương Thuấn, dẫu thuộc thế hệ trẻ nhưng đã in một thi phẩm sáng tác bằng ngữ Tày, một bằng song ngữ Việt-Tày, là điều rất đáng khích lệ.
Có 3 nhà thơ vừa sáng tác bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc bên cạnh nghiên cứu văn học và ngôn ngữ dân tộc, dù mỗi người đặt nặng từng khía cạnh mỗi khác: Nông Quốc Chân, Lò Ngân Sủn, Inrasara. Trong đó, đặc biệt nhà thơ quá cố Nông Quốc Chấn là người đã dịch ngược thơ Việt sang tiếng dân tộc.
Ngoài ra, tôi muốn nêu thêm một tên tuổi quen thuộc: nhà thơ Triệu Lam Châu (sinh 1952, dân tộc Tày), anh còn dịch truyện Nga sang ngữ Tày!
Qua phân tích, ta thấy đa phần nhà thơ người dân tộc thiểu số chú ý đến sáng tác bằng tiếng dân tộc, vẫn còn quan tâm đến đào sâu vào văn chương - ngôn ngữ dân tộc để làm giàu sang tiếng dân tộc đồng thời khai thác khía cạnh độc đáo trong ngôn ngữ dân tộc, từ đó vận dụng vào sáng tác thơ bằng tiếng phổ thông. Đây là điều rất cần thiết, có tác động qua lại mang tính biện chứng trong phát triển thơ song ngữ. Chính nhờ vận dụng lối nói, lối nghĩ dân tộc vào thơ mà các nhà thơ dân tộc thiểu số đã tạo được vài giọng riêng đóng góp vào nền thơ Việt thời gian qua.
Thế nhưng, như vậy vẫn còn là quá yếu so với yêu cầu thực tiễn từ phía ngôn ngữ dân tộc và người đọc là bà con dân tộc thiểu số. Nông Quốc Chấn: 6 tập, Dương Thuấn: 2 tập, Inrasara chỉ mới nửa tập! Đấy là chúng ta chỉ làm cái kê biên đếm đầu sách mà chưa bàn đến chất lượng. Việc nghiên cứu mang tính chiều sâu về ngôn ngữ - văn chương dân tộc càng yếu hơn nữa.
Bản thân nhà thơ đã vậy. Các cơ quan báo chí giữ vai trò và hỗ trợ gì trong phát triển thơ dân tộc thiểu số? Tạp chí Văn hóa các dân tộc ra định kì hàng tháng đăng đủ loại từ sáng tác thơ văn, nhạc họa cho đến sưu tầm - nghiên cứu thuộc mọi dân tộc, vùng miền. Cần thiết, nhưng không đủ. Phụ san của tờ Văn nghệ là Văn nghệ dân tộc, mỗi kì đăng vài bài thơ song ngữ, dù rất cố gắng nhưng cũng chưa thấm vào đâu. Chúng ta chưa thử xem các bài thơ ấy có tác động gì đến suy nghĩ của đồng bào về tiếng và văn chương dân tộc? Hay chúng chỉ mãi giậm chân ở phong trào?
Một tạp chí hay đặc san dành riêng cho các dân tộc có phong trào sáng tác mạnh, chúng ta vẫn chưa đặt vấn đề đó. Hay đồng bào chưa thực sự có nhu cầu? Không nói đến dân tộc Hoa hay Khmer, họ có cả bề dày truyền thống văn chương ở phía sau với một lượng rất đông người đọc phía trước; và thực tế họ cũng đã có các tập san bằng ngữ dân tộc của/cho họ. Ngay tộc Tày, với số dân khá đông bên cạnh hơn chục nhà thơ (tôi chỉ kể những người viết là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam), cũng không có đặc san cho riêng mình. Tại sao? Hay Tày không thích đọc thơ bằng tiếng mẹ đẻ?
Đây là xu hướng chung của phát triển: con người luôn hướng về phía mạnh, phía đông. Chúng ta biết, không ít nhà văn Đông Âu, khi lưu vong sang phương Tây, đã viết thẳng bằng tiếng Anh hay Pháp. Nửa thế kỉ nay, tác giả Việt sáng tác bằng tiếng Pháp không phải là chuyện hiếm. Rồi hơn hai thập niên qua, ít nhất cũng có năm nhà thơ Việt kiều thành danh trên đất Mĩ bằng chính ngôn ngữ bản địa: Đinh Linh, Mộng Lan, Nguyễn Hoa [2] … Ở Việt Nam, không chỉ các nhà thơ dân tộc thiểu số xu hướng sáng tác thuần tiếng Việt, mà ngay cả người đọc dân tộc thiểu số cũng không hào hứng lắm trong đọc văn bản bằng tiếng mẹ đẻ nữa. Không có tác phẩm hay để đọc hay chưa đủ lưng vốn tiếng dân tộc để đọc? Theo tôi: cả hai, có lẽ.
Tày thì như vậy, thế Chăm có nhu cầu thì thế nào?
Tagalau mỗi năm ra được một số, nhưng đó chỉ là Tuyển tập sáng tác - sưu tầm - nghiên cứu, chứ chưa là tạp chí hay đặc san [3] . Mà nó là thành quả từ nỗ lực của một vài anh em trí thức Chăm bên cạnh hỗ trợ của bà con dân tộc. Mỗi kì Tagalau đi được 5 - 7 bài thơ bằng tiếng Chăm của các tác giả khác nhau, bên cạnh đăng nguyên tác thi phẩm cổ điển kèm theo bản dịch tiếng Việt; số mới nhất còn trích in cả một chương cuốn tiểu thuyết hiện đại bằng tiếng mẹ đẻ nữa! Nhưng, như thế đã đủ chưa?
Trường hợp Chăm cũng đủ cho ta một cái nhìn khái quát: qua 6 số Tagalau, chỉ mới thấy xuất hiện 10 tay viết bằng tiếng mẹ đẻ; trong đó hết 6 người đã ở ngưỡng cổ lai hy, 3 trong độ tuổi từ 50 trở lên, chỉ có một Jaya Hamu Tanran có năm sinh là 1958! Chăm có cả một Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm trực thuộc Sở Văn hóa Thông tin – Ninh Thuận với 5 cán bộ chuyên môn, khá mạnh về lãnh vực sưu tầm - nghiên cứu; có cả Ban biên soạn sách chữ Chăm thuộc Sở Giáo dục Ninh Thuận với 7 biên chế hoạt động hiệu quả; Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh cũng đã kịp thời biên soạn và xuất bản bộ Từ điển Chăm – Việt, Từ điển Việt – Chăm [4] dày dặn và bổ ích. Nhưng đó là thứ ngôn ngữ dừng lại ở cửa “hàn lâm” và trường học chứ chưa thực sự đi vào quần chúng. Ngôn ngữ đó sẽ sống và phát triển ra sao, nếu chưa có tiếp tay của những người làm sáng tác văn học? Và, nếu các sáng tác phẩm ấy không được tạo điều kiện phổ biến? [5]
Vẫn chưa có lối thoát cho vấn nạn này.
Còn việc dạy và học tiếng dân tộc, nó có giúp ích được gì cho sáng tác và tiếp nhận thơ tiếng dân tộc? Ngoài Hoa, theo tôi được biết, có 4 dân tộc được Bộ Giáo dục dành cho chương trình dạy tiếng-chữ trong trường tiểu học là: Khmer, Mông, Bana, và Chăm; trong đó Chăm được Trung tâm giáo dục dân tộc thuộc Bộ Giáo dục đánh giá tốt hơn cả trong việc biên soạn sách bằng ngữ dân tộc, dạy và học tiếng-chữ dân tộc. Số liệu mới nhất của Ban biên soạn sách chữ Chăm về công tác này:
Sau ba lần chỉnh lí, đến hôm nay (niên khóa 2001-02), trên 25.000 cuốn được in phục vụ cho các trường ở địa phương. Cụ thể đã có 10.102 học sinh ở 345 lớp của 22 trường tiểu học được cấp miễn phí tài liệu [6] . Ngoài ra, từ lớp bốn trở lên các em học sinh trong cộng đồng người Chăm còn nắm bắt thêm tri thức cơ bản của nền văn học dân tộc bằng vài trích đoạn thơ-văn, thông qua chữ viết.
Đó là thành tựu không thể chối cãi, tác động tích cực trong duy trì và phát triển tiếng-chữ dân tộc Chăm thời gian qua. Nhưng, sau cấp tiểu học, các em không được học tiếp, sách đọc thêm cho các em cũng không. Không có tạp chí cho các em đọc, không cả việc tạo điều kiện cho tài năng văn chương cơ hội thi thố nữa. Lực lượng độc giả và tác giả tương lai Chăm sẽ ra sao trong tình trạng ấy? Và ngôn ngữ dân tộc? Nó có nối thêm tên vào bảng danh mục ngôn ngữ nhân loại bốc khói của UNESCO, thời gian tới?
*
Tình hình tiếng và thơ dân tộc thiểu số như thế, thi sĩ đứng ở đâu?
Thi sĩ cư trú đồng thời canh giữ ngôn ngữ dân tộc như ngôi nhà của tính thể con người. Hôm nay ngôi nhà ngôn ngữ Chăm [Tày, Mông,…] đang dột nát, dột nát đến vô phương cứu vãn. Tôi, với tư cách là kẻ sáng tác, vừa hối hả lượm nhặt thứ gì còn lượm được ở ngôi nhà cũ, đồng lúc lo chạy qua ngôi nhà mới trú thân, trong cơn bão của nỗi cô đơn vừa siêu hình vừa xã hội. Đó là nói hình tượng thế.
II. Thơ dân tộc tộc thiểu số vừa đi vừa ngủ [7]
Đó cũng là một lối nói. Nhà thơ người dân tộc thiểu số sáng tác bằng tiếng Việt, chỉ trong thời gian vài chục năm, đã xuất hiện ồ ạt, dũng mãnh đi tới, khai phá và, khẳng định mình trên thi đàn cả nước. Từ thế hệ đầu: Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Vương Trung,… sang thế hệ thứ hai với: Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn,… rồi thế hệ thứ ba với: Lương Định, Triệu Lam Châu, Dương Thuấn, Lò Cao Nhum,… Ở đây tôi muốn nói lời xin lỗi đến vài tên tuổi khác bởi dấu “…” này. Nhưng sau đó, hầu như không còn bộ mặt nào mới, khác nổi trội lện.
Các tiềm năng thơ trẻ dân tộc thiểu số đang ngủ [hay chưa thức?], cả thế hệ trước cũng có vẻ ngái ngủ. Chúng ta thử đi tìm nguyên do. Các nguyên do xoay quanh các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp, và chỉ nghề nghiệp.
Xin chú ý vài điểm:
Tạm đặt bên ngoài bài phân tích người viết dù xuất thân dân tộc thiểu số, nhưng các sáng tác đã không nằm trong vùng không gian văn hóa/không gian thơ dân tộc thiểu số. Vi Thùy Linh là điển hình.
Ở chiều hướng ngược lại: Đỗ Thị Tấc.
Phân tích không nhắm đến tác giả mà là vấn đề mà mỗi tác giả có liên can, các dẫn chứng chỉ để làm rõ luận điểm. Tác giả khác soi vào đó, có thể thấy bóng dáng mình. Bởi mỗi thành tựu hay hạn chế của nhà thơ này đều có mặt nơi tác giả khác, đậm/nhạt, ít/nhiều, tùy. Ví dụ sự mòn sáo của đề tài/ngôn từ dính đến hầu hết người làm thơ dân tộc thiểu số hôm nay.
Không ngại dẫn chứng thơ của chính người phân tích.
1. Sáng tác thơ bằng ngôn ngữ-không là tiếng mẹ đẻ
Sống và suy nghĩ qua và bằng tiếng mẹ đẻ, nhưng khi sáng tác bằng tiếng của dân tộc khác (ở đây là tiếng Việt), các nhà thơ dân tộc thiểu số ý thức rõ mình cần nỗ lực rất lớn: vừa học sử dụng ngôn ngữ Việt vừa tập suy nghĩ qua ngôn ngữ đó. Thế nào đi nữa, ở giai đoạn đầu, chúng ta không thể rời bỏ dứt khoát lối suy nghĩ – bị quy định bởi/bằng ngôn ngữ – đã ăn sâu vào máu từ thuở lọt lòng. Viết – chúng ta luôn mang vào thơ mình những lối nói, lối nghĩ của dân tộc. Cái tưởng như bất lợi này lại là may mắn cho chúng ta: chúng ta tạo được một bản sắc độc đáo, đóng góp giọng thơ mới lạ vào nền thơ tiếng Việt. Nông Quốc Chấn, Y Phương, Lò Ngân Sủn,… rồi Dương Thuấn, Mai liễu, Pờ Sảo Mìn,… đã làm được những việc như thế, thời gian qua.
Thế nhưng trong chiều sâu tâm thức, không nhiều thì ít, ta vẫn mang mặc cảm: ngoảnh mặt tiếng dân tộc; và tự ti: có gì đó chưa thật nhuần nhuyễn, chưa thật tinh như người Kinh! Không chịu dừng lại, ta cặm cụi học tập, nỗ lực vươn tới. Và rồi từ chính nỗ lực này đã sinh ra rắc rối: bắt chước. Từ hình ảnh, cụm từ làm sẵn, ước lệ, lối ví von, ngắt câu,… sao cho như Kinh. Hệ quả: chẳng những chúng ta không bằng người Kinh mà ngày càng xa rời chính giọng thơ của mình.
Cây hai ngàn lá gập ghềnh qua 16 năm tìm tòi khai phá để đi đến Con trai người Padí của Pờ Sảo Mìn, là điển hình chung.
Lối ví như thế vừa cụ thể vừa chân chất dân tộc, khác hẳn lối ví trong Con trai người Padí đẫm ước lệ, sáo mòn và, không hay:
Lối nói hoặc các cụm từ làm sẵn, cũng thế. Trong lúc ở Cây hai ngàn lá mới lác đác: Chặn suối, ngăn sông, bắt nước ngược dòng hay: Ta dang tay gặt mùa hạnh phúc ấm no; thì trong Con trai người Padí chúng có mặt đầy dẫy.
Hình ảnh trong Cây hai ngàn lá có cái nét gì đó đặc trưng: Tước vỏ cây thêu áo đẹp năm tháng hay: Ngô lúa cười reo tận sân trời đó. Qua đó, người đọc nhận diện được giọng thơ anh và bản sắc dân tộc anh. Sang Con trai người Padí, khi phát triển thành: Dáng ngang tàng vẻ quẫy đạp trần gian, nó lại rất chung chung. Một chung chung chẳng nói được cái gì cả.
Tính chung chung này càng lộ rõ ở việc nhà thơ chúng ta đã vội vã khái quát:
Còn những “Đã yêu là yêu nhiều yêu mãi”, rồi “Đã lên yên không bao giờ ngã ngựa”,… là tài sản chung của nhân loại chớ riêng gì một dân tộc nào đâu!
so sánh đoạn thơ khác. Chẳng hạn khi Pờ Sảo Mìn viết:
Cả đoạn không gì đặc sắc, nhưng “đường cày đi không thẳng” đã cứu nó đứng. Nhưng khi:
16 năm, hai thời điểm: từ Cây hai ngàn lá sang Con trai người Padí, Pờ Sảo Mìn đã có một bước tiến nhưng đến hai bước lùi. Bước lùi này thể hiện đậm nổi nhất trong nhịp điệu và giọng thơ. Nếu trong Cây hai ngàn lá anh còn chút lưỡng lự, cái lưỡng lự đáng yêu của kẻ chưa quen thân trước ngôi nhà xa lạ (là tiếng Việt và thơ tiếng Việt), thì sang Con trai người Padí, thành khách quen rồi: đã thấy anh mạnh dạn hẳn lên. Không còn chút dấu vết e ấp, ngập ngừng nữa mà là những bước đi ngang tàng đầy tự tin. Vần, nhịp thơ rất nhuyễn: cái nhuyễn của nhà thơ dân tộc Kinh. Con trai người Padí tạo cho người đọc cảm giác trơn tuột của ý tưởng, hình ảnh và, cả bài thơ là bởi lẽ đó
Cây hai ngàn lá và Con trai người Padí là hai bài thơ có lẽ nhà thơ Pờ Sảo Mìn rất tâm đắc. Nó mang chở nặng trĩu tâm tình của anh với dân tộc mình, đó là thứ tình yêu thiêng liêng. Nên, không phải ngẫu nhiên mà anh đã chọn nó làm tít cho tập thơ [9] . Các học hỏi hay kinh nghiệm nghệ thuật của anh phục vụ cho nó.
Ngay tại điểm này, chúng ta đụng đến chữ “tâm” của người sáng tác. Vấn đề tâm và tài là việc muôn thuở trong lí luận về sáng tạo nghệ thuật. Nhất là trong văn chương chữ nghĩa. Tâm hay tài cần? Cần tới đâu? Nếu có tài mà không có tâm thì sáng tác “hay” kia có cần thiết cho dân tộc, nhân loại? Ngược lại nếu một nhà thơ có tâm mà bất tài thì tác phẩm của anh giá trị chút nào không?
Đó là chuyện lớn. Ở đây chúng ta giới hạn vấn đề trong phạm vi hẹp hơn: tình cảm chân thực nào đó được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật.
Nhận định của Nguyễn Đình Thi giúp ta có cái nhìn sáng rõ: “Thực trong thơ không những là thành thực trong tình cảm hay ý nghĩ. Sự thành thực ấy đáng trọng, nhưng cũng bao nhiêu người thành thực làm khổ chúng ta, khi bắt ta đọc thơ tâm tình của họ” [10] .
Pờ Sảo Mìn từ Cây hai ngàn lá đến Con trai người Padí vẫn cố định ở tình yêu sâu đậm thuỷ chung như nhất dành cho quê hương dân tộc, ở chất liệu đề tài; riêng về hình thức thể hiện, anh đã có bước tiến nhất định: tiến về phía quy ước, quy ước chung của ngôn ngữ và thơ tiếng Việt. Anh tan vào nó. Tan và mất. Nhưng khác với đa số nhà thơ dân tộc Kinh mà cái sáo được hình thành từ thói quen thơ đi vào nẻo nghĩ/viết “xuôi tay” (từ của Chế Lan Viên): lặp lại người khác hay của chính mình mà không tự ý thức; Pờ Sảo Mìn ngược lại: do ngộ nhận. Là ngộ nhận chung của các nhà thơ dân tộc thiểu số. Trong khi ngộ nhận của nhà khác là bám trụ vào “bản sắc”, kiên trì giữ giọng dân tộc bằng lối nói ngô nghê, ngọng ngịu như: cái ngày, ê hê,… hay đùn cơ man từ “thuần” dân tộc dày đặc vào các trang thơ: thắng cố, thổ cẩm, vòng xoè, apsara, buôn, phum,…; còn ngộ nhận của Pờ Sảo Mìn và vài nhà khác nữa xuất phát từ mặc cảm không muốn thua sút – trong sử dụng tiếng Việt – các nhà thơ người Kinh. Là điều hoàn toàn không cần thiết nữa, hôm nay.
*
Cùng tâm trạng và hoàn cảnh lưu vong, Joseph Brodski viết: “Đối với những người trong nghề chúng ta, tình trạng lưu vong trước hết là một biến cố ngôn ngữ” [11] .
Các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam, dẫu sáng tác trong tự nguyện, vẫn luôn viết trong tâm thế khá phức tạp: tình trạng lép vế của tiếng dân tộc và con số độc giả khiêm tốn là người bà con dân tộc, do đó, dù yêu tiếng mẹ đến đâu, các nhà thơ luôn có khuynh hướng tự thể hiện mình trong không gian rộng lớn hơn: tiếng Việt.
Mặc cảm phạm lỗi có mặt thường trực (đấy là tôi muốn nói đến các nhà còn mang ý thức phạm tội nơi bề sâu tâm thức). Thi nhân là kẻ canh giữ ngôi nhà ngôn ngữ dân tộc. Nhưng trong lúc nhà ta đang dột nát, kẻ được phân công canh giữ lại rời bỏ nó để đi xây dựng ngôi nhà khác! Không vấn đề tinh thần dân tộc hẹp hòi hay rộng rãi ở đây cả, mà là phận sự canh giữ của lính gác: trách vụ thiêng liêng của thi sĩ!
Đó là cách nói nặng mặc cảm phạm tội của kẻ trong cuộc. Có ở đó nỗi gồng mình, sự tự động viên đồng lúc với tâm lí khỏa lấp. Tôi giáp mặt nó, đối thoại với nó – hằng ngày. Nó ám ảnh và hành hạ tôi, không ngưng nghỉ, ngay khởi điểm công cuộc sáng tác thơ tiếng Việt. Mặc dầu tôi vẫn thường xuyên viết thơ bằng tiếng mẹ đẻ, nhưng mặc cảm kia vẫn cứ có mặt, đeo dai như đỉa! Bị giằng xé giữa đi hay ở, giữa sửa sang lại căn nhà đang dột nát hay phiêu lưu vào vùng đất mới lạ để tung hoành, nhiều lúc tôi đã phải phân thân, đôi khi tự lừa. Tôi nghĩ, tâm thức ấy không chỉ riêng mình tôi mắc phải.
Lưu vong ngôn ngữ, nhà thơ chúng ta trôi giạt khỏi ngôn ngữ dân tộc, tình trạng bất an luôn tiềm ẩn ở bề sâu, sẵn sàng nhảy xổ ra chất vấn chúng ta ở mỗi ngã rẽ cuộc đời. Thật khó tìm có sự an bình cao vời như Tagore, khi ông dùng thoải mái hai thứ tiếng: ông là triết nhân được nuôi dưỡng trong môi trường tinh thần triết lí Ấn Độ. Còn chúng ta? Khốn khổ thay, nhưng cũng vinh quang thay! Nedim Gursel kết luận: “Tôi nghĩ rằng, lưu vong theo nghĩa rộng, là một trong những định mệnh khả hữu cho nhà văn thời chúng ta”.
Mặc cảm này, một mặc cảm đương nhiên, không có gì phải giấu giếm hay xấu hổ cả, có mặt ở hầu hết các nhà thơ dân tộc thiểu số viết bằng tiếng Việt. Mặc cảm/nỗ lực khiến lục bát của Lương Định đạt đến độ tinh xảo, nó khiến các bài thơ “tự do” của Y Phương nhuần nhuyễn đến tài hoa, thơ dân tộc của Lò Ngân Sủn đậm chất dân tộc hơn nữa,… Là hay, khi được nhìn từ phía tích cực; nhưng cái hay đó sẽ hay hơn nếu chúng ta biết từ cấu trúc ngôn ngữ, lối suy nghĩ, lối nói đặc thù dân tộc để quay nhìn lại đầy ý thức nghệ thuật chặng đường sáng tác đã qua của chúng ta: chỉ vậy thôi các nhà thơ dân tộc thiểu số hôm nay mới dễ dàng nhận mặt cái sáo mòn đã có và luôn phục sẵn ở những trang thơ sắp tới của mình. Nhận mặt, để tránh.
Nói như nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc: Nếu một kĩ sư học một kĩ thuật nào đó là để làm theo: rập khuôn, cải tiến và phát triển thì ngược lại, nhà thơ học là để tránh. Tránh triệt để. Là điều kiện tối cần trong hành trình sáng tạo.
2. Vấn đề ngôn ngữ thơ
Chọn tiếng-không phải mẹ đẻ để sáng tác, các nhà thơ dân tộc thiểu số đụng phải một vấn đề hóc búa: bản thân ngôn ngữ. Bởi nghệ thuật thơ chủ yếu là nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Chúng ta buộc phải suy tư qua sơ đồ làm sẵn của một lối nghĩ khác lạ: tiếng Việt. Một lối mòn hay đại lộ thênh thang mở ra trước mắt ta. Thiếu ý thức sử dụng ngôn từ, ta rơi ngay vào vực thẳm đào sẵn (đại lộ chính là vực thẳm)! Đây là hệ quả tất yếu sinh ra từ vấn đề vừa nêu.
Thử lần theo bước nhà thơ Lương Định để tìm ra vực thẳm này.
Đi vào thơ Lương Định tôi có cảm giác như bước vào bảo tàng, bảo tàng chữ. Của hai thế kỉ và vài thế hệ. Xen kẽ và không thứ lớp. Anh dẫn chúng ta từ cuối thế kỉ XIX, với:
Chí đời trai, lạc bước phong trần, câu thơ nghĩa khí, nợ tang bồng, rượu thề, duyên trời xe, vụng tu thân chuốc lụy phiền, kẻ giang hồ, tri âm, tri kỉ, bạn tâm giao, oan khiên, nỗi oan nghiệp chướng, phẫn chí, một kiếp nhân sinh, thế cô lập nghiệp, tay trắng, đãi bôi, má hồng, phận hồng nhan, trời xanh, câu thơ lời thề, hảo hán, giải oan, một khối oan…
bước sang “hiện vật” của đầu thế kỉ XX được trưng bày, với:
Câu thơ Sám - Hối, duyên tiền định, Cõi - Mộng - Du, lỗi hẹn, chót đa mang, bơ vơ đất khách, bến xưa, xuân thì, một trời mộng ước, lỡ một thời con gái, trăng nằm sóng soãi, bầm vầng trăng rỏ máu, rung nhẹ cung đàn…
đến tận gian hàng chữ của miền Nam những năm 60 rớt lại:
Cô đơn, trắc trở, day dứt, bon chen phố thị, tiếc nuối, Cõi Thiền, tỉnh say, đời cay nghiệt, con sáo xổ lồng, sang ngang phận bẽ bàng, xót xa, Cát Bụi thời gian, phôi phai, hao gầy, vò võ nỗi niềm, tê tái nỗi buồn, ván đã đóng thuyền…
Bao nhiêu là hiện vật của mấy thế hệ chen chúc trong ba nhà trưng bày [12] . Tôi cảm thấy bị lạc. Lạc và ngợp. Vui vẻ mà ngợp trong hai căn phòng nhỏ bé này. Bởi các hiện vật kia được Lương Định bày biện rất nhiệt tình và thành thật một cách cảm động.
Có thể nói, Lương Định là nhà thơ dân tộc thiểu số cố ý làm thơ giống người Kinh nhất! Khi tuyên ngôn:
Tôi không hiểu Lương Định có ý thức đầy đủ sức nặng ý nghĩa của nó không. Bởi, thơ muốn không xưa cũ (chưa nói là hiện đại hay hậu hiện đại), nó phải thể nghiệm thể mới, lối viết mới, nhịp điệu mới, ngôn từ mới…
Riêng yêu cầu về hình thức thôi, chúng ta chưa thấy Lương Định có thử nghiệm. 39 bài trong tập thơ thứ hai của anh: Núi và hòn đá lẻ, thể thơ 5, 7 và 8 chữ chiếm đến 12 bài, 11 bài lục bát và 16 bài có câu ngắn/dài. Nghĩa là thể thơ cũ chiếm thế áp đảo. Ngay 16 bài có cấu trúc câu ngắn/dài này, chúng cứ vần vè êm tai.
Vần và thể cũ không phải là không thể hiện đại, nếu nhà thơ có lối viết, ngôn từ, nhịp điệu hiện đại. Nhất là nhịp điệu (Rhythm). Bởi, nói như Charles Hartman: “Nhịp điệu đóng góp toàn bộ ý nghĩa của bài thơ, và phép làm thơ là chuyển nó trở thành ý nghĩa” [13] .
Đọc lục bát "Chia" của Nguyễn Trọng Tạo [14] :
Chúng ta nói nó hiện đại. Bởi nó mới ở xếp đặt ngôn từ (“một cay đắng”…), bất ngờ ở lối nói (câu cuối), và trên hết là nhịp điệu (bằng ngắt câu và vắt dòng). Nhịp điệu này làm trào vọt năng lực thể hiện tinh thần được tạo nên qua tiến trình sáng tạo của nhà thơ. Còn ở lục bát “Rượu tha hương” (anh tương đối thành công ở thể cổ điển này) của Lương Định, thì rõ ràng nó không mới.
Không nói đến nhịp điệu hay tứ thơ sáo mòn, chỉ cần bẽ bàng, thế cô lập nghiệp, mềm môi thôi cũng đủ “làm cũ” bài thơ rồi.
Các từ này ở ngoài/nằm đằng sau tầm mong đợi (horizon of expectations) của người đọc thời hiện đại. Với con người thưởng ngoạn văn chương hôm nay, chí trai, nợ tang bồng, câu thơ nghĩa khí… đã mất hết sức nặng ý nghĩa như nó vốn có ở thế kỉ XIX. Một ít chúng đang rất lạc lõng, ngơ ngác trên đường phố hiện đại Sài Gòn. Còn hầu hết chúng đã chết và được nhập kho từ vựng Việt hôm qua.
Dù, nhà thơ là kẻ ý thức sâu sắc nhất hành động sử dụng ngôn ngữ của mình, không ai dại dột đòi hỏi họ cắt đứt một lần cho tiệt đuôi tàn quân chữ cũ rơi rớt lại. Không lấy ví dụ đâu xa, ngay bản thân tôi cũng phạm húy khá nhiều ở tập thơ đầu tay: Tháp nắng. Trong các bài thơ được viết từ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, người đọc tinh ý dễ dàng nhận mặt những: nắng quái, sầu viễn miên, tàn tạ, buồn hồ hải, miên trường, quan san, phiến, tao phùng, hoài nhớ… được sinh hạ từ đâu ở thế kỉ này.
Vài rủi ro nghề nghiệp, người đọc bỏ qua được. Nhưng nếu chúng trở thành các dụng ngữ chủ yếu của một nhà thơ thì – hỏng! Tôi không tin lắm một tài năng thơ nào đó một ngày kia có thể tắm gội, làm mới vốn chữ thời thượng (cũ) trong Bảo tàng chữ chúng ta vừa nêu ở trên. May lắm, bằng khéo léo xếp đặt, vài hiện vật trong chúng nhấp nháy lên đôi chút. Còn thì, hiệu quả thơ chắc chắn sẽ rất kém.
Nhưng trong thời đại ngày nay, làm sao có thể sáng tạo ra cái mới?
Nêu câu hỏi này, chúng ta hiểu được vì sao, bên cạnh sự châm biếm (irony), nhại giễu (pastiche) là một thủ pháp nghệ thuật chủ yếu của các nhà hậu hiện đại.
© 2006 talawas
----------------------------------------------
[1]Tư liệu về các nhà thơ được rút ra từ các tác phẩm sau:
Lâm Tiến, Văn học các Dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Nxb. VHDT, H., 1995.
Lâm Tiến, Văn học và Miền núi, Nxb. VHDT, H., 2002.
Núi mọc trong mặt gương, Nxb. VHDT, H., 1998.
Tuyển tập văn học Dân tộc & Miền núi I, II, III, Nxb. GD, H., 1999.
Hoàng Quảng Uyên, Một mình trong cõi thơ, Nxb. VHDT, H., 2000.
Lò Ngân Sủn, Thơ của các nhà thơ Dân tộc thiểu số, Nxb. VHDT, H., 2001.
Lò Ngân Sủn, Vấn đề đặt ra với các nhà thơ Dân tộc thiểu số, Nxb. VHDT, H., 2002.
Nhà văn Dân tộc thiểu số Việt Nam, Đời và văn, Nxb. VHDT, H., 2003.
[2]Xem: eVan, 2004. Hay: The best American Poetry 2003, Scribner Poetry, USA, 2003; David Lehman, Great American Prose Poems, Scribner Poetry, USA, 2003.
[3]Tagalau 1-6, xuất bản từ năm 2000-2005.
[4]Bùi Khánh Thế (chủ biên, với sự cộng tác của các tác giả Chăm: Inrasara, Thành Phần, Phú Văn Hẳn, Lương Đắc Thắng, Quang Cẩn), Từ điển Chăm – Việt, Nxb. KHXH, H., 1995; Từ điển Việt – Chăm, Nxb. KHXH, H., 1996.
[5]Xem thêm: Inrasara, “Sáng tác văn chương Chăm hôm nay” trong Tagalau1, Hội VHNT các DTTS Việt Nam, 2000.
[6]Số liệu được Ban biên soạn sách chữ Chăm – Ninh Thuận cung cấp.
[7]Phần hai của Tiểu luận này vốn là các bài phê bình hoàn chỉnh về từng tác giả, nhưng khi vừa phác họa 6 khuôn mặt, ngoái lại, người viết chợt nhận ra rằng hầu như tất cả “ưu khuyết” của thơ các tác giả dân tộc thiểu số đều lặp lại nhau, từ đó vô hình chung kéo theo lời bàn về cũng bị lặp lại. Do đó, tôi đã gom chúng về một mối, vừa gọn và vừa tiện theo dõi.
[8]Pờ Sảo Mìn, Con trai người Padí, VHDT, 2001, tr.17.
[9]Cây hai ngàn lá, Nxb. VHDT, 1992 và Con trai người Padí, Nxb. VHDT, 2001.
[10]Nguyễn Đình Thi, “Mấy ý nghĩ về thơ”, Tác phẩm mới, số 3.1992.
[11]Nedim Gursel, “Chữ nghĩa của lưu đày, lưu đày của chữ nghĩa” – talawas, 2003.
[12]Ba tập thơ đã xuất bản của Lương Định: Tương tư, Nxb Đồng Nai, 1991; Núi và Hòn đá lẻ, Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1995; Dòng sông khao khát, Nxb Hội Nhà văn, H., 2001.
[13]Charles Hartman, trích theo Khế Iêm, “Thơ Tự do – một tiếng gọi khác”, Tc. Thơ, số Mùa Đông 1999, Hoa Kì, tr. 158.
[14]Nguyễn Trọng Tạo, Đồng dao cho người lớn, Nxb. Văn học, H., 1994.
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6929&rb=0101
INRASARA
Thơ dân tộc thiểu số, từ một hướng nhìn động
(Tham luận cho Hội nghị Văn học Nghệ thuật dân tộc thiểu số,
ngày 03-04 tháng Tư 2006 tại Hà Nội)
I. Thơ tiếng dân tộc đang mất phương hướng
Không có thơ không chết ai cả, dòng đời cứ trôi, nhân loại cứ sống. Có khi sống tốt lành nữa! Nhưng con người thì cần thơ. Kẻ tưởng không hề cần đến thơ, bất chợt trong giây phút chểnh mảng của khúc đời, trên môi bật lên vài câu thơ khuất lấp đâu đó nơi vũng mơ hồ của kí ức; hay thèm thể hiện cái gì đó như thơ, qua phát ngôn có vần điệu. Họ không ngờ mình đang cần sự giúp đỡ của thơ. Nơi đám đông hay trong cô đơn, góc tối xà lim hay giữa ánh sáng quảng trường, phố xá tấp nập hay ruộng nương yên ắng… thơ cứ có mặt. Như một nhu cầu.
Như cái plây dân tộc thiểu số đói rách kia, tưởng không thể có đất cho thơ sống sót, thế mà họ vẫn đốt lửa, văn nghệ. Mỗi năm, mỗi mùa vụ, mỗi lễ hội… Có nhảy múa, ca hát và có cả… thơ. Cứ thế người ta làm thơ, như một thói quen. Năm này sang năm khác, vụ này qua vụ khác, lễ hội này nối lễ hội khác. Vẫn bổn cũ lặp lại. Rồi bất ngờ làng có kẻ đi xa đâu 10-20 năm trở về, nhận thấy lạ, chợt la lên: sao cứ giống vụ trước. Chán quá đi thôi! Họ giật mình nhìn lại: ờ, giống thật. Phải làm khác đi chứ!
Thế là vài kẻ máu phiêu lưu trong cộng đồng kia xăn tay áo vào cuộc. Từ đó thơ làm lang thang, một lang thang không biết đâu là cùng tận. Nhu cầu tự làm mới lạ của thơ có mặt, như một thách thức.
Máu phiêu lưu đẩy thi sĩ đi tìm vùng đất mới, lạ cho thơ. Mải mê đi tìm và khai phá, quay lại nhìn: không ai sau lưng cả. Ngôn ngữ quần chúng mất hút! Tiếng nói của thi sĩ không được cộng đồng đón nhận, rơi vào khoảng trống, thi sĩ chỉ còn biết nói với nhau. Trong một không gian chật chội, bằng thứ ngôn ngữ đặc dị. Chính là chỗ mà phần đông nhà thơ xu hướng cách tân hôm nay đang đứng, có lẽ.
Thơ sẽ đi về đâu?
Thơ không đi đến đâu cả, nhưng nó cứ đi, đi về nơi nó tưởng nó sẽ đến. Nhưng dẫu có đi tới đâu, nó cũng phải trở về, trở về nơi nó xuất phát: con người, trong ngôi nhà của nó: ngôn ngữ. Lang thang đi tìm hình dạng ngôi nhà thích hợp cho con người cư trú là bổn phận của thơ. Mọi nơi, mọi thời, Đông hay Tây, kim hay cổ. Khác điều, tốc độ cuộc sống hôm nay đi nhanh hơn, nên hình dạng thơ thay đổi nhanh hơn. Cứ mỗi 5-7 năm làm ta giật mình cái. Nhưng mặc ta nhăn mày hay hãi sợ, thơ cứ phải thay đổi, nếu nó không muốn… bệnh! Cùng thế giới, xã hội Việt Nam đang đổi thay. Cùng với thơ thế giới, thơ Việt cũng đang chuyển động. Nó dõng mãnh (hay ẻo lả) đi về hướng nó cần đến: sự dịch chuyển không ngưng, không nghỉ.
*
Việt Nam là đất nước đa văn hóa, văn chương Việt Nam là nền văn chương đa ngôn ngữ. Nhưng hôm nay văn chương tiếng Thái, Tày, Mông, Êđê, Chăm… đang rất lép so với người anh em Việt. Bởi dẫu sao, thơ tiếng Việt còn được sáng tác bởi lực lượng hùng hậu (trong đó có cả anh em dân tộc thiểu số), hùng hậu đến nỗi đã không ít vị kêu làng nó lạm phát! Còn Chăm, Êđê… thì hầu như vắng hoe! Không người đọc, nhà thơ dân tộc thiểu số mất đi đáng kể chất kích thích sáng tạo. Như kẻ đứng trước cử tọa đây đang đọc phát biểu bằng tiếng Việt hai lần nhận giải thưởng thơ của Hội Nhà văn cũng bằng các sáng tác tiếng Việt, từ 10 năm nay, đã không còn hứng thú trong làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ nữa. Vậy mà kẻ đó lâu nay từng được cho là “người lưu giữ văn hóa dân tộc”!
*
UNESCO cho biết, mỗi tháng nhân loại mất đi hai ngôn ngữ. 400 năm qua, hơn 1000 ngôn ngữ loài người bốc khói. Với một cụm di tích, một nền văn chương cổ…, chúng ta có thể phục chế, sưu tầm, dịch thuật để người đời sau thưởng lãm, nghiên cứu. Nhưng hỏi nếu ngôn ngữ sống của một dân tộc mất đi, chúng ta hành xử như thế nào? Bất khả. Ngôn ngữ dân tộc tồn tại và phát triển chủ yếu qua sáng tác văn chương, nhưng hôm nay có mấy ai/còn ai làm thơ, viết văn bằng tiếng Chăm? tiếng Tày, Thái, Dao,…?
Thử nêu sơ bộ 10 khuôn mặt văn nghệ dân tộc thiểu số hôm nay, xem họ đã và đang làm gì cho thơ tiếng dân tộc và ngôn ngữ dân tộc? Tiêu chí chọn:
Những người sáng tác thơ và, thành danh bằng thơ.
Nhiều dân tộc khác nhau càng tốt, riêng Tày được chọn ba do lực lượng người viết đông hơn cả. Ba người thuộc ba thế hệ khác nhau [1] .
- 1. Nông Quốc Chấn (sinh 1923, dân tộc Tày)
Thơ tiếng Việt (4 tập): Tiếng ca người Việt Bắc, Dòng thác, Bài thơ Pác Bó, Suối và biển
Thơ tiếng Tày (6 tập): Việt Bắc đánh giặc, Dọn về làng, Đi Berlin về, Tiếng lượn cần Việt Bắc, Cần Phja Bjoóc, Dám kha Pác Bó
Tác phẩm tiếng Việt dich ra tiếng Tày (1 tập): Mười điều kháng chiến
Tiểu luận-phê bình: 3 tập
2. Y Phương (sinh 1948, dân tộc Tày)
4 tập thơ và một trường ca đều bằng tiếng Việt: Tiếng hát tháng giêng, Lửa hồng một góc, Lời chúc, Đàn then, Chín tháng
3. Dương Thuấn (sinh 1958, dân tộc Tày)
Thơ tiếng Việt (8 tập): Cưỡi ngựa đi săn, Đi tìm bóng núi, Đi ngược mặt trời, Bà lão và chích chòe, Mười bảy khúc đảo ca (trường ca), Hát với sông Năng, Trăng Mã Pí Lèng, Đêm bên sông yên lặng
Thơ song ngữ (1 tập): Con côi làm dâu
Thơ tiếng Tày (1 tập): Slíp nhỉ tua khoăn
Truyện ngắn (1 tập): Bài học mùa hè
4. Pờ Sảo Mìn (sinh 1946, dân tộc Padí)
4 tập toàn thơ sáng tác bằng tiếng Việt: Cây hai ngàn lá, Bài ca hoang dã, Con trai người Padí, Cung đàn biên giới
5. Lò Ngân Sủn (sinh 1945, dân tộc Dáy)
Thơ tiếng Việt (9 tập): Chiều biên giới, Những người con của núi, Đám cưới, Đường dốc, Dòng sông Mây, Chợ tình, Lều nương, Tôi là một ngọn gió, Người trên đá
Thơ song ngữ (1 tập): Đầu nguồn cuối nước
Tập truyện tiếng việt (2 tập): Chiếc vòng bạc, Hưu tập thể
Sưu tầm, dịch (2 tập): Tục ngữ Dáy, Bước đầu tìm hiểu về dân ca người Dáy
Tiểu luận (3 tập)
6. Lò Cao Nhum (sinh 1954, dân tộc Thái)
Thơ tiếng Việt (5 tập): Giọt sao trở về, Rượu núi, Sàn trăng, Theo lời hát về nguồn, Mùa hoa chuông
Dịch dân ca Thái (1 tập): Lời hát trong lễ hội Chá chiêng
7. Hơ Vê (sinh 1947, dân tộc H’rê)
Thơ tiếng Việt (5 tập): Đóa hoa rừng, Tất cả cho anh, Plây em mùa xuân, Khát vọng, Con chim Ta lố
8. Triệu Kim Văn (sinh 1945, dân tộc Dao)
Thơ tiếng Việt (5 tập): Hoa núi, Mùa sa nhân, Lá tìm nhau, Con của núi, Lửa của mồ côi
Bút kí tiếng Việt (1 tập): Tân sơn cựu sơn
Nghiên cứu (1 tập - in chung): Bước đầu tìm hiểu vốn văn nghệ Việt Bắc
9. Chu Thùy Liên (sinh 1966, dân tộc Hà Nhì)
Thơ tiếng Việt (1 tập): Lửa sàn hoa
Trường ca Hà Nhì: Xa nhà ca, 1 tập Truyện cổ Hà Nhì
10. Inrasara (sinh 1957, dân tộc Chăm)
Thơ tiếng Việt (3 tập): Tháp nắng, Hành hương em, Lễ tẩy trần tháng Tư
Thơ song ngữ: Sinh nhật cây xương rồng
Tiểu luận: Văn hóa-xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại
Nghiên cứu - sưu tầm - dịch thuật: Văn học Chăm (3 tập)
Nghiên cứu ngôn ngữ: Tự học tiếng Chăm, Từ điển Chăm-Việt dùng trong nhà trường
Phân tích
Có 3 nhà thơ chỉ thuần sáng tác bằng tiếng Việt: Y Phương, Hơ Vê, Pờ Sảo Mìn.
Hai người có tham gia nghiên cứu-dịch thuật vốn cổ văn học dân tộc, dù thành tích còn khá khiêm tốn: Triệu Kim Văn, Lò Cao Nhum.
Dương Thuấn, dẫu thuộc thế hệ trẻ nhưng đã in một thi phẩm sáng tác bằng ngữ Tày, một bằng song ngữ Việt-Tày, là điều rất đáng khích lệ.
Có 3 nhà thơ vừa sáng tác bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc bên cạnh nghiên cứu văn học và ngôn ngữ dân tộc, dù mỗi người đặt nặng từng khía cạnh mỗi khác: Nông Quốc Chân, Lò Ngân Sủn, Inrasara. Trong đó, đặc biệt nhà thơ quá cố Nông Quốc Chấn là người đã dịch ngược thơ Việt sang tiếng dân tộc.
Ngoài ra, tôi muốn nêu thêm một tên tuổi quen thuộc: nhà thơ Triệu Lam Châu (sinh 1952, dân tộc Tày), anh còn dịch truyện Nga sang ngữ Tày!
Qua phân tích, ta thấy đa phần nhà thơ người dân tộc thiểu số chú ý đến sáng tác bằng tiếng dân tộc, vẫn còn quan tâm đến đào sâu vào văn chương - ngôn ngữ dân tộc để làm giàu sang tiếng dân tộc đồng thời khai thác khía cạnh độc đáo trong ngôn ngữ dân tộc, từ đó vận dụng vào sáng tác thơ bằng tiếng phổ thông. Đây là điều rất cần thiết, có tác động qua lại mang tính biện chứng trong phát triển thơ song ngữ. Chính nhờ vận dụng lối nói, lối nghĩ dân tộc vào thơ mà các nhà thơ dân tộc thiểu số đã tạo được vài giọng riêng đóng góp vào nền thơ Việt thời gian qua.
Thế nhưng, như vậy vẫn còn là quá yếu so với yêu cầu thực tiễn từ phía ngôn ngữ dân tộc và người đọc là bà con dân tộc thiểu số. Nông Quốc Chấn: 6 tập, Dương Thuấn: 2 tập, Inrasara chỉ mới nửa tập! Đấy là chúng ta chỉ làm cái kê biên đếm đầu sách mà chưa bàn đến chất lượng. Việc nghiên cứu mang tính chiều sâu về ngôn ngữ - văn chương dân tộc càng yếu hơn nữa.
Bản thân nhà thơ đã vậy. Các cơ quan báo chí giữ vai trò và hỗ trợ gì trong phát triển thơ dân tộc thiểu số? Tạp chí Văn hóa các dân tộc ra định kì hàng tháng đăng đủ loại từ sáng tác thơ văn, nhạc họa cho đến sưu tầm - nghiên cứu thuộc mọi dân tộc, vùng miền. Cần thiết, nhưng không đủ. Phụ san của tờ Văn nghệ là Văn nghệ dân tộc, mỗi kì đăng vài bài thơ song ngữ, dù rất cố gắng nhưng cũng chưa thấm vào đâu. Chúng ta chưa thử xem các bài thơ ấy có tác động gì đến suy nghĩ của đồng bào về tiếng và văn chương dân tộc? Hay chúng chỉ mãi giậm chân ở phong trào?
Một tạp chí hay đặc san dành riêng cho các dân tộc có phong trào sáng tác mạnh, chúng ta vẫn chưa đặt vấn đề đó. Hay đồng bào chưa thực sự có nhu cầu? Không nói đến dân tộc Hoa hay Khmer, họ có cả bề dày truyền thống văn chương ở phía sau với một lượng rất đông người đọc phía trước; và thực tế họ cũng đã có các tập san bằng ngữ dân tộc của/cho họ. Ngay tộc Tày, với số dân khá đông bên cạnh hơn chục nhà thơ (tôi chỉ kể những người viết là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam), cũng không có đặc san cho riêng mình. Tại sao? Hay Tày không thích đọc thơ bằng tiếng mẹ đẻ?
Đây là xu hướng chung của phát triển: con người luôn hướng về phía mạnh, phía đông. Chúng ta biết, không ít nhà văn Đông Âu, khi lưu vong sang phương Tây, đã viết thẳng bằng tiếng Anh hay Pháp. Nửa thế kỉ nay, tác giả Việt sáng tác bằng tiếng Pháp không phải là chuyện hiếm. Rồi hơn hai thập niên qua, ít nhất cũng có năm nhà thơ Việt kiều thành danh trên đất Mĩ bằng chính ngôn ngữ bản địa: Đinh Linh, Mộng Lan, Nguyễn Hoa [2] … Ở Việt Nam, không chỉ các nhà thơ dân tộc thiểu số xu hướng sáng tác thuần tiếng Việt, mà ngay cả người đọc dân tộc thiểu số cũng không hào hứng lắm trong đọc văn bản bằng tiếng mẹ đẻ nữa. Không có tác phẩm hay để đọc hay chưa đủ lưng vốn tiếng dân tộc để đọc? Theo tôi: cả hai, có lẽ.
Tày thì như vậy, thế Chăm có nhu cầu thì thế nào?
Tagalau mỗi năm ra được một số, nhưng đó chỉ là Tuyển tập sáng tác - sưu tầm - nghiên cứu, chứ chưa là tạp chí hay đặc san [3] . Mà nó là thành quả từ nỗ lực của một vài anh em trí thức Chăm bên cạnh hỗ trợ của bà con dân tộc. Mỗi kì Tagalau đi được 5 - 7 bài thơ bằng tiếng Chăm của các tác giả khác nhau, bên cạnh đăng nguyên tác thi phẩm cổ điển kèm theo bản dịch tiếng Việt; số mới nhất còn trích in cả một chương cuốn tiểu thuyết hiện đại bằng tiếng mẹ đẻ nữa! Nhưng, như thế đã đủ chưa?
Trường hợp Chăm cũng đủ cho ta một cái nhìn khái quát: qua 6 số Tagalau, chỉ mới thấy xuất hiện 10 tay viết bằng tiếng mẹ đẻ; trong đó hết 6 người đã ở ngưỡng cổ lai hy, 3 trong độ tuổi từ 50 trở lên, chỉ có một Jaya Hamu Tanran có năm sinh là 1958! Chăm có cả một Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chăm trực thuộc Sở Văn hóa Thông tin – Ninh Thuận với 5 cán bộ chuyên môn, khá mạnh về lãnh vực sưu tầm - nghiên cứu; có cả Ban biên soạn sách chữ Chăm thuộc Sở Giáo dục Ninh Thuận với 7 biên chế hoạt động hiệu quả; Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á của Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh cũng đã kịp thời biên soạn và xuất bản bộ Từ điển Chăm – Việt, Từ điển Việt – Chăm [4] dày dặn và bổ ích. Nhưng đó là thứ ngôn ngữ dừng lại ở cửa “hàn lâm” và trường học chứ chưa thực sự đi vào quần chúng. Ngôn ngữ đó sẽ sống và phát triển ra sao, nếu chưa có tiếp tay của những người làm sáng tác văn học? Và, nếu các sáng tác phẩm ấy không được tạo điều kiện phổ biến? [5]
Vẫn chưa có lối thoát cho vấn nạn này.
Còn việc dạy và học tiếng dân tộc, nó có giúp ích được gì cho sáng tác và tiếp nhận thơ tiếng dân tộc? Ngoài Hoa, theo tôi được biết, có 4 dân tộc được Bộ Giáo dục dành cho chương trình dạy tiếng-chữ trong trường tiểu học là: Khmer, Mông, Bana, và Chăm; trong đó Chăm được Trung tâm giáo dục dân tộc thuộc Bộ Giáo dục đánh giá tốt hơn cả trong việc biên soạn sách bằng ngữ dân tộc, dạy và học tiếng-chữ dân tộc. Số liệu mới nhất của Ban biên soạn sách chữ Chăm về công tác này:
Sau ba lần chỉnh lí, đến hôm nay (niên khóa 2001-02), trên 25.000 cuốn được in phục vụ cho các trường ở địa phương. Cụ thể đã có 10.102 học sinh ở 345 lớp của 22 trường tiểu học được cấp miễn phí tài liệu [6] . Ngoài ra, từ lớp bốn trở lên các em học sinh trong cộng đồng người Chăm còn nắm bắt thêm tri thức cơ bản của nền văn học dân tộc bằng vài trích đoạn thơ-văn, thông qua chữ viết.
Đó là thành tựu không thể chối cãi, tác động tích cực trong duy trì và phát triển tiếng-chữ dân tộc Chăm thời gian qua. Nhưng, sau cấp tiểu học, các em không được học tiếp, sách đọc thêm cho các em cũng không. Không có tạp chí cho các em đọc, không cả việc tạo điều kiện cho tài năng văn chương cơ hội thi thố nữa. Lực lượng độc giả và tác giả tương lai Chăm sẽ ra sao trong tình trạng ấy? Và ngôn ngữ dân tộc? Nó có nối thêm tên vào bảng danh mục ngôn ngữ nhân loại bốc khói của UNESCO, thời gian tới?
*
Tình hình tiếng và thơ dân tộc thiểu số như thế, thi sĩ đứng ở đâu?
Thi sĩ cư trú đồng thời canh giữ ngôn ngữ dân tộc như ngôi nhà của tính thể con người. Hôm nay ngôi nhà ngôn ngữ Chăm [Tày, Mông,…] đang dột nát, dột nát đến vô phương cứu vãn. Tôi, với tư cách là kẻ sáng tác, vừa hối hả lượm nhặt thứ gì còn lượm được ở ngôi nhà cũ, đồng lúc lo chạy qua ngôi nhà mới trú thân, trong cơn bão của nỗi cô đơn vừa siêu hình vừa xã hội. Đó là nói hình tượng thế.
II. Thơ dân tộc tộc thiểu số vừa đi vừa ngủ [7]
Đó cũng là một lối nói. Nhà thơ người dân tộc thiểu số sáng tác bằng tiếng Việt, chỉ trong thời gian vài chục năm, đã xuất hiện ồ ạt, dũng mãnh đi tới, khai phá và, khẳng định mình trên thi đàn cả nước. Từ thế hệ đầu: Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Vương Trung,… sang thế hệ thứ hai với: Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn,… rồi thế hệ thứ ba với: Lương Định, Triệu Lam Châu, Dương Thuấn, Lò Cao Nhum,… Ở đây tôi muốn nói lời xin lỗi đến vài tên tuổi khác bởi dấu “…” này. Nhưng sau đó, hầu như không còn bộ mặt nào mới, khác nổi trội lện.
Các tiềm năng thơ trẻ dân tộc thiểu số đang ngủ [hay chưa thức?], cả thế hệ trước cũng có vẻ ngái ngủ. Chúng ta thử đi tìm nguyên do. Các nguyên do xoay quanh các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp, và chỉ nghề nghiệp.
Xin chú ý vài điểm:
Tạm đặt bên ngoài bài phân tích người viết dù xuất thân dân tộc thiểu số, nhưng các sáng tác đã không nằm trong vùng không gian văn hóa/không gian thơ dân tộc thiểu số. Vi Thùy Linh là điển hình.
Ở chiều hướng ngược lại: Đỗ Thị Tấc.
Phân tích không nhắm đến tác giả mà là vấn đề mà mỗi tác giả có liên can, các dẫn chứng chỉ để làm rõ luận điểm. Tác giả khác soi vào đó, có thể thấy bóng dáng mình. Bởi mỗi thành tựu hay hạn chế của nhà thơ này đều có mặt nơi tác giả khác, đậm/nhạt, ít/nhiều, tùy. Ví dụ sự mòn sáo của đề tài/ngôn từ dính đến hầu hết người làm thơ dân tộc thiểu số hôm nay.
Không ngại dẫn chứng thơ của chính người phân tích.
1. Sáng tác thơ bằng ngôn ngữ-không là tiếng mẹ đẻ
Sống và suy nghĩ qua và bằng tiếng mẹ đẻ, nhưng khi sáng tác bằng tiếng của dân tộc khác (ở đây là tiếng Việt), các nhà thơ dân tộc thiểu số ý thức rõ mình cần nỗ lực rất lớn: vừa học sử dụng ngôn ngữ Việt vừa tập suy nghĩ qua ngôn ngữ đó. Thế nào đi nữa, ở giai đoạn đầu, chúng ta không thể rời bỏ dứt khoát lối suy nghĩ – bị quy định bởi/bằng ngôn ngữ – đã ăn sâu vào máu từ thuở lọt lòng. Viết – chúng ta luôn mang vào thơ mình những lối nói, lối nghĩ của dân tộc. Cái tưởng như bất lợi này lại là may mắn cho chúng ta: chúng ta tạo được một bản sắc độc đáo, đóng góp giọng thơ mới lạ vào nền thơ tiếng Việt. Nông Quốc Chấn, Y Phương, Lò Ngân Sủn,… rồi Dương Thuấn, Mai liễu, Pờ Sảo Mìn,… đã làm được những việc như thế, thời gian qua.
Thế nhưng trong chiều sâu tâm thức, không nhiều thì ít, ta vẫn mang mặc cảm: ngoảnh mặt tiếng dân tộc; và tự ti: có gì đó chưa thật nhuần nhuyễn, chưa thật tinh như người Kinh! Không chịu dừng lại, ta cặm cụi học tập, nỗ lực vươn tới. Và rồi từ chính nỗ lực này đã sinh ra rắc rối: bắt chước. Từ hình ảnh, cụm từ làm sẵn, ước lệ, lối ví von, ngắt câu,… sao cho như Kinh. Hệ quả: chẳng những chúng ta không bằng người Kinh mà ngày càng xa rời chính giọng thơ của mình.
Cây hai ngàn lá gập ghềnh qua 16 năm tìm tòi khai phá để đi đến Con trai người Padí của Pờ Sảo Mìn, là điển hình chung.
Dân tôi chỉ có hai ngàn người
Như cái cây hai ngàn chiếc lá
Lối ví như thế vừa cụ thể vừa chân chất dân tộc, khác hẳn lối ví trong Con trai người Padí đẫm ước lệ, sáo mòn và, không hay:
- Con trai người Padí
Đã đi là như chạy
Như mây bay lửa cháy ầm ầm
Lối nói hoặc các cụm từ làm sẵn, cũng thế. Trong lúc ở Cây hai ngàn lá mới lác đác: Chặn suối, ngăn sông, bắt nước ngược dòng hay: Ta dang tay gặt mùa hạnh phúc ấm no; thì trong Con trai người Padí chúng có mặt đầy dẫy.
Hình ảnh trong Cây hai ngàn lá có cái nét gì đó đặc trưng: Tước vỏ cây thêu áo đẹp năm tháng hay: Ngô lúa cười reo tận sân trời đó. Qua đó, người đọc nhận diện được giọng thơ anh và bản sắc dân tộc anh. Sang Con trai người Padí, khi phát triển thành: Dáng ngang tàng vẻ quẫy đạp trần gian, nó lại rất chung chung. Một chung chung chẳng nói được cái gì cả.
Tính chung chung này càng lộ rõ ở việc nhà thơ chúng ta đã vội vã khái quát:
Đã uống không biết say
Chỉ âm thầm trong quay cuồng bão gió
Còn những “Đã yêu là yêu nhiều yêu mãi”, rồi “Đã lên yên không bao giờ ngã ngựa”,… là tài sản chung của nhân loại chớ riêng gì một dân tộc nào đâu!
so sánh đoạn thơ khác. Chẳng hạn khi Pờ Sảo Mìn viết:
Chỉ một giây
Anh không được gặp em
Anh không nhìn thấy em
Anh không còn sống nữa
Trên trái đất này
Đường cày đi không thẳng [8]
Cả đoạn không gì đặc sắc, nhưng “đường cày đi không thẳng” đã cứu nó đứng. Nhưng khi:
Chỉ có một ngày
Anh không được thấy em
Là một ngày
– Ăn không ngon
– Ngủ không được tròn giấc
Thì nó thành rất… sáo. Sáo nên rỗng!
16 năm, hai thời điểm: từ Cây hai ngàn lá sang Con trai người Padí, Pờ Sảo Mìn đã có một bước tiến nhưng đến hai bước lùi. Bước lùi này thể hiện đậm nổi nhất trong nhịp điệu và giọng thơ. Nếu trong Cây hai ngàn lá anh còn chút lưỡng lự, cái lưỡng lự đáng yêu của kẻ chưa quen thân trước ngôi nhà xa lạ (là tiếng Việt và thơ tiếng Việt), thì sang Con trai người Padí, thành khách quen rồi: đã thấy anh mạnh dạn hẳn lên. Không còn chút dấu vết e ấp, ngập ngừng nữa mà là những bước đi ngang tàng đầy tự tin. Vần, nhịp thơ rất nhuyễn: cái nhuyễn của nhà thơ dân tộc Kinh. Con trai người Padí tạo cho người đọc cảm giác trơn tuột của ý tưởng, hình ảnh và, cả bài thơ là bởi lẽ đó
Cây hai ngàn lá và Con trai người Padí là hai bài thơ có lẽ nhà thơ Pờ Sảo Mìn rất tâm đắc. Nó mang chở nặng trĩu tâm tình của anh với dân tộc mình, đó là thứ tình yêu thiêng liêng. Nên, không phải ngẫu nhiên mà anh đã chọn nó làm tít cho tập thơ [9] . Các học hỏi hay kinh nghiệm nghệ thuật của anh phục vụ cho nó.
Ngay tại điểm này, chúng ta đụng đến chữ “tâm” của người sáng tác. Vấn đề tâm và tài là việc muôn thuở trong lí luận về sáng tạo nghệ thuật. Nhất là trong văn chương chữ nghĩa. Tâm hay tài cần? Cần tới đâu? Nếu có tài mà không có tâm thì sáng tác “hay” kia có cần thiết cho dân tộc, nhân loại? Ngược lại nếu một nhà thơ có tâm mà bất tài thì tác phẩm của anh giá trị chút nào không?
Đó là chuyện lớn. Ở đây chúng ta giới hạn vấn đề trong phạm vi hẹp hơn: tình cảm chân thực nào đó được thể hiện bằng hình thức nghệ thuật.
Nhận định của Nguyễn Đình Thi giúp ta có cái nhìn sáng rõ: “Thực trong thơ không những là thành thực trong tình cảm hay ý nghĩ. Sự thành thực ấy đáng trọng, nhưng cũng bao nhiêu người thành thực làm khổ chúng ta, khi bắt ta đọc thơ tâm tình của họ” [10] .
Pờ Sảo Mìn từ Cây hai ngàn lá đến Con trai người Padí vẫn cố định ở tình yêu sâu đậm thuỷ chung như nhất dành cho quê hương dân tộc, ở chất liệu đề tài; riêng về hình thức thể hiện, anh đã có bước tiến nhất định: tiến về phía quy ước, quy ước chung của ngôn ngữ và thơ tiếng Việt. Anh tan vào nó. Tan và mất. Nhưng khác với đa số nhà thơ dân tộc Kinh mà cái sáo được hình thành từ thói quen thơ đi vào nẻo nghĩ/viết “xuôi tay” (từ của Chế Lan Viên): lặp lại người khác hay của chính mình mà không tự ý thức; Pờ Sảo Mìn ngược lại: do ngộ nhận. Là ngộ nhận chung của các nhà thơ dân tộc thiểu số. Trong khi ngộ nhận của nhà khác là bám trụ vào “bản sắc”, kiên trì giữ giọng dân tộc bằng lối nói ngô nghê, ngọng ngịu như: cái ngày, ê hê,… hay đùn cơ man từ “thuần” dân tộc dày đặc vào các trang thơ: thắng cố, thổ cẩm, vòng xoè, apsara, buôn, phum,…; còn ngộ nhận của Pờ Sảo Mìn và vài nhà khác nữa xuất phát từ mặc cảm không muốn thua sút – trong sử dụng tiếng Việt – các nhà thơ người Kinh. Là điều hoàn toàn không cần thiết nữa, hôm nay.
*
Cùng tâm trạng và hoàn cảnh lưu vong, Joseph Brodski viết: “Đối với những người trong nghề chúng ta, tình trạng lưu vong trước hết là một biến cố ngôn ngữ” [11] .
Các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam, dẫu sáng tác trong tự nguyện, vẫn luôn viết trong tâm thế khá phức tạp: tình trạng lép vế của tiếng dân tộc và con số độc giả khiêm tốn là người bà con dân tộc, do đó, dù yêu tiếng mẹ đến đâu, các nhà thơ luôn có khuynh hướng tự thể hiện mình trong không gian rộng lớn hơn: tiếng Việt.
Mặc cảm phạm lỗi có mặt thường trực (đấy là tôi muốn nói đến các nhà còn mang ý thức phạm tội nơi bề sâu tâm thức). Thi nhân là kẻ canh giữ ngôi nhà ngôn ngữ dân tộc. Nhưng trong lúc nhà ta đang dột nát, kẻ được phân công canh giữ lại rời bỏ nó để đi xây dựng ngôi nhà khác! Không vấn đề tinh thần dân tộc hẹp hòi hay rộng rãi ở đây cả, mà là phận sự canh giữ của lính gác: trách vụ thiêng liêng của thi sĩ!
Không ít bạn trách tôi mất giờ cho thơ tiếng Chăm
Có bao lăm kẻ đọc, rồi sẽ còn ai nhớ?
Nhưng tôi muốn phí trọn đời mình cho nó
Dù chỉ còn dăm ba người
dù chỉ còn một người
hay ngay cả chẳng còn ai
(Inrasara, “Tháp nắng”)
Đó là cách nói nặng mặc cảm phạm tội của kẻ trong cuộc. Có ở đó nỗi gồng mình, sự tự động viên đồng lúc với tâm lí khỏa lấp. Tôi giáp mặt nó, đối thoại với nó – hằng ngày. Nó ám ảnh và hành hạ tôi, không ngưng nghỉ, ngay khởi điểm công cuộc sáng tác thơ tiếng Việt. Mặc dầu tôi vẫn thường xuyên viết thơ bằng tiếng mẹ đẻ, nhưng mặc cảm kia vẫn cứ có mặt, đeo dai như đỉa! Bị giằng xé giữa đi hay ở, giữa sửa sang lại căn nhà đang dột nát hay phiêu lưu vào vùng đất mới lạ để tung hoành, nhiều lúc tôi đã phải phân thân, đôi khi tự lừa. Tôi nghĩ, tâm thức ấy không chỉ riêng mình tôi mắc phải.
Ơi tháp!
Bao nhiêu năm tha hương
Bề sau trang thơ tôi vẫn còn lãng đãng
Số phận người
(Inrasara, “Hành hương em”)
Lưu vong ngôn ngữ, nhà thơ chúng ta trôi giạt khỏi ngôn ngữ dân tộc, tình trạng bất an luôn tiềm ẩn ở bề sâu, sẵn sàng nhảy xổ ra chất vấn chúng ta ở mỗi ngã rẽ cuộc đời. Thật khó tìm có sự an bình cao vời như Tagore, khi ông dùng thoải mái hai thứ tiếng: ông là triết nhân được nuôi dưỡng trong môi trường tinh thần triết lí Ấn Độ. Còn chúng ta? Khốn khổ thay, nhưng cũng vinh quang thay! Nedim Gursel kết luận: “Tôi nghĩ rằng, lưu vong theo nghĩa rộng, là một trong những định mệnh khả hữu cho nhà văn thời chúng ta”.
Mặc cảm này, một mặc cảm đương nhiên, không có gì phải giấu giếm hay xấu hổ cả, có mặt ở hầu hết các nhà thơ dân tộc thiểu số viết bằng tiếng Việt. Mặc cảm/nỗ lực khiến lục bát của Lương Định đạt đến độ tinh xảo, nó khiến các bài thơ “tự do” của Y Phương nhuần nhuyễn đến tài hoa, thơ dân tộc của Lò Ngân Sủn đậm chất dân tộc hơn nữa,… Là hay, khi được nhìn từ phía tích cực; nhưng cái hay đó sẽ hay hơn nếu chúng ta biết từ cấu trúc ngôn ngữ, lối suy nghĩ, lối nói đặc thù dân tộc để quay nhìn lại đầy ý thức nghệ thuật chặng đường sáng tác đã qua của chúng ta: chỉ vậy thôi các nhà thơ dân tộc thiểu số hôm nay mới dễ dàng nhận mặt cái sáo mòn đã có và luôn phục sẵn ở những trang thơ sắp tới của mình. Nhận mặt, để tránh.
Nói như nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc: Nếu một kĩ sư học một kĩ thuật nào đó là để làm theo: rập khuôn, cải tiến và phát triển thì ngược lại, nhà thơ học là để tránh. Tránh triệt để. Là điều kiện tối cần trong hành trình sáng tạo.
2. Vấn đề ngôn ngữ thơ
Chọn tiếng-không phải mẹ đẻ để sáng tác, các nhà thơ dân tộc thiểu số đụng phải một vấn đề hóc búa: bản thân ngôn ngữ. Bởi nghệ thuật thơ chủ yếu là nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Chúng ta buộc phải suy tư qua sơ đồ làm sẵn của một lối nghĩ khác lạ: tiếng Việt. Một lối mòn hay đại lộ thênh thang mở ra trước mắt ta. Thiếu ý thức sử dụng ngôn từ, ta rơi ngay vào vực thẳm đào sẵn (đại lộ chính là vực thẳm)! Đây là hệ quả tất yếu sinh ra từ vấn đề vừa nêu.
Thử lần theo bước nhà thơ Lương Định để tìm ra vực thẳm này.
Đi vào thơ Lương Định tôi có cảm giác như bước vào bảo tàng, bảo tàng chữ. Của hai thế kỉ và vài thế hệ. Xen kẽ và không thứ lớp. Anh dẫn chúng ta từ cuối thế kỉ XIX, với:
Chí đời trai, lạc bước phong trần, câu thơ nghĩa khí, nợ tang bồng, rượu thề, duyên trời xe, vụng tu thân chuốc lụy phiền, kẻ giang hồ, tri âm, tri kỉ, bạn tâm giao, oan khiên, nỗi oan nghiệp chướng, phẫn chí, một kiếp nhân sinh, thế cô lập nghiệp, tay trắng, đãi bôi, má hồng, phận hồng nhan, trời xanh, câu thơ lời thề, hảo hán, giải oan, một khối oan…
bước sang “hiện vật” của đầu thế kỉ XX được trưng bày, với:
Câu thơ Sám - Hối, duyên tiền định, Cõi - Mộng - Du, lỗi hẹn, chót đa mang, bơ vơ đất khách, bến xưa, xuân thì, một trời mộng ước, lỡ một thời con gái, trăng nằm sóng soãi, bầm vầng trăng rỏ máu, rung nhẹ cung đàn…
đến tận gian hàng chữ của miền Nam những năm 60 rớt lại:
Cô đơn, trắc trở, day dứt, bon chen phố thị, tiếc nuối, Cõi Thiền, tỉnh say, đời cay nghiệt, con sáo xổ lồng, sang ngang phận bẽ bàng, xót xa, Cát Bụi thời gian, phôi phai, hao gầy, vò võ nỗi niềm, tê tái nỗi buồn, ván đã đóng thuyền…
Bao nhiêu là hiện vật của mấy thế hệ chen chúc trong ba nhà trưng bày [12] . Tôi cảm thấy bị lạc. Lạc và ngợp. Vui vẻ mà ngợp trong hai căn phòng nhỏ bé này. Bởi các hiện vật kia được Lương Định bày biện rất nhiệt tình và thành thật một cách cảm động.
Có thể nói, Lương Định là nhà thơ dân tộc thiểu số cố ý làm thơ giống người Kinh nhất! Khi tuyên ngôn:
Cha không thích những bài ca xưa cũ
Nghe họa mi hót mãi cũng nhàm
Tôi không hiểu Lương Định có ý thức đầy đủ sức nặng ý nghĩa của nó không. Bởi, thơ muốn không xưa cũ (chưa nói là hiện đại hay hậu hiện đại), nó phải thể nghiệm thể mới, lối viết mới, nhịp điệu mới, ngôn từ mới…
Riêng yêu cầu về hình thức thôi, chúng ta chưa thấy Lương Định có thử nghiệm. 39 bài trong tập thơ thứ hai của anh: Núi và hòn đá lẻ, thể thơ 5, 7 và 8 chữ chiếm đến 12 bài, 11 bài lục bát và 16 bài có câu ngắn/dài. Nghĩa là thể thơ cũ chiếm thế áp đảo. Ngay 16 bài có cấu trúc câu ngắn/dài này, chúng cứ vần vè êm tai.
Vần và thể cũ không phải là không thể hiện đại, nếu nhà thơ có lối viết, ngôn từ, nhịp điệu hiện đại. Nhất là nhịp điệu (Rhythm). Bởi, nói như Charles Hartman: “Nhịp điệu đóng góp toàn bộ ý nghĩa của bài thơ, và phép làm thơ là chuyển nó trở thành ý nghĩa” [13] .
Đọc lục bát "Chia" của Nguyễn Trọng Tạo [14] :
Chia cho em một đời tôi
một cay đắng
một niềm vui
một buồn
tôi còn cái xác không hồn
cái chai không rượu tôi còn vỏ chai…
Chúng ta nói nó hiện đại. Bởi nó mới ở xếp đặt ngôn từ (“một cay đắng”…), bất ngờ ở lối nói (câu cuối), và trên hết là nhịp điệu (bằng ngắt câu và vắt dòng). Nhịp điệu này làm trào vọt năng lực thể hiện tinh thần được tạo nên qua tiến trình sáng tạo của nhà thơ. Còn ở lục bát “Rượu tha hương” (anh tương đối thành công ở thể cổ điển này) của Lương Định, thì rõ ràng nó không mới.
Tha hương giữa chốn quê nhà
Nửa đời nhìn lại, ngỡ là chiêm bao
Láng giềng đâu bạn tâm giao?
Thế cô lập nghiệp lao đao nẻo đời…
Tha hương rượu uống mềm môi
Ruột gan đau đáu nói, cười vu vơ
Núi non – cõi nhớ – mịt mờ
Bẽ bàng phận kẻ giang hồ rượu suông.
Không nói đến nhịp điệu hay tứ thơ sáo mòn, chỉ cần bẽ bàng, thế cô lập nghiệp, mềm môi thôi cũng đủ “làm cũ” bài thơ rồi.
Các từ này ở ngoài/nằm đằng sau tầm mong đợi (horizon of expectations) của người đọc thời hiện đại. Với con người thưởng ngoạn văn chương hôm nay, chí trai, nợ tang bồng, câu thơ nghĩa khí… đã mất hết sức nặng ý nghĩa như nó vốn có ở thế kỉ XIX. Một ít chúng đang rất lạc lõng, ngơ ngác trên đường phố hiện đại Sài Gòn. Còn hầu hết chúng đã chết và được nhập kho từ vựng Việt hôm qua.
Dù, nhà thơ là kẻ ý thức sâu sắc nhất hành động sử dụng ngôn ngữ của mình, không ai dại dột đòi hỏi họ cắt đứt một lần cho tiệt đuôi tàn quân chữ cũ rơi rớt lại. Không lấy ví dụ đâu xa, ngay bản thân tôi cũng phạm húy khá nhiều ở tập thơ đầu tay: Tháp nắng. Trong các bài thơ được viết từ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, người đọc tinh ý dễ dàng nhận mặt những: nắng quái, sầu viễn miên, tàn tạ, buồn hồ hải, miên trường, quan san, phiến, tao phùng, hoài nhớ… được sinh hạ từ đâu ở thế kỉ này.
Vài rủi ro nghề nghiệp, người đọc bỏ qua được. Nhưng nếu chúng trở thành các dụng ngữ chủ yếu của một nhà thơ thì – hỏng! Tôi không tin lắm một tài năng thơ nào đó một ngày kia có thể tắm gội, làm mới vốn chữ thời thượng (cũ) trong Bảo tàng chữ chúng ta vừa nêu ở trên. May lắm, bằng khéo léo xếp đặt, vài hiện vật trong chúng nhấp nháy lên đôi chút. Còn thì, hiệu quả thơ chắc chắn sẽ rất kém.
Nhưng trong thời đại ngày nay, làm sao có thể sáng tạo ra cái mới?
Nêu câu hỏi này, chúng ta hiểu được vì sao, bên cạnh sự châm biếm (irony), nhại giễu (pastiche) là một thủ pháp nghệ thuật chủ yếu của các nhà hậu hiện đại.
© 2006 talawas
----------------------------------------------
[1]Tư liệu về các nhà thơ được rút ra từ các tác phẩm sau:
Lâm Tiến, Văn học các Dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Nxb. VHDT, H., 1995.
Lâm Tiến, Văn học và Miền núi, Nxb. VHDT, H., 2002.
Núi mọc trong mặt gương, Nxb. VHDT, H., 1998.
Tuyển tập văn học Dân tộc & Miền núi I, II, III, Nxb. GD, H., 1999.
Hoàng Quảng Uyên, Một mình trong cõi thơ, Nxb. VHDT, H., 2000.
Lò Ngân Sủn, Thơ của các nhà thơ Dân tộc thiểu số, Nxb. VHDT, H., 2001.
Lò Ngân Sủn, Vấn đề đặt ra với các nhà thơ Dân tộc thiểu số, Nxb. VHDT, H., 2002.
Nhà văn Dân tộc thiểu số Việt Nam, Đời và văn, Nxb. VHDT, H., 2003.
[2]Xem: eVan, 2004. Hay: The best American Poetry 2003, Scribner Poetry, USA, 2003; David Lehman, Great American Prose Poems, Scribner Poetry, USA, 2003.
[3]Tagalau 1-6, xuất bản từ năm 2000-2005.
[4]Bùi Khánh Thế (chủ biên, với sự cộng tác của các tác giả Chăm: Inrasara, Thành Phần, Phú Văn Hẳn, Lương Đắc Thắng, Quang Cẩn), Từ điển Chăm – Việt, Nxb. KHXH, H., 1995; Từ điển Việt – Chăm, Nxb. KHXH, H., 1996.
[5]Xem thêm: Inrasara, “Sáng tác văn chương Chăm hôm nay” trong Tagalau1, Hội VHNT các DTTS Việt Nam, 2000.
[6]Số liệu được Ban biên soạn sách chữ Chăm – Ninh Thuận cung cấp.
[7]Phần hai của Tiểu luận này vốn là các bài phê bình hoàn chỉnh về từng tác giả, nhưng khi vừa phác họa 6 khuôn mặt, ngoái lại, người viết chợt nhận ra rằng hầu như tất cả “ưu khuyết” của thơ các tác giả dân tộc thiểu số đều lặp lại nhau, từ đó vô hình chung kéo theo lời bàn về cũng bị lặp lại. Do đó, tôi đã gom chúng về một mối, vừa gọn và vừa tiện theo dõi.
[8]Pờ Sảo Mìn, Con trai người Padí, VHDT, 2001, tr.17.
[9]Cây hai ngàn lá, Nxb. VHDT, 1992 và Con trai người Padí, Nxb. VHDT, 2001.
[10]Nguyễn Đình Thi, “Mấy ý nghĩ về thơ”, Tác phẩm mới, số 3.1992.
[11]Nedim Gursel, “Chữ nghĩa của lưu đày, lưu đày của chữ nghĩa” – talawas, 2003.
[12]Ba tập thơ đã xuất bản của Lương Định: Tương tư, Nxb Đồng Nai, 1991; Núi và Hòn đá lẻ, Nxb. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1995; Dòng sông khao khát, Nxb Hội Nhà văn, H., 2001.
[13]Charles Hartman, trích theo Khế Iêm, “Thơ Tự do – một tiếng gọi khác”, Tc. Thơ, số Mùa Đông 1999, Hoa Kì, tr. 158.
[14]Nguyễn Trọng Tạo, Đồng dao cho người lớn, Nxb. Văn học, H., 1994.
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6929&rb=0101
