ĐÔI ĐIỀU TẢN MẠN
Tiếng Nghệ…
Xứ Nghệ nổi tiếng cả nước và thế giới bởi nhiều lẽ. Không chỉ là nơi “địa linh nhân kiệt” phong cảnh hữu tình, “non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ”; không chỉ bởi có nhiều đặc sản mà xứ Nghệ còn nổi tiếng bởi cách mời khách trịch thượng, bất cần như người Nghệ “Ai vô xứ Nghệ thì vô…”. Có lẽ cũng chỉ người Nghệ mới có cách mời như thế.
Tuy nhiên, cái mà người Nghệ gây ấn tượng nhất lại chính là tiếng Nghệ. Trong cảm nhận của người ngoài, người Nghệ là “dân trọ trẹ”. Cách nói của người Nghệ nhanh với âm sắc ngang và nặng không trộn lẫn vào đâu được. Câu tục ngữ: “ Chị em du như tru một bịn, chị em gấy như trấy cau non” là câu tục ngữ của người Nghệ, xứ Nghệ. Nhiều người biết du(dâu), tru(trâu), gấy(gái), (từ gấy còn có một nghĩa nữa là vợ (nhông: chồng, gấy: vợ) trấy(trái) nhưng bịn thì không mấy người biết, mà không biết thì không thể hiểu được, không khéo hiểu sai. Câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một tràng khôn” cũng vậy. Phải là đàng mới hiệp vần với tràng (sàng). Mà đàng thì ắt là của người Nghệ. Thiên tài của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là bên cạnh việc sử dụng rất thành công thứ ngôn ngữ đầy hoa mỹ, ước lệ với những điển cố, điển tích ông cũng rất thành công sử dụng những từ ngữ thuần Việt có gốc gác từ xứ Nghệ.
Ca dao Việt Nam có nhiều câu nói về hình ảnh cây đa, bến nước. Nhưng có lẽ không có câu nào thảng thốt, day dứt và ám ảnh hơn còn lưa, mô như cách nói của người Nghệ trong câu:
Cây đa, bến cũ còn lưa,
Con đò năm ngoái năm xưa mô rồi
Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi là người có nỗi niềm thật lắng sâu về người Nghệ, tiếng Nghệ : Gió Lào thổi rạc bờ tre
Chỉ qua giọng nói đã nghe nhọc nhằn
Chắt từ sỏi đá khô cằn
Nên yêu thương mới sâu đằm đó em
Tiếng Nghệ là đặc sản của người Nghệ hiến dâng cho đất nước. Không có lý do gì để chúng ta không tự hào. Cũng không có lý do gì để một số con em chúng ta đi làm ăn xa lại cố tình học mót tiếng xứ người. Có ai chê người Huế nói tiếng Huế, người Quảng nói tiếng Quảng hay người Sài Gòn nói tiếng Sài Gòn đâu mà sợ họ chê người Nghệ nói tiếng Nghệ. Cái đáng chê là người Nghệ không biết nói tiếng Nghệ. Họ đã quên mất mình là người Nghệ. Người Nghệ thì phải nói tiếng Nghệ. Nhưng có nên khí khái, bất cần kiểu ông cha mình một thuở: Ai nghe tiếng Nghệ thì nghe…không?
Từ cổ
Từ cổ là một thực tế xảy ra trong bất cứ ngôn ngữ nào. Người Nghệ (trong đó có Thanh Chương) là một điển hình cho sự lưu giữ các từ cổ. Nhiều từ hiện chúng ta đang dùng có mặt trong ngôn ngữ của người Mường, anh em sinh đôi của người Việt cổ như trôốc(đầu), chưn- chin (chân), gấy (vợ), nhôông (chồng) vv… Cuộc sống không ngừng phát triển. Cái cũ mất đi, cái mới ra đời và kèm theo nó là những từ ngữ mới xuất hiện để chỉ sự vật, hiện tượng, khái niệm đó. Cái mà ngày nay ta gọi là từ cổ thì ngày xưa nó vốn rất quen thuộc. Gọi là từ cổ vì những từ đó nay chúng ta không còn sử dụng nữa vì nó đã mờ nghĩa hoặc mất nghĩa vì bản thân sự vật, hiện tượng được nói đến đã không còn trong đời sống hoặc ít dùng đi vì đã có những từ ngữ khác thay thế. Ngày nay, đọc “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi, “Hồng Đức quốc âm thi tập” của Lê Thánh tông hay “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà không có vốn liếng về từ cổ thì ta chẳng hiểu được gì. Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân cũng vậy. Thử điểm lại những xống trong áo xống, pheo trong tre pheo, qué trong gà qué, má trong chó má, cộ trong xe cộ, sá trong đường sá, đai trong đất đai, chiền trong chùa chiền, vv… sẽ không mấy ai biết nó là gì nếu không có các tiếng áo, tre, gà, chó, xe, đường, đất, chùa đi kèm.
Không hiểu từ cổ thật khó hiểu văn học và văn hoá cổ. Cái đó đáng lo thật. Tôi chắc là rồi đây người ta phải chú thích cho các từ : xay, giã, giần, sàng trong câu thơ: Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng của Nguyễn Khoa Điềm mặc dù những từ đó hết sức quen thuộc với chúng ta ngày nay, thậm chí số đông mọi người đã trải nghiệm những công việc này. Theo đó, những từ thuộc lĩnh vực sản phẩm và sản xuất nông nghiệp sẽ mau chóng biến mất trong đời sống ngôn ngữ như củ chuối, lưỡi hái, gàu sòng, cất vó, thả đụt, đặt trúm vv…. Thậm chí cái tem thư một vật hết sức quen thuộc trong việc trao đổi tình cảm của con người suốt mấy thế kỷ cũng trở nên xa lạ khi họ không gửi thư cho nhau theo cách truyền thống nữa mà quen dần với Chat, Internet, Email vv…
Từ cổ cũng như đồ cổ. Nó chỉ có giá trị văn hoá mà không còn (hoặc rất hạn chế) giá trị sử dụng. Không thể khư khư giữ mãi các từ cổ nhưng đừng để cho một số từ ngữ chúng ta sử dụng hôm nay mau chóng biến thành từ cổ. Điều đó chỉ có thể làm được khi ở mỗi làng xã chúng ta có một nhà bảo tàng để chúng ta giữ gìn những giá trị vật chất và tinh thần của cha ông. Con cháu chúng ta cần biết và phải được biết, thuở ấy (thế kỷ XX) cha ông họ đã ăn, đã sống, đã yêu, đã sản xuất, chiến đấu như thế nào, bằng công cụ gì vv…Đã vắng bóng đi rất nhiều đồ vật, công cụ như cái cối xay, xa kéo sợi, khung dệt vải vv… rồi. Để đừng có thêm từ cổ, muộn còn hơn không, công cuộc giữ gìn… xin hãy bắt đầu.
…Và những cách nói năng không thể dạy cho người nước ngoài.
1. Nói lái là hiện tượng ngôn ngữ chỉ có trong tiếng Việt. Người Nghệ lại càng hay nói lái. Cách nói lái tài giỏi của người Nghệ đã góp phần tạo nên Hồ Xuân Hương- một Bà Chúa thơ Nôm như cách nói của Xuân Diệu.
Nghe hai người Nghệ (chắc chắn là người Nghệ vì có mô, tui ) nói với nhau như thế này, người ngoài cứ tưởng họ đang nói với nhau bằng tiếng Pháp:
- Ô đi manh ? (Anh đi mô?)
- Tông đi có cui. Quýt xờ măng công soa. ((Tui đi có công. Quăng xơ mít qua sông.)
2. Phiếm chỉ : Phiếm chỉ là chỉ chung, không nói cụ thể vào một ai, cái gì, chuyện gì, nơi nào vv... Ca dao rất hay dùng lối nói phiếm chỉ. Nhưng phiếm chỉ như người Nghệ thì thật độc đáo. Xin dẫn hai ví dụ sau:
Cấy đều: Nghe một người Nghệ gọi con:
- Vưa(…) vìa mẹ cho cấy đều ( Ơi (…) về mẹ cho cái đều). Cho cái đều là cho cái gì thì chỉ bà mẹ ấy biết. Đứa con cũng chẳng biết. Chỉ khi cầm trên tay mới biết cái đều là cái gì. Có khi, cái đều là mấy con lươn (roi vào đít) cũng nên.
Những dồ: Nghe hai người Nghệ kể chuyện:
- Bữa qua, ông (….) vìa. ( Ông này làm to trên Tỉnh, trên Trung ương…)
- Ông a vìa vị ai? ( Ông ta về với ai?)
- Ông a vìa vị ông ( …) những dồ. ( Ông ta về với ông (…) những dồ. Những dồ là gì thì quả thật khó hiểu. Phải chăng đây là cách liệt kê người, sự vật, hành động theo cách riêng của người Nghệ?!
3. Những tiếng đệm:
Dân Zía
Trong thực tế nói năng, nhiều dân tộc, nhiều địa phương đều có những tiếng đệm. Người Thanh Bình(cũ), nay ở Phong Thịnh có cách đệm vào trước các câu nói mà họ xem thường một tiếng Ziá (không đọc giá).
Hãy nghe hai người Thanh Bình nói chuyện với nhau:
- Thằng (…) dạo ni mần ăn ra răng? ( Thằng (…) dạo này làm ăn thế nào?
- Ziá, ra cấy trớt chi. (Ziá, ra cái gì đâu.)
Tiếng Zía đệm trong câu nói của người Thanh Bình quả thật vui. Dân các xã xung quanh gọi người Thanh Bình là dân Zía là vì thế.
Va
Dân vùng chợ Cồn Lim khi tỏ vẻ ngạc nhiên hoặc phân trần một điều gì thì thường dùng một tiếng đệm va ở đầu câu. Hãy nghe hai người vùng chợ Cồn nói chuyện với nhau:
- Bữa qua đi mô đó?
- Va, bữa qua mô đi!
Nghe tiếng va đủ để biết người đó có phải người chợ Cồn Lim hay không. Thật thú vị!
Chuyện sử dụng ngôn ngữ của người Thanh Chương, người Nghệ còn nhiều điều đáng nói. Xin tản mạn đôi điều góp vui cùng chén rượu đầu xuân./.
Phan Bá Tiến
[sm=loa.gif][sm=noidea.gif]
Tiếng Nghệ…
Xứ Nghệ nổi tiếng cả nước và thế giới bởi nhiều lẽ. Không chỉ là nơi “địa linh nhân kiệt” phong cảnh hữu tình, “non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ”; không chỉ bởi có nhiều đặc sản mà xứ Nghệ còn nổi tiếng bởi cách mời khách trịch thượng, bất cần như người Nghệ “Ai vô xứ Nghệ thì vô…”. Có lẽ cũng chỉ người Nghệ mới có cách mời như thế.
Tuy nhiên, cái mà người Nghệ gây ấn tượng nhất lại chính là tiếng Nghệ. Trong cảm nhận của người ngoài, người Nghệ là “dân trọ trẹ”. Cách nói của người Nghệ nhanh với âm sắc ngang và nặng không trộn lẫn vào đâu được. Câu tục ngữ: “ Chị em du như tru một bịn, chị em gấy như trấy cau non” là câu tục ngữ của người Nghệ, xứ Nghệ. Nhiều người biết du(dâu), tru(trâu), gấy(gái), (từ gấy còn có một nghĩa nữa là vợ (nhông: chồng, gấy: vợ) trấy(trái) nhưng bịn thì không mấy người biết, mà không biết thì không thể hiểu được, không khéo hiểu sai. Câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một tràng khôn” cũng vậy. Phải là đàng mới hiệp vần với tràng (sàng). Mà đàng thì ắt là của người Nghệ. Thiên tài của Nguyễn Du trong Truyện Kiều là bên cạnh việc sử dụng rất thành công thứ ngôn ngữ đầy hoa mỹ, ước lệ với những điển cố, điển tích ông cũng rất thành công sử dụng những từ ngữ thuần Việt có gốc gác từ xứ Nghệ.
Ca dao Việt Nam có nhiều câu nói về hình ảnh cây đa, bến nước. Nhưng có lẽ không có câu nào thảng thốt, day dứt và ám ảnh hơn còn lưa, mô như cách nói của người Nghệ trong câu:
Cây đa, bến cũ còn lưa,
Con đò năm ngoái năm xưa mô rồi
Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi là người có nỗi niềm thật lắng sâu về người Nghệ, tiếng Nghệ : Gió Lào thổi rạc bờ tre
Chỉ qua giọng nói đã nghe nhọc nhằn
Chắt từ sỏi đá khô cằn
Nên yêu thương mới sâu đằm đó em
Tiếng Nghệ là đặc sản của người Nghệ hiến dâng cho đất nước. Không có lý do gì để chúng ta không tự hào. Cũng không có lý do gì để một số con em chúng ta đi làm ăn xa lại cố tình học mót tiếng xứ người. Có ai chê người Huế nói tiếng Huế, người Quảng nói tiếng Quảng hay người Sài Gòn nói tiếng Sài Gòn đâu mà sợ họ chê người Nghệ nói tiếng Nghệ. Cái đáng chê là người Nghệ không biết nói tiếng Nghệ. Họ đã quên mất mình là người Nghệ. Người Nghệ thì phải nói tiếng Nghệ. Nhưng có nên khí khái, bất cần kiểu ông cha mình một thuở: Ai nghe tiếng Nghệ thì nghe…không?
Từ cổ
Từ cổ là một thực tế xảy ra trong bất cứ ngôn ngữ nào. Người Nghệ (trong đó có Thanh Chương) là một điển hình cho sự lưu giữ các từ cổ. Nhiều từ hiện chúng ta đang dùng có mặt trong ngôn ngữ của người Mường, anh em sinh đôi của người Việt cổ như trôốc(đầu), chưn- chin (chân), gấy (vợ), nhôông (chồng) vv… Cuộc sống không ngừng phát triển. Cái cũ mất đi, cái mới ra đời và kèm theo nó là những từ ngữ mới xuất hiện để chỉ sự vật, hiện tượng, khái niệm đó. Cái mà ngày nay ta gọi là từ cổ thì ngày xưa nó vốn rất quen thuộc. Gọi là từ cổ vì những từ đó nay chúng ta không còn sử dụng nữa vì nó đã mờ nghĩa hoặc mất nghĩa vì bản thân sự vật, hiện tượng được nói đến đã không còn trong đời sống hoặc ít dùng đi vì đã có những từ ngữ khác thay thế. Ngày nay, đọc “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi, “Hồng Đức quốc âm thi tập” của Lê Thánh tông hay “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà không có vốn liếng về từ cổ thì ta chẳng hiểu được gì. Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân cũng vậy. Thử điểm lại những xống trong áo xống, pheo trong tre pheo, qué trong gà qué, má trong chó má, cộ trong xe cộ, sá trong đường sá, đai trong đất đai, chiền trong chùa chiền, vv… sẽ không mấy ai biết nó là gì nếu không có các tiếng áo, tre, gà, chó, xe, đường, đất, chùa đi kèm.
Không hiểu từ cổ thật khó hiểu văn học và văn hoá cổ. Cái đó đáng lo thật. Tôi chắc là rồi đây người ta phải chú thích cho các từ : xay, giã, giần, sàng trong câu thơ: Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng của Nguyễn Khoa Điềm mặc dù những từ đó hết sức quen thuộc với chúng ta ngày nay, thậm chí số đông mọi người đã trải nghiệm những công việc này. Theo đó, những từ thuộc lĩnh vực sản phẩm và sản xuất nông nghiệp sẽ mau chóng biến mất trong đời sống ngôn ngữ như củ chuối, lưỡi hái, gàu sòng, cất vó, thả đụt, đặt trúm vv…. Thậm chí cái tem thư một vật hết sức quen thuộc trong việc trao đổi tình cảm của con người suốt mấy thế kỷ cũng trở nên xa lạ khi họ không gửi thư cho nhau theo cách truyền thống nữa mà quen dần với Chat, Internet, Email vv…
Từ cổ cũng như đồ cổ. Nó chỉ có giá trị văn hoá mà không còn (hoặc rất hạn chế) giá trị sử dụng. Không thể khư khư giữ mãi các từ cổ nhưng đừng để cho một số từ ngữ chúng ta sử dụng hôm nay mau chóng biến thành từ cổ. Điều đó chỉ có thể làm được khi ở mỗi làng xã chúng ta có một nhà bảo tàng để chúng ta giữ gìn những giá trị vật chất và tinh thần của cha ông. Con cháu chúng ta cần biết và phải được biết, thuở ấy (thế kỷ XX) cha ông họ đã ăn, đã sống, đã yêu, đã sản xuất, chiến đấu như thế nào, bằng công cụ gì vv…Đã vắng bóng đi rất nhiều đồ vật, công cụ như cái cối xay, xa kéo sợi, khung dệt vải vv… rồi. Để đừng có thêm từ cổ, muộn còn hơn không, công cuộc giữ gìn… xin hãy bắt đầu.
…Và những cách nói năng không thể dạy cho người nước ngoài.
1. Nói lái là hiện tượng ngôn ngữ chỉ có trong tiếng Việt. Người Nghệ lại càng hay nói lái. Cách nói lái tài giỏi của người Nghệ đã góp phần tạo nên Hồ Xuân Hương- một Bà Chúa thơ Nôm như cách nói của Xuân Diệu.
Nghe hai người Nghệ (chắc chắn là người Nghệ vì có mô, tui ) nói với nhau như thế này, người ngoài cứ tưởng họ đang nói với nhau bằng tiếng Pháp:
- Ô đi manh ? (Anh đi mô?)
- Tông đi có cui. Quýt xờ măng công soa. ((Tui đi có công. Quăng xơ mít qua sông.)
2. Phiếm chỉ : Phiếm chỉ là chỉ chung, không nói cụ thể vào một ai, cái gì, chuyện gì, nơi nào vv... Ca dao rất hay dùng lối nói phiếm chỉ. Nhưng phiếm chỉ như người Nghệ thì thật độc đáo. Xin dẫn hai ví dụ sau:
Cấy đều: Nghe một người Nghệ gọi con:
- Vưa(…) vìa mẹ cho cấy đều ( Ơi (…) về mẹ cho cái đều). Cho cái đều là cho cái gì thì chỉ bà mẹ ấy biết. Đứa con cũng chẳng biết. Chỉ khi cầm trên tay mới biết cái đều là cái gì. Có khi, cái đều là mấy con lươn (roi vào đít) cũng nên.
Những dồ: Nghe hai người Nghệ kể chuyện:
- Bữa qua, ông (….) vìa. ( Ông này làm to trên Tỉnh, trên Trung ương…)
- Ông a vìa vị ai? ( Ông ta về với ai?)
- Ông a vìa vị ông ( …) những dồ. ( Ông ta về với ông (…) những dồ. Những dồ là gì thì quả thật khó hiểu. Phải chăng đây là cách liệt kê người, sự vật, hành động theo cách riêng của người Nghệ?!
3. Những tiếng đệm:
Dân Zía
Trong thực tế nói năng, nhiều dân tộc, nhiều địa phương đều có những tiếng đệm. Người Thanh Bình(cũ), nay ở Phong Thịnh có cách đệm vào trước các câu nói mà họ xem thường một tiếng Ziá (không đọc giá).
Hãy nghe hai người Thanh Bình nói chuyện với nhau:
- Thằng (…) dạo ni mần ăn ra răng? ( Thằng (…) dạo này làm ăn thế nào?
- Ziá, ra cấy trớt chi. (Ziá, ra cái gì đâu.)
Tiếng Zía đệm trong câu nói của người Thanh Bình quả thật vui. Dân các xã xung quanh gọi người Thanh Bình là dân Zía là vì thế.
Va
Dân vùng chợ Cồn Lim khi tỏ vẻ ngạc nhiên hoặc phân trần một điều gì thì thường dùng một tiếng đệm va ở đầu câu. Hãy nghe hai người vùng chợ Cồn nói chuyện với nhau:
- Bữa qua đi mô đó?
- Va, bữa qua mô đi!
Nghe tiếng va đủ để biết người đó có phải người chợ Cồn Lim hay không. Thật thú vị!
Chuyện sử dụng ngôn ngữ của người Thanh Chương, người Nghệ còn nhiều điều đáng nói. Xin tản mạn đôi điều góp vui cùng chén rượu đầu xuân./.
Phan Bá Tiến
[sm=loa.gif][sm=noidea.gif]