Đ ến với “THƯỜNG DÂN” CÙNG NGUYỄN LONG
Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân.
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão giông.
Khi làm cây mác, cây chông
Khi thành biển cả, khi không là gì.
Thấp cao đâu có làm chi
Cỏ ngàn năm, vẫn xanh rì cỏ thôi.
Ăn của đất, uống của trời
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin.
Ồn ào mà vẫn lặng im
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn.
Chỉ mong ấm áo, no cơm
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hoà vào trời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
Khi cuộc thi thơ lục bát trên báo Văn Nghệ chưa kết thúc, nhưng Nguyễn Long đã dành được một cảm tình đặc biệt bởi cái chất Thường dân của anh và rồi Thường dân đã được trao giải nhất như cái lẽ đương nhiên phải vậy. Chỗ đứng của Thường dân trong trái tim nhiều người thực ra không phải là những triết lý được đưa ra mà quan trọng hơn là cách nói của nhà thơ về những triết lý đó. Nguyễn Long đã đưa đến cho bạn đọc một cách nói nhiều ẩn dụ mà giản dị, chân tình, thẳng thắn, bộc trực mà không kém phần thâm thuý, kín đáo.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Long đưa ra một mệnh đề mà xem qua tưởng chừng ai cũng biết. Cách ngắt nhịp 3-3 tạo cho câu thơ một thế tiểu đối gọn gàng mà vững chãi, tăng thêm tính khẳng định: “Đông thì chật, ít thì thưa”. Kế đó, anh đưa ngay một kết luận: “Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân” nghe lạnh gáy không ít người đã có lúc quen, thậm chí muốn nghĩ khác điều ấy. Thực ra, từ thời xưa, trong quan niệm của Mạnh Tử, một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của Nho giáo thì dân là quý nhất (dân vi quý). Và cũng đương nhiên là lịch sử bao giờ cũng là lịch sử được viết nên bởi những người dân “manh lệ”. “Chẳng bao giờ...”, nghe thật dứt khoát, bao quát một chiều kích thời gian vô cùng, tiền hậu bất kiến.
Thường dân thì bao giờ cũng vậy. Cuộc đời họ giản đơn như chính thân phận họ. Cái nghèo đeo đẳng và lộ rõ nhất trong cái ăn, cái mặc như cái lẽ thường tình: “Quanh năm chân đất đầu trần”. Cái chính, họ là những thân phận chịu nhiều hệ luỵ nhất sau những phen thay đổi sơn hà, bể dâu biến cải: “Tác tao sau những vũ vần bão giông”. Câu thơ sử dụng hai từ láy tác tao và vũ vần là kết quả và nguyên nhân của những bão giông lịch sử. Có thể, ngoài nguyên nhân phải đảm bảo vần điệu cho câu thơ lục bát, việc đảo vị trí giữa các tiếng để từ tao tác thành tác tao và vần vũ thành vũ vần hẳn có dụng ý của tác giả như muốn gợi lên sự đảo lộn cuộc sống của người thường dân trong những cơn biến loạn. Tuy vậy, không phải bao giờ người thường dân cũng cam chịu bị xô đẩy, dập vùi. Họ đã nhiều lần chứng tỏ vai trò của mình đối với lịch sử. Nhà thơ đã không ngần ngại sử dụng liên tiếp nhiều ẩn dụ nói về sức mạnh của người thường dân:
Khi làm cây mác, cây chông
Khi thành biển cả, khi không là gì.
Câu thơ gợi nhớ quan niệm của Nguyễn Trãi gần 600 năm trước: làm lật thuyền mới biết dân như nước. Tác giả hẳn rất có ý khi sử dụng ba động từ : làm, thành, là với những sắc thái ý nghĩa khác nhau. Nếu làm mang sắc thái chủ động từ ý thức, trách nhiệm của người dân trước vận mệnh đất nước, thì thành mang sắc thái một quy luật tất nhiên của lượng biến đổi thành chất về sự tích tụ sức mạnh muôn dân, còn khi không là gì thì quả đã vượt ra ngoài quy luật của sức mạnh. Ai biết được khi không là gì đó ngầm chứa trong nó bao nhiêu sức nặng mà chỉ chính những thường dân mới biết. Ở đây, còn có một nét nghĩa khác mà Nguyễn Long muốn gửi gắm: Đó là, khi một ai đó coi thường dân không là gì thì lịch sử đã chứng kiến không biết bao thảm hoạ. Một ẩn dụ khác tiếp tục được nhà thơ sử dụng:
Thấp cao đâu có làm chi
Cỏ ngàn năm, vẫn xanh rì cỏ thôi.
Đem cỏ ngầm so sánh với thường dân cũng như những mác, những chông, những biển cả ở trên không phải là điểm mới của nhà thơ. Cái mới mẻ, khác lạ là Nguyễn Long đã sử dụng rất tập trung những ẩn dụ đó. Bằng cách này, anh đã đưa người đọc cảm nhận một loạt các đặc điểm, phẩm chất của thường dân, những người sống theo quy luật của muôn đời cho nên phải dùng quy luật của muôn đời để nói về họ. Do đó, ngoài việc hiểu thường dân (danh từ) là một tầng lớp người đông đảo nhất trong xã hội còn phải hiểu thường dân như là một phẩm chất sống(tính từ).
Theo mạch liên tưởng, câu thơ: “Ăn của đất, uống của trời”cho phép ta hiểu như là quy luật của cỏ. Nhưng rồi câu thơ tiếp: “Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin” lại không cho phép ta hiểu như vậy. Ở đây, tính đa nghĩa của thơ được phát huy cao độ. Ta có thể hiểu đó là niềm kiêu hãnh ngửng cao đầu của những người thường dân. Cũng với cách ngắt nhịp 3-3 và một tiểu đối gợi cảm giác vững chãi như câu thơ đầu nhưng ở đây hình như có vẻ ngang tàng, quyết liệt. Có như vậy, ở câu thơ sau mới bình thản mà “Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn”. Ba cặp từ trái nghĩa: mua bán, nổi chìm, thiệt hơn đi liền nhau càng làm cho việc mặc ai thêm quyết liệt. Người thường dân đứng ra bên ngoài của những chuyện đó. Cái mà họ hướng tới là sự giản dị với những hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ- (Tố Hữu) với những thảo thơm, ngọt lành cho những thế hệ mai sau. Trên mạch suy nghĩ và xúc cảm ấy, hai câu kết cuối bài nâng hẳn Thường dân lên:
Hoà vào trời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
Quả là khó có thể có câu kết nào hay hơn, sâu sắc hơn. Thường dân được nâng lên ngang tầm trời đất hoà cùng với cái vĩnh cửu, vĩnh hằng và tuyệt đối. Một kiếp vô tư đã khó, vô tư mấy kiếp khó biết nhường nào. Lẽ đời “hết... hoàn...” là hạnh phúc không phải ai cũng có thể có được. Đã không ít người rất khó được trở lại làm thường dân một khi trót đã xa dân. Xin kết thúc bài viết này theo cách nói của Nguyễn Long: Hạnh phúc biết bao được làm thường dân! Khó biết bao khi được là thường dân!
Thảo Nguyên- Phan Bá Tiến
[sm=cauchuc.gif]
Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân.
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão giông.
Khi làm cây mác, cây chông
Khi thành biển cả, khi không là gì.
Thấp cao đâu có làm chi
Cỏ ngàn năm, vẫn xanh rì cỏ thôi.
Ăn của đất, uống của trời
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin.
Ồn ào mà vẫn lặng im
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn.
Chỉ mong ấm áo, no cơm
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hoà vào trời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
Khi cuộc thi thơ lục bát trên báo Văn Nghệ chưa kết thúc, nhưng Nguyễn Long đã dành được một cảm tình đặc biệt bởi cái chất Thường dân của anh và rồi Thường dân đã được trao giải nhất như cái lẽ đương nhiên phải vậy. Chỗ đứng của Thường dân trong trái tim nhiều người thực ra không phải là những triết lý được đưa ra mà quan trọng hơn là cách nói của nhà thơ về những triết lý đó. Nguyễn Long đã đưa đến cho bạn đọc một cách nói nhiều ẩn dụ mà giản dị, chân tình, thẳng thắn, bộc trực mà không kém phần thâm thuý, kín đáo.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Long đưa ra một mệnh đề mà xem qua tưởng chừng ai cũng biết. Cách ngắt nhịp 3-3 tạo cho câu thơ một thế tiểu đối gọn gàng mà vững chãi, tăng thêm tính khẳng định: “Đông thì chật, ít thì thưa”. Kế đó, anh đưa ngay một kết luận: “Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân” nghe lạnh gáy không ít người đã có lúc quen, thậm chí muốn nghĩ khác điều ấy. Thực ra, từ thời xưa, trong quan niệm của Mạnh Tử, một trong những nhà tư tưởng hàng đầu của Nho giáo thì dân là quý nhất (dân vi quý). Và cũng đương nhiên là lịch sử bao giờ cũng là lịch sử được viết nên bởi những người dân “manh lệ”. “Chẳng bao giờ...”, nghe thật dứt khoát, bao quát một chiều kích thời gian vô cùng, tiền hậu bất kiến.
Thường dân thì bao giờ cũng vậy. Cuộc đời họ giản đơn như chính thân phận họ. Cái nghèo đeo đẳng và lộ rõ nhất trong cái ăn, cái mặc như cái lẽ thường tình: “Quanh năm chân đất đầu trần”. Cái chính, họ là những thân phận chịu nhiều hệ luỵ nhất sau những phen thay đổi sơn hà, bể dâu biến cải: “Tác tao sau những vũ vần bão giông”. Câu thơ sử dụng hai từ láy tác tao và vũ vần là kết quả và nguyên nhân của những bão giông lịch sử. Có thể, ngoài nguyên nhân phải đảm bảo vần điệu cho câu thơ lục bát, việc đảo vị trí giữa các tiếng để từ tao tác thành tác tao và vần vũ thành vũ vần hẳn có dụng ý của tác giả như muốn gợi lên sự đảo lộn cuộc sống của người thường dân trong những cơn biến loạn. Tuy vậy, không phải bao giờ người thường dân cũng cam chịu bị xô đẩy, dập vùi. Họ đã nhiều lần chứng tỏ vai trò của mình đối với lịch sử. Nhà thơ đã không ngần ngại sử dụng liên tiếp nhiều ẩn dụ nói về sức mạnh của người thường dân:
Khi làm cây mác, cây chông
Khi thành biển cả, khi không là gì.
Câu thơ gợi nhớ quan niệm của Nguyễn Trãi gần 600 năm trước: làm lật thuyền mới biết dân như nước. Tác giả hẳn rất có ý khi sử dụng ba động từ : làm, thành, là với những sắc thái ý nghĩa khác nhau. Nếu làm mang sắc thái chủ động từ ý thức, trách nhiệm của người dân trước vận mệnh đất nước, thì thành mang sắc thái một quy luật tất nhiên của lượng biến đổi thành chất về sự tích tụ sức mạnh muôn dân, còn khi không là gì thì quả đã vượt ra ngoài quy luật của sức mạnh. Ai biết được khi không là gì đó ngầm chứa trong nó bao nhiêu sức nặng mà chỉ chính những thường dân mới biết. Ở đây, còn có một nét nghĩa khác mà Nguyễn Long muốn gửi gắm: Đó là, khi một ai đó coi thường dân không là gì thì lịch sử đã chứng kiến không biết bao thảm hoạ. Một ẩn dụ khác tiếp tục được nhà thơ sử dụng:
Thấp cao đâu có làm chi
Cỏ ngàn năm, vẫn xanh rì cỏ thôi.
Đem cỏ ngầm so sánh với thường dân cũng như những mác, những chông, những biển cả ở trên không phải là điểm mới của nhà thơ. Cái mới mẻ, khác lạ là Nguyễn Long đã sử dụng rất tập trung những ẩn dụ đó. Bằng cách này, anh đã đưa người đọc cảm nhận một loạt các đặc điểm, phẩm chất của thường dân, những người sống theo quy luật của muôn đời cho nên phải dùng quy luật của muôn đời để nói về họ. Do đó, ngoài việc hiểu thường dân (danh từ) là một tầng lớp người đông đảo nhất trong xã hội còn phải hiểu thường dân như là một phẩm chất sống(tính từ).
Theo mạch liên tưởng, câu thơ: “Ăn của đất, uống của trời”cho phép ta hiểu như là quy luật của cỏ. Nhưng rồi câu thơ tiếp: “Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin” lại không cho phép ta hiểu như vậy. Ở đây, tính đa nghĩa của thơ được phát huy cao độ. Ta có thể hiểu đó là niềm kiêu hãnh ngửng cao đầu của những người thường dân. Cũng với cách ngắt nhịp 3-3 và một tiểu đối gợi cảm giác vững chãi như câu thơ đầu nhưng ở đây hình như có vẻ ngang tàng, quyết liệt. Có như vậy, ở câu thơ sau mới bình thản mà “Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn”. Ba cặp từ trái nghĩa: mua bán, nổi chìm, thiệt hơn đi liền nhau càng làm cho việc mặc ai thêm quyết liệt. Người thường dân đứng ra bên ngoài của những chuyện đó. Cái mà họ hướng tới là sự giản dị với những hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ- (Tố Hữu) với những thảo thơm, ngọt lành cho những thế hệ mai sau. Trên mạch suy nghĩ và xúc cảm ấy, hai câu kết cuối bài nâng hẳn Thường dân lên:
Hoà vào trời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
Quả là khó có thể có câu kết nào hay hơn, sâu sắc hơn. Thường dân được nâng lên ngang tầm trời đất hoà cùng với cái vĩnh cửu, vĩnh hằng và tuyệt đối. Một kiếp vô tư đã khó, vô tư mấy kiếp khó biết nhường nào. Lẽ đời “hết... hoàn...” là hạnh phúc không phải ai cũng có thể có được. Đã không ít người rất khó được trở lại làm thường dân một khi trót đã xa dân. Xin kết thúc bài viết này theo cách nói của Nguyễn Long: Hạnh phúc biết bao được làm thường dân! Khó biết bao khi được là thường dân!
Thảo Nguyên- Phan Bá Tiến
[sm=cauchuc.gif]
![[8D]](/images/smiley/s3.gif)
![[:)]](/images/smiley/s1.gif)