Sự ấm áp ấy tôi không hề được nhận từ cậu mợ Bảy, khi tôi về lại nhà ngoại. Con đường đất nhỏ gập ghềnh, những chiếc cầu khỉ mỏng manh ngày nào má dắt tôi đi từng bước, bến đò nơi má con tôi chia tay lần cuối , ngọn cây dừa cao nhất mà má đã nhiều lần chỉ cho tôi thấy từ xa và nói đó là chỗ nhà ngoại... tất cả chỉ càng làm cho tôi thấy nhớ má, nhớ ngoại đến bủn rủn cả tay chân, bước đi không muốn nổi. Phải chi còn má, còn ngoại, tôi đâu phải khổ như thế này.
Trong suốt buổi sáng tôi ở nhà cậu Bảy, mợ Bảy ngồi sát bên cậu, không bước khỏi một bước. Ý định nói chuyện riêng với cậu không thành, tôi đành kể hết mọi chuyện, và trình bày mục đích về đây, xin được cậu mợ giúp đỡ nhiều hơn trong những ngày tới. Nghe xong, cả hai cùng im lặng. Một lúc lâu sau, cậu Bảy mới chép miệng:
- Anh Hai sao tệ dữ vậy không biết! - Rồi cậu quay sang mợ - Bây giờ bà nó tính sao?
Tôi ngao ngán nhìn cậu. Dường như trong cả cuộc đời, ông không tự quyết định được lấy một điều gì. Mợ Bảy nhìn tôi bằng ánh mắt soi mói, trong khi giọng nói lại nghe ngọt lừ:
- Chuyện anh Hai, mình phải hỏi lại ảnh đã. Lẽ nào lại đến mức như vậy? Còn con Hương, con ở ngoài chợ bấy lâu nay, đâu biết trong vườn lúc này cực như thế nào. Lúa năm nay thất dữ lắm, nhiều nhà phải ăn độn cả chuối cây, kiếm một con cá, con tôm muốn đỏ mắt. Đã mấy lần cậu tính ra dượng Hai, nói dượng thông cảm cho cậu mợ lúc này, làm mợ phải cản lại hết sức. Dù gì cũng là cậu ruột, có cực mấy cũng ráng chịu để nuôi cháu. Bây giờ, chuyện đã xảy ra như vậym mợ thấy tốt nhất là...
Mợ Bảy mím môi, lại nhìn tôi một lần nữa. Câu nói tiếp theo của mợ đã cho tôi hiểu đuợc ý nghĩa của cái nhìn ấy:
- Con thôi học đi, về đây ở luôn với cậu mợ. Con gái nông thôn, học cho lắm cũng chẳng có ích gì. Về đây giúp cậu mợ một tay. Rồi coi có ai được, cậu mợ gả cho. Lớn trộng như con, ở đây tụi nó đi lấy chồng hết trơn hết trọi rồi.
Thì ra bây giờ mợ lại tính bắt tôi bỏ học, về đây làm công cho mợ, với phần thưởng là một ông chồng ở vườn. Thấy tôi vẫn ngồi im lìm, mợ Bảy thủ thỉ:
- Chớ cậu mợ đuối thiệt rồi. Con nghĩ coi, ngay cả đám con của cậu mợ mà cậu mợ còn bắt nghỉ học hết. Thời buổi này có học cho nhiều rồi cũng chẳng làm được gì. Ráng làm cho được hột cơm mà ăn là tốt nhứt thôi.
Như vậy có nghĩa là nếu tôi không bỏ học, về đây, thì coi như cái phần cứu tế vài ký gạo hàng tháng như từ trước đến nay cũng không còn, đừng nói hy vọng được thêm gì nữa. Tôi nhẫn nhục van nài:
- Con chỉ còn 2 tháng nữa là hết năm học này. Cậu mợ ráng giúp con thêm chút nữa...
Mợ Bảy cương quyết:
- Học thêm 2 tháng nữa rồi cũng nghỉ, thì có ích lợi gì? Cậu mợ không giúp con được nữa đâu.
Cậu Bảy muốn nói gì đó, nhưng khi mợ đưa mắt liếc ông, ông lại thôi. Dù ông ráng bày tỏ thái độ bằng một tiếng thở dài, vẫn không thay đổi gì được cái kết luận trong tôi về ông. Tôi đứng dậy chào hai người rồi đi về, từ chối lời mời ở lại ăn cơm của mợ Bảy. Ở ngoài cổng, tôi tự thề với lòng mình, dù có chết đói chết khát tôi cũng sẽ không bao giờ trở lại ngôi nhà này. Người bà con ruột thịt cuối cùng còn lại, coi như cũng đã vừa mới chết trong tôi.
Kết quả chuyến đi của thầy Khai và Thiện lại hoàn toàn khả quan. Chị Hai của Thiện cũng tốt như anh, nói với tôi cứ việc về ăn ở với chị, chuyện tiền nong đừng nghĩ tới. Chị bán trái cây ngoài chợ, suốt ngày bận bịu ngoài ấy, cho nên nếu được thì tôi giúp coi sóc nhà cửa cho chị một buổi, để đứa cháu rảnh tay ra phụ chị. Một điều kiện quá nhẹ nhàng. Ngay chiều tối hôm ấy, tôi theo thầy Khai và Thiện đến nhà chi Hai Lành. Chị khoảng 40 tuổi, nhỏ người, mặt mũi trong rất hiền lành, phúc hậu. Chị nói chị rất thông cảm cho hoàn cảnh của tôi, sẵn sàng giúp đỡ tôi, miễn là tôi biết ăn ở dễ thương, chịu khó học hành... chuyện phí tổn này nọ không thành vấn đề với chị. Sau này nghe Thiện kể, tôi mới biết con người nhỏ nhắn hiền lành ấy lại có tính cách rất mạnh mẽ, quyết liệt. Trước giải phóng, đang sống ở Saigon, biết chồng ngoại tình, chị bỏ ngay về quê nhà và dứt khóat không quay lại, dù năm lần bảy lượt anh chạy xuống năn nỉ xin tha lỗi. Có lẽ vì vậy mà chị rất ghét những người đàn ông bê bối, bội bạc, và dễ cảm thông với câu chuyện của tôi. Ngay đêm đầu, chị Hai đã kêu tôi kể lại chuyện Hia Lý định làm nhục tôi như thế nào. Chưa nghe hết chuyện, chị đã bừng bừng nổi giận:
- Mấy thằng đàn ông đó có mà đem thiến hết rồi bằm cho vịt ăn mới mong chừa được cái tột heo nọc! Khốn nạn gì đâu! Con gái người ta như thế này, lại thuộc hàng con cháu, dê gì mà dê chó dê đẻ vậy không biết nữa! Được rồi, từ nay em cứ ở đây với chị.
Trong cái rủi tôi đã tìm đuợc cái may lớn. Sống với chị Hai thật dễ chịu. Buổi sáng, tôi đi học, trưa về cùng nấu ăn với Khéo, cháu gái của chị - một đứa cháu bà con, 12 tuổi, cũng mồ côi mà chị thương tình nhận nuôi - xong xuôi, Khéo mang cơm ra chợ và ở luôn ngoài ấy với chị cho đến chiều cùng dọn hàng về. Tôi ở nhà, dọn dẹp đâu đó cho sạch sẽ ngăn nắp, học bài, tự tập hát, rồi nấu sẵn cơm chiều chờ chị Hai và Khéo về. Buổi tối, tôi được tự do hòan tòan. Chị Hai dành cho tôi một khu vực riêng biệt,với những tấm màn ngăn, trong đó tôi tha hồ học hành, muốn tắt đèn đi ngủ lúc nào cũng được. Thói quen mấy năm ở nhà Hia Lý đã khiến tôi thường đi ngủ sớm, trong bóng tối đen kịt, dù chị Hai cho tôi được dùng đèn dầu thoải mái. Chị cứ nghĩ là do tôi sợ gây tốn kém cho chị, phải nói mãi chị mới hiểu được cái thói quen kỳ quặc này của tôi.
Buổi tối cũng là buổi mà đội văn nghệ thường tụ họp ở trường để tập dợt. Gần cuối năm học, ai nấy đều phải tập trung hơn cho việc ôn tập, nên những cuộc họp ấy diễn ra thưa hơn, có khi cả tuần chỉ được một lần, nhưng bao giờ cũng kết thúc bằng một nồi chè hoặc cháo, với nguyên lệu do anh em gom góp lại. Những ngày ấy mới vui làm sao! Và trong lúc ngồi quay quần bên nhau, nghe anh em trò chuyện, cười đùa, vỗ tay, ca hát... tận hưởng hạnh phúc ấm áp, tôi lại càng thấy trong lòng dâng lên một niềm biết ơn và yêu mến THiện. Dù trong những buổi tối ấy, anh bao giờ cũng là người duy nhất đàn cho tôi hát - bạn bè dường như mặc nhiên dành cho anh cái quyền ấy - nhưng giữa hai chúng tôi, vẫn chỉ là một tình bạn. Có thân tình hơn, thương quý hơn, nhưng không hề có gì khác hơn nữa. Thiện vẫn là người sẵn sàng ở lại với tôi sau cùng để tập cho tôi một bài hát mới, anh cũng rất thường hỏi han tôi về việc ăn ở, học hành ở nhà chị Hai, nhưng trong từng lời nói, cử chì của anh, tôi không thể tìm thấy một điều gì có thể gây hiểu lầm được. Cũng không bao giờ tôi có thể tìm thấy một dấu hiệu nào cho thấy anh tỏ ra tự hào về việc đã giúp đỡ tôi. Thiện còn dè dặt tới mức không bao giờ một mình đến nhà chị Hai những lúc chỉ có mình tôi ở nhà. Tất cả những điều đó càng làm cho tôi thêm cảm phục anh, và trong những lúc nằm lơ mơ trên chiếc divan nhỏ mỗi tối trước khi ngủ và mỗi sáng khi vừa thức dậy, bên cạnh những hình ảnh của ba, của má, của ngoại va dì Hai, đã bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều hơn bóng hình của Thiện trong tâm tưởng tôi. Tôi đã yêu anh rồi sao?
Năm học kết thúc, tôi được lên lớp 11. Còn Thiện, sau khi đậu phổ thông trung học, anh đã tình nguyện vào bộ đội. Đó là lúc bắt đầu xảy ra cuộc chiến tranh ác liệt ở biên giới Tây Nam, gần cuối năm 78, hầu hết thanh niên cùng lên đường. Đôi văn nghệ có tổ chức mộ buổi liên hoan nhỏ để tiễn đưa Thiện và Tùng. Tôi đã hát tặng anh bài "Em vẫn đợi anh về". Trong khi anh đàn và tôi hát, chúng tôi cứ đăm đắm nhìn nhau.
Khuya, tôi và THiện đi với nhau một quãng bên bờ sông, rồi ngồi xuống trên một ghế đá. Gió thổi lồng lộng, mát lạnh. Thiện cầm lấy tay tôi:
- Đợi anh về, nhé Hương.
Tôi chỉ nhìn anh, sẽ gật đầu. Thiện ôm lấy tôi, và nhẹ nhàng cuối xuống. Đôi mắt anh mở to, nồng nàn, đắm đuối. Chúng tôi hôn nhau me man, những cái hôn nối tiếp nhau tưởng như không bao giờ dứt. Chung quanh troi, tất cả mọi vật, bỗng dưng cùng tan biến, như chính hai đứa chúng tôi đang tan biến vào nhau, mãi mãi.
Trong suốt buổi sáng tôi ở nhà cậu Bảy, mợ Bảy ngồi sát bên cậu, không bước khỏi một bước. Ý định nói chuyện riêng với cậu không thành, tôi đành kể hết mọi chuyện, và trình bày mục đích về đây, xin được cậu mợ giúp đỡ nhiều hơn trong những ngày tới. Nghe xong, cả hai cùng im lặng. Một lúc lâu sau, cậu Bảy mới chép miệng:
- Anh Hai sao tệ dữ vậy không biết! - Rồi cậu quay sang mợ - Bây giờ bà nó tính sao?
Tôi ngao ngán nhìn cậu. Dường như trong cả cuộc đời, ông không tự quyết định được lấy một điều gì. Mợ Bảy nhìn tôi bằng ánh mắt soi mói, trong khi giọng nói lại nghe ngọt lừ:
- Chuyện anh Hai, mình phải hỏi lại ảnh đã. Lẽ nào lại đến mức như vậy? Còn con Hương, con ở ngoài chợ bấy lâu nay, đâu biết trong vườn lúc này cực như thế nào. Lúa năm nay thất dữ lắm, nhiều nhà phải ăn độn cả chuối cây, kiếm một con cá, con tôm muốn đỏ mắt. Đã mấy lần cậu tính ra dượng Hai, nói dượng thông cảm cho cậu mợ lúc này, làm mợ phải cản lại hết sức. Dù gì cũng là cậu ruột, có cực mấy cũng ráng chịu để nuôi cháu. Bây giờ, chuyện đã xảy ra như vậym mợ thấy tốt nhất là...
Mợ Bảy mím môi, lại nhìn tôi một lần nữa. Câu nói tiếp theo của mợ đã cho tôi hiểu đuợc ý nghĩa của cái nhìn ấy:
- Con thôi học đi, về đây ở luôn với cậu mợ. Con gái nông thôn, học cho lắm cũng chẳng có ích gì. Về đây giúp cậu mợ một tay. Rồi coi có ai được, cậu mợ gả cho. Lớn trộng như con, ở đây tụi nó đi lấy chồng hết trơn hết trọi rồi.
Thì ra bây giờ mợ lại tính bắt tôi bỏ học, về đây làm công cho mợ, với phần thưởng là một ông chồng ở vườn. Thấy tôi vẫn ngồi im lìm, mợ Bảy thủ thỉ:
- Chớ cậu mợ đuối thiệt rồi. Con nghĩ coi, ngay cả đám con của cậu mợ mà cậu mợ còn bắt nghỉ học hết. Thời buổi này có học cho nhiều rồi cũng chẳng làm được gì. Ráng làm cho được hột cơm mà ăn là tốt nhứt thôi.
Như vậy có nghĩa là nếu tôi không bỏ học, về đây, thì coi như cái phần cứu tế vài ký gạo hàng tháng như từ trước đến nay cũng không còn, đừng nói hy vọng được thêm gì nữa. Tôi nhẫn nhục van nài:
- Con chỉ còn 2 tháng nữa là hết năm học này. Cậu mợ ráng giúp con thêm chút nữa...
Mợ Bảy cương quyết:
- Học thêm 2 tháng nữa rồi cũng nghỉ, thì có ích lợi gì? Cậu mợ không giúp con được nữa đâu.
Cậu Bảy muốn nói gì đó, nhưng khi mợ đưa mắt liếc ông, ông lại thôi. Dù ông ráng bày tỏ thái độ bằng một tiếng thở dài, vẫn không thay đổi gì được cái kết luận trong tôi về ông. Tôi đứng dậy chào hai người rồi đi về, từ chối lời mời ở lại ăn cơm của mợ Bảy. Ở ngoài cổng, tôi tự thề với lòng mình, dù có chết đói chết khát tôi cũng sẽ không bao giờ trở lại ngôi nhà này. Người bà con ruột thịt cuối cùng còn lại, coi như cũng đã vừa mới chết trong tôi.
Kết quả chuyến đi của thầy Khai và Thiện lại hoàn toàn khả quan. Chị Hai của Thiện cũng tốt như anh, nói với tôi cứ việc về ăn ở với chị, chuyện tiền nong đừng nghĩ tới. Chị bán trái cây ngoài chợ, suốt ngày bận bịu ngoài ấy, cho nên nếu được thì tôi giúp coi sóc nhà cửa cho chị một buổi, để đứa cháu rảnh tay ra phụ chị. Một điều kiện quá nhẹ nhàng. Ngay chiều tối hôm ấy, tôi theo thầy Khai và Thiện đến nhà chi Hai Lành. Chị khoảng 40 tuổi, nhỏ người, mặt mũi trong rất hiền lành, phúc hậu. Chị nói chị rất thông cảm cho hoàn cảnh của tôi, sẵn sàng giúp đỡ tôi, miễn là tôi biết ăn ở dễ thương, chịu khó học hành... chuyện phí tổn này nọ không thành vấn đề với chị. Sau này nghe Thiện kể, tôi mới biết con người nhỏ nhắn hiền lành ấy lại có tính cách rất mạnh mẽ, quyết liệt. Trước giải phóng, đang sống ở Saigon, biết chồng ngoại tình, chị bỏ ngay về quê nhà và dứt khóat không quay lại, dù năm lần bảy lượt anh chạy xuống năn nỉ xin tha lỗi. Có lẽ vì vậy mà chị rất ghét những người đàn ông bê bối, bội bạc, và dễ cảm thông với câu chuyện của tôi. Ngay đêm đầu, chị Hai đã kêu tôi kể lại chuyện Hia Lý định làm nhục tôi như thế nào. Chưa nghe hết chuyện, chị đã bừng bừng nổi giận:
- Mấy thằng đàn ông đó có mà đem thiến hết rồi bằm cho vịt ăn mới mong chừa được cái tột heo nọc! Khốn nạn gì đâu! Con gái người ta như thế này, lại thuộc hàng con cháu, dê gì mà dê chó dê đẻ vậy không biết nữa! Được rồi, từ nay em cứ ở đây với chị.
Trong cái rủi tôi đã tìm đuợc cái may lớn. Sống với chị Hai thật dễ chịu. Buổi sáng, tôi đi học, trưa về cùng nấu ăn với Khéo, cháu gái của chị - một đứa cháu bà con, 12 tuổi, cũng mồ côi mà chị thương tình nhận nuôi - xong xuôi, Khéo mang cơm ra chợ và ở luôn ngoài ấy với chị cho đến chiều cùng dọn hàng về. Tôi ở nhà, dọn dẹp đâu đó cho sạch sẽ ngăn nắp, học bài, tự tập hát, rồi nấu sẵn cơm chiều chờ chị Hai và Khéo về. Buổi tối, tôi được tự do hòan tòan. Chị Hai dành cho tôi một khu vực riêng biệt,với những tấm màn ngăn, trong đó tôi tha hồ học hành, muốn tắt đèn đi ngủ lúc nào cũng được. Thói quen mấy năm ở nhà Hia Lý đã khiến tôi thường đi ngủ sớm, trong bóng tối đen kịt, dù chị Hai cho tôi được dùng đèn dầu thoải mái. Chị cứ nghĩ là do tôi sợ gây tốn kém cho chị, phải nói mãi chị mới hiểu được cái thói quen kỳ quặc này của tôi.
Buổi tối cũng là buổi mà đội văn nghệ thường tụ họp ở trường để tập dợt. Gần cuối năm học, ai nấy đều phải tập trung hơn cho việc ôn tập, nên những cuộc họp ấy diễn ra thưa hơn, có khi cả tuần chỉ được một lần, nhưng bao giờ cũng kết thúc bằng một nồi chè hoặc cháo, với nguyên lệu do anh em gom góp lại. Những ngày ấy mới vui làm sao! Và trong lúc ngồi quay quần bên nhau, nghe anh em trò chuyện, cười đùa, vỗ tay, ca hát... tận hưởng hạnh phúc ấm áp, tôi lại càng thấy trong lòng dâng lên một niềm biết ơn và yêu mến THiện. Dù trong những buổi tối ấy, anh bao giờ cũng là người duy nhất đàn cho tôi hát - bạn bè dường như mặc nhiên dành cho anh cái quyền ấy - nhưng giữa hai chúng tôi, vẫn chỉ là một tình bạn. Có thân tình hơn, thương quý hơn, nhưng không hề có gì khác hơn nữa. Thiện vẫn là người sẵn sàng ở lại với tôi sau cùng để tập cho tôi một bài hát mới, anh cũng rất thường hỏi han tôi về việc ăn ở, học hành ở nhà chị Hai, nhưng trong từng lời nói, cử chì của anh, tôi không thể tìm thấy một điều gì có thể gây hiểu lầm được. Cũng không bao giờ tôi có thể tìm thấy một dấu hiệu nào cho thấy anh tỏ ra tự hào về việc đã giúp đỡ tôi. Thiện còn dè dặt tới mức không bao giờ một mình đến nhà chị Hai những lúc chỉ có mình tôi ở nhà. Tất cả những điều đó càng làm cho tôi thêm cảm phục anh, và trong những lúc nằm lơ mơ trên chiếc divan nhỏ mỗi tối trước khi ngủ và mỗi sáng khi vừa thức dậy, bên cạnh những hình ảnh của ba, của má, của ngoại va dì Hai, đã bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều hơn bóng hình của Thiện trong tâm tưởng tôi. Tôi đã yêu anh rồi sao?
Năm học kết thúc, tôi được lên lớp 11. Còn Thiện, sau khi đậu phổ thông trung học, anh đã tình nguyện vào bộ đội. Đó là lúc bắt đầu xảy ra cuộc chiến tranh ác liệt ở biên giới Tây Nam, gần cuối năm 78, hầu hết thanh niên cùng lên đường. Đôi văn nghệ có tổ chức mộ buổi liên hoan nhỏ để tiễn đưa Thiện và Tùng. Tôi đã hát tặng anh bài "Em vẫn đợi anh về". Trong khi anh đàn và tôi hát, chúng tôi cứ đăm đắm nhìn nhau.
Khuya, tôi và THiện đi với nhau một quãng bên bờ sông, rồi ngồi xuống trên một ghế đá. Gió thổi lồng lộng, mát lạnh. Thiện cầm lấy tay tôi:
- Đợi anh về, nhé Hương.
Tôi chỉ nhìn anh, sẽ gật đầu. Thiện ôm lấy tôi, và nhẹ nhàng cuối xuống. Đôi mắt anh mở to, nồng nàn, đắm đuối. Chúng tôi hôn nhau me man, những cái hôn nối tiếp nhau tưởng như không bao giờ dứt. Chung quanh troi, tất cả mọi vật, bỗng dưng cùng tan biến, như chính hai đứa chúng tôi đang tan biến vào nhau, mãi mãi.
Cast your burden upon the Lord, and He will sustain you...