📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

QUO VADIS - H. Sienkievich

3 trả lời, 3.248 lượt xem — Trang 1 / 1
QUO VADIS

H. Sienkievich

Dịch và giới thiệu: Nguyễn Hữu Dũng
(Trọn bộ 2 tập)

Tên sách: Quo Vadis
Tác giả: H. Sienkievich
Dịch và giới thiệu: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà xuất bản: Văn học
Năm xuất bản: 9-1995
Trọn bộ 2 tập
Khổ: 13x19 cm

Đánh máy (TVE): anhhung9x, Binhnx2000, joke, khongtamthai, ngbichthuy, Nolf
Sửa chính tả (TVE): dqskiu, rfidquyen
Chuyển sang ebook: tovanhung (TVE)
Ngày hoàn thành: 1/8/2006
http://www.thuvien- ebook.net

LỜI GIỚI THIỆU
Tập 1
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7
CHƯƠNG 8
CHƯƠNG 9
CHƯƠNG 10
CHƯƠNG 11
CHƯƠNG 12
CHƯƠNG 13
CHƯƠNG 14
CHƯƠNG 15
CHƯƠNG 16
CHƯƠNG 17
CHƯƠNG 18
CHƯƠNG 19
CHƯƠNG 20
CHƯƠNG 21
CHƯƠNG 22
CHƯƠNG 23
CHƯƠNG 24
CHƯƠNG 25
CHƯƠNG 26
CHƯƠNG 27
CHƯƠNG 28
CHƯƠNG 29
CHƯƠNG 30
CHƯƠNG 31
CHƯƠNG 32
CHƯƠNG 33
CHƯƠNG 34
CHƯƠNG 35
CHƯƠNG 36
Tập 2
CHƯƠNG 37
CHƯƠNG 38
CHƯƠNG 39
CHƯƠNG 40
CHƯƠNG 41
CHƯƠNG 42
CHƯƠNG 43
CHƯƠNG 44
CHƯƠNG 45
CHƯƠNG 46
CHƯƠNG 47
CHƯƠNG 48
CHƯƠNG 49
CHƯƠNG 50
CHƯƠNG 51
CHƯƠNG 52
CHƯƠNG 53
CHƯƠNG 54
CHƯƠNG 55
CHƯƠNG 56
CHƯƠNG 57
CHƯƠNG 58
CHƯƠNG 59
CHƯƠNG 60
CHƯƠNG 61
CHƯƠNG 62
CHƯƠNG 63
CHƯƠNG 64
CHƯƠNG 65
CHƯƠNG 66
CHƯƠNG 67
CHƯƠNG 68
CHƯƠNG 69
CHƯƠNG 70
CHƯƠNG 71
CHƯƠNG 72
CHƯƠNG 73
CHƯƠNG 74
ĐOẠN KẾT
PHỤ LỤC

LỜI GIỚI THIỆU
Henryk Sienkievich (Henryk Sienkieweiz) là một trong những văn hào lớn nhất của nhân dân Balan. Sáng tác của ông có một vị trí đặc biệt trong lịch sử văn hóa Ba Lan, đồng thời được đánh giá rất cao trên văn đàn thế giới. Với tiểu thuyết Quo vadis ông được tặng giải Nôben về văn học năm 1905.
H.Sienkievich sinh ngày 5 - 5 - 1816 tại Vola Okseiska miền Podleise trong một gia đình quý tộc đã bị sa sút. Vào những năm 1866 - 1869 ông theo học các khoa luật học, y học rồi văn học tại Trường Chính (nay là trường đại học tổng hợp Vacxava).
Bước vào nghề làm báo từ năm 1860 bằng những tiểu luận và phê bình sân khấu, Sienkievich bắt đầu được chú ý đến như một cây bút có triển vọng với truyện Phi hoài (1872). Trong những truyện ngắn tiếp theo, ông đã miêu tả một cách sắc nét tâm tư của lối sống phong kiến gia trưởng (Người đầy tớ già - 1875, Hania - 1876). Thời kỳ 1876 - 1882 ông đi rất nhiều nơi ở châu Âu, châu Mỹ, và cho đăng Những bức thư từ các chuyến đi (1876 - 1878) cùng hàng loạt truyện ngắn và truyện vừa rất xuất sắc, trong đó nổi bật lên vấn đề thân phận người nông dân.
Năm 1892 đánh dấu một bước ngoặt trong sáng tác của H.Sienkievich; từ lĩnh vực truyện ngắn và truyện vừa, ông bước sang miền đất mới của các tiểu thuyết lịch sử. Ông cho ra đời bộ ba tiểu thuyết lịch sử viết về những cuộc chiến tranh diễn ra ở Ba Lan hồi thế kỷ XVII: Bằng lửa và gươm (1883 - 1894), Trận hồng thủy (1884 - 1886), Ngài Volodyjovxki (1887 - 1888). Mang đậm chủ nghĩa yêu nước, tiểu thuyết bộ ba này là một đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp sáng tác của Sienkievich, là một tác phẩm trong kho tàng văn học Ba Lan.
Tiếp theo, Sienkievich hoàn thành hai tiểu thuyết tâm lý xã hội Phi giáo lý (1889 - 1890) và Gia đình Polanjexki, trong đó ông phê phán giới quý tộc đang suy đồi.
Đề tài tiểu thuyết lịch sử Quo vadis (1895 - 1896) là cuộc khủng bố các tín đồ Thiên chúa giáo thời Nerô bạo chúa ở Cổ La Mã.
Tiểu thuyết lịch sử Hiệp sĩ Thánh chiến (1897 - 1900) miêu tả cuộc chiến tranh giữ nước hồi thế kỷ XV với các trận đại thắng Grunvald lẫy lững, chống lại các hiệp sĩ thuộc dòng tu Thánh chiến, mà thực chất là chống lại đế quốc Phổ, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Ba Lan.
Trong thời kỳ “hồi xuân” gần cuối đời, sau khoảng 10 năm bệnh tật liên miên. H.Sienkievich đã cho ra đời cuốn tiểu thuyết du ký rất xuất sắc dành cho bạn đọc trẻ tuổi Trên sa mạc, trong rừng thẳm (1910 - 1913) và tiểu thuyết lịch sử Những đội quân lê dương (1913 - 1914) mà cái chết không cho phép ông hoàn thành.
Henryk Sienkievich mất tại Vêvê (Thụy Sĩ) ngày 15 - 11 - 1916 thọ bảy mươi tuổi.
Trong ngót nửa thế kỷ sáng tạo. H.Sienkievich đã để lại cho nhân loại một di sản văn học đồ sộ và vô giá. Ngay từ thủa sinh thời của văn hào đã từng có nhiều người cố gắng thu thập và xuất bản toàn bộ những tác phẩm của ông. Đáng chú ý nhất là công trình của nhà xuất bản Gebethner và Wolf, trong những năm 1880 - 1939 đã xuất bản bốn mươi sáu tập tác phẩm chọn lọc của Sienkievich. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, bè lũ Hítle ra lệnh cấm lưu hành những tác phẩm sục sôi lòng yêu nước của Sienkievich, chúng ra sức tịch thu và đốt các tác phẩm của ông, song nhân dân Ba Lan vẫn nâng niu, gìn giữ, truyền tay nhau đọc, dù rằng không ít người vì thế đã bị kết án tử hình hoặc bị đưa vào trại tập trung.
Chỉ dưới chính thể Cộng hòa nhân dân Ba Lan. Sienkievich mới thật sự trở thành nhà văn của dân tộc, của quảng đại quần chúng, tác phẩm của ông mới được đánh giá đúng tầm cỡ. Ngay trong mùa xuân năm 1945 còn vương khói đạn, ngay trong cảnh đất nước bị tàn phá đến mức hủy diệt, trong những điều kiện cực kỳ khó khăn thiếu thốn sau chiến tranh, tiểu thuyết Hiệp sĩ Thánh chiến của Sienkievich vẫn được tái bản và đó là tác phẩm văn học cổ điển đầu tiên được xuất bản trong lòng nước Ba Lan mới.
Chỉ vài năm sau chiến tranh. Đảng và Chính phủ Ba Lan đã quyết định cho xuất bản toàn bộ tác phẩm của văn hào. Dựa trên các bản thảo và những bản in lần đầu may mắn được cứu thoát khỏi sự đốt phá của bè lũ phát xít, lần đầu tiên toàn bộ tác phẩm H.Sienkievich gồm sáu mươi tập được chỉnh lý và xuất bản trong khoảng thời gian 1949 - 1951 dưới sự chủ trì của giáo sư Julian Ksyzanovxki. Bốn tập cuối cùng của bộ sách này là công trình nghiên cứu khoa học tổng hợp về cuộc đời và sáng tác của nhà văn. Căn cứ theo bộ sách này, hàng loạt tác phẩm riêng lẻ của nhà văn lần lượt được tái bản có hệ thống với nhịp độ nhanh và số lượng bản in rất lớn. Thống kê độc giả tại Ba Lan, qua nhiều năm cho thấy rằng sách của H.Sienkievich được nhiều người đọc nhất và được yêu chuộng nhất.
*
*****
Tác phẩm nổi tiếng Quo vadis được viết trong thời kỳ sung sức nhất của H.Sienkievich. Ý đồ sáng tác xuất hiện vào mùa xuân năm 1893, khi nhà văn tới thăm Roma lần thứ hai. Như nhà văn đã viết trong bức thư gửi nhà khảo cổ học kiêm nhà phê bình học người Pháp Boyer D”Agen vào năm 1912: “Ý định sáng tác Quo vadis nảy sinh trong tôi khi tôi đọc các tập Niên ký của Taxits, một trong những nhà văn tôi yêu thích nhất và trong chuyến lưu trú dài ngày tại Roma. Họa sĩ nổi tiếng Siemiradzki đang sống tại Roma hồi ấy là người hướng dẫn tôi đi thăm quan cái thành đô vĩnh hằng này, và ở một trong những cuộc dạo chơi như thế, anh ấy đã chỉ cho tôi ngôi nhà thờ nhỏ mang tên “Quo vadis” . Chính lúc ấy, tôi đã nảy sinh ra ý định viết một tiểu thuyết về thời kỳ lịch sử đó. Trong suốt hai năm 1893 - 1894, tác giả đã tiến hành những công cuộc chuẩn bị khảo cứu rất công phu để xây dựng nền móng cho tác phẩm, đồng thời đã vài lần thử nghiệm chủ đề này trong một số phác thảo khác nhau. Quo vadis được chính thức bắt đầu viết từ mùa xuân năm 1895 tại Vacsava và được hoàn thành ngày 18 - 2 - 1986 tại Nixe. Vừa viết Sienkievich vừa cho đăng tải Quo vadis trên tờ “Báo Ba Lan” ở Vacsava và hai tờ báo khác tại Pôzơ nan và Cracốp. Vài tháng sau, tác phẩm được nhà xuất bản Gebethner và Wolf in thành sách (3 tập).
Thời trị vì của Nerô bạo chúa và việc khủng bố các tín đồ Thiên chúa giáo hồi ấy đã từng là đề tài của nhiều tác phẩm của các nhà văn trước Sienkievich, song Quo vadis vượt xa các tác phẩm ấy về giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Quo vadis là bức tranh toàn cảnh xã hội La Mã vào năm 61 sau công nguyên, với những mâu thuẫn chính trị xã hội và tôn giáo đã căng thẳng tới tột đỉnh chỉ chực bùng nổ.
Mặc dù lần xuất bản đầu tiên, Quo vadis có mang thêm phụ đề nhỏ “Tiểu thuyết về thời Nerô” nhưng thực ra Sienkievich không có ý định dựng một tiểu thuyết lịch sử theo nghĩa đầy đủ của từ này. Tác giả chỉ giới hạn trong việc vẽ nên một bức tranh chi tiết và vô cùng sinh động của xã hội La Mã tại thành đô Roma. Trong vô vàn các sự kiện lịch sử của thời kỳ đó, tác giả chỉ tập trung chủ yếu vào hai vấn đề: Vụ đốt cháy thành Roma và cuộc khủng bố các tín đồ Thiên chúa giáo, các sự kiện khác chỉ được nêu ngắn gọn hoặc nói lướt qua làm nền. Chính sự thu gọn chủ đề và bình diện các sự kiện lịch sử ấy đã cho phép tác giả làm nổi bật lên sự đối đầu giữa hai thế giới: Một bên là thế giới cung đình bạo chúa đa thần giáo của triều thần La Mã vây quanh Nerô tên bạo chúa đang ở đỉnh cao nhất của quyền lực, xa hoa và tội ác, nhưng đã thối nát cực độ và đang suy vong. Còn một bên là thế giới nô lệ và dân nghèo theo đạo Thiên chúa tập trung chung quanh hai vị sứ đồ Piotr và Paven, cái thế giới hồi ấy không chút quyền lực, nhỏ nhoi và yếu ớt nhưng đầy hấp dẫn bởi tư tưởng mới và không cam chịu khuất phục bạo lực, đang lớn dần lên, chiếm lĩnh vũ đài xã hội - chính trị. Tượng trưng cho điểm đỉnh của sự đối đầu này là cuộc đọ nhãn quang tình cờ giữa Nerô và sứ đồ Piotr khi hoàng đế cùng đám quần thần rời bỏ Roma, cái thành phố đã bị Nerô thầm kết án tử hình “Trong một chớp mắt, hai con người ấy nhìn nhau (… ) đó là giây phút đọ nhãn quang của hai vị chúa tể trái đất, một kẻ ngay sau đó biến đi như một giấc mơ đẫm máu, còn người kia - chính cụ già khoác manh áo thô kệch nọ - sẽ chiếm lĩnh đến muôn đời sau cả thế gian lẫn thành đô này” (Chương XXXVI).
Cuộc đối đầu thầm lặng không trận tuyến đó, theo từng trang sách cứ lớn mãi, mở rộng mãi ra, dâng cao mãi lên, cuốn hút toàn xã hội vào vòng xoáy lịch sử mãnh liệt của nó, cả những người ý thức được lẫn những kẻ không nhận thức được nó, những người tham gia thúc đẩy nó lẫn những kẻ cố tình tránh xa. Cuộc đối đầu đó được tác giả đan quyện một cách tài tình với câu chuyện tình đầy éo le ngang trái giữa chàng quý tộc trẻ tuổi Vinixius, một võ quan cao cấp, một cận thần của Nerô, với nàng Ligia, công chúa của bộ tộc Ligi (tiền thân của dân tộc Ba Lan) bị La Mã giữ làm con tin và là một tín đồ Thiên chúa. Tình yêu ấy tiến triển trong sự phát triển của những mâu thuẫn xã hội. Số phận đôi trẻ gắn liên với những biến động ghê gớm của xã hội. Chính sự đan quyện và nghệ thuật dẫn truyện đó khiến cho tác phẩm mang nhiều màu sắc vô cùng hấp dẫn.
Dưới ngòi bút tinh tế và khoáng đạt của H.Sienkievich từng nhân vật hiện lên sắc nét với cả chiều sâu tâm lý, tính cách, với tất cả những mâu thuẫn nội tâm phức tạp, những mối quan hệ xã hội chằng chịt, những đột biến đến độ nghịch lý mà hoàn toàn hợp lý, nẩy sinh trong quá trình vận động phát triển.
Nêrô bạo chúa - nghệ sĩ toàn năng, ba mươi tuổi, xuất hiện trên những trang sách của Quo vadis trong cái năm 64 đầy biến động, dẫu đã mang nặng trong thâm tâm những bóng ma đẫm máu của mẹ, của vợ, của bao nhiêu người khác bị y giết hại, dẫu sống trong lo sợ triền miên và quyền lực, nhưng vẫn là một nghệ sĩ đang trăn trở với những day dứt của quá trình lao động nghệ thuật. Với ảo vọng viết thiên trường ca về sự triệt phá thành Tơroa, bản trường ca sẽ làm lu mờ hình ảnh vinh quang của Iliat và Ôđyxê của Homer, hắn nhất thiết phải được nhìn thấy ánh lửa của một thành phố lớn đang bốc cháy. Và thế là để làm hài lòng bạo chúa, lũ triều thần xu nịnh do Tygelinux cầm đầu đã đang tâm châm lửa thiêu cháy thành Roma. Vốn hèn nhát, Nerô không dám chịu trách nhiệm bởi kinh sợ cuộc nổi dậy của quần chúng đang sục sôi căm giận, hắn bèn tìm cách trút tội cho các tín đồ Thiên chúa giáo. Hắn tháo cũi sổ lồng cho sự tàn bạo của đám quần chúng đang đòi nợ máu được thả sức hoành hành trong cuộc khủng bố, với tiếng thét “ném bọn Thiên chúa giáo cho sư tử”, với cảnh tàn sát hàng loạt người bằng nanh vuốt của dã thú, bằng cách đóng đinh lên thánh giá, bằng cách thiêu sống… Tàn bạo bao nhiều thì đớn hèn bấy nhiều - đó là cốt cách muôn thủa của lũ bạo chúa. Nerô tàn bạo trước cái chết của hàng nghìn người khác, nhưng đến lượt hắn, hắn run rẩy không sao đâm nổi dao vào cổ tự sát, để rốt cuộc phải nhận một cái chết nhục nhã mà lịch sử vẫn dành cho lũ bạo chúa, xưa cũng như nay.
Sienkievich đã thành công tuyệt diệu khi sử dụng nhân vật Petronius - cố vấn của Nêrô về các vấn đề nghệ thuật - làm người phát ngôn cho tư tưởng của tác giả và người cung cấp cho người đọc những nhận xét xác đáng về tên bạo chúa - nghệ sĩ có bản chất phức tạp này. Qua con mắt của con người nghệ thuật đặc biệt trang nhã và quảng trí này, toàn bộ cốt cách vừa bi vừa hài, vừa hèn, vừa bạo của tên nghệ sĩ giả - bạo chúa thật Nêrô hiện lên sắc sảo vô cùng. Một chút tài năng cỏn con nhưng luôn tự huyễn hoặc chính mình, cộng với một quyền lực vô biên về phương diện xã hội đã biến hẳn thành một kẻ điên rồ, sẵn sàng phạm những tội ác ghê gớm nhất. Còn gì có thể lột tả chân xác hơn tính cách của Nêrô bằng lời tâm sự của chính hắn thốt với Petronius trong cái “đêm cởi mở” trước ngày đốt cháy thành Rôma: “Trong mọi lĩnh vực ta đều là nghệ sĩ (… ) nên ta không thể nào sống nổi một cuộc đời bình thường. Âm nhạc mách bảo ta rằng có tồn tại những sự phi thường, ta sẽ dùng toàn bộ sức mạnh quyền uy mà các thần linh đã đặt vào tay ta để tìm bằng ra sự phi thường ấy. Nhiều khi ta nghĩ rằng muốn đạt được thế giới Olympơ, cần phải làm một điều gì chưa từng có kẻ nào làm, cần phải vượt qua đầu mọi người trong cả việc tốt lẫn việc xấu (… ). Ta đâu có điên, ta chỉ đang tìm kiếm! (….). Ta muốn được vĩ đại hơn con người, vì chỉ bằng cách đó ta mới có thể trở thành nghệ sĩ vĩ đại nhất”. Và sau đó hắn thốt lên: “Nặng nề lắm thay khi con người phải mang đồng thời gánh nặng của quyền lực tối cao lẫn gánh nặng của tài năng vĩ đại nhất” (chương XLIV).
Có thể nói nhân vật Petronius là hiện thân của những tinh hoa của nền văn hóa La Mã trong giai đoạn suy vi của nó. Ông đại diện cho những giá trị văn hóa sẽ trường tồn để được hồi sinh trong những thế hệ về sau. Tình phi thường của Petronius xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp vượt trên những người đồng thời với ông sự hiểu biết sâu sắc không những chỉ đối với mọi người, mọi vật mà trước hết đối với bản thân mình, mặc dù thực ra ông đại diện cho một thứ triết học duy vật - bất khả tri trong việc nhận thức thế giới. Sống trong lớp vỏ hình bình thản, thanh lịch theo kiểu Pirron nhưng Petronius vẫn là con người hành động và nhất là dũng cảm trong dịp bảo vệ cái đẹp. Cái chết hào hoa của ông giữa bữa tiệc rượu trong tiếng nhạc và tiếng thơ Anakreontơ là một hình ảnh tượng trưng tuyệt mỹ. “Nhìn hai tấm thân trắng ngủ tựa như những pho tượng tuyệt vời ấy, các thực khách hiểu rõ rằng: Cùng với hai con người ấy đã chết đi cả những gì còn sót lại cho thế giới của họ, đó là thi ca và cái đẹp” (chương LXXIV).
Hai nhân vật có tính cách phát triển mạnh mẽ nhất trong tác phẩm là lão Khilon và chàng quý tộc Vinixius. Vốn là một tên múa mép, chuyên lừa đảo kiếm tiến bằng nghề thám tử tư. Khilon đứng ra làm nhân chứng giả cho Nêrô trút tội đốt cháy thành Rôma cho các tín đồ Thiên chúa giáo và vì thế hắn đã nhảy lên địa vị của một viên cận thần đầy thế lực. Nhưng đến khi tận mắt chứng kiến sự tuẫn tiết của các tín đồ - những nạn nhân của hắn, cũng chính là những người đã từng cưu mang hắn. Khilon đã không cưỡng nổi những sự tỉnh thức nội tâm và công khai đứng ra lên án Nêrô là kẻ chủ mưu đốt cháy thành phố. Trở thành tín đồ Thiên chúa giáo chân chính. Đến khi chịu cực hình, lão Khilon vẫn khăng khăng không chịu rút lời buộc tội, đến nỗi kẻ thù phải rút lưỡi lão và giết lão trên đấu trường. Sự chuyển biến của nhân vật có vẻ nghịch lý nhưng hoàn toàn lôgich và chân thực, nhân vật Khilon đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó quên.
Còn sự biến chuyển của Vinixius thì phức tạp và gian khổ hơn nhiều, trải qua biết bao giai đoạn nhận thức, dù động lực chính của nó là tình yêu vô bờ bến đối với nàng Ligia. Từ một chàng quý tộc con nhà giàu có, ham lạc thú, vô lương tâm, nghiệt ngã với nô lệ. Vinixius đã lột xác bao lần để nhận thức được giáo thuyết của đạo Thiên chúa, một giáo thuyết hoàn toàn xa lạ với môi trường sống và địa vị xã hội cùng bản chất của chàng. Sienkievich đã thành công trong việc diễn tả cuộc lột xác tinh thần đó.
Ngay cả những nhân vật phụ cũng hiện lên rõ nét với bề dày tâm lý - xã hội đầy đủ dưới ngòi bút của tác giả. Những trang miêu tả cảnh sinh hoạt, những đám rước, những tiệc rượu, cảnh tàn sát giáo dân… Vô cùng sống động, chân thực, giàu màu sắc mà không chút khoa trương, mang đến cho người đọc không khí xã hội La Mã hồi đầu Công nguyên.
*
*****
Với những giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật lớn lao, ngay từ khi ra đời, Quo vadis đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Tác phẩm đã gây nên những chấn động mạnh trong giới văn học nghệ thuật thế giới. Quo vadis nhanh chóng được dịch ra nhiều thứ tiếng. Từ lúc sinh thời, tác giả đã nhận được bản dịch Quo vadis bằng các tiếng Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia, Nga, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Tiệp Khắc, Hunggari, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Acmênia, Phần Lan, Lítva, Nhật và Ả Rập. Cho đến nay, Quo vadis đã được dịch ra trên bốn mươi thứ tiếng khác nhau. Tác phẩm cũng rất nhiều lần được đưa lên sân khấu và màn ảnh ngay từ những năm xa xưa nhất, đồng thời nó cũng trở thành đề tài của không ít công trình khảo cứu, không những chỉ ở Ba Lan mà trên phạm vi thế giới.
Chuyển đạt lời văn của H.Sienkievich đến bạn đọc là một khó khăn lớn đối với người dịch, đặc biệt là trong trường hợp Quo vadis, bởi lẽ tiểu thuyết đề cập đến một thời đại, một nền văn hóa xa xưa có nhiều khác biệt với bạn đọc Việt Nam ngày nay. Để phần nào hỗ trợ cho bạn đọc trong việc tìm hiểu tác phẩm, chúng tôi có soạn thêm phần chú thích (bố trí ở cuối tập II) đề cập đến một số tên người và địa danh có trong tác phẩm nhưng không phổ biến lắm ở ta. Chúng tôi hy vọng rằng, mặc dù có những khiếm khuyết và hạn chế khó tránh khỏi, bản dịch Quo vadis từ nguyên bản tiếng Ba Lan sẽ là một dịp để bạn đọc tiếp xúc với Henryk Sienkievich, một nhà văn kiệt xuất, người đại diện xứng đáng cho nền văn học cổ điển rất phong phú của dân tộc Ba Lan

Hà Nội, ngày 9 tháng năm 1985
NGUYỄN HỮU DŨNG

Đăng nhập để trả lời
0
Tập 1
CHƯƠNG 1
Petronius thức giấc vào lúc gần giữa trưa và như thường lệ, mệt mỏi vô cùng. Hôm qua, ông ấy dự yến tiệc ở nhà Nêrô , bữa tiệc kéo dài mãi tận khuya. Từ một lúc nào đấy, sức khỏe của ông bắt đầu suy sụp. Chính ông bảo rằng, buổi sáng khi tỉnh giấc ông cảm thấy như bị liệt cả người và không sao tập trung tư tưởng nổi. Song việc tắm sáng cũng xoa bóp kỹ lưỡng toàn thân do các nô lệ thành thạo công việc này làm đã thúc nhanh dần sự tuần hoàn dòng máu biếng nhác của ông, đánh thức cơ thể ông khiến nó hồi tỉnh lại, trả lại cho ông sức lực và đến khi bước ra khỏi gian cuối cùng của phòng tắm - elaeo!hesium - thì trông ông dường như vừa mới được hồi sinh, với cặp mắt long lanh ánh hài hước và niềm vui, trẻ hẳn lại, tràn trề sinh lực, trang nhã không ai bì. Ngay cả đến chàng Otho cũng không thể sánh cùng ông, quả đúng là cái tên người ta vẫn gọi ông: arbiter elegantiarum .
Hiếm khi ông lui tới các nhà tắm công cộng, trừ khi có nhà hùng biện nào đó gây nên sự kinh ngạc và được người ta đồn đại khắp thành phố, hoặc có những cuộc đấu đặc biệt hấp dẫn trong các trường thiếu sinh quân. Vả chăng, trong khu dinh thự của ông cũng có các phòng tắm riêng được chính Xeler - người cộng sự nổi tiếng của Xeverux - mở rộng, xây thêm và bài trí tuyệt vời đến nỗi chính Nerô cũng phải thừa nhận là chúng hơn hẳn các phòng tắm của hoàng đế, dẫu các phòng tắm của hoàng đế rộng hơn và xa hoa khôn sánh.
Vậy là, sau bữa yến đêm qua, - trong đó, quá ngán ngẩm với những trò hề của Vatynius, ông đã cùng với Nerô, Lukan và Xenexion tham dự cuộc phiếm luận: Đàn bà có linh hồn hay không? - ông dậy muộn và đi tắm như thường lệ. Hai tên nô lệ chuyên phục vụ việc tắm, người lực lưỡng, đặt ông lên chiếc bàn bằng gỗ trắc bá phủ lụa Ai Cập trắng như tuyết, rồi nhúng tay vào dầu thơm bắt đầu xoa khắp thân hình có những đường nét rất đẹp đẽ của ông, còn ông nằm nhắm mắt chờ cho sức nóng của dầu laconicum cùng hơi ấm bàn tay chúng thấm vào người xua đi sự mệt mỏi.
Một lát sau, ông cất tiếng và mở mắt ra; ông bắt đầu hỏi han về thời tiết, sau đó về mấy viên ngọc chạm mà lão thợ kim hoàn Idomen đã hứa là hôm nay sẽ gửi tới cho ông xem… Thì ra, trời rất đẹp với gió nhẹ từ núi Anban thổi tới, còn số ngọc chạm thì vẫn chưa được mang đến. Petronius nhắm mắt lại và ra lệnh chuyển ông sang phòng ấm . Vừa lúc đó, từ sau bức trướng che, viên xướng danh ló vào báo tin chàng Markux Vinixius trẻ tuổi vừa từ Tiểu Á trở về xin vào thăm ông.
Petronius truyền cho mời khách vào phòng ấm rồi tự mình bước sang đó. Vinixius là con trai của chị ông, người mà nhiều năm về trước đã kết hôn cùng Marek Vinixius, cựu chấp chính quan từ thời Tyberius. Hiện giờ chàng đang phục vụ dưới trướng tướng quân Korbulon chống lại quân Parlơ, và sau khi chiến tranh kết thúc chàng vừa trở về thành phố. Đối với chàng bên cạnh tình thân gắn bó, Petronius vốn có một sự mềm yếu, vì Markux là một chàng thanh niên xinh đẹp và lực lưỡng, đồng thời, trong sự hư đốn của mình chàng vẫn giữ được một mức độ mỹ miều nhất định, điều mà ông Petronius đánh giá cao hơn cả.
- Xin kính chúc sức khỏe cậu Petronius, - chàng trai vừa nói vừa bước những bước mềm mại vào phòng ấm, - Cầu tất cả các thần linh ban phước lành cho cậu, nhất là Axklepios và Kipryđa, vì dưới sự che chở của hai vị thần đó thì không thể có sự rủi ro nào xảy đến với cậu.
- Chào mừng anh tại Rôma, cầu cho anh được hưởng sự nghỉ ngơi dịu ngọt sau buổi chiến chinh - Petronius vừa đáp vừa luồn tay ra từ giữa những nếp gấp của thứ vải karbax mềm mại mà ông quấn quanh người - thế ở Armenia có chuyện gì mới không? Lúc tiêu dao ở châu Á anh có ghé thăm Bitynia chứ?
Hồi trước Petronius là tổng đốc Bitynia, ông đã cai trị xứ ấy một cách mềm dẻo và công minh. Điều đó mâu thuẫn một cách kỳ lạ với tính cách của con người vốn nổi tiếng là ẻo lả và đam mê lạc thú này. Vì vậy, ông thường thích nhắc đến thời kỳ ấy, nó là bằng chứng chứng tỏ ông có thể làm được gì và biết làm gì nếu như ông muốn.
- Cháu đã có dịp tới Heraklea - Vinixius đáp - Ngài Korbulon phái cháu đến đấy với lệnh đòi viện binh.
- Ôi! Heraklea! Ở xứ đó cậu có quen một thiếu nữ quê ở Kolkhiđa, vì nàng cậu sẵn sàng hiến dâng tất cả các ả ly dị chồng ở đây, kể cả Poppêa nữa! Song đó là chuyện xưa rồi. Tốt nhất anh hãy nói xem có chuyện gì mới mẻ ở vùng biên giới với bọn Parlơ hay không? Quả tình cậu cũng đã quá ngán cái xứ Vologeđa, cả Tyryđala Tygranex, lẫn cái lũ man rợ, mà cứ như anh chàng Arunalux khẳng định thì tại gia chúng vẫn chuyên môn bò bốn chi, chỉ trước mặt chúng ta mới làm ra vẻ con người mà thôi. Song bây giờ ở Rôma người ta lại hay nói nhiều tới chúng, có lẽ vì nói về chuyện khác thì không được an toàn.
- Cuộc chiến tranh này đang ở tình thế tồi tệ, và giá như không có ngài Korbulon thì rất có thể nó đã biến thành một cuộc thảm bại.
- Korbulon! Đó quả là một chiến thần, một thần Marx hiển hiện, một thủ lĩnh vĩ đại vừa cuồng nhiệt vừa chính trực, vừa ngu xuẩn. Cậu thích ông ta, ít nhất thì cũng là vì Nerô sợ ông ta.
- Ngài Korbulon đâu phải là kẻ ngu xuẩn.
- Có thể là anh có lý, song thực ra chuyện đó cũng chẳng có ý nghĩa gì. Sự ngu xuẩn, nói như Pyron, hoàn toàn không tồi tệ hơn và cũng chẳng khác gì sự thông thái.
Vinixius bắt đầu kể về cuộc chiến tranh, song Petronius đã cụp mi mắt xuống; nhìn thấy vẻ mặt mệt mỏi và hơi tọp đi của ông, chàng trai liền thay đổi câu chuyện và bắt đầu ân cần hỏi thăm sức khỏe của ông. Petronius lại mở mắt ra.
Sức khỏe!… Không, ông không cảm thấy mình khỏe chút nào. Ông chưa suy sụp đến mức như chàng trẻ tuổi Xixena, người bị mất cảm giác đến nỗi, buổi sáng khi được người ta mang tới nhà tắm, đã hỏi: “Có phải ta đang ngồi hay không nhỉ?”. Song ông không khỏe, Vinixius cầu các thần Axklepiox và Kipryđa phù hộ cho ông song chính ông, Petronius, lại không tin Axklepiox. Không ai biết cái gã Axklepiox ấy là con của bà nào, của Arxinoe hay của Koroniđa; mà khi đến mẹ đẻ còn chưa chắc là ai thì còn nói gì tới cha cơ chứ. Vả chăng thời nay, ai là kẻ còn dám đoan chắc, dù là cha đẻ của mình thật!
Nghĩ tới đây, Petronius bật cười nói tiếp:
- Thực ra, hai năm trước, cậu cũng có gửi tới Epiđaurơ biếu ba tá chim sáo còn sống và một cái cúp bằng vàng nhưng anh có biết vì sao không? Cậu tự nhủ rằng: có ích thì không có ích, nhưng cũng chẳng có hại gì. Sở dĩ trên đời người ta vẫn đang hiến dâng lễ vật cho các thần chẳng qua là vì mọi người đều nghĩ như cậu mà thôi. Tất cả mọi người. Có lẽ chỉ trừ bọn đánh la thuê cho khách bộ hành ở Porta Capena. Ngoài Axkleppiox, cậu cũng từng chạm trán với bọn axklepiađ vì hồi năm ngoái cậu bị bỏng da qua loa, bọn chúng bèn làm lễ trừ độc cho cậu. Cậu cũng biết thừa rằng chúng nó là phường lừa đảo, song cậu tự nhủ: thì chuyện đó có hại gì cho ta đâu cơ chứ?
Thế giới này tồn tại trên sự lường gạt, còn cuộc sống chỉ là ảo giác mà thôi. Linh hồn cũng là một ảo giác. Có điều cần phải có đủ trí thông minh để biết phân biệt giữa ảo giác sướng và ảo giác khổ. Trong hệ thống sưởi ấm của cậu, cậu cho đốt gỗ bá hương có rắc thêm long diên hương, vì trong cuộc sống cậu ưa hương thơm hơn mùi xú uế. Còn nếu nói về nữ thần Kipryđa mà anh đã giới thiệu thì cậu cũng đã từng được nếm sự che chở của nàng đến nỗi phải bị chích máu ở chân phải. Song nói cho công bằng, đó quả là một vị nữ thần tốt bụng. Cậu đồ rằng chóng hay chầy thì cả anh nữa cũng sẽ dâng bồ câu trắng lên bàn thờ của nàng mà thôi.
- Quả có vậy, - Vinixius đáp - Những mũi tên của bọn Parlơ không hề chạm được tới da cháu, vậy mà cháu lại bị trúng mũi tên nhỏ xíu của thần ái tình Amor, một cách hết sức bất ngờ, vì chỉ cách cổng thành có vài xtađion mà thôi.
- Thề có các đầu gối trắng phau của các nữ thần Kharyta! Lúc nào rỗi rãi anh phải kể cho cậu nghe chuyện ấy nhé.
- Cháu tới đây chính là để khẩn cầu lời khuyên bảo của cậu. - chàng Markux đáp.
Chính vào lúc đó, đám nô lệ chuyên sửa sang râu tóc bước vào và bắt đầu bận rộn chung quanh Petronius còn chàng Markux cũng trút bỏ áo tunien bước vào bồn nước ấm, bởi ông Petronius mời chàng cùng tắm.
- À, cậu cũng chưa hỏi xem anh có được đáp tình hay chăng? - Petronius vừa nói vừa ngắm nghía thân hình trẻ trung như được tạc bằng cẩm thạch của Vinixius. - Giá mà Lizyp được trông thấy anh thì chắc hẳn giờ đây anh đã làm đẹp cho cửa ngọ môn dẫn vào cung điện Palatyn dưới dạng tượng chàng Herkulex lúc đang còn ở tuổi thanh xuân rồi đấy.
Tươi cười vì hài lòng, chàng trai bắt đầu vừa dìm ngập người xuống nước vừa té nước ấm lên bức phù điêu chạm hình nữ thần Hêra, lúc nàng đang cầu xin Thần Mộng hãy ru ngủ Zeux. Ông Petronius nhìn chàng bằng ánh mắt hài lòng của một nghệ sĩ.
Khi chàng đã tắm xong và để cho đám nô lệ chuyên sửa sang râu tóc phục dịch thì người nô lệ xướng đọc bước vào với một chiếc hộp màu nâu trước bụng, bên trong có vài cuộn giấy.
- Anh có muốn nghe không? - Petronius hỏi.
- Nếu là tác phẩm của cậu thì cháu rất vui lòng! - Vinixius đáp - còn nếu không thì cháu muốn được chuyện trò hơn. Thời bây giờ bọn thi sĩ cứ rình tóm lấy người ta ở từng góc phố.
- Chứ sao nữa! Không có một nhà thờ nào, không một nhà tắm công cộng, một thư viện hay hiệu sách nào mà khi đi ngang qua, anh không thấy một gã thi sĩ đang múa may như khỉ. Khi từ Phương Đông tới đây, Agrypa cứ ngỡ bọn chúng là người điên. Song thời thế bây giờ là thế đấy. Hoàng thượng làm thơ, vậy là tất cả bàn dân thiên hạ đều đi theo vết của người. Có điều không được phép làm thơ hay hơn hoàng thượng mà thôi, và chính vì lý do đó, cậu hơi lo lắng cho Lukan… Còn cậu, cậu chỉ viết tản văn, thứ văn mà cậu chẳng mời ai phải nếm, kể cả bản thân cậu nữa. Cái mà tên nô lệ xướng đọc này sắp đọc là các bản bổ sung chúc thư của anh chàng Fabryxiux Veyento tội nghiệp.
- Sao lại “tội nghiệp” ạ?
- Bởi vì người ta đã truyền cho hắn phải sắm vai Ôđixê và không được trở về với gia đình cho tới khi nào có lệnh mới. Đối với hắn, thiên Ôđixê này sẽ dễ chịu hơn nhiều so với chàng Ôđixê, vì vợ hắn không phải là nàng Penelop. Có lẽ cậu cũng chẳng cần phải nói rõ thêm với anh là người ta đã xử sự một cách ngu ngốc. Song ở đây người ta chỉ cần tóm bắt lấy cái vỏ ngoài của mọi chuyện mà thôi. Đây là một quyển sách khá tầm thường và đáng ngán mà người ta chỉ bắt đầu say mê đọc khi tác giả của nó đã bị đầy biệt xứ. Bây giờ thì khắp tứ phía người ta đều gào lên: “Xcandala, Xcandala”. Cũng rất có thể là Veyento đã nghĩ ra được vài điều gì đấy, song riêng cậu, cậu hiểu rõ cái thành phố này, hiểu rõ các vị quý tộc lẫn đám đàn bà của chúng ta, cậu dám cam đoan với anh rằng: tất cả những điều đó đều nhợt nhạt hơn thực tế rất nhiều. Giờ đây, theo cách riêng của mình, mỗi người đều sục tìm trong sách đó bản thân mình lẫn nỗi âu lo, còn tìm người quen kẻ thuộc với sự hứng khởi. Ở hiệu sách của Avirunux hiện đang có một trăm tên ký lục sao lại quyển sách này theo lối đọc chính tả và sự thành công có thể nói là cầm chắc.
- Trong ấy không có chuyện gì về cậu à?
- Có chứ, nhưng tác giả đã bắn chệch đích vì thực ra cậu vừa tồi tệ hơn lại vừa ít nông cạn hơn là y mô tả. Anh thấy đấy, ở chốn này, đã từ lâu lắm rồi, chúng ta đã đánh mất đi cảm giác về cái chính đáng và cái không chính đáng mà nói thực tình thì cậu cũng cho rằng chẳng hề có sự khác biệt nào giữa hai thứ đó, mặc dù cả Xeneka lẫn Mozunius và Trazeas đều vờ vĩnh làm như họ thấy được sự khác nhau ấy. Cậu thì sao cũng xong! Thề có Heraklex, cậu nghĩ thế nào nói thế! Có điều, cậu vẫn còn hơn họ ở chỗ cậu vẫn hiểu được cái gì là đẹp cái gì là xấu, điều mà - nói thí dụ - gã Râu Đỏ - chàng thi sĩ, người đánh xe đua, ca sĩ, vũ công kiêm kịch sĩ của chúng ta - không hề biết.
- Cháu vẫn thấy tội nghiệp cho Fabryxius. Anh ấy vốn là một người bạn tốt bụng.
- Chính lòng tự tôn đã làm hại anh ta. Ai cũng nghi ngờ anh ta, chẳng ai hiểu thật rõ, song chính anh ta lại không kìm giữ nổi và tự thổ lộ cho mọi người xung quanh với vẻ bí bí mật mật. Anh đã biết chuyện Rufinux chưa?
- Chưa ạ.
- Thế thì sang phòng mát ta cùng ngồi mát và cậu sẽ kể anh nghe chuyện ấy.
Họ bước sang phòng mát, ở giữa phòng có vòi phun nước phun ra một thứ nước màu hồng nhạt tỏa mùi hương hoa đồng thảo. Ở đó, họ ngồi mát trong những hõm tường trải lụa. Một giây im lặng bao trùm, Vinixius trầm ngâm ngắm pho tượng thần Đồng Nội màu nâu đang ghì chặt thân hình một nàng tiên nữ, môi thèm khát tìm gặp môi nàng, lúc sau chàng cất tiếng:
- Tay này có lý. Đây quả là điều tuyệt diệu nhất trong đời.
- Cũng gần đúng như thế. Song trừ điều đó ra anh còn yêu thích chuyện chiến chinh, điều mà cậu không thích, vì sống trong lều trại, móng tay cứ bị gãy vụn ra và mất hết sắc hồng. Nói cho cùng, mỗi người đều có thú vui riêng. Gã Râu Đỏ thích ca hát và mê nhất tiếng hát của chính gã; lão Xcaurux thì yêu cái độc bình Koryntơ, đêm đêm được đặt cạnh giường lão và được lão hôn hít mỗi khi không ngủ được. Lão đã hôn đến cùn cả miệng bình rồi đấy. À, hãy nói cho cậu biết, anh có hay làm thơ không?
- Không ạ, cháu chưa bao giờ đặt trọn một bài lục phách.
- Anh cũng không biết chơi đàn luýt và không hát chứ?
- Không ạ?
- Cũng không đua ngựa?
- Hồi còn ở Antiokhia cháu cũng có đua nhưng không mấy thành công.
- Thế thì cậu có thể yên tâm về anh. Thế ở trường đua anh thuộc phái nào?
- Phái Xanh lục ạ.
- Vậy thì cậu hoàn toàn yên tâm. Thêm nữa, mặc dù cũng có tài sản lớn song anh vẫn chưa giầu bằng Palax hay Xeneka. Vì anh thấy đấy, ở chốn này bây giờ, làm thơ, ca hát, chơi đàn luýt, ngâm xướng hay đua tài ở hý trường đều tốt cả, nhưng an toàn hơn là đừng làm thơ, đừng ca hát, đừng chơi đàn và đừng đuổi nhau ở hý trường. Và tốt nhất là biết tán thưởng khi gã râu đỏ thi thố các chuyện đó. Anh là một đứa bé xinh xẻo, nên có thể bị một mối đe dọa là Poppea phải lòng anh. Song ả ta đã quá đủ kinh nghiệm để có thể không bị dính vào chuyện đó. Cô ả đã xài quá đủ tình yêu với hai đức ông chồng đầu tiên rồi, còn với ông chồng thứ ba này thì ả ta cần thứ khác kia. Anh biết không, cho đến bây giờ, gã Otho vẫn còn say cô ả đến phát điên lên. Y lang thang trên những phiến đá ở Tây Ban Nha, thở dài thườn thượt, quên tiệt cả những thói quen ngày xưa và thôi chăm lo bản thân đến nỗi mỗi ngày y chỉ cần có ba giờ đồng hồ để sửa sang đầu tóc mà thôi! Ai có thể ngờ được chuyện ấy, nhất là đối với Otho.
- Cháu hiểu y - Vinixius đáp - nhưng giá ở địa vị y thì cháu sẽ làm một việc khác kia.
- Việc gì?
- Thành lập những đội quân trung thành từ đám dân sơn cước vùng đó. Dân Iber vốn là những chiến sĩ quả cảm.
- Ôi, Vinixius! Vinixius! Suýt nữa thì cậu buột miệng nói rằng anh không có khả năng làm việc đó. Anh có biết vì sao không? Những việc như thế người ta chỉ làm mà không nói, dù là nói có điều kiện đi chăng nữa. Cứ như cậu thì ở vào địa vị của y, cậu sẽ cười vào mũi cả Poppea lẫn Râu Đỏ, và cậu cũng sẽ thành lập riêng cho mình những đạo quân người Iber, nhưng không phải đàn ông mà đàn bà. Cùng lắm, cậu sẽ viết những bài đoản thi, nhưng sẽ chẳng đọc cho một ai nghe như anh chàng Rufinux đáng thương nọ.
- Cậu hứa là kể cho cháu nghe chuyện anh ta mà?
- Sang buồng xức dầu thơm cậu sẽ kể anh nghe.
Song ở buồng xức dầu sự chú ý của chàng Vinixius lại chuyển sang một đối tượng khác, cụ thể là các nữ tỳ tuyệt đẹp đang chờ họ. Hai trong số ấy, hai thiếu nữ da đen trông giống hệt những pho tượng tuyệt vời bằng gỗ mun bắt đầu xoa lên người họ các loại dầu Ai cập thơm dịu; những thiếu nữ khác, những cô gái Frygia giỏi chải tóc, cầm lược và những tấm gương bằng thép đánh bóng trong những vòng tay mềm mại như mình rắn của họ; còn hai thiếu nữ Hy Lạp quê ở đảo Kox, trông hệt như hai nàng tiên nữ, hai nô tỳ chuyên sửa sang quần áo cho chủ thì đang chờ đợi giây phút được sửa sang nếp gấp trên những chiếc áo dài toga cho họ.
- Thề có Zeux - Thần thu mây: - Markux Vinixius thốt lên - Bộ sưu tập của cậu mới tuyệt làm sao!
- Cậu chuộng chất lượng hơn số lượng - ông Petronius đáp - Toàn bộ gia nô của cậu tại Roma chưa tới bốn mươi đầu, và cậu đồ rằng, có lẽ bọn già nhà giàu mới phất còn có nhiều người phục dịch hơn cậu.
- Cả đến Râu Đỏ cũng không có được những tấm thân ngà ngọc hơn thế này - Vinixius vừa nói vừa phập phồng hai cánh mũi.
Ông Petronius liền đáp với vẻ suồng sã bạn bè:
- Anh là người ruột thịt với tôi, còn tôi thì vừa không vô dụng như Baxxux, vừa không quá cầu kỳ như Aulux Plauxius.
Vừa nghe thấy cái tên sau, trong chốc lát Vinixius quên đi các thiếu nữ đảo Kox, chàng sôi nổi hỏi:
- Sao tự nhiên cậu lại nghĩ tới Aulux Plauxius? Cậu biết không, sau khi bị dập thương cánh tay ở ngay sát thành phố, cháu đã lưu lại nhà ông ấy mười mấy ngày liền. Ông Plauxius tình cờ có mặt đúng vào lúc xảy ra tai nạn, và khi trông thấy cháu quá đau đớn ông ấy bèn mang cháu về nhà; tại đó, một tên nô lệ là thầy thuốc Merion đã chữa lành vết thương cho cháu. Chính cháu định thưa lại với cậu chuyện ấy.
- Vì sao vậy? Chẳng lẽ tình cờ anh lại phải lòng bà Pomponia hay sao? Nếu vậy thì cậu thật buồn cho anh: Bà ta chẳng còn trẻ trung gì nữa mà lại là người đức hạnh. Cậu không thể tưởng tượng ra một chuyện quan hệ nào đáng buồn hơn thế nữa! Brrr!
- Không phải là bà Pomponia đâu, ơ hơ! - Vinixíu nói.
- Thế thì phải lòng ai?
- Giá như cháu biết được phải lòng ai! Thậm chí đến tên nàng cháu còn chưa biết rõ: Ligia hay Kalina? Ở trong nhà người ta coi nàng là Ligia vì nàng là người thuộc dân tộc Ligi, song nàng còn có một cái tên man dã nữa là Kalina. Nhà Planxius quả thật là một gia đình kỳ lạ. Nhà thì đông người mà cứ lặng như tờ. Suốt mười mấy ngày trời cháu đâu có biết là ở đó có một nàng tiên nữ. Mãi cho tới một sớm mai kia cháu mới trông thấy nàng đang tắm ở vòi nước phun trong vườn. Và cháu xin thề trên những đám bọt nước đã sinh ra nữ thần Afrodia rằng ánh bình minh đã xuyên qua suốt thân thể nàng. Cháu cứ ngỡ rằng khi mặt trời lên, nàng sẽ tan biến ra hòa vào ánh sáng như buổi rạng đông trải rộng nơi kia. Kể từ lúc ấy cháu chỉ được trông thấy nàng thêm hai lần nữa và cũng từ lúc ấy, cháu không còn biết thế nào là sự yên tĩnh, không cón biết đến nỗi khát vọng nào khác, cháu muốn biết đến những gì mà đô thành có thể cho cháu, cháu không còn thiết đàn bà, không màng vàng bạc, không thích đồng thau Koryntơ cùng hổ phách, chẳng ham ngọc trai, rượu nho hay yến tiệc, cháu chỉ khát khao mỗi mình Ligia. Xin thưa thật cùng cậu, thưa Petronius, cháu tương tư nàng như Thần Mộng được chạm trên bức phù điêu đặt trong phòng ấm của cậu kia, tương tư nàng Paxytea, suốt ngày đêm cháu chỉ mơ tưởng đến nàng thôi.
- Nếu cô ta là nô tỳ thì anh hãy mua lại đi
- Nàng đâu có phải là nô tỳ.
- Vậy thì nàng là ai? Nô tỳ đã được giải phóng của ông Plauxius chăng?
- Nàng chưa bao giờ là nô tỳ, vậy sao lại có thể là nô tỳ giải phóng được.
- Thế nghĩa là gì?
- Cháu cũng không rõ nữa: Nàng là công chúa hay thứ gì tương tự như thế.
- Anh làm cậu đâm tò mò rồi đấy, Vinixius ạ!
- Nếu cậu vui lòng nghe cháu kể thì xin làm thỏa mãn sự tò mò của cậu ngay bây giờ. Câu chuyện cũng không dài lắm. Có thể cậu có quen biết Vannius, vua của dân Xveb, người mà sau khi bị đuổi khỏi quê hương đã lưu trú một thời gian dài tại Roma đây, thậm chí ông còn trở lên nổi tiếng vì gặp may mắn trong cờ bạc và giỏi đua ngựa nữa. Về sau hoàng đế Druxux lại đưa ông trở lại ngai vàng. Vốn là người giỏi giang, ban đầu Vannius trị vì rất giỏi và đã chiến tranh thắng lợi, nhưng về sau ông ta bắt đầu bóc lột một cách quá đáng không chỉ những vị láng giềng của mình mà thậm chí cả dân Xveb nữa. Thế là Vangio cùng Silo, hai đứa cháu gọi ông ta bằng cậu, con của Vibilius, quốc vương Hermanđur liền quyết định bắt ông ta phải quay về Roma để… tìm hạnh phúc trong cờ bạc.
- Cậu còn nhớ, đó là vào thời Klauđius cách đây chưa lâu.
- Vâng! Thế là chiến tranh nổ ra. Vannius bèn cầu viện quân Jazyg, còn mấy đứa cháu yêu quý của ông ta thì lại cầu viện người Ligi. Bọn này đánh hơi thấy của cải của Vannius và bị lôi cuốn bởi hy vọng được cướp bóc, liền kéo tới đông vô kể, khiến cho chính hoàng đế Klauđius bắt đầu lo ngại cho sự yên ổn của vùng biên giới. Tuy không muốn dính dáng vào cuộc chiến tranh man rợ, song hoàng đế cũng viết thư cho Atelius Hixter, người thống lĩnh chiến đoàn Thượng Đunai, lệnh cho ông ta phải để mắt đến diễn biến của cuộc chiến tranh này và đừng để cho người ta làm xáo động sự thanh bình của chúng ta. Hixter bèn đòi dân Ligi phải cam kết không được vượt qua biên giới, bọn này không những chấp thuận điều kiện ấy mà còn gửi người làm con tin, trong số đó có cả vợ và con gái của thủ lĩnh của chúng… Cậu cũng biết đấy, khi ra trận dân man di thường mang theo cả vợ con… Và nàng Ligia của cháu chính là con gái viên thủ lĩnh nọ.
- Làm sao anh biết được tất cả những chuyện đó?
- Chính Aulux Plauxius kể cho cháu nghe. Hồi ấy quả tình dân Ligi không vượt qua biên giới, song bọn man di thường kéo tới và rút đi nhanh như bão tố, và dân Ligi, với những cặp sừng bò tót trên đầu cũng biến đi nhanh như thế. Chúng đã đánh tan tác quân Xveb của Vannius cùng lũ người Jazyg, nhưng vua của chúng bị tử trận, thế là chúng rút lui, mang theo những của cải vừa cướp được, để lại đám con tin trong tay của Hixter. Chẳng bao lâu sau, người mẹ chết, còn đứa bé thì Hixter cũng không biết làm gì với nó, bèn gửi đến cho Pomponius, hồi ấy là thống đốc cả vùng Germania. Sau khi kết thúc chiến tranh với người Kat. Pomponius quay về Roma và như cậu biết đấy, ông ta được Klauđius ban cho lễ khải hoàn. Khi ấy, cô bé đi theo sau cỗ xe người chiến thắng. Nhưng sau khi nghi lễ đã kết thúc, vì không thể đối xử với con tin như với tù binh, hơn nữa chính Pomponius cũng không biết nên làm gì với cô bé, nên rốt cuộc ông ta đã đưa cô bé cho em gái là bà Pomponia Grexyna, vợ của Plauxius. Trong ngôi nhà ấy, nơi mà tất thảy mọi thứ - kể từ các ông chủ cho đến gà vịt trong chuồng - đều đức hạnh, cô bé lớn lên thành một nàng thục nữ, mà than ôi, cũng đức hạnh như chính bà Grexyna và xinh đẹp tuyệt trần, đến nỗi ở bên cạnh nàng thì ngay cả Poppea cũng chỉ giống như một trái vải mùa thu đặt bên một quả táo Hexperia mà thôi.
- Thế rồi sao nữa?
- Và cháu xin nhắc lại, kể từ lúc trông thấy những tia sáng mặt trời xuyên suốt qua người nàng bên đài phun nước, thì cháu lập tức yêu nàng say đắm.
- Thế nghĩa là nàng trong suốt như một chiếc bóng đèn hay như một chú cá trích non chăng?
- Xin cậu đừng đùa nữa. Petronius. Còn nếu như sự thoải mái của cháu khi nói về nỗi khát khao của mình khiến cậu hiểu lầm, thì xin cậu hãy hiểu cho rằng nhiều khi những chiếc áo dài sặc sỡ thường giấu che những vết thương sâu. Cháu cũng xin thưa với cậu rằng, lúc từ châu Á quay về, cháu có ngủ một đêm ở đền thờ thần Mopxux để xin báo mộng. Trong giấc mơ, chính thần Mopxux hiện ra và bảo cháu rằng, trong đời cháu sẽ có một sự biến đổi lớn lao do tình yêu gây nên.
- Cậu từng nghe Plinius nói rằng ông ta không tin thần thánh nhưng lại tin vào mộng mị, và rất có thể là ông ta có lý. Những lời bông đùa của cậu cũng không cản trở chuyện đôi khi cậu nghĩ rằng chỉ có duy nhất một vị thần, vĩnh hằng, đầy sáng tạo, quyền lực vô biên - đó là Venux Genitrix. Một mình nữ thần thâu tóm cả linh hồn lẫn thể xác cùng mọi vật. Erox đã đưa thế giới ra khỏi cảnh hỗn mang. Thần làm chuyện đó tốt hay không là chuyện khác, nhưng nếu quả có thể thì chúng ta phải thừa nhận sự hùng mạnh của thần, mặc dù chúng ta hoàn toàn có thể không cầu nguyện cho sự hùng mạnh ấy.
- Ôi cậu Petronius! Trên đời này tìm ra một thứ triết học còn dễ hơn là cầu được một lời khuyên tốt.
- Thì anh hãy nói cậu nghe anh cần gì nào?
- Cháu muốn có được Ligia. Cháu muốn những cánh tay đang ôm không khí của cháu sẽ được ôm nàng và ghì chặt nàng vào ngực. Cháu muốn được thở hít hơi thở của nàng. Giá như nàng là nô lệ, thì để có được nàng, cháu sẵn sàng đổi cho ông Aulux một trăm thiếu nữ chân bôi vôi trắng ra dấu là họ bị mang bán lần đầu tiên. Cháu muốn có nàng trong nhà cháu cho tới khi đầu cháu bạc trắng như đỉnh Xoracte trong mùa đông.
- Nàng tuy không phải là nô lệ nhưng vẫn thuộc đám gia nhân của Plauxius, và vì rằng nàng là một đứa trẻ bị bỏ rơi nên có thể xem như gia nhân. Plauxius có thể nhường lại cho anh nếu như ông ta muốn.
- Thế thì có lẽ cậu chưa biết tính bà Pomponia Grexyna. Mà thực ra cả hai ông bà đều gắn bó với nàng như đứa con rứt ruột đẻ ra vậy.
- Bà Pomponia thì cậu biết. Quả là một biểu tượng của tang tóc. Giá bà ta không phải vợ ông Aulux thì có thể thuê bà ta làm người khóc mướn được đấy. Từ sau khi Julia chết bà ta vẫn chưa trút bỏ tấm áo khoác đen và đại thể nom bà ta cứ như một hồn ma chưa siêu tịnh vậy. Thêm vào đó, bà ta lại chính chuyên chỉ có mỗi một chồng, nên giữa đám phu nhân li dị bốn năm bận của chúng ta, bà ta quả là một chim phượng hoàng Fenikx. Mà này, anh có nghe nói chim thần Fenikx lại đang nằm ổ ở Thượng Ai Cập, điều mà từ trước đến nay ít nhất cũng phải tới năm trăm năm mới xảy ra một lần hay không?
- Ôi cậu bảo anh cái này vậy nhé, Marck của cậu! Cậu quen với ông Aulux Plauxius, và mặc dù phỉ báng lối sống của cậu, ông ta vẫn có một chỗ mềm lòng đối với cậu, thậm chí còn tôn trọng cậu hơn những kẻ khác, vì ông ta biết rằng chưa bao giờ cậu là kẻ ton hót như: Đominius, Afer, Tygelius hay cả đám bạn bè của Ahenobarbux. Không cố tỏ ra cương trực, song cũng đã nhiều lần cậu cau mặt trước những hành vi này khác của Nêrô, những hành vi mà Xeneka và Burux chỉ dám he hé mắt nhìn. Nếu anh cho rằng cậu có thể yêu cầu ông Aulux giúp anh điều gì thì cậu rất sẵn lòng.
- Cháu nghĩ rằng cậu hoàn toàn có thể làm được. Cậu có ảnh hưởng đối với ông ta, thêm nữa trí óc cậu chứa biết bao phương sách nhiệm mầu. Giá như cậu có thể xem xét qua tình hình và nói chuyện với ông Plauxius.
- Anh đánh giá quá cao ảnh hưởng và tính bông phèng của cậu đấy, nhưng nếu chỉ có thể thôi thì cậu sẽ nói chuyện với ông Plauxius chừng nào gia đình ông ta quay trở về thành phố.
- Họ đã về được hai hôm rồi ạ.
- Vậy thì ta hãy đi sang phòng ăn, nơi bữa sáng đang đợi, rồi sau đó, khi đã lấy thêm sức lực, chúng ta sẽ ra lệnh cáng tới nhà ông Plauxius.
- Cậu bao giờ cũng chiều cháu - Vinixius hoan hỉ thốt lên - song lần này có lẽ cháu phải cho đặt tượng của cậu vào nơi thờ các gia thần nhà cháu để có thể dâng lễ vật lên cậu - Ồ, một pho tượng đẹp ngang pho tượng này này!
- Vừa nói thế chàng vừa quay về phía những pho tượng trang hoàng suốt cả một mặt tường của căn phòng sực nức hương thơm và chỉ vào tượng Petronius được tạc dưới hình thần Hermex tay cầm phương trượng chàng nói thêm:
- Thề có ánh sáng của thần Heliox! Nếu như Alekxander thiên thần mà giống được như cậu thì không có gì phải ngạc nhiên với nàng Helena cả!
Trong tiếng kêu đó có bao nhiêu hàm ý tán tụng thì cũng có bấy nhiêu phần chân thành, vì mặc dù lớn tuổi và ít lực lưỡng hơn, song Petronius trông còn xinh đẹp hơn cả Vinixius. Phụ nữ Roma không chỉ thán phục trí tuệ mẫn tiệp và óc thẩm mĩ tinh tế của ông - điều khiến ông được gọi là người phân định những chuyện hào hoa phong nhã - mà còn ngưỡng mộ cả thân hình ông nữa. Ngay cả lúc này đây cũng có thể nhận thấy sự ngưỡng mộ ấy trên nét mặt các thiếu nữ đảo Kox đang xếp đặt các nếp áo toga cho ông. Trong số đó có một nàng tên là Eunixe thầm yêu ông, nàng đang nhìn vào mắt ông với vẻ đắm say và kính cẩn.
Song ông không hề để ý tới chuyện ấy, ông mỉm cười với Vinixius, và thay cho câu trả lời, ông ứng khẩu đọc cho chàng nghe một câu châm ngôn của Xeneka về đàn bà:
- Animal impudens… etc…
Rồi choàng tay ôm vai chàng trai ông đưa chàng sang phòng ăn.
Hai thiếu nữ Hi Lạp, hai thiếu nữ Frygia và hai thiếu nữ da đen còn lại trong phòng xức dầu bắt đầu thu dọn các thứ dầu thơm khác. Chính lúc ấy, từ sau bức tường, đầu của đám nô lệ chuyên phục vụ việc tắm ló vào và có tiếng suỵt khẽ vang lên: Nghe tiếng gọi ấy, hai nữ tỳ Frygia, hai nữ tỳ Etiopia cùng một nữ tỳ Hi Lạp liền nhảy cẫng lên, và chỉ trong nháy mắt họ biến vào sau bức tường che. Trong các buồng tắm bắt đầu diễn ra một cảnh phóng túng và trụy lạc mà viên nội giám không hề ngăn cản, bởi chính gã cũng nhiều phen tham gia vào những trò phóng đãng tương tự. Thực ra ông Petronius cũng đoán ra chuyện đó, song vốn là người rộng lượng và không ưa quở phạt, ông chỉ làm ngơ.
Trong phòng xức đầu chỉ còn lại mình Eunixe. Nàng lắng nghe những giọng nói, tiếng cười xa dần về phía phòng tắm hơi rồi nhấc chiếc ghế đẩu hổ phách và ngà voi mà Petronius vừa ngồi lúc nãy, nàng thận trọng tiến đến gần pho tượng của ông. Phòng xức dầu thơm ngập ánh nắng mặt trời cùng muôn ánh hào quang phản chiếu từ những phiến đá cẩm thạch đủ màu lát mặt tường. Eunixe leo lên ghế và khi vừa cao ngang tầm pho tượng, nàng đột ngột choàng tay ôm vòng lấy nó rồi hất lằn tóc vàng óng của mình về phía sau lưng, nàng áp tấm thân hồng hào vào đá cẩm thạch trắng và ghì chặt môi nàng vào đôi môi lạnh giá của ông Petronius.
Đăng nhập để trả lời
0
QUO VADIS - H. Sienkievich

CHƯƠNG 2
Sau bữa ăn được gọi là bữa điểm tâm mà hai cậu cháu dùng vào lúc những kẻ phàm tục khác đã ăn xong bữa trưa từ lâu. Petronius bảo nên chợp mắt một lát. Theo ông, hãy còn quá sớm để đi thăm viếng. Quả tình cũng có những kẻ đi thăm người quen ngay từ lúc mặt trời mọc, mà lại còn coi đó là phong tục cổ của La Mã, nhưng ông Petronius thì coi đó là một tập tục dã man. Ban chiều là đúng lúc nhất, song cũng không được sớm hơn lúc mặt trời ngả về phía đền thờ thần Jupiter trên Kapitôl và bắt đầu chiếu xiên xuống Forum. Về mùa thu, thường hãy còn khá nóng nực, và người ta thích ngủ sau khi ăn cơm. Vào lúc ấy, quả thật là dễ chịu được lắng nghe tiếng lao xao của vòi nước phun trong chính sảnh thông thiên, rồi khi bước một nghìn bước bắt buộc, được chợp mắt trong ánh sáng màu đỏ mọc qua tấm che màu tía đã hạ xuống lưng chúng.
Vinixius thừa nhận là ông nói có lý và họ vừa bắt đầu dạo bước vừa trao đổi một cách phóng túng về những chuyện ở cung điện Palalyn và trong thành phố có pha đôi chút triết lý về cuộc đời. Rồi Petronius sang phòng ngủ, song ông chỉ chợp mắt một lát. Chỉ nữa giờ sau, ông đã bước ra, truyền mang mã tiên thảo tới và bắt đầu vừa ngửi vừa hít vừa dùng nó xát lên hai bàn tay và thái dương.
- Hẳn là anh không tin, - ông nói - nhưng thứ này làm người khỏe ra và tỉnh táo hẳn lên. Giờ thì cậu sẵn sàng rồi.
Kiệu chờ sẵn đã lâu, họ bèn ngồi vào kiệu và ra lệnh cáng tới Vieux Patrixius, tới nhà ông Aulux. Khu dinh thự của Petronius nằm trên sườn phía nam đồi Palutyn, gần nơi được gọi là Carinae, nên đường gần nhất là đi ngang qua phía dưới Forum, nhưng vì Petronius còn muốn ghé qua chỗ lão thợ kim hoàn Idomen, nên ông ra lệnh cáng qua Vieux Apolinix và Forum về phía Vieux Xeleratux, tại góc phố đó có bày bán đủ mọi loại tủ đựng đồ thờ cúng.
Những tên da đen lực lưỡng nhấc kiệu lên, khênh đi, đằng trước là bọn nô lệ được gọi là pedisequi. Suốt một hồi lâu, Petronius im lặng, đưa hai bàn tay thơm mùi mã tiên thảo lên mũi, dường như ông đang cân nhắc điều gì, sau đó ông lên tiếng:
- Cậu chợt nghĩ rằng, nếu như nữ thần rừng của anh không phải là nô tỳ, thì nàng có thể bỏ nhà ông Plauxius sang ở nhà anh. Anh sẽ bao bọc nàng trong tình ái và sẽ vung của cải xung quanh nàng như cậu đã từng làm đối với nàng Khowryzotemix đáng tôn kính của cậu, người mà, nói riêng với anh nhé, cậu cũng đã ngán nàng như nàng ngán cậu vậy.
Markux lắc đầu.
- Không à? - Petronius hỏi - Cùng lắm thì cũng có thể dựa vào hoàng đế, và anh có thể tin rằng, nhờ ảnh hưởng của cậu, gã Râu Đỏ của chúng ta sẽ đứng về phía anh.
- Cậu không hiểu Ligia! - Vinixius đáp
- Vậy thì anh hãy cho phép tôi được hỏi, anh hiểu cô ta chứ? Hiểu bằng cách nhìn à? Anh đã nói chuyện với cô ta chưa nào? Anh đã thổ lộ tình yêu với cô ta rồi chứ?
- Đầu tiên cháu nhìn thấy nàng bên bể nước phun, rồi sau đó cháu còn gặp nàng hai lần nữa. Cậu biết chứ, hồi còn ở nhà ông Aulux, cháu ở trong một vila riêng dành cho khách, cháu cũng không thể ngồi ăn chung với gia đình họ vì tay cháu bị dập thương. Mãi đến buổi tối hôm cháu nói là sẽ ra đi, cháu mới được gặp Ligia trong bữa ăn tối và cháu cũng không thể thốt ra nổi một lời nào với nàng. Cháu phải ngồi nghe ông Aulux kể lể về những chiến công mà ông ta đã lập nên ở Brytania, rồi về sự phá sản của các tiểu trang trại ở Italia. Nói chung, cháu không biết liệu cái ông lão Aulux ấy có biết nói về chuyện gì khác nữa hay không, và cũng xin cậu chớ nghĩ rằng chúng ta sẽ có thể tránh khỏi điều đó, trừ phi cậu muốn nghe nói về tính nhu nhược của thời nay. Trong chuồng của nhà họ có gà gô song họ chẳng giết bao giờ, xuất phát từ nguyên lý là mỗi con gà gô bị thịt sẽ làm gần lại thêm cái ngày tận số của La Mã hùng cường. Lần thứ hai cháu gặp nàng bên cạnh bể chứa nước ngoài vườn, với một cây lau vừa rứt đứt cầm trong tay, nàng nhúng đầu có lá xuống nước và vẩy nước tưới cho những khóm diên vĩ mọc gần đấy. Cậu hãy nhìn đầu gối cháu đây! Thề trên chiếc khiên của Heraklex, cháu xin thưa với cậu rằng, đầu gối cháu không hề run rẩy khi hàng đoàn quân Parlơ vừa hú lên vừa ùa tới các đội quân của chúng cháu, thế mà cháu đã run lên bên cạnh bồn chứa nước ấy. Và bối rối như một thị đồng hãy còn mang bùa khánh trên cổ, cháu chỉ còn biết dùng ánh mắt khẩn cầu tình thương, mà rất lâu không thốt ra nổi một lời.
Petronius nhìn chàng với một vẻ gần như ghen tỵ:
- Sung sướng thay! - ông nói - Dù thế giới, dù cuộc đời có tệ hại đến đâu đi nữa, trong đó vẫn còn có một điều tốt lành vĩnh hằng: tuổi thanh xuân.
Rồi một lát sau ông hỏi:
- Thế anh không nói gì với nàng ư?
- Có chứ ạ! Sau khi hơi định thần lại, cháu nói rằng cháu vừa từ châu Á trở về, rằng cháu bị dập thương cánh tay ở ngay cạnh thành đô và đau đớn vô cùng, song đến lúc phải từ giã ngôi nhà hiếu khách này cháu mới hiểu được ra rằng, tại đây, sự đau đớn còn giá trị hơn nhiều so với lạc thú nơi khác, và bệnh tật còn đáng quý hơn nhiều so với sức khỏe ở chốn khác. Nghe những lời cháu nói nàng cũng bối rối, và cúi đầu xuống, nàng dùng ngọn lau vẽ gì đó lên mặt cát vàng. Rồi nàng đưa mắt nhìn những hình vẽ ấy một lần nữa, rồi nhìn cháu, dường như muốn hỏi điều chi đó, và bỗng nhiên nàng bỏ chạy như một nàng tiên chạy trốn thần Đồng Nội ngẩn ngơ.
- Hẳn mẳt nàng đẹp lắm?
- Hệt như biển vậy, thưa cậu, còn cháu thì chìm trong mắt nàng như chìm trong biển vậy. Xin cậu hãy tin lời cháu, Arkhipelag còn kém thẳm xanh hơn. Một lát sau, thằng bé Plauxius chạy tới hỏi điều gì đó, song cháu không sao hiểu được là nó muốn hỏi gì.
- Hỡi nữ thần Atena! - Petronius thốt lên - xin hãy tháo gỡ cho đứa trẻ này mảnh băng bịt mắt mà thần ái tình Erox đã buộc vào, bằng không nó sẽ bị va vỡ đầu vào cột đền thờ nữ thần Venux mất thôi.
Rồi ông quay sang Vinixius:
- Còn anh, hỡi cái chồi xuân trên cây đời, hỡi cái lộc nõn đầu tiên của dây nho! Thay vì đến nhà Plauxius, lẽ ra ta phải mang anh đến nhà Galoxius, nơi có trường dậy dỗ những đứa trẻ chưa hiểu mùi đời.
- Cậu muốn gì vậy?
- Thế nàng vẽ cái gì trên mặt cát? Có phải tên của thần tình ái Amor, hay một trái tim bị mũi tên xuyên thủng, hay một cái gì đó khiến anh có thể hiểu được rằng các vị đương thần Xatyr đã thì thầm vào tai nàng tiên nữ ấy những điều bí mật của cuộc đời rồi? Sao anh lại có thể không nhìn những hình vẽ ấy cơ chứ?
- Cháu đã khoác áo toga sớm hơn là cậu nghĩ cơ đấy, - Vinixius đáp - và trước khi thằng bé Aulux chạy tới, cháu đã chăm chú ngắm nghía những đường nét kia, vì cháu biết rằng, ở Hy Lạp cũng như ở La Mã, không ít nàng trinh nữ thường vạch lên cát lời thổ lộ mà môi họ không muốn thốt ra… Song cậu hãy đoán thử xem nàng đã vẽ gì nào?
- Nếu như là cái gì khác những điều cậu nghĩ thì cậu xin chịu.
- Một con cá.
- Anh nói sao?
- Cháu nói: một con cá! Phải chăng điều đó có nghĩa là cho tới nay trong huyết quản nàng chỉ tuần hoàn rặt một thứ máu lạnh thì cháu không rõ. Hẳn là cậu, người vừa gọi cháu là cái chồi xuân trên cây đời biết cách hiểu rõ hơn cháu cái dấu hiệu này.
- Anh cháu thân yêu ơi ! Chuyện đó thì phải hỏi Plinius! Ông ta vốn sành về cá mà. Giá như cụ Apixius còn sống thì hẳn cụ già cũng có thể mách bảo anh đôi điều về chuyện ấy, vì rằng trong đời mình, cụ đã từng xơi một số cá nhiều hơn số cá có thể chứa trong vịnh Neapon.
Đến đây câu chuyện bị gián đoạn, bởi họ được kiệu qua những phố xá tấp nập, ồn ào cản trở câu chuyện. Qua Vieux Apolinix, họ rẽ sang Forum Romanum, nơi trong những ngày đẹp trời, trước khi mặt trời lặn, tụ tập đủ mọi dân tộc để dạo chơi giữa các hàng cột, kể hoặc hóng nghe tin tức thời sự, ngắm nhìn những chiếc kiệu với những nhân vật nổi tiếng được cáng qua, rồi ghé thăm các hiệu kim hoàn, các hiệu sách, các hiệu đổi tiền, hiệu đồ đồng cùng tất cả những cửa hiệu khác, vô số cửa hiệu trong các ngôi nhà chiếm một phần của Bãi Chợ đối diện với đồi Kapitol. Một nửa Forum nằm ngay dưới chân cung điện đã ngập trong bóng râm, song những hàng cột của các đền đài phía trên hãy còn đang rực lên trong ánh mặt trời trên nền trời xanh màu thanh thiên. Những đền đài nằm thấp hơn trải bóng râm lên những phiến đá cẩm thạch. Khắp nơi nhan nhản đền thờ, đến nỗi mắt người lạc trong ấy như lạc giữa rừng. Các ngôi đền và những hàng cột ấy dường như đang chen chúc nhau, chồng chất lên nhau, né sang trái sang phải, chòi lên đồi, ép sát vào bờ tường lâu đài hoặc ép vào nhau, trông giống như những thân cây cao và thấp; to và mảnh; vàng và trắng; cái cuộn theo kiểu lon, cái được kết thúc bằng một khối vuông giản dị kiểu Đoryx. Trên cả khu rừng ấy lấp lánh những bản triglif nhiều mầu sắc, từ dưới các xà mái nhô ra hình tạc các vị thần; trên đỉnh, những cỗ xe có cánh bằng vàng trông như đang muốn lao lên khoảng không, lao vào cái màu thanh thiên thanh bình đang treo lơ lửng trên thành phố chật ních những đền đài nọ. Ở giữa Bãi Chợ và viền quanh nó là cả một dòng sông người: những đám người ngồi trên các bậc thềm của đền thờ hai anh em thần Kaxtor và Ponlukx, những đám người đi dạo dưới các vòm của đền thờ Juliux Xezar, lượn quanh đền thờ của nữ thần Vexta; trên cái phông khổng lồ bằng cẩm thạch này, nom hệt như những đàn bướm hay bọ sừng đông nghìn nghịt. Từ phía trên cao, từ phía thánh đường thờ Jovi Optimo Maximo, qua những bậc thềm đồ sộ đang tràn về đây những làn sóng người mới; bên các diễn đàn người ta lắng nghe những diễn giả ngẫu nhiên nào đó diễn thuyết; đây đó dậy lên tiếng rao hàng của bọn buôn hoa quả, bọn bán rượu nho hay thức uống có pha nước quả vả, tiếng bọn lừa đảo đang mời mọc người mua những loại thần dược; tiếng lũ thầy bói, tiếng bọn thầy địa lý chuyên dò kho của ngầm và tiếng bọn thầy bói chuyên đoán mộng. Đây đó xen giữa những hỗn âm của những lời trò chuyện và tiếng gọi nhau, vang lên những thanh âm của đàn xixtrum xambux của Ai Cập hoặc tiếng sáo Hy Lạp. Nơi này nơi khác, những con bệnh thành kính hoặc ưu phiền, đang mang lễ vật tới tế hiến các đền thờ. Chen lấn giữa đám người, trên những phiến đá lát, những đàn bồ câu nom giống như các vết sẫm nhiều màu sắc, linh động, đang thèm thuồng nhặt ngũ cốc mà người ta ném cho, thỉnh thoảng lại ồn ã đập cánh bay vụt lên để rồi lại sà xuống những khoảng thưa người. Đôi lúc, đám người dạt ra trước những chiếc kiệu, trong đó có thể thấy những khuôn mặt đàn bà trang nhã hoặc đầu của các nguyên lão và các hiệp sĩ với những đường nét đã bị cuộc đời hủy hoại khiến cho méo mó đi. Đám dân chúng gồm nhiều dân tộc khác nhau tên họ kèm theo cả biệt danh, với lời nhạo báng hay câu ca tụng. Thỉnh thoảng, xuyên qua những đám người hỗn độn ấy lại có các toán binh lính đang bước đều hay những đội vigin canh giữ trật tự công cộng. Bốn chung quanh, có thể nghe thấy tiếng Hy Lạp cũng nhiều như tiếng Latinh.
Vinixius, người xa thành phố đã lâu, thú vị nhìn ngắm cái quần hợp nọ của loài người bên cái Forum Romanum vừa như đang ngự trị trên những làn sóng của thế giới vừa như bị chìm ngập trong những làn sóng ấy, khiến ông Petronius đoán được ý nghĩa của chàng nên gọi đó là “cái tổ của dân Quiryt không có mặt dân Quiryt” . Quả vậy, cư dân bản xứ hầu như biến mất trong cái đám người gồm hết thảy mọi chủng người và đủ loại dân tộc này. Ở đây thấy có cả người Êtiopi, lẫn những người cao lớn tóc màu sáng từ phương bắc xa xôi - người Brytania, người Gan và người German. Có cả các cư dân mắt xếch của Xericum, lẫn những người từ Eufrat và từ Ind với bộ râu cằm nhuộm ngả sang màu gạch: có cả người xứ Xiry từ bờ Oront với những cặp mắt đen huyền dịu ngọt, lẫn những cư dân khô khẳng như xương của các sa mạc A Rập, người Do Thái với bộ ngực lép, người Ai cập với nụ cười thản nhiên muôn thuở trên nét mặt cùng người Numidi và người Afri; có người Hy Lạp từ Helađa, những người bình quyền với dân La Mã trong việc cai trị thành bang nhưng lại nắm thêm cả khoa học, nghệ thuật, trí thông minh lẫn thói quỷ quyệt: có người Hy Lạp từ vùng đảo và từ Tiểu Á, từ Ai Cập và từ Italia, từ mãi xứ Galia Narbonxka về. Giữa đám nô lệ dái tai bị đục lỗ, không thiếu mặt đám dân tự do và rỗng tuếch mà hoàng đế đùa bỡn, nuôi ăn và thậm chí sắm mặc, cùng những lữ khách tự do bị sự dễ dãi của đời sống và viễn ảnh tiền tài lôi kéo tới cái thành bang khổng lồ này, không thiếu bọn chuyên mua đi bán lại cùng các giáo sĩ Xerapix với nhành lá cọ trong tay, các thầy tu thờ nữ thần Izyđa, vị thần được người ta hiến tế nhiều hơn cả thần Jupiter Kapiton, có các tín đồ Kibela cầm nhánh lúa vàng, cả tín đồ của những vị thần lang thang, có các vũ nữ phương đông đội những chiếc mũ sặc sỡ, có những kẻ bán bùa phép cùng những người thổi kèn gọi rắn, có các thầy phù thủy Khanđeya, và cuối cùng là bọn vô nghề nghiệp, cứ hàng tuần lại kéo tới các vựa lúa thành Roma để kiếm ngũ cốc, choảng nhau vì vé xổ số trong hí trường, trú đêm trong những căn nhà không ngừng sụp đổ ở các khu phố bên kia sông Tyber, còn những ngày nắng ấm thì ngụ trong các tầng hầm ngoại vi, trong những tửu quán tồi tàn bẩn thỉu của khu Xubura, trên cầu Milviux hay trước dinh thự của những người giàu có, nơi thi thoảng người ta vứt ra cho chúng những thức ăn thừa trên bàn ăn của đám nô lệ.
Những đám đông ấy biết rõ Petronius. Tai Vinixius nghe không ngớt những tiếng: “Hie est” - “Ông ta đấy”. Người ta thích ông vì tính hào phóng, và ông đặc biệt nổi tiếng khi người ta biết rằng ông đã lên tiếng trước mặt hoàng đế để chống lại án tử hình dành cho đám gia nô - nghĩa là toàn bộ nô lệ không phân biệt giới tính và tuổi tác - nhà quan Penđanius Xekunđa, chỉ vì một người trong bọn họ, trong một phút tuyệt vọng, đã giết chết gã chủ tàn bạo nọ. Mặc dù Petronius đã lớn tiếng nhắc đi nhắc lại rằng với ông chuyện đó chẳng hề có chút nghĩa lý gì, rằng ông nói chuyện với hoàng đế một cách hoàn toàn riêng tư, chỉ với cương vị arbiter elegantiarum, người mà mĩ cảm bị phẫn nộ bởi hành vi giết chóc man rợ nọ, hành vi chỉ có thể xứng đáng với bọn Xkyth nào đó chứ không xứng với người La Mã. Tuy vậy, kể từ lúc ấy dân chúng, vốn phẫn nộ vì vụ hành quyết ấy, vẫn yêu mến Petronius.
Song ông không mảy may quan tâm tới tình cảm đó. Ông vẫn luôn nhớ rằng, công chúng cũng đã từng yêu mến cả Brytanik, người đã bị Nerô đánh thuốc độc lẫn Agrypina - người đã bị y ra lệnh hạ sát, cả Oktavia - người đã bị bóp chết tại Panđataria sau khi bị phanh mạch máu ra trong làn hơi nóng bỏng, cả Rubenius Plautô - người đã bị đày biệt xứ, và cả Trazeas - người mà chưa biết ngày nào người ta sẽ mang tới cho bản án tử hình. Có lẽ nên coi tình yêu mến của dân chúng là một điềm gở, mà tuy là người hay phê phán nhưng Petronius lại mê tín. Ông bỉ báng đám dân chúng gấp đôi: với tư cách là một nhà quý tộc và với tư cách một nhà thẩm mỹ. Những kẻ luôn toát ra nồng nặc mùi đậu rang mà họ mang trong hầu bao, những kẻ lúc nào cũng khản tiếng và đẫm mồ hôi vì chơi trò đoán ngón tay ăn tiền ở các góc phố và các sân sau trong mắt ông không đáng được gọi là người.
Hoàn toàn không thèm đáp lại những tiếng hoan hô cùng những nụ hôn gió mà người ta gửi cho ông từ bốn xung quanh, ông kể cho Markux nghe chuyện Peđanius, nhân đó giễu cợt luôn sự thay đổi như con quay của bọn hạ lưu đường phố, ngay hôm sau vụ phẫn nộ ghê gớm ấy đã nhiệt thành hoan hô Nerô khi hắn đi tới đền thờ Jupiter Xlator.
Đến trước hiệu sách Avirunux, ông ta lệnh dừng kiệu lại, và bước xuống kiệu, ông mua một bản chép tay trang trí rất đẹp đưa cho Vinixius.
- Đây là quà tặng anh, - ông nói.
- Xin đa tạ cậu! - Vinixius đáp. Rồi nhìn nhan đề, chàng hỏi: - Salyricon? Sách mới đây, của ai thế thưa cậu?
- Của cậu đấy. Nhưng cậu không muốn đi theo vết Rufinux, người mà cậu đã hứa là sẽ kể chuyện cho anh nghe, cũng không muốn theo vết Fabryxius Veyento, vì thế nên chẳng ai biết được điều ấy, còn anh cũng chớ nói với ai nhé.
- Cậu bảo là cậu không làm thơ nữa, - Vinixius vừa liếc qua ruột sách vừa nói, - ấy vậy mà ở đây cháu lại thấy văn xuôi ken đầy những dòng thơ.
- Nếu anh đọc thì anh hãy chú ý đến bữa tiệc Trymalkhion. Còn nếu nói về thơ thì cậu tởm thơ từ khi Nerô bắt đầu viết anh hùng ca. Anh biết đấy, muốn được nôn cho nhẹ người, Vetelius đã dùng đũa ngà ngoáy vào cuống họng, những kẻ khác thì dùng lông chim hồng hạc nhúng dầu ô liu hay nước sắc cây tử mẫu, còn cậu thì cậu chỉ cần đọc thơ Nerô là có hiệu quả ngay tức khắc. Rồi sau đó, cậu có thể ngợi ca thứ thơ đó, nếu như không phải với một lương tâm trong sạch thì cũng là với một cái dạ dày sạch sẽ.
Nói đến đây, ông cho dừng kiệu trước hiệu kim hoàn của lão Idomen, và sau khi giải quyết xong chuyện mấy viên ngọc chạm, ông ra lệnh cáng thẳng tới nhà ông Aulux.
- Dọc đường cậu sẽ kể anh nghe chuyện Rufinux để minh chứng cho anh thế nào là lòng tự tôn của tác giả, - ông nói.
Song ông chưa kịp bắt đầu kể thì họ đã rẽ sang Vieux Patrixius và lát sau đã tới trước cửa nhà Aulux. Một tên nô lệ trẻ tuổi và lực lưỡng mở cánh cổng dẫn vào gian tiền sảnh, trên cổng, con chim khách bị nhốt trong lồng the thé kêu lên đón họ: “Salve”
Trên đường từ hiên trong - được gọi là ostium - vào chính sảnh, Vinixius hỏi:
- Cậu có để ý thấy tên gác cổng ở đây không bị xích hay không?
- Một cái nhà lạ lùng, - Petronius thấp giọng đáp. - Chắc anh biết rằng người ta ngờ bà Pomponia Grexyna tin theo một thứ tín ngưỡng đông phương, thờ một tay Crextox nào đó. Hình như chính ả Kryxpinila đã góp tay vào chuyện đó. Ả ta không thể nào tha thứ nổi cho bà Pomponia cái tội là chỉ có mỗi đức ông chồng mà cũng đủ cho bà ta suốt đời. Univiva ! … Ngày nay, ở La Mã, tìm một đĩa nấm sữa xứ Noricum còn dễ dàng hơn! Bà ta đã bị tòa án gia tộc xử…
- Cậu nói phải, quả là một cái nhà kì dị. Để rồi cháu sẽ kể cậu nghe những gì cháu đã được nghe và thấy nơi đây.
Lúc này, họ đã vào tới gian chính sảnh thông thiên. Tên nô lệ trông coi phòng này - được gọi là atriensis - phái viên xướng danh đi báo tin khách đến, còn đám tôi tớ thì đẩy tới cho họ những chiếc ghế ngồi cùng các đôn đặt chân. Petronius, vốn chưa hề đặt chân tới đây và đinh ninh rằng trong ngôi nhà khô khan này hẳn bao giờ cũng bao trùm một sự buồn tẻ vĩnh cửu, lúc này ngắm nhìn chung quanh với vẻ ngạc nhiên có nhuốm phần thất vọng, bởi gian phòng này lại gây cho người ta cảm giác vui tươi. Từ phía trên cao, qua một lỗ thông thiên lớn, một luồng ánh sáng rực rỡ chiếu xuống, vỡ ra thành hàng ngàn tia lửa trên đài nước phun. Một cái bể vuông vắn có vòi nước phun ở giữa - được gọi là impluvium - dùng để hứng nước mưa rơi qua lỗ thông thiên trong những ngày xấu trời, được viền quanh bằng những khóm thu mẫu đơn và huệ. Đặc biệt, hẳn là trong nhà này huệ rất được ưa chuộng, bởi chúng mọc thành những khóm lớn, cùng với những bụi diên vĩ màu trắng, màu đỏ và cả màu ngọc lam, với những cánh hoa tinh tế dường như được làn bụi nước dát bạc. Giữa những đám rêu ẩm ướt trong đó giấu kín các chậu huệ, giữa các vòm lá, ẩn hiện những pho tượng đồng tạc hình trẻ con và các loài thủy cầm. Trong một góc, một con nai cũng bằng đồng nghiêng cái đầu xanh màu gỉ đồng xuống nước như đang muốn uống. Sàn nhà trong gian chính sảnh được trang trí hoa văn, còn các bức tường thì một phần được ghép bằng cẩm thạch đỏ, một phần được vẽ hình cây cối, chim cá cùng thiên sứ, hấp dẫn mắt nhìn bởi sự phối trí hài hòa của màu sắc. Khung cửa dẫn sang các gian bên cạnh được trang trí bằng vỏ đồi mồi, thậm chí bằng cả ngà voi nữa. Giữa các cửa, dọc theo các bức tường, là tượng các vị tổ tiên của ông Aulux. Khắp nơi đều lộ rõ vẻ sung túc thanh bình không xa hoa mà thanh cao và đầy tự tin.
Mặc dù sống trong cảnh lộng lẫy và trang nhã hơn nhiều, song Petronius vẫn không sao tìm được ở đây một thứ gì có thể khiến ông không vừa ý. Ông quay sang định trao đổi điều đó với Vinixius thì vừa hay một tên nô lệ - velarius - kéo tấm rèm che giữa chính sảnh với văn phòng, và từ trong nhà hiện ra ông Aulux Plaxius đang vội vã bước tới.
Đó là một người đang tiến gần tới những ngày mãn chiều xế bóng của cộc đời, với mái đầu điểm màu sương, nhưng vẫn còn khoẻ mạnh, với khuôn mặt đầy nghị lực, hơi ngắn, song cũng hơi giống một cái đầu chim đại bàng. Lúc này, trên nét mặt ông lộ vẻ ngạc nhiên, thậm chí lo lắng về cuộc viếng thăm bất ngờ của người bạn, kẻ thân cận và tin cẩn của Nerô.
Là người rất hiểu biết và sắc sảo, Petronius lập tức nhận ra điều đó, nên ngay sau những lời thăm hỏi xã giao đầu tiên, ông liền nói với vẻ hùng hồn và khoáng đạt rất xứng với ông, rằng ông đến đây chỉ để đa tạ sự chăm sóc mà con trai người chị ruột của ông đã được hưởng trong ngôi nhà này, rằng nguyên do duy nhất của cuộc viếng thăm này là lòng biết ơn, thêm vào đó là tình quen biết từ lâu với ông Aulux.
Về phía mình, ông Aulux khẳng định rằng Petronius là một vị khách quí, còn nếu nói về lòng biết ơn, thì chính ông mới là kẻ phải hàm ơn, mặc dù có lẽ Petronius hẳn không đoán ra được lý do của sự biết ơn ấy.
Quả thực, Petronius không sao đoán ra. Ngước đôi mắt màu hạt dẻ lên trời, ông cố gắng nhớ lại một điều gì đó mình đã làm giúp ông Aulux hoặc một người nào khác, song ông chẳng nhớ ra một điều gì cả, có chăng là chuyện mà ông định nói với Vixinius. Dĩ nhiên, dù ông không chủ tâm thì cũng rất có thể là đã có một chuyện gì đó xảy ra, nhưng nói cho cùng đó chỉ là chuyện mà ông hoàn toàn không chú ý.
- Tôi rất quý trọng và đánh giá cao Vezpazian, - ông Aulux nói, - người mà ngài đã cứu mạng cái lần mà chẳng may anh ta thiếp đi trong lúc đang nghe thơ của hoàng đế.
- Thế là may cho anh ta đấy, - Petronius đáp - vì anh ta không phải nghe những bài thơ ấy, mặc dù tôi không dám cãi rằng chuyện ấy rất có thể sẽ kết thúc bằng một điều bất hạnh. Râu Đỏ muốn phái một viên xenturion mang tới cho anh ta lời khuyên bằng hữu, khuyên anh ta hãy tự mở phanh mạch máu mình ra.
- Còn ngài, thưa ngài Petronius, ngài đã cười giễu hoàng thượng.
- Đúng vậy, mà chính ra thì ngược lại: tôi bảo với hoàng thượng rằng, nếu như chàng Orfeus biết dùng tiếng ca để ru ngủ những loài dã thú, thì sự thắng lợi của hoàng đế cũng chẳng kém nào, bởi người đã ru ngủ được Vexpazian. Có thể phê phán Ahenobarbux, với điều kiện là trong một lời chỉ trích nhỏ phải chứa đựng một điều tán tụng lớn. Auguxta của chúng ta, nàng Poppea, thì hẳn là người thấu hiểu điều đó một cách tuyệt diệu.
- Than ôi, thời thế bây giờ là thế đấy!, - ông Aulux đáp, - Tôi bị khuyết mất hai chiếc răng cửa vì một hòn đá ném từ tay một tên người Brytania; khiến cho tiếng nói của tôi bây giờ trở nên lào phào, ấy thế mà những phút giây hạnh phúc nhất của đời tôi lại được hưởng chính ở vùng Brytania ấy đấy…
- Bởi đó là những phút giây chiến thắng, - Vinixius phụ họa.
Song Petronius e rằng vị lão tướng bắt đầu kể về những chiến tích thuở xưa của mình, liền thay đổi đề tài câu chuyện. Ở gần Praenexte, dân quê tìm thấy xác những con chó sói hai đầu, còn trong trận mưa giông vừa mới đây, sét đã đánh sạt một góc tường thần miếu Luna, một chuyện chưa từng nghe thấy bao giờ trong tiết thu muộn này. Một gã Kotta nào đó, người đã thuật lại cho ông chuyện này, còn nói thêm rằng các tăng lữ của thần miếu ấy đã dựa theo điềm gở nọ mà dự đoán trước sự sụp đổ của cả thành đô này, hay chí ít ra cũng là sự sụp đổ của một tòa nhà thật đồ sộ nào đó, điều này chỉ có thể cứu vãn được bằng cách những hiến vật siêu phàm mà thôi.
Nghe chuyện, ông Aulux nói rằng không thể coi thường những điềm báo trước như thế. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu các linh thần có thể nổi giận vì những tội ác ngày càng chồng chất, và nếu thế thì việc dâng hiến những lễ vật để khẩn cầu là chuyện hoàn toàn cần thiết.
Petronius bèn nói:
- Thưa ngài Plauxius, ngôi nhà của ngài không lớn lắm, mặc dù ở đây có một con người vĩ đại sinh sống; còn nhà của tôi, dẫu quá lớn so với một chủ nhân hèn mọn đến thế, song cũng vẫn là nhỏ bé. Nếu nói đến sự sụp đổ của một ngôi nhà vĩ đại tỷ như domus transitoria thì không rõ liệu có đáng để chúng ta phải hiến dâng lễ vật cầu xin cho sự sụp đổ ấy đừng diễn ra hay chăng?
Plauxius không trả lời câu hỏi ấy, sự thận trọng đó khiến Petronius hơi phật ý, bởi vì mặc dù ông hoàn toàn thiếu ý thức về việc phân biệt cái thiện với cái ác, song ông không bao giờ là kẻ ton hót, và người ta có thể trò chuyện với ông một cách tuyệt đối an toàn. Vì vậy, một lần nữa, ông lại lái câu chuyện theo hướng khác và bắt đầu ca ngợi ngôi nhà của ông Plauxius cùng sự hài hòa trong cách bài trí.
- Tệ xá này cũ kỹ rồi, - ông Plauxius đáp, - trong đó tôi chưa hề thay đổi tí gì kể từ khi tôi được thừa hưởng nó.
Sau khi đẩy bức bình phong ngăn giữa gian chính sảnh với văn phòng, ngôi nhà thông suốt một mạch, đến nỗi qua văn phòng, qua khoảng sân trong cùng với phòng tiệc - được gọi là oecus - có thể nhìn xuyên suốt đến tận vườn cây ở xa xa đang nổi bật lên như một bức tranh sáng sủa được đóng khung sẫm mầu. Từ phía đó, tiếng cười trẻ thơ vui vẻ vọng vào tận chính sảnh.
- Ôi, thưa tướng quân, - Petronius thốt lên, - hãy cho chúng tôi được nghe gần hơn tiếng cười sảng khoái đó, tiếng cười thật hiếm có vào thời buổi bây giờ.
- Rất vui lòng, - ông Plauxius vừa đáp vừa đứng dậy, - Đó là cháu Aulux đang chơi bóng với Ligia. Song nếu nói đến tiếng cười, thì thưa ngài Petronius, tôi ngỡ rằng cả cuộc đời ngài đều trôi qua trong tiếng cười chứ ạ?
- Bởi cuộc đời nực cười nên tôi phải cười, - Petronius đáp, - còn ở đây tiếng cười khác hẳn.
- Mà nói cho đúng ra thì ngài Petronius không cười suốt ngày mà chỉ cười suốt đêm thôi, - Vinixius nói thêm.
Vừa trò chuyện họ vừa đi xuyên suốt dọc ngôi nhà và bước vào mảnh vườn, nơi nàng Ligia và chú bé Aulux đang chơi bóng ném, những quả bóng được đám nô lệ chuyên phục vụ cho trò chơi này, gọi là các spheristae - nhặt lên và đưa đến tận tay họ. Petronius liếc nhanh nhìn Ligia, cậu bé Aulux thì vừa trông thấy Vinixius liền chạy tới chào chàng, còn chàng khi đi ngang qua, chàng cúi đầu chào nàng thanh nữ xinh đẹp đang đứng cầm quả bóng trong tay, với mái tóc hơi xõa ra, hơi thở gấp gáp và khuôn mặt ửng hồng.
Bà Pomponia Grexyna đang ngồi trong tòa yến đình ở giữa vườn, có các dây nho, trường xuân và dương thảo rủ che bóng mát. Họ bèn tiến đến chào bà. Với Petronius, mặc dù ông ít khi lui tới nhà họ Plauxius song bà vốn là chỗ quen biết, vì ông thường gặp bà ở nhà Antyxtia, con gái của Rubelius Plauto, ở các gia đình thuộc dòng họ Xeneka và ở nhà Polion. Ông không sao tránh khỏi bị thu hút bởi nỗi ngạc nhiên trước nét mặt buồn buồn nhưng thanh thản của bà, sự thanh cao trong dáng vẻ, trong cử chỉ và lời nói của bà. Bà Pomponia là người làm đảo lộn những quan niệm của ông về đàn bà đến mức con người hư hỏng tới tận xương tủy và tự tin nhất trong toàn La Mã này không những chỉ cảm thấy kính trọng bà mà tự nhiên còn đâm ra bớt tự tin hơn. Giờ đây, trong khi cảm ơn bà đã chăm sóc Vinixius, vô tình ông lại dùng chữ: “domina” , chữ mà trong khi nói chuyện với những người khác, thí dụ như với Kanvia Kryxpinla, với Xkrybonia, với Valeria, với Xolina hay các công nương thế phiệt trâm anh khác, chẳng bao giờ ông nghĩ tới. Sau khi chào hỏi và bày tỏ lời cảm ơn, ông bắt đầu phàn nàn ngay rằng hiếm khi ông được gặp bà Pomponia, rằng cả ở hí trường lẫn ở nhà hát đều không thấy mặt bà. Nghe thấy thế, bà liền đặt tay lên bàn tay chồng, bình thản đáp:
- Chúng tôi già rồi, cả hai chúng tôi càng ngày càng thích cái xó nhà yên tĩnh này hơn.
Petronius định phản đối, nhưng Aulux Plauxius đã nói thêm bằng cái giọng lào phào của ông:
- Và càng ngày chúng tôi càng thấy lạc lõng giữa mọi người, những kẻ dám gọi các vị thần linh La Mã của chúng ta bằng những cái tên Hi Lạp.
- Từ một lúc nào đấy, các thần đã trở thành những hình tượng hoa mỹ, - Petronius thản nhiên đáp, - mà bởi vì khoa ăn nói văn hoa lại do chính người Hi Lạp truyền cho chúng ta, nên thí dụ, đối với bản thân tôi chẳng hạn, gọi Hera dễ hơn là Juno.
Vừa nói thế, ông vừa đưa mắt nhìn bà Pomponia như muốn nói rằng, đứng trước bà, ông không thể nghĩ tới một vị thần nào khác ngoài chính nữ thần Hera, rồi tiếp đó, ông bắt đầu phản đối những điều bà nói về tuổi già: “Con người ta già đi chóng thật, nhưng đó là những kẻ sống một cuộc sống khác kia, thêm nữa có những khuôn mặt dường như được thần Xaturn hoàn toàn lãng quên”. Quả thực, Petronius nói điều đó phần nào chân thật, bởi vì dù đang ở vào buổi xế chiều của cuộc đời, bà Pomponia Grexyna vẫn giữ được một làn da óng ả khác thường, bà có cái đầu nhỏ bé và khuôn mặt thon thả, nên bất chấp bộ váy áo màu sẫm cùng vẻ trang nghiêm buồn bã của bà, nom bà nhiều khi vẫn như thiếu phụ hoàn toàn trẻ trung.
Lúc ấy, cậu bé Aulux, vốn đã kết thân với Vinixius trong thời gian chàng còn ở nhà này, bước lại gần chàng và mời chàng cùng chơi bóng. Theo sau cậu bé, cả nàng Ligia cũng bước vào yến đình. Dưới bức rèm của những cây trường xuân, với những điểm sáng lung linh trên nét mặt, ông Petronius thấy nàng càng xinh đẹp hơn hẳn lúc mới thoạt nhìn, và quả thực, trông nàng hệt như một thiếu nữ. Vì đến lúc ấy ông chưa nói lời nào với nàng, ông bèn nhỏm dậy, cúi đầu về phía nàng và thay cho những lời xã giao thông thường, ông cất tiếng đọc những lời mà chàng Ôđyxê đã dùng để chào hỏi nàng Nauzyka:
Ta không rõ nàng là thần tiên hay người trần thế,
Song nếu nàng là con của đất hạ giới này
Thì phúc đức thay bậc cha mẹ đã sinh nàng,
Và may mắn thay cho anh em ruột thịt…
Cả đến bà Pomponia cũng thấy thích thú bởi sự lịch thiệp đầy trang nhã của con người quảng giao ấy. Còn Ligia, nghe thấy những lời ấy, nàng bối rối đỏ bừng mặt, không dám ngước mắt nhìn lên. Song dần dần, khoé môi nàng bắt đầu rung rung một nét cười tinh nghịch, và trên nét mặt nàng có thể nhận thấy sự tranh chấp giữa nỗi ngượng ngùng trinh nữ với ý muốn được cất tiếng đáp lời, rồi sau, hẳn là cái ý muốn kia giành phần thắng, nên nàng ngẩng đầu nhìn Petronius, rồi trả lời ông bằng chính lời lẽ của nàng Nauzyka, nhưng đọc thẳng một hơi như trả lời bài đọc thuộc lòng:
Chàng đâu phải kẻ tầm thường - và trí óc chàng cũng chẳng tầm thường.
….
Rồi quay ngoắt người, nàng chạy vụt đi, như một con chim hoảng hốt bay trốn.
Lúc này đến lượt Petronius kinh ngạc, bởi ông không sao ngờ rằng sẽ được nghe tiếng thơ của Homer từ miệng một thiếu nữ có gốc gác dã man mà trước đó Vinixius đã nói cho ông biết. Ông đưa mắt hỏi bà Pomponia, song bà không thể trả lời ông, vì lúc ấy bà đang mỉm cười ngắm nhìn vẻ tự hào hiện rõ trên nét mặt ông Aulux.
Ông Aulux không thể nào giấu nổi lòng tự hào. Trước hết, bởi vì ông gắn bó với Ligia như với con đẻ, sau nữa, mặc dù những định kiến Cổ La Mã của ông bắt ông chống lại nền văn hóa Hi Lạp cũng như việc phổ biến nền văn hóa ấy, song chính ông vẫn coi nó là đỉnh cao của phép xã giao bằng hữu. Bản thân ông chưa bao giờ được học tập nền văn hóa đó cho đến đầu đến đũa - điều mà ông thầm đau xót - nên giờ đây ông sung sướng khi thấy đức ông sang trọng kiêm văn sĩ này, kẻ có lẽ sẵn sàng coi gia đình ông là một gia đình mọi rợ, đã được trả lời bằng tiếng nói, bằng tiếng thơ của Homer ngay tại chính nhà ông.
- Ở nhà chúng tôi có gia sư người Hi Lạp, - ông quay lại nói với Petronius, - người đó dạy dỗ cháu trai của chúng tôi, còn con bé chỉ nghe lỏm các bài học mà thôi. Cháu nó còn láu táu, nhưng là sự láu táu đáng yêu mà cả hai chúng tôi đều quen rồi.
Lần này, Petronius nhìn qua những cành trường xuân và kapryfolium ) trông ra vườn ngắm nhìn bộ ba đang chơi đùa. Chàng Vinixius đã cởi bỏ áo toga, chỉ mặc áo tunica, ném bổng một trái bóng lên không, còn Ligia đứng ở phía bên đối diện vươn tay lên bắt bóng. Thoạt nhìn qua, thiếu nữ không gây cho ông Petronius một ấn tượng gì đáng kể. Ông cho là nàng hơi quá mảnh mai. Nhưng từ sau lúc nhìn nàng gần hơn trong gian yến đình, ông chợt nghĩ rằng có lẽ nữ thần Rạng Đông dung mạo cũng giống như nàng, và vốn là người sành sỏi, ông nhận thấy ngay ở nàng một cái gì đó khác thường. Ông để ý và đánh giá tất cả, khuôn mặt trong trẻo hồng hào, làn môi thanh khiết tựa như đang chúm thành một nụ hôn, cặp mắt xanh biếc như màu biển thắm, vẻ trắng tinh của vầng trán, sự tươi tốt của mái tóc màu sẫm với những gợn sóng óng ả sắc hổ phách hoặc màu đồng thau Koryntơ, cái cổ nhẹ nhõm và bờ vai xuôi đầy vẻ thiên thần, và toàn bộ vóc dáng mềm mại, mảnh mai, tươi trẻ sức xuân của tháng năm, sức xuân của những bông hoa vừa hé nở. Người nghệ sĩ và kẻ tôn thờ Cái Đẹp trong ông bừng tỉnh, ông cảm thấy rằng, dưới pho tượng của nàng thanh nữ này hẳn phải đề hai chữ: “Nàng Xuân”. Bỗng nhiên, ông chợt nghĩ đến cô nàng Khowryzotemix và mỉm một nụ cười trống rỗng. Với bụi phấn vàng rắc trên mái tóc, với cặp lông mày tô đen, đối với ông, cô nàng bỗng úa tàn như trong một câu chuyện thần thoại, nàng là một thứ gì giống như những cánh hoa hồng héo úa thảm thương. Ấy thế mà cả Roma đã phải ghen với ông chính vì cái cô nàng Khowryzotemix ấy. Rồi ông lại nghĩ tới nàng Poppea, và cả nàng Poppea lừng danh ấy đối với ông cũng chỉ có vẻ như một cái mặt nạ bằng sáp không hồn. Còn cô thiếu nữ với vóc dáng như những bức tượng xứ Tanagra này thì không những chỉ là mùa xuân thôi - nàng chính là nữ hoàng Pxyse lộng lẫy ánh hào quang, ánh hào quang phát ra từ cơ thể hồng hào của nàng, tựa như ngọn lửa tỏa sáng qua bóng đèn vậy.
“Vinixius nói phải,” - ông nghĩ thầm, - “còn Khowryzotemix của ta già cỗi như thành Tơroa vậy!”
Ông quay sang phía bà Pomponia Grexyna, và trỏ ra vườn, ông nói:
- Bây giờ tôi hiểu ra rằng, thưa domina, với hai đứa trẻ thế này thì hẳn ông bà thích ở tại gia hơn là dự yến tiệc ở điện Palatyn hay đến các hý trường.
- Thưa vâng, - bà đáp và đưa mắt về phía cậu bé Aulux và Ligia.
Còn vị lão tướng bắt đầu kể lai lịch cô gái, và thuật lại những điều mà nhiều năm về trước, ông nghe Atelius Hixter kể về dân tộc Ligi sống trong bóng tối phương bắc.
Đám thanh thiếu niên đã thôi chơi bóng và đang đi dạo trên nền cát trải trong vườn, trên cái nền màu tối của những cây sim thơm và cây trắc bá, họ nổi bật lên như ba pho tượng màu trắng. Ligia dắt tay chú bé Aulux. Đi dạo một lúc, họ ngồi xuống cạnh bồn nước nhỏ giữa vườn. Một lúc sau, chú bé Aulux bật dậy để dọa lũ cá đang bơi lội trong làn nước trong vắt. Còn Vinixius thì tiếp tục câu chuyện đã bắt đầu từ lúc đi dạo:
- Chính vậy đó, - chàng nói bằng giọng trầm trầm và run run, - vừa lớn lên là người ta đã phái tôi tới các chiến đoàn Á Châu. Tôi chưa hề được biết thành đô, cũng như đời sống và ái tình. Tôi thuộc lòng được một ít thơ Anakreontơ và Horaxius, song tôi không thể đọc nổi thơ như cậu Petronius vào lúc mà trí óc tôi bị choáng đi vì lòng ngưỡng mộ, tôi không sao tìm ra nổi lời cho mình. Hồi hãy còn là một đứa trẻ, tôi học ở trường của Muzonius, người thường nói với chúng tôi rằng hạnh phúc chính là sự ham muốn những gì mà các vị linh thần ham muốn, nghĩa là hạnh phúc tùy thuộc vào ý chí của chúng ta. Song tôi lại nghĩ rằng, còn có một thứ hạnh phúc khác nữa, to lớn hơn và quý giá hơn, thứ hạnh phúc không lệ thuộc vào ý chí, bởi vì chỉ có tình yêu mới cho ta có được thứ hạnh phúc đó mà thôi. Chính các thần cũng phải tìm kiếm thứ hạnh phúc ấy, vậy nên tôi, hỡi nàng Ligia, kẻ chưa từng được nếm mùi tình ái cho tới nay, cũng theo các thần đi tìm người thiếu nữ muốn mang lại cho tôi hạnh phúc…
Chàng nín lặng, và suốt giây lâu chỉ nghe thấy tiếng nước reo lóc bóc do những hòn sỏi mà cậu bé Aulux ném dọa lũ cá gây ra. Lát sau, Vinixius lại cất tiếng, giọng chàng càng trở nên mềm mại và khẽ khàng hơn nữa:
- Nàng hẳn biết chàng Tytux, con trai của ngài Vexpazian? Người ta nói rằng, vừa qua tuổi hoa niên, chàng đã say mê nàng Berenika đến nỗi suýt nữa nỗi tương tư đã hút cạn sinh lực của chàng… Ôi, Ligia, tôi cũng có thể biết yêu như thế… của cải, quang vinh, quyền bính - chỉ là những đám phù vân rỗng tuếch. Kẻ giàu sẽ tìm ra người giàu có hơn mình, kẻ vinh quang sẽ bị che lấp đi bởi một ánh vinh quang của người khác còn lớn hơn, kẻ hùng mạnh sẽ bị người hùng mạnh hơn chinh phục… Song liệu Hoàng đế, liệu có vị linh thần nào có được nỗi sung sướng và hạnh phúc hơn một kẻ trần tục không bất tử thường tình được chăng, khi ngực chàng được kề bên một lồng ngực thân yêu, khi chàng hôn lên đôi môi yêu quý…? Cho nên, hỡi nàng Ligia, tình yêu sẽ làm cho chúng ta sánh ngang với các thần.
Nàng nghe, lòng lo lắng và kinh ngạc, song đồng thời lại ngỡ mình được nghe tiếng sáo Hi Lạp réo rắt hay như tiếng đàn tranh. Đôi lúc nàng ngỡ như Vinixius đang hát một khúc ca kỳ diệu nào đó, khúc ca ấy thấm vào tai nàng, làm xao động bầu máu nàng, đồng thời xâm chiếm trái tim nàng bằng một sự choáng ngợp, một nỗi e sợ và một niềm vui xôn xao khó hiểu nào đó. Và nàng cũng ngỡ như chàng đang nói điều gì đó đã từng có sẵn trong lòng nàng, song tự nàng chưa hiểu nổi. Nàng cảm thấy chàng làm tỉnh thức trong nàng một thứ gì đó cho tới nay vẫn còn đang say ngủ, rằng chính lúc này đây, giấc mộng ẩn hiện trong làn sương mơ màng đang hiện thành những hình nét, mỗi lúc một rõ hơn, mỗi lúc một đáng yêu, mỗi lúc một tuyệt vời hơn.
Lúc đó, mặt trời đã ngả sang bên kia sông Tyber từ lâu và hạ thấp xuống gần ngọn đồi Janikun. Ráng đỏ chiếu xuống những cây trắc bá bất động và cả bầu khí quyển tràn ngập ánh chiều. Ligia ngước đôi mắt xanh biếc như vừa sực tỉnh giấc mơ lên nhìn Vinixius. Và thốt nhiên, đối với nàng, chàng trai đẫm ánh hoàng hôn đang cúi nhìn nàng với lời khẩn cầu lung linh trong mắt, trở nên xinh đẹp hơn hết thảy mọi người, hơn cả những vị thần Hi Lạp và La Mã, những vị thần mà nàng vẫn thường thấy được đặt tượng ở mặt trước thánh đường. Những ngón tay chàng khẽ khàng nắm lấy tay nàng, phía trên cổ tay một chút, và chàng hỏi:
- Ơi Ligia, lẽ nào nàng không đoán ra tại sao tôi lại nói những lời ấy với nàng chăng?...
- Không - nàng thì thầm rất khẽ, chỉ vừa đủ cho Vinixius nghe. Song chàng không chịu tin và kéo tay nàng mỗi lúc một mạnh hơn, để áp lên trái tim đang đập dồn dập bởi mỗi khao khát vừa được nàng thiếu nữ tuyệt vời làm cho tỉnh thức, và suýt nữa thổ lộ thẳng với nàng những lời cháy bỏng, nếu như trên lối đi nhỏ được đóng khung giữa những bụi sim thơm, ông già Aulux không xuất hiện. Ông bước lại gần và nói:
- Mặt trời sắp lặn rồi, các người hãy đề phòng cái lạnh ban chiều và đừng bỡn cợt với Libitynia.
- Thưa không ạ, - Vinixius đáp, - cháu không mặc áo toga mà vẫn không thấy lạnh.
- Mặt trời lặn xuống núi một nửa rồi, - vị lão tướng đáp, - cứ như là cái khí hậu dễ chịu ở Xyxilia, nơi chiều chiều cư dân thường tụ tập trên bãi chợ để hát đồng ca giã từ thần Feba đang lặn đi vậy.
Và quên bẵng đi rằng mình vừa mới nhắc nhở phải đề phòng Libitynia, ông lão lại bắt đầu kể chuyện về hòn đảo Xyxilia, nơi ông có những trang ấp và nông trại lớn mà ông rất say mê. Ông nói rằng nhiều khi ông định chuyển hẳn ra Xyxilia để được sống một cuộc đời bình lặng tại đó. Ông đã chán ngán cái cảnh băng giá giữa mùa đông, những mùa đông đã làm cho mái đầu ông nhuốm bạc. Cây còn chưa rụng lá và bầu trời rộng lượng hãy còn đang mỉm cười trên thành phố, song khi những dây nho úa vàng, khi tuyết bắt đầu rơi trên dãy núi Anban, khi các vị thần cỡi những cơn lốc tuyết tới thăm vùng đồng bằng Kampania, thì chưa chừng ông cùng cả gia quyến chuyển về cái dinh thự ấm cúng ở nông thôn cũng nên.
- Ngài muốn rời bỏ Roma ư, thưa ngài Plauxius? - Vinixius hỏi với một nỗi lo lắng bất thần.
- Tôi mong muốn điều ấy đã lâu, - Ông Aulux đáp.
Rồi ông lại tiếp tục ngợi ca những khu vườn, đàn gia súc của ông, ngôi nhà ẩn trong cây lá xanh tươi và những quả đồi phủ đầy thạch xương bồ và cỏ xạ hương với tiếng rì rào của những đàn ong mật. Song Vinixius không chú ý đến cái “khúc nhạc đồng quê” ấy, chàng chỉ nghĩ tới một điều là chàng có thể bị mất Ligia, và chàng liền nhìn về phía Petronius, dường như chờ đợi ở ông sự ứng cứu độc nhất.
Trong khi đó, ngồi cạnh bà Pomponia, Petronius thích thú ngắm cảnh mặt trời lặn, ngắm khu vườn và những người đang đứng cạnh khu ươm cây. Những bộ quần áo màu trắng của họ được ánh chiều nhuộm vàng rực nổi bật lên trên nền mầu tối của những cây sim thơm. Trên trời, ráng chiều gần ngả sang màu tía, màu tím rồi chuyển thành màu đá tản bạch. Vòm trời nhuốm màu lam tím, hình bóng đen thẫm của những cây trắc bá nổi lên còn rõ nét hơn so với ban ngày, và sự thanh thản ban chiều tràn ngập cả con người lẫn cây cối trong toàn khu vườn.
Vẻ thanh thản này tác động mạnh tới ông Petronius đặc biệt là vẻ thanh thản ở những con người. Trên nét mặt của bà Pomponia, của ông Aulux, đứa con trai của họ cũng như nàng Ligia có vẻ gì đó mà ông ít khi được thấy trên những bộ mặt khác, những bộ mặt ngày ngày - hay nói đúng hơn: đêm đêm - vẫn vây quanh ông, trên nét mặt họ có một thứ ánh sáng nào đó, một sự dịu dàng bình thản nào đó, xuất phát trực tiếp từ cuộc sống mà người ta đang sống nơi đây.
Và ông chợt ngạc nhiên khi nhận ra rằng, có thể tồn tại một cái đẹp và một sự dịu ngọt mà chính ông - con người luôn luôn săn tìm cái và đẹp sự dịu ngọt - chưa từng bao giờ được biết đến. Không giấu nổi ý nghĩ ấy, ông quay sang nói với bà Pomponia:
- Tôi thầm cân nhắc trong lòng: cái thế giới của ông bà mới khác cái thế giới mà Ngài Nerô của chúng ta đang ngự trị làm sao.
Bà Pomponia ngước khuôn mặt thon nhẹ của mình lên nhìn ráng chiều và đáp lại một cách tự nhiên:
- Không phải Nerô mà là Đức Chúa đang ngự trị thế giới.
Một giây yên lặng. Có thể nghe thấy tiếng bước chân của vị tướng già, Vinixius, Ligia và chú bé Aulux ở gần yến đình. Trước khi họ đến, Petronius còn hỏi thêm:
- Vậy ra bà vẫn còn tin vào các vị thần linh ư, hỡi Pomponia?
- Tôi tin vào Đức chúa, Người là duy nhất, công minh và toàn năng - vị phu nhân của ông Aulux Plauxius đáp.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 3
- Bà ta tin vào một Đức Chúa duy nhất, toàn năng và công minh - Petronius nhắc lại khi ông ngồi vào kiệu cùng với Vinixius. - Nếu quả Đức Chúa của bà ta là toàn năng thì ông ta sẽ cai quản được cả sự sống lẫn cái chết, nếu như ông ta lại công minh nữa thì hẳn là ông ta phải phân phát cái chết một cách hợp lý. Vậy thì tại làm sao bà Pomponia lại còn phải để tang Julia? Thương tiếc Julia thì cũng có nghĩa là bà ta đã phê phán Đức Chúa của mình. Cậu phải lặp lại các lập luận này với con khỉ râu đỏ của chúng ta mới được, bởi cậu cho rằng, trong phép biện chứng thì cậu sánh ngang với Xocrtex. Còn nói về đàn bà, cậu thừa nhận rằng mỗi mụ có tới ba bốn linh hồn, song chẳng mụ nào có được một linh hồn biết tư duy cả. hãy để cho bà Pomponia cùng với Xeneka hay Kornulux suy xét xem cái logox vĩ đại của họ. Họ là cái quái gì… Cứ để cho họ cùng nhau kêu gọi hương hồn của Kxenofanex Paemenid, Zenon và Platon đang buồn chán ở xứ sở Kimery, giống như những con chim bạch yến bị giam hãm trong lồng. Còn cậu, cậu muốn nói với bà ta và ông Plauxius về chuyện kia. Thề trên cái bụng thiêng liêng của nữ thần Izyx người Ai Cập! Giả như cậu nói thẳng với họ mục đích của chúng ta thì e rằng các đức hạnh của họ sẽ kêu vang lên như một cái đĩa bằng đồng bị cái dùi cui đập vào vậy. Song cậu đâu dám thế! Cậu không dám thật đấy, Vinixius! Lũ công là một loài chim đẹp, nhưng kêu kinh lắm. Mà cậu thì lại sợ tiếng kêu. Song cậu cũng phải khen cho sự lựa chọn của anh đấy. Quả là một “Nữ thần Rạng Đông với những ngón tay hồng”… Anh có biết nàng gợi cho cậu nghĩ tới điều gì không? - Mùa xuân! - Mà không phải mùa xuân ở Italia của chúng ta, nơi những cành táo mới trổ hoa, còn những câu ô liu đang xám xịt đi như đã bị xám bao đời, mà là thứ Mùa xuân có hồi cậu được chiêm ngưỡng ở Henvexia mùa xuân tươi trẻ, trinh khiết, xanh nõn nà… Thề có vầng nguyệt Xelena nhợt nhạt kia, cậu không ngạc nhiên về anh đâu. Marek ạ, song anh cũng nên biết rằng anh vốn mến nữ thần Điana, còn ông Aulux và bà Pomponia thì lại sẵn sàng xé xác anh ra, như hồi nào đàn chó đã xé xác Akteon vậy.

Không ngẩng đầu lên, Vinixius im lặng giây lâu, rồi bằng một giọng nói đứt quãng bởi nỗi khát vọng, chàng trai nói:
- Trước kia cháu khao khát nàng, giờ đây cháu lại càng khao khát nàng gấp bội. Khi cháu cầm lấy tay nàng, cháu tưởng như bốc lửa… Cháu phải có được nàng. Giá cháu là thần Zeux, cháu sẽ cuộn chặt nàng vào trong mây như thần đã vây bọc nàng lô vậy, hoặc sẽ làm những hạt mưa vàng rơi xuống với nàng như thần đã xuống với nàng Đanae. Cháu muốn hôn siết môi nàng đến đau đớn. Cháu muốn được nghe tiếng kêu thét của nàng trong vòng tay của cháu. Cháu sẵn sàng giết chết cả ông Aulux lẫn bà Pomponia để cướp lấy nàng và ôm trên tay mang về nhà cháu. Hôm nay cháu sẽ không ngủ. Cháu phải ra lệnh hành hạ một tên nô lệ nào đó để được nghe tiếng kêu la của nó…
- Dù sao mặc lòng, nhất định cháu phải chiếm cho được nàng. Cháu đã đến để cầu xin lời khuyên bảo của cậu, nếu như cậu không tìm ra phương sách, thì cháu sẽ tự tìm lấy… Ông Aulux xem Ligia như con gái thì tại sao cháu lại phải coi nàng là nô tỳ? Vậy, nếu như không còn cách nào khác thì hãy để cho nàng được làm người vợ hiền quấn tơ ở cửa nhà cháu, xoa mỡ sói lên đó và ngồi bên bếp lửa nhà cháu.
- Hãy bình tĩnh lại đi, hỡi đứa con cuồng nộ, dòng dõi các vị chấp chính quan tối cao! Không phải chúng ta buộc dây lôi lũ dân mọi rợ đó theo sau xe của chúng ta là để cưới đám con gái của chúng nó. Chớ có làm liều! Hãy biết tận dụng những biện pháp đơn giản và trung thực trước đã, hãy để cho cả anh lẫn ta có thì giờ suy nghĩ. Ta cũng đã từng coi Khowryzotemix như con gái của chính thần Jupiter, nhưng ta vẫn không lấy nàng làm vợ, cũng như Nerô không cưới Akte, mặc dù hắn đã dựng nàng thành con gái của vua Attan. Bình tâm lại đi… Anh thử nghĩ xem, nếu như vì anh, nàng muốn rời bỏ nhà họ Aulux, thì họ đâu có quyền giữ nàng lại, thêm nữa tự anh cũng biết đấy, đâu phải chỉ mỗi mình anh sôi sục, mà ngay cả ở nàng nữa, thần ái tình Erox cũng đã nhen một ngọn lửa lên rồi… Chính ta nhận thấy điều đó, mà lời ta thì cần phải tin. Hãy biết kiên nhẫn chút nào! Việc gì cũng sẽ có cách hết, nhưng hôm nay thì cậu cũng đã phải suy nghĩ quá nhiều nên mệt rồi. Cậu hứa với anh là ngày mai cậu sẽ suy nghĩ về chuyện ái tình của anh và có lẽ Petronius sẽ không phải là Petronius nữa nếu như hắn không tìm ra được một phương sách nào đó.
Cả hai lại im lặng, mãi sau Vinixius mới cất tiếng nói, đã bình tĩnh hơn:
- Xin cảm ơn cậu, cầu mong Thần Tài Fortuna sẽ hào phóng với cậu.
- Hãy kiên tâm
- Cậu cho cáng đến đâu thế ạ?
- Đến nhà Khowryzotemix…
- Cậu thật là hạnh phúc, vì cậu có được con người mà cậu yêu dấu.
- Cậu ấy à? Anh có biết điều gì ở Khowryzotemix còn làm cậu thú vị không? Đó chính là vì nàng phản bội cậu để ngoại tình với một tên nô lệ giải phóng của cậu, thằng cha Teoklex chuyên đánh thi cầm, mà vẫn nghĩ rằng cậu không hề nhận thấy chuyện đó. Cũng đã có lúc cậu từng yêu nàng, còn bây giờ thì những điều dối trá và ngu ngốc của nàng lại khiến cho cậu thích thú. Anh hãy cùng cậu đến chỗ nàng. Nếu như nàng bắt đầu ve vãn anh và dùng ngón tay chấm vào rượu nho để viết chữ lên mặt bàn, thì xin anh hãy nhớ cho rằng cậu không phải là kẻ hay ghen đâu nhé!
Và họ ra lệnh cho cáng đến nhà Khowryzotemix.
Song, khi vào đến gian tiền đình, Petronius chợt đặt tay lên vai Vinixius và bảo:
- Khoan đã, hình như cậu đã nghĩ ra một cách.
- Cầu tất cả các vị thần ban thưởng cho cậu…
- Phải rồi! Ta cho rằng cách này là chắc chắn. Này Marek…
- Cháu nghe đây, hỡi thần Atena của cháu…
- Chỉ vài ngày nữa thôi là nàng Ligia thần thánh sẽ được ăn những hạt giống của nữ thần Đemeter ở nhà anh
Cậu thật vĩ đại hơn cả Hoàng đế! - Vinixius reo lên vì sung sướng.



Chú Thích:
Theo triết học của phái khổ hạnh, Logox là động lực của thế giới, vũ trụ. Theo triết học Filon, Logox là con của Đức Chúa, là mực thước của thế giới. Theo Tin lành của Jan, Logox chính là Đức Chúa Trời, được hiện hình trong hình tượng chúa Jexu.
Đăng nhập để trả lời
0