📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tuyển tập truyện ngắn nước ngoài 🔒

14 trả lời, 1.318 lượt xem — Trang 1 / 1

Người gửi: nvh291
Thể loại: Tuyển tập truyện ngắn nước ngoài
Tác giả: Nhiều tác giả
Tựa: Mục lục
Người đánh máy: nvh291
Trích:
THÂN BÀI:

MỤC LỤC
ACGHELEC MIGHEN K. (PHILIPPIN) ...................................................................................
LÀM ĐÀN ÔNG.............................................................................................
ANATOLI AFANAXIEV (NGA)................................................................................................
LÀM QUEN.................................................................................................
AILIXLI ACRAM (AZERBAIJAN) ...........................................................................................
BIỂN XANH................................................................................................
ATANAXOV GHERXO (BULGARIA) .....................................................................................
SANG TRÁI BƯỚC .....................................................................................
BACLANOV GRIGORI (NGA)..................................................................................................
MỘT CƠN ĐAU KHỔ GIÁ BAO NHIÊU ..................................................
BAUTIXTA PAVLO N (PHILIPPIN)........................................................................................
LÁ BÙA........................................................................................................
BOGOMOLOV VLADIMIR (NGA)...........................................................................................
MỐI TÌNH ĐẦU..........................................................................................
BONDAREV IURI (NGA) .........................................................................................................
NHỮNG KHOẢNH KHẮC .........................................................................
BULGACOV MIKHAIL (NGA).................................................................................................
VƯƠNG MIÊN Ở HISTORIA MORBI .......................................................


BUZZATI DINO (ITALIA) ........................................................................................................
BÍ MẬT NHÀ VĂN......................................................................................
DINO BUZATTI (ITALIA) ........................................................................................................
CÔ GÁI BAY XUỐNG DƯỚI ......................................................................
BUZZATI DINO (ITALIA) ........................................................................................................
CUỘC QUYẾT ĐẤU ...................................................................................
DINO BUZATTI (ITALIA) ......................................................................................................
GẶP GỠ EINSTEIN..................................................................................
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0

Người gửi: nvh291
Thể loại: Tuyển tập truyện ngắn nước ngoài
Tác giả: Nhiều tác giả
Tựa: Lời người dịch
Người đánh máy: nvh291
Trích:
THÂN BÀI:

LỜI NGƯỜI DỊCH
Những ô cửa...
Có người ví tác phẩm văn học dịch như ô cửa sổ nhìn ra
thế giới bên ngoài. Là một người dịch, trong nhiều năm lao
động, tôi đã gắng gỏi góp phần tạo ra những ô cửa sổ như
vậy. Và trong số các dịch phẩm của tôi, bên cạnh vài ba
chục truyện vừa, tiểu thuyết, còn có một ít truyện ngắn đã
đăng trên các trang báo, tạp chí và các tập sách chung - số
lượng so với các dịch giả khác không nhiều nhưng thu nhặt
lại cũng được một tập sách - một ô cửa nữa - nay xin trình
bạn bè và độc giả coi như một kỉ niệm giao thời thế kỉ.
Những truyện ngắn này tôi dịch rải rác trong nhiều
năm, việc lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên, không theo một
tiêu chí thống nhất nào, qua nhiều nguồn sách báo, của các
tác giả thuộc các châu lục, quốc gia khác nhau - từ Bắc Âu
đến Đông Nam á, từ ấn Độ đến Trung - Nam Mĩ. Tuy nhiên,
bây giờ tập hợp và nhìn lại những cái không hệ thống đó
cũng thấy thú vị, thậm chí là bổ ích - giá trị của thống kê,
xác suất chính là ở những tập hợp ngẫu nhiên - nó cho biết
mình muốn tìm đến những không gian nào, đã nhìn ra
những khung cảnh nào. Và nếu xếp tôi là một ngẫu nhiên
vào trong hệ thống, thì ở chừng mực nhỏ nhoi nào đó tôi
thấy phần việc tôi làm cũng phản ánh tâm thế con người và
xã hội của giai đoạn lịch sử chúng tôi tồn tại và hoạt động.
Như vậy, những tác phẩm văn học dịch còn là những ô cửa
nhỏ để người ta nhìn vào mình và hiểu biết mình.
Tôi chỉ biết một ngoại ngữ - là tiếng Nga - nên tầm nhìn
qua các ô cửa sổ của tôi trổ ra hiển nhiên là hạn chế nhiều.
Tôi chọn tên một thiên truyện của nhà văn Nga đặt tựa cho
tập sách này - Những ô cửa màu xanh. Ước mong cho những
ô cửa ta nhìn vào - ra nhau mang màu xanh - yên bình, thân
thiện.
Đoàn Tử huyến
Hà Nội, cuối năm đầu thiên niên kỉ
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
ACGHELEC MIGHEN K.
PHILIPPIN
LàM ĐàN ÔNG

Ricardo đứng trước chiếc tủ gương và thở đều, sâu. Anh ưỡn vai,
nắm chặt tay vung ra bốn phía, lên gân co duỗi và mỉm cười hài lòng
với những bắp thịt dẻo dai nổi hằn lên trên cánh tay của mình...
Một lúc sau, Ricardo đã đi trên đường. Anh bước rất nhanh, quả
quyết, nện gót chân lên những hòn đá lát. Mắt trông thẳng về phía
trước, anh không nhìn thấy gì hết, thậm chí cả mặt trăng đang rọi
sáng con đường anh đi. Tất cả suy nghĩ của anh đều hướng về Lina và
Dodon.
Ricardo yêu Lina, con gái của Teronio, một chủ hiệu buôn. Dodon,
con trai người thợ cắt tóc, một thanh niên gầy gò, là kẻ tình địch của
anh.
Ricardo tán tỉnh, săn đón Lina đã lâu, và theo anh nghĩ, không
phải không có kết quả. Nhưng từ khi Lina làm quen với Dodon,
Ricardo thấy cô gái bỗng trở nên lạnh nhạt với anh.
Sôi sục căm thù Dodon, Ricardo quyết định bằng mọi cách loại
trừ địch thủ. Anh không thể để cho Dodon chiếm được Lina. Cô phải
thuộc về anh, Ricardo, và chỉ thuộc về anh mà thôi!
Ricardo không nghi ngờ rằng Dodon sợ anh và không dám đánh
nhau với anh - hắn ta lẻo khoẻo, sức vóc chẳng được bao lăm. Nếu gọi
Dodon ra quyết đấu, chắc hắn ta phải hoảng lắm, không dám nhận
lời. Lúc đó sẽ chẳng còn ai đứng chắn ngang đường của Ricardo nữa!
Và trái tim Lina sẽ thuộc về một mình anh!
Chiều hôm đó, Ricardo đã suy tính rất kĩ càng. Anh cần phải loại
trừ địch thủ bằng bất cứ giá nào!


Đến gần nhà Lina, anh bước chậm lại. Nắm chặt tay, lên gân,
một lần nữa nắn thử cơ bắp. Tốt lắm, tất cả đều tuyệt diệu!
Dừng lại nhìn lên ngôi nhà, anh thấy Lina đang đứng trong cửa
sổ mở rộng. Trước mặt cô, quay lưng lại phía Ricardo, là Dodon. Mắt
Ricardo tối sầm lại. Một phút, hai phút trôi qua... Lắc mạnh đầu xua
đuổi cơn choáng váng, thầm nghĩ rằng mình còn có thì giờ, chưa vội,
Ricardo quay gót đi ngược lại đường cũ. Anh vào quán gọi cốc rượu
rum. Uống cạn một hơi, anh trả tiền và bước ra, đi thẳng về phía nhà
Lina. Tình yêu, lòng căm thù và giận dữ cồn cào trong ngực anh, còn
trước mắt là hình ảnh Lina và thằng Dodon đáng ghét.
Chưa được mười bước, anh đã thấy Dodon đang chầm chậm đi
ngược lại phía anh, miệng huýt sáo một bài hát vui. Chính bài hát
này đã thực sự làm Ricardo phát điên lên. Nghiến răng, xiết chặt nắm
đấm, anh đứng lại bên mép hè phố chờ địch thủ.
- Tớ cần gặp cậu một tí. Nào, ta sẽ nói chuyện đàn ông với nhau. -
Vừa nói, Ricardo vừa túm lấy cổ áo Dodon.
- Bỏ ra, Cardin, tớ không đánh nhau với cậu đâu. - Dodon bình
tĩnh đáp.
- Tại sao lại không? Đừng hòng, tớ bắt cậu phải đánh nhau! - Và
tiếp theo lời đe dọa là một cái tát.
- Vô ích thôi, Cardin ạ. Cậu làm thế chẳng được cái gì đâu. -
Dodon lạnh lùng nói.
Ricardo vung tay trái tát mạnh, nhưng Dodon kịp tránh được.
Ricardo lại vung tay, nhưng anh không kịp đánh tiếp: nắm đấm của
Dodon đã đập vào cằm anh và hất anh lăn xuống đất. Ricardo lập tức
chồm dậy, nhưng chỉ vừa kịp để nhận ra Dodon đang tiến lại gần: đòn
tiếp theo trúng vào tai - và anh ngã vật xuống đất, không còn cảm
thấy gì nữa hết...
Đến gần cổng nhà mình, Ricardo mới tỉnh lại và ngạc nhiên thấy
người đỡ anh đi không phải ai khác mà chính là Dodon. Anh nghe
tiếng Dodon nói:



- Chính cậu, Cardin ạ, là người có lỗi. Vì vậy mới ra nông nỗi này.
Tớ có muốn thế đâu...
Vào buổi chiều hôm đó, Ricardo không còn có thể làm gì được
nữa. Cả người đau nhừ vì những cú đấm, còn đầu thì nổ tung ra với
bao nhiêu ý nghĩ.
Cái thằng vẻ ngoài gầy gò yếu đuối kia lấy đâu ra bấy nhiêu là
sức mạnh nhỉ? - Ricardo nghĩ. Anh bị giày vò bởi ý nghĩ rằng Dodon
đã thắng anh. Xấu hổ, thật là xấu hổ! Mà không chỉ với Dodon - với cả
chính mình! Và Lina sẽ nói gì khi biết chuyện này!?
Những ý nghĩ quay cuồng trong đầu, anh cảm thấy mệt mỏi vô
cùng. Lòng tự tin trước đây đã biến đi đâu mất.
*
* *
Mỗi lần Tacpi ngoe nguẩy đuôi đến bên cạnh Ricardo, anh lại
chán ngán lắc đầu: sao mà nó gầy đến thế, chỉ có đuôi với mấy túm
lông! Và như không còn sống nữa, suốt ngày nằm dài ở nhà ngủ gật.
Lại gần như không bao giờ sủa lấy một tiếng. Mà nếu có sủa thì cũng
hoàn toàn chẳng dọa được ai. Đến kẻ trộm cũng không sợ. Chỉ cần
thấy ngoài đường một con chó con nào hoặc nghe thấy bầy chó nhà
bên cắn nhau, nó đã cụp đuôi chạy như tên bắn vào nhà trốn tít dưới
gậm bàn! Đã bao lần Ricardo nói với mình: “Để con chó này lại làm gì
nữa? Được ích lợi gì? Chỉ có biết ăn! Một con vật lười biếng, nhát như
cáy. Thế mà cũng là giống đực!”
Ricardo định đem nó cho người khác, nhưng không ai muốn nhận
cả. Tacpi gầy đến nỗi Ricardo phải xấu hổ. Khi có người hỏi con chó
này là của ai, anh trả lời tránh đi rằng chắc là con chó hoang nào đó
lạc đến, không biết ai là chủ, và anh nói thêm: chẳng lẽ vứt nó ra
đường à, tội nghiệp!
Thực ra con chó này là của chính Ricardo. Anh hỏi xin nó ở nhà
người anh họ khi nó còn bé tí. Ricardo chăm sóc nó rất cẩn thận, mơ
ước sẽ nuôi thành một con chó săn gan dạ, khỏe đẹp. Nhưng hi vọng
của anh không thành. Tacpi lớn lên ốm yếu. Có lẽ vì vậy mà Ricardo


rủa nó là lười biếng và nhút nhát, anh cảm thấy khó chịu cả những
khi nó thân thiện ve vuốt anh.
Ngày hôm đó, Tacpi chẳng hiểu sao không ở nhà. Không thấy nó
cả ở cạnh thùng đựng cá hộp, cả dưới hàng dậu gỗ, cả ở ngoài đường
phía trước nhà. Tuy vậy, Ricardo vẫn đổ phần ăn cho nó vào bát và
nghĩ rằng nếu con chó có lạc mất đi nữa thì anh cũng sẽ chẳng tiếc...
Anh muốn có một con chó giống tốt, khỏe, khôn, và cái chính là
gan dạ. Tacpi thì chẳng có được một đức tính nào cả. Nếu Tacpi không
nhát gan lắm, có lẽ anh đã bỏ qua được tất cả những cái khác. Nhưng
Tacpi, than ôi, lại không thỏa mãn được những mong muốn của anh.
Và vì vậy hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên là khi đi tìm gặp
Lina và Dodon, Ricardo thậm chí không nghĩ đến con chó. Tacpi thì có
quan hệ gì đến số phận của anh?
*
* *
Sáng hôm sau, khi đi xuống bếp, Ricardo cảm thấy người khó
chịu. Cằm nhức nhối, thỉnh thoảng anh lại phải đưa tay xoa để làm
dịu cơn đau. Khi đến cạnh vòi nước rửa mặt, anh trông thấy Tacpi
đang thản nhiên nằm cạnh chiếc thùng gỗ đựng cá hộp, như không có
chuyện gì xảy ra. Ricardo thấy con chó như gầy hơn thường ngày.
Ricardo còn chưa kịp ăn sáng thì chú Caxtoc, người bạn cũ của
mẹ anh, bước vào. Vừa chào hỏi xong, ông đã hỏi ngay Tacpi ở đâu.
Ricardo dướn lông mày ngạc nhiên. Còn vị khách, trầm trồ, thán
phục, bắt đầu kể:
- Ôi! Cardin ạ, con chó nhà cháu mới gan dạ làm sao! Chiều hôm
qua chúng nó đánh nhau ngoài đường đấy. Con chó đực to đùng của
ngài Putin xông vào trước. Thế mà, cháu tưởng tượng xem, con vật to
xác đến thế mà phải chịu thua cái thằng oắt tí xíu nhà cháu đấy nhé.
Tacpi cho nó một ngoạm làm nó rú lên khắp cả phố nghe tiếng. Bây
giờ chú mê con chó của cháu đấy, Cardin ạ. Nó tuy hơi gầy một tí,
nhưng thật dũng cảm. Và cháu có biết vì sao mà chúng đánh nhau


không? Vì con chó cái Mextixa nhà chú đấy. Mà nó thì, cháu thấy đấy,
nào có thiết gì đến lũ chó đực!
Ricardo đứng im lặng. Anh còn có thể nói gì?!
- Vì vậy mà chú đến gặp cháu, Cardin ạ, cho chú mượn con Tacpi
ít lâu. Chú muốn đi săn lợn lòi một chuyến. Chẳng loài thú nào có thể
chạy thoát khỏi con chó khôn ngoan và gan dạ này đâu. Mà Tacpi
không sợ hãi một chút nào - hôm qua chú tự mắt chứng kiến rồi. Cháu
cho chú mượn nhé? Chú sẽ chẳng để cháu phải thiệt đâu. Săn được
lợn lòi rồi, cháu sẽ có phần.
- Vâng, vâng, tất nhiên, chú cứ lấy đi, - Ricardo đáp, nhưng đầu
còn mải nghĩ về chuyện khác.
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
ANATOLI AFANAXIEV
NGA
LàM QUEN
Hãi hùng trước những ý nghĩ của chính mình về cái chết, mệt mỏi
bởi cuộc sống gia đình và bệnh tật, kiệt lực vì thường xuyên phải
quyết định một điều gì đó, đến tuổi tứ tuần tôi nhiễm phải một thói
quen tồi tệ là chốc chốc cứ quay đầu nhìn lại, hệt như phía sau có một
người nào đó gọi. Đang bước trên đường bỗng quay phắt lại, đột ngột.
Ngồi trong phòng cũng bất ngờ ngoái lại nhìn. Chẳng bao lâu những
người gần gũi tôi đã nhận ra điều đó. Đầu tiên là vợ tôi:
- Sao anh cứ quay quay như một con bọ hung thế? - cô ta hỏi.
- Chẳng lẽ bọ hung lại quay quay à?
- Tâm địa anh không được trong sạch, nên anh mới quay quay
như vậy.
Xasa Pet'rovxki, ngồi uống bia với tôi ở vườn hoa Ermitaj, thấy
tôi suýt nữa thì bị sái cổ khi đột ngột quay lại nhìn về phía quầy, liền
giải thích:
- Cậu bị thần kinh đấy, Victor ạ. Đi khám đi.
Tôi không đi khám. Mạo hiểm. Vẫn tiếp tục quay lại nhìn. Tôi hi
vọng rồi tự nó sẽ khỏi. Trước đây tôi cũng đã có lần bị đau mạng sườn
phải mất nửa năm, tưởng là mình sắp đi chầu ông vải. Nhưng không,
nhức nhói ít lâu rồi khỏi.
Lần này, quay lại nhìn, tôi trông thấy một cô gái với mái tóc rối
bù; cô ta đang khóc.


*
* *
Cô bước thất thểu, đầu cúi gằm đi ngay sau lưng tôi; và khi tôi
dừng lại, suýt nữa cô xô vào tôi. Rất trẻ, chừng hai mươi tuổi, quần
jean, những tia nắng mặt trời chiếu qua lần vải bị khúc xạ một cách
lạ lùng.
- Ôi, ôi! - tôi kêu lên. - Lớn thế rồi mà còn vừa đi vừa nhè. Ai trêu
em thế?
Cô gái không đáp, ngạc nhiên nhìn tôi. Tôi cũng nhìn mình bằng
cặp mắt của cô ta và không cảm thấy vui vẻ lắm.
- Có việc gì thế? - tôi hỏi. - Ngày nắng đẹp, chim hót líu lo thế kia
mà tại sao em lại khóc? Hoàn toàn không thể có lí do nào để khóc cả.
Cô gái mỉm cười, lấy ống tay áo dài lau hai má. Những cử động
rất duyên dáng, hệt như cánh chim vẫy sắp bay lên.
- Chim nào hót? Em không nghe thấy.
- Đấy là anh nói một cách hình ảnh. ở đây thì không, nhưng
chúng đang hót ở một nơi nào đó.
- Trong rừng ấy à?
- Thì cứ cho là ở trong rừng.
Cô gái thở dài và bắt đầu đi vòng sang phía bên trái tôi. Để đi
qua mà không chạm vào người tôi, cô phải bước xuống khỏi vỉa hè.
"Nếu cô ta bỏ đi mất, - tôi nghĩ, - nếu cô ta bỏ đi mất thì...".
- Hay là, anh có thể giúp em điều gì được không? - tôi chợt hoảng
hốt vì những lời này buột ra khỏi miệng tôi như một tiếng kêu.
- Khó lắm, - cô gái đáp. - Anh khó có thể giúp gì em được...
Tôi không phải vội đi đâu cả, và tôi đuổi theo cô.
- Anh có thể tiễn em một quãng được không?
- Tùy.


- Em đừng nghĩ anh là một thằng nhăng nhít ngoài phố đấy nhé.
Nhưng em buồn và cô đơn quá! Hay là anh tưởng tưởng ra thế?
- Không cần đâu, - cô cười khẩy hoàn toàn không như kiểu các cô
gái.
Bây giờ tôi đã kịp nhìn kĩ cô. Cô thuộc loại người không phải sợ gì
trong cuộc đời. Thiên nhiên đã phú cho cô tất cả những gì có thể,
không hề keo bẩn với cô. Xung quanh những bước chân cô đi vang lên
tiếng chuông êm ái, chúng lập tức làm cho tôi ngây ngất. Tất nhiên,
cũng đáng công quay lại nhìn một cách thường xuyên để không bỏ qua
một cô gái như vậy.
- A, tiệm kem đây rồi! - tôi sôi nổi hẳn lên. - Ta ghé vào một phút
chứ?
- Ô! - cô gái nói. - Cái này thì em đã biết hết rồi.
- Nhưng anh lại chưa biết.
- Thế thì ai cần giúp đỡ ai: anh giúp đỡ em hay là em giúp đỡ
anh?
- Ta vào ăn mỗi người một suất kem, thế thôi.
- Còn sau đó?
- Chia tay nhau, như những con tàu trên mặt biển.
- Thôi được, đồng ý. Em là Marina.
Tôi biết rất rõ rằng nếu như cô bỏ đi mất thì tôi sẽ chết. Đây
không phải là quầy kem, mà là tiệm ăn "Sôcôla".
Từ phòng ăn bánh rán và sữa đặc, tôi kéo cô sang quầy rượu bên
cạnh. ở đây chật chội, ngột ngạt, đầy khói thuốc. Vô số con trai con
gái ngồi chật ních, đang mê mải trên những chiếc cốc lớn tướng của
mình, với vẻ mặt siêu thoát vừa hút cần vừa trao đổi với nhau những
câu ngắn. Tóm lại là họ đang say sưa, vui vẻ. Tôi lập tức cảm thấy
mình bị lạc lõng; còn Marina, ngược lại, sôi nổi, hoạt bát hẳn lên. ánh
mắt của những cậu con trai bờm dài cứ bám chặt lấy cô như những
vòi móc. Tôi cảm thấy tiếc là đầu tóc tôi lại cắt ngắn theo mốt cũ, và


không có cả râu lẫn ria. Mà tất cả những cái đó cộng lại với nhau đã
gần như là bề ngoài của một con người.
Một cậu con trai - không hiểu là vô tình hay cố ý - thúc vào khuỷu
tay tôi, và tôi suýt nữa làm đổ mất vại cocktail. Tôi không nói gì, làm
như không nhận thấy. ở bên quầy ăn, tôi với Marina nói chuyện với
nhau thật thoải mái, còn ở đây thì không thể nào nói được. Với một sự
căng thẳng và hồi hộp, tôi lo lắng nhìn cô hút cái chất lỏng màu xanh
nhạt qua cần hút, mắt cô lơ đãng lướt phía trên đầu mọi người. Thỉnh
thoảng, ánh nhìn của chúng tôi gặp nhau, và Marina mỉm cười thân
mật, an ủi... Cậu con trai bên cạnh tôi lại hích vào người tôi và cười hô
hố.
- Thế nào, anh cố ý thúc vào người tôi đấy à? - tôi hỏi.
Cậu ta không phải một mình - họ gồm ba tay thanh niên lực
lưỡng, và cả bọn trố mắt nhìn tôi như nhìn một thằng điên.
- Bố già ạ, bố ngồi choán hết chỗ như một đức ông ấy, - cậu ta
đáp. - Bố dịch sang một tí.
- Tôi còn dịch vào đâu nữa? - Mà quả thật, tôi không thể dịch đi
đâu được; họa chăng là lên đầu gối của Marina.
- Cái bố già này đi đâu thế này nhỉ? - cậu thanh niên thứ hai nói
to vẻ trầm ngâm. - Họ đáng ra phải nằm trước ti vi mà đọc báo, đằng
này lại cứ đi khắp nơi, tranh hết lũ con gái trẻ của bọn này. Thật quá
quắt.
- Tôi không tranh các cô gái của các anh.
- Ta đi thôi! - Không uống hết, đặt cốc xuống bàn, Marina gọi. Tôi
bỏ ống hút sang một bên, uống một hơi cạn cốc của mình. Đám thanh
niên tiễn tôi bằng một tràng cười hi hí.
- Anh thấy chưa, - Marina nói, - anh làm vệ sĩ thế nào được? Sợ cả
bọn trẻ ranh.
- Anh có sợ đâu.
- Ra thế! - giọng cô hơi có vẻ khinh thường.


Tôi nghe một chiếc răng bắt đầu nhức buốt, chiếc răng mà tháng
trước vừa bị tróc mất miếng hàn.
- Thực ra mà nói, anh không thích những chuyện cãi lộn, đặc biệt
là ở nơi công cộng. Marina ạ, em hiểu không, anh không sợ, nhưng cố
tránh chúng. Không gì thì thần kinh mọi người cũng đã căng thẳng
lắm rồi, hành hạ mình vô ích làm gì nữa. Bởi vì có chứng minh được gì
cho ai đâu. Không cho ai cả.
Cô tỏ vẻ nghi ngờ:
- Có thật là không chứng minh được cho ai không?
- Con người bây giờ không còn biết nghe nhau nữa. Mỗi người cứ
phán theo ý của mình.
- Một thứ triết lí của ông già.
- Đó là kết quả của những quan sát đáng buồn, - tôi nói.
Chúng tôi đã đến bến đỗ tàu điện ngầm.
- Thôi, em phải đi đây, chào đồng chí bi quan, - cô chìa tay ra cho
tôi. "Nếu cô ấy bỏ đi mất...", - tôi nghĩ thầm.
- Hay là ta đi dạo thêm một lát nữa?
- Em phải đi đến chỗ bà.
- Thì anh đi cùng em.
Marina bối rối, tôi thấy là cô rất bối rối. Cô không muốn làm tôi
giận. Khoảng cách về tuổi tác, giọng nói lịch sự của tôi, và nhiều điều
khác nữa, - tôi thấy hết.
- Chẳng lẽ anh không vội về nhà sao? Anh không có vợ à?
- Có chứ. Một vợ, hai con. Nhưng họ không đợi anh.
- Tại sao?
- Đó là một vấn đề phức tạp.


Tôi đã nói dối. Mọi người ở nhà rất đợi tôi là khác. Tôi cần phải
mua bánh mì và sữa mang về trước bữa tối...
- Thôi được, - cô gái gật đầu. - Thì ta đi thôi. Bà sẽ cho chúng ta
uống trà. Không xa đâu, ở đại lộ Hoà Bình.
*
* *
Bà của cô gái đã một trăm tuổi. Làm sao bà có thể sống, xoay xở
được một mình? Khi chúng tôi bước vào (Marina mở cửa bằng chìa
khoá riêng), bà nằm trên giường, quấn kín chăn, trông giống như một
chiếc kén có sọc. Nhìn thấy chúng tôi, bà phát ra tiếng rít sung sướng
và nhỏm lên đón gặp chúng tôi, tiêu phí cả một khối năng lượng để
ngồi dậy. Marina ôm hôn bà rồi ấn bà nằm lại xuống giường.
- Ai đấy? - bà già hỏi, cặp mắt cận thị nheo nheo nhìn về phía tôi.
- Người quen của cháu bà ạ. Một người rất tốt bụng.
- Chúng ta thì ai mà chẳng tốt bụng... Tên là gì?
- Cháu là Victor Petòrovitr ạ.
- Cháu con ai, hở Victor Petorovitr? Có phải là cháu của nhà
Xamokhin không đấy?
- Không ạ.
- Mặt trông có vẻ giông giống. Thế cháu định làm gì với Marina
của già đấy?
Marina khoái trá phá ra cười, cô rất thích câu hỏi của bà lão.
- Anh ấy chẳng làm gì với con đâu, bà ạ. Anh ấy uống trà rồi đi
thôi.
Nhưng bà lão hình như nghi ngại tôi một điều gì đó không giải
thích nổi, và trong khi ngồi uống trà mỗi lần tôi chìa tay ra để lấy
đường hay bánh bích qui là bà lại sợ hãi né người sang bên. Marina
cười đến đứt hơi, thậm chí toát cả mồ hôi. Tôi cảm thấy như đã quen


biết cô từ lâu, và có cảm tưởng rằng mình đã có lần ngồi trong căn
phòng với những bức tường dán giấy màu hồng nhạt này. Chỉ có
không nhớ là bao giờ và với lí do gì. Những chuyện như thế cũng đã
từng xảy ra với tôi trước đây. Nếu như tôi được ấm áp và yên tĩnh,
thì tôi lại có cảm giác như đấy là sự lặp lại một điều gì trước đó, còn
nếu như gặp phải chuyện rủi ro mệt mỏi, thì bao giờ tôi cũng nghĩ
rằng đấy là lần đầu xảy ra và khó lòng có thể tồi tệ hơn.
Khi chúng tôi đã uống hết hai chén chè hương, bà lão bỗng sực
nhớ ra:
- Marina, thế cháu có mang thuốc đến không?
- Ôi, cháu quên mất rồi, bà ạ. Trí nhớ cháu tồi tệ quá chừng.
Nhưng anh Victor sẽ chạy mua giúp ngay bây giờ mà. Được không,
anh Victor? Hiệu thuốc ở gần đây thôi. Anh đi hộ nhé? - ánh mắt vừa
thật thà vừa tinh nghịch, cặp lông mày nhướn cao tin cậy. Tôi cầm lấy
đơn và đi tìm hiệu thuốc.
Tôi vào trạm điện thoại tự động, gọi về cho vợ thông báo rằng sẽ
về nhà không sớm hơn sau hai ba tiếng đồng hồ nữa.
- Lại say sưa rồi! - tiếng vợ tôi hét lên độc địa xuyên qua suốt cả
thành phố.
- Không, anh không say sưa đâu, - tôi trịnh trọng đáp và treo ống
nghe lên. Tôi không say sưa thật, nhưng lại say một cơn say giống
như giấc mơ. Và ở một nơi nào đó rất sâu trong thâm tâm của tôi đang
cựa quậy nỗi sợ hãi và xấu hổ, nhưng tôi không muốn tỉnh giấc. Tại
quầy thuốc, bà dược sĩ xem xét tờ đơn thuốc của tôi rất lâu rồi bất ngờ
hỏi:
- Họ tên?
- Họ tên của ai? Của tôi ấy à?
- Của người dùng thuốc.
Bà dược sĩ nhìn tôi với vẻ giễu cợt không che dấu, còn trong hàng
có người nào đó hầm hừ khô khốc.


- Anh nhặt được tờ đơn này ở đâu à? Anh có biết thuốc gì đây
không?
- Thuốc tim, - tôi đáp, cố giữ vẻ bình thản. Tôi biết rằng mình có
thể rơi vào chuỗi những chuyện rủi ro mà để thoát ra không đơn giản,
nhanh chóng. Nhưng may sao không phải là hôm nay. Tốt nhất là
không phải hôm nay.
- Một bà hàng xóm già và đau ốm nhờ tôi đi mua mà.
Bà dược sĩ, không ngẩng nhìn lên, khẽ lắc đầu với vẻ trách móc,
im lặng dùng bút chì gạch lên tờ đơn.
- Nhưng sao lại thế...
- Anh lại quầy giả tiền...
Tôi giả năm rúp bốn mươi côpêch, nhận được ba hộp nhỏ rất đẹp
và nói: "Cám ơn chị".
*
* *
Bước ra đến phố cạnh hiệu thuốc, tôi bắt đầu tỉnh lại. Bất ngờ
như tuyết lở trên núi xuống. Tôi trông thấy mình như một kẻ khác,
với những gói thuốc thảm hại, người ngợm cũng thảm hại, vô nghĩa,
bám lấy cô gái chưa quen biết, không biết, không hiểu để làm gì. Tôi
trông thấy khuôn mặt nhợt nhạt, ủ rũ của mình trong bóng tối. Và
tôi còn nhớ lại vô số những hành động nhục nhã và vô nghĩa của tôi
vừa xảy ra mới đây; trong số đó thì cái hành động hôm nay của tôi
còn lâu mới là thảm hại và vô nghĩa nhất. Và không hiểu bằng cách
nào đó trong một khoảnh khắc tôi kịp nhìn thoáng thấy tất cả những
năm tháng trống rỗng đang đợi tôi ở phía trước, còn ở cuối là cái
điểm chót khủng khiếp khi tôi một lần trút hơi thở nhắm mắt vĩnh
viễn - ôi, làm sao có thể diễn đạt bằng lời cái nỗi buồn xâm chiếm
lòng tôi và đè gục tôi xuống đất! Đôi chân trở nên mềm nhũn, dường
như chúng đã bị rút hết xương cốt, và tôi buộc phải lê đến bên một
chiếc ghế dài ngồi xuống. "Cái gì thế này nhỉ, - tôi nghĩ, lắc mạnh


đầu, như một con ngựa xua bầy mòng bâu quanh. - Lú lấp mất rồi.
Bà lão tội nghiệp đang đợi thuốc, mà mày... đồ hèn".
Tôi đứng dậy và bước đi.
Marina ra mở cửa, cô cười với tôi. Gương mặt cô, với những lúm
đồng tiền dịu dàng trên má, đôi mắt cháy bỏng, trong sáng, - cô xinh
đẹp hơn tất cả những gì tôi đã gặp trên đời.
- Thuốc đây, - tôi chìa mấy chiếc hộp ra.
- Anh vào nhà đi chứ!
- Anh phải đi đây, xin lỗi em.
Cô ngạc nhiên. Sự ngạc nhiên của cô gợi tôi nhớ đến một điều gì
đó đã bị mất đi của tuổi thơ, một điều gì đã rất quý giá, không trở
thành hiện thực. Buổi chiều hôm nay tôi trải qua những sự thay đổi
tâm trạng rất nhanh chóng. Vào đúng cái khoảnh khắc khi tôi trông
thấy gương mặt cô cùng với nụ cười và sự ngạc nhiên của cô, lập tức
tất cả những gì đen đủi, những gì rỉ độc trong ngực tôi liền tan biến,
tâm hồn nghe vừa ấm nồng vừa rạng rỡ. Cớ gì mà rên rỉ, tuổi tác của
ta thì có làm sao, bao nhiêu điều còn có thể xảy ra và lấp lánh huy
hoàng đầy mới mẻ.
- Anh kì cục thế nào ấy, - Marina trầm ngâm nói. - Sao lại thế?
Bây giờ chúng ta sẽ chào bà rồi đi về cùng nhau.
- Thế em có muốn cùng nhau không?
- Muốn, - cô không bối rối. Sự chân thành của cô như một cái tát.
Bà lão đã lại nằm trên giường, chăn quấn kín người.
- Cháu đã mang thuốc về đấy à? - bà lão bỗng bất ngờ hỏi rất to,
giọng trầm.
- Vâng ạ.
- Ôi, cám ơn cháu. Cám ơn cháu nhé!
Khi tôi cùng Marina đã ra đến cửa, bà lão bỗng lại lên tiếng:


- Ôi, Marina, còn tiền, tiền! Tiền thuốc ấy! Ôi, chán quá! Đấy
cháu kìa, trên tủ ấy, cháu cầm lấy.
- Chuyện vặt thôi mà, - tôi nói và không nhận tiền. Mà Marina
cũng không vật nài lắm.
*
* *
- Bà yếu như vậy, làm sao có thể sống một mình được? - tôi hỏi.
Chúng tôi bước trên đường phố chạy dọc theo bờ sông lộng gió chiều
ẩm ướt, nhưng tôi không dám đưa chiếc áo vét của mình cho cô.
- Sống như thế đấy. Bà gàn lắm. Không chịu đi khỏi ngôi nhà ấy.
Ông vừa mới mất mùa xuân năm ngoái. Bà cũng muốn được chết ở
trong căn nhà này, anh hiểu không?
Điều đó thì tôi hiểu.
- Nhưng dù sao...
- Em thường ngủ lại với bà, nhiều khi sống ở đó cả tuần lễ. Chỉ có
bây giờ em đang bận thi.
- Em thi vào trường nào?
- Trường y. Thi lần thứ tư. Hôm nay vớ phải điểm ba. Có lẽ lại
trượt lần nữa. Thật không may, bực muốn chết.
- Vì vậy mà em khóc đấy à?
- Vâng.
Tôi khẽ húng hắng vẻ giễu cợt.
- Thế nghĩa là thế nào? - Marina nghiêm khắc hỏi.
- Anh cho là kì cục. Chỉ một điểm ba vớ vẩn nào đó mà cũng nước
mắt, cũng đau khổi! Bao nhiêu chuyện vặt vãnh cứ hành hạ, không
cho ta sống. Đến lúc nhìn lại - hừ, quỷ quái thật. - Vì cái gì mà ta vật
vã, tiêu phí mình! Trong lúc đó cuộc đời cứ trôi qua lặng lẽ, không


nhận thấy. Nhưng về điều đó thì không hiểu sao chúng ta lại không ai
khóc cả. Trong chuyện này không hiểu sao chúng ta lại thản nhiên
một cách đần độn.
- Anh bao nhiêu tuổi rồi, anh Victor?
- Gần bốn mươi. Hết thời rồi. Giai đoạn khủng hoảng của người
vượn Nêandertan.
- Anh nói như một ông già.
- Thì anh đúng là một ông già mà. Chỉ có điều còn ít nhiều hiếu
động.
Tôi bỗng cảm thấy thương hại bản thân mình, thương hại đến
mức không thể nào thương hại hơn được nữa. Không biết đã là lần thứ
mấy tôi cảm thấy mình bị mắc kẹt trong cạm cò ke, nó cứ kéo lê theo
sau tôi trên mặt phố nhựa và khua ầm ĩ. "Marina không phải là lối
thoát, - tôi nghĩ. - Đây là một ảo tưởng mới. Thế còn lối thoát ở đâu?
Lối thoát từ cái gì?". Tôi cởi áo vét và khoác lên vai cô. Marina co rúm
người lại và nói: "Merci". Không bỏ tay ra, tôi kéo cô lại gần mình và
hôn lên một nơi nào đó cạnh mũi.
- Táo tợm gớm! - cô nói. - Rất theo kiểu đàn ông.
- Suốt đời anh mơ ước được hôn một cô gái như thế.
- Anh đã hôn rồi đấy. Bây giờ thì sao?
Không hiểu được là cô có giận hay không? ít ra thì cô cũng không
có ý muốn hôn hít với tôi. Tôi cũng không có ý muốn hôn cô. Chỉ là
không chủ tâm vậy thôi.
- Bây giờ có lẽ đã đến lúc phải về nhà. Gần mười hai giờ rồi.
Cô gật đầu, không nhìn tôi. Có thể cô nghĩ rằng tôi sẽ chạy bổ đi
tìm tắc xi, nhưng tôi không còn tiền. Bằng tàu điện ngầm và ô tô buýt,
chúng tôi đã đi đến được nhà cô sau bốn mươi phút, trong suốt bốn
mươi phút đó chúng tôi đồng lòng im lặng. Sự im lặng không làm cho
tôi cảm thấy nặng nề, tôi nghĩ rằng thế là lại thêm một ngày nữa đã
qua, đã rơi vào dòng quên lãng, và nếu nó để lại được dù chỉ là một
mẩu hồi ức cỏn con thì cũng đã là tốt lắm rồi. Nghĩ về điều đó tôi


không buồn lắm, vì có Marina ngồi bên cạnh. Cô nhíu mày, thỉnh
thoảng lại liếc nhìn sang tôi, dường như muốn hỏi một điều gì đó.
"Nào, hỏi đi, em muốn gì, - tôi im lặng ngầm thúc giục cô. - Em cứ hỏi
đi, xin mời. Hỏi điều gì cũng được". Trong lòng tôi âm ỉ một cảm giác,
rằng giữa hai chúng tôi đã xảy ra một điều gì đấy khác thường, có
những sợi dây xiềng ngọt ngào nào đó xích buộc chúng tôi lại với
nhau, nhưng chúng tôi phải vĩnh viễn chia lìa nhau vì quyền lực của
những hoàn cảnh ác nghiệt.
- Kia kìa, cửa sổ của phòng em trên tầng mười hai ấy, - Marina
chỉ tay lên trời. - Anh thấy không?
- Đâu, ở đâu?
- Ô cửa thứ chín tính từ bên trái.
- à, thấy rồi. Cao quá.
Tôi cố sức vươn dài cổ ra, tỏ ra rằng hoàn toàn ý thức được tầm
quan trọng của thời điểm hiện tại. Tất cả các cửa sổ, có đèn và không
có đèn, hoà vào nhau thành một tấm tranh ghép mảnh lồi lõm khó
chịu. Chúng như chọc vào mắt tôi.
"Tại sao Marina không xuống xe đi? - tôi bối rối. - Cô ấy còn cần
gì nữa?"
- Thôi, tạm biệt anh nhé, ông già! - cô chào tôi.
- Em chuẩn bị tốt cho môn thi sau nhé. Nhưng đừng quá sức đấy,
- tôi khuyên.
- Anh có muốn em cho số điện thoại không?
- Em cho anh đi! - tôi vui mừng đáp.
Cô đọc bảy chữ số, nhưng chúng lập tức nhảy khỏi đầu tôi.
- Anh không quên chứ?
- Thà chết còn hơn.
Và lúc đó Marina làm cái việc mà đáng ra không nên làm: cô
đứng nhón chân và khẽ lướt đôi môi của mình vào miệng tôi.


*
* *
Bà vợ của tôi, Galina Grigorievna, từ lâu đã tạo ra một tục lệ
không đẹp lắm: hễ tôi về muộn là cô ta khoá trái cửa lại, đứng ngoài
không thể nào mở được. Cô ta hãm tôi ở trước cánh cửa đóng kín
không ít hơn mười - mười lăm phút. Và lần này cũng vậy. Nhờ ơn
trời là đêm đã khuya nên không ai bắt gặp tôi trong tình trạng nhục
nhã đó. Tôi liên tục bấm chuông, cách từng quãng ngắn, và hình
dung ra rất rõ cảnh Galina nằm trên giường, đọc sách và cười khẩy
một cách độc địa. "Cô ta làm như vậy để làm gì nhỉ? - tôi nghĩ thầm,
hoảng hốt lắng nghe từng tiếng động nhỏ ngoài cầu thang. Lũ trẻ
suốt ngày chạy nhảy chắc đã ngủ như chết. Cuối cùng, tôi nghe thấy
tiếng bước chân cô ta lười biếng kéo lê trên sàn nhà.
- Ai đấy?
- Mở cửa ra, Galina.
- Nhà này mọi người đều ở nhà cả.
Thêm một phút - và tôi được vào ở trong căn nhà của chính tôi.
- Chơi bời chán chưa! - Galina thì thầm rít lên. Trên người cô ta
khoác một chiếc áo váy cũ đã sờn ở khuỷu tay, từ phía trong lộ ra
tấm áo ngủ trắng nhàu nát. Khuôn mặt sưng nặng, mệt mỏi, với
những quầng thâm dưới mắt. Tôi nhìn cô ta với vẻ mặt của một
người không có lỗi mà phải chịu đau khổ - đấy là vợ tôi, mẹ của
những đứa con tôi, một người vừa ruột thịt vừa xa lạ đối với tôi. Vĩnh
viễn thân thuộc và ruột thịt, đồng thời vĩnh viễn xa lạ. Tôi thương vợ
tôi đến chảy nước mắt, và tôi vẫn yêu cô như xưa. Tất cả những biến
đổi thay da đổi tóc xảy ra với tôi thì cũng xảy ra với cô. Sau nhiều
năm dài cô đã trở thành một phần bản chất của tôi, đôi khi đáng
ghét, đôi khi cần thiết như một hớp nước...
Tôi xuống bếp, bật bếp hơi, đặt chảo khoai tây và thịt băm viên
lên hâm lại cho nóng. Galina bám gót theo sau:
- Thế nào, người ta chưa cho ăn à?
Tôi im.


- Anh không muốn trả lời? Anh muốn ăn?! Còn phải nói, quan
lớn trở về nhà mà. Mau mau dọn cho quan lớn ăn! Còn tôi, luôn tay
luôn chân, suốt ngày ở cơ quan, về nhà con cái cơm nước - thì điều đó
chẳng liên quan gì đến ai cả... Làm sao mà cái số tôi nó thế, hả đồ ác
ôn hung bạo? Chẳng lẽ anh không có gia đình sao? Trả lời đi! Đừng
có mà ngậm mồm thế kia!
- Galina, em lấy đâu ra những từ như thế? "ác ôn", "hung bạo".
Galina, ôi Galina!
Quá muộn. Cô ta đã rú rít lên, cơn nức nở đã lay chuyển cả người
cô ta như một chập động kinh, tay cô ta đã múa lên sát mũi tôi.
- Hu - hu, anh đã làm hại cả đời tôi. Tôi đã tiêu phí cuộc đời cho
ai! Anh thử nhìn vào gương xem mình giống ai. Những người khác
vào cái tuổi của anh...
Nói chung là toàn bộ chương trình thường diễn. Những lời buộc
tội - nào là ích kỉ, nào là nghiện ngập, nào là sa đọa... tất cả những tội
lỗi tồn tại trên đời. Qua những lời hừng hực lẫn lộn nước mắt của
Galina hiện ra hình ảnh một kẻ đểu giả bất trị với những tư chất xấu
xa của một gã ngông cuồng nhục dục. Đó là tôi. Cái chính là cô ta hét
to đến nỗi tất cả láng giềng hai bên đều nghe thấy và lũ trẻ phải thức
dậy. Khuyên ngăn cô ta là vô ích, mỗi lời của tôi lúc này chẳng khác gì
một khúc gỗ khô ném vào đống lửa đang rừng rực cháy. Rầu rĩ vừa
gật đầu vừa nhăn mặt, tôi ngồi ăn thịt băm viên với bánh mì, gần như
không nhai, cứ thế nuốt chửng. Chẳng bao lâu sau, tôi cảm thấy trong
cơn cuồng nộ của cô ta đã có sự mệt mỏi, liền ngập ngừng nói chen
vào:
- Galina, em biết không, anh muốn bàn với em một việc rất quan
trọng.
- Cái gì?
- Người ta đề nghị anh phụ trách khu vực số ba... em nhớ không,
anh đã nói với em rồi đấy. Họ thêm chừng năm chục, và công việc
cũng độc lập.
- Nói láo! Bịa một cách trắng trợn!


- Thật đấy, Galina ạ! - Điều tôi nói quả là sự thật, nhưng không
phải tất cả. Khi người ta đề nghị tôi phụ trách khu vực, tôi liền lập
tức từ chối. Lãnh đạo lãnh điếc gì cái thá tôi. Cứ để cho người khác
lãnh đạo tôi cho ra trò cái đã.
Vợ tôi lập tức nguôi cơn. Hãm lại tức thời hệt như vận động viên
chạy đua dừng lại giữa cự li. Nếu cô ta biết được toàn bộ sự thật, chắc
tôi sẽ phải trả giá. Nhưng điều đó là sau này.
- Anh Victor, nếu thế thì hay quá.
- Còn phải nói.
Trong ánh mắt cô ta lộ vẻ phân vân:
- Nhưng anh có mừng không?
- Rất mừng. Mặc dù có thể vấp phải những khó khăn không lường
trước được...
- Anh uống trà nhé?
- Em đi nằm đi. Anh ngồi lại, cân nhắc một vài việc nữa.
Cô ta ngoan ngoãn khoác áo, hiền lành đi ra.
Trong phòng trở nên yên lặng, và cả khu nhà, cả khắp mọi nơi
cũng yên lặng. ấm trà reo sôi ấm cúng. Tiếng nước từ vòi để hở nhỏ
từng giọt, từng giọt.
Ngày mai sẽ bắt đầu bằng buổi sáng.
Tôi ngồi uống trà, gặm bánh mì và nhìn qua khe màn ra ngoài
cửa sổ. Tôi thích nhìn Moxcva đang trong giấc ngủ. Nếu nhắm mắt lại
và cố hết sức lắng nghe, thì có thể cảm thấy được những tiếng thở dài
trong đêm nặng nề của thành phố, gần hệt như tiếng thở của con
người.
"Ngày mai bắt đầu bằng buổi sáng, - tôi nghĩ. - Cô gái Marina
tuyệt vời - nhưng than ôi, không phải dành cho tôi! - sẽ thức dậy, và
vợ tôi cũng thức dậy, và các con tôi cũng thức dậy. Sẽ xảy ra những sự
kiện nào đó mà tôi sẽ tham dự vào. Tôi sẽ làm một cái gì đó, và sẽ có
những việc nào đó tôi lại không kịp làm. Không quan trọng. Cần phải


sống. Cần phải sống. Đã lập gia đình, sinh con đẻ cái - thì hãy sống.
Sống vì những ai sẽ thức dậy sáng mai".
Galina chưa ngủ, cô nằm giở tờ tạp chí Phụ nữ, nhưng rõ ràng là
mắt cô ta chỉ chực nhíp lại.
- Nhiệt độ Michia thế nào? - tôi hỏi (sáng nay thằng bé ho nhiều).
- Bình thường.
- Tốt lắm. Em có mệt không?
- Việc gì đến anh. Cám ơn anh đã nhớ tới.
- Thôi được, Galina, đừng cằn nhằn nữa. Vô tuyến có gì
không?
- Đủ thứ vớ vẩn.
- Thế đấy. Chúc em ngủ ngon nhé.
- Anh thì đêm nào cũng ngủ ngon.
Trước khi lặn vào vực sâu của giấc ngủ, tôi cố nhớ lại số điện
thoại của Marina. Và đã nhớ ra. Quả thực, tôi đã nhớ ra! Năm chữ số
đầu tiên là .
- Thế cơ đấy - phụ trách khu vực! - vợ tôi nói và vuốt nhẹ vai tôi.
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
AILIXLI ACRAM
AZERBAIJAN
BIểN XANH
Tặng con trai Iliax
Ngôi nhà của thầy Niaz đứng tách biệt ra một bên, trên ngọn đồi.
Còn trường học ở phía dưới, ngay giữa làng. Và từ nhà thầy đến
trường là một con đường chói nắng, rất sáng, đặc biệt là về mùa xuân,
khi cây cối nở hoa.
Và thế rồi, con trai ạ, vào một mùa xuân nọ, có hai cây đứng nhìn
nhau, chúng đứng từ xa nhìn nhau bằng những con mắt, tức là những
bông hoa của mình: một cây mọc trên sân nhà thầy Niaz, còn cây kia
mọc trong sân trường, một cây là mộc qua, còn cây kia là táo.
Cây táo nở hoa đỏ thắm, còn hoa của mộc qua trắng muốt. Và thế
là dưới cây mộc qua trắng muốt này, thầy Niaz rửa mặt sáng sáng,
thầy vừa rửa mặt vừa cất tiếng hát vui vẻ. Rồi mặt trời bắt đầu rải
nắng xuống con đường trước cửa, và từ đó, từ phía mặt trời, từ phía
ánh sáng, vang xuống tiếng hát của thầy Niaz, trong sáng và tinh
khiết. Thầy Niaz mặc một chiếc áo giặt rất sạch, đi xuống trường để
dạy các em. Thầy đi dọc con đường chói nắng, chào hỏi mọi người; và
không thể nào nhầm giọng nói của thầy với giọng nói của bất kì người
nào khác được. Các giọng nói, con trai ạ, muốn tin hay không tùy con,
chúng đều có màu sắc riêng của mình... Và đây là ngôi trường, cạnh
cây táo đang mùa hoa nở rộ, vì cây táo đó mà tất cả mọi thứ ở nơi đây
đều nhuốm một màu đỏ. Cả chiếc kẻng trường treo dưới mái hiên mỗi
lúc vang lên cũng có tiếng kêu màu đỏ...
Rồi hiên trường trở nên vắng vẻ. Đường làng cũng trở nên vắng
vẻ; các ngôi nhà im lìm nằm như không có bóng người. Còn hai cái cây
vẫn đứng nhìn nhau: một cây mộc qua trên sân nhà thầy Niaz, và cây
táo trong sân trường học.


Để trông thấy được thế giới như thế, có lẽ cần phải là rất bé,
thậm chí còn bé hơn cả con bây giờ... Hình như mùa xuân đó là mùa
xuân đầu tiên cha gặp trong đời. Từ năm tháng xa, rất xa bây giờ của
cha nhìn lại, cha cảm thấy hình như vào mùa xuân đó chỉ có hai cây
nở hoa, và chỉ có một con đường được mặt trời chiếu sáng bằng ánh
nắng của mình... Và cha cảm thấy hình như bức thư do thầy Niaz viết
sở dĩ hay tuyệt vời đến vậy, là vì thầy được sống giữa hai cây nở hoa
đó, và khi lên đường nhập ngũ, thầy đã đi theo con đường sáng loáng
chói ánh mặt trời này.
*
* *
Bức thư của thầy Niaz gửi về được đọc trong sân nhà dưới ánh
đèn dầu hỏa. Dạo đó vào mùa hè, đang giữa vụ gặt, những người phụ
nữ mới từ ngoài đồng về. Trời vừa chập choạng, chưa thật tối hẳn,
xung quanh còn nhờ nhờ màu xám đục, chỉ có trên cành, ở những chỗ
rậm rạp nhất ngay sát thân cây, màn đêm đã trở nên đậm đặc, và
những vệt bóng tối lay động như đang thì thầm một chuyện gì đó.
Trong tổ của mình, mấy con quạ đang chuẩn bị chỗ nằm để ngủ qua
đêm...
Vào buổi chiều hôm ấy, khi thím Menzer đọc bức thư của thầy
Niaz dưới ánh đèn dầu hỏa, thầy đang ở một nơi nào đó trên bờ biển.
Biển đó người ta gọi là Biển Đen, nhưng nước của nó có mầu xanh, rất
xanh, và trên mặt biển xanh biếc ấy bay lượn những con chim lông
trắng muốt - chim hải âu... Còn dọc theo bờ biển là những cánh rừng,
trong rừng là cây, ở quê ta không có những loại cây như vậy mọc... Và,
khi chiến tranh kết thúc, thầy Niaz sẽ trở về và nhất định sẽ đưa
thím Menzer đến vùng đất đó. Họ sẽ dạo chơi trong những cánh
rừng... Và thím Menzer sẽ trông thấy biển. Thím sẽ bơi trong làn sóng
xanh biếc nơi đó... Tất cả sẽ có, tất cả, chỉ mong em hãy giữ mình cẩn
thận, hỡi con chim câu trắng nhỏ bé của anh. Nếu em muốn con của
chúng mình xinh đẹp, em hãy ngủ nhiều hơn, hãy ăn hoa quả nhiều
hơn. Và nữa, em yêu quý của anh, em hãy cố nhìn những cái gì xinh
đẹp, nếu có được phút nào rảnh rỗi, em nhất định hãy nhìn cái đẹp...


“Em hãy cố nhìn những cái gì xinh đẹp...”. Những lời kì lạ đó lúc
đầu làm cho mấy bà phụ nữ buồn cười. Nhưng rồi họ bỗng trở nên
nghiêm nghị, trầm tư suy nghĩ và bắt đầu tranh luận: trên thế giới
này cái gì là xinh đẹp?
Bà nội của cha bắt đầu câu chuyện:
- Những lời anh ấy nói đúng lắm. Về điều này trong kinh Koran
cũng đã nói rồi. Thím Menzer ạ, thím hãy nhìn xuống dòng nước
trong - đứa bé sẽ xinh đẹp ngay...
- Xinh đẹp nhất là hoa uất kim cương, - thím Exmer nói. - Mà hoa
uất kim cương nở về mùa xuân, bây giờ tìm khắp làng cũng không
thấy. Hay chị cố đợi vậy? - Thím Exmer cười khẩy. - Hãy khoan đẻ
vội, đợi mùa xuân đến, hoa uất kim cương nở, lúc đó hãy sinh đứa con
xinh đẹp của mình.
- Hay là tôi dẫn mẹ chồng của tôi đến nhé? - Thím Fatma lên
tiếng đùa. - Tôi dẫn mẹ tôi đến ở với chị, để chị thỉnh thoảng ngó xem
người đẹp!
Bà nội không thích những lời như vậy.
- Chả việc gì phải đem mẹ chồng ra đây, - bà giận dữ nói. - Mẹ
chồng bao giờ cũng chặn ngang họng...
Mẹ của cha con ngồi im, nhìn vào bóng tối. Bà ngồi im, ngồi im
suy nghĩ. Rồi bà bỗng như chợt tỉnh lại:
- Ôi lạy Chúa, - bà nói. - Các chị thử tưởng tượng xem: chiến
tranh, chết chóc, mà anh ấy vẫn không quên cái đẹp...
Rồi bà kể một câu chuyện khó hiểu, một cái gì đó giống như
chuyện cổ tích:
- Chị Menzer ạ, tôi sẽ kể cho chị nghe một chuyện, nhưng vì
Chúa, chị đừng có cười đấy... Khi đi ngủ, chị hãy đặt tay lên ngực
mình. Và chị sẽ thấy chiêm bao... Chị sẽ thấy mình như đang ở trên
núi... Núi cao, rất cao... Nó được phủ kín trong mây, một đám mây rất
mềm, rất xốp... và chị thấy người mình khẽ đung đưa, đung đưa giống
như đang nằm trong nôi. Còn phía dưới là một cánh đồng vô tận: cỏ
mọc xanh, khắp nơi là hoa uất kim cương... Và chị sẽ còn trông thấy


một bông hoa hướng dương vàng rực rỡ, to bằng cái chậu thau. Rồi
một con chim ưng đen, rất đen, bay đến và đậu lên bông hoa hướng
dương. Chị đừng có sợ nó, và cái chính, chị đừng mở mắt. Chị mở mắt
là tất cả sẽ tan biến. Còn nếu chị chịu được, không mở mắt, chị sẽ
bỗng cảm thấy trên ngực có một cái gì đó ấm nóng âu yếm, như có một
con chim nào đó đậu nhẹ lên. Nhưng đó không phải là chim, đó là bàn
tay, bàn tay của Niaz và anh ấy cũng ở ngay đấy, bên cạnh chị... Khi
tỉnh dậy, cả người chị sẽ nhẹ nhõm, chẳng khác gì đám mây....
Mẹ của cha con im lặng, và thím Menzer lập tức đặt tay lên ngực.
Thím Fatma nói rằng vừa mới đây thím cũng thấy một giấc mơ;
một giấc mơ kì diệu, nhưng thím không kể về giấc mơ đó. Mà người kể
lại là thím Exmer. Nhưng giấc mơ của thím rất dài, nên những người
phụ nữ ngủ gật. Một lúc sau mọi người bắt đầu giải tán, vì suốt ngày
ai cũng làm quần quật, mà ngày mai còn phải dậy sớm, để đi gặt lúa
suốt ngày, từ sáng đến tối.
*
* *
... Mùa hè năm đó, những người phụ nữ phải đi gặt từ sáng đến
tối, nhưng dù sao họ cũng không quên bức thư: những lời của thầy
Niaz đã hằn sâu vào trí nhớ mọi người. Và mỗi khi mặt trời lặn, họ lại
nhớ tới bức thư; mỗi khi mặt trăng lên, họ lại nhắc. Chỉ mới nghe họa
mi cất tiếng hót trên cành cây, các bà đã vội gọi thím Menzer. Cái đẹp
mà thầy Niaz viết trong thư là những ngọn cỏ đẫm sương, là bông hoa
hồng đỏ thắm... Một lần, buổi sáng trời đổ mưa rào, và khi mưa tạnh,
từ sân nhà thím Fatma bỗng vang lên tiếng kêu rất to:
- Menzer! - Thím Fatma gọi. - Ra đây! Ra đây mau!... Xem kìa,
cầu vồng đẹp quá!
Cha cũng chạy ra sân. Cũng nhìn lên cầu vồng. Đó là chiếc cầu
vồng đầu tiên mà cha được thấy trong đời.
*
* *


Mùa gặt đã kết thúc, những người phụ nữ được phái đi chăm sóc
các ruộng dưa. Một lần, buổi chiều đi làm về, thím Menzer nói rằng
hình như thím sắp... Và chỉ vì thím nói vậy mà buổi sáng hôm sau các
bà hàng xóm không cho thím dậy, rồi họ bắt cha ngồi trong phòng
thím, cạnh cửa sổ. Cha khóc, cha không muốn ngồi ở đó. Để cha khỏi
buồn, các bà bắt cho cha một con châu chấu, buộc nó vào sợi chỉ dài,
cho cha cầm chơi. Con châu chấu cứ nhảy vào cửa kính, muốn bay ra
ngoài, nhưng không làm sao bay được: cả cửa ra vào lẫn cửa sổ đều
đóng kín. Cha bỗng nghĩ rằng cha không thể nào ra khỏi được, nên
bắt đầu khóc lên thật to.
Thím Menzer đứng dậy, mở cửa cho cha.
- Cháu ra đi, - thím nói. - Cháu ra ngoài sân mà chơi, nhưng nhớ
đừng đi xa...
Đứng ở sân nhà thím trông thấy cả làng như trên lòng bàn tay.
Những bông hướng dương to vàng rực mọc trên sườn dốc xanh bên bờ
sông. Mặt trời vừa chỉ mới hơi ló đầu ra từ phía sau dãy núi. “ Ôi lạy
Chúa... chiến tranh, chết chóc, mà anh ấy vẫn không quên cái đẹp”...
Suốt ngày hôm đó cha ngồi trên hàng rào bằng đất bao quanh sân
nhà thím Menzer. ở hướng đó, phía bên kia hàng rào, là bãi đổ rác
bốc mùi hôi thối, nhưng cha vẫn không muốn đi sang chỗ khác, vì ở
đấy hàng rào thấp hơn, và cha có thể thấy cả những đỉnh núi và lòng
khe...
... Khi cha mở mắt, cha thấy mình đang nằm trong cỏ. Từ trong
nhà vọng ra tiếng bác sĩ Xafin, rồi tiếng trẻ con khóc, thế là cha hiểu
rằng thím Menzer đã sinh. Thím sinh con gái, và tất cả mọi người đều
nói ngay: xinh lắm. Chỉ có điều rất lâu mãi nó vẫn chưa có tên. Người
của ủy ban thôn mấy lần đến, cần phải đăng kí khai sinh cho đứa bé,
cần phải đặt tên, nhưng thím Menzer nói: “Tùy các anh muốn gì,
nhưng tôi đã viết thư cho anh Niaz. Khi nào có thư trả lời, tôi sẽ đặt
tên...”
Nhưng thư của thầy Niaz cuối cùng rồi vẫn không về.
*
* *


Thím Menzer hay ngồi hàng giờ liền bên hàng rào, ở chỗ thấp
nhất, và cứ nhìn, nhìn mãi đi một nơi nào đó. Đôi lúc thím gọi cha
đến:
- Cháu thấy không, - thím nói, - biển đấy, - và tay thím lại chỉ lên
những ngọn núi.
Còn cha cứ nhìn, cứ nhìn lên những ngọn núi, lên những con khe,
và cha cũng bắt đầu thấy biển. Nó cũng màu xanh, mặt biển ấy rất
xanh, xanh như cha đang bơi trên đó.
0
ATANAXOV GHERXO
BULGARIA
SANG TRáI BƯớC
Tên cai hiến binh báo cáo xong. Bây giờ chỉ còn đợi trưởng trại,
một tên sĩ quan trẻ vừa mới từ trường ghextapo đến, bỏ bàn tay ra
khỏi vành chiếc mũ lưỡi trai trắng, và bằng một động tác đột ngột, lại
duỗi thẳng ra phía trước, dọc theo đường viền mũ. Đó là hiệu lệnh bắt
đầu giờ cầu nguyện.
Phía dưới, trước chiếc bục gỗ vừa mới đóng xong chưa kịp sơn, trên
mặt sân lát đá nóng bỏng như đáy lò sưởi, những người tù trí thức bị
bắt về đây từ khắp cả nước đứng cúi đầu im lặng. Trời nóng khủng
khiếp. Đến những cây mẫu thảo gan lì cũng phải cụp lá rủ xuống.
Dường như vầng mặt trời bị nung chảy, loang ra đốt cháy cả bầu trời.
Những người tù, đờ đẫn, kiệt sức vì mệt mỏi, nóng nực, đói khát, trông
giống như những hình đổ khuôn dựng đứng, được chống bằng một cái
gì đó ở phía sau.
Họ im lặng chờ khi nào những ngón tay xương xẩu của tên trưởng
trại ra hiệu để họ bắt đầu kéo dài giọng, mấp máy những đôi môi rách
nát, đọc lời cầu nguyện. Họ nhìn lên cánh tay - cũng dài ngoẵng như
người hắn - của tên trưởng trại. Họ nhìn như bị thôi miên, ngoài cả ý
muốn của mình. Nhưng cánh tay hắn vẫn buông thõng, như bằng gỗ.
Tên sĩ quan ghextapo trẻ vẫn nhìn trân trân vào một nơi nào đó giữa
hàng người đứng trước mặt hắn. Bọn hiến binh, cảm thấy sự căng
thẳng trong cái thân hình đứng hơi cúi về phía trước của hắn, cũng
cảnh giác đề phòng; những bàn tay đẫm mồ hôi bóp chặt báng súng
ngắn nhẵn bóng, trơn tuột.
Một phút, hai phút... Tên trưởng trại vẫn không rời mắt khỏi hàng
tù. Bọn hiến binh, như một lũ quạ, đứng ngọ nguậy không yên, chùi
lòng bàn tay vào ống quần galife rộng thùng thình. Còn những người
tù vẫn chờ bao giờ thì cánh tay dài ngoẵng kia sẽ được giơ lên.


Nhưng tên trưởng trại bỗng cúi gập người lại và chạy vội xuống cầu
thang của chiếc bục gỗ. Đến sân, hắn quay ngoắt người, đầu mút của
chiếc roi ngắn treo lủng lẳng bên thắt lưng hắn vẽ một vòng tròn. Hắn
bước những bước dài đến bên hàng tù.
Hắn dừng lại cũng đột ngột như vậy trước một người tù. Rụt đầu
vào đôi vai hẹp, nhỏ bé, gầy gò, anh ta đứng lẫn vào trong hàng, đang
bằng cách riêng của mình vật lộn với mặt trời. Tên trưởng trại đã đến
sát ngay trước mặt mà anh vẫn không hay biết. Cú đòn đầu tiên rít
lên, nặng nề, khô khốc. Ngọn roi uốn nửa vòng tròn ôm lấy chiếc đầu
hói rồi lại lập tức nẩy bật ra để lại một vệt màu tím sẫm. Bị choáng
váng bởi cú đòn đau bất ngờ, người tù, theo bản năng, giơ đôi bàn tay
nhỏ bé lên ôm lấy tai.
Lại thêm một vệt mầu tím sẫm vắt ngang sọ. Tên trưởng trại đánh
đòn nhịp nhàng, tính kĩ từng động tác. Sau roi thứ ba, máu vọt ra, đỏ
tươi, bốc khói. Con người gầy còm lảo đảo, khuỵu đôi chân run lẩy bẩy
và nhẹ nhàng gục xuống mặt sân lát đá.
Anh được mang đi ngay.
Cái chỗ trước đây anh đứng, bây giờ trống hốc, và dường như quá
rộng đối với thân hình gầy còm kia. Tên trưởng trại nhìn trân trân vào
khoảng trống đó và cài móc khuy áo bị tuột ra. Hắn biết rằng hàng
trăm con mắt đang nhìn hắn, ngơ ngác, ngạc nhiên và căm thù. Hắn
biết, và với một sự vui mừng thầm kín, chờ đợi cuộc đọ sức lặng lẽ,
khoan khoái thưởng thức cái quyền lực vô tận của hắn đối với những
con người này. Hắn cho rằng cái quyền lực đó hắn có được không chỉ do
sức mạnh của vũ khí tạo nên, mà còn do những đức tính bên trong còn
hơn hẳn của chính hắn. “Một vài roi, - hắn nghĩ, - và tên hèn mọn kia
nằm lăn trên mặt đất”. Hắn im lặng nhìn vào mắt những người tù và
cố tạo ra một vẻ ngạo mạn. - “Chúng mày ngạc nhiên, tức giận...
Nhưng sự giận dữ của chúng mày còn yếu, còn quá yếu. Mà tao cần
lòng căm thù. Đấy, khi nào tao đọc thấy lòng căm thù trong mắt chúng
mày, tao sẽ nói cho chúng mày biết tại sao tao lại đánh thằng này, các
ngài trí thức ạ!”
Mệt mỏi vì nóng, hắn quay lên bục.
Ngày hôm sau, việc đánh người kì lạ lại lặp lại. Đáng lẽ phải ra
hiệu lệnh để bắt đầu giờ cầu nguyện, tên trưởng trại chạy xuống bục,


và dừng lại trước người tù mang băng trắng, với sự nhịp nhàng như
ngày hôm qua, vung roi quất. Lần này con người gầy gò gục xuống sau
roi thứ năm. Gục hẳn xuống, như thân cây bị phạt ngang.
Anh được mang đi. Chỗ trống trong hàng vẫn rộng quá mức như
ngày hôm qua. Không rời mắt khỏi hàng người, tên trưởng trại lùi lại
mấy bước, chậm chạp một cách đầy thách thức, ngạo mạn. “Bây giờ
chúng ta có thể nhìn vào mắt nhau lâu hơn”, - hắn nghĩ. Trên mặt
hắn, như vệt mây, một nụ cười nhợt nhạt thoáng qua rồi tan đi trong
sự nóng nực của mặt trời.
Những người tù im lặng - họ còn biết làm gì hơn? Còn hắn chờ đợi
sự phản kháng, ít ra là một dấu hiệu chống đối. “Nếu có tiếng kêu, -
hắn nghĩ, - mình sẽ không tìm xem đứa nào kêu. Mình sẽ làm bộ như
không nghe thấy gì cả”. Tên trưởng trại còn trẻ, hắn thích thú hưởng
cái quyền lực của mình đối với những con người này. Nhưng những
người tù như đã hóa đá. Vẻ ngoài bất động và sự im lặng tuyệt đối của
họ làm cho hắn ngạc nhiên, và thậm chí còn sợ hãi nữa.
- Chắc chúng mày, các ngài trí thức, cho rằng đây là một sự đánh
đập vô nghĩa. Phải thế không? - Hắn nói to để xua đuổi cái cảm giác lo
lắng bỗng xâm chiếm lấy người hắn, và chỉ vào chỗ trống, nơi trước đây
người tù bị đánh đứng. - Tao đã nói với chúng mày rằng sự độc ác (hắn
nhấn mạnh hai chữ này) vốn không phải là bản tính của tao... Chúng
mày hãy xem kia!
Hắn chỉ tay về phía khoảng trống trong hàng, tất cả quay đầu lại
nhìn. Bên cạnh, giữa mảnh sân lát đá, có một cây phượng già. Gầy gò,
cong queo, nó chĩa lên bầu trời một cành khô duy nhất của mình. Từ
trong vết nứt trên vỏ, một chồi lá xanh nhỏ tí mọc chìa ra. Chiếc bóng
nhợt nhạt, trong vắt, như bàn tay trẻ con mở rộng, in lên mặt đất nóng
bỏng. Dưới cái bóng khó nhận thấy này là chỗ của người tù bị đánh.
- Chúng mày có thấy cái cành cây xanh kia không? - Tên trưởng
trại nói tiếp. - Tao thương, tha cho nó. Để cho nó tự do xanh... Và có
một thằng người, đồng... đồng nghiệp, hừm, “đồng chí” của chúng
mày, dám lợi dụng sự yếu lòng đó của tao. Hắn đứng dưới bóng của
nó... Thưa các ngài trí thức, chúng ta thỏa thuận thế này: khi tao còn
là trưởng trại của chúng mày, ở đây sẽ không có cái bóng nào cho
chúng mày cả. Từ nay về sau cái chỗ này trong hàng, - hắn chỉ lên cái


bóng, - sẽ để trống. Hàng sẽ tách ra một khoảng, tao cho phép... Thế
đấy!
Đứng bên cạnh khoảng trống đó là một người tù trạc tuổi trung
niên. Những lời cuối cùng của tên trưởng trại buộc anh phải ngẩng đầu
lên và bắt gặp ánh mắt của hắn. “Đóng kịch!” - anh đọc trong ánh mắt
tên trưởng trại và nghĩ: “Tên chó đẻ này muốn đóng kịch!” Anh đưa
mắt nhìn sang bức tường đá của nhà tù, nơi đó không khí lung linh run
rẩy như bị hun trên một ngọn lửa rất nóng. Phía bên kia bức tường là
cánh đồng bỏ hoang trần trụi, một bãi sa mạc đầy hào hố và cỏ dại, lổn
nhổn rắn độc. Buổi chiều, khi đi làm về, những người tù đi thành hàng
chuyền tai nhau bản tin cuối cùng của Cục Thông tin Xô viết. Họ giẫm
chân, họ cười to để cho bọn lính áp giải không nghe thấy. Hôm qua,
bản tin rất ngắn: “Những trận chiến đấu ác liệt, dai dẳng đang diễn ra
ở vòng cung Curxc”.
Curxc... Đã hai đêm nay anh mơ thấy thành phố nhỏ đó. Chưa bao
giờ anh đến đấy cả, và thậm chí trước đây chưa bao giờ anh nghe nhắc
tới nó. Và anh cũng mới bắt đầu ngủ mơ từ khi bị bắt vào trại tập
trung. “Curxc... Những trận chiến đấu ác liệt, dai dẳng...” Thế đấy,
hình như trong bản tin có nói: “dai dẳng”.
Anh nhìn sang đồng đội; những khuôn mặt của họ cau có và cương
quyết. Khoảng trống trong hàng lại thu hút sự chú ý của anh. “Từ nay
về sau cái chỗ này trong hàng sẽ để trống...” Anh đưa mắt nhìn tên
trưởng trại - hắn đang nhìn đi đâu đó phía trên đầu hàng người. “Mày
muốn diễn kịch!” Tất cả trong người anh như bùng lên, và anh bước
sang trái một bước, đứng vào khoảng trống. Giọng khàn khàn của anh
vang lên đơn độc và yếu ớt:
- Các đồng chí, dồn lại!
Chiếc bóng nhợt nhạt của cành cây xanh nhảy múa trên đầu anh.
Tiếng thì thầm lan đi khắp hàng: “Các đồng chí, sang trái, bước!”
Những con người ngẩng đầu lên, ghé vào nhau, hỏi lại, rồi sau đó,
với đôi mắt sáng rực từ từ bước sang trái. ở một nơi nào đó có người
chậm chạp, hàng người dồn lại thành đám, rối loạn cả hàng ngũ. Rồi
hàng được sắp xếp lại, những bàn chân tiếp tục bước sang trái. Cứ thế
cho đến lúc tất cả đứng sát kề vai nhau thành một bức tường xám dày


đặc. Họ đứng bất động, những ánh mắt nặng nề nhìn ra trước mặt, chờ
đợi.
Máu dồn lên mặt tên trưởng trại, hắn ngoảnh nhìn về phía sau.
Những bàn tay đẫm mồ hôi của bọn hiến binh nắm chặt súng sẵn
sàng. Hắn quay lại: một khối người màu xám đứng sát nhau, hơi xô lên
phía trước rồi lùi lại. Những chiếc đầu trọc lóa lên dưới ánh nắng mặt
trời. Thì ra lòng căm thù của họ mạnh hơn hắn tưởng. Nhưng không
sao, hắn sẽ sửa chữa ngay sai lầm của mình... Đây, cái bóng đây. Tên
trưởng trại từ từ tiến lên phía trước, tay mở cúc áo ngực. “Hay là gọi
bọn đứng ở sau? Không, tốt hơn là tự mình”. Và vẫn còn bước đi, hắn
đã quất roi đầu tiên. Hắn vung tay không vội vã, vòng rộng và dẻo, rồi
quất mạnh xuống, cố gắng lợi dụng quán tính để tiết kiệm sức.
Người vừa đứng vào chỗ trống được mang đi sau cú đòn thứ bảy.
“Bảy roi! - Tên trưởng trại bước lùi lại, bắt đầu nhẩm tính trong óc. -
Nóng thế này chắc mình không chịu nổi trăm rưởi hoặc hai trăm roi!”
Chỗ dưới bóng cây để trống mấy giây. Rồi người tù cao, lưng gù,
đứng ở bên phải, bước sang một bước, đứng vào chỗ.
“Lại tám roi nữa!” - Tên trưởng trại đếm số đòn, cố không nhìn
người tù lưng gù nằm gục trên mặt sân lát đá.
- Sang trái, các đồng chí, sang trái!
“Mười sáu...” - tên trưởng trại nhẩm đếm.
Dưới bóng cây là một người đàn ông cao lớn, cả người đầm đìa
máu. “Mười chín...” chiếc khuy áo thứ hai đã cởi ra từ lâu, mồ hôi chảy
dọc sống lưng, mồm không đủ không khí. “Hai mươi ba, - hắn đếm, -
hai mươi bốn... Không được dừng lại... hai mươi tám...”
Người tù rụt cổ vào đôi vai rộng, nhưng liền đó lại đứng thẳng lên.
“Hai mươi chín...”.
Người tù nhổ bãi máu ở trong miệng ra, liếm môi và hơi doãng
chân ra.
“Để cho vững hơn”, - tên trưởng trại nhận xét và vung roi quất
xuống với một sức mạnh điên khùng bất ngờ. Ngọn roi ôm khắp đầu.


“Bây giờ hắn sẽ gục xuống”, - tên trưởng trại nghĩ và buông thõng tay
xuống, biết rằng lần này đòn rất mạnh, rất đau.
Người tù cắn môi, nhưng không đưa tay lên che mái đầu bốc lửa.
Anh lại doãng chân ra thêm một ít nữa.
“Nào, lần này tao cho mày gục này! - Tên trưởng trại nghĩ và ngả
cả người ra phía sau, quất mạnh. - Tao không phải là sĩ quan, nếu
không cho mày gục!”
Ngọn roi cắt rách tai. Máu phọt ra và chia thành từng dòng nhỏ,
chảy theo chiếc cổ nhăn nheo xuống áo.
Lại một cú đòn mới. Máu loang ra một bên mặt. Một đòn nữa -
máu loang ra cả bên mặt kia. Người tù đến không còn nhận ra nữa.
Anh đứng, chân hơi doãng, hai tay chắp sau lưng, mắt nhắm chặt và
đón chờ cú đòn tiếp theo: đầu tiên như tiếng gió từ xa thổi đến, rồi sau
đó như một luồng sáng mạnh bất ngờ chiếu vụt ra từ bóng tối.
“Một đòn nữa...”
Nhưng không có đòn tiếp theo. Người đầm đìa mồ hôi, tên trưởng
trại lùi lại một bước. “Cái thằng người này còn có thể chịu được rất
lâu, và sau hắn là cả một hàng dài những thằng như hắn. Chúng chỉ
có vẻ bên ngoài là dửng dưng, không có khả năng chống đối thôi. Đó
chỉ là điều lầm tưởng”. Hắn biết rằng khi người tù đứng dưới bóng cây
gục xuống, hàng người sẽ lại chuyển động, và người đứng bên phải sẽ
thế ngay vào chỗ trống...
Mặt tên sĩ quan trắng nhợt ra như xác chết. Cặp chân hắn nhũn
xuống như làm bằng bông ướt. Hắn chợt muốn, đến không cưỡng nổi,
nằm vật lên chiếc giường trong căn nhà chỉ huy của hắn. Trước mắt
hắn hiện ra những vòng tròn xanh, và hắn hiểu rằng, nếu vung roi lên,
dù chỉ một lần nữa, chính hắn sẽ phải ngã xuống mặt sân đá. Không
rời mắt khỏi hàng tù, hắn thận trọng gỡ tay ra khỏi dây đeo, ném roi
xuống chân một tên hiến binh đứng bên cạnh và đi về phía ngôi nhà
chỉ huy. Hắn bước chậm chạp, cố thu hết tàn lực cuối cùng.
Bất ngờ có một quả cầu nhỏ bay đến bên cây phượng già, nở to ra,
đậu lên cành và biến thành một chú chim sẻ say lử đi vì nắng. Chiếc


bóng nhợt nhạt giật mình, khẽ đung đưa, rồi lại nằm im bất động trên
nền đá nóng bỏng.
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
BACLANOV GRIGORI
NGA
MộT CƠN ĐAU KHổ GIá BAO NHIÊU
Hồi đó là tháng Năm, chiến tranh kết thúc đã được sáu ngày.
Chúng tôi đóng quân trong một làng Đức - bốn chiến sĩ trinh sát, và
tôi, chỉ huy của họ. Trong cái làng không giống với các làng xóm của
người Nga này có mười hai ngôi nhà vững chãi, dưới nhà là hầm ngầm
được quét dọn sạch sẽ, rải cát dày, xếp đầy những thùng rượu mát
lạnh cất bằng táo quả, ngoài sân là nơi nuôi gà và đàn lợn mũm mĩm,
trong chuồng là những con bò cái Hà Lan đứng thở phì phì; còn phía
sau nhà, trên những thửa đất được bón phân đầy đủ, lúa mì mọc rất
tốt. Và mặt trời hiền hòa tháng Năm chiếu sáng tất cả những cái đó:
lúa mì trên những thửa ruộng nhỏ sau nhà, mái ngói đỏ, đàn lợn
mũm mĩm, những người chủ nhà sớm sớm hiền lành và cởi mở chào
hỏi chúng tôi. Họ gần như ngay tức khắc, không cần bàn luận, chuyển
sang trạng thái hòa bình, đơn giản đến nỗi dường như để làm chuyện
đó chỉ cần cởi bỏ ủng nhà binh và xỏ chân vào đôi giầy bằng vải phớt
dùng để đi trong nhà - chính những đôi giầy mà sáu năm về trước họ
đã cởi ra để xỏ chân vào ủng nhà binh. Họ không thích nói về chiến
tranh, chỉ lắc đầu tỏ vẻ phê phán và nhắc tên Hitler - chính hắn mới
là người có lỗi trong tất cả mọi chuyện, cứ để cho hắn phải chịu tất cả
trách nhiệm; còn họ chỉ việc cởi ủng ra là hết.
Vào ngày hòa bình thứ hai, chúng tôi bắt được một tên lính Đức
trong đám lúa mì ở phía sau làng. Người cao lớn, trong chiếc áo khoác
sĩ quan màu đen cổ bằng nhung, hắn đứng giữa chúng tôi; và chúng
tôi, lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến tranh này khi bắt được tù binh
không biết phải làm gì với hắn. Nhìn hắn đứng xo ro đôi vai dưới lần
áo khoác, tôi bỗng cảm thấy tính chất ước lệ tương đối của rất nhiều
khái niệm của loài người: hôm kia hắn còn là kẻ thù, bây giờ hắn
không còn là kẻ thù nữa, và thậm chí cũng không phải là tù binh;


nhưng đồng thời thả hắn ra cũng không phải là đơn giản, dễ dàng đối
với chúng tôi.
Tôi còn nhớ tháng Sáu năm . Chúng tôi rút lui và nhiều
người đã hi sinh; nhưng khi bắt được một tên tù binh Đức, nhìn thấy
đôi bàn tay to lớn, bàn tay người thợ của hắn, chúng tôi còn vỗ vào
lưng hắn, cố tìm cách giải thích, thông cảm, rằng hắn cũng là công
nhân, và Hitler đã buộc hắn phải cầm súng đánh nhau với chúng tôi.
Và chúng tôi đã cho hắn cùng ăn chung. Đó là những ngày đầu chiến
tranh. Còn bây giờ chiến tranh đã kết thúc, đứng trước mặt chúng tôi
là một tên lính Đức bị bắt trên cánh đồng lúa, và không một ai trong
chúng tôi có thể khích lệ vỗ lên vai hắn. Chúng tôi cũng không thể nói
với hắn như những người lính hai phe có lẽ đã nói với nhau sau những
cuộc chiến tranh trước đây: “Tôi là lính, anh cũng là lính, và chúng ta
không có lỗi; lỗi là ở những người bắt chúng ta phải bắn vào nhau. Cứ
để cho chúng phải chịu toàn bộ trách nhiệm”. Bây giờ có một ngăn
cách khác nằm giữa chúng tôi với hắn; sau cuộc chiến tranh này, có
một thước đo khác để đo tội lỗi và trách nhiệm của mỗi người.
Nhưng hình như dân làng và ông chủ ngôi nhà tôi ở không cảm
thấy điều đó. Buổi sáng, khi tôi treo thắt lưng với khẩu súng ngắn lên
thành giường gỗ và ăn sáng, ông ta bước vào, miệng ngậm tẩu thuốc
và chào “herr sĩ quan”(). Hôm đầu ông ta đứng ở cửa, nhưng chỉ sau
một vài ngày đã ngồi bên bàn, chân gác chéo lên nhau. Mặt trời buổi
sáng chiếu xiên qua cửa sổ, ông ta nheo mắt rít tẩu thuốc, vành
miệng tẩu bằng kim loại đã đen xạm vì chất nicôtin, khoái trá ngồi
nhìn “herr sĩ quan” ăn. Trước đây ông ta cũng đã có thời trai trẻ, nên
hiểu rằng vì sao một người trẻ tuổi như tôi, khi ăn sáng lại có một sự
ngon miệng dễ thương đến thế. Đôi mắt nheo nheo của ông ta ánh lên
lòng nhân hậu. Ngoài sân nghe tiếng chị vợ xách chiếc xô vắt sữa
tráng men chạy đi chạy lại. Mười tám tuổi, chị ta đã sinh cho chồng
một đứa con trai; và bây giờ, ba mươi hai tuổi, trông chị ta không thể
nào là mẹ của cậu quí tử có thân hình dài ngoẵng, cao hơn bố cả nửa
cái đầu này. Thậm chí lúc đầu chúng tôi tưởng đó không phải là con
của chị ta, mà của ông ta với một người vợ khác.
Ngay ngày đầu tiên, chủ nhà đã xin phép tôi ban đêm đưa vợ đến
nhà người thân ở làng khác ngủ: vợ ông ta còn trẻ, mà trong nhà là
lính... Để tôi khỏi nghi ngờ gì, con trai của ông ta sẽ ở lại với chúng


tôi. Ngoài ra còn toàn bộ tài sản của ông ta: bò, lợn, và tôi không nghi
ngờ gì về nguyên nhân con trai ông ta sẽ ngủ lại nhà.
Họ ra đi lúc mặt trời lặn, đứa con trai còn xủng xoảng chìa khóa
trong các nhà kho cho đến tận tối mịt. Chúng tôi không chú ý đến nó.
Các chiến sĩ trinh sát ngồi lại một chỗ ngoài sân, nhìn ráng chiều và
khe khẽ hát hai bè bài hát về người lính Cozac ra trận. Bài hát này
dù đã nghe đến hàng trăm lần, ở đây, ở nước Đức xa xôi này, nó vẫn
làm trái tim se lại.
Sáng hôm sau, trời hãy còn sương lạnh, ông bà chủ nhà đã trở về.
Ông ta đến chào “herr sĩ quan”, còn chị vợ lập tức chạy đi chạy lại
ngoài sân, cho gà lợn ăn, đôi cánh tay hồng hào mập mạp làm mọi
việc khéo léo nhanh nhẹn. Các chiến sĩ trinh sát của tôi ngồi sưởi
nắng trong sân, chị ta hết chạy từ chuồng bò vào nhà, lại từ nhà ra
chuồng bò, mang theo mùi bánh mì, mùi sữa bò, mùi mồ hôi nồng nặc,
đưa mắt liếc nhanh như chớp, đôi khi gấu váy quệt cả vào một người
nào đó. Còn khi chị ta đứng chống hai tay vào sườn trong chuồng lợn,
bầy lợn chen chúc nhau cạnh máng ăn, cọ sườn vào đôi chân trần
đứng dạng ra của bà chủ với cặp đùi mập mạp, bộ ngực mạnh mẽ và
khuôn mặt chăm chú của một đứa trẻ vừa được bú xong, trông chị ta
chẳng khác gì bức tượng đài của sự no đủ và thỏa mãn... Ông chủ,
ngược lại, người gân guốc, gầy gò, vai mảnh khảnh với những ngón
tay to mập và chiếc tẩu không bao giờ tắt trong miệng. Nhưng trong
cái bước đi buông thả, trong cái vẻ thường nhật gia đình của ông ta,
dù sao vẫn cảm thấy một tác phong quân sự được cố ý che giấu hết
sức cẩn thận, kĩ lưỡng.
Và cũng như vậy vào cái buổi sáng hôm đó, khi tôi ăn sáng, ông
ta ngồi bên bàn và trao đổi vài câu chuyện thận trọng. Còn tôi, nhìn
ông ta từ phía sau mép chiếc cốc, trong lòng muốn về nhà đến chết
được, dường như không phải chỉ mới sáu ngày, mà đã hơn một trăm
năm rồi chúng tôi ở lại trong cái làng Đức sạch sẽ, nhờ một sự may
mắn đáng kinh ngạc nào đó thoát khỏi sự tàn phá khủng khiếp của
cuộc chiến tranh này. Hôm nay chỉ một điều làm tôi thích thú: ngoài
sân, một chiếc xe mô tô mới tinh đang chờ tôi. Sáng nay các chiến sĩ
trinh sát vừa mang về, và tôi còn chưa trông thấy nó.
Bà Magda, với bộ mặt già nua bất động, đôi cánh tay cứng như
sắt để trần đến tận khuỷu, khệ nệ khiêng trước bụng một chiếc thùng


gỗ sồi ướt nước đi ngang qua cửa sổ. Chân bà đi đôi ủng lính thấp cổ.
Bà làm công cho nhà này từ mùa thu. Trong cả làng, hình như chỉ
riêng đối với một mình bà là không có hòa bình, cũng như đối với bà
đã không có tương lai. Tất cả những gì bà có đều thuộc về quá khứ,
mà với sức khỏe sắt đá của mình, bà sẽ còn phải sống rất lâu.
Trước đây bà đã có chồng, Đảng viên cộng sản. Trong một cuộc
mít tinh, ông bị dao đâm vào lưng chết. Trước đây bà cũng có con trai,
một đứa duy nhất và đẻ muộn. Cùng với con, bà đã sống thêm cuộc
đời thứ hai - không phải cuộc đời của bà nữa, mà là của con. Con bà bị
giết chết ngoài mặt trận vào năm bốn mươi tư.
Tiểu đội trưởng trinh sát Margoxlin, đang ngái ngủ, mặc áo va rơi
không thắt lưng, đi chân đất, bước tới trước mặt bà, đỡ lấy chiếc
thùng. Nhưng bà vẫn không buông tay ra, và hai người đứng một lúc
ở giữa sân kéo thùng về phía mình. Rồi Margoxlin nhẹ nhàng vác
thùng trên vai đi trước, bà Magda theo sau, khuôn mặt của bà ngay
dưới nắng trông vẫn đen sạm. Họ đi khuất vào sau nhà kho.
Tôi chưa lần nào thấy các chiến sĩ trinh sát của tôi giúp đỡ một
người nào đó trong số chủ nhà, cả bà chủ với những “điểm mạnh”
quyến rũ như vậy, và cả đứa con trai. Người duy nhất được họ thương
là Magda, một bà già đã mất hết tất cả trong chiến tranh, và giờ đi
làm thuê cho những kẻ không hề mất gì, mà ngược lại, hình như còn
được nữa là khác.
Tôi ăn nốt món trứng và rót cho mình cốc rượu vang thứ hai. Thứ
rượu trong suốt, óng ánh, vừa được mang từ dưới hầm lạnh lên, và
những hạt hơi nước li ti đọng lại rất lâu trên chiếc cốc in những vết
ướt của các ngón tay. Rồi tôi đeo bao kiếm, - ông chủ nhà có mặt lúc
đó tỏ ra rất cung kính, - thít chặt lại chiếc thắt lưng sĩ quan, và cảm
thấy từng cơ bắp nở căng của mình. Đặc biệt hài lòng cảm thấy sức
nặng của khẩu súng ngắn treo ở đùi, tôi đội chiếc mũ sĩ quan lên đầu
và bước ra sân. Mặc dù đã trải qua một cuộc chiến tranh như vậy, con
người vào cái tuổi hai mươi hai, thực ra vẫn còn rất trẻ nếu những chi
tiết đó đối với anh ta vẫn có thể là quan trọng, nhất là trước con mắt
của một người Đức.
Sau mấy cốc rượu vang lạnh, mặt trời ngoài sân đã chiếu sáng
rực rỡ, và dưới cửa sổ cạnh bức tường trắng, một chiếc mô tô lấp lánh


thép mạ kền bóng loáng. Tôi nổ máy, dắt ra khỏi sân; và chân tôi chỉ
kịp vừa chạm đến pê đan, chiếc xe đã phóng vụt đi trên con đường
xuyên qua đồng lúa. Tôi bay ngược lên theo con đường đó, đến bức
tường xanh của bầu trời. Quả thật chiến tranh đã kết thúc, và chúng
tôi đang ở nước Đức.
Phía bên kia đèo là một làng nhỏ, nơi đóng quân của Volodia
Iacovenco, chỉ huy đội trinh sát một đơn vị xe tăng khác cũng gồm
bốn chiến sĩ. Tôi cho xe chạy ngoằn ngoèo trên đỉnh đèo theo con
đường đá trong rừng, rồi từ đó, với tiếng động cơ nổ giòn, phóng như
bay xuống làng. Cây cối, hàng dậu trước nhà và những cánh cửa sổ
mở rộng, qua làn nước mắt ứa ra nhập thành hai dải sáng kéo dài ở
hai phía của con đường.
Phía trước là ngã tư đường với một đống đá ở giữa. Đến Iacovenco
thì rẽ sang phải. Đúng vào lúc tôi vừa cua ngoặt, một con chó nhỏ từ
trong nhà đâm thẳng vào dưới bánh xe. Tất cả xẩy ra trong một
khoảnh khắc, đôi tay phản ứng nhanh hơn cả ý thức. Chỉ kịp lái xe
tránh qua một bên, hãm phanh, tôi đã bị bắn ra khỏi yên, ngã lăn
xuống đất, người trượt đi một quãng dài, hai bàn tay bíu chặt lấy mặt
đường đầy bụi.
Tôi nhảy vụt ngay dậy. Trước cửa nhà, một đứa bé chừng ba tuổi
đứng ôm con chó nhỏ trên tay. Nó không bỏ chạy, chỉ kinh hoàng tròn
mắt nhìn tôi và ra sức ép chặt con chó nhỏ vào lòng.
Chiếc quần galife bị xát xuống đất rách toạc ở đầu gối, hai bàn
tay dính bụi bỏng rát rớm máu. Chiếc xe mô tô bẹp dí nằm trên đống
đá giữa đường, bánh sau còn quay tít. Tôi ngồi xuống một hòn đá.
Chân tôi run run. Tôi phun đất ở miệng ra. Trong ý thức đờ đẫn của
tôi chỉ có một ý nghĩ rõ ràng: “Chỉ tí nữa mình có thể bị tan xác. Sau
khi chiến tranh đã kết thúc...” Các chiến sĩ trinh sát của Iacovenco
chạy đến. Họ lần lượt mang tôi vào nhà theo từng phần một: đầu tiên
là tôi, sau đó là chiếc mũ sĩ quan mà một người nào đó tìm thấy ở phía
bên kia đường.
Trong khi mấy người cởi ủng cho tôi, Iacovenco đứng bên cạnh với
cốc rượu vang trong tay.
- Uống đi, - anh nói. - Xương còn nguyên chứ? Thế nào các cậu,
xương cốt không sao chứ?


Và anh đưa tay sờ đầu tôi.
- Đau không? Còn ở đây? Còn nguyên! Thế thì có thể uống được,
uống đi!
Khi mọi người đã ra khỏi, anh ngồi xuống giường cạnh tôi. Đến
lúc đó tôi mới nhận thấy rằng anh có vẻ mặt của một người ốm, từ
người bốc ra mùi vodka.
- Anh biết không, - anh nói, - tôi đã đến trại tập trung. Cách đây
ba cây số. Hôm qua tôi đi đến đó.
Anh lấy bàn tay lau trán.
Tôi biết rằng bố anh, chính ủy tiểu đoàn xe tăng Iacovenco, đã
mất tích năm ở Kiev. Hai năm sau, có một người đến nhà nói với
mẹ anh, rằng ông ta cùng ở với bố anh trong một trại tập trung ở nước
Đức vừa trốn thoát về. Bố anh không chạy trốn được và nhờ ông báo
tin cho gia đình rằng mình còn sống. Mẹ anh viết cho anh - lúc bấy giờ
anh đang ở mặt trận, - và vẫn không biết có nên tin, hi vọng hay
không.
Từ đó, Iacovenco có một hi vọng thầm kín: khi nào quân ta tiến
vào nước Đức, anh sẽ biết được tin tức của bố. Và càng gần đến ngày
kết thúc chiến tranh, niềm hi vọng đó của anh càng trở nên nóng vội,
da diết.
Cuối cùng, mãi đến hôm qua anh mới tận mắt trông thấy trại tập
trung. Anh đi theo con đường đẫm máu từ cổng trại đến nhà thiêu xác
mà trước đây hàng trăm nghìn con người bất hạnh, bị hành hạ, đã đi
qua. Anh cũng biết rằng, nếu trong số vô vàn những dấu vết đã vĩnh
viễn biến mất ở đây có cả dấu vết của bố anh, thì cũng không bao giờ
có ai có thể kể lại cho anh điều đó được.
- ở đấy có một con hào. Phía bên kia nhà thiêu xác. - Anh bỗng
tái nhợt người đi. - Ruồi bay dầy đặc trên miệng hào. Ruồi xanh... Tôi
không hiểu ngay được... Chỉ cảm thấy đột nhiên hoảng sợ... Có lẽ vì
mùi... ở đấy, dưới hào, là mỡ người... Người bị chúng thiêu, và mỡ
chảy xuống đó...
Người anh lảo đảo, lắc lư, hai đầu gối kẹp chặt lấy bàn tay.


- Anh biết không, - anh nói, - tôi hi vọng một điều: bố tôi là chính
ủy. Mà bọn Đức thì không bắt chính ủy làm tù binh... Thêm vào đó,
người đến nhà tôi nói rằng ở trong trại tập trung, họ của bố tôi là
Iacovlev. Không phải là Iacovenco, mà Iacovlev. Hay ông ta nhầm với
một người nào khác chăng? Sau đó mẹ tôi không còn gặp ông ta lần
nào nữa.
Tôi biết nói gì với anh? Tôi nói rằng điều đó có thể xảy ra lắm,
thậm chí chắc chắn là như vậy, bản thân tôi cũng có biết mấy trường
hợp như thế. Thí dụ như ở trong trung đoàn chúng tôi, khi chúng tôi
vượt vòng vây...
Iacovenco ngồi lắc lư, cặp mắt nhắm nghiền, đôi má tái nhợt,
nhưng hai thái dương đỏ bừng và trên trán mồ hôi rịn ra từng giọt.
Đêm đến, bất chợt tỉnh giấc, tôi thấy trên trần nhà một bóng
người rất to: đôi vai rộng gần che kín cả trần và chiếc đầu rụt sâu vào
trong cổ áo. Hai tay ôm chặt thái dương, Iacovenco ngồi bên bàn, một
ngọn nến đặt trong đĩa chiếu sáng khuôn mặt anh từ phía dưới. Thấy
tôi không ngủ, anh nhón chân đi dép, mặc quần galife, áo va rơi
không thắt lưng, ngồi sang giường tôi.
- ở đó người ta kể với tôi rằng tro... tro của những người bị thiêu,
bị chúng chở ra đồng. Ruộng ở đây được bón bằng tro.
Anh đưa tay lên xoa cổ. Miệng anh khô đắng, và giọng nói của
anh cũng khô, khàn khàn.
- Tôi trở về nhà, hỏi họ: “Các ông có biết chuyện đó không? -
Nichts, Nichts”(). - Họ nói không biết. Thế thì đi mà xem! - Chiếc cổ
rộng của anh vằn máu. - Họ không đi. Không muốn đi. Anh hiểu
chưa? Chúng thiêu người ngay bên cạnh. Tro đem bón đồng. Còn bây
giờ thì nhai bánh mì...
Anh đứng dậy, ngọn nến lung linh, bóng bàn tay trên tường bay
vụt lên chiếc giá gỗ. Lấy xuống một vật trang sức, Iacovenco chìa
nhãn hiệu bên ngọn nến: “Anh thấy không?” Nhãn hiệu của Pháp.
Trong ánh sáng lung linh của ngọn nến, từ giá gỗ trên tường, rất
nhiều vật dụng và đồ trang sức nhìn chúng tôi, những đồ vật hoàn
toàn không hợp bộ với nhau. Đó là đồ vật của nhiều người, trước đây
chưa hề biết nhau bao giờ, nói bằng những thứ tiếng khác nhau, và


bây giờ chắc là đã bị thiêu hủy. Còn ngoài sân là đàn bò cái mang từ
Hà Lan tới, những con lợn đưa từ Đan Mạch về. Và cách đây vài cây
số là trại tập trung.
Ngày hôm sau tôi không thể nhìn cánh đồng được nữa. “Ruộng ở
đây được bón tro...” Dù sao tôi vẫn không muốn tin điều đó. Tôi biết
rằng rất dễ dàng mang tội lỗi của một người hay một số người gán cho
tất cả. Nhưng mọi người ở đây đều im lặng. Cả những người biết, cả
những người đã đoán ra, và thậm chí cả những người không tán
thành.
Chúng tôi đi xuống núi, và anh chiến sĩ trinh sát kéo căng dây
cương ghìm ngựa lại. Tôi nằm trên đống cỏ khô, mặt trời chiếu ấm; từ
thân người bị sưởi nóng bốc lên mùi mồ hôi. Những thửa ruộng hai
bên chạy ngược lại. Trên nền đất xốp, màu xám tro, những đám lúa
mì đang độ lớn non mơn mởn bị phủ một lớp bụi đường. Và tôi không
thể nhìn lớp đất và những thửa lúa mì đó.
Trên bầu trời xanh thanh bình của nước Đức, những đám mây
bông trắng nõn chậm chạp trôi. Bóng của chúng nhẹ nhàng lướt trên
mặt đất. Hòa bình và yên tĩnh. Nhưng biết bao nhiêu con người trong
cảnh hòa bình vừa được mang đến này phải phục sinh những người đã
chết để rồi sau đó lại đem chôn, và chỉ một số rất ít ỏi những ai may
mắn đón về những người đã được để tang trước đó.
Chúng tôi dừng xe ở cạnh cổng; anh trinh sát vội quay ngựa trở
về ngay, tôi bước vào sân. Các chiến sĩ của tôi không ai ở nhà, vợ
chồng chủ nhà vừa nhìn thấy tôi liền lánh vào sau chuồng bò thì thầm
trao đổi với nhau. Mấy lần họ thò những bộ mặt lo lắng ra nhìn tôi.
Trong khi tôi đi vắng có một chuyện gì đấy đã xẩy ra.
Tôi ngồi xuống giường, duỗi thẳng chiếc chân đau không thể gập
lại được, rút điếu thuốc ra và muốn châm lửa hút. Nhưng tôi đang
mặc chiếc quần galife màu xanh của Iacovenco và quên không bỏ bật
lửa của tôi sang đây. Chủ nhà cũng đã bước vào phòng. Tôi nhấm
nước bọt vào ngón tay và bôi lên chỗ dây thắt lưng da bị cào xước ở
bên sườn.
Ông chủ nhà hôm nay cởi mở hơn so với thường ngày. Nhìn thấy
điếu thuốc lá trong tay tôi, ông ta lập tức, nhưng không vội vã, bật lửa


cho tôi châm, như cho một người quen thân tốt bụng. Rồi ông ta ngồi
xuống chiếc ghế dài - cùng đàn ông với nhau mà!
Vừa châm lửa hút, tôi vừa liếc mắt nhận thấy vợ ông ta chạy vội
vào chuồng lợn. Vẻ mặt của chị ta vừa giận dữ, nhưng đồng thời vừa
sợ hãi, sẵn sàng chịu đựng mọi khổ nhục. Chủ nhà không nhận thấy
những điều đó. Ông ta ngồi rít tẩu thuốc, và mặt trời hắt nắng lên
người. Hai chúng tôi ngồi trên chiếc ghế dài cạnh cửa sổ. Và cũng
trong lúc đó đứa con trai của ông ta cầm cuốn sổ ghi chép và bút chì
bước vào phòng. Đứa bé dừng lại trước chỗ tôi ngồi, tay giữ cuốn sổ
ghi chép trước mặt, ho lấy giọng như sắp sửa hát. Tôi ngồi nhìn lên
mặt hắn: khi hắn bắt đầu nói, hai vai thõng xuống, cổ vươn dài ra vì
hồi hộp, lo lắng.
Hắn nói nhanh, và tôi chỉ hiểu được nghĩa của một vài từ tiếng
Đức. Nhưng hắn cứ kiên nhẫn nhắc đi nhắc lại, và cuối cùng tôi cũng
đã hiểu được. Hóa ra trong khi tôi đi vắng, có chiến sĩ trinh sát nào đó
đã bắn chết một con lợn.
- Erschoss, erschoss!() - Hắn nhắc đi nhắc lại, làm điệu bộ biểu
diễn việc đó đã xẩy ra như thế nào.
Margoxlin lắc lư người đi ngang qua sân, chiếc áo khoác da mới
ánh lên bóng loáng. Anh vừa đi trinh sát về, vì vậy mới có vẻ ngang
tàng như vậy. Thằng nhỏ không trông thấy anh, vẫn tiếp tục nói với
những vết đỏ lựng trên mặt.
- Một con lợn tốt lắm. Nó nặng ba mươi cân và còn có thể lớn nữa.
Nhưng nó cũng đã được ba mươi cân thịt loại tốt. Và giá mỗi cân là...
Hắn đã mấy lần nói “kostet”(). Tôi nhớ cái từ tiếng Đức này khi
hãy còn bé. Hồi đó tôi học thuộc lòng câu thơ: “Guten Tag, Frau
Maier! Was kosten die Eier? Acht Pjennig? Das ist zu tener...”()
Trong cuộc chiến tranh này cũng có một tên tướng SS tên là
Maier khét tiếng tàn bạo.
#######
() Chào bà Maier! Trứng giá bao nhiêu? # Tám penni? Nó đắt quá đấy... (tiếng Đức)


Thu hai chân xuống dưới ghế, hai tay chống lên mép ghế hai bên
người, chủ nhà ngồi khẽ lắc lư. Đôi vai xương xẩu của ông ta nhô lên,
đầu rụt xuống. Trong suốt thời gian đó ông ta không nói gì, chỉ ngồi
nghe với đôi mắt khép lim dim và gật gật tẩu thuốc bốc khói. Tôi liếc
nhìn đôi bàn tay bám vào mép ghế. Đó là bàn tay to lớn của người lao
động. Trong những nếp nhăn và xung quanh móng có một cái gì đó
đen đen. Đất chăng? Hay là tro?
Chủ nhà gật gật tẩu thuốc bốc khói. Còn đứa con trai đứng trước
mặt tôi thì tính lại con tính đã được cả gia đình tính kỹ. Tôi cần phải
hiểu rõ và tin chắc rằng mình không bị lừa, rằng họ chỉ muốn tôi đền
cho họ số thịt lợn ngon đó bằng một giá phải chăng. Mũi đứa bé trắng
bệch ra và bàn tay cử động hấp tấp. Giơ cuốn sổ lên sát mắt, hắn đọc
tên người đã bắn chết con lợn: “Soldat Macaruschca” và dừng lại nhìn
tôi. Tôi không thể hiểu ngay được rằng cái tên xa lạ mà hắn vừa khó
nhọc đọc to lên đó chính là Macarusca, anh chiến sĩ trinh sát trẻ nhất
của tôi.
Anh đến với chúng tôi trong một làng Ucraina vừa giải phóng.
Anh đến với tôi, người cán bộ chỉ huy đầu tiên anh gặp. Chân đất,
hoang dại đói khát - điều đó có thể thấy được qua đôi mắt, - anh đến
xin chúng tôi cho anh cùng ra trận. Trong làng không ai biết anh, anh
xuất hiện ở đây hồi mùa xuân, khi tuyết chưa tan, và cũng đi chân
đất, chiếc quần rách để lộ những miếng thịt tái xanh vì rét. Những
người đàn bà coi anh là thằng điên và thỉnh thoảng cho anh ăn. Và
cũng vì có tiếng là thằng điên nên anh mới không bị lùa sang Đức.
Anh lập tức quen thân với các chiến sĩ trinh sát; nhưng mãi rất
lâu về sau, mỗi khi kể lại một chuyện gì đó, anh vẫn gọi chúng tôi là
“quân Nga” như bọn Đức gọi, và nói về chúng theo cách của những
người dân sống trong vùng bị chiếm đóng. Anh hiền lành, lặng lẽ, và
khi được ăn uống đầy đủ, trở thành một chàng trai rất khỏe. Tôi
không nhớ ai là người đầu tiên gọi anh là Macarusca, nhưng cái tên
đó rất hợp với anh - một người khỏe mạnh, hiền lành - và tất cả mọi
người đều gọi anh như vậy, không ai còn nhớ tên thật của anh là gì.
Một lần, khi chúng tôi ngồi ở trạm quan sát, anh đã kể cho tôi nghe về
mình. Anh sinh ra trong một làng du kích. Gần như tất cả những
người đàn ông, trong đó có cha anh, đều vào rừng; nhưng quân Đức,
không hiểu sao, rất lâu không động đến gia đình họ, không trả thù.
Một đêm chúng đến bao vây, lùa tất cả dân làng vào ngôi trường,


đóng chặt cửa lại rồi phóng hỏa. Tất cả những ai liều mạng nhảy ra
đều bị chúng bắn chết. Mẹ anh đã chết ở đó. Nhưng dù trận càn có bất
ngờ đến mấy, nhiều bà mẹ đã kịp giấu các con của mình. Và một phần
dân làng cũng trốn thoát. Bọn Đức lùng sục họ trong các hầm nhà,
đêm lại dẫn đi bắn. Macarusca bế đứa em gái hai tuổi trên tay. Tất cả
bị bắt xếp hàng trên bờ khe. Đến nay Macarusca vẫn không thể nào
tha thứ cho mình một điều là tại sao trong giây phút cuối cùng đó anh
vẫn bế đứa em gái trên tay?
- Đáng ra em phải đặt nó xuống đất. Nó bé, có thể nằm khuất
dưới chân, bọn Đức sẽ không nhận thấy. Bởi vì lúc đó là ban đêm.
Nhưng nó sợ quá, hai tay cứ ôm chặt lấy em, không gỡ ra được. Những
móng tay của nó bấu chặt vào đây, - anh chỉ lên cổ mình. Lúc đó tôi
nghĩ: dù anh có sống trên đời này bao nhiêu năm nữa, bao giờ anh
cũng cảm thấy trên cổ mình những ngón tay đứa em gái hai tuổi bằng
cả tấm thân bé nhỏ của mình kinh hoàng nhận ra cái chết đang đến
gần đe dọa.
“Nó còn có thể lớn thêm...” - đứa con trai nhà chủ nói về con lợn
cân nặng ba mươi ki lô gam. Đó là lợn của hắn, không ai có quyền bắn
chết mà không bị trừng phạt. Và cha hắn, ngồi trên chiếc ghế dài,
chân đi đôi giầy vải dùng trong nhà, gật gật tẩu thuốc đang bốc khói.
Tôi ngồi nhìn lên mặt đứa con trai. Nó mười bốn tuổi, giọng nó
còn vỡ ra, chưa đủ độ cứng. Tuổi nó hiện nay cũng bằng tuổi của
Macarusca khi anh bế đứa em gái hai tuổi trên tay bị dẫn đi bắn và
sau đó, trong đêm tối, leo từ dưới nấm mộ chung lên rồi bò vào rừng;
và ở đó một mình, như con thú hoang, tự chữa vết thương của mình
bằng lá cỏ.
Đứa bé mười bốn tuổi này còn chưa biết một cân đau khổ giá bao
nhiêu(), nhưng hắn đã biết giá bao nhiêu và cần phải bắt đền bao
nhiêu một cân thịt lợn loại ngon. Và đấy, với cuốn sổ trong tay, hắn
đứng trước mặt tôi, tự tin vào lẽ phải của mình có quyền bắt chúng tôi
phải thanh toán nợ.
Buổi chiều hôm ấy chúng tôi ăn thịt lợn. Chủ nhà như mọi hôm
vào giờ đó, đi ngủ chỗ khác và tỏ ra rất không bằng lòng. Họ không
nhìn vào mắt chúng tôi, đôi má của chị vợ sưng lên vì nước mắt đã


khô. Chỉ có đứa con trai - ông chủ tương lai - vẫn chăm chỉ tất bật
trong nhà.
Sau nhà, phía bên kia cánh đồng màu mỡ, mặt trời từ từ lặn
xuống, những tia nắng cuối cùng chiếu xiên trên những mái nhà nóc
nhọn. ánh hoàng hôn rực rỡ lung linh trong bầu không khí trong suốt,
trong phòng bóng tối đã bắt đầu dần dần đặc lại.
Tôi nghe có tiếng cửa vườn mở. Rồi tiếp đó là tiếng bước chân kéo
lê của người lạ. Từ cửa sổ, tôi có thể nhìn chéo một phần góc sân. Tôi
đợi cho người ấy đi vào phần sân tôi trông thấy được. Ông ta rất mệt
mỏi, lê từng bước chân, nhưng tôi có cảm tưởng rằng trước đây ông ta
đã từng ở đây. Đi đến cửa chuồng lợn, ông ta nhìn sâu vào bên trong.
Ông ta không trông thấy đứa con trai của chủ nhà đang đứng sau
đống củi quan sát. Đứa bé bước lên trước, sắp mở miệng quát lên dữ
tợn, nhưng nét mặt hắn bỗng thay đổi: hắn đã nhận ra người đó.
Bước chân đã lên đến thềm. Tấm màn cửa che khuất từ lưng trở
lên, tôi chỉ thấy hai chân đi đôi giầy đã mòn. Chân phải bị đau; chỉ
vừa mới đặt chân phải xuống, ông ta đã vội bước chân trái lên, kéo lê
bàn chân đau theo sau.
Ông ta không tìm ngay ra quả đấm cửa, tôi nghe tiếng thở nặng
nề một lúc khá lâu bên ngoài. Cuối cùng cánh cửa mở ra, ông ta bước
qua ngưỡng cửa. Đó là một ông già mặc bộ quần áo cũ không có màu
và có lẽ không phải của ông ta, rộng thùng thình. Ông ta nhìn quanh
phòng, và tôi lại có cảm giác rằng trước đây ông ta đã từng ở nhà này.
- Chào ông! - Tôi nói từ sau bức tường ngăn.
Ông ta rùng mình, quay lại với một ánh mắt lạ lùng. Nhưng đó
không phải là sợ hãi. Sau khi trông rõ ai đứng trước mặt mình, ông ta
bỏ chiếc mũ tròn trên đầu xuống.
- Xin chào pan() đồng chí!
Và không tìm ra ngay những từ tiếng Nga cần thiết, ông ta dùng
điệu bộ để giúp mình diễn đạt, vung tay chỉ quanh phòng.
- Tôi... Pan Raske có ở nhà không? Nach Hause?()


- Có nhà, có nhà. Nhưng bây giờ ông ta không có ở đây, - không
hiểu vì sao tôi nói rất to, dường như nhờ vậy ông ta sẽ hiểu tiếng Nga
dễ hơn, và cũng dùng tay làm điệu bộ. - Nhưng nói chung ông ta ở
đây. Hier().
- Hier, - ông ta nhắc lại và cảm ơn. - Rất cảm ơn, cảm ơn đồng chí.
Tôi đẩy chiếc ghế đẩu bằng gỗ sồi nặng mời ông ta:
- Mời ông ngồi.
- Cảm ơn đồng chí. Tôi cần gặp pan Raske.
Ông ta ngồi xuống, đôi đầu gối nhọn lộ rõ ra dưới lần vải quần.
Bây giờ ngồi gần nhìn kĩị, tôi mới thấy rằng đấy không phải là một
ông già, mà là một người bị hành hạ hốc hác đến cùng cực, hai thái
dương hóp lại, khuôn mặt xám ngắt không còn một giọt máu.
- Ông ta sẽ về, - tôi nói.
Macarusca mang vào một chảo thịt lợn cắt từng miếng và khoai
tây rán mỡ lợn. Chảo thức ăn nóng hổi, đang sôi xèo xèo, bốc mùi, làm
con người đói khát kia choáng váng.
Tôi để Macarusca đi ra, lấy từ chảo một nửa số thịt và khoai tây
bỏ vào đĩa và đưa cho anh. Tôi trông thấy tia kinh hoàng trong đôi
mắt đang nhìn chằm chằm vào miếng thịt lợn.
- Không! Không! - Anh lắc đầu.
- Anh ăn đi, ăn đi, - tôi nài. - Người ta sẽ còn mang đến cho tôi
nữa.
Bàn tay yếu ớt của anh đặt vào mép đĩa, đẩy ra. Tôi đành nhượng
bộ, không hiểu ra sao cả. Tôi rót cho anh một cốc rượu vang. Anh cám
ơn bằng mắt rồi uống ừng ực: anh khát nước. Thái dương anh phồng
lên xẹp xuống, trên bàn tay cầm cốc trông rõ một vòng gân nổi phồng
quanh cổ tay và những đường xương toả ra các ngón. Cục yết hầu đầy
lông lá và quá to trên chiếc cổ gầy nâng lên hạ xuống nhìn thật đáng
sợ.


Không uống hết, anh ho sặc sụa, ho rất lâu, khổ sở, mặt tái xanh.
Rồi kiệt sức, nước mắt trào ra lăn trên má, anh mãi vẫn không thở lại
hơi, đôi bàn tay run lẩy bẩy.
- Trước kia anh đã ở đây à? - Tôi hỏi khi trông thấy anh bối rối
trước sự yếu đuối của mình. - Anh biết nhà này phải không?
Anh nhìn tôi bằng ánh mắt của những người vừa câm vừa điếc,
muốn đoán hiểu ý người khác qua cử động của đôi môi.
- Anh không hiểu tiếng Nga à?
- ấy, ấy, - anh gật đầu. - Tôi hiểu. Một ít thôi.
- Tôi hỏi, anh trước kia đã ở đây à?
- ấy, - anh nói và lắc đầu.
Tôi bỗng cảm thấy rằng anh không hoàn toàn tỉnh táo: đôi mắt
của anh như thế kia! Anh lại nhìn quanh căn phòng.
- Ba Lan, - anh nói. Và lại nhìn tôi, nhắc lại. - Tôi là người Ba
Lan, - bằng mấy tiếng đó anh đã giải thích được tình trạng của anh,
người bị bọn Đức dùng vũ lực bắt sang đây.
- Vợ của tôi... Vợ của tôi đã ở đây. ở đây. - Anh chỉ qua cửa sổ về
phía chuồng bò. Anh phải khó khăn lắm mới nhấc nổi tay lên. - Và
con trai của tôi. Khi con tôi mới sinh, nó khóc, vợ tôi lấy tay bịt mồm
nó lại. - Anh lấy tay bịt miệng mình. Và khi bàn tay gầy guộc của anh
che nửa khuôn mặt, đôi mắt anh trông càng to hơn, đầy đau khổ. - Để
chúng không nghe thấy! Nếu nghe thấy chỉ có chết. Chỉ có chết... Một
lần vợ tôi cho con bú sữa... Tên Đức đến đó, - thấy tôi không hiểu, anh
đưa tay chỉ ra chuồng bò, - tên Đức đi đến bên chuồng bò. Hắn không
nói gì cả. Chỉ đứng nhìn đứa bé, con tôi, mà mẹ nó đang cho bú. Khi
nhìn thấy hắn, vợ tôi không nói được, chỉ run, và khóc... Chúng tôi
biết làm gì được? Làm gì được? Chúng tôi trước đây làm cho một người
Đức khác ở làng kia, ngoài ra còn biết làm gì? Chúng tôi bất lực...
Đôi môi xám ngoét của anh, như cứng đờ lại vì lạnh, mấp máy
chậm chạp. ánh sáng buổi hoàng hôn hắt qua mặt kính cửa sổ lấp
lánh trong cặp mắt bất động của anh, cái nhìn của chúng như hướng
vào bên trong.


- Bây giờ vẫn cái nhìn của tên Đức ấy. Hắn, ông chủ, cho vợ tôi ăn
để vợ tôi có thể làm việc, thế mà thằng bé lại bú hết sức của mẹ nó...
Sau đó vợ tôi đặt con xuống, đi ra đồng. Bỗng vợ tôi bảo tôi nghe như
tiếng khóc của con... Tiếng khóc... Còn tôi nghĩ rằng tiếng khóc đó lúc
nào vợ tôi cũng mang trong tim. Vợ tôi chạy từ đồng về và nghe đứa
bé, con trai của tôi, đang khóc thét lên. Còn chuồng lợn... - anh huơ
tay chỉ, không tìm ra lời... - ván... Anh hiểu không?
- Chắn bằng ván à? Chắn bên ngoài lại à?
- Vâng. Vợ tôi nghe, mở chuồng lợn... Khi vợ tôi bước vào, thấy rất
nhiều lợn. Khi...
Anh lại huơ tay làm điệu bộ. Và tôi hiểu:
- Xua đàn lợn đi?
- Vâng, vâng,... và vợ tôi trông thấy con. Từ đấy bao giờ vợ tôi
cũng trông thấy trước mắt mình cảnh đó... Khi vợ tôi hoàn toàn hóa
điên và không thể làm việc được nữa, tên Đức bắt vợ tôi đưa đến trại...
trại tập trung, anh hiểu không? ở đó có nhà thiêu xác. Vợ tôi không
biết bọn chúng dẫn đi đâu. Và đó cũng là điều may mắn cho vợ tôi...
Trong bóng tối nhập nhoạng gần như không trông rõ mặt anh, chỉ
thấy hai vệt tối trên má và đôi mắt ánh lên trong hố sâu. Ngoài sân,
các chiến sĩ trinh sát đang khe khẽ hát, hai bè.
- Chúng tôi ở trong trại nửa năm, và tôi sống sót. Tôi đến đây
để...
Tôi nhớ lại nét mặt đứa con trai chủ nhà khi hắn đứng sau đống
củi nhìn thấy anh. Tôi bước đến bên cửa sổ, gọi Margoxlin. Tiếng hát
bị cắt ngang, rồi nghe tiếng bước chân đi đến gần. Margoxlin dừng lại
dưới cửa sổ ngước mắt nhìn lên.
- Đưa thằng bé đến đây, - tôi nói.
Tiếng bước chân lại xa dần trong ánh hoàng hôn. Rồi nghe tiếng
người, tiếng bước chân đi qua sân, vào sau nhà kho, vòng quanh nhà
ở.


Trong phòng đã tối hẳn, chỉ có hai cửa sổ trên tường và chiếc
gương trong góc tối là còn sáng.
- ở đó có một xà lim ngầm. Một hầm ngầm. Do chính những bàn
tay này đào lên.
Anh chìa đôi cánh tay ra và nhìn lên tay mình.
- Chúng lùa người vào đấy. Cả đàn bà, trẻ em... cả đồ chơi...
Chúng bảo rằng ở đấy có nhà tắm... Và mọi người đi. Cả trẻ em nữa.
ở phía trên - anh đưa tay chỉ lên trần, - có một cửa sổ. Chúng cho hơi
ga vào đó. Ga... và Caterina của tôi không biết chúng đưa mình đi
đâu, và đó là điều may mắn cho vợ tôi... vợ tôi còn rất trẻ. Vợ tôi ở đây.
Vợ tôi ở đằng ấy. ở khắp nơi.
Và tôi lại thoáng thấy một tia lửa như ở những người mất trí
trong mắt anh. Nhưng đồng thời anh vẫn hoàn toàn tỉnh táo.
Tôi hỏi anh có biết cái làng mà chủ nhà của tôi đến ngủ đêm
không, anh có thể đi cùng chúng tôi được không? Và bây giờ chúng tôi
ngồi chờ.
Cuối cùng Margoxlin trở lại. Đứa bé không thấy ở đâu cả, như tôi
đã đoán trước.
Bốn người - anh Ba Lan, Margoxlin, Macarusca và tôi - cùng đi
qua cánh rừng. Mặt trăng đã nhô lên một nửa, nhưng mãi vẫn không
thể nào dứt ra khỏi đỉnh núi. Mặt trăng tròn, rất to, màu đồng pha da
cam, còn dãy núi màu đen thẫm. Cuối cùng, nó cũng dứt ra được, bay
nhanh dần lên cao, hơi chếch sang bên phải, mỗi lúc một nhỏ hơn. Và
khi mặt trăng đã lên khá cao, dưới làn ánh sáng làm thế giới thay đổi
một cách huyền ảo, chúng tôi trông thấy một làng nhỏ: những bức
tường hơi xanh xanh của các ngôi nhà, mái ngói dốc ướt đẫm, những
tấm kính lấp lánh trong các khung cửa sổ. Chúng tôi đi qua các khu
vườn. Từ các sân nhà nghe bốc lên mùi nóng ấm, ngái ngủ của chuồng
gia súc, mùi phân, nước giải; phía dưới là một con suối nhỏ đen thẫm,
lấp lánh ánh trăng, chạy giữa những tảng đá, luồn qua các lùm cây và
bốc lên hơi ẩm mát lành. Những bậc đá dẫn xuống mép nước đã ướt
đẫm hơi sương.


Hai người đứng cảnh giới nhà ở và nhà kho, hai người im lặng đi
vào mảnh sân vắng vẻ và dường như vừa được quét sạch dưới trăng.
Theo cầu thang bằng gỗ, chúng tôi đi lên gian chứa cỏ, con chó bị xích
phía dưới chạy lồng lên sủa khản cả giọng. Nhưng không một cửa sổ
nào có ánh đèn, không một cánh cửa nào hé mở.
Trên đống cỏ khô có hai chiếc đệm lông trắng mờ mờ trong bóng
tối. Có vết chân người. Chúng tôi dùng đèn pin xem hết tất cả các góc
nhà, ngoài sân, nhà kho. Nhưng những người chúng tôi tìm không có
ở đâu cả. Cả ngày hôm sau cũng vậy. Sau này chúng tôi được biết
rằng chúng đã đi sang phương Tây. Cả ba đứa.
Dân làng nói rằng đó là những người rất không tốt. Thậm chí một
số nói rằng thằng chồng là một tên quốc xã. Hoặc anh trai của hắn là
quốc xã. Bây giờ họ mới nói tất cả những cái đó.
- Thế tại sao trước kia các ông im lặng?
Họ nhún vai:
- Chúng tôi sợ...
Chỉ một mình Magda không nói về họ một lời nào tốt hay xấu.
Nói chung bà không nói gì. Mấy ngày tiếp theo bà vẫn đến sớm như
thường lệ, cho lợn ăn, quét dọn sàn nhà, vắt sữa bò - việc thi hành
nhiệm vụ của mình một cách máy móc đã gắn chặt bà với cuộc sống.
Sữa được vắt ra đựng đầy các bi đông và bắt đầu hóa chua.
Có lẽ bây giờ những người chủ cũ của ngôi nhà chúng tôi đóng
quân đang nhớ về những ngày tháng Năm ấy như những ngày đen tối
của đời mình. Lúc đó thằng bé mới mười bốn tuổi, giọng nói của hắn
còn yếu ớt, đang vỡ ra. Lúc đó rất nhiều đứa trẻ có giọng nói đang vỡ
ra như vậy. Bây giờ nó đã cứng rắn lên rồi.
Vào những ngày đầu tiên của Hòa bình, một đứa trẻ Đức mười
bốn tuổi cao gầy đứng trước mặt tôi, tay cầm cuốn sổ tính nợ. Đến bây
giờ tôi vẫn trông thấy hắn - chiếc mũi trắng nhợt, mặt nổi lên những
vết đỏ vì hồi hộp, lo lắng. Hắn không quan tâm đến quá khứ, hắn
không muốn biết gì về quá khứ, hắn chỉ muốn đòi nợ vì con lợn bị bắn
chết. Hắn tin tưởng vào quyền của mình được đòi nợ.
0
BAUTIXTA PAVLO N
PHILIPPIN
Lá BùA
Nhận thấy một vật gì khẽ chuyển động giữa hàng cây, anh vụt
bật dậy khỏi giường. Xung quanh là đêm tối, và một sự im lặng bí
hiểm bao trùm khắp khu rừng.
“Oiia, có lẽ là ông ta đấy”.
Người đàn bà uể oải đứng dậy và bước đến bên cạnh anh chồng
đang chăm chú nhìn vào bóng tối. Có tiếng động xào xạc của lá khô và
tiếng chim bay qua đập cánh. Ngoài bức tường đen dày đặc của cây
rừng, không còn trông thấy gì khác nữa.
“Đúng ông ta đấy, Oiia ạ”.
Người đàn bà quay về chỗ cũ và lại tiếp tục việc vá áo quần.
Chồng chị không muốn rời cửa sổ, cố nhìn một cái gì đó ở phía rừng.
Chị nhìn anh:
- Có chuyện gì vậy, Orio? Anh làm sao mà kỳ cục thế?
- Họ sẽ đến nhà ta. Em biết không, họ cần phải đến. - Và anh lại
nhìn qua cửa sổ.
- Ai đến nhà ta?
- Một ông già.
- Ông già? Ông ta cần gì ở đây? - Người đàn bà đứng dậy.
- Ông ta mang một vật đến cho anh.
ở một nơi nào đó bên cạnh có nghe tiếng bước chân. Người chồng
vội đứng nhanh dậy chạy ra mở cửa. Chị vợ miễn cưỡng theo sau anh.
Giữa những thân cây thấp thoáng một ánh lửa.


- Ông ta đấy, Oiia. Ông ta đấy.
Bước ra cửa cùng với chồng, chị chăm chú nhìn người mới đến. Đó
là một ông già tay cầm đuốc, già đến nỗi có cảm tưởng như sau mỗi
bước chân, ông ta sẽ biến ngay thành đất bụi. Ngọn lửa yếu ớt của cây
đuốc trong chốc lát xua giạt đi bóng tối của rừng.
Nhìn kĩ ông già, người đàn bà rất ngạc nhiên: ông ta đến làm gì
thế này?
- Mời cụ vào, mời cụ vào nhà ạ, - chủ nhà mời.
Tiếng chó sủa rộn lên dưới nhà sàn. Tiếng vang lan đi trong sự
im ắng, và một lúc sau nó đã vào đến rừng, rồi vọng lại từ trong các
vách núi.
Người đàn bà đứng nhìn ông già leo lên cầu thang. Người ông ta
gập lại làm ba khúc, bộ râu rất dài, tóc thưa, trắng như cước. áo quần
ông rách nát, mặc dù trên người không hề thấy một vết xây xước,
thâm tím nào. Nhưng cái kì dị đáng kinh ngạc nhất trong vẻ ngoài
của ông già, là đôi mắt - cau có và bí ẩn.
- Batana hứa đến là đến, - ông già nói to.
- Mời cụ ngồi, mời cụ ngồi. Oiia, xem có cái gì ăn được không?
- Batana cảm tạ các người hiếu khách, nhưng Batana không thể ở
lâu được. Các thần đang đợi. Batana chỉ đến để thực hiện lời hứa với
Orio thôi.
Có tiếng cú kêu từ xa vọng đến, và ở một nơi nào đó phía Tây,
một con chim đêm rền rĩ khóc.
Ông già quỳ xuống sàn nhà và lầm rầm đọc một câu gì đó. Những
lời của ông rất khó hiểu, ông nói chậm từng từ, và trong giọng thì
thầm có vẻ như đang cầu xin một cái gì. Người đàn bà gật đầu với
chồng chỉ về phía ông già và cười không thành tiếng. Nhưng chồng chị
đứng im lặng nghe ông già với một vẻ hết sức thành kính.
Ông già rút ra một chiếc túi da. Liếc sang hai vợ chồng, ông nhận
thấy vẻ giễu cợt của người đàn bà.


- Các người còn chưa được gặp những điều kì lạ xảy ra trong đời,
vì vậy có thể các người không tin những điều Batana nói, - ông già nói
và nhìn qua cửa sổ ra khu rừng tối đen. Tiếng con chim đêm vẫn tiếp
tục rền rĩ ai oán và thỉnh thoảng từ trên núi lại có một tảng đá ầm ầm
lăn xuống vực.
Người đàn bà vẫn cười, còn anh chồng đứng im lặng.
- Batana nói rằng trước hết các người cần phải có lòng tin.
Batana biết rất nhiều phép lạ mà các người chưa hề thấy bao giờ.
Nhưng nếu như các người không tin, thì cũng không nên cười nhạo. -
Ông già nhìn người đàn bà với đôi mắt sáng rực lên một cách kì lạ. -
Batana hứa sẽ cho Orio một lá bùa. Batana giữ đúng lời hứa và tìm ra
vật này, nó sẽ bắt Orio và vợ phải tin vào phép lạ.
Batana nhìn người đàn ông. Anh im lặng đứng nghe. Người đàn
bà bối rối, và chị lại cúi xuống cặm cụi vá áo.
Ông già lầm rầm một điều gì đó và giơ tay làm dấu thánh. Đầu
tiên ông chạm tay vào trán, rồi vào đùi, vào chân, cứ thế hầu hết các
bộ phận trên người, và cuối cùng là chiếc túi da.
Người đàn bà trông thấy ông già rút từ trong túi ra một vật gì,
chị bước lại gần để nhìn cho rõ. Người đàn ông chìa tay ra, sẵn sàng
đón nhận lá bùa. Một cái gì đó lấp lánh trong tay ông già.
- Kim và chỉ. Kim và chỉ.
- Đúng, kim và chỉ của Batana, - ông già lại nhìn ra cửa sổ, ánh
mắt của ông bây giờ lại càng có vẻ bí hiểm hơn.
Hai vợ chồng nhìn nhau. Người đàn bà suýt nữa phá lên cười,
nhưng chồng chị đã kịp ngăn lại. Chị bước đến bên cửa sổ. Cả làng
đang ngủ yên. Ngọn đèn dầu hỏa nhỏ phát ra ánh sáng yếu ớt cố sức
đẩy lùi bóng tối đang ùa vào nhà.
- Còn bây giờ Batana sẽ kể cho các người nghe là đã lấy bùa này ở
đâu ra.
Người đàn bà liếc trộm ông già, bước vội đến bên chồng. Anh
không nói một lời nào, tập trung chú ý đón nghe. Chị lại nhìn ông già.
Và cứ mỗi lần như vậy ánh mắt hai vợ chồng lại gặp nhau.


- Thế cụ lấy nó ở đâu ra thế ạ?
Batana nhìn một lúc lên ngọn đèn lay lắt cháy, thở dài, rồi lại rì
rầm. Bỗng nhiên nghe tiếng chó sủa rộ lên dưới nhà, và đồng thời
tiếng đá lăn từ trên núi xuống. Ông già lại thở dài.
- Batana lấy được lá bùa này vào thứ sáu tuần Thánh vừa rồi. ở
Binangunan, người ta chôn một đứa bé. Các thần nói với Batana rằng
cần phải xâu một chiếc kim có chỉ qua ngón út của đứa bé này. Cần
phải làm việc đó vào một đêm trời thật tối, tối như mực, để không ai
trông thấy. Và Batana đã làm như vậy. Batana đi ra nghĩa địa.
Ông già bỗng ngừng lời và lắng nghe. Xung quanh hoàn toàn im
lặng. Chỉ thỉnh thoảng cây rừng rung lên xào xạc trong cơn gió giật.
Khi ông già quay lại nhìn về phía người đàn bà, chị khẽ nép vào
chồng.
- Cụ kể tiếp đi.
- Trong nghĩa địa, trời rất tối, xung quanh không một bóng người.
Batana bắt đầu đào ngôi mộ lên. Có tiếng chó sủa. Gió thổi mỗi lúc
một mạnh. Những cành xoài lay động như những cánh tay người
sống. Người ta đồn rằng ở nghĩa địa rất nhiều ma rình bắt người,
nhưng Batana vẫn cứ đào, đào mãi. Bỗng nhiên như nghe có giọng
người nói. Batana muốn lên tiếng gọi, nhưng không thấy ai cả. Và
Batana lại tiếp tục đào.
Người đàn bà sốt ruột cựa quậy trên ghế.
- Một lúc sau hòm lộ ra. Batana không thể mở nắp hòm được, nên
phải đập cho nó vỡ. Trong hòm là xác một đứa bé còn rất nhỏ. Batana
liền xâu kim qua ngón tay của nó. Ngón tay rất lạnh, như băng, lại
ướt nữa. Lúc kim ăn vào ngón tay, nó như khẽ cử động. Khi đã xâu cả
kim và chỉ qua ngón tay xong, Batana lấp ngôi mộ lại. Lúc đó xung
quanh bỗng có tiếng ồn ào. Một con chim gì rất to bay lượn trên đầu.
Batana bỏ chạy. Phía sau, từ trong mộ nghe có tiếng khóc. Nhưng
Batana không ngoái lại.
Ông già im lặng làm dấu thánh.


- Các người có thể không tin. Batana cho Orio lá bùa này, vì lòng
yêu mến anh ta. Nhưng Batana báo trước, rằng các người phải tin vào
lá bùa và hi vọng. Và những ước muốn của các người phải tốt lành.
- Có thể ước được bao nhiêu điều, thưa cụ?
- Có thể ước được ba điều.
Ông già chợt cúi gập người xuống, rồi hướng cặp mắt bất động
vào bóng tối, lầm rầm cầu nguyện. Người đàn bà bật ra tiếng cười.
Batana quay lại nhìn chị, bước vội ra phía cửa, mất hút vào bóng tối.
Chủ nhà gọi theo ông, nhưng giọng của anh, như tiếng gió, tan chìm
trong khu rừng rậm tối đen.
Sáng hôm sau, hai vợ chồng cãi nhau.
- Cái ông già này chỉ nói những chuyện nhảm nhí. Mà anh lại đi
tin, - chị vợ đay nghiến chồng. - Nói có vẻ thánh tướng, nhưng theo em
thì ông ta chỉ là người lẩm cẩm. Đưa cái kim đây, em vứt đi.
- Cô thôi đi cho tôi nhờ. Thôi đi!
- Anh tin cái vật này thật sao, anh yêu? Nào, thì thử xem, anh
hãy ước một điều gì đi.
- Thì thử chứ sao. Làm sao em biết được, nó sẽ hiệu nghiệm cho
mà xem.
- Để coi thử.
Orio nắm chặt chiếc kim và sợi chỉ trong tay:
- Tôi ước gì lá bùa cho tôi có được công ăn việc làm.
Chị vợ đã không nghe anh nữa. Chị quay đi nhìn qua cửa sổ ra
cánh rừng đen thẫm dưới chân núi.
Sau bữa sáng, như thường lệ, Orio cầm rìu bước xuống sàn chặt
củi. Người vợ gói vào mảnh vải những thứ hàng của chồng vừa mới
làm xong để ra chợ đổi lấy thức ăn.
- Em nhanh nhanh lên mà về nhé, và đừng quên nói với cụ
Culager là anh đã chặt sẵn cho cụ ba bó củi rồi đấy.


Oiia không nói gì, chỉ gật đầu. Một lúc sau, chị đã bước đi trên
con đường nhỏ trong rừng, mang xuống chợ bán mấy thứ hàng đơn
giản của mình: ba búp bê gỗ, một chục con quay và mấy bó rau dại
mọc trên các bờ suối nhỏ.
Quá trưa về đến nhà, Oiia còn chưa kịp kể cho chồng nghe những
gì chị thấy ở chợ thì đã nghe có tiếng rú khủng khiếp của mấy chiếc ô
tô. Mỗi lúc chúng đến một nhiều, các lều bạt xuất hiện khắp nơi trong
rừng và những sườn núi bên cạnh; ở trước cửa tất cả mọi nhà trong
bản đều có dán thông báo:
“Thông báo cho tất cả những ai muốn đi làm. Hãng Riman
Xuarec cần đàn ông để làm các công việc xây dựng một con đường
hầm. Hãng sẽ bảo đảm trả lương cao và bảo hiểm những trường hợp
tai nạn lao động”.
Có thể tưởng tượng khi đọc thông báo, Orio mừng như thế nào.
Anh lập tức đi đến Sở giao dịch và người ta thỏa thuận nhận anh vào
làm thợ phụ.
- Thế này mới gọi là việc chứ! Nó lâu dài, mà hãng thầu cũng
đàng hoàng có tiếng. Không như những việc trước đây của anh. Bây
giờ nó sẽ hỗ trợ nhiều cho việc bán củi của chúng mình. Tại sao em lại
có vẻ ngạc nhiên thế, Oiia?
Oiia cố gắng buộc mình mỉm cười:
- Khi nào anh đi làm?
- Ngày mai. Ngay ngày mai!
Chị nhìn chồng vẻ dò hỏi.
Trong bữa ăn tối, câu chuyện lại xoay quanh vận may của họ.
Orio nhớ lại cái tin này đã làm vợ ngơ ngác như thế nào.
- Đấy, em thấy chưa, điều ước muốn đã thành sự thật. Bây giờ em
đã tin vào lá bùa chưa?
Người vợ mỉm cười. Trong thâm tâm, chị không thoải mái với sự
vui sướng của chồng; nhưng chỉ cần nhìn vẻ mặt anh là đã đủ cho chị
quên đi những nỗi nghi ngờ băn khoăn của mình.


- Nếu anh tin rằng thật như thế, anh hãy thử ước thêm một điều
gì nữa xem, - chị nói không thật hào hứng lắm.
- Tất nhiên, anh sẽ ước. Tôi muốn lá bùa cho tôi có được năm
trăm peso.
Chị vợ thấy mắt chồng vụt lóe lên khi nói những lời này.
Buổi tối qua đi như thường lệ. Orio ngồi trên ghế và chuốt một
cây gậy bằng gỗ rất cứng. Oiia vá chữa quần áo cũ, nhưng không hiểu
sao chị cảm thấy nóng ruột, không yên.
Chợt có tiếng chó sủa, chị nhảy chồm dậy và chạy bổ đến bên
chồng như muốn tìm ở anh một sự bảo vệ.
- Em làm sao thế?
Nhưng chị, trong cơn hoảng hốt vô cớ, khó hiểu, càng ôm chặt lấy
anh hơn.
- Em không biết nữa, Orio ạ, nhưng em cảm thấy có một điều gì
đó đáng sợ.
Orio cười to.
- Đấy là em tưởng tượng ra thế thôi. Nào, tốt hơn cả là em nằm
ngủ đi.
Nhưng chị vợ hầu như không nghe anh nói. ánh mắt của chị như
bị đóng đinh vào con dơi đang bám vào trần nhà đập cánh như muốn
bay ra ngoài. Nhìn theo ánh mắt của vợ, Orio vung cây gậy anh bào
dở lên. Con dơi bay vòng trên đầu anh, rồi bỗng đậu xuống đĩa dầu
đang cháy leo lét. Đèn phụt tắt.
Oiia kêu thét lên. Đồng thời, dưới nhà có tiếng chó sủa điên loạn,
rền rĩ.
Khi Orio thắp đèn lên, con dơi đã biến mất, khuôn mặt vợ anh tái
mét như tàu lá.
- Em nằm xuống ngủ đi.
- Em cảm thấy một điềm gì đó đáng sợ lắm, anh Orio ạ.


Orio dịu dàng vuốt tóc vợ, ôm ngang vai chị dẫn vào buồng. Từ
rất xa, phía thị trấn, gió mang lại tiếng chuông ngắt quãng báo nửa
đêm.
Sáng hôm sau Orio đi làm. ở trong bản nghe rõ tiếng mìn nổ và
tiếng đất đá bay rào rào. Thậm chí nghe cả tiếng cuốc chim bổ xuống
núi. Những tảng đá lớn và các cỗ máy nổ ầm ầm đang đọ sức với
nhau. Đây là cuộc quyết chiến giữa thiên nhiên và máy móc do bàn
tay con người làm ra.
Buổi sáng, khi Orio bước xuống nhà theo cầu thang, chị vợ nhắc
đùa anh về lời ước.
Orio chỉ cười khẩy, vỗ nhẹ vào lưng vợ:
- Tất cả rồi sẽ có, Oiia ạ.
Gần giữa trưa, cả bản bỗng rùng mình trong một đợt động đất
mạnh. Tiếp theo là hàng loạt tiếng nổ, và từ trong đường ngầm khói
phụt ra. Trong núi, tiếng còi báo động rú lên hòa với tiếng người la
hét om sòm. Khói bụi tỏa ra bốn phía. Một tai nạn đã xảy ra trong
đường hầm.
Chiều hôm đó, Oiia rất sốt ruột chờ chồng. Chị không hiểu sao
anh mãi chưa về. Có chuyện gì xảy ra ở đó nhỉ? Không biết anh đã tìm
được năm trăm peso mà anh ước xin ở lá bùa chưa? Có lẽ trong đường
ngầm có người bị nạn? Thậm chí có thể cả người chết nữa? Cái linh
cảm đáng sợ lại xâm chiếm lòng chị. Chị vội đứng dậy và nhìn qua
cửa sổ. Đằng xa có những bóng người đang chạy vào bản.
Người đàn bà vội vã, xuống thang, chạy ra đường.
- Có chuyện gì xảy ra trong đường ngầm thế?
Không ai trả lời câu hỏi của chị. Những người hàng xóm hoảng
loạn chạy ngang qua mặt chị về phía núi.
Một nỗi lo lắng tràn ngập lòng Oiia. Chị không nhận thấy mình
cũng đang chạy. Chưa kịp định thần lại, chị đã thấy mình ở cạnh Sở
giao dịch của hãng Riman Xuarec.


Trước cửa căn phòng người vòng trong vòng ngoài. Chị nghe có
tiếng nói:
- Những người ở trong đường ngầm không ai kịp ra cả. Không
một ai.
Oiia chạy bổ đến bên những người đại diện của hãng thầu đang
cầm danh sách những công nhân bị tai nạn trên tay.
- Chồng tôi... Grigorio Xantos... anh ấy có việc gì không? Sao?
Người đại diện lật tờ danh sách.
- Chồng tôi có việc gì không? - Giọng Oiia run lên.
Người đàn ông nhìn chị với vẻ thương hại, thông cảm và chỉ lắc
đầu.
- Không! Không! - Oiia thét lên.
Người đại diện nhìn đi chỗ khác, nói:
- Ban giám đốc hãng bày tỏ lời chia buồn với chị và xin bồi thường
cho chị một số tiền là năm trăm peso.
Nghe những lời cuối cùng, Oiia đưa cặp mắt điên dại nhìn người
đại diện của hãng thầu.
- Lá bùa! Đây chính là lá bùa! - từ miệng chị bật ra một tiếng rú
ghê rợn.
*
* *
Đã mấy ngày Oiia không làm gì cả, chị chỉ ngồi nhìn và mân mê
những đồ vật còn lại của chồng. Bây giờ đó là niềm an ủi duy nhất của
chị, là sợi dây ràng buộc cuối cùng gắn bó chị với chồng.
Sắp xếp lại những đồ vật của chồng ở trong hòm, ngón tay chị
chợt vấp phải một vật gì đau nhói. Đó là chiếc kim bất hạnh, là lá bùa
của Orio.


Trước mặt Oiia bỗng hiện lên các sự kiện bi thảm của những
ngày qua, mà nguyên nhân, theo chị, là lá bùa này. Chị sực nhớ là
chính chị đang muốn tìm nó nhưng những kỉ niệm về chồng đã làm
chị quên đi vật mình đang tìm kiếm.
Chị biết rằng lá bùa còn có thể thực hiện được một điều ước nữa.
Và bây giờ Oiia nhìn chiếc kim và sợi chỉ như nhìn một vật gì thiêng
liêng đầy phép lạ.
- Ôi, lá bùa thiêng, xin bùa trả lại người chồng yêu quý cho tôi, -
chị thành kính thì thầm cầu khẩn.
Cả ngôi nhà không một ánh lửa. Trong sự im lặng đến rợn người
của bóng tối đó, bỗng có tiếng động khẽ. Chỉ có một mình người đàn
bà trong nhà, nhợt nhạt như xác chết, tóc rũ rượi, mặt toát mồ hôi
lạnh. Sự chờ đợi kéo dài đau đớn, mỗi phút giây trôi qua như một con
dao găm đâm thọc vào thân thể đã rã rời của chị.
Chị lặng lẽ đứng đậy, đưa cặp mắt đờ đẫn nhìn quanh căn phòng
tối đen rồi đi đến mở tất cả các cửa sổ ra. Chị đứng không vững nữa,
vì đã ba ngày nay chẳng bỏ một tí gì vào miệng. Ngẫm nghĩ một lát,
Oiia đóng các cửa sổ lại, chỉ để ngỏ cánh cửa lớn ra vào. Rồi chị ngồi
xuống đối diện với cửa, đặt ngọn đèn dầu nhỏ bên cạnh mình, đôi mắt
bất động nhìn ra ngoài trời tối đen và thì thầm lặp đi lặp lại không
ngớt: “Ôi, lạy lá bùa thiêng, hãy rủ lòng thương, trả lại chồng cho
tôi...”.
Đêm đã rất khuya. Gió nổi lên mạnh hơn, thỉnh thoảng từng cơn
giật vào cánh cửa để ngỏ. Một đêm, hai đêm rồi ba đêm... cứ thế trôi
qua trong sự chờ đợi. Oiia bất động ngồi trước bàn thờ làm vội, nơi đặt
lá bùa thiêng. Bỗng nhiên từ phía ngoài vẳng đến một tiếng động rất
khẽ, khó nhận ra. Quá yếu, Oiia không còn có thể đứng lên được nữa.
Mái tóc rủ xuống mặt chị làm chị nhìn không rõ: trên người chị, áo
quần nhàu nát, cáu bẩn.
Anh ấy đang về... đang về, đang về...
Chị nghe như tiếng động mỗi lúc một rõ hơn. Không nghi ngờ gì
nữa, đó là tiếng bước chân của Orio. Chậm chạp, nặng nhọc, chị đứng
lên. Anh ấy đang về... Một cái gì đó đen thẫm, to lớn tiến lại phía chị.


Rất nhiều bóng đen. Chúng khi to, khi bé, chập chờn... Đấy, anh ấy
đang về!
Một bóng đen tiến thẳng lại phía chị, mỗi lúc một gần, rất gần...
- Orio... Anh thân yêu của em... Orio!
Chị chạy vụt vào căn phòng trống không của chồng. Bóng tối lập
tức nuốt chửng chị trong cái miệng khủng khiếp của mình, và từ đó
nghe vọng ra những tiếng cười lẫn tiếng hú làm các mạch máu trong
người đông cứng lại...
0
BOGOMOLOV VLADIMIR
NGA
MốI TìNH ĐầU
Chúng tôi nằm, ghì chặt lấy nhau và không còn cảm thấy mặt đất
cứng lạnh, ẩm ướt, như nó vốn vẫn thế trong thực tế, ở dưới lưng
mình.
Chúng tôi gặp nhau đã nửa năm nay - từ ngày em đến trung
đoàn. Tôi mười chín tuổi, còn em mười tám.
Chúng tôi - đại đội trưởng và nữ cứu thương - gặp nhau bí mật.
Và không ai biết về tình yêu của chúng tôi và về việc chúng tôi đã có
ba người....
- Em cảm thấy là con trai! - Em thì thầm vào tai tôi đã hàng chục
lần. Em muốn, rất muốn làm vừa lòng tôi. - Và giống anh như đúc!
- Cùng lắm thì con gái anh cũng đồng ý. Và mong cho nó giống
em! - Trong đầu đang nghĩ về chuyện khác, tôi đáp lại thì thầm.
Phía trước, cách chỗ chúng tôi nằm chừng năm trăm mét, trong
hầm, và ngay cả trong giao thông hào trống trải, các chiến sĩ và hạ sĩ
quan của đại đội tôi đang ngủ. Và xa hơn nữa, phía bên kia đường
cảnh giới thỉnh thoảng bị hỏa tiễn quân Đức chiếu sáng, là cao điểm
nằm ẩn mình trong bóng tối.
Sáng sớm mai, đại đội của tôi cần phải làm cái việc mà một tuần
trước đây đại đội phạm binh không làm nổi: chiếm cao điểm đó.
Về điều này, trong tiểu đoàn chỉ mới có năm sĩ quan biết - những
người chiều nay được thiếu tá trung đoàn trưởng gọi đến hầm chỉ huy
trung đoàn. Sau khi phổ biến mệnh lệnh, thiếu tá nhắc lại với tôi:


- Như vậy, cậu phải nhớ lấy: Cachiusa mở đầu pháo hiệu xanh, và
cậu lên... Những người bên cạnh cũng sẽ tham gia, nhưng cao điểm
thì cậu phải chiếm.
... Chúng tôi nằm ghì sát vào nhau, và hôn em tôi không thể
không nghĩ về trận chiến đấu sắp tới. Nhưng cái làm tôi lo lắng hơn
cả là số phận của em. Và tôi, đầu nhức nhối như muốn nổ tung ra, suy
tính: phải làm gì đây?
... - Bây giờ em phải ngủ cho cả hai, - trong lúc đó, em vẫn thì
thầm câu chuyện đều đều như đang hát. - Anh biết không, đêm đêm
nhiều lúc em có cảm tưởng là sáng ra, tất cả sẽ kết thúc. Cả hào hầm,
cả máu, cả cái chết... Đã ba năm rồi - chẳng lẽ nó, chiến tranh ấy mà,
lại có thể kéo dài mãi hay sao? Anh thử tưởng tượng xem: sáng dậy
mặt trời mọc lên, và chiến tranh đã hết, hoàn toàn đã hết...
- Anh đến gặp thiếu tá bây giờ đây! - Rút cánh tay từ dưới mái
đầu em ra, tôi cương quyết đứng dậy. - Anh sẽ kể hết cho anh ấy
nghe, kể hết! Để người ta sẽ cho em về nhà. Ngay ngày hôm nay!
- Anh nói sao? - Em nhỏm dậy, túm lấy ống tay áo tôi và kéo
mạnh về phía mình. - Nằm xuống đây!.. Ôi sao anh ngốc thế!.. Thiếu
tá sẽ lột da anh ra ngay!
Và bắt chước giọng trầm hơi thô của trung đoàn trưởng, em khẽ
nói thầm từng tiếng chậm rãi:
- Tằng tịu với cấp dưới, không nâng cao khả năng chiến đấu của
đơn vị, làm mất uy tín của chỉ huy. Biết được ai, tôi sẽ đuổi ngay, bất
kì người nào! Với lí lịch như vậy, thậm chí vào phòng giam nghiêm
chỉnh người ta cũng không dám nhận. Chiến thắng rồi, muốn yêu ai
và yêu bao nhiêu tùy ý. Còn bây giờ - tôi cấm!
Giọng của em bỗng cắt ngang, và em, đầy vui sướng tinh nghịch,
nằm úp mặt xuống, cười không thành tiếng để không ai nghe thấy.
Vâng, tôi biết mình sẽ bị quở phạt ra trò. Thiếu tá là người rất
nghiêm khắc, đối với anh ta, chiến tranh không phải là chỗ của phụ
nữ, còn về tình yêu thì lại càng không cần phải nói...
- Nhưng dù sao anh cũng phải đến gặp thiếu tá.


- Im xem nào! - Em áp mặt vào má tôi, và một lát sau thở dài, thì
thầm. - Em sẽ tự mình làm tất. Em đã nghĩ ra rồi. Cha của đứa bé sẽ
không phải là anh!
- Không phải là anh?! - Người tôi nóng bừng lên như lửa. - Thế
nào mà không phải là anh?
- Ôi, sao mà anh ngốc đến thế! - Em ngạc nhiên vui vẻ. - Lạy
Chúa, để nó đừng giống anh! Anh hiểu không, trong giấy tờ và nói
chung anh sẽ là cha. Còn bây giờ em sẽ đổ cho người khác!
Em, như trẻ con, ngây thơ và chân thực đến nỗi cái trò láu lỉnh
như vậy làm tôi kinh ngạc:
- Em sẽ đổ cho ai?
- Cho một người nào đó không còn ở đây nữa. Thí dụ: cho Baikov
chẳng hạn.
- Không được, đừng động đến người đã chết.
- Thế thì... cho Kindiaev.
Chuẩn úy Kindiaev, một người gian giảo, đẹp trai, một gã ăn cắp
và say rượu, vừa mới đây bị gửi đến đơn vị phạm binh.
Cảm động, tôi mở vạt áo capốt và kéo ghì em sát vào người.
- Khẽ nào! - Em hoảng hốt chống hai bàn tay vào ngực tôi. - Anh
đè chết hai mẹ con em mất! - (Em đã bắt đầu nói về mình như vậy và
lần nào cũng lộ vẻ vui mừng như đứa trẻ). - Anh ngốc của em ơi! Anh
quả là may mắn gặp được em đấy. Với em, anh sẽ không có gì phải lo
lắng cả!
Em cười tinh nghịch và vô tư, mà tôi thì hoàn toàn chẳng còn
bụng dạ nào để cười nữa.
- Này em, em phải đến gặp thiếu tá ngay bây giờ đi!
- Ban đêm ấy à? Anh nói gì thế?!
- Anh sẽ đưa em đến! Em hãy giải thích cho anh ấy và nói rằng
em mệt, không thể chịu được ở đây nữa.


- Nhưng như vậy là không thực!
- Anh van em! Làm sao em có thể ở đây?... Em phải đi khỏi ngay!
Em hiểu không... nếu bỗng nhiên... Nếu ngày mai có đánh nhau?
- Đánh nhau à? - Em lập tức trở nên tập trung căng thẳng. Chắc
em đã hiểu ra tất cả. - Không, có đúng thế không?
- Đúng thế.
Em nằm im lặng một lúc lâu. Nghe nhịp thở của em - ôi nhịp thở
quen thuộc thân thương đến vậy! - tôi hiểu rằng em đang lo lắng.
- Thì đã sao... đánh nhau thì không thể chạy trốn được. Mà cũng
không chạy trốn nổi... Dù sao, đợi cho cấp trên xem xét và gửi lệnh
đến sư đoàn cũng phải mất mấy ngày... Mai em mới đến gặp thiếu tá.
Đồng ý chứ anh?
Tôi im lặng, cố nghĩ ra một cách nào khác và không biết nói với
em ra sao.
- Thế anh cho là em đến gặp thiếu tá dễ dàng lắm sao? - Em bỗng
lại thì thầm. - Không, chết còn dễ hơn!.. Đã bao nhiêu lần anh ấy nói
với em: “Cẩn thận đấy, phải làm người khôn ngoan...” Mà em... Lại
còn là đoàn viên thanh niên cộng sản...
Thút thít, em quay đi, áp mặt vào ống tay áo capôt, khóc không
thành tiếng, cả người run rẩy. Tôi dùng sức ghì chặt lấy em, hôn vào
cặp môi nhỏ xinh, vào trán, vào đôi mắt mằn mặn nước.
- Bỏ ra, để em về. - Em gỡ tôi ra, nói rất khẽ. - Anh tiễn em chứ?
... Chúng tôi đi xuống một khe núi nhỏ ẩm và tối, nơi đặt trạm
quân y của tiểu đoàn. Tôi đi phía sau đỡ ngang eo lưng em, cảm thấy
nó đã bắt đầu hơi đẫy ra. Tôi đỡ em bằng cả hai tay, giữ cho em từng
bước một. Để em không vấp, không bước hụt, không trượt ngã. Dường
như tôi có thể giữ gìn em, ngăn em khỏi chiến tranh, khỏi trận đánh
sáng ngày mai, vào lúc bình minh, khi em sẽ phải chạy, phải ngã và
phải cõng những người bị thương trên lưng mình...
*
* *


Từ đó đến nay đã mười lăm năm, nhưng tôi vẫn nhớ tất cả như
chuyện đó mới xẩy ra ngay vừa đây thôi, ngay ngày hôm qua.
Sáng sớm hôm sau, Cachiusa mở đầu, súng cối và pháo binh sư
đoàn bắn dữ dội, rồi những phát pháo hiệu xanh bay vọt lên không...
Và khi mặt trời mọc, tôi cùng những người còn lại của đại đội tôi
xông lên cao điểm. Nửa giờ sau, trong căn hầm kiên cố của quân Đức,
trung đoàn trưởng và một người nào đó nữa chúc mừng, ôm hôn và
bắt tay tôi. Còn tôi đứng như trời trồng, như cột gỗ, không cảm thấy,
không nhìn thấy, không nghe thấy gì hết.
Mặt trời... nếu như tôi có thể bắt nó lùi ngược trở lại, xuống quá
chân trời! Nếu như tôi có thể lấy lại bình minh!.. Bởi vì chỉ mới hai giờ
trước đây thôi chúng tôi hãy còn ba người...
Nhưng mặt trời vẫn đi lên, chậm rãi, lạnh lùng, không gì cản nổi.
Tôi đứng trên cao điểm, còn em... em nằm lại đằng kia, phía sau, nơi
các chiến sĩ đội mai táng đang đào huyệt...
Và không ai, không một ai biết, rằng em đã là ai đối với tôi, và
rằng chúng tôi đã có ba người...



BONDAREV IURI
NGA
NHữNG KHOảNH KHắC
NGÔI SAO Và TRáI ĐấT
Tôi thức dậy giữa đêm khuya vì đoàn tàu chạy nhanh như điên
như dại, vì tiếng bánh xe gõ sầm sập lên đường ray, vì tiếng ghế nằm
kêu cót két và tiếng va đập của cánh cửa buồng không đóng chặt -
trên đầu, những ngọn gió lùa lạnh buốt thổi qua.
Trong hành lang và trong buồng tối đen: tôi nằm với đôi mắt mở
to cố đoán tìm trong bóng tối cái ô vuông cũng đen thẫm của cửa sổ,
phía bên ngoài tất cả đều mịt mù, hoang vắng, và không thể nào hiểu
được là chúng tôi đang đi qua rừng cây hay đồng cỏ trong cái thế giới
vô tận, bí ẩn và không thể nào hiểu thấu được này.
Rồi trong khoảng sâu vô đáy của bầu trời ngoài cửa sổ, một ngôi
sao xanh đơn độc lóe lên lấp lánh những ánh lửa xa mờ ở nơi bên kia
giới hạn.
Con tàu vẫn phóng nhanh như trước, không giảm đi cái tốc độ dễ
đạt được, mất hút trong khoảng bao la của đêm mùa thu sâu thẳm
chẳng có lấy một ánh lửa trần gian, không nhìn thấy được từ trên độ
cao đến khó hình dung nổi của ngôi sao kia đang cháy sáng giữa sa
mạc vũ trụ lạnh giá cách trái đất hàng triệu những cây số.
Trong sự không đạt tới được đầy kiêu hãnh của mình, ngôi sao
trôi song song cạnh toa tàu, những tia sáng rực rỡ lấp lánh xuyên qua
lạnh giá, như những sợi xúc tu sờ soạng trong bóng đêm của vũ trụ và
tôi nhìn không rời mắt lên ngôi sao đó với một cảm giác vừa hân hoan
vừa sợ hãi trước sự bí ẩn không thể đoán ra được của những quy luật
nào đó tồn tại ngoài trí tuệ con người, những quy luật mà, không hiểu


vì một mục đích nào đó cứ dồn nén sự vĩnh cửu vào trong một khoảnh
khắc và kéo dài khoảnh khắc ra thành vĩnh cửu. "Thế có nghĩa rằng,
vĩnh cửu là cuộc sống, còn khoảnh khắc là sự phân tán?".
Và tôi bỗng cảm thấy kinh hoàng, vì tất cả đều bất lực trước các
định luật đó: cả cuộc sống, tình yêu, nghệ thuật, và cả Trái đất - cái
hòn đảo ấm cúng có người ở giữa đại dương vô định không bến bờ đầy
đe dọa. Sự cô đơn nào, nỗi nguy hiểm nào Trái đất cần phải trải qua
khi đã biết trước được sự diệt vong không tránh khỏi của mình, khi đã
biết trước cái chết vào ngày X nào đó đã được ghi vào chương cuối
cùng đầy đau buồn của định luật toàn vũ trụ. Vì sao, vì mục đích gì
mà những chiếc kim của cỗ máy đồng hồ vũ trụ lại cần phải gặp nhau,
dừng lại và tất nhiên, lại bắt đầu chuyển động? Có thể, trong sự bất
công định mệnh này lại bao gồm định luật của công bằng nghiêm ngặt
nhất? Nhưng lại để vì mục đích gì? Có lẽ, câu trả lời cho những điều
đó đã được ghi vào trong cuốn sách về sự tái sinh vĩ đại, cuốn sách mà
không ai và không bao giờ đọc được. Cũng như con người không thể
nào đánh lừa, lẩn tránh, thoát khỏi số phận của chính mình, không ai
có thể thay đổi, dừng hãm sự luân chuyển của thời gian vũ trụ, quay
ngược trở lại chiều kim đồng hồ với niềm hy vọng tự tin rằng như vậy
hơi thở của cuộc sống sẽ được kéo dài thêm.
Và tôi hình dung ra Trái đất của chúng ta sẽ như thế nào khi
đứng nhìn nó từ độ cao của ngôi sao mùa thu hờ hững lạnh lùng kia,
cái hạt bụi nhỏ bé màu xanh biếc, cái con tàu mỏng mảnh bay xuyên
qua chiều dày của sự giá băng màu tím nhạt và của ánh sáng những
ngôi sao xa, xuyên qua những đám mây thiên thạch lấp lánh; hình
dung ra sự mỏng manh yếu, ớt của con tàu ấy, cùng số dự trữ lương
thực và nước uống ít ỏi - và tôi run sợ trước sự bất lực của nó trong vũ
trụ này.
Giá như mỗi người ở trên con tàu đều ý thức được rằng phía trước
là những tảng đá ngầm đầy nguy hiểm và khi vấp phải chúng sẽ biến
mất, sẽ tan ra thành tro bụi toàn bộ cái thể xác máu thịt của ta được
tạo nên từ rừng cây, sông nước, đại dương, từ những cơn mưa và
những buổi hoàng hôn, từ màu xanh của cỏ, những thành phố đẹp
tuyệt vời, những đài kỷ niệm, nhà thờ, máy móc, sách vở, những tác
phẩm hội họa, - tất cả những gì được làm ra bằng đôi tay và trí tuệ
thiên tài của con người; giá như mỗi người dù chỉ trong một phút suy
nghĩ về cái thời hạn ngắn ngủi thoáng qua của trái đất, chắc con


người đã không làm lay chuyển con tàu của mình từ thành bên này
sang thành bên kia, không đục thủng đáy tàu bằng những sức mạnh
quỷ quái của thiên nhiên bị phân rã, không xé nát, bằng những lưỡi
dao của lòng độc ác và căm thù, với sự điên khùng của những kẻ tự
sát, các cánh buồm đang căng gió và làm chúng vấy đỏ máu của chính
mình.
Chẳng lẽ sẽ không bao giờ con người hiểu được rằng Trái đất phải
là con tàu sạch sẽ, sáng sủa, với những cánh buồm trắng tinh, - con
tàu của họ, với lộ trình, thật đáng tiếc, không phải là vô tận?
Nhưng có cần phải nghĩ về điều đó không? Bởi vì con người ít khi
suy nghĩ về cái chết của mình, và có nghĩ đến thì cũng tự an ủi rằng
việc đó sẽ xảy ra với anh ta một lúc nào đó về sau...
Về sau - đó là một hình thức tự vệ, nhưng trong cái "về sau" này
có một tia mỏng manh của niềm hy vọng lạ lùng và hầu như không
thể giải thích nổi: mà biết đâu, điều đó sẽ không xảy ra với chính ta?
Có thầm trong ý nghĩ đẩy lùi cái chết hoặc không muốn tin vào khả
năng xảy ra cái chết, con người nhiều khi đã để mất đi một điều rất
chính yếu: cái ý nghĩa của tính không lặp lại, duy nhất của cuộc đời,
và từ đó bắt đầu sự ghẻ lạnh xa cách tàn nhẫn của Trái đất và con
người. Lúc đó cái hành tinh bé nhỏ của chúng ta sẽ trở thành chỉ là
một phương tiện để đạt tới những thỏa mãn và tiện nghi hiện đại dần
dần biến thành một căn bệnh ác tính và kinh tởm giống như cơn
cuồng dâm của những đứa con hãm hiếp cả mẹ của chúng!
Vâng, vâng, con người không chỉ làm rung chuyển, làm đau đớn
và gây thương tích cho cơ thể của Trái đất bằng những tiếng nổ của
đạn đại bác, của những quả bom nhiều tấn kể từ khi bắt đầu các cuộc
chiến tranh, mà họ còn biến nhà của mình thành thùng rác, thành bãi
thải bẩn thỉu đầy những đồ vật đã sử dụng và nay không còn cần
thiết nữa, thành nghĩa địa của các loại xe, máy, đài điện, chai lọ, đồ
hộp. Con người bóp nghẹt, đầu độc Trái đất bằng các vật thải hóa
chất, dường như trong cơn điên cuồng của sự làm giàu đầy tham lam
họ đang vội vã giết chết Trái đất và tự giết chết cả chính mình.
Xét cho cùng, Trái đất cũng là một cơ thể sống với nhịp điệu, hơi
thở, mạch đập tuần hoàn của mình, và nếu dừng dòng chảy tự nhiên
trong huyết quả của nó lại thì nó sẽ chết. Và rõ ràng là con người hiểu


- hay đúng hơn cảm thấy - nỗi nguy hiểm đang tiến lại gần đó, nhưng
đồng thời họ lại hy vọng hão huyền vào cái "sau này" mờ mịt, rằng có
thể sẽ không có chuyện gì xảy ra với cái thế giới đẹp nhất trong các
thế giới này.
Nhưng tất cả đều có bắt đầu và có kết thúc.
ánh sáng xanh nhạt không sinh khí của ngôi sao cô đơn đến với
tôi từ độ cao ngoài giới hạn, nó không sưởi ấm, mà làm lạnh lẽo thêm
màn đen của đêm tháng Chín bằng những cánh tay giá băng run rẩy
của các tia sáng chết, và không hiểu sao tôi bất giác nhớ lại rằng đôi
khi có những tia sáng muộn mằn của những ngôi sao đã tắt vượt qua
các khoảng không giữa các thiên hà đến với ta như một lời thanh
minh cho cái chết của mình trước toàn vũ trụ.
"Trong lúc còn chưa muộn! - Tôi nghĩ và rùng mình bởi luồng gió
lạnh buốt lùa qua và bởi cái ánh sáng nhợt nhạt buồn bã này của ngôi
sao mồ côi mà tôi nghĩ bây giờ đã lụi chết nhưng trước đây đã từng là
một hành tinh xinh đẹp, vui vẻ và tràn trề sinh lực. - Tất cả chúng ta
cần phải làm một cái gì đó trong lúc còn chưa muộn!..."
Đoàn tàu chạy chậm dần, tiếng bánh xe gõ mỗi lúc một đều dặn,
bình thản và khẽ khàng hơn, và qua tiếng va đập của cánh cửa buồng,
tiếng cót két của ghế nằm, vang lên tiếng còi đầu máy như muốn báo
trước cho một người nào đó trong đêm... Rồi thấp thoáng những đốm
lửa xa chạy tản thành hàng dài trong màn đêm dày đặc, và bất ngờ
một ngọn đèn trên chòi gác ghi sát ngay bên cạnh hắt ánh sáng vào
toa, và những ánh điện mờ mờ của các nhà kho trên khu vực ga bắt
đầu tiến lại gần.
Đoàn tàu mỗi lúc một giảm tốc độ, và phút sau đã thấy trôi ngược
lại trên đường tàu vắng người những ô cửa sổ lớn chói sáng ánh đèn
của một nhà ga đồ sộ với những phòng chờ vắng vẻ và một khách sạn
cũng không có người và sáng rực ánh đèn, và trong buồng thấp
thoáng những dải ánh sáng điện - những dấu hiệu sống động của hơi
ấm con người.
Tôi mặc áo ngoài và đi ra khỏi toa. Khi đã xuống đến sân ga, tôi
bất giác nhìn lên trời - và không còn trông thấy ngôi sao nữa. Phía
sau nhà ga, những cây bạch dương mùa thu xào xạc lá, trên các đường
tàu một đầu máy dồn toa đang nhả khói rú vang. Cô nhân viên phụ


trách toa ngái ngủ vừa ngáp dài một cách ngọt ngào vừa suồng sã nói
với tôi: nếu như tôi muốn vào khách sạn vào lúc nửa đêm này, thì nó
sẽ đóng cửa cho tới sáng.
Được nghe giọng người nói và trông thấy nụ cười của người phụ
nữ trẻ, tôi hít mạnh vào lồng ngực rồi thở ra mùi gió thoang thoảng
những đầu tàu của nhà ga, mùi khói đầu máy và ma dút âm ấm - tất
cả những hương vị ấm cúng của đường sắt; và vừa bước trên sân ga
dọc theo dải ánh sáng hắt ra từ các cửa sổ của nhà ga, tôi vừa khẽ
cười thầm, nghĩ: "Sau này, sau này?.."
Và thật lạ lùng - dưới ảnh hưởng của khoảng cách bảo vệ, tôi cảm
thấy nhẹ nhõm hơn.
LINH CảM
- Đừng hỏi là tại sao hôm nay tôi lại uống. Hình như hôm nay
chúng ta kỷ niệm ngày Chiến thắng, điều đó đúng, nhưng đối với tôi,
anh có biết là gì không? Có thể nói, đây là ngày tang, anh hiểu chứ?
Không à? ở chỗ chúng tôi có đại đội trưởng Gurov, chỉ huy các khẩu
pháo bảy mươi ly... những khẩu pháo anh hùng, mọi người gọi đó là
"Vĩnh biệt, Tổ quốc!" Vì rằng chúng thường xuyên đứng bên cạnh bộ
binh, nhiều khi trước cả bộ binh nữa. Nói chung, tất cả các nấm mồ
chung đều là của chúng tôi, nếu như có một chiếc xe tự hành nào đó
của bọn Đức có tên là "Ferdinand" lén lút vòng qua sườn và bắt đầu
quét lửa...
Vậy là, chỉ huy pháo của chúng tôi là đại úy Gurov - một thanh
niên hãy còn rất trẻ, người cân đối như một nhánh cây non, anh ấy
thậm chí không thích chửi tục, những kẻ hay chửi bậy thường bị anh
ấy cự cho ra trò; còn khi anh ấy cười trông thật thích, răng trắng
bóng, các cô gái ở tiểu đoàn quân y cứ chết mê chết mệt. Còn anh ấy
chỉ đùa: "Ôi các nàng tiên xinh đẹp, tôi yêu tất cả các cô em, nhưng tôi
còn yêu xe tăng Đức hơn!"Và cái linh cảm của anh ấy về bọn Đức, tôi
không biết gọi như thế nào cho phải, - nó giống như phép phù thủy
vậy.
Về chuyện linh cảm, có thể nói, trong người anh ấy như có một
con quỷ nào đó. Hay là một vị thần cũng nên - có ai mà biết được là


cái gì! Thường khi đêm tối như bưng lấy mắt, vậy mà phải đặt pháo
bắn thẳng chống tăng. Lệnh của trên xuống, và không trốn đâu cho
thoát, không có biểu quyết đồng ý hay phản đối gì hết. Đại đội trưởng
Gurov đích thân đưa pháo ra vị trí xạ kích. Bao giờ anh ấy cũng tự
mình, không giao việc đó cho ai cả, vì có lần ở ngoại ô Kiev, một trung
úy trẻ măng của chúng tôi do quá cận thị mà đã dắt luôn hai khẩu
pháo vào thẳng chỗ bọn Đức, bị ăn đạn súng máy đã hy sinh, và cả
hai khẩu đội chỉ còn được một nhúm...
Gurov có một tài năng rất quan trọng trong chiến tranh - anh ấy
không thể chịu đựng được cái "họa may", "có lẽ", không cho phép bắn
mò hú họa, không giơ ngực ra chịu đạn như một con bò đực mù quáng,
mà đánh nhau rất tỉnh táo, thản nhiên hệt như đang làm một việc gì
đó bình thường. Và cho đến tận ngày cuối chiến tranh, chưa lần nào
tôi thấy anh ấy mất bình tĩnh, rối trí hay nét mặt thay đổi, mặc dù
chúng tôi đã lâm vào những cảnh khủng khiếp ác liệt đến nỗi nếu quỷ
sứ có vô tình nhìn thoáng thấy cũng phải dựng tóc gáy lên vì hoảng.
Thế đấy, nhiều lần, Gurov tự mình đích thân dẫn pháo ra vị trí
bắn thẳng. Bỗng nhiên chúng tôi nghe lệnh của đại úy: "Dừng lại".
Rồi anh ấy đi suốt lượt các khẩu pháo và giải thích cho các trung đội
trưởng một cách nhẹ nhàng, giọng nói không hề tỏ ra căng thẳng:
"Không cần kéo pháo đi qua đồng nữa đâu, mà phải quay sang bên
trái ngã tư, đi dọc theo bìa rừng chừng hai trăm mét, rồi lúc đó mới đi
thẳng". Đôi khi có một trung đội trưởng nào đó cố tỏ ra thông minh
nói: "Qua đồng gần hơn, đồng chí đại úy ạ". Nhưng đại úy bảo: "ở đó có
mìn". - "Làm sao biết được ạ, đồng chí đại úy? Chẳng lẽ đồng chí thấy
được cả trong đêm à?" Còn anh ấy: "Tôi cảm thấy rằng cánh đồng này
bị gài mìn". Lúc đầu chúng tôi ngạc nhiên, thậm chí còn cho anh ấy là
đồng bóng, nhưng cuối cùng hóa ra đại úy bao giờ cũng đúng và mọi
người rất kính phục anh ấy từ đó.
Một lần, suốt ngày chúng tôi đợi lệnh từ trên trung đoàn xuống
mà không thấy; còn đại úy cứ đi đi lại lại quanh trận địa, mặt sa sầm,
và bỗng nhiên không có duyên cớ gì, ra lệnh cho đại đội chuyển các
khẩu pháo từ ven rừng đến chiếm lĩnh một vị trí khác ở cánh rừng
bên cạnh - cũng cùng trên một hướng bị xe tăng đe dọa. Tôi còn nhớ,
chúng tôi rời pháo đi khi trời còn sáng, chỉ để lại bộ phận hậu cần,
nhà bếp ở chỗ cũ. Một giờ sau, viên chuẩn úy của chúng tôi phóng một
chiếc xe ngựa đến trận địa mới, đồ đạc nhà bếp bị vỡ nát hết, cả người


từ đầu đến chân đầy máu me, và kể: chúng tôi vừa đi khỏi, lập tức
chừng năm chục chiếc máy bay Đức "Junker" lao đến ném bom tan
tành trận địa cũ. Cái linh cảm của đại úy chúng tôi là như vậy đấy...
Chúng tôi cùng với Gurov đi đến tận nước Đức mà không bị thiệt
hại gì đáng kể. Và tôi, như anh thấy đấy, vẫn còn sống. Sau cao điểm
Deielov anh ấy được phong anh hùng, còn ngày mồng tám tháng Năm
anh ấy hy sinh vì một viên đạn vào ngực. Một thằng đểu lọt lưới nào
đó từ trong cửa sổ bắn ra khi anh ấy đi trong chiếc xe "Villix". Chúng
tôi như phát điên lên - quay pháo lại và nã thẳng vào ngôi nhà đó cho
đến lúc nó chỉ còn là một đống than vụn. Nhưng làm sao để cho anh
ấy sống lại được?... Nào ta tưởng nhớ đại đội trưởng của tôi, một người
thật thông minh, một sĩ quan vàng ngọc, chúng ta hãy đứng dậy
nhưng sẽ không chạm cốc. Xin anh thông cảm cho, tôi không kìm
được. Đối với tôi ngày hôm nay là nước mắt. Không thể coi đây là ngày
hội được. Tôi không thể...
TRONG VòNG VÂY
(Chuyện kể của một trung úy)
Suốt đêm nghe vọng sang tiếng hát, tiếng la hét, tiếng đàn
arcoozdeon, hình như ở chỗ bọn Đức có đám cưới. Sáng hôm sau, ba
bóng người xuất hiện trên bờ chiến hào của bọn chúng: hai người đàn
bà, và ở giữa là một tên sĩ quan Đức. Một ả da hồng hào, ngực nở, ả
kia da trắng, với hai bím tóc như một đứa bé gái. Còn tên sĩ quan mặt
tái nhợt nhưng miệng mỉm cười, tay cầm một bình đựng rượu Snaps
hay rượu ngang gì đó. ả hồng hào ngúng nguẩy đùi ôm ả da trắng và
hét lên bằng giọng lanh lảnh: "Đừng bắn, các anh hãy nghe đây. Dưới
thời bọn Bolsevic, chúng em chỉ có vỏ bánh mì, còn bây giờ người Đức
đến chúng em sống sướng lắm, có rượu vodca uống và mời các anh
đây!" - và ả chỉ vào chiếc bình trong tay tên sĩ quan. Chính trị viên
của tôi nói vào tai tôi: "Ta khử thằng Phrix() nhé, trung úy?". Chúng
tôi có hai khẩu súng trường bắn tỉa để ở hầm chỉ huy của tôi. "Không,
- tôi nói, - thằng Đức để sau cũng kịp, nó chẳng chạy đi đâu cho thoát.
Phải khử ngay hai con mụ phản bội kia! Tôi con bên trái, anh con bên
phải". Con mụ hồng hào vẫn hét: "Các anh hãy sang đây, chúng tôi sẽ
thăng chức, sẽ yêu và sẽ cho làm chỉ huy!" Tôi đặt nó vào điểm ngắm.


Tôi nhìn - thấy ả cười, nhưng có vẻ lo sợ lắm, tay ghì chặt lấy ả da
trắng; còn ả da trắng này cũng ôm lấy ả kia như tìm nơi che chở.
"Nhằm vào mấy con mụ dơ bẩn, bắn!" - tôi ra lệnh phát hỏa. Tôi hạ
thủ ả hồng hào, ả gục ngay tại chỗ. Chính trị viên hạ ả da trắng. Tên
sĩ quan quay đầu chạy. Tôi cho hắn gục ngay cạnh công sự của chúng.
... Trong đại đội của tôi có một trăm năm mươi người, hai mươi
lăm súng máy, sáu cán bộ chỉ huy và một trung sĩ quân y. Ra khỏi
vòng vây trở về với quân ta chỉ có một trung đội trưởng và ba chiến sĩ,
với tôi nữa là năm. Năm bốn mươi tư tôi chỉ huy đại đội pháo binh độc
lập ở Iaxư. Ngoài vũ khí của ta, chúng tôi còn có sáu khẩu pháo của
bọn Đức. Một lần người ta định tước của chúng tôi những khẩu pháo
Đức, theo điều lệnh là thừa. Tôi nói: "Không phải các anh cho tôi
chiến lợi phẩm này, tôi giành được chúng bằng máu trong các trận
đánh. Và tôi sẽ dùng chúng để bắn tan xác bọn thú vật kia". Nói
chung, có một điều gì đó xảy ra với tôi sau vụ mấy người đàn bà khó
hiểu ấy. Và lần đó, vào năm bốn mươi mốt, khi ban đêm chúng tôi
vượt được vòng vây, tôi chạy trên con đường bị đào nát trong rừng, và
phía sau là bốn chiến sĩ, tôi vừa chạy, vừa bắn, vừa khóc và vừa nghĩ
thầm:
"Trước chúng ta đã có hàng triệu người chết. Chúng ta không
phải là những người đầu tiên mà cũng không phải là những người
cuối cùng. Nhưng mấy người đàn bà kia là ai? Bị bọn Đức dùng vũ lực
bắt ép? Hay là thế nào? Có thể, họ không có tội?.."
Vào lúc bình minh sau trận đánh
Suốt đời, ký ức cứ đặt ra cho tôi những điều bí ẩn. Nó bất ngờ
chộp lấy và đưa đến rất gần những giờ, những phút của thời gian
chiến tranh, dường như cái thời gian chiến tranh ấy cứ luôn luôn sẵn
sàng ở bên cạnh tôi, chỉ cần tôi lên tiếng gọi nó từ trong sự đời chờ
kiên nhẫn.
Hôm nay tôi bỗng cảm thấy mùi đất ẩm ướt, mùi thuốc lá, mùi
khói súng khét lẹt của những vỏ đạn vừa bắn xong và trông thấy một
buổi sáng sớm mùa hè, làn sương nhẹ trôi phía bên kia trận địa,
những hình khối mờ mờ của các xe tăng bị bắn cháy ở dưới thung
lũng, những ngọn cây, những bức tường ẩm ướt của chiến hào, những
nòng pháo ở gần ướt đẫm sương lấp lánh, và hai khuôn mặt ngái ngủ,


đen nhẻm thuốc súng, một đã đứng tuổi, cau có, một còn ngây thơ, trẻ
con, - tôi thấy hai khuôn mặt đó rõ ràng đến nỗi bất giác tự hỏi: hay là
chúng tôi mới chia tay với nhau chiều qua? Và sau ba mươi lăm năm
bên tai tôi lại vang lên giọng nói của họ, và đây không phải là ảo
thính, mà nghe rất rõ như hai người ngay bây giờ đang nói trong
chiến hào, cách tôi chỉ mấy bước chân.
- Chúng kéo mất rồi à? Hừ, cái bọn Phrix sâu bọ này! Khẩu đội ta
bắn cháy mười tám xe tăng, mà giờ chỉ còn tám chiếc Kìa, đếm mà
xem... Thế nghĩa là mười chiếc bị bọn chúng kéo đi tối qua. Suốt đêm
tiếng ô tô kéo cứ rú dưới thung lũng.
- Sao lại thế? Mà quân ta không làm gì cả à?...
- "Sao, sao". Còn sao nữa! Chúng mắc tời vào và kéo đi chứ còn
sao.
- Quân ta không trông thấy à? Không nghe thấy gì hết à?
- Tại sao lại không nghe, không thấy? Nghe và thấy hết. Tớ chẳng
hạn, khi chú mày ngủ, tớ nghe tiếng máy nổ suốt đêm dưới thung
lũng. Và cả tiếng bọn lính nữa. Vì thế tớ đến gặp đại úy báo cáo: "Có
lẽ bọn chúng lại tấn công đêm hay chuẩn bị cho sáng mai tấn công
đấy ạ". Đại úy bảo: "Chúng kéo xe tăng bị bắn cháy đi đấy. Cứ mặc
chúng, dù sao thì cũng không kéo đi xa được đâu, ít lâu nữa ta sẽ tiến
lên phía trước". Nghĩa là chúng ta lại sắp tấn công, cái đầu học trò
của chú em ạ!
- Ôi, thế thì tuyệt quá! Sẽ vui hơn đấy! Chứ ngồi phòng ngự ở đây
mãi chán lắm rồi. Chán đến kinh khủng...
- Thôi thôi. Chú mày còn dốt lắm. Toàn nói nhảm nhí! Đi tấn
công có phải chuyện ngúng nguẩy đít đâu. Trong chiến tranh chỉ có
bọn ngu với những tay lính ngựa như chú mày mới thấy vui thôi...
Thật là kỳ lạ, trong ký ức chỉ ghi lại họ của người lính đứng tuổi
đã cùng tôi tiến đến tận Carpat, còn họ anh lính trẻ đã biến mất, cũng
như chính anh ta đã biến mất trong trận đánh đầu tiên của cuộc tấn
công và được chôn ở cuối chính cái thung lũng nơi bọn Đức lần đó kéo
đi những chiếc xe tăng bị bắn cháy của chúng...
Họ của người lính đứng tuổi là Timofeev.
0
BULGACOV MIKHAIL
NGA
VƯƠNG MIÊN ở
HISTORIA MORBI()
Tôi thậm căm ghét mặt trời, những giọng người nói to và tiếng gõ.
Những tiếng gõ dồn dập, dồn dập. Tôi sợ người đến mức nếu buổi tối
nghe ngoài hành lang có tiếng bước chân và giọng nói lạ, là tôi bắt
đầu la hét. Vì vậy mà tôi được ở trong một gian phòng đặc biệt, chắc
chắn và yên tĩnh, ở tận cuối hành lang - phòng số . Không ai có thể
đến chỗ tôi được cả. Nhưng để bảo đảm an toàn hơn, tôi đã phải lạy
lục ông Ivan Vaxilievitr (thậm chí khóc lóc trước mặt ông) xin ông cho
tôi một tờ giấy đánh máy. Ông đồng ý và trong tờ giấy đó ông viết
rằng tôi là người được ông bảo trợ, rằng không một ai có quyền đến
bắt tôi. Nhưng thành thật mà nói, tôi không tin lắm vào quyền lực
chữ kí của ông, nên ông đã buộc cả giáo sư cũng phải kí tên và đóng
lên tờ chứng nhận đó một cái dấu tròn màu xanh. Thế này lại là
chuyện khác. Tôi biết vô số trường hợp con người ta sống sót được chỉ
nhờ trong túi họ có tờ giấy đóng dấu tròn. Thật ra, cái anh chàng công
nhân ở Berdiansk() với một bên má lấm lem nhọ dầu, bị đem treo lên
cột điện chính là vì người ta tìm thấy trong đáy ủng của anh ta một tờ
giấy nhàu nát có đóng dấu. Nhưng đó lại là chuyện hoàn toàn khác.
Anh ta là một tên bonsevic tội phạm, và con dấu xanh trên tờ giấy của
anh ta là con dấu tội phạm. Chính cái con dấu, đã dẫn anh ta đến sợi
dây treo cổ trên cột điện là nguyên nhân căn bệnh của tôi (đừng lo, tôi
biết rất rõ rằng tôi bị bệnh mà). Thực sự là trước cả chuyện Colia, đã
có một cái gì đó xẩy ra với tôi. Tôi bỏ đi để khỏi phải trông thấy người
ta treo cổ người, nhưng nỗi kinh hoàng cũng bám theo tôi trong đôi
chân run lẩy bẩy. Lúc đó, tất nhiên, tôi chẳng thể làm gì được, nhưng
bây giờ thì tôi có thể can đảm nói:
#######
() Historia morbi: bệnh sử (tiếng Latinh).


- Này ngài trung tướng, ngài là loài thú dữ. Ngài không được treo
cổ người.
Chỉ qua một việc đó các anh có thể thấy rằng tôi không phải là kẻ
hèn nhát, tôi nói về con dấu không phải là vì tôi sợ chết. ồ không, tôi
không sợ chết đâu. Tôi sẽ tự tay bắn chết mình, và điều đó sẽ chóng
diễn ra thôi, vì Colia sẽ khiến cho tôi phải đến mức tuyệt vọng. Tôi sẽ
tự tay bắn chết mình để khỏi nhìn thấy và nghe thấy Colia. Cái ý
nghĩ rằng những kẻ khác sẽ đến... Điều đó thật kinh khủng.
*
* *
Suốt ngày này sang ngày khác tôi nằm trên đi văng và nhìn ra
cửa sổ. Phía trên khu vườn cây xanh của chúng tôi là một lỗ hổng
không khí; và ở bên kia, khu nhà khổng lồ bảy tầng vàng khè quay
bức tường không cửa sổ câm lặng về phía tôi, ngay sát mái là một
khối rỉ vuông to tướng. Một tấm bảng. "Phòng thí nghiệm Nha khoa"
chữ trắng. Lúc đầu tôi rất ghét nó. Nhưng sau rồi quen, và nếu người
ta gỡ bỏ nó đi thì có lẽ tôi lại cảm thấy buồn nhớ nó. Suốt ngày nó lù
lù trước mặt tôi, tập trung sự chú ý vào nó và suy ngẫm về nhiều điều
cực kì quan trọng. Giờ đây trời đã bắt đầu tối. Mái nhà dần đen thẫm
lại, những chữ cái màu trắng biến mất. Tôi cũng trở thành xám xịt,
tôi tan loãng ra trong bóng tối đen đặc, cũng như những ý nghĩ của tôi
tan loãng ra. Hoàng hôn là một khoảng thời gian đáng sợ và đáng kể
trong vòng tuần hoàn ngày đêm. Tất cả tàn lụi, tất cả hoà trộn vào với
nhau. Con mèo lông hung bắt đầu dạo những bước chân nhung dọc
theo hành lang và thỉnh thoảng tôi lại hét lên. Nhưng tôi không dám
bật đèn, vì nếu như có ánh sáng thì suốt buổi tối tôi sẽ khóc nức nở,
vặn vẹo hai bàn tay. Tốt hơn là nhẫn nhục đợi cho đến khi trong màn
đêm sóng sánh cháy hiện lên hình ảnh cuối cùng- hình ảnh quan
trọng nhất...
*
* *


Mẹ già tôi nói với tôi:
- Mẹ chẳng sống được bao lăm nữa đâu. Mẹ thấy thật điên rồ. Con
là anh, và mẹ biết con thương nó. Hãy đưa Colia về. Đưa nó về đây.
Con là anh mà.
Tôi im lặng.
Mẹ tôi dồn tất cả lòng khao khát, tất cả nỗi đau vào giọng nói của
mình:
- Con đi tìm nó đi. Con giả bộ coi như vậy là cần thiết. Nhưng mẹ
biết con. Con thông minh và con đã hiểu từ lâu rằng tất cả những cái
đó là điên rồ. Con đưa nó về cho mẹ một ngày. Một ngày thôi. Rồi mẹ
lại để cho nó đi.
Mẹ tôi nói dối. Chẳng lẽ mẹ lại để cho nó đi nữa?
Tôi im lặng.
- Mẹ chỉ muốn hôn vào mắt nó. Vì dù sao thì nó cũng sẽ bị người
ta giết chết. Phải thương nó chứ? Nó là con của mẹ mà. Mẹ biết nhờ ai
nữa? Con là anh. Con đưa nó về đây.
Tôi không chịu đựng nổi, cúi đầu đáp:
- Thôi được.
Nhưng mẹ túm lấy ống tay áo của tôi và kéo tôi quay lại để nhìn
thẳng vào mặt tôi.
- Không, con hãy thề đi, con hãy thề sẽ đưa nó về đây khi nó còn
sống.
Làm sao có thể thề như vậy được?
Còn tôi, một kẻ điên rồ, tôi đã thề:
- Con xin thề.
*
* *


Mẹ là một người hèn nhát. Tôi bỏ đi với ý nghĩ đó trong đầu.
Nhưng tôi nhìn thấy cây cột điện nghiêng ở Berdiansk. Ngài trung
tướng, tôi đồng ý rằng tôi là một kẻ tội lỗi không ít hơn ngài, tôi cũng
phải chịu trách nhiệm khủng khiếp về người công nhân má lấm nhọ
dầu kia, nhưng em tôi chẳng có liên quan gì đến đây cả. Nó mới mười
chín tuổi.
Sau chuyện ở Berdiansk, tôi cương quyết thực hiện lời thề và tìm
ra đứa em của tôi cách đó hai mươi dặm, cạnh con suối nhỏ. Hôm đó
trời nắng rực rỡ khác thường. Trên con đường bốc mù bụi trắng, một
đội kị binh phi chầm chậm tiến về khu làng đang bốc khói. Em tôi đi
phía ngoài ở hàng đầu, mũ lưỡi trai kéo sụp xuống mắt. Tôi còn nhớ
rất rõ: đinh thúc ngựa phía bên phải trễ xuống tận gót giầy. Quai mũ
ôm má thít chặt dưới cằm.
- Colia! Colia! - Tôi hét to và chạy đến sát con rãnh bên vệ đường.
Em tôi giật mình. Những người lính cau có đẫm mồ hôi trong hàng
quay đầu nhìn sang.
- A... Anh! - Em tôi kêu lên đáp lại. Không hiểu sao chẳng khi nào
Colia gọi tên tôi, bao giờ cũng chỉ "Anh". Tôi lớn hơn em tôi mười tuổi,
Colia bao giờ cũng chăm chú nghe lời tôi.
- Anh dừng lại đi. Anh cứ đứng đấy,- Colia tiếp,- cạnh bìa rừng
ấy. Bọn em sẽ đến kia! Em không thể bỏ đơn vị được.
Nơi mép rừng, cạnh đơn vị đang vội vã, chúng tôi hối hả rít thuốc.
Tôi bình thản và dứt khoát. Tất cả đều điên rồ. Mẹ tôi hoàn toàn
đúng.
Tôi thì thầm:
- Lát nữa từ làng trở về, em đi với anh vào thành phố! Và lập tức
rời khỏi đây, mãi mãi.
- Anh nói gì thế?
- Im đi, - tôi nói. - Im đi. Anh biết.
Đơn vị lên ngựa. Nhấp nhô phi nước kiệu về phía ngôi làng với
những đụn khói đen. Và đằng xa vẳng lại tiếng súng nổ. Những tiếng
gõ dồn dập, dồn dập.


Cái gì có thể sẽ xảy ra trong một giờ đồng hồ? Họ sẽ quay trở lại.
Tôi đứng đợi cạnh chiếc lán có chữ thập đỏ.
*
* *
Một giờ sau tôi nhìn thấy em tôi. Nó trở về, vẫn phi nước kiệu.
Còn đơn vị thì không thấy đâu. Chỉ có hai người cưỡi ngựa, cầm giáo
phi hai bên, và một người trong số họ- người bên phải - thỉnh thoảng
lại ghé sát vào em tôi như thể đang thì thầm điều gì với nó. Nheo mắt
vì chói nắng, tôi nhìn nhóm diễu hành hóa trang kì lạ này. Khi đi em
tôi đội mũ xám, khi về biến thành đỏ. Và ánh ngày tắt lụi. Trở thành
một tấm khiên đen. Trên đầu là một chiếc mũ màu. Không có tóc và
không có trán. Thay vào đó là một vành hoa đỏ với hàng răng cưa
vàng lởm chởm.
Kị sĩ - em tôi, đội chiếc vương miện bờm sờm - ngồi bất động trên
lưng ngựa đầm đìa mồ hôi. Nếu không có người cưỡi ngựa ở bên phải
thận trọng đỡ nó thì có thể nghĩ rằng nó đang đi duyệt binh.
Chàng kị sĩ kiêu hãnh ngồi trên yên ngựa, nhưng mù, và câm
lặng. ở chỗ một giờ trước đây là cặp mắt trong sáng cháy rực giờ chỉ
còn hai hố màu đỏ. Người cưỡi ngựa bên trái vội đưa tay trái ghìm
cương ngựa, còn tay phải khẽ kéo tay Colia. Nó lảo đảo.
Một giọng nói vang lên:
- Một quân nhân tình nguyện của chúng ta... bị mảnh đạn. Hộ lý,
gọi bác sĩ mau...
Một giọng khác thở dài tiếp theo:
- Hừm.. bác sĩ mà làm gì nữa. Gọi linh mục đến thì hơn.
Tấm màn đen mỗi lúc một trở nên đậm đặc và che khuất tất cả.
Cả vành vương miện đỏ...
*
* *


Tôi đã quen với tất cả mọi điều. Với ngôi nhà trắng của tôi, với
những buổi hoàng hôn, với con mèo lông hung thường cọ lưng vào
cánh cửa, nhưng tôi không thể quen được với những chuyến viếng
thăm của em tôi. Lần đầu tiên, khi tôi còn ở tầng dưới, phòng số ,
nó từ trong bức tường bước ra. Đầu đội vương miện đỏ. Điều đó chẳng
có gì đáng sợ. Tôi vẫn thấy nó như vậy trong các giấc mơ. Nhưng tôi
biết rất rõ: nếu em tôi đội mũ miện, có nghĩa là nó đã chết. Và nó bắt
đầu nói, mấp máy cặp môi máu đông lại dính chặt vào nhau. Nó mở
miệng, dập hai gót chân vào nhau, đưa một cánh tay lên sát vành mũ
miện, nói:
- Anh à, em không thể bỏ đơn vị được.
Và kể từ đó bao giờ, bao giờ cũng vậy. Nó đến, mặc quân phục,
đai da vắt qua vai, thanh gươm cong, đôi đinh thúc ngựa không phát
ra tiếng động, và vẫn nói những lời ấy. Dập chân chào. Rồi:
- Anh ạ, em không thể bỏ đơn vị được.
Em tôi đã làm gì với tôi trong cái lần đầu tiên ấy! Nó đã làm cho
cả bệnh viện kinh hoàng. Đời tôi thế là toi. Tôi suy đoán thật tỉnh táo:
nếu em tôi đội mũ miện, thì có nghĩa là nó đã chết; còn nếu người chết
đến và cất tiếng nói,- có nghĩa là tôi đã hóa điên.
*
* *
Đúng vậy. Kìa hoàng hôn buông. Giờ khắc quan trọng của sự
trừng phạt. Nhưng có một lần tôi vừa thiếp đi và mơ thấy phòng
khách với những đồ gỗ cũ bọc nhung đỏ. Chiếc ghế bành ấm cúng với
một chân nứt nẻ. Bức chân dung khung đen đầy bụi bặm treo trên
tường. Những bông hoa trên gác. Đàn dương cầm để mở, và trên đó là
bản nhạc Faust. Em tôi đứng ở cửa, một niềm vui không nén được
ngập tràn trái tim tôi. Nó không phải là kị sĩ! Nó vẫn như trước
những ngày tháng đáng nguyền rủa kia. áo vét đen, khuỷu tay vương
phấn trắng. Cặp mắt sôi nổi cười tinh nghịch, mớ tóc xõa xuống trán.
Em tôi hất đầu:
- Anh ơi, đi đến phòng em. Em cho anh xem cái này!


Phòng khách như bừng lên vì luồng sáng phát ra từ đôi mắt em
tôi, và gánh nặng ăn năn tan biến mất trong tôi. Chưa bao giờ có cái
ngày khủng khiếp, cái ngày mà tôi nói với nó" Em đi đi" và để nó đi.
Không có tiếng nổ và mùi khói lửa. Nó chưa bao giờ ra đi và chưa bao
giờ trở thành kị sĩ. Nó vẫn chơi dương cầm. Những phím đàn trắng
ngân lên, cặp mắt nó phát ra những tia sáng vàng, nó nói cười hồ
hởi...
*
* *
Rồi tôi tỉnh giấc, Và không còn gì cả. Không cả ánh sáng, không
cả cặp mắt. Rồi không bao giờ có được giấc mơ như vậy nữa. Thay vào
đó ngay trong đêm ấy, để tăng thêm nỗi thống khổ địa ngục của tôi,
người kị sĩ trang bị đầy đủ lại đến, bước đi không tiếng động và nói
điều định nói với tôi suốt đời:
- Anh ạ, em không thể bỏ đơn vị được.
Tôi quyết định chấm dứt. Tôi gay gắt quát hỏi em tôi:
- Em sao thế, định làm đao phủ suốt đời của anh ư? Em đến để
làm gì? Anh sẽ hiểu được tất cả. Anh xin nhận về anh tội lỗi của em,
vì rằng anh đã bảo em đến nơi chết chóc. Gánh nặng của người bị treo
cổ, anh cũng chịu về mình. Một khi anh đã nói như vậy, xin em hãy
tha thứ và để cho anh được yên.
Thưa ngài trung tướng, em tôi im lặng một lúc rồi bỏ đi.
Liền đó tôi nổi giận vì đau khổ; và bằng toàn bộ sức mạnh ý chí
của tôi, tôi ước mong cho nó đến gặp ngài và đặt tay lên vành vương
miện chào ngài dù chỉ một lần. Tôi đoan chắc rằng ngài cũng toi đời,
hệt như tôi đây vậy. Trong một nháy mắt. Nhưng biết đâu, có thể ngài
giờ đây cũng không phải cô đơn trong những giờ khắc đêm trường?
Biết đâu người công nhân với bên má nhem nhuốc trên cột đèn ở
Berdiansk đêm đêm lại chẳng đến với ngài? Nếu thế, chúng ta cũng
chịu đựng theo lẽ công bằng. Tôi đã sai Colia đi giúp ngài treo cổ, còn
ngài thì đã treo cổ người. Bằng mệnh lệnh miệng, không đánh số.


Vậy là, nó đã không bỏ đi. Tôi phải hét lên để đuổi nó. Tất cả mọi
người tỉnh dậy. Bà y sĩ chạy đến. Ông Ivan Vaxilievitr được đánh
thức. Tôi đã không muốn bắt đầu ngày mới, nhưng người ta không cho
phép tôi tự hại mình. Họ dùng khăn trói tôi lại, tước mảnh kính từ tay
tôi, băng bó cho tôi. Từ đó tôi ở phòng số hai bảy. Sau liều thuốc, tôi từ
từ thiếp đi và nghe bà y sĩ nói ngoài hành lang:
- Không còn hy vọng nữa.
*
* *
Điều dó đúng. Tôi chẳng còn hy vọng gì nữa. Lúc hoàng hôn
xuống, trong nỗi buồn cháy ruột, tôi vô ích chờ giấc mơ đến- căn phòng
cũ quen thuộc và làn ánh sáng hiền hoà từ đôi mắt long lanh. Không
hề có gì như vậy cả, và sẽ chẳng bao giờ có nữa.
Gánh nặng không tan vợi đi. Và đêm về tôi nhẫn nại đợi người kị
sĩ quen thuộc với cặp mắt mù đi đến và nói với tôi bằng giọng khản
đặc:
- Em không thể bỏ đơn vị được.
Vâng, tôi không còn hi vọng gì nữa. Em tôi sẽ dày vò tôi.
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
BUZZATI DINO
ITALIA
Bí MậT NHà VĂN
Tôi là kẻ bị coi là đã hết thời, nhưng là người hạnh phúc.
Mặc dù chén đời của mình tôi chưa dốc đáy. Vẫn còn lại một chút
gì đấy, tuy chẳng nhiều nhặn gì. Tôi hi vọng sẽ được nếm hưởng tất cả
cho đến giọt cuối cùng. Ước gì tôi còn được sống thêm - tôi đã thuộc
vào loại cổ lai hi từ lâu, chắc chẳng kéo dài được bao năm nữa.
Đã nhiều năm nay thiên hạ cho rằng khả năng sáng tạo của tôi
đang suy sụp, rằng với tư cách một nhà văn tôi đã tàn lụi hẳn, không
cơ cứu vãn. Nếu có ai đó không nói thẳng ra điều này thì cũng nghĩ
thầm như vậy. Mỗi cuốn sách mới tôi in ra đều được coi như thêm một
bước tôi trượt dần theo mặt dốc phẳng xuống dưới. Và đến nay tôi đã ở
tận nơi ngõ cụt, đường cùng.
Tất cả những cái đó là kết quả công sức của tôi. Chậm chạp
nhưng chuẩn xác, hơn ba mươi năm qua tôi bước đi một cách có ý
thức, theo kế hoạch đã vạch sẵn trên con đường dẫn đến kết cục hôm
nay.
Chắc các ngài sẽ hỏi tôi: nói một cách khác là chính anh muốn cái
thảm họa này, chính anh tự đào hố chôn mình?
Đúng thế, thưa các quý ông, quý bà, đúng là như thế đấy. Trong
sự nghiệp sáng tạo của mình, tôi đã đạt những đỉnh cao sáng chói.
Tiếng tăm tôi đã nổi như cồn, tài năng tôi đã được thừa nhận. Nói
ngắn gọn, tôi đã thành công rực rỡ. Và tôi có thể tiến lên, đi xa hơn
nữa. Nếu muốn, tôi có thể không khó khăn gì đạt tới niềm vinh quang
vẹn toàn, tuyệt đối.
Nhưng tôi đã không muốn.


Hơn thế, tôi đã chọn một con đường khác. Từ tầm cao đạt được -
mà tôi đã lên rất cao, tuy có thể chưa là tuyệt đỉnh Himalaya, nhưng
ít ra cũng là Monte Rosa() - tôi bắt đầu chậm rãi tụt xuống. Tôi
quyết định đi ngược lại cũng chính con đường mà khi lên tôi đã có
những cú nhảy mạnh mẽ khác thường. Tôi sẽ phải chịu nếm trải toàn
bộ cái cay đắng của sự thoái lui thảm hại. Nhưng thảm hại, xin các
ngài ghi nhận cho, chỉ là vẻ bên ngoài. Bởi vì, trong cuộc trượt xuống
dần dà này tôi đã có những thỏa mãn đích thực. Hôm nay tôi sẽ giải
thích tất cả để các ngài rõ, tôi sẽ công bố điều bí mật đã được giữ kín
bao nhiêu năm trời. Những trang “xưng tội” này tôi sẽ phong kín lại
để các ngài chỉ được đọc chúng khi tôi đã qua đời.
Hồi đó tôi bốn mươi tuổi và đang thực sự kiêu hãnh, say sưa với
bản thân mình, hết tốc lực ngang dọc bay trên mặt biển vinh quang,
thì bỗng một ngày nọ đột nhiên tôi bừng tỉnh ngộ. Tiếng tăm, danh
vọng, sự thán phục, ngưỡng mộ, uy tín quốc tế - chính những điều mà
tôi đã toàn tâm, toàn lực hướng tới - chợt hiện ra trước mắt tôi trong
sự vô nghĩa trần trụi, nhỏ nhoi.
Mặt vật chất của vinh quang không làm tôi quan tâm. Lúc đó tôi
đã đủ giàu. Còn những cái khác?... Những tràng vỗ tay, những say
sưa chiến thắng, những ảo ảnh đầy ma lực mà vì nó biết bao đàn ông,
đàn bà đã bán linh hồn cho quỉ? Cứ mỗi lần được nếm một giọt lộc trời
đó, tôi lại cảm thấy trong miệng mình vị đắng ngắt buồn nôn. Tôi
thường tự hỏi mình: cái gì là biểu hiện cao nhất của vinh quang? Đơn
giản ấy là khi ta đi ngoài phố, mọi người ngoái lại nhìn theo ta thì
thầm: xem kìa, xem kìa, ông ấy đấy! Và chỉ có thế, không hơn! Nhưng
ngay cả điều đó, xin các ngài nhớ cho, ngay cả cái niềm vui đáng ngờ
đó cũng chỉ dành cho những nhà hoạt động chính trị xuất chúng hoặc
những siêu sao điện ảnh mà thôi. Còn thời nay, để thiên hạ để ý đến
một nhà văn bình thường - tôi không biết là việc gì phải xảy ra!
Hơn nữa lại còn mặt trái của tấm huân chương. Các ngài có biết
cuộc sống thường ngày của một nhà văn nổi tiếng khổ ải như thế nào
không? Những trách nhiệm liên miên, thư từ, điện thoại của những
bạn đọc ngưỡng mộ, những cuộc phỏng vấn, gặp gỡ, hội thảo, những
bài phát biểu trên đài, vân vân và vân vân. Nhưng đấy chưa phải là
điều làm tôi sợ. Tôi kinh hãi và lo lắng vì cái khác. Tôi nhận thấy
rằng mỗi thành công của tôi, hầu như không mang lại cho tôi chút
thỏa mãn nào, lại làm cho nhiều người phải vô cùng đau khổ. Ôi, đáng


thương biết bao những gương mặt bạn bè và đồng nghiệp vào những
phút giây huy hoàng trong cuộc đời sáng tạo của tôi! Những chàng
trai tuyệt vời, những người lao động trung thực đã từ lâu gắn bó với
tôi bằng những mối quan tâm chung và tình bằng hữu - tại sao lại để
họ phải đau khổ kia chứ?!
Lúc đó tôi suy xét, cân nhắc mọi điều và hiểu ra rằng: cái khát
vọng thành đạt bằng mọi giá của tôi đã mang lại cho những người
xung quanh biết bao đau xót. Tôi hối hận là trước đây tôi không nghĩ
đến chuyện đó. Và nghĩ rồi, tôi cảm thấy lương tâm bị cắn rứt vô
cùng.
Và tôi cũng hiểu rằng: nếu còn tiếp tục tiến lên thì trên con
đường này, tôi sẽ gặt hái thêm những vòng nguyệt quế huy hoàng
mới. Nhưng trái tim của biết bao người lúc đó sẽ nhói buốt đau đớn và
buồn tủi, mà lẽ nào họ đáng phải chịu như vậy? Thế gian này rất
nhiều những nỗi khổ đau. Nhưng sự đau khổ vì ganh ghét bao giờ
cũng để lại những vết thương sâu nhất, rỏ nhiều máu đỏ nhất và khó
lành nhất - điều đó đáng được thông cảm một cách sâu sắc.
Tôi có trách nhiệm phải chuộc lỗi lầm của mình. Và tôi đi đến
một quyết định. Ơn Chúa, tôi được Người ban cho khả năng làm việc
tốt. Cho đến lúc đó, tôi, một kẻ được số phận nuông chiều, chỉ làm
toàn những việc khiến đồng loại phải đau buồn; còn giờ đây tôi sẽ bắt
đầu an ủi và đền bù hậu hĩnh cho họ. Chấm dứt những đau khổ của
mọi người há chẳng phải là niềm vui sướng hay sao? Và chẳng lẽ niềm
vui này không bù đắp được cho họ những nỗi khổ đau trước đó?
Cần phải tiếp tục viết, không thuyên giảm nhịp độ làm việc,
không tạo ra ấn tượng của sự thoái lui tự nguyện, nếu khác đi, để ý đồ
của tôi lộ ra, thì đây chỉ là một sự an ủi yếu ớt đối với các đồng nghiệp
của tôi. Cần phải đánh lừa họ, phải làm họ hiểu lầm, phải bịt giấu tài
năng đang ở kì nở rộ nhất, phải viết mỗi ngày một kém đi, tồi hơn,
phải làm ra vẻ cảm hứng đã cạn kiệt, và khiến cho những người đang
chờ đợi ở tôi những thành công mới được ngạc nhiên một cách dễ chịu
bởi sự thất bại, rơi tụt của tôi.
Nhiệm vụ đó thoạt nhìn có vẻ dễ dàng. Nhưng thật ra không phải
vậy. Sẽ rất sai lầm nếu nghĩ rằng có thể cố ý tạo ra những tác phẩm


nhợt nhạt, tầm thường mà không cần nhiều nỗ lực lắm. Trong thực tế
điều đó khó hơn ta tưởng. ở đây có hai nguyên nhân:
Thứ nhất, tôi cần phải lay chuyển các nhà phê bình, buộc họ từ
bỏ thói quen khen tôi. Thời đó tôi đã thuộc vào loại nhà văn có tầm cỡ,
danh tiếng vững vàng, được định giá cao trên thị trường văn chương.
Tán tụng tôi đã trở thành nguyên tắc buộc phải nghiêm ngặt tuân
theo. Mà ai cũng biết, một khi các nhà phê bình đã phân ngôi bày thứ
đâu vào đấy rồi thì cứ thử đi mà buộc họ thay đổi quan điểm của mình
xem! Liệu họ có nhận thấy ngòi bút của tôi càng ngày càng đuối hụt
dần, hay vẫn tiếp tục kiên trì những lời tán dương như cũ?
Và đây là điểm thứ hai. Máu người nói chung không phải là nước
lã. Các ngài nghĩ rằng tôi dễ dàng chế ngự, bóp chết trong tôi những
cơn trào dâng cảm hứng thiên tài? Dù tôi có cố gắng mấy để tỏ ra tầm
thường, nhàm chán, thì ánh sáng của tài năng với sức mạnh kì bí của
nó vẫn xuyên thấm qua các dòng chữ mà bột phát ra ngoài. Đối với
nghệ sĩ chân chính, phải giả dối là một việc làm đầy thống khổ, dù cho
đó chỉ là muốn tỏ ra mình kém cỏi hơn mình vốn có.
Nhưng dù sao tôi cũng đã làm được điều mình muốn làm. Năm
này qua năm khác tôi đã thuần dưỡng cái thiên bẩm bất kham của
mình. Tôi học được cách thể hiện vẻ bất tài của mình một cách tinh vi,
hoàn hảo, và chỉ riêng điều này cũng đủ chứng tỏ tôi là một tài năng
vĩ đại. Tôi viết hết cuốn sách này đến cuốn sách khác, càng ngày càng
kém vẻ. Ai có thể nghĩ rằng những thế phẩm rời rạc, đơn điệu, thiếu
hình ảnh, không sức sống này lại do ngòi bút của tôi sản sinh ra? Đó
quả là một vụ tự sát văn chương diễn ra chậm chạp!
Mà mỗi cuốn sách mới của tôi in ra lại làm cho những gương mặt
bạn bè, đồng nghiệp của tôi càng trở nên bừng sáng, giãn hết các nếp
nhăn. Tôi dần dần giải thoát cho họ, những con người tội nghiệp khỏi
gánh nặng của lòng ganh ghét. Và họ lấy lại được niềm tin vào bản
thân mình, chan hòa với cuộc sống; hơn thế nữa, họ bắt đầu yêu quý
tôi một cách chân tình. Tóm lại, họ đã thành đạt. Trước đó tôi ngáng
đường họ quá lâu! Giờ đây tôi thận trọng và chăm chút chữa lành vết
thương cho họ, mang lại cho họ một sự thỏa mãn lớn lao.
Những tràng vỗ tay đã lắng xuống. Tôi đã lánh vào chỗ khuất,
nhưng hài lòng với số phận. Tôi không còn nghe quanh mình những


lời tán dương giả dối; giờ đây bao trùm lên tôi là những đợt sóng yêu
thương và lòng biết ơn chân thành ấm áp. Trong giọng nói của bạn bè,
tôi lại nhận ra âm điệu trong sáng, tươi vui, hào phóng như vào
những tháng ngày tốt đẹp khi tất cả chúng tôi còn trẻ trung và chưa
phải trải qua những tráo trở của cuộc đời.
Tại sao lại thế, - chắc các ngài sẽ hỏi tôi, - nghĩa là anh chỉ viết
cho một nhúm vài chục kẻ đồng nghiệp của anh thôi ư? Thế còn thiên
chức? Thế còn độc giả? Thế còn biết bao những người đang sống và
những người sẽ nối tiếp mà anh có thể sưởi ấm tâm hồn? Nghĩa là cái
giá trị nghệ thuật của anh như thế đó? Nghĩa là tài năng của anh
nghèo đến vậy?
Tôi xin trả lời: Vâng, món nợ đối với bạn bè và đồng nghiệp quả là
vô cùng nhỏ bé so với trách nhiệm trước toàn nhân loại. Nhưng tôi
không hề phụ lòng người thân của tôi, độc giả không quen biết của tôi
ở khắp hành tinh, các thế hệ tương lai của thiên niên kỉ mới. Bởi vì
trong suốt thời gian qua tôi vẫn lặng lẽ, bí mật thực hiện cái sứ mệnh
mà Đấng Toàn Năng giao phó cho tôi. Bay bổng trên đôi cánh của cảm
hứng thần thánh, tôi đã viết những cuốn sách thể hiện thực chất tài
năng của tôi. Những cuốn sách đó đủ khả năng nâng tôi lên đến tận
trời, đến tận những đỉnh cao nhất của vinh quang. Vâng, chúng đã
được viết xong và cất giữ trong một chiếc rương lớn đặt ở phòng ngủ
của tôi. Mười hai tập. Các ngài sẽ được đọc chúng sau khi tôi qua đời.
Lúc đó các bạn tôi sẽ không có cớ để khó chịu, đau khổ. Người ta dễ
dàng tha thứ mọi chuyện cho kẻ đã chết. Kể cả việc anh ta sáng tạo ra
những tác phẩm bất tử. Các bạn tôi chỉ sẽ nhếch môi cười bao dung và
lắc đầu nói: “Ôi hắn đểu thật, lừa hết mọi người! Thế mà bọn mình cứ
tưởng hắn đã hoàn toàn biến thành con nít!”
Dù thế nào đi nữa, các ngài...
Đoạn ghi chép đến đây bỏ dở. Nhà văn già không kịp kết thúc, vì
rằng thần chết đã đến đón ông đi. Người ta thấy ông ngồi gục bên bàn
viết. Trên trang giấy, cạnh cây bút gãy, mái đầu bạc trắng nằm bất
động trong sự thanh thản cuối cùng cao cả nhất.
Đọc xong bức thư tuyệt bút, những người thân đi vào buồng ngủ,
mở nắp chiếc rương lớn và nhìn thấy ở đó mười hai tập giấy dày, mỗi
tập nhiều trăm trang. Tất cả đều để trắng. Không một nét chữ nào.

tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
DINO BUZATTI
ITALIA
CÔ GáI BAY XUốNG DƯớI
Cô gái Marta mười chín tuổi từ trên đỉnh nóc ngôi nhà chọc trời
đưa mắt nhìn xuống thành phố nằm trải rộng phía dưới trong màn
sương đêm, và cảm thấy chóng mặt.
Trên nền trời rất xanh đến khó hình dung nổi, nơi gió thổi tản
mát những đám mây sáng thưa thớt, ngôi nhà chọc trời tỏa ánh bạc
trong bầu không khí trong suốt trông thật hùng vĩ. Vào giờ này thành
phố có một vẻ quyến rũ duyên dáng đến nỗi chỉ kẻ mù mới không
nhận thấy. Từ trên độ cao, trước ánh mắt cô gái hiện ra những khu
nhà khổng lồ, những đường phố lung linh trong ánh hoàng hôn, và ở
đằng xa, nơi chuỗi sáng của chúng kết thúc, biển xanh bắt đầu - nhìn
từ trên cao có cảm tưởng như mặt biển càng ra xa càng dâng dần lên
cao. Từ phương Đông màn đêm tiến đến mỗi lúc một nhanh hơn, kéo
theo những ánh lửa đèn thành phố, và toàn bộ cái biển không đáy đầy
hấp dẫn đó bồng bềnh trong một làn sáng mờ ảo. ở phía dưới đó có
những người đàn ông quyền thế và những người phụ nữ còn nhiều
quyền thế hơn, những chếc áo măng tô lông và những cây vĩ cầm,
những chiếc xe hơi bóng lộn và những tấm bảng hiệu rực rỡ, những
cổng lâu đài ngái ngủ, những đài phun nước, những viên kim cương.
Những khu vườn cũ xưa nằm trong yên ắng, những buổi hội hè,
những dục vọng, tình yêu, và thống trị lên tất cả là những bùa mê
ban chiều cháy bỏng khiến con người mơ ước đến niềm vinh quang và
sự vĩ đại.
Mải nhìn xuống dưới, Marta vô tình vươn mình ra phía trước,
nhao người qua hàng lan can và bắt đầu bay đi. Cô gái có cảm giác
như mình bay tại chỗ trong không khí, nhưng thật ra không phải như
vậy - cô đang rơi xuống dưới. Ngôi nhà chọc trời cao khủng khiếp, và
vì vậy cô có cảm tưởng như các đường phố và các quảng trường còn ở


rất xa - ai mà biết được bay đến đó lâu đến nhường nào! Nhưng cô vẫn
cứ rơi, rơi mãi.
Buổi tối, ngoài các hiên và ban công của các tầng trên cùng,
những người giàu có và sang trọng tụ tập uống cocktail, nhỏ to những
câu chuyện thượng lưu. Nghe vẳng ra tiếng nhạc, những mẩu lời hát.
Marta bay ngang qua rất gần, và mọi người đổ xô ra tận lan can để
nhìn cô.
Những chuyến bay như vậy từ trên nóc nhà chọc trời - mà phần
lớn là các cô gái - ở đây không hiếm và được coi là một cảnh giải trí
khá hấp dẫn: có thể vì vậy mà giá nhà ở các tầng trên mới cao như
vậy.
Mặt trời còn chưa lặn hẳn, và những tia nắng cuối cùng chiếu soi
tấm áo váy của Marta hết sức ấn tượng. Đó là một bộ đồ mùa xuân rất
giản dị, được mua với giá rẻ trong cửa hàng đồ may mặc sẵn. Nhưng
trong ánh chiều nên thơ này trông nó có vẻ thật trang nhã, thậm chí
còn lộng lẫy.
Những chàng công tử tỉ phú hào hoa từ ban công chìa những bó
hoa và những cốc rượu ra cho cô.
- Siniorina, có muốn nhấp một ngụm secri không? Ôi con bướm
nhỏ đáng yêu, hãy đậu xuống chỗ các anh đây một phút nào!
Chới với trong không khí, vẫn tiếp tục rơi, Marta đáp với tiếng
cười hạnh phúc:
- Không, không được, các bạn của tôi ạ, tôi không thể. Tôi đang
rất vội.
- Vội đi đâu?
- Ôi, xin đừng hỏi! - Và Marta vẫy tay chào tạm biệt.
Một chàng tóc đen, cao to, ăn mặc rất diện, định túm giữ cô lại.
Marta thấy thích anh ta, nhưng cô lập tức nổi giận:
- Này, anh định làm cái gì thế hả? - Và trong khi bay ngang qua,
cô kịp búng một cái vào mũi anh ta.


Nghĩa là tất cả các quý ngài sang trọng này đều chú ý đến cô -
điều đó làm cho Marta cảm thấy hãnh diện. Cô cảm thấy mình thật
hấp dẫn, thật quyến rũ, thật hợp mốt thời trang. Trên những hàng
hiên trồng đầy những dây hoa cảnh, nơi những người hầu bàn mặc
đồng phục trắng chạy đi chạy lại và vang lên những bản nhạc lạ tai,
mọi người ngừng ăn uống trò chuyện để giành cho cô gái bay ngang
qua (theo phương thẳng đứng) một vài phút chú ý. Một số người cho
rằng cô thật xinh đẹp, số khác - cũng bình thường, nhưng ai cũng
quan tâm đến cô.
- Cô còn cả cuộc đời phía trước, - họ nói với cô, - vậy vội vàng như
thế để làm gì? Còn tha hồ mà chạy, mà bay. Hãy ngồi lại một lát với
chúng tôi, chúng tôi đang tổ chức một bữa tiệc thân mật nhỏ, nhưng
hi vọng rằng cô sẽ không hối tiếc.
Cô toan đáp lại, nhưng lực gia tốc đã kéo cô xuống tầng tiếp theo,
xuống hai - ba - bốn tầng dưới nữa - ôi rơi tự do vào cái tuổi mười chín
mới vui làm sao!
Mà xuống đến đáy, có nghĩa là tới mặt đất - hãy còn rất xa, tuy
khoảng cách đã ngắn bớt so với lúc đầu, nhưng vẫn hãy còn xa lắm.
Trong lúc đó mặt trời đã rơi xuống biển và tan nhoà trong nước
như một cây nấm đỏ khổng lồ rập rờn. Những tia sáng sống động của
nó không còn chiếu rọi tấm áo váy của cô gái làm cho cô trông giống
như một ngôi sao chổi lấp loáng nữa. Nhưng nhờ hầu như tất cả các
cửa sổ và ban công của ngôi nhà chọc trời đều được chiếu sáng, nên
khi bay qua, cả người cô cũng rực rỡ lên trong ánh phản chiếu.
Bây giờ trên đường bay, cô không chỉ gặp những đám người tiệc
tùng vui vẻ; ở những tầng thấp hơn là các văn phòng - những dãy bàn
dài, những nhân viên mặc đồng phục xanh và đen. Nhiều cô gái cùng
tuổi với cô, - có một số còn trẻ hơn, - mệt mỏi vào cuối ngày làm việc,
họ thỉnh thoảng lại ngẩng đầu lên khỏi đám giấy tờ và máy chữ, và
trông thấy Marta bay ngang qua, họ liền chạy ùa tới bên các cửa sổ.
- Cô bay đi đâu thế? Cô là ai? - Họ hét to lên với cô, trong giọng
của họ nghe có chút ganh tị.


- Người ta đang chờ tôi ở dưới kia, - cô đáp, - tôi không thể đứng
lại được. Xin lỗi nhé! - Và cô lại cười, tiếp tục rơi xuống khoảng không
đáy, nhưng lần này tiếng cười đã khác trước.
Đêm đã buông hẳn xuống, và Marta bắt đầu cảm thấy lạnh.
Vào lúc đó, vô tình nhìn xuống dưới, Marta nhìn thấy cổng lớn
sáng trưng ánh điện của một ngôi nhà. Nhiều chiếc xe con, đen, bóng
loáng, theo nhau kéo đến (từ trên cao nhìn xuống chúng nhỏ bé như
những con kiến), những cánh cửa mở ra và các bà, các cô, các quý ngài
lộng lẫy, hối hả biến vào trong toà nhà. Marta có cảm tưởng như trong
cái tổ kiến đó cô có thể phân biệt được ánh lấp lánh của từng viên
ngọc. Cổng nhà được trang hoàng bằng những lá cờ phấp phới bay
trong gió.
Có lẽ ở đó là một buổi dạ hội lớn, niềm mơ ước của Marta từ thuở
bé. Cô nhất thiết phải đến dự một buổi như vậy. ở đó, chờ đợi cô sẽ là
sự thành công, là thiên tình sử, là bắt đầu cuộc sống mới. Liệu cô có
còn kịp tới không?
Marta bỗng bực bội nhận thấy ngay bên cạnh, cách cô khoảng ba
chục mét, có một cô gái khác đang rơi. Cô gái lạ rõ ràng là xinh đẹp
hơn Marta, mặc một bộ váy buổi tối đắt tiền. Không hiểu sao cô ta bay
với một tốc độ lớn hơn và chỉ sau có vài giây đã vượt qua Marta.
Marta hét lên với cô ta một câu gì đó, nhưng cô ta đã biến mất. Cô gái
này rõ ràng là sẽ đến dự buổi lễ sớm hơn Marta - hẳn cô ta đã tính
toán trước mọi chuyện.
Một lúc sau Marta phát hiện ra rằng họ không chỉ bay có hai
người. Dọc theo hai bên mặt tiền của ngôi nhà chọc trời còn có cả đám
đông những người đàn bà trẻ vùn vụt rơi xuống, những gương mặt
của họ lộ vẻ hơi căng thẳng vì hồi hộp bởi chuyến bay, hai tay giang ra
như đôi cánh. "Hãy xem đây, chúng tôi đang bay! - Dường như các
thiên thần có cánh đang gọi vang. - Đây là giờ của chúng tôi, thế giới
của chúng tôi, hãy chào mừng, đón tiếp chúng tôi đi!".
Có nghĩa đây là một cuộc thi? Thêm vào đó tất cả các đối thủ, ai
cũng như ai đều mặc dạ lễ do những nhà hàng thời trang tốt nhất
may, nhiều người khoác khăn choàng lông chồn rộng. Còn cô chỉ mặc
một bộ áo váy may sẵn thảm hại. Lúc đầu cô có vẻ tự tin đến vậy, còn
giờ đây cảm thấy như có một cơn run rẩy tự bên trong: hoặc chỉ đơn


giản là vì lạnh, mà có thể vì sợ - sẽ ra sao, nếu cô đã phạm một sai
lầm không thể sửa chữa được?
Đêm đã vào khuya. Các cửa sổ theo nhau tắt đèn. Tiếng nhạc gần
như im hẳn, các văn phòng vắng lặng, trên các ban công các chàng
trai không còn chìa những cốc rượu cho cô nữa. Không biết đã mấy giờ
rồi nhỉ? Nơi cổng ra vào toà nhà ở phía dưới - bây giờ nó đã lớn lên rất
nhiều, đến mức có thể nhận rõ kiến trúc của nó, - đèn điện vẫn sáng
trưng như trước, nhưng xe hơi không còn đến nữa. Ngược lại, khách
khứa từng đám nhỏ đi ra cổng và uể oải tản ra bốn phía. Rồi các ngọn
đèn ở cổng cũng tắt hết.
Marta cảm thấy trái tim như bị bóp nghẹt. Chao ôi, thế là cô
không đến kịp buổi dạ hội. Ngước mắt lên, cô nhìn ngôi nhà chọc trời
đứng sừng sững trong dáng vẻ thản nhiên sắt thép của mình. Nó gần
như là một khối tối tăm, chí ít trên tận đỉnh mới có vài ba ô cửa sổ
hiếm hoi còn ánh đèn. Và bầu trời phía trên bắt đầu ửng sáng.
ở tầng thứ hai mươi tám, một người đàn ông chừng bốn chục tuổi
ngồi uống cà phê và đọc báo buổi sáng, còn vợ anh ta đang thu dọn
phòng. Đồng hồ trên tường chỉ chín giờ kém mười lăm. Vừa lúc đó một
bóng đen vụt lướt qua cửa sổ.
- Alberto! - Chị vợ gọi chồng. - Anh có thấy không? Một người đàn
bà vừa bay ngang qua.
- Trông như thế nào? - Anh chồng hỏi, mắt không rời tờ báo.
- Một bà già, - chị vợ đáp. - Một bà già hoảng sợ.
- Bao giờ cũng vậy! - Anh chồng lầu bầu. - ở các tầng dưới này chỉ
trông thấy bà già thôi. Để ngắm các cô gái trẻ phải ở tầng năm trăm
trở lên, đâu phải vô cớ mà giá nhà trên đó đắt như thế!
- Nhưng được cái chúng ta ở dưới này, - chị vợ cãi lại, - có thể
nghe thấy tiếng họ rơi đập lên mặt đường.
Người chồng lắng tai nghe.
- Lần này chẳng nghe thấy gì cả, - anh ta lắc đầu lẩm bẩm. Và
uống một ngụm cà phê nữa.
0
BUZZATI DINO
ITALIA
CUộC QUYếT ĐấU
Đức giám mục chỉ có một mình. Xung quanh ngài là cánh đồng và
rừng cây, bên mép rừng có một bờ rào. Ngài bước đến bên bờ rào và
dùng đầu gậy gạt con nhện ra khỏi mạng nhện treo trên đó. Con nhện
đực thật đẹp: to, khỏe, trẻ, với những đường vân tinh xảo trên lưng.
Rơi xuống khỏi tổ của mình, nó treo lủng lẳng trên sợi tơ nhện bám
vào đầu gậy, lắc lư và ngơ ngác không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra với
mình.
Cách đó một quãng trên bờ rào còn có một chú nhện khác, nó bệ
vệ trấn giữ nơi trung tâm của một mạng nhện lớn. Con này còn đẹp
hơn con kia. Trông nó giống như thần Molokh(). Mà không, nó không
chỉ giống thần Molokh, mà còn giống một con rồng, giống một quái vật
khát máu thời cổ có tên gọi là Quỷ Vương. No nê và bình thản, nó bất
động ngự trị trong cái thế giới nhỏ bé, đẹp đẽ của mình. Đức giám
mục muốn xem chuyện gì sẽ xảy ra, bằng một động tác chính xác ngài
hất con nhện thứ nhất vào đúng chính giữa mạng nhện lớn. Nó dính
vào đó và nằm yên không cựa quậy.
Con nhện lớn bệ vệ có vẻ như đang ngủ, nhưng con người chưa
kịp làm một cái chớp mắt thì nó đã nhảy vụt tới và nhả nước bọt ra
thành những sợi tơ bạc trói chặt kẻ xâm nhập vào vương quốc của nó.
Con nhện nhỏ hơn không chống cự lại. Chỉ mấy giây sau nó đã biến
thành một cái kén trắng nằm bất động.
Chiều buông êm ả. Mặt trời hạ thấp dần xuống núi. Những sợi tơ
nhện ánh lên trong ánh tà dương như một bức họa tinh xảo. ở chính
giữa mạng nhện lớn, chú nhện khổng lồ vẫn nằm yên, như không hề
có việc gì xảy ra. Nó không nhúc nhích, dường như ngủ. Phía dưới một
chút là cái kén và kẻ thù của nó đã bị cầm tù. Hay là con nhện nhỏ


hơn đã chết? Nhưng không, thỉnh thoảng vẫn thấy hai chân trước của
nó co giật khe khẽ.
Và, thoắt một cái, con nhện tù binh đã thoát ra khỏi các sợi dây
kiềm tỏa nó. Có vẻ như nó không cần một chút nỗ lực nào để làm việc
đó: không thấy nó vật vã, giằng giật để tự giải thoát. Có thể trong lúc
nằm yên suy nghĩ, nó đã đoán được bí mật của cái bẫy mà nó sa vào?
Nó thoát ra khỏi cái kén và chậm rãi bò theo vành cung ngoài của
mạng nhện lớn. Nhanh lên, nhanh lên, đức giám mục nghĩ, không thì
nó sẽ đuổi kịp mày đấy. Nhưng con nhện nhỏ không hề tỏ ra vội vã.
Thần Molokh trong vẻ đường bệ đế vương của mình đã cho phép
kẻ vượt ngục trốn thoát. Thế là thế nào? Một sự thỏa thuận ngầm
chăng? Nhà ngươi đã biết cách thoát ra được - nhà ngươi cứ việc tự do,
ta tha chết cho nhà ngươi đấy. Hoặc là một cái gì đó tương tự như vậy.
Chỉ thấy con nhện khổng lồ không nhúc nhích, làm ra vẻ không trông
thấy gì cả. Và con nhện nhỏ hơn nguyên lành bò khuất vào sau đám
lá.
Nhưng đức giám mục lại khéo léo bắt được nó và thận trọng treo
nó trên đầu gậy. Ngài đung đưa nó như một con lắc nhỏ rồi bằng một
động tác chuẩn xác hất nó trở lại tấm mạng nhện lớn.
Con nhện khổng lồ lập tức xông vào con mồi của mình, dùng càng
kẹp chặt nó, tìm cách trói nó lại. Hai con vật lộn một lúc. Thật không
may, con nhện bé hơn bị dính chặt vào mạng nhện nên nó không thể
xoay trở được để đối mặt đón địch thủ. Nhưng nó vẫn vùng vẫy tìm
cách hất kẻ thù ra. Cuối cùng, nó bị con nhện lớn hơn trói chặt lại
trong cái tư thế bất lợi đó.
Nhưng những vòng dây trói lần này không còn được chắc chắn
như lần trước, vì rằng hầu như toàn bộ nước bọt đã bị sử dụng hết.
Bây giờ số tơ chỉ còn đủ cho một số vòng, để chừa ở giữa những
khoảng trống. Đức giám mục bỗng cảm thấy như có một cái gì đó lướt
qua đằng sau lưng ngài: không hẳn là một chiếc lá nhỏ, không hẳn là
một con chim hay một con rắn... Ngài quay phắt lại. Thiên nhiên vẫn
êm ả và tĩnh lặng. Con nhện chiến thắng lần này đã không rời bỏ con
mồi, mà tiếp tục chạy quanh, cắn vào lưng và tìm cách tiêm nọc độc
vào mình nó. Con nhện tù binh không chống lại và thậm chí dường
như không cảm thấy đau đớn gì.


Kẻ chiến thắng cắn một miếng nữa rồi bò về ngai của mình,
nhưng rồi chợt thay đổi ý định và quay trở lại, cắn thêm một miếng.
Nó bò đi và quay lại ba lần như thế. Lần thứ ba kẻ chiến bại bất ngờ
thò càng qua khe hở giữa các sợi tơ trói, kẹp chặt lấy một chân của kẻ
hành hạ mình.
Con nhện khổng lồ giật nảy mình, bỏ con mồi ra tìm cách thoái
lui, nhưng đối phương của nó nào chịu buông tha. Nó kẹp chặt càng,
kéo, giật, cơ hồ như sắp cắt cái chân của kẻ thù ra. Nhưng cuối cùng
sức lực của con nhện bị cầm tù dường như cạn kiệt, nó đành buông
lỏng gọng càng.
Đức giám mục lại có cảm giác như ai đó đang chăm chú nhìn vào
lưng mình. Ngài ngoái nhìn ra sau lưng: vẫn không trông thấy ai cả.
Chỉ có ánh hoàng hôn sắp tắt lụi, và một dải mây dài màu vàng vắt
ngang bầu trời. Trông nó giống như một cánh tay lớn vươn ra có ý
nhắc nhở, cảnh báo một điều gì. Cái điềm báo này có phải là dành cho
ngài không?
Khập khiễng, con nhện khổng lồ bò về vị trí hợp pháp của mình.
Bây giờ nó run lên vì sợ hãi - biết đâu kẻ thù đểu giả của nó đã kịp
phóng nọc độc vào nó? Nó bắt đầu khẽ khàng xoa bóp cái chân bị
thương: dùng cả bảy chân kia sờ nắn, đưa lên miệng liếm, duỗi ra
ngắm nghía - hệt như những cử động của một người bị sái chân. Nó
chăm sóc cái chân đau như chăm sóc đứa con mới đẻ. Dần dần nỗi sợ
hãi qua đi, nó kiểm tra sự nguyên lành của cái chân bằng cách duỗi
nó ra và bám vào các sợi tơ nhện như đang chơi đàn thụ cầm. Rồi nó
lại ôm ấp cái chân trong cơn đau khổ, ghê tởm.
Cuối cùng nó đã hoàn toàn yên tâm. Và với một sự hăng hái gấp
đôi, nó quay lại trừng phạt kẻ địch. Như con dao mở đồ hộp cắm sâu
vào nắp hộp, chiếc càng của nó rạch ngang phần bụng của con nhện
tù binh; từ vết cắt chảy ra một dòng chất lỏng đậm đặc màu trắng.
Vào đúng lúc đó mặt trời đã lặn hẳn, cánh tay mây khổng lồ vắt
ngang cáng đồng nhuốm màu huyết dụ hắt lên cả đất trời một sắc
máu đỏ rợn. Thậm chí cả bờ rào cũng nhuộm màu máu đỏ. Không
gian trước đây đã yên lặng, giờ lại càng yên lặng hơn, - bởi vì lúc đầu
có hai con nhện đứng canh chừng nhau. Bây giờ chỉ còn lại một. Nó
ngồi bất động và làm ra vẻ như không hề có chuyện gì vừa xảy ra. Con


kia thì giờ đây đã không còn là một con nhện nữa, nó biến thành một
khối mềm, không hình thù, thậm chí vũng chất lỏng từ trong bụng nó
cũng đã chảy ra hết, vón cục lại. Nhưng nó vẫn còn sống: mấy cẳng
chân rũ rượi, bị những sợi tơ trói kéo căng ra, thỉnh thoảng vẫn co
giật yếu ớt.
Trên con đường phía xa có cỗ xe ngựa đi ngang qua, tiếng vó ngựa
dồn dập mỗi lúc một nhỏ dần, nhỏ dần lên phía Bắc. Từ bờ sông vẳng
lại tiếng hát mượt mà của một cô thôn nữ. Rồi tất cả lại lặng như tờ.
Đức giám mục chỉ có một mình. Bẻ cành cây nhỏ, với sự tự tin của
một nhà phẫu thuật đầy kinh nghiệm, ngài dứt tung các sợi tơ trói,
giải thoát cho cái sinh vật bị tàn phế và đặt nó lên mặt lá.
Con nhện thương tật, tơi tả nằm bất động vẫn trong tư thế cũ,
dường như nó vừa được lôi ra từ trong ống bó bột thạch cao. Rồi nó
nhổm dậy toan bò đi, nhưng lại khuỵu nghiêng xuống, và cả tám chi
của nó vẫn tiếp tục co giật nhịp nhàng, giống như một con chiên vô tội
của Chúa bị tất cả bỏ rơi giờ chỉ biết dập đầu cầu lạy Chúa.
Quỳ gối xuống, đức giám mục cúi đầu trước nỗi đau vô hạn này.
Lạy Chúa, ngài đã làm gì thế? Thật quá dễ dàng, một cuộc thí nghiệm
vô tình cắt ngang cuộc sống của một sinh linh vô tội. Nghĩ vậy, ngài
bỗng cảm thấy như con nhện đang nhìn ngài: những cặp mắt bé tí, vô
cảm trông thật nghiêm khắc, cháy bỏng.
Hoàng hôn đã lụi hẳn. Bờ rào và cây rừng trở lên bí ẩn, đáng sợ
và dường như đang ẩn mình nín tiếng chờ đợi một cái gì đó trong bóng
tối mỗi lúc một đậm dần. Lại có ai đó thoáng qua phía sau? Ai đó khẽ
thầm kêu tên của đức giám mục? Không, hình như vẫn không có ai
cả...
0
DINO BUZATTI
ITALIA
GặP Gỡ EINSTEIN
Một tối tháng Mười, sau ngày làm việc căng thẳng: Albert
Einstein đang một mình dạo chơi dọc con đường hai bên trồng cây của
thành phố Prinstern thì xảy ra một việc lạ lùng. Hoàn toàn bất ngờ và
không có bất cứ một nguyên nhân đặc biệt nào, khi ý nghĩ tự do
chuyển từ sự vật này sang sự vật khác giống như con chó sổ xích, ông
đã đạt đến được cái suốt đời từng là mục đích ông gắng hướng tới
trong các mơ ước của mình. Trong một thoáng, Albert Einstein chợt
thấy xung quanh mình cái gọi là không gian cong, và ông kịp xem xét
nó từ mọi góc cạnh, hệt như bây giờ bạn đọc có thể xem xét quyển
sách này trên tay.
Người ta cho rằng trí tuệ của con người không đủ sức để nắm bắt
hiện tượng uốn cong của không gian - không chỉ có chiều rộng, chiều
dài, chiều sâu, mà còn có cả một chiều thứ tư bí ẩn nào đó nữa; sự tồn
tại của nó đã được chứng minh, mặc dù nó nằm ngoài khả năng cảm
nhận của con người. Xung quanh chúng ta có một bức tường nào đó,
và con người, đang tiến thẳng về phía trước trên đôi cánh tư duy
không mệt mỏi của mình, bay lên mỗi lúc một cao hơn, bỗng đụng
phải. Cả Pitagor, cả Platon, cả Dante, cho dù họ có sống đến tận ngày
hôm nay đi nữa, cũng không thể vượt qua được bức tường đó, vì rằng
một chân lí như vậy không khuôn vừa trong kích thước bộ não của
chúng ta.
Tuy nhiên, cũng có người cho rằng có thể nắm bắt được không
gian cong bằng những năm tháng dài thí nghiệm và tư duy cực kì
căng thẳng. Một vài nhà bác học, trong khi thế giới xung quanh họ
sống cuộc sống bình thường, các lò cao và các đầu tầu nhả khói, hàng
triệu người bỏ mạng nơi chiến trận, còn trong bóng tối của các công
viên thành phố những cặp tình nhân âu yếm hôn nhau, thì các nhà


bác học cô đơn đó, bằng nỗ lực trí tuệ phi thường của mình - ít ra là
trong các huyền thoại cũng nói như vậy - đã nhìn thấy được, dù chỉ
trong một thoáng chốc ngắn ngủi (dường như có một sức mạnh nào đó
nâng họ lên phía trên vực thẳm rồi lại ngay tức khắc kéo họ về chỗ cũ)
và kịp xem xét cái không gian cong - đỉnh cao không thể đạt tới của
toà vũ trụ.
Nhưng thường thường, về hiện tượng kì lạ này, người ta không
đưa ra khoe khoang và không ai chúc mừng các anh hùng, không có
các dàn kèn đồng chào đón, các cuộc phỏng vấn, các tấm huân chương
kỉ niệm, vì rằng những chiến thắng đó mang tính chất hết sức cá
nhân, chỉ đơn giản là một người nào đó có thể nói: Tôi đã cảm nhận
được không gian cong. Bởi vì không hề có giấy chứng nhận, không hề
có ảnh chụp, không hề có bất cứ một cái gì tương tự khả dĩ chứng
minh điều đó là có thật.
Thế nhưng, khi những khoảnh khắc đó xuất hiện và tư duy của
chúng ta trong đà bay mạnh mẽ dường như tìm được khe hở rất khó
nhận thấy trên bức tường, luồn qua đó, lọt vào cái thế giới đóng kín
đối với chúng ta, và cái trước đây chỉ là một công thức trừu tượng
được sinh ra và phát triển ở ngoài chúng ta, chợt trở thành chính bản
thân cuộc sống của chúng ta, ôi, khi đó, trong nháy mắt, biến thành
mây khói tất cả những nỗi lo buồn, bận bịu ba chiều của chúng ta, và
chúng ta - sức mạnh trí tuệ con người mới kì lạ làm sao! - vụt bốc lên
cao và bay lượn trên một cái gì đó rất giống như sự vĩnh cửu.
Chính điều đó là điều xảy ra với giáo sư Albert Einstein vào buổi
tối tháng Mười nọ. Trong bầu không khí trong suốt tựa phalê, đây đó
những ngọn đèn đường cháy sáng như muốn ganh đua với ánh sao Vệ
Nữ, và trái tim - một khối cơ bí hiểm của con người - thỏa sức hít vào
mình cái thanh bình ngọt lành của Chúa. Mặc dù Albert Einstein,
một nhà thông thái và không vướng bận bả vinh hoa thường tình trần
thế, vào thời điểm đó ông cũng cảm thấy mình trội vượt hơn hẳn mọi
người, giống như một kẻ ăn mày kiết xác nhất chợt nhận thấy túi
mình đầy ắp vàng ngọc.
Nhưng ngay tức khắc, dường như để trừng phạt thói cao ngạo ấy,
chân lí bí ẩn đó vụt biến mất đi cũng nhanh hệt như lúc hiện đến.
Liền đó, Albert Einstein nhận thấy chỗ mình đang đứng là một nơi
hoàn toàn xa lạ đối với ông. Nhà bác học bước dọc theo con đường nhỏ


hai bên trồng cây xanh, bốn phía không hề thấy nhà cửa, lều quán.
Chỉ có một cột bơm xăng, sơn sọc vàng - đen loang lổ với quả cầu bằng
kính chiếu sáng ở phía trên. Bên cạnh, trên chiếc ghế bằng gỗ, một gã
da đen ngồi đợi khách hàng. Gã mặc áo liền quần bảo hộ lao động, đội
mũ thể thao bóng chày màu đỏ chói.
Albert Einstein đã định đi ngang qua thì gã da đen đứng lên và
đi về phía ông vài bước.
- Mister! - Gã gọi.
Giờ đây, khi gã đứng, có thể thấy rằng đó là một người rất cao,
khuôn mặt khá dễ coi, cân đối một cách đáng ngạc nhiên, rất đẹp trai
theo kiểu châu Phi. Gã cười lộ hàm răng trắng loá trong bóng tối vừa
buông xanh biếc.
- Thưa ngài, - gã da đen nói. - ngài có lửa không ạ? - Gã chìa ra
điếu thuốc lá hút dở đã bị tắt.
- Tôi không hút. - Einstein đáp và dừng lại, phần nhiều là do
ngạc nhiên.
Gã da đen lại lên tiếng:
- Thế ngài có thể cho tôi tiền uống rượu được không? - Gã cao lớn,
trẻ khoẻ và trơ tráo.
Einstein lục lọi các túi.
- Tôi không biết... Tôi không mang theo gì cả... Tôi không quen...
Tôi, quả thật, đáng tiếc... - Ông nói rồi toan bước đi tiếp.
- Cám ơn ngài! - Gã da đen nói. - Nhưng... xin lỗi.
- Anh còn cần gì nữa? - Einstein hỏi.
- Tôi cần ông. Chính vì vậy mà tôi ở đây.
- Cần tôi? Có chuyện gì thế?
- Tôi cần ông. - Gã da đen nói. - Cho một việc bí mật. Và điều đó
tôi chỉ có thể nói thầm với ông mà thôi.


Hai hàm răng trắng của kẻ lạ mặt như trở nên trắng hơn vì trời
lúc này gần như đã tối hẳn. Gã ghé sát vào tai Einstein.
- Tôi là quỷ Iblich. - Gã thì thầm. - Tức là Thần Chết, đến đây để
bắt linh hồn ông.
Einstein lùi lại một bước.
- Tôi thấy, - giọng ông trở nên gay gắt, - tôi thấy anh có vẻ đã quá
chén.
Gã da đen bước đến bên hàng cây xanh, bẻ một cành nhỏ và chỉ
trong chớp mắt những chiếc lá xanh biến màu, héo rũ xuống và trở
nên xám xịt. Gã chúm miệng thổi, và tất cả, những chiếc lá, cả cành
cây, tan thành đám bụi nhỏ.
Einstein cúi đầu.
- Hừm, quỷ thật! Có nghĩa đúng là hết... Nhưng sao, ngay tại đây,
buổi tối... ngoài phố thế này à?
- Tôi được lệnh như vậy.
Einstein nhìn quanh, nhưng bốn phía không một bóng người. Vẫn
con đường nhỏ, những ngọn đèn đường và xa xa phía dưới, ở ngã tư,
lấp loáng đèn ôtô. Ông nhìn lên trời - bầu trời trong và sáng. Những
ngôi sao vẫn cháy rực rỡ ở các vị trí của mình. Riêng sao Vệ Nữ vừa
lặn khuất nơi chân trời.
Einstein nói:
- Này, anh hãy hoãn cho tôi một tháng. Làm sao mà anh lại đến
đúng cái lúc tôi đang hoàn thành một công trình! Tôi xin anh cho tôi
chỉ một tháng thôi.
- Cái mà ông định phát minh, - gã da đen nói, - ông đi với tôi, đến
bên đó sẽ tìm thấy ngay.
- Đó là những chuyện hoàn toàn khác nhau: liệu tất cả những gì
chúng tôi dễ dàng biết được ở thế giới bên kia có đáng giá không?
Công trình của tôi có một giá trị nghiêm túc. Tôi đã trăn trở đeo đuổi
nó ba chục năm. Và giờ đây, khi chỉ còn lại một ít nữa...


Gã da đen cười khẩy.
- Ông bảo là một tháng à?... Thôi được, nhưng ông chớ có lẩn khi
hết hạn đấy. Cho dù ông có trốn xuống tận đáy của hầm mỏ sâu nhất,
tôi cũng tìm ra ông.
Einstein định hỏi thêm một câu nữa, nhưng người đối thoại của
ông đã biến mất.
Một tháng là khoảng thời gian rất dài khi phải sống xa người ta
yêu dấu nhưng lại hết sức ngắn ngủi khi anh chờ đợi sứ giả của thần
chết. Tưởng như nó ngắn hơn cả một tiếng thở dài. Và rồi nó đã hết.
Một buổi chiều, khi chỉ còn lại một mình, Einstein tìm đến nơi đã hẹn.
Vẫn cột xăng ấy, vẫn chiếc ghế dài ấy, còn ngồi trên ghế là gã da đen,
chỉ có điều bây giờ đã khoác thêm ngoài bộ bảo hộ lao động một chiếc
áo capốt nhà binh cũ - trời đã chuyển sang rét đậm.
- Tôi đã đến đây. - Einstein khẽ chạm tay vào vai gã, nói.
- Thế công việc của ông ra sao rồi? Xong chưa?
- Chưa, chưa xong được. - Nhà bác học buồn rầu đáp. - Hãy cho
tôi thêm một tháng. Một lần này nữa thôi, tôi thề đấy. Tôi tin là lần
này sẽ hoàn thành được. Anh biết không, tôi làm việc như điên suốt
ngày đêm, mà vẫn không kịp. Nhưng còn lại có chút xíu nữa thôi.
Gã da đen xoay người, nhún vai.
- Tất cả loài người các ông chẳng khác gì nhau. Không bao giờ
chịu vừa lòng. Sẵn sàng quỳ gối để xin gia hạn. Bao giờ cũng tìm ra lí
do...
- Nhưng vấn đề tôi nghiên cứu rất phức tạp. Chưa bao giờ có ai...
- Tôi biết, tôi biết, - Gã Thần Chết cắt ngang lời ông. - Ông tìm
chìa khoá để mở cửa vào vũ trụ chứ gì?
Cả hai im lặng. Cảm thấy thật lạnh lẽo trong bóng tối đầy sương
mù của trời đêm đã thật sự sang đông. Trong những đêm như thế này
chẳng ai muốn bước ra khỏi nhà.
- Thế nào? - Einstein hỏi.


- Thôi được, ông về đi... Nhưng nên nhớ là một tháng trôi qua
chóng lắm.
Và quả thật, nó trôi qua lúc nào không biết. Chưa bao giờ thời
gian nuốt chửng cả bốn tuần lễ một cách ngấu nghiến như vậy. Vào
đêm tháng Mười Hai hôm đó, một ngọn gió giá băng thổi những chiếc
lá rụng cuối cùng xào xạc lăn trên mặt đường rải đá. Những sợi tóc
bạc của nhà bác học xổ ra dưới vành mũ bêrê bay phất phơ. Và vẫn lại
cột xăng ấy, bên cạnh là gã da đen ngồi xổm, mũ trùm kín đầu, và
dường như đang ngủ gật.
Einstein bước đến, rụt rè chạm tay vào vai gã.
- Tôi đã đến.
Gã da đen va hai hàm răng vào nhau và co rúm người lại trong
chiếc áo capốt:
- Ông đấy à?
- Vâng, tôi.
- Nghĩa là ông đã làm xong.
- Vâng, nhờ trời, tôi đã làm xong.
- Cuộc đấu thế kỉ đã kết thúc? Thế nào, ông đã thấy cái ông tìm
ra rồi chứ? Đã mổ xẻ được vũ trụ rồi à?
- Đúng thế. - Einstein mỉm cười đáp và khẽ hắng giọng ho. -
Trong một chừng mực nào đó có thể nói giờ đây mọi chuyện với vũ trụ
đều đã ổn thoả.
- Vậy thì ta đi. Ông đã sẵn sàng chịu chuyến đi này chứ?
- Tất nhiên, đó là điều kiện mà.
Gã Iblich bỗng nhảy vọt dậy và phá ra cười - cười rất to, rất cởi
mở, rất da đen. Rồi gã chọc ngón trỏ bàn tay phải vào bụng Einstein
khiến ông loạng choạng suýt ngã.


- Thôi được, thôi được, ông bạn bịp già lõi ạ... Ông về nhà đi...
chạy nhanh lên, nếu không muốn viêm phổi... Bây giờ tôi tạm thời
không cần ông nữa.
- Anh tha tôi?... Nếu thế thì tất cả những trò kia để làm gì?
- Để cho ông hoàn thành công trình của mình. Chỉ có vậy thôi. Và
tôi đã làm được điều đó... Nếu tôi không dọa ông thì ai biết được ông
còn kéo dài bao lâu nữa.
- Công trình của tôi? Thế anh cần nó để làm gì?
- Tôi thì chẳng cần để làm gì cả... nhưng các sếp trên của tôi, ở
dưới kia, những chúa quỷ cấp cao hơn... họ nói rằng ngay từ những
phát minh đầu tiên của mình ông đã phục vụ cho họ rất đắc lực... Mặc
dù ông không có lỗi, nhưng đúng là như vậy đấy. Ông có thích hay
không, thưa giáo sư quý mến, nhưng địa ngục đã áp dụng các phát
minh của ông rất hiệu nghiệm. Bây giờ chúng tôi đầu tư những khoản
chi phí cho trang thiết bị, phương tiện...
- Vớ vẩn! - Einstein phẫn nộ quát lên - Hỏi trên thế giới có cái gì
vô hại hơn không? Đó chỉ là những công thức, thuần túy trừu tượng,
khá là khách quan...
- Đúng rồi! - Iblich hét vang, lại chọc ngón tay vào bụng nhà bác
học. - Ôi, ngài cừ quá! Hóa ra người ta cử tôi đến đây phí công vô ích?
Theo ngài, họ đã làm gì? Không, không đâu, ngài đã làm việc rất tốt.
Các sếp của tôi ở dưới kia sẽ rất hài lòng! Ôi, giá như ngài biết được!...
- Giá như tôi biết được cái gì?
Nhưng gã da đen đã biến mất.
Không còn cả cây xăng, không còn cả chiếc ghế dài. Chỉ có màn
đêm, gió lạnh và những ánh đèn ôtô xa xa phía dưới kia. Thành phố
Prinstern. Bang New Jersey.


tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
Đêm yên tĩnh
Dino Buzzati (Italia)

Nàng thốt lên một tiếng thở dài trong giấc ngủ. ở đầu giường
đằng kia chàng đang ngồi trên đivăng đọc sách dưới ánh sáng của
ngọn đèn ngủ được che bằng một chiếc chụp đèn hình nón. Chàng
ngước mắt nhìn lên. Nàng khẽ rùng mình, lắc đầu như thể muốn rũ
bỏ cái gì đó, mở mắt ra rồi nhìn chằm chằm vào chàng trai với một vẻ
sững sờ như thể mới nhìn thấy chàng lần đầu. Sau đó nàng hơi mỉm
cười.
- Có chuyện gì thế, em yêu?
- Không có chuyện gì, không biết tại sao em lại có một cảm giác
lo âu sợ hãi.
Em hơi mệt vì đi đường, chuyện ấy là bình thường, với lại người
em hơi nóng, em đừng lo, sáng mai em sẽ thấy không sao cả.
Nàng im lặng vài giây, đôi mắt mở to vẫn nhìn chàng chằm
chằm. Đối với họ là những người ở thành phố về đây, thì sự yên tĩnh
của căn nhà quê cũ kỹ này là hoàn toàn quá sức tưởng tượng. Nó
hoàn toàn là một khối im lìm khép kín có vẻ như đang chứa đựng bên
trong một sự chờ đợi, như thể các bức tường, xà nhà, đồ đạc trong
phòng, tất cả có vẻ như đang nín thở.
Sau đó nàng bình tĩnh hỏi:
- Anh Carlo, có cái gì ở ngoài vườn thế
- Ngoài vườn ư?
- Carlo, em xin anh, vì đằng nào thì anh cũng đã đứng lên rồi,
xin anh ngó ra ngoài một chút coi, bởi vì em có cảm giác như thể...
- Như thể có ai đó chăng? Em nghĩ gì lạ thế? Ai có thể ở ngoài
vườn vào lúc này? Kẻ trộm ư? - Rồi chàng bật cười. - Bọn trộm có
những việc khác cần làm hơn là lảng vảng quanh những căn nhà tồi
tàn như thế này.
- Em xin anh, Carlo, anh cứ ngó qua một chút xem.
Chàng đứng lên, mở cửa kính rồi cửa chớp, nhìn ra ngoài và tỏ
vẻ ngạc nhiên. Buổi chiều vừa có bão lớn, vậy mà giờ đây, trong một
không khí trong lành đến khó tin, mặt trăng tròn trịa đang rọi ánh
sáng vằng vặc xuống khu vườn bất động, hoang vắng và tĩnh lặng,
bởi vì cả những con dế và những con ếch cũng đang ngủ bên trong
cảnh im lìm.
Đó là một mảnh vườn rất đơn sơ, trên đó có một bãi cỏ phẳng
phiu với một lối đi rải sỏi trắng chạy vòng quanh và chia ra thành
nhiều lối đi nhỏ, và chỉ có xung quanh vườn là được trồng những
luống hoa tươi. Nhưng nó chính là khu vườn tuổi thơ của chàng, một
phần đau đớn trong cuộc đời của chàng, một biểu tượng của những
nỗi niềm hạnh phúc mất mát, và trong những đêm trăng, nó luôn có
vẻ như muốn nói chuyện với chàng bằng những lời bóng gió say sưa
và không thể hiểu nổi. ở phía Đông, trong cảnh sấp bóng tối tăm,
hiện lên một hàng rào cây duyên xen lẫn những khoảng trống hình
vòng cung, phía Nam có một đám cây táo nhỏ, phía Bắc có một lối
bậc thang dẫn đến mảnh vườn rau cùng căn nhà kho thơ mộng chứa
thóc lúa, phía Tây là căn nhà ở. Tất cả đang yên nghỉ trong cảnh gợi
cảm và tuyệt vời mô tả thiên nhiên ngủ say dưới ánh trăng mà không
ai có thể giải thích được. Mặc dù vậy, như mọi lẩn, quang cảnh đó
gây cho chàng một nỗi vò xé sâu xa như đứng trước một vẻ đẹp ý vị
mà tất nhiên chàng có thể thưởng ngoạn nhưng không bao giờ có thể
chiếm hữu được nó.
- Carlo, - Ma ria vẫn nằm trên giường lo lắng cất tiếng gọi, vì
nàng thấy chàng đứng nhìn bất động bên cửa sổ. - Có ai thế?
Chàng đóng cửa kính để mặc cửa chớp vẫn mở rồi quay trở vào.
- Không có ai cả, em yêu. Chỉ có ánh trăng vằng vặc. Chưa bao
giờ anh thấy một sự yên tĩnh đến như vậy - Chàng cầm lấy sách rồi
lại ngồi xuống đivăng.
Lúc này là mười một giờ mười phút. Đúng lúc đó, ở đầu vườn
phía Đông Nam, trong bóng tối của hàng cây duyên, một chiếc nắp
hang ẩn trong đám cỏ từ từ hé mở để lộ ra lối vào của một chiếc hang
sâu mất hút dưới lòng đất. Bỗng chốc có một hình hài thô đậm đen
đùa chui ra khỏi hang rồi lao nhanh ra ngoài theo đường zích zắc.
Trên thân cây có một con châu chấu nhỏ đang nghỉ ngơi trong
trạng thái no nê khoan khoái, chiếc bụng xanh của nó phập phồng
theo nhịp thở. Những chiếc móng vuốt của một con nhện đất hung dữ
cắm sâu vào ngực con châu chấu rồi cấu xé con vật. Cái thân thể bé
nhỏ của con châu chấu giãy giụa làm cho những chiếc chân sau dài
ngoằng của nó rung lên, nhưng chỉ rung được một lần. Những chiếc
gọng kìm khủng khiếp bắt đầu bứt gãy chiếc đầu của nó và bây giờ
chúng sục sâu vào trong bụng. Từ những vết rách trào ra dòng dịch
vị và kẻ sát nhân bắt đầu vục mồm vào uống một cách say sưa.
Vì quá say sưa với bữa chén, con nhện không kịp thời nhận ra
được một con vật đen đúa khổng lồ đang tiến đến gần từ phía sau.
Bốp? Vẫn nắm giữ con châu chấu trong chân, con nhện cùng với nạn
nhân của nó mất hút vĩnh viễn vào trong họng của một con cóc.
Nhưng toàn bộ khu vườn vẫn chìm trong cảnh bình yên và thơ mộng
linh thiêng.
Một mũi tiêm độc cắm sâu vào bắp chân mềm của một con sên
đang di chuyển chậm chạp về phía vườn rau. Nó còn bò thêm được
hai centimet nữa với đầu óc quay cuồng, để rồi nó nhận ra rằng cái
chân không còn nghe theo nó nữa và rằng thế là nó đi đứt rồi. Mặc
dù nó đang dần dần ngất lịm, nhưng nó vẫn cảm thấy hai hàm răng
của con sâu đang cắn xé thịt da nó để khoét sâu cái thân thể béo mập
và mềm mại đáng tự hào của nó.
Trong cơn hấp hối nhục nhã cuối cùng, nó vẫn còn kịp nhận ra,
với một cảm giác thỏa mãn còn rớt lại, rằng cái con sâu vừa tấn công
nó đã bị một con nhện khổng lồ bóp chết và xé xác trong nháy mắt.
Xa xa ở đằng kia đang diễn ra một thiên diễm tình thơ mộng.
Với chiếc đèn nhấp nháy bật hết cỡ, một con đom đóm đực bay lượn
xung quanh đốm sáng bất động của một nàng đom đóm vô cùng hấp
dẫn đang nhàn rỗi đậu trên một chiếc lá. "Đồng ý hay không?" "Đồng
ý hay không?" Nó tiến đến gần cô ả thử vuốt ve ả và được ả cho phép.
Dục vọng ái tình đã làm cho nó quên mất rằng một bãi cỏ dưới ánh
trăng có thể trở thành một địa ngục như thế nào. Đúng lúc nó đang
ôm ấp cô ả đom đóm thì một con bọ da màu vàng lao tới xé tan nát
bụng nó. Chiếc đèn nhỏ xíu của nó vẫn không ngừng nhấp nháy như
đang hỏi "đồng ý hay không", trong khi tên kẻ cướp đã nuốt được nửa
người của nó.
Trong khi ấy ở cách đó không quá nửa mét đang diễn ra một sự
hỗn loạn dã man. Nhưng nó chỉ diễn ra trong giây lát. Một vật gì đó
có kích thước khổng lồ đáp xuống nhẹ nhàng từ trên cao như một tia
chớp. Con cóc ban nãy cảm thấy trên dưng mình có một sự quằn quại
chết người, nó định ngoái lại nhìn. Nhưng nó đã bị nhấc bổng lên
không trong móng vuốt của một con cú già.
Nhưng nếu anh ngắm nhìn khu vườn thì sẽ chẳng thấy gì cả.
Toàn bộ khu vườn vẫn chìm trong cảnh thơ mộng và yên bình linh
thiêng.
Cái buổi hội chợ của tử thần đó đã được bắt đầu từ chiều tối.
Giờ đây nó đang diễn ra ở mức quyết liệt nhất. Và nó sẽ tiếp tục cho
đến sớm mai. Khắp khu vườn chỗ nào cũng có cảnh tàn sát, giết chóc,
hành hình. Những con dao mổ cắm vào não những chiếc móc phạt
đứt chân, móc vảy và thọc sâu vào phủ tạng, những chiếc răng cắn
xé, những chiếc ngòi tiêm nọc độc và chất gây mê, những sợi dây bắt
trói, những chất dịch ăn mòn có khả năng làm hóa lỏng cả những kẻ
nô lệ còn sống.
Từ những cư dân bé nhỏ nhất làm tổ trong đám rêu phong, như
nhũng con giun tí xíu, những con vật thân khớp..., đến những con
sâu, con nhện, bọ da, đến những loài động vật nhiều chân, và cứ thế
lên đến những loài động vật cấp cao hơn như thằn lằn, bọ cạp, cóc
nhái, chuột chũi, chim cú, một đội quân đông đúc những kẻ sát nhân
đang triển khai tàn sát, chém giết, hành hạ, mổ bụng, cắn xé nhau.
Như thể trong một thành phố lớn đêm đêm có hàng vạn tên sát nhân
khát máu và được vũ trang đến tận răng chui ra khỏi hang ổ lẻn vào
nhà người ta mà cắt cổ người ta trong lúc người ta đang ngủ.
Bất chợt ở dưới vườn anh chàng ca sĩ dế mèn bỗng nín bặt vì bị
một con chuột chũi phang một cú chết người vào đầu. Nằm cạnh bụi
cây là chiếc đèn đã tắt của một con đom đóm bị một con bọ da cắn
nát. Giọng hát của con ếch biến thành tiếng nấc nghẹn trong miệng
một con rắn nước. Và con bướm nhỏ thì không còn có dịp được quay
trở lại va đập vào cửa kính sáng đèn vì nó đang phải dãy dua trong
dạ dày của con dơi. Nỗi khủng khiếp, kinh hoàng cùng với sự hủy
diệt, hấp hối và chết chóc dành cho hàng nghìn sinh mạng của
Thượng Đế chính là cái được coi là giấc ngủ đêm của một khu vườn
rộng ba mươi trên hai mươi mét.
Và sự việc như vậy cũng đang diễn ra trên những cánh đồng ở
quanh đây, nó cũng diễn ra ở cả bên kia dãy núi đang phản chiếu lấp
loáng ánh trăng với vẻ nhợt nhạt và huyền bí. Và trên khắp bề mặt
trái đất chỗ nào cũng giống như vậy ngay khi đêm xuống: cảnh hủy
diệt triệt hạ, giết chóc. Và khi đêm tối tan đi rồi mặt trời xuất hiện,
thì một sự phá phách đẫm máu khác lại bắt đầu, với những tên sát
nhân khác, nhưng vẫn với một sự tàn bạo như nhau. Sự việc đã tồn
tại như vậy kể từ khi thế giới hình thành và mãi mãi sẽ vẫn như vậy
cho đến ngày tận thế.
Ma ria trằn trọc trên giường thốt ra những câu nói rời rạc vô
nghĩa. Sau đó nàng lại mở đôi mắt to hoảng hốt:
- Anh Carlo, giá mà anh biết em đã mơ một giấc mơ khủng
khiếp như thế nào, em mơ là ở ngoài kia có ai đó đang bị giết.
- Thôi nào, cố mà bình tâm lại đi, em yêu, anh cũng sẽ đi ngủ
bây giờ đây.
- Carlo, xin anh đừng giận, nhưng em vẫn có cái cảm giác kỳ lạ
ấy, rằng ở ngoài vườn đang xảy ra một điều gì đó .
- Liệu đầu óc em định nghĩ về cái gì vậy?
- Anh đừng từ chối em, anh Carlo ạ, vì quả thực là em rất muốn
anh ngó ra ngoài một chút.
Chàng lắc đầu mỉm cười, đứng dậy mở cửa kính nhìn ra ngoài.
Thế giới đang yên nghỉ trong một sự tĩnh lặng vô hạn tràn ngập
ánh trăng. Vẫn cái cảm giác mê hoặc ấy, vẫn một nỗi bất an bí hiểm
ấy.
- Ngủ yên đi em, chẳng có ma nào cả, chưa bao giờ anh được
chứng kiến một cảnh yên bình như thế này.

tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0