BACLANOV GRIGORI
NGA
MộT CƠN ĐAU KHổ GIá BAO NHIÊU
Hồi đó là tháng Năm, chiến tranh kết thúc đã được sáu ngày.
Chúng tôi đóng quân trong một làng Đức - bốn chiến sĩ trinh sát, và
tôi, chỉ huy của họ. Trong cái làng không giống với các làng xóm của
người Nga này có mười hai ngôi nhà vững chãi, dưới nhà là hầm ngầm
được quét dọn sạch sẽ, rải cát dày, xếp đầy những thùng rượu mát
lạnh cất bằng táo quả, ngoài sân là nơi nuôi gà và đàn lợn mũm mĩm,
trong chuồng là những con bò cái Hà Lan đứng thở phì phì; còn phía
sau nhà, trên những thửa đất được bón phân đầy đủ, lúa mì mọc rất
tốt. Và mặt trời hiền hòa tháng Năm chiếu sáng tất cả những cái đó:
lúa mì trên những thửa ruộng nhỏ sau nhà, mái ngói đỏ, đàn lợn
mũm mĩm, những người chủ nhà sớm sớm hiền lành và cởi mở chào
hỏi chúng tôi. Họ gần như ngay tức khắc, không cần bàn luận, chuyển
sang trạng thái hòa bình, đơn giản đến nỗi dường như để làm chuyện
đó chỉ cần cởi bỏ ủng nhà binh và xỏ chân vào đôi giầy bằng vải phớt
dùng để đi trong nhà - chính những đôi giầy mà sáu năm về trước họ
đã cởi ra để xỏ chân vào ủng nhà binh. Họ không thích nói về chiến
tranh, chỉ lắc đầu tỏ vẻ phê phán và nhắc tên Hitler - chính hắn mới
là người có lỗi trong tất cả mọi chuyện, cứ để cho hắn phải chịu tất cả
trách nhiệm; còn họ chỉ việc cởi ủng ra là hết.
Vào ngày hòa bình thứ hai, chúng tôi bắt được một tên lính Đức
trong đám lúa mì ở phía sau làng. Người cao lớn, trong chiếc áo khoác
sĩ quan màu đen cổ bằng nhung, hắn đứng giữa chúng tôi; và chúng
tôi, lần đầu tiên trong suốt cuộc chiến tranh này khi bắt được tù binh
không biết phải làm gì với hắn. Nhìn hắn đứng xo ro đôi vai dưới lần
áo khoác, tôi bỗng cảm thấy tính chất ước lệ tương đối của rất nhiều
khái niệm của loài người: hôm kia hắn còn là kẻ thù, bây giờ hắn
không còn là kẻ thù nữa, và thậm chí cũng không phải là tù binh;
nhưng đồng thời thả hắn ra cũng không phải là đơn giản, dễ dàng đối
với chúng tôi.
Tôi còn nhớ tháng Sáu năm . Chúng tôi rút lui và nhiều
người đã hi sinh; nhưng khi bắt được một tên tù binh Đức, nhìn thấy
đôi bàn tay to lớn, bàn tay người thợ của hắn, chúng tôi còn vỗ vào
lưng hắn, cố tìm cách giải thích, thông cảm, rằng hắn cũng là công
nhân, và Hitler đã buộc hắn phải cầm súng đánh nhau với chúng tôi.
Và chúng tôi đã cho hắn cùng ăn chung. Đó là những ngày đầu chiến
tranh. Còn bây giờ chiến tranh đã kết thúc, đứng trước mặt chúng tôi
là một tên lính Đức bị bắt trên cánh đồng lúa, và không một ai trong
chúng tôi có thể khích lệ vỗ lên vai hắn. Chúng tôi cũng không thể nói
với hắn như những người lính hai phe có lẽ đã nói với nhau sau những
cuộc chiến tranh trước đây: “Tôi là lính, anh cũng là lính, và chúng ta
không có lỗi; lỗi là ở những người bắt chúng ta phải bắn vào nhau. Cứ
để cho chúng phải chịu toàn bộ trách nhiệm”. Bây giờ có một ngăn
cách khác nằm giữa chúng tôi với hắn; sau cuộc chiến tranh này, có
một thước đo khác để đo tội lỗi và trách nhiệm của mỗi người.
Nhưng hình như dân làng và ông chủ ngôi nhà tôi ở không cảm
thấy điều đó. Buổi sáng, khi tôi treo thắt lưng với khẩu súng ngắn lên
thành giường gỗ và ăn sáng, ông ta bước vào, miệng ngậm tẩu thuốc
và chào “herr sĩ quan”(). Hôm đầu ông ta đứng ở cửa, nhưng chỉ sau
một vài ngày đã ngồi bên bàn, chân gác chéo lên nhau. Mặt trời buổi
sáng chiếu xiên qua cửa sổ, ông ta nheo mắt rít tẩu thuốc, vành
miệng tẩu bằng kim loại đã đen xạm vì chất nicôtin, khoái trá ngồi
nhìn “herr sĩ quan” ăn. Trước đây ông ta cũng đã có thời trai trẻ, nên
hiểu rằng vì sao một người trẻ tuổi như tôi, khi ăn sáng lại có một sự
ngon miệng dễ thương đến thế. Đôi mắt nheo nheo của ông ta ánh lên
lòng nhân hậu. Ngoài sân nghe tiếng chị vợ xách chiếc xô vắt sữa
tráng men chạy đi chạy lại. Mười tám tuổi, chị ta đã sinh cho chồng
một đứa con trai; và bây giờ, ba mươi hai tuổi, trông chị ta không thể
nào là mẹ của cậu quí tử có thân hình dài ngoẵng, cao hơn bố cả nửa
cái đầu này. Thậm chí lúc đầu chúng tôi tưởng đó không phải là con
của chị ta, mà của ông ta với một người vợ khác.
Ngay ngày đầu tiên, chủ nhà đã xin phép tôi ban đêm đưa vợ đến
nhà người thân ở làng khác ngủ: vợ ông ta còn trẻ, mà trong nhà là
lính... Để tôi khỏi nghi ngờ gì, con trai của ông ta sẽ ở lại với chúng
tôi. Ngoài ra còn toàn bộ tài sản của ông ta: bò, lợn, và tôi không nghi
ngờ gì về nguyên nhân con trai ông ta sẽ ngủ lại nhà.
Họ ra đi lúc mặt trời lặn, đứa con trai còn xủng xoảng chìa khóa
trong các nhà kho cho đến tận tối mịt. Chúng tôi không chú ý đến nó.
Các chiến sĩ trinh sát ngồi lại một chỗ ngoài sân, nhìn ráng chiều và
khe khẽ hát hai bè bài hát về người lính Cozac ra trận. Bài hát này
dù đã nghe đến hàng trăm lần, ở đây, ở nước Đức xa xôi này, nó vẫn
làm trái tim se lại.
Sáng hôm sau, trời hãy còn sương lạnh, ông bà chủ nhà đã trở về.
Ông ta đến chào “herr sĩ quan”, còn chị vợ lập tức chạy đi chạy lại
ngoài sân, cho gà lợn ăn, đôi cánh tay hồng hào mập mạp làm mọi
việc khéo léo nhanh nhẹn. Các chiến sĩ trinh sát của tôi ngồi sưởi
nắng trong sân, chị ta hết chạy từ chuồng bò vào nhà, lại từ nhà ra
chuồng bò, mang theo mùi bánh mì, mùi sữa bò, mùi mồ hôi nồng nặc,
đưa mắt liếc nhanh như chớp, đôi khi gấu váy quệt cả vào một người
nào đó. Còn khi chị ta đứng chống hai tay vào sườn trong chuồng lợn,
bầy lợn chen chúc nhau cạnh máng ăn, cọ sườn vào đôi chân trần
đứng dạng ra của bà chủ với cặp đùi mập mạp, bộ ngực mạnh mẽ và
khuôn mặt chăm chú của một đứa trẻ vừa được bú xong, trông chị ta
chẳng khác gì bức tượng đài của sự no đủ và thỏa mãn... Ông chủ,
ngược lại, người gân guốc, gầy gò, vai mảnh khảnh với những ngón
tay to mập và chiếc tẩu không bao giờ tắt trong miệng. Nhưng trong
cái bước đi buông thả, trong cái vẻ thường nhật gia đình của ông ta,
dù sao vẫn cảm thấy một tác phong quân sự được cố ý che giấu hết
sức cẩn thận, kĩ lưỡng.
Và cũng như vậy vào cái buổi sáng hôm đó, khi tôi ăn sáng, ông
ta ngồi bên bàn và trao đổi vài câu chuyện thận trọng. Còn tôi, nhìn
ông ta từ phía sau mép chiếc cốc, trong lòng muốn về nhà đến chết
được, dường như không phải chỉ mới sáu ngày, mà đã hơn một trăm
năm rồi chúng tôi ở lại trong cái làng Đức sạch sẽ, nhờ một sự may
mắn đáng kinh ngạc nào đó thoát khỏi sự tàn phá khủng khiếp của
cuộc chiến tranh này. Hôm nay chỉ một điều làm tôi thích thú: ngoài
sân, một chiếc xe mô tô mới tinh đang chờ tôi. Sáng nay các chiến sĩ
trinh sát vừa mang về, và tôi còn chưa trông thấy nó.
Bà Magda, với bộ mặt già nua bất động, đôi cánh tay cứng như
sắt để trần đến tận khuỷu, khệ nệ khiêng trước bụng một chiếc thùng
gỗ sồi ướt nước đi ngang qua cửa sổ. Chân bà đi đôi ủng lính thấp cổ.
Bà làm công cho nhà này từ mùa thu. Trong cả làng, hình như chỉ
riêng đối với một mình bà là không có hòa bình, cũng như đối với bà
đã không có tương lai. Tất cả những gì bà có đều thuộc về quá khứ,
mà với sức khỏe sắt đá của mình, bà sẽ còn phải sống rất lâu.
Trước đây bà đã có chồng, Đảng viên cộng sản. Trong một cuộc
mít tinh, ông bị dao đâm vào lưng chết. Trước đây bà cũng có con trai,
một đứa duy nhất và đẻ muộn. Cùng với con, bà đã sống thêm cuộc
đời thứ hai - không phải cuộc đời của bà nữa, mà là của con. Con bà bị
giết chết ngoài mặt trận vào năm bốn mươi tư.
Tiểu đội trưởng trinh sát Margoxlin, đang ngái ngủ, mặc áo va rơi
không thắt lưng, đi chân đất, bước tới trước mặt bà, đỡ lấy chiếc
thùng. Nhưng bà vẫn không buông tay ra, và hai người đứng một lúc
ở giữa sân kéo thùng về phía mình. Rồi Margoxlin nhẹ nhàng vác
thùng trên vai đi trước, bà Magda theo sau, khuôn mặt của bà ngay
dưới nắng trông vẫn đen sạm. Họ đi khuất vào sau nhà kho.
Tôi chưa lần nào thấy các chiến sĩ trinh sát của tôi giúp đỡ một
người nào đó trong số chủ nhà, cả bà chủ với những “điểm mạnh”
quyến rũ như vậy, và cả đứa con trai. Người duy nhất được họ thương
là Magda, một bà già đã mất hết tất cả trong chiến tranh, và giờ đi
làm thuê cho những kẻ không hề mất gì, mà ngược lại, hình như còn
được nữa là khác.
Tôi ăn nốt món trứng và rót cho mình cốc rượu vang thứ hai. Thứ
rượu trong suốt, óng ánh, vừa được mang từ dưới hầm lạnh lên, và
những hạt hơi nước li ti đọng lại rất lâu trên chiếc cốc in những vết
ướt của các ngón tay. Rồi tôi đeo bao kiếm, - ông chủ nhà có mặt lúc
đó tỏ ra rất cung kính, - thít chặt lại chiếc thắt lưng sĩ quan, và cảm
thấy từng cơ bắp nở căng của mình. Đặc biệt hài lòng cảm thấy sức
nặng của khẩu súng ngắn treo ở đùi, tôi đội chiếc mũ sĩ quan lên đầu
và bước ra sân. Mặc dù đã trải qua một cuộc chiến tranh như vậy, con
người vào cái tuổi hai mươi hai, thực ra vẫn còn rất trẻ nếu những chi
tiết đó đối với anh ta vẫn có thể là quan trọng, nhất là trước con mắt
của một người Đức.
Sau mấy cốc rượu vang lạnh, mặt trời ngoài sân đã chiếu sáng
rực rỡ, và dưới cửa sổ cạnh bức tường trắng, một chiếc mô tô lấp lánh
thép mạ kền bóng loáng. Tôi nổ máy, dắt ra khỏi sân; và chân tôi chỉ
kịp vừa chạm đến pê đan, chiếc xe đã phóng vụt đi trên con đường
xuyên qua đồng lúa. Tôi bay ngược lên theo con đường đó, đến bức
tường xanh của bầu trời. Quả thật chiến tranh đã kết thúc, và chúng
tôi đang ở nước Đức.
Phía bên kia đèo là một làng nhỏ, nơi đóng quân của Volodia
Iacovenco, chỉ huy đội trinh sát một đơn vị xe tăng khác cũng gồm
bốn chiến sĩ. Tôi cho xe chạy ngoằn ngoèo trên đỉnh đèo theo con
đường đá trong rừng, rồi từ đó, với tiếng động cơ nổ giòn, phóng như
bay xuống làng. Cây cối, hàng dậu trước nhà và những cánh cửa sổ
mở rộng, qua làn nước mắt ứa ra nhập thành hai dải sáng kéo dài ở
hai phía của con đường.
Phía trước là ngã tư đường với một đống đá ở giữa. Đến Iacovenco
thì rẽ sang phải. Đúng vào lúc tôi vừa cua ngoặt, một con chó nhỏ từ
trong nhà đâm thẳng vào dưới bánh xe. Tất cả xẩy ra trong một
khoảnh khắc, đôi tay phản ứng nhanh hơn cả ý thức. Chỉ kịp lái xe
tránh qua một bên, hãm phanh, tôi đã bị bắn ra khỏi yên, ngã lăn
xuống đất, người trượt đi một quãng dài, hai bàn tay bíu chặt lấy mặt
đường đầy bụi.
Tôi nhảy vụt ngay dậy. Trước cửa nhà, một đứa bé chừng ba tuổi
đứng ôm con chó nhỏ trên tay. Nó không bỏ chạy, chỉ kinh hoàng tròn
mắt nhìn tôi và ra sức ép chặt con chó nhỏ vào lòng.
Chiếc quần galife bị xát xuống đất rách toạc ở đầu gối, hai bàn
tay dính bụi bỏng rát rớm máu. Chiếc xe mô tô bẹp dí nằm trên đống
đá giữa đường, bánh sau còn quay tít. Tôi ngồi xuống một hòn đá.
Chân tôi run run. Tôi phun đất ở miệng ra. Trong ý thức đờ đẫn của
tôi chỉ có một ý nghĩ rõ ràng: “Chỉ tí nữa mình có thể bị tan xác. Sau
khi chiến tranh đã kết thúc...” Các chiến sĩ trinh sát của Iacovenco
chạy đến. Họ lần lượt mang tôi vào nhà theo từng phần một: đầu tiên
là tôi, sau đó là chiếc mũ sĩ quan mà một người nào đó tìm thấy ở phía
bên kia đường.
Trong khi mấy người cởi ủng cho tôi, Iacovenco đứng bên cạnh với
cốc rượu vang trong tay.
- Uống đi, - anh nói. - Xương còn nguyên chứ? Thế nào các cậu,
xương cốt không sao chứ?
Và anh đưa tay sờ đầu tôi.
- Đau không? Còn ở đây? Còn nguyên! Thế thì có thể uống được,
uống đi!
Khi mọi người đã ra khỏi, anh ngồi xuống giường cạnh tôi. Đến
lúc đó tôi mới nhận thấy rằng anh có vẻ mặt của một người ốm, từ
người bốc ra mùi vodka.
- Anh biết không, - anh nói, - tôi đã đến trại tập trung. Cách đây
ba cây số. Hôm qua tôi đi đến đó.
Anh lấy bàn tay lau trán.
Tôi biết rằng bố anh, chính ủy tiểu đoàn xe tăng Iacovenco, đã
mất tích năm ở Kiev. Hai năm sau, có một người đến nhà nói với
mẹ anh, rằng ông ta cùng ở với bố anh trong một trại tập trung ở nước
Đức vừa trốn thoát về. Bố anh không chạy trốn được và nhờ ông báo
tin cho gia đình rằng mình còn sống. Mẹ anh viết cho anh - lúc bấy giờ
anh đang ở mặt trận, - và vẫn không biết có nên tin, hi vọng hay
không.
Từ đó, Iacovenco có một hi vọng thầm kín: khi nào quân ta tiến
vào nước Đức, anh sẽ biết được tin tức của bố. Và càng gần đến ngày
kết thúc chiến tranh, niềm hi vọng đó của anh càng trở nên nóng vội,
da diết.
Cuối cùng, mãi đến hôm qua anh mới tận mắt trông thấy trại tập
trung. Anh đi theo con đường đẫm máu từ cổng trại đến nhà thiêu xác
mà trước đây hàng trăm nghìn con người bất hạnh, bị hành hạ, đã đi
qua. Anh cũng biết rằng, nếu trong số vô vàn những dấu vết đã vĩnh
viễn biến mất ở đây có cả dấu vết của bố anh, thì cũng không bao giờ
có ai có thể kể lại cho anh điều đó được.
- ở đấy có một con hào. Phía bên kia nhà thiêu xác. - Anh bỗng
tái nhợt người đi. - Ruồi bay dầy đặc trên miệng hào. Ruồi xanh... Tôi
không hiểu ngay được... Chỉ cảm thấy đột nhiên hoảng sợ... Có lẽ vì
mùi... ở đấy, dưới hào, là mỡ người... Người bị chúng thiêu, và mỡ
chảy xuống đó...
Người anh lảo đảo, lắc lư, hai đầu gối kẹp chặt lấy bàn tay.
- Anh biết không, - anh nói, - tôi hi vọng một điều: bố tôi là chính
ủy. Mà bọn Đức thì không bắt chính ủy làm tù binh... Thêm vào đó,
người đến nhà tôi nói rằng ở trong trại tập trung, họ của bố tôi là
Iacovlev. Không phải là Iacovenco, mà Iacovlev. Hay ông ta nhầm với
một người nào khác chăng? Sau đó mẹ tôi không còn gặp ông ta lần
nào nữa.
Tôi biết nói gì với anh? Tôi nói rằng điều đó có thể xảy ra lắm,
thậm chí chắc chắn là như vậy, bản thân tôi cũng có biết mấy trường
hợp như thế. Thí dụ như ở trong trung đoàn chúng tôi, khi chúng tôi
vượt vòng vây...
Iacovenco ngồi lắc lư, cặp mắt nhắm nghiền, đôi má tái nhợt,
nhưng hai thái dương đỏ bừng và trên trán mồ hôi rịn ra từng giọt.
Đêm đến, bất chợt tỉnh giấc, tôi thấy trên trần nhà một bóng
người rất to: đôi vai rộng gần che kín cả trần và chiếc đầu rụt sâu vào
trong cổ áo. Hai tay ôm chặt thái dương, Iacovenco ngồi bên bàn, một
ngọn nến đặt trong đĩa chiếu sáng khuôn mặt anh từ phía dưới. Thấy
tôi không ngủ, anh nhón chân đi dép, mặc quần galife, áo va rơi
không thắt lưng, ngồi sang giường tôi.
- ở đó người ta kể với tôi rằng tro... tro của những người bị thiêu,
bị chúng chở ra đồng. Ruộng ở đây được bón bằng tro.
Anh đưa tay lên xoa cổ. Miệng anh khô đắng, và giọng nói của
anh cũng khô, khàn khàn.
- Tôi trở về nhà, hỏi họ: “Các ông có biết chuyện đó không? -
Nichts, Nichts”(). - Họ nói không biết. Thế thì đi mà xem! - Chiếc cổ
rộng của anh vằn máu. - Họ không đi. Không muốn đi. Anh hiểu
chưa? Chúng thiêu người ngay bên cạnh. Tro đem bón đồng. Còn bây
giờ thì nhai bánh mì...
Anh đứng dậy, ngọn nến lung linh, bóng bàn tay trên tường bay
vụt lên chiếc giá gỗ. Lấy xuống một vật trang sức, Iacovenco chìa
nhãn hiệu bên ngọn nến: “Anh thấy không?” Nhãn hiệu của Pháp.
Trong ánh sáng lung linh của ngọn nến, từ giá gỗ trên tường, rất
nhiều vật dụng và đồ trang sức nhìn chúng tôi, những đồ vật hoàn
toàn không hợp bộ với nhau. Đó là đồ vật của nhiều người, trước đây
chưa hề biết nhau bao giờ, nói bằng những thứ tiếng khác nhau, và
bây giờ chắc là đã bị thiêu hủy. Còn ngoài sân là đàn bò cái mang từ
Hà Lan tới, những con lợn đưa từ Đan Mạch về. Và cách đây vài cây
số là trại tập trung.
Ngày hôm sau tôi không thể nhìn cánh đồng được nữa. “Ruộng ở
đây được bón tro...” Dù sao tôi vẫn không muốn tin điều đó. Tôi biết
rằng rất dễ dàng mang tội lỗi của một người hay một số người gán cho
tất cả. Nhưng mọi người ở đây đều im lặng. Cả những người biết, cả
những người đã đoán ra, và thậm chí cả những người không tán
thành.
Chúng tôi đi xuống núi, và anh chiến sĩ trinh sát kéo căng dây
cương ghìm ngựa lại. Tôi nằm trên đống cỏ khô, mặt trời chiếu ấm; từ
thân người bị sưởi nóng bốc lên mùi mồ hôi. Những thửa ruộng hai
bên chạy ngược lại. Trên nền đất xốp, màu xám tro, những đám lúa
mì đang độ lớn non mơn mởn bị phủ một lớp bụi đường. Và tôi không
thể nhìn lớp đất và những thửa lúa mì đó.
Trên bầu trời xanh thanh bình của nước Đức, những đám mây
bông trắng nõn chậm chạp trôi. Bóng của chúng nhẹ nhàng lướt trên
mặt đất. Hòa bình và yên tĩnh. Nhưng biết bao nhiêu con người trong
cảnh hòa bình vừa được mang đến này phải phục sinh những người đã
chết để rồi sau đó lại đem chôn, và chỉ một số rất ít ỏi những ai may
mắn đón về những người đã được để tang trước đó.
Chúng tôi dừng xe ở cạnh cổng; anh trinh sát vội quay ngựa trở
về ngay, tôi bước vào sân. Các chiến sĩ của tôi không ai ở nhà, vợ
chồng chủ nhà vừa nhìn thấy tôi liền lánh vào sau chuồng bò thì thầm
trao đổi với nhau. Mấy lần họ thò những bộ mặt lo lắng ra nhìn tôi.
Trong khi tôi đi vắng có một chuyện gì đấy đã xẩy ra.
Tôi ngồi xuống giường, duỗi thẳng chiếc chân đau không thể gập
lại được, rút điếu thuốc ra và muốn châm lửa hút. Nhưng tôi đang
mặc chiếc quần galife màu xanh của Iacovenco và quên không bỏ bật
lửa của tôi sang đây. Chủ nhà cũng đã bước vào phòng. Tôi nhấm
nước bọt vào ngón tay và bôi lên chỗ dây thắt lưng da bị cào xước ở
bên sườn.
Ông chủ nhà hôm nay cởi mở hơn so với thường ngày. Nhìn thấy
điếu thuốc lá trong tay tôi, ông ta lập tức, nhưng không vội vã, bật lửa
cho tôi châm, như cho một người quen thân tốt bụng. Rồi ông ta ngồi
xuống chiếc ghế dài - cùng đàn ông với nhau mà!
Vừa châm lửa hút, tôi vừa liếc mắt nhận thấy vợ ông ta chạy vội
vào chuồng lợn. Vẻ mặt của chị ta vừa giận dữ, nhưng đồng thời vừa
sợ hãi, sẵn sàng chịu đựng mọi khổ nhục. Chủ nhà không nhận thấy
những điều đó. Ông ta ngồi rít tẩu thuốc, và mặt trời hắt nắng lên
người. Hai chúng tôi ngồi trên chiếc ghế dài cạnh cửa sổ. Và cũng
trong lúc đó đứa con trai của ông ta cầm cuốn sổ ghi chép và bút chì
bước vào phòng. Đứa bé dừng lại trước chỗ tôi ngồi, tay giữ cuốn sổ
ghi chép trước mặt, ho lấy giọng như sắp sửa hát. Tôi ngồi nhìn lên
mặt hắn: khi hắn bắt đầu nói, hai vai thõng xuống, cổ vươn dài ra vì
hồi hộp, lo lắng.
Hắn nói nhanh, và tôi chỉ hiểu được nghĩa của một vài từ tiếng
Đức. Nhưng hắn cứ kiên nhẫn nhắc đi nhắc lại, và cuối cùng tôi cũng
đã hiểu được. Hóa ra trong khi tôi đi vắng, có chiến sĩ trinh sát nào đó
đã bắn chết một con lợn.
- Erschoss, erschoss!() - Hắn nhắc đi nhắc lại, làm điệu bộ biểu
diễn việc đó đã xẩy ra như thế nào.
Margoxlin lắc lư người đi ngang qua sân, chiếc áo khoác da mới
ánh lên bóng loáng. Anh vừa đi trinh sát về, vì vậy mới có vẻ ngang
tàng như vậy. Thằng nhỏ không trông thấy anh, vẫn tiếp tục nói với
những vết đỏ lựng trên mặt.
- Một con lợn tốt lắm. Nó nặng ba mươi cân và còn có thể lớn nữa.
Nhưng nó cũng đã được ba mươi cân thịt loại tốt. Và giá mỗi cân là...
Hắn đã mấy lần nói “kostet”(). Tôi nhớ cái từ tiếng Đức này khi
hãy còn bé. Hồi đó tôi học thuộc lòng câu thơ: “Guten Tag, Frau
Maier! Was kosten die Eier? Acht Pjennig? Das ist zu tener...”()
Trong cuộc chiến tranh này cũng có một tên tướng SS tên là
Maier khét tiếng tàn bạo.
#######
() Chào bà Maier! Trứng giá bao nhiêu? # Tám penni? Nó đắt quá đấy... (tiếng Đức)
Thu hai chân xuống dưới ghế, hai tay chống lên mép ghế hai bên
người, chủ nhà ngồi khẽ lắc lư. Đôi vai xương xẩu của ông ta nhô lên,
đầu rụt xuống. Trong suốt thời gian đó ông ta không nói gì, chỉ ngồi
nghe với đôi mắt khép lim dim và gật gật tẩu thuốc bốc khói. Tôi liếc
nhìn đôi bàn tay bám vào mép ghế. Đó là bàn tay to lớn của người lao
động. Trong những nếp nhăn và xung quanh móng có một cái gì đó
đen đen. Đất chăng? Hay là tro?
Chủ nhà gật gật tẩu thuốc bốc khói. Còn đứa con trai đứng trước
mặt tôi thì tính lại con tính đã được cả gia đình tính kỹ. Tôi cần phải
hiểu rõ và tin chắc rằng mình không bị lừa, rằng họ chỉ muốn tôi đền
cho họ số thịt lợn ngon đó bằng một giá phải chăng. Mũi đứa bé trắng
bệch ra và bàn tay cử động hấp tấp. Giơ cuốn sổ lên sát mắt, hắn đọc
tên người đã bắn chết con lợn: “Soldat Macaruschca” và dừng lại nhìn
tôi. Tôi không thể hiểu ngay được rằng cái tên xa lạ mà hắn vừa khó
nhọc đọc to lên đó chính là Macarusca, anh chiến sĩ trinh sát trẻ nhất
của tôi.
Anh đến với chúng tôi trong một làng Ucraina vừa giải phóng.
Anh đến với tôi, người cán bộ chỉ huy đầu tiên anh gặp. Chân đất,
hoang dại đói khát - điều đó có thể thấy được qua đôi mắt, - anh đến
xin chúng tôi cho anh cùng ra trận. Trong làng không ai biết anh, anh
xuất hiện ở đây hồi mùa xuân, khi tuyết chưa tan, và cũng đi chân
đất, chiếc quần rách để lộ những miếng thịt tái xanh vì rét. Những
người đàn bà coi anh là thằng điên và thỉnh thoảng cho anh ăn. Và
cũng vì có tiếng là thằng điên nên anh mới không bị lùa sang Đức.
Anh lập tức quen thân với các chiến sĩ trinh sát; nhưng mãi rất
lâu về sau, mỗi khi kể lại một chuyện gì đó, anh vẫn gọi chúng tôi là
“quân Nga” như bọn Đức gọi, và nói về chúng theo cách của những
người dân sống trong vùng bị chiếm đóng. Anh hiền lành, lặng lẽ, và
khi được ăn uống đầy đủ, trở thành một chàng trai rất khỏe. Tôi
không nhớ ai là người đầu tiên gọi anh là Macarusca, nhưng cái tên
đó rất hợp với anh - một người khỏe mạnh, hiền lành - và tất cả mọi
người đều gọi anh như vậy, không ai còn nhớ tên thật của anh là gì.
Một lần, khi chúng tôi ngồi ở trạm quan sát, anh đã kể cho tôi nghe về
mình. Anh sinh ra trong một làng du kích. Gần như tất cả những
người đàn ông, trong đó có cha anh, đều vào rừng; nhưng quân Đức,
không hiểu sao, rất lâu không động đến gia đình họ, không trả thù.
Một đêm chúng đến bao vây, lùa tất cả dân làng vào ngôi trường,
đóng chặt cửa lại rồi phóng hỏa. Tất cả những ai liều mạng nhảy ra
đều bị chúng bắn chết. Mẹ anh đã chết ở đó. Nhưng dù trận càn có bất
ngờ đến mấy, nhiều bà mẹ đã kịp giấu các con của mình. Và một phần
dân làng cũng trốn thoát. Bọn Đức lùng sục họ trong các hầm nhà,
đêm lại dẫn đi bắn. Macarusca bế đứa em gái hai tuổi trên tay. Tất cả
bị bắt xếp hàng trên bờ khe. Đến nay Macarusca vẫn không thể nào
tha thứ cho mình một điều là tại sao trong giây phút cuối cùng đó anh
vẫn bế đứa em gái trên tay?
- Đáng ra em phải đặt nó xuống đất. Nó bé, có thể nằm khuất
dưới chân, bọn Đức sẽ không nhận thấy. Bởi vì lúc đó là ban đêm.
Nhưng nó sợ quá, hai tay cứ ôm chặt lấy em, không gỡ ra được. Những
móng tay của nó bấu chặt vào đây, - anh chỉ lên cổ mình. Lúc đó tôi
nghĩ: dù anh có sống trên đời này bao nhiêu năm nữa, bao giờ anh
cũng cảm thấy trên cổ mình những ngón tay đứa em gái hai tuổi bằng
cả tấm thân bé nhỏ của mình kinh hoàng nhận ra cái chết đang đến
gần đe dọa.
“Nó còn có thể lớn thêm...” - đứa con trai nhà chủ nói về con lợn
cân nặng ba mươi ki lô gam. Đó là lợn của hắn, không ai có quyền bắn
chết mà không bị trừng phạt. Và cha hắn, ngồi trên chiếc ghế dài,
chân đi đôi giầy vải dùng trong nhà, gật gật tẩu thuốc đang bốc khói.
Tôi ngồi nhìn lên mặt đứa con trai. Nó mười bốn tuổi, giọng nó
còn vỡ ra, chưa đủ độ cứng. Tuổi nó hiện nay cũng bằng tuổi của
Macarusca khi anh bế đứa em gái hai tuổi trên tay bị dẫn đi bắn và
sau đó, trong đêm tối, leo từ dưới nấm mộ chung lên rồi bò vào rừng;
và ở đó một mình, như con thú hoang, tự chữa vết thương của mình
bằng lá cỏ.
Đứa bé mười bốn tuổi này còn chưa biết một cân đau khổ giá bao
nhiêu(), nhưng hắn đã biết giá bao nhiêu và cần phải bắt đền bao
nhiêu một cân thịt lợn loại ngon. Và đấy, với cuốn sổ trong tay, hắn
đứng trước mặt tôi, tự tin vào lẽ phải của mình có quyền bắt chúng tôi
phải thanh toán nợ.
Buổi chiều hôm ấy chúng tôi ăn thịt lợn. Chủ nhà như mọi hôm
vào giờ đó, đi ngủ chỗ khác và tỏ ra rất không bằng lòng. Họ không
nhìn vào mắt chúng tôi, đôi má của chị vợ sưng lên vì nước mắt đã
khô. Chỉ có đứa con trai - ông chủ tương lai - vẫn chăm chỉ tất bật
trong nhà.
Sau nhà, phía bên kia cánh đồng màu mỡ, mặt trời từ từ lặn
xuống, những tia nắng cuối cùng chiếu xiên trên những mái nhà nóc
nhọn. ánh hoàng hôn rực rỡ lung linh trong bầu không khí trong suốt,
trong phòng bóng tối đã bắt đầu dần dần đặc lại.
Tôi nghe có tiếng cửa vườn mở. Rồi tiếp đó là tiếng bước chân kéo
lê của người lạ. Từ cửa sổ, tôi có thể nhìn chéo một phần góc sân. Tôi
đợi cho người ấy đi vào phần sân tôi trông thấy được. Ông ta rất mệt
mỏi, lê từng bước chân, nhưng tôi có cảm tưởng rằng trước đây ông ta
đã từng ở đây. Đi đến cửa chuồng lợn, ông ta nhìn sâu vào bên trong.
Ông ta không trông thấy đứa con trai của chủ nhà đang đứng sau
đống củi quan sát. Đứa bé bước lên trước, sắp mở miệng quát lên dữ
tợn, nhưng nét mặt hắn bỗng thay đổi: hắn đã nhận ra người đó.
Bước chân đã lên đến thềm. Tấm màn cửa che khuất từ lưng trở
lên, tôi chỉ thấy hai chân đi đôi giầy đã mòn. Chân phải bị đau; chỉ
vừa mới đặt chân phải xuống, ông ta đã vội bước chân trái lên, kéo lê
bàn chân đau theo sau.
Ông ta không tìm ngay ra quả đấm cửa, tôi nghe tiếng thở nặng
nề một lúc khá lâu bên ngoài. Cuối cùng cánh cửa mở ra, ông ta bước
qua ngưỡng cửa. Đó là một ông già mặc bộ quần áo cũ không có màu
và có lẽ không phải của ông ta, rộng thùng thình. Ông ta nhìn quanh
phòng, và tôi lại có cảm giác rằng trước đây ông ta đã từng ở nhà này.
- Chào ông! - Tôi nói từ sau bức tường ngăn.
Ông ta rùng mình, quay lại với một ánh mắt lạ lùng. Nhưng đó
không phải là sợ hãi. Sau khi trông rõ ai đứng trước mặt mình, ông ta
bỏ chiếc mũ tròn trên đầu xuống.
- Xin chào pan() đồng chí!
Và không tìm ra ngay những từ tiếng Nga cần thiết, ông ta dùng
điệu bộ để giúp mình diễn đạt, vung tay chỉ quanh phòng.
- Tôi... Pan Raske có ở nhà không? Nach Hause?()
- Có nhà, có nhà. Nhưng bây giờ ông ta không có ở đây, - không
hiểu vì sao tôi nói rất to, dường như nhờ vậy ông ta sẽ hiểu tiếng Nga
dễ hơn, và cũng dùng tay làm điệu bộ. - Nhưng nói chung ông ta ở
đây. Hier().
- Hier, - ông ta nhắc lại và cảm ơn. - Rất cảm ơn, cảm ơn đồng chí.
Tôi đẩy chiếc ghế đẩu bằng gỗ sồi nặng mời ông ta:
- Mời ông ngồi.
- Cảm ơn đồng chí. Tôi cần gặp pan Raske.
Ông ta ngồi xuống, đôi đầu gối nhọn lộ rõ ra dưới lần vải quần.
Bây giờ ngồi gần nhìn kĩị, tôi mới thấy rằng đấy không phải là một
ông già, mà là một người bị hành hạ hốc hác đến cùng cực, hai thái
dương hóp lại, khuôn mặt xám ngắt không còn một giọt máu.
- Ông ta sẽ về, - tôi nói.
Macarusca mang vào một chảo thịt lợn cắt từng miếng và khoai
tây rán mỡ lợn. Chảo thức ăn nóng hổi, đang sôi xèo xèo, bốc mùi, làm
con người đói khát kia choáng váng.
Tôi để Macarusca đi ra, lấy từ chảo một nửa số thịt và khoai tây
bỏ vào đĩa và đưa cho anh. Tôi trông thấy tia kinh hoàng trong đôi
mắt đang nhìn chằm chằm vào miếng thịt lợn.
- Không! Không! - Anh lắc đầu.
- Anh ăn đi, ăn đi, - tôi nài. - Người ta sẽ còn mang đến cho tôi
nữa.
Bàn tay yếu ớt của anh đặt vào mép đĩa, đẩy ra. Tôi đành nhượng
bộ, không hiểu ra sao cả. Tôi rót cho anh một cốc rượu vang. Anh cám
ơn bằng mắt rồi uống ừng ực: anh khát nước. Thái dương anh phồng
lên xẹp xuống, trên bàn tay cầm cốc trông rõ một vòng gân nổi phồng
quanh cổ tay và những đường xương toả ra các ngón. Cục yết hầu đầy
lông lá và quá to trên chiếc cổ gầy nâng lên hạ xuống nhìn thật đáng
sợ.
Không uống hết, anh ho sặc sụa, ho rất lâu, khổ sở, mặt tái xanh.
Rồi kiệt sức, nước mắt trào ra lăn trên má, anh mãi vẫn không thở lại
hơi, đôi bàn tay run lẩy bẩy.
- Trước kia anh đã ở đây à? - Tôi hỏi khi trông thấy anh bối rối
trước sự yếu đuối của mình. - Anh biết nhà này phải không?
Anh nhìn tôi bằng ánh mắt của những người vừa câm vừa điếc,
muốn đoán hiểu ý người khác qua cử động của đôi môi.
- Anh không hiểu tiếng Nga à?
- ấy, ấy, - anh gật đầu. - Tôi hiểu. Một ít thôi.
- Tôi hỏi, anh trước kia đã ở đây à?
- ấy, - anh nói và lắc đầu.
Tôi bỗng cảm thấy rằng anh không hoàn toàn tỉnh táo: đôi mắt
của anh như thế kia! Anh lại nhìn quanh căn phòng.
- Ba Lan, - anh nói. Và lại nhìn tôi, nhắc lại. - Tôi là người Ba
Lan, - bằng mấy tiếng đó anh đã giải thích được tình trạng của anh,
người bị bọn Đức dùng vũ lực bắt sang đây.
- Vợ của tôi... Vợ của tôi đã ở đây. ở đây. - Anh chỉ qua cửa sổ về
phía chuồng bò. Anh phải khó khăn lắm mới nhấc nổi tay lên. - Và
con trai của tôi. Khi con tôi mới sinh, nó khóc, vợ tôi lấy tay bịt mồm
nó lại. - Anh lấy tay bịt miệng mình. Và khi bàn tay gầy guộc của anh
che nửa khuôn mặt, đôi mắt anh trông càng to hơn, đầy đau khổ. - Để
chúng không nghe thấy! Nếu nghe thấy chỉ có chết. Chỉ có chết... Một
lần vợ tôi cho con bú sữa... Tên Đức đến đó, - thấy tôi không hiểu, anh
đưa tay chỉ ra chuồng bò, - tên Đức đi đến bên chuồng bò. Hắn không
nói gì cả. Chỉ đứng nhìn đứa bé, con tôi, mà mẹ nó đang cho bú. Khi
nhìn thấy hắn, vợ tôi không nói được, chỉ run, và khóc... Chúng tôi
biết làm gì được? Làm gì được? Chúng tôi trước đây làm cho một người
Đức khác ở làng kia, ngoài ra còn biết làm gì? Chúng tôi bất lực...
Đôi môi xám ngoét của anh, như cứng đờ lại vì lạnh, mấp máy
chậm chạp. ánh sáng buổi hoàng hôn hắt qua mặt kính cửa sổ lấp
lánh trong cặp mắt bất động của anh, cái nhìn của chúng như hướng
vào bên trong.
- Bây giờ vẫn cái nhìn của tên Đức ấy. Hắn, ông chủ, cho vợ tôi ăn
để vợ tôi có thể làm việc, thế mà thằng bé lại bú hết sức của mẹ nó...
Sau đó vợ tôi đặt con xuống, đi ra đồng. Bỗng vợ tôi bảo tôi nghe như
tiếng khóc của con... Tiếng khóc... Còn tôi nghĩ rằng tiếng khóc đó lúc
nào vợ tôi cũng mang trong tim. Vợ tôi chạy từ đồng về và nghe đứa
bé, con trai của tôi, đang khóc thét lên. Còn chuồng lợn... - anh huơ
tay chỉ, không tìm ra lời... - ván... Anh hiểu không?
- Chắn bằng ván à? Chắn bên ngoài lại à?
- Vâng. Vợ tôi nghe, mở chuồng lợn... Khi vợ tôi bước vào, thấy rất
nhiều lợn. Khi...
Anh lại huơ tay làm điệu bộ. Và tôi hiểu:
- Xua đàn lợn đi?
- Vâng, vâng,... và vợ tôi trông thấy con. Từ đấy bao giờ vợ tôi
cũng trông thấy trước mắt mình cảnh đó... Khi vợ tôi hoàn toàn hóa
điên và không thể làm việc được nữa, tên Đức bắt vợ tôi đưa đến trại...
trại tập trung, anh hiểu không? ở đó có nhà thiêu xác. Vợ tôi không
biết bọn chúng dẫn đi đâu. Và đó cũng là điều may mắn cho vợ tôi...
Trong bóng tối nhập nhoạng gần như không trông rõ mặt anh, chỉ
thấy hai vệt tối trên má và đôi mắt ánh lên trong hố sâu. Ngoài sân,
các chiến sĩ trinh sát đang khe khẽ hát, hai bè.
- Chúng tôi ở trong trại nửa năm, và tôi sống sót. Tôi đến đây
để...
Tôi nhớ lại nét mặt đứa con trai chủ nhà khi hắn đứng sau đống
củi nhìn thấy anh. Tôi bước đến bên cửa sổ, gọi Margoxlin. Tiếng hát
bị cắt ngang, rồi nghe tiếng bước chân đi đến gần. Margoxlin dừng lại
dưới cửa sổ ngước mắt nhìn lên.
- Đưa thằng bé đến đây, - tôi nói.
Tiếng bước chân lại xa dần trong ánh hoàng hôn. Rồi nghe tiếng
người, tiếng bước chân đi qua sân, vào sau nhà kho, vòng quanh nhà
ở.
Trong phòng đã tối hẳn, chỉ có hai cửa sổ trên tường và chiếc
gương trong góc tối là còn sáng.
- ở đó có một xà lim ngầm. Một hầm ngầm. Do chính những bàn
tay này đào lên.
Anh chìa đôi cánh tay ra và nhìn lên tay mình.
- Chúng lùa người vào đấy. Cả đàn bà, trẻ em... cả đồ chơi...
Chúng bảo rằng ở đấy có nhà tắm... Và mọi người đi. Cả trẻ em nữa.
ở phía trên - anh đưa tay chỉ lên trần, - có một cửa sổ. Chúng cho hơi
ga vào đó. Ga... và Caterina của tôi không biết chúng đưa mình đi
đâu, và đó là điều may mắn cho vợ tôi... vợ tôi còn rất trẻ. Vợ tôi ở đây.
Vợ tôi ở đằng ấy. ở khắp nơi.
Và tôi lại thoáng thấy một tia lửa như ở những người mất trí
trong mắt anh. Nhưng đồng thời anh vẫn hoàn toàn tỉnh táo.
Tôi hỏi anh có biết cái làng mà chủ nhà của tôi đến ngủ đêm
không, anh có thể đi cùng chúng tôi được không? Và bây giờ chúng tôi
ngồi chờ.
Cuối cùng Margoxlin trở lại. Đứa bé không thấy ở đâu cả, như tôi
đã đoán trước.
Bốn người - anh Ba Lan, Margoxlin, Macarusca và tôi - cùng đi
qua cánh rừng. Mặt trăng đã nhô lên một nửa, nhưng mãi vẫn không
thể nào dứt ra khỏi đỉnh núi. Mặt trăng tròn, rất to, màu đồng pha da
cam, còn dãy núi màu đen thẫm. Cuối cùng, nó cũng dứt ra được, bay
nhanh dần lên cao, hơi chếch sang bên phải, mỗi lúc một nhỏ hơn. Và
khi mặt trăng đã lên khá cao, dưới làn ánh sáng làm thế giới thay đổi
một cách huyền ảo, chúng tôi trông thấy một làng nhỏ: những bức
tường hơi xanh xanh của các ngôi nhà, mái ngói dốc ướt đẫm, những
tấm kính lấp lánh trong các khung cửa sổ. Chúng tôi đi qua các khu
vườn. Từ các sân nhà nghe bốc lên mùi nóng ấm, ngái ngủ của chuồng
gia súc, mùi phân, nước giải; phía dưới là một con suối nhỏ đen thẫm,
lấp lánh ánh trăng, chạy giữa những tảng đá, luồn qua các lùm cây và
bốc lên hơi ẩm mát lành. Những bậc đá dẫn xuống mép nước đã ướt
đẫm hơi sương.
Hai người đứng cảnh giới nhà ở và nhà kho, hai người im lặng đi
vào mảnh sân vắng vẻ và dường như vừa được quét sạch dưới trăng.
Theo cầu thang bằng gỗ, chúng tôi đi lên gian chứa cỏ, con chó bị xích
phía dưới chạy lồng lên sủa khản cả giọng. Nhưng không một cửa sổ
nào có ánh đèn, không một cánh cửa nào hé mở.
Trên đống cỏ khô có hai chiếc đệm lông trắng mờ mờ trong bóng
tối. Có vết chân người. Chúng tôi dùng đèn pin xem hết tất cả các góc
nhà, ngoài sân, nhà kho. Nhưng những người chúng tôi tìm không có
ở đâu cả. Cả ngày hôm sau cũng vậy. Sau này chúng tôi được biết
rằng chúng đã đi sang phương Tây. Cả ba đứa.
Dân làng nói rằng đó là những người rất không tốt. Thậm chí một
số nói rằng thằng chồng là một tên quốc xã. Hoặc anh trai của hắn là
quốc xã. Bây giờ họ mới nói tất cả những cái đó.
- Thế tại sao trước kia các ông im lặng?
Họ nhún vai:
- Chúng tôi sợ...
Chỉ một mình Magda không nói về họ một lời nào tốt hay xấu.
Nói chung bà không nói gì. Mấy ngày tiếp theo bà vẫn đến sớm như
thường lệ, cho lợn ăn, quét dọn sàn nhà, vắt sữa bò - việc thi hành
nhiệm vụ của mình một cách máy móc đã gắn chặt bà với cuộc sống.
Sữa được vắt ra đựng đầy các bi đông và bắt đầu hóa chua.
Có lẽ bây giờ những người chủ cũ của ngôi nhà chúng tôi đóng
quân đang nhớ về những ngày tháng Năm ấy như những ngày đen tối
của đời mình. Lúc đó thằng bé mới mười bốn tuổi, giọng nói của hắn
còn yếu ớt, đang vỡ ra. Lúc đó rất nhiều đứa trẻ có giọng nói đang vỡ
ra như vậy. Bây giờ nó đã cứng rắn lên rồi.
Vào những ngày đầu tiên của Hòa bình, một đứa trẻ Đức mười
bốn tuổi cao gầy đứng trước mặt tôi, tay cầm cuốn sổ tính nợ. Đến bây
giờ tôi vẫn trông thấy hắn - chiếc mũi trắng nhợt, mặt nổi lên những
vết đỏ vì hồi hộp, lo lắng. Hắn không quan tâm đến quá khứ, hắn
không muốn biết gì về quá khứ, hắn chỉ muốn đòi nợ vì con lợn bị bắn
chết. Hắn tin tưởng vào quyền của mình được đòi nợ.
★
★
★
★
★
0