Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Những bước đường tư tưởng của tôi - Xuân Diệu 🔒

4 trả lời, 1.300 lượt xem — Trang 1 / 1
Người gửi: nvh291
Thể loại: Sách Văn học
Tác giả: Xuân Diệu
Tựa: NHỮNG BƯỚC ĐƯỜNG TƯ TƯỞNG CỦA TÔI
(IN THEO BẢN CỦA NXB VĂN HÓA - 1958)
Trích: Ba em bé
Thân bài:

Ba Em Bé

Trong cuộc đấu tranh thống nhất và tiến dần lên chủ
nghĩa xã hội, nó mang những khó khăn rất lớn và bao
gồm cả những vấp váp sai lầm, những người văn nghệ
và trí thức chúng ta có những lúc tâm trí như chùn lại.
Những chuyện “tiền kiếp” trong mỗi con người chúng ta
thỉnh thoảng lại khuấy bùn vẩn lên, gieo ră’c hoang
mang trong những đáy sâu kín nhất của tâm trí. Những
lúc có thể mất địa bàn như vậy, riêng tôi, tôi thường “ôn
cố tri tân”; tôi lần nhẩm lại những bước đường mà tư
tưởng tôi đã trải qua, từ lúc biết nghĩ cho đến giờ; tôi
nhận định đích xác xem từ chỗ sa lầy nào mà tôi đã
vươn lên, do quá trình tư tưởng nào mà tôi đã đến với
chủ nghĩa cộng sản. Tôi thọc sâu vào bóng của quá khứ
để so sánh nổi bật cái ánh sáng của hiện tại và tương
lai. Và tôi lại thấy sao Bă’c đẩu chói lọi.
Như một người làm mẹ đã thấy mình mang cái mầm
sống từ ở trong dạ, tôi thấy đóa hoa sen của tư tưởng,
tốt thay! đã đè được những lớp bùn mà nở trong tâm trí
mình. Nó đã nở rồi, không gì có thể dìm nó được nữa.
Vâng, chính những chuyện “tiền kiếp” của chế độ cũ,
mỗi khi nhớ đến, lại giúp đỡ tôi chiến thă’ng cho được
những chông gai mới trên con đường dài của sự nghĩ suy;
phải phá cho được, san cho được con đường đi tới trước
vô biên của cuộc đời, chứ không thể ngựa quen đường cũ,
quay lộn trở lại cái trầm luân xưa đã quá ư đau khổ!
Con một ông tú tài nho nghèo, dạy học, từ nông thôn
chuyển dần ra ở thành phố, khá giả dần lên tới mức tiểu
tư sản lớp giữa, tôi sinh và lớn lên ở miền Nam Trung
bộ, không bao giờ giàu, nhưng chưa bao giờ phải chịu cái
đói, cái rét vào thân. Tuy nhiên, tôi cũng đủ thương đau
để mà đứng lên tố khổ không tiếc lời cái xã hội cũ.
Chuyện đời trước dài lă’m. Không phải trường hợp kể ở
đây. Để làm chứng cho cái đời chẳng ra đời trước kia, tôi
chỉ kể lại ba em bé:
Cuối năm 1940, từ Mỹ Tho lên Sài Gòn, tôi đến thăm
nhà một anh bạn cùng làm tham tá nhà Đoan(1) như tôi;
bă’t đầu Nhật thuộc rồi, làm công chức cuối mùa cho
Pháp cỡ “viên ngoại” như thế, căn nhà thuê của anh
xuềnh xoàng, bàn ghế qua loa. Lúc ấy vào khoảng ba,
bốn giờ chiều ngày chủ nhật, tôi thấy bà vú già đang dỗ
đứa cháu đầu lên ba tuổi, mới biết nói. Cháu khóc nho
nhỏ, kéo dài, không giận hờn, không vòi vĩnh; vú già hỏi
cháu: - “Cháu đau ở chỗ nào, nói với bà”. Mẹ cháu dỗ
cháu: - “Mẹ mua bánh cho con nhé”. Cháu lă’c đầu, và
tiếp tục khóc. Người ta nựng nịu, vuốt ve em, người ta
hỏi em: - “Tại sao em khóc?” Em bé chỉ trả lời bằng giọng

(1) Douanes: Thương chính, thuế quan.

Nghệ An có một tiếng: - “Buồn!”. Chị bạn lo lă’ng phân
trần với tôi, ngơ ngác như không hiểu gì: - “Cháu thỉnh
thoảng về chiều lại khóc như thế; cháu chẳng đòi gì cả,
khám bác sĩ cũng không thấy cháu có bệnh gì; cháu chỉ
kêu là ”Buồn", và khóc. Tôi, thì tôi muốn nói với chị: -
“Hỡi người mẹ đáng quí và đáng thương! con của chị
cũng như tôi, nó đau ”bệnh thời đại" đấy! Nó là cái biểu
đo nóng lạnh của cuộc đời này; tâm hồn non yếu của nó
cảm rất nhạy cái điều bàng bạc ở trong không khí, ở
ngoài phố, ở quanh chúng ta: buổi chiều buồn quá, đời
sống buồn quá!". Từ khi đó, trở về, tôi không sao quên
được vấn đề ghê rợn mà em bé đặt ra. Trời đất ơi, một
em bé mới ra đời, chưa biết nói thành câu mà đã phải
khóc vì buồn, thì cuộc đời này còn sống thế nào nữa!
Năm 1942, tôi đi xe lửa từ Sài Gòn ra Hà Nội, đến
vào khoảng Đồng Hà, Tân ấp thì đường đứt vì vài tuần
trước mưa, bão, phải “sang tàu”. Vùng này đang bị đói
to, đến khoai, să’n cũng thiếu. Trong một nhà tranh lụp
xụp, một người đàn bà khoảng hai mươi nhăm tuổi đang
đút cho con ăn lưng bát cơm vơi. Em bé ba tuổi không
ăn, nó khóc, máu dồn lên đỏ cả đầu; nó dậm chân xuống
đất, nhất quyết bă’t đền người mẹ: - “Trả đây! trả đây!”
Người mẹ dỗ nó: - “Thôi con ăn đi, con nhé, mẹ thương.”
Nó không chịu, càng khóc: - “Nhả ra! Nhả ra! Trả đây!”
Thì ra người mẹ cũng đói quá, trong khi đút cơm cho
con, cầm lòng không đậu, đã ăn mất của con mấy thìa.
Con quá đói, quá tham ăn, đòi lại mấy thìa cơm như một
ám ảnh. Con cứ bă’t đền, mẹ cứ cố gă’ng dỗ. Người đàn
bà trẻ và nghèo ứa nước mă’t, thẹn thùng vì đã để cho
cái đói làm tổn thương cái tự trọng của một người làm
mẹ. Em bé thì như bị một cơn khủng hoảng não cân, cứ
ngoáy mãi vào chỗ đau thương. Người mẹ vô kế khả thi.
173
Đứa con tiếng đã khản rồi, vẫn dậm chân xuống đất.
Mười lăm phút ấy đối với tôi dài dằng dặc; cho đến khi
tầu đã xịch bánh chạy, mà vẫn còn nghe em bé: “Trả
đây! Nhả ra!”.
Năm 1945, nạn đói khủng khiếp ở miền Bă’c. Người
chết như rạ ở gầm Cầu sông Cái, ở các lề đường Hà Nội.
Cái xã hội cũ nó tàn ác đến thế là cùng. Người nào đi
ăn yến cứ ăn, gặm chưa hết một miếng thịt đã bỏ vào
đĩa xương để gă’p miếng khác; người nào chết đói cứ
chết, lăn ra như chuột. Bữa ăn, chúng tôi phải đóng cửa
lại. ăn như ăn vụng! ăn như là mình giành mất cơm của
người chết đói. Chúng tôi thuê trọ trên một căn gác phố
Hàng Bông, quen thân hai ông bà dưới nhà cũng ở thuê,
có cửa hàng bán mũ bậc trung, vợ chồng hiền lành, biết
phải. Một buổi sáng, tôi trên gác xuống, nghe ở nhà dưới
đang la om. Tôi nhìn ra trước cửa, thấy một em nhỏ con
trai độ mười tuổi đang dán mình vào phía ngoài một bên
khung cửa kính bày hàng. Em trần truồng như một con
nhộng, không có một tí thịt nào nữa, chết hết cả người
rồi, chỉ còn hai con mă’t. Không hiểu em từ góc phố nào
đến, mà nhất định đi vào trong nhà này, để xin một ít
cháo chăng. Có lẽ em không còn thấy đây là cửa kính,
em cứ đi vào, bị cửa kính chặn lại đứng sững; nhưng em
vẫn bị hút bởi cái sống ở bên trong, cứ dấn mình vào
gương. Người ta la mă’ng đuổi em đi, quát nạt thật to và
lâu để cố thủng vào tai em, người ta kiêng, người ta ghê
sợ, coi em như quỷ nhập tràng; em, em của tôi, mặt em
cũng thông minh và xinh đẹp, nếu em no. Mười ba năm
từ ấy đến nay, tôi vẫn còn nghe tiếng la thét đuổi em
bé. Em như một con ruồi mă’c vào kính tủ, ruồi mă’c từ
trong ra, em thì mă’c từ ngoài vào; không có lòng thương
xót nào có thể cứu em, vì người ta bó tay ngao ngán
174
trước cái chết đói kinh khủng, mênh mông. Giữa đời
sống hằng ngày, có những bức tường thủy tinh dày ngăn
cách; những người hay “thương vay” như tôi, thi sĩ, đành
dương đôi mă’t ếch nhìn đồng bào mình chết qua tường
kính, mà không nhă’c chân động tay cứu giúp gì được!
Đấy, cái xã hội cũ có ba em bé kia nó tốt đẹp như thế
đấy! Tôi còn muốn thêm một em bé thứ tư. Lúc tôi lên
chín tuổi, do nghịch cảnh gia đình phong kiến, tôi phải
sống xa má tôi, mà ở với thầy tôi. Bên ngoại cách bên
nội độ vài cây số; lâu lâu tôi trốn về thăm má cho đỡ nhớ
thương. Một buổi chiều, tôi trốn về với má; má đang bận
vội đi chợ, má cho tôi bốn đồng tiền ăn ba(1), rồi để tôi
đi. Tôi ra khỏi nhà má, lê từng bước một, đi dọc ngược
theo con sông Gò Bồi mà trở về nhà thầy. Buồn quá. Tôi
thấy buồn mang mang mà không hiểu được. Tôi đứng lại
bên bờ sông, nhìn con đường, nhìn các dặng tre, nhìn
giòng nước, nhìn trên mặt sông Gò Bồi nă’ng xiên khoai
vàng úa; tôi thấy như cái gì cũng không biết để làm gì
cả; và đứa trẻ con chín tuổi bèn cầm bốn đồng tiền trị
giá mười hai đồng kẽm, ném xuống mặt sông, mặc dầu
“mười hai đồng” lúc đó có thể mua những mười trái ổi.

(1) Thời phong kiến, ở Trung kỳ có những tiền đồng ăn ba, ăn sáu,
ăn mười tiền kẽm. Một xu đổi được 15 đồng tiền ăn ba.
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
Phần 2

Tiếng đoạn trường của văn học

Lớn lên đi học đến thành chung, rồi đến “tú tài”, tôi
yêu thơ vô hạn, rất mê thích văn học. Những điều kiện
của gia đình và xã hội đã làm tôi buồn sẵn, lại học vào
một nền văn học nặng buồn bã, than thở, bi quan. ở lớp
nhất(1), thơ Tản Đà đã ru tôi, nhưng cũng để lại cho tâm
hồn tôi một vị đă’ng: Gió hiu, trăng lạnh, tiếng ve sầu. -
ếch kêu đầy phố, tiếng xe hơi. - Vèo trông lá rụng đầy
sân... tất cả mọi sự chẳng qua cũng vèo! Tôi thuộc
nhuyễn bài thơ Đoàn Như Khuê: Biển thảm mông mênh
sóng lụt trời. Em thiếu niên mới chớp mi mă’t nhìn ra
cuộc đời, đã thấy một rèm giọt lệ! Vào năm đầu bậc
thành chung(2), tôi nhìn miệng ông giáo quốc văn đọc,
say mê uống từng lời du dương êm ái: “Giả sử ngay khi
trước, Liêu Dương cách trở, duyên chàng Kim đừng dở
việc ma chay...”(3) Sao mà văn thơ cứ tiếc nuối một cái
gì; có một cái gì bình rơi gương vỡ, rụng cải rơi kim ở
trong văn học!
Đồng thời, Tuyết hồng lệ sử dịch của Từ Trẩm á mê
lịm tôi trong những điệu ca từ thật là réo ră’t, tất cả
quyển sách là một cuộc nhặt hoa rơi, chôn hoa rụng,
khóc hoa tàn! Lớn thêm vài tuổi, văn học nước Pháp bă’t
đầu huyễn diệu tôi với Cái Hồ của La Máctin:
ừ rồi cứ trôi đi mãi mãi
Trong đêm trường trở lại được nao!
Tôi đã bă’t đầu có ý thức lừng khừng đứng lại không
chịu đi, trong lúc ngoại vật và thời gian thì cứ đẩy cho
con người mất hút vào vĩnh viễn. Bấy giờ trong tôi có hai
lực lượng: một mặt, tuổi thanh niên đưa đến cho tôi
những luồng máu nóng rực, say mê, hăng hái; một mặt
xã hội phong kiến, đế quốc cùng với hệ thống tư tưởng

(1) Tương đương cuối cấp Một.
(2) Tương đương cấp Hai.
(3) Tựa Truyện Kiều của Chu Mạnh Trinh (Đoản Quỳ dịch)

và văn hóa cũ chụp lên tâm trí tôi một lớp buồn sầu ảm
đạm, càng học lên nhiều, càng bi quan, bế tă’c. Tôi thấy
trong tôi ào lên một nguồn thơ sôi nổi, mới mẻ; nhưng
tôi vừa tập tễnh đến ngưỡng cửa của làng văn, thì La
Bờruye (La Bruyère)(1) đã lă’c đầu niêm yết một câu bất
lực: “Tất cả đều đã nói cả rồi, và người ta đến muộn quá,
từ bốn ngàn năm nay mà đã có những con người, và họ
suy nghĩ.” Phương ngôn Âu Tây cũng nói: “Không có cái
gì mới ở dưới mặt trời”. Trước tôi một trăm năm, thi sĩ
Muýtxê (Musset) đã kêu lên: “Ta sinh ra muộn quá trong
một thế giới già quá chăng?”. Trước tôi năm mươi năm,
thi sĩ Véclen (Verlaine) cũng lại kêu lên: “Ta sinh quá
sớm hay là quá muộn? Ta đến trong đời này để làm gì?”
Mộng Hà, nhân vật chính của Tuyết hồng lệ sử và Ngọc
lệ hồn, hay sầu, say, và thổ huyết, đã tự tóm tă’t tâm
hồn bằng ba bước: uống rượu xong thì “ngà ngà mà say,
ngây ngây mà sầu, rồi lại rầu rầu mà khóc.” Rơnê
(René)(2), ông tổ của Mộng Hà ở Pháp, thì đi giữa mây,
sương, gió, bị ám bởi con quỷ của trái tim “nó là một con
ră’n tự nhai mình”; Vécte (Werther), (3) ông tổ xa hơn của
Mộng Hà ở Đức, thì dùng súng lục tự tử vì không lấy
được một người đàn bà đã hứa hôn với người khác trước
khi gặp anh. Thật đúng với câu thơ Nguyễn Du:
Ma giă’t lối, quỷ đưa đường,
Lại tìm những lối đoạn trường mà đi!
Từ 1934 về sau, những sách tôi đọc nói sự cùng
đường một cách tinh vi, sâu să’c hơn; nó cũng không còn

(1) Nhà văn Pháp thế kỷ 17.
(2) "Anh hùng lãng mạn" của Chateaubriand (1749-1818).
(3) "Anh hùng lãng mạn" của Goethe (1749-1832).

là sự lãng mạn ít hay nhiều thơ mộng nữa, mà là một
sự bi quan có triết lý. Những điều tôi thu hoạch được,
góp chă’p cổ với kim, đông với tây, chứng minh trước trí
tuệ một bài toán dẫn đến số không. Bôđơle (Baudelaire)
kêu thét lên như đang bị cháy nhà, hay lửa cháy vào
người:
Ôi đau đớn! Ôi đau đớn! thời gian ăn cuộc sống!
Một cụ dạy chữ Hán ở trường “tú tài” giảng cho tôi
nghe một bài Sám dâm văn (răn hối cái dâm) và nói:
Lúc xưa có một người mê să’c quá, đã tự chữa cho mình
bằng cách: hễ nhìn thấy một người đàn bà đẹp, thì tưởng
tượng trước mă’t người đàn bà ấy khi chết, dòi ăn bọ đục,
và chỉ còn là một bộ xương, một tọa cô lâu (cô lâu mộng),
tức khă’c “bệnh Tề Tuyên hết nổi lên đùng đùng”! Có cái
“nhân văn” gì mà tàn nhẫn như thế? Hăngri đờ Rênhiê
(Henri de Régnier)(1) chưa đến nỗi nghĩ như anh nọ,
nhưng nhẫn tâm có kém gì! Trong bài thơ “Kinh
nghiệm”, đại khái nhà thơ nói: - Tôi đi trên bờ gành
biển; phía trước tôi có đôi trai gái đang tự tình, họ đi xa
dần, đă’m đuối trong mê ly, thề hẹn muôn điều tốt đẹp...
Nhưng tôi, tôi biết “cái chữ kết thúc của giấc quái mộng
tầm phào”! - Có thể, trong xã hội tư bản, ông đã từng
phụ nhiều người và bị nhiều người phụ lại, có thể ông
không thấy vợ ông là đáng yêu nữa, nhưng sao ông lại
tổng kết vội vàng và ác ý như vậy? Sao lại lấy con mă’t
của người già tuổi, già lòng mà nhìn những bạn trẻ đang
yên mến, tin tưởng vô cùng? Nếu nhà văn có tinh thần
trách nhiệm hơn, thì đời nào lại đi dạy cái chán chường
như thế?

(1) Thi sĩ tượng trưng Pháp (1854-1936)

Vận mệnh con người không biết tới đâu; đến vũ trụ
cũng không biết tới đâu. Một nhà triết lý chết trẻ, đầy
lòng thương yêu con người như Guyô (Guyau)(1), nhưng
không cất mình ra khỏi được hệ thống tư tưởng của
những giai cấp suy tàn, cũng đã làm cho tôi tái tê cả cõi
lòng, khi ông tả cái đẹp, cái mạnh của biển lớn mênh
mông, buồn rằng tất cả cái năng lượng vô vàn kia cũng
chỉ còn một ít bọt sóng cho gió bay tung, và hạ một câu:
“Trái tim của quả đất đập, không hy vọng.”
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
Phần 3
ĐƯỜNG VỀ THU TRƯỚC XA LĂM LĂM...

Dưới những ảnh hưởng gia đình, xã hội và văn hóa
như vậy, những bước đường tư tưởng của tôi trước Cách
mạng là những bước sờ soạng, lưu lạc, thương đau. Tôi
chưa hội ý với các bạn thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy
Thông, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính v.v... nhưng có lẽ, ở
đây, tôi cũng nói, bằng những khía cạnh của tôi, cái tình
trạng chung đau khổ tinh thần của các anh, khi lạc
đường quần chúng, khi chưa tìm thấy ánh sáng của
Đảng.
Văn hóa cũ với phương pháp tư tưởng “siêu hình”
(métaphysique) của nó, dă’t tâm trí tôi, từ khi nhỏ đến
lúc lớn, vào một con đường rút vào trôn ốc thật là tă’c
tị! Tự nghĩ mình là một kẻ tài tình, một “tài nhân” biết
yêu cái đẹp, quý cái hay, trọng cái phải, và lại còn tạo
ra cái hay, cái đẹp là đằng khác, tôi - và hàng vạn học
sinh, nghệ sĩ, trí thức khác - tự đặt cái tôi như một thực

(1) Nhà triết học Pháp (1854-1888).

tại bất di bất dịch, tự đề cao cái bản ngã, coi nó là một
tuyệt đối.
Tôi là tôi, là khác với người khác, là mục đích, là cứu
cánh. Vì vậy nên hai người yêu nhau, mà
Em là em, Anh vẫn cứ là anh
Có thế nào qua Vạn Lý Trường thành...
Đã dựng cái tôi lên sừng sững như một Hi Mã Lạp
Sơn, thì tự khă’c tự cô lập mình, không hòa nổi mình vào
với tạo vật, thiên nhiên, vào với nhân quần, xã hội: cái
hình bản ngã mang cái nghiệp của nó, là cái bóng cô
đơn. Gió, trăng, hoa, cỏ,
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp(1)
Giòng nước buồn thiu hoa bă’p lay(2),
trong phố chật, giữa chợ đông, ở đâu cũng thấy được
mình là lẻ chiếc một mình. Luôn luôn thấy rợn ở trong
hồn một luồng gió heo may lạnh toát.
Muốn đóng cái tôi như một cái cọc cố định, vĩnh viễn
ở trong đời sống, cho nên khi thấy ngoại cảnh thay đổi,
thì cuống cuồng lên. Nhà triết học tư sản Pháp Bécxông
(Bergson) phân tích rất tinh vi, tế nhị rằng cuộc sống là
chuyển động, là đổi thay, nhưng lại không muốn thấy
quá trình biện chứng và lịch sử, nghĩa là tiến bộ của sự
vật; học mót của Bécxông, tôi ngoáy sâu vào nỗi thay đổi
Cái bay không đợi cái trôi, Từ tôi phút trước sang tôi
phút này, nhưng mù mịt không thấy được sự thay đổi
biện chứng và tiến bộ, chỉ thấy đổi thay là nổi nênh, trôi
chảy, xiêu đổ, tan tác, từ ly! Rồi đâm ra “vội vàng”, “giục

(1) Thơ Huy Cận.
(2) Thơ Hàn Mặc Tử.

giã”, sảng sốt. Trong khi đó, thì những bài hát chiếu
bóng, những đĩa hát tiếng Pháp đưa sang, rót vào tai óc
tôi những ý niệm đại loại như:
Tôi mơ một bông hoa
Không bao giờ chết cả...
... Nhưng nó khờ dại quá
Giấc mộng của tôi mơ.
Cứ mỗi lần hát bài này, thì lại như ai nghiến trong
lòng, ứa nước mă’t.
Chỉ thấy cuối đường là già, là chết, nên lần chần
không muốn bước; phía trước đã cụt đường vậy, không đi
tới được nữa, bèn thoái lui, ngoảnh lại đi về phía sau.
Tâm hồn cứ phóng ra cho thật xa, cho thật vu vơ, cho
thật viễn vọng... Xa, và Xưa! Nhiều thi sĩ mơ mộng thuở
những ông nghè vinh quy cưỡi ngựa, Quân hầu reo
chuyển đất, Tung cán lọng vừa quay(1); chúng tôi cứ đi
ngược thời gian, bới tìm những gì bụi bặm đâu đâu trong
ngày tháng cũ. Chế Lan Viên, nhà thơ 16 tuổi, đã diễn
tả rất tài tình cái tâm trạng đó:
Đường về thu trước xa lăm lă’m,
Mà kẻ đi về chỉ một tôi...
Nếu yêu một người, thì cứ muốn chiếm lấy tất cả
người ta, bă’t người yêu phải phụ thuộc vào cái tôi của
mình, truy lĩnh một cách đau ốm cả tuổi nhỏ của người
ta, cho nên rất động lòng khi tìm thấy cái trường xưa,
người yêu học từ lúc còn bé xíu! Ôi! con đường trôn ốc,
càng đi càng rút mãi vào chỗ thủy tận sơn cùng!

(1) Thơ Nguyễn Nhược Pháp.

ở chỗ tận cùng cheo veo đó, Chiếc đảo hồn tôi rợn
bốn bề; cái tôi thu lại chỉ bằng đầu một mũi kim, và qua
vạn trùng đại dương, lên tiếng gọi kêu cứu tuyệt vọng:
Giơ tay ta vẫy ngoài vô tận,
Chẳng biết xa lòng có những ai!(1)
Đối với cái xã hội trái ngược, tàn nhẫn quanh mình,
tôi chỉ biết lấy một lòng thương mênh mang, đau đớn;
luôn luôn nghĩ đến vấn đề đau khổ của con người, tôi
không có cách gì giải quyết được, đành rải đi những
Phấn thông vàng, mong xoa dịu những nỗi khổ một phần
nào!... Tôi đã diễn tả đúng cái hoang mang trước xã hội
bằng hình ảnh:
Thuyền tôi không lái cũng không neo,
Trên biển đau thương dạo cánh bèo;
Trên biển đau thương đi lặng lẽ,
Thuyền tôi không lái cũng không chèo...
Đối với nghệ thuật, tôi say mê, quý trọng, nhưng tại
sao tôi thấy ngoài xã hội coi thường, coi khinh. Ngay từ
bé, đứng nghe một người mù dă’t em con gái nhỏ, gẩy
chiếc đàn bầu, hát những bài ca Huế rất mực là hay và
xin từng đồng xu, tôi đã chạnh lòng nghĩ đến thân tôi:
“Nghệ thuật nghèo hèn, hay là Người mù hát dạo”. Một
người thi sĩ, trong xã hội Pháp thuộc, ai quý trọng? Có
tài như Tản Đà, cũng đến nỗi phải bói số Hà Lạc để sinh
nhai. Anphôngxơ Đôđê (Alphonse Daudet)(2) vẽ một người
có óc vàng, phải nạo óc ra mà bán; tôi nghĩ truyện một
“Người lệ ngọc”, khóc nước mă’t ra thành ngọc để độ

(1) Thơ Phạm Hầu.
(2) Nhà văn Pháp (1840-1897).

nhật, đến lúc lệ cạn, phải châm gai vào mă’t cho lệ ngọc
cố rơi ra! Bởi thấy những người tài tình ở trong đời bị
thiểu số và bị khinh thường, tôi nghĩ một bài văn để
“Chiêu tài tử”, gọi nhau từ xưa đến nay lại, đặng tri âm
với nhau, thương lấy nhau. Khi nghệ thuật không có lý
luận cách mạng soi đường, không có quần chúng nuôi
dưỡng, nó cầu bơ cầu bất như thế đấy!
Đến khi ách Nhật thuộc quàng thêm vào cổ, tư tưởng
tôi càng ngày càng bí. Tôi cố bám lấy lập trường tiểu tư
sản đứng giữa của tôi: một mặt không hề chịu đi thi tri
huyện làm quan, ghét sự buôn bán, sự “làm giàu”, lánh
xa bọn ăn trên ngồi trốc của xã hội; phản đối những
người làm thơ trụy lạc, viết văn ca tụng thuốc phiện; đòi
hỏi sự lành mạnh, sự sáng sủa trong văn học; một mặt
không biết, không dám đi với quần chúng cần lao, nghèo
khổ; tôi đứng giữa, giữ một thứ “trong sạch” tiêu cực, của
những kẻ “tài tình là lụy muôn đời”. Từ trước, chỉ biết
buồn đau, chứ chưa hề viết một câu khinh bạc đối với
cuộc đời, nhưng đến năm 1942-43, tôi đã cười mỉa tạo
vật cứ lặp đi lặp lại mãi, người con gái lấy chồng, đẻ con,
lại lặp lại cái sự yêu con... Năm 1943-44, ở trên cái gác
Hàng Bông, tôi chạy buôn chợ đen thì không buôn được,
viết văn thì cứ nói mãi cái buồn cũng hết chuyện, tôi
ngồi giở quần áo cũ ra vá giữa một bóng chiều thu đông
lạnh và héo xám như hoa khô. Đấy, thưa những ai hiện
nay còn cao đạo và còn tự cho cái tôi của mình là ông
trời, cái tôi cũ nó vinh quang như thế đấy!
Ôm mãi cái tôi mà lặn ngụp trầm luân mãi với nó,
tôi đi đến chiêm ngưỡng nụ cười của đức Phật, sờ soạng
một cách giải quyết nào đó trong “să’c să’c, không
không”. Tại vì, mới bước vào tuổi thanh niên, tôi đã đọc
nhà thơ lớn Ba Tư Ôma Khayam (Omar Khayam): - Cái
bình thon thon kia, xưa là một người đàn bà có lưng ong
rất đẹp; hoặc: Ta đừng dẫm hòn đất nhỏ nọ, xưa đó là
con mă’t của một người... Những hình ảnh nghệ thuật
quá hay đó lặn sâu vào thâm tâm tôi, bây giờ lại nổi lên.
Tại vì, trước tôi, một người rất tài hoa, rất thông minh,
mà tôi rất phục, như Thánh Thán, viết văn phê bình Tây
sương ký có khí, có thế như vậy, mà cuối tập Mái Tây,
lại thấy kinh nhà Phật để chú các câu thơ; tôi đọc
chương Kinh mộng cuối cùng, chỗ Quân Thụy đi ra kinh
để thi, nằm mơ thấy Oanh Oanh chạy dõi theo mình, mà
Thánh Thán bình luận, nói cái giác ngộ về sự “chiêm
bao”, bỗng nhiên tôi lạnh rùng cả linh hồn: thì ra cả cái
tình yêu kia đã làm mình mê mệt từ đầu sách đến giờ,
vốn chỉ là mộng mị, mộng mị!...
Không có con đường để giải quyết thỏa đáng cái tôi,
tôi bèn từ chỗ mài nhọn să’c cái tôi như nữ thi sĩ Anna
đờ Nôay (Anna de Nõilles)(1) muốn tự tạo mình thành
“sinh vật độc nhất vô song, không gì thay thế được”, từ
chỗ quá khích này, tôi sang chỗ quá khích khác, - hai
thứ đều duy tâm cả - là tôi rất cảm ơn nhà tôn giáo ấn
Độ Cơritnamuýcti (Khrisnamurti)(2) trỏ cho tôi con đường
hủy diệt cái tôi.
“Một đêm sao”,(3) nằm nhìn lên trời, tôi diễn tả cái
cảm giác cô đơn cùng cực: “... Tuồng như tôi đã trôi giạt
trong không rộng, và hai mă’t tôi đã rời ra xa cách tôi;

(1) Nữ thi sĩ Pháp nổi tiếng (1876-1933).
(2) Khrisnamurti, Ramakhrisna, Vivekananda: những nhà tôn giáo
ấn Độ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
(3) Đăng tạp chí Thanh Nghị 1944.

và chính hai mă’t cũng rẽ nhau không song song nữa,
lưu li thất lạc mỗi chiếc một đường.” Cuối bài, tôi kết
thúc: “Ta nguyện thành một đợt sóng ở giữa đại dương,
một hạt bụi trong bãi cát, một bánh xe khi trời chuyển
pháp luân. Khi gió giấy lên, khi nước cuộn, ta lăn quay
trong tay của chúa đời. Làm gì có cái ”ta"! Đó là ảo ảnh
của tuổi trẻ; đó là nhầm lẫn của chúng sinh ham sống..."
Thế là tư tưởng của tôi, cuối một con đường dài mười
lăm năm đi tìm chân lý, đã đến câu ca vọng cổ rẻ tiền:
- “Thà rằng thành chim hóa đá, vẩn vơ nơi núi Sở sông
Tần...”
Trong khi quần chúng càng ở dưới ách Pháp Nhật
càng cùng khổ và đã bă’t đầu chết đói, thì người trí thức,
người nghệ sĩ ở tôi sa lầy trầm trọng vào cả một hệ
thống tư tưởng cũ như vậy, nó là một tạp pí lù tư tưởng
của phong kiến, tư sản và tiểu tư sản; tôi cứ ngồi vá áo
và phát ra những tiếng kêu đau đớn xé ruột xé gan. Tôi
càng nghĩ suy, càng va đầu vào mâu thuẫn. Tâm hồn, trí
tuệ tôi là một con chim lồng mà không tự biết, thấy
mình có động cánh, thì tưởng mình bay; cứ lấy trái tim
đập vào cửa của “vĩnh viễn”, của “vô cùng”, kêu khóc:
“Mở ra! mở ra cho tôi”, nhưng nó không mở ra bao giờ,
vì làm gì có thứ cửa cố định, siêu hình ấy mà mở!
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
Phần 4

Trong khi âm cực, dương hồi...

Đến hiện nay, mà còn có những người tự gọi là suy
nghĩ, lại dựa vào cớ này, cớ nọ để dè bỉu Liên Xô, dè bỉu
Cách mạng do giai cấp vô sản dẫn đường, tôi là một
người đã nhiều đau khổ bản thân, tôi thấy những kẻ ấy
không biết điều thái quá! Nếu không có Cách mạng
tháng Tám đến lôi bật tôi ra khỏi cái vũng lầy quằn
quại, thì sau 1945, chă’c tôi không còn có thể tiếp tục
ngồi xỏ kim vá áo một cách “trong sạch” như thế mãi;
mà một nữa là tôi đi vào trụy lạc, bán văn buôn chữ, sa
đọa thành bồi bút chính trị; hai nữa là tôi hóa điên; chứ
thế tất sự lửng lơ không thể kéo dài quá một mức nào
đó được.
Những thiên tài văn học cũ, dù sự nghiệp trước tác
rỡ ràng làm giàu tâm hồn tôi vô hạn, và dạy cho tôi
nhiều vô cùng về con người và cuộc sống, nhưng tất cả
những trang rất mực tài tình đó đều không đập phá gì
hộ tôi được cái nhà tù tư tưởng siêu hình, vì chính họ
cũng không tự phá nổi cho họ.
Cụ Võ Liêm Sơn, tác giả thiên tiểu thuyết đầy ý tốt
nhưng bi quan Cô lâu mộng(1), đã xua tay rất đúng, “lạy
cả nón” cái xã hội cũ:
Thôi thánh hiền,
Thôi tiên phật,
Thôi hào kiệt,
Thôi anh hùng!
Những bài ca cảm khái của cụ thiếu hẳn một nửa.
Vâng, âm cực thì dương hồi, tất cả những vị trên đây
không cứu gì cho tư tưởng tôi được; duy ngày 19 tháng 8
năm 1945, có quần chúng, có Đảng Cộng sản, có chủ
nghĩa Mác - Lênin áp dụng vào hoàn cảnh một nước nông
nghiệp thuộc địa, có Cách mạng tháng Tám, em của Cách

(1) Võ Liêm Sơn (1888-1949) viết Cô lâu mộng năm 1928, xuất bản
năm 1934.

mạng tháng Mười, đã cứu tôi và cứu tư tưởng của tôi. Rõ
ràng là từ trước, tôi mă’c kẹt nửa người vào một cánh cửa
mở đóng lừng khừng, cửa cứ nghiến, tôi cứ kêu vô ích và
thất thanh, cầu cứu khă’p các thứ sách vở trên đời ngoài
sách vở Mác - Lênin, nên không đi đến đâu cả. Quần
chúng lao khổ, rách rưới, chết đói đã đứng lên theo Đảng
của giai cấp vô sản, lôi cuốn cả toàn dân tộc, đạp tung
cánh cửa lừng khừng của lịch sử, tự cứu mình và cứu
hàng vạn những nghệ sĩ, trí thức chết kẹt như tôi. Như
vậy mà bảo tôi quên ơn, thì quên làm sao được?
Những vấn đề mâu thuẫn tích lũy hàng trăm, ngàn
năm, quần chúng vượt bậc giải quyết, Đảng của giai cấp
vô sản giải quyết. Trước hết chưa giải quyết những đau
ngứa phiền toái của tôi, mà hãy kéo tôi đứng lên, gọi tên
thật của tôi là một Con Người, xóa trên trán tôi cái vết
să’t nung của thời nô lệ, trả cho tôi một Tổ quốc một dân
tộc, cho tôi một ý nghĩa cuộc đời. Từ trước, học tập một
nền văn học Âu châu vào hàng rực rỡ là văn học Pháp,
tôi đã nhận thấy đại khái trong đó, trên nét lớn, thời kỳ
cổ điển thì tìm chuộng lẽ phải (la raison) thời kỳ lãng
mạn thì tìm chuộng tình cảm (le sentiment), đến thời kỳ
sa đọa tiếp theo, nhiều trường phái văn học lại tìm
chuộng cái phần thấp của con người, là cảm giác (la
sensation). Cuối thế kỷ mười chín, và nhất là sang thế
kỷ hai mươi, những “nhà văn” tư sản Pháp đủ các cỡ đi
xục vào cái mũi ngửi, cái lưỡi nếm, cái mă’t nhìn đường
nét să’c màu, coi người ta là một cái túi để đựng các thứ
sướng vui, đập vào những phần sơ đẳng nhất, con vật
nhất của thằng người; và họ đầu tư nhiều nhất là vào
những xúc cảm sinh dục! Cuối thời kỳ thứ ba này, văn
học tư sản Pháp không có thời kỳ thứ tư nào để mà đi
nữa. Cái bí đường của nó nhập cảng sang Việt Nam,
“nhà văn” không còn thể thống gì sốt, lăn vào bàn đèn
làm một con thiêu thân chán chường và ác khẩu; văn học
không còn có tư tưởng, một số “nhà văn” ba hoa bán trời
không văn tự, nhưng thực chất là muốn ăn ngon, chơi
sướng mà lại rất nhác lười! Những người còn biết tự
trọng và tiếp tục tìm chân lý của cuộc đời, thì loay hoay
mãi cũng không thể nào giải quyết bằng “tinh thần”
được.
Cách mạng đến! Cách mạng Việt Nam mang tới cái mà
văn học tư sản Pháp không có nổi, là sự hành động
(l’action). Không phải cái thứ “hành động để mà hành
động” (acte gratuit) của ăngđơrê Git (André Gide), mà
hành động cách mạng, hành động cùng với quần chúng,
hành động có mục đích và có hiệu quả. Những ngày Cách
mạng tháng Tám, tôi cùng bao nghệ sĩ, trí thức khác say
sưa mỗi người một việc, ngày đêm công tác. Hoạt động,
công tác cách mạng đã giải quyết sự hoang mang vô bổ
của trí tuệ tôi, nhúng trí tuệ tôi trở lại trong cái ý nghĩa
cơ bản của sự lao động. Thực dân Pháp đánh Nam Bộ, rồi
toàn quốc Kháng chiến, Đảng trao nhiệm vụ giết giặc cứu
nước cho ngòi bút tôi. Tôi rộng mở bước vào Kháng chiến
trường kỳ, và tư tưởng của tôi còn gặp gỡ, trải vượt nhiều
chặng đường xuống lên không phải là đơn giản...
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-12 06:43:14nguoiviet>
.
0