Người gửi: nvh291
Thể loại: Sách Văn học
Tác giả: Xuân Diệu
Tựa: NHỮNG BƯỚC ĐƯỜNG TƯ TƯỞNG CỦA TÔI
(IN THEO BẢN CỦA NXB VĂN HÓA - 1958)
Trích: Ba em bé
Thân bài:
Ba Em Bé
Trong cuộc đấu tranh thống nhất và tiến dần lên chủ
nghĩa xã hội, nó mang những khó khăn rất lớn và bao
gồm cả những vấp váp sai lầm, những người văn nghệ
và trí thức chúng ta có những lúc tâm trí như chùn lại.
Những chuyện “tiền kiếp” trong mỗi con người chúng ta
thỉnh thoảng lại khuấy bùn vẩn lên, gieo ră’c hoang
mang trong những đáy sâu kín nhất của tâm trí. Những
lúc có thể mất địa bàn như vậy, riêng tôi, tôi thường “ôn
cố tri tân”; tôi lần nhẩm lại những bước đường mà tư
tưởng tôi đã trải qua, từ lúc biết nghĩ cho đến giờ; tôi
nhận định đích xác xem từ chỗ sa lầy nào mà tôi đã
vươn lên, do quá trình tư tưởng nào mà tôi đã đến với
chủ nghĩa cộng sản. Tôi thọc sâu vào bóng của quá khứ
để so sánh nổi bật cái ánh sáng của hiện tại và tương
lai. Và tôi lại thấy sao Bă’c đẩu chói lọi.
Như một người làm mẹ đã thấy mình mang cái mầm
sống từ ở trong dạ, tôi thấy đóa hoa sen của tư tưởng,
tốt thay! đã đè được những lớp bùn mà nở trong tâm trí
mình. Nó đã nở rồi, không gì có thể dìm nó được nữa.
Vâng, chính những chuyện “tiền kiếp” của chế độ cũ,
mỗi khi nhớ đến, lại giúp đỡ tôi chiến thă’ng cho được
những chông gai mới trên con đường dài của sự nghĩ suy;
phải phá cho được, san cho được con đường đi tới trước
vô biên của cuộc đời, chứ không thể ngựa quen đường cũ,
quay lộn trở lại cái trầm luân xưa đã quá ư đau khổ!
Con một ông tú tài nho nghèo, dạy học, từ nông thôn
chuyển dần ra ở thành phố, khá giả dần lên tới mức tiểu
tư sản lớp giữa, tôi sinh và lớn lên ở miền Nam Trung
bộ, không bao giờ giàu, nhưng chưa bao giờ phải chịu cái
đói, cái rét vào thân. Tuy nhiên, tôi cũng đủ thương đau
để mà đứng lên tố khổ không tiếc lời cái xã hội cũ.
Chuyện đời trước dài lă’m. Không phải trường hợp kể ở
đây. Để làm chứng cho cái đời chẳng ra đời trước kia, tôi
chỉ kể lại ba em bé:
Cuối năm 1940, từ Mỹ Tho lên Sài Gòn, tôi đến thăm
nhà một anh bạn cùng làm tham tá nhà Đoan(1) như tôi;
bă’t đầu Nhật thuộc rồi, làm công chức cuối mùa cho
Pháp cỡ “viên ngoại” như thế, căn nhà thuê của anh
xuềnh xoàng, bàn ghế qua loa. Lúc ấy vào khoảng ba,
bốn giờ chiều ngày chủ nhật, tôi thấy bà vú già đang dỗ
đứa cháu đầu lên ba tuổi, mới biết nói. Cháu khóc nho
nhỏ, kéo dài, không giận hờn, không vòi vĩnh; vú già hỏi
cháu: - “Cháu đau ở chỗ nào, nói với bà”. Mẹ cháu dỗ
cháu: - “Mẹ mua bánh cho con nhé”. Cháu lă’c đầu, và
tiếp tục khóc. Người ta nựng nịu, vuốt ve em, người ta
hỏi em: - “Tại sao em khóc?” Em bé chỉ trả lời bằng giọng
(1) Douanes: Thương chính, thuế quan.
Nghệ An có một tiếng: - “Buồn!”. Chị bạn lo lă’ng phân
trần với tôi, ngơ ngác như không hiểu gì: - “Cháu thỉnh
thoảng về chiều lại khóc như thế; cháu chẳng đòi gì cả,
khám bác sĩ cũng không thấy cháu có bệnh gì; cháu chỉ
kêu là ”Buồn", và khóc. Tôi, thì tôi muốn nói với chị: -
“Hỡi người mẹ đáng quí và đáng thương! con của chị
cũng như tôi, nó đau ”bệnh thời đại" đấy! Nó là cái biểu
đo nóng lạnh của cuộc đời này; tâm hồn non yếu của nó
cảm rất nhạy cái điều bàng bạc ở trong không khí, ở
ngoài phố, ở quanh chúng ta: buổi chiều buồn quá, đời
sống buồn quá!". Từ khi đó, trở về, tôi không sao quên
được vấn đề ghê rợn mà em bé đặt ra. Trời đất ơi, một
em bé mới ra đời, chưa biết nói thành câu mà đã phải
khóc vì buồn, thì cuộc đời này còn sống thế nào nữa!
Năm 1942, tôi đi xe lửa từ Sài Gòn ra Hà Nội, đến
vào khoảng Đồng Hà, Tân ấp thì đường đứt vì vài tuần
trước mưa, bão, phải “sang tàu”. Vùng này đang bị đói
to, đến khoai, să’n cũng thiếu. Trong một nhà tranh lụp
xụp, một người đàn bà khoảng hai mươi nhăm tuổi đang
đút cho con ăn lưng bát cơm vơi. Em bé ba tuổi không
ăn, nó khóc, máu dồn lên đỏ cả đầu; nó dậm chân xuống
đất, nhất quyết bă’t đền người mẹ: - “Trả đây! trả đây!”
Người mẹ dỗ nó: - “Thôi con ăn đi, con nhé, mẹ thương.”
Nó không chịu, càng khóc: - “Nhả ra! Nhả ra! Trả đây!”
Thì ra người mẹ cũng đói quá, trong khi đút cơm cho
con, cầm lòng không đậu, đã ăn mất của con mấy thìa.
Con quá đói, quá tham ăn, đòi lại mấy thìa cơm như một
ám ảnh. Con cứ bă’t đền, mẹ cứ cố gă’ng dỗ. Người đàn
bà trẻ và nghèo ứa nước mă’t, thẹn thùng vì đã để cho
cái đói làm tổn thương cái tự trọng của một người làm
mẹ. Em bé thì như bị một cơn khủng hoảng não cân, cứ
ngoáy mãi vào chỗ đau thương. Người mẹ vô kế khả thi.
173
Đứa con tiếng đã khản rồi, vẫn dậm chân xuống đất.
Mười lăm phút ấy đối với tôi dài dằng dặc; cho đến khi
tầu đã xịch bánh chạy, mà vẫn còn nghe em bé: “Trả
đây! Nhả ra!”.
Năm 1945, nạn đói khủng khiếp ở miền Bă’c. Người
chết như rạ ở gầm Cầu sông Cái, ở các lề đường Hà Nội.
Cái xã hội cũ nó tàn ác đến thế là cùng. Người nào đi
ăn yến cứ ăn, gặm chưa hết một miếng thịt đã bỏ vào
đĩa xương để gă’p miếng khác; người nào chết đói cứ
chết, lăn ra như chuột. Bữa ăn, chúng tôi phải đóng cửa
lại. ăn như ăn vụng! ăn như là mình giành mất cơm của
người chết đói. Chúng tôi thuê trọ trên một căn gác phố
Hàng Bông, quen thân hai ông bà dưới nhà cũng ở thuê,
có cửa hàng bán mũ bậc trung, vợ chồng hiền lành, biết
phải. Một buổi sáng, tôi trên gác xuống, nghe ở nhà dưới
đang la om. Tôi nhìn ra trước cửa, thấy một em nhỏ con
trai độ mười tuổi đang dán mình vào phía ngoài một bên
khung cửa kính bày hàng. Em trần truồng như một con
nhộng, không có một tí thịt nào nữa, chết hết cả người
rồi, chỉ còn hai con mă’t. Không hiểu em từ góc phố nào
đến, mà nhất định đi vào trong nhà này, để xin một ít
cháo chăng. Có lẽ em không còn thấy đây là cửa kính,
em cứ đi vào, bị cửa kính chặn lại đứng sững; nhưng em
vẫn bị hút bởi cái sống ở bên trong, cứ dấn mình vào
gương. Người ta la mă’ng đuổi em đi, quát nạt thật to và
lâu để cố thủng vào tai em, người ta kiêng, người ta ghê
sợ, coi em như quỷ nhập tràng; em, em của tôi, mặt em
cũng thông minh và xinh đẹp, nếu em no. Mười ba năm
từ ấy đến nay, tôi vẫn còn nghe tiếng la thét đuổi em
bé. Em như một con ruồi mă’c vào kính tủ, ruồi mă’c từ
trong ra, em thì mă’c từ ngoài vào; không có lòng thương
xót nào có thể cứu em, vì người ta bó tay ngao ngán
174
trước cái chết đói kinh khủng, mênh mông. Giữa đời
sống hằng ngày, có những bức tường thủy tinh dày ngăn
cách; những người hay “thương vay” như tôi, thi sĩ, đành
dương đôi mă’t ếch nhìn đồng bào mình chết qua tường
kính, mà không nhă’c chân động tay cứu giúp gì được!
Đấy, cái xã hội cũ có ba em bé kia nó tốt đẹp như thế
đấy! Tôi còn muốn thêm một em bé thứ tư. Lúc tôi lên
chín tuổi, do nghịch cảnh gia đình phong kiến, tôi phải
sống xa má tôi, mà ở với thầy tôi. Bên ngoại cách bên
nội độ vài cây số; lâu lâu tôi trốn về thăm má cho đỡ nhớ
thương. Một buổi chiều, tôi trốn về với má; má đang bận
vội đi chợ, má cho tôi bốn đồng tiền ăn ba(1), rồi để tôi
đi. Tôi ra khỏi nhà má, lê từng bước một, đi dọc ngược
theo con sông Gò Bồi mà trở về nhà thầy. Buồn quá. Tôi
thấy buồn mang mang mà không hiểu được. Tôi đứng lại
bên bờ sông, nhìn con đường, nhìn các dặng tre, nhìn
giòng nước, nhìn trên mặt sông Gò Bồi nă’ng xiên khoai
vàng úa; tôi thấy như cái gì cũng không biết để làm gì
cả; và đứa trẻ con chín tuổi bèn cầm bốn đồng tiền trị
giá mười hai đồng kẽm, ném xuống mặt sông, mặc dầu
“mười hai đồng” lúc đó có thể mua những mười trái ổi.
(1) Thời phong kiến, ở Trung kỳ có những tiền đồng ăn ba, ăn sáu,
ăn mười tiền kẽm. Một xu đổi được 15 đồng tiền ăn ba.
Thể loại: Sách Văn học
Tác giả: Xuân Diệu
Tựa: NHỮNG BƯỚC ĐƯỜNG TƯ TƯỞNG CỦA TÔI
(IN THEO BẢN CỦA NXB VĂN HÓA - 1958)
Trích: Ba em bé
Thân bài:
Ba Em Bé
Trong cuộc đấu tranh thống nhất và tiến dần lên chủ
nghĩa xã hội, nó mang những khó khăn rất lớn và bao
gồm cả những vấp váp sai lầm, những người văn nghệ
và trí thức chúng ta có những lúc tâm trí như chùn lại.
Những chuyện “tiền kiếp” trong mỗi con người chúng ta
thỉnh thoảng lại khuấy bùn vẩn lên, gieo ră’c hoang
mang trong những đáy sâu kín nhất của tâm trí. Những
lúc có thể mất địa bàn như vậy, riêng tôi, tôi thường “ôn
cố tri tân”; tôi lần nhẩm lại những bước đường mà tư
tưởng tôi đã trải qua, từ lúc biết nghĩ cho đến giờ; tôi
nhận định đích xác xem từ chỗ sa lầy nào mà tôi đã
vươn lên, do quá trình tư tưởng nào mà tôi đã đến với
chủ nghĩa cộng sản. Tôi thọc sâu vào bóng của quá khứ
để so sánh nổi bật cái ánh sáng của hiện tại và tương
lai. Và tôi lại thấy sao Bă’c đẩu chói lọi.
Như một người làm mẹ đã thấy mình mang cái mầm
sống từ ở trong dạ, tôi thấy đóa hoa sen của tư tưởng,
tốt thay! đã đè được những lớp bùn mà nở trong tâm trí
mình. Nó đã nở rồi, không gì có thể dìm nó được nữa.
Vâng, chính những chuyện “tiền kiếp” của chế độ cũ,
mỗi khi nhớ đến, lại giúp đỡ tôi chiến thă’ng cho được
những chông gai mới trên con đường dài của sự nghĩ suy;
phải phá cho được, san cho được con đường đi tới trước
vô biên của cuộc đời, chứ không thể ngựa quen đường cũ,
quay lộn trở lại cái trầm luân xưa đã quá ư đau khổ!
Con một ông tú tài nho nghèo, dạy học, từ nông thôn
chuyển dần ra ở thành phố, khá giả dần lên tới mức tiểu
tư sản lớp giữa, tôi sinh và lớn lên ở miền Nam Trung
bộ, không bao giờ giàu, nhưng chưa bao giờ phải chịu cái
đói, cái rét vào thân. Tuy nhiên, tôi cũng đủ thương đau
để mà đứng lên tố khổ không tiếc lời cái xã hội cũ.
Chuyện đời trước dài lă’m. Không phải trường hợp kể ở
đây. Để làm chứng cho cái đời chẳng ra đời trước kia, tôi
chỉ kể lại ba em bé:
Cuối năm 1940, từ Mỹ Tho lên Sài Gòn, tôi đến thăm
nhà một anh bạn cùng làm tham tá nhà Đoan(1) như tôi;
bă’t đầu Nhật thuộc rồi, làm công chức cuối mùa cho
Pháp cỡ “viên ngoại” như thế, căn nhà thuê của anh
xuềnh xoàng, bàn ghế qua loa. Lúc ấy vào khoảng ba,
bốn giờ chiều ngày chủ nhật, tôi thấy bà vú già đang dỗ
đứa cháu đầu lên ba tuổi, mới biết nói. Cháu khóc nho
nhỏ, kéo dài, không giận hờn, không vòi vĩnh; vú già hỏi
cháu: - “Cháu đau ở chỗ nào, nói với bà”. Mẹ cháu dỗ
cháu: - “Mẹ mua bánh cho con nhé”. Cháu lă’c đầu, và
tiếp tục khóc. Người ta nựng nịu, vuốt ve em, người ta
hỏi em: - “Tại sao em khóc?” Em bé chỉ trả lời bằng giọng
(1) Douanes: Thương chính, thuế quan.
Nghệ An có một tiếng: - “Buồn!”. Chị bạn lo lă’ng phân
trần với tôi, ngơ ngác như không hiểu gì: - “Cháu thỉnh
thoảng về chiều lại khóc như thế; cháu chẳng đòi gì cả,
khám bác sĩ cũng không thấy cháu có bệnh gì; cháu chỉ
kêu là ”Buồn", và khóc. Tôi, thì tôi muốn nói với chị: -
“Hỡi người mẹ đáng quí và đáng thương! con của chị
cũng như tôi, nó đau ”bệnh thời đại" đấy! Nó là cái biểu
đo nóng lạnh của cuộc đời này; tâm hồn non yếu của nó
cảm rất nhạy cái điều bàng bạc ở trong không khí, ở
ngoài phố, ở quanh chúng ta: buổi chiều buồn quá, đời
sống buồn quá!". Từ khi đó, trở về, tôi không sao quên
được vấn đề ghê rợn mà em bé đặt ra. Trời đất ơi, một
em bé mới ra đời, chưa biết nói thành câu mà đã phải
khóc vì buồn, thì cuộc đời này còn sống thế nào nữa!
Năm 1942, tôi đi xe lửa từ Sài Gòn ra Hà Nội, đến
vào khoảng Đồng Hà, Tân ấp thì đường đứt vì vài tuần
trước mưa, bão, phải “sang tàu”. Vùng này đang bị đói
to, đến khoai, să’n cũng thiếu. Trong một nhà tranh lụp
xụp, một người đàn bà khoảng hai mươi nhăm tuổi đang
đút cho con ăn lưng bát cơm vơi. Em bé ba tuổi không
ăn, nó khóc, máu dồn lên đỏ cả đầu; nó dậm chân xuống
đất, nhất quyết bă’t đền người mẹ: - “Trả đây! trả đây!”
Người mẹ dỗ nó: - “Thôi con ăn đi, con nhé, mẹ thương.”
Nó không chịu, càng khóc: - “Nhả ra! Nhả ra! Trả đây!”
Thì ra người mẹ cũng đói quá, trong khi đút cơm cho
con, cầm lòng không đậu, đã ăn mất của con mấy thìa.
Con quá đói, quá tham ăn, đòi lại mấy thìa cơm như một
ám ảnh. Con cứ bă’t đền, mẹ cứ cố gă’ng dỗ. Người đàn
bà trẻ và nghèo ứa nước mă’t, thẹn thùng vì đã để cho
cái đói làm tổn thương cái tự trọng của một người làm
mẹ. Em bé thì như bị một cơn khủng hoảng não cân, cứ
ngoáy mãi vào chỗ đau thương. Người mẹ vô kế khả thi.
173
Đứa con tiếng đã khản rồi, vẫn dậm chân xuống đất.
Mười lăm phút ấy đối với tôi dài dằng dặc; cho đến khi
tầu đã xịch bánh chạy, mà vẫn còn nghe em bé: “Trả
đây! Nhả ra!”.
Năm 1945, nạn đói khủng khiếp ở miền Bă’c. Người
chết như rạ ở gầm Cầu sông Cái, ở các lề đường Hà Nội.
Cái xã hội cũ nó tàn ác đến thế là cùng. Người nào đi
ăn yến cứ ăn, gặm chưa hết một miếng thịt đã bỏ vào
đĩa xương để gă’p miếng khác; người nào chết đói cứ
chết, lăn ra như chuột. Bữa ăn, chúng tôi phải đóng cửa
lại. ăn như ăn vụng! ăn như là mình giành mất cơm của
người chết đói. Chúng tôi thuê trọ trên một căn gác phố
Hàng Bông, quen thân hai ông bà dưới nhà cũng ở thuê,
có cửa hàng bán mũ bậc trung, vợ chồng hiền lành, biết
phải. Một buổi sáng, tôi trên gác xuống, nghe ở nhà dưới
đang la om. Tôi nhìn ra trước cửa, thấy một em nhỏ con
trai độ mười tuổi đang dán mình vào phía ngoài một bên
khung cửa kính bày hàng. Em trần truồng như một con
nhộng, không có một tí thịt nào nữa, chết hết cả người
rồi, chỉ còn hai con mă’t. Không hiểu em từ góc phố nào
đến, mà nhất định đi vào trong nhà này, để xin một ít
cháo chăng. Có lẽ em không còn thấy đây là cửa kính,
em cứ đi vào, bị cửa kính chặn lại đứng sững; nhưng em
vẫn bị hút bởi cái sống ở bên trong, cứ dấn mình vào
gương. Người ta la mă’ng đuổi em đi, quát nạt thật to và
lâu để cố thủng vào tai em, người ta kiêng, người ta ghê
sợ, coi em như quỷ nhập tràng; em, em của tôi, mặt em
cũng thông minh và xinh đẹp, nếu em no. Mười ba năm
từ ấy đến nay, tôi vẫn còn nghe tiếng la thét đuổi em
bé. Em như một con ruồi mă’c vào kính tủ, ruồi mă’c từ
trong ra, em thì mă’c từ ngoài vào; không có lòng thương
xót nào có thể cứu em, vì người ta bó tay ngao ngán
174
trước cái chết đói kinh khủng, mênh mông. Giữa đời
sống hằng ngày, có những bức tường thủy tinh dày ngăn
cách; những người hay “thương vay” như tôi, thi sĩ, đành
dương đôi mă’t ếch nhìn đồng bào mình chết qua tường
kính, mà không nhă’c chân động tay cứu giúp gì được!
Đấy, cái xã hội cũ có ba em bé kia nó tốt đẹp như thế
đấy! Tôi còn muốn thêm một em bé thứ tư. Lúc tôi lên
chín tuổi, do nghịch cảnh gia đình phong kiến, tôi phải
sống xa má tôi, mà ở với thầy tôi. Bên ngoại cách bên
nội độ vài cây số; lâu lâu tôi trốn về thăm má cho đỡ nhớ
thương. Một buổi chiều, tôi trốn về với má; má đang bận
vội đi chợ, má cho tôi bốn đồng tiền ăn ba(1), rồi để tôi
đi. Tôi ra khỏi nhà má, lê từng bước một, đi dọc ngược
theo con sông Gò Bồi mà trở về nhà thầy. Buồn quá. Tôi
thấy buồn mang mang mà không hiểu được. Tôi đứng lại
bên bờ sông, nhìn con đường, nhìn các dặng tre, nhìn
giòng nước, nhìn trên mặt sông Gò Bồi nă’ng xiên khoai
vàng úa; tôi thấy như cái gì cũng không biết để làm gì
cả; và đứa trẻ con chín tuổi bèn cầm bốn đồng tiền trị
giá mười hai đồng kẽm, ném xuống mặt sông, mặc dầu
“mười hai đồng” lúc đó có thể mua những mười trái ổi.
(1) Thời phong kiến, ở Trung kỳ có những tiền đồng ăn ba, ăn sáu,
ăn mười tiền kẽm. Một xu đổi được 15 đồng tiền ăn ba.
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân