📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tuyển tập Trần Đình Long 🔒

1 trả lời, 1.070 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-05 23:45:16nvh291>
Người gửi: nvh291
Thể loại: Tuyển tập
Tác giả: Trần Đình Long
LÊ THANH HIỀN Sưu tầm và biên soạn
Tựa: Tuyển tập Trần Đình Long
Người đánh máy: nvh291

THÂN BÀI:

PHẦN THỨ NHẤT

ĐỀ DẪN
GIỚI THIÊU THÂN THẾ TRẦN ĐÌNH LONG

TRẦN ĐÌNH LONG - NGƯỜI CHIẾN SĨ CÁCH MẠNG TIỀN BỐI - LÊ THANH HIỀN

NHẬN THỨC CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TỪ QUÊ
HƯƠNG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI

Trần Đình Long sinh ngày 1 tháng 3 năm 1904 tại
thành phố Nam Định. Học xong trường Trung học ở
thành phố Nam Định, Trần Đình Long vào làm thư ký
nhà máy Dệt Nam Định. Theo bản tự khai lưu tại
Quốc tế cộng sản, năm 1925 - 1926, Trần Đình Long
làm thợ ảnh trong một nhà bảo tàng ở thành phố
Nông Pênh - Cămpuchia (Bấy giờ gọi là Cao Miên).
Tại đây, Trần Đình Long có dịp tiếp xúc với một người
cách mạng Việt Nam, được giác ngộ. Tháng 6 năm
1926, Trần Đình Long trở về Mỹ Tho (Nam Kỳ) gia
nhập một tổ chức Cách mạng tại địa phương, tiến
hành công tác tuyên truyền cách mạng. Tháng 11
năm 1926, Trần Đình Long sang Pháp, đến Pari học
đại học và tham gia hoạt động trong phong trào công
nhân do Đảng cộng sản Pháp lãnh đạo. Năm 1928,
Trần Đình Long được Đảng cộng sản Pháp giới thiệu
đi học tại trường đại học cộng sản những người lao
động phương Đông của Quốc tế Cộng sản, tại
Matxcơva, khóa dài hạn 1928 - 1931, với tên Nga là Pevơnêer
(Tleb3Hep) số thẻ học sinh là 4433 (bốn bốn ba ba) khoa này
có 9 người Việt Nam cùng học.
Ngày 9 tháng 2 năm 1930, tại Matxcơva, Trần Đình
Long cùng các sinh viên Việt Nam tổ chức một buổi
diễn kịch với chủ đề ca ngợi tinh thần yêu nước của
các chiến sĩ cách mạng Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm
cuộc khởi nghĩa Yên Bái.

TRỞ VỀ TỔ QUỐC
Học xong trường Đại học Cộng sản Phương Đông,
Trần Đình Long lại qua Pháp rồi mới trở về Việt
Nam. Khi tàu cập bến Sài Gòn, Trần Đình Long bị
mật thám Pháp bắt ngay, áp giải về Bắc Kỳ giam 4
tháng vì tội xuất dương trốn đi Nga bất hợp pháp.
Nhưng do mật thám Pháp không có chứng cớ nên
Trần Đình Long được trả tự do. Ông cư trú ở Hà Nội
và bí mật liên hệ được với Trung ương Đảng nhận
nhiệm vụ hoạt động trong tổ chức Đảng. Thời gian
này ông xây dựng gia đình với một cô gái người Hà
Nội. Để sinh sống, vợ chồng ông thuê lại cửa hàng đại
lý nhập sách báo tiến bộ nước ngoài tại số nhà 26
đường Chợ Đồng Xuân, Hà Nội của anh Hồng Quang,
một sinh viên luật trở thành đảng viên Cộng sản hoạt
động bí mật, thuê mở trước, bị mật thám Pháp theo
dõi phải rời khỏi Hà Nội, chuyển về hoạt động ở vùng
Hưng Yên, Hải Dương. Vợ chồng Trần Đình Long tiếp
tục kinh doanh mặt hàng sách báo tiến bộ ở cửa hàng
này...

LÀM BÁO
Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ (1936-1939), Trần
Đình Long hoạt động báo chí công khai của Đảng ở
Hà Nội. Ông viết cho báo Le travail (Lao Động) rồi
làm chủ nhiệm báo Khoẻ, nhưng báo Khoẻ chưa kịp ra
số 1 đã bị cấm. Tiếp đó, Trần Đình Long viết cho báo
Ressemblement! (Tập Hợp), En avamt (Tiến Lên), làm
quản lý báo Thời Thế. Báo Thời Thế ra đến số 13,
ngày 12/2/1938 thì đóng cửa. Ngoài ra Trần Đình
Long còn là biên tập nhiều báo công khai của Đảng
như tờ Tin tức, Đời nay, Notre voix (Tiếng nói của
chúng ta). Tháng 8 năm 1939, Trần Đình Long vào
Thanh Hóa phát hành báo, bị chính quyền thực dân
bắt lần thứ hai vu cho tội "đi cổ động nhân dân chống
thuế". Chúng giam giữ Trần Đình Long mấy tháng
không tìm ra chứng cứ, lại trả tự do (theo báo Đời
Mới, số 8, (19 Jan vier 1939).

VIẾT VĂN
Trong thời kỳ làm báo, Trần Đình Long có viết
thiên ký sự dài Ba năm ở nước Nga Xô Viết, cho đăng
trên tờ Thời Thế, nhằm đập lại sự vu cáo chủ nghĩa
cộng sản, nói xấu Liên Xô của bọn đế quốc thực dân,
đồng thời giới thiệu công khai, cụ thể cuộc sống mới
tự do bình đẳng hạnh phúc của nhân dân Liên Xô,
nhằm làm cho quần chúng cách mạng Việt Nam tin
tưởng hướng về Liên Xô, về chủ nghĩa Cộng sản. Ký
sự Ba năm ở nước Nga Xô Viết đã được đông đảo độc
giả hoan nghênh. Sau khi báo Thời Thế bị đình bản,
Trần Đình Long chuyển ký sự Ba năm ở nước Nga Xô
Viết sang đăng tiếp ở báo Tin Tức. Báo Tin Tức ra
đến số 43 thì bị cấm, ký sự này vẫn chưa đăng hết.
Trên báo Tin Tức, Trần Đình Long còn cho đăng cả
thiên phóng sự dài Một cuộc điều tra Muối ở nhiều kỳ
và truyện ngắn Một đêm u ám.
HOẠT ĐỘNG SÂN KHẤU
Cũng ở Hà Nội trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ,
Trần Đình Long còn tuyên truyền vận động một số
nam nữ thanh niên và sinh viên tiến bộ tham gia tổ
chức văn nghệ do chính ông chủ chương và lãnh đạo
hoạt động. Ông trực tiếp xây dựng các tiết mục đơn
ca, tốp ca, dàn dựng kịch, kết hợp diễn thuyết đều
mang nội dung yêu nước... thành một chương trình
đem đi biểu diễn tại nhiều điểm nội đô. Hoạt động
văn nghệ này do Trần Đình Long thực hiện, tuy tồn
tại không lâu, chưa có tiếng vang nhưng ở nơi nào anh
chị em đến diễn, đồng bào xem xong cũng bầy tỏ thiện
cảm với những người trí thức trẻ Việt Nam đang bộc
lộ khát vọng vươn lên làm chủ thời đại.
Năm 1940, Chính quyền Pháp bắt Trần Đình Long
lần thứ ba với tội danh "cộng tác với báo chí cộng sản
và cổ động dân chúng chống lại chính phủ bảo hộ", bị
đày lên ngục Sơn La giam cầm cùng với các ông Trần
Huy Liệu, Tô Hiệu, Nguyễn Lương Bằng... Tại ngục
Sơn La, Trần Đình Long thành lập Gánh hát phiêu
lưu (toàn tù chính trị) diễn cả kịch nói lẫn cải lương,
tuồng, chèo v.v... Những vở đã được diễn ở Sơn La là
Gia đình và cách mạng của Nguyễn Văn Năng (1933);
Bên đường dừng bước và Tình trong trắng của Trần
Đình Long (1941); Đêm ba mươi của Văn Tần (1941);
Hận Phong Khê (kịch thơ, diễn ở Sơn La và Chợ Chu
năm 1944), và Ngọn cỏ gió đùa của Hồng Trang (diễn
ở Sơn La và Chợ Chu năm 1943 - 1944). Ngoài ra còn
những vở như Đồng chí du dương của của Văn Tân,
Khởi nghĩa Tây Sơn (chèo) diễn ở Bá Vân năm 1943,
đều là những vở mang nội dung yêu nước và Cách
mạng, chĩa thẳng mũi nhọn vào bè lũ đế quốc và
phong kiến (theo Lược truyện tác giả Việt Nam, tập II,
trang 55-56, Nxb Kh.H.X.H. Hà Nội 1972).
Như vậy trong quá trình đấu tranh cách mạng,
Trần Đình Long đã ba lần hoạt động nghệ thuật (lần
thứ nhất tổ chức sinh viên Việt Nam diễn kịch ở Liên
Xô (1931), lần thứ hai tổ chức nam nữ thanh niên và
sinh viên biểu diễn văn nghệ ở Hà Nội (1938) và lần
này tổ chức hẳn một gánh hát diễn ở ngục Sơn La)
đều được đông đảo quần chúng tham gia và đạt hiệu
quả như mong muốn, chứng tỏ rằng ông rất có năng
lực ở lĩnh vực nghệ thuật sân khấu.

PHÁ XIỀNG
Tháng 3 năm 1945, trong cuộc phát xít Nhật đảo
chính thực dân Pháp ở Đông Dương, Chi ủy Đảng
Cộng sản ngục Sơn La tổ chức tù chính trị phạm và
yêu nước đấu tranh với giám ngục đòi giải phóng để
thoát khỏi hậu quả toàn ngục, cả Pháp và tù nhân
cùng bị phát xít Nhật tiêu diệt. Kết quả thắng lợi,
những người Cách mạng và yêu nước mau chóng tìm
đường về với phong trào ở các địa phương đang rất
cần cán bộ, chuẩn bị lực lượng toàn dân khởi nghĩa
giành chính quyền.

CỐNG HIẾN TRỌN ĐỜI VÀO SỰ NGHIÊP
ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
Trần Đình Long về đến Hà Nội liên lạc với Xứ ủy
Bắc Kỳ, được giao nhiệm vụ cố vấn cho Ủy ban khởi
nghĩa Hà Nội. Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945
thành công, sau đó nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa được thành lập Trần Đình Long được Đảng giao
nhiệm vụ giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác
ngoại giao.
Hạ tuần tháng 11 năm 1945, Chính phủ phái Trần
Đình Long đi cùng với Đại diện Việt Nam quốc dân
đảng từ Hà Nội xuống Kiến An giải quyết vụ lực
lượng Việt Nam quốc dân đảng ở đấy gây xô sát với
anh em Vệ quốc đoàn. Trần Đình Long đã vận dụng
đúng sách lược của Đảng, tỉnh táo ứng xử khôn khéo,
thu xếp vừa tránh khỏi xung đột vũ trang, vừa ổn
thỏa. Xong việc, ông trở về Hà Nội vào buổi chiều
ngày 24 tháng 11 năm 1945, thì ngay tối hôm đó bọn
Việt Nam quốc dân đảng - tay sai của Tàu Tưởng bắt
cóc Trần Đình Long tại nhà riêng số 26 phố Chợ Đồng
Xuân (Hà Nội) đem đi thủ tiêu mất tích (theo báo Sự
thật số 14, ngày 20-1-1946).
Ngay sau vụ Trần Đình Long bị bắt đó, Đảng và
Chính phủ kịp thời có những phương án tìm kiếm bảo
vệ. Báo chí chính thống lên tiếng đòi bọn Việt Nam
quốc dân đảng phản động phải trả ngay Trần Đình
Long về cho Chính phủ và quốc dân đang cần đến ông
trong công cuộc xây dựng đất nước mới giành lại độc
lập, tuy vậy cũng không cứu vãn được. Theo nhà sử
học Nga A.Xôcôlốp: "Trần Đình Long được xem là ứng
cử viên Bộ trưởng Bộ ngoại giao của Chính phủ Hồ
Chí Minh".

CÔNG LUẬN ĐƯƠNG THỜI NHẬN ĐỊNH VỀ
TRẦN ĐÌNH LONG
Báo Sự Thật số 12, ngày 13 tháng 1 năm 1946 có
bài ca ngợi Trần Đình Long là một trí thức yêu nước
nhiệt thành, có nhận thức lý luận cách mạng sâu sắc,
là một nhân tài đã đem hết sức mình phụng sự vào
quá trình đấu tranh giành nền độc lập của dân tộc.
Chính quyền thực dân Pháp cũng biết rõ Trần Đình
Long là nhân vật nguy hiểm đối với chúng, đã nhiều
lần dùng uy quyền bắt ông đem cầm tù khủng bố
nhưng không khuất phục nổi. Bọn phản động thô bạo
hãm hại ông, dân tộc ta, Nhà nước ta mất một nhân
tài, Đảng ta mất một cán bộ xuất sắc.
Trần Đình Long hy sinh đã già nửa thế kỷ
(1946-2000), chưa thấy cấp nào có lời tưởng niệm ông,
tìm hiểu phần mộ ông và di sản ông, cùng thân quyến
ông còn những ai, giờ ở đâu. Về bản quán ông cũng
chưa rõ ràng, theo một số vị đảng viên tiền bối có thời
kỳ cùng ông bị thực dân Pháp giam cầm hơn bốn năm
(1940 - 1945) tại ngục Sơn La cho biết thì ông quê ở
huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, một số tư liệu lưu
trữ đề cập đến ông lại viết : Ông sinh ngày 1 tháng 3
năm 1904 tại thành phố Nam Định. Song giờ đây ở cả
hai địa danh huyện Hải Hậu và thành phố Nam Định
hầu như không thấy ai biết trước đây quê hương có
người chiến sĩ cách mạng tiền bối Trần Đình Long,
một nhân tài cống hiến nhiều lĩnh vực giá trị cho Tổ
quốc, và đã hy sinh từ những ngày đầu thành lập
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa...

ĐÔI NÉT VỀ ĐỜI RIÊNG
Thời kỳ Trần Đình Long bị lưu đầy tận Sơn La, vợ
anh còn rất trẻ ở Hà Nội có lần thuê người dẫn bộ
hàng tháng trèo đèo lội suối lên thăm, đã làm cả mấy
trăm tù nhân phải ngạc nhiên vì chưa từng thấy
người vợ nào lên thăm chồng tù nơi rừng thiêng nước
độc này. Anh em tù chính trị cũng lấy làm lạ, e rằng
vợ anh Long nghe bọn mật thám xúi giục lên dụ
chồng đầu hàng thì chúng cho về nên đã ngầm hỏi dò.
Vợ anh Long hiểu ý không giấu diếm nói thẳng ra là
chị muốn có con với anh Long để nối dõi tông đường
nhà anh Long. Chứ anh Long làm cộng sản bị Pháp
bắt đầy đi biệt xứ nơi rừng thiêng nước độc thế này,
chắc gì có ngày về. Mọi người nghe ra đều cảm động,
phục chị Long thân gái dặm trường thực hiện nghĩa
vụ thiêng liêng đối với chồng, với dòng tộc nhà chồng,
nên ai cũng quý mến chị, coi chị như người thân, như
người em gái...
Hàng ngày khoảng 9 giờ sáng, lính coi ngục dẫn tù
nhân (trong đó có anh Long) vào rừng chặt củi, đường
đi phải qua bản Hẹo. Chị Long trọ trong bản Hẹo,
được dân bản tốt bụng dựng cho cái lán ở tạm. Chị
chuẩn bị sắm nhiều thứ mua từ Hà Nội thuê người
gánh lên như muối, thuốc lào, thuốc lá, đá lửa, diêm,
kim chỉ, thuốc ký ninh, đường phên... mỗi ngày dùng
một ít đút tay cho bọn lính áp giải để chúng cho anh
Long ở lại bản Hẹo với chị cả ngày. Còn anh em tù
chính trị vào rừng chặt củi, bảo nhau lấy thêm một
xuất củi nữa đem về bản Hẹo cho anh Long, chiều anh
có củi vác về ngục nộp. Cứ thế kéo dài đến khi chị
Long có thai, về Hà Nội. Sau một thời gian, anh Long
nhận được thư vợ từ Hà Nội gửi lên báo tin chị đã
sinh con trai và bảo anh đặt tên con. Sự kiện này một
lần nữa trở thành tin vui chung của anh em tù chính
trị ngục Sơn La hồi ấy. Anh em bàn tìm quý danh đặt
cho con trai đầu lòng của anh Long là Cậu Ấm Hẹo,
gọi tên vậy nghe hài hài nhưng có ý để ghi nhớ địa
danh Bản Hẹo, nơi vợ chồng anh Long có con. Anh
Long cũng rất vui khi nghe bạn tù bàn đặt tên con
mình và thuận tình ghi quý danh Cậu Ấm Hẹo vào
thư gửi về Hà Nội cho vợ biết...
Từ đó đến nay hơn sáu mươi năm, dân tộc ta đã
phải trải qua cơn binh lửa khốc liệt kéo dài, biết bao
nhiêu người gặp phải rủi ro. Khi chúng tôi làm tập
sách về Trần Đình Long mà chưa rõ hẳn quê ông
thuộc điểm nào trên tỉnh Nam Định, thân quyến ông
còn những ai, giờ ở đâu. Thì may mắn thay, chúng tôi
được đọc bài phóng sự của nhà văn Nguyễn Quang
Thiều xuất dương du ký, mới biết Cậu Ấm Hẹo con
trai đầu lòng của Trần Đình Long tên thật là Trần
Đình Lương, tuổi đã 60, đang cùng gia đình cư trú tại
Sydney Australia, anh là giáo viên dạy tiếng Việt cho
con em Việt Kiều trong một trường Trung học.
Trước đây khi Trần Đình Long xây dựng gia đình
với một cô gái người Hà Nội, cuộc duyên tiên ấy quả
là đôi bên cùng chọn mặt gửi nhau trái vàng... nên dù
phải trải qua bao thăng trầm, hai trái tim vàng ấy
vẫn đơm hoa kết trái, nối dõi tông đường, thờ phụng
tổ tiên tuy ở nơi xa xứ.
Đó chính là quả phúc do bà Long xưa kia tâm niệm
cầu mong, không quản gian truân lặn lội tìm đường
thực hiện thiên chức thiêng liêng của người vợ đối với
chồng mà thành quả phúc ấy. Nay được thế hẳn bà
Long mãn nguyện.

ĐÔI NÉT VỀ DI SẢN...
Trần Đình Long du học ở Nga Xô viết về nước năm
1931, đúng vào thời điểm phong trào Cộng sản Việt
Nam bị thực dân Pháp khủng bố đẫm máu, phải rút
vào hoạt động bí mật. Đến thời kỳ Mặt trận Dân chủ
(1936 - 1939), tên Trần Đình Long mới xuất hiện ở
những tên tuổi chủ nhiệm, chủ bút, phóng viên trên
các tờ báo công khai của Đảng. Ông viết nhiều thể
loại như phóng sự điều tra, chính luận, hồi ký, truyện
ngắn... ngoài tên chính, ông còn các bút danh như
Lương Phong hoặc viết tắt T.Đ.L, L.P. Thời kỳ bị lưu
đày ở ngục Sơn La ông còn viết cả kịch bản sân khấu.
Rất tiếc Trần Đình Long hy sinh sớm (12.1945), từ
đó đến nay đã 55 năm. Cùng thời gian 55 năm ấy, dân
tộc ta lại phải tập trung trí lực vào tiến hành liền hai
cuộc chiến tranh vệ quốc khốc liệt kéo dài suốt 30
năm. Vì vậy thân thế, sự nghiệp Trần Đình Long chưa
được quan tâm tới, bị thời gian phủ mờ...
Riêng di sản Trần Đình Long vốn xuất hiện tản
mạn trên các báo của Đảng thời kỳ 1936 - 1939, cũng
đang lâm vào tình trạng mai một trầm trọng, trên
bản giấy thì ố nát, trên micrôfil thì bị xước mờ. Nếu
ta không có biện pháp kịp thời khắc phục, thì không
riêng di sản Trần Đình Long mà cả di sản báo chí của
Đảng thời kỳ 1936 - 1939 cũng đang ở tình trạng mai
một trầm trọng ấy.
Vừa qua chúng tôi tiến hành kiểm diện văn bản
học di sản Trần Đình Long gặp rất nhiều khó khăn,
phần lớn tác phẩm của ông đăng trên báo Thời Thế
và báo Tin Tức, khi khảo sát các kho lưu trữ thư tịch
tịnh không thấy số báo Thời Thế nào, báo Tin tức chỉ
thấy hai số bằng giấy do Viện Bảo tàng cách mạng
Việt Nam quản lý, còn 43 số báo Tin Tức trên Microfil
do phòng báo chí Thư viện quốc gia quản lý hiện bị
xước mờ, vì ta khai thác micrôfil từ năm 1954 đến nay
không thực hiện quy trình kỹ thuật bảo quản. Thư
viện quốc gia trước có máy phiên bản chữ trên micrôfil
ra giấy đã hỏng từ lâu không vận hành được, cơ quan
mấy lần bố cáo rộng rãi mời người đến chữa nhưng
chưa thấy ai đến nhận, đành đem máy xếp xó. Đó là
hiện trạng một số tư liệu và thiết bị chuyên dùng khai
thác thông tin trên micrôfil ở thư viện Quốc gia Hà
Nội.
Nay người nghiên cứu sưu tầm phần lớn tuổi cao,
thị lực kém, không thể tự đọc trên micrôfil liên tục
nhiều ngày để chép ra hàng trăm trang tư liệu. Nghĩ
đến di sản, người nghiên cứu sưu tầm chấp nhận bỏ
tiền trả người đọc thuê trên micrôfil chép ra với giá
15.000đ (mười lăm ngàn đồng) một trang được độ 450
chữ. Lúc đầu người nhận tưởng dễ đạt giá nhận làm
việc này nhưng chỉ sau một ngày thì bỏ vì đọc lâu
trên micrôfil xước mờ bị hoa mắt nhức đầu.
Giám đốc Nhà xuất bản Văn học là nhà văn nghiên
cứu lý luận nên thông cảm với người nghiên cứu sưu
tầm gặp khó khăn trong khai thác di sản Trần Đình
Long. Ông đã mạnh dạn đầu tư kinh phí hợp đồng với
sinh viên nghỉ hè hỗ trợ thêm người sưu tầm đẩy
nhanh tốc độ khai thác tư liệu. Nhờ có hỗ trợ ấy mà
soạn giả sớm hoàn tất bản thảo Tuyển tập Trần Đình
Long.

SƠ BỘ VỀ GIÁ TRỊ
Sinh thời Trần Đình Long làm báo, viết văn, hoạt
động sân khấu chắc rằng không định để lưu danh, mà
nhằm mục đích tuyên truyền chủ nghĩa Cộng sản và
vận động nhân dân tham gia cách mạng giải phóng
dân tộc, như thế là văn dĩ tải đạo rồi. Toàn bộ tác
phẩm của Trần Đình Long tuy mới đăng tải trên các
báo nhưng thực sự giá trị trở thành di sản không chỉ
của riêng Trần Đình Long mà còn nằm trong di sản
chung của Đảng, của dân tộc, cần được gìn giữ, kế
thừa...
Tiếc rằng di sản Trần Đình Long nay có bộ phận
lưu lạc ra nước ngoài, còn ở trong nước hầu hết đang
trong tình trạng mai một trầm trọng, có bộ phận như
hai kịch bản sân khấu: Bên đường dừng bước và Tình
trong trắng chỉ thấy tên ghi trong danh mục lưu trữ
chứ chưa thấy tác phẩm. Đó là những hạn chế khách
quan mà người sưu tầm không khắc phục hết khi biên
soạn Tuyển tập Trần Đình Long.
Song Tuyển tập Trần Đình Long vẫn hiện diện
những tác phẩm tiêu biểu nhất trong di sản của ông,
đó là hồi ký Ba năm ở Nga Xô Viết, phóng sự Một
cuộc điều tra muối, truyện ngắn Một đêm u ám... và
đây cũng là những tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ
Đảng lãnh đạo đấu tranh công khai trên phương diện
ngôn luận với chính quyền thực dân phong kiến,
thắng lợi, làm kẻ thù hoảng sợ phải vội vàng dùng vũ
lực đàn áp. Như thế càng cho thấy rõ báo chí cách
mạng là một phương tiện vũ khí sắc bén của Đảng và
Trần Đình Long là người chiến sĩ sử dụng phương tiện
vũ khí báo chí ấy đạt hiệu quả cao.
Cũng qua Tuyển tập này còn cho thấy Trần Đình
Long cùng với các ông Trường Chinh, Trần Huy Liệu,
Võ Nguyên Giáp... là những chiến sĩ cách mạng tiền
bối mở ra con đường báo chí cách mạng Việt Nam và
sự nghiệp Văn học Nghệ thuật cách mạng Việt Nam.
Trước cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược cai
trị nhiều thập kỷ, nhân dân ta phải sống kiếp nô lệ
lầm than, Trần Đình Long cũng như nhiều trí thức
trẻ yêu nước xuất dương tìm đường cứu nước, ông
được trực tiếp nhận thức Chủ nghĩa Cộng sản từ quê
hương Cách mạng tháng Mười, sau đó ông trở về Tổ
quốc trở thành một chiến sĩ cách mạng tiền bối, chiến
đấu cống hiến cả cuộc đời góp phần vào sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc, độc lập đất nước. Nay qua
di sản còn cho thấy Trần Đình Long là nhà báo, nhà
văn, nhà hoạt động sân khấu, ông xứng đáng là nhân
vật văn hóa Việt Nam xuất hiện nửa đầu thế kỷ XX.
*
* *
Quá trình làm Tuyển tập Trần Đình Long, soạn giả
được các cán bộ chuyên môn Thư viện Quốc gia, Trung
tâm lưu trữ Quốc gia I, Viện Bảo tàng cách mạng Việt
Nam, Phòng lưu trữ báo An Ninh thế giới (Bộ Nội
Vụ)... Các vị cựu tù chính trị Sơn La: cụ Mai Vi, cụ
Nguyễn Đức Tâm, cụ Hoàng Cương, cụ Hồng Trang,
cụ Nguyễn Văn Trân... và nhà văn Học Phi cùng thời
làm báo với Trần Đình Long... giúp đỡ tạo điều kiện
cho tra cứu, cung cấp cho những dữ kiện tin cậy để
hoàn thành tác phẩm, nay xin chân thành cảm ơn các
quý cơ quan và các vị.
Tuyển tập Trần Đình Long ấn hành lần đầu không
tránh khỏi khiếm khuyết, mong độc giả xa gần thiện
chí chỉ giáo bổ sung cho những thiếu sót, chúng tôi
xin tiếp nhận để sau này có điều kiện tái bản sách sẽ
sửa chữa, hoàn thiện hơn.

Hà Nội, Hải Dương, mùa hạ năm 2000
L.Th.H
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-05 23:46:21nvh291>
Tuyển tập Trần Đình Long - PHẦN I
PHÓNG SỰ

MỘT CUỘC ĐIỀU TRA MUỐI
(Phóng sự)

TIỂU DẪN: - Trong thời kỳ thực dân Pháp thống
trị, chúng giữ độc quyền việc quản lý sản xuất, phân
phối và xuất khẩu muối - một nhu cầu quan trọng
trong đời sống hàng ngày của mọi người. Chúng dùng
nhiều thủ đoạn tàn nhẫn để áp bức, bóc lột, hành hạ
người dân làm muối.
Trần Đình Long được phân công tìm hiểu về đời
sống của dân làm muối ở một vùng tương đối điển
hình - vùng biển Nam Định, và xây dựng cơ sở cách
mạng trong nhân dân lao động ở đây. Anh đã viết
thiên phóng sự điều tra này, phản ánh sinh động,
chân thực về đời sống người dân làm muối, những
yêu cầu và nguyện vọng chính đáng của họ đòi nhà
cầm quyền thay đổi chính sách độc quyền vô lý để cải
thiện đời sống.
Tình cảnh đói khổ và những tiếng kêu ca thống
thiết của dân làm muối đã thúc giục một vài ông Nghị
viên phải lên tiếng giữa đại Hội nghị để tỏ rõ cách
sinh nhai bị trăm điều ức bách của họ, đã bắt buộc
Chính phủ phải tập hợp một buổi Hội đồng gồm có đại
biểu Chính phủ, ông Chánh Đoan, các ông Nghị viên
và đại biểu các nhà làm muối để bàn định về phương
pháp cải cách vấn đề muối. Nhưng việc can thiệp của
mấy ông Nghị viên, việc bàn bạc của Chính phủ, hình
như chỉ làm để lấy lệ, vì hơn nửa năm đã qua, những
tiếng than vãn, những tiếng tố cáo sự hà hiếp, áp bức
của Tây Đoan mà các nhà làm muối nói trắng ngay
giữa Hội đồng, đến bây giờ không những không có kết
quả gì, trái lại, tình cảnh của dân làm muối càng khổ
cực hơn nữa.
Những tin tức, những lời than vãn kêu ca hàng
ngày ở các vùng làm muối đưa lại, càng cho chúng tôi
thấy con đường sinh hoạt của dân làm muối đã đến
bước quá cùng quẫn. Trong cuốn Vấn đề dân cày, anh
Qua Ninh đã nói qua về hoàn cảnh khốn khổ của dân
làm muối, cho được rõ rệt hơn, xác thực hơn chúng tôi
phải đến tận nơi để xem xét. Một điều các bạn cần
nhớ là cuộc điều tra của chúng tôi chỉ chú ý về đường
sinh hoạt của dân làm muối, chứ không có tính cách
về nghề nghiệp nghĩa là khảo xét về cách thức làm
muối.

VĂN LÝ
Văn Lý là trung tâm điểm của những nơi sinh sản
muối, cách Nam Định 45 cây số, song phải đi hết gần
4 giờ, vì ô tô nhà quê phải chờ một vài giờ, chừng nào
hành khách chật cứng không còn cựa cậy được nữa, xe
mới chạy. May mà không bị om, không bị bỏ rơi ở
đường, không bị xe hỏng máy thì cũng phải 2 giờ chói
xương, ngốt hơi mới qua được quãng đường 45 cây số.
Ô tô chỉ chạy Chợ Cồn, phải một hào xe tay nữa mới
tới Văn Lý. Nhưng ngay cuối phố Chợ Cồn đã phảng
phất thấy hình ảnh độc đoán, ngang ngược của nhà
Đoan, hình ảnh tiều tụy, nhăn nhó của đám dân làm
muối. Hai cái hình ảnh luôn gầm gừ hậm hực ở chung
quanh hạt muối. Cái hình ảnh ấy nó âm thầm chứa
chất trong 6 cái kho bằng đá lợp bồi, to lớn, đồ sộ
đứng sừng sững ở trong hàng giậu dài mà ngoài có
biển đề mấy chữ : "Kho muối".
Phải! Đây chính là kho trữ muối, nếu không muốn
nói là kho trữ mồ hôi, nước mắt, trữ bao nỗi phẫn uất,
đói khổ của hàng vạn dân sống về nghề làm muối.
Đi khỏi kho muối này chừng 300 thước về phía tay
mặt, cách đường cái chừng 200 thước đã thấy những
ruộng muối nối liền nhau, dài dằng dặc, rộng bao la,
trên điểm lô nhô những mốc quét vôi trắng như cột lò
một ở bên đường. Những mốc ấy là của nhà Đoan bắt
trồng để biên số đánh dấu từng thửa ruộng một.
Bắt đầu từ chỗ này là thuộc về tổng Tân Khai, một
tổng sinh sản muối nhiều nhất. Văn Lý chỉ là một địa
phận trong tổng này, song người ta quen gọi cả một
vùng này là vùng Văn Lý, vì ở Văn Lý có đồn, có nhà
Đoan, có nhà Giây thép, bao nhiêu muối làm xong đều
đem cả về đấy.

CHUNG QUANH RUỘNG MUỐI
Dọc theo miền Duyên Hải dài hơn 20 cây số, bắt
đầu từ Cồn Tròn đến Quất Lâm, số ruộng vỡ để làm
muối có đến 1.200 mẫu ta. Trong 1.200 mẫu ruộng
muối thì :
Hạ Trại: 200 mẫu
Cồn Tròn: 100 mẫu
Tân Khai : 700 mẫu
Quất Lâm: 200 mẫu
Mỗi mẫu ruộng muối phải có từ 2 đến 4 gia đình
làm, nghĩa là mỗi mẫu phải có 10 người khoẻ mạnh
và ít nhiều trẻ con giúp thêm sức.
Ở miền này, tổng cộng có gần 10.000 người sống về
nghề làm muối. Ngoài hạt muối ra họ không có kế
sinh nhai gì khác. Ruộng vườn rất ít, vì gần nước mặn
không trồng cấy được gì. Chài lưới cũng chả có gì, vì
miền này ít cá, và dân cũng không có vốn để sắm
dụng cụ. Muối là mối lợi độc nhất của đời sống dân
chúng ở đây. Dân làm muối có thể chia ra làm 4 hạng:
1. Hạng có ruộng vừa làm lấy, vừa cho làm rẽ,
chiếm 1%
2. Hạng có ruộng làm lấy, chiếm 60%
3. Hạng đi thuê, làm rẽ, chiếm 37%
4. Hạng làm công nhật, chiếm 2%
Cách cho làm rẽ: cứ được 10 phần thì chủ ruộng ăn
4 phần, người làm rẽ ăn 6 phần.
Cách trả công nhật mỗi ngày làm xong được bao
nhiêu muối chia làm hai, chủ ruộng lấy đứt đi một
nửa, còn một nửa thì chia cho những người làm công
nhật, nếu có 7 người thì chia làm 7, trong đó có cả
một phần người chủ ruộng, vì họ cũng cùng làm với
những nhân công kia. Làm như vậy ngày nào nhiều
nhất được 0,25đ, và ít nhất được 0,06đ.
Muốn vỡ một ruộng để làm muối thì phải xin phép
nhà Đoan. Nếu nhà Đoan cho thì dân làng cũng phải
tuân theo một cách máy móc. Vỡ một mẫu ruộng muối
phải tốn hết 200đ, đó là tiền đập đất, xây nề và sắm
dụng cụ. Tiền này có khi nhà Nông phố Ngân hàng bỏ
cho vay rồi do nhà Đoan trừ dần mỗi khi đem muối
đến nộp.

THÌ GIỜ VÀ CUNG CÁCH LÀM VIÊC
Mỗi mẫu ruộng làm muối có 42 cái "nề" để phơi
muối. Nề xây bằng ximăng và vôi cát, một bề 3 thước,
một bề 6 thước, sâu chừng 3 phân. Nước bể đã lọc rồi
thì đổ lên nề này phơi nắng thành ra muối. Trừ nề ra
là đất bãi bằng phẳng dùng để phơi cát, cát đó dùng
để lọc nước bể, lấy chất mặn rồi đổ vào "chạt" (bể để
đựng nước muối đã lọc), để trữ đấy. Gặp trời nắng,
mới múc nước ở "chạt" đổ lên nề phơi lấy muối.
Người làm muối phải dậy từ 3 giờ sáng, không ăn
uống gì, phải ra ruộng ngay. Bắt đầu vào công việc
dãi cát ra phơi, rồi đổ nước vào nề, rồi dỡ "chạt". Đến
9 giờ về nhà ăn cơm, chừng 12 giờ lại ra ruộng, thu
cát phơi lại, lọc nước vào "chạt", xong phải ngồi chực
sẵn để dỡ muối. Họ ngồi chờ chực như một đứa ăn
mày, chờ chung quanh mâm cháo chúng sinh, hễ ông
thầy cúng dứt tiếng mõ là xô nhau vào cướp. Thì ở
đây cũng vậy, tuy dân làm muối không phải cướp của
ai, song phải vội vàng hấp tấp quá ăn cướp. Vì nếu
chậm sẽ bị người ta tặng cho những cái "cà vạt" chói
đến xương.
Đúng hai giờ rưỡi, trên chòi các cậu lính Đoan đứng
canh, kéo cờ lên, thì người nọ phải giúp người kia xúm
nhau vào làm ồ ạt cho đến 3 giờ phải xong hết, nghĩa
là trong nửa giờ phải lấy muối cho xong. Các ông Tây
Đoan bắt phải làm nhanh chóng như vậy, để dân làm
muối không thể chuồn muối đem bán lậu thuế được.
Nhưng cũng còn may là dân được lấy muối làm hai
"phùa" (Fois) (1). Theo đúng tiếng dân làm muối dùng,
nên dân ở ruộng đầu này mới giúp dân ở ruộng đầu
kia được, chứ lấy làm một "phùa" thì không tài nào
lấy kịp.
Lấy xong muối, dân lại phải xe hay gánh đến tận
kho để nộp. Từ ruộng muối đến kho phải đi từ 1 đến
3 cây số, hai bên có lính kèm đi như kèm tù, nếu đi
chậm sẽ bị roi song vụt điếng người.
Sau bao nhiêu nỗi khổ cực, vất vả, bao nhiêu nỗi lo
lắng, sợ hãi, bao nhiêu tạt tai, đá đít, dân làm muối
trả được muối vào kho, lĩnh được cái thẻ về, thế là

(1) Phua: lần, phiên âm tiếng Pháp "fois"
nhẹ nợ, thoát nạn được một ngày hôm ấy. Trả được
muối vào kho xong cũng đã 6 giờ rưỡi chiều, thu xếp
đồ đạc về đến nhà là vừa đúng 7 giờ. Vậy là họ làm
việc từ 3 giờ sáng đến 7 giờ tối, tất cả là 16 giờ. Trưa
nghỉ được 3 giờ về nhà ăn cơm. Xong 3 giờ nghỉ trưa
ấy, lắm khi không còn mấy phút, lắm khi đương cầm
bát cơm ăn mà bất thình lình trời đổ mưa, cũng phải
bỏ cả cơm mà chạy ra ruộng lo gạt muối vào "chạt",
thu lấy cát, kẻo nước mưa làm nhạt đi thì lại phải đến
3 ngày mới phơi được muối. Vậy tính trung bình dân
làm muối phải làm việc đến 14 giờ trong một ngày.
SỐ TIỀN KIẾM ĐƯỢC MỖI NĂM
Làm mỗi ngày 14 giờ dưới bao nỗi cực nhọc, đau
đớn, sợ hãi, hốt hoảng, ta hãy tính xem mỗi năm, một
gia đình làm muối kiếm được bao nhiêu.
Mỗi một mẫu ruộng tốt nhất như ở Tân Khai, gặp
được trời nắng to mỗi ngày sinh sản được 400 kilô
muối. Ruộng xấu như ở Hạ Trại mỗi ngày chỉ được
250 kilô. Cứ 100 kilô nhà Đoan trả cho 0,75đ. Song
chỉ được lĩnh 0,70đ thôi, vì mỗi 100 kilô phải "để ra
0,05đ" đóng sưu chung cho cả tổng gọi là tiền phụ
đinh. Nhà nước chơi cái lối trịch thượng, nắm đằng
chuôi, không những người làm muối phải đóng sưu
cho mình, mà còn phải đóng cho dân cùng đinh nữa.
Nhà Đoan giữ lại như vậy, cứ hết một mùa muối, trừ
tiền đóng sưu cho cả tổng cũng còn thừa tới 2,3 ngàn
đồng. Đó là nhà Đoan nói vậy, dân cũng chỉ biết vậy.
Số tiền thừa đó thì nhà Đoan lấy một nửa, chia cho
làng một nửa. Một nửa nhà Đoan lấy, bảo để xây
cống, lát đường, dân cũng chỉ biết vậy. Còn một nửa
chia cho làng, thì làng không được tiêu, mà phải dùng
để đắp đê, mua đá bỏ kè. Cái lối hụt tiền và chia tiền
này nó bất công, ức hiếp một cách rõ rệt quá, tôi
không cần phải chỉ trích nữa, hãy cần quay lại với cái
tính trên kia. Lấy số trung bình thì mỗi ngày một
mẫu sản xuất được 300 kilô, bán được 0,70đ một trăm
kilô, cộng là 2,10đ, mỗi mẫu trung bình có 3 gia đình
làm. Nếu ngày nào cũng được 2,10đ thì 3 gia đình này
trông vào đấy cũng tạm no đủ. Song từ năm 1936
Nghị định chỉ cho làm mỗi năm 6 tháng thôi. Mà
trong 6 tháng được làm đó thì chỉ được chừng bảy,
tám mươi ngày nắng. Nghĩa là mỗi năm chỉ làm muối
được 70 đến 80 ngày. Vậy tính sát số lợi tức hàng năm
của mỗi mẫu ruộng muối được 200đ là nhiều nhất.
Trong số 200đ này còn phải trừ đi 30đ tiền mua
ximăng, vôi, cát để chữa nề, và 10đ sắm các thứ dụng
cụ. Vậy là mỗi năm một mẫu chỉ kiếm ra được 160đ.
Số tiền ấy phải chia cho 3 gia đình và có khi chia làm
4 nữa. Đổ đồng mỗi gia đình một năm kiếm được 50đ
là nhiều nhất. 50đ một năm, mỗi tháng hơn 4đ. Mỗi
gia đình ít nhất là 5 miệng ăn. Với 4 đồng mà nuôi 5
miệng ăn trong 1 tháng, các bạn đã thấy rõ sự thiếu
thốn đến bực nào. Đây là mới tính đến 1 gia đình có
ruộng làm lấy, chưa tính đến hạng phải thuê ruộng
làm rẽ và hạng làm công nhật. Tình cảnh của hai
hạng sau, còn khổ cực gấp mấy lần nữa. Đây cũng
chưa tính đến những số tiền nhà Đoan phạt bất
thường, chưa tính đến số tiền lãi mà dân nghèo phải
lĩnh "thẻ non". "Thẻ non" một cách bóc lột mà còn
được hàm ân. Những ngày mưa, dân nghèo phải đến
vay chủ nợ 1,10đ về ăn. Hôm nắng có muối đem nộp
kho phải trả họ 10 cái thẻ giá 1,40đ. Bất cứ hôm nay
vay, mà mai có muối cũng phải trả 10 thẻ. Vậy là họ
cho vay 1,10đ trong một ngày mà được lãi 0,30đ. Tính
ra lãi tháng đến 900 phân. Trong 6 tháng không được
làm muối, mà phải ăn nợ chờ đến mùa thì chủ nợ
càng khe khắt và lãi càng nặng. Một bọn chỉ nguyên
kiếm ăn về cách cho vay lãi, vì hết thảy dân làm muối
(trừ một số rất ít), không một ai tránh khỏi nạn vay
"thẻ non".
Đây mới là nói đến tình trạng dân làm muối ở miền
ruộng tốt và ở gần kho muối. Tình trạng dân làm
muối ở Kiên Chính và Cồn Tròn còn cực khổ hơn nữa.
Hai nơi này ở xa kho muối, nên phải thuê thuyền chở
hết 0,15đ một trăm kilô, và hết 0,025đ tiền đội từ
thuyền vào kho, tất cả hết 0,175đ mỗi 100 kilô. Ngoài
ra còn phải trừ mỗi 100 kilô 0,05 tiền phu đinh và
0,05đ tiền nợ Nhà nước. Những nơi ở xa kho được trả
0,80đ một trăm kilô, song phải chi phí hết cả là
0,275đ, vậy mỗi 100 kilô chỉ còn lĩnh ra được 0,525đ.
Như vậy lợi tức hàng năm của mỗi mẫu không được
đến 200đ mà chỉ được độ 150đ. Tiền thu vào ít hơn,
mà tiền phải chi cũng không kém gì các nơi khác, nên
tình cảnh dân ở Kiên Chính và Cồn Tròn lại càng đói
khổ hơn nữa.

MỘT TÍ LỊCH SỬ
Kể từ khi người Pháp chưa hạ thành Nam Định,
chế độ "Rêgi" (Régie = độc quyền thương chính) chưa
rời "gót ngọc" đến chốn đồng chua nước mặn, dân
chúng còn được quyền tự do làm muối, thì dân cư ở
miền này vẫn được sống một cách bình tĩnh, no đủ với
nghề làm muối. Mỗi một sề muối (20kilô) bán được
sáu, bảy hào. Với cái giá muối ấy, dân chúng có thể
thu được số lợi tức đủ cung cấp cho những món chi
phí hàng năm, có khi còn dư dật là khác. Vui vẻ, yên
ổn, no đủ. Nhưng giữa cái cảnh thái hòa bình tĩnh ấy,
một hôm nọ, một vị hung thần đến quấy nhiễu, phá
phách. Rồi từ đấy, cái cảnh êm vui kia mỗi ngày một
trụy lạc, tàn phá không còn có lối mà ra, không còn
có phương mà sống. Vị hung thần đó tức là Tây Đoan
vẫn nghiễm nhiên hống hách giữa thanh thiên, bạch
nhật đến bây giờ, không bùa phép nào trừ nổi. Dù
rằng hầu khắp dân làm muối đều theo đạo Gia tô,
hàng ngày có đức cha che chở, cầu nguyện cho mà
cũng không trừ nổi hay làm giảm bớt uy quyền vị
hung thần kia. Trái lại cảnh thống khổ lại càng thêm
thống khổ. Trước khi thi hành chế độ "Rêgi", nhà
Đoan cũng làm bộ công bằng, phái người về bắt dân
khai số muối làm mỗi ngày, mỗi năm và giá muối là
bao nhiêu. Lạ gì đám dân quê hiền lành, nhu nhược
thấy Tây về hỏi han tra xét đã lo sợ, cuống quýt.
Tưởng đâu họ hỏi để đánh thuế, nên số muối làm thì
khai bớt đi, mà giá tiền bán muối thì khai ít lại. Giá
thường bán 6,7 hào một sề, mà lại khai với nhà Đoan
bán mỗi sề là 1 hào. Vớ được chỗ khờ dại đó sau khi
thi hành chế độ "Rêgi" nhà Đoan cứ việc trả cho dân
1 hào một sề. Thực là công bằng, thực là nhân đạo.
Đã trót khai như thế rồi, dân còn kêu ca gì nữa. Thế
là mỗi một sề muối dân mất đứt đi 5,6 hào. Rồi trải
qua bao nhiêu năm trường, đồng bạc mỗi ngày một hạ
giá, giá hàng hóa, giá gạo đắt lên gấp hai, ba mà cái
giá 0,10đ một sề kia đến bây giờ mới lên được đến
0,14đ. Ngoảnh lại cái cảnh no ấm hồi xưa, mấy ông
già không khỏi mủi lòng rơi lệ.

NHÀ ĐOAN
Đối với dân làm muối, hễ nói đến nhà Đoan tức là
nói đến sự khủng khiếp, run sợ, uất ức, căm hờn, khổ
cực, đói rét... Họ mất ăn, mất ngủ ốm o, gầy mòn vì
nhà Đoan. Họ mất vợ, mất con, tan nhà, nát cửa vì
nhà Đoan. Dân quê sợ nhà Đoan hơn hết thảy các thứ
sợ. Thì đây ta hãy xem nhà Đoan làm việc: 11 giờ rưỡi
là lúc muối bắt đầu nổi bông, những chú lính Đoan đã
tề chỉnh cả trên các chòi để coi chừng, để thúc giục,
từng cử chỉ, từng việc làm của những người làm muối.
Hai giờ rưỡi nổi hiệu dỡ muối, nếu ai lấy chậm hay
làm lụng sơ ý, lúng túng là bị người ta quất vào lưng,
vào đầu không tiếc tay, bằng những cái "cà vạt" vừa
rắn vừa dẻo. Đội muối đến kho đi chậm cũng bị đòn.
Rồi lúc đóng muối lại quá lệ nữa. Năm ngoái, mỗi sề
muối cân nặng 24 kilô thì được tính là 20 kilô, vì phải
trừ bì 2 kilô và trừ hao 2 kilô. Nhưng năm nay sề
phải cân nặng 26 kilô mà vẫn chỉ được tính 20 kilô.
Trừ bì và trừ hao mất 4 kilô, dân không hiểu còn 2
kilô lấy dư ra nữa để trừ vào khoản gì? Cũng cái sề
ấy năm ngoái cân 24 kilô, thì người ta chỉ gạt cho
bằng là đúng. Song năm nay phải cân lên thành
26kilô, nên khi đong phải rung, phải lắc cho muối
xuống chặt. Đong rồi đội vào kho, gần tới cửa hai chú
lính cầm sề lắc xem muối còn xuống được nữa không.
Cách 4 thước nữa, hai chú lính khác lại lắc một lần
nữa. Tội nghiệp cho cái đầu dân làm muối, đã đội
nặng, lại phải lắc đi lắc lại 2 lần rồi mà đã được yên
đâu. Đến cửa ông Tây Đoan cầm cái dùi đập mạnh
vào sề, rồi thọc mạnh một cái vào muối, nếu muối
không lũng xuống, ông ấy mới phát thẻ cho đem vào
kho đổ, nếu lún một chút bắt đem ra cân lại. Cân lại
nếu thiếu không tới nửa kilô thì nhà Đoan không cho
bù thêm mà bắt phải phạt 3đ và 2,10đ tiền bút giấy.
Có nơi phạt tới 7đ cả thảy. Nếu không có tiền nộp
phạt thì 3 ngày không được làm muối. Cách phạt như
vậy rất bất công, dân quê sợ Tây Đoan như cọp, khi
nào dám đong sai. Song có đôi khi đong thiếu chút
đỉnh là vì muối có khi nhẹ khi nặng. Muối phơi gặp
được nắng to thì chắc hột mà nặng. Muối gặp nắng bé
thì bồng hột mà nhẹ. Nhưng nhà Đoan cứ phạt. Oan
ức, kêu khóc mặc kệ. Ngoài lối phạt này, nhà Đoan
còn nhiều cách phạt nữa. Lấy muối chậm, phải phạt,
dỡ muối còn sót: phải phạt, lấy một bát muối về nhà
ăn, phải phạt, giấu một bát nước "chạt" nước muối ở
nhà, phải phạt. Mỗi lần phạt ít nhất 3đ. Một khi nhà

Đoan đã phạt thì có một cách là nộp phạt, không kêu
ca, năn nỉ với ai được hết.
Nhà Đoan cho phép dân làm một buổi cuối cùng để
lấy muối ăn cả năm. Song vô phúc cái buổi cuối cùng
ấy bị mưa thì suốt cả năm dân làm muối phải mua
muối chợ về ăn bằng một giá đắt gấp 5 lần giá mình
bán. Với những hạt muối dính ở xe, ở thúng, dân quê
đem về vỗ ra cũng tạm đủ được ăn 1 ngày. Song nhiều
khi gặp chú lính ác nghiệt, bắt đem xe, đem thúng
xuống nước rửa đi hết mới cho đem về. Còn gì tàn
nhẫn hơn nữa không? Uy quyền của một ông Tây
Đoan đối với dân làm muối chẳng khác một ông chúa
đối với bọn nông nô ở thời kỳ phong kiến.
Năm nào được ông Tây Đoan nới tay một chút, dân
chúng còn đỡ khổ sở. Năm nào phải ông Tây Đoan tàn
ác (loại này chiếm đại đa số) thì dân chúng trăm bề
cực khổ, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ.

CÂU CHUYÊN BÊN RUỘNG MUỐI
Trời nắng chang chang, ngồi nấp bóng trong một
cái sề để nghiêng, một ông râu đen, mặt sạm vì muối
nắng và cát đang ngồi ngóng trời và đưa mắt nhìn
theo những đám mây êm lặng từ phía bể bay tới. Đám
mây tan. Ông nhìn xuống những nề muối đã bắt đầu
se thành hột. Tôi lại gần:
- Ông có bao nhiêu ruộng cát? (ruộng muối)
- Năm sào, đó mười miếng đấy!
- Có ai được vài chục mẫu ruộng muối không ông?
Câu hỏi của tôi phát ra làm cho ông ngạc nhiên.
Mấy người làm đang ngồi trông và chờ đến giờ xúc
muối cũng giật mình ngơ ngác. Sau một phút, họ hiểu
tôi đã tưởng lầm rằng cũng có những tay địa chủ
trong nghề làm muối như nghề làm ruộng, họ đều
tủm tỉm cười một cách kín đáo, ranh mãnh.
- Chúng tôi người nào có một mẫu là nhiều nhất.
Còn thì 5 sào, 4 sào, 3 sào hay 2 sào. Chỉ có mươi lăm
người có chừng trên 5 mẫu.
- Thế còn ruộng hoang có thể làm được ruộng muối
không?
- Ở đây chúng tôi cũng có đến 30 mẫu ruộng có thể
làm ruộng muối mà phải để hoang. Ở Tang Điền có
đến 100 mẫu, ở Xương Điền có đến 200 mẫu, ở ngoài
Kiên Chính, Hạ Trại có đến 500 mẫu phải bỏ hoang.
Cứ trong 6 xã làm muối ở vùng này, thì kể ra làng
nào cũng có từ vài chục đến hàng trăm mẫu có thể
làm muối phải bỏ hoang. Nhà nước đã có hạn chế thời
gian làm muối; lại hạn chế không cho vỡ thêm và lập
thêm ruộng muối, thành ra dân cư mấy năm nay đói
lắm.
- Đói thì các ông làm gì mà ăn?
- Ấy người nào biết chài lưới, thì đi chài lưới kiếm
năm ba xu, một hào; một số cuốn khăn gói ra Cẩm
Phả - Uông Bí làm culi độ trong ít tháng. Còn phần
đông thì bóp bụng ăn nợ ở nhà chờ đến vụ mười năm
sau.
- Các ông bắt đầu làm việc từ mấy giờ?
- Ba giờ sáng dậy, là phải ra ruộng làm ngay.
- Thế không ăn gì lót lòng à?
Bằng một giọng đau đớn, chán nản, ông già đáp:
- Ấy chẳng thà đi làm canh điền gặp ngày mùa còn
được ăn một ngày 3 bữa, chứ chúng tôi thì vào ngày
mùa, mà chỉ những ngày làm muối được, mới được
một ngày 2 bữa, còn những ngày vào mùa "nghỉ" thì
2 ngày một bữa.
- Đi làm sớm thế mà không ăn uống gì thì chịu sao
nổi?
- Thì phải bóp bụng mà chịu, chứ biết làm sao? Ông
tính đến một ngày 2 bữa còn không đủ, lấy đâu mà
ăn lót dạ. Chúng tôi thấy bụng cồn cào cứ uống nước
nhiều vào cho đỡ đói.
- Các ông làm có bị đánh đập gì không?
- Bây giờ cũng đỡ đỡ, nhưng thí dụ khi nào lính
Đoan bắt được lấy chừng một bát, một nắm muối là
nó có thể đánh đập hay lôi ra phạt. Đánh đập vùng
này đã đỡ. Song trong những khi đi đổi thẻ lấy tiền
thì thỉnh thoảng những thói dã man ấy lại hiện ra. Có
lẽ ông chưa được biết cái cảnh tượng ngày lĩnh thẻ ở
đây. Muối gạt rồi, đổ vào kho rồi, nào đã được tiền
ngay. Người ta phát cho mỗi gạt một cái thẻ tre, thẻ
tre ấy đến hôm đi lĩnh tiền phải đổi lấy thẻ đồng. Rồi
thẻ đồng mới đổi lấy tiền. Trước kia đổ muối chỗ nào
thì hôm
sau lĩnh tiền ngay chỗ ấy. Bây giờ lại không thế.
Năm, sáu xã châu cả vào lĩnh tiền ở một chỗ. Mà một
tuần mới có 3 lần lĩnh tiền. Thành ra như ở Văn Lý,
hàng ngàn người chen cả vào một cái sân chật hẹp ở
nhà Đoan chính, chen nhau, chờ nhau sốt cả ruột.
Phần thì thẻ để lưu 2, 3 ngày, phần thì vì người ta
bận việc hay xa xôi, hay sợ yếu không chen được, đem
thẻ gửi cả vào một người, thành ra có khi một người
vào lĩnh có ở trong tay 200 đến 300 thẻ. Thường cái
nghề nhà quê ta đã dốt lại nhát. Đến lúc đem hết sức
bình sinh ra lách chen được vào đến lượt đổi thẻ, có
khi quên bẵng không còn nhớ đúng là bao nhiêu thẻ
cả thảy, vì người gửi 12 thẻ, 15, 17 hay 20. Bấy giờ
hấp tấp hoảng lên đếm vội, đếm vàng đáng 350 thẻ
xướng 250 hay 320. Thế là toi đi đứt 30 hay 100 thẻ
- có lạy van thầy ký rằng, con lầm, thì thầy cho xơi
thêm mấy cái bạt tai, dọa cho vào tù và vu cho là đến
để vu oan cho thầy, vì mỗi lần lầm lẫn như thế chắc
ông cũng đoán biết ai được hưởng chỗ lầm ấy.
Câu chuyện đang dở thì ở mạn cuối ruộng nhà
Đoan đã ra lệnh cho cào. Một anh trẻ tuổi cũng mải
nghe chuyện, thấy nói đến cào, vùng đứng dậy cào
muối. Mấy người đàn bà vội la lên: Muốn phải phạt
hay sao đấy? Người thanh niên bấy giờ mới tỉnh hồn
và biết là mình đã làm trái phép, nhớ lại rằng đó là
lệnh cho những người ở đầu kia cào, chưa đến chỗ
mình. Mà đã chưa được cào, đã cào thì sẽ bị phạt
ngay. Dần dần tiếng "sột, sột, sột" của những chiếc
cào tôn, không răng đã nghe rõ. Những sề tròn xoay
đầy muối trắng tinh nằm ngửa trên những chiếc xe
một bánh trông như những chiếc vỏ sò lớn tướng đã
cút kít tiến ra đường. Chỗ tôi đứng họ cũng bắt đầu
cào, đánh đống.
Tôi ra đường đi theo những chiếc xe muối về kho
Đoan. Người lính Đoan chia nhau ra từng chặng đứng
canh.
TÌNH CẢNH DÂN LÀM MUỐI
Trở lên trên các bạn đã thấy anh chị em làm muối
sống một cách điêu đứng thế nào. Song chưa phải là

hết, tình cảnh họ còn nhiều nỗi đau thương, khổ cực.
Tất cả hy vọng của họ dồn vào 6 tháng làm muối.
Trong 6 tháng ấy, họ chỉ hy vọng có nắng. Được ngày
nắng, họ hý hửng dậy từ 3 giờ sáng để ra ruộng làm
muối. Cái kết quả đã trông thấy, muối đã nổi bông,
chỉ chờ đến 2 giờ rưỡi là dỡ, thì một trận mưa đổ
xuống. Bao nhiêu giọt mồ hôi, bao nhiêu công khó
nhọc đã theo với nước mắt họ mà trôi theo với hạt
mưa. Nếu nhà Đoan rộng rãi một chút thì tuy gặp
mưa, họ cũng dỡ vớt vát được ít nhiều. Nhưng nhà
Đoan không cho thế, nếu gặp mưa mà 2 giờ thì dù
muối có nổi hột, họ cũng bắt gạt xuống "chạt", không
cho dỡ một hột nào. Ác nghiệt đến thế là cùng. Nghề
làm muối rất cần nắng, nên người làm muối phải liều
thân với nắng. Suốt ngày ở ngoài nắng. Ven theo
ruộng muối chạy dài hàng 4, 5 cây số, chỗ nào tôi
cũng thấy vừa đàn ông, vừa đàn bà làm lụng quần
quật dưới ánh nắng thiêu người. Hơi muối bốc lên lòa
mắt, cát nóng giẫm phải bỏng chân, thế mà họ cứ hì
hục làm, không làm thì chết đói. Một cảnh còn thương
tâm hơn nữa là cái cảnh đọa đày của những đứa trẻ
vô tội. Bố mẹ ra ruộng làm cả, nên phải đem cả con
ra, đặt ở bên ruộng dưới trời nắng chang chang. Mũi
dãi nhem nhuốc, khóc lóc mặc kệ, bố mẹ không rảnh
tay mà săn sóc được. Còn những đứa trẻ để ở nhà thì
lại càng khốn nạn hơn nữa. Năm ngoái nguyên một
tổng Tân Khai người ta có tính tất cả 10 đứa trẻ chết
đuối. Một nhà 4 đứa trẻ ngã xuống ao, vớt lên chỉ cứu
được 2 đứa, còn 2 đứa bụng đã trương lên như bụng
cóc. Năm nay mùa muối mới bắt đầu, đã có 2 đứa trẻ
chết đuối. Vùng này có nhiều ao chuôm, những người
lớn phải ra hết ngoài ruộng làm muối, để trẻ con thơ
thẩn chơi với nhau ở nhà, nên thường xảy ra nạn chết
đuối. Con đẻ rứt ruột ra ai chẳng yêu quý, song anh
em nghèo khổ chỉ vì miếng ăn phải bỏ liều, bỏ lĩnh
con cái, thực là không còn phương kế gì khác. Vì nếu
ở nhà giữ con thì cũng đến chết đói cả nút. Chết đói,
dân ở đây đã từng có người chết đói, cái đói đối với
dân làm muối không phải xa lạ gì. Trong 6 tháng làm
muối, chỉ những ngày nắng, dân chúng mới được đủ 2
bữa. Ngày nào mưa đã phải lĩnh "thẻ non" ăn bữa
cơm; bữa cháo rồi! 6 tháng không được làm muối mới
là 6 tháng kinh khủng, thảm thiết. Có nhà mỗi ngày
được một bữa cháo loãng. Có nhà 2 ngày mới được một
bữa cháo loãng.
Cảnh đói năm ngoái càng thấy ghê gớm nữa, bao
nhiêu củ khoai, củ ráy đều bị đào trộm hết. Suốt làng
không còn một cái củ chuối. Họ đã xới lộn cả đất lên,
gặp được cái gì làm đầy dạ dầy được là họ ăn, họ ngốn
cho qua ngày đoạn tháng. Trước cái tình cảnh nguy
ngập năm ngoái, anh chị em làm muối đương hồi hộp
lo sợ đến cái "mùa chết" năm nay. Chả vậy mà ngay
trong lúc có việc làm, họ vác cái dạ dày rỗng không ra
ruộng làm từ 3 giờ sáng đến 10 giờ mới được miếng
cơm vào bụng.
Ngoài những nỗi đói khổ, túng thiếu, dân làm muối
còn bị áp bức đủ thứ, bị đánh đập như tôi mọi. Vậy
ông Bờrêviè (Brévié), ông Saten (Chatel) đứng trước
cái cảnh bất bình, khổ cực ấy, lý nào các ông cứ để
hơn 15.000 người bị đọa đầy, đói khổ chết dần, chết
mòn.

LƯƠNG PHONG
Báo Tin tức trên mivrôfil,
số 11 (18 - 25-6-1936),
số 16 (9 - 13-7-1936),
số 19 (20 - 23-7-1936),
số 20 (23 - 27-7-1936),
số 21 (27-7-1936).
tôn trọng mọi người là tôn trọng bản thân
0