<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-21 18:20:45Phung_Hoang>
CHƯƠNG MỘT
Sáng sớm ngày 21 tháng 7 năm 1974.
Trong khi trời hãy còn lờ nhờ tối, sao thưa rải rác trên ngọn sấu, các ô cửa trong mọi căn nhà ở thủ đô Hà Nội còn đang thiêm thiếp trong giấc ngủ mùa hè, đây đó tiếng ve gọi hè sà sã, thì từ trong thành Hà Nội, một chiếc xe con kiểu com-măng-ca đít tròn, lao ra từ phía cổng Cột Cờ. Chiếc xe bật đèn xin đường, rẽ theo đường Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, lên dốc Hàng Đậu, rồi vượt qua cầu Long Biên, sang thị trấn Gia Lâm. Từ đây, nó rẽ về phía đường số Năm, bon thẳng đi Hải Phòng.
Đường số Năm, con đường huyết mạch nối thủ đô Hà Nội với thành phố Cảng Hải Phòng, còn nhập nhờ trong bóng tối. Mặt đường lổn nhổn đá cuội khiến chiếc xe nhà binh thỉnh thoảng lại nẩy lên, rê ngang, chúi dọc, cũng có lúc nó phải tránh những ổ gà làm cho cả chiếc xe như một con bọ rùa nánh sang một bên, khiến những người ngồi trong xe cũng ngả nghiêng theo. Qua khỏi phố Nối, mặt trời mùa hè bắt đầu nhô lên dưới rặng phi lao non tơ, ửng lên một màu đỏ lựng, những tia nắng xuyên qua tầng tầng lớp lớp những đám mây xiên ngang, mang hình thù kỳ dị. Hai bên đường, cánh đồng trắng nước lấp lóa, sục bùn non, xen với những thảm mạ xanh thẫm. Sắp bước vào vụ mùa cấy hái. Tiếng giục trâu đi trên đồng và tiếng nước lội bì bõm trong nắng sớm làm nên một thứ âm thanh vừa rộn rã, vừa thong thả, thanh bình. Đằng xa, từ trong xóm nhỏ Lai Vu, Nam Sách… những tốp phụ nữ áo xanh phòng không màu cỏ úa (hết đánh phá rồi mà họ vẫn chưa có thể thay áo mới), hay màu nâu sồng ngàn năm của phù sa châu thổ, nón trắng, quần xắn ngang đầu gối tong tả cười nói bước vào ruộng cấy.
Thanh bình quá! Thanh bình nhưng đâu đã có hòa bình! Bất chợt người ngồi trên chiếc xe buông một tiếng nói, nghe thảng thốt như chứa chất cả niềm vui xen lẫn nỗi lo âu, bồn chồn. Như thông cảm với nỗi niềm của vị tướng thủ trưởng phía sau xe, người sĩ quan từ ghế trên ngoái nhìn về phía sau:
-Chiến trường của anh ...
-Không chỉ là chiến trường, quê hương mình nữa chứ...
Tất cả đều biết và đều nhớ trên con đường huyết mạch này, mới chỉ hơn một năm trước, bom đạn của Mỹ đã gieo rắc, vung vãi với ý đồ hủy diệt toàn bộ sự sống nơi đây. Hàng vạn tấn bom đủ các cỡ, các loại của Mỹ ném xuống, nhằm khuất phục con đường, khuất phục một dân tộc, hòng đẩy lùi họ trở về thời đồ đá. Thế nhưng sức sống vẫn âm ỉ, vẫn thản nhiên, vẫn kiên cường, vạm vỡ nảy sinh. Rồi hiệp định Paris ký kết, Mỹ phải ngừng ném bom và rút quân ra khỏi miền Nam. Con đường Năm mới chỉ ngưng tiếng bom chừng hai năm nay, vậy mà màu xanh đã trở lại, tiếng cười cũng trở về. Và hạt lúa, củ khoai lại tiếp tục nuôi sống con người như từ hàng ngàn năm nay vẫn vậy. Tại sao thế nhỉ? Tại sao bom đạn cứ mãi đổ xuống mảnh đất này, máu cứ chảy triền miên và con người đồng bằng cứ mãi mãi cơ cực. Hỏi thế để mà hỏi, để mà dồn nén ý chí, chứ họ đều biết rõ và thấu hiểu. Miếng cơm, manh áo đâu đã là tất cả. Phẩm giá, lòng tự hào của con người còn cao quý hơn gấp bội. Máu đổ vì sự sống không chỉ một người, một đời, mà còn vì niềm kiêu hãnh về sự trường tồn của cả một dân tộc.
Chiếc xe vẫn lứơt nhanh trên đường, thỉnh thoảng nó lại chồm lên vì những hố đạn, hố bom lấp rồi nhưng hãy còn chưa phẳng, chưa kỹ. Vết thương chưa kín miệng. Cầu Phú Lương mới làm lại bằng những thanh ván gỗ, gân guốc, quê mùa chịu đựng. Xe lướt qua cổng một cơ quan, hay nhà máy nào đó, không thấy ghi tên mình mà chỉ có một tấm bảng màu đỏ với hàng chữ vàng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhuộm thắm tươi trong nắng sớm.
Hải Phòng đây rồi! Xe rẽ vào hướng đi xuống Đồ Sơn. Lúc này người đi đường đã đông hơn, nhộn nhịp hơn, anh chiến sĩ lái xe nhẹ nhàng lách tay lái trên con đường chật, tránh không muốn bóp còi, hình như anh cũng sợ lay động cái không khí thanh bình quý báu nơi đây. Rẽ vào một ngôi nhà vốn là một căn biệt thự cổ, chiếc xe dừng lại. Một chiến sĩ công an vũ trang, không thấy mang cấp hiệu, mà trên ve áo anh chỉ có hai miếng nỉ màu xanh, chạy ra. ở phía vọng gác cũng có một chiến sĩ giống như thế nhưng nét mặt nghiêm trang, mắt nhìn thẳng, ngay bên má anh, sáng lên ánh thép ngời chói của lưỡi lê tuốt trần.
Xe mở cửa, trên xe buớc xuống, một người đàn ông khá to cao, nhưng nét mặt thanh thoát, nhất là trong bộ quân phục xuân hè, với chiếc áo blu-dông cắt khéo bó lấy cơ thể của một con nhà võ ưa hoạt động. Theo sau ông cũng là một sĩ quan, có nét mặt lặng lẽ hơn, vừa xách chiếc cặp da, vừa liếc nhìn xung quanh, rồi cùng vị thủ trưởng của mình bước vào ngôi nhà.
Phòng khách ngôi biệt thự bài trí đơn sơ, với bộ bàn ghế gỗ mộc, mà trên đó chỉ vỏn vẹn có một bộ đồ trà sứ Hải Dương, ánh lên màu sàng lấp lánh. Một người đàn ông bước vội ra, với cái nhìn kính nể và thiện cảm:
-Mời hai đồng chí ngồi. Anh Ba đang dở chút việc, sắp ra. Anh hỏi các đồng chí đã ăn sáng chưa, để chuẩn bị?
-Cám ơn đồng chí, chúng tôi đã tranh thủ ăn trên xe rồi. Người cao to trả lời, bằng một nụ cười giản dị.
Trên tường ngay chính diện của căn phòng treo một tấm chân dung Hồ Chủ tịch khổ lớn, màu xám được dệt trên nền vải, có khung viền trạm trổ rất tinh xảo. Chếch về một bên, về phía cửa ra vào trên bức tường vôi vàng ngả màu là một bức sơn mài cẩn xà cừ mô tả trận chiến thắng của Quang Trung - Nguyễn Huệ. Ngoài vườn đâu đó vẳng tiếng hót lảnh lót của một đôi chiền chiện. Và thoang thoảng mùi hương dịu của hoa huệ, thứ hương thơm kỳ ảo của loài huệ trắng, chỉ nở vào đêm thanh, khuya thẳm.
Hai người vừa bưng chén nước lên ngang môi thì chủ nhà xuất hiện. Với dáng đi hơi có vẻ tất bật cố hữu, và cái nhìn ấm áp trong bộ quần áo cũng giản dị quen thuộc: quần ka-ki, loại của bộ đội và áo sơ mi trắng ngắn tay, ông bước nhanh đến bên người khách, chìa bàn tay ra:
-Thái xuống rồi hả? Khỏe không? Chà, so với hôm gặp lúc mới ở chiến trường mới ra, cậu khá hơn nhiều đấy. Cơm gạo của bà con miền Bắc xã hội chủ nghĩa phải thế chứ...
Ông nói liền một mạch, làm cho vị khách chỉ còn biết cười và lắc lắc bàn tay theo. Người chủ nhà đó chính là ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, người lãnh đạo cao nhất, người chịu trách nhiệm nặng nề nhất cùng với bộ tham mưu của Đảng là Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương đề ra những quyết sách chiến lược cho giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, người mà hầu hết cán bộ cao cấp trong Đảng, các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong quân đội đều gọi ông bằng cái tên Anh Ba, vừa kính trọng, vừa thân thiện. Còn người ông đang tiếp là trung tướng Hoàng Văn Thái, Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam. Trung tướng ngồi xuống chiếc ghế gỗ có những thanh nan làm tựa lưng. Tuy đã cũ kỹ nhưng chiếc ghế chắc chắn và rất nặng. Sự giản dị, đơn sơ của văn phòng làm việc cơ động của Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng ta, làm ông thấy thoải mái. Nhìn mái tóc đã bạc nhiều, chải đường ngôi giữa, vừa nghiêm trang, lại có chút gì đó ngang tàng, dân dã của ông, trung tướng mỉm cười:
-Anh Ba ạ, mỗi lần được làm việc với Anh, nhìn Anh, tôi thấy hình như lúc nào Anh cũng ở chiến trường ấy...
Anh Ba cười vang, tiếng cười có cảm giác như làm rung rinh cả những cành lá phi lao đang rì rào ngoài cửa sổ:
-Chiến trường! Cả đất nước ta, cả non sông gấm vóc chúng ta đang là một chiến trường lớn. Giọng ông bỗng vụt trở nên xa xăm. Gần bảy mươi tuổi rồi, chưa một ngày được thanh bình, đau lắm, Thái ạ... Đất nước chưa một ngày im tiếng súng. Không tiến hành thành công cuộc cách mạng này là chúng ta có tội với tổ tiên, với bao anh hùng liệt sĩ, có tên và không tên... Có tội với Bác!
Tướng Hoàng Văn Thái ngồi nghe Anh Ba nói mà trong lòng bỗng dào lên nỗi niềm xúc động. Ông biết tính Anh Ba, khi đã nói ra một điều gì đó là ông đã suy nghĩ rất kỹ càng, thấu đáo. Và ông nói nhiều, nói tha thiết, tuôn trào, dù trước mặt ông chỉ có một người nghe.
-Bác đã đi xa cách chúng ta gần trọn năm năm. Năm năm vắng Bác, mình cảm thấy vô cùng trống trải. Mỗi lúc gặp phải những vấn đề hóc búa, chưa nghĩ ra được cách giải quyết thấu đáo, mình lại càng nhớ Bác. Khi còn Bác, những việc như thế, có khi nhỏ hơn, đơn giản hơn, dù nghĩ chưa ra hay đã có phương án xử lý mình đều chạy vào với Bác. Bác lớn lao lắm, phi thường lắm, mà cùng gần gũi, thân tình lắm...
-Vâng! Chính Bộ tổng tham mưu, quân đội cũng được Bác ân cần chỉ bảo. Từ ngày vắng Bác, anh em chúng tôi cũng cảm thấy thiếu hụt. Nhưng, chúng ta còn Bộ chính trị, còn Trung ương, còn có Anh Ba...
Bỗng Anh Ba phác một vòng tay:
-Thôi nhỉ, chuyện này ta nói sau. Phải cố gắng bằng hết sức mình, để hoàn thành sự nghiệp của dân tộc. Mà này, Lê Trọng Tấn đâu chưa thấy xuống? Tấn còn ở ngoài này hay lại vào trong ấy rồi. Các ông tướng của ta là mê chiến trường quá lắm rồi đấy. Hồi mới ký hiệp định, Anh Văn (Võ Nguyên Giáp) thấy trong Cửa Việt, cứ cù cưa mãi, địch thì ngoan cố nống ra, còn ta thì lại có vẻ muốn, nhân nhượng, thụ động, hỏi tôi, tôi bảo cử Lê Trọng Tấn vào xem. Nếu thấy cần thì làm sạch chúng nó đi. Nó có muốn thi hành hiệp định đâu mà nhân nhượng. Lê Trọng Tấn vào diệt gọn lữ đoàn lính dù của Thiệu, y kêu toáng lên, nhưng Cửa Việt là của ta, từ năm 1972 kia mà? Tấn khá lắm. Cách mạng là tiến công, tiến công không ngừng! Hả?
-Dạ, báo cáo Anh, anh Tấn xuống sau tôi khoảng một giờ. Chúng tôi chia nhau ra đi hai xe, vào hai giờ khác nhau. Lúc này chúng tôi nghĩ ta phải cẩn trọng. Mọi động thái của cán bộ cao cấp, tướng lĩnh đều có thể có con mắt của địch theo dõi...
-Đúng đấy. Mình cũng đã nhắc các ông như vậy.
Bí thư thứ nhất nhìn đồng hồ tay. Bỗng có tiếng xe, và tiếng hô chào phía ngoài cổng ngôi biệt thự. Hoàng Văn Thái đứng dậy đón Lê Trọng Tấn, người cán bộ đồng cấp từ trên xe bước ra. Là người cao to, có tướng của một vị thống soái, Lê Trọng Tấn bước vào:
-Chào Anh Ba, đồng chí Bí thư thứ nhất của Đảng, người Anh lớn của quân đội nhân dân Việt Nam.
Anh Ba Lê Duẩn đứng dậy, đi men theo cạnh bàn gỗ, bắt tay trung tướng Lê Trọng Tấn:
-Mình với Thái đang đợi Tấn. Ăn sáng chưa? Bảo anh em chuẩn bị để các ông cùng ăn nhé?
-Báo cáo Anh Ba, anh em tôi đã tranh thủ làm một phong lương khô trên đường Năm rồi ạ...
Bí thư thứ nhất Lê Duẩn lắc đầu:
-Ăn uống tốt, bảo đảm sức khỏe cho các cậu cũng là trách nhiệm của Đảng. Này, còn lương khô không, các ông cho mình ăn với...
-Anh Ba, Hoàng Văn Thái cười, chúng tôi còn trẻ, ăn uống thế nào cũng xong, Anh Ba làm sao mà ăn uống đơn giản như cánh bộ đội được!
Không đáp lại lời của trung tướng, Anh Ba quay sang chỉ vào thượng tá Võ Quang Hồ, sĩ quan Cục tác chiến đi cùng Hoàng Văn Thái:
-Nhớ lấy cho mình một phong lương khô, đồng chí...
Cả ba anh em, ba người đồng chí, một phần tinh nhuệ nhất của Bộ chỉ huy cuộc chiến đấu, cùng nhìn nhau cười vang, khiến cho bầy chim sẻ đang lích rích làm tổ trên mái ngói cũng ngơ ngác, nhìn vào...
***
Sáng sớm ngày 21 tháng 7 năm 1974.
Trong khi trời hãy còn lờ nhờ tối, sao thưa rải rác trên ngọn sấu, các ô cửa trong mọi căn nhà ở thủ đô Hà Nội còn đang thiêm thiếp trong giấc ngủ mùa hè, đây đó tiếng ve gọi hè sà sã, thì từ trong thành Hà Nội, một chiếc xe con kiểu com-măng-ca đít tròn, lao ra từ phía cổng Cột Cờ. Chiếc xe bật đèn xin đường, rẽ theo đường Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng, lên dốc Hàng Đậu, rồi vượt qua cầu Long Biên, sang thị trấn Gia Lâm. Từ đây, nó rẽ về phía đường số Năm, bon thẳng đi Hải Phòng.
Đường số Năm, con đường huyết mạch nối thủ đô Hà Nội với thành phố Cảng Hải Phòng, còn nhập nhờ trong bóng tối. Mặt đường lổn nhổn đá cuội khiến chiếc xe nhà binh thỉnh thoảng lại nẩy lên, rê ngang, chúi dọc, cũng có lúc nó phải tránh những ổ gà làm cho cả chiếc xe như một con bọ rùa nánh sang một bên, khiến những người ngồi trong xe cũng ngả nghiêng theo. Qua khỏi phố Nối, mặt trời mùa hè bắt đầu nhô lên dưới rặng phi lao non tơ, ửng lên một màu đỏ lựng, những tia nắng xuyên qua tầng tầng lớp lớp những đám mây xiên ngang, mang hình thù kỳ dị. Hai bên đường, cánh đồng trắng nước lấp lóa, sục bùn non, xen với những thảm mạ xanh thẫm. Sắp bước vào vụ mùa cấy hái. Tiếng giục trâu đi trên đồng và tiếng nước lội bì bõm trong nắng sớm làm nên một thứ âm thanh vừa rộn rã, vừa thong thả, thanh bình. Đằng xa, từ trong xóm nhỏ Lai Vu, Nam Sách… những tốp phụ nữ áo xanh phòng không màu cỏ úa (hết đánh phá rồi mà họ vẫn chưa có thể thay áo mới), hay màu nâu sồng ngàn năm của phù sa châu thổ, nón trắng, quần xắn ngang đầu gối tong tả cười nói bước vào ruộng cấy.
Thanh bình quá! Thanh bình nhưng đâu đã có hòa bình! Bất chợt người ngồi trên chiếc xe buông một tiếng nói, nghe thảng thốt như chứa chất cả niềm vui xen lẫn nỗi lo âu, bồn chồn. Như thông cảm với nỗi niềm của vị tướng thủ trưởng phía sau xe, người sĩ quan từ ghế trên ngoái nhìn về phía sau:
-Chiến trường của anh ...
-Không chỉ là chiến trường, quê hương mình nữa chứ...
Tất cả đều biết và đều nhớ trên con đường huyết mạch này, mới chỉ hơn một năm trước, bom đạn của Mỹ đã gieo rắc, vung vãi với ý đồ hủy diệt toàn bộ sự sống nơi đây. Hàng vạn tấn bom đủ các cỡ, các loại của Mỹ ném xuống, nhằm khuất phục con đường, khuất phục một dân tộc, hòng đẩy lùi họ trở về thời đồ đá. Thế nhưng sức sống vẫn âm ỉ, vẫn thản nhiên, vẫn kiên cường, vạm vỡ nảy sinh. Rồi hiệp định Paris ký kết, Mỹ phải ngừng ném bom và rút quân ra khỏi miền Nam. Con đường Năm mới chỉ ngưng tiếng bom chừng hai năm nay, vậy mà màu xanh đã trở lại, tiếng cười cũng trở về. Và hạt lúa, củ khoai lại tiếp tục nuôi sống con người như từ hàng ngàn năm nay vẫn vậy. Tại sao thế nhỉ? Tại sao bom đạn cứ mãi đổ xuống mảnh đất này, máu cứ chảy triền miên và con người đồng bằng cứ mãi mãi cơ cực. Hỏi thế để mà hỏi, để mà dồn nén ý chí, chứ họ đều biết rõ và thấu hiểu. Miếng cơm, manh áo đâu đã là tất cả. Phẩm giá, lòng tự hào của con người còn cao quý hơn gấp bội. Máu đổ vì sự sống không chỉ một người, một đời, mà còn vì niềm kiêu hãnh về sự trường tồn của cả một dân tộc.
Chiếc xe vẫn lứơt nhanh trên đường, thỉnh thoảng nó lại chồm lên vì những hố đạn, hố bom lấp rồi nhưng hãy còn chưa phẳng, chưa kỹ. Vết thương chưa kín miệng. Cầu Phú Lương mới làm lại bằng những thanh ván gỗ, gân guốc, quê mùa chịu đựng. Xe lướt qua cổng một cơ quan, hay nhà máy nào đó, không thấy ghi tên mình mà chỉ có một tấm bảng màu đỏ với hàng chữ vàng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhuộm thắm tươi trong nắng sớm.
Hải Phòng đây rồi! Xe rẽ vào hướng đi xuống Đồ Sơn. Lúc này người đi đường đã đông hơn, nhộn nhịp hơn, anh chiến sĩ lái xe nhẹ nhàng lách tay lái trên con đường chật, tránh không muốn bóp còi, hình như anh cũng sợ lay động cái không khí thanh bình quý báu nơi đây. Rẽ vào một ngôi nhà vốn là một căn biệt thự cổ, chiếc xe dừng lại. Một chiến sĩ công an vũ trang, không thấy mang cấp hiệu, mà trên ve áo anh chỉ có hai miếng nỉ màu xanh, chạy ra. ở phía vọng gác cũng có một chiến sĩ giống như thế nhưng nét mặt nghiêm trang, mắt nhìn thẳng, ngay bên má anh, sáng lên ánh thép ngời chói của lưỡi lê tuốt trần.
Xe mở cửa, trên xe buớc xuống, một người đàn ông khá to cao, nhưng nét mặt thanh thoát, nhất là trong bộ quân phục xuân hè, với chiếc áo blu-dông cắt khéo bó lấy cơ thể của một con nhà võ ưa hoạt động. Theo sau ông cũng là một sĩ quan, có nét mặt lặng lẽ hơn, vừa xách chiếc cặp da, vừa liếc nhìn xung quanh, rồi cùng vị thủ trưởng của mình bước vào ngôi nhà.
Phòng khách ngôi biệt thự bài trí đơn sơ, với bộ bàn ghế gỗ mộc, mà trên đó chỉ vỏn vẹn có một bộ đồ trà sứ Hải Dương, ánh lên màu sàng lấp lánh. Một người đàn ông bước vội ra, với cái nhìn kính nể và thiện cảm:
-Mời hai đồng chí ngồi. Anh Ba đang dở chút việc, sắp ra. Anh hỏi các đồng chí đã ăn sáng chưa, để chuẩn bị?
-Cám ơn đồng chí, chúng tôi đã tranh thủ ăn trên xe rồi. Người cao to trả lời, bằng một nụ cười giản dị.
Trên tường ngay chính diện của căn phòng treo một tấm chân dung Hồ Chủ tịch khổ lớn, màu xám được dệt trên nền vải, có khung viền trạm trổ rất tinh xảo. Chếch về một bên, về phía cửa ra vào trên bức tường vôi vàng ngả màu là một bức sơn mài cẩn xà cừ mô tả trận chiến thắng của Quang Trung - Nguyễn Huệ. Ngoài vườn đâu đó vẳng tiếng hót lảnh lót của một đôi chiền chiện. Và thoang thoảng mùi hương dịu của hoa huệ, thứ hương thơm kỳ ảo của loài huệ trắng, chỉ nở vào đêm thanh, khuya thẳm.
Hai người vừa bưng chén nước lên ngang môi thì chủ nhà xuất hiện. Với dáng đi hơi có vẻ tất bật cố hữu, và cái nhìn ấm áp trong bộ quần áo cũng giản dị quen thuộc: quần ka-ki, loại của bộ đội và áo sơ mi trắng ngắn tay, ông bước nhanh đến bên người khách, chìa bàn tay ra:
-Thái xuống rồi hả? Khỏe không? Chà, so với hôm gặp lúc mới ở chiến trường mới ra, cậu khá hơn nhiều đấy. Cơm gạo của bà con miền Bắc xã hội chủ nghĩa phải thế chứ...
Ông nói liền một mạch, làm cho vị khách chỉ còn biết cười và lắc lắc bàn tay theo. Người chủ nhà đó chính là ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, người lãnh đạo cao nhất, người chịu trách nhiệm nặng nề nhất cùng với bộ tham mưu của Đảng là Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương đề ra những quyết sách chiến lược cho giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, người mà hầu hết cán bộ cao cấp trong Đảng, các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong quân đội đều gọi ông bằng cái tên Anh Ba, vừa kính trọng, vừa thân thiện. Còn người ông đang tiếp là trung tướng Hoàng Văn Thái, Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam. Trung tướng ngồi xuống chiếc ghế gỗ có những thanh nan làm tựa lưng. Tuy đã cũ kỹ nhưng chiếc ghế chắc chắn và rất nặng. Sự giản dị, đơn sơ của văn phòng làm việc cơ động của Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng ta, làm ông thấy thoải mái. Nhìn mái tóc đã bạc nhiều, chải đường ngôi giữa, vừa nghiêm trang, lại có chút gì đó ngang tàng, dân dã của ông, trung tướng mỉm cười:
-Anh Ba ạ, mỗi lần được làm việc với Anh, nhìn Anh, tôi thấy hình như lúc nào Anh cũng ở chiến trường ấy...
Anh Ba cười vang, tiếng cười có cảm giác như làm rung rinh cả những cành lá phi lao đang rì rào ngoài cửa sổ:
-Chiến trường! Cả đất nước ta, cả non sông gấm vóc chúng ta đang là một chiến trường lớn. Giọng ông bỗng vụt trở nên xa xăm. Gần bảy mươi tuổi rồi, chưa một ngày được thanh bình, đau lắm, Thái ạ... Đất nước chưa một ngày im tiếng súng. Không tiến hành thành công cuộc cách mạng này là chúng ta có tội với tổ tiên, với bao anh hùng liệt sĩ, có tên và không tên... Có tội với Bác!
Tướng Hoàng Văn Thái ngồi nghe Anh Ba nói mà trong lòng bỗng dào lên nỗi niềm xúc động. Ông biết tính Anh Ba, khi đã nói ra một điều gì đó là ông đã suy nghĩ rất kỹ càng, thấu đáo. Và ông nói nhiều, nói tha thiết, tuôn trào, dù trước mặt ông chỉ có một người nghe.
-Bác đã đi xa cách chúng ta gần trọn năm năm. Năm năm vắng Bác, mình cảm thấy vô cùng trống trải. Mỗi lúc gặp phải những vấn đề hóc búa, chưa nghĩ ra được cách giải quyết thấu đáo, mình lại càng nhớ Bác. Khi còn Bác, những việc như thế, có khi nhỏ hơn, đơn giản hơn, dù nghĩ chưa ra hay đã có phương án xử lý mình đều chạy vào với Bác. Bác lớn lao lắm, phi thường lắm, mà cùng gần gũi, thân tình lắm...
-Vâng! Chính Bộ tổng tham mưu, quân đội cũng được Bác ân cần chỉ bảo. Từ ngày vắng Bác, anh em chúng tôi cũng cảm thấy thiếu hụt. Nhưng, chúng ta còn Bộ chính trị, còn Trung ương, còn có Anh Ba...
Bỗng Anh Ba phác một vòng tay:
-Thôi nhỉ, chuyện này ta nói sau. Phải cố gắng bằng hết sức mình, để hoàn thành sự nghiệp của dân tộc. Mà này, Lê Trọng Tấn đâu chưa thấy xuống? Tấn còn ở ngoài này hay lại vào trong ấy rồi. Các ông tướng của ta là mê chiến trường quá lắm rồi đấy. Hồi mới ký hiệp định, Anh Văn (Võ Nguyên Giáp) thấy trong Cửa Việt, cứ cù cưa mãi, địch thì ngoan cố nống ra, còn ta thì lại có vẻ muốn, nhân nhượng, thụ động, hỏi tôi, tôi bảo cử Lê Trọng Tấn vào xem. Nếu thấy cần thì làm sạch chúng nó đi. Nó có muốn thi hành hiệp định đâu mà nhân nhượng. Lê Trọng Tấn vào diệt gọn lữ đoàn lính dù của Thiệu, y kêu toáng lên, nhưng Cửa Việt là của ta, từ năm 1972 kia mà? Tấn khá lắm. Cách mạng là tiến công, tiến công không ngừng! Hả?
-Dạ, báo cáo Anh, anh Tấn xuống sau tôi khoảng một giờ. Chúng tôi chia nhau ra đi hai xe, vào hai giờ khác nhau. Lúc này chúng tôi nghĩ ta phải cẩn trọng. Mọi động thái của cán bộ cao cấp, tướng lĩnh đều có thể có con mắt của địch theo dõi...
-Đúng đấy. Mình cũng đã nhắc các ông như vậy.
Bí thư thứ nhất nhìn đồng hồ tay. Bỗng có tiếng xe, và tiếng hô chào phía ngoài cổng ngôi biệt thự. Hoàng Văn Thái đứng dậy đón Lê Trọng Tấn, người cán bộ đồng cấp từ trên xe bước ra. Là người cao to, có tướng của một vị thống soái, Lê Trọng Tấn bước vào:
-Chào Anh Ba, đồng chí Bí thư thứ nhất của Đảng, người Anh lớn của quân đội nhân dân Việt Nam.
Anh Ba Lê Duẩn đứng dậy, đi men theo cạnh bàn gỗ, bắt tay trung tướng Lê Trọng Tấn:
-Mình với Thái đang đợi Tấn. Ăn sáng chưa? Bảo anh em chuẩn bị để các ông cùng ăn nhé?
-Báo cáo Anh Ba, anh em tôi đã tranh thủ làm một phong lương khô trên đường Năm rồi ạ...
Bí thư thứ nhất Lê Duẩn lắc đầu:
-Ăn uống tốt, bảo đảm sức khỏe cho các cậu cũng là trách nhiệm của Đảng. Này, còn lương khô không, các ông cho mình ăn với...
-Anh Ba, Hoàng Văn Thái cười, chúng tôi còn trẻ, ăn uống thế nào cũng xong, Anh Ba làm sao mà ăn uống đơn giản như cánh bộ đội được!
Không đáp lại lời của trung tướng, Anh Ba quay sang chỉ vào thượng tá Võ Quang Hồ, sĩ quan Cục tác chiến đi cùng Hoàng Văn Thái:
-Nhớ lấy cho mình một phong lương khô, đồng chí...
Cả ba anh em, ba người đồng chí, một phần tinh nhuệ nhất của Bộ chỉ huy cuộc chiến đấu, cùng nhìn nhau cười vang, khiến cho bầy chim sẻ đang lích rích làm tổ trên mái ngói cũng ngơ ngác, nhìn vào...
***
PHỤNG HOÀNG