📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

quo Vadis

37 trả lời, 2.293 lượt xem — Trang 2 / 2
CHƯƠNG 61
Suốt ba ngày, hay đúng hơn là ba đêm, không gì xáo động sự yên tĩnh của họ. Khi những công việc thường nhật của nhà tù - phân biệt người đã chết với người còn sống, người bị ốm nặng với người còn khoẻ hơn - đã kết thúc, khi bọn canh ngục mệt mỏi đặt mình xuống nghỉ ngơi trong các hành lang, Vinixius lại bước vào gian hầm nơi Ligia đang ở, và chàng ở lại đấy cho đến khi ánh bình minh chiếu qua song sắt cửa sổ. Nàng ngả đầu lên ngực chàng, họ khe khẽ trò chuyện cùng nhau về tình yêu và cái chết. Trong ý nghĩ và trong câu chuyện, thậm chí ngay cả trong những nỗi khát khao và niềm hi vọng, cả hai bất giác ngày càng tách rời cuộc đời và mất dần cảm giác về nó. Đôi trẻ giống như những người lên tàu rời đất liền, không còn trông thấy bờ đâu nữa và dần dần nhập vào sự vô biên. Cả hai biến dần thành những linh hồn trầm mặc, yêu thương nhau, yêu thương Chúa Crixtux và sẵn sàng cất cánh bay lên. Chỉ đôi khi trong trái tim chàng trai chợt bật dậy nỗi đau như một cơn lốc, thỉnh thoảng lại bừng lên như ánh chớp một niềm hi vọng nẩy sinh từ tình yêu và niềm tin vào lòng nhân từ của Đức Chúa Bị Đóng Đinh Câu Rút, nhưng càng ngày chàng càng tách rời mặt đất để ngả về phía cái chết. Sáng sáng, khi bước ra khỏi nhà ngục, chàng nhìn thế gian, nhìn thành đô, nhìn những người quen và mọi việc của cuộc đời như qua giấc mộng. Tất thẩy đối với chàng đều xa lạ, cách trở, trống rỗng và nhỏ bé đến thảm hại. Ngay cả nỗi đe doạ cực hình cũng không còn khiến chàng sợ hãi, bởi chàng có cảm giác rằng đó là một điều có thể trải qua khi tập trung suy tư, mắt nhìn chăm chú vào một cái gì khác. Cả hai tưởng như đã bị sự vĩnh hằng thâu nhận. Họ trò chuyện về tình yêu, về việc họ sẽ được yêu nhau và được sống cùng nhau, nhưng chỉ ở phía bên kia nấm mồ, và nếu như đôi khi ý nghĩ của họ có quay về những việc trần gian, thì cũng chỉ như những người sửa soạn lên đường đi một chuyến viễn du trò chuyện với nhau về những sự để chuẩn bị lên đường mà thôi. Vả chăng vây quanh họ là một sự tĩnh mịch hệt như sự tĩnh mịch vây quanh hai chiếc cột đứng cô đơn đâu đó trong hoang vu và quên lãng. Họ chỉ lo sao Chúa Crixtux đừng chia rẽ họ, và mỗi giây phút càng củng cố lòng tin ấy trong lòng họ, họ say mê Người như say mê cái mắt xích sẽ nối liền họ lại với nhau, như say mê hạnh phúc vĩnh hằng, một sự bình yên mãi mãi. Bụi đất còn đang rơi dần từ họ về với đất. Linh hồn họ trở nên trong sạch như nước mắt. Dưới bóng đen đe doạ của cái chết, trong cảnh bần hàn và đau khổ, trên cái ổ hôi hám của nhà tù, đã mở ra cho họ một bầu trời bởi nàng đã cầm lấy tay chàng dắt đi - dường như nàng đã được siêu thoát và thánh thiện - đến nguồn suối vĩnh hằng của cuộc đời.
Còn ông Petronius ngạc nhiên khi thấy trên nét mặt Vinixius ngày càng nhiều bình tĩnh cùng những ánh sáng kỳ lạ nào đó mà trước kia ông không nhận thấy. Đôi khi trong óc ông nảy sinh dự đoán là Vinixius đã tìm được một cách nào đó để cứu, và ông phật ý vì chàng không cho ông can dự vào bí mật của chàng.
Rốt cuộc, không thể kìm nổi, ông bảo chàng:
- Giờ đây nom anh khác lắm, vậy chớ giữ bí mật với cậu, bởi cậu muốn và có thể có ích cho anh: anh lại sắp đặt chuyện gì rồi phải không?
- Cháu có sắp đặt, - Vinixius đáp, - nhưng cậu không thể giúp ích cho cháu được. Sau khi nàng chết cháu sẽ tự nhận mình là tín đồ Thiên chúa và sẽ đi theo nàng.
- Nghĩa là anh không còn hi vọng?
- Không, cháu hi vọng. Chúa Crixtux sẽ trả nàng cho cháu và chúng cháu sẽ không bao giờ bị chia cắt nữa.
Ông Petronius bắt đầu đi lại trong gian chính sảnh, mặt lộ vẻ thất vọng và sốt ruột, lát sau ông bảo:
- Nếu chỉ có thế thì không cần đến Chúa Crixtux của các anh, vì Tanatox(1) của chúng ta cũng có thể phục vụ anh việc đấy.
Vinixius mỉm cười buồn bã và nói:
- Không đâu, thưa cậu, có điều cậu không muốn hiểu điều ấy.
- Cậu không muốn và không thể. - ông Petronius trả lời. - Giờ không phải là lúc để tranh luận nhưng anh có nhớ anh đã nói gì khi chúng ta thất bại trong việc cứu nàng khỏi ngục Tulianum hay chăng? Cậu đã mất hết hi vọng nhưng anh vẫn nói thế này lúc chúng ta quay về nhà: “Còn cháu tin rằng Chúa Crixtux sẽ có thể mang nàng về với cháu”. Vậy thì ông ấy cứ trả nàng về đi! Một khi cậu ném chiếc cốc quý xuống biển, không một kẻ nào trong đám thần linh của chúng ta có thể lấy lên trả lại cậu, và nếu như vị Chúa của các anh cũng không hơn, thì cậu cũng không rõ tại sao cậu lại phải thờ kính ông ta hơn những vị trước kia cả.
- Chúa sẽ trả nàng về với cháu! - Vinixius đáp.
Ông Petronius nhún vai:
- Anh có biết rằng ngày mai các tín đồ Thiên chúa sẽ bị thắp sáng vườn thượng uyển của Hoàng đế không? - ông hỏi.
- Ngày mai ư? - Vinixius hỏi lại
Và trước cái thực tế kinh khủng đã cận kề, trái tim chàng vẫn run lên nỗi đớn đau và hãi hùng. Chàng nghĩ rằng đêm nay có thể là đêm cuối cùng chàng được ở bên Ligia, nên từ biệt ông Petronius, chàng đến ngay chỗ viên quản các Hố Thối để nhận thẻ của chàng.
Nhưng nơi đây chàng bị thất vọng, vì viên quản không muốn cấp thẻ cho chàng nữa.
- Xin hãy thứ lỗi, thưa ngài, - y nói - tôi đã làm cho ngài những gì có thể làm được, nhưng tôi không thể liều mạng. Đêm nay người ta sẽ mang bọn Thiên chúa giáo đến vườn Hoàng đế. Trong nhà ngục sẽ đầy lính và quan lại. Nếu như họ nhận ra ngài, tôi và các con tôi sẽ chết.
Vinixius hiểu rằng có cố ép nữa cũng vô ích. Nhưng chàng chợt loé lên một tia hi vọng rằng bọn lính mấy ngày trước vẫn trông thấy chàng có thể để chàng được vào không cần thẻ, vậy nên chờ khi đêm đến, chàng mặc chiếc áo tunica của phu mộ như thường lệ, đầu quấn mảnh giẻ, rồi đi tới cửa nhà ngục.
Nhưng ngày hôm ấy người ta kiểm tra thẻ ra vào gắt gao hơn thường lệ, và tệ hơn nữa, viên bách trưởng Xevinux, một người lính khắc nghiệt và tận tuỵ với Hoàng đế bằng cả tâm hồn, đã nhận ra Vinixius.
Nhưng hẳn là trong lồng ngực bịt sắt của y vẫn còn âm ỉ một chút lửa tình thương nào đó trước nỗi bất hạnh của con người, nên thay vì đập ngọn giáo vào khiên ra hiệu bạo động, y lại dắt Vinixius ra một bên và bảo chàng:
- Thưa ngài, xin ngài hãy quay về nhà. Tôi đã nhận ra ngài, nhưng không muốn ngài bị thiệt mạng, tôi sẽ im lặng. Tôi không thể để cho ngài vào, nhưng ngài hãy quay về và cầu các vị thần mang tới cho ngài nguồn an ủi.
- Ngươi không thể để ta vào, - Vinixius nói, - nhưng hãy để ta đứng đây nhìn những người bị đưa đi.
- Mệnh lệnh tôi nhận được không hề cản trở việc ấy. - Xevinux đáp.
Vinixius đứng trước cổng và chờ cho đến khi người ta đưa các tội nhân ra. Mãi gần nửa đêm cổng nhà ngục mới mở rộng và hiện ra cả một toán tù nhân: đàn ông, đàn bà, trẻ con bị những toán quân cấm vệ vũ khí lăm lăm vây quanh. Đêm rất tỏ, trăng rằm, nên có thể nhận ra không những chỉ hình thù mà cả nét mặt của những người bất hạnh. Họ đi hàng đôi, thành một đám rước sầu bi kéo dài, và trong sự tĩnh lặng của đêm chỉ có tiếng giáp trụ của binh lính lanh canh. Người ta đưa đi nhiều đến nỗi có thể ngỡ như tất cả các hầm đều được vét sạch.
Ở cuối đoàn người, Vinixius nhận rõ ông Glaukox thầy thuốc, nhưng cả Ligia lẫn Urxux đều không có mặt trong số những người bị tử hình.
Chú thích:
(1) Tanatox - Thần chết (Chú thích của tác giả)
CHƯƠNG 62
Màn đêm chưa buông mà những làn sóng người đầu tiên đã tràn tới những khu vườn của Hoàng đế. Những đám đông ăn mặc như ngày lễ, đội những vòng hoa, hào hứng và hát ca, một phần say sưa đến đây để được ngắm nhìn một cảnh tượng mới mẻ và tuyệt diệu. Tiếng kêu: “Semaxi! Sarmenticii” vang trên đường Via Tecta, trên cầu Emilius và từ phía bên kia sông Tyber, trên đường Khải Hoàn gần hý trường Nerô, mãi cho tới đồi Vatykan. Trước kia tại Roma người ta cũng đã được trông thấy những người bị thiêu chết trên cọc nhưng chưa bao giờ lại có một số lượng tội nhân nhiều đến như thế. Hoàng đế và Tygelinux muốn thanh toán với Thiên chúa giáo, đồng thời muốn tránh bệnh dịch đang từ các nhà ngục loang ra mỗi lúc một rộng trong thành phố, đã ra lệnh khoắng sạch các hầm giam, chỉ để lại chừng vài mươi người dành cho buổi kết thúc hội thi. Cũng vì thế, bước qua cổng vườn, đám đông lặng đi vì kinh ngạc. Tất cả các đường đi chính và phụ chạy giữa các rặng cây um tùm, chung quanh các nội cỏ, các lùm cây, các hồ ao, khu ươm cây và nhà trồng hoa, đều trồng đầy các cột tẩm nhựa mà người ta đã trói các tín đồ Thiên chúa vào. Từ những nơi cao không bị cây cối che mất tầm nhìn có thể trông thấy những hàng cột và thân người được cài hoa, lá sim thơm và dây thường xuân, kéo dài mãi vào sâu, băng qua những gò đống và đồng bằng, xa mãi, đến nỗi những cây cột ở gần trông như những cột nhà, còn những cây cột ở xa trông chỉ như những chiếc thần trượng hay chiếc thương nhiều màu cắm xuống đất. Số lượng người vượt quá sự mong đợi của dân chúng. Có thể nghĩ rằng cả một dân tộc nào đó bị trói vào cọc để mua vui cho Roma và Hoàng đế. Đám đông dừng chân trước từng chiếc cọc nếu thích thú điều gì ở hình hài, tuổi tác hoặc giới tính của nạn nhân, ngắm những khuôn mặt, những vòng hoa, những tràng hoa dây quấn bằng cành thường xuân, rồi lại đi tiếp, tự đặt ra cho mình những câu hỏi đầy kinh ngạc: “Vậy ra lại có thể có tới ngần kia kẻ có tội?”, hoặc “Làm sao những đứa trẻ vừa mới chập chững biết đi lại có thể đốt cháy Roma được?”. Và nỗi ngạc nhiên ấy dần dần biến thành sự lo lắng.
Trong khi ấy đêm trùm xuống, và trên bầu trời loé sáng những vì sao đầu tiên. Bên cạnh mỗi tội nhân liền có một tên nô lệ đứng sẵn với ngọn đuốc rừng rực cháy trong tay, và khi tiếng kèn đồng vang lên tại nhiều nơi khác nhau của các khu vườn báo hiệu khai mạc cảnh diễn, chúng lập tức châm đuốc vào chân cọc.
Rơm rạ có tẩm sẵn nhựa được giấu dưới hoa bừng lên thành ngọn lửa sáng, mỗi lúc một bừng to lên, vặn theo những vòng dây thường xuân, nhô dần lên cao và liếm vào chân nạn nhân. Dân chúng nín bặt, những khu vườn chỉ còn vang rền tiếng kêu la và rên rỉ đau đớn. Tuy vậy, một số nạn nhân vẫn ngẩng đầu nhìn lên bầu trời sao cất tiếng hát ca ngợi Đức Chúa Crixtux. Dân chúng lắng nghe. Song ngay cả những trái tim sắt đá nhất cũng tràn ngập nỗi kinh hoàng khi từ những chiếc cọc thấp bé, những tiếng gọi xé lòng của lũ trẻ con vang lên: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!” và ngay cả những khán giả say rượu cũng phải rùng mình khi nhìn thấy những mái đầu và khuôn mặt trẻ thơ nhăn nhúm vì đau đớn hoặc ngất đi trong làn khói bắt đầu khiến các nạn nhân ngạt thở. Ngọn lửa cứ vươn lên, vươn lên cao mãi, mỗi lúc lại thiêu đốt thêm những vòng hoa hồng và dây thường xuân mới. Đại lộ chính và các đường nhánh cháy rực, những khóm cây và những nội cỏ sáng rực, những nhà trồng hoa cũng thế, loang loáng sáng nước trong các vườn ươm cây và các ao hồ, những chiếc lá trên các cây cối trong vườn đều hồng rực lên, tất cả sáng bừng như ban ngày. Hơi khét của da thịt người bị cháy tràn ngập cả khu vườn, nhưng cũng lúc này bọn nô lệ bắt đầu rắc nhựa thơm và nhựa lô hội và các bình xông hương được chuẩn bị sẵn từ trước đặt giữa các cọc. Trong đám người xem đây đó vang lên những tiếng kêu, không hiểu vì đồng cảm hay vì mãn nguyện và sung sướng, tiếng kêu mỗi lúc một cồn lên cùng với ngọn lửa đang bao trùm các cọc, leo lên đến ngực của các nạn nhân, phả hơi thở nóng bỏng làm xoăn tóc lên đầu họ, giăng một tấm màn lửa trên những khuôn mặt đỏ bừng bừng của họ, và cuối cùng vọt mãi lên cao dường như đến với sự chiến thắng của sức mạnh đã ra lệnh đốt nó lên.
Ngay từ đầu buổi diễn, Hoàng đế đã xuất hiện giữa đám dân chúng trên một cỗ xe đua, thắng bốn con ngựa nòi sắc trắng, mặc bộ quần áo đua xe với màu của phái Xanh Lục, phái mà cả Ngài cùng đám triều thần của Ngài đều là thành viên. Đi theo sau Ngài là những cỗ xe khác chở đầy triều thần, trong những bộ trang phục tuyệt vời, các nguyên lão, tăng ni và các nữ tế thần rượu trần truồng chỉ đội mỗi vòng hoa trên đầu và cầm bình rượu nho trong ấy, một phần đã ngà ngà say, hét lên những tiếng kêu man dã. Bên họ là các nhạc công, mặc giả thần đồng nội và dương thần, chơi đàn tranh, đàn forminga, thổi sáo và tù và. Trên những cỗ xe khác là các mệnh phụ và trinh nữ Roma, cũng say sưa và nửa trần truồng. Bên cạnh các cỗ xe, bọn nhào lộn rung tít những thần tượng buộc các tua rua, bọn khác nện trống, bọn nữa rải hoa. Cả một đám rước tuyệt mỹ vừa đi vừa gào lên: “Evoe!” trên con đường rộng nhất, giữa làn khói mù và những ngọn đuốc người. Hoàng đế, mang theo bên mình Tygelinux và lão Khilon, kẻ mà người muốn được vui cười với sự kinh hãi của hắn, tự mình dong ngựa đi diễu, khoan thai ngắm nhìn những thân người đang cháy, lắng nghe tiếng kêu la của dân chúng. Đứng trên cỗ xe bằng vàng ngất nghểu, giữa một làn sóng người vây quanh, làn sóng đang rạp xuống chân ngài, trong ánh lửa rừng rực, đội vòng lá vàng của người thắng cuộc đua, ngài cao vượt hẳn trên đầu đám quần thần và dân chúng, có vẻ như một vị khổng lồ. Những cánh tay ma quái của ngài đang vươn ra cầm cương ngựa tưởng như ngài đang ban phước cho dân chúng. Trên khuôn mặt và trong đôi mắt nheo lại của ngài ẩn chứa một nụ cười, ngài bừng sáng trên đám người như mặt trời hay như một vị thần kinh khủng nhưng tuyệt vời và hùng mạnh.
Chốc chốc, ngài dừng xe để ngắm kỹ hơn một trinh nữ nào đấy mà bụng đang bị cháy xèo xèo trong ngọn lửa, hoặc một khuôn mặt trẻ thơ nhăn nhúm trong cơn dãy chết, rồi ngài lại đi tiếp, kéo theo sau cả đoàn diễu hành điên loạn và náo động. Chốc chốc, ngài lại chào dân chúng, rồi lại ngả người ra phía sau, kéo căng những sợi dây cương vàng và trò chuyện với Tygelinux. Cuối cùng ngài tới một đài phun nước khổng lồ giữa hai đường phố giao nhau, ngài bước xuống xe, gật đầu với những người đồng hành rồi đi lẫn vào đám đông.
Người ta chào đón ngài bằng tiếng kêu và những tiếng vỗ tay. Các nữ tế thần rượu, các tiên nữ, nguyên lão, cận thần, tăng ni, thần đồng nội, dương thần và binh lính vây quanh ngài cùng với vòng người điên loạn, còn ngài, một bên là Tygelinux, bên kia là lão Khilon, ngài đi vòng quanh đài phun nước, nơi đang có hàng chục ngọn đuốc sống cháy rừng rực, dừng lại trước mỗi ngọn, nhận xét về từng nạn nhân hoặc chế giễu lão già Hi Lạp, kẻ mà nét mặt đang hiện rõ sự tuyệt vọng vô bờ bến.
Sau rốt, họ dừng chân trước một cây cột cao quấn dây thường xuân được vòng thành từng cuộn. Những lưỡi lửa đỏ rực đã vươn tới tận đầu gối nạn nhân, nhưng không sao nhìn thật rõ mặt, vì những cành cây tươi khi cháy toả khói mù mịt che đi mất. Lát sau, cơn gió đêm nhè nhẹ chợt xua tan khói, để lộ ra đầu một cụ già với bộ râu cằm bạc phơ chảy dài xuống ngực.
Nhìn thấy người ấy, đột nhiên lão Khilon gập người lại như một con bò sát bị trúng thương, miệng lão bật ra một tiếng kêu giống tiếng quàng quạc hơn là giống tiếng người:
- Glaukox! Glaukox!…
Quả thực, thầy thuốc Glaukox đang nhìn lão từ trên chiếc cột rừng rực cháy.
Ông cụ hãy còn sống. Mặt cụ đau đớn nghiêng xuống, dường như muốn nhìn một lần cuối cùng tên đao phủ đã từng phản bội, đã từng khiến cụ mất vợ, mất con, đã từng thuê người giết cụ, rồi khi nhân danh Chúa Crixtux tất cả những điều đó đã được bỏ qua, hắn lại một lần nữa nộp cụ vào tay bọn cầm quyền. Chưa bao giờ một con người lại gây cho con người khác những điều xúc phạm kinh khủng và đẫm máu hơn thế. Thế mà giờ đây nạn nhân đang bị thiêu sống trên một chiếc cột tẩm dầu, còn tên đao phủ lại đứng ngay dưới chân cột. Đôi mắt cụ Glaukox không rời khỏi mặt lão già Hi Lạp. Chốc chốc khói lại che mờ đôi mắt ấy, nhưng khi hơi gió xua khói đi, lão Khilon lại nhìn rõ đôi đồng tử đang dán chặt vào lão. Lão nhổm bật dậy định chạy trốn, nhưng không thể. Đột nhiên lão cảm thấy như hai chân lão bằng chì và có một bàn tay vô hình nào đó giữ chặt lão lại trước chiếc cột này bằng một sức mạnh siêu nhiên. Lão như hoá đá. Lão chỉ còn cảm thấy rằng trong người lão có gì đó đã đầy tràn, có gì đó gẫy vỡ, lão cảm thấy đã quá đủ những cực hình và máu, cảm thấy cái kết cục của cuộc đời đã đến và tất cả chung quanh đều biến mất: cả Hoàng đế, triều thần, cả những đám đông, vây bọc lão chỉ còn là một khoảng trống vô đáy, kinh khủng, đen ngòm, trong đó trông rõ đôi mắt kia của con người tử vì đạo, đôi mắt đòi lão ra trước toà án. Còn ông cụ mỗi lúc cúi thêm thấp đầu xuống và vẫn nhìn hoài nhìn mãi. Những người có mặt đoán rằng giữa hai con người này đang diễn ra một cái gì đó, song nụ cười chết lặng trên môi họ, bởi trên mặt lão Khilon có gì đó thật khủng khiếp: một nỗi hãi hùng cùng một nỗi đau đớn vô chừng khiến cho nó nhăn nhúm lại, dường như những lưỡi lửa kia đang thiêu đốt chính thân xác lão. Đột nhiên, lão loạng choạng vươn hai tay lên trời và kêu bằng một giọng kinh khủng xé lòng người:
- Ông Glaukox! Nhân danh Chúa Crixtux! Hãy tha thứ!…
Chung quanh vắng lặng. Cơn rùng mình chạy dọc thân những người có mặt và tất thẩy các đôi mắt bất giác đều ngẩng nhìn lên.
Mái đầu của con người tử vì đạo khẽ động đậy, rồi người ta nghe từ trên đỉnh cột một giọng nói giống như một tiếng rên:
- Ta tha thứ!…
Lão Khilon gục mặt xuống rú lên như một con thú, hai tay bốc đầy đất rắc lên đầu. Trong lúc ấy, những ngọn lửa đã vọt lên cao ôm lấy lồng ngực và khuôn mặt ông cụ Glaukox, làm sổ tung vòng lá sim thơm đội trên đầu cụ, và leo lên tận đỉnh cột, cây cột đang bừng bừng toả ra cả một vừng ánh sáng khổng lồ và rạng rỡ.
Lát sau lão Khilon nhổm dậy với nét mặt biến đổi đến nỗi đám cận thần tưởng như đang nhìn thấy một con người khác. Mắt lão sáng lên những ánh không bình thường, từ vừng trán nhăn nheo toả ra nỗi say mê: lão già Hi Lạp vô năng vừa nẫy giờ trông như một vị tăng lữ vừa trông thấy thần linh, đang muốn phát hiện ra những chân lý chưa từng biết.
- Hắn ta làm sao thế? Điên à? - vài giọng nói cất lên.
Còn lão quay lại phía đám đông giơ tay phải lên, bắt đầu kêu to, hay nói đúng hơn là thét lên vang động, để cho không chỉ đám cận thần mà cả những kẻ tiện dân cũng có thể nghe thấy:
- Hỡi dân chúng Roma! Tôi xin lấy cái chết ra thề rằng những người vô tội đang phải chết, còn kẻ đốt nhà chính là - tên kia!…
Lão chỉ thẳng ngón tay vào Nerô.
Im lặng bao trùm một hồi lâu. Đám triều thần lặng người. Lão Khilon vẫn đứng đó với cánh tay run rẩy vươn ra và ngón tay chỉ thẳng vào Hoàng đế. Đột nhiên náo động cả lên, như một làn sóng bị cơn gió lốc cuộn lên, dân chúng tràn tới gần lão già để nhìn lão được rõ hơn. Đây đó vang lên những tiếng kêu: “Giữ hắn lại!”, chỗ khác lại kêu: “Khổ cho chúng ta rồi!”. Trong đám đông vang lên tiếng huýt sáo và tiếng xôn xao: “Ahenobarbux! Thằng giết mẹ! Kẻ đốt nhà!”. Mỗi lúc càng thêm lộn xộn. Bọn nữ tế thần rượu hét toáng lên, chạy nấp vào các cỗ xe. Đột nhiên, mấy chiếc cột đã bị cháy rụi bị đổ sập xuống, làm bắn ra chung quanh những tàn lửa, càng khiến cho cảnh hỗn loạn tăng thêm. Làn sóng dân chúng mù loà, hỗn độn cuốn phăng cả lão Khilon và lôi lão vào sâu trong khu vườn.
Khắp nơi những chiếc cột bắt đầu cháy hết và đổ xuống ngang đường, khiến cho đường phố ngập tràn khói, những tia lửa đỏ, tàn tro và mùi mỡ người cháy. Những ánh sáng xa gần dần tắt. Trong vườn tối đen. Những đám đông hoang mang, lo sợ và sầu thảm chen nhau ra cổng. Tin tức từ việc xẩy ra truyền từ miệng người này sang miệng người khác, biến đổi đi và phóng đại lên. Người thì nói rằng Hoàng đế ngất xỉu đi, kẻ khác lại nói chính Hoàng đế tự thú nhận là đã ra lệnh đốt cháy thành Roma, người thứ ba bảo rằng Hoàng đế lâm bệnh nặng, còn những người khác thì nói ngài được chở đi như đã chết rồi trên một cỗ xe. Đây đó vang lên những giọng đồng cảm với người Thiên chúa: “Không phải họ đốt cháy Roma, vậy để làm gì ngần kia máu, cực hình và bất công. Liệu các vị thần có trả thù cho những người vô tội, và biết dùng những đồ tế hiến gì để lại cầu xin các thần lần nữa?”. Những tiếng “innoxia corpora” được lặp lại mỗi lúc một nhiều hơn. Đám phụ nữ thương xót những đứa trẻ đã bị người ta vứt nhiều đến ngần ấy cho thú dữ, bị đóng đinh lên thập tự hoặc bị thiêu trong những khu vườn đáng rủa nguyền kia. Rốt cuộc lòng thương xót biến thành lời nguyền rủa Hoàng đế và Tygelinux. Nhưng cũng có những người chợt dừng lại, tự đặt cho mình hoặc đặt cho người khác câu hỏi: “Các vị thần đã cho người ta ngần ấy sức lực để chịu đựng cực hình và cái chết kia là ai vậy?”. Và người ta quay về nhà trong suy tư.
Lão Khilon hãy còn lang thang mãi trong khu vườn, không biết đang đi tới đâu và sẽ quay trở về đâu. Giờ đây lão lại cảm thấy mình là một ông lão kiệt sức, thiểu năng và ốm yếu. Chốc chốc lão lại vấp phải những cái xác cháy dở, những đầu cây gỗ còn âm ỉ cháy toé hàng nghìn chùm tia lửa sau chân lão, chốc chốc lão lại ngồi xuống nhìn quanh bằng cái nhìn vô hồn. Khu vườn đã trở nên gần như hoàn toàn tối đen, chỉ còn có ánh trăng yếu ớt xao động giữa những hàng cây, toả ánh sáng mờ ảo xuống đường lối đi, những cây cột xám đen đổ vật ngang đường và những mẩu thây người chưa cháy hết đã bị biến mất hình thù. Nhưng lão già Hi Lạp lại cảm thấy như trong ánh trăng có khuôn mặt cụ Glaukox và đôi mắt cụ đang nhìn lão trừng trừng, lão ẩn mình tránh ánh sáng.. Tuy vậy cuối cùng lão cũng bước ra khỏi bóng tối và bất giác như bị xô đẩy bởi một sức mạnh nào đó không rõ, lão lại hướng về phía đài nước phun, nơi ông Glaukox đã trút linh hồn.
Chính vào lúc ấy, có một bàn tay chạm vào vai lão:
Lão già ngoảnh lại và nhìn thấy trước mặt mình một bóng người xa lạ, lão thảng thốt kêu lên:
- Ai đó? Ông là ai?
- Sứ đồ, Paven xứ Tarxu.
- Tôi là một kẻ đáng nguyền rủa!… Ông muốn gì nữa?
Đức Sứ đồ đáp:
- Tôi muốn giải tội cho ông.
Lão Khilon tựa vào một thân cây.
Chân lão run rẩy, hai tay buông dọc thân người.
- Đối với tôi, không thể có cách nào giải tội nữa! - lão nói bằng giọng khô khốc.
- Thế ông không nghe thấy rằng Chúa đã tha tội cho tên vô lại hối hận trên cây thánh giá hay sao? - ông Paven hỏi.
- Thế ông biết tôi đã làm những gì không?
- Tôi đã nhìn thấy nỗi đau đớn của ông và tôi đã nghe thấy ông đưa ra lời chứng cho sự thật.
- Ôi ngài!…
- Và một khi kẻ tôi tớ của Chúa Crixtux tha tội cho ông trong giờ cực hình và chết chóc, lẽ nào Chúa Crixtux lại chẳng thể tha thứ cho ông?
Lão Khilon lấy hai tay ôm ghì đầu như hoá dại:
- Tha thứ! Tha thứ cho tôi!…
- Đức Chúa của chúng tôi là Đức Chúa Nhân Từ. - Sứ đồ đáp.
- Ngay cả đối với tôi? - Lão Khilon hỏi lại.
Rồi lão rên lên như một người kiệt sức không thể chống nổi nỗi đau đớn và khổ sở. Ông Paven nói:
- Hãy tựa vào tôi và hãy đi cùng tôi.
Rồi ông đỡ lấy lão, đi cùng lão tới chỗ những đường phố giao nhau, hướng theo tiếng đài phun nước dường như đang than khóc trong sự tĩnh mịch của đêm trường trên những thi thể đã bị dày vò đến thế.
- Chúa chúng tôi là Chúa nhân từ, - Sứ đồ lặp lại. - Nếu ông đứng trên biển ném một hòn đá xuống nước, làm sao có thể ném chạm chốn thẳm sâu của biển. Tôi xin nói cùng ông rằng sự nhân từ của Chúa Crixtux cũng giống như biển cả, còn tội lỗi của con người chìm trong đó như đá chìm trong lòng biển thẳm sâu. Tôi xin nói với ông, Chúa như vòm trời trùm khắp núi đồi, đất liền và biển cả, vì Người ở khắp nơi, không có giới hạn, không có chỗ tận cùng. Ông đã đau khổ bên cột hành hình cụ Glaukox và Chúa Crixtux thấy nỗi đau của ông. Ông đã nói mà không cần biết những chuyện gì sẽ xảy đến với ông ngày mai: “Đây là kẻ đốt nhà!” và Chúa Crixtux nhớ những lời ông nói. Bởi vì đã qua rồi sự dữ và điều dối trá của ông, trong tim ông chỉ còn một nỗi tiếc nuối vô biên. Ông hãy đi cùng tôi và hãy nghe những điều tôi nói: chính tôi cũng đã từng căm ghét Người và tróc nã những kẻ được Người lựa chọn. Tôi cũng đã từng không muốn tin vào Người cho đến khi Người hiển hiện và vẫy gọi tôi. Từ đó Người là tình yêu của tôi. Giờ Người mang tới cho ông nỗi ưu tư, lo hãi và đau đớn để gọi ông đến cùng Người. Ông đã từng căm thù Người, nhưng Người lại yêu mến ông. Ông đã bán tín đồ của Người, khiến họ phải chịu cực hình, nhưng Người vẫn muốn tha thứ và cứu rỗi cho ông.
Lồng ngực của lão già bắt đầu rung lên nức nở, trong lòng lão, linh hồn bị động chạm đến tận chốn thắm sâu; ông Paven đỡ lấy lão, khiến lão bình tĩnh lại và dìu lão đi như người lính dắt một tù nhân.
Lát sau, ông lại nói tiếp:
- Hãy đi cùng tôi, tôi sẽ đưa ông tới cùng Người. Có lí do gì khác nữa chăng mang tôi đến với ông? Nhưng Người đã bảo tôi phải cứu vớt linh hồn con người nhân danh tình yêu, nên tôi phải thực hiện việc phụng sự Người. Ông nghĩ rằng ông là kẻ đáng bị nguyền rủa, nhưng tôi xin nói cùng ông: xin hãy tin nơi Người, sự cứu rỗi đang chờ ông đấy. Ông nghĩ rằng ông bị người đời căm thù, nhưng tôi xin nhắc lại cùng ông rằng Người yêu thương ông. Hãy nhìn tôi đây! Giá không có Người, tôi sẽ chẳng có gì hết trừ sự dữ ở trong tim, nhưng giờ đây, tình yêu của Người đủ thay thế cho tôi cả cha cùng mẹ, cả sự giàu sang cùng quyền vương bá. Chỉ duy nhất ở Người có đường thoát, chỉ mình người tính đến từng nỗi tiếc thương của ông, nhìn thấy sự cùng khổ của ông, cởi bỏ cho ông nỗi hãi hùng và nâng ông tới cùng Người.
Vừa nói thế ông vừa dìu lão tới đài phun nước, mà ngay từ xa những dòng nước bạc đã lóng lánh trong ánh trăng. Chung quanh tĩnh mịch và vắng vẻ vì bọn nô lệ phục dịch đã dọn xong những cột hoá thành than cùng thi thể những người tử vì đạo nơi đây.
Lão Khilon rên lên, quỳ sụp xuống, úp hai tay vào mặt và cứ quỳ bất động như thế, còn ông Paven ngước mặt lên các vì tinh tú bắt đầu cầu nguyện.
- Hỡi Chúa, hãy nhìn con người khốn khổ này, hãy trông nỗi hối hận, những giọt lệ và nỗi đớn đau của ông ta. Hỡi Chúa Nhân, Người đã đổ máu vì những tội lỗi của chúng tôi, bằng những nỗi cực hình của Người, bằng cái chết và phục sinh, xin hãy tha thứ cho ông ta!
Rồi ông im lặng, nhưng vẫn tiếp tục nhìn lên những vì sao và cầu nguyện hồi lâu.
Đột nhiên, dưới chân ông bật lên những tiếng kêu nghe như tiếng rên rỉ:
- Hỡi Chúa Crixtux!… Lạy Chúa Crixtux!… Hãy tha tội cho tôi!…
Lúc ấy, ông Paven tiến đến đài nước phun, vốc nước vào lòng bàn tay, rồi quay lại con người khốn khổ đang quỳ gối.
- Hỡi Khilon! Tôi rửa tội cho ông nhân danh Cha và Con và Thánh thần! Amen!
Lão Khilon ngẩng đầu, giang hai tay và bất động. Mặt trăng chiếu ánh sáng vằng vặc xuống những sợi tóc bạc trắng cùng khuôn mặt cũng màu trắng, bất động, dường như chết rồi hoặc tạc bằng đá của lão. Thời gian trôi đi, trong những chuồng chim khổng lồ ở trong vườn Đomixia bắt đầu vẳng tới tiếng gáy của lũ gà sống, lão vẫn cứ quỳ, giống như một pho tượng bên mồ.
Cuối cùng, lão mở mắt, đứng dậy, quay sang phía Sứ đồ và hỏi:
- Tôi phải làm gì trước khi chết, thưa cha?
Paven cũng vừa sực tỉnh khỏi cơn suy tư về cái thế lực vô biên có thể đè bẹp cả những linh hồn như linh hồn của lão già Hi Lạp kia, ông đáp:
- Ông hãy tin và hãy làm chứng cho sự thật!
Rồi họ cùng bước ra. Ở cổng vườn, Sứ đồ ban phước cho lão già lần nữa và họ chia tay, vì chính lão Khilon yêu cầu như thế khi lão thấy trước rằng, sau chuyện vừa xẩy ra, Hoàng đế và Tygelinux sẽ ra lệnh tróc nã lão.
Quả thực, lão đã không lầm. Quay về nhà, lão thấy ngôi nhà đã bị bọn lính cấm vệ vây kín, chúng bắt lão ngay, và dưới sự chỉ huy của Xevinux, chúng đưa lão vào cung điện Palatyn.
Hoàng đế đã đi nghỉ, nhưng Tygelinux vẫn chờ, khi trông thấy lão già Hi Lạp bất hạnh, hắn chào lão với vẻ mặt bình tĩnh nhưng dữ tợn…
- Ngươi đã mắc trọng tội phạm thượng, - hắn nói với lão, - ngươi sẽ không thể thoát khỏi bị trừng phạt. Nhưng nếu ngày mai, tại nhà hát, ngươi tuyên bố rằng ngươi đã say và đã điên, còn những thủ phạm của trận hoả tai chính là bọn tín đồ Thiên chúa thì hình phạt đối với ngươi sẽ chỉ là đánh đòn và đi đày mà thôi.
- Tôi không thể, thưa ngài! - lão Khilon khẽ trả lời.
Tygelinux tiến lại gần lão với những bước chân chậm rãi, và bằng giọng nói cũng khẽ khàng, nhưng đáng sợ, hắn hỏi:
- Sao ngươi không thể, hả đồ chó Hi Lạp kia? Lẽ nào ngươi không say và không hiểu nổi cái gì đang chờ ngươi hay sao? Nhìn kia kìa!
Nói đoạn hắn trỏ tay vào góc gian chính sảnh, nơi đó, bên cạnh một chiếc ghế dài bằng gỗ, có bốn tên nô lệ người Trak đang đứng im lìm trong bóng tối, với dây thừng và kìm sắt trong tay.
Lão Khilon vẫn đáp:
- Tôi không thể, thưa ngài!
Tygelinux bắt đầu nổi khùng nhưng vẫn cố nén:
- Ngươi đã thấy bọn Thiên chúa phải chết như thế nào chưa? - hắn hỏi, - Ngươi cũng muốn chết thế chăng?
Lão già ngẩng khuôn mặt nhợt nhạt lên, môi lão động đậy hồi lâu, rồi lão đáp:
- Tôi cũng tin vào Đức Chúa Crixtux!…
Tygelinux nhìn lão kinh hoàng:
- Đồ chó, mày điên thật rồi!
Và đột nhiên, cơn tức tối dồn nén trong ngực hắn phá tung đập chắn. Hắn nhẩy xổ đến bên lão Khilon, dùng hai tay túm chặt bộ râu cằm của lão, giật lão ngã lăn ra đất, rồi bắt đầu đạp túi bụi, vừa đạp mồm vừa sùi bọt lắp đi lắp lại:
- Mày sẽ phải cải chính! Mày sẽ phải cải chính!
- Tôi không thể! - lão Khilon đáp lại từ mặt đất
- Tra tấn nó đi!
Nghe lệnh, bọn người Trak tóm lấy lão già, đặt nằm lên ghế, rồi sau khi dùng dây trói chặt lão vào ghế, chúng bắt đầu dùng kìm kẹp nghiến những cẳng chân gầy guộc của lão. Nhưng khi chúng trói lão, lão nhẫn nhục hôn tay chúng, rồi sau đó lão nhắm nghiền mắt lại, trông như đã chết.
Tuy thế lão vẫn còn sống, vì khi Tygelinux cúi xuống lão một lần nữa và hỏi: “Mày sẽ cải chính chứ?”, đôi môi khẽ nhợt nhạt của lão khẽ động đậy và từ đó thoát ra một lời thì thào chỉ vừa đủ nghe thấy:
- Tôi không… thể!…
Tygelinux sai dừng nhục hình và đi đi lại lại lồng lộn trong chính sảnh với nét mặt biến đổi hẳn đi vì tức giận và bất lực. Cuối cùng, hẳn là hắn nghĩ ra được một ý mới nào đó, hắn quay lại phía bọn người Trak ra lệnh:
- Rứt đứt lưỡi nó đi!
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 63
Thường thường khi diễn vở bi kịch Aurelux trong nhà hát hay nhà hát vòng, người ta thường bố trí sao cho có thể mở ra và tạo nên hai cảnh riêng biệt. Nhưng sau buổi biểu diễn trong khu vườn của Hoàng đế, người ta chán cách thông thường ấy, bởi người ta chỉ muốn sao cho nhiều người nhất có thể được tận mắt trông thấy cái chết của tên nô lệ bị đóng đinh lên thập tự, mà trong kịch sẽ bị gấu xé xác. Trong các nhà hát, vai gấu thường do diễn viên khoác bộ da gấu đóng, nhưng lần diễn này sẽ là gấu thực. Đó chính là ý mới của Tygelinux. Thoạt tiên, Hoàng đế bảo trước là Ngài sẽ không tới dự, nhưng do sự vật nài của kẻ đang được sủng ái, ngài lại thay đổi ý định. Tygelinux giải thích cho ngài, rằng sau chuyện xảy ra trong vườn, ngài lại càng cần phải xuất hiện trước chúng dân, đồng thời hắn cũng cấm đoán rằng tên nô lệ bị đóng đinh câu rút sẽ không thể nhục mạ Hoàng đế như ông Kryxpux đã làm. Dân chúng đã phần nào bão hoà và mệt mỏi với việc đổ máu, người ta bèn báo trước rằng sẽ phát một đợt vé xổ số mới và tặng quà, đồng thời sẽ có tiệc đêm vì buổi diễn sẽ được tổ chức vào buổi tối, trong nhà hát được chiếu sáng với dày đặc đèn nến.
Quả thực ngay lúc sẩm tối toàn bộ toà nhà đã đầy nghẹt người. Tất cả các cận thần, đứng đầu là Tygelinux, đều có mặt đông đủ, không phải để xem diễn, mà chủ yếu là để bày tỏ cùng Hoàng đế lòng trung thành của mình sau chuyện vừa xẩy ra, và để trò chuyện với nhau về lão Khilon, người mà toàn thành Roma đang nói đến.
Người ta thì thầm vào tai nhau rằng sau khi ở vườn về, Hoàng đế giận điên lên, ngài không sao chợp mắt nổi, ngài bị những cơn hãi hùng và những giấc mơ kinh dị, cho nên ngay ngày hôm sau, ngài liền tuyên bố sắp lên đường đi Akhai. Mặc dù những người khác bác lại, khẳng định rằng giờ đây ngài sẽ lại càng nghiệt ngã hơn nữa đối với dân Thiên chúa giáo. Cũng không thiếu những kẻ hèn nhát thấy trước rằng lời buộc tội mà lão Khilon đã ném vào mặt Hoàng đế trước đám đông có thể sẽ dẫn đến những hậu quả tồi tệ nhất. Rốt cuộc, cũng có những người yêu cầu Tygelinux chấm dứt những cuộc khủng bố, xuất phát từ lòng nhân đạo.
- Các ngài hãy xem các ngài đang đi tới đâu. - Barkux Xoranux nói. - Các ngài muốn làm dân chúng thoả nỗi hận thù và khiến họ tin rằng hình phạt đã giáng xuống những kẻ có tội, vậy mà kết quả hoàn toàn ngược lại.
- Đúng thế! - Antyxlius Verux thêm, - hiện nay tất cả mọi người đều xì xào rằng bọn họ là những người vô tội. Nếu như đó mà lại là sự khéo léo thì lão Khilon quả đã có lý khi nói rằng bộ óc của các ngài không đựng đầy nổi một chiếc đĩa tí xíu.
Tygelinux quay về phía họ và nói:
- Người ta cũng còn thì thầm với nhau rằng, cô con gái Xervilia của ông, hỡi Barkux Xoranux, và bà vợ của ông, hỡi Antyxlius, đã che giấu bọn nô lệ Thiên chúa của mình trước công lý của Hoàng thượng.
- Đó là điều xằng bậy! - Barkux lo lắng kêu lên.
- Chính các mụ li dị chồng của các người muốn giết hại vợ tôi vì ghen tức với phẩm hạnh của nàng! - Antyxlius Verux nói với vẻ không kém phần lo lắng.
Còn những người khác lại trò chuyện về lão Khilon.
- Lão làm sao thế nhỉ? - Epriux Marxenlux nói. - Chính lão đã nộp họ vào tay Tygelinux, từ một kẻ khốn cùng lão đã trở nên giàu có, lão có thể yên ổn sống nốt những ngày còn lại của mình, có được một đám ma tuyệt vời và một nấm mồ xinh xắn, vậy mà không! Lão lại muốn mất sạch sành sanh trong chớp mắt và cả mạng nữa. Quả thực, chắc lão điên!
- Lão không điên mà đã trở thành một tín đồ Thiên chúa! - Tygelinux bảo.
- Lẽ nào lại thế được! - Vitelius cất tiếng.
- Tôi đã bảo từ trước mà! - Vextynux xen vào - Các vị cứ giết hết bọn tín đồ Thiên chúa đi, nhưng xin hãy tin tôi, chớ có đánh nhau với vị thần của bọn họ. Chuyện này không đùa được!… Các vị hãy nhìn xem đang diễn ra những gì nào! Tôi không đốt cháy Roma, nhưng nếu như Hoàng thượng cho phép, tôi sẽ dâng đồ tế hiến sống cho vị thần của bọn họ. Và tất cả mọi người lẽ ra đều phải làm như vậy mới phải, bởi vì tôi xin nhắc lại: không thể đùa với ông ta được đâu! Xin các vị nhớ cho là tôi đã báo trước cho các vị như thế!
- Còn tôi lại nói khác. - ông Petronius nói - Tygelinux cười khi tôi bảo rằng họ đang chống cự, còn giờ đây tôi sẽ nói thêm: bọn họ đang chiếm lĩnh nữa kia!
- Sao thế? Sao thế? - vài giọng hỏi lại
- Thề có Ponlukx!… Bởi nếu như ngay cả lão Khilon còn không cưỡng nổi họ, thì ai có thể cưỡng lại nổi? Nếu như các ngài nghĩ rằng sau mỗi một buổi diễn lại không có thêm những tín đồ Thiên chúa mới, thì với toàn bộ sự am hiểu Roma của mình, các ngài sẽ trở thành gã thợ nồi hoặc các ngài bắt đầu đi cạo râu cằm đi là vừa, vì khi ấy các ngài sẽ thấy rõ hơn dân chúng đang nghĩ gì, và trong thành phố đang có gì diễn ra.
- Ông ta nói đúng quá, thề có chiếc áo peplum của nữ thần Điana - Vextynux kêu lên.
Nhưng Barkux quay sang ông Petronius:
- Ông muốn đưa đến đâu?
- Tôi muốn kết thúc ở chỗ mà các ngài bắt đầu: quá đủ máu rồi.
Tygelinux nhìn ông châm chọc và nói:
- Ê! Thêm chút xíu nữa thôi!
- Nếu như ông thiếu cái đầu, thì hẵng còn cái thứ hai ở chót gậy ấy! - ông Petronius đáp.
Cuộc trò chuyện cắt ngang vì Hoàng đế đến, ngài ngồi vào chỗ của mình, có Pitagorax tuỳ tòng. Ngay sau đó, người ta bắt đầu diễn vở Aureolux, mà người ta thực cũng không để ý xem lắm vì còn mải nghĩ tới lão Khilon. Dân chúng, đã quá quen với cực hình và máu, cũng chán ngán, họ xuỵt, họ phát ra những tiếng kêu không tán thưởng đối với triều thần và đòi mau tới cảnh diễn có gấu, cảnh hấp dẫn nhất. Nếu không có hi vọng được nhìn lão già bị trị tội và không có quà tặng, thì chỉ độc cảnh diễn thôi không thể giữ nổi đám đông.
Cuối cùng, giây phút chờ đợi đã tới. Trước hết các tiểu đồng phục dịch nhà hát khiêng ra một cây thập tự bằng gỗ, khá thấp, để gấu có thể chồm đến ngực kẻ chịu xử tội, tiếp đến, hai người nữa dẫn- mà đúng hơn là kéo - lão Khilon ra, vì xương chân gẫy nát nên lão không thể tự đi được. Người ta đặt lão và đóng lên gỗ nhanh đến nỗi những vị cận thần tò mò không kịp nhìn cho thật rõ, mà mãi tới khi cây thập ác được cố định và cái hố đã chuẩn bị sẵn, mọi cặp mắt đều dồn vào lão. Nhưng hiếm ai có thể nhận ra lão Khilon ngày trước ở ông cụ già trần truồng này. Sau những cực hình mà Tygelinux ra lệnh tra tấn lão, trên mặt lão không còn lấy một giọt máu, và chỉ trong bộ râu cằm trắng bạc mới thấy có vết đỏ của máu đọng lại khi lão bị dứt đứt lưỡi. Qua làn da trong suốt gần như có thể nhìn thấy rõ từng chiếc xương của lão. Lão có vẻ già hơn trước rất nhiều, gần như lụ khụ. Ngược lại, trước kia mắt lão bao giờ cũng ném ra những cái nhìn vĩnh hằng, bất an và đầy dữ dội, bộ mặt nhạy cảm của lão hồi trước bao giờ cũng phảng phất vẻ lo lắng và phấp phỏng triền miên, giờ đây, mặt lão lộ vẻ đau đớn, nhưng lại ngọt ngào và bình thản, như mặt những người đang ngủ say hay đã chết. Có thể trí nhớ về tên vô lại trên thập tự được Chúa Crixtux xá tội đã cấp thêm cho lão lòng tin, cũng có thể lão nói thầm với vị Chúa nhân từ rằng: “Chúa ơi, tôi đã từng đốt Người như một con sâu độc, nhưng suốt cả cuộc đời tôi là một kẻ bần hàn, đói khát; người ta chà đạp tôi, đánh tôi và áp bức tôi. Chúa ơi, tôi là kẻ nghèo hèn và vô cùng bất hạnh, giờ đây họ đang bắt tôi phải chịu cực hình và đóng đinh tôi lên cây thập tự, vậy xin Người hỡi Chúa Nhân Từ, chớ đạp bỏ tôi trong giờ chết”. Và hẳn là sự bình an đã thâm nhập vào trái tim nhỏ nhoi của lão. Không ai cười, vì trong con người bị đóng đinh câu rút này có gì đó thật khẽ khàng, lão già yếu, không chút sức tự vệ, như cầu xin lòng thương hại bằng sự nhẫn nhục của mình, đến nỗi bất giác mỗi người đều tự hỏi, lẽ nào có thể hành hạ và đóng đinh câu rút những kẻ không cần việc ấy cũng chết đến nơi rồi? Đám đông câm lặng. Giữa đám cận thần, Vertynux nghiêng người sang trái sang phải, thì thào bằng giọng kinh hoàng: “Các vị hãy nhìn xem họ chết ra sao kia kìa!”. Những kẻ khác chờ con gấu xuất hiện, lòng chỉ cầu mong cho buổi diễn kết thúc thật nhanh.
Rốt cuộc, con gấu cũng nặng nề bò ra đài diễn, lắc lư về hai bên cái đầu cúi thấp, nó hé mắt nhìn chung quanh, dường như đang suy nghĩ hay tìm kiếm điều gì. Cuối cùng nó nhìn thấy cây thập tự, trên đó là một thân hình trần truồng, nó bèn tiến lại gần, nhổm dậy, nhưng rồi sau đó lại thả hai chân trước xuống đất và ngồi ngay dưới chân cây thập tự bắt đầu gầm gừ, dường như tình thương hại cũng lên tiếng ngay trong trái tim thú dữ của nó trước mảnh thân người này.
Những tiếng kêu khích lệ vang ra từ miệng bọn phục dịch nhà hát, nhưng dân chúng vẫn câm lặng. Trong khi đó lão Khilon chậm chạp ngước đầu, và một hồi lâu, lão lướt mắt nhìn qua những người xem. Cuối cùng, cái nhìn của lão dừng lại ở đâu đó trên những dẫy ghế cao nhất của nhà hát, ngực lão bắt đầu phập phồng gấp gáp hơn, và lúc ấy chợt xảy ra cái điều khiến người xem thán phục và kinh ngạc. Đó là khuôn mặt của lão chợt rạng rỡ một nụ cười, vầng trán lão như có ánh hào quang bao phủ, trước lúc chết, mắt lão ngước lên nhìn trời, và lát sau hai giọt nước mắt to tướng, tràn ra dưới mi, chậm chạp lăn trên mặt lão.
Rồi lão qua đời.
Và khi ấy một giọng đàn ông dõng dạc kêu lên ở phía trên cao, dưới tấm che trần:
- Bằng an cho những người tử vì đạo!
Một sự im lặng nặng nề trùm lên cả nhà hát.
CHƯƠNG 64
Sau cảnh diễn trong khu vườn thượng uyển của hoàng đế, những nhà ngục rỗng đi trông thấy. Thực ra người ta cũng bắt thêm và cầm tù được những nạn nhân mới bị nghi ngờ là tin theo cái giáo phái phương đông, nhưng những cuộc truy quét cung cấp họ cho nhà tù mỗi lúc một ít hơn, chỉ vừa đủ để dùng cho những biểu diễn tiếp theo, thực ra cũng đã tới hồi mãn cuộc. Đã no máu người, dân chúng càng ngày càng thể hiện sự chán ngán và mỗi lúc một thêm lo lắng vì các xử sự chưa từng gặp của những người bị xử tử. Những nỗi lo sợ của anh chàng Vettynux mê tín chế ngự hàng nghìn tâm hồn. Trong đám dân chúng, người ta kháo nhau những chuyện mỗi lúc một kỳ dị hơn về tính thù hằn của vị thần Thiên Chúa. Bệnh sốt thương hàn của nhà ngục lan tràn trong thành phố lại càng khiến cho nỗi lo sợ chung tăng thêm. Người ta thường gặp những đám ma và thì thầm vào tai nhau rằng cần có những lễ vật giải hạn mới để cầu khẩn vị linh thần chưa tường nọ. Trong các thần miếu, người ta dâng lễ vật lên thần Jupiter và nữ thần Libityna. Cuối cùng, mặc mọi cố gắng của Tygelinux và đồng đảng, nhưng ngày càng lan rộng ý kiến cho rằng thành phố bị đốt cháy theo lệnh của chính hoàng đế, còn những tín đồ Thiên Chúa phải chịu oan.
Song cũng chính vì vậy cả Nerô lẫn Tygelinux đều không ngừng những cuộc khủng bố. Để làm thỏa mãn dân chúng, người ta ban bố thêm những quy định mới về việc ban phát lương thực, rượu nho và dầu ôliu, người ta công bố những quy chế để dễ dàng hơn cho việc tái thiết nhà cửa, đầy những điều khoản giảm nhẹ cho chủ nhà, cùng những quy chế khác liên quan tới độ rộng của đường phố và những loại vật liệu cần dùng trong xây cất, để trong tương lai tránh được hỏa tai. Chính hoàng đế cũng thường tới dự những cuộc họp bàn của viện nguyên lão cùng các bậc "cha ông" thảo luận về quyền lợi của chúng dân và thành phố, ngược lại đối với những tội nhân, ngài không ban cho một chút ân phước nào. Vị chúa tể thế giới lo lắng trước hết đến việc cấy sâu vào đầu dân chúng niềm tin rằng chỉ có những kẻ thật sự có tội mới đáng chịu những sự trừng phạt không khoan nhượng như thế. Tại viện nguyên lão không hề có tiếng nói nào cất lên ủng hộ tín đồ Thiên Chúa, vì không một ai muốn chạm đến hoàng đế, thêm vào đó, những người có tầm nhìn xa hơn về tương lai khẳng định rằng, trước cái tín ngưỡng mới kia, những nền tảng của quốc gia La Mã không thể tồn tại.
Người ta chỉ trả lại cho gia đình những kẻ đang hấp hối cùng những người đã chết, vì luật La Mã không trả thù những người chết. Đối với Vinixius cũng là điều nhẹ nhõm khi chàng nghĩ rằng, một khi Ligia qua đời, chàng sẽ chôn nàng vào mộ của gia đình và rồi sẽ được an nghỉ cạnh nàng. Chàng không còn một chút hy vọng nào có thể cứu nàng thoát chết, bản thân chàng, đã tách rời khỏi cuộc đời phân nửa, cũng chỉ hoàn toàn dâng cho Chúa Crixtux, không mơ ước tới một mối liên hệ nào khác ngoài liên hệ vĩnh hằng. Lòng tin của chàng trở nên sâu thẳm, đến nỗi trước lòng tin ấy, chàng thấy sự vĩnh hằng kia là một cái gì còn thực tế và chân chính hơn kiếp tồn tại tạm thời mà chàng vẫn sống cho tới nay. Trái tim chàng tràn ngập một niềm say mê rất tập trung. Chàng biến thành một sinh linh gần như không có thân xác, sinh linh ấy chỉ khao khát sự giải thoát hoàn toàn cho bản thân mình và cho linh hồn thương yêu thứ hai nữa mà thôi. Chàng hình dung thấy khi ấy, cùng với Ligia, chàng sẽ tay nắm tay bay lên trời, nơi Chúa Crixtux sẽ ban phước cho cả hai và cho họ được sống trong một thế giới bình yên và rộng lớn như ánh sáng mặt trời. Chàng chỉ cầu xin Chúa Crixtux để Người tránh cho Ligia khỏi phải chịu nhục hình trong hý trường, vì chàng cảm thấy hoàn toàn chắc chắn rằng chính chàng sẽ cùng chết với nàng. Chàng nghĩ rằng, trước cái biển máu đã đổ ra kia, chàng không có quyền chờ đợi rằng một mình nàng sẽ được cứu sống. Chàng nghe ông Piotr và Paven nói rằng ngay cả họ nữa cũng sẽ phải chết như những người tử vì đạo. Hình ảnh lão Khilon trên cây thập tự khiến chàng tin rằng, cái chết, ngay cả cái chết khổ hình, cũng có thể ngọt ngào, chàng thầm mong nó đến cho cả hai, như một sự biến đổi đang khát khao từ kiếp sống dữ dằn, buồn thảm và nặng nề sang một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Thỉnh thoảng, chàng đã nếm mùi vị cuộc sống của thế giới bên kia. Nỗi buồn dâng lên từ hai linh hồn của chàng và nàng mất dần vị đắng cay bỏng rát xưa kia và biến dần thành một sự tân hiến bình an ngoại giới nào đó cho ý chí của Chúa. Trước kia, Vinixius vất vả bơi ngược dòng, chàng phải chống cự và mệt mỏi, giờ đây chàng thả người xuôi theo sóng, tin rằng nó ẽ mang chàng tới chốn yên tĩnh vĩnh hằng. Chàng đoán rằng, cũng như chàng, Liogia sửa doạn để được chết, rằng mặc dù những bức tường nàh tù ngăn cách họ, nhưng họ sẽ được cùng đi và chàng mỉm cười với ý nghĩ này như với chính niềm hạnh phúc.
Quả thực, họ cùng bước nhịp nhàng, dường như hàng ngày họ được cùng nhau chia xẻ những ý nghĩ của nhau rất lâu vậy. Ở Ligia cũng không còn một khát vọng nào, một hy vọng nào, ngoài niềm hy vọng về cuộc đời ở thế giới bên kia. Đối với nàng, cái chết không những chỉ là sự giải thoát khỏi những bức tường nhà giam khủng khiếp, khỏi tay hoàng đế và Tygelinux, không những chỉ là sự cứu rỗi, mà còn là lúc được cưới Vinixius. Đứng trước sự tin chắc rằng không hề lay chuyển này, tất thẩy những niềm tin khác mất hết sức nạng. Sau cái chết với nàng sẽ bắt đầu niềm hạnh phúc nhuốm màu trần thế nữa, vì vậy nàng chờ cái chết như vị hôn thê đón chờ phút hôn lễ.
Và dòng tin tưởng vô biên này, dòng nước cuộn tách khỏi cuộc đời mang sang thế giới bên kia hàng nghìn tín đồ đầu tiên, cũng cuốn theo các bác Urxux nữa. Ngay cả bác, suốt một thời gian dài, cũng không lòng nào đồng ý với cái chết của Ligia, song một kho hàng ngày qua những bức tường nhà tù lọt vào tin tức về những gì diễn ra ở các nhà hát và các khu vườn, nơi cái chết trở thành một nỗi khổ hình chung không sao tránh khỏi của tất cả những người Thiên Chúa, đồng thời lại là điều tốt đẹp của họ, cao hơn tất thẩy những khái niệm trần thế về hạnh phúc, thì rốt cuộc bác cũng không dám nguyện cầu Đức Chúa Crixtux để Người lấy đi của Ligia niềm hạnh phúc kia, hoặc hoãn nó lại cho nàng sau những tháng năm dài dằng dặc. Trong tâm linh chất phác hoang dã của mình, bác còn nghĩ rằng lẽ ra vị công chúa con thủ lĩnh của những người Ligi cần được hưởng nhiều hơn và sẽ được nhận nhiều những niềm lạc thú thiên giới kia, hơn cả đám tiện dân như bác, rằng trong niềm vinh quang cực lạc, nàng sẽ được ngồi gần con chiên hơn những kẻ khác. Quả tình bác cũng từng nghe rằng những kẻ khác. Quả tình bác cũng từng được nghe rằng, đứng trước Chúa mọi người đều thấy bình đẳng, nhưng trong tận đáy sâu tâm hồn vẫn còn ầm ĩ niềm tin tưởng rằng công chúa con thủ lĩnh, lại là vị thủ lĩnh của tất thẩy những người dân Ligi, thì không thể giống như một nữ nô lệ bất kỳ được. Bác cũng chờ mong Đức Chúa Crixtux sẽ để cho bác được tiếp tục hầu hạ nàng. Còn đối với bản thân, bác chỉ có một niềm khát khao được giấu kín, là làm sao bác sẽ có thể được chết như con chiên, trên cây thánh giá. Nhưng bác thấy hình như đó là một hạnh phúc lơn lao quá đỗi, nên mặc dù biết rằng ở Roma người ta đã từng đóng đinh câu rut ngay cả những tên tội phạm tồi tệ nhất, bác vẫn không dám cầu nguyện xin được chết như thế. Bác nghĩ rằng chắc chắn người ta sẽ bắt bác phải chết dưới nanh thú dữ và điều đó trở thành nỗi lo lắng nội tâm của bác. Ngay từ nhỏ, bác đã sống trong những khu rừng hoang rậm rịt bạt ngàn, trong những cuộc đi săn thú triền miên và nhờ có sức khỏe hơn người, bác đã nổi tiếng trong những người Ligi từ khi chưa thành người lớn. Săn thú đã trở thành công việc ý thích của bác, đến nỗi sau này, ở Roma khi phải từ bỏ nó, nhưng bác vẫn thường lui tới các chuồng thú và nhà hát để được nhìn những con thú quen hoặc không quen. Hình ảnh của chúng làm dậy lên trong lòng bác ý muốn chiến đầu và giết chết chúng, nên giờ đây bác lo lắng trong dạ, rằng một khi phải đương đầu với chúng trong nhà hát, bác sẽ sa vào những ý nghĩ ít xứng đáng với tín đồ Thiên Chúa giáo. Người lẽ ra phải chịu chết sùng kín và nhẫn nại. Nhưng ngay cả trong việc ấy, bác cũng gửi gắm vào Chúa Crixtux và sự an ủi bằng những ý nghĩ khác ngọt ngào hơn. Bác nghe nói rằng con chiên đã tuyên chiến chống lại những lực lượng địa ngục và loài quỷ dữ, mà tín ngưỡng Thiên Chúa tính gộp vào đó tất cả những vị thần linh ngoại đạo, bác nghĩ rằng, trong cuộc chiến tranh kia, bác sẽ là người trợ thủ đắc lực đang kể cho con chiên, bác sẽ biết cách phụng sự Người giỏi hơn những kẻ khác, vì bác không sao có thể thừa nhận rằng linh hồn bác sẽ không mạnh hơn linh hồn của những kẻ tử vì đạo khác. Vả chăng bác cầu nguyện suốt những ngày dài, phục vụ các bạn tù, giúp đỡ bọn canh ngục và an ủi công chúa của mình những khi nàng than tiếc rằng trong cuộc đời quá ngắn ngủi này nàng chưa thể thực hiện được nhiều công tích như nàng Thabita lừng danh đã từng thực hiện, người mà hồi trước ông Piotr từng kể cho nàng nghe. Ngay cả trong ngục tối, bọn canh ngục cũng kinh sợ sức lực khủng khiếp của người khổng lồ này, vì trước cái sức lực nhường kia, không có song sắt nào đủ vững, song rốt cuộc chúng lại yêu mến bác vì tính tình đôn hậu của bác. Nhiều lần, ngạc nhiên vì sự ôn hòa của bác, chúng hỏi bác nguyên nhân vì sao, bác bèn trả lời chúng với một niềm tin chắc không lay chuyển về cuộc sống đang chờ đợi bác sau khi chết, khiến chúng kinh ngạc lắng nghe, bởi lần đầu tiên chúng thấy được hạnh phúc có thể xuyên thấy vào hầm ngầm, nơi ngay cả ánh mặt trời cũng không lọt tới nơi. Và khi bác thuyết phục chúng hãy tin vào con chiên, không chỉ một tên nhận ra công việc của hắn chỉ là công việc của một thằng nô lệ, còn cuộc sống là một kẻ khốn cùng, không chỉ một tên đâm ra suy ngẫm về nỗi thống khổ của bản thân mình chỉ có cái chết mới chấm dứt nổi.
Có điều, chính cái chết lại khiến chúng sợ hãi và chúng chẳng thể hứa hẹn gì cho bản thân sau khi nó đến, trong khi đó người khổng lồ xứ Ligi này cùng cô thiếu nữ trông tựa như một đóa hoa bị ném vào ổ rơm nhà ngục kia, lại bước tới với cái chết sung sướng như đón hạnh phúc trở về.
CHƯƠNG 65
Một tối nọ, nguyên lão nghị viện Xevinux đến thăm ông Petronius và trò chuyện rất lâu với ông về cái thời buổi nặng nề mà cả hai đang sống, cũng như về hoàng đế. Ông ta nói công khai đến nỗi mặc dù là bạn của nhau, ông Petronius cũng bắt đầu dè chừng. Ông ta thẫn thờ rằng thế giới đi theo đường cong queo điên loạn và tất cả những thứ này gộp lại nhất thiết sẽ phải kết thúc bằng một tai họa khủng khiếp hơn cả đám cháy thành Roma. Ông ta nói rằng ngay cả đám cháy thành Roma. Ông ta nói rằng ngay cả các cận thần cũng hết sức thích thú. Fenius Rufux, viên tổng quản cấm quân thứ hai, bắt buộc phải chịu đựng sự chuyên chế tởm lợm của Tygelinux và cả họ Xeneka bị dồn đến chỗ bước phải lên án hoàng đế, kể cả vị thầy tuổi tác lẫn chàng Lukan. Cuối cùng, ông ta nêu lên sự không hài lòng dân chúng, thậm chí của lính cấm vệ mà phần lớn có cảm tình với Fenius Rufux.
- Sao ông lại nói chuyện ấy? - Petronius hỏi ông ta.
- Vì lo lắng cho hoàng thượng - Xevinux đáp - Tôi có một người bà con xa trong đám cấm quân, tên gọi Xeninux, giống như tên tôi và qua anh ta tôi cũng biết được những gì đang diễn ra trong trại quân…Sự chán ghét lớn lên ngay cả tại đó…Ông thấy không, Katigula cũng điên cuồng và hãy xem đã xẩy ra chuyện gì! Nẩy sinh ra Kaxius Serea…Đó là một hành động kinh khủng mà chắc chắn trong đám chúng ta không một ai ca ngợi, thế nhưng chính Serea đã giải thoát cho thế gian tránh khỏi một con quái vật.
- Nghĩa là - Ông Petronius đáp lại - Ông nói thế này: "Tôi không ca tụng Serea, nhưng đó là một con người tuyệt vời và cầu sao các thần linh cho chúng ta thật nhiều người như thế".
Nhưng Xevinux đã thay đổi cầu nguyện và đột nhiên ông ta bắt đầu ca ngợi Pizon. Ông ngợi ca dòng họ anh ra, sự cao quý của anh ta, tình gắn bó của anh ta đối với vợ và cuối cùng là trí óc, sự bình tĩnh và khả năng cảm hóa mọi người một cảm hóa mọi người một cách kỳ lạ của anh ta.
- Hoàng đế không có con - Ông nói - Và tất cả mọi người đều thấy Pizon là người nối ngôi. Không nghi ngờ gì nữa, tất cả đều sẽ hết lòng giúp anh ta lên nắm chính quyền. Fenius Rufux yêu mến anh ta. Plauxius Lateranux và Tulius Xenexio vì anh ta mà sẵn sàng lao vào lửa. Cả Natalix và Xubrius Flavius cả Xulpius Axper lẫn Afranius Auinxianux, thậm chí cả đến Vextynux cũng thế.
- Cái con người cuối cùng kia sẽ chẳng mang lại gì nhiều nhặn cho Pizon đâu - Ông Petronius đáp - Vextynux sợ ngay cả bóng của hắn.
- Vextynux sợ các cơn mộng mị và ma quỷ - Xevinux nói - nhưng đó là một người kiên nghị mà người ta đã rất có lý khi định phong làm chấp chính quan. Còn chuyện trong thâm tâm ông ta chống lại việc truy nã tín đồ Thiên Chúa thì cũng không nên trách ông ta, vì ngay cả ông nữa cũng mong sao những sự điên rồ kia chấm dứt cho rồi.
- Không phải tôi mà là Vinixius - Ông Petronius nói - Vì Vinixius, tôi muốn cứu sống một người thiếu nữ nhưng không thể, bởi tôi hết được hưởng những ưu ái của Ahenobarbux.
- Sao lại thế? Thế ông không nhận thấy rằng hoàng đế đã xích lại gần ông và bắt đầu trò chuyện cùng ông đó sao? Tôi xin nói tại sao. Đó là vì ngày sửa soạn đi Akhai, nơi ngài sẽ hát những bài ca Hy Lạp do chính ngài soạn. Ngài nóng lòng muốn ra đi thực hiện chuyến viễn du này, nhưng ngài lại run khi nghĩ tới tính ưa châm chọc của người Hy Lạp. Ngài hình dung rằng hoặc là ngài gặp một thắng lợi huy hoàng nhất, hoặc sẽ gặp một thất bại đau đớn nhất. Ngài cần có lời khuyên tốt và ngài hiểu rằng không ai có thể hơn ông trong việc cho ngài những lời khuyên ấy cả. Đó là lý do vì sao ông lại được ưu ái.
- Lukan có thể thay tôi.
- Râu đỏ căm ghét chàng ta và trong thâm tâm đã ghi cho chàng bản án tử hình. Ngài chỉ còn tìm cớ, vì bao giờ ngài cũng tìm cớ. Lukan cũng hiểu rằng phải nhanh chân lên.
- Thề có Kaxtor! - Ông Petronius nói - Có thể là thế. Nhưng tôi còn một cách khác nữa để nhanh chóng lại được ưu ái hơn.
- Cách gì?
- Đó là lặp lại với râu đỏ những điều mà ông vừa nói vùng với tôi.
- Tôi có nói gì đâu! - Xevinus lo lắng kêu lên.
Nhưng ông Petronius đã đặt tay lên vai ông ta:
- Ông đã gọi hoàng đế là thằng điên, ông đã thấy trước sự kế vị của Pizon và chính ông đã nói: "Lukan hiểu rằng phải nhanh chân lên". Các vị muốn vội vàng làm gì thế, thưa carissme?
Xevinux tái người đi và một hồi lâu cả hai người nhìn chăm chăm vào mắt nhau.
- Ông sẽ không lặp lại đâu!
- Thề có bộ đùi của nữ thần Kipryđa! Ông hiểu tôi lắm! Không! Tôi sẽ không lặp lại đâu! Tôi chẳng nghe thấy gì hết mà cũng chẳng hề muốn nghe gì cả…Ông hiểu chứ? Cuộc sống quá ngắn ngủi để có thể nhọc công lo lắng chuyện gì. Tôi chỉ xin ông, ngày hôm nay hãy đến thăm Tygelinux và trò chuyện với hắn về bất cứ chuyện gì ông muốn, chỉ cần cũng lâu bằng thời gian trò chuyện cùng tôi.
- Để làm gì?
- Để khi Tygelinux bảo tôi: "Xevinux đã tới thăm ông!" tôi có thể đáp lại hắn: "Cùng ngày hôm ấy ông ta cũng đến chỗ ông đấy thôi!".
Nghe thấy thế, Xevinux bẻ gẫy chiếc gậy bằng ngà voi mà ông ta đang cầm trong tay, rồi đáp:
- Cầu cho vận rủi rơi vào cây gậy này. Hôm nay tôi sẽ tới thăm Tygelinux, rồi dự tiệc ở nhà Nerva. Cả ông nữa cũng sẽ tới đó. Dù sao cũng xin tạm biệt, lại gặp nhau vào ngày kia ở nhà hát, nơi những người Thiên Chúa giáo còn sống sót sẽ ra mắt!...Tạm biệt.
- Ngày kia - Còn lại một mình, ông Petronius nhắc lại - Không còn thì giờ để phí nữa. Quả thực Ahenobarbux cần ta tại Akhai, rất có thể hắn sẽ lưu ý tới ta.
Và ông quyết định sẽ thử đến phương sách cuối cùng.
Quả thực, trong bữa tiệc tại nhà chàng Nerva, hoàng đế yêu cầu ông Petronius nằm đối diện với ngài, bởi ngài muốn được trò chuyện cùng ông về Akhai và về những thành phố mà ngài có thể biểu diễn với hy vọng thu được thành công lớn nhất. Ngài lo nhất là những người Aten mà ngài vẫn sợ. Các vị cận thần khác lắng nghe câu chuyện, cố nắm bắt vài mẩu ý kiến của ông Petronius, để sau này nhét nó vào lời của mình.
- Ta cảm thấy cho tới nay ta chưa hề sống - Nerô nói - Và ta sẽ được chào đời ở Hy Lạp.
- Hoàng thượng sẽ được sinh ra để đón nhận niềm vinh quang mới cùng sự bất tử - Ông Petronius đáp.
- Ta tin rằng sẽ xảy ra đúng như thế và thần Apolon sẽ không tỏ ra ghen tỵ. Nếu ta quay về với niềm vinh quang, ta sẽ dâng lên thần những vật tế hiến mà chưa từng có vị thần nào được hưởng từ trước đến nay.
Xevinux bắt đầu lặp lại lời thơ của Horaxius:
Sic te diva potens Cypri
Sic fratres Helenae, lucida sedera
Ventorumque regat pater…(1)
- Tầu đã đỗ ở Neapolix - Hoàng đế nói - Ta muốn ra đi ngay ngày mai…
Nghe thấy thế, ông Petronius nhổm dậy, nhìn thẳng vào mắt Nerô nói:
- Tâu thánh thượng, xin người cho phép thần tổ chức một tiệc cưới mà trước tất cả những người khác, thần kính mời hoàng thượng tới tham dự.
- Tiệc cưới à? Của ai? - Nerô hỏi.
- Vinixius cưới công chúa của vua người Ligi và là con tin của người. Mặc dù hiện nay nàng còn đang ở trong ngục, nhưng trước hết là một con tin, nàng lẽ ra không phải chịu giam giữ, hai nữa chính người đã cho phép Vinixius cưới nàng, mà những lời phán quyết của người, giống như phán quyết của chính Zeux, là không thể rút lại được, vậy nên người sẽ ra lệnh thả nàng ra khỏi ngục và trả nàng lại cho vị hôn phu.
Dòng máu lạnh và sự bình tĩnh cả tin vào bản thân thể hiện khi ông Petronius nói đã đã chế ngự Nerô, kẻ luôn luôn bị chế ngự những khi ông nói với hắn theo cách ấy.
- Ta biết - Ngài đáp, mắt cụp xuống - Ta vẫn nghĩ đến nàng và tên khổng lồ đã bóp chết Kroton.
- Vậy thì cả hai sẽ được sống - Ông Petronius bình thản đáp.
Nhưng Tygelinux đã đến cứu ông chủ của hắn.
- Cô ta bị giam theo mệnh lệnh của hoàng thượng, mà chính ông, hỡi Petronius, đã nói rằng, lời phàn quyết của người là không thể rút lại được.
Tất cả những người đang có mặt, biết chuyện Vinixius và Ligia, nên hiểu rằng đang đề cập đến việc gì, vậy nên họ thấy đều nín lặng tò mò chờ xem câu chuyện sẽ kết thúc ra sao.
- Cô ta bị giam là do sơ xuất của ông, do ông kém hiểu biết luật lệ các dân tộc, ngược với ý chí của hoàng thượng - Ông Petronius quật lại, cố ý nhấn mạnh - Tygelinux hỡi, ông là một kẻ ngây thơ, nhưng chắc ông cũng sẽ không thể khẳng định rằng cô ta đã đốt cháy Roma, vì nói cho cùng, dù ông có khẳng định như thế, hoàng thượng cũng chẳng tin.
Nhưng Nerô đã kịp trấn tĩnh và đang hấp háy đôi mắt cận thị với một vẻ cáu kỉnh vô chừng.
- Petronius nói đúng - Lát sau ngài phán.
Tygelinux nhìn ngài ngạc nhiên.
- Petronius nói đúng - Nerô lặp lại - Ngày mai cổng nhà tù sẽ mở ra cho cô ta, còn về bữa tiệc cưới thì chúng ta sẽ bàn vào ngày kia tại nhà hát.
"Ta lại thua cuộc rồi" - Ông Petronius nghĩ thầm.
Và quay trở về nhà ông tin chắc rằng thế là chấm hết cuộc đời Ligia và ngày kia ông sẽ phái một người nô lệ giải phóng tới nhà hát để thỏa thuận với viên quản xác về việc trả lại xác nàng, bởi ông muốn mang xác nàng về cho Vinixius.
Chú thích:
(1) Latinh: Chính nữ vương thần kỳ đảo Síp
"Chị em của Helena, sáng láng tinh cầu
Mà nổi gió đẩy thuyền đi…"
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 66
Kể từ thời Nerô, những buổi biểu diễn đêm, cả ở hý trường cũng như nhà hát, mới đi dần vào phong tục, chứ trước kia chúng rất hiếm hoi và chỉ được tổ chức như những ngoại lệ. Đám cận thần thì thích các buổi biểu diễn ban đêm, vì thường thường sau đó lại có những bữa tiệc và cuộc rượu say sưa kéo dài đến tận sáng. Mặc dù dân chúng đã quá bão hòa với chuyện đổ máu, những khi loan truyền tin là hội thi đã đến lúc chót và những người Thiên Chúa giáo cuối cùng sẽ được chết trong buổi diễn đêm, thì những đám đông hàng bao người liền kéo nhau tới nhà hát. Đám cận thần đủ mặt không thiếu một ai vì tất cả đều hiểu rằng đây sẽ không phải là một biểu biểu diễn bình thường và hoàng đế đã nhất quyết sẽ bày cho mình một cảnh bi kịch từ nỗi đau của Vinixius. Tygelinux giữ bí mật về loại khổ hình sẽ dành cho vị hôn thê của chàng hộ dân quan trẻ tuổi, nhưng chính điều đó chỉ càng làm tăng thêm sự háo hức chung mà thôi. Những người trước kia từng được gặp Ligia ở nhà ông bà Plauxius giờ đây kể lại những điều huyền thoại về sắc đẹp của nàng. Những người khác quan tâm trước nhất đến câu hỏi: Liệu hôm nay có thực họ sẽ được trông thấy nàng trên võ đài không, vì nhiều người trong bọn họ được nghe câu hoàng đế trả lời ông Petronius ở nhà chàng Nevra đã giải thích nó theo hai cách khác nhau. Một số người cho rằng hoàng đế sẽ trả hoặc thậm chí đã trả nàng trinh nữ cho Vinixius, người ta nhắc lại cho nhau rằng nàng là một con tin, hơn nữa luật các dân tộc không cho phép trừng phạt nàng.
Nỗi phấp phỏng, sự chờ đợi và háo hức chế ngự tất cả người xem. Hoàng đế đến sớm hơn thường lệ và cùng với ngài đến, người ta bắt đầu thì thầm với nhau rằng nhất định sẽ diễn ra một điều gì khác thường, vì ngoài Tygelinux và Vatynius, hoàng đế còn có Kasius tùy tùng, đó là một viên Xenturion có thân hình khổng lồ và sức lực khổng lồ mà hoàng đế chỉ đem theo những khi cần một vệ sĩ bên mình, như những khi ngài muốn tiến hành những chuyến vi hành ban đêm ở khu Xubura, nơi ngài thường diễn trò chơi được gọi là Sagatio, tức là trò tung những người phụ nữ bắt được trên đường lên không trong những chiếc áo choàng binh sĩ. Người ta cũng nhận ra rằng, ngay trong nhà hát cũng đã bố trí những biện pháp đề phòng. Bọn lính cấm vệ canh gác được tăng thêm, còn chỉ huy chúng không phải là một viên Xenturion, mà chính là hộ dân quan Xubrius Flavius nổi tiếng xưa nay vì gắn bó một cách mù quáng với Nerô. Khi ấy, người ta hiểu rằng, bằng mọi cách hoàng đế muốn được bảo hiếm chống lại sự bùng nổ cơn tuyệt vọng của Vinixius và thế là sự háo hức càng tăng thêm.
Mọi cái nhìn đều chăm chú hướng về chỗ chàng hôn phu bất hạnh đang ngồi. Chàng nhợt nhạt vô cùng, trán đọng những giọt mồ hôi và giống như những người xem khác, chàng cũng phấp phỏng, những lo lắng đến tận đáy lòng. Bản thân ông Petronius cũng không biết chính xác điều gì sẽ xảy ra, nên khi từ nhà Nerva quay về, ông không nói gì mà chỉ hỏi chàng có sẵn sàng chịu đựng mọi thứ hay chưa và sau đó, hỏi chàng có đến dự buổi diễn không. Vinixius chỉ trả lời cả hai câu hỏi bằng lời đáp: "Có". Nhưng thực ra khi ấy chàng bị kiến bò khắp người, bởi chàng đoán được rằng không phải vô cớ mà ông Petronius lại hỏi thế. Suốt thời gian gần đây, bản thân chàng cũng sống như chỉ bằng nửa cuộc đời, bản thân chàng cũng đã chìm vào cái chết và đã cam chịu với cái chết của Ligia, vì đối với họ, cái chết vừa là sự giải thoát vừa là lễ cưới, song lúc này đây, chàng hiểu rằng nghĩ trước về giây phút cuối cùng như một sự yên tĩnh thiếp đi là một chuyện, còn đi để tận mắt nhìn những nỗi cực hình của sinh linh thân yêu hơn cả cuộc đời mình lại là chuyện khác. Tất thảy những nỗi đau đớn mà chàng trải qua từ trước tới nay đều lên tiếng trong lòng chàng một lần nữa. Nỗi tuyệt vọng đã yên đi rồi nay lại gào thét trong lòng chàng và hệt như ngày xưa, chàng lại muốn cứu Ligia bằng mọi giá. Ngay từ sáng sớm, chàng đã muốn lọt vào hầm giam người để biết có Ligia trong ấy hay chăng, nhưng bọn lính cấm vệ canh gác tất cả mọi lối vào và người ra những mệnh lệnh nghiêm khắc đến nỗi binh lính - ngay cả những người quen biết - cũng không dám nhượng bộ chàng. Dù chàng đã dùng đến cả vàng lẫn những lời cầu khẩn. Vinixius tưởng như sự phấp phỏng hồi hộp này sẽ giết chàng chết trước khi chàng trông thấy cảnh diễn. Đâu đó trong chốn sâu thẳm của trái tim chàng vẫn trăn trở nỗi hy vọng rằng có thể Ligia không có mặt trong nhà hát và tất thẩy những mối lo âu kia chỉ là vớ vẩn. Chốc chốc chàng lại gắng hết sức bám víu vào niềm hy vọng này. Chàng thầm nhủ rằng: Đức Chúa Crixtux rất có thể đã cứu nàng thoát khỏi nàh ngục, nhưng dù sao cũng không thể cho phép nàng phải chịu nhục hình trong hý trường. Trước đây chàng buông thả mọi việc theo ý Chúa, giờ đây, khi bị xua đuổi khỏi cửa phòng giam, phải quay trở về chỗ ngồi của mình trong nhà hát, khi mà qua những cái nhìn tò mò của mọi người đang hướng về phía chàng, chàng nhận ra rằng những điều dự cảm kinh khủng nhất có thể sẽ thành sự thật, chàng lại bắt đầu thầm cầu khẩn Người trong lòng với một nỗi nhiệt thành gần như đe dọa, xin Người hãy cứu lấy nàng. "Chúa có thể cứu nàng cơ mà!" - Chàng lặp lại, tay xiết chặt một cách đau đớn. "Chúa có thể:". Trước kia chàng không hề nghĩ rằng giây phút ấy trở thành sự thật, nó sẽ kinh khủng đến thế. Giờ đây, không còn hiểu nổi những gì đang xẩy đến với mình, nhưng chàng vẫn có cảm giác rằng, nếu phải trông thấy những cực hình của Ligia, lòng kính yêu của chàng có thể sẽ biến thành lòng căm thù, lòng tin của chàng có thể sẽ thành nỗi tuyệt vọng. Đồng thời chàng lại sợ hãi trước cảm giác ấy, bởi chàng sợ sẽ xúc phạm đến Chúa Crixtux, người mà chàng đang khẩn cầu tình thương và một điều kỳ diệu. Chàng không còn dám cầu xin cuộc sống của nàng, mà chỉ muốn nàng được chết trước khi chúng mang nàng ra đấu trường và từ vực thẳm không cùng của nỗi đau; chàng thầm nhắc đi nhắc lại trong lòng: "Dù sao xin Chúa cũng chớ từ chối tôi điều ấy, tôi sẽ yêu kính Chúa hơn đã kính yêu Người từ trước đến nay". Cuối cùng những ý nghĩ của chàng hỗn loạn như những làn sóng bị một cơn gió lốc đuổi xua. Thức đậy trong lòng chàng sự thèm khát được trả thù và đòi máu. Chẳng những muốn lao vào Nerô và bóp cổ hắn trước mặt tất cả những người xem, song đồng thời chàng lại cảm thấy khát vọng kia xúc phạm Đức Chúa Crixtux và vi phạm những điều răn của Chúa. Chốc chốc, lướt qua đầu chàng những ánh chớp của niềm hy vọng, rằng tất thẩy những gì đang khiến cho tâm hồn chàng run rẩy sẽ bị một bàn tay toàn năng và nhân ái lật ngược lại, song những ánh chớp ấy lại tắt ngấm ngay lập tức trong một nôi tiếc hận vô bờ, rằng chính Đức Crixtux - Người mà chỉ cần dùng một lời thôi cũng có thể phá tan tành hý trường này và cứu thoát Ligia - Đã bỏ mặc nàng, dù chàng đã từng tin tưởng và kính yêu Người với tất cả sức mạnh của trái tim trong sạch của mình. Và chàng nghĩ tiếp rằng nàng đang nằm trong cái hố giam tăm tối kia, yếu ớt, không chút vũ khí tự vệ, bị bỏ mặc cho bọn cai gục đã thú hóa, rất có thể nàng đang trút hơi thở cuối cùng, trong lúc ấy chàng phải chờ đợi một cách bất lực trong cái nhà hát khủng khiếp này, không hiểu bọn chúng đã nghĩ ra cho nàng nỗi khổ hình nào mà lát nữa chàng mới được trông thấy. Rốt cuộc, giống như một người đang rơi vào vực thẳm cố bám víu lấy tất thẩy những gì mọc quanh miệng vực, chàng cũng cô sức níu chặt ý nghĩ rằng chỉ duy nhất lòng tin mới cứu nổi nàng. Và thực ra cũng chỉ còn có cách ấy thôi! Chính ông Piotr chẳng đã từng nói rằng lòng tin có thể lay chuyển cả trái đất đó sao!
Do vậy chàng cố gắng tập trung tư tưởng, bóp chết trong lòng nỗi ngờ vực, toàn bộ con người mình được chàng gói trọn trong một lời thôi: "Tôi tin!" và chàng chờ phép mầu nhiệm.
Nhưng cũng giống như dây đàn căng quá phải đứt, sự nỗ lực đã khiến chàng kiệt sức. Màu trắng nhợt nhạt của xác chết bao phủ mặt chàng, cơ thể chàng cứng đờ ra. Chàng chợt nghĩ rằng lời cầu khẩn của chàng đã được nghe thấu, bởi chàng đang được chết. Chàng ngỡ như Ligia đã chết rồi và bằng cách ấy. Chúa Crixtux đã mang họ đến cùng nha. Võ đài, những tà áo toga màu trắng của những người xem đông không kể xiết, ánh sáng của hàng ngàn ngọn đèn và bó đuốc, tất thẩy đều biến khỏi mắt chàng.
Nhưng sự kiệt sức ấy không kéo dài lâu. Lát sau chàng tỉnh dậy, hay nói đúng hơn, tiếng dẫm chân vì sốt ruột của khán giả đã đánh thức chàng.
- Anh ốm mất rồi - Ông Petronius bảo chàng - Hãy bảo chúng nó khiêng anh về nhà đi thôi!
Và không cần để ý hoàng đế sẽ nói gì về việc ấy, ông đứng dậy cho Vinixius tựa vai và bước ra cùng chàng. Trái tim ông tràn ngập tình thương xót, hơn nữa điều khiến ông không sao chịu nổi là hoàng đế nhìn chằm chằm qua viên bích ngọc vào Vinixius, khoái chí theo dõi nối đớn đau của chàng, có thể là để sau này sẽ mô tả lại trong những khổ thơ thống thiết được công chúng hoan hô.
Vinixius lắc đầu. Chàng có thể chết ngay tại nhà hát này, nhưng chàng không thể bỏ nó mà đi. Vả chăng buổi biểu diễn cũng chỉ còn vài phút nữa sẽ bắt đầu.
Chính vào lúc ấy, viên đô trưởng ném mạnh chiếc khăn đỏ xuống trước mặt, thấy hiệu lệnh đó, chiếc then cửa đối diện với bục ngồi của hoàng đế rít lên ken két và bác Urxux từ một vực thẳm tối tăm bước ra đấu trường được chiếu sáng rực.
Người khổng lồ hấp háy mắt, chắc hẳn bác bị chói bởi ánh sáng của đấu trường, rồi bác bước tới chính giữa, nhìn khắp bốn chung quanh dường như muốn tìm hiểu xem mình sẽ phải đương đầu với thứ gì. Tất cả các vị cận thần và phần lớn khán giả đều biết rằng chính con người này đã bóp chết Kroton, nên trông thấy bác, tiếng xì xào lan khắp các hàng ghế. Ở Roma không thiếu chi những võ sĩ to lớn vượt xa kích thước bình thường của con người, nhưng mắt dân Quiryt chưa từng được trông thấy một cơ thể lực lưỡng nhường kia! Bên cạnh người đàn ông Ligi này, Kasius đứng trên bục phía sau lưng hoàng đế có vẻ như một người nhỏ bé. Các vị nguyên lão, các ni cô đồng trinh, hoàng đế, đám cận thần và dân chúng đều ngắm con người này với sự thán phục của những kẻ sành sỏi và những người hâm mộ, họ ngắm hai cái đùi khổng lồ to như thân cây, ngắm lồng ngực tựa như của chàng Herkulex. Tiếng trầm trồ mỗi lúc một lớn. Đối với những đám người này, hình như không thể có khoái lạc nào lớn hơn là được nhìn những bắp thịt kia trong cuộc đấu, trong trò chơi, trong sự đọ sức. Tiếng xì xào biến thành những tiếng kêu và những câu hỏi nóng nẩy, xem bộ lạc đã sản sinh ra những người khổng lồ nhường kia sinh sống tại đâu, còn bác, đứng giữa nhà hắt, trần truồng, giống như một pho tượng khổng lồ bằng đá hơn giống người, với nét mặt của một người dân man dã vừa căng thẳng vừa đượm buồn và khi nhìn thấy cái đấu trường trống rỗng, bác đưa cặp mắt xanh thẳm như trẻ con của mình, lúc nhìn người xem, lúc nhìn hoàng đế, lúc lại nhìn song sắt của các hầm giam, nơi mà bác chờ đợi sẽ xuất hiện những tên đao phủ.
Lúc bước ra đấu trường, trái tim chất phác của bác vẫn hãy còn rung lên lần cuối bởi nỗi hy vọng sẽ có cây thập tự đang chờ bác, nhưng khi không nhìn thấy cây thập tự, không nhìn thấy cái hố đào sẵn, bác nghĩ rằng mình hẳn là không xứng với cái ân huệ kia và bác sẽ phải chết một cách khác, chắn hẳn là chết bởi dã thú. Không có vũ khí trong tay, bác quyết định sẽ chịu chết cho xứng với một tín đồ của con chiên, bình thản và nhẫn nại. Lúc này bác còn muốn được cầu nguyện Đấng Cứu Thế, nên bác bèn quỳ xuống đấu trường, vòng tay và ngước mắt nhìn lên các vì sao đang nhấp nháy qua lỗ thông thiên của hý trường.
Dáng điệu ấy không vừa mắt người xem. Người ta xem đã quá no mắt những tín đồ Thiên Chúa chết như những con cừu rồi. Người ta hiểu rằng, nếu người khổng lồ kia không muốn tự vệ, thì chẳng còn cảnh tượng gì hay ho nữa cả. Đây đó vang lên tiếng xuỵt. Một số người bắt đầu gọi đám đốc chiến, bọn này có nhiệm vụ đánh đòn những đấu sĩ không chịu chiến đấu. Tuy nhiên một lúc sau tất cả lại ắng đi vì chưa biết điều gì đang chờ người khổng lồ và liệu bác ta có muốn chiến đấu chăng, một khi phải đương đầu với cái chết.
Quả thực, người ta chẳng phải chờ lâu. Đột nhiên tiếng kèn đồng váng óc vang lên và cùng với hiệu lệnh ấy, cánh cửa có song sắt đối diện với bục ngồi của hoàng đế mở ra và trong tiếng hò reo của bọn canh thú, một con bò rừng xứ Germania lao ra đấu trường, mang trên đầu một thân hình phụ nữ trần truồng.
- Ligia! Ligia! - Vinixius thét lên.
Rồi chàng đưa cả hai bàn tay tóm chặt lấy tóc quanh thái dương, người cuộn gập lại, giống như một kẻ chợt cảm thấy mũi giáo đâm trúng vào mình và chàng lặp đi lặp lại mãi bằng một giọng khàn đặc không còn giống tiếng người nữa:
- Con tin! Con tin!...Hỡi Đức Chúa Crixtux! Phép mầu!...
Thậm chí chàng không nhận thấy rằng đúng vào lúc ấy ông Petronius dùng tà áo toga phủ lấy đầu chàng. Chàng ngỡ như cái chết hay nỗi đau đớn đã che lấy mắt chàng. Chàng không nhìn, không thấy gì hết. Chàng chỉ cảm thấy một cảm giác trống rỗng đến kinh hoàng. Đầu óc chàng không còn một ý nghĩ nào nữa, chỉ có môi chàng cứ lặp đi lặp lại như hóa dại:
- Con tin! Con tin! Con tin! Con vẫn tin!....
Nhà hát câm lặng. Đám cận thần đứng bật hết cả dậy, vì trên đấu trường xẩy ra một chuyện phi thường. Bác đàn ông người Ligia vừa nhẫn nhục và sẵn sàng chờ chết kia, khi trông thấy công chúa của bác trên cặp sừng con thú dữ, bật ngay dậy như phải bỏng và cắm đầu chạy tắt ngang đón đầu con vật đang nổi cơn điên.
Tất cả các lồng ngực đều bật ra một tiếng kêu kinh ngạc, rồi sau đó im phăng phắc. Trong khi ấy, chỉ trong nháy mắt, người đàn ông Ligia đã xông vào tóm chặt đôi sừng con bò tót đang lồng lên.
- Nhìn kìa! - Ông Petronius kêu lên, giật phăng tà áo toga ra khỏi đầu Vinixius.
Chàng chồm dậy, ngả về sau khuôn mặt nhợt nhạt như màu vải mộc của mình và nhìn lên đầu trường với một cái nhìn như bằng thủy tinh không hồn.
Tất cả các lồng ngực ngừng thở. Trong nhà hát có thể nghe cả tiếng một con ruồi bay ngang qua. Người ta không còn tin vào mắt mình nữa. Roma mặc Roma, chứ chưa bao giờ người ta trông thấy cảnh tượng giống thế này.
Người đàn ông Ligi vẫn ghì chặt lấy sừng con vật. Chân bác ngập trong cát đến trên mắt cá, lưng bác gồng lên như một dây cung đã căng hết mức, đầu bác chìm giữa hai ụ vai, những bắp thịt nổi cuồn cuộn trên hai cánh tay đến mức làn da như sắp bị toạc ra dưới sức căng của chúng, song bác đã ghìm được con bò tót đứng im một chỗ. Cả người lẫn vật đều đứng im bất động, khiến những người đang nhìn ngỡ như họ đang trông thấy một bức tranh diễn tả chiến công của dũng sĩ Herkulex hay chàng Tezeux, hoặc một nhóm tạc tượng bằng đá. Nhưng trong thế đứng yên ấy có thể thấy rõ sự căng thẳng đến kinh khủng của hai sức mạnh ấy đang chọi nhau. Con bò tót, cũng giống như người, chân ngập sâu vào cát, thân mình đầy lông lá bờm xờm màu tối sẫm của nó co cuộn lại trông giống như một quả cầu khổng lồ. Kẻ nào sẽ kiệt sức trước đây, kẻ nào sẽ gục ngã trước đây - đó là câu hỏi mà vào giây phút này đối với những khán giả say mê những trận đấu kia còn quan trọng hơn chính số phận của họ, quan trọng hơn toàn bộ La Mã cùng sự thống trị của nó đối với toàn thế giới. Người đàn ông Ligi kia đối với họ giờ đây là một vị nửa thần thánh đáng thờ kính và tạc tượng. Chính hoàng đế cũng đứng dậy. Khi nghe kể về sức lực của con người này, ngài cùng với Tygelinux đã cố sắp đặt cảnh chiến đấu kia và giễu cợt bảo nhau: "Hãy để cho kẻ đã giết chết Kronton chiến thắng con bò tót mà chúng ta đã chọn cho hắn". Giờ đây cả hai bàng hoàng nhìn bức tranh đang bày ra trước mắt, dường như không thể tin được rằng đó lại là sự thật. Trong nhà hát có thể thấy những người giơ cả hai tay lên trời rồi cứ để nguyên trong tư thế ấy. Mồ hôi ướt đẫm trên vừng trán những người khác, dường như chính họ đang ghìm nhau với con vật. Cả hý trường chỉ còn nghe tiếng réo phù phù của ngọn lửa trong các đèn thắp sáng và tiếng xào xạc khe khẽ của những tro than rơi từ những bó đuốc. Tiếng nói chết lặng trên môi khán giả, trái tim họ đập trong ngực như muốn phá bung nó ra. Tất thẩy mọi người ngỡ rằng cuộc chiến đấu này kéo dài hàng thế kỷ.
Còn người và vật cứ đứng như thế trong một sự gắng sức kinh khủng, dường như cả hai đều bị chôn chặt vào đất vậy.
Đột nhiên một tiếng trống trầm đục tự như tiếng rên rỉ bật lên từ đấu trường, tiếp theo là một tiếng kêu bật ra từ tất cả mọi lồng ngực, rồi im lặng hoàn toàn. Người ta ngỡ như đang nằm mơ, vì kia cái đầu quái đản của con bò tót bắt đầu xoay dần đi trong hai cánh tay thép của người dân man dã.
Cả mặt, cả cái cổ và đôi vai của người đàn ông Ligi đỏ tía như màu lụa tím, lưng bác cong cồng lại hơn nữa. Rõ ràng bác đang thu nốt chút sức cuối cùng trong cái sức mạnh siêu nhiên của mình, nhưng sức lực ấy chẳng còn kéo dài được bao lâu nữa.
Tiếng rống của con bò tót mỗi lúc một trầm đục hơn, khàn khàn hơn và đau đớn hơn, hòa với tiếng thở như rít lên của lồng ngực người khổng lồ. Đầu con vật mỗi lúc một thêm vặn đi, từ mồm nó thè ra chiếc lưỡi dài đầy bọt.
Một lúc sau, vọng tới tai những khán giả ngồi gần như có tiếng xương bị bẻ gẫy, rồi con vật đổ lăn ra đất với cái cổ bị vặn gẫy.
Khi ấy, người khổng lồ trong nháy mắt tháo sợi dây thừng ra khỏi đôi sừng của nó và đỡ lấy nàng trinh nữ trên tay, bác bắt đầu thở dốc.
Mặt bác tái nhợt, tóc dính bết mồ hôi, cổ và vai ướt rượt như bị té nước. Bác đứng một lúc như nửa tỉnh nửa mê rồi sau đó ngước mắt lên nhìn công chúng.
Nhà hát như hóa điên.
Những bức tường của tòa nhà bắt đầu rung lên bởi tiếng gào thét của hàng vài chục nghìn người xem. Từ khi bắt đầu các cuộc thi đấu, người ta chưa từng thấy nhiệt tình như thế bao giờ. Những người ngồi ở các hàng ghế trên rời bỏ ghế của mình để len xuống dưới, chen chúc nhau ở những lối đi giữa các ghế ngồi để được ngắm gần hơn nữa chàng lực sĩ. Khắp nơi rền vang những giọng nói say sưa, bưởng bỉnh đòi tha cho bác, những tiếng nói này nhanh chóng chuyển thành một tiếng kêu đồng thanh. Người khổng lồ ấy đã trở thành một kẻ thân yêu và là nhân vật số một của Roma đối với đám dân chúng vốn chuộng sức mạnh cơ bắp kia.
Bác cũng hiểu được rằng đám đông đang đòi người ta tha chết và trả lại tự do cho bác, nhưng rõ ràng bác không chỉ lo cho bản thân mình. Bác nhìn quanh một lúc, rồi tiến lại gần bục hoàng đế ngồi và vừa lắc lư thân thể cô gái trên đôi cánh tay vươn ra, bác vừa ngước mắt đầy những lời cầu khẩn van lơn, dường như bác muốn nói:
- Xin các người hãy rủ lòng thương nàng với! Xin hãy cứu lấy nàng! Tôi làm điều ấy chính vì nàng!
Khản giả hiểu rất rõ điều bác yêu cầu. Cảnh tượng cô gái đang ngất trông như một đứa trẻ con bên cạnh thân hình lực lường của người đàn ông Ligi đã khiến cho đám đông xúc động, ngay cả các vị hiệp sĩ và nguyên lão. Thân hình nhỏ bé của nàng, trắng như một dải lụa, sự ngất xỉu của nàng, nỗi nguy hiểm kinh khủng mà bác khổng lồ kia vừa cứu nàng thoát khỏi và cuối cùng là sắc đẹp của nàng cùng sự gắn bó của bác đã rung động những trái tim. Một số người nghĩ rằng đó là người cha đang cầu xin lòng thương xót cho con mình. Tình thương bỗng bùng lên như ngọn lửa. Người ta đã quá chán ngán máu, chết chóc và những cực hình. Những tiếng nói nghẹn ngào nước mắt bắt đầu kêu lên xin tha cho cả hai người.
Trong khi ấy bác Urxux đi vòng quanh đấu trường và vừa đu đưa cô gái trên đôi cánh tay, bác cầu khẩn mạng sống cho cô gái bằng cử chỉ và ánh mắt. Vinixius đột ngột bật lên khỏi chỗ ngồi, nhảy vọt qua hàng rào ngăn cách những chỗ ngồi đầu tiên với đấu trường, chạy đến bên Ligia và dùng manh áo toga che cho tấm thân lõa lồ của nàng.
Rồi chàng xé toạc chiếc áo tunica trên ngực, phô ra các vết sẹo còn lưu lại sau những vết thương mà chàng đã chịu đựng trong cuộc chiến tranh Acmenia và chàng chìa hai tay cho dân chúng.
Khi ấy nỗi nhiệt tính của đám đông vượt hết mọi khuôn khổ mà người ta thường gặp trong các nhà hát. Đám tiện dân bắt đầu dẫm chân và hú lên. Những tiếng đòi tha biến thành lời đe dọa. Dân chúng đã ủng hộ không chỉ người lực sĩ mà đứng ra bảo vệ cả nàng trinh nữ, chàng chiến sĩ và tình yêu của họ. Hàng nghìn khán giả quay về phía hoàng đế với những ánh giận dữ lóe lên trong mắt và những cái nắm tay xiết chặt. Hoàng đế vẫn do dự và lần chần. Thực ra, ngài không căm ghét gì Vinixius và cũng chẳng lợi lộc gì trong cái chết của Ligia, nhưng ngài muốn được trông thấy thi thể cô gái bị đôi sừng của con bò tót xuyên thủng qua, hay bị xé nát bởi nanh vuốt của thú dữ. Cá tính dã man, cùng trí tưởng tượng đồi bại và những nỗi khát khao đồi bại của ngài tìm được một nỗi khoái lạc nào đó trong những cảnh tượng như thế. Nghĩ thế, cơn giận chợt hiện ra trên bộ mặt đã phát phì của ngài. Lòng tự ái không cho phép chiều theo ý muốn của công chúng, đồng thơi do tính hèn nhát bẩm sinh ngài cũng không dám cưỡng lại ý muốn ấy.
Cho nên ngài bắt đầu đưa mắt nhìn xem chí ít trong đám cận thần có thấy một ngón tay nào quay ngược xuống đất ra dấu chết chóc hay chăng. Nhưng ông Petronius giữ bàn tay hướng lên trên, hơn nữa ông nhìn thẳng vào mặt ngài như thách thức. Vextynux mê tín nhưng lại ngả theo những nhiệt tình, kẻ sợ ma quỷ nhưng lại không sợ con người, cũng đang ra hiệu tha thứ. Nguyên lão nghị viên Vinixius cũng thế, chàng Nerva cũng thế, Tulius Xexenio cũng thế, vị thủ lĩnh tuổi tác và lừng danh Oxtorius Xkapula cũng thế, cùng thế cả Kryxpinux, cả Minuxius Termux, cả Ponxius Telezynux và cả Trazeas người nghiêm trang nhất và được dân chúng thành kính cũng thế. Nhìn cảnh ấy, hoàng đế bỏ viên bích ngọc ra khỏi mắt với vẻ khinh mạn và bị xúc phạm, còn Tygelinux, kẻ chỉ muốn chơi khăm vì căm ghét ông Petronius, cúi xuống và nói:
- Tâu thánh thượng, xin người chớ lùi bước, chúng ta còn có quân cấm vệ kia mà!
Nerô bèn quay về phía Xubrius Flavius, viên chỉ huy cấm binh, người vốn hà khắc và trung thành với ngài hết lòng, và ngài trông thấy một chuyện lạ lùng. Nét mặt của viên hộ dân quan tuổi tác trông dữ tợn, nhưng lại chan chứa nước mắt và bàn tay ông giơ lên trời ra dấu tha thứ.
Trong khi đó những đám đông bắt đầu nổi cáu. Bụi bốc lên mù mịt dưới những gót chân đang dẫm mạnh, che mờ cả nhà hát. Giữa những tiếng kêu, vang lên giọng thét: "Ahenobarbux! Thằng giết mẹ! Kẻ đốt nhà!".
Nerô hoảng hồn. Trong hý trường dân chúng là người chủ toàn quyền. Những vị hoàng đế tiền nhiệm, đặc biệt là Kaligula, thỉnh thoảng cũng tự cho phép mình đi ngược lại ý muốn của dân chúng, nhưng điều ấy bao giờ cũng gây nên bạo động, thậm chí dẫn tới đổ máu. Song Nerô đang ở trong một tình thế khác hẳn. Trước hết, vốn là một diễn viên và ca sĩ, ngài cần được lòng dân chúng, thứ hai, ngài muốn dân chúng đứng về phía ngài chống lại nguyên lão viện và giới quý tộc, và sau nữa, sau vụ đốt cháy thành Roma, ngài đang cố tìm mọi cách để thu phục lòng dân và hướng cơn giận của dân chống lại tín đồ Thiên Chúa giáo. Rốt cuộc, ngài hiểu rằng cưỡng lại lâu hơn nữa có thể sẽ nguy hiểm. Cuộc bạo động khởi đầu trong hý trường có thể lẩn toàn thành phố và kéo theo những hậu quả không lường trước được.
Ngài còn đưa mắt nhìn viên Xenturion Xubrius Flavius một lần nữa, nhìn Xevinux, vị nguyên lão có họ với ngài, nhìn binh lính và khi trông thấy khắp nơi là những hàng lông mày cau lại, những nét mặt xúc động và những cặp mắt đang dán chặt vào ngài, ngài làm dấu hiệu tha thứ.
Khi ấy, một tràng sấm hoan hô vang động từ trên xuống dưới. Dân chúng tin chắc rằng những tội nhân kia sẽ được sống, vì từ lúc này trở đi, họ đã được dân chúng bảo trợ và ngay cả hoàng đế cũng không dám truy đuổi họ lâu hơn nữa với sự thù hằn của ngài.
CHƯƠNG 67
Bốn người Bitvni thận trọng khiêng Ligia về nhà ông Petronius, Vinixius và bác Urxux đi bên cạnh, vội vã để có thể nhanh chóng giao nàng cho vị lương y người Hy Lạp. Họ bước đi trong im lặng, vì sau những điều đã phải trải qua ngày hôm ấy, họ không thể cất thành lời. Cho đến lúc này, Vinixius vẫn như nửa tỉnh nửa mê. Chàng lặp lại với mình rằng Ligia đã được cứu sống, không còn đe dọa nàng cả ngục tù lẫn cái chết trong hý trường, rằng nỗi bất hạnh của họ đã kết thúc vĩnh viễn, rằng chàng đang mang nàng về nhà để không bao giờ chịu cách chia nữa. Và chàng ngỡ như đó là sự bắt đầu một cuộc sống nào khác chứ không phải là thực tại. Chốc chốc chàng lại cúi người xuống chiếc kiệu để hở ngắm nhìn khuôn mặt yêu dấu dường như đang ngủ trong ánh trăng và chàng tự lặp lại trong ý nghĩ: "Đó là nàng! Chúa Crixtux đã cứu nàng!". Chàng cũng nhớ lại rằng một vị thầy thuốc không quen biết nào đó đã bước vào gian nhà chứa xác nơi chàng và bác Urxux mang Ligia vào, ông cam đoan với chàng rằng cô gái vẫn còn sống và sẽ sống. Nghĩ tới điều ấy, niềm vui tưng bừng lồng ngực chàng, đến nỗi chốc chốc, chàng thấy người yếu hẳn đi, phải tựa vào vai bác Urxux, không thể tự bước đi. Còn bác Urxux nhìn lên bầu trời đầy đặc sao và cầu nguyện.
Họ đi vội vã giữa những đường phố, nơi những ngôi nhà màu trắng mới dựng lên đang sáng rõ trong toán nhỏ người quấn dây thường xuân, hát và múa trước các hàng cột, trong tiếng sáo, tranh thủ một đêm tuyệt vời và dịp lễ kéo dài từ đầu các cuộc hội thi đến nay. Mãi cho tới khi đã về tới gần nhà, bác Urxux mới thôi cầu nguyện và nói khẽ như sợ đánh thức Ligia:
- Thưa ngài, chính Đấng Cứu Thế đã cứu nàng thoát chết. Khi tôi trông thấy nàng trên cặp sừng bò tót, tôi chợt nghe trong lòng một tiếng nói: "Hãy bảo vệ nàng!" và đó chính là tiếng của con chiên. Ngục tù đã gặm mòn sức khỏe tôi, nhưng Người đã trả lại sức cho tôi trong giờ phút ấy mà và chính Người đã khiến đám dân chúng hạ tàn kia phải xúc động để bênh vực nàng. Xin ý chí của Người được thực hiện!
Vinixius đáp:
- Cầu cho tên của Người được hằng thành kính!...
Nhưng chàng không thể nói được gì hơn, vì bỗng nhiên chàng cảm thấy một cơn khóc dâng tràn trong ngực. Chàng có một ý muốn không sao kìm hãm nổi là lăn ra đất và tạ ơn Đấng Cứu Thế lòng lành đã ban cho điều kỳ diệu kia.
Trong khi đó họ đã về tới nhà. Được một tên nô lệ cử về báo trước, gia nhân kéo cả ra đón họ. Hồi ở Anxium, ông Paven xứ Tarxu đã cải đạo cho phần lớn những người này. Họ biết rõ những nỗi bất hạnh của Vinixius nên niềm vui của họ thật vô biên khi nhìn thấy những nạn nhân được giằng khỏi sự dữ của Nerô, niềm vui càng lớn thêm lên khi lương y Teoklex sau khi thăm bệnh cho Ligia đã nói rằng nàng không bị thương tích gì đáng kể và lúc cơn yếu mệt còn lại sau trận sốt trong tù qua đi, nàng sẽ khỏe lại.
Ngay trong đêm hôm ấy nàng tỉnh lại. Thức tỉnh trong một phòng ngủ tuyệt vời được những chiếc đèn xứ Kotynơ chiếu sáng, trong hương mã tiên thảo, nàng không biết mình đang ở đâu và có chuyện gì đang xẩy ra với nàng. Nàng chỉ còn nhớ lúc chúng buộc nàng vào sừng con bò tót bị quàng xích sắt, còn giờ đây nàng trông thấy mặt Vinixius đang ở trên đầu, được ánh sáng có màu sắc dịu dàng soi rọi, nàng nghĩ rằng có lẽ họ không còn trên mặt đất nữa. Nhưng ý nghĩ còn hỗn độn trong bộ óc hãy đang yếu của nàng, nàng ngỡ rằng chắc là cả hai đang dừng lại nghỉ đâu đó trên đường lên trời vì nàng yếu và mệt. Song không cảm thấy đau đớn, nàng mỉm cười với Vinixius và muốn hỏi chàng xem họ đang ở đâu, nhưng từ môi nàng chỉ thoát ra một lời thì thầm khe khẽ mà cố lắm Vinixius mới có thể nhận ra được tên chàng.
Chàng bèn quỳ xuống bên nàng, nhẹ nhàng đặt tay lên vầng trán nàng và nói:
- Đức Chúa Crixtux đã cứu thoát nàng và trả về cho tôi!
Đôi môi nàng lại thều thào một lời thì thầm không sao hiểu nổi, song lát sau mắt nàng nhắm lại, ngực nàng thở ra một hơi nhè nhẹ rồi chìm vào một giấc ngủ say sưa mà ông Teoklex đang chờ, giấc ngủ mà theo ông nói thì sau đó nàng sẽ khỏe lại.
Vinixius còn quỳ mãi bên nàng đắm chìm trong cầu nguyện. Linh hồn chàng tan ra trong một tình yêu vô biên, khiến chàng quên đi tất thẩy. Ông Teoklex vài lần bước vào buồng ngủ, mái đầu tóc vàng của nàng Eunixe hiện ra mấy lần từ sau chiếc rèm được hé, cuối cùng lũ sếu được nuôi trong vườn bắt đầu kêu lên báo hiệu một ngày mới đến, nhưng chàng vẫn còn đang ôm chân Đức Chúa Crixtux trong tâm tưởng, không nghe và không thấy những gì đa diễn ra chung quanh, với con tin đã biến thành một ngọn lửa tận hiển đầy hàm ơn, say sưa trong lòng ngưỡng mộ, khiến chàng còn sống mà như đã được lên trời nửa phần.
CHƯƠNG 68
Sau khi Ligia được giải thoát, không muốn làm Hoàng đế thêm chạm nọc, ông Petronius đi cùng với ngài và các cận thần khác lên đồi Palatyn. Ông muốn nghe xem họ sẽ nói những gì ở đấy, nhất là muốn biết xem Tygelinux có nghĩ ra cách gì mới để hại cô gái nữa chăng. Thực ra cả nàng lẫn bác Urxux đều đang được dân chúng bảo trợ và không kẻ nào giờ đây có thể vung tay lên đánh họ mà không gây nên những cơn bạo động, tuy nhiên, vốn hiểu rõ sự hằn học mà viên tổng quản toàn quyền của quân cấm vệ dành cho ông, nên Petronius nghĩ rằng, vì không thể chạm nổi đến ông, tên này sẽ cố tìm mọi cách trả thù cháu ông.
Nerô giận dữ và cáu kỉnh, vì buổi diễn đã kết thúc mà hoàn toàn khác với điều ngài mong muốn. Thoạt tiên, ngài hoàn toàn không thèm nhìn ông Petronius, nhưng ông không bị mất bình tĩnh, tiến lại bên ngài với sự thoải mái hoàn toàn của vị arbiter elegantiarum, ông nói với ngài:
- Tâu Thánh thượng, Người có biết thần vừa chợt nghĩ ra điều gì chăng? Người hãy viết một bài ca về nàng trinh nữ mà lệnh của vị chúa tể thế giới đã cứu thoát khỏi đôi sừng con bò tót hoang dã, để trả về với người nàng yêu. Dân Hi Lạp vốn có những trái tim nhạy cảm và thần đoán rằng một bài ca như thế sẽ hoàn toàn chinh phục bọn chúng.
Mặc dù đang cáu, nhưng cái ý nghĩ kia thật hợp với gu Nerô, mà lại hợp những hai lần: trước hết, với tư cách một đề tài cho bài ca, sau nữa, ngài có thể tự ca ngợi mình trong bài ca đó như một vị chúa tể đầy đại lượng của thế gian. Ngài bèn nhìn ông Petronius hồi lâu rồi nói:
- Phải đấy! Có thể ngươi nói có lý! Nhưng ta ca hát về lòng tốt của mình có được chăng?
- Hoàng thượng không cần nêu tên. Vì mọi người ở Roma đều đoán được nói về ai, mà từ Roma tin tức sẽ lan truyền khắp thế giới.
- Và ngươi chắc là cái đó sẽ được ưa chuộng ở Akhai chứ?
- Thề có Ponlukx! - ông Petronius kêu lên.
Và ông hài lòng lui bước, vì giờ đây ông tin chắc rằng Nerô, kẻ mà cả cuộc đời chỉ là một sự vận dụng thực tế vào những ý đồ văn học, sẽ không muốn làm hỏng mất chủ đề, chính điều ấy sẽ trói tay Tygelinux. Tuy nhiên, điều đó không khiến ông thay đổi ý định sẽ bảo Vinixius rời khỏi Roma ngay sau khi sức khoẻ Ligia không còn là trở ngại. Vậy nên ngày hôm sau, khi trông thấy chàng, ông nói:
- Anh hãy mang nàng ra Xyxilia. Đã xảy ra một chuyện khiến cho về phía Hoàng đế sẽ không có điều gì đe doạ anh chị, nhưng gã Tygelinux vẫn sẵn sàng dùng tới thuốc độc như thường, nếu không phải vì căm ghét anh chị, thì cũng vì thù tôi.
Vinixius mỉm cười và đáp:
- Nàng đã từng nằm trên sừng bò tót, vậy mà Đức Chúa Crixtux vẫn cứu được nàng.
- Vậy thì hãy cứ dâng lễ vật cho ông ta, - ông Petronius đáp với một thoáng sốt ruột, - nhưng chớ có bắt ông ấy phải cứu nàng lần nữa… Anh có nhớ thần gió Eon đã đón tiếp chàng Ôđyxeus ra sao khi chàng quay lại cầu xin thần làm gió thuận một lần nữa? Các vị thần thường không ưa chuyện lặp lại đâu.
- Một khi nàng khoẻ lại, - Vinixius đáp, - cháu sẽ mang nàng về với bà Pomponia Grexyna.
- Và anh làm như thế càng phải lắm, vì bà Pomponia đang ốm. Antyxtius, người có họ với ông Aulux, vừa cho cậu hay tin ấy. Còn nơi đây sẽ diễn ra những chuyện khiến cho người ta quên bẵng anh chị, mà ở thời buổi này, hạnh phúc nhất là những kẻ bị người ta quên lãng. Cầu thần tài Fortuna sẽ là vầng dương trong ngày đông, sẽ là bóng mát trong tháng hạ với anh chị.
Nói đoạn, ông để Vinixius ở lại với niềm hạnh phúc của chàng, còn ông đến gặp Teoklex để tìm hiểu về sức khoẻ và sự sống của Ligia.
Nhưng nàng không còn bị mối nguy đe doạ nữa. Nếu như ở trong hầm giam, trong cơn kiệt sức sau khi bị bệnh sốt nhà tù, nàng chắc sẽ bị bầu không khí thối rữa và sự thiếu tiện nghi giết chết, nhưng giờ đây nàng được vây trong một sự săn sóc ân cần nhất, không những chỉ đủ mà còn xa hoa nữa. Theo lệnh ông Teoklex, sau hai ngày, nàng bắt đầu được mang ra khu vườn vây quanh biệt thự và nghỉ ngơi ở đó hàng giờ liền. Vinixius trang trí kiệu của nàng bằng hoa thu mẫu đơn, và nhất là bằng hoa diên vĩ, để khiến nàng hồi tưởng lại gian chính sảnh nhà ông Aulux. Nhiều lần, ẩn mình trong bóng mát của đám cây cối um tùm, họ trò chuyện cùng nhau, tay trong tay, về những nỗi đau đớn và nỗi lo sợ ngày xưa. Ligia nói chàng hay rằng chính Đức Chúa Crixtux đã cố ý dắt chàng đi qua nỗi đau khổ để biến đổi tâm linh chàng và nâng chàng lên gần với Người, chàng cảm thấy điều ấy quả đúng như thế, trong lòng chàng không còn giữ lại chút gì của con người quý tộc xưa kia, kẻ không thừa nhận một thứ luật lệ nào khác ngoài những ham muốn của bản thân. Nhưng trong những câu chuyện ôn lại ấy không hề có chút gì cay đắng. Cả hai cảm thấy dường như bao năm tháng đã tràn qua đầu họ và cái quá khứ kinh khủng kia đã nằm lại xa tít phía sau lưng. Còn giờ đây, vây quanh họ là sự yên bình mà họ chưa từng bao giờ được hưởng. Một cuộc đời mới nào đó, đầy say đắm đang tiến đến với họ, cuốn họ vào với mình. Ở Roma, Hoàng đế có thể cứ điên khùng và khiến cho thế giới phải kinh hãi, nhưng còn họ, cảm thấy trên đầu có một nguồn bảo trợ trăm lần hùng mạnh hơn, họ không còn sợ sự dữ cùng những cơn điên loạn của y, dường như y không còn là chúa tể nắm giữ mạng sống và cái chết của họ. Một lần, vào lúc hoàng hôn, họ nghe tiếng rống của sư tử và các loài dã thú khác từ phía xa vọng lại. Hồi trước, những thanh âm kia đã từng khiến cho Vinixius hãi hùng như thể nghe một điềm báo gở. Giờ đây cả hai nhìn nhau mỉm cười, rồi họ cùng ngước mắt nhìn lên ánh ráng chiều. Thỉnh thoảng Ligia - hãy còn rất yếu và chưa thể tự đi lại - ngủ thiếp đi trong sự thanh tĩnh của khu vườn, còn chàng ngồi thức canh cho nàng, và ngắm khuôn mặt đang ngủ say sưa của nàng, bất giác chàng nghĩ rằng đó không còn là nàng Ligia mà chàng đã từng gặp ở nhà ông bà Aulux nữa. Ngục tù và bệnh tật đã làm tắt đi một phần vẻ đẹp của nàng. Lúc chàng gặp nàng ở nhà ông bà Aulux và khi chàng tới nhà bà Miriam để cướp lại nàng, nàng xinh đẹp như một pho tượng và như một đoá hoa; giờ đây nét mặt nàng gần như hoá thành trong suốt, tay nàng gầy guộc, thân mình nàng nhỏ bé lại do bệnh tật, môi nàng nhợt đi và mắt hình như cũng có vẻ kém thẳm xanh hơn hồi trước. Nàng Eunixe tóc vàng, người thường mang hoa tới cho nàng và những tấm vải quý để nàng ủ chân, trông cứ như một nữ thần đảo Sip khi ở bên nàng vậy. Nhà duy mỹ Petronius hoài công cố tìm ở nàng vẻ hấp dẫn xưa kia, và ông nhún vai nghĩ thầm, rằng cái bóng trở về từ những cánh đồng Elizei kia không xứng với ngần ấy những lo toan, những nỗi đau và khổ hình, chút nữa đã hút cạn sức sống của Vinixius. Nhưng chàng Vinixius, người mà giờ đây yêu tâm hồn của nàng, lại càng yêu thương nàng hơn, và những khi thức canh cho nàng ngủ, chàng ngỡ như mình đang thức canh cho toàn thế giới.
CHƯƠNG 69
Tin tức về sự cứu thoát Ligia một cách kỳ diệu nhanh chóng loan ra trong những người Thiên chúa giáo còn sót lại, cho tới nay vẫn tránh được cuộc khủng bố. Tín đồ bắt đầu lui tới đển ngắm nhìn nàng thiếu nữ đã được hưởng ân huệ hiển nhiên của Chúa Crixtux. Cậu bé Nazarius cùng bà Miriam là những người đến đầu tiên, cho tới nay Sứ đồ Piotr vẫn ẩn náu tại nhà họ, tiếp theo là những người khác nữa. Tất cả mọi người cùng với Vinixius, Ligia và những nô lệ là tín đồ Thiên chúa của ông Petronius chăm chú lắng nghe câu chuyện kể của bác Urxux về giọng nói cất lên trong tâm linh bác, ra lệnh cho bác phải chiến đấu với con vật hoang dã, và tất thẩy mọi người đều ra về với niềm cổ vũ và hi vọng rằng dù sao Đức Chúa Crixtux cũng không để cho người ta tiêu diệt đến người cuối cùng trong số tín đồ Thiên chúa, trước khi ngày phán xét kinh khủng kia tới. Và niềm hi vọng đã giữ vững trái tim cho họ, vì cho tới lúc này, cuộc khủng bố vẫn chưa ngừng. Chỉ cần dư luận công chúng báo một người nào đó là tín đồ Thiên chúa, thì ngay lập tức, người đó sẽ bị bọn vigin bắt giam vào nhà ngục. Thực ra số nạn nhân đã ít đi, vì nói chung các tín đồ đều đã bị bắt và bị hành hạ, số còn lại, hoặc đã rời khỏi Roma về các tỉnh trấn xa xôi chờ qua cơn bão tố, hoặc cố gắng tự giấu mình, không dám tụ tập lại để cầu nguyện cùng nhau tại một nơi nào khác ngoài các đấu trường nằm bên ngoài thành phố. Tuy nhiên họ vẫn bị theo dõi, và mặc dù các hội đấu thực sự đã chấm dứt, người ta giam giữ họ chờ dịp tiếp theo hoặc xử ngay lập tức. Mặc dù dân chúng Roma không còn tin rằng những tín đồ Thiên chúa là thủ phạm vụ đốt cháy thành phố, nhưng người ta vẫn tuyên bố rằng bọn họ là kẻ thù của nhân loại cũng như của quốc gia và chỉ dụ chống lại họ vẫn còn giữ nguyên hiệu lực.
Rất lâu, Sứ đồ Piotr không dám xuất hiện ở nhà ông Petronius, cuối cùng một buổi tối kia, cậu bé Nazarius báo tin ông sẽ tới. Ligia đã tự đi được, cùng Vinixius chạy ra đón ông, họ cùng ôm lấy chân ông, còn ông chào họ càng cảm động hơn, bởi chẳng còn được mấy con chiên trong đàn chiên con mà Chúa Crixtux đã giao cho ông chăn dắt, đàn chiên mà giờ đây trái tim vĩ đại của ông đang than khóc cho số phận của họ. cho nên khi Vinixius thưa cùng ông: “Thưa cha! Chính nhờ cha mà Đấng cứu thế mới mang nàng trở về cho con đấy!” thì ông bèn đáp lại: “Người mang trả nàng về cho con vì lòng con hằng tin và để không lặng đi tất cả những đổi mới hằng gọi tên Người!” Và hẳn là khi ấy ông nghĩ tới hàng nghìn đứa con của mình đã bị thú dữ xé xác, nghĩ tới những cây thập ác chen chúc đầy chật bãi đấu trường, nghĩ tới những cột lửa trong các khu vườn “Dã thú”, bởi lẽ ông nói điều ấy dường như với một nỗi niềm thương tiếc bao la. Vinixius và Ligia cũng để ý thấy rằng tóc ông đã hoàn toàn bạc trắng, cả dáng người khom xuống, nét mặt biết bao buồn thương và chịu đựng, dường như chính ông đã trải qua những nỗi đau đớn và cực hình mà các nạn nhân của sự hung dữ và điên khùng của Nerô đã phải chịu đựng. Nhưng đôi trẻ đã hiểu được rằng khi mà chính Đức Chúa Crixtux tự mình dấn thân vào cực hình và cái chết, thì không một kẻ nào có thể tránh được. Tuy vậy, trái tim họ như bị cứa rách khi nhìn thấy đức Sứ đồ đang bị còng xuống dưới gánh nặng của tuổi tác, của cực nhọc và đau đớn. Vì vậy Vinixius, người định vài ngày nữa sẽ mang Ligia đi Neapolix, nơi họ sẽ được gặp bà Pomponia, rồi sau đó sẽ đi Xyxilia, bắt đầu cầu xin ông hãy cùng họ rời khỏi Roma.
Nhưng Sứ đồ đặt tay lên đầu chàng đáp lại:
- Ta đang nghe trong tâm linh lời của Chúa nói cùng ta trên hồ Tyberiad: “Khi ngươi còn trẻ, ngươi đi kiếm ăn và chu du bất cứ nơi nào ngươi muốn, nhưng một khi ngươi đã già, ngươi sẽ chìa hai bàn tay mình ra và kẻ khác sẽ cho ngươi ăn, dắt ngươi đi đến nơi nào ngươi không muốn”. Vậy nên ta phải đi theo đàn chiên của ta.
Và khi thấy họ im lặng không hiểu điều ông nói, ông bèn thêm:
- Nỗi nhọc nhằn của ta sắp hết, nhưng ta sẽ chỉ được hưởng lòng mến khách và được nghỉ ngơi trong nhà của Chúa mà thôi.
Rồi quay sang phía họ, ông nói: “Hãy nhớ tới ta, bởi ta hằng yêu mến các con, như người cha yêu thương những con trẻ của mình, và dù trong đời các con có làm điều gì, thì hãy làm vì sự ngợi ca Đức Chúa”.
Vừa nói ông vừa giơ hai bàn tay già nua run run của mình lên trên đầu họ ban phước cho cả hai, còn họ nép sát vào ông, cảm thấy rằng đây là lần cuối cùng họ được bàn tay ông ban phước.
Tuy nhiên, định mệnh còn cho họ được gặp ông một lần nữa. Vài ngày sau đó, ông Petronius mang về từ Palatyn những tin dữ. Người ta phát hiện ra rằng một nô lệ giải phóng của chính Hoàng đế là tín đồ Thiên chúa và tìm thấy ở chỗ anh ta những bức thư của các Sứ đồ Piotr và Paven xứ Tarxu, cùng những thư từ của Jakup, Juđa và Jan. Trước đó, Tygelinux cũng đã được biết rằng Sứ đồ Piotr đến Roma, nhưng hắn nghĩ rằng ông đã bị thiệt mạng cùng với hàng nghìn tín đồ khác. Giờ đây mới vỡ lẽ rằng hai vị thủ lĩnh của giáo phái mới vẫn đang còn sống và đang có mặt tại thành đô, người ta bèn quyết định sẽ tìm ra họ và bắt bằng được họ, dù phải trả bằng mọi giá, bởi người ta cho rằng chỉ khi nào trừ khử được họ mới có thể tróc sạch những cội rễ cuối cùng của thứ đạo bị căm ghét kia. Ông Petronius nghe Vextynux nói rằng đích thân Hoàng đế ra lệnh là trong vòng ba ngày ông Piotr và ông Paven xứ Tarxu phải bị nhốt vào nhà ngục Marmetyn, và người ta đã phái đi những đơn vị cấm binh để sục tung tất cả các ngôi nhà ở khu Zatybre.
Nghe tin ấy, Vinixius quyết định đến báo trước cho Sứ đồ. Tối đến, cùng với bác Urxux, chàng khoác chiếc áo choàng xứ Gan che kín mặt, đi tới nhà bà Miriam, nơi ông Piotr thường lui tới, nằm ở tận rìa ngoài cùng của phần thành phố thuộc khu Zatybre, dưới chân đồi Janykun. Dọc đường, họ trông thấy những ngôi nhà bị binh lính vây kín, bọn lính được những kẻ nào đó không quen mặt dẫn đi. Khu phố náo động, đôi chỗ tụ tập những đám đông người tò mò. Đây đó, những viên xenturion tra hỏi các tù nhân bị bắt về ông Piotr Xymeon và ông Paven xứ Tarxu.
Tuy nhiên, Vinixius và bác Urxux vẫn đến trước bọn lính và may mắn tới được nhà bà Miriam; họ gặp tại đó ông Piotr, có một đám nhỏ tín đồ vây quanh, Tymoteus, trợ thủ của ông Paven xứ Tarxu và ông Linux cũng có mặt bên đức Sứ đồ.
Nghe tin nỗi nguy đang đến gần, Nazarius dẫn mọi người theo một lối đi bí mật ra tới cổng vườn, rồi sau đó tới những mỏ đá đã bị bỏ không, chỉ cách cổng thành Janykun chừng vài trăm bước. Bác Urxux phải bế ông Linux đi, bởi những chiếc xương bị gẫy khi chịu đòn tra tấn cho đến nay vẫn chưa liền lại được. Nhưng một khi đã vào tới hang ngầm, họ lại cảm thấy được an toàn, và trong ánh đèn cầy mà cậu bé Nazarius châm lên, họ bắt đầu bàn bạc khe khẽ, tìm cách cứu lấy mạng sống của vị Sứ đồ vô cùng quý giá đối với họ.
- Thưa cha, - Vinixius bảo ông, - xin hãy để Nazarius rạng sáng mai đưa cha rời thành phố vào dãy núi Anban. Ở đó con sẽ tìm cha và đưa cha tới Anxium, nơi đang có một chiếc tàu chờ sẵn để chở chúng con tới Neapolix rồi Xyxilia. Hạnh phúc thay cái ngày và cái giờ phút cha bước vào nhà con và ban phước cho bếp lửa chúng con.
Những người khác vui sướng nghe chàng nói, và họ năn nỉ đức Sứ đồ, họ nói:
- Hỡi người chăn chúng con, xin Người hãy trốn tránh đi, bởi Người không thể nào ở lại Roma được nữa. Xin hãy cất giấu cái chân lý hằng sống để nó khỏi mất đi cùng với chúng con và Người. Xin hãy chấp thuận lời chúng con, những kẻ đang cầu khẩn Người như một người cha.
- Xin Người hãy làm điều đó, nhân danh Chúa Crixtux! - những người khác cũng vừa kêu lên vừa níu lấy tà áo ông.
Ông đáp lại:
- Các con ta! Ai biết được khi nào Đức Chúa vạch đường chấm dứt cuộc đời.
Nhưng ông cũng không nói rằng sẽ không rời Roma, vì chính ông cũng phân vân không biết nên làm gì, khi mà đã từ lâu len vào tâm hồn ông nỗi phấp phỏng, thậm chí cả nỗi lo âu. Đàn chiên của ông đã bị tan tác, sự nghiệp đã bị phá nát. Trước đám cháy thành phố, nhà thờ phát triển như một cái cây tuyệt vời, thế mà bạo lực của “Dã thú” đã biến nó thành tro bụi. Không còn gì cả trừ nước mắt, không còn gì cả trừ những hồi ức, trừ nhục hình và chết chóc. Mùa gieo hạt đã cho vụ lúa tốt tươi, nhưng quỷ Sa tăng đã chà đạp nó xuống đất. Hàng đoàn thiên sứ đã không xuống cứu giúp những người hấp hối, và kia Nerô vẫn đang ngồi ngang nhiên trong sự ngợi ca trên thế gian, còn kinh khủng và hùng mạnh hơn bao giờ hết, chúa tể của tất thẩy biển cả và đất liền. Hơn một lần, người lão ngư thánh thiện, trong nỗi cô đơn, đã chìa tay lên trời mà hỏi: “Chúa ơi! Tôi biết làm gì đây? Làm sao tôi trụ được? làm sao một lão già kiệt sức như tôi có thể chống nổi cái sức mạnh vô biên kia của Sự Dữ mà Người đã cho phép nó nắm quyền thống trị và chiến thắng?”
Và cứ yêu cầu như thế từ chốn sâu thẳm của nỗi đau khốn cùng, ông tự nhủ lòng: “Người đâu còn đàn chiên con mà Chúa đã bảo tôi chăn dắt, đâu còn nhà thờ của Người, trống trải và tang thương ở cái thủ đô của Người, vậy giờ đây Người bảo tôi phải làm gì nữa? Tôi sẽ phải ở lại đây hay đưa dắt đàn chiên con còn sót lại trốn đến một miền xa xôi nào đó bên kia biển cả để âm thầm ca ngợi tên Người?”
Ông phân vân. Ông tin rằng chân lý chân lý đầy sức sống không thể chết và nhất định chiến thắng, nhưng đôi khi ông nghĩ rằng có thể chưa đến thời, thời sẽ đến khi nào Đức Chúa giáng thế xuống trái đất trong ngày phán xét, trong niềm vinh quang và sức mạnh trăm lần hùng hậu hơn sức mạnh của Nerô.
Ông thường cảm thấy rằng nếu ông rời Roma, những người trung thành sẽ đi theo ông, ông sẽ đưa họ tới tận những khu rừng gai góc của xứ Galilei, tới bờ nước thanh bình của biển Tyberiađ, đến với những người mục dân hiền hoà như đàn bồ câu hoặc như những con cừu mà chính họ chăm nơi ấy, giữa đám xương bồ và cam tùng. Và mỗi ngày, niềm mong muốn được yên tĩnh và nghỉ ngơi càng lớn lên, mỗi ngày niềm nhớ nhung cái hồi và vùng Galilei một tăng thêm chiếm lấy trái tim người đánh cá, mỗi ngày thường thêm nhiều giọt lệ chắt ra từ đôi mắt già nua.
Nhưng một khi đã lựa chọn xong, đột nhiên ông lại thấy lo lắng không yên. Làm sao ông có thể rời bỏ cái thành phố nơi ngần kia máu tử vì đạo đã ngấm sâu đến thế vào đất, nơi ngần kia đổi mới của những người đang chịu chết đã từng làm chứng cho chân lý? Lẽ nào mỗi mình ông trốn tránh điều ấy hay chăng? Ông biết nói gì cùng Chúa, khi nghe thấy những lời này: “Họ đã chết vì lòng tin của họ, còn ngươi thì lại chạy trốn.”
Ngày và đêm trôi đi với ông trong nỗi lo âu phiền não. Sau giây phút chịu cực hình, những người bị sư tử xé xác, những người bị đóng đinh lên thập tự, những người bị chết thiêu trong vườn Hoàng đế đều được ngủ yên trong Chúa, còn ông không thể nào chợp mắt, ông cảm thấy một nỗi cực hình lớn hơn tất cả những gì bọn đao phủ đã nghĩ ra cho các nạn nhân. Ánh rạng đông đã bắt đầu nhuộm trắng mái các ngôi nhà, mà ông hãy còn một lần nữa kêu lên từ chốn thẳm sâu của một trái tim đang chua xót:
- Chúa ơi, phải chăng không phải chính Người đã bảo tôi phải tới đây để dựng nên thủ đô của Người trong cái ổ Dã Thú này?
Suốt ba mươi tư năm ròng từ khi Chúa qua đời, ông không biết thế nào là nghỉ ngơi. Với chiếc gậy trong tay, ông đã đi khắp thế gian để thuật lại cái “tin lành” kia. Sức khoẻ của ông đã bị cạn kiệt đi trong những chuyến đi và những nỗi lao lung, và rốt cuộc, khi tại thành phố này, thành phố đầu não của thế giới, ông đã củng cố được công trình của Thầy, thì chỉ một hơi thở lửa của sự dữ đã thiêu trụi nó đi, để ông lại phải bắt đầu cuộc chiến đấu từ đầu. Mà cuộc chiến đấu thế nào kia chứ? Một bên là Hoàng đế, viện Nguyên lão, dân chúng, những chiến đoàn đang đóng vành đai sắt trên toàn thế giới, những thành quách nhiều không tính xuể, những đất nước nhiều không đếm xiết, thế lực mà mắt người chưa từng thấy; còn bên kia là ông, bị tuổi tác và lao lung đè trĩu đến nỗi đôi bàn tay run rẩy của ông chỉ còn đủ sức cầm chiếc gậy đi đường.
Vì vậy đôi khi ông tự nhủ rằng ông không phải là địch thủ của Hoàng đế La Mã, rằng sự nghiệp kia chỉ có chính Đức Chúa mới thực hiện nổi mà thôi.
Giờ đây, tất cả những ý nghĩ ấy lướt qua mái đầu đầy ưu tư của ông khi ông nghe những lời cầu khẩn của một nhúm tín đồ cuối cùng còn sót lại, còn họ vây quanh ông thành một vòng tròn mỗi lúc một chặt hơn, lặp đi lặp lại với giọng van lơn:
- Xin Người hãy trốn tránh đi, thưa rabbi, và đưa chúng con thoát khỏi bạo lực của Dã Thú.
Sau cùng, ông Linux cũng cúi xuống trước ông mái đầu mệt mỏi của mình:
- Thưa cha, - ông nói,- Đấng Cứu thế đã ra lệnh cho cha chăn dắt đàn chiên con của mình, nhưng ở đây không còn đàn chiên nữa, hoặc ngày mai sẽ không còn, vậy xin Cha hãy đi về những nơi nào có thể tìm ra đàn mới. Lời Chúa vẫn hằng sống ở Jeruzalem, ở Antiokhia, ở Eferơ và bao thành phố khác nữa. Còn ở lại Roma phỏng cha sẽ làm được thêm điều gì? Một khi Người ngã xuống sẽ chỉ càng làm cho chiến thắng của bọn Dã Thú lớn hơn mà thôi. Chúa đã không hạn định cuộc đời Sứ đồ Jan; Sứ đồ Paven là một công dân La Mã và người ta sẽ không thể xử tội ông ta nếu không lập toà án, nhưng thưa thầy, nếu như sức mạnh của địa ngục thắng Người, thì những kẻ đã ngã lòng sẽ hỏi: “Vậy thì còn ai mạnh hơn Nerô nữa chăng?”. Người là nền móng để dựng nên nhà thờ của Chúa. Hãy cho chúng tôi được chết, nhưng đừng cho một kẻ chống Chúa chiến thắng Đấng tổng quản thay mặt Chúa, và xin Cha chớ quay trở lại nơi này, trước khi Chúa chưa trị tội kẻ đã khiến máu vô tội phải đổ ra”.
- Xin Người hãy trông nước mắt chúng con! - Tất thẩy những người có mặt đều kêu lên
Lệ chảy ròng ròng trên mặt ông Piotr, nhưng lát sau ông ngẩng lên chìa tay ra trên đầu những người đang quỳ và nói:
- Cầu cho tên tuổi của Chúa được hằng thờ phụng, xin ý chí của Người được thực hiện.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 70
Mờ sáng hôm sau, hai bóng đen di động trên đường cái Appia về phía đồng bằng Kampania.
Một trong hai người là cậu bé Nazarius, người kia là Sứ đồ Piotr đang rời khỏi Roma, rời những tín đồ đã quá đỗi mỏi mệt nơi đó. Phương đông, bầu trời đang phảng phất một sắc xanh lá mạ, bên dưới dần dần mỗi lúc một rõ hơn, nhuốm màu hoa kỵ phù lam. Từ trong bóng đêm nhô dần ra những cây cối với lá màu bạc, làn đá cẩm thạch trắng ngần của các toà biệt thự và vòm cung cong của những đường máng dẫn nước chạy vắt ngang qua bình nguyên về phía thành phố. Sắc xanh lục của bầu trời cứ rạng dần ra, mỗi lúc một ngả sang ánh vàng. Rồi rạng đông bắt đầu nhuộm hồng và soi sáng dẫy núi Anban đang phô ra với màu lam tím tuyệt mỹ, dường như gồm toàn những tia sáng gộp lại.
Ánh bình minh phản chiếu trong những giọt sương xao động lung linh trên lá cây. Màn sương mù loãng dần để hiện ra mỗi lúc một rộng hơn phong cảnh vùng đồng bằng với những ngôi nhà, nghĩa địa, các thị trấn và những khu rừng cây nhỏ, trong đó thấp thoáng dáng trắng mờ những hàng cột của các thần miếu.
Đường phố hãy còn vắng lặng, dân quê thường chở rau vào thành phố hẳn còn chưa kịp thắng xe. Tiếng những đôi guốc gỗ mà hai người bộ hành mang ở chân gõ vào những phiến đá đường cái chạy mãi vào dãy núi xa xa, lan ra trong sự tĩnh mịch.
Sau đó mặt trời từ sau những hẻm núi ló ra, đồng thời, một hình ảnh kỳ lạ cũng chợt đập vào mắt Sứ đồ. Ông như trông thấy một vòng tròn màu vàng rực từ trên những ngọn núi tuột xuống và lăn trên đường, thay vì nhô lên mỗi lúc một cao trên bầu trời.
Ông Piotr ngừng bước và cất tiếng hỏi:
- Con có trông thấy vừng sáng đang tiến lại chúng ta kia không?
- Con chẳng thấy gì cả. - Nazarius đáp.
Song một lúc sau ông Piotr lấy tay che mắt và lại lên tiếng hỏi:
- Một bóng người nào đó đang đi lại phía chúng ta trong ánh mặt trời.
Song không hề có tiếng bước chân ai vang tới tai họ. Chung quanh hoàn toàn im lặng. Nazarius chỉ trông thấy phía xa xa cây cối đang rung động dường như bị ai lay, ánh bình minh toả xuống vùng đồng bằng mỗi lúc một rộng hơn.
Cậu bé kinh ngạc nhìn Sứ đồ:
- Rabbi! Người làm sao thế? - cậu bé lo lắng gọi.
Chiếc gậy đi đường từ tay ông Piotr chợt rơi xuống đất, đôi mắt ông nhìn bất động phía trước mặt, miệng ông há ra, nét mặt tràn ngập nỗi kinh ngạc, niềm vui sướng và sự thành kính.
Đột nhiên, ông quỳ sụp xuống, chìa hai tay ra trước mặt và môi ông bật lên tiếng kêu:
- Crixtux! Crixtux!
Và ông mọp trán xuống đất, dường như để hôn bàn chân ai đó.
Im lặng kéo dài giây lâu, rồi trong bầu không khí tĩnh mịch chợt vang lên tiếng ông bị những tiếng nức nở làm gián đoạn:
- Quo Vadis, Domine?…(1)
Nazarius không nghe thấy câu trả lời, nhưng vọng đến tai ông Piotr là một giọng nói buồn bã và ngọt ngào:
- Khi ngươi rời bỏ dân ta, ta phải đến Roma để cho người ta lại đóng đinh ta lên cây thập tự lần thứ hai.
Sứ đồ nằm lăn ra đất, mặt ngập trong bụi đường, không động đậy cũng không nói một lời. Khi cậu bé Nazarius ngỡ là ông đã ngất đi hay đã qua đời, thì bỗng nhiên ông nhổm dậy, hai tay run rẩy cầm cây gậy đi đường lên, và không nói một lời, ông quay về phía bẩy ngọn đồi của thành phố.
Thấy vậy, người tiểu đồng lặp lại như một tiếng vang:
- Quo Vadis, Domine?…
- Về Roma. - Sứ đồ khẽ đáp.
Rồi ông quay trở lại.
Các ông Paven, Jan, Linux và tất cả các tín đồ đón ông đầy ngạc nhiên và lo lắng, nỗi lo sợ càng tăng thêm, vì chính vào mờ sáng hôm ấy, ngay sau lúc ông vừa ra đi, bọn lính cấm vệ vây chặt nhà bà Miriam và sục tìm Sứ đồ tại đó. Còn ông, để trả lời những câu hỏi của họ, ông chỉ đáp lại với vẻ mặt đầy sung sướng và bình thản:
- Tôi đã được gặp Đức Chúa!
Ngay chiều hôm ấy, ông lại đến nghĩa địa Oxtrianum để rao giảng và rửa tội cho những người muốn được tắm mình trong dòng nước sống.
Rồi từ đấy, hôm nào ông cũng đến đó, theo sau ông là những đám người ngày càng đông đảo hơn. Dường như một giọt nước mắt tử vì đạo lại nẩy sinh ra những tín đồ mới, mỗi tiếng kêu thét trên đấu trường được đáp lại bằng tiếng vang trong hàng nghìn lồng ngực. Hoàng đế tắm trong máu, Roma cùng cả thế giới ngoại đạo nổi cơn điên. Còn đối với những người đã quá chán ngấy sự điên loạn cùng tội ác, những người bị chà đạp, những người phải chịu sống trong cảnh nô lệ và áp bức, tất cả những ai buồn đau, tất thẩy những người bất hạnh, đều tụ tập đến đây để nghe những câu chuyện kỳ lạ về Đức Chúa, Người mà vì tình yêu con người đã chịu đóng đinh lên cây thập tự để chuộc bớt tội lỗi cho họ.
Tìm được một vị Chúa mà họ có thể kính yêu, họ đã tìm thấy điều mà cho tới nay thế giới này không thể mang lại cho bất cứ một ai: hạnh phúc trong tình yêu thương.
Và ông Piotr hiểu ra rằng, Hoàng đế cùng tất cả các đạo quân của y cũng không thể thắng nổi chân lý đầy sức sống kia, cả nước mắt lẫn máu tươi đều không thể nhấn chìm nổi chân lý đó, rằng giờ đây mới là lúc chân lý đó bắt đầu chiến thắng. Ông cũng hiểu được vì sao Đức Chúa đã khiến ông quay trở lại giữa đường: chính cái thành phố của xa hoa, tội ác, truỵ lạc và bạo lực này đã bắt đầu biến thành thành phố của ông, trở thành một thủ đô hai lần thủ đô, từ thủ đô ấy sẽ trào tuôn ra thế giới sự ngự trị của cả thể xác lẫn linh hồn.
Chú thích:
(1) La Tinh: Thưa Đức Chúa, Người đi đâu?
CHƯƠNG 71
Rốt cuộc thời gian của hai vị Sứ Đồ cũng hết. Nhưng dường như để kết thúc sự nghiệp, vị ngư ông thánh thiện còn vớt thêm hai linh hồn ngay cả trong nhà ngục. Hai người lính Proxexxux và Martynianux canh giữ ông trong nhà ngục Mamertyn đã chịu lễ rửa tội. Sau đó là giờ phút khổ hình. Lúc ấy, Nerô không có mặt tại Roma. Bản án đó Heliux và Politetex, hai nô lệ giải phóng mà hoàng đế giao cho quyền trị vì Roma trong thời gian ngài vắng mặt, phán quyết. Chúng bắt đức Đại Sứ đồ trước tiên phải chịu đòn theo đúng luật lệ quy định, rồi hôm sau chúng mang ông ra tường thành, tới đồi Vatykan, nơi ông sẽ chịu xử đóng đinh câu rút. Binh mính ngạc nhiên trước đám đông người tụ tập ngay trước cổng nhà ngục, vì theo ý chúng, cái chết của một kẻ tiện dân, hơn nữa lại là một tên ngoại quốc, không đáng phải quan tâm nhiều đến thế, bởi bọn chúng không hiểu rằng đám người kia không phải là những người tò mò mà chính là các tín đồ muốn đưa tiễn đại Sứ Đồ đến nơi hành hình. Sau giờ ngọ, cổng nhà ngục mở và ông Piotr hiện ra giữa một toán lính cấm vệ. Mặt trời đã hơi ngả về phía Oxtia, hôm ấy là một ngày thanh tĩnh và đẹp trời. Vì tuổi tác, ông Piotr bị bắt phải vác cây thập tự, người ta nghĩ rằng ông không thể mang nổi, ông cũng không bị chọc nạng vào cổ để khỏi làm ông khó đi. Ông bước đi khoan thai và các tín đồ có thể nhìn ông rất rõ. Khi giữa đám mũ trụ bằng sắt của binh lính hiện ra mái đầu bạc trắng của ông, đám đông òa lên khóc, nhưng tiếng khóc lặng đi ngay lập tức, vì nét mặt cụ già xiết bao bình thản và sáng lên một niềm sướng vui, khiến cho tất cả mọi người đều hiểu rằng đó không phải là một nạn nhân đến nơi chịu hành hình mà là một người chiến thắng đang ca khúc khải hoàn.
Và quả đúng như thế. Vị lão ngư thường ngày vẫn nhẫn nhục và còng lưng, lúc này bước thẳng người, tầm vóc hơn đám binh lính, đầy vẻ trang trọng. Chưa bao giờ người ta thấy ở ông ngần ấy vẻ uy nghi. Ngỡ như đó là một vị quốc vương đang đi giữa chúng dân và binh lính. Từ mọi phía đều bang lên những tiếng nói: "Thánh Piotr đang đi gặp Đức Chúa kia kìa!". Tất thẩy mọi người dường như quên bẵng rằng nhục hình và cái chết đang chờ ông. Họ bước đi trong sự chăm chú trọng thể, nhưng cũng trong nỗi yên lòng bởi họ cảm thấy rằng từ khi có cái chết trên đồi Gongota đến nay, chưa từng có điều gì vĩ đại hơn và nếu cái chết kia chuộc tội cho toàn thế giới, thì cái chết này sẽ chuộc tội cho thành đô.
Dọc đường, mọi người dừng bước ngạc nhiên nhìn cảnh cụ già nọ, còn các tín đồ thì đặt tay lên vai họ và nói bằng giọng bình tĩnh: "Các người hãy trông Đức Chúa Crixtux và đã từng truyền bá tình yêu thương trên thế gian". Mọi người trầm ngâm suy nghĩ rồi họ bước đi và tự nhủ thầm: "Phải lắm, con người này không thể là kẻ không công minh".
Dọc đường, những tiếng huyên náo và kêu gọi của đường phố lặng đi. Đám rước đi giữa những ngôi nhà vừa dựng, giữa những hàng cột trắng phau của các thần miếu, bên trên là vòm trời xanh thẳm, đắm say và cao vợi. Họ bước đi trong im lặng, thỉnh thoảng chỉ lách cách tiếng vũ khí của binh lính hoặc tiếng những lời cầu nguyện thì thầm. Ông Piotr lắng nghe tiếng cầu nguyện và mặt ông, mỗi lúc một sáng bừng lên niềm vui sướng, vì đôi mắt ông cố lắm mới có thể nhìn trọn được hàng nghìn những tín đồ mới kia. Ông cảm thấy rằng ông đã hoàn thành sứ mệnh của đời mình và biết rằng cái chân lý mà suốt đời ông truyền bá như một làn sóng đã trùm lên tất cả, không một thứ gì có thể kìm hãm nó được nữa rồi. Nghĩ thế, ông ngước mắt nhìn lên trời và nói: "Chúa ơi, Người bảo tôi phải chiếm lĩnh cái thành phố bá chủ thế gian này, tôi đã chiếm lĩnh nó. Người bảo tôi phải đặt nơi đó thủ đô của Người, vậy tôi đã đặt. Chúa hỡi, giờ đây nó đã là thành phố của Người, còn tôi đang đến cùng Người đây, bởi tôi đã làm việc quá mệt rồi".
Đi qua cạnh các thần miếu ông bảo chúng: "Các người sẽ là thánh đường của Đức Chúa Crixtux". Nhìn thấy những đám người đông đúc di động trước mắt, ông nói cùng họ: "Con Cháu của các người sẽ là tôi tớ của Đức Chúa Crixtux". Ông bước đi với cảm giác của một sự nghiệp đã hoàn thành, ý thức được công sức của mình, ý thức được lực lượng, thỏa mãn và vĩ đại. Binh lính đưa ông qua cầu khải hoàn(1) và vô tình họ cho ông bằng chứng của một cuộc khải hoàn, rồi đi xa nữa về phía Naumakhia và hý trường. Đám tín đồ từ khu Zatybre nhập vào đoàn người và đám rước của dân chúng đông đến nỗi rốt cuộc viên Xenturion chỉ huy toán cấm vệ cũng hiểu ra rằng y đang đưa một vị đại tăng lữ nào đó có đám tín đồ vây quanh, y đâm ra lo lắng bởi số binh lính quá ít ỏi. Nhưng không hề có một tiếng kêu phẫn nộ hay tức tối nào vang lên trong đám đông. Những nét mặt bị chế ngự bởi sự lớn lao của thời khắc, trang trọng và đầy chờ mong, vì một số tín đồ nhớ lại rằng khi Đức Chúa qua đời, mặt đất nứt nẻ cả ra vì kinh hoàng, những người chết từ dưới mồ choàng dậy, họ nghĩ rằng có thể giờ đây cũng sẽ xuất hiện những dấu hiệu rõ ràng nào đó giống như thế, những dấu ấn sẽ khiến cho cái chết của vị Sứ Đồ không bị những thế kỷ mai sau xóa nhoà đi. Thậm chí những người khác nữa còn bảo rằng: "Biết đâu Đức Chúa lại chẳng chọn đúng giờ chết của ông Piotr để giáng thế từ trên trời cao như Người đã hứa và lập toàn phán xét thế gian". Và với tâm tư ấy, họ cầu nguyện lòng nhân từ của Đấng Cứu Thế.
Nhưng bốn chung quanh vẫn yên tĩnh. Đồi núi hình như đang sưởi ấm và nghỉ ngơi trong ánh nắng mặt trời. Cuối cùng, đám rước dừng lại khoảng giữa hý trường và đồi Vatykan. Binh lính lúc này bắt đầu đào hố, một số tên khác đặt cây thập tự, búa và đinh xuống đất chờ, còn đám đông lúc nào cũng im lặng và tập trung thì quỳ cả xuống bốn chung quanh.
Với mái đầu ngập trong ánh sáng và những tia màu vàng, đức Sứ Đồ quay lại nhìn thành phố lần cuối cùng. Từ xa, hơi thấp xuống phía dưới, có thể trông thấy dòng sông Tyber sáng lấp lánh, bờ bên kia là cánh đồng thần Marx, cao hơn nữa là lăng của Auguxt, thấp phía dưới là các nhà tắm mà Nerô bắt đầu dựng lên, thấp hơn nữa là nhà hát Pomponius, phía sau chúng, chỗ trông thấy chỗ bị khuất sau những công trình xây dựng khác là Xaepta Julia, vô sô các hàng hiên, thần miếu, hàng cột, những tòa nhà chống chất lên nhau, và cuối cùng, tận tít phía xa, là những ngọn đồi mọc đầy nhà cửa, cái tổ khổng lồ con của con người mà biên giới của nó đã bị khuất trong làn sương mù màu xanh lơ, cái tổ của tội ác nhưng cũng của sức mạnh, tổ của sự điên cuồng, nhưng cũng của trật tự, nó là đầu não của thế giới và tai ách của thế giới, nhưng đồng thời cũng là luật lệ và sự yên hòa của thế giới, hùng mạnh vô song, bất khả chiến bại và vĩnh hằng.
Còn ông Piotr, có binh lính vây quanh, nhìn thành phố như vị chúa tể, một quốc vương nhìn di sản của mình. Và ông nói: "Đó là thành phố của tôi và đã được chuộc tội". Và không một ai, không riêng gì những người trong đám binh lính đang đào hố chôn cây thập tự, mà ngay cả trong đám tín đồ, đoán được rằng quả thực vị chúa tể của thành phố kia đang đứng giữa bọn họ, rằng bao hoàng đế qua đi, bao làn sóng những kẻ dã man sẽ tràn qua, nhiều thế kỷ cũng qua, nhưng cụ già kia vẫn không ngừng trị vì ở chốn này.
Mặt trời ngả hơn nữa về phía Oxtia, trở thành to tướng và đỏ rực. Toàn bộ phương trời tây cháy lên một ráng đỏ vô biên. Binh lính tiến lại gần ông Piotr để cởi quần áo ông.
Ông vừa cầu nguyện vừa vươn thẳng người lên và đột ngột giơ cao tay phải. Những kẻ hành hình sững lại như bị thôi miên bởi hình dáng ông, các tín đồ cũng nín thở, họ ngỡ rằng ông muốn nói điều chi, im lặng bao trùm.
Còn ông, đứng trên một mô đất cao, giơ tay phải làm dấu thánh ban phước trong giờ lầm chung:
- Urbi et orbi!(2).
Cũng chính vào buổi chiều tuyệt vời ấy, một toán lính khác đưa ông Paven xứ Tarxu theo đường cái Oxtia đến chỗ được gọi là Aquae Sanvia. Theo sau ông cũng có một đám tín đồ, những người đã được ông cải đạo và khi nhận ra những người quen, ông dừng lại trò chuyện cùng họ, vì vốn là một công dân La Mã, ông được bọn lính đối xử ưu ái hơn nhiều. Ra khỏi cổng thành Tergemin, ông gặp nàng Plautynia, con gái của tổng quản Flavius Xabinux và khi thấy khuôn mặt trẻ trung của nàng chan chứa lệ, ông bảo: "Hỡi Plautynia, con gái của Cứu Rỗi Đời Đời, hãy yên tâm mà đi. Con chỉ cần cho ta mượn tấm choàng mạng để người ta bịt mắt ta lúc lên đường dến với Đức Chúa". Rồi cầm lấy tấm mạng, ông bước tiếp, mặt chan chứa niềm vui sướng, như người thợ đã lao động cật lực cả một ngày đang trở về nhà. Những ý nghĩ của ông cũng như những ý nghĩ của ông Piotr hoàn toàn bình tĩnh và ôn hoà hệt như bầu trời chiều hôm ấy. Mắt ông đăm chiêu ngắm nhìn vùng đồng bằng trải dài trước mặt, nhìn núi Anban đang ngập trán ánh sáng. Ông nghĩ miên man về những chuyến đi, về công việc và những cuộc chiến đấu mà ông đã thắng, về những ngôi nhà thờ mà ông đã dựng nên trên tất thảy những vùng đất và vùng biển, và ông nghĩ rằng ông xứng đáng được nghỉ ngơi. Ông cũng đã hoàn thành sứ mệnh. Ông cảm thấy gió dữ đã không thổi tung được những hạt giống ông gieo. Ông ra đi với niềm tin vững chắc rằng trong cuộc đấu tranh mà chân lý của ông đã được tuyên bố cho toàn thế giới hay, cái chân lý kia sẽ chiến thắng và lòng ông tràn ngập một niềm yên tĩnh vô biên.
Con đường đến chỗ hành hình khá xa và chiều đang xuống. Những ngọn núi ngả sau màu đỏ tía, chân núi từ từ chìm vào bóng đêm. Những đàn súc vật đang quay trở về nhà. Đây đó đang bước đi những toán nô lệ mang dụng cụ trên vai. Bọn trẻ con đang đùa chơi trước những ngôi nhà hai bên đường, tò mò nhìn toán lính đi ngang qua. Trong buổi chiều này, trong bầu không khí vàng rực trong suốt kia, không những chỉ có sự bình lặng và đắm say mà dường như còn có một hòa âm nào đó đang từ mặt đất dâng cao lên bầu trời. Ông Paven lắng nghe hòa âm ấy và trái tim ông tràn ngập niềm vui sướng khi nghĩ rằng ông cũng đã từng góp được vào nhạc âm kia một thanh âm chưa từng có từ trước đến nay, thiếu thanh âm ấy, cả trái đất sẽ chỉ như "một tiếng trống vang" mà thôi.
Và ông nhớ lại, ông đã từng răn dạy con người tình yêu thương, ông đã nói cho họ hay rằng dù họ có ban phát tài sản cho những người nghèo, dù họ có nắm được mọi thứ tiếng cùng mọi điều bí mật, mọi học thuyết của cõi đời này, họ sẽ cũng chẳng là gì nếu không có tình yêu thương, một tình yêu thương rộng lượng nhẫn nại, không gây điều xấu, không cầu người ta phải thờ kính, chịu đựng tất cả mọi chuyện, tin tưởng tất cả mọi người, bao dung tất cả, trường tồn tất cả.
Những năm tháng đời ông đã trôi đi trong việc dạy dỗ mọi người cái chân lý ấy. Giờ đây ông tự nhủ: "Có sức mạnh nào bẻ gục được nó, có thứ gì thắng nổi nó không? Làm sao hoàng đế có thể bóp nghẹt nó được, dù y có số chiến đoàn gấp hai ngần ấy những thành phố và biển cả, đất nước và tộc người?".
Và như một người chiến thắng, ông đi nhận phần mình.
Cuối cùng, đám rước bỏ đường lớn rẽ về hướng đông theo một con đường hẻm tới nguồn suối Xanvia. Vầng mặt trời đỏ rực đã chìm trong lau lách. Đến bên nguồn suối, viên Xenturion cho lính dừng lại, vì đã đến lúc rồi.
Ông Paven vắt chiếc mạng của Plautynia qua vai, chiếc chàng mạng mà ông sẽ dùng bịt mắt mình, để lần cuối cùng ông ngước đồng tử tràn ngập một nỗi bình thản vô biên nhìn ráng chiều vĩnh viễn và cầu nguyện. Phải! Giờ phút đến kia rồi, nhưng ông đang trông thấy trước mắt con đường lớn bằng ánh ráng chiều dẫn thẳng lên trời, ông tự nhủ thầm trong lòng những lời mà trước đây, với cảm giác mình đã hoàn thành và cái kết cục đang tới gần, ông đã từng viết: "Tôi đã từng vấp một cái vấp tốt lành, lòng tin tôi vẫn gìn giữ, sự nghiệp đã hoàn thành, và cuối cùng cũng dành cho tôi là vòng hoa công lý".
Chú thích:
(1) Pons Triumphalis (Latinh - chú thích của tác giả).
(2) Latinh: Thành phố (tức Roma) và thế giới! - Lời ban phước trọng thể nhất của các giáo hoàng, thường chỉ được nói ra tại nhà thờ lớn mang tên thánh Piotr ở Vatykan.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 72
Còn Roma vẫn còn điên theo lối cũ, khiến cho người ta ngỡ rằng, cái thành đô đã chinh phục toàn thế giới kia, do thiếu những người dẫn đường, cuối cùng bắt đầu bị phân rã. Trước những giờ phút cuối cùng của các Sứ Đồ điểm, đã nổ ra vụ âm mưu của Pizon, mà sau đó là việc chặt không thương tiếc những cái đầu cao cấp nhất ở Roma, khiến cho ngay cả những kẻ vốn cho Nerô là một vị thần linh, rốt cuộc cũng ngờ hoài là thần chết. Tang tóc trùm lên khắp thành phố, nỗi hãi hùng gieo rắc khắp mọi gia đình, vào mỗi trái tim, nhưng những hàng hiên vẫn trang điểm đầy dây thường xuân và hoa. Roma không được phép bày tỏ nổi thương tiếc những người đã chết. Tỉnh dậy ban sáng, người ta tự hỏi không biết hôm nay sẽ tới lượt ai đây. Đám rước dài dằng dặc của những hồn mà kéo theo sau lưng hoàng đế mỗi ngày một dài thêm.
Pizon bị mất đầu vì vụ âm mưu, tiếp theo sau là ông Xeneka và chàng Lukan, Fenius Fufux và Plauxius Lateranux, rồi Elavius Xevinux, rồi Afranius Quinxianux, rồi người bạn trác táng trong những cơn điên loạn của hoàng đế Tulius Xenexio, rồi Prokulux Ararykux, Bugurynux, Gratux, Silannux, Prokymux, rồi Xubrius Flavius kẻ xưa kia từng hết lòng hết dạ với Nerô, rồi cả Xumpixius Axper. Người nay bị chết vì sự tồi tệ của mình, kẻ khác vì sợ hãi, người kia vì tài sản, kẻ nọ vì can trường. Hoảng hồn vì chính số lượng những kẻ tham gia vào âm mưu, hoàng đế mang quân vây bọc khắp tường thành, thành phố vòng vây, hàng ngày phái đến các viên Xenturion mang bản án tử hình đến những gia đình bị nghi vấn. Những kẻ bị xử tội còn phải hạ mình xuống trong những bức thư đầy lời ca tụng, cảm ơn hoàng đế đã ban cho bản án, nhường cho hoàng đế một phần tài sản để có thể cứu được phần con lại cho cháu con. Rốt cuộc, hình như Nerô cố tình vượt hết mọi thức mức độ để xem con người ta sẽ bần tiện đến mức nào và chịu đựng được chính quyền đẫm máu kia được chừng bao lâu. Sau những kẻ âm mưu, người ta giết tới họ hàng, bạn hữu, thậm chí cả những ai chỉ là những người quen bình thường của họ. Cư dân của những tòa nhà tuyệt vời dựng sau hỏa hoạn, khi bước chân ra đường, đều tin chắc rằng sẽ gặp phải hàng xốc những đám tang. Pompeius, Kornelius Marxialix, Flavius Neopox và Xtaxius Đomix thiệt mạng, bị kết án thiếu tình yêu đối với hoàng đế, Novius Pryxkux vì là bạn của ông Xeneka, Rufius Kryxpinux vì người ta tước mất quyền sử dụng lửa và nước vì ngày trước là chồng của Poppea. Đức hạnh đã khiến ông Crazea vĩ đại mất mạng, nhiều người phải chết vì có nguồn gốc tôn quý, ngay cả ả Poppea cũng trở thành nạn nhân trước cơn thịnh nộ của hoàng đế.
Còn nguyên lão viện dán mình xuống sát đất trước mặt vị chúa tể khủng khiếp nọ, xây dựng các thần miếu để ca ngợi ngài, biểu quyết về giọng hát của ngài, đội vòng chiến thắng cho những pho tượng của ngài và cắt cử các vị tăng lữ thờ ngài như một vị thần linh. Các nguyên lão nghị viên run rẩy trong lòng đi vào cung điện Palatyn để ca ngợi tiếng hát của “Periodrnices” và điên cùng ngài trong những cơn cuồng hoan giữa những tấm thân trần truồng, giữa rượu nho và những đóa hoa.
Trong khi đấy, phải dưới kia, trên những đất đẫm máu và nước mắt, nảy mầm trong im lặng, nhưng mỗi lúc một hùng hậu, những hạt giống mà ông Piotr đã gieo.
CHƯƠNG 73
Vinixius gửi Petronius:
“Thưa carissime, ở đây chúng cháu cũng biết những gì đang diễn ra tại Roma, những điều chúng cháu chưa tường thì các bức thư của cậu đã kể nốt. Nếu cậu ném một hòn đó xuống nước, những làn sóng sẽ lan mỗi lúc một rộng ra chung quanh, cũng như vậy, làn sóng của cơn điên rồ và sự độc ác đã lan từ Palatyn đến tận chỗ chúng cháu. Trên đường đi Hy Lạp, Karynax, sứ giả của Hoàng đế - kẻ đã cướp bóc các thành phố và thần miếu để lấp đầy ngân khố đang trống rỗng- đã ghé qua đây. Bằng mồ hôi và nước mắt của bao người, người ta đã dựng nên ngôi nhà Domus Aurea(1) tại Roma. Có thể cho tới nay thế giới chưa từng được trông thấy ngôi nhà nào như thế, song những nỗi thương đau như thế này thế giới cũng chưa từng thấy bao giờ. Cậu biết rõ Karynax đấy. Lão Khilon cũng đã từng giống như hắn trước khi phải mua mạng sống bằng chính cái chết. Song những người của hắn chưa mò đến thị trấn ở gần chỗ chúng cháu, có thể là vì ở đây không có thần miếu lẫn kho báu nào. Cậu hỏi chúng cháu có được an bằng không ư? Cháu chỉ xin trả lời rằng chúng cháu đã bị lãng quên. Chính vào giây phút này, từ hàng hiên nơi cháu đang ngồi viết, cháu nhìn rõ vịnh biển bằng lặng của chúng cháu, với bác Urxux trong thuyền đang thả lưới xuống làn nước trong xanh. Vợ cháu đang guồng len đỏ ngay cạnh cháu, ngoài vườn, dưới bóng hồ đào, đám nô lệ của chúng cháu đang ca hát. Ôi thật là thanh bình, thưa carissime, lãng quên đi những hãi hùng và đau xót ngày qua! Nhưng đó không phải là một nữ thần Parka, mà như cậu viết, đang guồng một cách ngọt ngào đến thế sợi tơ đời của chúng cháu, mà chính Đức Chúa Crixtux lòng lành vô cùng, Đấng Cứu thế đã ban phước lành cho chúng cháu. Chúng cháu đã hiểu rõ buồn đau và nước mắt, chân lý của chúng cháu dạy chúng cháu phải khóc than cho nỗi bất hạnh của kẻ khác, song ngay cả những giọt lệ ấy cũng chứa cả những nỗi niềm an ủi mà cậu không hiểu nổi, rằng sau này, khi thời gian dành cho cuộc đời trần tục của chúng cháu trôi qua, chúng cháu sẽ lại tìm được tất cả những người thân yêu đã và sẽ còn bị giết chết vì sự nghiệp của Chúa. Đối với chúng cháu, các Sứ đồ Piotr và Paven không mất đi, mà được sinh thành trong lời ngợi ca. Linh hồn chúng cháu như vẫn nhìn thấy họ, và khi mắt tuôn dòng lệ, con tim chúng cháu vẫn rộn ràng niềm vui cùng họ. Chính thế đấy, cậu thân yêu, chúng cháu sống sung sướng bởi hạnh phúc không gì phá vỡ nổi vì rằng cái chết mà đối với cậu là sự chấm dứt tất cả, thì đối với chúng cháu sẽ chỉ là việc chuyển sang một sự bình yên mênh mông hơn, một tình thương bao la hơn, một niềm vui sướng tràn trề hơn mà thôi.
Và cứ thế, với chúng cháu, ngày tháng nơi đây trôi đi trong sự thanh thản của những trái tim. Cũng giống như chúng cháu, gia nhân và nô tỳ của chúng cháu tin vào Đức Chúa Crixtux, và vì Người chỉ răn bảo tình yêu thương, nên mọi người đều thương yêu nhau. Đôi khi vào lúc mặt trời đã lặn hay lúc mặt trăng đang long lanh trên sóng nước, cháu cùng Ligia chuyện trò về những thời xa xưa, mà giờ đây đối với chúng cháu chúng có vẻ chỉ như một giấc mộng; và một khi nghĩ rằng mái đầu thân yêu ngày ngày cháu đang được ru trên ngực đã từng kề cận đến thế với những nỗi khổ hình và sự chết chóc, thì bằng cả tấm lòng cháu càng thêm ngưỡng mộ Đức Chúa, vì chỉ có một mình Người mới có thể giằng nàng ra khỏi bãi đấu trường và mang nàng về với cháu. Thưa Petronius, cậu thấy đấy, giáo thuyết kia mang tới biết bao niềm an ủi khiến ta vững lòng trong cơn hoạn nạn, thêm nhẫn nại và kiên cường trước cái chết, vậy cậu hãy tới đây cùng chúng cháu, cậu sẽ thấy được nó mang lại biết bao hạnh phúc trong những ngày bình dị của cuộc đời. Cậu thấy đấy, cho tới nay loài người chưa từng biết đến một vị thần nào mà họ có thể mến yêu, vì thế họ cũng không yêu thương lẫn nhau, và chính điều đó đã mang tới cho họ nỗi bất hạnh; vì cũng giống như ánh sáng tỏa ra từ vầng thái dương kia, hạnh phúc tỏa ra tự tình yêu. Không một nhà lập pháp, một nhà triết học nào dạy cho họ biết chân lý đó, chân lý đó không tồn tại cả ở Hy Lạp lẫn ở La Mã, và khi cháu nói không ở La Mã thì cũng có nghĩa là không hề tồn tại trên toàn thế gian này. Khoa học cứng nhắc và lạnh lùng của những kẻ khắc kỷ mà những người đức hạnh hướng theo tôi luyện trái tim người như tôi những lưỡi gươm, song chỉ khiến cho trái tim chai cứng đi, thay vì làm cho nó tốt đẹp hơn lên. Song cháu nói với cậu chuyện này làm gì cơ chứ, bởi cậu học nhiều hiểu rộng hơn cháu. Cậu cũng đã từng quen với Sứ đồ Paven xứ Tarxu và đã từng nhiều lần trò chuyện lâu với Người, chắc cậu hiểu rõ hơn ai hết, rằng đối với thứ chân lý mà Người truyền bá, tất thẩy các khoa học của các triết gia cùng các nhà hùng biện của cậu chỉ là những chiếc bình rỗng và là những tiếng kêu không hồn của những lời vô nghĩa mà thôi. Cậu còn nhớ câu hỏi mà Người đặt ra cho cậu chứ: “Nếu như Hoàng đế là tín đồ Thiên chúa thì có phải các ngài sẽ cảm thấy được bình an hơn, yên ổn hơn trong việc sở hữu những cái mà các ngài đang sở hữu, thoát khỏi những nỗi hãi hùng, và có thể yên lòng với tương lai của các ngài hơn hay chăng?”. Thế mà cậu lại bảo rằng chân lý của chúng cháu là thù địch với sự sống. Cháu xin trả lời cậu rằng: nếu như ngay từ đầu bức thư cháu chỉ lặp đi lặp lại vẻn vẹn mấy chữ: “Tôi đang hạnh phúc lắm!” thì cháu cũng chẳng thể nói hết cho cậu niềm hạnh phúc của cháu. Cậu sẽ bảo rằng hạnh phúc của cháu là Ligia! Đúng vậy, thưa cậu! Vì rằng cháu yêu linh hồn bất tử của nàng và vì cả hai chúng cháu cùng kính yêu Đức Chúa Crixtux, trong tình yêu thương ấy không hề có cắt chia, bội phản, dối lừa, đổi thay, không có cả tuổi già lẫn cái chết. Bởi một khi tuổi trẻ và sắc đẹp phôi pha, khi cơ thể chúng cháu tàn úa đi, khi cái chết đến, thì tình yêu kia vẫn còn, vì linh hồn chúng cháu vẫn hằng sống. Trước khi mắt cháu được thấy ánh sáng chân lý, cháu đã từng có lúc sẵn sàng đốt cháy cả nhà cháu vì Ligia, song giờ đây, xin thưa với cậu: hồi ấy cháu chưa hề biết yêu nàng, chính Đức Chúa Crixtux mới dạy cho cháu biết yêu! Người là cội nguồn của hạnh phúc và sự bình yên. Đó không phải chỉ là điều cháu nói ra, đó chính là một sự thật hiển nhiên. Hãy so sánh những lạc thú được đính thêm nỗi phấp phỏng lo âu của cậu, sự không tin chắc và ngày mai của cậu, những cơn cuồng hoan tựa như một đám tang của cậu, với cuộc sống của các tín đồ Thiên chúa, tự cậu sẽ tìm ra chân lý ấy. Song để cậu có thể so sánh tốt hơn, mới cậu hãy đến với những đỉnh núi sực nức hương thạch xương bồ của chúng cháu, đến với những khóm rừng ôliu râm mát của chúng cháu đây. Ở đây, đón đợi cậu cả một sự bình yên đã từ lâu cậu không được hưởng, cùng với những trái tim yêu thương cậu chân thành. Với tâm hồn cao thượng và tốt lành, nhất định cậu sẽ là người hạnh phúc. Trí óc minh mẫn của cậu sẽ nhận ra Chân lý, và khi đã nhận ra, cậu sẽ yêu nó, bởi ngoài những kẻ thù khả dĩ như Hoàng đế và Tygelinux, không một ai hững hờ nổi với nó. Cậu Petronius thân yêu của cháu, cháu cùng Ligia đang sung sướng và hy vọng rằng chẳng bao lâu nữa sẽ lại được gặp cậu. Chúc cậu mạnh khỏe, hạnh phúc, và mong cậu hãy đến với chúng cháu”.
Ông Petronius nhận được thư của Vinixius tại Cumae, nơi ông vừa đến cùng với đám cận thần tùy tùng Hoàng đế. Cuộc đương đầu kéo dài nhiều năm giữa ông và Tygelinux đã đi dần tới kết cục. Petronius biết rõ rằng ông sẽ phải ngã gục trong cuộc đương đầu đó, ông hiểu lý do vì sao. Nếu như càng ngày Hoàng đế càng hạ mình xuống vai trò của một diễn viên hài kịch, một thằng hề, một gã đánh xe đua, nếu mỗi lúc ngài một ngập sâu thêm vào sự trụy lạc bệnh hoạn, dung tục, và tệ hại hơn thì vị arbiter elegantiarum trang nhã này chỉ càng trở thành một gánh nặng đối với ngài mà thôi. Thậm chí nếu như ông Petronius có im lặng chăng nữa, thì Nerô cũng sẽ nhận thấy trong sự im lặng của ông lời chỉ trích, còn nếu ông tán thưởng thì ngài chỉ nhận ra sự mỉa mai. Vị quý tộc tuyệt vời kia chỉ càng làm động chạm đến tình yêu bản thân của ngài, khơi dậy ở ngài sự ganh ghét mà thôi. Tài sản cùng những tuyệt phẩm nghệ thuật của ông trở thành đối tượng thèm khát của cả kẻ thống trị lẫn viên đại thần đang thâu tóm mọi quyền bính. Cho tới nay, người ta vẫn chừa ông ra vì lí do chuyến đi Akhai, nơi mà khiếu thẩm mỹ và sự hiểu biết những vấn đề về Hy Lạp của ông có thể còn có ích. Nhưng dần dần Tygelinux bắt đầu giải thích cho Hoàng đế, rằng Karynax còn vượt xa Petronius cả về khiếu thẩm mỹ lẫn kiến thức, rằng y sẽ biết tổ chức giỏi hơn ông những hội thi, những cuộc nghênh tiếp cùng những cuộc khải hoàn tại Akhai. Từ lúc ấy, Petronius bị kết tội chết. Tuy nhiên người ta vẫn không dám gửi tới cho ông bản án tử hình ngay ở Roma. Cả Hoàng đế lẫn Tygelinux đều nhớ rằng nhà duy mỹ tưởng như ẻo lả này, con người “lấy đêm làm ngày”, chuyên bận tâm về những khoái lạc, về nghệ thuật và tiệc tùng, đã từng có thời làm thái thú ở Bitynia, rồi sau đó làm chấp chính quan ở thủ đô, ông đã từng tỏ rõ tính cần cù và một nghị lực phi thường. Người ta cho rằng ông có năng lực làm tất cả mọi việc và hiểu rằng tại Roma ông không những chỉ được dân chúng mà ngay cả lính cấm vệ yêu mến. Không một kẻ nào trong đám người tâm phúc của Hoàng đế đoán trước được, nếu cần ông sẽ hành động ra sao, nên cách khôn ngoan hơn cả là kéo ông ra khỏi thành phố và chạm đến ông khi ông đã về các tỉnh trấn.Nhằm mục đích ấy, ông nhận đuợc lời mời cùng với các cận thần khác tới Cumae; còn ông, mặc dù đoán ra thủ đoạn kia, nhưng vẫn ra đi để khỏi thể hiện một sự chống đối quá rõ rệt, và để có thể một lần nữa cho Hoàng đế cùng đám cận thần được trông thấy khuôn mặt vui vẻ, không hề vướng bận một nỗi âu lo nào của ông, và để thắng Tygelinux trận cuối cùng trước khi gục ngã.
Trong khi đó, Tygelinux lập tức buộc tội ông đã từng thân thiết với vị nguyên lão Xevinux, linh hồn của vụ âm mưu Pizon. Người nhà của ông Petronius còn ở lại Roma đều bị bắt, nhà ông bị quân cấm vệ bao vây. Nhưng khi biết tin ấy, ông không hề tỏ ra lo sợ, thậm chí không hề bận tâm, ông vẫn mỉm cười nói với đám cận thần đang được ông tiếp trong tòa biệt thự tuyệt vời của ông ở Cumae:
- Ahenobarbux vốn không thích những câu hỏi thẳng thừng, các vị sẽ thấy ngài bối rối cho mà xem, khi tôi hỏi có phải chính ngài đã ra lệnh giam gia đình tôi tại Roma hay không.
Rồi ông báo trước cho họ về bữa tiệc “trước khi lên đường đi tiếp” và ông đang sửa soạn cho tiệc, thì thư Vinixius đến.
Nhận được thư, ông Petronius suy nghĩ một lát, sau đó nét mặt của ông lại bình thản như thường lệ, và tối hôm ấy ông viết bức thư trả lời như sau:
“Cậu rất vui trước hạnh phúc của các cháu và ngạc nhiên trước tấm lòng các cháu, carissime, bởi cậu không ngờ rằng hai người đang yêu nhau lại có thể nghĩ về một kẻ thứ ba nào đó, đang ở chốn xa xôi. Mà các cháu thì không những không hề quên cậu, lại còn muốn mời cậu ra đảo Xyxilia để cùng chia sẻ miếng bánh mì của các cháu và Đức Chúa Crixtux mà như cháu viết, đã ban cho các cháu hạnh phúc thật dồi dào.
Nếu đúng vậy, hãy kính yêu Người nhé. Nhưng cháu thân yêu, cậu nghĩ rằng Ligia được trở về với cháu một phần cũng nhờ có bác Uruxux, một phần nhờ dân chúng Roma nữa đấy. Nếu như Hoàng đế là một người khác thì cậu cho rằng chắc hẳn người ta sẽ chấm dứt mọi cuộc truy đuổi, chí ít cũng vì tình họ hàng giữa cháu và ngài thông qua cô cháu gái mà xưa kia hoàng đế Tyberius đã từng gả cho một người trong họ Vinixius. Nhưng một khi cháu đã cho rằng đó chính là Đức Chúa Crixtux mang trả nàng về thì cậu cũng sẽ không tranh cãi với cháu làm gì. Phải! Các cháu đừng tiếc lễ vật dâng lên Người. Thần Prometeus cũng đã từng xả thân vì nhân loại, nhưng ơ hơ! Hình như Prometeus chỉ là một điều tưởng tượng của các thi sĩ, còn những người đáng tin thì lại nói rằng chính mắt họ đã từng được nhìn thấy Chúa Crixtux. Cậu cũng nghĩ như các cháu, rằng đó là vị thần chính trực nhất trong tất cả các vị thần.
Cậu vẫn còn nhớ câu hỏi của ông Paven xứ Tarxu, cậu đồng ý rằng nếu như, nói thí dụ, Ahenobarbux sống theo giáo thuyết của Chúa Crixtux, thì rất có thể là cậu sẽ có thì giờ ra đảo Xyxilia cùng các cháu. Khi ấy, dưới bóng cây, bên nguồn suối, chúng ta sẽ cùng nhau luận bàn về tất cả các vị thần và tất cả mọi chân lý, như ngày xưa các nhà hiền triết Hy Lạp đã từng bàn luận. Song hôm nay, cậu chỉ có thể gửi anh một câu trả lời ngắn gọn mà thôi.
Cậu chỉ muốn biết có hai nhà triết học: một, tên là Pirron, hai là Anakreontơ. Đám còn lại, cậu có thể bán rẻ cho anh cùng với toàn bộ trường phái Hy Lạp và các nhà khắc kỷ của chúng ta. Chân lý ở một nơi nào đó cao đến nỗi ngay cả các vị thần đứng trên đỉnh Olimpơ cũng không sao nhìn thấy. Carissime, anh nghĩ rằng đỉnh núi Olimpơ của các anh chị còn cao hơn nữa, và anh đứng trên đó vẫy gọi cậu: “Hãy lên đây, cậu sẽ được nhìn thấy những cảnh tượng chưa được thấy bao giờ!”. Có thể như thế. Nhưng cậu xin trả lời anh rằng: “Anh bạn ơi, ta không có chân!”. Và khi nào được hết bức thư này, cậu nghĩa rằng anh sẽ thừa nhận cậu có lý.
Không! Hỡi vị hôn phu đầy hạnh phúc của nữ hoàng Rạng đông! Giáo thuyết của anh chị không phải dành cho cậu! Vậy ra cậu phải yêu thương bọn nô lệ Bitynia vẫn thường khiêng kiệu cho cậu, bọn Ai Cập đang đốt lửa trong nhà tắm của cậu, yêu thương cả Ahenobarbux lẫn Tygelinux sao? Cậu xin thề trên những đầu gối trắng phau của các tiên nữ duyên sắc Kharyta, rằng dù có muốn, cậu cũng không thể làm nổi. Ở Roma chí ít cũng có tới một trăm ngàn người, hoặc có đùi cong, hoặc có đầu gối quá to, hoặc có cẳng chân khẳng khô, hoặc có cặp mắt tròn xoe, hoặc có cái đầu quá thô thiển. Lẽ nào anh bắt cậu cũng phải yêu thương cả bọn họ? Cậu biết tìm tình yêu ấy ở đâu khi mà trái tim cậu không cảm thấy có nó? Còn nếu như Chúa của anh chị muốn cậu phải yêu thương tất cả bọn họ, thì tại sao, với sự toàn năng của mình, ông không cho họ có được một hình hài tỷ như Niobiđ mà anh đã từng trông thấy tại cung điện Palatyn chẳng hạn? Ai yêu cái đẹp, kẻ ấy không thể yêu sự xấu xí. Không tin vào những vị thần của chúng ta là một chuyện, nhưng vẫn có thể yêu họ, như Fiđiax, Prakxytelex, Miron Xkopax và Lizyp đã từng yêu họ.
Giá như cậu có muốn được bước đến nơi mà anh muốn đưa cậu tới thì cậu cũng không thể. Mà vì cậu lại không muốn, nên hóa ra không thể đến những hai lần. Anh tin- cũng như ông Paven xứ Tarxu - rằng ở bờ bên kia con sông Xtykx, trên những cánh đồng Elizei nào đó, anh sẽ được trông thấy Đức Chúa Crixtux của anh. Hay lắm! Xin Người hãy nói cho anh hay khi ấy, liệu Người có nhận cả cậu nữa, với những viên ngọc chạm của cậu, cái bình cổ xứ Miren của cậu, cùng những quyển sách do nhà Xozius xuất bản và nàng Tóc Vàng của cậu hay chăng? Nghĩ về chuyện ấy cũng đủ buồn cười, cháu thân yêu ạ, vì ông Paven xứ Tarxu đã bảo cậu rằng vì Chúa Crixtux cậu sẽ phải từ bỏ những vòng hoa hồng, những bữa tiệc rượu, những điều khoái lạc kia mà! Thực ra, ông ấy cũng thường hứa hẹn với cậu những niềm hạnh phúc khác, nhưng cậu đã trả lời rằng, cậu quá già để đón nhận những niềm hạnh phúc khác, rằng bao giờ những đóa hoa hồng cũng vẫn khiến cho cậu vui mắt, mùi hương hoa đồng thảo đối với cậu bao giờ cũng vẫn dễ thương hơn là mùi “người anh em” bẩn thỉu ở khu Xubura.
Đó là những lý do khiến cho niềm hạnh phúc của anh chị không thể dành cho cậu. Nhưng ngoài ra, còn một lý do nữa, mà cậu để cuối cùng. Đó là thần Tanatox đang gọi cậu. Với anh chị, bình mình của cuộc đời mới chỉ bắt đầu, còn với cậu, vầng dương đã lặn rồi và hoàng hôn đã trùm lên đầu cậu. Nói cách khác, cậu sẽ phải chết, carissime!
Cũng chẳng đáng nói chi dài về chuyện ấy. Sẽ phải kết thúc như vậy thôi. Là người vốn hiểu Ahenobarbux, anh sẽ dễ dàng hiểu được điều ấy. Tygelinux đã thắng cậu, mà thật ra không phải thế! Đó là những chiến thắng của cậu đã đến hồi kết thúc. Cậu đã sống như ý cậu muốn và sẽ chết theo cách thức khiến cậu vừa lòng.
Các cháu đừng đau lòng về chuyện ấy làm chi. Không có vị thần nào hứa ban cho cậu được bất tử, vậy nên cậu chẳng gặp phải một chuyện bất ngờ. Hơn nữa, anh đã nhầm, Vinixius ơi, khi bảo rằng chỉ có Đức Chúa của anh dạy phải chết bình thản. Không! Trước các anh, thế giới của chúng tôi đã từng biết rằng, khi chiếc cốc cuối cùng được dốc cạn, thì đến lúc ra đi nghỉ ngơi, và còn biết cách làm điều ấy một cách hoàn toàn dễ chịu. Plato nói rằng, phẩm hạnh chính là âm nhạc, còn cuộc đời nhà hiền triết là một khúc hòa âm. Nếu đúng thế thì cậu sẽ chết như cậu đã sống, đầy phẩm hạnh.
Cậu muốn từ biệt người vợ thiên thần của anh bằng những lời nói mà cậu đã dùng để chào hỏi nàng xưa kia tại nhà ông bà Aulux: “Ta được thấy biết bao nhiêu dân tộc, nhưng chưa gặp người nào có thể sánh cùng nàng”.
Và nếu như linh hồn là một thứ gì khác hơn Pirron nghĩ, thì linh hồn của cậu sẽ bay đến với các cháu trên đường đi với những bến bờ của Okeanox, sẽ đậu xuống bên ngôi nhà các cháu dưới hình một con bướm, hay như người Ai Cập vẫn hằng tin, một con chim én bạc.
Cậu không thể đến bằng cách khác.
Và cầu cho đối với các cháu đảo Xyxilia sẽ thành một khu vườn Hexperyđa, cầu những nữ thần đồng nội, những nữ thần rừng và thần suối sẽ rải đầy hoa trên đường các cháu đi, cầu cho bồ câu trắng kéo về làm tổ trên những hàng cột và những trang trí hình lá ô rô của nhà các cháu”.
Chú thích:
(1) Latinh: Nhà vàng, tức Lâu Đài Vàng của Nerô
CHƯƠNG 74
Ông Petronius đã không nhầm. Hai hôm sau, chàng Nerva trẻ tuổi, người lúc nào cũng tốt bụng và tận tuỵ với ông, phái một nô lệ giải phóng đến Cumae mang theo tin tức về tất cả những gì đang diễn ra trong hoàng cung.
Cái chết của Petronius đã được phán quyết. Ngay chiều hôm sau người ta sẽ phái một viên xentunion mang tới lệnh bắt ông phải dừng lại ở Cumae chờ chiếu chỉ, rồi vài ngày sau, một điệp sứ khác sẽ mang tới cho ông bản án tử hình.
Với vẻ bình thản không một chút xao động, Petronius nghe hết mọi tin tức của người nô lệ giải phóng, rồi nói:
- Ngươi hãy mang về cho chủ ngươi một chiếc bình quý của ta mà ngươi sẽ được giao trước lúc lên đường. Hãy thưa lại với ngài rằng ta thành tâm cảm ơn ngài, vì như thế này ta có thể ra tay trước khi có bản án.
Và đột nhiên ông bật cười, như người vừa chợt nảy ra một dự định tuyệt diệu, vui sướng trước khi bắt tay vào thực hiện.
Ngay chiều hôm ấy, nô lệ của ông toả đi mời tất cả các vị cận thần nam và nữ đang có mặt tại Cumae đến dự tiệc ở cái biệt thự tuyệt đẹp của con người mẫu mực về trang nhã này.
Còn ông, suốt mấy giờ buổi chiều, ông ngồi viết trong thư viện, sau đó ông đi tắm, ra lệnh mặc cho mình một bộ vextiplic, rồi phong lưu, thanh nhã, tuyệt vời như các vị thần, ông ghé qua phòng tiệc xem xét việc chuẩn bị với con mắt của một nhà sành sỏi, sau đó ông ra vườn, nơi bọn tiểu đồng cùng các thiếu nữ Hi Lạp trẻ trung mua hoa ở vùng đảo về đang tết những vòng hoa hồng cho dạ tiệc.
Nét mặt ông không hề gợn một chút ưu tư. Gia nhân chỉ nhận biết được rằng bữa tiệc này sẽ là một cái gì đó đặc biệt, thông qua việc ông ra lệnh ban những phần thưởng khác thường cho những người khiến ông hài lòng và xử phạt nhẹ nhàng những kẻ không làm ông vừa ý, cùng những ai trước đó đã đáng bị quở phạt. Ông ra lệnh trả tiền trước một cách hào phóng cho bọn xướng ngâm và ca công. Và sau hết, ông ngồi trong vườn dưới bóng cây dẻ gai, nơi ánh mặt trời rọi qua tán lá đan thành những mảng sáng trên mặt đất, rồi cho gọi nàng Eunixe đến.
Nàng tới, vận bộ y phục màu trắng, với một nhành sim thơm trên mái tóc, trông tuyệt vời như một tiên nữ Kharyta. Ông cho nàng ngồi cạnh, rồi khẽ chạm mấy ngón tay vào thái dương nàng, ông ngắm nhìn nàng với một tình yêu mến nồng nàn, như cái nhìn của một người sành nghệ thuật chiêm ngưỡng một pho tượng thần được hiện hình dưới bàn tay của một bậc nghệ nhân trác việt.
- Eunixe, - ông bảo nàng, - em có biết rằng đã từ lâu em không còn là nô tỳ nữa?
Nàng ngước đôi mắt trầm tĩnh xanh thẳm như sắc da trời nhìn ông, khẽ lắc đầu phản đối:
- Em mãi mãi là nô tỳ, thưa ông chủ. - nàng đáp.
- Song có thể em không biết rằng, - ông Petronius tiếp lời, - cả toà biệt thự này cùng các nô tỳ đang tết vòng hoa nơi kia và tất cả mọi thứ khác, cả ruộng đồng lẫn gia súc, từ hôm nay sẽ thuộc về em.
Nghe thấy thế, Eunixe bỗng dịch ra xa ông, và bằng giọng nói âm vang một nỗi lo lắng bất chợt, nàng hỏi:
- Sao người lại nói với em điều ấy, thưa ông chủ?
Rồi nàng xích lại gần và đăm đắm nhìn ông, mắt chớp kinh hoàng. Giây lát sau, mặt nàng trắng bệch như màu vải trắng, còn ông vẫn tiếp tục mỉm cười, mãi sau mới buông một tiếng gọn lỏn:
- Phải!
Một giây im lặng bao trùm, chỉ có làn gió nhẹ khe khẽ xao động lá dẻ gai.
Ông Petronius hoàn toàn có thể cho rằng trước mặt ông đang là một pho tượng tạc bằng đá cẩm thạch trắng.
- Eunixe, - ông nói, - ta muốn được chết một cách thanh thản.
Thiếu nữ nhìn ông với nụ cười đau đớn, thì thầm:
- Em xin vâng, thưa ông!
Buổi tối, khách khứa, những kẻ hơn một lần được dự tiệc tại nhà ông Petronius và hiểu rằng so với những buổi tiệc ấy thì ngay cả đến tiệc của Hoàng đế cũng tỏ ra buồn chán và thô thiển - bắt đầu lũ lượt kéo tới, song không một ai thoáng có ý nghĩ rằng đây sẽ là bữa tiệc(1) cuối cùng. Quả tình cũng có nhiều người biết rằng trên đầu vị cận thần trang nhã này đang vần vũ những đám mây đen thất sủng của Hoàng đế, song chuyện ấy đã từng xảy ra biết bao nhiêu lần và cũng đã biết bao nhiêu lần ông Petronius biết cách xua tan những đám mây đen ấy chỉ bằng một hành động khôn khéo hoặc một lời nói mạnh bạo, khiến cho không một ai có thể ngờ rằng lần này mối nguy hiểm nghiêm trọng đang đe doạ ông. Vả chăng, nét mặt vui vẻ và nụ cười đầy vẻ vô lo của ông khiến người ta càng tin vào điều ấy. Trong những đường nét thiên thần của mình, nàng Eunixe tuyệt sắc, được ông thổ lộ rằng muốn được chết thanh thản, người mà mỗi lời ông nói đều là lời phán quyết, vẫn giữ được vẻ bình thản, duy chỉ trong đồng tử của nàng có một thứ ánh sáng khác lạ mà người ta có thể đọc thành nỗi hân hoan. Ở cửa vào phòng tiệc, những tiểu đồng tóc bọc trong lưới vàng đặt những vòng hoa hồng lên đầu khách, và theo phong tục, canh sao cho họ bước qua ngưỡng cửa bằng chân phải. Trong gian phòng lớn thoang thoảng mùi hoa đồng thảo; ánh sáng lung linh trong những chiếc đèn nhiều màu sắc làm bằng thuỷ tinh Alekxanđria. Đứng bên các ghế dài là những thiếu nữ Hi Lạp có nhiệm vụ xoa dầu thơm vào bàn chân cho khách. Kề bên tường, bọn nhạc công đàn tranh và các ca công thành Aten đang chờ hiệu lệnh của viên quản ca.
Những thức ăn đựng đầy trên bàn tiệc choáng lộn vẻ xa hoa, song cái vẻ lộng lẫy kia không gây cảm giác nặng nề cho một ai và cũng không khiến ai phải khó chịu, dường như tự nó đã toát lên vẻ trang nhã. Cùng với mùi hoa đồng thảo, sự vui vẻ và thoải mái tràn ngập trong phòng. Bước vào đây, khách không hề cảm thấy có sự cưỡng bức hay mối đe doạ nào treo lơ lửng trên đầu như cái không khí thường có trong các buổi tiệc của Hoàng đế, nơi mà ngay cả những lời tán dương không đủ độ tâng bốc hay không đúng chỗ đối với một khúc ca hay một bài thơ cũng có thể phải được trả giá bằng tính mạng. Tim các thực khách càng thêm phấn khích trước quang cảnh đèn nến sáng choang, những chiếc độc bình quý mỏng manh, những bình rượu nho ướp lạnh trong lớp vỏ tuyết trắng xoá, cùng các món sơn hào hải vị. Những câu chuyện bắt đầu râm ra như tiếng đàn ong bay quanh cây táo đang rộ hoa, chỉ thỉnh thoảng mới bị gián đoạn, bởi một dịp cười rộ lên vui vẻ, bởi tiếng xuýt xoa tán thưởng hay một cái hôn thành tiếng quá kêu được đặt lên một bờ vai trắng muốt.
Trong khi uống rượu nho, khách khứa đều gẩy từ mỗi cốc ra vài giọt rượu để hiến dâng lên các vị thần linh bất tử, cầu họ phù hộ cho chủ nhân. Có hề chi đâu chuyện nhiều người trong đám thực khách không hề tin vào thần thánh. Phong tục và tín ngưỡng buộc phải thế. Nằm bên cạnh Eunixe, ông Petronius tham gia vào những câu chuyện thời sự ở Roma, về những đám ly dị mới nhất, về tình ái, chuyện trăng hoa, về các cuộc đua xe, về chàng Xpikulux, người mới nổi bật trên đấu trường trong thời gian gần đây, về những quyển sách mới ra đời ở nhà Atraktux và Xezius. Vừa gẩy những giọt rượu nho, ông vừa nói rằng ông chỉ gẩy rượu dâng hiến bà chúa Sip, người lớn tuổi và vĩ đại nhất trong tất cả các thần, người duy nhất bất tử, vĩnh hằng, đầy quyền lực.
Câu chuyện của ông giống như một tia nắng mặt trời đang nhảy nhót, mỗi lúc lại chiếu vào một đối tượng mới, giống như một hơi gió mùa hạ làm xao động hoa lá trong vườn. Lát sau, ông gật đầu ra hiệu cho viên quản ca, và theo hiệu lệnh của anh ta, những cây đàn tranh khe khẽ lên tiếng, rồi những giọng hát trẻ trung hoà theo. Sau đó, các vũ nữ đảo Kox, những người đồng hương với nàng Eunixe, bắt đầu phô diễn những tấm thân hồng hào dưới lượt vải the trong suốt. Cuối cùng, một thầy bói Ai Cập tiên đoán tương lai cho khách dựa trên chuyển động của những con cá tráp sặc sỡ màu sắc cầu vồng đang bơi lội tung tăng trong một chiếc bình pha lê.
Khi họ đã chán những trò vui ấy, ông Petronius hơi nhổm người dậy trên chiếc gối Xyri của ông và cất tiếng nói với vẻ không mấy hào hứng:
- Thưa các bạn! Hãy lượng thứ cho tôi vì trong tối vui mà lại ngỏ lời cầu khẩn này cùng các bạn: xin mỗi vị hãy vui lòng nhận một chiếc tách này làm quà, và trước tiên, xin hãy để rơi vài giọt rượu dâng lên các vị thần cầu phúc cho tôi.
Những chiếc tách quý của ông Petronius lóng lánh ánh vàng, ánh ngọc và những hình trạm chổ tuyệt xảo, nên mặc dầu chuyện ban phát quà tặng là chuyện thường tình ở Roma, trái tim các thực khách vẫn tràn ngập nỗi hân hoan. Một số người bắt đầu cảm ơn và lớn tiếng ca tụng ông; số khác trầm trồ rằng cả đến thần Jupiter cũng chưa bao giờ ban phát cho các vị thần trên núi Olimpơ món quà nào quý đến thế; cũng có những kẻ còn ngần ngại chưa dám nhận một món quà vượt xa mọi mực thước thông thường.
Còn Petronius, ông nâng cao chiếc bình cổ quý giá vô song, rực rỡ muôn ánh hào quang như sắc cầu vồng và nói:
- Bình rượu này tôi xin dâng lên bà chúa Sip, cầu cho từ nay không một kẻ nào còn được chạm đôi môi vào đây, không một bàn tay nào còn được rót rượu từ chiếc bình này để dâng hiến nữ thần nữa!
Rồi ông ném mạnh chiếc bình quý xuống sàn nhà rải đầy hoa kỵ phù lam màu tím, và khi nó vỡ tan thành vô vàn mảnh vụn trước những cặp mắt bàng hoàng của những người chung quanh, ông nói tiếp:
- Các bạn thân mến! Hãy vui lên đi thay vì kinh ngạc! Sự già nua bất lực là bạn đồng hành buồn thảm của những năm tháng cuối cùng của đời người. Song tôi sẽ chỉ cho các bạn một tấm gương tốt cùng một lời khuyên tốt: các bạn đừng nên chờ đợi chúng, mà trước khi chúng kịp đến, hãy ra đi như tôi sẽ ra đi!
- Ngài muốn làm gì vậy? - vài giọng lo lắng hỏi.
- Tôi muốn được vui, được uống rượu nho, được nghe âm nhạc, được ngắm những đường nét thiên thần mà các bạn trông thấy cạnh tôi đây, rồi sau đó được thiếp đi với mái đầu mang vòng hoa này. Tôi đã có lời từ biệt với Hoàng thượng và không hiểu các bạn có muốn nghe những gì tôi đã viết cho Người hay chăng?
Nói đoạn, ông rút ra từ dưới chiếc gối màu tía ra một bức thư rồi cất tiếng đọc, bức thư đó như sau:
“Tâu Hoàng thượng, tôi biết rằng Hoàng thượng đang nóng lòng trông đợi nên tôi đến, rằng trái tim bạn bè trung thành của Người đang ngày đêm nhớ thương tôi. Tôi biết rằng Hoàng thượng sẵn lòng ban thưởng cho tôi bao bổng lộc và trao cho tôi chức tổng quản cấm quân, còn Tygelinux thì Người sẽ bắt hắn phải làm cái việc mà các thần đã muốn hắn phải làm khi sinh tạo hắn ra: làm một tên quản la trên đất đai của Hoàng thượng, những đất đai mà Người được hưởng quyền thừa kế sau khi đã đánh thuốc độc Đomixia. Song xin Người hãy lượng thứ cho tôi, vì thề có Hađex, chốn địa ngục đang thấp thoáng hình bóng của Thái hậu, hoàng hậu và hoàng đệ của Người cũng như hương hồn ông Xeneka, tôi không thể đến chầu Hoàng thượng được. Bạn thân mến của tôi ơi, đời người là một kho báu vô song, mà tôi là kẻ biết lựa tìm trong ấy những thứ ngọc ngà quý nhất. Song trong cuộc đời cũng có những thứ mà tôi không thể chịu đựng lâu hơn được nữa. Ồ, xin chớ vội nghĩ rằng tôi không chịu đựng nổi việc bạn đã giết cả mẹ lẫn vợ cùng em, việc bạn đã đốt trụi Roma và đẩy đi Ereb tất cả những người trung thực ở quốc gia này! Không phải đâu, thưa chắt đích tôn của thần Kronox! Cái chết vốn là khẩu phần chia theo đầu người, vả chẳng đâu có thể trông chờ ở bạn một hành động nào khác thế. Song, phải chịu hỏng tai thêm bao năm nữa vì tiếng hát của bạn, phải nhìn đôi giò khẳng khiu của bạn vung vẩy trong vũ điệu Pirei, phải nghe tiếng đàn của bạn, lời ngâm xướng của bạn cùng các bản trường ca của bạn - thì hỡi chàng thi sĩ tội nghiệp của vùng ngoại ô ơi, những điều ấy quả là vượt quá sức chịu đựng của tôi và khiến tôi muốn chết. Roma phải bịt tai khi nghe bạn, thế giới cười mỉa mai bạn, còn tôi, tôi không muốn và cũng không thể chín mặt ngượng vì bạn lâu hơn được nữa! Bạn thân yêu của tôi! Đối với tôi, tiếng gào hú của con chó ba đầu Xerber - dù là gần giống tiếng hát của bạn - vẫn còn dễ nghe hơn, vì lẽ chưa bao giờ tôi phải là bạn của nó và tôi cũng không có nghĩa vụ phải xấu hổ vì giọng của nó. Mạnh khoẻ nhé nhưng xin đừng ca hát, cứ giết chóc đi nhưng xin chớ làm thơ, hãy đầu độc nữa đi chứ đừng cố múa may, đốt phá tràn lan đi nhưng đàn tranh đừng gẩy - đó là lời chúc và cũng là lời khuyên bằng hữu cuối cùng mà arbiter elegantiarum gửi tới bạn”.
Các vị thực khách kinh hoàng, bởi họ hiểu rằng giá Nerô có bị mất cả quốc gia đi chăng nữa, thì đối với ngài ngón đòn ấy còn ít độc địa hơn. Họ cũng hiểu rằng người viết bức thư này sẽ phải chết và một nỗi lo sợ cho chính mình vây lấy họ, bởi vì họ đã nghe đọc bức thư kia.
Nhưng ông Petronius bật cười thoải mái và vui vẻ, dường như đó chỉ là một trò đùa vô tội nhất, rồi đưa mắt lướt qua những người có mặt, ông lại cất tiếng nói:
- Các vị hãy vui lên và hãy xua đuổi nỗi âu lo. Chẳng ai phải tự khoe là đã được nghe bức thư này, còn tôi, có lẽ khi nào rỗi rãi, tôi sẽ khoe nó với ông lão Kharon.
Rồi ông ra hiệu cho vị danh y Hi Lạp và chìa cánh tay cho ông ta. Chỉ trong nháy mắt, người thầy thuốc Hi Lạp đã quần một mảnh bằng vàng quanh tay ông và mở mạch máu ở khuỷu tay. Máu vọt ra, toé lên chiếc gối lót đầu và cả người Eunixe. Nàng đỡ lấy đầu ông Petronius, cúi xuống phía ông và nói:
- Người ơi, người nghĩ là em sẽ bỏ mặc người chăng? Dù các thần có ban cho em sự bất tử, dù Hoàng đế có nhường cho em quyền trị vì cả thế gian này chăng nữa, em cũng vẫn nguyện đi cùng người!
Petronius mỉm cười, hơi nhổm người lên, chạm môi vào đôi môi nàng rồi đáp:
- Em hãy đi cùng ta!
Rồi ông nói thêm:
- Em quả là yêu ta, hỡi nữ thần của ta!
Nàng chìa cho nhà danh y cánh tay hồng hào của mình, và giây lát sau, máu nàng bắt đầu tràn ra, hoà vào dòng máu của ông.
Ông Petronius ra hiệu cho người quản ca, tiếng đàn tranh và giọng hát lại vang lên, đầu tiên người ta ca bản Hormođiox, sau đó vang lên một khúc ca của Anakreontơ, trong đó thi sĩ phàn nàn rằng ông nhặt được trước cửa nhà mình một đứa trẻ lạnh tái đã khóc hết cả hơi, con đẻ của nữ thần Afrođyta, ông mang nó vào nhà, sưởi ấm, hong cho khô đôi cánh, thế mà đứa bé vô ơn ấy lại dùng một mũi tên vàng xuyên thủng trái tim ông để trả ơn, và từ đó ông mất đi sự yên tĩnh.
Còn họ, tựa người vào nhau, đẹp như hai thiên thần, vừa nghe hát vừa mỉm cười trong khi người họ cứ nhợt nhạt dần đi. Khi bài ca kết thúc, ông Petronius ra lệnh mang thêm rượu nho và thức ăn ra, rồi ông lại trò chuyện cùng các thực khách ngồi cạnh về những câu chuyện tầm phào nhưng dễ yêu mà người ta vẫn thường nói với nhau trong các bữa tiệc. Ông gọi nhà danh y Hi Lạp lại, ra lệnh tạm thắt lại mạch máu một lúc, vì ông cho rằng ông cảm thấy buồn ngủ và muốn được hiến cho thần ngủ Hipnox thêm một lần nữa trước khi thần chết Tanatox ru ông vào giấc ngủ thiên thu.
Ông thiếp đi, khi tỉnh dậy đầu người thiếu nữ đã ngả trên ngực ông như một đoá hoa màu trắng. Ông bèn tựa đầu nàng vào gối để ngắm nàng lần nữa. Sau đó, người ta lại mở mạch máu ra cho ông.
Đáp lại cái gật đầu của ông, các ca công bắt đầu ngân nga một bài ca khác cũng của Anakreontơ, đàn tranh chỉ khẽ đệm theo để không át mất lời ca. Petronius mỗi lúc thêm nhợt nhạt, song khi những thanh âm cuối cùng vừa lắng đi, ông còn ngoảnh lại nhìn các thực khách một lần cuối và nói:
- Các bạn ơi, hãy thừa nhận rằng, cùng với chúng tôi, đã chết đi cả…
Song ông chưa kịp nói hết, bằng một cử động cuối cùng, tay ông ôm lấy Eunixe, đầu ông ngật ra gối và qua đời.
Nhưng nhìn hai tấm thân trắng ngà tựa những pho tượng tuyệt vời ấy, các thực khách đều hiểu rõ rằng, cùng với hai con người kia đã chết đi những gì còn sót lại cho thế giới của họ, đó là thi ca và cái đẹp.
Chú thích:
(1) Nguyên văn: symposion (La Tinh) - bữa tiệc có tính chất giải trí, trong đó người ta có thể thảo luận về một chủ đề nào đó.
Đăng nhập để trả lời
0
ĐOẠN KẾT
Thoạt đầu, cuộc nổi loạn của các chiến đoàn người Gan dưới sự thống lĩnh của Vinđekx không có vẻ gì nguy hiểm lắm. Hoàng đế mới có ba mươi mốt tuổi đời và không một ai dám ngờ rằng thế gian sẽ thoát khỏi cơn ác mộng đang khiến nó nghẹt thở. Người ta nhớ lại rằng trong các chiến đoàn, ngay từ những thời Hoàng đế trước, cũng đã hơn một lần xảy ra bạo động, nhưng chưa có cuộc bạo động nào kéo theo việc thay ngôi trị vì. Thời Tyberius, Đruxux đã dập tắt cuộc khởi loạn của các chiến đoàn Panon, còn Germannikux - các chiến đoàn sông Ranh. “Vả chăng ai là người có thể thay Nerô nắm quyền trị vì cơ chứ - người ta bảo nhau, - một khi các con cháu của Hoàng đế Auguxt thần thánh đều đã bị chết trong thời ngài trị vì?” Những kẻ khác trông lên pho tượng khổng lồ tạc hình ngài như dũng sĩ Herkulek bất giác nghĩ rằng không một sức mạnh nào có thể đánh gục nổi một thế lực nhường kia. Cũng có cả những kẻ đâm ra nhớ ngài kể từ khi ngài đi Akhai, bởi vì Heliux và Politetex, những kẻ mà ngài giao cho toàn quyền nhiếp chính đối với Roma và Italia, còn thống trị một cách đẫm máu hơn cả ngài.
Không một ai dám chắc vào tính mạng và của cải của mình. Luật lệ thôi không còn bảo vệ được ai nữa. Đã tắt ngấm đi nhân cách và phẩm hạnh, đã lỏng lẻo những giường mối gia đình, và những trái tim thảm hại không còn dám hi vọng nữa. Từ Hi Lạp vang dội tin tức về những thắng lợi của Hoàng đế và hàng nghìn vương miện mà ngài đoạt được, về hàng nghìn địch thủ mà ngài đã chinh phục. Thế giới có vẻ như một cuộc cuồng hoan duy nhất, đẫm máu và nực cười, nhưng đồng thời cũng nẩy sinh ý nghĩ rằng đã chấm dứt phẩm hạnh và những việc nghiêm túc, đã sang thời của vũ, của nhạc, của xa hoa và máu, và từ đây trở đi cuộc sống sẽ cứ trôi đi như thế. Chính Hoàng đế, kẻ mà cuộc nổi loạn đã mở đường cho những cuộc cướp đoạt mới, cũng chẳng hề quan tâm gì tới các chiến đoàn bạo loạn cùng Vinđekx, thậm chí ngài còn thường xuyên biểu lộ niềm vui sướng của mình về chuyện ấy. Ngài cũng chẳng muốn rời Akhai, và mãi tới khi Heliux mang tin tới cho ngài rằng nếu chậm hơn nữa có thể sẽ mất chính quyền, ngài mới lên đường đi Neapon.
Nhưng tại đấy, ngài lại chơi đàn và ca hát, bỏ ngoài tai những diễn biến ngày càng nghiêm trọng hơn của sự kiện. Tygelinux chỉ hoài công giải thích cho ngài rằng những vụ bạo động trước kia của các chiến đoàn không có thủ lĩnh, còn hiện nay cầm đầu vụ nổi loạn là một người thuộc dòng dõi của các vị vua Aquitan, hơn nữa lại là một chiến sĩ lừng danh và giàu kinh nghiệm. “Nơi đây, - Nerô nói, - dân chúng Hi Lạp đang lắng nghe ta, chỉ có họ mới biết lắng nghe, chỉ có họ mới xứng với tiếng hát của ta mà thôi”. Ngài bảo rằng nghĩa vụ số một của ngài là quang vinh và nghệ thuật. Nhưng khi có tin báo rằng Vinđekx đã tuyên cáo rằng ngài chỉ là một tên nghệ sĩ quèn, ngài liền bật dậy và lên đường quay về Roma. Những vết thương mà ông Petronius đã gây ra cho ngài, được hàn kín miệng trong thời gian ở Hy Lạp, nay lại há hoác ra trong trái tim ngài, ngài những muốn đòi công lý ở Nguyên lão viện trước một sự xúc phạm ghê gớm nhường kia.
Trên đường đi, ngài trông thấy một nhóm tượng đúc bằng đồng tạc một chiến sĩ người Gan bị một hiệp sĩ La Mã đánh gục, ngài bèn coi đó là một điềm lành, và kể từ đó, nếu như ngài có nhắc tới những chiến đoàn nổi loạn và Vinđekx thì chỉ để cười giễu họ mà thôi. Cuộc hành trình tiến vào thành phố của ngài làm lu mờ tất thẩy những gì người ta từng chứng kiến xưa nay. Ngài tiến vào trên chính cỗ xe mà hoàng đế Auguxt xưa kia đã từng ca khúc khải hoàn. Người ta đã phá bỏ một cánh cung hý trường để mở lối vào cho đám diễu hành. Viện Nguyên lão, các hiệp sĩ, những đám đông người không kể xiết ào ra đón ngài. Những bức tường thành rung lên trong tiếng kêu: “Xin kính chào Hoàng đế Auguxt, xin kính chào thần Herkulex! Xin kính chào thánh thượng, người vô song, vị thần của thế giới Olimpơ, của thế giới Pyty, vị thần bất tử”. Theo sau ngài, người ta mang những vòng chiến thắng, tên các thành phố mà ngài đã từng ca khúc khải hoàn và tên của các vị vô địch mà ngài đã từng chinh phục được kẻ trên những chiếc bảng lớn. Chính Nerô cũng thoả mãn trong cơn say sưa, ngài hỏi các cận thần, lễ ca khúc khải hoàn của chính Xêzar có ra gì chăng so với cuộc khải hoàn này của ngài? Ngài không sao nhét nổi vào đầu cái ý nghĩ rằng có kẻ nào đó trong đám người không bất tử lại dám vung tay lên chống lại vị bán thần vô địch như ngài. Ngài cảm thấy quả thực mình là người của thế giới Olimpơ, và do vậy ngài hoàn toàn bất khả xâm phạm. Nhiệt tình và sự điên cuồng của đám đông kích động cho cơn điên của chính ngài. Quả thực, trong cái ngày khải hoàn ấy, có thể nghĩ rằng không chỉ riêng Hoàng đế và thành phố mà cả thế giới cũng hoàn toàn mất trí.
Không ai nhìn thấy cái vực thẳm dưới những đống hoa và vòng hoa. Ngay trong buổi tối hôm ấy, những hàng cột và các bức tường của các thần miếu được viết đầy những dòng chữ, trong đó người ta kể ra những tội trạng của Hoàng đế, đe doạ ngài sẽ phải chịu một cuộc trả thù đã sắp tới gần và chế giễu ngài với cái danh nghĩa nghệ sĩ. Người ta truyền khẩu câu nói: “Hắn còn hát cho tới khi hắn đánh thức những con gà trống (Gallos)”. Những tin đồn đáng sợ bắt đầu lan truyền khắp thành phố và lớn lên đến những chừng mực khủng khiếp. Nỗi lo sợ chế ngự đám cận thần. Trong nỗi phấp phỏng không hiểu tương lai sẽ cho thấy điều chi, người ta không dám thốt ra những lời chúc tụng, những hi vọng, không dám cả đến cảm và nghĩ.
Riêng ngài vẫn chỉ sống tiếp tục với nhà hát và âm nhạc. Ngài quan tâm tới những nhạc cụ mới tìm thấy và chiếc đàn oorgan nước mà người ta mang ra thử ở Palatyn. Trong cái trí óc đã hoá thành trẻ con, không có năng lực để khuyên nhủ hay thực hiện một hành động nào, ngài vẫn hình dung rằng những dự kiến các cuộc viễn chinh vươn xa vào tương lai sẽ đảo ngược được nỗi nguy hiểm. Những kẻ gần ngài nhất, khi thấy ngài chỉ cố lo lắng, tìm tòi một cách biểu đạt chính xác nhất để miêu tả nỗi đe doạ thay vì cố gắng tìm biện pháp và quân đội, bắt đầu nản lòng. Những người khác nghĩ rằng ngài cố tìm cách làm điếc tai mình và chung quanh bằng những trích dẫn lê thê, chứ thực ra trong lòng ngài cũng đầy lo sợ và hoảng hốt.. Quả thực những việc làm của ngài cũng trở nên nóng nẩy thế nào ấy. Mỗi ngày lại có hàng nghìn dự định khác nhau lướt qua đầu óc ngài. Chốc chốc ngài lại bật dậy để chạy trốn mối tai ương, ngài ra lệnh đóng gói chất lên xe những chiếc đàn tranh và đàn luýt, ra lệnh cho các nữ tỳ ăn mặc như những nữ kỵ sĩ, nhưng đồng thời ngài bật dậy cũng để kéo các binh đoàn từ phương Đông trở về. Thỉnh thoảng ngài lại nghĩ rằng không phải bằng một cuộc chiến tranh mà bằng chính tiếng hát ngài có thể dẹp tan cuộc nổi loạn của các chiến đoàn Gan. Và tâm linh ngài sung sướng mỉm cười trước cảnh sẽ diễn ra sau lúc ngài dùng tiếng hát thu phục lòng binh lính: những người lính chiến đoàn sẽ vây quanh ngài, lệ dưng dưng trong mắt, còn ngài sẽ ngâm cho họ nghe đoạn epinicium, rồi sau đó, một thời hoàng kim sẽ bắt đầu đối với ngài cũng như đối với La Mã. Đôi khi ngài lại kêu gào đòi máu, đôi khi ngài lại tuyên bố sẽ thành lập đại đế chế ở Ai Cập; ngài nhớ lại các thầy bói đã tiên đoán cho ngài quyền trị vì tại Jerusalem, hoặc ngài xúc động khi nghĩ rằng ngài sẽ là một ca sĩ lang thang kiếm miếng bánh mì của thiên hạ, và các thành phố cùng các đất nước sẽ không còn thờ kính ngài như một vị Hoàng đế, chúa tể trái đất, mà như một ca công mà nhân loại chưa từng sản sinh ra nổi từ trước tới nay.
Và cứ thế ngài tung hoành, điên loạn, ca hát, thay đổi ý định, thay đổi các trích đoạn, biến cuộc sống của ngài và của thế gian thành một giấc mơ viển vông, vớ vẩn và kinh khủng nào đó, thành một chuyện cười chơi huyên náo hợp lại từ những ngôn từ phóng đại, những dòng thơ vớ vẩn, những tiếng rên rỉ, nước mắt và máu, trong lúc đám mây đen ở phía tây mỗi ngày một lớn dậy và mạnh lên. Quá mức rồi, hài kịch của lũ hề rõ ràng đã tới lúc hạ màn.
Khi tin tức về Ganba và việc Tây Ban Nha tham gia cuộc khởi loạn vang tới tai ngài, ngài nổi cơn điên. Ngài đập đổ các cốc tách, lật đổ bàn tiệc và ra những mệnh lệnh mà cả Heliux lẫn Tygelinux cũng không dám thực hiện. Giết sạch những người xứ Gan sinh sống tại Roma, sau đó đốt thành phố một lần nữa, thả hết dã thú từ các chuồng thú ra, dời đô đến Alekxanđria - đối với ngài thẩy đều là những việc vĩ đại, đáng thán phục và dễ thực hiện. Song những ngày quyền lực vô biên của ngài đã qua đi rồi, và ngay cả những kẻ cùng cộng tác với ngài gây nên những tội ác xưa kia cũng bắt đầu nhìn ngài như nhìn một thằng điên.
Cái chết của Viđekx cùng sự bất hoà giữa các chiến đoàn có vẻ khiến cho cán cân ngả trở lại về phía ngài. Lại những tiệc rượu mới, những cuộc khải hoàn mới, những bản án mới được tuyên cáo tại Roma, thì đột nhiên một đêm kia, một kị sĩ cưỡi con ngựa sùi bọt mép từ trại cấm binh phóng vội tới, báo tin rằng ngay trong thành phố binh lính cũng đã dựng cờ khởi nghĩa và đã tuyên bố rằng Granba là Hoàng đế.
Hoàng đế đang ngủ khi người báo tin phóng đến, ngài tỉnh dậy, vô vọng gọi bọn vệ sĩ đêm đêm vẫn canh gác cửa phòng. Trong cung điện đã hoàn toàn trống rỗng. Chỉ còn bọn nô lệ đang cướp phá tại những góc xa nhất những gì có thể cướp được dễ dàng. Nhưng sự xuất hiện của ngài đã khiến chúng hoảng sợ, ngài lang thang một mình suốt trong cung, khiến cung điện tràn ngập những tiếng kêu kinh hoàng và tuyệt vọng.
Cuối cùng những nô lệ giải phóng: Faon, Xpirux và Epafrođyt cũng tới cứu ngài. Họ muốn ngài đi trốn và bảo rằng không còn một giây phút nào để phí hoài nữa, song ngài hãy vẫn còn ảo vọng. Thế nếu như ngài khoác áo tang để lên tiếng trước nguyên lão viện thì liệu viện nguyên lão có thể nào từ chối được chăng những giọt lệ cùng bài nói của ngài? Thế nếu như ngài sử dụng toàn bộ nghệ thuật hùng biện, toàn bộ tài diễn thuyết và khả năng diễn viên, thì liệu có kẻ nào trên đời có thể cưỡng nổi ngài chăng? Lẽ nào người ta lại chẳng phong cho ngài chí ít cũng chức tổng quản toàn Ai Cập.
Vốn quen với những lời tán tụng, bọn họ hãy còn chưa dám phản đối thẳng thừng, họ chỉ cảnh cáo rằng trước khi ngài kịp tới Forum, có thể dân chúng đã xé xác ngài thành muôn mảnh, và doạ rằng, nếu ngài không ngồi ngay lên ngựa thì họ sẽ bỏ mặc ngài.
Faon hứa sẽ giấu ngài trong toà biệt thự của y nằm bên ngoài cổng thành Nomentan. Lát sau họ cùng lên ngựa và dùng áo choàng trùm kín đầu phóng về cuối thành phố. Đêm đã nhạt. Trên đường phố đang bao trùm một không khí náo động báo trước sự trọng đại của thời điểm. Binh lính đi lẻ tẻ hoặc thành từng toán nhỏ tản mác khắp thành phố. Đến gần trại binh, trông thấy một xác chết, ngựa của Hoàng đế đột ngột nhảy dạt sang một bên. Chiếc áo trùm đột ngột tuột khỏi đầu người cưỡi ngựa, và người lính đang đi lướt qua cạnh ngài vào giây phút ấy nhận ra vị chúa tể, song bối rối vì cuộc chạm trán bất ngờ, anh ta lại chào ngài theo tư thế quân nhân. Phóng qua gần trạm cấm binh, họ nghe thấy những tiếng kêu chào đón Ganba. Rốt cuộc Nerô cũng hiểu ra rằng giờ chết đang tới gần. Ngài bị chế ngự bởi một nỗi kinh hoảng và sự cắn rứt lương tâm. Ngài nói rằng ngài trông thấy trước mặt một thứ bóng đen mang hình thù một đám mây đen kịt, trong đám mây đó nhô ra những bộ mặt người mà ngài nhận ra đó là mẹ, là vợ, là em trai. Răng ngài đánh lập cập vì sợ hãi, tuy vậy cái linh hồn diễn viên hài kịch của ngài hình như vẫn còn nhận ra một vẻ đẹp nào đó trong cái đáng sợ của giờ phút ấy. Là một vị chúa tể toàn quyền của trái đất để rồi bị mất đi tất cả - chuyện ấy đối với ngài là một tuyệt đỉnh của bi kịch. Và trung thành với bản thân mình, ngài đóng cho đến phút chót vai chính trong vở bi kịch ấy. Ngài nổi cơn say trích cú và một nỗi thèm khát si mê để những người có mặt phải ghi nhớ những vần thơ ấy cho hậu thế. Chốc chốc ngài lại nói rằng ngài muốn chết và ngài gọi tên Xpikulux, kẻ giết người dẻo tay nhất trong hàng ngũ các đấu sĩ. Chốc chốc ngài lại đọc thơ: "Mẹ ta, phu nhân ta và cha ta đang gọi ta chịu chết!". Tuy nhiên trong lòng ngài thỉnh thoảng vẫn bừng lên những ánh chớp hi vọng trống rỗng và ngây thơ. Ngài vừa biết rằng cái chết sắp đến vừa không chịu tin vào nó.
Họ thấy cổng thành Nomentan đang mở. Đi tiếp nữa, họ lướt qua gần Oxtrianum, nơi ông Piotr đã từng thuyết giảng và rửa tội. Đến rạng sáng họ về tới biệt thự của Faon.
Đến đó, các nô lệ giải phóng không giấu ngài thêm nữa, rằng đã tới lúc phải chết, ngài bèn ra lệnh đào cho mình một cái hố và nằm ra đất để người ta có thể đo thật chính xác. Nhưng khi nhìn thấy đất bị hất lên, ngài lại kinh hoàng. Cái mặt bự mỡ của ngài tái nhợt, trán ngài đầm đìa những giọt mồ hôi mang hình những giọt sương mai. Ngài bắt đầu lần lữa. Bằng một giọng nói run rẩy của các nghệ sĩ, ngài tuyên bố rằng chưa tới lúc, rồi ngài lại đọc thơ. Cuối cùng ngài yêu cầu được thiêu xác. "Một nghệ sĩ nhường này đang chết!" - ngài lặp lại dường như kinh ngạc.
Trong khi ấy, một điệp sứ của Faon phóng về báo tin viện nguyên lão đã tuyên án và parricida sẽ phải được xử tội theo phong tục cổ xưa.
- Phong tục đó thế nào? - Ngài hỏi với đôi môi trắng nhợt.
- Người ta sẽ xóc chàng nạng vào người rồi hành cho đến kỳ chết, xác sẽ quăng xuống sông Tyber. - Epafrođyx đáp gọn lỏn.
Ngài bèn phanh áo choàng chỗ ngực:
- Thế là đến lúc rồi! - Ngài nói và ngước nhìn trời.
Rồi ngài lặp lại lần nữa:
- Một nghệ sĩ nhường này đang chết!
Đúng vào lúc ấy vang lên tiếng vó ngựa. Đó là một viên xenturion dẫn đầu một toán lính để lấy đầu Ahenobarbux.
- Nhanh lên kia! - bọn nô lệ giải phóng kêu lên.
Nerô đặt lưỡi dao vào cổ, nhưng ngài chọc dao bằng bàn tay run sợ và rõ ràng không bao giờ ngài dám đâm sâu lưỡi dao. Khi ấy Epafrođyx đột ngột đẩy mạnh tay ngài, lưỡi dao thọc lên đến tận đầu, đôi mắt ngài lồi hẳn ra ngoài, kinh khủng, to thô lố đầy kinh hoàng.
- Tôi mang tới cho Người sự sống đây! - viên xentunion tiến vào và kêu to lên.
- Chậm mất rồi.- Nerô đáp lại bằng giọng khàn đặc.
Rồi ngài thêm:
- Đó mới là lòng trung thành.
Trong nháy mắt cái chết đã bao trọn đầu ngài. Máu từ cái cổ to bự phun thành một dòng đen kịt lên những đoá hoa vườn. Hai chân ngài bắt đầu dũi dũi đất. Và ngài yên nghỉ.
Hôm sau, nàng Akte trung thành quấn xác ngài vào những tấm vải quý và thiêu trên đống lửa rắc đầy các loại hương liệu.
Và thế là qua đi Nerô, như đã qua đi cơn lốc, giông bão, hoả hoạn, chiến tranh hay một cơn ác mộng, còn nhà thờ lớn của ông Piotr cho tới nay vẫn đang ngự trị thành đô và thế giới từ trên cao nguyên Vatykan.
Và ngày nay, dựa theo cổng thành Kapen cũ, mọc lên một nhà thờ nho nhỏ với dòng chữ đã hơi bị nhoà nhạt: "Quo Vadis, Domine?".
HẾT
PHỤ LỤC
Các địa danh, nhân vật lịch sử và thần thoại, trong sách này được phiên âm từ tiếng Ba Lan, có khác chút ít với cách viết thông thường. Để tiện theo dõi, người dịch soạn thêm phần phụ lục và sử dụng các chữ viết tắt sau đây: HL - Hy Lạp, LM - La Mã, AC - Ai Cập, tcn - trước công nguyên vv…
***
AFROĐYTA (HL) - nữ thần tình yêu và sắc đẹp, sinh ra từ sóng biển, vợ của Hefaixtox, mẹ của Erox, lễ vật dâng hiến, bồ câu, hoa hồng, sim thơm; thần miếu chính; Patox (ở đảo Sip), Kaiđox (Tiểu Á), Koryntơ; LM: Venux.
AGAMEMNON - nhân vật trong Iliat, vua Argox, con Atreux, thủ lĩnh dân Akhai gần thành Tơroa, cha của Higenia, Elektra và Orextex.
AGRYPA, tức AGRYPINA TRẺ (16-59) - vợ hoàng đế LM Klauđius, đầu độc chồng để đưa con trai là Nerô lên ngôi, bị giết theo lệnh Nerô.
AKHAI - tên gọi của HL, hồi ấy là một tỉnh của LM, theo tên vùng đất nằm phía tây bác Poloponedơ, nơi cư trú của bộ tộc cùng tên.
AKTEON (HL) - chàng thợ săn, vì trông thấy nữ thần Artemiđa đang tắm nên bị trừng phạt, chính đàn chó của chàng xé xác chủ.
ALEKXANĐER, tức Alekxanđer Đại Đế (356-323 t.c.n) - vua xứ Maxeđônia, học trò của Aryxtotelex, chinh phục vương quốc Ba Tư, tạo dựng một đế quốc hùng mạnh, mở đầu thời kỳ cường thịnh của HL, kéo dài từ 330 t.c.n đến khi LM chinh phục (30 t.c.n).
ALEKXANĐRIA - thành phố nằm ở châu thổ sông Nin, trên bờ Địa Trung Hải, do Alekxanđer Đại Đế dựng lên (332 hoặc 331 t.c.n), từ đó là thủ phủ của AC, trung tâm đời sống văn hóa và tinh thần của HL một thời.
ALKMENA (HL) - vợ của Amfitrion, do ăn ở với thần Zeux nên sinh ra dũng sĩ Horaklex.
AMFITRYTA (HL) - vợ của Poxeiđon, thường ngự trên cỗ xe có hình vỏ sò rập rờn trên sóng biển.
ANAKREONT (thế kỷ VI t.c.n) - thi sĩ trữ tình HL, quê ở Teox (Tiểu Á), tác giả của những bản tình ca và bi ca nổi tiếng.
ARBAN - nhóm núi lửa đã tắt ở miền trung Italia, cao nhất là ngọn Faete (956 m), phong cảnh kỳ thú, với những hồ nước đẹp trên đỉnh, sườn núi là các vườn nho.
ANTIOKHIA - thành phố cổ phía nam Thổ Nhĩ Kỳ, cố đô của người Xelenxvđ, một trong những thành bang lớn nhất của đế quốc LM.
APIX - con bò thiêng liêng trong thần thoại AC, được xem là hóa thân của thần Ptah thờ tại Memphix.
APOMONIUS (thế kỷ III t.c.n) - một trong những nhà hình học lớn nhất thời cổ đại, đã phát triển lý thuyết tiết diện conic, đưa ra nhiều thuật ngữ khoa học được dùng cho đến ngày nay.
ARGOX (HL) - cha nàng DDanaac, ông của dũng sĩ Perxeus.
ARYXTOTELEX (384-322 t.c.n) - triết gia HL, nhà bác học toàn diện nhất thời cổ đại.
ARYXTYĐEX (khoảng 540-467 t.c.n) - nhà chính trị thành Aten, chủ trương dân chủ ôn hòa, một trong các thủ lĩnh chính của cuộc chiến tranh Ba Tư, nổi tiếng chính trực.
AXKLEPIOX (HL) - thần sư nghề thuốc, con trai Apolon, biểu tượng con rắn quấn quanh chiếc gậy đi đường, lễ vật tế hiến, gà sống và chó, trung tâm thờ cúng, Epiđaur (Peloponedơ), đảo Kox; LM: Exkulap.
ATTAN - tức Attalox III (171-133 t.c.n) - vua xứ Pergamen, trong di chiếu chuyển giao quốc gia cho LM.
AUGUXT - tức Oktavian Auguxt (63 t.c.n) - hoàng đế LM đầu tiên (từ năm 27), cháu và con nuôi của Xezar; có công hỗ trợ khoa học, văn học và nghệ thuật.
BAAN - theo thần thoại của người Kananei (thuộc nhóm Xemit) là vị thần của sự sinh sôi nẩy nở, được thờ hình con bò đực.
BAKHUX - tên La Tinh của thần Bakhox tức DDionixxox, thần rượu nho, con trai của Zeux và Xemela.
BATAVI - một chủng người German cư trú vùng cửa sông Ranh, từ cuối thế kỷ I t.c.n, thần phục LM.
BERENIKA (khoảng 258-220 t.c.n) - vợ của Ptoloneus III; theo truyền thuyết, mái tóc của nàng dâng cho nữ thần Afrođyta được mang lên trời và biến thành một chòm sao.
BITYNIA - xứ cổ vùng tây bắc Tiểu Á, khoảng 297-77 t.c.n là một quốc gia độc lập, sau nhập vào đế quốc LM.
BRUTUX (54-42 t.c.n) - chính trị gia, triết gia khắc kỷ và nhà hùng biện LM; chống lại Xezar, bị giết gần Filipi năm 42 t.c.n.
BRYTANIA - tên gọi theo kiểu Xentơ của nước Anh, xuất phát từ tên bộ tộc người cô Bryt sinh sống ở đó.
BRYTANIK (41-55) - con trai hoàng đế Klauđius, bị Agrypina tước quyền thừa kế và bị Nerô đầu độc.
ĐANAE - con gái vua Argox, thần Zeux biến thành trận mưa vàng xuống ăn ở với nàng sinh ra chàng Perxeus.
ĐEMETER (HL) - nữ thần của mùa màng, hạt giống, đất trồng trọt, mẹ của Perxefona; trung tâm thờ cúng: Eleuxix; LM: Xerex.
ĐEMOKRYT xứ Abdderra (460-370 t.c.n) - triết gia HL, một trong những đại diện tiên tiến của tư tưởng duy vật cổ đại, người đề xuất thuyết cấu tạo nguyên tử của thế giới.
ĐIANA (LM) - nữ thần rừng rú và muông thú, của mặt trăng và sự sinh sôi; thần hộ mệnh cho phụ nữ; trung tâm thờ cúng; khu rừng gần Aryxia trên bờ hồ Nemi; HL: Artemiđa.
ĐIOGENEX (khoảng 413-323 t.c.n) - triết gia HL, một trong những đại diện chính của trường phái xinic; đề xuất tư tưởng sống hoà hợp với thiên nhiên và tự mình thực hiện tư tưởng đó.
ĐIOKLEXIAN (245-313?) - hoàng đế LM, do quân đội đưa lên ngôi; cải tiến hệ thống tiền tệ, thuế và quân đội.
ĐIRKE (HL) - vợ của Likox, vua người Tebơ, do hành hạ Antiopa, mẹ của Amlion và Zetox, bị hai chàng trừng phạt bằng cách cho bò xéo chết.
ĐOMIXIAN (51-96) - hoàng đế LM (từ 81), con trai Vexpazian; bành trường quyền thống trị của LM ở Brytania, xây dựng tuyền phòng thủ dọc sông Đunai và sông Ranh.
EĐYP (HL) - con trai vua Laiox và bà Jokaxta, giết cha lấy mẹ làm vợ mà không biết; sau khi biết, tự chọc mù mắt và đầy ải thân mình.
ENEAS - người bảo vệ thành Tơroa, con Ankhizex và Afrođyta; sau khi thành Tơroa thất thủ, lưu đày, đến cư trú tại Laxium (Italia), được coi là cụ tổ của người LM; nhân vật chính trong trường ca Enciđa.
EPIĐAUR - thành phố cổ phía nam HL, trung tâm thờ cúng Axklepiox.
EPIKTET (50-130?) - triết gia LM, theo chủ nghĩa khắc kỷ.
EPIROX - vùng đất lịch sử, hiện là một tỉnh ở tây bắc HL, trên bờ Egiê.
EREB (HL) - cõi âm, xứ sở người chết, vương quốc của thần Hađex.
FUTERPE (HL) - một trong các thi thần, đỡ đầu cho thơ trữ tình.
EXKULAP (LM) - xem Axklepiox.
EXQUILINUX - đồi ở cổ LM, ban đầu là khu nghĩa địa, sau là khu phố người nghèo; trong thời kỳ các hoàng đế LM trở thành khu vườn tư và các công trình xây dựng tráng lệ.
FATUM (LM) - nữ thần định mệnh; HL: Ananke.
FEBA hay FEBUX - biệt danh của thần Aponlon (tỏa sáng); ở LM được dùng song song với tên gọi Aponlon.
FLAVIUS - dòng họ các hoàng đế LM (69-96): Vexpanzian, Tytux và Đomixian; cố gắng được thiết lập và củng cố biên giới đế quốc LM.
FORTUNA (LM) - nữ thần số phận và điều may mắn; biểu tượng: bông lúa, vòng tròn, phần đuôi tàu; thần miếu chính: Prenexte và Auxium.
FORUM - tức Forum Romanum - quảng trường chợ chính và cổ nhất ở Roma, nằm trong thung lũng giữa các đồi Palatyn, Kapitol và Quirinal, trung tâm chính trị và tôn giáo của thế giới LM hồi ấy; tại đây có nhiều thần miếu (Xatunơ, Vexta), nhiều khải hoàn môn, các tòa nhà công sở; ngày nay là tổ hợp các phế tích bảo tàng.
FRYGIA - đất nước cổ đại nằm phía tây Tiểu Á, xứ sở của Frygi, tộc người thuộc ngữ hệ Ấn-Âu; thế kỷ VIII-VI t.c.n. Là quốc gia độc lập, sau đó bị xâm chiếm bởi đế quốc Ba Tư, Maxeđonia, Xyri, Pergamin và từ năm 133 t.c.n thuộc về LM.
GALILEA - đất nước thời cổ đại, nơi cư trú của người Gan, tộc người thuộc hệ Xentơ; xứ Galia nội Anpơ, miền đất bắc Italia, bị LM xâm chiếm thế kỷ III t.c.n; xứ Galia ngoại Anpơ, vùng gần Pháp-Bỉ ngày này, bị Xezar chiếm năm 58-51 t.c.n; toàn bộ Galia nhanh chóng bị LM hóa.
GERMANIA - đất nước cổ đại nằm phía đông sông Ranh và bắc sông Đunai, xứ sở người German; vào thế kỷ I chia thành hai tỉnh của LM: German thượng và German hạ.
GERMANIK (15 t.c.n-19) - thủ lĩnh LM, cháu Tyberius, chồng Agrypina già, cha Agrypina trẻ và Kaligula; chiến đấu chống người German, hòa hoãn với người Patơ.
GONGOTA - còn gọi là Cannvaria - ngọn đồi gần Jeruxalem, theo kinh thánh là nơi hình thành chúa Jexu.
GORGIAX (475-375 t.c.n) - triết gia HL, lý luận gia về thi ca, có xu hướng ngả theo chủ nghĩa hoài nghi.
HAĐEX (HL) - vương quốc âm ty của những người chết bao bọc bởi sông Xtykx hoặc sông Akheron, có các sông Koktytox, lễ tế và Flageton cắt ngang; xứ Hađex có địa ngục Tarta là ngục khổ hình và cánh đồng Elizei là xứ sở của những người chính trực đã chết.
HARMOĐIOX (nửa thế kỷ VI t.c.n) - quý tộc HL, cùng với Arixtigeton chống lại bạo chúa Piđyxtratyđ và bị hy sinh, được thờ cúng như mẫu mực của người trừ khử bạo chúa; hiện có tượng tại Aten.
HERATE (HL) - nữ thần của các tà thuật và bùa phép, nữ chúa của lũ ma quỷ, nữ thần của các ngã ba, ngã tư đường; được hình dung là ba vị thần giáp lưng nhau, tay cầm đuốc.
HEKUBA (HL) - vợ vua Priam, mẹ của 19 đứa con, trong đó có Hektor, Paryx, bị mất cả 19 con trong cuộc bảo vệ thành Tơroa.
HELENA (HL) - người đàn bà đẹp nhất HL, con gái của Zeux và Leđa, vợ Menelaox; việc nàng bị chàng Paryx bắt đi là nguyên nhân làm nổ ra cuộc chiến tranh Tơroa.
HELIOX (HL) - thần mặt trời, con trai của Hyperion và Tea, anh của Xelona và Eox, thường ngự trên cỗ xe vàng thắng bốn con ngựa bạch; trung tâm thờ cúng: Rođox; LM: Xol.
HENLAĐA - vùng đất cổ phía nam Texalia, từ thế kỷ VII t.c.n trở thành tên gọi chung cho HL.
HERAKLEA - cố đô của AC vào khoảng thể kỷ XXII t.c.n, hiện còn phế tích thờ thần Harxafex.
HERAKLIT (khoảng 540-480 t.c.n) - triết gia HL, người thành Efedơ, được coi là cha đẻ của biện chứng pháp, theo chủ nghĩa duy vật của trường phái triết học luôn xem lửa trong chuyển động liên tục là nguyên tố cấu tạo nên giới tự nhiên.
HERAKLEX hay HERKULEX (HL) - anh hùng, con trai của Zeux và Ankinea, thực hiện 12 kỳ tích, được mang tên núi Olimpơ và trở thành bất tử.
HEXPERIA (HL) - con gái Hexperox, cùng thần Atlax sinh ra các tiên Herperyđa.
HORAXIUS (65-8 t.c.n) - thi sĩ trữ tình LM, nổi tiếng vì các bi kịch, tác phẩm Thư gửi Pizon (thường được gọi là nghệ thuật thi ca) có ảnh hưởng lớn đến lý luận văn học Âu Châu trước thế kỷ XIX.
IBER - chủng tộc không rõ nguồn gốc, thời cổ đại cư trú ở phần phía đông bán đảo Iberia; người ta cho rằng đó là tổ tiên của người Baxk.
ILION - thành phố cổ ở phía tây bắc bờ biển Tiểu Á, thường được xem là thành Tơroa huyền thoại.
IL (HL) - người yêu của Zeux, bị Hera ghen, biến thành con cừu vàng giao cho Argux canh giữ.
IZYĐA (AC) - vợ Ozyryx, mẹ của Horux, nữ thần của các lực lượng sáng tạo, nữ chúa của thế giới người chết.
JEHOVA, tức JANVE - đầu tiên chỉ là một vị thần của các bộ tộc Ixraen sau đó trở thành vị thần duy nhất của đạo Do Thái, Thượng Đế.
JUNONA (LM) - vợ Jupiter, nữ thần đỡ đầu những người mẹ và vợ, vị thần hộ mệnh cho thành đô và đế quốc LM; HL: Hera.
JUDEA - tên gọi một tỉnh LM (từ năm 6), trước kia vốn là một tiểu vương quốc Do Thái phía nam Palextin.
KALABRIA - vùng đất phía nam Italia, trên bán đảo cùng tên, trồng nho, ôliu, nuôi dê và cừu; thủ phủ: Katađanô.
KALEĐONIA - tên LM của vùng phía bắc Brytania, nơi cư trú của người Piktơ, ngày nay vẫn là tên dùng trong thi ca để chỉ xứ Scotlen.
KALIGULA (12-41) - hoàng đế LM (từ 37), con của Germanik và Agrypina già, hoang phí vô độ.
KAMPANIA - vùng đất phía nam Italia, trên bờ biển Tyrene; thủ phủ là Neapol, có ngọn núi lửa Vezonius.
KAPITON - một trong 7 ngọn đồi của Roma, thời cổ vốn là cứ điểm phòng thủ, sau trở thành trung tâm tôn giáo của thành đô với thần miếu chính: Jupiter Kapiton (thờ cả thần Junona và Minerva).
KAPUA - thành phố của miền Kampania, trên bờ sông Volturnơ.
KARTAGINA - một thành bang thời cổ đại ở Bắc Phi, thành lập từ năm 817 t.c.n; thế kỷ VII-VIII t.c.n là nước rất hùng mạnh, sau khi bị LM tàn phá và chinh phục trong cuộc chiến tranh Panix (264-146 t.c.n); thủ phủ của các tỉnh trấn LM ở Châu Phi.
KAXTOR và PONLUKX - hai anh em sinh đôi, con của Zeux và Leđa; các vị thần bảo trợ cho các thủy thủ và những người đang chiến đấu; biểu tượng điển hình của tình anh em ruột thịt.
KHALĐEYA - tên gọi Babilon trong thời kỳ Babilon mới (nửa trước thiên niên kỷ I t.c.n).
KHARON (HL) - người lái đò chở hồn qua sông Xtykx hoặc Akhêrôn ở cõi âm đến xứ sở Hađex, mỗi linh hồn phải trả một đồng obon (mà người ta đặt vào miệng người chết khi liệm).
KHARYTA (HL) - ba tiên nữ duyên sắc, con gái của Zeux; đỡ đầu các công việc lao động trí óc và nghệ thuật; LM: Graxie.
KERKE, tức Xiếcxê (HL) - nữ phù thủy trên đảo Ajaj đã giam chàng Ođyxe một năm ròng, biến các bạn chàng thành lợn bằng chiếc đũa thần.
KLAUĐIUS (10 - 54 t.c.n) - hoàng đế LM (từ 41), cháu Tyberius; có công cải tổ bộ máy hành chính, xây cảng ở Oxtia, mở rộng các quyền công dân, nhưng chịu ảnh hưởng nhiều của đám cận thần (Narxyz, Paulax) và cả hai vợ (Mexalina và Agrypina trẻ).
KLEOPATRA (69-3 t.c.n) - nữ hoàng cuối cùng của AC (từ năm 51 t.c.n), nổi tiếng về sắc đẹp và học vấn; năm 47 nhờ Xezar lấy lại được quyền bính; sau khi Xezar chết lấy Antonius; tự tử sau trận thảm bại tại Akxium.
KLIO (HL) - thi thần, đỡ đầu khoa lịch sử; biểu tượng cuộn giấy chỉ thảo.
KONKHIĐA - tên gọi vùng đất phía đông nam bờ Hắc Hải, thời cổ đại là thuộc địa của người HL; theo thần thoại HL, Konkhiđa là đích chuyến đi của con thuyền Argo.
KOLOSEUM - nhà hát vòng lớn nhất thế giới, được các hoàng đế Flavius dựng tại Roma vào nửa cuối thế kỷ I, sử dụng đến cuối thế kỷ VI.
KORYNT - thành phố ở HL, trên eo biển cùng tên, có thần miếu Aponlon.
KOX - đảo núi đá của HL, gần bờ biển Tiểu Á, nổi tiếng về nghề trồng nho và ôliu, các nguồn suối nước nóng, nhiều di tích thời cổ đại.
KXENOFANEX tức Kxenolont (430 - 355 t.c.n) - sử gia HL, học trò của Xokratex.
LEĐA (HL) - vợ vua Tynđara; thần Zeux biến thành thiên nga xuống ăn ở với nàng, sinh ra một hoặc hai trứng, nở ra Helena, Koxtox và Ponlukx.
LIGI hay LUGI - liên bộ tộc Xentơ-German (cũng có một số nhà sử học xem họ vào các bộ lạc Xlavơ), khoảng thế kẻ I-II cư trú tại vùng núi Xuđét và sông Vixoa, tức là thuộc lãnh thổ Ba Lan ngày nay.
LIZYP (thế kỷ IV t.c.n) - một trong những nhà điêu khắc vĩ đại nhất, người xứ Xukion, tác giả các tượng bán thân và toàn thân của Alekxanđer Đại Đế và các tượng Heraklex, Famexe, Hermex.
LUKAN (39-65) - thi sĩ LM, tác giả bản anh hùng ca Pharxalia về cuộc nội chiến giữa Xezar và Pompeius, trong đó tác giả đoạn tuyệt với các nguyên tắc của anh hùng ca cổ đại.
LUKREXIUS (95-55 t.c.n) - thi sĩ và triết gia LM, đại diện và là người truyền bá cho học thuyết của Epikar, mà những nguyên tắc chủ yếu được ông trình bày trong thiên trường ca triết học De reum natura.
MARKOMAN - bộ tộc Đông German, thời kỳ đầu công nguyên đã tạo ra một liên minh chính trị hùng mạnh ở vùng lãnh thổ Taec và Moravia ngày nay, do Marbođ lãnh đạo; bị LM đánh bại trong cuộc chiến tranh 166-178.
MARX (LM) - thần chiến tranh, tuy nhiên cũng có quan hệ với nghề nông, cha của Romulux và Remux; là vị thần lớn thứ ba của LM bên cạnh Jupiter và Remux; biểu tượng: ngọn giáo; HL: Arex.
MEMNON (HL) - thủ lĩnh người Etiopia, con trai của Eox, bị Asinlex giết chết trước thành Tơroa.
MIĐAX (nửa sau thế kỷ VIII t.c.n) - vua Frygia, nhân vật của nhiều huyền thoại khác nhau, trong đó nổi tiếng nhất là việc ông được thần Đionizox ban cho phép hễ chạm tay vào vật gì là vật ấy biến thành vàng, vì vậy suýt nữa ông bị chết đói, ông từ bỏ mọi tài sản.
MITRA - vị thần của người Iran, chuyên phù hộ cho các vị quân vương và chiến sĩ, thần mặt trời; sau này được thờ cả ở LM.
NARXYZ (HL) - chàng trai có sắc đẹp tuyệt vời, do từ chối tình cảm của Echo, bị trừng phạt phải lòng hình ảnh của chính mình và chết trong nỗi khát khao, biến thành hoa thủy tiên.
NAUZYKA - theo Ođyxe, nàng là con gái của vua Alkionox; nhờ nàng, nữ thần Atena đưa Ođyxous tới nhà cha nàng.
NEAPON, tức Napoli - thành phố Italia, trên bờ vịnh cùng tên, dưới chân núi lửa Vezuvius, thủ phủ vùng Kampania.
NERÔ (37-68) - hoàng đế LM (từ 54), con trai Agrypina trẻ, thủ phạm giết chết Brytanik, mẹ đẻ và vợ (Oktavis); trút tội đốt Roma cho các tín đồ Thiên Chúa và khủng bố họ một cách tàn bạo.
NIOBE (HL) - con gái thần Tantal, vợ Amfion; do khoe khoang về số con cái của mình, xúc phạm đến nữ thần Latona, bị Aponlon và Artemiđa bắn chết hết đàn con; quá đau khổ nên hóa đá; là biểu tượng của lòng thương tiếc con cái.
NORICUM - vùng đất phía đông Ampơ thời cổ do người Ilir cư trú, sau đó đến các bộ tộc Xentơ, trong đó có người Noric (IV-III t.c.n), khoảng năm 15 t.c.n bị LM chinh phục.
NUMĐIA - đất nước thời cổ ở Bắc Phi (vùng đông bắc Angiêri ngày nay); từ giữa thế kỷ III t.c.n hai vương quốc Numiđia Đông và Tây sát nhập; từ năm 46 t.c.n thuộc về LM.
OREXTEX (HL) - con trai Agamemnon và Klitaimextra, anh Elektra, theo ý chí của thần Aponlon trả thù cha, giết mẹ và Egixt.
ORFEUS (HL) - ca công, nhạc công và thi sĩ người Trak, nhờ nghệ thuật của mình suýt giải thoát được cho vợ là nàng Euryđyka khỏi âm ty của Hađex.
ORONT, hay Asi - sông ở Tây Nam Á chảy ra biển Địa Trung Hải.
OXTIA - vùng gần Roma, sau này thành thương cảng và quân cảng, phát triển mạnh trong khoảng thế kỷ I t.c.n - II t.c.n, hiện còn nhiều phế tích nổi tiếng.
OZYRYX (AC) - vị thống lĩnh và người phân xử người chết, vị thần tái sinh của tự nhiên là anh ruột và là chồng của Izyđa, cha Horox, bị Xet giết chết, sau nhờ Izyđa lại hồi sinh.
PALATYN - đồi cổ ở LM, được xem là chiếc nôi của thành phố Roma; trong thời kỳ cộng hòa là khu phố của các công dân giàu có; từ thế kỷ I là cung điện của các hoàng đế LM.
PANONIA - một tỉnh của LM, hình thành trên vùng đất nằm giữa sông Đunai và sông Xava từ năm 35 t.c.n, sau khi LM chinh phục người Panon.
PARKA (LM) - đầu tiên chỉ có một nữ thần Parka chuyên lo việc sinh nở, sau đó do tiếp thu thần thoại HL nên biến thành 3 vị thần số mệnh.
PARMENIĐEX (540-470 t.c.n) - triết gia HL, người sáng lập trường phái Eleit, phản đối mọi sự chuyển động và biến đổi của thế giới.
PARNAX - dẫy núi đá vôi ở trung HL, cao tới 2457 m; theo thần thoại HL, là một trong các thi đàn của các vị thi thần và Aponlon.
PARDOX - đảo núi của HL, trên biển Egic, nổi tiếng về nghề trồng nho, ôliu và nhiều đá cẩm thạch đẹp.
PARTIA - thời cổ đại vốn là một tỉnh của Ba Tư, nằm ở đông bắc Iran, do người Patơ cư trú, từ giữa thế kỷ III t.c.n, là quốc gia phát triển, đến thế kỷ II-I t.c.n suy vong dần; từ năm 226 thuộc Ba Tư.
PARYX - nhân vật của Iliat, con trai của Priam và Hekuba, chồng thứ hai của Helena.
PAVEN (8-97) - theo Tân ước, là công dân LM (tên thực là Saven), giác ngộ đạo Thiên Chúa, sau đó đi truyền đạo ở Tiểu Á và Nam Âu, được gọi là sứ đồ của các dân tộc; nhà lý luận đầu tiên về học thuyết và nền tảng chính trị - xã hội của đạo Thiên Chúa; được xem là thánh.
PENTELIKON - dẫy núi ở HL, gần Aten, cao đến 1109 m, nơi khai thác đá cẩm thạch từ thời cổ đại.
PERXEFONA, tức Kora (HL) - nữ thần của hạt giống nẩy mầm, con của Zeux và Đemeter, bị Hađex bắt cóc, trở thành nữ chúa của âm ty, hàng năm có một thời kỳ lên mặt đất sống với mẹ; LM: Prozerpina.
PERXEUS (HL) - con trai Zeux và Đanae, chống Amđromeđa; người giết chết ác quỷ Međula.
PETRONIUS (?-66) - thi sĩ trào phúng LM, cố vấn các vấn đề nghệ thuật của Nerô; tác giả cuốn tiểu thuyết phong tục Satyricon (chỉ còn lại một phần), được coi là một trong những tác giả tiểu thuyết đầu tiên của nhân loại.
PIOTR (?-64) - theo Tân ước là vị Sứ Đồ được Chúa Jexu phong đạo chức cao nhất trong đạo Thiên Chúa, do vậy thường được gọi là vị giáo hoàng đầu tiên và thờ như một vị thánh.
PIRRON xứ Eliđa (365-275 t.c.n) - triết gia HL, người đề xướng chủ nghĩa hoài nghi, nhấn mạnh đến các vấn đề mỹ học; ông cho rằng điều kiện để đạt đến sự thanh tĩnh và thản nhiên trước các tai ương là không bị lệ thuộc vào các quan niệm của xã hội.
PLATON (427 - 347 t.c.n) - triết gia HL, tác giả hệ thống duy tâm khách quan đầu tiên.
PLAUTUX (250-184 t.c.n) - tác gia hài kịch LM, tác giả gần 130 vở kịch, chủ yếu phóng tác lại kịch của người HL.
PLINIUS, tức Plinius Già (23-79) - văn sĩ và quan chức cao cấp LM; tác phẩm bách khoa toàn thư lịch sử tự nhiên của ông là một trong những tài liệu quan trọng để nghiên cứu nghệ thuật cổ đại.
POMPEIUS (106-48 t.c.n) - thủ lĩnh LM, người tiêu diệt bọn hải tặc ở Địa Trung Hải, chiếm Pontơ và Xyria; bị thua trong chiến tranh với Xezar tại Farxalox.
POMPONIUS MELA (thế kỷ I) - nhà địa lý LM, tác giả quyển sách giáo khoa đầu tiên về địa lý bằng tiếng Latinh De orbiss situ libritres, được soạn dựa theo những kiến thức của người HL.
PONKLUX - xem KAXTOR.
POPPEA XABINA (?-65) - tuyệt thế giai nhân, vợ thứ hai của Nerô, kẻ đã gây ra cái chết cho mẹ và vợ trước của Nerô; theo truyền thuyết bị Nerô giết trong một cơn giận dữ.
PRAKXYTELEX (nửa đầu thế kỷ UV t.c.n) - một trong những nhà điêu khắc xuất sắc nhất của HL thời cổ đại.
PROTAGORAX (480-410 t.c.n) - triết gia HL, bạn của Peryklox.
PROTEUS (HL) - thần biển, theo Ođyxe là người chăn đàn hải cẩu của thần Poxayđon.
PXYSE (HL) - công chúa, bị Afrođyta săn đuổi vì quá xinh đẹp; tình yêu giữa Pxyse và Erox là đề tài cho tiểu thuyết Erox và Pxyse của Apuleius.
ROĐOX - đảo núi của HL, lớn nhất trong quần đảo Xporađa Nam; thủ phủ là thành phố cùng tên, hiện còn di tích các công trình thời cổ đại, một trong 7 kỳ quan thế giới.
XABIN - dẫy núi đá vôi ở đông bắc Roma, có ngọn Pixeto cao 1287 m.
XATYR (HL) - thần của sự sinh sản và được mùa, nửa người nửa dê (vì vậy thường được gọi là Dương thần), thường đi cùng thần Đionizox; LM: Fauna.
XENEKA, tức Xeneka Trẻ (3-65 t.c.n) - thi sĩ, triết gia, nhà hùng biện LM, thầy dạy Nerô, tác phẩm chính có các đối thoại triết học theo tinh thần chủ nghĩa khắc kỷ, thơ trào phúng và chính vở bi kịch.
XENONOP - bộ tộc thuộc hệ Xentơ, thời cổ đại sinh sống ở Italia (thế kỷ IV t.c.n), sau đó cứ trú ở xứ Galia.
XERAPIZ (AC) - vị thần cứu rỗi và hồi sinh, chúa tể của âm ty, thần hộ mệnh cho người đi biển.
XERBER (HL) - chó ngao ba đầu canh giữ cổng âm ty Hađex; bắt được nó và mang lên dương thế là một trong mười hai kỳ tích của Heraklex.
XEVOLA JULIUS (102 hoặc 100-44 t.c.n) - thủ lĩnh LM, nhà văn; đánh chiếm xứ Galia, xưng độc tài sau khi thắng trong cuộc chiến với Pompeius (49-45 t.c.n).
XKOPAX và GOMORA - hai thành phố huyền thoại ở Palextyn trên bờ Từ hải; theo kinh thánh bị Chúa trời trừng phạt bằng "lửa và lưu huỳnh" do vô luân.
XOFOKLEX (196-406 t.c.n) - tác giả bi kịch HL, người hạn chế bớt vai trò của thần linh, nhấn mạnh đến các nhân vật trần thế, viết khoảng một trăm hai mươi bi kịch (chỉ còn lại có bảy).
XOKRATEX (439-399 t.c.n) - triết gia Hl, thầy dạy Platon; chủ nghĩa tuyệt đối, xem điều tốt, phẩm hạnh, hạnh phúc và chân lý một.
XPARTA - thành phố ở HL, trong thung lũng sông Evrotax, thời cổ là thủ đô của quốc gia Lakonia hùng mạnh, đối chọi với thành Aten.
XYXILIA - đảo lớn ở Địa Trung Hải, có ngọn núi lửa Etna, thời cổ đại (từ 241 t.c.n) là thuộc địa của LM.
TANAGRA - thành phố cố ở vùng trung HL nổi tiếng về đồ gốm nhiều màu.
TYBER - sông chảy qua Roma, dài 405 km.
TYBERIUS (42 t.c.n-37) - hoàng đế LM (từ 14), cố gắng giữ hòa bình và trật tự trong nước; đa nghi, chịu ảnh hưởng của cận thần.
TYTUS (39-81) - hoàng đế LM (từ 79), con trai Vexpazian; kết thúc cuộc chiến tranh chống Do Thái, triệt phá Jeruxalem (70).
VERGILIUS (70-19 t.c.n) - thi sĩ LM; tác phẩm chính: Trường ca Eneiđ bản anh hùng ca dân tộc, sáng tác theo kiểu anh hùng ca Homer.
VEXPAZIAN (9-79) - hoàng đế LM (từ 69), người thiết lập vương triều Flavius; thủ lĩnh trong chiến tranh Do Thái (66-70), hỗ trợ khoa học và nghệ thuật, phát triển xây dựng.
VEXTA (LM) - nữ thần coi giữ ngọn lửa quốc gia; nơi thờ cúng: Thần miếu hình tròn ở Roma, tại Forum Romanum; HL: Hextia.
ZENON (336-264 t.c.n) - triết gia HL, người sáng lập trường phái khắc kỷ (khoảng 301-300 t.c.n).
ZETHOX (HL) - Con trai của Zeux và Antiopa, anh Amfion cùng em trả thù mẹ.

Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 34
Vừa đi dạo trong khu vườn, bằng những lời thốt tự đáy lòng, Vinixius vừa kể cho nàng nghe những gì chàng vừa thổ lộ với Đức Sứ đồ, sự bất an của tâm hồn, những đổi thay đã đến với chàng và nỗi mong nhớ vô bờ đã che lấp cả cuộc đời chàng kể từ khi chàng rời ngôi nhà bà Miriam. Chàng thú nhận với Ligia rằng chàng đã cố quên nàng nhưng không sao quên nổi. Suốt ngày dài lẫn đêm thâu chàng chỉ nghĩ tới nàng. Cây thánh giá đã được đặt lên bàn thờ gia thần và bất giác được chàng sùng kính như một vật thiêng liêng. Càng ngày chàng càng nhớ thương nàng, bởi tình yêu mạnh hơn chàng ngay từ lúc ở nhà ông bà Aulux nó đã xâm chiếm tâm hồn chàng… Các nữ thần Parki kéo sợi chỉ đời cho những ai kia, nhưng riêng cho chàng chỉ là tình yêu, nhớ nhung và sầu não. Hành động của chàng dẫu xấu xa, nhưng dù sao cũng nẩy sinh từ tình yêu. Chàng yêu nàng từ lúc ở nhà ông Aulux và tại cung điện Palatyn, tại Oxtrianum lúc gặp nàng đang say lắng nghe ông Piotr và ngay cả lúc cùng Kroton đến bắt cóc nàng, lúc nàng túc trực bên giường chàng và cả khi nàng rời bỏ chàng ra đi. Lão Khilon đã phát hiện ra nơi nàng ở, đến xui chàng bắt cóc nàng, song chàng đã trừng phạt lão và đến gặp Đức Sứ đồ để cầu xin chân lý, cầu xin nàng… Đáng ban phước thay giây phút mà chàng nẩy ra ý nghĩ ấy, bởi vì nhờ thế giờ đây chàng mới được ở bên nàng và nàng sẽ không bao giờ chạy trốn chàng như vừa trốn khỏi nhà bà Miriam nữa.
- Em đâu có trốn tránh chàng - Ligia nói.
- Vậy sao nàng lại làm như thế?
Nàng ngước đôi mắt xanh màu hoa diên vĩ nhìn chàng rồi hổ thẹn cúi đầu:
- Chàng cũng biết đấy…
Vinixius nín lặng giây lâu vì sung sướng, rồi chàng lại kể tiếp. Chàng dần dần nhận rõ rằng nàng hoàn toàn toàn khác hẳn đám phụ nữ La Mã, có chăng chỉ giống mỗi mình bà Pomponia mà thôi. Chàng cũng không biết nói ra sao để nàng hiểu, bởi chính nàng cũng không thật rõ những gì chàng cảm nhận. Ở nàng tỏa ra cho cuộc đời, một vẻ đẹp hoàn toàn khác hẳn vẻ đẹp chưa từng có trên thế giới vẻ đẹp không chỉ giống như vẻ ngoài của những pho tượng, mà bằng cả tâm hồn. Thay vì thế, chàng nói cho nàng nghe cái điều khiến lòng nàng tràn ngập sướng vui, rằng chàng yêu nàng ngay cả vì việc nàng đã trốn tránh chàng, rằng nàng sẽ là vị thần thiêng liêng bên lửa nhà chàng.
Rồi cầm lấy bàn tay nàng, chàng chẳng biết nói gì hơn, chỉ nhìn nàng với lòng ngưỡng mộ như ngắm nhìn niềm hạnh phúc của cuộc đời vừa tìm lại được. Chàng gọi mãi tên nàng, dường như muốn tin chắc rằng quả thực chàng đã tìm được nàng và đang ở bên nàng:
- Ôi, Ligia! Ôi Ligia…
Sau đó, chàng hỏi xem những gì đã xảy đến trong tâm hồn nàng, nàng thổ lộ với chàng rằng ngay từ hồi ở nhà ông bà Aulux nàng cũng đã thầm yêu trộm nhớ chàng và giá như chàng đưa nàng từ cung điện Palatyn trở về nhà ông bà ấy, thì chắc nàng đã ngỏ lòng mình cùng chàng và sẽ cố gắng cầu xin ông bà Aulux đừng giận chàng.
- Xin thề với nàng - Vinixius nói - thậm chí tôi không hề có ý định cướp nàng từ tay ông bà Aulux nữa kia. Sau này, chắc sẽ có dịp cậu Petronius nói lại cho nàng hay rằng hồi đó tôi đã thổ lộ cùng cậu rằng tôi yêu nàng và muốn được cưới nàng. Tôi đã nói với cậu ấy: ”Hãy để cho nàng được lấy mỡ sói bôi cửa nhà cháu, để cho nàng ngồi bên bếp lửa của cháu!”. Nhưng cậu ấy đã cười mỉa mai tôi và đã mớm cho hoàng đế cái ý bắt ông bà Aulux phải trả nàng như một con tin để ban cho tôi. Trong nỗi tiếc nuối, biết bao lần tôi đã nguyền rủa cậu ấy, song cũng rất có thể, một định mệnh tốt lành nào đó đã an bài nên thế, nếu không tôi đã chẳng được biết các tín đồ Thiên chúa giáo và đâu thể hiểu được nàng.
- Chàng Markus, xin hãy tin lời em! - Ligia nói - Chính Đức Chúa Crixtux đã cố ý đưa chàng đến gặp Người đấy.
Vinixius ngẩng đầu ngạc nhiên:
- Quả vậy! Chàng sôi nổi đáp - Tất cả đã được sắp đặt một cách thật lạ lùng, khiến cho tôi trong khi đi tìm nàng lại được gặp những người Thiên chúa giáo. Tại Oxtrianum tôi đã ngạc nhiên lắng nghe lời Đức Sứ đồ, bởi lẽ tôi chưa bao giờ được nghe những chuyện đó. Đó có lẽ cũng là do chính nàng đã cầu nguyện cho tôi.
- Vâng - Ligia đáp.
Họ đi ngang qua ngôi nhà hóng mát mùa hè phủ đầy dây trường xuân, tới gần chỗ mà bác Urxux đã từng nhảy xổ vào Vinixius sau khi đã bóp chết tươi Kroton.
- Chính nơi này - chàng trai nói - giá như không có nàng chắc tôi đã chết rồi.
Chàng đừng nhắc lại! - Ligia đáp - Và cũng đừng oán bác Urxux vì chuyện ấy làm chi.
- Sao tôi lại có thể oán bác vì bác đã bảo vệ nàng? Nếu bác ấy là nô lệ, tôi sẽ trả tự do cho bác ấy.
- Nàng nhớ không - Vinixius nói - tôi đã từng muốn đưa nàng trở về với ông bà Aulux. Nhưng chính nàng đã từ chối, nàng bảo rằng hoàng đế có thể biết chuyện ấy và sẽ trả thù ông bà. Nàng xem! Giờ đây nàng muốn gặp mặt ông bà ấy bao nhiêu lần tùy ý.
- Sao thế, chàng Markux?
- Tôi nói ”giờ đây” nhưng là nghĩ rằng nàng có thể yên ổn gặp ông bà khi nàng đã là của tôi. Phải!... Bởi vì nếu hoàng đế có biết chuyện và hỏi rằng tôi đã làm gì với người phụ nữ con tin mà ngài đã giao cho, thì tôi sẽ trả lời rằng: ”Tôi đã cưới nàng làm vợ. Nàng. Nàng đến thăm ông bà Aulux theo ý muốn của tôi”. Hoàng đế sẽ chẳng chơi bời ở Anxium lâu đâu, bởi lẽ ngài còn muốn đi Akhai, mà nếu ngài có ở lâu thì không nhất thiết ngày nào tôi cũng phải giáp mặt ngài. Bao giờ ông Paven xứ Tarxu dạy cho tôi thấu hiểu chân lý, tôi sẽ xin chịu lễ rửa tội ngay lập tức và sẽ trở về đây nối lại tình thân với ông bà Aulux. Đến lúc ấy họ cũng đã trở về thành đô rồi. Sẽ không còn trở ngại nào nữa cả. Khi ấy tôi sẽ đưa nàng về bên bếp lửa nhà tôi. Ôi, Carissma! Carissma!(1)
Vừa kêu chàng vừa vươn hai tay lên trời, dường như muốn xin trời cao chứng giám cho tình yêu của chàng. Ligia ngước đôi mắt long lanh nhìn chàng và bảo:
- Và khi ấy em sẽ nói: “"Nơi nào có chàng, Kaio. Nơi đó sẽ có em, Kaia!”
Không, Ligia hỡi! - Vinixius thốt lên - Xin thề với nàng rằng sẽ không một người phụ nữ nào được tôn thờ tại nhà chồng như nàng tại nhà tôi đâu!
Họ bước hồi lâu trong im lặng, ngực căng tràn niềm vui hân hoan, chan chứa tình yêu, hệt như hai vị thần, xinh đẹp như hai vị thần, ngỡ như mùa xuân đã sản xinh ra họ cùng lúc với những loài hoa.
Cuối cùng, họ dừng bước dưới tán cây trắc bá mọc kề bên lối vào nhà. Ligia tựa người vào thân cây. Vinixius lại gần, cầu khẩn nàng bằng giọng run run:
- Xin nàng hãy bảo bác Urxux đến nhà ông bà Aulux mang đồ đạc và những thứ đồ chơi hồi trẻ con của nàng về nhà tôi!
- Phong tục bảo phải làm khác kia mà.
- Tôi biết lắm. Thông thường phù dâu(2) sẽ mang những thứ ấy đi theo cô dâu, nhưng vì tôi, xin nàng hãy làm việc đó. Tôi sẽ mang những thứ đó theo tới biệt thự của tôi ở Anxium, chúng sẽ gợi cho tôi luôn nhớ đến nàng.
Nói tới đây chàng chắp hai bàn tay lặp đi lặp lại như một đứa trẻ vòi vĩnh:
- Bà Pomponia sẽ quay trở về thành phố trong những ngày này, vậy xin nàng hãy làm việc ấy, hãy làm nhé, carissma của tôi!
- Em tùy ý bà Pomponia đấy - Ligia nói, mặt nàng càng đỏ rực lên khi nghĩ đến “bà phù dâu”.
Rồi họ im lặng, bởi tình yêu khiến cho hơi thở nghẹn lại trong lồng ngực đôi trẻ. Ligia đứng tựa lưng vào gốc cây trắc bá, khuôn mặt trăng trắng trong bóng râm mang dáng một đóa hoa, đôi mắt nàng nhìn xuống và khuôn ngực nàng phập phồng gấp gáp, còn mặt Vinixius thì nhợt nhạt và biến sắc. Giữa cái yên ả phương nam, họ nghe rõ tiếp đập thình thịch của chính trái tim mình. Và trong niềm say mê nhau, cây trắc bá kia, những khóm sim thơm và dây trường xuân của ngôi nhà mùa hè nọ đã trở thành khu vườn ái ân của họ.
Nhưng bà Miriam đã hiện ra trong khung cửa mời họ ăn trưa. Họ ngồi giữa hai vị Sứ Đồ. Cả hai hài đồng nhìn họ như nhìn một thế hệ trẻ mà sau khi lớp già đã qua đời, sẽ chịu trách nhiệm giữ gìn và gieo tiếp những hạt giống của giáo lý mới. Ông Piotr bẻ và ban phước cho chiếc bánh mì. Trên tất cả các khuôn mặt đều hiện ra vẻ thanh tĩnh và niềm hạnh phúc lớn lao như đang tràn ngập cả căn nhà.
Con thấy đấy - mãi sau ông Paven xứ Tarxu quay sang Vinixius - lẽ nào chúng ta lại là kẻ thù của cuộc sống và niềm vui?
Chàng đáp:
- Con đã hiểu sự thật rồi, con chưa bao giờ thấy hạnh phúc như khi được sống giữa các người.

Chú thích:
(1) Nàng thân yêu! Nàng thân yêu! (La Tinh)
(2) Nguyên văn: Peonuba - người đàn bà bảo trợ đi theo cô dâu để dạy bảo cho cô dâu bổn phận làm vợ.
Đăng nhập để trả lời
0

CHƯƠNG 35
Chiều ấy, khi đi ngang qua Forum trở về nhà, Vinixius nhìn thấy bên lối vào Vicux Tarcux chiếc kiệu mạ vàng của ông Petronius do tám người Bitini khiêng, chàng bèn vẫy tay bảo họ dừng lại và tiến sát tấm rèm che kiệu:
- Chúc cậu giấc ngủ say sưa và êm dịu! - chàng gọi và bật cười khi nhìn thấy ông Petronius đang ngủ.
- À! ra anh! - ông Petronius mắt, thốt ra - Phải! Cậu vừa chợp mắt được một chút, vì cả đêm cậu ở trên Palatyn. Bây giờ cậu vừa mới đi mua chút ít mang theo đến Anxium để có cái đọc... Có gì mới không anh?
- Cậu vẫn đang lùng sách đấy ư? - Vinixius hỏi.
- Ừ. Vì không muốn làm lộn xộn thư viện, nên cậu mua thêm một ít sách riêng mang đi đường. Hình như mới ra một số sách mới của Muxonius và Xeneka. Cậu cũng đi tìm sách của Perxius và một bản in các bài mục ca của Vergil mà cậu chưa có. Ôi, cậu phát mệt cả người, phát đau cả tay vì các bó sách đây này bởi vì hễ cứ vào hiệu sách là lại muốn xem cái này cái kia một chút. Cậu đã tới hiệu sách Avirunus, hiệu Atraktax trên đồi Agriletum, trước đó đã tới hiệu Xozius ở Vicux Xandalarius. Nói có thần Kaxtor! Cậu buồn ngủ quá đi mất!...
- Cậu đã có mặt trên đồi Palatyn, vậy cháu xin hỏi có gì mới chăng? Hay thế này vậy cậu nhé! Cậu bảo chúng nó mang kiệu và các gói sách về nhà, còn cậu tới nhà cháu. Ta sẽ trò chuyện về Anxium và về một việc khác nữa.
- Hay lắm, - ông Petronius vừa nói vừa bước ra khỏi kiệu. - Nhưng mà anh cần biết là ngày kia chúng ta phải đi Anxium rồi đấy
- Làm sao cháu biết được cơ chứ?
- Anh đang sống ở thế giới nào vậy? Thế ra cậu là người đầu tiên báo cho anh tin ấy hay sao? Phải! Hãy sửa soạn vào sáng ngày kia. Đậu ngâm dầu ô liu chẳng ích gì, khăn lụa quàng quang cái cổ to bự cũng chẳng ích gì: Râu Đỏ bị khản tiếng! Vậy nên không thể nào trì hoãn được nữa. Hoàng đế nguyền rủa thành Roma và bầu không khí ở đấy, nguyền rủa cả thế giới. Ngài sẽ sung sướng lắm nếu sang được nó thành bình địa hay đốt trụi nó đi, ngài chỉ muốn ra biển càng nhanh càng tốt. Ngài nói rằng những mùi hôi thối mà gió mang từ các dẫy phố chật chội kia về sẽ đẩy ngài xuống mồ. Hôm nay, người ta đã dâng biết bao lễ vật lên tất cả các thần miếu để cầu xin giọng hát của ngài được hồi phục lại. Và đáng thương thay cho thành Roma, nhất là cho Nguyên lão viện, nếu như nó không mau mau bình phục.
- Vậy thì chẳng còn lý do gì để đi Akhai nữa cả.
- Thánh thượng của chúng ta đâu có phải chỉ có mỗi một thứ thiên tài ấy? - ông Petronius vừa đáp vừa cười. - Ngài sẽ biểu diễn ở hội thi Olimpic với tư cách một thi sĩ bằng chính tác phẩm của ngài về đám cháy thành Tơroa, với tư cách một nguời đua xe, một nhạc công, một lực sĩ, thậm chí là như một vũ công - và trong mọi trường hợp, ngài đều đoạt được tất cả các vương miện dành cho kẻ thắng cuộc. Anh có biết vì sao con khỉ ấy bị khản tiếng không? Đó là vì hôm qua ngài muốn sánh tài nhảy múa với Paryx, ngài đã múa biểu diễn cho chúng tôi xem câu chuyện ly kỳ của nữ thần Leđa, ngài mới toát mồ hôi ra và bị cảm lạnh đấy. Thân hình ngài ướt và dính nhem nhép như một con cá sình vừa lội từ dưới nước lên. Ngài thay hết mặt nạ này đến mặt nạ khác, uốn lượn như một con thoi, vung vẩy đôi tay như một tên phù thủy say rượu, thật phát buồn nôn khi nhìn cái bụng to tướng trên một cặp chân khẳng khiu. Paryx đã huấn luyện cho ngài suốt hai tuần liền, nhưng anh cứ hình dung gã Ahenobarbux trong vai nữ thần Leđa hay chúa thiên nga mà xem! Thiên nga ra thiên nga! Chẳng cần nói thêm làm gì! Ấy thế mà ngài lại muôn công diễn cái kịch câm này đấy, trước tiên tại Anxium, sau đó sẽ tại Roma.
- Người ta đã phát ớn khi nghe ngài hát rồi, nhưng cứ nghĩ đến một vị Hoàng đế La Mã mà lại trình diễn kịch câm thì, ôi thôi! La Mã có lẽ không sao chịu đựng nổi chuyện ấy!
- Anh cháu thân yêu ơi! La Mã có thể chịu đựng được mọi thứ, và Nguyên lão viện sẽ đồng thanh cảm ơn “Người cha của tổ quốc”!
Lát sau ông tiếp lời:
- Đám tiện dân thậm chí còn tự hào rằng Hoàng đế là một thằng hề nữa kia.
- Cậu hãy nói xem liệu có thể tồi tệ hơn được nữa hay không!
Ông Petronius nhún vai:
- Anh cứ chúi trong nhà, trong những suy nghĩ về nàng Linga và đám tín đồ Thiên chúa, nên có lẽ anh không hay chuyện gì xảy ra vài ngày trước đây. Nêro đã công khai làm lễ cưới chàng Pitagorax! Hoàng đế sắm vai cô dâu! Chuyện quá sức điên rồ phải không? Và anh sẽ bảo sao: Bọn thầy tu flamin được vời đến đã tới, long trọng làm lễ cưới cho Hoàng đế! Chính cậu cũng có mặt trong buổi lễ đó! Cậu có thể chịu đựng được nhiều điều, nhưng xin thú thật, cậu đã nghĩ rằng, nếu quả các thần có thật thì hẳn họ sẽ ra tay trừng phạt... Nhưng Hoàng đế không tin các thần và ngài có lý!
- Một con người vừa là thầy cả thượng đẳng, vừa là thần, lại vừa là kẻ vô thần. - Vinixius thốt lên.
Ông Petronius lại cười.
- Quả có thế! Cậu không nghĩ ra, nhưng đó quả thật là một sự kết hợp mà thế giới chưa từng thấy bao giờ.
Rồi ông đứng dậy nói:
- Và cũng cần hải thêm, rằng chính vị thầy cả thượng phẩm ấy không hề tin các thần, còn vị thần kia vốn giễu cợt thần linh lại sợ hãi họ, bởi y là một kẻ vô thần.
- Bằng chứng là chuyện xảy ra ở thần miếu Vexta.
- Thế gian ơi là gian thế!
- Thế gian nào thì vua nấy! Nhưng chuyện ấy chẳng kéo dài lâu đâu.
Vừa trò chuyện, họ vừa bước vào ngôi nhà của Vinixius: chàng vui vẻ sai dọn bữa tối, rồi quay sang nói với ông Petronius:
- Không đâu, thưa cậu, thế giới phải được tái sinh.
- Chúng ta không thể nào tái sinh thế giới - ông Petronius đáp. - Trong thời Nêro con người chỉ là cánh bướm: nó sống đấy trong vầng dương ân sủng nhưng khi cơn gió lạnh đầu tiên nổi lên thì nó đã lìa đời... dù nó không muốn thế! Thề có con trai của nữ thần Maia! Nhiều lần cậu tự đặt ra cho mình câu hỏi; vì phép nhiệm màu nào mà cái lão già Luxius Xaturniux lại sống đến chín mươi ba tuổi, sống qua cả Tyberius, Kaligula, Klaudius?... Nhưng mà thôi. Anh cho phép cậu phái kiệu anh đi đón Eunixe nhé. Cơn buồn ngủ qua rồi, cậu muốn vui chơi một chút. Hãy ra lệnh cho bọn nhạc công đàn tranh đến phục vụ bữa tối, rồi sau đó chúng ta sẽ trò chuyện về Anxium. Cần phải suy nghĩ về chuyện ấy, nhất là anh.
Vinixius ra lệnh đi đón Eunixe, song chàng nói rằng chàng không hề muốn phải đau đầu cân nhắc về chuyến đi Anxium. Cứ để mặc cho chúng vò đầu bứt tai, những kẻ không biết sống theo cách nào khác ngoài cách sống trong ánh dương ân sủng của Hoàng đế. Thế giới không phải kết thúc trên đồi Panatyn, đặc biệt là đối với những người có một cái gì khác trong trái tim và trong tâm hồn.
Chàng nói điều ấy một cách phóng khoáng, sôi nổi và vui vẻ đến nỗi ông Petronius đâm để ý, ông chăm chú ngắm chàng rồi hỏi:
- Anh làm sao thế? Hôm nay anh trông hệt như thời anh còn đeo bùa khánh trên cổ vậy.
- Cháu sung sướng quá, - Vinixius thốt lên - cháu cố tình mời cậu về đây để nói với cậu chuyện ấy.
- Có chuyện gì xảy ra với anh thế?
- Có một điều mà dẫu có đổi cả đế quốc La Mã cháu cũng không đánh đổi.
Nói đoạn chàng ngồi xuống, tỳ tay vào tay ghế, ngả đầu tựa lên lưng ghế và bắt đầu nói, với khuôn mặt tươi cười, cái nhìn tỏa sáng.
- Cậu còn nhớ cái lần chúng ta cùng đến nhà ông Aulux Plauxius, nơi đó, lần đầu tiên cậu được trông thấy nàng thanh nữ thiên thần, người mà chính cậu đã phải gọi là Nữ thần Rạng Đông và Nàng Xuân hay chăng? Cậu có nhớ nàng Pxyse đó, nàng thiếu nữ không ai sánh nổi, người đẹp nhất trong số tất cả những trinh nữ và các nữ thần trên đời này hay chăng?
Ông Petronius nhìn chàng kinh ngạc, dường như muốn kiểm tra xem đầu óc chàng có bình thường hay không?
- Anh nói bằng thứ tiếng gì vậy? - mãi sau ông mới nói - Tất nhiên là cậu nhớ nàng Ligia.
Vinixius nói:
- Cháu là hôn phu của nàng.
- Cái gì?
Nhưng Vinixius đã đứng bật dậy và gọi viên quản nô:
- Bảo tất cả nô lệ đến đay trước mặt ta, không trừ một ai hết! Nhanh lên!
- Anh là chồng chưa cưới của nàng à? - Ông Petronius hỏi lại.
Nhưng trước khi ông kịp trấn tĩnh cơn thảng thốt thì gian chính sảnh của nhà Vinixius đã đông đặc người. Hổn hển chạy vào những cụ già, đàn ông tráng niên, đàn bà, đám thiếu niên, thiếu nữ. Mỗi lúc gian chính sảnh một thêm chật ních. Trong các hành lang được gọi là fauces vang lên những tiếng gọi nhau bằng đủ mọi thứ ngôn ngữ. Lát sau, tất cả mọi người xếp thành một khối dày đặc dọc theo tường và đứng giữa các hàng cột; chàng Vinixius đứng gần bể hứng nước mưa, quay về phía Đemax - nô lệ giải phóng và nói:
- Những ai đã phục dịch trong nhà ta 20 năm, sáng mai hãy có mặt tại dinh pháp quan, sẽ được trả tự do; những ai chưa đủ thời gian sẽ được nhận mỗi người ba thoi vàng và khẩu phần ăn gấp đôi trong suốt cả tuần. Gửi lệnh ngay tới các trại gia hình ở thôn quê bảo tha phạt, tháo xiềng ở chân mọi người và cho họ ăn uống tử tế. Các người hãy biết là ta có một ngày hạnh phúc, ta muốn cả nhà đều vui.
Họ đứng lặng hồi lâu, dường như không tin vào tai mình nữa, rồi tất thẩy những cánh tay nhất loạt vươn lên trời, tất thảy những cái miệng đều kêu lên:
- Aa! Ông chủ! Aa!...
Vixinius vẫy tay ra hiệu cho họ ra ngoài, nên mặc dù muốn cảm ơn và phục dưới chân chàng, họ vội vã bước ra ngoài. Niềm sung sướng tràn ngập cả ngôi nhà, từ tầng hầm lên đến tận mái.
- Ngày mai - Vinixius nói - cháu sẽ ra lệnh cho họ ra vườn, mỗi người sẽ vẽ trước mặt dấu hiệu gì họ muốn. Những ai vẽ hình con cá sẽ được chính Ligia phóng thích.
Nhưng ông Petronius, người vốn chẳng bao giờ ngạc nhiên quá lâu về bất cứ chuyện gì, đã trấn tĩnh lại và hỏi:
- Cá hả? A ha! Cậu nhớ ra điều mà lão Khilon nói: đó là biểu tượng của người Thiên chúa giáo.
Rồi ông chìa tay cho chàng Vinixius mà bảo:
- Hạnh phúc luôn luôn có mặt tại nơi nào người ta tìm thấy nó. Cầu nữ thần Floria sẽ rải đầy hoa dưới chân anh chị suốt cả tháng năm dài. Cậu chúc anh tất cả những điều gì mà anh muốn tự chúc cho bản thân mình.
- Cháu xin cảm ơn cậu. Cháu lại cứ nghĩ rằng cậu sẽ khuyên cháu làm ngược lại kia chứ, mà cậu thấy dấy, khuyên như thế chỉ là chuyện tốn thì giờ vô ích mà thôi.
- Cậu mà khuyên ngược lại? Đời nào! Trái lại thì có: cậu bảo rằng anh làm thế là hay lắm.
- Ha, kẻ tráo trở! - Vinixius vui vẻ kêu lên - Thế cậu đã quên điều cậu nói với cháu khi chúng ta rời nhà bà Grexyna rồi sao?
Ông Petronius thản nhiên trả lời:
- Không quên! Nhưng mà cậu đã thay đổi ý kiến rồi.
Lát sau ông nói thêm:
- Cháu thân yêu! Ở La Mã mọi thứ đều thay đổi. Các đức ông chồng thay đổi vợ, các bà vợ thay đổi chồng, vậy hà cớ gì cậu lại không thay đổi ý kiến cơ chứ? Chỉ một chút xíu nữa thôi là Nêro đã cưới nàng Akete, cô gái mà người ta đã cố gắng chứng minh cho Hoàng đế thấy là nàng thuộc dòng dõi hoàng tộc. Thế rồi sao? Ngài sẽ có một người vợ ngay thẳng còn chúng ta có một vị hoàng hậu chính trực. Thề có thần Proteus và những vùng biển hoang vắng của thần! Cậu sẽ luôn luôn thay đổi ý kiến khi nào cậu xem là thích hợp hoặc có lợi. Còn nói về Ligia, thì dòng dõi hoàng tộc của nàng còn chắc chắn hơn nhiều so với các bậc cha ông đáng nghi vấn của Akete. Tuy nhiên tại Anxium anh phải chú ý đến Poppea đấy nhé, cô ả hay thâm thù lắm!
- Không bao giờ! Tại Anxium sẽ không ai động được tới một sợi tóc của cháu đâu.
- Nếu như anh cho rằng anh có thể làm cậu ngạc nhiên thêm một lần nữa thì anh nhầm đấy! Nhưng làm sao anh có thể nói chắc thế?
- Chính Đức Sứ đồ Piotr bảo cháu thế.
- À! Đức Sứ đồ Piotr bảo anh! Vậy thì chẳng có gì phải bàn, tuy nhiên xin hãy cho phép cậu lo trước một vài biện pháp dự phòng dù đó chỉ là để ông Piotr khỏi phải trở thành một nhà tiên tri không đúng; một khi Sứ đồ tình cờ nhầm lẫn, ông ta có thể sẽ đánh mất lòng tin của cháu, lòng tin chắc sẽ vẫn còn có ích cho Piotr sứ đồ.
- Cậu muốn làm gì xin cứ làm, nhưng cháu vẫn tin ông ấy. Còn nếu cậu nghĩ rằng cậu có thể chia rẽ cháu với ông ấy bằng cách lặp đi lặp lại tên ông với vẻ giễu cợt thì cậu nhầm đấy.
- Nếu vậy, hãy còn có một câu hỏi nữa: Anh đã trở thành tín đồ Thiên chúa giáo chưa?
- Cho đến lúc này vẫn chưa, nhưng ông Paven xứ Tarus sẽ cùng đi với cháu để giải thích cho cháu giáo thuyết của Đức Chúa Crixux, sau đó cháu sẽ chịu lễ rửa tội. Điều mà trước đây cậu nói với cháu, rằng bọn họ là kẻ thù của sự sống và tình yêu là một điều không đúng.
- Thế thì lại càng tốt cho anh và Ligia chứ sao - ông Petronius đáp.
Rồi ông nhún vai như tự nhủ:
- Tuy nhiên, thật là điều đáng ngạc nhiên, tại sao những con người này lại biết cách chinh phục tín đồ giỏi thế, làm sao cái đạo giáo này lại mở rộng ra đến thế?
Vinixius trả lời nhiệt tình cứ như chàng đã được rửa tội:
- Vâng! Hàng nghìn, hàng chục nghìn người ở Roma, ở các thành phố của Italia, Hy Lạp và Châu Á. Trong hàng ngũ các chiến đoàn và lính cấm vệ cũng có tín đồ Thiên chúa giáo, họ có mặt ngay cả trong hoàng cung. Giác ngộ giáo thuyết này có cả nô lệ lẫn công dân, kẻ nghèo và người giàu, tiện dân và quý tộc. Cậu có biết rằng một số người trong dòng họ Kornenius cũng là tín đồ Thiên chúa, bà Pomponia Grexyna là tín đồ Thiên chúa, Akte và hình như cả Oktavia cũng như vậy. Vâng! Giáo thuyết này đang chiếm lĩnh thế giới và chỉ mỗi mình nó có thể làm cho thế giới được hồi sinh. Xin cậu chớ có nhún vai, biết đâu sau một tháng hoặc một năm nữa chính cậu lại chẳng thừa nhận nó.
- Cậu ấy ư? ông Petronius thốt lên - Không! Thề có con trai của nữ thần Leto! Cậu sẽ không thừa nhận nó, dù cho nó có chứa đựng chân lý và sự thông tuệ của cả nhân loại lẫn thần linh chăng nữa. Việc ấy đòi hỏi phải khá nhọc công, mà cậu lại không thích nhọc lòng... Nó đòi hỏi phải chối bỏ bản thân mình, mà cậu thì không hề muốn từ bỏ bất cứ cái gì trong cuộc đời... Với bản tính giống như nước sôi lửa bỏng của anh, lúc nào anh cũng có thể bắt gặp một thứ gì tương tự như thế, nhưng còn cậu? Cậu có những viên ngọc chạm những đá mài chạm nổi, những chiếc bình cổ và nàng Eunixe của cậu rồi. Cậu không tin vào thế giới Olympơ, song cậu sẽ tự tạo ra cho mình một Olympơ trên mặt đất, cậu sẽ trổ hoa kết trái cho tới khi những mũi tên của vị thần xạ xuyên suốt qua người cậu, hay tới lúc Hoàng đế ra lệnh cho cậu phải mở phanh mạch máu. Cậu đã chót quá yêu thương hoa đồng thảo và một phòng tiệc đầy đủ tiện nghi mất rồi. Thậm chí, cậu cũng đã đâm thích các vị thần linh của chúng ta... với tư cách những hình tượng hoa mỹ, cậu thích cả Akhai, nơi cậu sẽ đi đến cùng với vị hoàng đế béo ị, chân khẳng khiu, vô song, thiêng liêng của chúng ta, một Auguxt, một Periodonixex, một Herkunex - Nerô!
Nói đoạn ông bật cười khi nghĩ rằng ông có thể tiếp thu giáo thuyết của những người dân đánh cá xứ Galilei, ông cất giọng hát khe khẽ:
Ta sẽ quấn luỡi gươm sáng của ta bằng lá trường xuân xanh biếc.
Theo vết Harmođiox và Aryxtagiton...
Song ông chợt ngừng lại vì viên xướng danh báo là nàng Eunixe đã đến.
Ngay sau khi nàng tới, bữa tối cũng được dọn ra. Trong lúc ăn tối, sau khi nghe một nghệ sĩ đàn tranh ca mấy khúc, Vinixius thuật lại cho ông Petronius nghe chuyện lão Khilon đến thăm chàng, cuộc viếng thăm ấy đã khiến chàng nảy ra ý nghĩ đi gặp thẳng các vị sứ đồ, ý nghĩ ấy đã nảy ra vào lúc đang trừng phạt lão Khilon.
Nghe thấy thế, ông Petronius - người đã lại bắt đầu buồn ngủ - bèn đặt tay lên trán và nói:
- Một khi kết quả đã tốt thì ý tưởng phải là tốt. Còn nếu nói về lão Khilon, thì phải tay cậu, chắc cậu đã tặng cho lão tới năm thoi vàng. Song nếu anh đã ra lệnh nện lão, tốt nhất anh cứ nện tiếp là hơn, bởi biết đâu sau này chẳng có lúc ngay cả các vị nguyên lão nghị viện cũng sẽ phải cúi đầu chào lão như giờ đây họ đang phải chào vị hiệp sĩ - Thợ giày Vatynius của chúng ta! Chúc anh ngon giấc!
Rồi khi tháo vòng hoa, ông cùng nàng Eunixe sửa soạn ra về. Khi họ đã đi, Vinixius bèn vào thư viện và viết cho nàng Ligia những dòng sau đây:
“Hỡi thần nữ, tôi muốn khi nàng mở đôi mắt tuyệt mỹ của mình ra, thì bức thư này sẽ nói với nàng: Chào em! Vì thế hôm nay tôi vẫn cứ viết dẫu ngày mai đã lại được gặp nàng. Ngày kia Hoàng đế sẽ đi Anxium, và tôi, than ôi! phải tùy giá ngài. Như tôi đã nói với nàng, không tuân lệnh là nguy đến tính mạng, mà giờ đây tôi không có đủ can đảm để chết. Song nếu nàng muốn, xin cứ viết cho tôi một chữ, tôi sẽ ở lại, mặc cho cậu Petronius phải tìm bằng được cách tránh mối hiểm họa cho tôi. Hôm nay, trong cái ngày sung sướng này, tôi đã ban thưởng cho tất cả nô lệ, ngày mai tôi sẽ đưa những kẻ đã phục dịch trong nhà đủ hai mươi năm đến gặp pháp quan để giải phóng cho họ. Nàng thân yêu, chắc nàng sẽ khen ngợi tôi, vì tôi nghĩ rằng việc đó thuận với giáo thuyết mà nàng thuận theo, hơn nữa tôi làm việc ấy chính là vì nàng đấy. Ngày mai, tôi sẽ bảo với họ rằng họ chịu ơn nàng về việc được giải phóng để họ biết ơn và ca ngợi tên tuổi của nàng. Còn chính tôi sẽ tự nguyện làm một kẻ nô lệ cho hạnh phúc và cho nàng, cầu trời đừng bao giờ tôi bị giải phóng! Đáng nguyền rủa thay cái xứ Anxium lẫn chuyến du hành của Ahenobarbux! Tôi may mắn xiết bao bởi đã không được thông thái như cậu Petronius, vì nếu không, tôi sẽ nhất thiết phải đi Akhai. Hồi ức về nàng sẽ làm dịu ngọt giây phút chia tay. Bất cứ lúc nào có dịp, tôi sẽ nhảy ngay lên ngựa nhảy ngay về Roma để mắt tôi được vui sướng ngắm nhìn nàng, tai tôi được lắng nghe giọng nói ngọt ngào của nàng. Bất cứ lúc nào có thể, tôi sẽ phái nô lệ mang thư về hỏi thăm nàng. Xin cầu chúc nàng mạnh khỏe, hỡi nữ thần, tôi xin được ôm đôi chân nàng. Xin chớ giận tôi đã mạo muội gọi nàng là nữ thần. Nếu nàng cấm, tôi xin vâng lời, nhưng hôm nay tôi vẫn chưa biết gọi nàng bằng cách nào khác. Từ ngôi nhà tương lai của nàng, bằng tất cả tâm tình, xin chúc nàng sức khỏe”.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»