Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Tác giả ‘Hồng Lâu mộng’ không phải là Tào Tuyết Cần

1 trả lời, 104 lượt xem — Trang 1 / 1
Tác giả ‘Hồng Lâu mộng’ không phải là Tào Tuyết Cần




Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng tác giả "Hồng lâu mộng" không phải là Tào Tuyết Cần mà là một văn nhân cuối đời Minh tên là Hồng Thăng – tác giả của bộ truyện “Trường Sinh điện”.

Luận điểm này đã gây xôn xao báo chí Trung Quốc và các nước nói tiếng Hoa, làm chấn động giới Hồng học (giới nghiên cứu Hồng lâu mộng).

Theo giới Hồng học truyền thống thì tác giả Hồng Lâu mộng là Tào Tuyết Cần - một văn nhân sống ở thế kỷ XVIII, lấy nguyên mẫu là cuộc sống phồn hoa, tấp nập ở quê ông để sáng tác.

Thế nhưng tại cuộc hội thảo học thuật Tây Khê văn hoá và “Hồng Lâu mộng” tổ chức mới đây tại Hàng Châu, những người tham dự đã đưa ra một loạt chứng cứ để phản bác một loạt quan điểm trước nay của các nhà Hồng học, trong đó có việc tác giả Hồng Lâu mộng không phải là Tào Tuyết Cần, nguyên mẫu của Đại Quan viên chính là Tây Khê – quê hương của Hồng Thăng, nguyên mẫu của 12 người đẹp “Kim Lăng thập nhị kim thoa” chính là “Tiêu Viên thư muội”…

Ông Lưu Mộng Khê, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Trung Quốc nói: Phái Tố Cầp trong giới Hồng học ở đại lục đều cho rằng: Tác giả của Hồng Lâu mộng không phải là Tào Tuyết Cần mà là Hồng Thăng, một văn nhân cuối đời Minh.

Ông nêu rõ: Thân thế và sự nghiệp của Hồng Thăng đều có ghi rõ trong “Hàng Châu sử chí”, xã hội thời Minh rất cởi mở, giống như chuyện trong Hồng Lâu mộng.

Còn Tào Tuyết Cần thì từ trước năm 13 tuổi đã sống ở miền Nam, qua nghiên cứu thấy giữa Tào Dần (ông nội của Tào Tuyết Cần) và Hồng Thăng có sự giao lưu với nhau.

Học giả Thổ Mặc Nhiệt, một người say mê nghiên cứu Hồng Lâu mộng suốt 20 năm qua còn đưa ra tuyên bố khiến nhiều người sửng sốt khi cho rằng:

Tào Tuyết Cần là nhân vật không tồn tại trong lịch sử!

Bằng nghiên cứu của mình, Thổ Mặc Nhiệt chuyển bối cảnh thời đại của Hồng Lâu mộng từ thời thịnh trị Càn Long thế kỷ XVIII lùi xuống thời giao tiếp Minh - Thanh vào thế kỷ XVII, thay bối cảnh địa lý của Hồng Lâu mộng là Tào Gia Điếm quê nhà Tào Tuyết Cần thành Hàng Châu, thay nguyên mẫu nhân vật từ “Tam đại gia tộc nghề dệt” thành “Bách niên vọng tộc Hồng Gia” và các nữ thi nhân trong “Tiêu viên thư muội” từng lừng danh thiên hạ thời xưa.

Thổ Mặc Nhiệt đã 5 lần tới Tây Khê Hàng Châu để khảo chứng thực địa. Ông cho rằng, theo ghi chép sử liệu thì Hồng Viên (trang trại họ Hồng) ở Hà Chư Đông, là nơi ở cuối đời của Hồng Chung – ông tổ của Hồng Thăng. Theo khảo sát của Thổ Mặc Nhiệt thì đây chính là nguyên mẫu của Di Hồng Viện; còn Tây Khê Sơn trang, hay Trúc Song, là nguyên mẫu của Tiêu Tương quán…

Theo phân tích của Thổ Mặc Nhiệt về bối cảnh Hồng Thăng sáng tác Hồng Lâu mộng thì: Hồng Thăng sinh năm 1645, đúng lúc quân Thanh xuống Giang Nam gây nên cảnh binh loạn.

Nửa đời trước ông sống trong cảnh giàu có sung túc, được ăn học đầy đủ, nửa đời sau ông trải qua “ba lần gia nạn” nên dần hình thành tính cách hai mặt: một mặt mang tư tưởng của dân mất nước cuối Minh, đau nỗi đau vong quốc; mặt khác lại mang nặng tư tưởng “tình giáo”, tác phẩm lấy chữ “tình” làm gốc.

Hồng Thăng suốt đời mang tiếng xấu “bất hiếu”, “đớn hèn” nên đã viết Hồng Lâu mộng để công bố với đời về chân tướng sự suy đồi của một “vọng tộc”, biện giải và giải oan cho bản thân ông.

Thu Thủy (Tổng hợp từ các báo TQ 4, 5/2006)

(Nguồn: Tiền Phong)


Chân dung Tào Tuyết Cần

📎 ataotyuetcan




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-13 12:05:01Hồng Tuyên Kiều>
Cảm ơn chị Tieuboingoan đã đưa đến mọi người những thông tin mới về tác phẩm kinh điển này. MHL xin đăng tặng các bạn mấy bài thơ về Lâm Đại Ngọc ( 林黛玉 ).


紅樓夢

Hồng lâu mộng


曹雪芹

Tào Tuyết Cần



春夢歌

春夢隨雲散,
飛花逐水流;
寄言眾兒女:
何必覓閑愁。


Xuân mộng ca

Mộng đẹp, mây tan mộng,
Hoa bay, nước cuốn hoa.
Nhắn bảo bạn nhi nữ,
Buồn hão chuốc chi mà.



葬花詞


花謝花飛飛滿天,
紅消香斷有誰憐?
游絲軟系飄春榭,
落絮輕粘扑繡帘。

閨中女兒惜春暮,
愁緒滿懷無著處,
手把花鋤出繡帘,
忍踏落花來復去?

柳絲榆莢自芳菲,
哪管桃飄與李飛,
桃李明年能再發,
明年閨中知有誰?

三月香巢初壘成,
梁間燕子太無情,
明年花發雖可啄,
卻不道人去梁空巢已傾。

一年三百六十日,
風刀霜劍嚴相逼,
明媚鮮妍能几時,
一朝漂泊難尋覓。

花開易見落難尋,
階前愁煞葬花人,
獨把花鋤偷洒淚,
洒上空枝見血痕。

杜鵑無語正黃昏,
荷鋤歸去掩重門,
青燈照壁人初睡,
冷雨敲窗被未溫。

怪儂底事倍傷神?
半為憐春半惱春,
憐春忽至惱忽去,
至又無言去不聞。
昨宵亭外悲歌發,
知是花魂與鳥魂?

花魂鳥魂總難留,
鳥自無言花自羞。
愿儂此日生雙翼,
隨花飛到天盡頭。
天盡頭!何處有香丘?
未若錦囊收艷骨,
一抔淨土掩風流,
質本潔來還潔去,
不教污淖陷渠溝。

爾今死去儂收葬,
未卜儂身何日喪?
儂今葬花人笑痴,
他年葬儂知是誰?
試看春殘花漸落,
便是紅顏老死時。
一朝春盡紅顏老,
花落人亡兩不知!



Táng hoa từ

Hoa bay hoa rụng ngập trời,
Hồng phai hương lạt ai người thương hoa?
Đài xuân tơ rủ la đà,
Rèm thêu bông khẽ đập qua bên ngoài.

Kìa trong khuê các có người,
Tiếc xuân lòng những ngậm ngùi vẩn vơ.
Vác mai rảo bước bước ra,
Lòng nào nỡ giẫm lên hoa thế này?

Vỏ du tơ liễu đẹp thay,
Mặc cho đào rụng, lý bay đó mà.
Sang năm đào lý trổ hoa,
Sang năm buồng gấm biết là còn ai?

Tháng ba tổ đã xây rồi,
Trên xà hỏi én quen người hay không?
Sang năm hoa lại đâm bông,
Biết đâu người vắng, lầu hồng còn trơ?

Ba trăm sáu chục thoi đưa,
Gươm sương dao gió những chờ đâu đây.
Tốt tươi xuân được mấy ngày,
Chốc đà phiêu dạt, bèo mây thêm sầu.

Nở rồi lại rụng đi đâu,
Người chôn hoa những rầu rầu đòi cơn.
Cầm mai lệ lại ngầm tuôn,
Dây trên cành trụi hãy còn máu rơi.

Chiều hôm quyên lặng tiếng rồi,
Vác mai về đóng cửa ngoài buồn tênh.
Ngả người trước ngọn đèn xanh,
Ngoài song mưa tạt, bên mình chăn đơn.

Mình sao vơ vẩn từng cơn?
Thương xuân chi nữa lại hờn xuân chi?
Thương khi đến, hờn khi đi,
Đến lừ lừ đến, đi lỳ lỳ đi.
Ngoài sân tiếng khóc rầm rì,
Chẳng hồn hoa đấy, cũng thì hồn chim.

Hồn kia lảng vảng khôn tìm,
Chim càng lặng lẽ, hoa thêm sượng sùng
Thân này muốn vẫy vùng đôi cánh,
Nơi chân trời liệng cánh hoa chơi!
Nào đâu là chỗ chân trời,
Nào đâu là chỗ có đồi chôn hoa?
Sẵn túi gấm đành ta nhặt lấy,
Chọn nơi cao che đậy hương tàn.
Thân kia trong sạch muôn vàn,
Đừng cho rơi xuống ngập tràn bùn nhơ.

Giờ hoa rụng có ta chôn cất,
Chôn thân ta chưa biết bao giờ.
Chôn hoa người bảo ngẩn ngơ,
Sau này ta chết, ai là người chôn?
Ngẫm khi xuân muộn hoa tàn,
Cũng là khi khách hồng nhan về già
Hồng nhan thấm thoắt xuân qua,
Hoa tàn người vắng ai mà biết ai!




桃花行

桃花簾外東風軟,
桃花簾內晨妝懶:
簾外桃花簾內人,
人與桃花隔不遠;
東風有意揭簾櫳,
花欲窺人簾不卷。

桃花簾外開仍舊,
簾中人比桃花瘦;
花解憐人花亦愁,
隔簾消息風吹透。

風透簾櫳花滿庭,
庭前春色倍傷情:
閑苔院落門空掩,
斜日欄杆人自憑。

憑欄人向東風泣,
茜裙偷傍桃花立;
桃花桃葉亂紛紛,
花綻新紅葉凝碧。

霧裹煙封一萬株,
烘樓照壁紅模糊;
天機燒破鴛鴦錦,
春酣欲醒移珊枕。
侍女金盆進水來,
香泉影蘸胭脂冷!

胭脂鮮艷何相類,
花之顏色人之淚,
若將人淚比桃花,
淚自長流花自媚,
淚眼觀花淚易乾,
淚乾春盡花憔悴。

憔悴花遮憔悴人,
花飛人倦易黃昏;
一聲杜宇春歸盡,
寂寞簾櫳空月痕


Đào hoa hành

Hoa đào nọ ngoài rèm gió liệng,
Người trong rèm sớm biếng điểm trang.
Trong ngoài chừng độ tấc gang,
Người đây hoa đấy lại càng gần thêm.
Gió muốn thổi cho rèm lại mở,
Hoa muốn nhòm rèm cứ đứng ngay.

Ngoài rèm hoa vẫn nở đầy,
Mà trong rèm lại người gầy hơn hoa.
Hoa cũng biết xót xa ai đó,
Đứng ngoài rèm nhờ gió hỏi han.

Gió luồn hoa đã đầy sân,
Ngoài sân hoa những tần ngần nhớ ai?
Sân rêu bám phía ngoài khép cửa,
Bóng chiều về người tựa lan can.

Tựa lan nhìn gió lệ tràn,
Quần hồng rón rén dạo vườn hoa chơi.
Kìa hoa lá tơi bời trên dưới,
Hoa ửng hồng, lá rọi màu xanh.

Khói tuôn phủ kín muôn cành,
Bóng lờ mờ thắm, in quanh vách lầu.
Mặt trời chói nát nhàu chăn gấm,
Gối san hồ giấc ấm vừa tan.
Gái hầu dâng chậu kim bồn,
Chè hương ấm giọng phấn son lạnh mùi.

Này người đẹp hoa tươi là thế,
Sao hoa tươi mà lệ vẫn rơi?
Đem hoa ví với lệ người,
Lệ tuôn lã chã hoa cười lả tơi.
Xem hoa mai lệ vơi vơi cạn,
Lệ cạn rồi xuân chán hoa buồn,

Hoa buồn người cũng héo hon,
Hoa bay, người lả, chiều hôm còn gì?
Tiếng quyên bỗng gọi xuân đi,
Rèm này lặng lẽ trăng kia lờ mờ!
Cô nhạn Nam phi, hồng Bắc khứ
Nhàn vân Tây vãng, thuỷ Đông lưu
Đăng nhập để trả lời
0