📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Phòng Lưu Trữ

Kiến Thức Xã Hội Phổ Thông

11 trả lời, 794 lượt xem — Trang 1 / 1
.

Thưa các bạn,

Ngọc Lý đọc báo thấy có một số điều có lẽ chúng ta nên biết để sống thành công hơn trong xã hội, định mang vào phòng lưu trữ, nhưng hình như thành viên thường không được phép mang vào.

Ngọc Lý xin được phép Quản Trị Viên mục này cho một góc đất nhỏ, để có thể đăng những mẫu tin tức, tài liệu trong đời sống hàng ngày vào đây, hầu chúng ta có thể cùng rút tiả bài học, chia sẻ kinh nghiệm, hay góp ý giúp cho trường hợp được giải quyết tốt đẹp hơn.

Nếu Ban Điều Hành và Quản Trị Viên thấy điều này không thích hợp trong mục này, xin dời đi đến một mục nào thích hợp hơn.

Kính,

Ngọc Lý

.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-16 07:34:55Ngọc Lý>
.

LỜI KÊU GỌI KHIẾU KIỆN


Kính gửi toàn thể đồng bào, nói riêng những ai bị oan ức!

Người oan ức được quyền khiếu kiện.

Hiến pháp nước CHXHCNVN quy định rằng: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.

Tuy nhiên, hiến pháp đã không được các cơ quan nhà nước tôn trọng. Từ nhiều năm qua, đảng viên và cán bộ nhà nước đã lạm dụng quyền lực, ngang nhiên xâm phạm đất nhà, tài sản và danh dự của nhiều gia đình người dân cô thế.

Đơn thư khiếu kiện đã nhiều. Có khi, một vụ việc phải qua hàng chục, hàng trăm lá đơn. Có người đi khiếu kiện cả tháng, cả năm, nhiều năm mà vẫn chưa được giải quyết hay trả lời.

Vào ngày 7/12/2001, một viên chức cao cấp của nhà nước đã phải công nhận: “Dân có bất bình mới đi khiếu kiện. Phần sai chủ yếu thuộc về các cơ quan Nhà nước. Có nơi sai không nhận, có nơi nhận nhưng không sửa, có nơi sửa không đến nơi đến chốn.”

Tại Quốc hội và các diễn đàn công khai, các cơ quan công quyền đều thừa nhận: đơn thư khiếu kiện càng ngày càng nhiều, hiệu quả xử lý kém.

Để có hiệu quả, việc khiếu kiện của đồng bào rất cần được thêm sức mạnh.

Nhưng với người dân lành, sức mạnh đó là gì? Câu trả lời là trong xã hội hiện nay, sức mạnh chỉ có thể là số đông. Điển hình là con ong, cái kiến là những sinh vật rất bé nhỏ. Nhờ hợp thành số đông mà những động vật lớn hơn nhiều lần, kể cả con người cũng phải kiêng nễ.

Người bị oan ức hãy biết kêu tỏ nổi oan ức của mình, thuyết phục sự đồng cảm của người thân, bạn hữu, xóm giềng. Là những người thân, bạn hữu, xóm giềng của người bị oan ức, xin hãy biết cảm thông, đồng tình với tiếng nói oan ức.

Một hợp thành mười; mười hợp thành trăm; trăm hợp thành ngàn. Như thế, vụ khiếu kiện nỗi oan ức đã được tiếp thêm sức mạnh. Sức mạnh của số đông sẽ bảo vệ được người khiếu kiện và giúp cho việc cứu xét được hiệu quả hơn.

Sức mạnh của số đông cần được tập trung vào những nơi dễ có ảnh hưởng nhất.

Nộp đơn ở Văn Phòng Tiếp Dân của Nhà Nước ở số 1 đường Mai Xuân Thưởng (Hà Nội) được là tốt nhưng không nhất thiết phải dồn đơn vào nơi này, vì phải vất vả chờ đợi lâu ngày mới được nhận đơn. Đơn dù đến tận nơi song thực tế chẳng giải quyết được gì! Thường thì trung ương gửi trả lại địa phương yêu cầu giải quyết; sau đó, địa phương giải quyết theo ý riêng hoặc lại chuyển lên trung ương xin đề nghị giải quyết. Thực tế là những sự giải quyết lòng vòng, không cụ thể.

Muốn nộp đơn ở trung ương, đồng bào hãy rũ nhau đi bằng số đông. Hình ảnh và tiếng nói của số đông hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn người cùng khiếu kiện một lượt sẽ gây sự chú ý của những người có trách nhiệm, sẽ được báo chí tường thuật, và khó bị đàn áp, trù dập hơn.

Song cách tốt nhất là tiếp cận những nơi không quá vất vả mà vẫn có thể có kết quả cụ thể. Chẳng hạn như cơ quan trung ương, cơ quan tỉnh, nhà riêng của các vị chức sắc cấp cao.

Đồng bào cũng nên đến gõ cửa ngay những vị Đại Biểu dân cử gần nhất như: Đại biểu Tỉnh, Thành Phố, Quốc Hội, đặc biệt là những vị mà đồng bào đã trực tiếp bầu phiếu cho họ. Những người này, nếu không là người đại diện dân cử, họ cũng có nhiệm vụ phải tiếp, phải nghe, phải tìm cách giúp đồng bào một khi đồng bào nhất quyết khăng khăng đặt vấn đề với họ. Phần lớn những Đại biểu này ở rải rác gần nơi đồng bào cư trú, lại không có đội ngũ cảnh sát nổi, chìm bảo vệ gây cản trở nhiều như ở trung ương.

Đồng bào hãy kiên nhẫn tiếp xúc; thời gian tiếp xúc có thể dài; cần thiết có thể nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Hãy buộc họ phải thi hành trách nhiệm chuyển khiếu kiện của đồng bào đến nơi cần đến. Quan trọng là đồng bào đừng quên yêu cầu họ là phải có trả lời, có thời hạn rõ ràng.

Đồng bào hãy tạo sức mạnh để đòi hỏi!

Đơn thư khiếu kiện có thể bị rơi vào “im lặng đáng sợ” như phần lớn đơn thư khiếu kiện đã từng chịu chung số phận như vậy! Đừng nản lòng! Sự khiếu kiện bằng sức mạnh của số đông sẽ không hẩm hiu như thế nữa! Số đông càng lớn, thời gian càng trường kỳ, kiên quyết đòi hỏi đến cùng, hiệu quả chắc hẳn càng cao! Hãy cùng xuống đường, đến tận nơi cần đến, đòi hỏi bộ máy công quyền hữu trách phải xử lý, phải trả lời công khai, minh bạch!

Là công dân, đồng bào có quyền đòi hỏi nhà nước bảo vệ quyền công dân của mình như Hiến pháp đã quy định. Cơ quan nào, quan chức nào không tôn trọng quyền hiến định của người dân là họ vi phạm luật pháp. Nhà nước tuyên bố nhân dân làm chủ thì đồng bào phải biết làm chủ. Đồng bào hãy tự mình đòi lấy quyền lợi hợp pháp của mình. Hãy đọc bản Hiến pháp để hiểu về quyền hạn hiến định của mình, biết trường hợp của mình nằm trong điều khoản nào của Hiến Pháp, mà mạnh dạn nêu lên để tranh đấu một cách hợp pháp, hợp hiến.

Kính gửi toàn thể đồng bào đang bị oan ức!

Nhân dân đứng về phía nhân dân. Đồng bào ở trong và ngoài nước có lòng trắc ẩn đều đang quan tâm, ủng hộ người bị oan ức. Câu lạc bộ Hoa-Mai quyết tâm yểm trợ cho những tiếng nói đòi hỏi công lý của đồng bào. Hãy cùng lên tiếng nói để có sức mạnh của số đông, nhằm phục hồi sự công bằng cho đồng bào và toàn xã hội. Hãy luôn nhớ rằng: muốn khiếu kiện có kết quả thì phải có sức mạnh của số đông.

Chúc đồng bào sớm toại nguyện!

Câu lạc bộ Hoa-Mai

----------------------------------------------------------

Một số điều khoản quy định quyền hạn của người công dân trong Hiến Pháp nước CHXHCNVN (1992)


Đồng bào hãy nhớ kỹ để chất vấn Công an, Cán bộ Nhà nước khi đi khiếu kiện

Ðiều 52: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

Ðiều 58: Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.

Ðiều 63: Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ.

Ðiều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

Ðiều 70: Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

- Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

- Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo…

Ðiều 71: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.

- Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.

- Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.

Ðiều 72:
Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

- Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự.

- Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.

Ðiều 73: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Ðiều 74: Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.

- Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.

- Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự.

- Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.



.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-15 22:27:36Ngọc Lý>
.

QUY ƯỚC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ

Tổ Chức Lao Động Quốc Tế

Quy Ước Số 87

về tự do nghiệp đoàn và bảo vệ quyền hoạt động nghiệp đoàn



Hội nghị của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (TCLĐQT), được triệu tập bởi Văn Phòng Lao Động Quốc Tế (VPLĐQT), nhóm họp tại San Francisco ngày 17 tháng 6 năm 1948, trong phiên họp lần thứ 31.

Sau khi đã quyết định chấp nhận, dưới hình thức một Quy ước, những đề nghị liên hệ đến tự do nghiệp đoàn và bảo vệ quyền hoạt động nghiệp đoàn, là vấn đề được ghi ở mục thứ 7 trong Chương trình nghị sự của phiên họp.

- Xét rằng, Lời mở đầu của Hiến chương của TCLĐQT có nêu lên “việc xác định nguyên tắc của tự do nghiệp đoàn” là một trong số những phương tiện khả dĩ thăng tiến hoàn cảnh của công nhân và bảo đảm hòa bình,

- Xét rằng, Bản Tuyên ngôn ở Philadelphia đã xác quyết lại rằng “tự do phát triển và tự do lập hội là điều kiện thiết yếu cho một tiến bộ lâu dài”,

- Xét rằng, Trong phiên họp lần thứ 30 của Hội nghị Lao động Quốc tế toàn thể hội viên đã chấp nhận những nguyên tắc nền tảng cho việc lập quy quốc tế,

- Xét rằng, Đại hôi đồng Liên Hiệp Quốc, trong phiên họp lần thứ 2, đã chấp nhận những nguyên tắc vừa nói trên và đã mời gọi TCLĐQT hãy tiếp tục nỗ lực để thiết lập một hay nhiều quy ước quốc tế,

Hôm nay ngày 9 tháng 7 năm 1948, chấp nhận quy ước sau nay, sẽ được gọi là Quy ước về Tự do Nghiệp đoàn và Bảo vệ quyền hoạt động nghiệp đoàn năm 1948:

Phần I.-
Tự do nghiệp đoàn


Điều 1

Mọi hội viên của TCLĐQT mà quy ước này được áp dụng cam kết tôn trọng những điều khoản sau đây.

Điều 2

Công nhân và chủ nhân, không phân biệt bởi bất cứ một lý do nào, đều có quyền, mà không cần phải được phép trước, thành lập những tổ chức theo sự lựa chọn của mình, cũng như có quyền gia nhập vào các tổ chức ấy, chỉ với mỗi một điều kiện là giữ đúng những điều lệ của các hiệp hội ấy.

Điều 3

1. Các tổ chức của công nhân và của chủ nhân có quyền thảo ra những điều lệ và nội quy về quản trị, quyền tự do bầu cử những đại diện của mình, quyền tổ chức quản lý và hoạt động của mình, và quyền vạch ra những chương trình hoạt động.

2. Các cơ quan công quyền phải tránh mọi can thiệp làm giới hạn những quyền này hoặc làm cản trở việc hành xử các quyền này.

Điều 4

Những tổ chức của công nhân và của chủ nhân không thể bị giải tán hay bị bắt buộc ngưng hoạt động do các biện pháp hành chánh.

Điều 5

Các tổ chức của công nhân và của chủ nhân có quyền thành lập những liên đoàn hay tổng liên đoàn cũng như có quyền gia nhập các liên đoàn hay tổng liên đoàn ấy, và mọi tổ chức dù là liên đoàn hay tổng liên đoàn đều có quyền gia nhập các tổ chức quốc ttế của công nhân hay chủ nhân.


Điều 6

Những điều khoản thuộc các Điều 2, 3 và 4 trên đây được áp dụng cho các liên đoàn và tổng liên đoàn của các tổ chức công nhân và chủ nhân.

Điều 7

Các tổ chức của công nhân và của chủ nhân, các liên đoàn và tổng liên đoàn của họ, đều được quyền có tính cách pháp nhân mà không bị lệ thuộc vào những điều kiện ngược lại với các điều khoản nói ở các Điều 2, 3 và 4 trên đây.

Điều 8

1. Cũng giống như những cá nhân hay đoàn thể có tổ chức khác, khi hành xử những quyền được nhìn nhận bởi quy ước này, các công nhân, chủ nhân, và các tổ chức của họ phải tôn trọng luật pháp.

2. Luật pháp của quốc gia không thể làm tổn thương hoặc được áp dụng thế nào để có thể làm tổn thương những bảo đảm dự trù trong quy ước này.

Điều 9

1. Các bảo đảm dự trù trong quy ước này sẽ được áp dụng cho những người trong quân đội hay trong cảnh sát thế nào thì tùy luật pháp của quốc gia.

2. Chiếu theo các nguyên tắc thiết định trong khoản 8 của Điều 19 Bản Hiến chương TCLĐQT, việc chuẩn nhận quy ước này do một quốc gia hội viên không thể bị xem như là có ảnh hưởng đến mọi luật pháp, mọi phán quyết, mọi tập tục hay mọi ký kết nào đã có sẵn cho phép nhân viên của quân đội hay cảnh sát được hưởng những bảo đảm dự trù trong quy ước này.

Điều 10

Trong quy ước này chữ "tổ chức" chỉ mọi tổ chức của công nhân hay chủ nhân có mục tiêu thăng tiến và bảo vệ quyền lợi của công nhân hay chủ nhân.


Phần II.
- Bảo vệ quyền hoạt động nghiệp đoàn


Điều 11

Mọi hội viên của TCLĐQT mà quy ước này được áp dụng cam kết áp dụng mọi biện pháp cần thiết và thích ứng để bảo đảm cho công nhân và chủ nhân việc tự do hành xử quyền hoạt động nghiệp đoàn.

Phần III.
- Các biện pháp khác



Điều 12

1. Liên hệ đến các lãnh địa nói ở Điều 35 của Hiến chương TCLĐQT như Bản Hiến chương năm 1946 đã đượïc sửa đổi, và trừ ra những lãnh địa nói đến trong các điều khoản 4 và 5 của Điều 35 đã được sửa đổi, thì mọi hội viên của TCLĐQT khi phê chuẩn quy ước này phải gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT, đồng thời với lúc phê chuẩn hoặc một thời gian rất ngắn sau khi phê chuẩn, một bản công bố cho biết:

a/ những lãnh địa nào trong đó hội viên cam kết áp dụng những điều khoản của quy ước này mà không thay đổi;

b/ những lãnh địa nào trong đó hội viên cam kết áp dụng những điều khoản của quy ước này với những thay đổi, và những thay đổi ấy là thế nào;

c/ những lãnh địa nào trong đó quy ước không thể áp dụng, và trong trường hợp đó, lý do tại sao;

d/ những lãnh địa nào trong đó hội viên tự dành quyền quyết định.

2. Những cam kết nói ở khoản a/ và b/ của câu thứ nhứt trong Điều này sẽ được kể như thành phần cấu tạo thiết yếu của sự phê chuẩn và sẽ có hiệu quả như nhau.

3. Do một công bố mới một hội viên có thể hủy bỏ tất cả hay từng phần những giới hạn chứa đựng trong bản công bố trước liên hệ đến những mục b/, c/ và d/ của câu 1 trong Điều này.

4. Trong khoản thời gian mà quy ước này có thể được tuyên bố bãi ước theo những điều khoản của Điều 16, thì mọi hội viên có quyền gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT một bản công bố mới để thay đổi những điều khoản chứa đựng trong những bản công bố trước và cho biết tình trạng của các lãnh địa liên hệ.

Điều 13

1. Khi các vấn đề đề cập trong quy ước này thuộc thẩm quyền của một lãnh địa không thuộc thủ phủ, thì hội viên có trách nhiệm về liên lạc quốc tế của lãnh địa ấy hợp với chánh quyền của lãnh địa ấy có thể gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT một bản công bố chấp nhận những điều khoản của quy ước này nhân danh cho lãnh địa ấy.

2. Bản công bố chấp nhận những điều khoản của quy ước này có thể gửi đến Tổng giám đốc VPLDQT:

a/ do hai hay nhiều hội viên cho một lãnh địa đặt dưới quyền cai trị hổn hợp của họ;

b/ do một thẩm quyền quốc tế trách nhiệm về việc cai trị một lãnh địa theo những điều khoản của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, hoặc theo những điều khoản nào đang đưọc áp dụng cho lãnh địa ấy.

3. Những bản công bố gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT theo những quy định vừa nêu trên trong Điều này phải nêu rõ những điều khoản của quy ước này áp dụng trên lãnh địa có bị thay đổi không, khi công bố rằng có bị thay đổi giới hạn thì phải nói rõ những thay đổi thế nào.

4. Do một công bố sau này, một hội viên hay những hội viên hay thẩm quyền quốc tế liên hệ có thể tuyên bố khước từ toàn phần hay từng phần quyền vịn vào một thay đổi đã được nêu lên trong một công bố trước.

5. Trong khoản thời gian mà quy ước này có thể tuyên bố bãi ước theo những điều khoản của Điều 16, thì một hội viên hay những hội viên hay thẩm quyền quốc tế liên hệ có thể gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT một bản công bố mới để thay đổi những điều khoản chứa đựng trong những bản công bố trước và cho biết tình trạng áp dụng bản quy ước này.


Phần IV.-
Các điều khoản chung kết



Điều 14

Các phê chuẩn chính thức bản quy ước này được gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT và được ghi nhận đăng bộ bởi vị ấy.

Điều 15

1. Quy ước này chỉ ràng buộc những hội viên của TCLĐQT mà việc phê chuẩn đã được ghi nhận bởi Tổng giám đốc.

2. Quy ước này trở thành có hiệu lực 12 tháng sau khi việc phê chuẩn của hai hội viên đã được ghi nhận bởi Tổng giám đốc.

3. Sau đó thì quy ước này sẽ có hiệu lực đối với mỗi hội viên 12 tháng sau khi việc phê chuẩn được ghi nhận.

Điều 16

1. Mọi hội viên đã phê chuẩn quy ước này có thể tuyên bố bãi ước nó khi đến thời hạn mười năm sau khi nó đã có hiệu lực bằng một văn kiện thông cáo gửi Tổng giám đốc VPLĐQT và được vị này ghi nhận. Việc bãi ước này chỉ có hiệu lực một năm sau khi đuợc ghi nhận.

2. Mọi hội viên đã phê chuẩn quy ước này, nếu một năm sau thời hạn mười năm vừa nói ở câu trên mà không xử dụng quyền bãi ước như dự trù trong Điều này, thì sẽ bị ràng buộc trong một thời hạn mới mười năm nữa, và tiếp theo đó có thể bãi ước sau mỗi thời hạn mười năm trong những điều kiện dự trù trong Điều này.

Điều 17

1. Tổng giám đốc VPLĐQT sẽ thông báo cho tất cả mọi hội viên của TCLĐQT về mọi phê chuẩn, công bố, và tuyên bố bãi ước đã được gửi đến và đã ghi nhận.

2. Khi thông báo về ghi nhận phê chuẩn lần thứ nhì của một hội viên thì Tổng giám đốc VPLĐQT cũng lưu ý các hội viên về ngày mà quy ước sẽ có hiệu lực.

Điều 18

Tổng giám đốc VPLĐQT sẽ thông báo cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc để ghi nhận chiếu theo Điều 102 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, đầy dủ mọi tin tức liên hệ đến mọi phê chuẩn, mọi công bố và mọi bãi ước mà ông đã ghi nhận chiếu theo những điều nêu trên.

Điều 19

Sau mỗi lần đáo hạn mười năm kể từ khi quy ước này có hiệu lực thì Hội đồng Quản trị VPLĐQT phải trình trước Hội nghị Lao động Quốc tế một bản phúc trình về việc áp dụng quy ước này và quyết định có cần thiết hay không phải ghi vào nghị trình Hội nghị vấn đề xem lại toàn bộ hay từng phần bản quy ước.

Điều 20

1. Trong trường hợp mà Hội nghị chấp nhận một quy ước mới với sự xét lại toàn bộ hay từng phần bản quy ước này, và nếu quy ước mới không quy định khác thì:

a/ việc một hội viên phê chuẩn bản quy ước mới đương nhiên kéo theo việc bãi ước tức thì bản quy ước này, bất chấp điều khoản nói ở Điều 16, với điều kiện là quy ước mới với những xét lại đã trở thành có hiệu lực;

b/ kể từ ngày quy ước mới có hiệu lực thì quy ước này không còn được các hội viên phê chuẩn nữa.

2. Nhưng trong mọi trường hợp bản quy ước này vẫn có hiệu lực đối với những hội viên đã phê chuẩn nó và không phê chuẩn quy ước mới với những xét lại.

Điều 21

Những bản văn Pháp ngữ và Anh ngữ của quy ước này có giá trị chính thức.


http://www.tiengdankeu.net/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-16 07:10:14Ngọc Lý>
.


QUY ƯỚC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ

Tổ Chức Lao Động Quốc Tế

Quy Ước Số 98

về áp dụng những nguyên tắc
về quyền tổ chức và cộng đồng thương thảo



Hội nghị của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (TCLĐQT), được triệu tập tại Genève do Hội đồng Quản trị Văn Phòng Lao Động Quốc Tế (VPLĐQT), nhóm họp ngày 8 tháng 6 năm 1949, trong phiên họp lần thứ 32,

Sau khi đã quyết định chấp nhận những liên hệ đến việc áp dụng những nguyên tắc về quyền tổ chức và quyền cộng đồng thương thảo, một vấn đề được ghi ở mục thứ 4 trong Chương trình nghị sự của phiên họp.

Sau khi đã quyết định những đề nghị này mang hình thức một quy ước quốc tế.

Hôm nay, ngày 1 tháng 7 năm 1949, chấp nhận quy ước sau đây, sẽ được gọi là Quy ước về quyền tổ chức và cộng đồng thương thảo năm 1949:

Điều 1


1. Công nhân cần được hưởng quyền được bảo vệ thích đáng chống lại mọi hành động kỳ thị làm tổn thương đến quyền tự do nghiệp đoàn về phương diện nhân dụng.

2. Sự bảo vệ đó cần được áp dụng đặc biệt khi có những hành động nhằm:

a/ lệ thuộc sự cung cấp việc làm vào điều kiện người công nhân không được gia nhập một nghiệp đoàn hoặc phải ra khỏi một nghiệp đoàn;

b/ đuổi một công nhân hay tạo khó khăn thiệt hại cho công nhân ấy bằng mọi cách nào khác, vì lý do công nhân ấy gia nhập nghiệp đoàn hoặc tham dự vào các hoạt động nghiệp đoàn ngoài giờ làm việc, hoặc trong giờ làm việc với sự ưng thuận của chủ nhân.

Điều 2


1. Các tổ chức công nhân và chủ nhân phải được hưởng một sự bảo vệ thích đáng chống lại những hành động của một tổ chức này xen vào nội bộ tổ chức kia, một cách trực tiếp, hoặc do một nhân viên hay một thành viên, trong việc huấn luyện, hoạt động, hay quản trị của các tổ chức ấy.

2. Theo nghĩa của Điều 2 này thì cũng được kể như là hành động xen vào nội bộ những biện pháp nhằm thúc đẩy dựng lên những tổ chức công nhân bị kềm chế bởi một chủ nhân hay một tổ chức chủ nhân, hoặc nhằm nâng đở các tổ chức công nhân bằng phương tiện tài chánh hay các phương tiện khác với mục đích đặt các tổ chức này dưới quyền kiểm soát của một chủ nhân hay một tổ chức chủ nhân.

Điều 3


Những cơ quan thích ứng với hoàn cảnh quốc gia, và nếu thấy cần, phải được thiết lập để bảo vệ sự tôn trọng quyền tổ chức như đã ấn định trong các điều trên.

Điều 4


Phải có những biện pháp thích ứng với hoàn cảnh quốc gia, và nếu thấy cần, để khuyến khích và vận động việc phát triển và xử dụng đến mức tối đa những thể thức về thương thảo tự do để ký kết những cộng đồng hiệp ước giữa một bên là những chủ nhân và những tổ chức chủ nhân, bên kia là những tổ chức công nhân, để nhờ cách đó mà giải quyết những điều kiện làm việc.

Điều 5


1. Những bảo đảm dự trù trong quy ước này áp dụng cho các lực lượng quân đội và cảnh sát thì tùy luật pháp quốc gia ấn định.

2. Chiếu theo những nguyên tắc quy định nơi câu 8 Điều 19 của Hiến chương TCLĐQT, việc phê chuẩn quy ước này bởi một hội viên sẽ không được xem như là có ảnh hưởng đến mọi luật pháp, mọi phán quyết, mọi tập tục hay mọi ký kết nào đó có sẵn cho phép nhân viên của quân đội hay cảnh sát được hưởng những bảo đảm dự trù trong quy ước này.

Điều 6


Quy ước này không đề cập đến hoàn cảnh của công chức, và trong mọi trường hợp không thể hiểu như là có thể làm hại cho quyền lợi hay quy chế của họ.

Điều 7


Những phê chuẩn chánh thức quy ước này phải được gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT, và được ghi nhận bởi vị ấy.

Điều 8


1. Quy ước này chỉ ràng buộc những hội viên của TCLĐQT mà sự phê chuẩn đã được ghi nhận bởi Tổng giám đốc.

2. Quy ước này trở thành có hiệu lực 12 tháng sau khi việc phê chuẩn của hội viên đã được ghi nhận bởi Tổng giám đốc.

3. Sau đó thì quy ước này sẽ có hiệu lực đối với mỗi hội viên 12 tháng sau khi việc phê chuẩn được ghi nhận.

Điều 9


1. Những bản công bố gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT theo những quy định ở câu 2 Điều 35 của Hiến chương TCLĐQT phải cho biết:

a/ những lãnh địa nào trong đó hội viên cam kết áp dụng những điều khoản của quy ước này mà không thay đổi;

b/ những lãnh địa nào trong đó hội viên cam kết áp dụng những điều khoản của quy ước này với những thay đổi, và những thay đổi ấy là thế nào;

c/ những lãnh địa nào trong đó quy ước không thể áp dụng, và trong trường hợp đó, lý do tại sao;

d/ những lãnh địa nào trong đó hội viên tự dành quyền quyết định trong khi chờ đợi nghiên cứu đầy đủ về hoàn cảnh của các lãnh địa ấy.

2. Những cam kết nói ở khoản a/ và b/ của câu thứ nhứt trong Điều này sẽ được kể như thành phần cấu tạo thiết yếu của sự phê chuẩn và sẽ có hiệu quả như nhau.

3. Do một công bố mới một hội viên có thể hủy bỏ tất cả hay từng phần những giới hạn chứa đựng trong bản công bố trước liên hệ đến những mục b/, c/ và d/ của câu 1 trong Điều này.

4. Trong khoản thời gian mà quy ước này có thể được tuyên bố bãi ước theo những điều khoản của Điều 11, thì mọi hội viên có quyền gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT một bản công bố mới để thay đổi những điều khoản chứa đựng trong những bản công bố trước và cho biết tình trạng của các lãnh địa liên hệ.

Điều 10


1. Những bản công bố gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT theo quy định ở câu 4 và 5 Điều 35 của Hiến chương TCLĐQT phải nêu rõ những điều khoản của quy ước này áp dụng trên lãnh địa có bị thay đổi hay không; khi công bố rằng có bị thay đổi giới hạn thì phải nói rõ những thay đổi thế nào.

2. Do một công bố sau này, một hội viên hay những hội viên hay thẩm quyền quốc tế liên hệ có thể tuyên bố khước từ toàn phần hay từng phần quyền vịn vào một thay đổi đã được nêu lên trong một công bố trước.

2. Trong khoản thời gian mà quy ước này có thể được tuyên bố bãi ước theo những điều khoản của Điều 11, thì một hội viên hay những hội viên hay thẩm quyền quốc tế liên hệ có thể gửi đến Tổng giám đốc VPLĐQT một bản công bố mới để thay đổi những điều khoản chứa đựng trong những bản công bố trước và cho biết tình trạng áp dụng bản quy ước này.

Điều 11


1. Mọi hội viên đã phê chuẩn quy ước này có thể tuyên bố bãi ước nó khi đến thời hạn mười năm sau khi nó đã có hiệu lực bằng một văn kiện thông cáo gửi Tổng giám đốc VPLĐQT và được vị này ghi nhận. Việc bãi ước này chỉ có hiệu lực một năm sau khi được ghi nhận.

2. Mọi hội viên đã phê chuẩn quy ước này, nếu một năm sau thời hạn mười năm vừa nói ở câu trên mà không xử dụng quyền bãi ước như dự trù trong Điều này, thì sẽ bị ràng buộc trong một thời hạn mới mười năm nữa, và tiếp theo đó có thể bãi ước sau mỗi thời hạn mười năm trong những điều kiện dự trù trong Điều này.

Điều 12


1. Tổng giám đốc VPLĐQT sẽ thông báo cho tất cả mọi hội viên của TCLĐQT về mọi phê chuẩn, công bố, và tuyên bố bãi ước đã được gửi đến và đã ghi nhận.

2. Khi thông báo về ghi nhận phê chuẩn lần thứ nhì của một hội viên thì Tổng giám đốc VPLĐQT cũng lưu ý các hội viên về ngày mà quy ước sẽ có hiệu lực.

Điều 13


Tổng giám đốc VPLĐQT sẽ thông báo cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc để được ghi nhận chiếu theo Điều 102 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, đầy dủ mọi tin tức liên hệ đến mọi phê chuẩn, mọi công bố và mọi bãi ước mà ông đã ghi nhận chiếu theo những điều nêu trên.

Điều 14


Sau mỗi lần đáo hạn mười năm kể từ khi quy ước này có hiệu lực thì Hội đồng Quản trị VPLĐQT phải trình trước Hội nghị Lao động Quốc tế một bản phúc trình về việc áp dụng quy ước này và quyết định có cần thiết hay không phải ghi vào nghị trình Hội nghị vấn đề xem lại toàn bộ hay từng phần bản quy ước.

Điều 15


1. Trong trường hợp mà Hội nghị chấp nhận một quy ước mới với sự xét lại toàn bộ hay từng phần bản quy ước này, và nếu quy ước mới không quy định khác thì:

a/ việc một hội viên phê chuẩn bản quy ước mới đương nhiên kéo theo việc bãi ước tức thì bản quy ước này, bất chấp điều khoản nói ở Điều 14, với điều kiện là quy ước mới với những xét lại đã trở thành có hiệu lực;

b/ kể từ ngày quy ước mới có hiệu lực thì quy ước này không còn được các hội viên phê chuẩn nữa.

2. Nhưng trong mọi trường hợp bản quy ước này vẫn có hiệu lực đối với những hội viên đã phê chuẩn nó mà không phê chuẩn quy ướ mới với những xét lại.

Điều 16


Những bản văn Pháp ngữ và Anh ngữ của quy ước này có giá trị chính thức.

http://www.hoamai.org/HTML/QuyUocLaoDong/quyuoclaodong_98.htm
Đăng nhập để trả lời
0
.

QUY ƯỚC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ

Tổ Chức Lao Động Quốc Tế

Quy Ước Số 135

về bảo vệ các đại biểu công nhân trong xí nghiệp
và về các điều kiện dễ dãi phải dành cho họ




Hội nghị của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (TCLĐQT), được triệu tập tại Genève bởi Hội đồng Quản trị Văn Phòng Lao Động Quốc Tế (VPLĐQT), nhóm họp ngày 2 tháng 6 năm 1971, trong phiên họp lần thứ 56;

Lưu ý rằng những điều khoản của Quy ước về tổ chức và cộng đồng thương thảo năm 1949, bảo vệ công nhân chống lại mọi hành động kỳ thị làm tổn thương đến quyền tự do nghiệp đoàn về phương diện nhân dụng;

Xét rằng, rất nên quy định những điều khoản bổ túc liên hệ đến các đại biểu công nhân;

Sau khi đã quyết định chấp nhận những đề nghị liên hệ đến việc bảo vệ các đại biểu công nhân trong xí nghiệp và về các điều kiện dễ dãi phải dành cho họ, môt vấn đề được ghi ở Mục thứ 5 trong Chương trình nghị sự của phiên họp;

Sau khi đã quyết định những đề nghị này mang hình thức một quy ước quốc tế;

Hôm nay, ngày 23 tháng 6 năm 1971, chấp nhận quy ước sau đây, sẽ được gọi là Quy ước về Đại biểu công nhân năm 1971:

Điều 1.


Các đại biểu công nhân trong xí nghiệp phải được hưởng một sự bảo vệ kiến hiệu chống lại mọi biện pháp có thể làm thiệt hại đến họ, kể cả việc sa thải, mà lý do thúc đẩy có thể là vì tư cách hay vì hoạt động của họ với tư cách đại biểu công nhân, vì liên hệ nghiệp đoàn của họ, hoặc vì sự tham dự của họ vào hoạt động nghiệp đoàn, mặc dù họ hoạt động đúng với luật pháp, với các cộng đồng hiệp ước, hoặc đúng với những quy ước hiện hành khác.

Điều 2


1. Trong một xí nghiệp những dễ dãi phải được dành cho đại biểu công nhân, để họ có thể thi hành chức vụ của họ cách nhanh chóng và có hiệu quả.

2. Về phương diện này cũng cần phải lưu ý đến những đặc tính của hệ thống liên lạc xí nghiệp đang thịnh hành trong xứ cũng như cần lưu ý đến những nhu cầu, tính cách quan trọng, và khả năng của xí nghiệp liên hệ.

3. Việc dành cho đại biểu công nhân những dễ dãi không được làm cản trở sự hoạt động kiến hiệu của xí nghiệp liên hệ.

Điều 3


Theo trong bản quy ước này thì những từ “đại biểu công nhân” chỉ những người được nhìn nhận như vậy bởi luật pháp hoặc bởi thói quen trong xứ, dù họ là:

a/ các đại biểu nghiệp đoàn, nghĩa là các đại diện được chỉ định hoặc được bầu bởi các nghiệp đoàn hay bởi các đoàn viên nghiệp đoàn;

b/ hoặc là các đại diện được bầu, nghĩa là các đại diện được bầu tự do bởi công nhân trong xí nghiệp, hợp với những điều khoản của luật pháp quốc gia hay của các cộng đồng hiệp ước, và chức vụ của họ không được bao gồm các hoạt động được nhìn nhận trong các quốc gia liên hệ như là những quyền hạn đặc biệt dành riêng cho nghiệp đoàn.

Điều 4


Luật pháp quốc gia, các cộng đồng hiệp ước, các quyết định của Ủy ban trọng tài, các phán quyết của tòa án, sẽ xác định những mẫu đại biểu công nhân nào sẽ được quyền được bảo vệ và được dành những dễ dãi nói trong Quy ước này.

Điều 5


Khi trong một xí nghiêïp có một lượt những đại diện nghiệp đoàn và những đại diện được bầu, thì cần có những biện pháp thích ứng mỗi khi có thể được, để bảo đảm cho sự hiện diện của những đại diện được bầu không làm cho tình trạng của các nghiệp đoàn liên hệ hoặc của đại diện của họ bị suy yếu, và để khuyến khích sự hợp tác, trong mọi vấn đề thích đáng, giữa một bên là những đại diện được bầu, bên kia là những nghiệp đoàn liên hệ và những đại diện của họ.

Điều 6


Việc áp dụng các điều khoản của Quy ước có thể thực hiện được qua con đường của luật pháp quốc gia, của cộng đồng hiệp ước, hoặc của một cách thế nào khác thích hợp với tập tục hiện hành của quốc gia ấy.


Điều 7


Những phê chuẩn chính thức Quy ước này sẽ được chuyển đến Tổng giám đốc VPLĐQT và được ghi nhận bởi vị ấy.

Điều 8


1. Quy ước này chỉ ràng buộc những hội viên của TCLĐQT mà sự phê chuẩn đã được ghi nhận bởi Tổng giám đốc.

2. Quy ước này trở thành có hiệu lực 12 tháng sau khi việc phê chuẩn của hai hội viện đã được ghi nhận bởi Tổng giám đốc.

3. Sau đó thì Quy ước này sẽ có hiệu lực đối với mỗi hội viên 12 tháng sau khi việc phê chuẩn được ghi nhận.

Điều 9


1. Mọi hội viên đã phê chuẩn Quy ước này có thể tuyên bố bãi ước nó khi đến thời hạn mười năm sau khi nó đã có hiệu lực bằng một văn kiện thông cáo gửi Tổng giám đốc VPLĐQT và được vị này ghi nhận. Việc bãi ước này chỉ có hiệu lực một năm sau khi được ghi nhận.

2. Mọi hội viên đã phê chuẩn Quy ước này, nếu một năm sau thời hạn mười năm vừa nói ở câu trên mà không xử dụng quyền bãi ước như dự trù trong Điều này, thì sẽ bị ràng buộc trong một thời hạn mới mười năm nữa, và tiếp theo đó có thể bãi ước sau mỗi thời hạn mười năm trong những điều kiện dự trù trong Điều này.

Điều 10


1. Tổng giám đốc VPLĐQT sẽ thông báo cho tất cả mọi hội viên của TCLĐQT về việc ghi nhận mọi phê chuẩn và tuyên bố bãi ước dã được các hội viên của Tổ chức gửi đến.

2. Khi thông báo cho các hội viên của Tổ chức về ghi nhận phê chuẩn lần thứ nhì của một hội viên thì Tổng giám đốc VPLĐQT cũng lưu ý các hội viên về ngày mà Quy ước sẽ có hiệu lực.

Điều 11


Tổng giám đốc VPLĐQT sẽ thông báo cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc để được ghi nhận chiếu theo Điều 102 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, đầy đủ mọi tin tức liên hệ đến mọi phê chuẩn, mọi công bố và mọi bãi ước mà ông đã ghi nhận chiếu theo những điều nêu trên.

Điều 12


Mỗi khi xét thấy cần thì Hội đồng Quản trị VPLĐQT sẽ trình trước Hội nghị Lao động Quốc tế một bản phúc trình về việc áp dụng Quy ước này và xét xem có cần thiết hay không phải ghi vào nghị trình Hội nghị vấn đề xem lại toàn bộ hay từng phần bản Quy ước này.

Điều 13


1. Trong trường hợp mà Hội nghị chấp nhận một quy ước mới với sự xét lại toàn bộ hay từng phần bản Quy ước này, và nếu quy ước mới không quy định khác thì:

a/ việc một hội viên phê chuẩn bản quy ước mới đương nhiên kéo theo việc bãi ước tức thì bản quy ước này, bất chấp điều khoản nói ở Điều 9 trên đây, với điều kiện là quy ước mới với những xét lại đã trở thành có hiệu lực;

b/ kể từ ngày quy ước mới có hiệu lực thì quy ước này không còn được các hội viên phê chuẩn nữa.

2. Nhưng trong mọi trường hợp bản quy ước này vẫn còn có hiệu lực đối với những hội viên đã phê chuẩn nó và không phê chuẩn quy ước mới với những xét lại.

Điều 14


Những bản văn pháp ngữ và anh ngữ của quy uớc này có giá trị chính thức.


http://www.tiengdankeu.net/
.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-25 06:50:13Ngọc Lý>

.

10 Chiêu Thức
Đảng viên Cộng Sản địa phương
chiếm đoạt tài sản người dân
như nhà cửa, đất đai, vật dụng, v.v… và v.v…

do CTV Hoa-Mai thực hiện



Kính Gởi:
    Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

    Bộ Chính Trị Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    Các cơ quan nhân quyền Quốc Tế

    Các cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài nước

    Câu Lạc Bộ Hoa Mai, MụcTiếng Dân Kêu


Tôi, Đàm thị Thu Hà, là Thiếu Tá Cựu Chiến Binh Đảng CSVN. Người đảng viên, tôi có nhận định luật pháp Việt Nam là gì? Luật pháp của Việt Nam chỉ cho cán bộ đảng viên, dùng nhiều chiêu thức.

Ở đây chúng tôi nói chiêu thức, là dùng từ ngữ võ lâm trong chốn giang hồ, họ truyền đạt cho những đệ tử của họ, gọi là tuyệt kỹ công phu, nhiều chiêu xuất chúng kỳ tình. Nhưng lạ thay chiêu nào đưa ra cũng bị triệt hạ là do đâu? Do Tổ Sư đưa ra chiêu nào, thì tức tốc cũng chính Tổ Sư đưa ra chiêu triệt phá vô hiệu hoá những chiêu thức tuyệt luân ấy. Nhưng lạ thay các đệ tử cứ chạy theo học ầm ầm. Cuối cùng thì trong nhóm nội bộ võ lâm mới là thắng lợi, từ những thâu tóm tiền bạc, bán mua những chiêu thức quỷ quyệt này.

Thì luật pháp Việt Nam có khác gì, chúng tôi cảnh báo cho người dân để đối phó với 10 chiêu sau đây:

1. Chiêu thứ nhất:

Thủ Tướng Việt Nam (Phan văn Khải) ban hành nghị định 197 NĐCP.

Nhưng nói nhỏ với cấp dưới là, “tao” ra thì ra, “chúng mày” cứ lập dự án khu công nghiệp làm kế hoạch thụt lùi lại từ hai đến ba năm, thì coi như vô hiệu hóa nghị định (197) của “tao”.

Bằng chứng là Nghị Định Chính Phủ của ông Khải ký như vậy, nhưng khi người dân đâm đơn khiếu nại, thì được trả lời là khu đất này đã quy hoạch trước khi NĐ197 ban hành! Thế là mỗi mét đất đền bù cho dân chỉ bằng 1kg kem lạnh, còn cán bộ đảng viên bán ra thì được 5 cây vàng một mét đất!

2. Chiêu thứ hai:

Lấy đất dân quy hoạch, nhưng dùng từ cho “xôm tụ” là quy vào công trình công cộng như: chợ, sân bóng chuyền, trạm xá, bưu điện, bến xe, làm trụ sở UB, đài liệt sĩ, bia anh hùng, đài kỷ niệm di tích lịch sử, v.v… Diện tích xây dựng là Một, nhưng quy hoạch để lấy của dân là Mười. Trong diện bị giải toả cho các công trình phúc lợi này, (1) là chiếm không của dân, (2) là đền bù cho có lệ, dân chúng không thể nào thưa kiện vì đây là “công trình phúc lợi”, xây dựng trong số diện tích cần xây dựng, còn phần cán bộ “trưng dụng” thì đảng viên cán bộ bán chia nhau lấy tiền bỏ túi.

3. Chiêu thứ ba:

Hãy cảnh giác việc cán bộ chia rẽ, ly gián con cháu của dân chúng khiếu nại lẫn nhau, tố cáo tranh chấp đất đai, thì sau đó cán bộ đảng viên đánh công văn cho cả hai bên là đất đang bị khiếu nại. Như vậy là cò nghêu tranh hùng, ngư ông đắc lợi. Trong Nghị Định 181 có ghi rõ, đất chưa có chủ quyền, bị tranh chấp thì nhà nước thu hồi, coi như hai bên mất trắng.

4. Chiêu thứ tư:

Làm đường giao thông tại nông thôn, đất chưa có chủ quyền thì lấy không. Đất có chủ quyền thì bảo đảm dân phải hy sinh. Thế thì chủ quyền đất, có sổ đỏ có hiệu lực gì đâu, bởi đất đai do nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Mà có thực sự làm chủ không? Hay là “chổng khu” ra khai phá, để cán bộ đảng viên lấy sử dụng tuỳ tiện thì có. Vậy mà còn hô hào “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Thực chất là dân làm để nhà nước cướp không của dân.

5. Chiêu thứ năm:

Các lâm trường, nông trường do dân ở dưới bỏ công sức, bỏ tài sản khai phá trồng cây thành khoảnh. Còn các ông cán bộ ở trên thì ngồi vẽ, thường thích vẽ ngay vào khu đất của dân. Rồi thì bảo là đất này đã nằm trong bản đồ đất nông trường, lâm trường. Vậy là coi như mất đất, dân thì mất toi công sức bao năm khai phá, bị thu hồi trắng tay.

6. Chiêu thứ sáu:

Cán bộ đảng viên địa phương thích đất chỗ nào thì lấy đất chỗ đó, dân thưa kiện làm sao được giải quyết!. Đảng có thế lực, toà án đâu có xử Đảng (!)

7. Chiêu thứ bảy:

Đất bị quy hoạch treo, có nghĩa là người dân đang làm ăn ổn định, nhưng cán bộ Huyện, Tỉnh đã tự ý làm quyết định quy hoạch, chạy chọt mối lái mua khu đất đó hoặc sẵn sàng cho thuê lại. Tức thì cán bộ đảng viên địa phương tức tốc họp dân làng lại đọc quyết định thông báo đất đã được quy hoạch từ lâu. Thế thì dân bị lấy đất khơi khơi, than Trời không thấu. Hiện nay phong trào này rất phổ biến ở các Tỉnh, nhất là nông thôn.

8. Chiêu thứ tám:

Người dân theo tôn giáo nào đó, mà nhà nước cho là tôn giáo đó không hợp pháp, chưa đăng ký với nhà nước như: Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, Giáo Hội Phật giáo Hoà Hảo thuần tuý, Tin Lành, các nơi đất thờ tự có địa thế mặt bằng có giá trị, thì đều bị nhà nước làm mọi áp lực để lấy đất.

9. Chiêu thứ chín:


Đối với sắc tộc thiểu số, họ bị cán bộ đảng viên bức hiếp lấy đất mà không thể nào chống chọi, thật tội nghiệp cho họ. Nói tiếng Việt thì không rành. Bị đàn áp lấy đất không còn đường sinh sống thì chỉ biết bỏ chạy. Đồng bào sắc tộc Tây Nguyên và đồng bào Chăm kéo nhau đi làm thuê, làm mướn không dám trở lại quê. Một số kéo nhau đi làm công nhân cho các hãng thương nhân nước ngoài bị đối xử bất nhẫn, đồng lương không đủ sống. Chuyện này xảy ra hàng ngày, nhà nước Cộng sản chỉ muốn nhân dân đi làm tôi mọi, bần cùng ngu dân để dễ cai trị.

10. Chiêu thứ mười:

Chiêu này nguy hiểm và gây tai hoạ nhất cho người dân. Đó là vu khống lấy đất khi người dân đang sống ổn định canh tác trên đất có đóng thuế đầy đủ. Nhưng dân xin cấp giấy chủ quyền thì không cho, mà lại đánh công văn thông báo là dân lấn chiếm trái phép. Người dân làm đơn khiếu nại thì bác đơn, dân thưa kéo nhau về trung ương để được cứu xét. Nhưng người dân đâu có biết trong chủ trương chung, nhà nước còn có còn có chủ trương nội bộ riêng!

Khi Trung Ương (TW) chuyển đơn của dân về lại cho địa phương yêu cầu giải quyết, người dân ngây thơ tưởng rằng vậy là TW có quan tâm đến đơn khiếu kiện. Nhưng dân không hiểu là trong đơn, TW phê một câu thật lợi hại: “kính chuyển về Uỷ Ban Tỉnh … xem xét giải quyết theo thẩm quyền”.

Vậy là như mở cờ, cấp Tỉnh cho ngay Công An vào nhà người bị lấy đất với thái độ hống hách khiêu khích, rồi lập biên bản hoạch hoẹ đủ điều. Người dân cứ nghĩ đã có giấy TW chuyển về rồi, nên sẽ có thái độ bực bội và chỉ cần không kiềm chế được là đi đến cãi vả, chống đối quá khích. Thế là dân sẽ bị quy chụp ngay vào cái tội chống người thi hành công vụ, kế tiếp là quyết định thu hồi đất kèm theo… Cuối cùng đất thì bị cướp mà người dân thì vô trại giam. Vụ việc này đã xảy ra tại huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, như trường hợp gia đình Ông Huỳnh Kim Đường có người con là Huỳnh Lý Kim Cương bị bắt trong trường hợp như vậy, đến nay vẫn chưa được thả về.

Như chúng tôi đã đưa tin vụ thứ hai là ông Phùng văn Sắc có 10 hetta đất ở Đồng Nai, chính quyền địa phương thèm thuồng đất của ông Sắc, nên đã làm mọi áp lực để lấy. Ông thưa kiện khắp nơi, cuối cùng chính quyền địa phương tập trung nhiều đảng viên làm đơn tố cáo ngược lại ông Sắc về tội “vu khống cán bộ”.

Tôi Đàm thị Thu Hà, là đảng viên Đảng CSVN. Nhưng giờ đây tôi thấy Cộng sản không cho người dân có dân chủ tự do, nhất là quyền con người. Tôi có yêu cầu bầu cử tự do gửi Bộ Chính Trị Đảng CSVN. Tôi có ghi rõ đơn ngày 02 tháng 09 năm 2005.

Độc tài áp bức sẽ bị sụp đổ như Liên Xô. Tôi nhìn nhận là hiện nay bộ máy đương thời của Bộ Chính Trị và Đảng CSVN lừa phỉnh dân, nói một đường làm một nẻo. Đối với dân không có tình nhân loại đồng bào. Tôi xin nói thẳng Bộ Chính Trị đảng CS muốn tồn tại hãy thôi ngay 10 chiêu thức mà đảng thường thực hiện trên đất nước, và tôi cũng cảnh báo người dân hãy cảnh giác đừng để rơi vào những cái bẫy mà nhà nước và Đảng giăng ra.

Trân trọng kính chào quý vị trong Bộ Chính Trị nước CHXHCNVN và ông Nông Đức Mạnh, Bí Thư Đảng CSVN.

Tôi rất biết ơn Đài Phát Thanh Hoa Mai, mục Tiếng Dân Kêu đã nhiệt tình ủng hộ đòi công bình và đòi nhân quyền cho chúng tôi tại Quốc Nội.

Chúng tôi hợp tác chặt chẽ tranh đấu cho chính người dân nghèo, cho tự do, ấm no, tiến bộ, tiến tới một xã hội đa đảng.

Gởi lời chào thân ái.

Cựu Chiến Binh

Thiếu Tá Đàm thị Thu Hà

http://hoamai.org/TDK/_KHIEUKIEN/KHK_20060130_DamThuHa.htm
.
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: Ngọc Lý


.

10 Chiêu Thức
Đảng viên Cộng Sản địa phương
chiếm đoạt tài sản người dân
như nhà cửa, đất đai, vật dụng, v.v… và v.v…

do CTV Hoa-Mai thực hiện






XIN MỌI NGƯỜI CẢNH GIÁC, KHÔNG NGHE LỜI TUYÊN TRUYỀN BẬY BẠ CỦA NGỌC LÝ VÌ ĐÂY LÀ 03 ( XEM GẠCH DƯỚI) TRONG 10 THỦ ĐOẠN CỦA “ CÁCH MẠNG MÀU SẮC” CỦA MỸ, XIN HÃY ĐỌC BÀI DƯỚI ĐÂY:

VỀ “CHỦ NGHĨA TỰ DO MỚI”

Vũ Hữu Ngoạn

Xem xét tình hình thế giới và tình hình nước ta hiện nay, cuộc đấu tranh trên các lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, từ xã hội đến văn hóa, cả cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, cho chúng ta thấy đã đến lúc phải cảnh báo mọi người, trước hết những người lãnh đạo, về “chủ nghĩa tự do mới”, phải thảo luận để có những hiểu biết về “chủ nghĩa tự do mới”, nói cho thẳng thắn là phải biết ngăn chặn, đẩy lùi ảnh hưởng của “chủ nghĩa tự do mới” ở nước ta.

Chúng ta cần xem xét nguồn gốc của chủ nghĩa tự do mới, nội dung của chủ nghĩa tự do mới, tác động của nó đối với nước ta hiện nay, ….từ đánh giá tình hình cho đến tìm phương hướng, giải pháp đưa đất nước tiến lên.
Người ta nói chủ nghĩa tự do mới vì đã có chủ nghĩa tự do cổ điển. Thật ra, từ khi CNTB xuất hiện cho đến nay, các chính khách và các học giả tư sản, đều giương cao và sử dụng những ngọn cờ “tự do”, “dân chủ” để đập tan chế độ phong kiến, phát triển hạ tầng cô sở và thượng tầng kiến trúc tư bản chủ nghĩa, còn đặc biệt nhằm xuyên tạc và chống phá chủ nghĩa xã hội cả về phương diện hiện thực. Chỉ có điều khi nói “chủ nghĩa tự do” hay “chủ nghĩa tự do mới” là nói cả một thế giới quan, một hệ thống quan điểm thích ứng mới của chủ nghĩa tư bản thế giới.

Có lẽ cũng nên hiểu “chủ nghĩa tự do mới” vừa dưới góc độ một thứ lý luận, một thứ học thuyết tư sản, vừa dưới góc độ một giai đọan lịch sử nhất định của chủ nghĩa tư bản.

Thật ra, từ năm 1944, Von Hayek đã manh nha cho thứ “chủ nghĩa tự do mới”, nhằm vào phê phán học thuyết Keynes. Chủ nghĩa tư bản là một thực thể không thể tách rời thị trường, như cá không thể tách rời nước. Một quan niệm thông thường của chúng ta là đến chủ nghĩa tư bản thì kinh tế hàng hóa phát triển đến đỉnh cao nhất, thậm chí mọi thứ đều có thể trở thành “hàng hóa”, đưông nhiên chúng ta cũng hiểu rằng quan hệ thị trường là một động lực mạnh thúc đẩy sản xuất và đời sống xã hội phát triển. Tác động của thị trường như bàn tay vô hình, thậm chí làm cho con người kinh hòang, đó là những cuộc khủng hoảng kinh tế trong xã hội tư bản, thậm chí sự cướp giật, tranh giành thị trường đã làm nguyên nhân sâu xa của các cuộc chiến tranh thế giới do đế quốc phát động. Học thuyết Keynes đã chỉ ra, đã ca ngợi việc nhà nước can thiệp, khống chế, điều tiết thị trường, tăng phúc lợi nhà nước, để khắc phục mặt khiếm khuyết của thị trường tư bản chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa tư bản tiếp tục phát triển. Về phưông diện thực tiễn, thì các nhà hoạt động thực tiễn tư bản chủ nghĩa cũng đã lập ra các doanh nghiệp nhà nước, đã xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân và nhà nước cố gắng điều hành nền kinh tế quốc dân, mặc dù việc đó là trái với bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản. ở nhiều nước tư bản phát triển, kinh tế quốc doanh chiếm đến 30-40% GDP, thậm chí còn lớn hơn nữa. Cũng cần hiểu kinh tế quốc doanh ở đây là lợi ích của tập thể các nhà tư bản hay là nhà tư bản tập thể. Do đó cuối cùng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản, trên thực tế những thập niên cuối của thế kyû XX chủ nghĩa tư bản lâm vào tình trạng trì trệ và vẫn khủng hoảng, tuy rằng biểu hiện của khủng hoảng có thay đổi. Chính trong điều kiện đó, chủ nghĩa tự do mới lại nêu cao vấn đề tư nhân hóa nền kinh tế, giảm bớt, xóa bỏ vai trò nhà nước can thiệp vào kinh tế, giải phóng cho thị trường được phát triển tự do hết cỡ, đến mức thị trường toàn cầu hóa. Vào thập niên 80 và thập niên 90 của thế kỷ trước, những nhà hoạt động thực tiễn tư bản chủ nghĩa đầy quyền lực như Thatcher, Reagan, Clinton… đã cổ vũ, giương cao quan điểm của chủ nghĩa tự do mới đó. Các nhà hoạt động thực tiễn tư bản chủ nghĩa này còn gắn liền mật thiết vấn đề tự do hóa kinh tế với tự do hóa chính trị, tức là khích lệ, cổ vũ dân chủ đa nguyên chính trị. Như thế, trên thực tế chủ nghĩa tự do mới còn bao gồm cả thực hành nền dân chủ đa nguyên chính trị.

Nếu chỉ xét riêng về phương diện thị trường (một phương diện của chủ nghĩa tư bản) thì chủ nghĩa tư bản trải qua thời kỳ CNTB cạnh tranh tự do, thời kỳ “chủ nghĩa tư bản có tổ chức” hay “CNTB quản lý”, thời kỳ “chủ nghĩa tự do mới” hay “CNTB dân chủ”, như một số công trình nghiên cứu của nước ngoài đã nhận xét. Về mặt nào đó, thì cũng có vẻ là sự phát triển biện chứng, phủ định của phủ định. (Đương nhiên, nếu phân kỳ phát triển dựa theo bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì V.I.Lênin đã phân chia CNTB theo thời kỳ CNTB độc quyền). Xem như vậy thì “chủ nghĩa tự do mới” như là một lý thuyết phản ánh một tồn tại, một giai đọan lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Người ta coi “CNTB cạnh tranh tự do” là thời kỳ phát sinh, hình thành ra đời, “CNTB có tổ chức” hay “CNTB quản lý” là thời kỳ phát triển, “chủ nghĩa tự do mới” là thời kỳ thành thục. Người ta còn coi thời kỳ đầy năng suất lao động còn thấp, nhà tư bản muốn có được lợi nhuận thì chủ yếu phải ra sức tăng cường độ lao động, kéo dài thời gian lao động, hạ thấp tiền công của công nhân; thời kỳ phát triển thì mâu thuẫn nội tại của CNTB đã bộc lộ sâu sắc, lại có CNXH là đối trọng, cho nên CNTB muốn giải quyết mâu thuẫn buộc phải áp dụng một số yếu tố của CNXH, tạo nên thứ “CNTB có tổ chức” hay “CNTB quản lý”; trong điều kiện hiện nay khi CNXH đang lâm vào thóai trào thì CNTB càng khoe khoang sự thành thục của mình, càng khoe khoang sự chin muồi để phát triển tự nó, không cần một kiểu CNTB pha tạp nữa, trái lại phải thể hiện một chế độ xã hội mà chế độ tư hữu lớn thống trị tuyệt đối, có sức sống dồi dào. Chủ nghĩa tự do mới được thổi bùng lên trong bối cảnh đó.

Các thế lực đế quốc đang sử dụng “chủ nghĩa tự do mới” như một thứ vũ khí lợi hại để tác động mạnh đến các nước đang phát triển và cả các nước xã hội chủ nghĩa, hướng tất cả các nước này đều phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Có thể nói “chủ nghĩa tự do mới” và “toàn cầu hóa kinh tế” được các thế lực đế quốc, các tập đòan xuyên quốc gia sử dụng như là một quá trình, một bản chất, chứ không phải là hai. Tương tự như vậy “chủ nghĩa tự do mới” và “diễn biến hóa bình” được các thế lực đế quốc sử dụng như là một quá trình, một bản chất.

Thế nhưng, hơn đâu hết, chủ nghĩa tự do mới đang vấp phải sự chống trả ở nhiều nước Mỹ Latinh – sân sau của nước Mỹ. Bởi vì khi tư nhân hóa mạnh nền kinh tế, buông lõng vai trò quản lý của nhà nước, bỏ mặc cuộc sống theo thị trường, cắt giảm mạnh phúc lợi nhà nước… thì một thực tế cay nghiệt xuất hiện là thất nghiệp tăng lên, đời sống nhân dân lao động giảm sút, các mâu thuẫn xã hội phát triển. Sự chống trả chủ nghĩa tự do mới đã làm cho các lực lượng cánh tả lớn mạnh lên. Những thắng lợi vang dội của nhân dân lao động ở Venezuela, Peru, Nicaragoa, Bolivia, Chile, Colombia… đang chứng minh cho điều đó.

Dù thế nào chăng nữa, dù trải qua nhiều thời kỳ khác nhau với nhiều học thuyết khác nhau, thì CNTB vẫn là một phương thức sản xuất mà ở đó sức lao động trở thành hang hóa một cách phổ biến, mục đích nhằm sản xuất giá trị thặng dư và giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của CNTB, vẫn có mâu thuẫn cơ bản giữa chủ và người làm thuê (cho dù người làm thuê là giám đốc điều hành công ty), như chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra.
Dù có ngoắt ngoéo, phức tạp, thì “chủ nghĩa tự do mới” và “toàn cầu hóa kinh tế”, “chủ nghĩa tự do mới” và “diễn biến hòa bình” là cùng một bản chất. Cho nên khi hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia quá trình toàn cầu hóa kinh tế (một việc làm không tránh khỏi và được coi là cơ hội để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn thời gian) thì chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo, luôn luôn giữ vững độc lập tự chủ. Phải tỉnh táo nhận ra rằng “chủ nghĩa tự do mới” đang tác động vào nước ta…..

Nhân đây, phải lưu ý đến 10 thủ đoạn “cách mạng màu sắc” của Mỹ …đã và đang thực hiện ở một số nước:

1- Lôi kéo và nuôi dưỡng “ngọn cờ lãnh đạo”, tăng cường triển khai những hoạt động chiều sâu để tạo cơ sở trong quần chúng. Đối với dân chúng thì chủ yếu thông qua giúp đỡ thành lập các “tổ chức phi chính phủ”, sau đó mượn tay các tổ chức này để tiến hành vận động dân chủ.
2- Dùng chế độ tư pháp làm đột phá phẩu, tăng cường “giao lưu tư pháp” nhằm làm lung lay luật pháp, thể chế chính trị.
3- Dùng con bài “viện trợ kinh tế” để ép các nước cho lập đảng đối lập và tổ chức phi chính phủ.
4- Truyền bá “giá trị dân chủ”.
5- Tăng cường việc “mời đến thăm”, thông qua các hoạt động giao lưu để nuôi dưỡng phần tử cốt cán thân Mỹ.
6- Các đoàn thể đạo Cơ đốc thâm nhập các nước, tiến hành gây ảnh hưởng tôn giáo, xây dựng cơ sở tham niệm giá trị và tâm lý xã hội, thúc đẩy “cách mạng sàu sắc”.
7- Viện trợ kinh tế, kỹ thuật, công nghệ để triển khai hoạt động chính trị.
8- Thông qua nhiều con đường để thu thập tình báo.
9- Tiến hành chiến dịch bôi nhọ người đương nhiệm, hình thành dư luận ủng hộ “cách mạng màu sắc”.10- Đối với người thành công trong “cách mạng màu sắc”, thì Mỹ lập tức ủng hộ toàn diện.

Những “giá trị” được liệt kê trong khi kê trong khi kể các thủ đoạn trên đây, về thực chất là “chủ nghĩa tự do mới”, nhằm thay đổi cơ sở kinh tế và chính trị ở các nước.

Đã đến lúc, đối với nước ta, cũng không thể lơ là, trái lại phải cảnh báo về ảnh hưởng của “chủ nghĩa tự do mới”, về sự tiếp thu tự phát “chủ nghĩa tự do mới”, làm nhạt dần đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta. Bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc lúc này là phải biết chống “tự diễn biến”, chống ảnh hưởng của “chủ nghĩa tự do mới”.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-26 18:07:38Ngọc Lý>
.
XIN TIẾP MỘT TAY
GIÚP ĐỒNG BÀO MÌNH QUA CƠN BĨ CỰC
GÓP PHẦN LÀM ĐẸP QUÊ HƯƠNG



Ngọc Lý đọc được tin này trên mạng, thiêt nghĩ chúng ta có thể tiếp một tay giúp cho đồng bào mình biết cách khiếu kiện, giúp nhà nước giải quyết oan ức, là một điều thiết thực giúp cho quê hương chúng ta đẹp hơn.

Mong các bạn tiếp tay,

Kính mời

Trích
Tiếng Dân Kêu


http://www.tiengdankeu.net/

Để giúp cho nội vụ các sự kiện này được thêm phần sáng tỏ, Câu lạc bộ Hoa-Mai hoan nghênh các ý kiến đóng góp của bạn đọc cho các trường hợp được nêu lên.

Chúng tôi đồng thời sẵn sàng đón nhận và phổ biến sự giải thích của các giới chức, cơ quan nhà nước CSVN có liên hệ đến các sự vụ được trình bày ở đây.

Muốn gởi đăng tải thư tố cáo, khiếu nại, kêu oan, giải thích... hay đóng góp ý kiến, xin bạn gởi email đến địa chỉ: khieukien@hoamai.org Nếu gặp trở ngại, xin hãy gởi thêm một email tương tự qua một địa chỉ email khác và nhờ chuyển đến TiengDanKeu.net qua địa chỉ liên lạc.

Rất mong bạn đọc sẽ gởi đến Câu lạc bộ Hoa-Mai các thông tin liên quan đến TiengDanKeu.net và giúp phổ biến một cách rộng rãi nội dung những sự việc này để yểm trợ cho sự oan ức, thống khổ của người dân nghèo bị nạn.



Tiếng Dân Kêu từ Long An

"Tôi sống là gia đình cách mạng, là người có công với đất nước Việt Nam, mà nhà nước Việt Nam lại phụ rẫy tôi như thế. Nói thiệt với chị, huân chương, huy chương, bằng kháng chiến, kể cả tập kết Bắc, Nam hy sinh cho đất nước này, bằng huy chương huy chương đem ra bửa mà chụm nấu cho khoảng 5 nồi cơm cũng chưa hết, mà tại sao lại phụ bạc như thế? 21.08.2006


Anh em bạn rễ của ông TT. Nguyễn tấn Dũng cậy thế cướp đất dân nghèo? "...ông Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nói rằng: Tôi chỉ biết xử cho bà Bê có QSDĐ năm 2001, còn những chứng cứ gì truớc kia tôi không cần biết, nếu gia đình có muốn kiện cáo gì đó thì hảy ra ông thủ tướng mà kiện vì ông PHẠM HỒNG TÂN là họ hàng của thủ tướng NGUYỄN TẤN DŨNG?" 14.08.2006

RHM phỏng vấn ông Cao văn Tỉnh ở Cờ Đỏ "…
chẳng qua là quyết định của chính quyền, coi như là các ông có quyền, có thế rồi ra quyết định trưng dụng đất của dân thôi, chứ tại sao quyết định mà không giao trả đất lại cho dân, không bồi thường cho dân, mà người dân đi khiếu kiện thì lại dùng cách bắt bớ, trù dập, ngăn chặn hoặc là giải quyết không thoả đáng. Không giải quyết gì cho dân hết mà còn dùng cách là lừa đảo dân?" 08.08.2006

UBDN Huyện Hòn Đất cướp đất nông nghiệp của dân ".. . việc thu hồi đất của bà ÚT cùng những bà con khác lân cận, quyết định chưa ráo mực thì các ông “Quan” huyện và tỉnh cho công nhân đem lúa giống xuống gieo xạ trên mảnh đất của bà ÚT đã cày xong và cho quân gia canh gác có vũ trang, súng đạn sẳn sàng như một đồn bót, doanh trại quân sự với mục đích trấn áp bà con nếu kháng cự !!! " 08.08.2006

RHM phỏng vấn chị Nguyễn thị Viền ở Kiên Giang: "Đi ra tới nhà ông Nông Đức Mạnh ổng không tiếp, tới nhà ông Khải cũng không ai tiếp hết. Các cơ quan mà đuổi xô cho công an đi tới mà trù dập vợ chồng, bắt buộc phải đưa lên xe, khiêng đưa lên xe, cái cảnh tàn nhẫn như thế đó. Cái bây giờ là ổng chết, tới hơi thở cuối cùng mà không có một xu để tẩn liệm. Hỏi đồng bào tất cả miền Nam, rồi tất cả thế giới, người dân oan hiện giờ rồi làm sao mà sống? " 08.08.2006

Tiếng dân kêu từ Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang: "Công an bắt đi những nguời trong nhà như băng nhóm côn đồ, họ còn nói rằng “bắt giết tụi nó hết đi “ và sau đó họ giải chúng tôi về Công an xã và buộc gia đình chúng tôi ký tên không được ngăn cản họ xây nhà rồi mới cho về. " 08.08.2006

Dân oan Việt Nam biểu tình trước nhà riêng các lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN: "Không có một nước nào trên thế giới mà người dân lại cứ kéo đến tới nhà riêng các đồng chí lãnh đạo như Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ Tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội để khiếu kiện như ở nước ta. Hàng ngày họ tập trung trước cửa nhà Thủ Tướng để kêu. Ban đầu họ còn kêu vào ban ngày nhưng rồi lại sợ ban ngày tiếng ô-tô át đi, Thủ Tướng không nghe thấy nên sau đó cứ nửa đêm họ lại kêu lên : "Thủ Tướng ơi ! Thủ Tướng ơi" 29.07.2006

UBND đập nhà dân để xây nhà hàng "Ngói Xanh": "Nay tôi viết thư này gởi đến Câu Lạc Bộ Hoa Mai xin tường trình sự việc đập nhà bất hợp pháp của UBQ4 vào lúc8g ngày18/7/06 UBQ4 dùng luật rừng để cướp nhà lấy đất phân lô bán nền. Điển hình đã xây dựng 1 dãy nhà kiên cố lấy bảng hiệu là nhà hàng “NGÓI XANH” trên nền đất nói xây trường." 28.07.2006

Chủ tịch UBND Phường 9 Quận 4 lạm quyền hiếp dân: "Chính quyền không coi luật pháp ra gì mà tài sao bắt dân phải tuân thủ đúng luật pháp của nhà nước? Bây giờ gia đình tôi đang ở trong cảnh màn trời chiếu đất..." 27.07.2006

Chuyện đau lòng P.9, Q.4: Kiện vào khoảng không nhưng nhà tan, cửa nát, chỉ còn muốn lìa bỏ quê hương xin tị nạn. Mặc cho những khiếu kiện tố cáo của người dân, nhưng trong hai ngày 18 và 19/07/2006, Ủy Ban nhân dân Quận 4, UBND phường 9 cùng phối hợp với công an, dân phòng, trật tự đô thị, cứu hoả, xe cuốc… cưỡng chế đập nát 12 căn hộ trong số 40 căn còn lại. Thảm thương hơn, những căn chòi đã được dựng trên chính nền nhà của những người dân bị cưỡng chề hồi năm ngoái cũng bị dỡ sạch. Một lần nữa họ lại trắng tay, lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Khi đến nơi đây, giờ chỉ còn là một đống đổ nát với đất đá ngổn ngang được rào lại bằng lưới B40, nhưng bên cạnh đó là một cảnh tượng phản cảm hiện ra, đó là sự xuất hiện của hai căn nhà lớn với dự định làm nhà hàng mang tên “Ngói Xanh”, nó được xây dựng như những biệt thự trên chính mảnh đất mà những “nhà quy hoạch” gọi là xây trường học. 25.07.2006

200 người biểu tình trước Dinh Độc Lập Sài-gòn . Khoảng 200 bà con dân oan, xuất phát từ Nhà Tiếp Dân (Ban Thanh Tra Nhà Nước) bao gồm hơn 100 người từ Bến Tre, khoảng 40 người từ An Giang, và một số từ Long An, đã đến đứng biểu tình dọc theo hàng rào trước cổng Dinh Độc Lập cũ để phản đối việc các tham quan nhà nước CS cướp đất, phá nhà của nhân dân. 19.07.2006

Công an cho cưỡng chế cào sập nhà dân ở F9, Quận 4, Sài-gòn “Từ lúc 8 giờ sáng (18/7) công an đã cho cào sập 8 căn nhà người dân ở đường Vĩnh Khánh, Bến Vân Đồn, F.9, Quận 4 (cầu ông Lãnh cũ). Công an đã dùng roi điện để đàn áp một cách thô bạo những người dân chống đối sự cưỡng chế. Cuộc cào phá đang tiếp tục...” 18.07.2006 — Hoa-Mai

200 đồng bào từ Long An, Bến Tre và An Giang biểu tình trước Phòng Tiếp Dân ở Sài-gòn “Thời kỳ chiến tranh chúng tôi không mất tất đất nào, mà thời kỳ hòa bình đến nay chúng tôi rất buồn khổ và hận...Nghĩ lại thời chiến tranh chúng tôi không bị mất tất đất nào, hồi đó thời ông Thiệu còn cấp đất cho nông dân muốn làm, mà bây giờ thì chỉ có trắng tay…” 17.07.2006 — Hoa-Mai

Đơn tố cáo gửi báo đài hải ngoại của ông Nguyễn tất Bảo “Quyền dân chủ tự do của chúng tôi bị chà đạp một cách ngang nhiên, con người mà bị đối xử không bằng con vật, chúng tôi nói không cho nói, người dân muốn lương thiện làm ăn không được làm ăn ngay thẳng. Quan lại chính quyền thích chỗ đất nào của dân chúng tôi thì cứ ngang nhiên cướp bằng những văn bản được che chở từ trên xuống dưới hợp pháp hoá cho nhau, bằng những điều mà họ qui trong Luật đất đai: “đất đai là công thổ của toàn dân” 09.07.2006

*

Để giúp cho nội vụ các sự kiện này được thêm phần sáng tỏ, Câu lạc bộ Hoa-Mai hoan nghênh các ý kiến đóng góp của bạn đọc cho các trường hợp được nêu lên.

Chúng tôi đồng thời sẵn sàng đón nhận và phổ biến sự giải thích của các giới chức, cơ quan nhà nước CSVN có liên hệ đến các sự vụ được trình bày ở đây.

Muốn gởi đăng tải thư tố cáo, khiếu nại, kêu oan, giải thích... hay đóng góp ý kiến, xin bạn gởi email đến địa chỉ: khieukien@hoamai.org Nếu gặp trở ngại, xin hãy gởi thêm một email tương tự qua một địa chỉ email khác và nhờ chuyển đến TiengDanKeu.net qua địa chỉ liên lạc.

Rất mong bạn đọc sẽ gởi đến Câu lạc bộ Hoa-Mai các thông tin liên quan đến TiengDanKeu.net và giúp phổ biến một cách rộng rãi nội dung những sự việc này để yểm trợ cho sự oan ức, thống khổ của người dân nghèo bị nạn.





http://www.tiengdankeu.net/
Đăng nhập để trả lời
0
Ngọc Lý
XIN TIẾP MỘT TAY
GIÚP ĐỒNG BÀO MÌNH QUA CƠN BĨ CỰC
GÓP PHẦN LÀM ĐẸP QUÊ HƯƠNG


NL à. Nếu muốn giúp đồng bào mình qua cơn hoạn nạn: như nạn nhân bão Chan chu, nạn nhân chất độc màu da cam... thì vô chỗ khác được mà, kêu ở đây liệu có ích gì. Dân mình đâu đến nỗi không biết gửi đơn vào chỗ nào mà lại vô tuốt ra hải ngoại. Chẳng biết NL sống ở hải ngoại hay ở VN. Nếu ở VN thì viết những bài trên là vô bổ rồi, còn nếu NL ở hải ngoại thì NL thử viết đơn rồi gửi vào mấy cái địa chỉ mà NL giới thiệu đi. Có hồi aam thì khắc có người theo NL mà. Nhỉ?

Chúc mơ ước của NL thành hiện thực nha. Thương lắm
Đăng nhập để trả lời
0
.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
Lạc lõng nguy hiểm hơn lạc hậu



Nếu như không có gì bất ngờ xảy ra, đầu tháng 9-2006, Việt Nam sẽ kết thúc phiên đàm phán đa phương cuối cùng với nhóm công tác của WTO tại Gevena và trong phiên họp cấp bộ trưởng WTO từ 10-10-2006 Việt Nam sẽ được chấp nhận là thành viên thứ 150 của tổ chức này, kết thúc quá trình đàm phán lâu dài và khó khăn.

Đó sẽ là một bước tiến quan trọng trong cuộc trường chinh cải cách, tăng trưởng và phát triển của nước ta. Gia nhập WTO không phải là mục đích tự thân mà chỉ là phương tiện để thực hiện mục tiêu cháy bỏng của dân tộc ta là phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Chậm còn hơn không, song vì gia nhập sau nhiều nước, nên chúng ta đã phải chấp nhận những điều kiện khắt khe hơn Trung Quốc trước đây. Nếu như khi bắt đầu nộp đơn năm 1995 chúng ta đã đưa ra ngay những điều kiện gia nhập hiện thực hơn thì chắc đã được chấp nhận sớm hơn, với những điều kiện ít thắt buộc hơn so với những cam kết ngày nay.

Cách đây không lâu, tại một cuộc hội thảo được tài trợ bằng tiền ngân sách ở Hà Nội, đã có diễn giả kịch liệt phê phán gia nhập WTO là “hội nhập tư bản chủ nghĩa, phải chờ đến hội nhập cộng sản chủ nghĩa hãy hội nhập”. Không biết đến lúc đó, điều kiện gia nhập sẽ còn cao đến đâu và gia nhập tổ chức nào vậy?

Gia nhập WTO là tham gia vào kinh tế thị trường thế giới được điều tiết bằng những luật chơi rõ ràng, khắt khe, đem lại những cơ hội và thách thức đều lớn. Cơ hội lớn nhất là đẩy mạnh cải cách, phát huy lợi thế cạnh tranh để tăng trưởng và phát triển có chất lượng cao và tốc độ nhanh hơn. Thách thức là phải cạnh tranh với những đối thủ mạnh hơn ngay trên thị trường trong nước, tuân thủ những quy định khắt khe và cao hơn so với trước đây. Cơ hội và thách thức không tĩnh tại và nhất thành bất biến, không đồng đều cho mọi ngành, mọi địa phương mà là tương quan động, cơ hội và thách thức có thể chuyển hóa cho nhau. Càng chủ động, năng động, quyết tâm học hỏi, cải cách, phát huy lợi thế thì cơ hội càng lớn và thách thức càng giảm đi, Ngược lại, thụ động, không chịu đổi mới tư duy, không biết người, biết mình, thì cơ hội hiển nhiên cũng không nắm bắt được mà thách thức sẽ ngày càng lớn và dồn dập hơn. Thắng, thua trước hết tại mình chứ không phải tại WTO vì cho đến nay, chưa có nước nào vì vào WTO mà khánh tận, phá sản và cũng chưa nước thành viên nào nạp đơn xin rút lui khỏi tổ chức này.

Gia nhập WTO, hợp tác và cạnh tranh với thế giới, rất cần một cuộc “tổng kiểm tra sức khỏe” của tất cả các ngành, các tỉnh, thành phố, của mỗi một doanh nghiệp, của từng sản phẩm, dịch vụ để biết ta đang ở đâu trên bản đồ thế giới, mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và thách thức ở đâu. Giáo dục, đào tạo, khoa học-công nghệ, y tế, hệ thống an sinh xã hội, nguồn nhân lực, bộ máy nhà nước, và hệ thống chính trị, luật pháp, tòa án... tất cả đều cần một sự đánh giá cầu thị, khách quan, chính xác, đối chiếu với các cam kết và yêu cầu của WTO để “biết người biết mình” cho cuộc hội nhập này. Và thay vì tiếp tục xây dựng kế hoạch theo cách truyền thống, xuất phát từ cái gì hiện có, chúng ta phải nghiên cứu thị trường, nghiên cứu các nhà đầu tư tiềm tàng và các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng để có quyết sách phù hợp với cơ hội và thách thức, tức là có lợi nhất cho đất nước. Có như vậy, chúng ta mới có chiến lược, chiến thuật đúng đắn trong cuộc cạnh tranh và hợp tác mới này.

Lạc hậu nói về khoảng cách về phát triển, về thời gian, tốc độ cần thiết để đuổi kịp, nhưng lạc lõng lại là nguy cơ lớn hơn và đáng nói hơn. Biết rõ khoảng cách, chỗ mạnh, chỗ yếu ta có thể có cách đi, có chính sách huy động mọi nguồn lực để rút ngắn khoảng cách. Lạc lõng là nói đến cách nghĩ, cách làm không phù hợp với thời đại và luật chơi của WTO. Chỉ riêng mình làm theo cách “khôn nhà dại chợ” như nông dân tiêm tạp chất vào tôm cho nặng cân; doanh nghiệp vi phạm các quy định về xuất xứ hàng hóa, không tôn trọng các quy định về chất lượng, buôn lậu, trốn thuế; quan chức quyết định đầu tư, cấp ưu đãi qua quan hệ thân quen chứ không theo luật pháp... sẽ không đem lại lợi ích chân chính nào của doanh nghiệp và của đất nước. Với cách làm lạc lõng như vậy thì lạc hậu càng xa và học phí nhập cuộc càng lớn. Phải nói rõ rằng, với nếp suy nghĩ và cách làm như vậy, với tư cách là thành viên WTO, ta chỉ tự gây khó cho chính mình chứ không thể qua mặt được thiên hạ. Rất tiếc, cho đến nay, đối với không ít doanh nghiệp và nông dân, cách làm đó vẫn là thói quen khó từ bỏ. Song, từ bỏ những nếp nghĩ, cách làm như vậy là bước tất yếu để trở thành một nền kinh tế hiện đại.



http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/detail.asp?muc=84&sobao=820&sott=5
Đăng nhập để trả lời
0
Bài viết của tiến sỹ giấy hay quá!
Đăng nhập để trả lời
0
.

Tiến sỹ giấy là gì?
Tại sao bạn gọi ông Lê Đăng Doanh là "tiến sỹ giấy"?

[8|]

.
Đăng nhập để trả lời
0