📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Phòng Lưu Trữ

CÁCH MẠNG LÀ SÁNG TẠO - TƯƠNG LAI

5 trả lời, 711 lượt xem — Trang 1 / 1
Kỷ niệm 61 năm ngày Sài Gòn khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám (25-8-1945 - 25-8-2006)

Cách mạng là sáng tạo

SGGP:: Cập nhật ngày 24/08/2006 lúc 23:00'(GMT+7)

Như một phản ứng dây chuyền của dòng điện cực mạnh phát ra từ trái tim Việt Nam yêu nước và quật khởi, với lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giờ quyết định cho vận mệnh của dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, chỉ trong 15 ngày, Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 nổ ra và thắng lợi trên cả nước...

Xin gợi lại những cột mốc thời gian: Ngày 13-8-1945


Lớp trẻ TPHCM hôm nay. Ảnh: THÁI BẰNG

Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc ở Tân Trào, Tuyên Quang, quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân đồng minh vào Đông Dương. Ủy ban Khởi nghĩa được thành lập, “Quân lệnh số 1” được phát đi.

Vào 23 giờ đêm 14-8-1945, Nhật đầu hàng đồng minh. Ngày 16-8 Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, gửi đi lời kêu gọi tổng khởi nghĩa nói trên.

Cũng xin nhớ rằng, để đến Quốc dân Đại hội, các đại biểu Nam bộ phải đi hàng tháng trời và có hai đại biểu không đến kịp. Với phương tiện thông tin liên lạc lúc ấy, nếu không có một phản ứng dây chuyền cực mạnh đó của lòng dân khát khao độc lập, tự do thì làm sao có diễn biến kỳ diệu của Cách mạng Tháng Tám! Cũng đừng quên rằng, vào thời điểm ấy, Đảng chỉ có khoảng 5.000 đảng viên. Hà Nội cách Sài Gòn 1.719 km đường bộ và 1.726 km đường sắt. Ngày 19-8-1945 Hà Nội khởi nghĩa, 23-8-1945 Huế giành chính quyền và 25-8-1945 là Sài Gòn.

Cuộc biểu tình lịch sử của hơn một triệu người đại diện cho cả Nam bộ hừng hực từ nhiều ngả kéo về trước dinh Đốc lý (nay là trụ sở HĐND và UBND TPHCM) và tràn ngập các đường trong trung tâm thành phố đến cột cờ Thủ Ngữ, chợ Bến Thành, nhà thờ Đức Bà, dinh Toàn quyền, Sở Thú. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn kết thúc trong khí thế ngút trời của cuộc biểu dương lực lượng quần chúng, vì 18 giờ ngày 24-8 Ủy ban Khởi nghĩa Nam bộ phát lệnh khởi nghĩa thì đến 22 giờ đêm hôm ấy tất cả bộ máy cai trị đã về tay các đội TNXP xung kích.

"Cách mạng Tháng Tám là một cuộc tổng khởi nghĩa kết hợp tài tình đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, một cuộc nổi dậy đồng loạt ở cả thành thị lẫn nông thôn, mà đòn quyết định là các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn” (1).

Từ thực tiễn và bằng thực tiễn sinh động của Cách Mạng Tháng Tám, đồng chí Lê Duẩn phân tích sâu sắc bài học về sự kết hợp nhuần nhuyễn lý luận cách mạng của học thuyết Mác với đạo lý làm người, truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta để nói về sức sống của lý luận cách mạng. Theo đồng chí, lý luận cách mạng ấy đã “hòa với sức mạnh sẵn có của dân tộc và trở thành sức mạnh của dân tộc nên cách mạng mới có điều kiện dễ dàng thắng lợi hơn” (2).

Là một trong những bộ óc lớn của Đảng, có trái tim luôn cùng nhịp đập với nhân dân mình, sau Hiệp nghị Genève 1954, ông thiết tha xin với Bác Hồ và Trung ương được ở lại cùng chung lưng đấu cật với đồng bào miền Nam trong cuộc chiến đấu mà ông hiểu rõ sẽ hết sức khốc liệt và kéo dài.

Cũng từ thực tiễn và bằng thực tiễn sinh động của cuộc đấu tranh cực kỳ gian khổ với sự hy sinh lớn lao của đồng bào, đồng chí Lê Duẩn chỉ rõ trong Đề cương: “Trong hoàn cảnh đó, nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống lại Mỹ – Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không có con đường nào khác”.

Là một nhà lý luận lớn của Đảng, tư duy lý luận của đồng chí Lê Duẩn luôn là sự đúc kết từ vận động của thực tiễn. Noi gương Bác Hồ, đồng chí Lê Duẩn cũng là người “có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn” Con người ấy “thường không trích dẫn những câu kinh điển”. Ông cũng “giải thích rằng thời điểm lịch sử đã khác trước, thì không được sao chép nguyên văn những gì có sẵn; điều cốt yếu là hiểu đúng tinh thần và biết vận dụng các nguyên lý sát với tình hình cụ thể” (3).

Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo, đấy là điều ông thường tâm niệm và nhắc nhở: chỉ lúc nào chúng ta độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tế của đất nước, từ lợi ích của dân tộc, lúc ấy chúng ta thắng lợi, lúc nào chúng ta lệ thuộc, giáo điều sao chép của người ta, lúc ấy cách mạng phải trả giá nặng nề. Bộ óc lớn ấy không ngừng vận động, luôn luôn bứt phá tìm tòi, đúc rút từ thực tế để cố đưa ra những vấn đề có ý nghĩa lý luận trong chỉ đạo thực tiễn, mặc dầu “với vị trí Tổng bí thư của mình, cũng không đột phá nổi độ dày của bảo thủ, giáo điều, đường mòn xơ cứng”, nhưng “qua thực tiễn xuyên suốt đủ chứng tỏ là người luôn tìm tòi sáng tạo và tư duy luôn đổi mới” (4).

Năm nay, kỷ niệm 61 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 vào dịp nửa thế kỷ “Đề cương Cách mạng miền Nam” ra đời, càng làm nổi bật bài học lớn “chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo”. Thời gian đang ủng hộ chúng ta vì thời gian cũng là vị quan tòa công minh nhất của lịch sử. Cuộc sống đang ngày càng chứng minh rằng, chỉ tư tưởng lý luận nào gắn với thực tiễn, nảy sinh từ thực tiễn, mới có sức nặng của chân lý. Thực tiễn có sức thuyết phục hơn mọi giáo điều khô cứng đã bị cuộc sống vượt qua. Đó cũng là chân lý của cuộc sống, vì chân lý là cụ thể.

Chú thích:

1, 2 Lê Duẩn. “Cách mạng XHCN ở Việt Nam. NXBST Hà Nội. 1976, Tập 3, tr.649 và tập 1. tr.168.
3. Phạm Văn Đồng. “Hồ Chí Minh. Quá khứ. Hiện tại và Tương lai” NXBST 1991 tr.29.
4. Võ Văn Kiệt. “Kỷ niệm 50 năm Đề cương CMMN” Báo Sài Gòn Giải phóng, 14-8-2006.

TƯƠNG LAI
http://www.sggp.org.vn/thoisu/2006/8/58346/
Đăng nhập để trả lời
0
Trí thức Sài Gòn và tổ chức “Thanh niên Tiền phong” trong cuộc khởi nghĩa (Ghi theo lời kể của GS Trần Văn Giàu vào chiều 24-8-2006)

SGGP:: Cập nhật ngày 24/08/2006 lúc 22:58'(GMT+7)

Khởi nghĩa nổ ra ở Sài Gòn tháng 8-1945 có công sức của thợ thuyền, phụ nữ tiền phong, học sinh-sinh viên, nông dân ngoại thành và rất nhiều trí thức, thanh niên tiền phong.

Hồi đó, các trí thức như: bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, kỹ sư Ngô Tấn Nhơn… đã góp công lớn trong việc tập hợp giới trẻ vào tổ chức Thanh niên tiền phong. Không phải vài ngàn, vài chục ngàn mà hàng trăm ngàn thanh niên, tuy không phải bộ đội nhưng được tổ chức rất chặt chẽ, quy củ… Tất cả họ đều mặc đồng phục, quần soóc, áo sơ mi, nón rơm, hễ ra đường trên 2 người là đi thành hàng. Khi gặp nhau tất cả cùng giơ tay trái lên chào, nếu nhóm bên này hô “thanh niên” thì nhóm bên kia hô “tiến lên”. Đa số được trang bị gậy tầm vông.

Do tổ chức Thanh niên tiền phong có sự tham gia của hầu hết bác sĩ, kỹ sư nổi tiếng đương thời nên rất có uy tín với các tầng lớp nhân dân. Đây cũng là nơi tập hợp được số đông thanh niên. Họ tập hợp sinh hoạt ở bất cứ đâu, từ trong các khu phố, các sân vận động và có những lúc vài chục ngàn thanh niên tập hợp tại sân Tao Đàn.

Tuy tập hợp được đông đảo thanh niên nhưng tất cả đều diễn ra công khai vì các khẩu hiệu đều chưa mang màu sắc chính trị do đó không bị chính quyền sở tại gây khó dễ. Tuy nhiên, ngấm ngầm bên trong, các trí thức Sài Gòn tuyên truyền tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm… Chính vì biết phối hợp, tận dụng các hoạt động công khai và bí mật mà tổ chức Thanh niên tiền phong đã trở thành lực lượng hùng hậu cho ta. Không chỉ dừng lại ở Sài Gòn, các hoạt động của tổ chức Thanh niên tiền phong ngày càng lan rộng sang các khu vực lân cận.

Thực ra ban đầu đây là tổ chức thanh niên do Nhật mời bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng ra làm thủ lĩnh. Nhưng chúng không ngờ Phạm Ngọc Thạch là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương và theo chỉ thị của Đảng, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã đồng ý để công khai sử dụng tổ chức này vào các hoạt động yêu nước. Và bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cùng những trí thức khác đã tổ chức khai thác tốt tổ chức Thanh niên tiền phong. Đến tháng 7, Nhật biết thực chất của Thanh niên tiền phong nhưng đã trễ. Cùng với phong trào vũ trang nhân dân, Thanh niên tiền phong đã góp phần công sức cho cách mạng thắng lợi ngày 25-8 tại Sài Gòn và các khu vực khác.

CHIẾN DŨNG ghi

Đăng nhập để trả lời
0
Bài viết quá tuyệt.
Đăng nhập để trả lời
0
Những mưu đồ và toan tính của các nước lớn đối với Việt Nam thời kỳ cách mạng Tháng Tám

Ngày 15/8/2006. Cập nhật lúc 14h 41'


(ĐCSVN)- Tháng 8-1945, trước những biến động nhanh chóng và mạnh mẽ của tình hình thế giới cũng như tình hình trong nước, Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Và chỉ trong chưa đầy một tháng, cuộc Cách mạng Tháng Tám của nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước toàn dân và thế giới về sự thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Có thể nói, một trong những nguyên nhân quyết định cho thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám là do Đảng ta đã biết chớp lấy thời cơ “nghìn năm có một”, kịp thời phát động và lãnh đạo nhân dân cả nước khởi nghĩa. Đây thực sự là một cuộc chạy đua với thời gian giữa một bên là cả một dân tộc đang rên siết trong vòng nô lệ và nuôi khát vọng mãnh liệt đứng lên giành độc lập, tự do với một bên là các cường quốc quốc tế với những toan tính, mưu đồ vì lợi ích riêng nhằm duy trì và áp đặt một lần nữa quyền thống trị của họ lên dân tộc Việt Nam trong bối cảnh quốc tế đang diễn ra những thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc ngay khi Chiến tranh thế giới thứ Hai vừa kết thúc. Để có thể hiểu rõ hơn, chúng ta hãy cùng xem xét động thái của các cường quốc đối với Đông Dương và Việt Nam trong thời kỳ này.

* Mỹ đối với vấn đề Đông Dương và Việt Nam

Có thể nói, trước Chiến tranh thế giới thứ Hai, Chính phủ Mỹ ít quan tâm đến Đông Dương. Nhưng sau khi chiến tranh bùng nổ, đặc biệt việc Nhật xâm lược Đông Dương (9-1940) và sau đó xâm lược một loạt các nước ở Đông Nam Á, Mỹ rất lo ngại và chính sách của Mỹ đối với Đông Dương, trong đó có Việt Nam, bắt đầu thay đổi. Từ tháng 3-1941, Đông Dương trở thành chủ đề chính trong nhiều cuộc nói chuyện giữa Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Coóc-đen Hun-lơ (Cordell Hull) và đại sứ Nhật Bản tại Mỹ Nômura. Việc quân đội Nhật vào Đông Dương và sự thoả hiệp của Pháp đã làm cho Tổng thống Mỹ F.D. Ru-dơ-ven hết sức lo ngại vì điều đó đe dọa trực tiếp đến quyền lợi của Mỹ và tạo cho Nhật Bản một căn cứ để mở rộng xâm lược ra khắp Đông Nam Á. Tổng thống Ru-dơ-ven và Ngoại trưởng Mỹ Coóc-đen Hun-lơ đã chỉ thị cho Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ lúc đó là Xum-mơ Oen (Summer Welle) thể hiện quan điểm của Mỹ với đại sứ Nhật Nomura, ngày 24-7-1941: "Phải làm cho rõ sự thực là Nhật chiếm đóng Đông Dương có nghĩa là một bước tiến quan trọng để kiểm soát vùng biển phía Nam, trong đó có luồng thương mại quan trọng nhất của Mỹ về các sản phẩm cao su, thiếc, và các sản phẩm khác".

Mỹ cũng đề nghị với Nhật trung lập hóa Đông Dương theo kiểu Thụy Sĩ và bước đầu có ý định gạt Pháp ra khỏi Đông Dương. Ngày 24-7-1941, Tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven đề nghị: "Không một cường quốc nào được tham gia bất cứ hành động quân sự nào để kiểm soát Đông Dương và cũng không chia sẻ cho nước Pháp tự do của Đờ Gôn". Quan điểm này đã được Chính phủ Mỹ theo đuổi trong suốt cả năm 1941 và thậm chí Mỹ còn xúc tiến và hy vọng ký được một Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với nước Nhật phát xít.

Sau khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ với việc quân đội Nhật Bản tấn công hạm đội Mỹ ở cảng Trân châu (Pearl Harbour) ngày 7-12-1941, Mỹ mới thực sự tham chiến trong phe đồng minh chống phe phát xít Đức - Ý - Nhật, thái độ của Mỹ trở nên kiên quyết hơn với kế hoạch của Tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven về chế độ quản trị quốc tế (International Trusteeship) nhằm phá thế độc quyền của Anh và Pháp ở Đông Nam Á, trong đó có Đông Dương.

Là một chính khách tư sản sâu sắc, tỉnh táo và thực dụng, Ru-dơ-ven sớm hiểu rằng chiến tranh sẽ làm nổ ra một cuộc nổi dậy qui mô toàn thế giới chống chủ nghĩa thực dân châu Âu, trong đó có Đông Dương. Các nước đế quốc nếu muốn duy trì quyền lợi của mình thì không thể áp đặt một chế độ thực dân như thời kỳ trước chiến tranh được mà phải có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình. Chế độ quản trị của Ru-dơ-ven về thực chất chính là sự áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ vào các nước vốn là thuộc địa của các nước thực dân kiểu cũ như Anh và Pháp. Hơn nữa về phương diện cá nhân, Ru-dơ-ven có một thái độ không mấy thiện cảm với Pháp khi ông nhận xét về quá trình thực dân Pháp thống trị Đông Dương: “Nước Pháp đã cai trị nước này gần một trăm năm, 30 triệu dân ở đây đã sống khổ sở hơn trước...người Đông Dương có quyền được hưởng những gì tốt hơn”. Thậm chí trong một lần nói chuyện với Xta-lin tại Hội nghị Têhêran (tháng 11-1943), Ru-dơ-ven đã mỉa mai nói rằng: “Người cầm quyền Pháp sẽ không được hưởng bất cứ quyền lợi nào của hòa bình sau này, nếu ta nhìn vào sự hợp tác tội lỗi của họ với Đức... Nước Pháp phải nhiều năm lao động mới khôi phục lại được, không phải chỉ Chính phủ Pháp mà cả người Pháp nói chung nữa, điều cần thiết trước hết đối với họ là phải trở thành người dân lương thiện đã”.

Mặc dầu biết Anh không tán thành hình thức quản trị quốc tế, Tổng thống Ru-dơ-ven đã gây áp lực với Anh, tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và không cần hỏi ý kiến Pháp. Tháng 3-1943, Ru-dơ-ven đã chính thức đề nghị với Ăng-tô-ny I-đơn (Anthony Eden), Bộ trưởng Ngoại giao Anh, là sau chiến tranh thay vào việc trao trả lại Đông Dương cho Pháp thì nên đặt Đông Dương dưới một sự quản trị quốc tế và chuẩn bị cho nền độc lập của Đông Dương sau này. Ngoại trưởng Anh đã trả lời: “Tôi nghĩ vấn đề này là một đòn nặng cho Pháp, Anh không thể chấp nhận việc giảm nước Pháp xuống thành một cường quốc loại hai”. Mặc dù vậy, Ru-dơ-ven vẫn tiếp tục trao đổi ý kiến đó với Tưởng Giới Thạch ở Hội nghị Cai rô và với Xta-lin ở Hội nghị Têhêran tháng 11-1943. Trừ Thủ tướng Anh Sớc-sin (Churchill), cả Xta-lin và Ru-dơ-ven đều nhất trí trong chính sách đối với Đông Dương. Sau khi Xta-lin nêu rõ lập trường của Liên Xô không muốn thấy Đồng minh đổ máu để giải phóng Đông Dương rồi sau đó Pháp sẽ tiếp nhận, tái lập ở đấy chế độ thuộc địa thì Ru-dơ-ven đã hoàn toàn đồng ý như vậy. Tổng thống Mỹ gợi ý “Có lẽ phải chỉ định ba hoặc bốn nước đứng ra bảo trợ cho Đông Dương và chuẩn bị cho các dân tộc Đông Dương có đủ điều kiện tự trị sau 30 hoặc 40 năm nữa”.

Mặc dù bị Chính phủ Anh và Pháp phản đối quyết liệt và ngay cả nhiều quan chức trong bộ máy chính quyền Mỹ không đồng tình. Tổng thống Ru-dơ-ven vẫn kiên trì quan điểm của mình. Sau Hội nghị Têhêran, Thủ tướng Anh Sớc-sin đã chỉ thị cho Ha-li-phac (Lord Halifax) đại sứ Anh tại Mỹ yêu cầu sự xác nhận của Bộ Ngoại giao Mỹ về vấn đề này. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Coóc-đen Hun-lơ (Cordell Hull) báo cáo với Ru-dơ-ven và đề nghị nên trả lại Đông Dương cho Pháp với điều kiện là Pháp để cho Đông Dương được tự chủ (Self Government). Ru-dơ-ven đã trả lời dứt khoát và rõ ràng trong Giác thư ngày 24-1-1944: “Tôi đã gặp đại sứ Anh Lo Ha-li-phac và đã nói thẳng rằng : đúng là hơn một năm nay, tôi có ý kiến là Đông Dương không thể trả lại cho Pháp nhưng có thể đặt dưới chế độ quản trị quốc tế... Tôi không có lý do gì để chia sẻ với Bộ Ngoại giao Anh được. Chỉ có một lý do mà Anh chống lại việc quản trị quốc tế là vì Anh sợ ảnh hưởng đến thuộc địa của họ”.

Tiếp đó, ngày 17-2-1944, khi trả lời những vấn đề do Bộ Ngoại giao nêu lên về thái độ của Chính phủ Mỹ đối với các hoạt động quân sự của Pháp ở Đông Dương, Ru-dơ-ven đã nói với Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ rằng, bất kỳ các đội quân nào của Pháp cũng sẽ không được sử dụng trong các kế hoạch tác chiến ở Đông Dương và nhấn mạnh rằng các hoạt động quân sự ở Đông Dương sẽ được quân Anh, Mỹ thực hiện và bước tiếp theo là sẽ lập một Ủy ban quản trị quốc tế đối với các thuộc địa của Pháp.

Gần đến giai đoạn cuối của chiến tranh, Tổng thống Ru-dơ-ven càng quan tâm đến vấn đề Đông Dương. Ông thường nhắc đến chế độ quản trị quốc tế đối với Đông Dương sau chiến tranh và chống lại việc Pháp dùng vũ lực tái chiếm Đông Dương, lập lại chế độ thực dân. Đến Hội nghị Yanta (2-1945), Ru-dơ-ven đã thể hiện thái độ dứt khoát của mình về chính sách đối với Đông Dương, ông chống lại ý đồ mời Pháp tham dự Hội nghị này và đưa ra đề nghị thành lập Hội đồng quản trị ở Đông Dương gồm một đại diện của Pháp, một hoặc hai đại diện của Đông Dương, một đại diện Phi-líp-pin, một đại diện Trung Quốc, một đại diện Liên Xô và một đại diện của Mỹ. Nhưng tất cả ý đồ của Ru-dơ-ven đều không dẫn tới một quyết định nào do Anh kiên quyết chống lại và “coi đó như là một ý định nhằm vào cả thuộc địa của Anh”. Ru-dơ-ven phải đối phó với sự chống đối từ nhiều phía, cả ở trong và ngoài nước. Để thoả hiệp với Anh và Pháp nhằm tập trung vào những vấn đề khác, từ đó trở đi Ru-dơ-ven không đặt lại vấn đề quản trị quốc tế đối với Đông Dương nữa. Cho đến trước khi chết (12-4-1945), Tổng thống Mỹ vẫn không có một quyết định dứt khoát nào về vấn đề này.

Sau khi Ru-dơ-ven chết, người kế nhiệm ông là Tổng thống Tru-man, trước những biến động lớn ở nước Đức, Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, và đặc biệt là để đối phó với cái gọi là “nguy cơ Nga” đã dần dần ủng hộ Pháp quay lại chiếm đóng Đông Dương. Trong chuyến viếng thăm nước Mỹ (từ 22 đến 25-8-1945), Đờ Gôn đã nhận được sự khẳng định của Tru-man: “Về Đông Dương, tôi xác nhận là Chính phủ Mỹ sẽ không làm gì để cản trở sự trở lại của nước Pháp”. Bốn ngày sau, 29-8-1945 Tống Mỹ Linh, vợ Tưởng Giới Thạch thăm Mỹ, khi gặp Tru-man đã hỏi về chính sách của Mỹ đối với Đông Dương sau khi nhắc lại ý định của Ru-dơ-ven về vấn đề này và nhận được câu trả lời dứt khoát của Tổng thống Mỹ: “Không có vấn đề quản trị quốc tế cho Đông Dương nữa”. Ngày 5-10-1945, khi tướng Pháp
Lơ-cléc cho quân viễn chinh Pháp đổ bộ lên Sài Gòn, Quốc hội Mỹ đã gửi cho đại sứ Mỹ ở Trùng Khánh (Trung Quốc) bức điện sau đây: “Hoa Kỳ không hề có ý định chống lại việc khôi phục sự thống trị của Pháp ở Đông Dương và không có một quan điểm chính thức nào của Chính phủ Mỹ động đến, dù là gián tiếp, chủ quyền của Pháp ở Đông Dương” . Cũng trong tháng 10-1945, khi gặp tướng Lơ-cléc, đô đốc Anh Mao-bét-tơn (Mounbatten) đã nói rằng: “Với cái chết của Ru-dơ-ven, Pháp có thể quay trở lại Đông Dương, vấn đề quản trị quốc tế cho Đông Dương đã trở thành vô nghĩa” .

* Chính quyền Tưởng Giới Thạch đối với vấn đề Đông Dương và Việt Nam
Mặc dù tuyên bố không có tham vọng về lãnh thổ với Việt Nam nhưng thực chất vấn đề Việt Nam luôn được chính quyền Tưởng Giới Thạch coi là một món hàng, một điều kiện đặc biệt để trao đổi và mặc cả, giành quyền lợi với các nước lớn, nhất là Pháp.

Giữa chính quyền Tưởng Giới Thạch và Pháp đã tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Đó là các tô giới, nhượng địa ở Thiên Tân, Thượng Hải, Vũ Hán, Sa Điện, Quảng Châu Loan, Côn Minh... mà Pháp đã chiếm của Trung Quốc từ những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Đặc biệt là vấn đề kiểm soát tuyến đường xe lửa Vân Nam, được Pháp xây dựng từ năm 1904 đi từ Cảng Hải Phòng của Việt Nam lên Hà Nội - Lào Cai - Côn Minh (Trung Quốc). Đây là con đường huyết mạch cực kỳ quan trọng đối với các tỉnh miền Nam Trung Quốc, nhất là tỉnh Vân Nam. Trước khi quân Nhật vào Đông Dương, từ năm 1938 - 1940 Pháp đã cho Tưởng sử dụng tuyến đường này để vận chuyển hàng viện trợ quân sự, bán than... Bên cạnh đó, các vấn đề khác cũng không kém phần quan trọng như vấn đề quyền lợi của 50 vạn Hoa kiều sống ở Đông Dương, vấn đề quyền lãnh sự tài phán của Pháp trên đất Trung Quốc...

Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ Hai, với sự ủng hộ của Mỹ, thế lực và tiếng nói của Chính phủ Tưởng Giới Thạch ngày càng được khẳng định và củng cố trên trường quốc tế. Chính phủ Tưởng đã đạt được vị trí là một trong năm cường quốc (đứng trên cả Pháp). Toàn bộ các hoạt động quân sự ở chiến trường Trung Quốc và Đông Dương được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đích thân Tưởng Giới Thạch và tướng Mỹ Oe-đơ-mây-ơ (Wedermeyer). Tại Hội nghị Cai-rô (tháng11-1943), Tổng thống Mỹ Ru-dơ-ven đã chính thức giao chiến trường Đông Dương cho Tưởng. Để tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô về quyết định này, Ru-dơ-ven đã nói với Xta-lin rằng: “Tưởng Giới Thạch tỏ ý không muốn nắm giữ Đông Dương với lý do là người Việt Nam không phải là người Trung Hoa, không thể đồng hóa được”. Tưởng cũng luôn luôn tán đồng và ủng hộ kế hoạch quản trị quốc tế của Ru-dơ-ven vì kế hoạch đó hoàn toàn phù hợp với mưu đồ và tham vọng của Tưởng đối với Đông Dương trong việc tranh giành quyền lợi với nước Pháp. Mỹ - Tưởng đã hạn chế và vô hiệu hóa các hoạt động của phái bộ quân sự Pháp ở Trung Quốc cũng như các hoạt động của Phái đoàn 5 (Mission 5) của Xanh-tơ-ny ở Côn Minh. Thậm chí sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), đạo quân bại trận của tướng Pháp Alessandri chạy từ Đông Dương sang Vân Nam đã bị Mỹ -Tưởng quản chế tại một nơi và cấm mọi hoạt động trở lại Đông Dương. Ngày 20-3-1945, tướng Sê-nôn, chỉ huy quân đoàn không quân 14 của Mỹ đóng ở Trung Quốc đã nhận được chỉ thị từ Bộ chiến tranh cấm ông không được sử dụng máy bay để cung cấp vũ khí và đạn dược cho tàn quân Pháp còn sót lại ở Đông Dương sau cuộc đảo chính.

Để thực hiện tham vọng của mình, ngay từ rất sớm, Tưởng đã chỉ đạo xúc tiến chuẩn bị một kế hoạch toàn diện về quân sự và chính trị đối với Việt Nam. Về quân sự, kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” đã được Tưởng giao cho tướng Trương Phát Khuê - Tư lệnh đệ tứ chiến khu của Tưởng ở vùng Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) và tướng Tiêu Văn, phụ trách phòng chỉ đạo Việt Nam phụ trách. Nội dung của kế hoạch này là nhằm đưa lực lượng quân đội chính quy của Tưởng vào Việt Nam, phối hợp với hoạt động của bọn tay sai mà Chính phủ Trùng Khánh đã nuôi dưỡng từ lâu, như Hoàng Lượng, Đặng Văn Ý, Ngô Văn Hợp, Nông Quốc Long, Nguyễn Hữu Thanh (là những phần tử thuộc Đảng Phục quốc thân Nhật bị Pháp và Nhật đàn áp chạy sang Liễu Châu, Trung Quốc từ cuối năm 1940) được tướng Trương Phát Khuê cung cấp lương thực, tiền bạc và chuẩn bị đưa về Việt Nam để đón quân Tưởng sang. Về mặt chính trị, Trương Phát Khuê và Tiêu Văn đã tích cực xây dựng lực lượng tay sai từ những người Việt Nam lưu vong phản động thuộc các tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội như Trương Bội Công, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần để đưa về Việt Nam, nhằm thành lập một chính quyền tay sai thân Tưởng, chống cộng, chống phá cách mạng Việt Nam.

Nhưng Tưởng cũng hiểu rằng, muốn thực hiện được tham vọng của mình, không thể không có sự bàn bạc và thoả thuận với Pháp. Chính vì vậy, mà khi Chính phủ lâm thời của nước cộng hòa Pháp được thành lập do Đờ Gôn đứng đầu, Tưởng đã công nhận và bày tỏ thái độ hợp tác. Tống Tử Văn, Bộ trưởng ngoại giao của Tưởng đã gửi công hàm cho Đờ Gôn để “bày tỏ tình hữu nghị và hứa sẵn sàng giải quyết trên tinh thần thân ái tất cả các vấn đề liên quan giữa Trung Quốc và Pháp. Ngày 10-10-1944, Tưởng Giới Thạch đã gặp đại sứ Pháp Pếch-cốp (Pechkoff) ở Trùng Khánh và bày tỏ quan điểm của mình: “Tôi xin khẳng định lại một lần nữa với ngài rằng bất luận đối với Đông Dương hoặc lãnh thổ của Đông Dương, chúng tôi đều không có ý đồ gì...Nếu như chúng tôi có thể giúp quý quốc xây dựng chính quyền nước Pháp trên mảnh đất thuộc địa này thì chúng tôi rất vui lòng”. Thực chất, đây là sự mặc cả bước đầu của Tưởng Giới Thạch đối với Pháp. Nếu Pháp muốn giành lại những đặc quyền và hiện diện trở lại Đông Dương thì phải đáp ứng những yêu cầu về kinh tế và chính trị của Tưởng. Mục đích của Tưởng trong việc giúp Pháp trở lại Đông Dương không những là để bảo vệ những quyền lợi của Tưởng ở trong nước và ở Đông Dương, mà còn tạo điều kiện cho Chính phủ Trùng Khánh tập trung sức đối phó với Đảng cộng sản Trung Quốc. Hơn nữa Tưởng Giới Thạch không bao giờ muốn có một chính quyền cộng sản ở ngay sát biên giới phía nam Trung Quốc, có liên hệ mật thiết với Mao Trạch Đông.

Hội nghị Pốt-xđam (7-1945) quyết định để cho Trung Quốc là người duy nhất được quyền đứng ra tiếp nhận sự đầu hàng và giải giáp quân đội Nhật ở Bắc vĩ tuyến 16 ở Đông Dương chính là cơ hội cực kỳ thuận lợi để Tưởng thực hiện âm mưu đó. Tưởng cũng nhanh chóng nhận thức được điều thuận lợi ở vai trò cường quốc quốc tế sẽ mang lại cho Trung Quốc trong việc chiếm đóng Đông Dương - đó chính là việc ép Pháp phải chấp nhận các điều kiện của Tưởng để giải quyết các xung đột Trung - Pháp trước khi Pháp muốn quay trở lại thuộc địa cũ của mình. Tưởng đã triệu tập Hội nghị quân sự bàn việc tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật ở Trung Quốc, Bắc Đông Dương. Hà Ứng Khâm, Bộ trưởng Quốc phòng, chủ trì Hội nghị với sự tham dự của các cố vấn Mỹ. Thay cho Trương Phát Khuê như kế hoạch trước đây, Lư Hán, viên tướng thuộc phái quân phiệt Vân Nam đã được chỉ định làm đại diện cho Thống chế Tưởng Giới Thạch để tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật ở miền Bắc Đông Dương. Tưởng Giới Thạch cũng đã đề ra 14 nguyên tắc chỉ đạo quân đội Quốc dân Đảng Trung Hoa vào Bắc Đông Dương giải giáp quân đội Nhật, nội dung chủ yếu là: Liên hệ chặt chẽ với Mỹ và Pháp, thương lượng với Pháp về cơ sở giao thông, công nghiệp vận tải đường sắt và các cửa biển, giữ thái độ trung lập trong quan hệ Pháp và Việt Nam...

Những quyết định trên của chính quyền Tưởng nhằm mục đích : Thứ nhất, tập trung được lực lượng của Trương Phát Khuê cùng với các lực lượng tinh nhuệ khác vào việc chiếm giữ Quảng Châu và các vị trí hiểm yếu nhằm ngăn chặn hoạt động của lực lượng cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Thứ hai, với việc đưa tay chân thân tín của Long Vân vào Việt Nam (Lư Hán là cháu của Long Vân) sẽ tạo điều kiện cho Tưởng thanh trừng tướng Long Vân, tổng đốc Vân Nam đã nhiều lần thách thức và chống đối lại quyền lực của Chính phủ Trung ương Trùng Khánh. Thứ ba, buộc Pháp phải chấp nhận các điều khoản về kinh tế và chính trị của Tưởng. Thứ tư, thực hiện những vụ “trấn lột về chính trị”, bòn rút Việt Nam càng nhiều càng tốt. Và bao trùm lên tất cả là mục đích “diệt Cộng, cầm Hồ”, nhằm thành lập một chính quyền tay sai thân Tưởng ở Việt Nam.

* Pháp đối với Đông Dương và Việt Nam

Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, về mặt đối ngoại, thế và lực của nước Pháp bị suy yếu nghiêm trọng, khiến cho vị trí của nước Pháp bị sa sút rõ rệt trên trường quốc tế. Còn ở trong nước, Chính phủ của Đờ Gôn cũng phải đối mặt với những khó khăn và hậu quả chiến tranh nặng nề. Vậy mà ngay sau khi lên nắm chính quyền, chính phủ Đờ Gôn vội vàng phái quân viễn chinh sang Đông Dương để “khôi phục” lại thuộc địa cũ của mình.

Mưu đồ tái thiết lập sự thống trị của Pháp ở Đông Dương đã có từ rất sớm. Mặc dù là một nước bị phát xít Đức chiếm đóng từ tháng 6-1940 nhưng ở nước ngoài, tướng Đờ Gôn - người đứng đầu Uỷ ban Giải phóng nước Pháp luôn tuyên bố sẽ khôi phục toàn bộ lãnh thổ Pháp cùng các thuộc địa của Pháp và đã ráo riết cho xúc tiến việc tái lập lại quyền thống trị của Pháp ở Đông Dương. Tháng 6-1943 tại Angiêri, Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp được thành lập, công cuộc chuẩn bị càng được tiến hành khẩn trương. Một đường dây liên lạc bí mật đã được thiết lập với chính quyền Pháp ở Hà Nội. Ngày 21-7-1943, Đờ Gôn ra chỉ thị có tính chất định hướng cho hoạt động này: “Một cuộc vận động quân sự bên ngoài chính quốc nhưng được xếp ưu tiên trước mọi cuộc khác, đó là việc giải phóng Đông Dương”.

Ngày 8-12-1943, Đờ Gôn ra một bản tuyên bố về chính sách của Nước Pháp tự do đối với Đông Dương, khẳng định quyết tâm của Pháp sẽ “giải phóng” Đông Dương và bảo vệ những quyền lợi của Pháp ở bán đảo này. Với tuyên bố này, thực dân Pháp không chỉ nhằm giành lại một thuộc địa giàu có mà chúng buộc phải chia sẻ với phát xít Nhật từ tháng 9-1940, mà còn nhằm bảo vệ hệ thống thuộc địa rộng lớn của chúng đã bị lung lay và có nguy cơ tan rã khi nước Việt Nam giành được độc lập.

Để chuẩn bị cho việc thực hiện mưu đồ trên, từ tháng 8-1943, Đờ Gôn quyết định xây dựng dần một đạo quân viễn chinh cho Viễn Đông từ các đơn vị Pháp đóng tại Angiêri, Madagatxca và Xây lan, tướng Bledô (Blaizot) được chỉ định làm chỉ huy đạo quân này. Tiếp đó Phái đoàn quân sự Pháp đã được thành lập ở Trùng Khánh, Trung Quốc với đầy đủ các phương tiện thông tin liên lạc với hai mục tiêu hoạt động chính là vừa giúp đỡ Đồng minh tiến hành các hoạt động quân sự chống Nhật, vừa thông tin với nước Pháp Tự do về tình hình diễn biến ở Đông Dương.

Được sự giúp đỡ của Anh, Đờ Gôn cho tổ chức Phân đội Pháp nằm trong Lực lượng đặc biệt 136 của Bộ chỉ huy Đông Nam Á của Anh (South East Asia Command - SEAC) để hoạt động tình báo, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho quân đội Pháp trở lại Đông Dương. Đồng thời, Đờ Gôn cũng cho thực hiện việc bắt liên lạc với lực lượng Pháp kháng chiến ở Đông Dương “để tránh cho Pháp khỏi bị gạt ra rìa, tụt hậu, khỏi lỡ thời cơ may mắn khi quân đồng minh đổ bộ vào Đông Dương”. Ngày 6-7-1944 Phân đội Pháp cho Đờ Lăng-glát (De Langlade) nhảy dù xuống Lạng Sơn rồi về Hà Nội bí mật gặp tướng Moóc-đăng (Mordant), Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đưa lệnh của Đờ Gôn và bản kế hoạch chống Nhật. Ngày 2-9-1944 Đờ Gôn chỉ định Tướng Moóc-đăng làm đại diện của Đờ Gôn tại Đông Dương và ra thỉ thị thành lập Hội đồng Đông Dương (Conseil de L’Indochine), trong đó buộc toàn quyền Đông Dương là đô đốc Đờ-cu phải hợp tác và chuẩn bị cho việc “trở lại” của quân đội Pháp. Cuối năm 1944, Đờ Gôn cho thành lập Ủy ban hành động giải phóng Đông Dương do Bộ trưởng bộ thuộc địa Rơnê Plêven làm Chủ tịch để hỗ trợ toàn diện cho Hội đồng Đông Dương của Moóc-đăng.

Sang đầu năm 1945 khi thấy Đông Dương có nguy cơ rơi hoàn toàn vào tay Nhật, Manaen, người đứng đầu cơ quan tình báo DGER (Direction Generale d’Etude et Recherche) đã quyết định điều Xanh-tơ-ny (Jean Sainteny) trở lại Đông Dương phụ trách phái đoàn 5 (Mission 5). Nhiệm vụ của Xanh-tơ-ny là chỉ huy các nhóm quân Pháp kháng chiến đang hoạt động lẻ tẻ ở dọc biên giới Việt - Trung, vùng Thượng Lào, vùng biển Đông Bắc Việt Nam (Quảng Ninh) để thu thập tin tức về hoạt động của quân đội Nhật ở Đông Dương, và theo dõi tình hình phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực này, nhất là ở Bắc Kỳ và Lào để giúp Đờ Gôn chuẩn bị kế hoạch tái chiếm Đông Dương.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) Đờ Gôn xúc tiến ráo riết về chính trị, quân sự cho việc trở lại của Pháp ở Đông Dương. Ngày 24-3-1945, Chính phủ lâm thời của Đờ Gôn ra bản tuyên bố Những điều kiện tổng quát của qui chế Đông Dương sẽ được hưởng với những nội dung chủ yếu là: Liên bang Đông Dương gồm 5 xứ (Bắc Kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai lao và Cao miên) sẽ nằm trong khối Liên hiệp Pháp, có một chính phủ Liên bang do một viên Toàn quyền người Pháp đứng đầu và đại diện cho quyền lợi của 5 xứ và của nước Pháp trong mọi quan hệ đối ngoại...

Đờ Gôn đã cho thiết lập một hệ thống thông tin liên lạc suốt từ Pari - Can-cút-ta - Côn Minh - Đông Dương và cử tướng Sabattier làm Tổng đại diện Chính phủ và Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương.

Để quay trở lại Đông Dương, việc quan trọng nhất lúc này đối với Pháp là phải gấp rút tập hợp một đạo quân viễn chinh và nhanh chóng đưa sang Đông Dương. Tháng 6-1945 nhiệm vụ này được Đờ Gôn giao cho tướng Lơ-cléc. Ngày 17-8-1945 Đờ Gôn triệu tập Ủy ban quốc phòng Pháp để thông qua Kế hoạch giải phóng Đông Dương với những nội dung chính như sau : Cử đô đốc Đác-giăng-li-ơ (D’Argenlieu) làm Cao ủy kiêm Tổng tư lệnh hải, lục, không quân Pháp ở Viễn Đông và tướng Lơ-cờ-léc (Leclec) làm tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Viễn Đông: Cấp tốc chuẩn bị lực lượng để có thể đưa sang Đông Dương làm ba đợt vào các tháng 9, 10 và 11-1945 (với số quân cần thiết dự tính vào khoảng 60.000 quân); Chính thức đổi tên Lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (FEFEO) thành “Đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn đông"(CEFEO).

Cùng với quyết định trên đây, Đờ Gôn còn gửi điện cho Xanh-tơ-ny ở Côn Minh và phái bộ Pháp ở Can-cút-ta yêu cầu nhanh chóng nắm lấy thời cơ hành động gấp bằng cách thả dù ngay các “quan cai trị” xuống một số vùng ở Bắc bộ, Đông Nam Bộ và Thượng Lào để kịp thời làm chủ tình hình. Ngày 22-8-1945 một máy bay không quân Hoàng gia Anh đã thả một nhóm nhân viên quân sự và dân sự xuống Tây Ninh, trong đó có đại tá Xêđin (Cédille) - người được chỉ định làm Ủy viên cộng hòa Pháp tại bộ. Cùng ngày, Metxme - Ủy viên cộng hòa Pháp tại Bắc kỳ cũng đã được thả xuống Tam Đảo, Bắc bộ.

Để tranh thủ sự ủng hộ của Anh và Mỹ, ngày 22-8-1945, Đờ Gôn thăm Mỹ và kết quả của chuyến thăm này là đã được Chính phủ Mỹ thừa nhận bằng văn bản cụ thể chủ quyền của nước Pháp ở Đông Dương. Với Anh, Đờ Gôn còn giành được sự ủng hộ đặc biệt : Một thỏa hiệp Pháp - Anh về nguyên tắc và cách thức khôi phục lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương.

Với sự giúp đỡ của quân Anh, ngày 24-8-1945 Lơ-cléc cùng Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp vạch ra một kế hoạch trở lại Đông Dương. Kế hoạch này đã được Ủy ban Đông Dương (cải tổ từ Ủy ban hành động giải phóng Đông Dương) thông qua với các nội dung: Dựa vào sự có mặt của quân đội Anh để xâm chiếm từ nam vĩ tuyến 16; Thả dù các nhân viên dân sự và lực lượng quân sự xuống vùng quân Tưởng kiểm soát ở miền Bắc Việt Nam; Duy trì và xác nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương; Từng bước giành lại những vùng do quân Tưởng kiểm soát.

Như vậy, cho đến tháng 8-1945 âm mưu và hành động nhằm tái lập nền thống trị của Pháp đã được chuẩn bị kỹ càng và đầy đủ, bất chấp cuộc Cách mạng tháng Tám đã bùng nổ và sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 2-9-1945.

Thái độ và giải pháp đối với Đông Dương sau chiến tranh phản ánh đường lối chính trị lỗi thời của giới thực dân Pháp mà Đờ Gôn là đại biểu, xuất phát từ nhận thức sai lầm. Họ đã không hiểu được rằng những biến đổi sâu sắc về chính trị trong chiến tranh thế giới Hai đã đặt đế quốc Pháp trước một xứ Đông Dương đã nhận thức được sức mạnh của chính mình và đang quyết tâm đứng lên giành độc lập, không thấy được rằng những nguyên tắc về chế độ thuộc địa mà người ta quan niệm trước đây đã không thể đứng vững trước những rung chuyển về mặt xã hội do cuộc Chiến tranh thế giới thứ Hai gây ra. Không nhận thức được một cách đúng đắn những thay đổi về thời cuộc, họ đã “tự tách mình ra khỏi những biến cố trên thế giới và cứ tưởng như mình đang sống vào năm 1939..”. Bản Tuyên bố 24-3-1945 đã ra đời trong sự nhận thức như vậy. Một bản tuyên bố mà nhà Sử học Philíp Đờvile nhận xét là “đã lỗi thời về mặt chính trị, không những nó chỉ lạc hậu vài tuần lễ mà đã lạc hậu chừng 15 năm rồi”; Còn cựu toàn quyền Đông Dương Anbe Xarô (Albert Sarraut) thì nhận xét rằng đó là một bản tuyên bố “không thông minh, vừa nói đến chính sách mới của Pháp về thuộc địa lại vừa xác nhận một cách ảo tưởng về chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, cứ như trên mảnh đất đó, từ năm 1939, không hề có sự thay đổi nào đã diễn ra”. Đối với Đờ Gôn, việc chiếm lại Đông Dương sau khi Nhật Bản đầu hàng là một việc dễ dàng, miễn là có các điều kiện: quân viễn chinh Pháp có mặt ở Đông Dương, quân Nhật về nước, quân ngoại quốc khác (Tưởng) rút đi. Ông ta không chú ý và không cần quan tâm tới một phong trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ đang diễn ra tại đây dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh.

Chính vì vậy mà ngày 25-7-1945 qua phái bộ OSS của Mỹ ở Côn Minh, lần đầu tiên Mặt trận Việt Minh gửi cho nhà chức trách Pháp bản đề nghị làm cơ sở cho việc thỏa thuận Việt - Pháp về tương lai của Việt Nam sau chiến tranh đã không được nhà cầm quyền Pháp trả lời.

Thậm chí, một tuần sau ngày nhân dân thủ đô Hà Nội khởi nghĩa giành chính quyền (19-8-1945), tướng Đờ Gôn gửi sang Đông Dương một bức điện vừa đầy vẻ trịch thượng, bề trên, vừa sặc mùi thực dân và lừa bịp: Mẫu quốc gửi đến những người con trong liên bang Đông Dương niềm hân hoan và lòng biết ơn... Những người con Đông Dương đã tỏ ra xứng đáng với một thực thể quốc gia rộng rãi hơn và tự do hơn, do thái độ của họ trước đây đối với quân thù, do lòng trung thành của họ đối với nước Pháp!...nước Pháp tuyên bố sẵn sàng thực hiện những điều cam kết, vì lợi ích to lớn của mọi người...

Chính những quan điểm thực dân như vậy sẽ trở thành vật chướng ngại không thể vượt qua trong cuộc bang giao Việt - Pháp 1945 - 1946.

Trong âm mưu và hành động chuẩn bị của Pháp có sự ủng hộ tích cực của Anh - một đế quốc có nhiều thuộc địa nhất. Thủ tướng Anh W.Sớc-sin luôn chống lại và phản đối kịch liệt chế độ quản trị quốc tế do Ru-dơ-ven đề xướng vì lo ngại rằng hình thức này sẽ được áp dụng ở các thuộc địa của Anh và không muốn Mỹ tranh giành quyền lợi và gây ảnh hưởng ở vùng Đông Nam Á, trong đó có Đông Dương, một vùng nằm trong ảnh hưởng truyền thống của Pháp và Anh. Mặt khác, việc Anh tích cực giúp Pháp trở lại tái chiếm Đông Dương còn nhằm mục đích góp phần dập tắt phong trào đòi độc lập ở đây vì sợ rằng phong trào đó sẽ ảnh hưởng đến các thuộc địa của Anh ở Đông Nam Á.

Với các mục đích trên, Anh từng bước giúp Pháp trở lại Đông Dương bằng cách giúp Pháp trang bị cho các đơn vị quân đội Pháp để đưa sang Viễn đông, cho đặt Phái bộ quân sự và tình báo Pháp nằm trong Bộ chỉ huy Đông Nam Á của Anh, luôn ủng hộ và bênh vực lập trường của Pháp về vấn đề thuộc địa trong các Hội nghị quốc tế... Ngày 24-8-1945 Anh ký với Pháp một thỏa hiệp về nguyên tắc và cách thức khôi phục lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Tiếp đó ngày 9-10-1945 Anh lại ký với Pháp hiệp định quy định về “quyền hành chính” của Pháp ở Việt Nam, bất chấp chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và ngày 1-1-1946, Anh ký tiếp với Pháp hiệp định “Nhường quyền tiếp phòng” cho Pháp ở vùng Nam Đông Dương. Có thể nói, khác với Mỹ và Tưởng, thực dân Anh chính là kẻ mở đường cho những hành động vũ lực của Pháp nhằm tái chiếm Việt Nam ngay sau cách mạng tháng Tám.

Như vậy, qua những điều đã trình bày ở trên, chúng ta càng thấy rõ hơn về những mưu đồ và toan tính của các nước lớn đối với Việt Nam thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Và qua đó, chúng ta cũng càng thấy rõ hơn bản lĩnh, trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chớp thời cơ, phát động và lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành khởi nghĩa thắng lợi với quyết tâm “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước Dân chủ Nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.



TS. Nguyễn Trọng Hậu
http://www.cpv.org.vn/details.asp?topic=77&subtopic=183&leader_topic=332&id=BT1580652882
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-29 03:17:10giấc mơ hạ trắng>
Tư tưởng Hồ Chí Minh- đỉnh cao của trí tuệ, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam

Ngày 24/8/2006. Cập nhật lúc 10h 22'


(ĐCSVN) - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.….Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”.

Thực tiễn của cách mạng nước ta trong hơn 75 năm qua đã cho thấy tính đúng đắn sáng tạo trong tư tưởng của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự kết hợp tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Có thể tự hào rằng dân tộc Việt Nam đã may mắn có được một Hồ Chí Minh và nhờ Người mà nhân dân các dân tộc Việt Nam đã được trưởng thành, mở tầm nhìn ra năm châu, bốn biển và có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay.

Cũng có thể nói, trên bất cứ lĩnh vực nào của cuộc sống của người dân Việt Nam ngày hôm nay, chúng ta đều tìm thấy những tinh hoa tư tưởng cốt lõi của Người, và với sự chỉ bảo của Người, chúng ta đã giải quyết thành công nhiều vấn đề của chính cuộc sống đương đại. Như thế, tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ là những ý tưởng hết sức đẹp đẽ để đem ra trưng bày, mà tư tưởng của Người thực sự đang toả sáng, có ý nghĩa và sức mạnh hướng dẫn hành động hiện hữu vô cùng to lớn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam. Đây không phải là một sự tôn sùng quá mức với Người, vì thực sự những giá trị vật chất và tinh thần từ tư tưởng này đem lại quả vô cùng lớn, được bạn bè thế giới khẳng định, còn với kẻ thù, cho dù có những kẻ trực tiếp đối nghịch với ta, không muốn ủng hộ cách mạng Việt Nam cũng buộc phải thừa nhận và ca ngợi.

Điểm nổi bật trong tư tưởng của Người, đó là chân lý nổi tiếng của thời đại do Người đề xướng-Không có gì quý hơn độc lập tự do. Câu nói bất hủ ấy đã xuất hiện đúng vào thời điểm căng thẳng khó khăn nhất của sự nghiệp cách mạng của cả nước. Tên đầu sỏ của chủ nghĩa đế quốc ngang nhiên tuyên bố dã tâm muốn đưa đất nước Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá bằng sức mạnh bom đạn của máy bay ném bom chiến lược B52 của chúng. Thì đây, Hồ Chí Minh đã tỏ rõ khí phách anh hùng của dân tộc mình - một sự đối trọi trực tiếp, quyết liệt. Hiếm có một thủ lĩnh quốc gia nào lúc đó dám làm. Người lớn tiếng cảnh cáo chúng: “Giôn sơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội của chúng càng thêm nặng”, và Người, vì sự sống còn và danh dự của cả một dân tộc đã thách thức lại sự ngạo mạn của tên đế quốc đầu sỏ, một sự thách thức đầy bản lĩnh hào hùng trên tư thế của người sẽ giành chiến thắng cuối cùng. Người tuyên bố tiếp: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Tư tưởng này của Người đã trở thành nổi tiếng, được các nước trong phong trào không liên kết, các nước đang tích cực đấu tranh cho độc lập, tự do và quyền tự quyết của dân tộc mình hưởng ứng, trở thành sức mạnh cố kết phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới trong suốt nhiều thập kỷ sau đó.

Hồ Chí Minh là người đề xuất tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng, độc lập dân tộc đòi hỏi trước hết phải bảo đảm cho dân tộc đó quyền tự quyết dân tộc, quyền lựa chọn chế độ chính trị, lựa chọn con đường và mô hình phát triển, độc lập cả về chính trị, kinh tế, văn hoá. Độc lập dân tộc đòi hỏi phải xoá bỏ tình trạng áp bức, người bóc lột người, tình trạng nô dịch của một dân tộc này đối với một dân tộc khác về chính trị, kinh tế và tinh thần… và để có thể làm được điều này, sẽ không có ai khác ngoài chủ nghĩa xã hội.

Để thực hành cách mạng thắng lợi, Người nêu ra chân lý “Phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”, đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong sự gắn bó chặt chẽ với cách mạng vô sản thế giới. Người viết: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mạng trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Chính nhờ tư tưởng này mà mặc dầu cách mạng nước ta gặp vô vàn khó khăn, có lúc tưởng chừng như không thể vượt qua nhưng chúng ta đã tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè năm châu, bốn biển và chúng ta đã giành được thắng lợi. Những hành động anh hùng của Ray mông điêng và Hăng-ri Mác-tanh là một minh chứng. Những lời đáp của các chiến sĩ du kích Vênêduyêla khi anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi của chúng ta bị bắt đã góp phần khẳng định cho tính đúng đắn của luận điểm tư tưởng này. Không có sự giúp đỡ chí tình tận nghĩa của bạn bè đồng chí trong phong trào cộng sản và công nhân thế giới thì làm sao chúng ta có thể giành được thắng lợi to lớn như ngày hôm nay. Không phải ngẫu nhiên đế quốc Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ hung hãn bậc nhất trên thế giới phải chịu ngồi vào bàn đàm phán và phải chịu thất bại trước sức mạnh của dân tộc Việt Nam nếu như không có sức mạnh của các dân tộc chính nghĩa và yêu chuộng hoà bình trên thế giới ủng hộ.

Tư tưởng đoàn kết, đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tư tưởng nổi bật mà nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã biết tập hợp được lực lượng xung quanh Đảng, xung quanh chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa dân tộc ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Người quan niệm nhân dân là nguồn gốc của mọi sức mạnh. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng ta và Bác Hồ xây dựng nên và trực tiếp lãnh đạo.

Ngay từ khi Đảng ta ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân tộc ta đã biết chủ động đoàn kết lại thành một khối vững chắc đồng lòng đứng lên chống giặc ngoại xâm. Những năm 1930-1936, chúng ta có Hội Phản đế đồng minh. Thời kỳ 1936-1939, chúng ta có Mặt trận Dân chủ Đông Dương (MTDCĐD), một tổ chức liên hiệp tự nguyện rộng rãi các đảng phái, tầng lớp, tôn giáo, các cá nhân kể cả người Pháp ở Đông Dương chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, mong muốn đòi thực hiện tự do dân chủ. Do đòi hỏi của cách mạng, (11-1939) chúng ta lại có Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương (MTTNDTPĐĐD) nhằm "liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương dưới nền thống trị của đế quốc Pháp, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng cho dân tộc, để đấu tranh chống đế quốc Pháp, vua chúa bản xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc, đòi hoà bình cơm áo, thực hiện nền độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương với quyền dân tộc tự quyết". Từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước trực tiếp chỉ đạo, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác đã sáng kiến lập ra Mặt trận Việt Minh (MTVM). Đây là một liên minh chính trị, tổ chức tự nguyện của các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc ở Việt Nam ( từ 5- 1941 đến 3-1951) nhằm đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Mặt trận đã được nhân dân cả nước ủng hộ, phát triển mạnh, cùng toàn dân tộc tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi (8-1945) và tiếp tục phát huy ảnh hưởng to lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954). Ngay sau cách mạng tháng Tám thành công, do yêu cầu của thực tiễn cách mạng lúc đó, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (HLHQDVN, gọi tắt là Liên Việt) cũng đã ra đời (29-5-1946). Đây lại là một hình thức mới tập hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam nhằm thu hút các tổ chức và cá nhân còn đứng ngoài Việt Minh với mục đích bảo vệ độc lập dân tộc. Thành viên của HLHQDVN gồm Đảng cộng sản Đông Dương, MTVM, Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội giới tư sản, giới trí thức ngoài Việt Minh và một số đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng… Tháng 3-1951, Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh và Liên Việt tại Việt Bắc thành Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (MTLHQDVN, còn gọi tắt là Mặt trận Liên Việt, MTLV). MTLV đã phát huy tác dụng to lớn của mình trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta, huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc làm nên "Điện Biên chấn động địa cầu". Sau ngày miền Bắc được giải phóng, tháng 9-1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) được thành lập. Mặt trận là khối đại đoàn kết mới của các dân tộc Việt Nam, là liên minh chính trị, tổ chức liên hiệp tự nguyện có tính quần chúng rộng rãi, bao gồm các chính đảng, các tổ chức chính trị quần chúng (công đoàn, thanh niên, phụ nữ …), các tôn giáo, nhân sĩ, trí thức yêu nước… lấy liên minh công nông làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ở miền Nam, năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) đã ra đời. Mặt trận đã thu hút hơn hai mươi đoàn thể, tổ chức chính trị ở Miền Nam như: Hội Liên hiệp Học sinh Sinh viên Giải phóng Miền Nam; Giải phóng quân Miền Nam; Hội Chấn hưng đạo đức của Phật giáo, Hoà Hảo; Nhóm những người đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập Tổ quốc Việt Nam; Nhóm binh sĩ trở về với nhân dân; Hội những người kháng chiến cũ; Đảng xã hội cấp tiến Miền Nam, Đảng dân chủ Miền Nam; Đảng nhân dân cách mạng Miền Nam v.v…Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở Miền Nam Tết Mậu Thân 1968, một tổ chức đoàn kết dân tộc nữa được thành lập, đó là Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Miền Nam Việt Nam nhằm tập hợp, đoàn kết các tầng lớp trí thức, tư sản dân tộc tiến bộ ở thành thị và những người có xu hướng hoà bình trung lập chưa có hoàn cảnh tham gia MTDTGPMNVN.

Trong các tổ chức đại đoàn kết dân tộc do Đảng ta và Bác Hồ sáng lập và lãnh đạo đã thực sự thấm đượm tính nhân văn cao cả, giàu lòng nhân ái theo tư tưởng đoàn kết, đại đoàn kết của Bác Hồ và do thế, các tổ chức này đã khơi dậy được đến cao độ lòng tự tôn, bất khuất, kiên cường, tự hào dân tộc của dân tộc Việt Nam. Tất cả các tầng lớp giai cấp, các tổ chức chính trị, các nhân sĩ yêu nước và tiến bộ… đã biết tự nguyện sát cánh bên nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết lòng cho nền độc lập tự do của Tổ quốc. Lời Bác dạy còn đó, như ngọn nguồn sức mạnh của cả dân tộc: "Bất kỳ người nào, bất kỳ nhóm nào, nếu họ tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì chúng ta cũng sẵn sàng thật thà đoàn kết với họ". Bác còn nhấn mạnh: "Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống ta ( tôi- tác giả nhấn mạnh), bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ".

Chính là với tư tưởng đại đoàn kết của Bác Hồ, với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, với trí tuệ và nỗ lực phi thường có một không hai trong lịch sử mà Đảng ta, toàn dân tộc Việt Nam ta đã phát huy đến mức tuyệt vời tính tích cực cách mạng, tính năng động sáng tạo của các tổ chức, các lực lượng, các đoàn thể, cá nhân, nhân sĩ yêu nước, tiến bộ… Nhân dân các dân tộc Việt Nam đã đứng về phía cách mạng, hết lòng đùm bọc cưu mang cách mạng, tạo thành sức mạnh phi thường không một kẻ thù nào có thể phá vỡ nổi.

Rồi còn biết bao nhiêu các lĩnh vực khác nhau của sự nghiệp cách mạng, của cuộc sống đời thường: tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tư tưởng về nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; tư tưởng về đạo đức cách mạng cần, kiện, liêm, chính, chí công vô tư, tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh….Bác còn là người văn võ song toàn. Bác là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Bác sáng lập ra đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của quân đội ta. Bác viết sách huấn luyện chiến thuật, kỹ năng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ quân đội. Bác trực tiếp tham gia chỉ đạo nhiều chiến dịch quan trọng v.v…

Cuộc đời của Bác là cuộc đời của một con người suốt đời vì nước, vì dân, đồng thời cũng vì sự nghiệp cách mạng chung của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Trong Bác là sự hoà quyện đến mức tuyệt vời tinh hoa của dân tộc với trí tuệ của thời đại. Bác là danh nhân văn hóa thế giới, được nhân dân các dân tộc trên thế giới ngợi ca, ngưỡng mộ.

Có thể nói, tư tưởng của Bác là đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam, dẫn dắt nhân dân ta đi đến ấm no, hạnh phúc. Kính cẩn trước một trí tuệ thiên tài của dân tộc như Bác Hồ, chúng ta không khỏi chê trách những người do tầm nhìn hạn hẹp và còn do nhiều động cơ tư tưởng chính trị không trong sáng, cố tình đi ngược lại lợi ích của dân tộc mà đã có các cách nhìn không đúng về Bác Hồ của chúng ta, phủ nhận công lao của Bác đối với dân tộc, với thời đại, hạ thấp các giá trị tư tưởng cao cả của Bác. Nếu ai đó cho rằng “nội dung chủ nghĩa Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”, thì tại sao tư tưởng của Bác về sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại lại được ngưỡng mộ đến như thế?. Vì sao Bác đi đến đâu cũng được các dân tộc trên thế giới kính nể, tôn sùng? Nếu xem Bác chỉ là người đóng khung trong quyền lợi riêng hạn hẹp của dân tộc mình thì không thể cắt nghĩa nổi tình cảm vô cùng sâu nặng và thân thiết mà nhân dân các dân tộc trên thế giới đã giành cho Bác. Những thước phim ghi lại hoạt động của Bác ở khắp nơi trên thế giới và tình cảm đến mức “cuồng nhiệt” của các dân tộc trên thế giới đối với cho Bác đã làm chúng ta phải xúc động về một con người phi thường hiếm có. J.La Cutuya (Pháp) đã viết về Người như sau: “Danh tiếng quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, uy tín của Cụ, sự kính trọng của mọi người đối với Cụ trong các giới cộng sản ngoài nước và trong phần lớn các nước “Không liên kết” đọc thấy rõ ràng. Một người như Nê ru đã coi Cụ là bạn. Khi Cụ tham gia hội nghị các Đảng cộng sản ở Praha năm 1959, Cụ đã được bao quanh bởi một sự cảm phục khiến các chiến sĩ nước ngoài xúc động”.

Phải chăng “Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác-Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu”?. Lập luận này đã đi đến phủ nhận công lao của Bác, không thấy hết được những giá trị thời đại của Bác đối với vận mệnh các dân tộc trên thế giới. Xin hãy nghe sau đây lời của nhà báo U. Bớcsét (Úc) đã viết về Người : “Lịch sử sẽ dành cho Người vinh dự của một vị lãnh tụ vĩ đại mà thế kỷ XX đã sinh ra. Nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi ca ngợi Người”.

Lại có những người dám quay lưng lại với lịch sử, thực chất là phủ nhận những hy sinh vì nước vì dân của các anh hùng liệt sĩ đã dành trọn cả tuổi xuân của mình, dành trọn cả cuộc đời mình cho nền độc lập tự do của Tổ quốc. Họ kêu gọi “Cần lựa chọn lại con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã chọn”. Phải chăng con đường mà chúng ta đã chọn-con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại tự do, hạnh phúc, ấm no cho mọi người, mọi gia đình, con đường mà đại đa số các dân tộc trên toàn thế giới đều ngưỡng mộ là không đúng? Thắng lợi của sự nghiệp đổi mới của Đảng trong 20 năm qua đã cho phép khẳng định rằng con đường mà chúng ta đang đi, con đường mà nhiều dân tộc trên thế giới hằng mong ước là con đường hoàn toàn đáng tin cậy. Trong năm qua, nhờ đường lối đổi mới đúng đắn theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng đề ra mà tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2005 đạt 8,4%, gần đạt mục tiêu 8,5% đã đặt ra nhưng vượt xa con số 7,79% của năm 2004. Trong khi đó, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cơ bản đạt tăng trưởng tới 16,5%. Dịch vụ đạt 8,4% và xuất khẩu đã vươn tới con số 20%. Những chỉ số này đều vượt mức kế hoạch đặt ra từ đầu năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 đạt 32,1 tỷ USD so với con số 26,5 tỷ USD của năm ngoái là một nỗ lực rất lớn của cả nước. Tham gia hội nhập khu vực đã làm tăng trưởng xuất khẩu và là dịp để sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng quen phù hợp với thị trường lớn, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và tiêu dùng của người dân.
Có hai chỉ số phản ánh rõ việc cải thiện thế và lực kinh tế của Việt Nam. Một là, GDP nhân đôi sau 10 năm và sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu theo hướng CNH, HÐH. Hai là, từ một nền kinh tế hầu như khép kín, chỉ quan hệ với một số ít nền kinh tế khác, đến nay, chúng ta đã mở rộng quan hệ thương mại tới hơn 120 nước và vùng lãnh thổ trên khắp các châu lục. Số sản phẩm "made in Việt Nam" tham gia cạnh tranh và cạnh tranh thắng lợi trên thị trường thế giới ngày càng tăng như "Vinamilk", "May 10", "Việt Tiến", "Vinataba", "Vietel", "Rạng Ðông", "Biti's", "Cà-phê Trung Nguyên", "Agifish", v.v. là những minh chứng sinh động. Nhiều thương hiệu và sản phẩm Việt Nam bị "ăn cắp", chiếm đoạt, làm giả, làm nhái, nhiều doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu với hạn ngạch (quota), các hàng rào kỹ thuật và những vụ kiện vô lý về "bán phá giá" trong khi họ không hề nhận được sự trợ cấp của Chính phủ. Kết quả đó có được là nhờ đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, nhờ tính năng động của các doanh nghiệp biết dựa vào sức thúc đẩy của đổi mới, tận dụng các lợi thế tiềm năng, tuy còn ít nhưng rất quý báu, như lợi thế lao động, lợi thế địa lý - chính trị, lợi thế của nền kinh tế xuất phát muộn, biến chúng thành lợi thế cạnh tranh thị trường thật sự. Nhiều học giả, nhà kinh tế nước ngoài đã đánh giá cao tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Đời sống của nhân dân các dân tộc Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt và đang trên đà phát triển.

Rõ ràng rằng các luồng lạch ngược dòng này là không đúng, càng không đủ sức thay đổi hướng chảy hiện tại của nó. Trí tuệ anh minh của Bác là niềm tự hào của cả dân tộc chúng ta, mãi mãi đi cùng chúng ta tới thắng lợi cuối cùng./.


GS. TS. Đại tá Nguyễn Ngọc Phú
Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự-Bộ Quốc Phòng
Đăng nhập để trả lời
0
Bài viết hay tuyệt
Đăng nhập để trả lời
0