📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Cái chết của ba người lính ngự lâm.

25 trả lời, 6.854 lượt xem — Trang 1 / 1
Quang xin đăng gõ Tập 1 của "CÁI CHẾT CỦA BA NGƯỜI LÍNH NGỰ LÂM". Bộ này do tác giả NGUYỄN UYÊN và CÚC PHỤNG dịch từ "LE VICOMTE DE BRAGELONNE" của Nhà xuất bản Hachette, Paris. Bản dịch này do Nhà xuất bản Long An ấn hành năm 1988 nên đã cũ và Quang làm thất lạc mất tập 2.

Bộ này tương ứng với Phần 2 "TEN YEARS LATER", và tập 1 bao gồm các chương từ "The Letter" đến "How M. D'eymeris's Diamond Passed Into The Hands Of M. D'artagnan".

Vì Quang đã làm mất tập 2, và các bạn hiện nay cũng còn nhiều bản dịch khác hay và trọn vẹn hơn nên không biết các bạn có nhận gõ không. Nếu Ban Điều Hành vnthuquan đồng ý nhận bộ truyện này thì Quang xin tiến hành scan và gõ cùng các bạn.

Rất mong nhận được hồi âm sớm.
Thân,
Lê Mậu Duy Quang
My Site
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện này chưa có
nếu bạn scan, và gõ dùm thì còn gì hơn

Nếu bạn scan vào, thì có lẻ nhiều người phụ một tay lắm đó

Cảm ơn Lê Mậu Duy Quang nhiều

Chúc bạn luôn vui

Tình thân
Đăng nhập để trả lời
0
Vậy thì Quang sẽ cố gắng tiến hành sớm. Cũng mới tham gia nên còn vụng về, mong các bạn và các anh chị giúp đỡ. Thanks.

Thân,
Lê Mậu Duy Quang
My Site
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-04 15:58:19Lê Mậu Duy Quang>
Chương 1&2
Bạn Paris_24 đã nhận gõ.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-04 15:59:32Lê Mậu Duy Quang>
Chương 3
Bạn Paris_24 đã nhận gõ.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-04 14:30:57Lê Mậu Duy Quang>
Chương 4
Lê Mậu Duy Quang
My Site
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-04 14:29:53Lê Mậu Duy Quang>
Chương 5
Lê Mậu Duy Quang
My Site
Đăng nhập để trả lời
0
Tác giả: Alexandre Dumas
CÁI CHẾT CỦA BA NGƯỜI LÍNH NGỰ LÂM
Dịch giả: Nguyễn Uyên - Cúc Phụng
Nhà xuất bản Long An - 1988

ALEXANDRE DUMAS-CHA
VÀ CÁI CHẾT CỦA BA NGƯỜI LÍNH NGỰ LÂM


Độc giả Pháp có câu đùa: "Ba chàng ngự lâm... mà là bốn" vì bốn nhân vật trong Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ là Aramis, Athos, Porthos và d'Artagnan đều là lính ngự lâm, có điều d'Artagnan về sau mới gia nhập vào bộ ba có trước. Ở hai bộ truyện tiếp theo: "Hai mươi năm sau", và "Tử tước de Bragelonne" (Cái chết của ba người lính ngự lâm) cũng vẫn bốn nhân vật ấy tung hoành trên nước Pháp (lan qua nước Anh) của thế kỷ XVII và được độc giả mến mộ không khác gì thời họ còn trai trẻ.
A.Dumas được các nhà phê bình văn học lưu tâm đến các kịch bản, còn người bình thường thì lại hoan nghênh các tiểu thuyết lịch sử của ông, loại "làm vui cho số đông". Người ta vẫn nhớ câu trả lời lý thú của ông để đối lại câu trách: "A.Dumas đã đẻ ra những đứa con hoang khoẻ mạnh hơn đứa con thực của lịch sử":
- Lịch sử là gì? Đó chỉ là cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi thôi.
Cho nên ta cũng gặp lại trong "Hai mươi năm sau" bốn chàng ngự lâm được tác giả cho tiếp tục tham dự vào biến cố ở nước Pháp dưới thời Nhiếp chính với Hoàng Thái Hậu Anne d'Autriche, Tể tướng Hồng Y Mazarin và thời thành lập nền Cộng Hòa ở Anh. Ở Pháp, Louis XIV còn nhỏ, Tể tướng Gazarin phải đương đầu với Nghị Viện và các ông Hoàng dấy động loạn La Fronde (1648-1653) theo chiều hướng lịch sử thời đại là sự tập trung vương quyền sẽ lên đến cao độ khi Louis XIV thực sự nắm chính quyền. Ở Anh, Olivier Cromwell đáng tan quân của nhà vua Charles I và bắt ông đem xử tử. Trên tất cả những biến cố làm nền đó, A.Dumas cho bốn chàng ngự lâm quân cũ của chúng ta tung hoành. D'Artagnan vẫn là ngự lâm quân, Porthos đã là bá tước du Vallon, Athos, bá tước de la Fère, Aramis làm giám mục, hai người đầu phục vụ Mazarin, hai người sau giúp loạn quân cầm đầu bởi giáo chủ de Retz, công tước de Beaufort, phu nhân Longueville. Thế mà tình bạn không sứt mẻ, bốn người gặp nhau ở nước Anh cứu Charles I không được lại có dịp thanh toán một kẻ cựu thù, con của Milady bị giết trong "Ba người lính ngự lâm".
Ở "Cái chết của ba người lính ngự lâm", ta gặp nước Pháp với Louis XIV thời thanh niên, Hồng Y Mazarin, các ông Fouquet, Colbert,... ta gặp khung cảnh chính trị nước Anh có thể gọi là thời hậu - Cromwell, và d'Artagnan, Athos được tác giả cho đóng vai trò quyết định trong hậu trường để đưa Charles II trở lại ngôi vua nước Anh, Aramis chen vào chuyện nội cung, triều đình, bắt Louis XIV bỏ vào ngục Bastille kinh khiếp.
Trong "Cái chết của ba người lính ngự lâm", các ông vua cao vòi vọi trở thành những người tầm thường, bất lực kêu khóc, ông Hồng Y Mazarin vẫn bủn xỉn, keo kiệt đến tức cười - hơn cả sự thật. Ngôi Giáo Hoàng tôn kính đối với các tín đồ là thế mà có một anh cựu ngự lâm quân sau khi chui vào hàng ngũ làm giám mục, liền bày ra một âm mưu chính trị để toan tính cướp về mình...
Đọc "Cái chết của ba người lính ngự lâm" - cũng như các tiểu thuyết lịch sử khác của A.Dumas, chúng ta bị cuốn hút theo câu chuyện với những màn đối thoại huênh hoang một cách dễ dung thứ, dáng tinh ranh thật ý nhị, với những tình tiết có vẻ vô lý mà không xa sự thật về những con người ở địa vị thấp mà tầm vóc cao..., tất cả khiến chúng ta như đang bước trên đường lịch sử có bạn đường là ông A.Dumas sức khỏe tràn trề, tâm tính xuề xòa vui vẻ đã làm vui hàng triệu người trên thế giới cả gần một thế kỷ rưỡi nay.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-06 18:42:08Lê Mậu Duy Quang>
Chương 6
Chương 7
Chương 8 Bạn Abele đã nhận gõ.
Chương 9 Bạn Abele đã nhận gõ.
Chương 10 Bạn Abele đã nhận gõ.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
Đăng nhập để trả lời
0
Vậy mình đăng ký 3 chương đầu trước nha!! Nếu xong thì xử tiếp mấy chương kia!!![;)]
Đèo cao thì mặc đèo cao.
Nhưng mà cao quá thì tui đi zìa.
Đăng nhập để trả lời
0
Chào bạn Paris_24!
Quang rất vui khi có bạn tham gia gõ cùng. Cảm ơn bạn nhiều!
À, nhân đây cũng xin lỗi bạn vì có trục trặc bên eSnips làm cho các link bị die hết. Mà upload bên vnthuquan thì... đang có vấn đề mà chưa có ai "heo" mình hết! Hixhix.

Chúc bạn vui vẻ!
Lê Mậu Duy Quang
My Site
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 1: NGƯỜI ĐƯA TIN

Giữa tháng 4 năm 1660, vào lúc 9h sáng, khi mặt trời đã đủ ấm để làm khô những giọt sương trên các cây đinh hương vàng tại lâu đài thành Blois, một đoàn kỵ sĩ gồm 3 người cùng 2 người hầu tiến lên cây cầu dẫn vào thành phố mà không gây một sự chú ý nào cho những người đang đang dạo mát , ngoại trừ động tác đầu tiên là giơ tay lên đầu chào và động tác thứ hai là uốn cái lưỡi để diễn tả bằng giọng văn trong sáng nhất nước Pháp :

_"Đó là Đức ông đi săn về"

Có vậy thôi.

Tuy nhiên khi đoàn người ngựa leo lên con dốc dẫn tù bờ sông vào lâu đài thì một vài gã bán hàng mập ú mon men tiến lại gần con ngựa đi cuối có treo lủng lẳng nhiều loại chim trên cốt yên.

Thấy kết quả chuyến đi săn nghèo nàn như vậy, các gã hiếu kỳ tỏ ra khinh khi, và sau khi bàn tán hồi lâu về sự bất lợi của việc săn chim, ai nấy lại quay trở về với công việc của mình. Chỉ còn một gã có thân hình béo tròn với cặp má phúng phính , tính tình vui vẻ là còn thắc mắc tại sao Đức ông có nhiều lợi tức, do đó không thiếu gì cách vui chơi lại đi chọn cái trò giải trí thảm hại này.
Có người trả lời hắn:

_Ủa, bộ mày không biết trò giải trí chính của Đức ông là sự ưu phiền sao?

Gã mập ú nhún vai, vẻ dứt khoát.

_Nếu vậy thì thà tớ làm Jean phi lũ còn hơn làm ông Hoàng.

Rồi mọi người lại tiếp tục công việc. Còn Đức ông thì tiếp tục đoạn cưỡi cuộc hành trình với vẻ mặt vừa buồn rười rượi vừa oai nghi. Chắc sẽ có người ngắm nhìn ngài một cách thán phục, nếu có khán giả! Nhưng các trưởng giả thành Blois đã không tha thứ cho Đức ông cái tội đã chọn thành phố tươi vui của họ để mặc sức ưu phiền. Cho nên, mỗi khi phải trông thấy con người vừa oai nghiêm, vừa ưu sầu đó, họ quay mặt đi chỗ khác hoặc thụt đầu vào trong để tránh bị ảnh hưởng bởi vẻ buồn ngủ của khuôn mặt dài tái xanh, của đôi mắt lúc nào cũng đẫm ướt và của cả cái dáng dấp uể oải chán chường. Thành thử, ông hoàng đáng kính của chúng ta mỗi khi phi ngựa tới đâu đều cũng chỉ thấy toàn đường phố vắng ngắt.

Như vậy là dân thành Blois quả có tội bởi vì sau Đức vua, và có khi là trên cả vua nữa là đằng khác, Đức ông là một nhà quý tộc lớn nhất trong triều.

Thật vậy, nếu thượng đế đã cho Louis XIV - đang trị vì - cái diễm phúc là con của Louis XIII thì ngài cũng ban cho Đức ông cái vinh hạnh được Henry IV nhận làm cha.

Thành thử, dân chúng ở đây ít ra cũng phải coi là có được một vinh dự không nhỏ khi Gaston d'Orleans tập hợp đám tùy tùng của ông trong tòa lâu đài cổ kính nơi thành phố Blois này. Nhưng cái nghiệp của ông hoàng vĩ đại này là không hấp dẫn được quần chúng. Cho nên Đức ông lâu dần cũng thành quen!

Có lẽ vì thế mà ngài ưu phiền một cách trầm lặng. Cuộc đời Đức ông rất bận rộn. Chẳng ai chịu để hàng chục người bạn thân nhất của mình bị cứa cổ mà không thấy lo âu chút nào! Mà Mazarin khi nắm quyền bính trong tay thì chẳng thích cắt đầu ai cả. Vì thế Đức ông không còn bận rộn nữa và tinh thần của ngài cũng chịu ảnh hưởng lây.

Vậy nên cuộc sống của vị hoàng thân khốn khổ này thật là đáng buồn. Sau cuộc săn nhỏ vào buổi sáng bên bờ sông Beuvron hoặc trong rừng Chiverny, Đức ông vượt sông Loire, đến dùng cơm trưa tại Chamberd, bữa ngon bữa không, và cả thành Blois sẽ không còn nghe nhắc nhở gì đến vị thủ lĩnh của mình nữa cho đến buổi săn bắn sau.

Đó là những ưu phiền phơi bên ngoài, còn những nỗi buồn sâu kín chúng tôi sẽ cống hiến độc giả nếu quý vị chịu khó cùng với chúng tôi theo đoàn người ngựa tiến đến chiếc cổng uy nghiêm của lâu đài Cúc đẳng cấp.

Đức ông cưỡi một con ngựa vóc dáng bé nhỏ, ngồi trên chiếc yên rộng bọc bằng nhung đỏ xứ Flandre, có bàn đạp giống như một chiếc hia. Con ngựa màu hung hung, bộ quần áo bằng nhung đỏ thẫm hòa lẫn với chiếc khăn choàng cùng một màu với những thứ trang bị trên con ngựa, và nhờ toàn bộ cái gì cũng đỏ này mà người ta có thể phân biệt được Đức ông với 2 bạn đồng hành của ngài, một người thì toàn tím trong khi người kia thì toàn lục. Người phi ngựa bên trái ăn vận màu tím là người hầu ngựa, bên phải có người vận màu lục coi bầy chó săn.

Một người hầu mang theo đôi chim ưng đong đưa trên cái đu, người kia cầm chiếc còi săn, phùng má thổi một cách uể oải rời rạc khi đoàn kỵ sĩ chỉ còn cách tòa lâu đài vài chục bước. Mọi kẻ bao quanh ông hoàng uể oải này đều uể oải làm những gì cần phải làm.

Sau hiệu còi, tám gã lính gác cổng đang rong chơi trên chiếc sân vuông vức của tòa lâu đài vội chạy đi tìm vũ khí. Thế là Đức ông oai vệ tiến vào tòa lâu đài.

Khung cảnh thật vắng vẻ.

Đức ông lặng lẽ nhảy xuống ngựa, rảo bước vào phòng để người hầu thay quần áo, và vì Bà lớn chưa ra hiệu ăn trưa nên ngài nằm duỗi dài trên ghế đánh một giấc ngon lành như giấc ngủ buổi tối vậy.

Còn tám gã lính hầu thì hiểu rằng nhiệm vụ trong ngày của chúng ta đến đây là chấm dứt, chúng bèn rủ nhau nằm ườn trên ghế đá dưới ánh nắng mặt trời ấm áp. Các mã phu dẫn đoàn ngựa vào trong chuồn và ngoại trừ mấy chú chim đang chíu chít chọc ghẹo nhau trong các bụi cây đinh tử hoa, người ta có cảm tưởng như vạn vật đều ngủ say như Đức ông vậy...

Khi hồi chuông rung báo hiệu Bà lớn đã trang điểm xong và đang chờ Đức ông cùng bước vào phòng ăn thì...có tiếng vó câu lộp bộp trước cổng vào... Kìa! Một chàng kỵ sĩ điển trai...

Đó là một thanh niên trong khoảng tuổi 24, 25, thân hình dong dỏng, cường tráng, khoác trên mình bộ quân phục đẹp đẽ của thời đó. Bằng đôi tay thon chàng kềm ngựa dừng giữa sân rộng, tháo chiếc mũ lông dài che gương mặt vừa cương nghị vừa ngây thơ của chàng.

Tiếng ngựa làm bọn lính choàng tỉnh và mau lẹ đứng lên.

Chàng trai trẻ chờ cho tên lính gác lại gần mới nghiêng mình nói bắng giọng trong trẻo và rõ ràng khiến hai cô gái trẻ đẹp núp sau cánh cửa nghe rõ mồn một.

_Có tin cho Điện hạ.

_À, ra thế! - Người lính gác kêu lên. - Ngài sĩ quan đâu rồi? Có người đưa tin!

Nhưng gã lính này thừa biết sẽ chẳng có ngài sĩ quan nào ra cả vì viên sĩ quan duy nhất đang ở mãi cuối tòa lâu đài, trong một căn phòng nhỏ giữa vườn hoa.

Bởi vậy gã vội vàng tiếp :

_Thưa ngài, viên sĩ quan đang đi tuần tra, nhưng chúng tôi sẽ báo cho ngài quản gia De Saint Remy hay.

_Ông De Saint Remy à! - Người kỵ sĩ đỏ mặt lẩm bẩm nhắc lại.


_Ngài có quen biết ông ta?

_Vâng, xin nhờ anh báo cho ông ta biết tôi muốn gặp Điện hạ gấp.

_Việc có gấp lắm không? - Gã lính gác lẩm bẩm như muốn nói với chính mình nhưng lại mong đợi câu trả lời ở người đối diện.

Người đưa tin gật đầu. Gã lính lại nói:

_Trong trường hợp này thì chính tôi sẽ đi kiếm ngài quản gia.

Chàng trai nhảy xuống ngựa và trong khi đám lính đang tò mò ngắm nghía từng cử động của con ngựa đẹp đẽ đã mang chàng tới thì gã lính ban nãy đã quay lại nói:

_Xin lỗi tôi chưa biết quý danh?

_Tử tước Bragelonne đến đây theo lệnh của Hoàng thân De Condé.

Gã lính vái dài như thể tên người chiến thắng trận Rocroi và Lenz làm cho gã mọc thêm cánh, gã chạy như bay qua các bậc thềm.

Tử tước De Bragelonne chưa kịp cột ngựa vào khung sắt bên thềm thì ông Saint Remy đã hớt hải chạy ra, một tay đỡ cái bụng phệ, tay kia thì quậy quậy như mái chèo rẽ nước vậy.

_Ồ, ngài tử tước cũng đến Blois à? Thật tuyệt diệu! Xin kính chào ngài, ngài Raoul!

_Rất hân hạnh được gặp ngài, ngài De Saint Remy.

_Phu nhân De La Vall..., xin lỗi, tôi muốn nói phu nhân De Saint Remy sẽ rất sung sướng khi gặp lại ngài! Nhưng xin mời lại đây. Điện hạ đang dùng bữa. tôi có cần làm rộn ngài không?

_Có và không, thưa ngài De Saint Remy. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, nếu để trễ có thể Điện hạ sẽ bực lắm đấy!

_Nếu vậy thì phải phá lệ thôi, thưa tử tước. Lại đây, vả lại hôm nay Đức ông rất vui vẻ. Mà, ngài có tin lạ cho chúng tôi không?

_Tin quan trọng, thưa ngài De Saint Remy.

_Chắc là lành chứ?

_Tuyệt vời.

Thế thì lại đây. Lại đây nhanh lên! - Người quản gia vừa nói vừa vuốt lại quần áo.

Raoul cầm mũ đi theo, hơi giật mình khi nghe chính tiếng gót giày của mình nện vang trên sàn nhà thênh thang.

Chàng trai vừa khuất trong lâu đài thì nơi khung cửa sổ ban nãy lại thấp thoáng bóng người, tiếng xì xào chứng tỏ hai cô gái đang bị kích động mạnh. Họ nhanh chóng quyết định vì một trong hai khuôn mặt biến đi. Cô gái còn lại, núp sau những đóa hoa trên cửa sổ, quan sát qua kẽ lá những bậc thềm mà ngài De Bragelonne đã đi qua.

Trong khi đó, nhân vật đã khiến cho mọi người chú ý vẫn tiếp tục nối gót người quản gia. Tiếng chân bước nhộn nhịp, mùi rượu, mùi thịt nồng nàn, tiếng lích kích của chén dĩa thủy tinh cho biết rằng chàng sắp tới nơi.

Các người hầu, các sĩ quan đang tụ tập nơi một căn phòng trước phòng ăn tiếp đón Raoul với sự lễ phép đã trở thành huyền thoại của xứ này. Có người biểt Raoul và tất cả đều biết chàng vừa từ Paris tới. Có thể nói , sự xuất hiện của chàng trai trẻ đã làm mọi hoạt động ngưng lại trong chốc lát. Chứng cớ là một người hầu đang tiếp rượu cho Đức ông, nghe tiếng giày đinh khua vang bên thềm sảnh đã tò mò quay đầu lại xem, như một đứa trẻ, quên bẵng đi rằng anh ta không còn rót rượu vào ly của Đức ông nữa mà là rót lêng láng ra bàn.

Bà lớn vì không bận bịu như đức lang quân oai vệ của mình nên thấy rõ sự lơ đễng của người hầu. Bà nói:

_Kìa!

_Đức ông lặp lại: " Kìa ", rồi ngạc nhiên.

_Cái gì thế?

Cùng lúc ông De Saint Remy ló đầu vào, gặp ngay cơ hội thuận tiện.

_Sao lại quấy rầy tôi? Vừa nói Caston vừa gắp bỏ vào dĩa một khúc cá thật to, phần thịt của một con cá hồi ngược sông Loire lớn chưa từng thấy, chưa từng bị đánh bắt giữa Paimboeuf và Saint Nazaire.

_Thưa có một người đưa tin từ Paris tới. Nhưng mà, xin Điện hạ cứ tiếp tục dùng bữa, để sau vẫn còn thừa thì giờ.

Đức ông la lên và để rơi cái dĩa xuống bàn.

_Từ Paris à? Một người đưa tin từ Paris, đúng không? Ai sai hắn tới?

_Theo lệnh của ngài Hoàng thân. - Người quản gia hấp tấp trả lời.

Ai cũng biết đó là biệt danh của ngài De Conde.

_Một người đưa tin của ngài Hoàng thân à? - Gaston lẩm bẩm. Vẻ âu lo thoáng hiện trong ánh mắt càng gợi thêm trí tò mò của mọi người.

Đức ông như sống lại những giây phút sung sướng thời kỳ mưu đồ chính trị và mỗi tiếng động khẽ ngoài cửa cũng khiến ngài hồi hộp, mỗi bức thư có thể chứa đựng một bí mật quốc gia, mỗi tin loan báo đều là để dùng vào những âm mưu đen tối, phức tạp. Cũng có thể cái tên lừng danh của Hoàng thân đã lan truyền dưới vòm lâu đài thành Blois như bóng dáng của một con ma.

Đức ông đẩy dĩa thức ăn ra. Ông De Saint Remy hỏi:

_Thưa, hay là xin để người đưa tin chờ?

Cái liếc của Đức bà làm Gaston dạn dĩ hẳn lên, ông ta nói:

_Đừng, cho hắn vào đây ngay. Mà này,... ai vậy?

_Một nhà quý tộc, sinh trưởng tại vùng này, tử tước De Bragelonne.

_A, nếu vậy thì tốt lắm, kêu hắn vào đi, De Saint Remy.

Sau khi thốt ra những lời lẽ trang trọng như thông lệ, ngài đưa mắt nhìn đám thuộc hạ của mình khiến cả bọn cận thần, sĩ quan lính hầu rời bỏ khăn, dao, muỗng, nĩa mà bước nhanh ra ngoài, gần như hỗn độn.

Đạo quân nhỏ bé này tự động tách thành hai khi Raoul De Bragelonne theo ông De Saint Remy bước vào phòng ăn.

Khoảng thời gian yên tĩnh ngắn ngủi do sự rút lui của đám quân hầu để lại đủ khiến Đức ông lấy được phong độ của một nhà ngoại giao. Ông không quay đầu lại, chờ cho người quản gia dẫn người đưa tin đến trước mặt mình.

Raoul dừng ở phía cuối bàn ăn để được đứng giữa Đức ông và Đức bà. Chàng lễ phép cúi đầu chào rồi đứng thẳng lưng chờ Đức ông lên tiếng trước.

Còn Đức ông thì chờ cho cửa ra vào được khép kín. Ngài không muốn quay đầu lại vì như vậy không xứng đáng với địa vị của mình, nhưng ngài hết sức lắng đợi tiếng khóa cửa lách cách để thấy ít ra là cũng là có giữ bí mật.

Cửa đã đóng kín Đức ông mới ngước nhìn Tử tước De Bragelonne và nói:

_Hình như ông từ Paris lại?

_Thưa Đức ông tôi vừa mới tới.

_Hoàng thượng có được an khang không?

_Thưa Đức ông, ngài rất khỏe.

_Còn chị dâu tôi?

_Hoàng hậu vẫn còn hay đau ngực. Tuy nhiên, cách đây một tháng, sức khỏe của ngài có phần đỡ hơn.

_Người ta bảo ông được Hoàng thân phái đến đây. Họ không lầm chứ?

_Thưa vâng, chính Hoàng thân đã phái tôi đến đây trình lên ngài một bức thư, và tôi chờ phúc đáp.

Raoul hơi xúc động trước lối tiếp đón lạnh lung và tỉ mỉ này. Giọng chàng trầm hẳn xuống.

Đức ông như nhớ lại câu chuyện và nỗi lo sợ lại đến với ngài. Ngài nhìn bức thư của Hoàng thân bằng cặp mẳt hung dữ và cẩn thận bóc nó như bóc một món đồ khả nghi. Và để cho không ai biết sự thay đổi diện mạo của mình vì bức thư, ngài xoay lưng lại đọc.

Đức bà lo âu theo dõi từng cử chỉ của bậc trượng phu.

Còn Raoul thì thản nhiên và hơi thoải mái vì mình không còn bị chú ý nữa. Từ chỗ đứng, chàng đưa mắt nhìn, qua khung cửa rộng, các khu vườn và các bức tượng được dựng lên trong ấy.

Đức ông chợt kêu lên với nụ cười rạng rỡ nở trên môi.

_A! Thật là một nỗi bất ngờ đầy thú vị và một bức thư thật khả ái của Hoàng thân. Đây, bà xem đi.

Bàn quá rộng không đủ để Đức ông trao thư tận tay cho bà lớn. Raoul hấp tấp chuyển giúp. Chàng thực hiện công việc này một cách hết sức duyên dáng và khéo léo khiến Đức bà hết sức đẹp ý. Gaston quay hỏi Raoul:

_Chắc ông biết nội dung bức thư này?

_Thưa ông, Hoàng thân tính nhắn miệng với tôi, nhưng sau đó ngài suy nghĩ lại và lấy giấy bút thảo ra.

_Chữ đẹp quá, nhưng tôi không đọc được. - Đức bà nói.

_Ông có thể đọc giùm Bà lớn được không, ông Bragelonne?

Raoul bắt đầu đọc trong khi Đức ông, một lần nữa lại chăm chú lắng nghe.

Kính thưa ngài,

Hoàng thượng đang đi ra biên giới, hẳn ngài cũng biết hôn lễ của Người sắp được tiến hành. Hoàng thượng đã phong cho tôi làm trưởng đội kỵ binh trong chuyến đi này, và tôi biết Người thích dừng chân tại thành Blois, vậy xin ngài cho phép tôi đánh dấu nơi trước nơi nghỉ lại của Hoàng thượng.

Nếu yêu cầu của tôi quá đột ngột gây phiền toái cho ngài, xin ngài làm ơn báo qua cho Tử tước De Bragelonne, một nhà quý tộc làm việc với tôi đây. Chương trình của chúng tôi sẽ tùy thuộc vào quyết định của Điện hạ và nếu không có ghé Blois, tôi sẽ đổi lộ trình về Vendome hay Romarantin, tôi hy vọng Điện hạ sẽ cứu xét lời thỉnh cầu đầy thành tâm thiện ý của tôi biểu lộ lòng trung thành không giới hạn của tôi đối với ngài và lòng mong muốn được ngài đẹp dạ mãi mãi.

_Thật chẳng có gì sung sướng cho chúng ta hơn, - Đức bà nói sau khi đã hơn một lần thăm dò ý tứ qua ánh mắt của chồng trong lúc bức thư được đọc lên. “Hoàng thượng tới đây”. Bà kêu lên, có lẽ hơi lớn khó mà bảo toàn được bí mật. Đức ông nói:

_Thưa ông, xin ông làm ơn trình lên Hoàng thân lòng chân thành biết ơn của tôi đối với sự ưu ái mà ngài đã dành cho tôi.

Raoul nghiêng mình đáp lễ.

_Ngày nào Hoàng thượng giá lâm? - Đức ông tiếp tục hỏi .

_Thưa ngài, nếu tôi không lầm thì Hoàng thượng sẽ tới ngay tối nay.

_Như vậy thì làm sao người ta hay được câu trả lời của tôi trong trường hợp tôi từ chối?

Tôi có nhiệm vụ, thưa ngài, là phải lập tức quay về Beaugency để thông báo cho người đưa tin và anh này quay trở lại phía sau trình cho Hoàng thân. Hoàng thượng ở Orleans. Hiện giờ có lẽ ngài đã tới Meung

_Cả triều thần cùng đi với ngài à?

_Thưa vâng.

_Còn điều này nữa, tôi quên hỏi thăm tin tức về Đức Hồng y.

_Đức ngài có vẻ tràn đầy sức khỏe, thưa ngài.

_Chắc các cháu gái ngài cũng đi theo phải không?

_Thưa ngài không, Đức ngài đã ra lệnh cho tiểu thư Marie De Mancini đi Brouage. Tiểu thư đi bên mặt sông Loire trong khi triều thần từ bên trái tới.

_Sao! Tiểu thư De Mancini cũng rời triều đình à? Đức ông lên tiếng hỏi và sự dè dặt gần như không còn nữa.

_Vâng, trước tiên là tiểu thư De Mancini, Raoul tế nhị trả lời.

Một nụ cười thoáng qua gợi lại dấu vết của một bộ óc chứa đầy những âm mưu rối rắm, làm sáng lên đôi má nhợt nhạt của Đức ông.

_Xin cảm ơn ông De Bragelonne. Có lẽ ông sẽ từ chối không muốn nhận nhiệm vụ mà tôi muốn giao cho ông là trình lên cho Hoàng thân biết rằng tôi rất cảm mến người đưa tin của ngài. Nhưng tôi sẽ tự làm lấy công việc này.

Raoul lại nghiêng mình cảm tạ vinh hạnh mà Đức ông đã dành cho mình. Đức ông ra dấu cho Đức bà gõ vào chiếc chuông bên mặt.

Ông De Saint Remy bước vào ngay lập tức và phòng ăn lại đông nghẹt người.

Đức ông nói:

_Thưa quý vị, chúng ta sẽ được hân hạnh tiếp đón Hoàng thượng tại Blois, tôi hy vọng rằng Hoàng thương, cháu tôi sẽ không hối tiếc về đặc ân mà ngài đã ban cho tôi.

_Hoàng thượng vạn tuế! - Các sĩ quan hầu cận la lên đầy nhiệt tình, đặc biệt nhất là ông De Saint Remy.

Gaston khẽ cúi đầu, buồn u uẩn. Cả đời ngài đã từng được nghe hay đúng hơn là phải nghe tiếng kêu ”Hoàng thượng vạn tuế” này lướt qua đầu mình. Từ lâu, không còn phải nghe như thế nữa, đôi tai ngài tưởng đã được nghỉ ngơi. Thế rồi, một vương quyền mới, trẻ trung hơn, sinh động hơn, xán lạn hơn bỗng xuất hiện trước mặt ngài, như một sự khiêu khích mới, đau đớn hơn.

Đức bà hiểu rõ nỗi đau đớn mà trái tim nhút nhát và u uất kia phải chịu đựng, bà rời bàn ăn, Đức ông cũng làm theo một cách máy móc, và các tuỳ tùng như một bầy ong vỡ tổ, bao quanh lấy Raoul hỏi han rối rít.

Đức bà thấy lộn xộn liền kêu ông De Saint Remy và bảo ông với giọng của một chủ nhân đang cáu giận:

_Bây giờ không phải lúc bép xép, làm việc đi!

Ông De Saint Remy hối hả giải tán đám đông bao quanh Raoul do đó chàng mới bước được ra tiền sảnh. Đức bà quay về phía ông De Saint Remy nói tiếp:

_Tôi mong ông lo liệu cho ngài quý tộc đó.

Ông này lập tức chạy theo Raoul nói:

_Đức bà giao cho tôi nhiệm vụ chiêu đãi ngài tại đây, ngài sẽ nghỉ ngơi tại một căn phòng dành riêng trong lâu đài này.

_Xin cảm ơn ngài De Saint Remy. – De Bragelonne trả lời:

_Chắc ngài biết tôi nóng ruột muốn gặp ngài bá tước cha tôi như thế nào.

_Đúng thế, đúng thế. Nhân tiện xin ngài chuyển giùm lời nhắn kính thăm của tôi đối với cha ngài.

Raoul thoát được nhà quý tộc già và tiếp tục đi. Khi chàng còn nắm cương ngựa thì dưới cổng một giọng nói êm ái vang lên phía cuối hành lang tối tăm:

_Thưa ngài Raoul.

Chàng trai giật mình quay lại thì thấy một cô gái trẻ, tóc nâu đen, một ngón tay đặt lên môi và tay kia đưa về phía chàng

(còn 1 đoạn bị mất chữ giấy trắng bóc[8|])


















Đèo cao thì mặc đèo cao.
Nhưng mà cao quá thì tui đi zìa.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG 2 : HAI CHA CON

Raoul theo con đường rất quen thuộc, và luôn khơi gợi cho chàng tình thương mến – con đường dẫn từ thành Blois đến ngôi nhà của bá tước De La Fere.

Chàng thấy từ xa tầng mái nhà nhọn, hai khung tháp nhỏ, chiếc chuồng chim nấp trong lá cây, và từng đàn bồ câu bay quanh khối chóp nón xây bằng gạch. Chúng không ngừng nghỉ mà cứ quấn quit lấy nhau tựa như những kỷ niệm êm đềm liệng quanh một tâm hồn thanh thản.

Hơn một năm nay Raoul chưa về thăm cha. Trong suốt thời gian đó chàng sống bên Hoàng thân.

Thật vậy, sau tất cả những xáo động gây ra bởi cuộc loạn La Fronde, Louis De Conde và triều đình đã làm hòa một cách công khai, long trọng và thẳng thắn.

Trong suốt thời gian ly khai với triều đình, Hoàng thân vốn từ lâu có thiện cảm với De Bragelonne – đã tìm đủ mọi cách để chiêu dụ chàng nhưng hoài công. Bá tước De La Fere luôn thay mặt con từ chối vì vẫn tin tưởng vào những nguyên tắc về sự trung thành và về vương quyền.

Hơn thế nữa, thay vì theo ông De Conde trong vụ phản loạn, tử tước lại phục vụ De Turenne, chiến đấu vì đức vua. Rồi sau đó, khi thấy ông này có vẻ đi ngược lại lý tưởng hoàng gia, chàng lại lìa bỏ ông ta như đã từng từ chối đề nghị của De Conde. Vì cả Conde lẫn Turenne chỉ có thể chiến thắng khi phục vụ dưới lá cờ quốc gia, nên kết quả là Bragelonne, tuy còn rất trẻ đã có mười chiến công lừng lẫy để ghi vào lý lịch và không có một vụ chiến bại nào khiến lương tâm và lòng can đảm của chàng bị tổn thương. Như vậy là Raoul theo ý nguyện của cha mình, đã phục vụ một cách tích cực và chịu đựng cho sự nghiệp của vua Louis XIV, mặc cho những chuyện trở gió xoay, cờ liên miên mà ta có thể nói là không tránh khỏi vào thời đó.

Ngài De Conde khi được sủng ái lại đã dung tất cả những đặc quyền để đòi hỏi rất nhiều thứ ông được hưởng trước đó, gồm cả việc đòi Raoul. Ngay lập tức, bá tước De La Fere, với lòng tin không lay chuyển vào lẽ phải đã gửi Raoul cho ông hoàng De Conde.

Một năm trôi qua kể từ khi hai cha con chia tay nhau, vài bức thư đã làm dịu bớt nhưng không xóa hẳn nỗi đau buồn phải xa con.

Raoul cũng để lại Blois một mối tình khác ngoài tình phụ tử…

Nhưng phải công bằng mà nói rằng Raoul vẫn phi ngựa về nhà cha chàng – có thể ngoái cổ nhìn lại đôi chút, nhưng không hề dừng ngựa, dẫu có thấy De La Valliere đưa tay cho chàng.

Nhận thấy cổng vào vườn mở , chàng cho ngựa phi thẳng vào mà không chú ý tới nắm tay giận dữ của một ông lão mặc áo len tím, đầu đội chiếc mũ nhung rách.

Ông lão đang nhổ cỏ trên một bãi trồng hoa hồng lùn và hoa cúc, rất lấy làm tức giận khi thấy một con ngựa cả gan giẫm lên lối đi trải cát đã được san cào cẩn thận.

Ông ta còn phát ra một tiếng nạt giận dữ, khiến chàng kỵ sĩ phải quay đầu lại. Và tình thế bỗng nhiên thay đổi hẳn, ngay khi vừa trông thây Raoul, ông lão đã vụt đứng dậy, chạy ù vào nhà, miệng phát ra những tiếng lẩm bẩm mà có lẽ đối với ông là một cách biểu lộ niềm vui mãnh liệt đã lên đến cực điểm. Raoul tới chuồng giao ngựa cho một gã hầu và bước dài lên bậc thềm một cách mạnh mẽ, hẳn là co thể khiến cho cha chàng hãnh diện.

Chàng bước vào tiền sảnh, phòng ăn và phòng khách mà chẳng gặp một ai, sau cùng tới trước cửa phòng bá tước De La Fere, chàng nóng nảy nhào tới và bước vào mà chẳng cần chờ nghe tiếng “Mời vào!” cất lên bằng một giọng nói vừa trịnh trọng vừa dịu dàng.

Bá tước đang ngồi trước cái bàn chứa đầy giấy tờ và sách vở. Cũng vẫn con người đẹp đẽ và quý phái thời trước, nhưng thời gian đã khiến vẻ đẹp, vẻ quý phái này trở nên trịnh trọng rõ rệt hơn. Một vầng trán cao không một nếp nhăn dưới mái tóc dài bạc nhiều hơn đen, đôi mắt sắc và dịu dàng dưới cặp long mày của một người trẻ tuổi, bộ râu mảnh và hơi bạc trên cặp môi thanh tao như không bao giờ mím chặt trước những đam mê chết người, một thân hình vươn thẳng và dẻo dai, đôi bàn tay không chê vào đâu được nhưng hơi gầy. Đó là tất cả những gì còn lại của nhà quý tộc lừng danh mà biết bao cửa miệng đã không tiếc lời khen ngợi. Đó là Athos.

Ông đang sửa những trang bản thảo do chính tay mình viết.

Raoul nắm lấy vai, ôm lấy cổ cha hôn một cách trìu mến và nhanh đến nỗi bá tước không đủ sức cũng như thời gian để gỡ ra, để trấn áp những cảm xúc của tình phụ tử.

_A con đây, con đây phải không Raoul, có thể như vậy được không nhỉ?

_Ồ, thật vô cùng sung sướng được gặp lại phụ thân!

_Ông chưa trả lời tôi, tử tước ạ. Ông được phép về Blois hay là lại có chuyện gì không may xảy ra ở Paris?

_Nhờ ơn trên, thưa ngài, - Raoul trả lời, chàng dần lấy lại được bình tĩnh, - chỉ toàn những chuyện vui, Hoàng thượng sắp cưới vợ, như con đã có dịp kể cho cha trong bức thư gần đây nhất, và ngài đi Espana sẽ ghé qua Blois.

_Để viếng Đức ông?

_Vâng, thành thử vì ngại Đức ông bị bất ngờ, hoặc muốn tỏ tình thân ái đặc biệt, ngài Hoàng thân đã phái con đến đây chuẩn bị trước.

_Con đã gặp Đức ông chưa? – Bá tước đột ngột hỏi con.

_Con đã được vinh dự đó.

_Tại lâu đài à?

_Thưa vâng – Raoul cúi mặt khi trả lời vì chàng nhận thấy những câu hỏi của bá tước hàm chứa một điều gì khác hơn là sự tò mò.

_Ồ, thật vậy sao tử tước? Ta có lời ngợi khen.

Raoul nghiêng mình đáp lễ.

_Nhưng con còn gặp ai tại Blois nữa không?

_Thưa cha, con còn gặp Đức bà phu nhân.

_Rất tốt. Nhưng không phải ta muốn đề cập tới Đức bà.

Mũi Raoul đỏ gay, chàng không nói được câu nào.

_Hình như ông không nghe thấy lời tôi, thưa ông tử tước! – Bá tước De La Fere nhấn mạnh câu hỏi của mình nhưng không lớn tiếng, ông chỉ làm cho tình hình nghiêm trọng hơn bằng ánh mắt của mình.

_Thưa, con nghe rất rõ, nếu con chuẩn bị câu trả lời của mình thì chẳng phải để nói dối, chắc ngài cũng rõ rồi.

_Tôi biết ông không bao giờ nói dối. Tôi lấy làm ngạc nhiên là vì sao ông mất thời giờ quá lâu để trả lời câu hỏi “có” hoặc “không” thôi.

_Con chỉ trả lời được khi con hiểu rõ câu hỏi của cha, và con hiểu rõ cha sẽ buồn khi nghe những câu đầu tiên của con. Chắc cha không vui, nếu con thưa rằng con đã gặp…

_Tiểu thư De La Valliere phải không?

_Con biết rõ là cha muốn ám chỉ tới nàng. Thưa bá tước, - Raoul nói bằng giọng êm dịu không thể tả nỗi.

_Còn tôi thì muốn hỏi rằng ông đã gặp cô ta chưa?

_Thưa ngài, con hoàn toàn không hay biết khi tới lâu đài sẽ gặp tiểu thư De La Valliere, chỉ lúc quay về, khi hoàn thành nhiệm vụ tốt, một sự tình cờ đã khiến con hội ngộ với nàng. Con may được bày tỏ cùng nàng lòng kính trọng của mình.

_Sự tình cờ nào đã xui khiến con gặp tiểu thư De La Valliere?

_Thưa, tiểu thư De Montalais.

_Cô ta là ai?

_Một nhân vật trẻ tuổi mà con không hề quen biết, chưa hề gặp mặt lần nào. Cô ta là thị nữ của Đức bà.

_Ông tử tước, tôi lấy làm ân hận không muốn để cuộc đối đáp này kéo dài quá lâu và đi xa hơn nữa. Tôi chỉ yêu cầu ông lánh mặt tiểu thư De La Valliere và chỉ nên gặp cô ta khi được phép của tôi thôi. Ồ, tôi biết là ông không nói dối, là ông không hề có ý đồ tìm cách gần gũi cô ta. Sự tình cờ này đã làm tôi rất phật ý, nhưng tôi không trách ông. Thành thử tôi chỉ xin ông nhớ tới những gì tôi đã nói về cô ta. Tôi không trách gì cô ta, có thượng đế làm chứng. Tuy nhiên tôi không hề muốn ông lân la đến nhà cô ta. Một lần nữa, tôi yêu cầu ông nghe kỹ điều này, Raoul thân mến ạ.

Đôi mắt trong trẻo tinh anh của Raoul như mờ đi vì những lời này. Bá tước nói tiếp với nụ cười hiền dịu và giọng nói bình thường.

_Thôi bây giờ ta hãy nói chuyện khác. Có lẽ ông quay về nhiệm sở chứ?

_Thưa ngài không, hôm nay chỉ còn có việc ở lại bên ngài. Rất may là hoàng thân không giao phó con nhiệm vụ nào khác ngoài nhiệm vụ này, rất phù hợp với nguyện vọng của con.

_Hoàng thượng có được an khang không?

_Thưa cha tuyệt vời/

_Và cả Hoàng hậu nữa chứ?

_Như bình thường, thưa ngài.

Bá tước theo một thói quen đã có từ lâu, quên bẵng tể tướng Marazin.

_Này Raoul, vì bây giờ con chỉ là của cha, cha sẽ dành trọn ngày hôm nay cho con. Con hãy hôn cha đi,… nữa, nữa. Đây là nhà của con, tử tước ạ…À, Grimaud thân mến!... Lại đây,Grimaud, ông tử tước cũng muốn hôn nhà ngươi nữa đấy.

Ông lão cao lớn không để nhắc nhở, lão chạy lại, hai tay dang rộng. Raoul đỡ hộ lão một đoạn đường.

_Bây giờ con có muốn chúng ta cùng ra vườn không? Cha sẽ chỉ gian phòng mới mà cha cho xây để dành lúc con về phép. Vừa xem các cây trong mùa đông vừa qua cũng như đôi ngựa cha mới đánh đổi xong, con sẽ vừa cho cha biết tin tức bạn bè chúng ta tại Paris.

Bá tước đóng tập bản thảo lại, khoác tay Raoul cùng đi ra vườn.

Grimaud buồn rầu ngắm nhìn Raoul bước đi, và khi đầu chàng suýt đụng khung cửa, lão vừa vuốt ve chòm râu bạc vừa buột miệng : “Chông lớn quá!”



Đèo cao thì mặc đèo cao.
Nhưng mà cao quá thì tui đi zìa.
Đăng nhập để trả lời
0
Mình đăng ký 3 chương 8,9,10. Các chương kia nhường cho Paris_24 đó
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn Abele nhiều nha! Chúc bạn luôn vui.
Lê Mậu Duy Quang
My Site
Đăng nhập để trả lời
0
Chương VIII : D’ARTAGNAN ĐI TÌM ARAMIS VÀ PORTHOS Ở ĐÂU ??

Chưa đầy hai giờ đồng hồ từ khi chủ nhân rời nhà lên đường đi Paris trong cái nhìn hút theo của Blaisors, thì một kỵ sĩ cởi ngựa khoang béo tốt đến dừng trước cánh cổng sắt và thét lên tiếng “Hê!” vang dội.
Các mã phu, những người làm vườn còn đang vây quanh Blaisors, anh chàng “sử gia” quen thuộc của bọn tôi tớ trong nhà. Tiếng “Hê” đó rất quen với Blaisors nên anh ta ngoảnh lại kêu lên:
-Ồ ! Ngài D’Artagnan. Các anh kia, mau mở cửa ra!
-Cả một tốp tám người lao đến, cánh cổng mở ra, nhẹ nhàng như lôi một chiếc lông vũ và ai nấy cũng đều tíu tít chào thưa vì họ đã từng thấy chủ nhân tiếp đó người bạn thân này nồng nhiệt thế nào rồi.
Ngài D’Artagnan nhún mình trên bàn đạp rồi bước xuống đất, mỉm cười hoà nhã:
-Thế nào? Ông Bá tước thân yêu đâu rồi?
-Ồ, ngài thấy đó, thật rủi ro cho ngài - Blaisors nói – ngài Bá tước chủ tôi cũng thật rủi ro không được tiếp ngài. Ngài Bá tước vừa ra đi không quá hai tiếng đồng hồ rồi.
D’Artagnan không ngạc nhiên lắm, nói:
-Tốt, ta thấy là anh nói giọng Pháp thuần nhã nhất thế giới, anh phải dạy ta học văn phạm và lối nói quý phái để ta chờ chủ anh về.
-Không được đâu, thưa ngài - Blaisors nói – ngài phải chờ lâu lắm.
Ông ta không trở về trong ngày sao?
-Thưa ngài, ngày mai, ngày kia cũng không. Ngài Bá tước đi du lịch.
-Du lịch ! - D’Artagnan nói – Anh kể chuyện nằm mơ đấy à ?
-Thưa ngài đúng đấy ạ. Bá tước cho phép tôi trông coi nhà cửa và còn nói thêm với giọng oai nghi và êm ái - đối với tôi thì đó cũng chỉ là một: “Ai hỏi thì ngươi nói ta đi Paris.”
D’Artagnan kêu lên:
-Thế thì ta chỉ cần biết ông ta đi Paris là đủ rồi. Ta bắt đầu từ đó. Ông ta đi hai giờ trước ta phải không?
-Thưa ngài, vâng.
-Chắc ta bắt kịp được. Ông ta đi một mình??
-Không thưa ngài
-Ai đi với ông ta ?
-Có một nhà quý tộc tôi không biết tên. Một ông già và ông Grimaud.
-Bấy nhiêu người đó không thể chạy nhanh hơn ta được. Ta đi.
Blaisors áp nhẹ mình vào cương ngựa:
-Ngài nghe tôi một chút được không?
-Được, miễn là anh nói nhanh lên, đừng dài dòng.
-Thế thì, thưa ngài, cái chữ Paris đó chỉ là để đánh lừa.
D’Artagnan nghiêm nét mặt lại:
-Ồ ! Đánh lừa?
-Thưa vâng, và ngài Bá tước không đi Paris đâu, tôi chắc là như thế.
-Ai cho anh biết ?
-Thế này này. Ông Grimaud luôn luôn biết ông chủ đi đâu và đã hứa với tôi là ngay lần đi Paris đầu tiên ông sẽ mang giùm một ít tiền gởi cho vợ tôi.
-À ! Thế ra anh đã có vợ rồi.
-Vợ tôi người ở đây nhưng Bá tước thấy nó rộng miệng quá nên tôi gởi nó đi Paris. Có lúc thì bất tiện đây nhưng cũng có lúc dễ chịu.
-Ta hiểu rồi, nhưng nói nốt đi. Anh nói là không tin Bá tước đi Paris à ?
-Vâng, thưa ngài, vì như thế thì Grimaud đã thất hứa. Ông ta đã thề thốt rồi, không thể được!
-Không thể được. - D’Artagnan lặp lại, vẻ mơ màng vì ông cũng tin như thế - Thôi được, anh Blaisors thân mến, cảm ơn anh.
Blaisors nghiêng mình cảm tạ.
-Này, anh biết rằng ta không có tính tò mò. Ta rất cần gặp ông chủ anh. Anh vốn rất khéo nói. Anh nên nói một chút gì đó để ta có thể hiểu được. Một chút xíu thôi… còn lại thì để ta đoán.
-Thưa, tôi xin thề với ngài là tôi không làm được. Tôi hoàn toàn không biết về mục đích chuyến đi của Bá tước. Còn nói chuyện nghe lén nơi cửa sổ thì xấ hổ quá, vả lại điều này ở đây bị cấm.
D’Artagnan nói:
-Anh bạn, điều gì cũng được. Ít ra anh cũng biết ngày Bá tước về chứ ?
-Chẳng hơn là biết ông ta đi đâu một chút nào.
-Cứ tiếp tục đi! Blaisors lục trí nhớ thử coi !
-Như vậy là ngài nghi ngờ sự thành thật của tôi ! Ôi ngài làm tôi buồn nhiều lắm đó.
-Quỷ tha ma bắt cái lưỡi dẻo quẹo của anh ta – D’Artagnan lẩm bẩm – Thôi từ giã.
D’Artagnan ném cái nhìn về phía ngôi nhà, quay ngựa đi, vẻ thản nhiên như chẳng có gì phải bận tâm hay tức giận cả.
Khi đến đầu tường thành và ngoài tầm mắt của mọi người ông mới bật thở ra.
-Hãy xét lại coi. Athos có ở nhà không ? Không. Mấy tên chó chết khoanh tay chơi trong sân, nếu bị chủ bắt gặp thì tha hồ no đòn. Athos đi du lịch ? Khó mà tin được. Chuyện này thật kỳ bí. Mà này, không, đây không phải là người ta muốn tìm. Ta cần một tay ranh ma, kiên trì, phải đi tìm ở Melun, nơi các xứ đạo ta quen. Bốn mươi lăm dặm đường. Bốn ngày rưỡi. Thôi, trời đẹp, còn ta muốn làm gì cũng được. Thôi rút lẹ đường.
Thế rồi ông quất ngựa phi về phía Paris. Ngày thứ tư ông đến Melun đúng như ý ông muốn.
D’Artagnan có thói quen là không bao giờ hỏi đường một người nào hay hỏi một việc gì tầm thường. Đối với mấy chi tiết ấy, trừ khi say quá còn lại thì ông tin vào khả năng nhạy cảm của mình, ở kinh nghiệm ba mươi năm sống và thói quen phân biệt được dáng dấp của các mái nhà cũng như trên các khuôn mặt người một cách chuẩn xác.
Ở Melun, D’Artagnan tìm ra ngay nhà thờ đạo – là một ngôi nhà duyên dáng quét vôi trắng trên lớp gạch đỏ, với các dây leo dọc theo ống máng và cây thập tự giá cắm trên đỉnh gác chuông.
Từ căn phòng thấp của ngôi nhà ấy, có một tiếng động, hay nói đúng hơn một loạt âm thanh tuôn ra như tiếng chim con vừa nở kêu ríu rít. Rõ ra là trong ấy có tiếng đánh vần chữ cái. Một giọng vừa trầm vừa cao lên tiếng rầy la những kẻ chuyện trò ồn ào và sửa lại giọng đọc của người kia.
D’Artagnan nhận ra giọng nói ấy, và vì cửa sổ căn phòng thấp được mở ra, nên ông ngồi trên mình ngựa, nghiêng mình dưới tàn nho và kêu to lên :
-Bazin, Bazin thân mến, mạnh giỏi không ?
Một người thấp béo, khuôn mặt dẹt, đầu tóc hoa râm hớt kiểu thầy tu và đội mũ dạ đen đứng lên khi nghe tiếng D’Artagnan. Nói đứng lên thì không đúng, phải nói là nhảy dựng lên. Bazin nhảy lên làm cái ghế ngồi đổ xuống và lũ trẻ giành nhau dựng dậy tựa như lính Hy Lạp giành thây Patrocle với lính thành Troy vậy. Không phải chỉ nhảy lên mà Bazin còn đánh rơi quyển sách vần và cây roi cầm nơi tay khi nghe tiếng D’Artagnan. Ông nói:
-Ơ ngài, Ngài D’Artagnan !
-Vâng tôi đây, Aramis ở đâu. Không phải, ngài Hiệp sĩ D’Herblay, không tôi lại lộn nữa, ngài trợ tế, ở đâu?
Bazin trả lời nghiêm chỉnh :
-Ồ ! Thưa ngài, Đức ông ở giáo phận của ngài.
-Ông ta vui không ? - D’Artagnan hỏi
Bazin lập lại câu nói trước
-Ái chà ! Aramis có giáo phận rồi à ?
-Thưa ngài, vâng. Tại sao lại không?
-Vậy thì ông ta đã là giám mục rồi sao?
-Nhưng ngài ở đâu mà không biết mấy chuyện này ? – Bazin trả lời với giọng hơi bất nhã
-Anh Bazin thân mến ơi, bọn ta là dân võ biền, bọn ta có thể biết rõ ai là đại tá hay tự lệnh mặt trận, thống chế, nhưng nếu ai đó là giám mục, Hồng y hay Giáo hoàng … thì ta đếch biết, cho dù tin tức đã đi hết ba phần tư trái đất cũng vậy.
Bazin trợn tròn mắt:
-Suỵt, suỵt ! Chớ làm hư mấy đứa bè, tôi đang dạy chúng những lời của thánh hiền
Bọn trẻ quả đang đi vòng D’Artagnan ngắm nghía con ngựa, thanh gươm to tướng, giải tua và dáng hùng dũng của ông. Chúng ngưỡng mộ giọng nói sang sảng của ông đến nỗi khi ông nhấn mạnh tiếng chửi thề thì cả trường la lớn “Đếch biết” cùng lúc với tiếng cười ầm ĩ, tiếng giậm chân ồn ào khiến cho người lính ngự lâm rất hả dạ còn ông giáo già thì lại muốn điên cả đầu. Ông ta la lên:
-Im đi, lũ nhỏ này! Này, ngài D’Artagnan ơi, ngài tới đây, thế là các nguyên tắc tốt đẹp mà tôi đã dạy bị tiêu ma hết rồi. Ối trời đất ơi! Đồ khùng. Đồ điên !
Thế là bậc thầy đáng kính Bazin lập tức nhào vào đám học trò để dạy chúng đổi tánh, nhưng chỉ càng làm chúng la ồn hơn lên. Ông nói:
-Thôi, ngài hết người làm hư hỏng ở đây nữa rồi.
D’Artagnan mỉm cười khiến Bazin rùng mình:
-Có chắc không? Giáo phận của chủ anh ở đâu?
-Đức ông René làm giám mục ở Vannes
-Ai phong cho ông ta ?
-Thì ngài tổng giám, bạn láng giềng của chúng tôi đấy.
-Ông Fouquet à ?
-Đích thị
-Aramis thân với ông ta sao “
-Đức ông chủ nhật nào cũng làm lễ ở nhà ngài tổng giám ở Vaux, rồi sau đó hai người đi săn với nhau.
-À, hèn chi.
-Và Đức ông thường viết bài giảng … không, bài thuyết giáo với ngài tổng giám.
-Và rồi do đó mà Aramis được ở Vannes.
-Ở Vannes, thuộc xứ Bretagne đấy.
-Anh láu lắm Bazin à. Không đúng vậy đâu.
-Ngài coi, các phòng trong nhà thờ đều trống trơn kìa !
D’Artagnan nhận ra căn phòng vắng ngắt.
-Anh nói đúng thật.
-Nhưng Đức ông có báo tin được phong chức cho ngài mà!
-Báo bao lâu rồi
-Một tháng.
Thế thì, chẳng cần phải mất thì giờ làm gì nữa, Aramis không cần tới ta nữa. Nhưng này, Bazin, sao anh không làm giáo sĩ?
-Thưa ngài, không được, tôi bận việc.
D’Artagnan tự nhủ: “Đúng như thế rồi. Chẳng nên cho những người này lạc lõng…” - Rồi nói to:
-Bazin kiếm cái gì cho ta ăn đi.
-Vâng, thưa ngài.
-Con gà giò, tô súp, và chai rượu là đủ.
Bazin nói:
-Hôm nay thứ bảy, ngày chay.
-Ta được miễn mà, - D’Artagnan nói
Bazin quay vào bảo đứa học trò lớn nhất đi báo với bà đầu bếp. Trong khi đó D’Artagnan nhìn vào nhà thờ và nói một cách khinh thường:
-Trời ơi chỗ Đức ông ăn ở tồi tàn quá.
-Chúng tôi có lâu đài Vaux rồi.
D’Artagnan càu nhàu:
-Chắc là lớn như bào tàng Le Lourve
Bazin cũng ngang nhiên trả lời:
-Còn lớn hơn nữa
-Úi chà
Có lẽ D’Artagnan còn kéo dài cuộc tranh luận và nhất quyết cho rằng điệ Le Lourve còn to hơn, nhưng ông chợt thấy con ngựa mình đang cỡi cột ở ngoài cửa nên la lên :
-Trời cho ngựa ta ăn đi. Ông giám mục chủ anh chắc không có con ngựa nào như thế đâu.
Bazin liếc xéo con ngựa và trả lời:
-Ngài tổng giám có cho Đức ông bốn con ngựa trong chuồng của ngài và chỉ một trong bốn con đó cũng bằng bốn con của ngài rồi.
D’Artagnan tức đến đỏ mặt. Tay chân ngứa ngáy, ông nhìn xem trên đầu Bazin có chỗ nào tiện đặt quả đấm của mình không. Nhưng thoáng chốc ông quên đi và chỉ nói:
-Ôi trời, ta nghĩ rằng thôi không phục vụ Đức Vua nữa là đúng đấy. Ông Bazin đáng kính ơi, ngài tổng giám có bao nhiêu lính ngự lâm?
Bazin khép sách lại và huơ roi ra hiệu cho bọn trẻ giải tán:
-Ngài có đủ tiền để thu nhận tất cả lính ngự lâm của vương quốc.
-Trời ! Trời ! D’Artagnan hết ý kiến rồi.
Người ta báo cơm đã dọn, D’Artagnan theo bà đầu bếp vào phòng ăn đã sẵn sàng. Ông ngồi vào bàn chộp nhai ngay con gà giò người ta quên vỗ béo.
-Hình như là ta đã sai lầm khi không đi phục vụ cho ông chủ này. Ngài tổng giám có vẻ đúng là một lãnh chúa đầy quyền uy. Thế mà bọn ta ở triều đình, bọn ta không biết gì hết. Ánh nắng mặt trời đã ngăn chúng ta không thấy mấy ngôi sao lớn vốn cũng là những mặt trời nhưng phải tội là cách xa chúng ta đấy thôi.
D’Artagnan vốn khoái theo nguyên tắc là bắt một người nói chuyện về điều ông ta ưa nên ông chĩa mũi dùi vào Bazin. Nhưng thật vô ích. Anh chàng này, ngoài những lời tâng bốc ca tụng ông tổng giám tài chính còn thì lo giữ mồm giữ miệng chỉ đáp lại sự tò mò của D’Artagnan bằng những lời nhạt phèo khiến ông bực mình và ăn xong liền đòi đi nghỉ ngay.
D’Artagnan được Bazin dẫn vào một căn phòng hơi bê bối có giường chiếu khá tồi tàn. Nhưng ông không phải là người khó tính. Bazin nói Aramis đã mang chìa khóa phòng riêng đi rồi và vì D’Artagnan biết rằng Aramis là một con người ngăn nắp, trong phòng thường cất giữ nhiều đồ đạc, nên ông chẳng ngạc nhiên tí nào. Cái giường tương đối cứng hơn con gà giò nhưng ông nhào tới nó cũng hăng hái không kém gì khi ông chộp con kia, và vì ông dễ ăn dễ ngủ nên ông thiếp ngay, nhanh như khi ông mút đến cái xương rô ti cuối cùng.
Từ khi không phải phục vụ cho ai hết, ông đã định rằng nếu ngày xưa ngủ tỉnh bao nhiêu thì nay phải say bấy nhiêu. Nhưng dù dùng đủ cách, đến nửa đêm, ông vẫn bật tỉnh dậy vì tiếng xe ngựa và tiếng mã phu ngoài đường. Vách phòng ông đột nhiên sáng chói lên, ông vụt nhảy ra khỏi giường và chạy ra cửa sổ. Ông dụi mắt “Nhà vua trở về chăng? Cả đoàn người và xe kia chỉ có thể là của hoàng gia thôi.”
-Ngài tổng giám muôn năm !
Có tiếng kêu, hay đúng hơn là tiếng gào từ cửa sổ tầng dưới vang ra mà D’Artagnan nhận ra ngay là của Bazin đang đứng ở đấy, vừa la hét vừa cầm khăn vẫy vẫy và tay kia cầm cây đèn cầy to tướng.
Thế rồi D’Artagnan thấy cái gì như một bóng người nghiêng ra ngoài cánh cửa sổ chính; đồng thời trong khi đó có cả tràng tiếng cười dài - có lẽ do khuôn mặt kỳ quặc của Bazin tạo nên – tung ra từ cỗ xe ấy và như một nỗi vui kéo dài theo đoàn người ngựa vút qua…
D’Artagnan nói :
-Đáng lẽ ta phải thấy ngay là không phải vua đấy. Không di cười vui như thế khi Nhà Vua đi qua đâu.
Rồi ông gọi Bazin lúc này đang chồm đến ba phần thân mình qua cửa sổ để ngóng theo đoàn xe.
-Cái gì thế Bazin ?
-Ông Fouquet đấy – Bazin nói với giọng kẻ cả
-Còn mấy người kia ?
-Triều đình ngài Fouquet đấy.
-Úi dà - D’Artagnan kêu lên – ngài Mararin mà nghe thấy thế thì anh ăn nói làm sao với ngài?
Và ông quay lại giường ngủ tiếp trong mơ màng, với ý nghĩ không biết bằng cách nào mà Aramis được hưởng sự che chở mãi mãi của con người quyền uy nhấy của vương quốc.
“Hắn may mắn hơn ta hay ta ngu hơn hắn? Lạ thật”.
Đây là những chữ dùng để kết thúc câu chuyện và ý từ khi D’Artagnan trở nên biết chuyện hơn. Ngày xưa, ông nói “chán quá” như một tiếng gây khích động. Bây giờ già rồi, ông chỉ lẩm bẩm “Lạ thật”, như một triết gia cam phận dùng để chặn nỗi ham muốn của mình lại.
Khi D’Artagnan biết chắc rằng ông D’Herblay thực không có ở đây, thì ông giã từ Bazin không hối tiếc và thâm trầm liếc nhìn toà lâu đài Vaux đang sáng lên rực rỡ đến độ tàn tạ. Ông thúc con ngựa trong khi cắn chặt môi như một con người đầy hoài nghi, bi quan và nói.
-Thôi đi đi, ta sẽ tìm được con người và cái tủ sắt khá hơn ở Pierrefonds. Ta chỉ cần thế thôi, vì ta đã có sẵn phương hướng rồi.
Xin các độc giả bỏ qua cho những chuyện lặt vặt dọc đường của D’Artagnan cho đến sáng thứ ba, lúc ông tới Pierrefonds. Từ xa ông đã thấy toà lâu đài của Porthos đứng trên bờ một hồ lớn kế bên một khu rừng xinh đẹp
Sau khi nhìn thấy những hàng cây cối sum xuê, thấy ánh mặt trời tháng năm chiếu vàng trên các ngọn đồi xanh tươi và những cánh rừng kéo dài đế mãi tận Compiègne, D’Artagnan chợt nhận ra trên một chiếc xe là một một cái nhà hộp khá lớn có hai gia nhân đẩy và hai người kéo đi. Trong hộp ấy có một vật to tướng màu xanh lá và vàng chói lắc qua lắc lại theo sứa đẩy và kéo trên các lối đi tươi mát của công viên. Cái vật đó nếu ta đứng đằng xa thì không thể thấy rõ và chẳng hiểu là gì cả; đến gần mới biết đó là một cái thùng phuy phủ dạ màu xanh là cây có viền kim tuyến, gần hơn nữa thì rõ là một con người hay nói đúng hơn, một con lật đật, phần dưới choáng đầy cái nhà hộp; lại gần hơn nữa thì chính là Mousqueton. Mousqueton tóc bạc trắng và mặt đỏ gay như chú rối Polichinelle.
D’Artagnan kêu lên:
-Kìa! Đích thị là ông Mousqueton thân mến rồi.
-A ! – Con người to tròn kia hét lên. – Ô Hạnh phúc thay ! Sung sướng thay ! Đúng là ngài D’Artagnan! Dừng lại….bọn ranh! – Cái từ cuối là để dành cho những gia nhân đang kéo và đẩy xe.
Cái hộp dừng lại, Bống người hầu, nhanh nhẹn hết sức như lính nhà nghề, đồng loạt giở nón viền kim tuyến ra và đứng xếp hàng phía sau hộp.
Mousqueton nói:
-Ôi ngài D’Artagnan, tiếc rằng tôi không thể ôm hôn gối ngài được, ngài thấy đấy, tôi bị què rồi.
-Tội nghiệp không, anh Mousqueton thân mến ơi, tại tuổi già đấy.
-Không phải đâu thưa ngài, không phải tại tuổi già, tại bệnh tật, tại buồn khổ.
D’Artagnan làm một vòng quanh cái hộp:
-Mousqueton, anh mà buồn à? Ơn Chúa, anh khoẻ mạnh như một cây sồi ba trăm năm đấy.
Người hầu cận trung thành nói:
-Cái chân, thưa ngài, đôi chân của tôi.
-Sao, đôi chân làm sao?
-Chúng không muốn cõng cái thân tôi nữa rồi.
-Đồ bội ơn bạc nghĩa! Nhưng theo ta thì tại anh đã nuôi nấng chúng quá kỹ càng đấy.
Mousqueton thở dài
-Vâng! Về phương diện này thì chúng không có gì phiền trách tôi hết. Đối với thân xác bao giờ tôi cũng hết lòng.Tôi không ích kỷ được
Rồi Mousqueton lại thở dài. D’Artagnan nhủ thầm: “Hay là Mousqueton muốn làm Nam tước ?”
Mousqueton nói sau khi rứt mình ra khỏi cơn mơ mộng nặng nề:
-Chúa ơi! Chắc là Đức Ông vui sước được ngài nghĩ tới đấy!
-Bạn Porthos tốt bụng - D’Artagnan kêu lên – Tôi muốn được ôm hôn hắn ngay.
Mousqueton mủi lòng:
-Ồ để tôi viết thư cho.
D’Artagnan kêu lên:
-Anh phải viết thư cho ông ta ???
-Ngay ngài hôm nay, không chậm trễ phút nào.
-Ông ta không ở đây à?
-Không thưa ngài
-Ở gần hay ở xa?
-Làm sao tôi biết được? Làm sao…
Người lính ngự lâm giậm chân la lớn:
-Chán quá, rủi cho ta rồi. Porthos trụ mình mãi, thế mà…
-Thưa ngài, không ai ở một chỗ như Đức ông của tôi, nhưng mà…
-Mà sao?
-Khi một người bạn thúc giục
-Bạn?
-Đúng rồi! Ngài D’Herblay kính mên đấy.
-Aramis hối thúc Porthos?
-Chuyện thế này này, thưa ngài D’Artagnan. Ngài D’Herblay viết thư cho Đức ông.
-Thật không ?
-Một bức thư đưa tới như lửa cháy ngang mày!
D’Artagnan nói:
-Kể ta nghe đi. Nhưng trước hết hãy bảo bọn này lánh đi đã
Mousqueton la lên một tiếng “Cút đi, đồ vô lại” từ trong lồng ngực vụt ra, to đến mức chỉ cần hơi thở, không cần lời cũng đủ làm bay tuốt bốn người gia nhân. D’Artagnan ngồi trên đòn khiên và lắng tai nghe Mousqueton nói:
-Thưa ngài, Đức ông có nhận một bức thư từ ngài tổng giám mục cách nay tám hay chín ngày gì đó. Đó là ngày vui chơi… nơi thôn dã, vâng, đúng là thứ tư.
-Cái gì thế? Ngày vui thôn dã là cái gì?
-Thưa ngài, chúng tôi ở đây có nhiều thú vui lắm, dồn dập chồng chất đền nỗi chúng tôi phải phân ra tuần tự để hưởng thụ.
-Ôi đúng là tính ngăn nắp của Porthos. Ta không nghĩ được như thế đâu. Ta không bao giờ có điều hưởng thụ nhiều đến bị tràn ngập…
-Ấy! chúng tôi bị như thế đấy. - Mousqueton nói.
D’Artagnan hỏi:
-Thế thí các anh thu xếp làm sao?
-Kể ra thì hơi dài…
-Chẳng sao đâu, chúng ta còn thừa thì giờ. Vả lại anh bạn Mousqueton thân mến ơi, anh nói hay lắm nên ta rất thích nghe.
Mousqueton tỏ vẻ bằng lòng với lời khen đúng ấy.
-Thật ra là tôi đã được học hỏi nhiều trong khi đi chung với Đức ông.
-Ta đang đợi các trò vui được sắp đặt đó, Mousqueton ạ. Mà nôn nóng lắm. Để coi thử có phải ta đến nhầm ngày tốt không
Mousqueton buồn bã trả lời:
-Ôi, thưa ngài D’Artagnan, từ hôm Đức ông ra đi, trò vui bay mất hết rồi.
-Thôi thì, Anh Mousqueton thân mến ơi, hãy kể lại đi cũng được.
-Ngài muốn tôi bắt đầu từ gnày nào?
-Trời ạ! Thôi bắt đầu ngày chủ nhật, ngày của Chúa đấy.
-Chủ nhật, thú vui tôn giáo. Đức ông đi lễ, nhận bánh Thánh, nghe diễn từ và giáo huấn của vị linh mục. Chẳng vui gì lắm, nhưng chúng tôi đang đợi bổ về một vị tu sĩ dòng Carmes nghe đồn ăn nói giỏi lắm để đánh thức chúng tôi dậy chứ còn cái ông linh mục hiện tại cứ khiến chúng tôi ngủ đứng ngu ngồi mãi, Vậy thì ngày chủ nhật là hưởng thú vui tôn giáo. Thứ hai, hưởng thú vui trần tục.
D’Artagnan kêu lên:
-Á! À! Mousqueton, anh hiểu thế là thế nào. Cho ta biết vài thú vui trần tục đi
-Thưa ngài, thứ hai, chúng tôi gặp nhau, tiếp nhau, đi thăm nhau, thổi kèn sáo, nhảy, đi thơ thẩn rồi đốt một ít hương thơm để…
Người lính ngự lâm phải hết sức lên gân nơi bắp thịt quai hàm để bặm miệng khỏi cười bung ra.
-Đồ mắc dịch! Đó là thói ga lăng quá quắt.
-Thứ ba, thú vui trì thức.
-Ồ! Tốt - D’Artagnan nói – Vui cái gì? Mousqueton thân mến, nói cụ thể cho ta nghe đi.
-Đức ông mua một quả cầu - Chốc nữa, tôi sẽ chỉ cho ngài xem - quả cầu choáng cả cái tháp lớn trừ ra chỗ của cái hành lang nằm phìa trên quả cầu. Mặt trăng, mặt trời thì được treo gần đấy bằng các sợi chỉ hoặc đồng thau. Quả cầu xoay, đẹp lắm. Đức ông chỉ cho tôi các vùng biển, vùng đất nơi xa xôi. Chúng tôi đã hứa là không bao giờ đến đó cả. Thật là đầy thích thú.
-Đầy thích thú, dùng từ đúng thật. - D’Artagnan lặp lại – Còn thứ tư?
-Thú vui đồng quê. Tôi có hân hạnh được trình với ngài hiệp sĩ rồi. Chúng tôi ngắm đàn cừu và dê của Đức Ông. Chúng tôi cho các cô chăn cừu nhảy với các ông sáo và kèn da dê, giống như trong một quyển sách Đức ông có trong thư viện của ngài, tên là Mục ca. Tác giả vừa mới chết cách đây một tháng thôi.
-Hình như là ông Racan phải không? D’Artagnan hỏi.
-Vâng đúng thế, ông Racan. Nhưng chưa hết đâu. Chúng tôi còn đi câu cá trên một con lạch nhỏ, sau đó chúng tôi ngồi quây quần ăn uống, cổ quàng đầy vòng hoa. Ngày thứ tư là như thế đó.
D’Artagnan nói:
-Đồ mắc dịch! Sắp cho thứ tự như thế là khá lắm đấy. Còn thứ năm? Có còn gì cho ngày thứ năm tồi tàn này không?
Mousqueton mỉm cười:
-Thưa ngài! Thứ năm chẳng kém đâu. Thứ năm là ngày hội điền kinh. Ồ thưa ngài, thật là vĩ đại. Chúng tôi gọi về tất cả những người thuộc hạ trẻ tuổi của Đức ông rồi bắt họ thi ném đĩa hoặc chạy bộ. Đức ông ném đĩa không thua một ai hết. Và khi ngài tung ra một cú đấm thì ôi, thật bất hạnh.
-Sao mà bất hạnh?
-Đúng thưa ngài. Trận đấu không được phép mang găng nên Đức ông đánh bể đầu, đập gãy xương quai hàm, thủng cả xương sườn, vào thấu phổi người ta. Cuộc thi thật là thú nhưng từ đó không ai dám đọ sức với Đức ông nữa.
-Thế thì cái cổ tay…
-Ồ! Thưa ngài, cái cổ tay đức ông vẫn rắn chắc như từ hồi nào. Đức ông có thú nhận là chân ngài hơi yếu, nhưng sức đó chạy vào cánh tay, cho nên…
-Cho nên ngài vẫn đánh gục được bò như hồi xưa.
-Thưa ngài, hơn thế nữa kia. Đức ông đấm thủng cả tường. Và rồi sau khi ăn nhẹ nữa nơi một nhà tá điền – ngài cũng biết. Đức ông bình dân và tốt lắm – sau bữa ăn, ngài đùa bỡn đấm vào tường, tường sập xuống lôi theo mái ngói đà nghẹt ba người đàn ông và một bà già.
-Trời ơi, Mousqueton. Thế còn chủ anh thì sao?
-Ồ, không sao. Đức ông chỉ hơi bị trầy da đầu thôi. Chúng tôi chỉ phải rửa cho ngài bằng thứ nước của các bà dì đem tới thôi. Còn nắm tay thì không sao hết.
-Không sao hết ?
-Không sao hết, thưa ngài.
-Thú vui điền kinh tởm quá ! Chắc phải tốn nhiều tiền lắm vì có các bà goá, các đứa trẻ mồ côi?
-Chu cấp cho họ chỉ tốn một phần mười lợi tức của Đức ông thôi.
-Thôi qua thứ Sáu đi – D’Artagnan nói
-Thứ Sáu là những thú vui của người quý phái và chiến sĩ. Chúng tôi đi săn, rèn vũ khí, nuôi dạy chim ưng, luyện ngựa cho thuần. Và thứ Bảy là thú vui tinh thần. Chúng tôi lo phần hồn, ngắm hình và tượng của Đức ông, chúng tôi viết sách và lập hoạ đồ, cuối cùng là chúng tôi bắn súng đại bác của Đức Ông.
-Anh lập hoạ đồ, anh bắn súng…
-Vâng đúng vậy, thưa ngài.
-Ông bạn của ta ơi - D’Artagnan nói – Ngài Du Vallon đúng là có khối óc tinh tế và đáng yêu nhất như ta được biết, nhưng theo ta, anh kể còn thiếu một thú vui.
Mousqueton lo lắng hỏi dồn
-Thứ gì, thưa ngài ?
-Các thú vui vật chất.
Mousqueton đỏ mặt cúi xuống
-Ngài có ý nói gì thế?
-Ta muốn nói là mâm cỗ, rượu ngon, cả buổi tối bận rộn với mấy cái chai.
Ồ, thưa ngài, chuyện đó không đáng kể vì chúng tôi hưởng hằng ngài mà.
D’Artagnan nói tiếp lời:
-Bạn Mousqueton ơi, xin lỗi, ta mải nghe anh bạn nói chuyện hay quá mà quên mất điểm chính của chúng ta là không biết ngài tổng giám mục D’Herblay đã viết gì cho chủ anh thế?
-Thưa ngài đúng vậy. Các thú vui khiến chúng ta thành đãng trí rồi. Thế này, thưa ngài, cả câu chuyện là đây.
-Ta nghe đây, anh bạn Mousqueton thân mến ạ.
-Hôm thứ tư, một bức thư gửi tới, tôi nhận ra là chữ của ai và cầm tận tay đưa cho Đức ông. Ngài đọc và la lên: “Mang ngựa, kiếm! Mau lên!”
D’Artagnan nói
-Ồ chắc là có đánh nhau rồi.
-Thưa ngài, không.Chỉ có mấy lời này thôi: “Bạn Porthos thân mến ơi, nếu bạn muốn đến trước thu phân thì lên đường mau lên. Tôi đang đợi bạn đấy.”
D’Artagnan nói giọng mơ màng:
-Chán quá hình như là gấp lắm
Mousqueton tiếp tục:
-Chắc vậy. Vì Đức ông đi ngay trong ngày với người giúp việc.
-Kịp không?
-Chắc kịp. Đưc ông nói luôn mồm: “Trời ơi, thu phân là thế nào? Thây kệ, cái gã kỳ quặc ấy phải có ngựa tốt mới đến trước ta được !”
D’Artagnan hỏi:
-Như thế anh tin rằng Porthos đến trước?
-Chắc chắn lắm. Cái tên “thu phân” ấy dù có giàu đến đâu đi nữa cũng không thể có ngựa chạy hay như của Đức ông đâu.
D’Artagnan cố sức nín cười, vì còn phải bận tâm đến bức thư ngắn ngủi của Aramis. Ông đi theo Mousqueton hay nói đúng hơn đi theo cái xe của Mousqueton, đến tận toà lâu đài. Ông ngồi bên một chiếc bàn sang trọng, được tiếp đãi như một ông hoàng, nhưng không thể hỏi được gì ở Mousqueton để biết thêm hết: người đầy tờ trung thành chỉ biết khóc muồi thôi.
D’Artagnan qua đêm trên một chiếc giường êm ấm, nghĩ mãi đến bức thư của Aramis, băn khoăn về mối liên hệ giữa ngày phân điểm và công việc của Porthos. Thế rồi ông lại rời bỏ Pierrefonds như đã rời Melun, đã từ giã lâu đài của bá tước De La Fera, chẳng vì lẽ gì hết, ngoài việc đi tìm những thú tuần tự qua đường để cho ngày cũng khuây khỏa như đêm. Tuy nhiên đây thật là một trong những lúc buồn nhất trong đời của D’Artagnan. Ông bỏ thõng chân, đầu cúi xuống, mắt thẫn thờ đăm đăm, và sôi nổi nói với mình trong lúc tâm trí mơ màng dâng lên những ý nghĩ từ trong sâu kín tâm hồn.
Không bạn bè, không tương lai, không còn gì nữa cả. Sức lục ta đã gãu đổ cũng như sự đoàn kết ngày xưa nay đã tan vỡ. Ôi tuổi già đến một cách lạnh lùng, không cưỡng nổi, tuổi già như cái áo quan bọc kín những gì ngày xưa là tuổi trẻ sáng loáng ướp hương thơm, rồi xốc tất cả lên vai, mang đi, nhận chím vào đáy hang thăm thẳm của cái chết.
Người con xứ Gascon rùng mình, lòng se lại, con người vẫn còn đầy can đảm, đầy sức mạnh để chống chọi lại những bất hạnh của cuộc đời, thế mà có lúc vẫn thấy mây trời đen hơn, thấy đất trơn trợt và nhão nhoẹt như đất nghĩa trang.
Ông tự nhủ “Mình đi đâu, muốn gì ? Cô đơn một mình, không gia đình, không bè bạn. Ôi!”
Ông kêu lên một tiếng rồi thúc mạnh hai chân. Con ngựa chẳng thấy gì buồn với mớ kiều mạch ngôn ở Pierrefonds nên nhân chủ cho phép, bè phấn chấn phòng một hơi tới hai dặm đường.
Ngày hôm sau D’Artagnan đến Paris. Chuyến đi này dài tới mười ngày.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG IX: CÔNG VIỆC D’ARTAGNAN Ở PARIS

D’Artagnan bước xuống ngựa trước một cửa hàng ở phố Lombards có bảng hiệu “Đùi gà vàng”. Một người dáng dễ coi mang tấm tạp dề trắng, bàn tay to lớn xoa hàm ria xám, vội vàng kêu lên khi trông thấy con ngựa khoang:
-Ngài hiệp sĩ! A ! Đúng ngài rồi!
D’Artagnan khom lưng xuống để đi vào cửa hiệu trả lời:
-Chào Planchet.
Planchet kêu to:
-Nhanh lên một đứa lo cho con ngựa của ngài D’Artagnan, một đứa lo dọn phòng đi, một đứa dọn ăn!
-Cảm ơn Planchet, chào các con. - D’Artagnan nói với lũ trẻ đang lăng xăng.
Planchet nói:
-Xin ngài cho phép tôi mang cà phê, mật đường và mứt nho này đi. Cho văn phòng ngài tổng giám đấy!
-Gởi đi! Gởi đi!
-Chỉ chốc lát thôi, rồi chúng ta sẽ ăn nhẹ.
D’Artagnan nói:
-Sắp xếp sao cho chúng ta có bữa riêng một mình, ta có việc muốn nói với anh.
Planchet nhìn ông chủ cũ với đôi mắt dò hỏi D’Artagnan vội nói:
-Ồ chẳng có gì đâu, chuyện thú vị đấy.
-Càng hay, càng hay.
Planchet thở hắt ra nhẹ nhõm trong khi D’Artagnan giản dị ngồi xuống đống nút chai và quan sát chung quanh. Tiệm đấy hàng, có mùi gừng thơm, mùi quế và mùi bột tiêu nồng gắt mũi D’Artagnan.
Bọn trẻ cảm thấy sung sướng được ở gần một người lính danh tiếng, được ở gần một sĩ quan ngự lâm từng sống sát bên mình vua. Chúng hăng hái làm việc như điên và khi được sai việc gì thì hấp t6áp làm việc nấy, bất kể chẳng cần ai hết.
Planchet thu và đếm tiền, thỉnh thoảng lại tỏ vài cử chỉ lễ phép với ông chủ cũ. Đối với khách hàng, Planchet nói cộc lốc và tỏ dáng kẻ cả của một nhà buôn giàu có quen thói phục vụ tất cả mọi người chứ không riêng gì ai. D’Artagnan nhận xét sắc thái ấy mà lòng nảy ra niềm vui sẽ được giải thích sau. Đêm dần dần đến. Cuối cùng Planchet dẫn ông lên căn phòng chứa đầy thùng trên tầng một, có dọn đặt sẵn bữa ăn trên một cái bàn sạch sẽ chờ đợi hai người.
D’Artagnan lợi dụng một lúc rãnh để nhìn lại khuôn mặt Planchet xa cách đã một năm nay. Planchet lanh lợi nay đã hơi có bụng, như mặt chưa phì nộn. Tia nhìn vẫn tinh sáng long lanh trong hốc mắt sâu, và chất mỡ thường san bằng tất cả những chỗ lồi trên mặt người, vẫn chưa lấp gò má - cái dấu hiệu của sự phỉnh phờ, tham lam, chưa lấp cái càm nhọn - dấu hiệu của sự tinh tế kiên nhẫn.
Planchet ngồi chủ tọa bên bàn ăn cũng đỉnh đạc như khi ngồi ngoài cửa hàng. Ông dọn cho chủ một bữa ăn đơn giản, nhưng tất cả đều theo kiểu Paris: Gia cầm rô ti trong lò bánh mì, có rau cải và đồ tráng miệng lấy ngay trong cửa hiệu.
D’Artagnan thích thú khi thấy Planchet rút ra từ sau đống củi một chai rượu vang xứ Anjou mà ông thích nhất trên đời. Planchet hiền hậu mỉm cười nói:
-Thưa ngài, ngày xưa thì tôi uống rượu nhờ của ngài, bây giờ tôi được hân hạnh mời lại.
-Cám ơn Chúa, bạn Planchet ạ, tôi mong còn được uống lâu hơn nữa vì lúc này tôi còn rảnh rang.
-Rảnh? Ngài được nghỉ phép ?
-Vô thời hạn !
Planchet sững sờ
-Ngài được giải ngũ à?
-Ừ ta nghỉ rồi.
-Còn vua thì sao? – Planchet la lên như vậy vì không thể tưởng tượng được Nhà vua lại có thể bỏ qua không dùng một người như D’Artagnan.
-Thì ông vua tìm người khác… Nhưng thôi bây giờ chúng ta ăn ngon xong, anh đang có hứng, anh muốn ta nói chuyện tâm tình thì được, ngóng lỗ tai lên nghe đi.
-Tôi đang mở ra đây.
Rồi Planchet cười thật thà không giấu chút ranh ma, với tay mở nút một chai vang trắng.
-Thôi hãy để cho ta tỉnh.
-Ồ khi ngài quên thì…
-Lúc này đầu óc ta còn tỉnh thì ta phải sử dụng hết mực. Trước hết nói chuyện tài chính đã. Tiền của ta ra làm sao?
-Khá lắm, thưa ngài. Số hai mươi ngàn lúc tôi nhận được của ngài đã đem làm vốn buôn bán, lời được chín phần trăm, chia cho ngài bảy phần, còn thì tôi được nhờ cậy ngài.
-Anh không thắc mắc phải không?
-Được lắm. Ngài có đem thêm cho tôi không?
-Nhiều hơn thế nữa. Nhưng anh có cần không đã?
-Ồ không. Bây giờ ai cũng muốn gởi tiền cho tôi. Tôi đang làm ăn khấm khá.
-Thì đúng với dự định ngày xưa của anh đó
-Tôi chơi trò nhà băng… Tôi mua hàng của các đồng nghiệp cần bán, tôi ứng tiền cho những người gặp khó khi thu vào.
-Không cắt cổ?
-Ồ thưa ngài, tuần qua tôi hai lần hẹn ở đại lộ chỉ vì ba chữ mà ngài vưa nói ra đấy !
-Chuyện gì thế?
-Thế này. Chuyện cho mượn… người mượn tiền đem thế bằng đường đen, nếu đến kì không trả thì tôi được quyền bán. Tôi cho mượng một ngàn liu. Hắng không trả, tôi bán đường được một ngàn ba trăm liu. Hắng hay được và đòi lại ba trăm liu. Tất nhiên tôi từ chối viện lẽ rằng nếu tôi bán có chín trăm liu thì sao? Hắn bảo là tôi cho vay cắt cổ. Tôi mời hắn lập lại lời này ở chỗ dịch sâu vào phía trong đường cái. Tay này là dân vệ binh củ nên hắn nhận lời liền và tôi lấy kiếm của ngài cho hắn một mũi xuyên qua đùi trái.
D’Artagnan kêu lên:
-Ui ! Cái nhà băng gì lạ vậy?
Planchet trả lời:
-Hễ cứ trên mười ba phần trăm là tôi phải đánh nhau, tính tôi là thế.
D’Artagnan nói:
-Thôi cứ lấy mười hai phần trăm đi, một phần trăm còn lại để dành cho lãi suất và môi giới.
-Thưa ngài, đúng đấy. Còn công việc làm ăn của ngài ra sao?
-Ồ ! Planchet, chuyện dài lắm và cũng hơi khó nói.
D’Artagnan gãi cằm như một người đang lúng túng vừa muốn thổ lộ vừa muốn giữ kín chuyện mình. Planchet hỏi:
-Chuyện đầu tư à?
-Ờ, đúng.
-Có sinh lời khá không?
-Khá lắm, bốn trăm phần trăm, Planchet ạ.
Planchet đập mạnh xuống bàn làm cái chai nẩy lên như cũng phải sợ hãi.
-Có thực không?
D’Artagnan lạnh lùng nói:
-Hình như là còn hơn nữa, mà ta thì muốn nói bớt đi.
Planchet xán lại gần:
-Lạ thế… nhưng thưa ngài tuyệt đấy! Có cần phải nhiều tiền lắm không?
-Mỗi người hai chục ngàn liu, Planchet ạ.
-Đó là cả số tiền ngài có. Phải đưa trong bao lâu?
-Một tháng thôi.
-Và như thế thì sẽ sinh ra…
-Năm chục ngàn liu cho mỗi phần. Cứ tính đi thì biết
-Thật phi thường. Chuyện này thì phải đánh nhau ra trò mới được
D’Artagnan vẫn điềm tĩnh nói :
-Thì ta cũng biết là phải có đánh khá lắm, nhưng Planchet ạ, lần này thì tuy có cả hai chúng ta, nhưng để ta chịu đòn một mình thôi.
-Thưa ngài, tôi chịu được.
-Không được đâu Planchet ơi, anh không thể rời công việc buôn bán này được.
-Mối hàng không ở Paris sao?
-Ở Anh
-Xứ của đầu cơ, đúng rồi… tôi biết nó lắm. Nếu không cho là tôi tò mò thì xin ngài cho biết là công việc gì thế?
-Phục hồi, Planchet ạ.
-Đền đài cung điện?
-Vâng, chúng ta phục hồi điện White Hall
-Thật là quan trọng. Mà một tháng có xong không?
-Chuyện đó có ta lo .
-Đó là chuyện của ngài. Cứ mỗi lần ngài nhúng tay vào thì…
-Đúng của ta, ta biết rõ lắm. Nhưng ta muốn hỏi ý kiến anh.
-Rất hân hạnh. Có điều tôi không biết nhiều về kiến trúc.
-Planchet, anh lầm rồi, anh là một kiến trúc sư đại tài, về chuyện này thì anh cũng giỏi như ta vậy.
-Cảm ơn…
-Phải thú nhận là ta định bàn với các ngài kia, nhưng họ đi vắng hết. Đáng tiếc quá, ta chẳng biết ai can đảm và lanh lẹ hơn họ cả.
-Úi dà ! Chắc là phải có tranh giành mới được
-Ừ, Planchet nói đúng đấy
-Thưa ngài, tôi nóng lòng muốn biết chi tiết quá chừng.
-Thế này, Planchet ạ. Anh đi đóng cửa lớn lại và mở cửa sổ ra, tiếng động của người đi ngoài đường và của xe cộ sẽ che lấp tiếng của chúng ta và không ai nghe thấy được hết.
Planchet nghe lời lại mở của sổ. Cả loạt tiếng la hét, tiếng xe cộ, chó sủa, tiếng bước chân xô ùa vào phòng làm điếc tai D’Artagnan theo ý ông muốn
Thế rồi ông nốc một ly vang trắng và bắt đầu:
-Planchet, ta có ý kiến này.
Người chủ tiệm tạp hoá hồi hộp xúc động.
-Ồ, thưa ngài, tôi biết ý kiến của ngài thế nào cũng phải hay ho rồi.
Sau một lúc im lặng để suy nghĩ lại, không phải một ý mà toàn bộ ý nghĩ, D’Artagnan lên tiếng:
-Anh bạn Planchet thân mến ạ, chắc anh có nghe nói về ông Hoàng nước Anh, Charles I, phải không?
-Than ôi, có nhớ đấy, vì chính ngài đã rời nước Pháp để đi cứu ông vua đó mà không được, suýt nữa còn bị vạ lây.
-Đúng thế, Anh Planchet có trí nhớ tốt lắm
-Thưa ngài, trí nhớ tôi dù kém cỏi đến đâu cũng phải giữ lại, mất nó thì mới là chuyện tai hại đấy. Khi nghe anh chàng Grimaud vốn ít nói mà kể chuyện cái đầu ông vua Charles rơi xuống như thế nào, chuyện ngài đấy phải đi suốt cả nửa đêm trong một chuyến xe tồi tàn như thế nào và rồi thấy cái thây gã Mordaunt khả ái nổi lên như thế nào với lưỡi dao găm cán vàng còn ngập tới ngực, nghe kể những chuyện như thế thì không thể nào quên được cả.
-Thế mà có những kẻ đã quên đấy Planchet ạ.
-Vâng đó là những kẻ không chứng kiến câu chuyện hay không được nghe Grimaud kể chuyện.
-Ồ, thây kệ họ, miễn anh nhớ là được. Ta chỉ cần nhắc nhở anh một điều: đó là, vua Charles có một người con trai.
Planchet nói:
-Có tới hai người kia! Tôi đã thấy người thứ hai ở paris, thấy ngài hầu tước York hôm ông ấy đi đêến Palais – Royal và người ta đã cam quyết với tôi rằng đó là người con thứ hai của Charles I. Còn người con trưởng thì tôi chỉ biết tên mà không được hân hạnh biết mặt.
-Planchet đúng, ta đang nói chuyện về người ấy đó. Đúng là người con trưởng đó, xưa gọi là Hoàng thái tử Galles nay là Charles II, vua nước Anh.
-Vua không ngai, thưa ngài - Planchet trả lời nghiêm chỉnh
-Đúng đấy, Planchet ạ. Và anh có thể nói thêm là ông hoàng đó khốn khổ, khốn khổ còn hơn một người dân lăn lộn trong các vùng tồi tàn nhất của Paris này.
Planchet tỏ vẻ thương cảm theo lối thông thường như người ta vẫn bày tỏ vối những người lạ, tưởng không bao giờ có thể gặp lại được. Với lại anh ta không thấy trong các câu chuyện chính trị xen tình cảm này có chút gì là dính dấp đến vấn đề buôn bán của D’Artagnan trong lúc đầu óc của anh lại tập trung hết vào đó. D’Artagnan vống quen biết việc và hiểu người nên hiểu rỗ Planchet. Ông nói:
-Chuyện tới rồi đây. Ông hoàng xứ Galles ấy, ông vua không ngai đúng như người ta gọi, là người ta lưu tâm , Planchet. Ta thấy ông ta cầu khẩn tên hợm hĩnh Mazarin, xin ông vua Louis trẻ con cứu giúp. Con người ấy, theo ta hiểu qua đôi mắt thông minh của một ông vua bị hạ bệ, trong cái dáng cao quý vượt lên tất cả mọi sự khốn cùng, rõ ra một người có lòng và thật đáng vì vua.
Planchet lặng lẽ đồng ý, mấy chuyện này cũng chẳng có chuyện gì làm sáng tỏ ý định của D’Artagnan. Ông tiếp:
-Đây là lý lẽ của ta, Planchet, hãy nghe cho rõ, chúng ta sắp đến hồi kết cuộc rồi đó.
-Tôi nghe kỹ đây.
-Vua chúa trên trái đất này không lúc nhúc như là dân chúng đâu. Thế mà ông vua mất ngai này ta thấy đúng là một hạt cây chờ nẩy mầm nở hoa vào một mùa nào đó, miễn là có một bàn tay khéo léo, cẩn mật và mạnh bạo biết đem gieo vào đất, đúng chỗ, đúng lúc.
Planchet luôn luôn gật đầu, chứng tỏ rằng anh ta vẫn không hiểu gì hết
-Tội nghiệp cho cái hạt giống sẽ lên làm vua đó. Ta tự nghĩ và ta đau buồn thật sự, cho nên Planchet ạ, ta nghĩ rằng ta đã dính líu vào một chuyện bá vơ nên mới hỏi ý kiến anh, anh bạn ạ.
Planchet đỏ mặt sung sướng hãnh diện
-Tội nghiệp cho cái hạt giống sẽ lên làm vua đó. Ta sẽ nhặt nó lên và sẽ kiếm đất tốt gieo xuống
-Chúa ơi! – Planchet vừa nói vừa nhìn đăm đăm vào người chủ cũ, không biết ông ta có mất trí không
D’Artagnan hỏi :
-Này, chuyện gì mất lòng anh đó?
-Không có gì đâu, thưa ngài.
-Anh vừa nói “Chúa ơi” đó mà !
-Ngài nghĩ thế à ?
-Chắc lắm. Anh đã hiểu rồi chứ?
-Thưa ngài D’Artagnan, phải nhận là tôi sợ…
-Sợ hiểu ?
-Vâng.
-Hiểu rằng ta sẽ đem ông hoàng không ngai lên bệ rồng? Đúng chứ?
Planchet từ trên ghế nhảy dựng lên, hoảng hốt la lớn:
-À ! À.. Thế là cái này mà gọi là “phục hồi” đấy ư?
-Thì đúng là chữ phải dùng rồi còn gì
-Đúng, đúng, nhưng ngài suy nghĩ kỹ rồi chăng?
-Nghĩ cái gì ?
-Nghĩ phía bên kia ?
-Có cái gì ở đó Planchet?
-Trước hết phải xin lỗi ngài đã xen vào câu chuyện này. Nó cũng chẳng phải là việc của tôi nhưng tại ngài bàn bạc với tôi… bàn bạc chuyện làm ăn phải không ạ?
-Khá lắm, Planchet.
-Ngài bàn bạc chuyện làm ăn thì tôi phải tranh luận
-Cứ tranh luận, cãi cho ra lẽ mà.
-Thế thì, vì ngài cho phép, tôi có ý kiến là ở bên kia còn có quốc hội là chuyện đầu tiên.
-Thế rồi sao?
-Và quân đội nữa
-Tốt, anh còn thấy gì nữa
-Còn nhà nước.
-Hết chưa?
-Nhà nước đó đã đông ý lật đổ và giết ông vua cũ, cha người kia, và họ không muốn cải chính lại điều đó.
D’Artagnan nói:
-Anh bạn Planchet ạ, anh lý luận một chiều thôi. Nhà nước… Nhà nước đó bây giờ đang chán mấy ngài mang tên ngoại quốc mọi rợ và hát những bài thánh ca. Tôi thấy.. nếu ca để mà ca .. thì nhà nước muốn có những câu cà chỉa hơn là bài hát trơn. Anh hãy nhớ lại cuộc nổi loạn Fronde, thời ấy người ta cũng “ca” lắm đấy chứ! Thế mà, thời thịnh vượng đó !
-Chớ nói, Chớ nói nữa, lúc ấy tôi suýt bị treo cổ đấy.
-Và anh đã bắt đầu sự nghiệp giữa mấy bài ca đó.
-Đúng thế
-Còn gì nữa không?
-Thôi. Tôi trở lại vấn đề quân đội và nghị viện.
-Ta đã nói rằng ta mượn hai chục ngàn liu của ông Planchet và hai chục ngàn liu của ta nữa là thành lập một đạo quân.
Planchet chắp hai tay lại. Anh ta thấy D’Artagnan nói chuyện quan trọng quá, nên tin chắc rằng ông chủ đúng là điên rồi. Anh ráng cười cho thật hấp dẫn để khỏi làm cho lão điên này bị kích thích, nổi cơn giận lên
-Cả một đạo quân? Đông không ?
-Bốn mươi người. - D’Artagnan nói
-Bốn mươi chống bốn mươi ngàn , chưa đủ đâu. Một mình ngài bằng cả ngàn người, đúng vậy, nhưng tìm đâu ra chín người nữa như ngài? Còn nếu tìm ra thì tiền đâu để trả cho họ?
-Khá lắm, Planchet ạ. Mẹ! Anh lại nịnh ta rồi.
-Thưa ngài, không, tôi nói điều tôi nghĩ thôi. Tôi nghĩ là lần đầu dàn bốn mươi người của ngài, tôi chỉ sợ…
Anh chàng Gascon cười
-Ta không dàn quân đâu. Thời xa xưa, chúng ta có những chuyện hay về việc rút lui và tiến quân khéo léo nhằm tránh địch quân hơn là chạm trán với chúng. Planchet, anh phải biết điều đó, anh đã từng điều khiển người Paris ngày mà họ chống lại bọn ngự lâm quân và đã từng tấn công và rút lui hay tới nỗi anh không rời được công trường Royale đấy mà.
Planchet cũng cười, trả lời:
-Thực ra nếu bốn mươi người của ngài lẩn lút giỏi không vụng về lắm, thì khỏi thua là cái chắc, nhưng rồi kết quả sẽ ra sao?
-Nhất định phải có. Theo ý ta thì cách thức đem Charles II lên ngôi tức khắc là thế này…
Planchet hết sức chú ý, la lên:
-Tốt, xem thử cách đó ra sao. Nhưng hình như chúng ta quên một điều
-Gì thế ?
-Chúng ta đã gạt sang một bên hệ thống nhà nước ưa hát lảm nhảm hơn là tấu thánh ca, bỏ đi quân đội chúng ta không thèm đánh, thế còn Quốc hội, cái thứ không hát hò gì đó cả thì sao?
-Thứ này cũng chẳng đánh đấm gì hết. Tại sao một người như anh, thông minh như thế, lại bận tâm với cả đám la ó gọi nhau là bọn phao câu, bọn xương cụt đó? Quốc hội chẳng làm ta bận tâm chút nào, Planchet ạ.
-Nếu họ không làm ngài bận tâm thì cho qua đi.
-Ừ bây giờ thì nói đến kết quả. Anh nhớ tới Cromwell không ? Tay này chiến đấu cừ đấy.
-Còn là tay ăn nhậu ra trò.
-Thế nghĩa là gì?
-Chỉ một thoáng ông ta đã nuốt cả nước Anh.
-Planchet nghĩ xem, nếu ngay bữa sau lúc Cromwell nuốt nước Anh có người nuốt Cromwell thì sao?
-Ồ thưa ngài. Đó là nguyên lý toán học đầu tiên: Vật chứa phải lớn hơn vật bị chứa.
-Tốt lắm! Đó là công việc của chúng ta phải làm đấy, Planchet ạ.
-Nhưng ông Cromwell đã chết mất rồi và bây giờ chỉ còn cái nấm mồ là vật chứa ông ta thôi.
-Planchet thân mến ơi, ta khoái là thấy anh không những đã trở thành nhà toán học mà còn là triết gia nữa đấy.
-Thưa ngài, trong khi bán tạp hóa, tôi dùng giấy bọc gói hàng nên học hỏi được nhiều điều.
-Hoan hô ! Anh học được toán, triết lý rồi thì chắc cũng phải có một ít sử. Vậy thì, anh cũng biết là sau anh chàng Cromwell tài ba như thế là một anh chàng tầm thường kém cỏi chứ gì?
-Vâng hắn tên là Richard và hắn cũng làm như ngài, ngài D’Artagnan ạ, nghĩa là hắn đãn từ chức rồi.
-Đúng, rất đúng. Sau khi người hùng chết đi, người hèn từ chức thì phải có một người thứ ba. Hắn tên là Monck. Đó là một viên tướng rất khéo khu xử, có nghĩa là hắn chẳng bao giờ đánh đấm gì cả. Đó là một tay ngoại giao giỏi vì chẳng bao giờ há miệng ra; nếu buổi sáng phải nói lời chào đón một người thì hắn suy nghĩ đúng mười hai giờ đồng hồ để vừa kịp chúc người ta lên giường thôi. Có trời mà cứu, với điều kiện là trời cũng phải xuống đúng lúc mới kịp
-Đúng đấy, hắn thật giỏi. Nhưng tôi biết cũng có một chính khách rất giống người này.
-Ngài De Mazarin phải không?
-Đích thị
-Planchet, anh có lý đấy. Nhưng có điều khác là ngài De Mazarin không thèm ngôi vua nước Pháp và như vậy là khác hẳn. Thế là anh chàng Monck nọ, vốn có cả nước Anh rôti sẵn trên bàn và chỉ có việc há miệng lùa vào, anh chàng Monck ấy đã nói với những người của phe Charles II và cả chính Charles II rằng: “Nescio vos…”
Planchet vội nói:
-Tôi không biết tiếng Anh.
-Ta biết. Nescio vos nghĩa là: Tôi không biết ông. Anh chàng Monck đó, tay quan trọng của nước Anh đó, khi hắn nuốt nước Anh xong rồi….
-Thì sao? Planchet hỏi.
-Thì, anh bạn ạ, thì ta qua bên đấy, đem bốn mươi người, bắt cóc hắn, mang về Pháp cho hai phe đối diện nhau dưới cặp mắt khoái trá của ta.
Planchet lấy làm thích thú kêu lên:
-Cả của tôi nữa. Chúng ta sẽ nhốt hắn vào lồng, đem trưng bày cho công chúng xem để lấy tiềng vào cửa.
-Ồ, Planchet, đó là phe thứ ba, ta chưa nghĩ tới mà anh đã tìm ra rồi.
-Dự định của ông ra sao?
-Thứ nhất ta bắt chuộc.
-Bao nhiêu?
-Ồ! Tay sừng sỏ như thế thì phải đến một trăm ngàn liu.
-Hay?
-Hay tốt hơn là đem đưa cho vua Charles. Ông này chẳng còn sợ viên tư lệnh nào hết, chẳng còn có nhà ngoại giao nào để lừa lọc hết thì tự lên ngôi và khi leo lên ngai vàng xong, ông ta sẽ trả cho ta trăm ngàn liu đó. Ý kiến của ta là thế, Planchet xem có được không?
-Thưa ngài, ý tưởng thật tuyệt vời, nhưng…
-Ôi còn nhưng gì nữa?
-Xin lỗi. Nhưng điều này giống nhưng chuyện cái da con gấu đẹp mà ngài đã biết, muốn bán da gấu cần phải bắt được gấu đã. Còn muốn bắt ngài Monck thì phải ẩu đả.
-Nhất định rồi, ta mang cả đạo quân đi.
-Đúng, đúng tôi biết đi bắt cóc. Ồ, thế là ngài thắng vì chẳng ai hơn ngài về việc này cả.
D’Artagnan nói, hơi nhũn nhặn để giấu lòng tự kiêu:
-Đúng là việc này ta đã thành công nhiều. Anh hiểu là nếu ta có mấy ông bạn: Athos thân mến, Porthos gan dạ và Aramis láu lỉnh thì chuyện dẽ thôi. Nhưng họ đã mất hút, biết tìm họ ở phương trời nào? Thôi thì đành làm một mình vậy. Nào anh thấy đầu tư trong vụ kinh doanh này có lờ không?
-Lời quá đi mất !
-Sao?
-Cái gì quá thì cũng không thể nào xảy ra.
-Nhất định xảy ra, chứng cớ là ta đã nhúng tay vào, Planchet ạ.
Planchet kêu lên:
-Thưa ngài, khi tôi nghĩ là chuyện dự tính vĩ đại như thế mà bàn bạc giữa mấy thùng đường, mấy quả ô mai, mấy khúc quế ở đây, thì chắc cái cửa hiệu của tôi là một toà lâu đài mát thôi!
-Coi chừng đề phòng kỹ, Planchet ạ. Chuyện này mà lộ ra thì cả hai vào ngục Bastille nằm đấy, vì đây là một âm mưu phản loạn. Ngài Monck là đồng minh với ngài Mazarin. Coi chừng đấy.
-Thưa ngài, khi người ta có hân hạnh thuộc về ngài thì không sợ gì hết và khi có ai chia sẻ lợi lộc với ngài thì người đó phải biết nín thinh.
-Tốt lắm, cho rằng tám ngày nữa là ta ở Anh thì phải coi đó là công việc kinh doanh của anh hơn là của ta đấy.
-Đi đi, ngài đi ngay càng sớm càng tôt.
-Sao tiền bạc sẵn sàng chưa?
-Ngày mai sẽ có. Ngày mai chính tôi sẽ đưa cho gnài. Ngài muốn lấy vàng hay bạc.
-Vàng tiện nhất. Nhưng ta tính với nhau làm sao đây?
-Ồ giản dị lắm! ngài cho tôi một biên nhận, hết.
D’Artagnan phản đối:
-Không được, không được. Cái gì cũng phải theo quy tắc luật lệ.
-Thì tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng với ngài D’Artagnan …
-Nếu như ta chết ở bên kia, nếu ta bị một phát đạn tử thương, nếu ta uống bia đến vỡ bụng, thì sao?
-Thưa ngài, ngài hãy tin chắc rằng lúc đó tôi tiếc thương ngài đến độ không nghĩ gì đến tiền bạc nữa cả.
-Cảm ơn Planchet. Nhưng trong chuyện này không ngăn chúng ta làm việc tiếp. Chúng ta làm như hai tay thư ký của người nhận ủy nhiệm, chúng ta cùng làm một chứng từ tạm, gọi là giấy hợp đồng làm ăn.
-Đồng ý!
Planchet đi tìm cây viết, mực và giấy đem lại D’Artagnan viết:
Một bên là ngài D’Artagnan, cựu sĩ quan ngự lâm quân, hiện đang ở đường Tiquetonne, khách sạn Dê cái con.
Một bên là ông Planchet, bán tạp hoá, ở đường Lombard, bảng hiệu Đùi gà vàng.
Hai bên thoả thuận như sau:
Một tổ hợp có vốn bốn mươi ngàn liu được thành lập để khai thác một ý kiến của ngài D’Artagnan đề ra.
Ông Planchet được biết rõ ý kiến này và đồng ý mọi điểm, sẽ góp vào hai mươi ngài liu cho ngài D’Artagnan.
Ông sẽ không đòi hỏi hoàn vốn lại, hay đòi tiền lời gì cả trước khi ngài D’Artagnan đi Anh trở về.
Về phía mình nài D’Artagnan cũng sẽ góp hai mươi ngàn liu chung với hai mươi ngàn liu của ông Planchet.
Ngài D’Artagnan toàn quyền sử dụng số tiền bốn mươi ngàn liu ấy theo lý do ghi sau đây.
Ngày nào ngài D’Artagnan lập được ngôi vua cho ông Hoàng Charles II ở nước Anh thì sẽ giao tận tay ông Planchet một số tiền là
…”
D’Artagnan hơi ngừng tay, Planchet chất phác vội vã đọc.
-Số tiền một trăm năm mươi ngàn liu
-Mẹ! Không được, chia đôi không được.
Planchet phản đối yếu ớt:
-Nhưng chúng ta mỗi người góp một nửa mà.
-Đúng, nhưng anh Planchet thân mến ơi, hãy nghe các điều khoản và nếu anh thấy điểm nào không đúng thì cứ xóa bỏ.
Và D’Artagnan viết:
Nhưng vì ngài D’Artagnan ngoài số vốn hai mươi ngàn liu còn góp vào đó thì giờ ý kiến sự khéo léo và cả thân xác là những thứ ngài đánh giá cao, nhất là thứ sau cùng này, nên ngài D’Artagnan sẽ lấy hai trăm ngàn liu trên tổng số ba trăm ngàn liu nghĩa là lấy hai phần ba
-Đúng lắm. Planchet nói.
-Một trăm ngàn liu là đủ cho anh bằng lòng phải không?
-Mẹ! Tốt! Một trăm ngàn liu từ hai mươi ngàn mà.
-Nhưng nên nhớ là chỉ trong một tháng đấy.
-Sao? Một tháng sao?
-Đúng ta chỉ cần trong một tháng.
Planchet ra vẻ hào hiệp:
-Thưa ngài, tôi cho gnài sáu tuần để hành động.
Người lính ngự lâm lịch sư nói:
-Cám ơn.
Rồi cả hai người ký vào giấy. D’Artagnan nói:
-Theo cách này thì ta không sợ ai hết.
-Nhưng tôi thì sợ ngài. Planchet nói
-Không, Planchet à, dù có muốn giữ gìn đến mấy đi nữa ta cũng có thể chết mất xác ở bên kia và anh thì trắng tay. À! thật khổ… Chuyện này khiến ta phải nghĩ đế một điều khoản chính không thể thiếu được, để ta ghi tiếp:
Trong trường hợp ngài D’Artagnan bị chết thì coi như đã thanh toán xong nợ và ngay bây giờ ông Planchet giũ sổ số tiên hai mươi ngàn liu đã góp vào tổ hợp này.
Planchet nhíu mày khi đọc điều khoản cuối cùng này. Nhưng khi nhìn thấy người hợp tác mắt long lanh, tay nổi thịt bắp, xương sống dẻo dai và vững chắc, thì ông lấy lại can đảm và quệt một nét ký nhận ngay điều khoản này. D’Artagnan cũng làm như vậy. Rồi Planchet trút chai rượu van Anjou vào ly D’Artagnan.
-Bây giờ thì thôi, ngài ngủ đi
D’Artagnan trả lời:
-Không được đâu, chuyện khó nhất còn chưa làm thì chưa ngủ được.
-Ồ, tôi tin tưởng ở ngài lắm, đến nỗi tôi có thể đưa một trăm ngàn liu mà chỉ đòi về chín chục ngàn thôi.
-Thôi, thây kệ! Anh có lý đấy.
Nói xong D’Artagnan cầm cây đèn, bước lên phòng và đặt lưng xuống ngủ ngay.
Đăng nhập để trả lời
0
Để Ticonuong type từ chương 4 đến chương 8 nha.
Đăng nhập để trả lời
0
CHƯƠNG IV - NƠI NGƯỜI LẠ LỘ DANH TÍNH

Qua câu chuyện ta biết rằng Louis XIV vào thành phố Blois đã gây nên một cảnh tượng ồn ào, nổi bật khiến nhà Vua trẻ thật thỏa mãn.
Khi qua cổng lâu đài Các đẳng cấp, nhà Vua thấy ông Hoàng Quận công Gaston d'Orléans giữa đám vệ binh và các nhà quý tộc thuộc hạ. Nét mặt Đức ông vốn ngày thường cũng đã khá trang nghiêm, quan trọng nay lại toát thêm một dáng vẻ sáng rực và nghiêm chỉnh mới mẻ.
Đức bà vận lễ phục uy nghi đứng trên một bao lơn lui vào trong để đón chào người cháu mình. Mọi cửa sổ của tòa lâu đài xưa cũ lúc thường vắng vẻ và đìu hiu nay sáng rực dưới ánh đuốc với các bà ăn mặc lộng lẫy.
Tiếng trống, tiếng kèn, tiếng hoan hô nổi lên khi nhà Vua trẻ bước qua ngưỡng cửa tòa lâu đài bảy mươi hai năm về trước Henri III phải vận dụng đến cả phản bội, mưu sát để giữ được chiếc vương miện trên đầu mình và cho gia đình mình - chiếc vương miện đã có lần trượt sang một gia đình khác.
Mọi con mắt sau khi ngắm nhìn nhà Vua trẻ của nước Pháp, trông thật đẹp trai, duyên dáng, sang trọng, lại quay sang phía ông Vua Pháp thứ hai, thật khác với ông Vua đầu, thật già nua, xanh xao, còm cỏi mà người ta vẫn gọi là Hồng y Mazarin.
Đương thời, Louis XIV có đầy đủ những tính cách trời cho của một người quí phái hoàn toàn : mắt sáng và hiện một màu xanh biếc. Những nhà tướng số giỏi giang nhất, khó đi sâu vào tâm hồn người nhất cả khi nhìn được vào mắt nhà Vua cũng không thể dò được đến tận đáy của cái nhìn dịu dàng sâu thẳm ấy. Đó chỉ vì đôi mắt nhà Vua giống như màu xanh của trời cao thăm thẳm, hay hơn nữa như là màu xanh ghê rợn, thu hút của biển Địa Trung Hải phía dưới lườn các chiếc tàu lướt sóng trong một ngày mùa hạ đẹp, trải ra như một tấm gương vĩ đại khi thì lấp lánh ánh sao, khi thì dập dồn giông bão.
Nhà Vua thấp người, chỉ vừa chừng năm bộ hai tấc nhưng sự tươi trẻ đã xóa bớt khuyết điểm ấy nhờ cung cách khéo léo toát lên một vẻ quí phái sang cả khi ngài đi đứng, nói năng.
Đúng vậy, lúc bấy giờ ngài đã xứng đáng là ông Vua rồi, có lẽ còn vượt trên cả ý tưởng về vua trong thời đại của kính trọng, tôn sùng theo truyền thống này nữa, nhưng chỉ vì từ lâu người ta ít để cho dân chúng chiêm ngưỡng ngài, còn với những người được thấy thì lại thấy ngài bên cạnh người mẹ cao lớn, cạnh Đức Hồng y oai nghi nên trông như ngài ít đáng bậc vua và thường nói "Đức Vua không cao bằng Đức Hồng y".
Dù ở Kinh đô người ta có bàn tán ít nhiều về thân xác của nhà Vua như thế, dân chúng thành phố Blois cũng đón Vua như một vị thần và được Đức ông, Đức bà - cô chú vua, chủ nhân tòa lâu đài đón rước ngài gần đúng bậc vua chúa.
Dù sao phải nói rằng, khi nhìn thấy trong phòng khách có những chiếc ghế bằng nhau dành cho ngài, cho Thái hậu, cho Đức Hồng y, cho cô chú ngài kín đáo khéo léo xếp bao nửa vòng tròn của chỗihội, Louis XIV thấy tức giận đỏ mặt và nhìn quanh dò xét dáng mặt của những người tham dự xem sự xếp đặt có vẻ hạ nhục ấy có phải là cố ý không, nhưng rốt lại Đức Hồng y, Thái hậu và những người khác không ai tỏ thái độ gì hết, nên ngài phải nén giận ngồi xuống và cố ý ngồi trước cả mọi người.
Các nhà quý tộc và phu nhân được lần lượt giới thiệu với nhà Vua và Đức Hồng y.
Nhà Vua nhận ra rằng Thái hậu và ngài thật ít biết tên những người được giới thiệu trong khi trái lại Đức Hồng y lại tỏ ra có trí nhớ và lanh trí lạ lùng để tiếp chuyện họ, nói về lãnh địa, ông bà và con cái họ, có khi kể ra cả tên một vài người, khiến những viên thuộc hạ đáng kính đó rất đỗi vui mừng và vững tin rằng chính vị này mới thật là Vua của họ, người biết hết thần dân ; mà cũng vì một lẽ khác là mặt trời chỉ có một và đang soi sáng rực rỡ, sưởi ấm cả thế gian.
Mọi người không ai nghi nghờ rằng nhà Vua đang quan sát kỹ càng, đang tiếp tục xem thử trên những khuôn mặt ban đầu đối với ngài thật vô nghĩa, thật tầm thường bây giờ có gì thay đổi không.
Một bữa ăn nhẹ được dọn ra, Nhà Vua đang nóng ruột đợi nó vì không dám đòi hỏi nơi Hoàng thúc. Cho nên lần này, vinh dự tiếp đón dù không đúng thứ bậc của ngài ít ra cũng thỏa mãn được cái bụng thích ăn ngon của ngài.
Còn về phía Đức Hồng y, ngài chỉ đưa đôi môi héo hắt lướt qua món cháo đựng trong cái chén vàng thôi. Vị đại thần có toàn quyền cực kỳ tuyệt đối này vốn từng lấy quyền nhiếp chính từ Thái hậu và hiện nắm vương quyền qua nhà Vua, thế nhưng lại tỏ ra có cái bụng không tốt lắm.
Thái hậu Anne d'Autriche cũng không ăn được nhiều như Hồng y vì đau ung thư, căn bệnh khiến bà phải chết vào sáu bảy năm sau.
Đức ông chẳng ăn được gì cả vì đang cuống cuồng lên với sự kiện vĩ đại này chưa từng có trong cuộc sống tỉnh lẻ.
Chỉ có Đức bà đại diện dân Lorraine là ngồi đối đầu với nhà Vua. Thế nên Louis XIV không người tranh chấp thành ra kẻ độc nhất phải ăn gần hết bữa tiệc, làm thỏa dạ cho bà cô trước tiên và sau nữa là ông De Saint Remy, người quản gia rất độc đáo.
Bữa ăn xong, thấy Đức Hồng y gật đầu đồng ý, nhà Vua đứng dậy và theo lời mời của bà cô, nài đi vòng quanh khắp những người đến hội hôm nay.
Các bà vẫn là những người có nhận xét tốt nhất, dù ở Paris hay ở Blois cũng vậy. Các bà nhận xét rằng Louis XIV hôm nay có cái nhìn bất thần, táo bạo, hứa hẹn giá trị của một người biết xét đoán sâu sắc. Còn các ông thì thấy rằng nhà Vua có dáng kiêu hãnh, cao kỳ, thích ai nhìn vào mắt ngài lâu và thẳng, đều phải cúi xuống tránh, điều đó báo hiệu ở ngài dáng dấp của một vị chủ nhân.
Louis XIV thăm vừa khoảng một phần ba số người thì thoáng nghe một tiếng từ miệng Đức Hồng y đang nói chuyện với Đức ông.
Tiếng đó là tên một người phụ nữ. Louis nghe lọt tên đó là không thèm nghe gì nữa cả và ngài chẳng kể đến phần vòng cung tiếp theo đang chờ đón, ngài cứ mong bước thẳng về phía đầu bên kia.
Đức ông lúc bấy giờ tỏ dáng lịch sự đang hỏi thăm Hồng y về sức khỏe các cháu gái của ngài. Năm sáu năm về trước ba cô cháu gái từ Ý đến thăm Hồng y. Đó là các tiểu thư Hortense, Olympe và Marie De Mancini. Vậy thì, bây giờ Đức ông đang hỏi thăm sức khỏe của các cháu gái Hồng y, ngài nói rằng thật là tiếc đã không được tiếp các tiểu thư vào trường hợp này, bây giờ chắc các cô đã lớn, đẹp và duyên dáng lắm rồi như vóc người các cô đã từng hứa hẹn ở lần gặp gỡ trước.
Điều làm nhà Vua chú ý là quan điểm trái ngược giữa hai người đang tán chuyện. Giọng của Đức ông thì bình tỉnh như thường ngày khi nói như trên, còn giọng ngài Mazarin thì vụt tăng lên một bậc rưỡi so với thường ngày để trả lời lại. Người ta cứ tưởng rằng ngài nói như thế cốt để cho người đang ở cuối phòng xa có thể nghe được.
- Thưa Đức ông, tiểu thư De Mancini còn phải được giáo huấn cho xong đã, còn phải làm bổn phận và học hỏi đúng với vị thế của mình. Cuộc sống ở một triều đình son trẻ và hào nhoáng sẽ làm mờ nhạt một ít những điều ấy đi.
(đến trang 58)
07061707
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-03 07:11:58ticonuong>
(tiếp theo CHƯƠNG IV - NƠI NGƯỜI LẠ LỘ DANH TÍNH)

Louis nghe mà cười buồn. Triều đình đúng là son trẻ, nhưng vị Hồng y keo kiệt đã thu xếp tất cả để không thể nào gọi là hào nhoáng được. Lúc ấy, Đức ông trả lời :
- Chắc là ngài khôn có ý cấm cung các tiểu thư ấy hay là làm cho họ quê mùa đi chứ gì?
- Không đời nào - vị Hồng y tiếp lời mà nhấn mạnh cái ý của ngài khiến cho từ giọng êm như nhung bỗng trở nên gắt gỏng chối tai - Không đời nào, tôi vẫn có ý gả chồng cho nó và càng cao càng tốt.
Đức ông trả lời độ lượng theo kiểu lái buôn dụ khách hàng :
- Khách đông càng không thiếu người chầu chực đâu?
- Tôi cũng mong như thế vì cháu nó vừa đẹp đẽ, vừa duyên dáng mà cũng vừa hiền thục nữa.
Trong khi họ nói chuyện, Louis XIV được Đức bà tháp tùng đi dọc hàng người chào đón. Bà hoàng chỉ một người con gái 22 tuổi, tóc hoe, to lớn có dáng như một thôn nữ đi dự hội làng.
- Đây là tiểu thư Arnoux, con gái bà thấy âm nhạc của tôi.
Nhà Vua mỉm cười và Đức bà chẳng làm cho ngài mở lời nhiều hơn nên tiếp tục :
- Tiểu thư Anne De Montalais, cô gái đức hạnh và làm việc nhà giỏi.
Lần này thì chẳng phải là nhà Vua cười mà chính là cô gái được giới thiệu, vì đây là lần đầu tiên trong đời, cô nghe Đức bà nói về một đức tính đáng kính như thế.
Cùng lúc ấy, nhà Vua thoáng giật nẩy mình vì nghe lọt một tiếng.
- Tiểu thư thứ ba tên gì ạ? - Đức ông hỏi.
Hồng y trả lời :
- Marie.
Chắc trong tiếng này có một sức mạnh thần bí nào đó vì như ta đã nói, nhà Vua giật nẩy mình và lôi Đức bà đến giữa vòng người như là để tâm sự, nhưng thật ra là để đến gần Hồng y hơn. Ngài cười nói nho nhỏ :
- Cô ơi, thầy giáo địa lý không chịu dạy tôi rằng Blois xa Paris quá chừng.
- Gì thế, cháu?
- Bởi vì phải đi xa như thế vài năm mới đuổi kịp thời trang. Cô trông các tiểu thư kia kìa - mấy cô đẹp quá chừng.
- Nói khe khẽ một chút cháu à. Họ nghe thấy thì điên lên mất.
Nhà Vua mỉm cười nói :
- Khoan đã, thưa cô. Cây thứ hai của tôi sẽ chữa cho câu thứ nhất. Thế này, có một vài tiểu thư hình như đã già và một vài cô xấu đi vì thời trang mười năm trước đây.
- Ồ, Hoàng thượng, Blois chỉ cách Paris có năm ngày đường thôi mà.
Nhà Vua nói :
- Như thế thì tính ra mỗi ngày trễ hai năm.
- Hoàng thượng thấy thật thế sao? Lạ thật, tôi không nhận ra?
Louis XIV tiến về phía Mazarin lấy cớ tìm điểm ngắm và nói :
- Cô trông những thứ trang sức xưa rích với cái đầu tóc kiểu cách kia, rồi nhìn cái áo dài trắng nọ. Chắc đó là của một thị nữ của Thái hậu, chắc là như vậy, dù rằng tôi không nhận ra cô ta. Hãy xem cái dáng hình giản dị, cái cung cách duyên dáng đó! Một phụ nữ là như thế đó, còn các cô kia chỉ là áo quần mà thôi.
Đức bà cười trả lời :
- Cháu thân mến của tôi ơi, lần này thì cái khoa tướng số của ngài sai bét rồi. Người mà Hoàng thượng chỉ không phải dân Paris mà là một cô gái ở Blois.
Louis ngờ vực :
- Ồ, thực sao, thưa cô?
- Louise lại đây!
Và cô gái bước tới, thẹn thùng đỏ mặt, gần như cúi gập mình vì bắt gặp cái nhìn vương giả.
Đức bà long trọng nói :
- Đây là tiểu thư Louise-Francoise De la Baume-Leblanc, con gái của Hầu tước De La Valliére.
Cô gái uyển chuyển cúi mình chào trong dáng điệu bối rối thẹn thùng cùng cực trước nhà Vua khiến cho ngài vì nhìn nàng mà mất một vài tiếng trong câu chuyện giữa Hồng y và Đức ông. Tiếng Đức bà tiếp tục :
- Đây là dâu của ông De Saint Remy, quản gia của tôi, người chủ trì công việc sửa soạn cho món gà tây nhồi nấm mà Hoàng thượng hết sức khen đó.
(đến trang 61)
07061707
Đăng nhập để trả lời
0
(tiếp theo - CHƯƠNG IV - KHI NGƯỜI LẠ LỘ DANH TÍNH)
Lời giới thiệu đó thật có tác dụng hơn bất cứ sự duyên dáng, đẹp đẽ, tươi trẻ nào. Nhà Vua mỉm cười, dù lời nói của Đức bà chỉ là một lời nói đùa hay khờ khạo thì nó là ngọn lửa tàn nhẫn đốt cháy hết tất cả những gì Louis vừa thấy là duyên dáng, thơ mộng nơi cô gái kia. Tiểu thư De La Vallière, qua ý tưởng của Đức bà, rồi chuyển qua nhà Vua, chỉ còn là dâu của một người có tài hơn người và việc nấu cơm gà tây nhồi nấm thôi.
May mắn là Louise cúi xuống quá thấp nên không nghe được lời nói của Đức bà và cũng không thấy được cả cái mỉm cười của nhà Vua. Cô bé khốn khổ kia vì có khiếu hay vì may mắn chỉ có mình là chọn màu trắng giữa các phụ nữ nơi đây, cô bé ngây thơ như chim câu dễ dàng xúc động đó, nếu cô nghe được những lời ác độc của Đức bà, nếu cô thấy được nụ cười lạnh nhạt ích kỷ của nhà Vua, hẳn là cô phải ngã xỉu đi mà chết mất thôi.
Nhưng như chúng ta đã nói, Louise đang ù tai, quáng mắt không nghe, không thấy gì hết, trong khi nhà Vua vội vã quay về lắng nghe câu chuyện giữa Hồng y và Đức ông. Đúng vào lúc đó, Mazarin chấm dứt câu chuyện.
- Marie và các chị em nó lúc này đang đi Brouage. Tôi bảo chúng đi dọc sông Loire phía bờ đối diện với đường chúng tôi đi, cho nên nếu chúng theo lời tôi thì chỉ ngày mai là tới Blois rồi.
Những lời ấy đưa ra với một kiểu cách tế nhị, mực thuớc, một giọng đầy tự tin, cố ý và có tầm mức sâu xa khiến cho ngài Giulio Mazarin đúng là người kịch sĩ đứng bậc nhất trên thế giới. Những lời ấy đi thẳng vào trái tim của Louis XIV.
Hồng y chỉ cần quay đầu lại khi nghe tiếng chân của nhà Vua bước tới là thấy ngay hiệu quả trên mặt của đồ vệ mình, nơi đôi mắt ngượng ngùng long lanh. Nhưng mà con cáo già trong hai mươi năm nay đã lừa mọi nhà ngoại giao Châu Âu, bây giờ đang giương cái bẩy gì đó?
Hình như là từ khi nghe những lời sau cùng đó, ông Vua trẻ đã bị ghim một gai độc. Ngài không đứng yên được và đưa mắt nhìn khắp mọi người trong phòng. Có đến hai mươi lần ngài dò hỏi nơi Thái hậu, nhưng vị quốc mẫu này đang vui chuyện với cô em dâu và cũng bị cái liếc của Mazarin hấp dẫn nên không thể nhận ra cái nhìn cầu khẩn của người con.
Từ đó thì âm nhạc, hoa, ánh sáng, các nàng, tất cả đều trở nên xấu xí, vô nghĩa đối với Louis XIV. Sau khi cắn môi cả trăm lần, duỗi tay chân kiểu như một đứa trẻ có giáo dục không muốn ngáp trước mặt mọi người nhưng là để bày tỏ hết mọi sự chán nản cùng cực, ngài bèn đưa cặp mắt tuyệt vọng nhìn về phía cửa, nghĩa là phía của lối thoát.
Ngài bỗng thấy trên cửa nổi lên một khuôn mặt nâu sạm và chứng tỏ một dáng đẹp hùng dũng với chiếc cổ áo cao lấp loáng phản chiếu mọi ánh sáng rọi vào đó. Người sĩ quan này đội chiếc mũ màu tro có giắt bông đỏ chứng tỏ rằng ông tới đây là vì công việc chứ không phải vì vui chơi. Nếu ham vui mà tới, nếu ông là triều thần chứ không phải lính tráng, thì ông phải cầm mũ nơi tay theo lẽ thường là có hưởng thụ thì phải chịu lụy một chút.
Điều khác chứng tỏ rằng ông đến vì công việc và đang thi hành phận sự quen thuộc, đó là ông khoanh tay, dáng điệu thản nhiên đến mức lạnh lùng đứng nhìn cuộc lễ hội có vui vẻ xen lẫn buồn chán này.
Người lính lâi năm nào thì cũng thành triết nhân và người này có vẻ hiểu rất rõ những nỗi chán nản hơn là sự vui tươi, biết ngày vui bao giờ cũng chóng tàn và chỉ còn nỗi chán chường ở lại thôi.
Ông đứng đó, dựa vào khung cửa chạm trổ và tình cờ bắt gặp cái nhìn buồn bã, mệt mỏi của nhà Vua.
Có vẻ không phải đây là lần đầu người sĩ quan bắt gặp đôi mắt ấy để hiểu đầy đủ ý nghĩa những gì chúng biểu lộ, cho nên ngay sau khi lướt qua dáng hình của Louis XIV, thấy rõ tâm trạng của nhà Vua, ông hiểu là đến lúc phải phục vụ và mạnh dạn kêu to như khi đứng giữa một đoàn kỵ binh nơi chiến trường :
- Ngự lâm quân đâu?
Tiếng kêu vang như sấm chuyển qua suốt cả ban nhạc, đoàn ca, cả những tiếng rì rầm, những người đang đi dạo qua lại khiến cho Thái hậu và Hồng y phải ngạc nhiên nhìn nhà Vua.
Louis XIV xanh mặt nhưng quyết tâm vì thấy người sĩ quan ngự lâm đã đoán được ý mình và thay mình ra lệnh nên đứng dậy và bước ra cửa. Thái hậu hỏi :
- Con đi đấy à?
Trong khi đó Hồng y chỉ đưa mắt nhìn dò hỏi, đôi mắt xuyên suốt nên không thể nào làm dáng dịu dàng được. Nhà Vua trả lời :
- Thưa mẹ, vâng. Con thấy mệt và cũng muốn ghi chép ít việc tối nay.
(hết trang 63)
07061707
Đăng nhập để trả lời
0
(tiếp theo - CHƯƠNG IV - KHI NGƯỜI LẠ LỘ DANH TÍNH)

Trên môi của viên đại thần thoáng một nụ cười và hình như ông gật đầu chào Vua. Đức ông và Đức bà vội vã gọi các nhân viên đến trình lời tiễn biệt.
Nhà Vua chào xong, bước qua phòng và ra đến cửa.
Trước cửa có hàng rào hai mươi lính ngự lâm đợi chờ. Nơi đầu hàng quân là viên sĩ quan cứng cỏi nọ, tay cầm kiếm. Nhà Vua đi qua, mọi người cố kiễng gót để được nhìn rõ mặt. Mười ngự lâm quân vẹt đám đông ở ngoài và nơi các bậc thềm để nhường lối cho nhà Vua. Còn mười người khác thì tháp tùng nhà Vua và Đức ông đi tiễn.
Những người phục đi sau rốt.
Đoàn hộ vệ nhỏ bé này theo nhà Vua đến tận căn phòng dành sẵn. Gaston nói :
- Căn phòng thật không làm sao xứng được với Ngài, nhưng xin Hoàng thượng vui lòng cho.
Ông hoàng trẻ trả lời :
- Xin chúc điều tốt lành cho chú khi đã tiếp đón tôi thế này.
Gaston chào, được hôn từ giã, rồi bước đi.
Trong hai mươi người lính ngự lâm đi theo nhà Vua, mười người lại đưa Đức ông trở về phòng tiếp tân vẫn còn dày đặc người tuy rằng nhà Vua không còn ở đấy nữa. Mười người còn lại được chia các vị trí canh gác và người sĩ quan cứ mỗi năm phút lạ đi tuần tra các vọng gác với đôi mắt lạnh lùng thành thạo. Khi xếp đặt xong, ông đặt bản doanh nơi tiền phòng có sẵn một ghế dựa lớn, một cây đèn, có rượu, có nước và bánh mì khô. Ông vặn đèn cao lên, uống nửa ly rượu vang, ngồi trong chiếc ghế bành và cố sức dỗ giấc ngủ.
Người sĩ quan đang ngủ hay đang cố ngủ ấy trông có dáng không ưu tư, nhưng thật ra là mang một trọng trách lớn. Làm phó quan tổ chức ngự lâm quân, ông điều khiển cả một đại đội ngự lâm quân mang từ Paris đến gồm một trăm hai mươi người. Hai mươi người đang theo nhà Vua, còn một trăm người khác là lo bảo vệ cho Thái hậu và Hồng y. Ngài Giulio Maxarin hà tiện bớt số tiền phải chi tiêu cho toán hộ vệ riêng của Ngài bằng cách sử dụng các ngự lâm quân - và sử dụng rộng rãi là khác, vì Ngài dùng đến năm mươi người theo một mức độ đặc biệt quá lộ liễu, quá khiếm nhã đối với một người ngoại quốc được ân huệ của triều đình này.
Chuyện càng khiếm nhã thêm, nếu không nói là quá lạ lùng đối với người ngoại quốc này, là phía lâu đài dành riêng cho Ngài Hồng y lại sáng choang, nhộn nhịp. Lính ngự lâm gác từng tốp trước cửa và chận lại không cho ai vào hết, trừ những người truyền tin lúc nào cũng đi theo Hồng y để chuyển lệnh, cả những khi Ngài đi dạo.
Hai mươi người làm việc phía Thái hậu, còn ba mươi người thì để ngày mai thay phiên các bạn mình.
Trái lại, phía lầu của Nhà Vua thì tối tăm lặng lẽ và cô tịch. Cửa đóng lại rồi thì chẳng còn có dáng gì là của Hoàng đế cả. Người hầu cận cứ từ từ rút đi hết. Ông hoàng Gaston có sai người đến hỏi xem Nhà Vua có cần gì ông không, và sau tiếng không nhạt nhẽo của người sĩ quan ngự lâm vốn từng quen những câu hỏi đón như thế, rồi tất cả căn lầu đều ngập chìm vào trong giấc ngủ như ở nhà một bậc trưởng lão tốt bụng vậy.
Nhưng từ phần lầu Vua ở này, có thể dễ dàng nghe được tiếng nhạc của lễ hội, và nhìn được các cửa sổ sáng choang đủ màu sắc của phòng hội. Mười phút sau khi về, Louis XIV có thể nhận thấy Hồng y ra về, vì Ngài có cái lối ra đi náo nhiệt riêng biệt, mang theo một số rất lớn các nhà quí tộc, các bà tiễn đưa. Với lại chuyện đó thì cũng chỉ cần nhìn qua cánh cửa sổ không khép là đủ thấy hết.
Bậc tôn quí đi qua sân có Đức ông cầm đuốc dẫn rồi sau đó là Thái hậu có Đức bà thân mật cầm tay, cả hai thì thầm tâm sự trên suốt đoạn đường. Phía sau hai cặp này là các mệnh phụ, cận thần, quan chức kéo dài đoàn diễn, các cây đuốc bập bùng sáng rực như trong một đám cháy, thế rồi những bước chân, tiếng nói cười tắt dần trong các tầng lâu trên cao.
Chẳng ai còn nghĩ đến Ông Vua chống khuỷu tay trên cửa sổ đang buồn bã ngồi nhìn cả làn sáng ấy trôi qua, nghe những tiếng ồn ấy xa dần. Chẳng ai cả, chỉ trừ người khách lạ trong quán trọ Médicis mặc chiếc áo choàng đen vừa bước ra.
Nét mặt buồn bã, ông ta tiến thẳng đến tòa lâu đài, đi rảo quang cung điện vẫn còn người. Thấy không ai giữ cửa, giữ cổng, - chắc vì toán lính của Đức ông đang tán tỉnh làm quen với lính Nhà Vua, nghĩa là đang nhậu lén - mà chẳng lén gì cả, người lạ len lỏi qua đám đông, vượt khoảng sân, tiến đến tận bậc thềm dẫn lên lầu mà Hồng y đang nghỉ.
Ông ta hướng về đấy có lẽ là vì đèn đuốc sáng choang, vì các cận thần và quan chức tụ tập ồn ào.
(hết trang 66)
07061707
Đăng nhập để trả lời
0
(tiếp theo - CHƯƠNG IV - KHI NGƯỜI LẠ LỘ DANH TÍNH)

Nhưng một loạt tiếng các khẩu súng lắc cắc chuyển dài và tiếng người lính canh la lên khiến ông ta phải đứng sững lại.
- Đi đâu đấy, ông bạn?
Người lạ bình tĩnh trả lời :
- Tôi đến gặp Hoàng thượng.
Người lính báo với một sĩ quan của bậc quí nhân; người này nói với giọng của người tùy phái văn phòng Bộ đưa ra khi có ai đến cầu việc :
- Qua thang lầu đối diện bên kia kìa.
Thế rồi, chẳng cần quan tâm đến khách lạ nữa, ông ta quay về tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.
Người khách lạ cũng chẳng buồn mở miệng, cứ bước theo lời chỉ dẫn. Phía này chẳng có ai cười nói, chẳng có đèn đuốc. Chỉ có cảnh tối mò, trong đó một người lính gác đi lại như chiếc bóng. Sự yên tĩnh tới mức người ta có thể nghe tiếng bước chân qua lại và tiếng miếng sắt thúc ngựa vang lên trên lớp gạch lát nhà.
Người lính gác này thuộc số hai mươi ngự lâm quân phục vụ Vua đang lên phiên theo kiểu một bức tượng cứng nhắc và vô tình. Hắn hỏi :
- Ai đấy?
- Bạn - Người lạ trả lời.
- Muốn gì?
- Nói chuyện với Hoàng thượng.
- Ồ, ồ không thể được nữa rồi, ông khách thân mến ạ.
- Sao thế?
- Vì Hoàng thượng ngủ rồi.
- Ngủ rồi?
- Ừ.
- Kệ, làm sao tôi cũng cần gặp.
- Nhưng tôi đã nói là không thể được mà.
- Nhưng...
- Thôi đi đi!
- Lệnh như thế à?
- Tôi chẳng phải cần báo cáo với anh. Đi đi!
Và lần này người lính gác tỏ cử chỉ đe dọa theo với lời nói, nhưng người lạ vẫn không nhúc nhích như thể là chân đã mọc rể rồi. Ông ta nói :
- Thưa ngài ngự lâm, có phải ngài thuộc hàng quí tộc không?
- Rất hân hạnh.
- Thế thì, tôi cũng vậy và giữa những nhà quí tộc với nhau thì phải nể mặt nhau chút ít.
Người lính gác hạ súng xuống trước những lời thuyết phục đáng nể vì ấy. Anh ta nói :
- Thưa ông, cứ nói đi, nếu sức tôi có thể làm được thì...
- Cám ơn. Có sĩ quan ở đây không?
- Thưa ông có.
- Thế thì cho tôi nói chuyện với ông ấy.
- Dễ thôi. Mời ông bước lên.
Người khách lạ trịnh trọng chào người lính gác và bước lên thềm trong khi tiếng kêu : "Phó quan có khách" chuyển từ người gác này qua người khác đi trước kẻ lạ và làm xáo động nhóm người của viên sĩ quan.
Ông ta kéo lê đôi bốt, dụi mắt và gài vội cái áo choàng để tiến tới đón người lạ, hỏi :
- Có việc gì cần đến tôi đây, thưa ông?
- Ông là sĩ quan trực, phó quan ngự lâm?
- Rất hân hạnh.
- Thưa ông, tôi rất cần được gặp Hoàng thượng.
Người phó quan nhìn kỹ kẻ lạ mặt và dù chỉ mới thoáng qua ông cũng vẫn thấy rõ điều ông muốn biết, đó là một dáng vẻ đặc biệt ẩn sâu bên trong bộ áo ngoài bình thường. Ông nói :
- Không thể cho là ông điên khùng được, nhưng chắc là ông phải có lý do vào hầu chuyện Hoàng thượng mà chưa có sự đồng ý chứ?
- Thưa ông, rồi Hoàng thượng sẽ đồng ý.
- Thưa ông, chưa chắc. Hoàng thượng vừa mới trở về phòng một khắc trước đây và bây giờ chắc đang thay áo. Vả lại, lệnh đã ra rồi.
Người khách lạ ngẩng đầu lên trả lời :
- Khi Hoàng thượng biết tôi là ai thì Ngài sẽ rút lệnh ấy lại.
Viên sĩ quan càng lúc càng ngạc nhiên, càng lúc càng bị thuyết phục.
- Nếu tôi vào báo thì chắc tôi cũng phải biết được quí danh tính?
- Ông vào báo tôi là Hoàng đế Charles II, Vua nước Anh, Tô Cách Lan và Ái Nhĩ Lan.
Viên sĩ quan thốt lên một tiếng kinh ngạc lùi lại và trên khuôn mặt nâu sạm hiện rõ những nét xúc động
(hết trang 69)
07061707
Đăng nhập để trả lời
0
(tiếp theo - CHƯƠNG IV - KHI NGƯỜI LẠ LỘ DANH TÍNH)

sâu sắc của những con người có nghị lực phi thường cố gắng che giấu tận trong tâm hồn.
- Ồ, vâng, thưa Ngài; Đáng lẽ tôi phải nhận ngay là Ngài đấy.
- Ông đã thấy hình tôi rồi à?
- Thưa chưa.
- Hay là ông đã thấy tôi ở triều đình, trước khi người ta đuổi tôi qua Pháp?
- Thưa Ngài, cũng không phải vậy.
- Thế thì làm sao ông biết được tôi?
- Thưa Ngài, tôi đã gặp Hoàng đế cha Ngài vào một thời điểm kinh khiếp.
- Ngày mà...
- Thưa vâng.
Một áng mây mờ thoáng qua trên trán ông hoàng. Rồi ông ta khoát tay, nói :
- Sao còn có gì trở ngại nữa không?
Người sĩ quan đáp :
- Thưa Ngài, xin lỗi, tôi không thể tưởng được một Ông Vua dưới hình dạng đơn sơ như thế này. Với lại, lúc nãy tôi đã nói là tôi có dịp trông thấy Hoàng đế Charles I... À mà xin lỗi, để tôi vào báo...
Rồi ông lại quay lui, hỏi :
- Chắc Hoàng thượng muốn giữ kín buổi hội kiến này phải không ạ?
- Tôi không đòi hỏi, nhưng nếu có thể được thì...
- Được chứ ạ, vì tôi có thể vào thẳng nơi Vua ở, không phải qua viên cận thần túc trực. Nhưng xin Hoàng thượng để tôi giữ thanh kiếm.
- Đúng vậy. Tôi quên là không ai được mang kiếm trong cung Vua Pháp.
- Hoàng thượng là ngoại lệ, nhưng như vậy thì tôi phải chia bớt trách nhiệm cho viên nội thần.
- Kiếm tôi đây, thưa ông. Bây giờ thì ông vui lòng vào báo rồi chứ?
- Chỉ một lát thôi, thưa Ngài.
Thế rồi viên sĩ quan chạy vào gõ cánh cửa và người hầu phòng ra mở. Ông hô lớn :
- Hoàng đế nước Anh đến!
Người hầu phòng lập lại :
- Hoàng đế nước Anh đến!
Nghe tiếng hô, một cận thần ra mở toang hai cánh cửa và người ta thấy Louis XIV, không mũ, không gươm, áo chưa kịp cài, hấp tấp bước tới, dáng điệu ngạc nhiên hết sức.
- Kìa, người anh em của tôi! Không ngờ người lại có mặt ở Blois này, - Louis XIV kêu lên, vừa khoát tay đuổi viên cận thần qua phòng bên cạnh.
Charles II trả lời :
- Thưa Ngài, tôi đi Paris hy vọng gặp Hoàng thượng, không ngờ tiếng đồn rằng Ngài sắp tới đây, nên tôi nán ở lại vì có chuyện muốn thưa cùng Ngài.
- Căn phòng này có vừa ý ngài không, hỡi người anh em của tôi?
- Thưa Ngài, rất hợp, tôi chỉ sợ có ai nghe thấy.
- Tôi đã đuổi người cận thần và người gác đêm qua phòng bên rồi. Sau bức vách này là một phòng trống có lớp tiền phòng, Ngài đã thấy chỉ có một người sĩ quan thôi. Đúng không?
- Thưa Ngài, vâng.
- Thế thì, người anh em hãy nói đi, tôi nghe đây.
- Thưa Hoàng thượng, tôi bắt đầu đây và mong Ngài xót thương đến gia đình điêu linh của chúng tôi.
Nhà Vua nước Pháp đỏ mặt và kéo chiếc ghế ngồi đến bên Ông Vua nước Anh. Charles II nói :
- Thưa Hoàng thượng, tôi không rõ Ngài có biết những chi tiết về cuộc đời khốn khổ của tôi không?
Louis XIV đỏ mặt hơn lần trước rồi nắm lấy tay Vua Anh, nói :
- Người anh em ạ, nói ra thì xấu hổ, nhưng quả thật Hồng y rất ít nói chuyện chính trị với tôi. Tệ hơn nữa là ngày xưa tôi có nhờ gã hầu phòng Laporte đọc cho nghe chuyện lịch sử, nhưng ông ta lấy Laporte của tôi đi, không cho đọc nữa, vì thế tôi phải xin phép người anh em kể lại hết cho tôi nghe cứ như nói với một người chẳng biết gì hết.
- Thế thì, thưa Hoàng thượng, phải kể lại từ đầu, chắc là tôi lại có may mắn gợi thêm lòng thông cảm của Ngài.
- Nói đi, người anh em. Cứ nói đi.
- Thưa Ngài, hẳn Ngài biết rằng năm 1650, trong khi Cromwell cầm quân ở Irlande, tôi được mời về Edimbourg và lên ngôi ở Stone. Một năm sau, Cromwell tấn công vào chúng tôi sau khi bị thương ở một tỉnh thành đã chiếm. Mục đích của tôi là đối đầu với hắn ta và tôi cũng muốn đi khỏi xứ Tô Cách Lan.
(hết trang 72)
07061707
Đăng nhập để trả lời
0
Đã có bạn nào gõ chương 3 và 4 chưa vậy Quang? Nếu chưa thì mình nhận gõ 2 chương này.
Chờ tin bạn
 
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Lucern

Đã có bạn nào gõ chương 3 và 4 chưa vậy Quang? Nếu chưa thì mình nhận gõ 2 chương này.
Chờ tin bạn


 
Truyện này đã xong rồi Lucern
 
Và đã mang vào thư viện rồi
Đăng nhập để trả lời
0