<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-04 19:03:46Ngọc Lý>
.
Chào các bạn,
Tôi xin phép được vào đây trả lời trực tiếp Thái Nhi và tất cả các bạn về bài Trần Trọng Kim, vì tìm không thấy các bài đã đăng trong phần Tác giả - Tác phẩm, và cũng không vào được cùng một thread mà Thái Nhi đặt câu hỏi trong phần Thắc Mắc - Ý Kiến.
Trước tiên, xin cảm ơn Ct. Ly đã lên tiếng trả lời hộ.
Tôi đã trả lời bạn Đông Hòa trong bài trước đây, nhưng hôm nay tìm không ra, nên xin viết lại vào đây.
Có vài điều cần nói rõ:
1/ Khi đi tìm hiểu về Trần Trọng Kim và giai đoạn từ 4/1945 - 2/9/ 1945, tôi đọc qua tất cả các tài liệu sau:
1a. - Phạm Văn Sơn - Việt Sử Toàn Thư - trang 487,488, 489 - nói về sự chiến đấu cuả phái Tân Học, các đảng phải quốc gia chân chính, sự thành hình của Việt Minh, cuộc đảo chánh 9/3/1945, sự thành lập Chính Phủ Trần Trọng Kim với đoạn sau đây:
"Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời được hoan nghênh nhiệt liệt từ Bắc xuống Nam thay thế cho Nội Các Phạm Quỳnh cáo chung tại Huế..." (trg 489)
http://viethoc.org/eholdings/sach/vstt.pdf, trg 487,488,489.
1b. Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng nói về Chính Phủ Trần Trọng Kim
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/04/15/TranTrongKimGovernmentIn1945_MHungTMi/
Thành ra chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập bao gồm phần lớn là những nhà trí thức, chuyên môn mà trước đó không nằm trong các đảng phái cách mạng chống Pháp. Nói theo ngôn từ hiện nay thì chúng ta có thể nói đây là một chính phủ của những chuyên gia. Nhưng không phải vì trước đó họ không hoạt động chính trị mà họ không ái quốc. Và dù rằng chỉ kéo dài được có bốn tháng chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã làm được một số công chuyện đặt cơ sở cho một nước Việt Nam độc lập về sau này.
xem tiếp tại đây Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng nói về Chính phủ Trần Trọng Kim
1c. Sử Gia Trần Gia Phụng - Lá cờ Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam
Lá cờ VN và Ðảng CSVN
Trần Trọng Kim
Trần Trọng Kim, bút hiệu là Lệ Thần, nhà giáo dục, sử gia,
học giả uyên thâm về Nho giáo và Phật giáo (TTK là một trong
các sáng lập viên của Hội Việt nam Phật Giáo; Dương Bá
Trạc cũng là sáng lập viên, đã mất tại Tân-Gia-Ba), sinh vào
năm 1883 (Quý Mùi) tại làng Kiều Linh, xã Ðan Phố, huyện Nghi
Xuân, tĩnh Hà Tĩnh, học chữ Hán từ nhỏ, sau đổi sang chữ
Pháp rồi vào học trường Thông Ngôn. Năm 1904, ông làm Thông
sự ở Ninh Bình. Năm 1905, ông qua Pháp học trường Thương
mại ở Lyon, sau được học bổng vào trường Thuộc Ðịa
Pháp. Năm 1909, ông vào học trường Sư phạm Melun và tốt
nghiệp vào 31/7/1911 rồi về nước. Ông dạy học tại các
trường Sĩ Hoạn, Bảo Hộ và Sư Phạm Hà Nộị Các chức vụ
trong ngành giáo dục sau đó : Thanh Tra Tiểu học (1921), Trưởng
Ban soạn thảo sách giáo khoa Tiểu học (1924), Giám Ðốc các
trường Tiểu học Hà Nội (1939).
Các tác phẩm chính của ông đều thuộc về sử học, nghiên
cứu và sư phạm gồm Sơ Học Luân Lý (1914), Vương Dương Minh
(1914), Sư Phạm Khoa Yếu Lược (1916), Việt Nam Sử Lược
(1919), Nho Giáo (1930), Phật Lục (1940), Việt Nam Văn Phạm
(1941).
Ngày 11/3/1945, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ hòa ước
Patenôtre ký với Pháp năm 1884, Việt Nam khôi phục chủ quyền.
Nội các Trần Trọng Kim được thành lập ngày 17/4/1945 là
chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Vào
tháng 6/1945, chính phủ ông đă.t quốc hiệu là Việt Nam (đã
có từ thời Gia Long); quốc ca là nhạc của bài "Ðăng Ðàn",
lời thì chọn sau; quốc kỳ có "nền vàng hình chữ nhật,
giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm". Cũng vào năm 1945, Phan
Anh bộ trưởng Bộ Thanh Niên trong chính phủ Trần Trọng Kim
chọn bài "Tiếng gọi Thanh Niên" làm quốc ca Việt Nam.
Mă.t khác, cũng cùng năm, một lá cờ khác xuất hiện trên đất
nước Việt Nam với nền đỏ sao vàng; đó là lá cờ của
CSVN, mượn să'c hình chung của CS Quốc Tệ
Trong cuốn sách "Một Cơn Gió Bụi" (Kiến Văn Lục; sách kể
những kinh nghiệm của ông từ 1943-1949), trang 60, ông viết :
Như thế, trong lá cờ của TTK, quẻ Ly có 3 vạch nhưng vạch
giữa bị đứt đoạn làm đôị TTK lấy quẻ Ly để chỉ vị
trí phương Nam của VN kể ra cũng thích hợp. Năm 1949, Bảo
Ðại về nước chấp chính với danh nghĩa Quốc Trưởng VN.
Chính quyền Bảo Ðại lúc nầy đã sửa lại lá quốc kỳ của
nội các Trần Trọng Kim làm khi trước : nối đoạn đứt ở
sọc giữa thành sọc liền. Và từ đó, lá cờ vàng 3 sọc đỏ
được tiếp tục chọn làm quốc kỳ trong những chế độ
Cộng Hoà kế tiếp với ý nghĩa 3 giòng máu đỏ Bă'c Trung Nam
đồng luân lưu trong đại gia đình dân tộc Việt Nam da vàng.
Chính phủ Trần Trọng Kim bao gồm nhiều học giả, trí thức
nhiệt tâm đối với đất nước. Mă.t khác, Trần Trọng Kim
cũng là một Phật tử mộ đạo.
Việt Minh cướp chính quyền, Hoàng Ðế Bảo Ðại ra tuyên
chiếu thoái vị ngày 2/12/1945, nội các Trần Trọng Kim đổ
theo sau 4 tháng làm việc tích cực trong trăm ngàn rối ren và
thiếu thốn.
Sau nhiều năm tháng long đong ở Quảng Châu và Hồng Kông, và
6/2/1947, ông trở về Saigon và sống tại nhà Trịnh Ðình Thảọ
Năm 1948, ông qua Nam Vang và sống với người con gáị Sau dó
ông có trở về VN và mất tại Ðà Lạt vào 2/12/1953, thọ 71
tuổi.
Bộ "Nho Giáo" của ông được xuất bản lần đầu vào năm
1930 có sửa chữa và thu lại làm 2 quyển. Có thể nói Trần
Trọng Kim bă't đầu soạn bộ sách này từ 10 năm trước khi
ông diễn thuyết về Khổng Tử tại Hội Trí Tri Hà Nội vào
3/1920. Sau đó ông lại nói chuyện về Nho Giáo tại Việt Nam
Thanh Niên Hội vào 10/1922. Lúc đó quan điểm của ông còn e
dè, nhưng sau này, trong lúc nghiên cứu cólẽ tư tưởng của
ông đã được đã thông, ngộ được sự cao xa của học
thuyết mà ông không còn ngần ngại gì trong việc tán dương
Nho Giáo nữa.
Kiến thức của Trần Trọng Kim gồm cả tân và cựu học, cái
học của ông rất vững chă'c và sâu xa do sự tìm tòi nghiên
cứu mà cọ Ông rất tận tụy cho ngành giáo dục nước nhà.
Ngoài ra, Trần Trọng Kim tiêu biểu cho tư tưởng bảo thủ và
chủ nghĩa quốc gia ôn hòa. Sau đây, cũng trong cuốn "Một
Cơn Gió Bụi", ông cho ta biết quan điểm của một sử gia
đối với Ðảng CSVN ra sao :
Sử Gia Trần Gia Phụng - Lá cờ Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam
1d. "Cách Mạng Dân Tộc": Thực chất của một Huyền Thoại trong Lịch Sử Cận Đại Việt Nam - KS Nguyễn Đình Sài
"Cách Mạng Dân Tộc:" Thực Chất của một Huyền Thoại trong Lịch Sử Việt Nam Cận Đại
(LÊN MẠNG Thứ sáu 19, Tháng Tám 2005)
KS Nguyễn Đình Sài
(VNN)
Tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương núp dưới chiêu bài Việt Minh đã dùng thủ đoạn cướp chính quyền tại Hà Nội. Biến cố lịch sử đó đã ảnh hưởng sâu rộng đến sinh mạng của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài 6 thập niên kế tiếp.
Tháng 8 năm 2005, đất nước Việt Nam đang bị cai trị bởi các thuộc hạ của Hồ trong đảng Cộng Sản Việt Nam, với một hiến pháp công nhận sự lãnh đạo vĩnh viễn của đảng và một chế độ chuyên chính còn tàn độc khắc nghiệt gấp bội phần so với chế độ quân chủ thời nhà Nguyễn.
Mỗi năm vào dịp này, trong khi trong nước "đảng và nhà nước" đang tổ chức mừng kỷ niệm "cuộc cách mạng tháng 8 của dân tộc Việt Nam," thì người Việt hải ngoại hướng về quê nhà, ngậm ngùi cho số phận của 80 triệu dân lành, không biết đến bao giờ mới thoát được vòng kềm tỏa của "đảng và nhà nước."
Có thật biến cố 8/45 đúng là "cuộc cách mạng dân tộc" như người Cộng Sản khoe khoang không, hay chỉ là một huyền thoại? Thực chất và ảnh hưởng của nó trên dân tộc VN như thế nào? Làm sao để tiến hành một cuộc cách mạng dân tộc chân chính?
Năm 1945: Đoạn kết của cuộc Đệ Nhị Thế Chiến
Đầu năm 1945, trong lúc cuộc Đệ Nhị Thế Chiến bắt đầu đến hồi tàn lụi với sự bại trận của Ý và Đức ở Âu Châu và Phi Châu, thì tại Á Châu, Nhật vẫn tiến quân mạnh mẽ trong chiến lược Đại Đông Á, tiến chiếm Hoa Lục và các quốc gia vùng Đông Nam Á.
Từ ngày 9 tháng 3 năm 1945, sau khi đánh đuổi Pháp và tiến chiếm toàn cõi Đông Dương, Nhật hứa trao trả độc lập cho Việt Nam trong một hời gian ngắn. Ngày 11-3-45, từ Huế, Vua Bảo Đại tuyên bố quốc gia độc lập, hủy bỏ Hòa Ước 1984 đối với Pháp, ủy cho học giả Trần Trọng Kim thành lập nội các thân Nhật, thay thế nội các thân Pháp. Ngày 17-4-45, Trần Trọng Kim trình danh sách chính phủ mới, được xem là chính phủ của một quốc gia Việt Nam độc lập đầu tiên.
Chưa được bao lâu, tình thế biến chuyển nhanh chóng của thế giới lại ảnh hưởng vào nội tình Việt Nam. Ngày 1 tháng 4, Mỹ đổ bộ Okinawa. Ngày 28-4, Mussolini của Ý bị giết. Ngày 1-5, Hitler tự tử tại Berlin. Ngày 2-5, Đức và Ý chính thức đầu hàng Đồng Minh. Trong khi đó, tại Á Châu, Nhật gắng gượng chiến đấu trên mặt trận Á Châu với chiến thuật Hara-kiri, cho phi công lao máy bay xuống các tàu chiến hay căn cứ của Mỹ.
Trong khoảng thời gian này, Hồ Chí Minh đang ở vùng Cao Bằng. Một hôm, một toán quân của Võ Nguyên Giáp tìm cứu được một phi công Mỹ đã bị súng phòng không Nhật bắn hạ. Hồ Chí Minh liền đưa sang Trung Hoa giao trả cho bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Côn Minh. Nhờ công này, Hồ được Charles Fenn, sĩ quan điệp báo OSS của Mỹ kết nạp làm điệp viên với bí danh Lucius. Sau đó qua sự giới thiệu của Fenn, Hồ được yết kiến tướng Mỹ là Chennault, được Chennault tặng cho tấm hình và vài khẩu súng lục. Cuối tháng 4-45, Hồ sang Côn Minh và được giới thiệu với Archimedes Patti, đại úy OSS phụ trách Đông Dương để xin huấn luyện cho bộ đội Việt Minh nhằm mục đích cứu phi công Mỹ bị bắn hạ và phòng chống Nhật.
Ngày 6 tháng 8, sau nhiều lần kêu gọi Nhật đầu hàng nhưng không kết quả, Mỹ quyết định cho dội trái bom nguyên tử đầu tiên Thin Man lên vùng Hiroshima, tàn phá cả thành phố, gây tử thương cho 66 ngàn người. Ba hôm sau, thấy Nhật vẫn chưa chịu đầu hàng, Mỹ thả trái bom nguyên tử thứ hai mang tên Fat Man xuống vùng Nagasaki, sát hại gần 100 ngàn người. Kèm theo hai quả bom này là lời tuyên bố của Hoa Kỳ sẽ ném trái bom thứ ba xuống thủ đô Tokyo, sẽ sát hại hàng triệu người, nếu Nhật không chịu đầu hàng vô điều kiện (thật ra đó chỉ là lời dọa vì bấy giờ Hoa Kỳ chỉ mới chế tạo được hai quả bom nguyên tử thôi).
Ngày hôm sau Nhật Hoàng Hirohito nhờ Thụy Điển làm trung gian xin đầu hàng.
Năm 1945: Triều đại quân chủ Nhà Nguyễn cáo chung
Biến cố lịch sử trên làm rúng động tình hình chính trị tại Việt Nam. Kể từ 10 tháng 8, khắp ba miền, các biến chuyển thời sự dồn dập cho đến cuối tháng 8.
Tại Thuận Hóa, chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim từ chức, nhưng riêng ông Trần Trọng Kim lại được vua Bảo Đại ủy nhiệm lập nội các mới. Tuy vậy, ông đã không mời được người tham gia chính phủ mới vì không ai muốn phục vụ dưới một chế độ thân Nhật nữa. Nhiều tổ chức mới ra đời như:
- Phong Trào Phụng Sự Quốc Gia của ông Trần Văn Cương tổ chức biểu tình tại Hà Nội ngày 12-8-45, hô hào dân chúng đoàn kết cứu nước.
- Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt được thành lập tại Sài Gòn ngày 14-8-45, gồm Cao Đài, Hòa Hảo, Liên Đoàn Công Chức, Thanh Niên Tiền Phong, và Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng.
- Đảng Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế gồm Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Chu Văn Tấn, Phạm Văn Đồng, v.v... núp dưới danh hiệu Mặt Trận Việt Minh triệu tập "Đại Hội Quốc Dân" tại Tuyên Quang ngày 16-8-45, tuyên bố thành lập nước "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" và phát động cuộc "tổng khởi nghĩa." Lúc bấy giờ rất ít người biết đến tung tích đích thực của những người này, nhưng tin đồn về Mặt Trận Việt Minh "tổng khởi nghĩa" tràn lan khắp nước.
Ngày 17-8-45, tại Thuận Hóa, vua Bảo Đại chủ tọa buổi họp chính phủ Trần Trọng Kim. Buổi họp đưa đến một số quyết định quan trọng của Bảo Đại như sau:
*Tái xác định hủy bỏ Hòa ước 1862 và 1864 mà Pháp đã ép Việt ký nhượng Nam Kỳ cho họ. Nhà vua cũng ra sắc lệnh thành lập Hội Đồng Tư Vấn tại Bắc Kỳ để hỏi ý muốn của dân và làm theo nguyện vọng của dân, kể cả sự thoái vị.
* Gởi thông điệp kêu gọi các quốc gia Đồng Minh giúp đỡ, bảo đảm nền độc lập của Việt Nam.
* Ban hành đạo dụ số 105 tình nguyện trao quyền điều hành đất nước cho một chính phủ "cộng hòa dân chủ" và sẵn sàng tuân theo thể chế mà nhân dân quyết định.
* Xuống chiếu tuyên bố cùng toàn dân rằng nhà vua đặt hạnh phúc của nhân dân lên trên ngai vàng nhà Nguyễn, "muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nưóc nô lệ," và kêu gọi toàn dân đoàn kết, tham gia việc nước.
Cũng cùng ngày 17-8, công chức Hà Nội tổ chức biểu tình để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Khi bắt đầu tuần hành, họ hô những khẩu hiệu như "Hoan hô chính phủ Trần Trọng Kim," "Hoan hô Việt Nam độc lập muôn năm." Đột nhiên có người mặc áo cộc quần đen một tay cầm cờ đỏ sao vàng, một tay cầm súng lục bắn chỉ thiên một phát rồi hô lên "Mặt Trận Giải Phóng muôn năm!" Vài công chức thấy súng nỗ sợ quá bèn hô theo "Muôn năm!" Thế là cuộc biểu tình với mục đích ủng hộ chính phủ mới của Trần Trọng Kim, nhưng được nửa buổi thì bị đảng viên Cộng Sản trà trộn vào đoàn biểu tình, lái thành cuộc biểu tình hoan hô Việt Minh.
Ngày 19-8-45, tại Hà Nội, Việt Minh vừa dụ dỗ vừa ép buộc hàng ngàn đồng bào cầm Cờ Đỏ Sao Vàng, kéo tới quảng trường Ba Đình, trước dinh của Khâm Sai Phan Kế Toại để biểu tình. Tại đó, các cán bộ Việt Minh dùng súng uy hiếp bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, "Giám Đốc Ủy Ban Chính Trị Miền Bắc" phải ra lệnh cho binh sĩ Bảo An mở cửa dinh. Cán bộ Việt Minh tước khí giới của họ, chiếm Khâm Sai Phủ và Toà Thị Chính. Sau đó, cuộc biểu tình biến thành buổi ra mắt "Mặt Trận Việt Minh Cứu Quốc." Vì biến cố này, nhóm chữ "Việt Minh cướp chính quyền" bắt đầu được dùng tới, đối nghịch với nhóm chữ "Cách Mạng Tháng 8" mà bộ phận tuyên truyền của đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng sau này.
Sau khi tuyên bố "Tổng Khởi Nghĩa" tại Cao Bằng, Hồ Chí Minh cùng bộ chỉ huy Mặt Trận Việt Minh kéo về Hà Nội, dẫn theo những điệp viên OSS Mỹ đã nhảy dù xuống vùng thượng du Bắc Việt vào đầu tháng 5-45, để tiếp tế vũ khí và huấn luyện cho bộ đội Việt Minh tìm cứu các phi công Mỹ bị Nhật bắn hạ. Võ Nguyên Giáp đã phái những toán bộ đội Việt Minh đi trước mở đường. Họ hô hào dân chúng ra đón tiếp, để người Mỹ tưởng là Việt Minh được nhân dân ủng hộ, đồng thời để nhân dân tưởng rằng Việt Minh được Hoa Kỳ ủng hộ. Họ cũng đốt phá các làng mạc nào không chịu ra đón tiếp họ và vu cáo hành động tàn phá cho Việt Quốc (VNQDĐ). Võ Nguyên Giáp còn phái các toán Việt Minh đi sau phá cầu đường để ngăn chặn cuộc trở về Hà Nội của Việt Cách và "Quốc Dân Quân." Phần thì bị các chướng ngại ngăn trở, phần thì yếu thế hơn Việt Minh, lực lượng Việt Cách đã kẹt ở biên giới Việt Trung từ khi Nhật đầu hàng cho đến đầu tháng 9 mới theo quân đội Trung Hoa Quốc Gia do Lư Hán thống lãnh về Hà Nội. Vì thế các cuộc biểu tình tại Hà Nội trong tháng 8, 1945 đã không có sự tham dự của các lực lượng cách mạng quốc gia.
Những cuộc vận động của Việt Minh nhằm tiếp thu chính quyền quốc gia được kể là hoàn tất khi vua Bảo Đại ban hành chiếu thoái vị vào ngày 25-8 tại Huế, và "nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một chính phủ dân chủ cộng hòa." Bảo Đại kết thúc chiếu thoái vị với hai câu khẩu hiệu: "Việt Nam độc lập muôn năm!" và "Dân chủ cộng hòa muôn năm!"
Tiếp theo là cuộc biểu tình ngày 2-9 tại quãng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên bố dựa vào bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ và thành lập thể chế mới, "dân chủ cộng hòa."
Xuyên qua các dữ kiện lịch sử nêu trên, một vấn đề khúc mắc được nêu lên từ 1945 đến nay: Cuộc chính biến tháng 8 năm 1945 do Việt Minh chủ động có phải là một cuộc "cách mạng dân tộc chân chính" hay không?
Từ ngữ "cách mạng:" Định nghĩa và đặc tính
Theo nghĩa chữ Hán, "cách" là "thay đổi, bỏ đi," "mạng" là "sự sống"; chữ "cách mạng" viết kép nghĩa là "thay đổi triều vua." Theo từ điển Hán-Việt Đào Duy Anh thì cách mạng là "đổi chế độ cũ mà xấu, dựng nên chế độ mới mà tốt."
Theo nghĩa Tây Phương, "cách mạng" là "revolution," nghĩa là "a political movement which seeks to overthrow a government," một phong trào chính trị nhằm loại bỏ một chính phủ.
Như vậy, một cuộc "cách mạng chân chính" cần hội đủ các đặc tính: Tính "thay cũ đổi mới," tính "quần chúng," tính "độc lập," tính "tự chủ," tính "dân tộc," tính "đoàn kết," và tính "bỏ xấu dựng tốt." Sau đây ta thử xét xem cuộc chính biến 19 tháng 8, 1945 có các đặc tính nào.
- Tính "thay cũ đổi mới:" Biến cố 8/45 đã tạo nên hậu quả chấm dứt triều đại nhà Nguyễn và thay thế bởi một chế độ mới không còn là quân chủ chuyên chính như trước.
- Tính "quần chúng:" Biến cố 8/45 có tính "quần chúng," được sự tham dự của nhiều người. Sự tham dự này có thể là do tự nguyện, được vận động, hay bị ép buộc. Với kỹ thuật sách động và hù họa dân chúng của Việt Minh, hàng vạn người đã tham gia các cuộc biểu tình 19-8 và 2-9, tạo nên khi thế quần chúng chưa bao giờ có.
- Tính "độc lập:" Biến cố 8/45 có tính "độc lập," nó tự phát sinh mà không do sự hỗ trợ biểu kiến của một ngoại bang nào. Nó thể hiện lòng khát vọng của toàn dân, kể cả hoàng đế Bảo Đại, muốn thấy đất nước được độc lập, không còn bị đô hộ bởi thực dân Pháp nữa. Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội từ lúc thành lập đã có chủ trương chống cả Pháp và Nhật để dành độc lập cho nước nhà. Nhiều người không cộng sản đi theo Mặt Trận Việt Minh cũng vì tán thành chủ trương độc lập đó.
- Tính "tự chủ:" Biến cố 8/45 có tính "tự chủ" vì không bị kềm chế hay ảnh hưởng trực tiếp bởi một lực lượng ngoại lai nào. Vào thời điểm tháng 8, 1945, tại Đông Dương có ba lực lượng ngoại bang: Pháp, Nhật, và Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch. Mặt Trận Việt Minh không dựa vào Trung Hoa Dân Quốc, vào Pháp cũng như Nhật, mặc dù Hồ Chí Minh đã lợi dụng uy thế của Hoa Kỳ để lừa gạt dư luận là Việt Minh được Mỹ ủng hộ.
Đọc đến đây ắt có người về phía "Quốc Gia" sẽ tranh luận ngay rằng cuộc chính biến tháng 8, 1945 không thể có tính "độc lập" hay "tự chủ." Họ sẽ nêu ra dữ kiện rằng "Thành phần chính phủ mà Hồ Chí Minh công bố ngày 2-9-45 hết thảy là cộng sản Việt Nam, là tay sai của Liên Sô và Trung Cộng, nên cuộc chính biến tháng 8 bị lệ thuộc vào lực lượng ngoại bang."
Sự tranh luận ấy không đúng theo lịch sử. Vào giữa thập niên 1940, thế lực chính trị của Liên Sô còn yếu. Lực lượng quân sự của Liên Sô đang dồn vào mặt trận Đông Âu, không có chút ảnh hưởng nào tại Đông Dương ngoài việc huấn luyện ý thức hệ cho các đảng viên đảng Cộng Sản Đông Dương. Trung Hoa còn thuộc chế độ Cộng Hòa của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, từ Tôn Dật Tiên chuyển xuống Tưởng Giới Thạch, đang vất vả chống Nhật ngay trên lãnh thổ của họ và phải nhờ Hoa Kỳ trấn giữ các căn cứ chiến lược vùng đông nam Hoa Lục. Lực lượng Trung Cộng của Mao Trạch Đông chỉ mới phôi thai ở miệt tây bắc Trung Quốc, lúc ấy chưa hề bén mảng đến miền nam; mãi đến năm 1949, dành được Hoa Lục, mới bắt đầu ảnh hưởng vào vùng Đông Dương. Lúc bấy giờ Mặt Trận Việt Minh cũng là một trong những thành phần dân tộc, cho dù họ là "thành phần xấu" đi nữa, và sự tham gia của quần chúng quả thật là xuất phát từ khát vọng độc lập của họ, không bị Liên Sô và Trung Cộng trực tiếp ảnh hưởng. Việt Minh cướp chính quyền hoàn toàn là do sức của Việt Minh và quần chúng VN, thì phải gọi biến cố ấy có tính "tự chủ." (Ảnh hưởng của hai đảng Cộng Sản Liên Sô và Trung Quốc chỉ mới có từ thập niên 1950 trở đi, đặc biệt là việc cung cấp vũ khí cho Việt Minh trong trận Điện Biên Phủ và cuộc xâm chiếm miền Nam.) Mặt khác, nếu nói đến "ảnh hưởng" về vật chất, tư tưởng, và tinh thần thì phải kể đến ảnh hưởng trực tiếp của Hoa Kỳ qua ba sự kiện quan trọng: Thứ nhất, toán điệp viên OSS (Office of Strategic Services) của Hoa Kỳ đã cung cấp vũ khí, đạn dược, và luấn luyện cho Việt Minh. Thứ hai, khi đoàn quân Việt Minh rời Cao Bằng về Hà Nội từ ngày 20 đến 25 tháng 8, toán OSS đã đi theo bên cạnh Hồ Chí Minh (lúc ấy là điệp viên OSS với bí danh Lucius) và Võ Nguyên Giáp. Thứ ba, bản "tuyên ngôn độc lập" mà Hồ đọc trước quảng trường Ba Đình ngày 2-9 đã phỏng theo bản "Declaration Of Independence" ngày 4 tháng 7, 1776 của Hoa Kỳ. Ba sự kiện này đã tạo cho dân chúng cảm tưởng là Việt Minh được Hoa Kỳ hỗ trợ. Nhờ thế mà dân chúng đã theo Việt Minh lúc đó và sau này. Dù vậy, những ảnh hưởng đó chỉ là phụ thuộc, không vì thế mà mất đi tính "tự chủ" của cuộc chính biến, hoặc cho rằng nó bị lệ thuộc vào Hoa Kỳ, bởi vì tất cả những kế hoạch và hành động "dành chính quyền" đều do người Việt Nam (Mặt Trận Việt Minh) chủ trì, chứ Mỹ, Nga, Tàu, Nhật, và Pháp không có ảnh hưởng gì cả.
- Tính "dân tộc:" Tuy nhiên, phân tích kỹ hơn, cuộc chính biến 8-45 dù có một số đặc tính "cách mạng" biểu kiến ở trên, nó lại không xứng đáng để được vinh danh là một cuộc "cách mạng dân tộc" đúng nghĩa. Một cuộc "cách mạng dân tộc" phải được phát khởi từ một hay nhiều thành phần dân tộc để phục vụ dân tộc chứ không nhằm phục vụ một ý thức hệ nào. Chính phủ được ông Hồ Chí Minh công bố ngày 2-9-1945 đều là đảng viên Cộng Sản Đệ Tam. Họ chỉ có mục đích tối thượng là phục vụ cho lý tưởng Quốc Tế Đại Đồng theo Duy Vật Biện Chứng Pháp. Họ chỉ mượn chiêu bài "dân tộc" để tiến hành sách lược đó mà thôi. Trên thực tế, tinh thần "cách mạng dân tộc" đã được phát khởi đầu tiên bởi VNQDĐ năm 1928 với chủ trương "do dân, bởi dân và vì dân." Tinh thần "cách mạng dân tộc" được thể hiện qua sự vị quốc vong thân của đảng trưởng VNQDĐ Nguyễn Thái Học vào năm 1930, và được tiếp tục nuôi dưỡng bởi nhiều tổ chức kháng Pháp trong suốt các thập niên 1930 và 1940. Ngược lại, chính vì cuộc cướp chính quyền thời đó mà khí thế cách mạng chân chính của dân tộc đã bị đảng Cộng Sản Đông Dương triệt tiêu. Chỉ vài tháng sau, người Pháp được sự đồng thuận của Đồng Minh, trở lại Việt Nam, đổ quân tái chiếm miền Nam, rồi tiến ra Trung và Bắc Kỳ. Trước sức mạnh quân sự của Pháp, Hồ Chí Minh đã liên lạc và xin ký thỏa ước với Pháp, chấp nhận đứng trong "Liên Hiệp Pháp," trái hẳn với lời tuyên thệ của ông trong ngày 2-9, rằng ông sẽ "không bao giờ thương thuyết hay hợp tác với Pháp." Đây là một trong những bằng chứng rằng những người cộng sản luôn luôn đặt quyền lợi của đảng lên trên danh dự của dân tộc.
- Tính "đoàn kết:" Biến cố 8/45 thiếu tính "đoàn kết" vì không tận dụng được sự đoàn kết dân tộc như thời Kháng Nguyên của Nhà Trần và Kháng Minh của nhà Lê thuở trước. Như chúng ta đã biết, trước khi Nhật đầu hàng, các tổ chức cách mạng đã kết hợp thành Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, mà Việt Minh là một thành phần. Không được bao lâu thì Việt Minh tách ra, tạo nên mầm mống chia rẽ giữa Việt Minh và các tổ chức. Rồi khi Nhật đầu hàng, thì Việt Minh cho ra đời "Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời" ngày 19-8-45 chỉ toàn là cán bộ Cộng Sản. Danh sách này đã được Hồ Chí Minh công bố ngày 2-9-45 cộng thêm một vài người thuộc tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản. Còn các tổ chức "quốc gia" thì không có đại diện trong chính phủ ấy. Việt Minh cũng tạo nên sự chia rẽ và bất tín đối với nhà cầm quyền với cuộc "bầu cử Quốc Hội gian lận" ngày 1 tháng 6, 1946. Chính vì sự "độc chiếm chính trị" này mà nhiều thành phần dân chúng đã nổi dậy biểu tình chống chính phủ hàng ngày gần như cơm bữa, nhất là sau khi Mặt Trận Việt Cách và Việt Quốc về đến Hà Nội. Ngoài ra, sau khi dành được chính quyền, Việt Minh quay ra tiêu diệt các tổ chức cách mạng như Việt Cách và Việt Quốc. Hành động tàn nhẫn ấy đã khởi đầu cho cuộc tương tranh dài 30 năm trường, tiêu hao xương máu của hàng triệu người dân lành của cả hai miền Nam và Bắc. Cho đến này nay, đảng CSVN tự giành cho mình quyền vĩnh viễn độc tôn lãnh đạo đất nước, không bao giờ chấp nhận các đảng phái khác. Vì vậy mà "cuộc chính biến tháng 8" không có tính đoàn kết dân tộc
- Tính "bỏ xấu dựng tốt:" Cuộc chính biến 8/45 thiếu hẳn đặc tính xây dựng những điều tốt lành mặc dù đã chấm dứt một nền phong kiến lỗi thời, lạc hậu và xấu xa. Nhân dân Việt Nam vừa thoát khỏi chế độ phong kiến liền bị tròng vào một chủ nghĩa ngoại lai, dùng sự tàn độc để cai trị, lấy sự đói khát để làm tê liệt phong trào dân chủ, và nhân danh ổn định để đè bẹp khát vọng tự do và chà đạp nhân quyền. Tình trạng lạc hậu của dân tộc kéo dài đúng 6 thập niên từ tháng 8/1945 đến tháng 8/2005 hiện nay.
Tiến hành một cuộc cách mạng dân tộc chân chính
Khi vinh danh cuộc chính biến tháng 8 là một cuộc "cách mạng dân tộc," người Cộng Sản Việt Nam đã nhầm lẫn "đảng" là "dân tộc." Họ tự hào về cái thành quả nhờ thủ đoạn trí trá mà đạt được và nhờ thủ đoạn tàn ác mà tồn tại cho đến ngày nay. Vì thế, họ đã và đang ca ngợi cái huyền thoại đó năm này qua năm khác.
Nhưng nếu nhìn một cách khách quan, chúng ta thấy rõ thực chất của huyền thoại cách mạng tháng 8-1945. Tuy cuộc chính biến ấy có một số đặc tính biểu kiến của một cuộc "cách mạng quần chúng" và có hình thái độc lập tự quyết, nhưng vì những thủ đoạn hiểm độc trước và sau khi nắm được chính quyền, với lý tưởng phi dân tộc, và với cứu cánh độc tôn đảng trị, đảng CSVN đã làm mất đi chính nghĩa cao quý của một cuộc "cách mạng dân chủ đích thực." Mặt khác, tính chất độc lập tự quyết của cuộc chính biến cũng bị lu mờ vì hành động thiếu đại đoàn kết toàn dân, mà đảng CSVN đã phát khởi qua các cuộc sát hại dân lành và các đảng phái đối lập một cách khốc liệt từ 60 chục năm qua.
Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 8 năm 2005, sáu thập niên trôi qua. Chế độ độc tài do đảng Cộng Sản Việt Nam áp đặt lên dân tộc đã chứng minh hoàn toàn yếu kém trong khả năng điều hành quốc gia suốt 30 năm qua. Không những vậy, chính chế độ độc tài cộng sản này còn là nguồn gốc phát sinh ra các quốc nạn khác như tham nhũng cường quyền, phung phí tài nguyên quốc gia, tàn phá môi sinh... và cũng là trì lực ngăn chận sức phục hồi và tiến lên của dân tộc bởi những chính sách bưng bít và trói buộc ngặt nghèo nhằm bảo vệ độc quyền cai trị của họ.
Chúng ta ôn lại cuộc chính biến lịch sử tháng 8-45, để không chỉ nhận ra những sai lầm của đảng CSVN, mà còn để nhận thấy rằng muốn làm một cuộc cách mạng dân tộc thì phải có một tổ chức kết hợp được mọi thành phần dân tộc, từ dân tộc mà thành hình, và vì dân tộc mà tranh đấu. Tổ chức đó sẽ có sứ mệnh tiến hành cuộc cách mạng bằng chính sức mạnh và trí tuệ của dân tộc Viêt Nam trong cũng như ngoài nước, để giải phóng đất nước thoát khỏi ách độc tài cộng sản hầu có điều kiện xây dựng một xã hội nhân bản, tự do, và tiến bộ.
1d. Hữu nghị Hoa Kỳ - VNCH - CP/VNTD
http://www.vntd.org/LienMinhDanToc.com/articles/vn/Huu%20Nghi%20US_VNCH.html
Tiểu đội tình báo của Hoa Kỳ nhảy dù xuống chiến khu làng Kim Lung, Tỉnh Tuyên Quang, Bắc Việt, được Hồ Chí Minh đón tiếp với banner Welcome to our American friends nồng nhiệt chào đón những người bạn Hoa Kỳ. Nhiệm vụ của tiểu đội tình báo này hợp tác với Việt Minh để chống quân Nhật. Sau khi Nhật đầu hàng, nhờ sự hỗ trợ của Mao, Hồ Chí Minh về Hà Nội cướp chính quyền từ trong tay chính phủ Trần Trọng Kim, và mạo muội tuyên bố độc lập.
Trong bản tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh trích dẫn câu mở đầu của hiến pháp Hoa Kỳ: Thượng Ðế sinh ra mọi người đều bình đẳng. Sau đó Hồ Chí Minh viết thư nài nỉ Tổng Thống Hoa Kỳ thứa nhận cái nền độc lập vừa mới cướp được. Hoa Kỳ biết rõ quả tim và khối óc của Hồ Chí Minh là hoàn toàn thuộc Nga, Tàu, qua việc thủ tiêu các chiến sĩ quốc gia nồng cốt trước khi tuyên bố độc lập. Cho nên Hoa Kỳ đã không công nhận cái chính phủ phi dân tộc ấy mà còn hỗ trợ cho Pháp trở lại xâm lăng nước ta và đánh đuổi Việt Minh lên vùng núi phía Bắc.
Trong khi Việt Minh đang lẫn trốn trong rừng núi Việt Trung, ngày 20 tháng 5 năm 1948, Hoàng Ðế Bảo Ðại thành lập chính phủ Quốc Gia Việt Nam, chọn ông Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng.
Ngày 8 tháng 3/1949, Pháp thừa nhận Việt Nam độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và có quân đội riêng. Ðó là Quân Ðội Quốc Gia dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Văn Hinh, Lê Văn Kim, Trần Văn Ðôn, có Quốc Kỳ là cờ vàng 3 sọc đỏ.
Ngày 7 tháng 2/1950, Hoa Kỳ và Anh Quốc thừa nhận Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam do Hoàng Ðế Bảo Ðại làm Quốc Trưởng.
Ngày 11 tháng 4/1954, Pháp thừa nhận Quốc Gia Việt Nam hoàn toàn độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và có quân đội riêng. Hai tháng sau, 25/6/1954, ông Ngô Ðình Diệm được Hoàng Ðế Bảo Ðại mời về nhận chức Thủ Tướng. Trong thời gian này, Hồ Chí Minh còn ẩn nấp trong các hang núi vùng biên giới Việt Trung. Nhờ Mao thắng thế ở Trung Hoa Lục Ðịa, Mao cùng với Hồ đã thắng Pháp ở trận Ðiện Biên Phủ. Chỉ có Hồ Chí Minh và Pháp ký Hiệp Ðịnh Geneve chia cắt đất nước ngày 21/7/1954 mà thôi. Hoàng Ðế Bảo Ðại và Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm chống lại việc ký kết này.
Tôi còn đọc thêm một số tài liệu khác không tiện trích dẫn vào đây.
1e. Trần Trọng Kim
Tài liệu từ Wikipedia thực ra là chép những mảnh nhỏ trong nhiều tài liệu tôi đã đọc qua, và ghép lại với nhau, không ghi chú nguồn trích, cũng không ghi tên tác giả.
Wikipedia là một "Bách Khoa Tự Điển", ai cũng có thể tra cứu và sử dụng như nguồn tài liệu.
Bài viết không ký tên Thái Nhi.
Khi mang vào VNTQ, tôi không ký tên Ngọc Lý, tôi không nói tôi là tác giả bài viết, mà chỉ nói là "sưu tầm".
Như thế, không thể gọi là "Đạo văn". Các bạn có hơi vội vàng và quá khích khi kết luận thế chăng?
Vì khuôn khổ Việt Nam Thư Quán, và vì tôn trọng chủ trương Trung Lập của Ban Điều Hành, khi đưa vào bài viết này, tôi đã cố ỷ bỏ qua rất nhiều chi tết quan trọng khác. Mong các bạn hiểu thiện chí của tôi.
Ngọc Lý
.
Chào các bạn,
Tôi xin phép được vào đây trả lời trực tiếp Thái Nhi và tất cả các bạn về bài Trần Trọng Kim, vì tìm không thấy các bài đã đăng trong phần Tác giả - Tác phẩm, và cũng không vào được cùng một thread mà Thái Nhi đặt câu hỏi trong phần Thắc Mắc - Ý Kiến.
Trước tiên, xin cảm ơn Ct. Ly đã lên tiếng trả lời hộ.
Tôi đã trả lời bạn Đông Hòa trong bài trước đây, nhưng hôm nay tìm không ra, nên xin viết lại vào đây.
Có vài điều cần nói rõ:
1/ Khi đi tìm hiểu về Trần Trọng Kim và giai đoạn từ 4/1945 - 2/9/ 1945, tôi đọc qua tất cả các tài liệu sau:
1a. - Phạm Văn Sơn - Việt Sử Toàn Thư - trang 487,488, 489 - nói về sự chiến đấu cuả phái Tân Học, các đảng phải quốc gia chân chính, sự thành hình của Việt Minh, cuộc đảo chánh 9/3/1945, sự thành lập Chính Phủ Trần Trọng Kim với đoạn sau đây:
"Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời được hoan nghênh nhiệt liệt từ Bắc xuống Nam thay thế cho Nội Các Phạm Quỳnh cáo chung tại Huế..." (trg 489)
http://viethoc.org/eholdings/sach/vstt.pdf, trg 487,488,489.
1b. Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng nói về Chính Phủ Trần Trọng Kim
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/04/15/TranTrongKimGovernmentIn1945_MHungTMi/
Thành ra chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập bao gồm phần lớn là những nhà trí thức, chuyên môn mà trước đó không nằm trong các đảng phái cách mạng chống Pháp. Nói theo ngôn từ hiện nay thì chúng ta có thể nói đây là một chính phủ của những chuyên gia. Nhưng không phải vì trước đó họ không hoạt động chính trị mà họ không ái quốc. Và dù rằng chỉ kéo dài được có bốn tháng chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã làm được một số công chuyện đặt cơ sở cho một nước Việt Nam độc lập về sau này.
xem tiếp tại đây Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng nói về Chính phủ Trần Trọng Kim
1c. Sử Gia Trần Gia Phụng - Lá cờ Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam
Lá cờ VN và Ðảng CSVN
Trần Trọng Kim
Trần Trọng Kim, bút hiệu là Lệ Thần, nhà giáo dục, sử gia,
học giả uyên thâm về Nho giáo và Phật giáo (TTK là một trong
các sáng lập viên của Hội Việt nam Phật Giáo; Dương Bá
Trạc cũng là sáng lập viên, đã mất tại Tân-Gia-Ba), sinh vào
năm 1883 (Quý Mùi) tại làng Kiều Linh, xã Ðan Phố, huyện Nghi
Xuân, tĩnh Hà Tĩnh, học chữ Hán từ nhỏ, sau đổi sang chữ
Pháp rồi vào học trường Thông Ngôn. Năm 1904, ông làm Thông
sự ở Ninh Bình. Năm 1905, ông qua Pháp học trường Thương
mại ở Lyon, sau được học bổng vào trường Thuộc Ðịa
Pháp. Năm 1909, ông vào học trường Sư phạm Melun và tốt
nghiệp vào 31/7/1911 rồi về nước. Ông dạy học tại các
trường Sĩ Hoạn, Bảo Hộ và Sư Phạm Hà Nộị Các chức vụ
trong ngành giáo dục sau đó : Thanh Tra Tiểu học (1921), Trưởng
Ban soạn thảo sách giáo khoa Tiểu học (1924), Giám Ðốc các
trường Tiểu học Hà Nội (1939).
Các tác phẩm chính của ông đều thuộc về sử học, nghiên
cứu và sư phạm gồm Sơ Học Luân Lý (1914), Vương Dương Minh
(1914), Sư Phạm Khoa Yếu Lược (1916), Việt Nam Sử Lược
(1919), Nho Giáo (1930), Phật Lục (1940), Việt Nam Văn Phạm
(1941).
Ngày 11/3/1945, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ hòa ước
Patenôtre ký với Pháp năm 1884, Việt Nam khôi phục chủ quyền.
Nội các Trần Trọng Kim được thành lập ngày 17/4/1945 là
chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Vào
tháng 6/1945, chính phủ ông đă.t quốc hiệu là Việt Nam (đã
có từ thời Gia Long); quốc ca là nhạc của bài "Ðăng Ðàn",
lời thì chọn sau; quốc kỳ có "nền vàng hình chữ nhật,
giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm". Cũng vào năm 1945, Phan
Anh bộ trưởng Bộ Thanh Niên trong chính phủ Trần Trọng Kim
chọn bài "Tiếng gọi Thanh Niên" làm quốc ca Việt Nam.
Mă.t khác, cũng cùng năm, một lá cờ khác xuất hiện trên đất
nước Việt Nam với nền đỏ sao vàng; đó là lá cờ của
CSVN, mượn să'c hình chung của CS Quốc Tệ
Trong cuốn sách "Một Cơn Gió Bụi" (Kiến Văn Lục; sách kể
những kinh nghiệm của ông từ 1943-1949), trang 60, ông viết :
"Còn lá quốc kỳ, mỗi người bàn một cách, chúng tôi định
đem hỏi mọi người trong nước và ai có ý kiến gì, thì vẽ
kiểu gởi vệ Có kiểu lá cờ vàng có quẻ Ly ở giữa là
có ý nghĩa hơn cả. Chúng tôi định lấy kiểu ấy làm quốc kỳ.
"Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc
Sữ Diễn Ca" nói, khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu,
đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu ră`ng :"Ðầu voi
phất ngọn cờ vàng". Vậy lấy să'c cờ vàng là hợp với
cái ý cách mạng của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ Ly là vì
trong lối chữ tối cổ của ta có 8 chữ viết bă`ng vạch
liền (dương) và những vạch đứt (âm), chỉ 4 phương chính
và 4 phương bàng, nói ở trong kinh dịch, mà quẻ Ly chủ phương
Nam. Chữ Ly còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng
phóng ra bốn phương.
"Lấy să'c vàng là hợp với lịch sử, lấy quẻ Ly là hợp
với vị trí nước nhà, lại có nghĩa chỉ một nước văn
hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá cờ vàng quẻ
Ly có đủ các ý nghĩa.
"Song có người nói : cờ quẻ Ly là một điềm xấu cho nên
thất bại, vì Ly là Liạ Ly là Lià là một nghĩa khác chứ
không phải nghĩa chữ Ly là quẹ Và việc làm của một chính
phủ là cốt ở cái nghĩa lý, chứ không phải sự tin nhảm vô
ý thức.
"Việc thất bại là vì tình thế chứ không phải vì lá cờ
Giả sử dùng lá cờ khác mà trong hoàn cảnh lúc ấy có thể
thay đổi được gì không ?"
Như thế, trong lá cờ của TTK, quẻ Ly có 3 vạch nhưng vạch
giữa bị đứt đoạn làm đôị TTK lấy quẻ Ly để chỉ vị
trí phương Nam của VN kể ra cũng thích hợp. Năm 1949, Bảo
Ðại về nước chấp chính với danh nghĩa Quốc Trưởng VN.
Chính quyền Bảo Ðại lúc nầy đã sửa lại lá quốc kỳ của
nội các Trần Trọng Kim làm khi trước : nối đoạn đứt ở
sọc giữa thành sọc liền. Và từ đó, lá cờ vàng 3 sọc đỏ
được tiếp tục chọn làm quốc kỳ trong những chế độ
Cộng Hoà kế tiếp với ý nghĩa 3 giòng máu đỏ Bă'c Trung Nam
đồng luân lưu trong đại gia đình dân tộc Việt Nam da vàng.
Chính phủ Trần Trọng Kim bao gồm nhiều học giả, trí thức
nhiệt tâm đối với đất nước. Mă.t khác, Trần Trọng Kim
cũng là một Phật tử mộ đạo.
Việt Minh cướp chính quyền, Hoàng Ðế Bảo Ðại ra tuyên
chiếu thoái vị ngày 2/12/1945, nội các Trần Trọng Kim đổ
theo sau 4 tháng làm việc tích cực trong trăm ngàn rối ren và
thiếu thốn.
Sau nhiều năm tháng long đong ở Quảng Châu và Hồng Kông, và
6/2/1947, ông trở về Saigon và sống tại nhà Trịnh Ðình Thảọ
Năm 1948, ông qua Nam Vang và sống với người con gáị Sau dó
ông có trở về VN và mất tại Ðà Lạt vào 2/12/1953, thọ 71
tuổi.
Bộ "Nho Giáo" của ông được xuất bản lần đầu vào năm
1930 có sửa chữa và thu lại làm 2 quyển. Có thể nói Trần
Trọng Kim bă't đầu soạn bộ sách này từ 10 năm trước khi
ông diễn thuyết về Khổng Tử tại Hội Trí Tri Hà Nội vào
3/1920. Sau đó ông lại nói chuyện về Nho Giáo tại Việt Nam
Thanh Niên Hội vào 10/1922. Lúc đó quan điểm của ông còn e
dè, nhưng sau này, trong lúc nghiên cứu cólẽ tư tưởng của
ông đã được đã thông, ngộ được sự cao xa của học
thuyết mà ông không còn ngần ngại gì trong việc tán dương
Nho Giáo nữa.
Kiến thức của Trần Trọng Kim gồm cả tân và cựu học, cái
học của ông rất vững chă'c và sâu xa do sự tìm tòi nghiên
cứu mà cọ Ông rất tận tụy cho ngành giáo dục nước nhà.
Ngoài ra, Trần Trọng Kim tiêu biểu cho tư tưởng bảo thủ và
chủ nghĩa quốc gia ôn hòa. Sau đây, cũng trong cuốn "Một
Cơn Gió Bụi", ông cho ta biết quan điểm của một sử gia
đối với Ðảng CSVN ra sao :
- "Tôn chỉ và sự hành động của CS Ðảng :
"CS Ðảng, theo cách tổ chức và hành động của họ, là một
thứ tôn giáo mới, giống như các tôn giáo cũ cốt lấy sự
mê tín mà tin, chứ không hoài nghi hay đi lệch ra ngoàị Song
các tôn giáo cũ nói có cõi trời, có thiên đường là nơi
cực lạc, Cộng Sản Giáo ngày nay thì hoàn toàn duy vật, nghĩa
là ngoài vật chất ra, không có sự tin tưởng nào khác nữa,
cho thiên đường không phải ở cõi trời mà chính ở cõi
trần gian nàỵ Ai tin theo đạo ấy là phải tin lý thuyết của
Các-Mác và Lê-nin là tuyệt đối chân chính, đem áp dụng là
được sung sướng đủ mọi đường, tức thực hiện được
cảnh thiên đường ở cõi đờị Còn về đường tín
ngưỡng, thì đạo CS đã là đạo hoàn toàn duy vật, tất
không ai thờ phụng thần thánh nào khác nữa, nhất thiết
nghĩ phải sùng bái những người như Các-Mác, Lê-nin,
Xít-ta-lin dể thay những bực thần thánh cũ đã bị truất
bỏ.
"Ðã tin mê cái đạo ấy và đã coi lý thuyết ấy là chân lý
tuyệt đối, thì ngoài cái lý thuyết ấy ra, tất cả là tà
giáo, là tả đạọ Ai không tin theo và phản đối những
người đứng đầu đảng, tức là những bậc giáo chủ, thì
là người phản đạo, tất là phải trừng trị rất nghiêm. Vì
vậy mới có sự tàn sát những người trong đảng CS theo
Trotsky, chủ Ðảng CS Ðệ Tứ Quốc Tế, là một chi CS phản
đối Xít-ta-lin, chủ CS Ðệ Tam Quốc Tế.
"Vậy những tín đồ CS phải là những người cuồng tín và
chỉ biết đời sống vật chất mà thôi, ngoài ra không có gì
nữa. Sống có một đời rồi hết, nên ai nấy chỉ lo làm
cho mình được mọi điều thă'ng lợi, sá chi những điều
phúc lợi thiện ác.
"Về đường thực tế, cái đă.c să'c của CS là không nhận
có luân thường đạo lý, không biết có nhân nghĩa đạo đức
như người ta vẫn tin tưởng. Người CS cho cái điều đó
là hủ tục của xã hội phong kiến thời xưa, đă.t ra để
lừa dối dân chúng, nên họ tìm cách xóa bỏ hết. Ai tin chỗ
ấy là người sáng suốt, là người giác ngộ, ai không tin
là người mờ tối, là người mê muội. Vì có tư tưởng
như thế, cho nên cha, con, anh em bè bạn không có tình nghĩa gì
cả, chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa của CS và phục tòng những
người cầm quyền của đảng, ngoại giả, giết hại lẫn nhau,
lừa đảo nhau : hễ ai làm những việc mà lợi cho đảng là
người giỏi, người tốt. Gia đình, xã hội, phong tục, chế
độ cũ đều bỏ hết, bỏ đến tận cội rễ, để lập
thành xã hội mới theo chủ nghĩa CS. Cái xã hội mới ấy
không tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc nữa, cũng chỉ
là cái phương pháp dùng tạm thời trong một cơ hội nào để
cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh
đấu cho giai cấp vô sản. Khi ở đâu sự tranh đấu cho giai
cấp ấy được thă'ng lợi, thì cứ tranh đấu mãi để bảo
vệ quyền lợi của giai cấp ấy và xóa bỏ hết những cương
giới nước họ với nước kia để thực hiện một thế
giới đại đồng, đă.t dưới quyền chỉ huy của giáo chủ CS
ở bên Nga. Vì vậy cho nên bất kỳ nước nào tuy theo chế
độ CS, nhưng còn muốn giữ tư tưởng quốc gia như nước
Nam Tư bên Ðông Âu là bị trục xuất ra ngoài hội nghị của
các nước CS.
"Cái phương thuật của đảng CS bên Nga không khéo ở chỗ
ấy, tuy nói là bài trừ đế quốc chủ nghĩa và tiêu diệt
những chế độ độc tài áp chế đời xưa, nhưng lại áp
dụng chế độ độc tài áp chế hà khă'c và tàn ác hơn
thời xưa, và gây ra một thứ đế quốc chủ nghĩa theo một
danh hiệu khác, để tự mình thống trị hết thiên ha Thành
ra các nước đã theo CS đều phải là những nước phụ thuộc
nước Nga, cũng như bên Tàu ngày xưa các nước chư hầu phải
phục tùng mệnh lệnh thiên tự Thì ra trong thế gian này
chă?ng có gì mới la So với chế độ CS ở Nga ngày nay có
khác gì chế độ nhà Tần thời chiến quốc bên Tàu ? Có
khác là khác ở những phương tiện theo khoa học và những
mánh khoé hiện thời mà thôi, còn thì cũng tàn bạo gian trá
như thế và cũng cùng những quyền mưu quỷ quyệt để thống
trị hết các nước.
"Ðảng CS đã có cái tổ chức rất đúng khoa học, đảng viên
lại giữ kỷ luật rất nghiêm, rất chịu khó làm việc và có
tín lực rất mạnh. Ai theo đảng là đă'm đuối vào chủ
nghĩa của đảng, có lâm nguy nan gì thì cho là một vinh hạnh
được tuẫn tử vì đảng. Về sự hành động thì đảng CS
chuyên dùng những thủ đoạn quỹ quyệt, nên tuy có thă'ng lợi
mà những người trí thức ít người theọ Cũng vì vậy mà
họ bài trừ trí thức và chỉ ưa dùng đàn bà, trẻ con và
những người lao động là hạng người dễ khuyến dụ, dễ
lừa dối.
"Người CS, khi hành dộng, hay dùng đến chữ "giải phóng".
Theo việc làm của họ, tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa 2 chữ
ấỵ Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ
đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy
sang cái cũi mới ấy, thế gọi là "giải phóng" không ? Nếu
cái nghĩa "giải phóng" là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng
vẫn là cái cũi, chứ có gì hơn ?
"Cứ như ý tôi, thì "giải phóng" phải theo đúng cái lẽ công
bă`ng, làm cho người ta được ung dung thư thái, được hành
động trong một cái khuôn khổ rộng rãi, ai nấy biết trọng
quyền lợi của mọi người theo pháp luật đã định, không bị
đàn áp và lừa dối, không bị bă't bớ và giết hại một
cách ám muội, oan ức.
"Ðàng này tôi thấy chế độ các nước CS giống nhau như in
cái chế độ chuyên chế thủa xưạ Người nào nói xấu hay
công kích những người cầm quyền của đảng là phải tội bị
đày, bị giết. Ai không sốt să'ng theo mình thì bị tình nghi,
phải chịu mọi điều phiền khộ Nhân dân trong nước vẫn
bị đàn áp lầm than khổ sở, riêng có một số ít người
có địa vị to lớn là được sung sướng. Như thế thì "giải
phóng" ở đâu ? "Giải phóng" gì mà cả chính thể một nước
phải nương cậy ở những đội trinh thám để rình mò và
tố cáo hết thảy mọi ngườị Hễ ai vô ý nói lỡ một câu
là bị tình nghi có khi bị bă't, bị đày, v.v...thành ra nhân
dân trong xã hội ấy lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, không
biết ai là bạn là thù, mất hă?n sinh thú ở đời, thật
trái với lời nói "thiên đường ở cõi trần".
"Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn
nói nào là hạnh phúc, nào là tự do, bình đă?ng, mà sự
thật thì trái ngược tất cạ Những lối họ dùng là nói
dối, đánh lừa cướp bóc, giết hại, tàn phá, không kiêng
dè gì cả, miễn làm cho người ta mă'c lừa hay sợ mà theo
mình là được.
Xem như lúc đầu Việt Minh tuyên truyền
rầm rĩ lên ră`ng :"Nước VN đã được các nước đồng minh
cho hoàn toàn độc lập, và dân được tha hết các thứ
thuế". Thôi thì chỗ nhân gian nghe nói thế chạy ùa theọ Sau
chă?ng thấy độc lập đâu cả và dân gian lại phải đóng góp
nă.ng hơn trước. Khi Việt Minh đã nă'm quyền bính rồi,
lại định các ngạch thuế, có người hỏi họ :"Sao trước các
ông bảo tha hết các thứ thuế kia mà ?". Họ trả lời :"Ấy
trước nói tha thuế, nhưng bây giờ chính phủ cần có thuế
để làm mọi việc". Nói như thế thì uy tín của chính phủ
để đâu ?".
"Cái thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi phương cách bạo
ngược, tàn nhẫn, giả dối, lừa đảo để cho được việc
trong một lúc. Ngay như họ đối với VNQÐ, nay nói là đoàn
kết, mai nói đoàn kết, nhưng họ vẫn đánh úp, vẫn bao vây
cho tuyệt lương thực. Khi họ đánh được thì giết phá,
đánh không được thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại
đánh phá. Dân tình thấy thế thật là ngao ngán chán nản,
nhưng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói rạ Nên dân
gian người ta thường có câu "nói như Vẹm". Vẹm là do 2 chữ
Việt Minh viết tă't VM, đọc nhanh mà thành ra "
Sử Gia Trần Gia Phụng - Lá cờ Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam
1d. "Cách Mạng Dân Tộc": Thực chất của một Huyền Thoại trong Lịch Sử Cận Đại Việt Nam - KS Nguyễn Đình Sài
"Cách Mạng Dân Tộc:" Thực Chất của một Huyền Thoại trong Lịch Sử Việt Nam Cận Đại
(LÊN MẠNG Thứ sáu 19, Tháng Tám 2005)
KS Nguyễn Đình Sài
(VNN)
Tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương núp dưới chiêu bài Việt Minh đã dùng thủ đoạn cướp chính quyền tại Hà Nội. Biến cố lịch sử đó đã ảnh hưởng sâu rộng đến sinh mạng của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài 6 thập niên kế tiếp.
Tháng 8 năm 2005, đất nước Việt Nam đang bị cai trị bởi các thuộc hạ của Hồ trong đảng Cộng Sản Việt Nam, với một hiến pháp công nhận sự lãnh đạo vĩnh viễn của đảng và một chế độ chuyên chính còn tàn độc khắc nghiệt gấp bội phần so với chế độ quân chủ thời nhà Nguyễn.
Mỗi năm vào dịp này, trong khi trong nước "đảng và nhà nước" đang tổ chức mừng kỷ niệm "cuộc cách mạng tháng 8 của dân tộc Việt Nam," thì người Việt hải ngoại hướng về quê nhà, ngậm ngùi cho số phận của 80 triệu dân lành, không biết đến bao giờ mới thoát được vòng kềm tỏa của "đảng và nhà nước."
Có thật biến cố 8/45 đúng là "cuộc cách mạng dân tộc" như người Cộng Sản khoe khoang không, hay chỉ là một huyền thoại? Thực chất và ảnh hưởng của nó trên dân tộc VN như thế nào? Làm sao để tiến hành một cuộc cách mạng dân tộc chân chính?
Năm 1945: Đoạn kết của cuộc Đệ Nhị Thế Chiến
Đầu năm 1945, trong lúc cuộc Đệ Nhị Thế Chiến bắt đầu đến hồi tàn lụi với sự bại trận của Ý và Đức ở Âu Châu và Phi Châu, thì tại Á Châu, Nhật vẫn tiến quân mạnh mẽ trong chiến lược Đại Đông Á, tiến chiếm Hoa Lục và các quốc gia vùng Đông Nam Á.
Từ ngày 9 tháng 3 năm 1945, sau khi đánh đuổi Pháp và tiến chiếm toàn cõi Đông Dương, Nhật hứa trao trả độc lập cho Việt Nam trong một hời gian ngắn. Ngày 11-3-45, từ Huế, Vua Bảo Đại tuyên bố quốc gia độc lập, hủy bỏ Hòa Ước 1984 đối với Pháp, ủy cho học giả Trần Trọng Kim thành lập nội các thân Nhật, thay thế nội các thân Pháp. Ngày 17-4-45, Trần Trọng Kim trình danh sách chính phủ mới, được xem là chính phủ của một quốc gia Việt Nam độc lập đầu tiên.
Chưa được bao lâu, tình thế biến chuyển nhanh chóng của thế giới lại ảnh hưởng vào nội tình Việt Nam. Ngày 1 tháng 4, Mỹ đổ bộ Okinawa. Ngày 28-4, Mussolini của Ý bị giết. Ngày 1-5, Hitler tự tử tại Berlin. Ngày 2-5, Đức và Ý chính thức đầu hàng Đồng Minh. Trong khi đó, tại Á Châu, Nhật gắng gượng chiến đấu trên mặt trận Á Châu với chiến thuật Hara-kiri, cho phi công lao máy bay xuống các tàu chiến hay căn cứ của Mỹ.
Trong khoảng thời gian này, Hồ Chí Minh đang ở vùng Cao Bằng. Một hôm, một toán quân của Võ Nguyên Giáp tìm cứu được một phi công Mỹ đã bị súng phòng không Nhật bắn hạ. Hồ Chí Minh liền đưa sang Trung Hoa giao trả cho bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Côn Minh. Nhờ công này, Hồ được Charles Fenn, sĩ quan điệp báo OSS của Mỹ kết nạp làm điệp viên với bí danh Lucius. Sau đó qua sự giới thiệu của Fenn, Hồ được yết kiến tướng Mỹ là Chennault, được Chennault tặng cho tấm hình và vài khẩu súng lục. Cuối tháng 4-45, Hồ sang Côn Minh và được giới thiệu với Archimedes Patti, đại úy OSS phụ trách Đông Dương để xin huấn luyện cho bộ đội Việt Minh nhằm mục đích cứu phi công Mỹ bị bắn hạ và phòng chống Nhật.
Ngày 6 tháng 8, sau nhiều lần kêu gọi Nhật đầu hàng nhưng không kết quả, Mỹ quyết định cho dội trái bom nguyên tử đầu tiên Thin Man lên vùng Hiroshima, tàn phá cả thành phố, gây tử thương cho 66 ngàn người. Ba hôm sau, thấy Nhật vẫn chưa chịu đầu hàng, Mỹ thả trái bom nguyên tử thứ hai mang tên Fat Man xuống vùng Nagasaki, sát hại gần 100 ngàn người. Kèm theo hai quả bom này là lời tuyên bố của Hoa Kỳ sẽ ném trái bom thứ ba xuống thủ đô Tokyo, sẽ sát hại hàng triệu người, nếu Nhật không chịu đầu hàng vô điều kiện (thật ra đó chỉ là lời dọa vì bấy giờ Hoa Kỳ chỉ mới chế tạo được hai quả bom nguyên tử thôi).
Ngày hôm sau Nhật Hoàng Hirohito nhờ Thụy Điển làm trung gian xin đầu hàng.
Năm 1945: Triều đại quân chủ Nhà Nguyễn cáo chung
Biến cố lịch sử trên làm rúng động tình hình chính trị tại Việt Nam. Kể từ 10 tháng 8, khắp ba miền, các biến chuyển thời sự dồn dập cho đến cuối tháng 8.
Tại Thuận Hóa, chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim từ chức, nhưng riêng ông Trần Trọng Kim lại được vua Bảo Đại ủy nhiệm lập nội các mới. Tuy vậy, ông đã không mời được người tham gia chính phủ mới vì không ai muốn phục vụ dưới một chế độ thân Nhật nữa. Nhiều tổ chức mới ra đời như:
- Phong Trào Phụng Sự Quốc Gia của ông Trần Văn Cương tổ chức biểu tình tại Hà Nội ngày 12-8-45, hô hào dân chúng đoàn kết cứu nước.
- Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt được thành lập tại Sài Gòn ngày 14-8-45, gồm Cao Đài, Hòa Hảo, Liên Đoàn Công Chức, Thanh Niên Tiền Phong, và Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng.
- Đảng Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế gồm Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng, Chu Văn Tấn, Phạm Văn Đồng, v.v... núp dưới danh hiệu Mặt Trận Việt Minh triệu tập "Đại Hội Quốc Dân" tại Tuyên Quang ngày 16-8-45, tuyên bố thành lập nước "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" và phát động cuộc "tổng khởi nghĩa." Lúc bấy giờ rất ít người biết đến tung tích đích thực của những người này, nhưng tin đồn về Mặt Trận Việt Minh "tổng khởi nghĩa" tràn lan khắp nước.
Ngày 17-8-45, tại Thuận Hóa, vua Bảo Đại chủ tọa buổi họp chính phủ Trần Trọng Kim. Buổi họp đưa đến một số quyết định quan trọng của Bảo Đại như sau:
*Tái xác định hủy bỏ Hòa ước 1862 và 1864 mà Pháp đã ép Việt ký nhượng Nam Kỳ cho họ. Nhà vua cũng ra sắc lệnh thành lập Hội Đồng Tư Vấn tại Bắc Kỳ để hỏi ý muốn của dân và làm theo nguyện vọng của dân, kể cả sự thoái vị.
* Gởi thông điệp kêu gọi các quốc gia Đồng Minh giúp đỡ, bảo đảm nền độc lập của Việt Nam.
* Ban hành đạo dụ số 105 tình nguyện trao quyền điều hành đất nước cho một chính phủ "cộng hòa dân chủ" và sẵn sàng tuân theo thể chế mà nhân dân quyết định.
* Xuống chiếu tuyên bố cùng toàn dân rằng nhà vua đặt hạnh phúc của nhân dân lên trên ngai vàng nhà Nguyễn, "muốn làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nưóc nô lệ," và kêu gọi toàn dân đoàn kết, tham gia việc nước.
Cũng cùng ngày 17-8, công chức Hà Nội tổ chức biểu tình để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Khi bắt đầu tuần hành, họ hô những khẩu hiệu như "Hoan hô chính phủ Trần Trọng Kim," "Hoan hô Việt Nam độc lập muôn năm." Đột nhiên có người mặc áo cộc quần đen một tay cầm cờ đỏ sao vàng, một tay cầm súng lục bắn chỉ thiên một phát rồi hô lên "Mặt Trận Giải Phóng muôn năm!" Vài công chức thấy súng nỗ sợ quá bèn hô theo "Muôn năm!" Thế là cuộc biểu tình với mục đích ủng hộ chính phủ mới của Trần Trọng Kim, nhưng được nửa buổi thì bị đảng viên Cộng Sản trà trộn vào đoàn biểu tình, lái thành cuộc biểu tình hoan hô Việt Minh.
Ngày 19-8-45, tại Hà Nội, Việt Minh vừa dụ dỗ vừa ép buộc hàng ngàn đồng bào cầm Cờ Đỏ Sao Vàng, kéo tới quảng trường Ba Đình, trước dinh của Khâm Sai Phan Kế Toại để biểu tình. Tại đó, các cán bộ Việt Minh dùng súng uy hiếp bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, "Giám Đốc Ủy Ban Chính Trị Miền Bắc" phải ra lệnh cho binh sĩ Bảo An mở cửa dinh. Cán bộ Việt Minh tước khí giới của họ, chiếm Khâm Sai Phủ và Toà Thị Chính. Sau đó, cuộc biểu tình biến thành buổi ra mắt "Mặt Trận Việt Minh Cứu Quốc." Vì biến cố này, nhóm chữ "Việt Minh cướp chính quyền" bắt đầu được dùng tới, đối nghịch với nhóm chữ "Cách Mạng Tháng 8" mà bộ phận tuyên truyền của đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng sau này.
Sau khi tuyên bố "Tổng Khởi Nghĩa" tại Cao Bằng, Hồ Chí Minh cùng bộ chỉ huy Mặt Trận Việt Minh kéo về Hà Nội, dẫn theo những điệp viên OSS Mỹ đã nhảy dù xuống vùng thượng du Bắc Việt vào đầu tháng 5-45, để tiếp tế vũ khí và huấn luyện cho bộ đội Việt Minh tìm cứu các phi công Mỹ bị Nhật bắn hạ. Võ Nguyên Giáp đã phái những toán bộ đội Việt Minh đi trước mở đường. Họ hô hào dân chúng ra đón tiếp, để người Mỹ tưởng là Việt Minh được nhân dân ủng hộ, đồng thời để nhân dân tưởng rằng Việt Minh được Hoa Kỳ ủng hộ. Họ cũng đốt phá các làng mạc nào không chịu ra đón tiếp họ và vu cáo hành động tàn phá cho Việt Quốc (VNQDĐ). Võ Nguyên Giáp còn phái các toán Việt Minh đi sau phá cầu đường để ngăn chặn cuộc trở về Hà Nội của Việt Cách và "Quốc Dân Quân." Phần thì bị các chướng ngại ngăn trở, phần thì yếu thế hơn Việt Minh, lực lượng Việt Cách đã kẹt ở biên giới Việt Trung từ khi Nhật đầu hàng cho đến đầu tháng 9 mới theo quân đội Trung Hoa Quốc Gia do Lư Hán thống lãnh về Hà Nội. Vì thế các cuộc biểu tình tại Hà Nội trong tháng 8, 1945 đã không có sự tham dự của các lực lượng cách mạng quốc gia.
Những cuộc vận động của Việt Minh nhằm tiếp thu chính quyền quốc gia được kể là hoàn tất khi vua Bảo Đại ban hành chiếu thoái vị vào ngày 25-8 tại Huế, và "nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một chính phủ dân chủ cộng hòa." Bảo Đại kết thúc chiếu thoái vị với hai câu khẩu hiệu: "Việt Nam độc lập muôn năm!" và "Dân chủ cộng hòa muôn năm!"
Tiếp theo là cuộc biểu tình ngày 2-9 tại quãng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên bố dựa vào bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ và thành lập thể chế mới, "dân chủ cộng hòa."
Xuyên qua các dữ kiện lịch sử nêu trên, một vấn đề khúc mắc được nêu lên từ 1945 đến nay: Cuộc chính biến tháng 8 năm 1945 do Việt Minh chủ động có phải là một cuộc "cách mạng dân tộc chân chính" hay không?
Từ ngữ "cách mạng:" Định nghĩa và đặc tính
Theo nghĩa chữ Hán, "cách" là "thay đổi, bỏ đi," "mạng" là "sự sống"; chữ "cách mạng" viết kép nghĩa là "thay đổi triều vua." Theo từ điển Hán-Việt Đào Duy Anh thì cách mạng là "đổi chế độ cũ mà xấu, dựng nên chế độ mới mà tốt."
Theo nghĩa Tây Phương, "cách mạng" là "revolution," nghĩa là "a political movement which seeks to overthrow a government," một phong trào chính trị nhằm loại bỏ một chính phủ.
Như vậy, một cuộc "cách mạng chân chính" cần hội đủ các đặc tính: Tính "thay cũ đổi mới," tính "quần chúng," tính "độc lập," tính "tự chủ," tính "dân tộc," tính "đoàn kết," và tính "bỏ xấu dựng tốt." Sau đây ta thử xét xem cuộc chính biến 19 tháng 8, 1945 có các đặc tính nào.
- Tính "thay cũ đổi mới:" Biến cố 8/45 đã tạo nên hậu quả chấm dứt triều đại nhà Nguyễn và thay thế bởi một chế độ mới không còn là quân chủ chuyên chính như trước.
- Tính "quần chúng:" Biến cố 8/45 có tính "quần chúng," được sự tham dự của nhiều người. Sự tham dự này có thể là do tự nguyện, được vận động, hay bị ép buộc. Với kỹ thuật sách động và hù họa dân chúng của Việt Minh, hàng vạn người đã tham gia các cuộc biểu tình 19-8 và 2-9, tạo nên khi thế quần chúng chưa bao giờ có.
- Tính "độc lập:" Biến cố 8/45 có tính "độc lập," nó tự phát sinh mà không do sự hỗ trợ biểu kiến của một ngoại bang nào. Nó thể hiện lòng khát vọng của toàn dân, kể cả hoàng đế Bảo Đại, muốn thấy đất nước được độc lập, không còn bị đô hộ bởi thực dân Pháp nữa. Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội từ lúc thành lập đã có chủ trương chống cả Pháp và Nhật để dành độc lập cho nước nhà. Nhiều người không cộng sản đi theo Mặt Trận Việt Minh cũng vì tán thành chủ trương độc lập đó.
- Tính "tự chủ:" Biến cố 8/45 có tính "tự chủ" vì không bị kềm chế hay ảnh hưởng trực tiếp bởi một lực lượng ngoại lai nào. Vào thời điểm tháng 8, 1945, tại Đông Dương có ba lực lượng ngoại bang: Pháp, Nhật, và Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch. Mặt Trận Việt Minh không dựa vào Trung Hoa Dân Quốc, vào Pháp cũng như Nhật, mặc dù Hồ Chí Minh đã lợi dụng uy thế của Hoa Kỳ để lừa gạt dư luận là Việt Minh được Mỹ ủng hộ.
Đọc đến đây ắt có người về phía "Quốc Gia" sẽ tranh luận ngay rằng cuộc chính biến tháng 8, 1945 không thể có tính "độc lập" hay "tự chủ." Họ sẽ nêu ra dữ kiện rằng "Thành phần chính phủ mà Hồ Chí Minh công bố ngày 2-9-45 hết thảy là cộng sản Việt Nam, là tay sai của Liên Sô và Trung Cộng, nên cuộc chính biến tháng 8 bị lệ thuộc vào lực lượng ngoại bang."
Sự tranh luận ấy không đúng theo lịch sử. Vào giữa thập niên 1940, thế lực chính trị của Liên Sô còn yếu. Lực lượng quân sự của Liên Sô đang dồn vào mặt trận Đông Âu, không có chút ảnh hưởng nào tại Đông Dương ngoài việc huấn luyện ý thức hệ cho các đảng viên đảng Cộng Sản Đông Dương. Trung Hoa còn thuộc chế độ Cộng Hòa của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, từ Tôn Dật Tiên chuyển xuống Tưởng Giới Thạch, đang vất vả chống Nhật ngay trên lãnh thổ của họ và phải nhờ Hoa Kỳ trấn giữ các căn cứ chiến lược vùng đông nam Hoa Lục. Lực lượng Trung Cộng của Mao Trạch Đông chỉ mới phôi thai ở miệt tây bắc Trung Quốc, lúc ấy chưa hề bén mảng đến miền nam; mãi đến năm 1949, dành được Hoa Lục, mới bắt đầu ảnh hưởng vào vùng Đông Dương. Lúc bấy giờ Mặt Trận Việt Minh cũng là một trong những thành phần dân tộc, cho dù họ là "thành phần xấu" đi nữa, và sự tham gia của quần chúng quả thật là xuất phát từ khát vọng độc lập của họ, không bị Liên Sô và Trung Cộng trực tiếp ảnh hưởng. Việt Minh cướp chính quyền hoàn toàn là do sức của Việt Minh và quần chúng VN, thì phải gọi biến cố ấy có tính "tự chủ." (Ảnh hưởng của hai đảng Cộng Sản Liên Sô và Trung Quốc chỉ mới có từ thập niên 1950 trở đi, đặc biệt là việc cung cấp vũ khí cho Việt Minh trong trận Điện Biên Phủ và cuộc xâm chiếm miền Nam.) Mặt khác, nếu nói đến "ảnh hưởng" về vật chất, tư tưởng, và tinh thần thì phải kể đến ảnh hưởng trực tiếp của Hoa Kỳ qua ba sự kiện quan trọng: Thứ nhất, toán điệp viên OSS (Office of Strategic Services) của Hoa Kỳ đã cung cấp vũ khí, đạn dược, và luấn luyện cho Việt Minh. Thứ hai, khi đoàn quân Việt Minh rời Cao Bằng về Hà Nội từ ngày 20 đến 25 tháng 8, toán OSS đã đi theo bên cạnh Hồ Chí Minh (lúc ấy là điệp viên OSS với bí danh Lucius) và Võ Nguyên Giáp. Thứ ba, bản "tuyên ngôn độc lập" mà Hồ đọc trước quảng trường Ba Đình ngày 2-9 đã phỏng theo bản "Declaration Of Independence" ngày 4 tháng 7, 1776 của Hoa Kỳ. Ba sự kiện này đã tạo cho dân chúng cảm tưởng là Việt Minh được Hoa Kỳ hỗ trợ. Nhờ thế mà dân chúng đã theo Việt Minh lúc đó và sau này. Dù vậy, những ảnh hưởng đó chỉ là phụ thuộc, không vì thế mà mất đi tính "tự chủ" của cuộc chính biến, hoặc cho rằng nó bị lệ thuộc vào Hoa Kỳ, bởi vì tất cả những kế hoạch và hành động "dành chính quyền" đều do người Việt Nam (Mặt Trận Việt Minh) chủ trì, chứ Mỹ, Nga, Tàu, Nhật, và Pháp không có ảnh hưởng gì cả.
- Tính "dân tộc:" Tuy nhiên, phân tích kỹ hơn, cuộc chính biến 8-45 dù có một số đặc tính "cách mạng" biểu kiến ở trên, nó lại không xứng đáng để được vinh danh là một cuộc "cách mạng dân tộc" đúng nghĩa. Một cuộc "cách mạng dân tộc" phải được phát khởi từ một hay nhiều thành phần dân tộc để phục vụ dân tộc chứ không nhằm phục vụ một ý thức hệ nào. Chính phủ được ông Hồ Chí Minh công bố ngày 2-9-1945 đều là đảng viên Cộng Sản Đệ Tam. Họ chỉ có mục đích tối thượng là phục vụ cho lý tưởng Quốc Tế Đại Đồng theo Duy Vật Biện Chứng Pháp. Họ chỉ mượn chiêu bài "dân tộc" để tiến hành sách lược đó mà thôi. Trên thực tế, tinh thần "cách mạng dân tộc" đã được phát khởi đầu tiên bởi VNQDĐ năm 1928 với chủ trương "do dân, bởi dân và vì dân." Tinh thần "cách mạng dân tộc" được thể hiện qua sự vị quốc vong thân của đảng trưởng VNQDĐ Nguyễn Thái Học vào năm 1930, và được tiếp tục nuôi dưỡng bởi nhiều tổ chức kháng Pháp trong suốt các thập niên 1930 và 1940. Ngược lại, chính vì cuộc cướp chính quyền thời đó mà khí thế cách mạng chân chính của dân tộc đã bị đảng Cộng Sản Đông Dương triệt tiêu. Chỉ vài tháng sau, người Pháp được sự đồng thuận của Đồng Minh, trở lại Việt Nam, đổ quân tái chiếm miền Nam, rồi tiến ra Trung và Bắc Kỳ. Trước sức mạnh quân sự của Pháp, Hồ Chí Minh đã liên lạc và xin ký thỏa ước với Pháp, chấp nhận đứng trong "Liên Hiệp Pháp," trái hẳn với lời tuyên thệ của ông trong ngày 2-9, rằng ông sẽ "không bao giờ thương thuyết hay hợp tác với Pháp." Đây là một trong những bằng chứng rằng những người cộng sản luôn luôn đặt quyền lợi của đảng lên trên danh dự của dân tộc.
- Tính "đoàn kết:" Biến cố 8/45 thiếu tính "đoàn kết" vì không tận dụng được sự đoàn kết dân tộc như thời Kháng Nguyên của Nhà Trần và Kháng Minh của nhà Lê thuở trước. Như chúng ta đã biết, trước khi Nhật đầu hàng, các tổ chức cách mạng đã kết hợp thành Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, mà Việt Minh là một thành phần. Không được bao lâu thì Việt Minh tách ra, tạo nên mầm mống chia rẽ giữa Việt Minh và các tổ chức. Rồi khi Nhật đầu hàng, thì Việt Minh cho ra đời "Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời" ngày 19-8-45 chỉ toàn là cán bộ Cộng Sản. Danh sách này đã được Hồ Chí Minh công bố ngày 2-9-45 cộng thêm một vài người thuộc tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản. Còn các tổ chức "quốc gia" thì không có đại diện trong chính phủ ấy. Việt Minh cũng tạo nên sự chia rẽ và bất tín đối với nhà cầm quyền với cuộc "bầu cử Quốc Hội gian lận" ngày 1 tháng 6, 1946. Chính vì sự "độc chiếm chính trị" này mà nhiều thành phần dân chúng đã nổi dậy biểu tình chống chính phủ hàng ngày gần như cơm bữa, nhất là sau khi Mặt Trận Việt Cách và Việt Quốc về đến Hà Nội. Ngoài ra, sau khi dành được chính quyền, Việt Minh quay ra tiêu diệt các tổ chức cách mạng như Việt Cách và Việt Quốc. Hành động tàn nhẫn ấy đã khởi đầu cho cuộc tương tranh dài 30 năm trường, tiêu hao xương máu của hàng triệu người dân lành của cả hai miền Nam và Bắc. Cho đến này nay, đảng CSVN tự giành cho mình quyền vĩnh viễn độc tôn lãnh đạo đất nước, không bao giờ chấp nhận các đảng phái khác. Vì vậy mà "cuộc chính biến tháng 8" không có tính đoàn kết dân tộc
- Tính "bỏ xấu dựng tốt:" Cuộc chính biến 8/45 thiếu hẳn đặc tính xây dựng những điều tốt lành mặc dù đã chấm dứt một nền phong kiến lỗi thời, lạc hậu và xấu xa. Nhân dân Việt Nam vừa thoát khỏi chế độ phong kiến liền bị tròng vào một chủ nghĩa ngoại lai, dùng sự tàn độc để cai trị, lấy sự đói khát để làm tê liệt phong trào dân chủ, và nhân danh ổn định để đè bẹp khát vọng tự do và chà đạp nhân quyền. Tình trạng lạc hậu của dân tộc kéo dài đúng 6 thập niên từ tháng 8/1945 đến tháng 8/2005 hiện nay.
Tiến hành một cuộc cách mạng dân tộc chân chính
Khi vinh danh cuộc chính biến tháng 8 là một cuộc "cách mạng dân tộc," người Cộng Sản Việt Nam đã nhầm lẫn "đảng" là "dân tộc." Họ tự hào về cái thành quả nhờ thủ đoạn trí trá mà đạt được và nhờ thủ đoạn tàn ác mà tồn tại cho đến ngày nay. Vì thế, họ đã và đang ca ngợi cái huyền thoại đó năm này qua năm khác.
Nhưng nếu nhìn một cách khách quan, chúng ta thấy rõ thực chất của huyền thoại cách mạng tháng 8-1945. Tuy cuộc chính biến ấy có một số đặc tính biểu kiến của một cuộc "cách mạng quần chúng" và có hình thái độc lập tự quyết, nhưng vì những thủ đoạn hiểm độc trước và sau khi nắm được chính quyền, với lý tưởng phi dân tộc, và với cứu cánh độc tôn đảng trị, đảng CSVN đã làm mất đi chính nghĩa cao quý của một cuộc "cách mạng dân chủ đích thực." Mặt khác, tính chất độc lập tự quyết của cuộc chính biến cũng bị lu mờ vì hành động thiếu đại đoàn kết toàn dân, mà đảng CSVN đã phát khởi qua các cuộc sát hại dân lành và các đảng phái đối lập một cách khốc liệt từ 60 chục năm qua.
Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 8 năm 2005, sáu thập niên trôi qua. Chế độ độc tài do đảng Cộng Sản Việt Nam áp đặt lên dân tộc đã chứng minh hoàn toàn yếu kém trong khả năng điều hành quốc gia suốt 30 năm qua. Không những vậy, chính chế độ độc tài cộng sản này còn là nguồn gốc phát sinh ra các quốc nạn khác như tham nhũng cường quyền, phung phí tài nguyên quốc gia, tàn phá môi sinh... và cũng là trì lực ngăn chận sức phục hồi và tiến lên của dân tộc bởi những chính sách bưng bít và trói buộc ngặt nghèo nhằm bảo vệ độc quyền cai trị của họ.
Chúng ta ôn lại cuộc chính biến lịch sử tháng 8-45, để không chỉ nhận ra những sai lầm của đảng CSVN, mà còn để nhận thấy rằng muốn làm một cuộc cách mạng dân tộc thì phải có một tổ chức kết hợp được mọi thành phần dân tộc, từ dân tộc mà thành hình, và vì dân tộc mà tranh đấu. Tổ chức đó sẽ có sứ mệnh tiến hành cuộc cách mạng bằng chính sức mạnh và trí tuệ của dân tộc Viêt Nam trong cũng như ngoài nước, để giải phóng đất nước thoát khỏi ách độc tài cộng sản hầu có điều kiện xây dựng một xã hội nhân bản, tự do, và tiến bộ.
1d. Hữu nghị Hoa Kỳ - VNCH - CP/VNTD
http://www.vntd.org/LienMinhDanToc.com/articles/vn/Huu%20Nghi%20US_VNCH.html
Tiểu đội tình báo của Hoa Kỳ nhảy dù xuống chiến khu làng Kim Lung, Tỉnh Tuyên Quang, Bắc Việt, được Hồ Chí Minh đón tiếp với banner Welcome to our American friends nồng nhiệt chào đón những người bạn Hoa Kỳ. Nhiệm vụ của tiểu đội tình báo này hợp tác với Việt Minh để chống quân Nhật. Sau khi Nhật đầu hàng, nhờ sự hỗ trợ của Mao, Hồ Chí Minh về Hà Nội cướp chính quyền từ trong tay chính phủ Trần Trọng Kim, và mạo muội tuyên bố độc lập.
Trong bản tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh trích dẫn câu mở đầu của hiến pháp Hoa Kỳ: Thượng Ðế sinh ra mọi người đều bình đẳng. Sau đó Hồ Chí Minh viết thư nài nỉ Tổng Thống Hoa Kỳ thứa nhận cái nền độc lập vừa mới cướp được. Hoa Kỳ biết rõ quả tim và khối óc của Hồ Chí Minh là hoàn toàn thuộc Nga, Tàu, qua việc thủ tiêu các chiến sĩ quốc gia nồng cốt trước khi tuyên bố độc lập. Cho nên Hoa Kỳ đã không công nhận cái chính phủ phi dân tộc ấy mà còn hỗ trợ cho Pháp trở lại xâm lăng nước ta và đánh đuổi Việt Minh lên vùng núi phía Bắc.
Trong khi Việt Minh đang lẫn trốn trong rừng núi Việt Trung, ngày 20 tháng 5 năm 1948, Hoàng Ðế Bảo Ðại thành lập chính phủ Quốc Gia Việt Nam, chọn ông Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng.
Ngày 8 tháng 3/1949, Pháp thừa nhận Việt Nam độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và có quân đội riêng. Ðó là Quân Ðội Quốc Gia dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Văn Hinh, Lê Văn Kim, Trần Văn Ðôn, có Quốc Kỳ là cờ vàng 3 sọc đỏ.
Ngày 7 tháng 2/1950, Hoa Kỳ và Anh Quốc thừa nhận Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam do Hoàng Ðế Bảo Ðại làm Quốc Trưởng.
Ngày 11 tháng 4/1954, Pháp thừa nhận Quốc Gia Việt Nam hoàn toàn độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và có quân đội riêng. Hai tháng sau, 25/6/1954, ông Ngô Ðình Diệm được Hoàng Ðế Bảo Ðại mời về nhận chức Thủ Tướng. Trong thời gian này, Hồ Chí Minh còn ẩn nấp trong các hang núi vùng biên giới Việt Trung. Nhờ Mao thắng thế ở Trung Hoa Lục Ðịa, Mao cùng với Hồ đã thắng Pháp ở trận Ðiện Biên Phủ. Chỉ có Hồ Chí Minh và Pháp ký Hiệp Ðịnh Geneve chia cắt đất nước ngày 21/7/1954 mà thôi. Hoàng Ðế Bảo Ðại và Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm chống lại việc ký kết này.
Tôi còn đọc thêm một số tài liệu khác không tiện trích dẫn vào đây.
1e. Trần Trọng Kim
Tài liệu từ Wikipedia thực ra là chép những mảnh nhỏ trong nhiều tài liệu tôi đã đọc qua, và ghép lại với nhau, không ghi chú nguồn trích, cũng không ghi tên tác giả.
Wikipedia là một "Bách Khoa Tự Điển", ai cũng có thể tra cứu và sử dụng như nguồn tài liệu.
Bài viết không ký tên Thái Nhi.
Khi mang vào VNTQ, tôi không ký tên Ngọc Lý, tôi không nói tôi là tác giả bài viết, mà chỉ nói là "sưu tầm".
Như thế, không thể gọi là "Đạo văn". Các bạn có hơi vội vàng và quá khích khi kết luận thế chăng?
Vì khuôn khổ Việt Nam Thư Quán, và vì tôn trọng chủ trương Trung Lập của Ban Điều Hành, khi đưa vào bài viết này, tôi đã cố ỷ bỏ qua rất nhiều chi tết quan trọng khác. Mong các bạn hiểu thiện chí của tôi.
Ngọc Lý
.